Page 63 of 156

Posted: Mon Oct 25, 2010 12:39 am
by nguyenvsau
Image


“Anh Hùng Tử, Khí Anh Hùng Bất Tử !!!”

Những hình ảnh tư liệu thật quý giá về cuộc khởi nghĩa Đề Thám.
Sau hoà ước Quí-mùi (1883) chấp nhận sự bảo hộ của Pháp ở Bắc-kỳ, Vua Việt-Nam kêu gọi dân chúng nổi lên chống Pháp. Ðề-Ðốc Hoàng-Hoa-Thám ( Trương-văn-Thám ?)đã hưởng ứng phong trào này và nổi dậy chống Pháp chiếm giữ các vùng Bắc-Giang, Thái-Nguyên và Hưng-Hóa. Dân chúng gọi ông là Ðề-Thám.


Pháp đem quân đánh mãi mà không được nên năm 1894, Pháp phải xử hoà với ông, cho ông cai quản 22 xã trong vùng Yên-Thế, Ðề-Thám lập căn cứ ở Chợ-Gò. Dân chúng gọi ông là con "Hùm thiêng Yên-Thế". Nhưng hai năm sau thì Ðề-Thám lại nổi lên đánh Pháp, tới năm 1898 thì Pháp lại xin ký hoà ước nhường cho ông thêm nhiều quyền lợi nữa. Ðề-Thám sống yên cho tới năm 1905 thì lại nổi dậy đánh Pháp một lần nữa (những tấm hình ông chụp với gia đình là trong khoãng nầy).
Năm 1908, Ðề-Thám quyết định đánh một cú lớn để chiếm thành Hà-Nội nên đã âm mưu với nhiều người đầu bếp để bỏ thuốc độc (bột datura) cho 200 lính Pháp giữ thành ăn, nhưng vì liều thuốc hơi yếu nên lính Pháp chỉ bị lảo đảo chứ không chết, cuộc âm mưu bất thành.


Ðầu năm 1909, quân đội Pháp quyết định mở chiến dịch lớn để tấn công Ðề-Thám trong tận sào huyệt, Ðề-Thám thua nên bỏ trốn vào rừng. Pháp ra giải thưởng 25.000 đồng cho ai bắt hay giết được Ðề-Thám. Có ba tay lãng tử người Tàu vì ham tiền nên tìm đến Ðề-Thám để xin gia nhập rồi thừa lúc ban đêm ông ngủ mà xúm đến chặt đầu ông đem về lãnh thưởng ngày 10 tháng 2 năm quí-sửu (18-3-1913), chấm dứt một cuộc kháng chiến trường kỳ trên một phần tư thế kỷ.

Image
Anh hùng Ðề-Thám (giữa 1898 và 1905)

Image
Ðề-Thám và mấy người con cháu (giữa 1898 và 1905)

Image
Những bạn cách mạng của Ðề-Thám (giữa 1898 và 1905)

Image
Cha vợ của Ðề Thám bị bắt

Image
Thi Nho, người vợ thứ 3 của Ðề Thám bị bắt

Image
The Mui, người vợ thứ 2 của Cả Rinh (con nuôi của Ðề Thám)

Image
The Mui bị bắt

Image
Yên Thế, 2 nghĩa quân bị bắt (1911)

Image
Anh hùng Ba-Biêu, cánh tay mặt của Ðề-Thám (giữa 1898 và 1905)

Image
Ngôi chùa tuyên thệ của nhóm Ðề-Thám

Image
Một nghĩa quân và Quynh, con rể của Ðề Thám ra hàng

Image
Cho Go, repaire de De Tham

Image
Một thành lũy của Ðề-Thám

Image
Phía trong của thành lũy

Image
Phía trong của thành lũy

Image

Image
Một đồn lính Pháp trong vùng Yên-Thế

Image
Ðường hào của quân đội Pháp để chống lại Ðề-Thám

Image
Pháp đang xây dựng một đồn lính trong vùng Yên-Thế

Image
Vận tải một tử thương (1909)

Image
Chôn cất một lính Pháp tử trận (1909)

Image
Chuyên chở một thương binh (1909)

Image
Thương binh Pháp (1909)

Image
Khâm-Sai Lê-Hoàn, kẻ thù truyền kiếp của Ðề-Thám

Image
Nhóm quân của Phạm Quế Thắng

Image
Một người trong nhóm Ðề-Thám đang bị hỏi cung

Image
Bị bắt làm tù binh

Image
Một người trong nhóm Ðề-Thám bị bắt

Image
Tù binh Ðề-Thám trên hải cảng Alger trước khi vào tù ở Guyane

Image
Những anh hùng của nhóm Ðề-Thám bị xử tử (1908)

Image
Thủ cấp của những anh hùng nhóm Ðề-Thám

Image
Thủ cấp của một anh hùng nhóm Ðề-Thám

Image
Tù nhân bị bắt trong vụ "Ðầu Ðộc" (1908)

Image
Bị xử trảm (1908)

Image

Posted: Mon Oct 25, 2010 2:05 am
by quaichao
Ronaldo ghi 4 bàn, Real đại thắng Racing
Siêu sao người Bồ Đào Nha lại cho thấy hình ảnh của một cỗ máy ghi bàn khi Real Madrid giành chiến thắng tới 6-1 trước Racing Santander trên sân Bernabeu tối thứ bảy.
Bên cạnh 4 bàn thắng của Cristiano Ronaldo, Gonzalo Higuain và Mesut Ozil cũng lập công giúp Real lấy lại vị trí dẫn đầu giải vô địch Tây Ban Nha trong loạt đấu tối thứ bảy. Trước đó khoảng 2 giờ, Barca vượt lên trên bằng chiến thắng 2-0 trên sân của Zaragoza.
Image
Ronaldo chia vui với đồng đội sau một pha lập công.


Bàn gỡ danh dự của Racing ở phút 74 không ảnh hưởng tới uy thế của Real sau chiến thắng.

Trong 11 trận đầu dưới sự dẫn dắt của tân HLV Jose Mourinho, Real đã có 9 chiến thắng và 2 trận hòa - thành tích đủ dập tắt làn sóng chỉ trích tại Tây Ban Nha trong giai đoạn đầu.

Trong 3 trận gần nhất ở Liga, Real ghi được tới 16 bàn, gồm chiến thắng tối qua, thắng Deportivo 6-1 và Malaga 4-1.

Sai lầm lớn nhất của Racing trong trận đấu tối qua là đã để Real vượt lên hơi sớm. Trong tình huống ghi bàn ngay ở phút thứ 10, tiền vệ Angel Di Maria chuyền bóng thông minh cho Higuain. Tiền đạo người Argentina băng qua hàng thủ Racing, khống chế bóng thành công, mở tỷ số bằng cú sút kiểu xâu kim qua chân thủ môn Antonio Tono.

Sớm có bàn dẫn trước, Real có lý do chơi thoải mái hơn, tạo ra sự hưng phấn cho màn trình diễn tiếp theo. Phút 15 Higuain đóng vai cầu thủ dọn cỗ cho Ronaldo. Higuain vượt qua một hậu vệ Racing rồi tạt chìm vào vòng cấm. Đường chuyền thuận lợi đến mức Ronaldo chỉ cần sút bóng đơn giản vào lưới nâng tỷ số lên 2-0.

Di Maria đã thể hiện là tân binh thành công của Real trong kỳ chuyển nhượng mùa hè bằng các pha xử lý kỹ thuật, trong đó có hai lần gây sóng gió trước khung thành thủ môn Tono dù Racing không bị thua thêm sau các pha bóng đó. Bàn nâng tỷ số lên 3-0 là kết quả của một tình huống may mắn dành cho Real.

Ronaldo rơi vào thế việt vị nhưng pha dứt điểm của cầu thủ này sau quả tạt chìm của Ozil vẫn được trọng tài công nhận. Trong khoảng thời gian cuối hiệp một, Higuain có thêm cơ hội thử tài Tono trước khi Racing có pha tấn công hiếm hoi gây nguy hiểm: cú sút của Markus Rosenberg bật vào trung vệ Pepe bay đổi hướng khiến tỷ số suýt được rút ngắn.

Với màn trình diễn xuất sắc trong hiệp một, câu hỏi duy nhất được đặt ra là Real sẽ ghi được thêm bao nhiêu bàn trong hiệp hai. Câu trả lời là Real chỉ mất thêm 18 phút để nhân đôi số bàn đã có. Ronaldo ghi hai trong số ba bàn đó, vươn lên dẫn đầu danh sách vua phá lưới với 9 lần lập công. Di Maria có vai trò nổi bật trong cả hai pha lập công đó của Ronaldo.

Trong tình huống dẫn tới bàn đầu, Di Maria đột phá bên cánh phải. Quả tạt của anh đi vào vị trí sau lưng Ronaldo, nhưng cầu thủ đắt nhất thế giới vẫn kịp khống chế bóng trước khi đánh bại Tono. Đó là tình huống ở phút 47. Chỉ 8 phút sau, Ronaldo sút phạt đền nâng tỷ số lên 5-0, hưởng lợi sau pha chơi xấu của Domingo Cisma đối với Di Maria trong vòng cấm.

Với các pha dứt điểm thành công liên tục, lần đầu tiên trong sự nghiệp Ronaldo ghi được 4 bàn trong một trận đấu.

Dẫn trước 5-0 song Real không cho thấy dấu hiệu muốn dừng lại và tỷ số tiếp tục được nâng cao khi Ozil có cơ hội. Tiền vệ người Đức khống chế thành công đường chuyền hợp lý của Xabi Alonso, chỉnh bóng qua một trung vệ rồi tung cú sút xoáy vào góc xa.
Image
Ozil đã hòa nhập rất nhanh vào lối chơi của đội bóng mới.
Bàn thắng ở phút 64 cũng là pha bóng cuối cùng của Ozil trước khi được thay ra bằng cựu cầu thủ của Racing, Sergio Canales. HLV Mourinho đã cho 3 trụ cột rời sân liên tục.

Phút 74, Racing gỡ được bàn danh dự khi Diop thử vận may bằng cú sút từ cự ly khoảng 30 m. Bóng chạm vào người Rosenberg đổi hướng bay vào góc cao. Rosenberg có một cơ hội rút ngắn cách biệt xuống thấp hơn song Iker Casillas đã phản xạ kịp thời, giữ nguyên tỷ số 6-1.


Đội hình thi đấu:

Real Madrid: Iker Casillas; Arbeloa, Carvalho, Pepe, Marcelo (Pedro León, 70'); Khedira, Xabi Alonso; Di María, Özil (Canales, 64'), Cristiano Ronaldo; Higuaín (Benzema, 66').

Racing: Toño; Francis, Henrique, Ponce, Torrejón (Ariel, 46'), Cisma; Diop, Colsa (Lacen, 67'), Keneddy, Munitis (Arana, 55'); Rosenberg.

Thúy An

Posted: Mon Oct 25, 2010 3:20 pm
by lengoi

Image

Chiến tranh dưới ngòi bút Thảo Trường
Tác giả: Nguyễn Lệ Uyên


Chiến tranh hả?
Chiến tranh là cái c. chó gì.
(Thảo Trường)

Thảo Trường vĩnh biệt chúng ta ở tuổi 74 với 14 tác phẩm xuất bản tại Việt Nam và 8 ở Hoa Kỳ. Không phải với số lượng tác phẩm như vậy, hay việc ông bị tù đày 17 năm (không có bản án), từ Nam ra Bắc khiến tên tuổi Thảo Trường nổi tiếng trên văn đàn, mà hơn hết, ngay từ những tác phẩm đầu tay và cách ông chọn lựa thái độ và trách nhiệm của người cầm bút trước cuộc chiến tranh tương tàn đã làm cho những người trong và ngoài cuộc chú ý rồi. Khởi đầu là những truyện ngắn đầu tay đăng trên tạp chí Sáng Tạo (“Hương gió lướt đi”, “Làm quen”…) đầu thập niên 60, sau đó tiếp tục là tập truyện Thử lửa, nhưng phải đến Người đàn bà mang thai trên kinh Đồng Tháp, Cánh đồng đã mất, Chạy trốn… thì cái tên Thảo Trường mới khẳng định được vị trí của ông trên văn đàn miền Nam, nhưng đồng thời cũng gây nhiều dư luận đa chiều. Nói đa chiều bởi độc giả cứ nghĩ ông có truyện khởi đăng từ Sáng Tạo, có nghĩa ông ở trong nhóm Sáng Tạo, mà Sáng Tạo, nói theo cách nói Mai Thảo thì ở đó là mảnh đất mở đầu, khai phá cho “một nền nghệ thuật mới” và rồi hô hào, khoa trương: “Chất nổ ném vào, cờ phất. Xuống núi, xuống đường. Ra biển, ra khơi. Và cuộc cách mạng tất yếu và biện chứng của văn chương đã bắt đầu…” (Mai Thảo, “Đứng về phía cái mới”). Cái “đã bắt đầu” kia, thật ra phương Tây đã bắt đầu từ rất lâu rồi! Nếu cố tình sắp xếp cho ông khuynh hướng ấy, thì có vẻ như đẩy ông trở thành một người cô đơn giữa những Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Trần Thanh Hiệp… bởi ngôn ngữ văn chương của ông không mang tính đặc thù của dòng văn học này; thứ đến cách chọn lựa đề tài, xây dựng các nhân vật chưa hề thấy sự buồn nôn, mệt mỏi, chán chường muốn phá vỡ đập nát tất cả những gì đang có trước mặt, như là một mệnh đề khởi đầu cho cuộc cách mạng cho đời sống xã hội và văn chương, tức đứng về phía cái mới.

Sự xuất hiện của Thảo Trường bằng truyện ngắn đầu tay trên Sáng Tạo chỉ là con đò giúp ông qua sông, đến với văn học miền Nam. Vì sau này, khi bút lực của ông đến độ chín muồi, chúng ta lại thấy truyện của ông đăng tải trên các tạp chí xếp vào loại dấn thân, thậm chí là đối lập, như Hành Trình, Đất Nước, Trình Bày… Sau này Cao Huy Khanh trong loạt bài Sơ thảo văn học miền Nam, ông xếp Thảo Trường vào khuynh hướng những nhà văn dấn thân. Rất tiếc tập Sơ thảo này vừa lên khuôn chưa kịp in thì miền Nam bị ngã gục, khuôn chì bị vứt xó, sách báo bị tịch thu sạch sẽ…

*

Khi nghe tin ông từ trần, một chút bàng hoàng lẫn xót xa cho thân phận những người cầm bút trước năm 75 với đầy dẫy những khổ lụy trong đời sống văn học không trọn vẹn.

Và lúc này, khi nhóm chủ trương Thư Quán Bản Thảo thực hiện số báo tưởng niệm ông, chúng tôi phải lục tung những thùng sách báo cũ may mắn còn giữ được. Nhưng hỡi ơi, sự giữ gìn ấy cũng không thật đầy đủ, bởi sau ngày đen tối kia, sách báo đều bị tịch thu. Tịch thu và mang đi đốt, nhóm lửa! Những Thử lửa, Cát, Vuốt mắt, Người khách lạ trên quê hương, Người đàn bà mang thai trên kinh Đồng Tháp… trong tủ sách gia đình cũng chung số phận hẩm hiu đó, để lúc này, ngồi viết về ông, chỉ còn duy nhất tập Cánh đồng đã mất do nguyệt san Tân Văn số 34 xuất bản tháng 2 năm 1971, nhưng bìa đã mất, chỉ còn lại phần ruột. Đó là sự may mắn cuối cùng. Thôi thì xin ông, dưới suối vàng hay trên thiên đàng, hãy tha thứ cho kẻ hậu sinh, khi trong tay chỉ có: Người đàn bà mang thai trên kinh Đồng Tháp (tải trên mạng) và Cánh đồng đã mất. Đọc và ngẫm nghĩ những gì ông đã viết trong đó như để thắp một nén nhang thương tiếc ông, như lúc sinh thời ông đã từng.

Bối cảnh trong Cánh đồng đã mất là một vùng đất hoang với cỏ cây, lau lách và bông dại, trước kia được sử dụng làm bãi tập bắn. Còn lúc này khi nhân vật Hoán quay lại, sự hoang dã đã biến mất, thay vào đó là khu căn cứ quân sự phòng thủ của một đơn vị bộ binh. Với khoảng không gian này, Thảo Trường dẫn người đọc đến gần với chiến tranh hơn và chỉ có thể nhìn thấy từ một phía, trong cái nhìn thuần nhất và cách suy nghĩ của Hoán, của ông quân nhân già và đẩy ra xa chút nữa là khu vực oanh kích tự do với những hố bom to nhỏ đầy nước và nhiều cá, trở thành nguồn sống cho đám dân chạy giặc bên kia sông.

Nếu như chỉ đọc lướt, đọc để giải trí thì Cánh đồng đã mất “không có gì hấp dẫn” do kết cấu câu chuyện, đặc biệt là những mẩu đối thoại cố tình kéo dài để khắc họa, hoặc dẫn giải những suy nghĩ, những tâm trạng nhân vật, hoặc đưa đẩy để giải thích dẫn dắt câu chuyện. Nhưng nếu ta loại bỏ tính thị hiếu giải trí, thì Cánh đồng đã mất phần nào phơi bày được một góc nhỏ bộ mặt thật của cuộc chiến rất nhếch nhác này. Sự nhếch nhác đầu tiên mà Thảo Trường đưa ra là giữa con người và con người, đồng bào anh em với nhau nhưng không thể tin nhau: “Vui mà không dám vui trọn vẹn. Nói năng tiếp xúc với nhau mà lúc nào cũng phải giữ thế thủ, lúc nào cũng phải đề phòng. Trong hoàn cảnh này, chúng ta không còn được sống cái đời sống cởi mở như hồi xưa, chúng ta không còn dám tin vào niềm tin cũ… Đời sống chúng ta đã bị chi phối bởi vật chất và nhất là đã bị ảnh hưởng nặng nề bởi cuộc chiến tranh xảo trá này… Trong hoàn cảnh hiện nay nhìn đâu chúng ta cũng thấy địch. Địch như bủa vây chung quanh ta, địch đôi khi luẩn quất ngay trong chính ta.” (Cánh đồng đã mất, trg 26).

Sự bình yên đã bị vỡ bung. Tất cả đã bị xới tung lên đến nỗi khi ngồi với một cô gái trong hội quán của căn cứ, Hoán cũng tự đặt ra những giả định, những nghi ngờ, gọi là cần thiết “để phòng thủ” trong lúc chuyện trò tâm sự, bởi kẻ ngồi trước mặt là một người hoàn toàn xa lạ để Hoán có thể liên tiếp đặt ra những câu hỏi không có lối ra. Điều gì đã khiến nỗi hoài nghi kia ngày cứ một lớn dần trong đầu óc Hoán, đến nỗi người bạn của anh gọi đó là sự “bệnh hoạn”? Nếu như kẻ địch không phải là người anh em với nhau, cùng dòng máu, ngôn ngữ, văn hóa, phong tục, tập quán… thì hẳn sẽ không dẫn đến cách hành xử từ những suy nghĩ được gọi tên là “bệnh hoạn”. Khốn nỗi, kẻ địch lại chính là đồng bào ta, anh em ta, khởi đi từ trăm trứng và phải chịu hệ quả bi thảm khi năm mươi con lên núi, năm mươi con xuống biển, chia cắt tình cảm ruột thịt một cách dứt khoát từ một bào thai. Cái huyền sử “khốn nạn” đó như một mệnh đề tiên thiên của máu me chảy hoài hoài trên đất nước này từ ngày lập quốc. Số năm tháng anh em trong nhà đánh nhau đến vỡ đầu cũng gần bằng với khoảng thời gian chung lưng lại đánh đuổi ngoại xâm: “Làm sao chúng ta có thể phân biệt được ai là ai. Sự bi đát là ở chỗ đó. Vậy mà chúng ta vẫn phải đối xử với nhau. Biết rồi có ngày chúng ta sẽ như chó với mèo.” (Sđd, trg 29).

Nhân vật Hoán cũng chỉ là một thanh niên bình thường như bao thanh niên khác cùng thế hệ. Anh sinh ra và lớn lên trên mảnh đất đầy sóng gió này, trong giai đoạn bắt buộc phải lên đường cầm súng “bảo vệ đất nước” và bên kia thì cũng vậy, với một chủ đích rõ rệt đánh đuổi ngoại xâm, thống nhất đất nước dưới sự điều khiển của “ngoại bang” đứng từ đằng xa. Làm thế nào để giải quyết cuộc chiến nhục nhằn này, và theo Hoán: “Bên này phải nêu rõ lên cái tính chất của cuộc chiến từ năm 1954 đến năm 1960 và tiếp tục đến bây giờ. Phải phân định rõ ràng ra được cái tình trạng đó, cái giới hạn đó. Phải nêu rõ cái chiến thắng mà bên này muốn đạt được là duy trì tình trạng phân định trước kia giữa hai bên. Và hai bên phải cố duy trì được cái tính cách dân tộc trong phe mình, tránh khỏi sự chi phối của ngoại bang, phát triển cái xã hội trong phần kiểm soát của mình để tiến tới thống nhất đất nước.” (Sđd, trg 17, 18 ). Khốn thay, cái ý tưởng rất nhân bản của Hoán để giải quyết cuộc chiến nhì nhằng, vì quyền lợi cá nhân, quyền bính nên chẳng ai muốn ngồi lại trên căn bản dân tộc, nhân bản. Và vì vậy, thế hệ anh ở hai đầu lằn ranh lại tiếp tục cầm súng “ngoại bang” sống chết bắn vào nhau. Mà không phải chỉ có thế hệ Hoán không thôi, đến cả ông già trong căn cứ đã từng tham gia trận Điện Biên Phủ, nay vẫn phải tiếp tục cầm súng như một bổn phận và trách nhiệm, đến nỗi khi nghe Hoán buột miệng triết lý về chiến tranh: “Cuộc chiến tranh này khó lắm. Không bình tĩnh kiên trì là thua ạ. Cụ có thấy là cuộc chiến ở nước ta đặc biệt không?”, thì ông quân nhân già liền đập lại: “Tao đánh giặc cả mấy chục năm nay cũng chưa dám bàn tới, chú mày mới thử có vài ly rượu đã dám vơ cả vào mình. Chiến tranh hả. Chiến tranh là cái c. chó gì.” (Sđd, trg 71).

Thế hệ trước thì già nua mệt mỏi. Thế hệ sau thì chán nản, bất lực, không còn tin vào bất cứ điều gì, ngay cả thứ “ngoại bang” tận tụy mang xương thịt tiền bạc khí tài đến cũng là của giả nhân giả nghĩa. Nhân vật Hoán của Thảo Trường đã nhổ toẹt vào sự giúp đỡ bỉ ổi đó: “Bộ cứ của Mỹ là không giả sao. Mẹ cóc! Ông có vẻ tin tưởng vào mấy thằng cha đó hơi nhiều. Ông có biết không, Mỹ nó làm được… người giả nữa là rượu (…)Tụi nó văn minh lắm. Nó có thể chế ra được bất cứ cái gì. Nó có thể chế ra người máy, vệ tinh, phi thuyền, mà nó lại còn có thể chế ra tự do, dân chủ, độc lập. Nó chế ra được hết. Nó có thể chế ra được nó nữa. Hà hà, ông già thấy kinh chưa. Ông đừng có tin ở tụi nó kỹ quá, có ngày nó chế ra được ông đấy.” (Sđd, trg 72, 73).

Không rõ, khi để nhân vật của mình thốt ra những câu nói trên với một ông già đã trải qua 2 cuộc chiến tranh đẫm máu, có phải là một thông điệp của cả thế hệ phải gánh chịu những tai ách (nhân tai) gửi đến những kẻ cầm đầu hay chăng?

Trong Cánh đồng đã mất, Thảo Trường đã phác họa chân dung hai thế hệ cùng bước vào nơi chốn không lành lặn, bình yên. Tuổi trẻ thì sôi nổi, hối hả và hoài nghi, còn tuổi già như ông sĩ quan già trong căn cứ này trở thành nhân vật chai lì, cô đơn qua thời gian: “Rượu đã không còn có thể làm cho ông nôn mửa. Đàn bà cũng không còn có thể làm cho ông kêu lên rên rỉ kể cả cái giây phút chuyển sang. Ông bị cằn cỗi? Nhiều lần ông đã tự hỏi như vậy. Tuổi trẻ đã mất. Nhưng liệu tâm hồn ông đã mất mát hết chưa?”. Ông không thể tham gia với đám trẻ trong hội quán qua những bước nhảy nhanh chậm trên sàn, không còn cái háo hức, rực lửa của tuổi trẻ để ôm chặt người bạn nhảy trong vòng tay. Tất cả như đã biến mất khỏi cuộc đời, y như cánh đồng trước kia mênh mông màu xanh cỏ phủ tràn cùng những bông hoa dại rung rinh trước những cơn gió phất qua, nay đã biến mất. Mùi thơm của hoa cỏ đất trời đã biến dạng. Cánh đồng của sự bình yên đã méo mó, của hoa thơm, cỏ mượt xanh đã chìm lấp bên dưới những giao thông hào, vòng rào kẽm gai, như ông sĩ quan già đã bị lấy mất tuổi thanhh xuân của chính mình, như tuổi trẻ của Hoán bất chợt đổi thay về số phận và khung cảnh: “Tôi đã… thơ thẩn trong những bụi cây lùm cỏ, tôi đã có lần thấy những bông hoa dại trên những lùm cỏ đó. Tôi đã nhìn ngắm bông hoa dại, đã ngắt nó cài lên nón. Đó là ngày xưa.” (trg 41).

Sự biến mất kia đâu chỉ mình ông già, người bạn, Hoán, hay Hoa, Tâm… những nhân vật trong truyện phải gánh chịu, mà hình như, mà chắc chắn như cho cả mọi chúng ta, khi mà cuộc sống bị xua đuổi đi sang một ngóc ngách khác, khi mà tất cả phải thụt lùi, chạy trốn khỏi những phát đạn nổ dã man trên khắp phần đất này. Thảo Trường đã vẽ nên sự phi lý ấy qua cảnh những người dân quì mọp xuống đất vái lạy chiếc trực thăng đang vòng vòng trên cao bằng những phát đạn nổ quanh họ: “Đạn đại liên trên máy bay tuôn xuống làm thành một vòng tròn xung quanh đám người. Những viên đạn cầy xuống ruộng nước bắn tung tóe. Đoàn người bên dưới sợ hãi, có người quì xuống bùn chắp tay lạy lên máy bay lia lịa. Mấy người Mỹ chỉ trỏ cười hô hố… Cuộc bắn dọa thật vô cùng dã man.” (trg 92). Đó là vùng đất bị khoanh tròn, là vùng oanh kích tự do, là nơi mà các phi vụ oanh kích ở những nơi khác chưa kịp ném hết bom, các phi công lượn đến và trút xuống những quả bom còn lại để đáp xuống phi trường an toàn. Đó là vùng đất chết. Là nơi mà người dân bị xua đuổi ra khỏi làng để cách ly với VC, đồng thời những hố bom đó, tiêu biểu cho sự chết chóc lại là nơi đang nuôi sống họ: “Cá nhiều lắm. Ở các hố bom của các ông đó. Các hố bom lớn lắm. Lớn bằng cái ao lận. Nước đọng lâu ngày có rất nhiều cá. Chúng tôi đi tát nước bắt cá ở các hố trong vùng này.” (trg 97). Cái chiến tuyến giữa ta và địch không rạch ròi, không có ranh giới nhất định. Ngày là của bên này và đêm là của bên kia. Hôm nay là đất của phe địch và mai kia lại thuộc về phe ta. Cảnh lộn xộn vất vưởng này cứ lặp đi lặp lại đến nỗi những kẻ nhân danh tự do dân chủ, mang cả tiền của máu xương đến “viện trợ” có lúc cũng phát khùng: “Người nước ông không tôn trọng thông cáo gì cả. Khu này đã có lệnh cấm từ lâu. Lệnh cấm đã được phổ biến rộng rãi. Họ không tôn trọng quân lệnh. Người nước anh chỉ làm khó cho quân đội. Người nước anh không có kỷ luật.” (trg 94). Còn người trong cuộc là Hoán khi nhìn thấy cảnh này cũng đâm ra cáu tức không kém: “Đ.m. các anh, đang nói mà các anh bắn như vậy hỏi còn làm c. gì nữa.” (tr 95). Chỉ với một khoảnh khắc nhỏ ở một vùng đất nhỏ không tên tuổi, Thảo Trường đã đẩy lên tính cách bi hài của cuộc chiến bẩn thỉu này rồi, chỉ vì lãnh tụ của hai bên mượn tay ngoại bang dưới hình thức này hay hình thức khác, để phang vào đầu nhau cho đến khi nào giành được phần thắng về mình, cái mà họ kêu là chính nghĩa!? Sự bi thảm của cả dân tộc trong giai đoạn này, được ông gói gọn trong lời thoại của chị đàn bà: “Sống! Ai lại không muốn sống hả ông? Nhưng sống thì phải ăn chứ. Ruộng vườn tan hoang cả rồi, chúng tôi phải đi bắt cá. Bắt cá về bán mua gạo mà ăn. Ông có biết thế không?” (trg 99). Hẳn nhiên nhân vật Hoán hiểu, hiểu rất rõ nhưng đành bất lực, bởi quyền hạn không nằm trong tay anh. Nhưng giả thử có nằm trong tay thì chắc Hoán cũng không thể làm được gì tốt đẹp cho nhân dân của anh đang bị mỗi phe phía xỏ dây mũi dắt chạy như trâu bò. Nhắm mắt lao tới như lũ điên loạn!

Sự bất lực của tuổi trẻ, hoài vọng và mơ ước không thành, được Thảo Trường khép lại bằng cảnh Hoán đón chiếc xe ngựa trở ra thị trấn: “Hoán nhìn ông già và nhìn con ngựa. Cả hai đều cũ kỹ già nua như nhau. Con ngựa ỉa xuống đường mấy cục cứt úa vàng. Hoán thấy rõ bụng nó phải thót lại, hai chân sau hơi khuỵu xuống trong một động tác thật mệt nhọc.

Đoàn xe nhà binh vẫn chạy qua vẫn chưa hết.” (trg 125)

Truyện chấm dứt ở đó. Chấm dứt với nỗi mệt nhoài đầy đau khổ, thất vọng một cách thản nhiên!

*

Nhưng đến Người đàn bà mang thai trên kinh Đồng Tháp thì khác: Thảo Trường đã công khai bày tỏ thái độ của mình cho cả hai phe tham chiến với lối văn kể chuyện rất bình thản, dung dị mà đau mà thấm đẫm chất nhân văn qua từng nhân vật, phơi bày bộ mặt thật của chiến tranh một cách gớm ghiếc. Con kinh nhỏ, thẳng tắp ở một quận lỵ nhỏ heo hút là khởi đầu câu chuyện được nhà văn mô tả: “nó èo ọt như một chiếc que đan”. Nhưng đọc đến cuối truyện thì con kinh đó lại giống như lưỡi gươm bén nhọn, xiên chết không chút xót thương đối với người dân vô tội, mà chị Tư như một biểu tượng cho cả dân tộc, cho hai đầu đất nước! (Nhiều lần tôi đã lặp đi lặp lại biểu tượng này trong các bài viết về những nhân vật nữ của Thế Uyên, Lữ Quỳnh, Y Uyên, Khuất Đẩu…)

Với những người đàn bà như chị Tư, hẳn không ai muốn xa lìa mái ấm gia đình niềm hạnh phúc bên chồng con. Khốn nỗi, dù có muốn hay không cũng không do chị chọn lựa. Sự chọ lựa là do kẻ khác, tập đoàn súng đạn khác, vượt ra khỏi ý thức và hành động của những người dân bình thường. Và đó cũng là nguyên nhân chính đẩy chị đi hết những bi thảm này đến những bi thảm khác, một cách nhục nhã. Hôm nay chị bị trùm lên lớp áo màu đỏ, ngày mai lại bị lột ra xỏ vào thân xác chị lớp màu sơn khác, quay mòng mòng như một con rối: “Chị Tư biết đến những tiếng: Tự Do, Dân Chủ, Ðộc Lập, Hạnh Phúc, Căm Thù, Ðả Ðảo… và nhiều tiếng nữa từ đó”. Và sau đó: “Chị đi làm ấp chiến lược, chị học tập chính trị “tam túc”, “tam giác” trong vòng đai kẽm gai và bờ đất”. Con rối nhân dân là chị Tư giờ bỗng dưng trở thành con người “toàn diện” tiêu biểu cho họng súng của hai phía, cứ đều đều khạc ra lửa: “Chị Tư lúc này đã trở nên một người biết tới hai chủ nghĩa: cộng sản và nhân vị. Chị có thể nói rất trôi chảy về những chủ nghĩa đó vì chị đã được nghe quá nhiều lần”.

Nỗi uẩn nhục của chị Tư càng ngày càng dày thêm lên, cao hơn lên cho tới khi đạt đến đỉnh điểm của khoái cảm lẫn nhục nhã, ê chề, đau đớn: “Thời gian này chị Tư quên đi mất hình ảnh anh Tư, vì chị Tư đã được sống lại những cảm giác khoái lạc đến hỗn độn với anh binh sĩ truyền tin và “chú” em trai cán bộ. Chị dãy dụa trong những niềm hoan lạc tràn ngập đó. Cuối cùng, đến một hôm, cái thai trong bụng chị máy động. Cái máy động thứ nhất làm chị bàng hoàng. Chị tự hỏi “nó” là của ai? Của anh cán bộ hay anh binh sĩ truyền tin? Chị thẫn thờ cả người và chị muốn rời ngay cái chốn đó. Chị tự hỏi của ai? Chị muốn biết của ai? Cái thai của ai cũng được nhưng chị phải biết chắc là của người nào. Lúc này chị lại nghĩ tới anh Tư dữ dội. Và chị Tư bỏ dở công tác binh vận. Chị trở về căn nhà xiêu vẹo ở ven bờ kinh. Chị khóc ròng vì không biết cái thai của ai”.

Những giọt nước mắt của chi Tư, đồng thời cũng là tỉ tỉ giọt nước mắt của phụ nữ hai miền trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất, phải cắn răng chịu đựng, chỉ vì đó là nhiệm vụ thiêng liêng được giao phó và phải hoàn thành. Và, vô hình chung, thân xác người phụ nữ trong tình cảnh này biến thành những trao đổi cho mưu đồ độc ác nhất, trở thành một phương tiện cho cái mục tiêu nhớp nhúa họ muốn đạt tới!

Những giọt nước mắt đó nói theo giọng văn học hiện thực xã hội là mang tính tố cáo. Tôi nghĩ, khi Thảo Trường cho những giọt nước mắt chảy ròng ròng, ông không hề đi theo khuynh hướng dòng văn học kia là kêu gào, tố cáo… mà hơn hết là phơi bày cái đằng sau nó (những giọt nước mắt), phơi bày bộ mặt thật của cuộc chiến tranh bẩn thỉu đến buồn mửa này!

Thân xác chị Tư hành động theo “lệnh”, nhưng có lúc chị cũng cảm thấy “chị quằn quại khoái lạc” khi ở bên dưới hai người đàn ông là hình bóng của hai kẻ thù đang đối đầu nhau. Lý giải cho những nhục cảm kia, hẳn chúng ta cũng cảm thông với thân phận của những chinh phụ thời đại. Đó là lẽ thường tình. Nhưng điều không bình thường ở đây là ước muốn nhỏ nhoi của người phụ nữ là muốn biết ai là người cha của cái bào thai kia, như một niềm hạnh phúc mong manh đã bị đánh mất từ mười năm về trước, chỉ còn lại là những hình bóng bảng lảng xa gần của người chồng vằng mặt, với những rung động thoi thóp chợt hiện chợt biến, không có hình dạng rõ ràng. Nhưng, ước mơ có thật, rất gần đó đã bị từ chối, bị xổ toẹt một cách phũ phàng: “Một hôm chị hỏi anh cán bộ cái thai trong bụng chị là con của ai, anh ta bảo là con của Ðảng”, rồi buộc chị phải lao tới, làm cái nhiệm vụ thi đua rất thiêng liêng kia là vác chiếc bụng chửa ì ạch leo lên cao treo khẩu hiệu, gài lựu đạn. Có vẻ như ở thời điểm này chị hài lòng về công việc được giao phó cho mình và đã hoàn thành, nhưng điều chị chưa hài lòng là tại sao anh du kích lại không thừa nhận cái bào thai trong bụng chị ở một cấp thấp, đồng đẳng với người đàn bà có mang, mà lại đẩy lên cao hơn với một hình tượng vô hình, không đầu, không chân tay, không hình hài? Nó là cái rỗng không to lớn không thể hình dung, nhưng đồng thời là cái nhỏ bé nhất, như một bóng ma lợn cọn lớp không khí bao quanh người! Chị đã hoàn thành nhiệm vụ, nhưng rất uất ức bởi không thể nhận dạng rõ ràng bộ mặt thằng cha rất trừu tượng của cái bào thai dần hồi ngọ ngoạy trong bụng. Chị hài lòng về công việc của mình vừa xong, nhưng không hài lòng về bộ mặt trống không kia, khiến chị nổi khùng: “Chị Tư ứa nước mắt nhìn tấm bảng, nhìn anh ta, rồi chị dắt anh ta vào giường. Chị Tư đè ngửa anh cán bộ xuống rồi chị khóc nấc lên thành tiếng: “Tôi đây, tôi là của anh, nhà của tôi là của anh, cái bào thai này cũng là của anh. Nó phải là của anh!” Anh cán bộ ú ớ dưới ngực chị: “Nó là của Ðảng! Tất cả là của Ðảng!”.

Câu chuyện người đàn bà tên chị Tư được Thảo Trường đẩy lên thành cao trào như trên sân khấu kịch, khi người sĩ quan chỉ huy đơn vị hành quân đến vùng đất có con kinh thẳng tắp “èo ọt như chiếc que đan”. Nhà cửa vườn tược có đấy, những khẩu hiệu và lựu đạn cài trên cây có đấy. Và có đấy người đàn bà bắt đầu phải gánh chịu mọi hậu quả từ cái từ trừu tượng kia để lại. Chị phải đối mặt với kẻ thù của cái từ trừu tượng đó. Còn lại, những người bị chị “đè ngửa” thì biến mất, trốn khỏi nỗi sợ hãi to lớn trong chị. Người sĩ quan chỉ huy vừa là hung thần với chị trong buổi đối mặt ban đầu, nhưng lại trở thành ân nhân cứu sống mẹ con chị sau tai nạn bất ngờ do nỗi sợ hãi ùa tới. Người sĩ quan này cũng không tốt đẹp gì trong đời sống, vì chính miệng anh ta nói lên: “Lúc trở về căn nhà chị Tư, người sĩ quan lại sờ trán chị Tư, sờ trán đứa nhỏ và nói với mẹ con chị rằng có lẽ anh ta cũng đã có nhiều con nhưng không biết chúng ở đâu và chưa hề khai sinh cho đứa nào. Bèn khai sinh cho đứa nhỏ này mang dòng họ của mình”. Điều gì khiến người sĩ quan hành hạ chị buổi đầu, đã trở nên nhân ái hơn khi nhìn chính tay anh ta đỡ đẻ, chăm sóc mẹ con chị Tư? Lòng nhân ái chăng? Đạo đức truyền thống chăng? Hay tình máu mủ đồng bào trong cảnh ngộ khốn cùng khiến anh ta cảm động, thay đổi thái độ hành xử? Rất có thể là tất cả, mà cũng có thể là không chút nào. Duy nhất lay động tâm hồn anh ta, bản chất người trong anh ta trỗi dậy khi thấy hình hài bé nhỏ vẫn khỏe mạnh, nằm bên chị đàn bà chịu nhiều đau khổ.

Và chính đoạn cuối của truyện mới thật sự là thông điệp gửi tới, không phải cho cậu bé được mang dòng họ anh, mà cho tất cả, cho hai phía đối đầu trong cuộc chiến tanh tưởi này: “NHẮN TIN: Nhắn cậu nhỏ mang dòng họ cùng với tôi, hai mươi năm nữa, cậu khôn lớn (lời Nhắn Tin này chỉ gửi đến cậu khi cậu đã trên hai mươi tuổi), lúc đó tôi không biết cậu sống trong hoàn cảnh nào, trong một xã hội nào. Cậu cho tôi xin cậu một điều là, trước khi cậu hành động, trước khi tranh đấu, trước khi cách mạng, trước khi biểu tình, trước khi đảo chánh, trước khi lật đổ, trước khi hành quân, trước khi thuyết pháp, trước khi cầu nguyện, trước khi hội thảo, trước khi thụt két, trước khi hành lạc, trước khi đập phá, trước khi hy sinh… nghĩa là trước khi quyết định làm một việc gì, xin cậu… chỉ xin cậu hãy nghĩ đến người đàn bà mang thai khốn khổ, hãy nghĩ tới những người mẹ bị rất nhiều chủ nghĩa với những danh từ hoa mỹ hành hạ. Xin cậu hãy nghĩ tới cái hình ảnh đó, tôi cầu xin cậu như thế, vì tôi chính là tên sĩ quan đã hành hạ mẹ cậu, đã đỡ đẻ cho mẹ cậu sau khi các đồng đội của tôi chết vì những thứ khẩu hiệu như cái khẩu hiệu “Ðả Ðảo Ðế Quốc Mỹ” ấy”.

Có lẽ, đây là truyện viết về chiến tranh hay nhất của Thảo Trường, tôi nghĩ vậy. Cảm ơn ông và mong mấy dòng ngắn ngủi trong thông điệp ông gửi đi sẽ lay động được những cái đầu khô khốc, đầy máu lửa. Và như vậy ông đã nhìn thấy sự thành công của mình từ thế giới bên kia. Và sau hết, tôi mới hiểu tại sao ông, dù không bị chính quyền miền Nam thời đó làm tình làm tội, nhưng có cái nhìn kém thân thiện về ngòi bút của ông, cũng như tại sao ông lại phải chịu tù đày 17 năm dài từ Nam ra Bắc. Bởi vì ông, Thảo Trường là một nhà văn trung thực!

Nguồn: Thư quán Bản thảo số 44

Posted: Tue Oct 26, 2010 3:07 am
by dailien
Á quân bơi thế giới chết trong lúc thi đấu

Kình ngư người Mỹ Fran Crippen đã qua đời khi đang tranh tài ở giải bơi đường trường 10 km tại Fujairah, UAE, hôm 23/10.

Image
Fran Crippen lúc sinh thời.
Crippen đã không thể về đích trong cuộc thi hôm chủ nhật. Ngay sau khi biết anh mất tích, một số đồng đội của kình ngư 26 tuổi này đã quay trở lại cùng một đội thợ lặn chuyên nghiệp để tìm kiếm Crippen nhưng bất lực. Sau gần hai tiếng đồng hồ, thi thể của vận động viên xấu số này mới được tìm thấy cách khu vực anh mất tích khoảng 2 kilomet.

Cuộc đua ở Fujairah hôm chủ nhật diễn ra trong thời tiết nóng bức. Ngoài cái chết tương tâm của Crippen, hai nữ kình ngư người Mỹ cùng một kình ngư nam người Brazil đã bị kiệt sức, khiến ban tổ chức phải đưa họ đi viện để chăm sóc y tế.

Liên đoàn các môn thể thao dưới nước thế giới (FINA) cho biết họ đã mở một cuộc điều tra để làm rõ nguyên nhân cái chết của Crippen. Trụy tim thoạt đầu được cho là nguyên nhân khiến kình ngư của tuyển Mỹ qua đời, nhưng sau đó, có một số dấu hiệu khác cho thấy Crippen có thể chết vì kiệt sức. Ở vòng đua thứ ba (cuộc đua có 5 vòng, mỗi vòng 2 km), Crippen đã thông báo với HLV rằng anh cảm thấy không ổn và bắt đầu bị tụt lại phía sau.
Image
Bạn bè và đồng nghiệp thả hoa tưởng niệm Crippen ở khu vực anh thiệt mạng.
Fran Crippen xuất thân trong một gia đình có truyền thống bơi lội tại Mỹ. Chị Maddy của Fran từng dự Thế vận hội Sydney 2000. Em gái Teresa đang thi đấu cho ĐH Florida và cũng là thành viên của đội tuyển bơi lội Mỹ. Bản thân Fran Crippen cũng là một kiện tướng của làng bơi lội Mỹ. Năm 2009, ở giải vô địch thế giới tại Rome, anh đoạt HC bạc nội dung bơi 10 km. Cùng năm, Fran Crippen còn đoạt thêm một HC đồng cự ly 5km giải bơi ngoài trời ở Canada.

Phương Minh

Posted: Wed Oct 27, 2010 1:12 am
by tiendung
Bạch tuộc Paul qua đời
Chú bạch tuộc nổi tiếng nhờ tài dự đoán đúng kết quả các trận đấu tại World Cup 2010 đã chết đêm thứ hai trong một bể kính tại Oberhausen (Đức).
Các nhân viên tại Viện Hải dương học ở thành phố Oberhausen chỉ phát hiện ra bạch tuộc Paul đã chết vào sáng thứ ba. Loài bạch tuộc hiếm khi sống được quá hai năm nên việc Paul chết trong khoảng thời gian này đã được dự báo trước. Paul chào đời tại Weymouth (Anh) năm 2008, đến nay được hai tuổi rưỡi.
Image
Paul dự đoán đúng Tây Ban Nha thắng Đức trong trận bán kết World Cup 2010.
Đại diện Viện Hải dương học cho hay Paul vẫn bình thường khi được kiểm tra lần cuối vào tối thứ hai trước khi nó chết. Viện trưởng Stefan Porwoll phát biểu: “Chúng tôi cảm thấy được an ủi phần nào khi Paul đã sống một cuộc đời tốt đẹp và có ích. Tình cảm giữa chúng tôi và Paul ngày càng sâu đậm và mọi người sẽ rất nhớ anh bạn này”.

Người phụ trách bộ phận chăm sóc cho Paul, Chris Davies tâm sự: “Hôm nay là một ngày đáng buồn. Paul luôn đặc biệt tại đây. Chúng tôi đã cố gắng chăm sóc Paul trước khi nó qua đời”.

Một đài tưởng niệm nhỏ dự kiến sẽ được dựng lên bên cạnh bể nước mà Paul sinh sống ở khu công viên Sea Life. Trước khi Paul qua đời, một bộ phim tài liệu về cuộc sống của chú bạch tuộc nổi danh này đã được quay, nhiều kế hoạch sản xuất các đồ chơi liên quan tới Paul đã được dự định cho ra đời vào dịp Giáng sinh sắp tới. Paul hiện được lưu giữ đông lạnh trong khi chờ Viện Hải dương quyết định nên làm thế nào để đánh dấu sự qua đời của chú bạch tuộc nổi tiếng này.

Từ một con bạch tuộc vô danh, Paul nổi tiếng khắp thế giới sau khi dự đoán chính xác kết quả thắng thua tất cả các trận đấu có đội tuyển Đức tham dự tại World Cup vừa qua, bằng cách lựa chọn chiếc hộp đựng thức ăn có chứa quốc kỳ của một trong hai đội tuyển trước mỗi trận. Chú chọn hộp có màu cờ nước nào thì đội tuyển đó sẽ thắng. Đỉnh cao của Paul là dự đoán đúng Đức thua Tây Ban Nha trong trận bán kết. Nó cũng đoán đúng Tây Ban Nha thắng Hà Lan ở chung kết. Nhờ đó Paul rất được hâm mộ tại Tây Ban Nha.

Minh Phương

Posted: Thu Oct 28, 2010 2:37 am
by hoanghoa
Image

Ăn rau không chú ơi?
Một giọng khàn khàn, run run làm gã giật mình. Trước mắt gã, một bà cụ già yếu, lưng còng cố ngước lên nhìn gã, bên cạnh là mẹt rau chỉ có vài mớ rau muống xấu mà có lẽ có cho cũng không ai thèm lấy.

- Ăn hộ tôi mớ rau...!

Giọng bà cụ vẫn khẩn khoản. Bà cụ nhìn gã ánh mắt gần như van lơn. Gã cụp mắt, rồi liếc xuống nhìn lại bộ đồ công sở đang khoác trên người, vừa mới buổi sáng sớm. Bần thần một lát rồi gã chợt quay đi, đáp nhanh: Dạ cháu không bà ạ! Gã nhấn ga phóng nhanh như kẻ chạy trốn. Gã chợt cảm thấy có lỗi, nhưng rồi cái cảm giác ấy gã quên rất nhanh. "Mình thương người thì ai thương mình" - cái suy nghĩ ích kỷ ấy lại nhen lên trong đầu gã.

- Ăn hộ tôi mớ rau cô ơi! Tiếng bà cụ yếu ớt.
- Rau thế này mà bán cho người ăn à? Bà mang về mà cho lợn!

Tiếng chan chát của một cô gái đáp lại lời bà cụ.

Gã ngoái lại, một cô gái cũng tầm tuổi gã. Cau mày đợi cô gái đi khuất, gã đi đến nói với bà:

- Rau này bà bán bao nhiêu?
- Hai nghìn một mớ - Bà cụ mừng rỡ.

Gã rút tờ mười nghìn đưa cho bà cụ.

- Sao chú mua nhiều thế?
- Con mua cho cả bạn con. Bây giờ con phải đi làm, bà cho con gửi đến chiều con về qua con lấy!

Rồi gã cũng nhấn ga lao vút đi như sợ sệt ai nhìn thấy hành động vừa rồi của gã. Nhưng lần này có khác, gã cảm thấy vui vui.

Chiều hôm ấy mưa to, mưa xối xả. Gã đứng trong phòng làm việc ngắm nhìn những hạt mưa lăn qua ô cửa kính và theo đuổi nhưng suy nghĩ mông lung. Gã thích ngắm mưa, gã thích ngắm những tia chớp xé ngang trời, gã thích thả trí tưởng tượng theo những hình thù kỳ quái ấy. Chợt gã nhìn xuống hàng cây đang oằn mình trong gió, gã nghĩ đến những phận người, gã nghĩ đến bà cụ...

-Nghỉ thế đủ rồi đấy!

Giọng người trưởng phòng làm gián đoạn dòng suy tưởng của gã. Gã ngồi xuống, dán mắt vào màn hình máy tính, gã bắt đầu di chuột và quên hẳn bà cụ.

Mấy tuần liền gã không thấy bà cụ, gã cũng không để ý lắm. Gã đang bận với những bản thiết kế chưa hoàn thiện, gã đang cuống cuồng lo công trình của gã chậm tiến độ. Gã quên hẳn bà cụ.

Chiều chủ nhật gã xách xe máy chạy loanh quanh, gã vẫn thường làm như vậy và có lẽ gã cũng thích thế.
Gã ghé qua quán trà đá ven đường, nơi có mấy bà rỗi việc đang buôn chuyện.

Chưa kịp châm điếu thuốc, gã chợt giật mình bởi giọng oang oang của một bà béo:

- Bà bán rau chết rồi.
- Bà cụ hay đi qua đây hả chị? - chị bán nước khẽ hỏi.
- Tội nghiệp bà cụ! một giọng người đàn bà khác.
- Cách đây mấy tuần bà cụ giở chứng cứ ngồi dưới mưa bên mấy mớ rau. Có người thấy thương hỏi mua giúp nhưng nhất quyết không bán (vì nghe đâu bà ta bán cho người khác rồi và người mua nhờ giữ hộ để họ sẽ đến lấy), rồi nghe đâu bà cụ bị cảm lạnh.

Nghe đến đây mắt gã chợt nhòa đi, điếu thuốc chợt rơi khỏi môi.
Bên tai gã vẫn ù ù giọng người đàn bà béo kia. Gã không ngờ...!

(Nhận được từ trên Internet/không rõ xuất xứ)

Posted: Thu Oct 28, 2010 5:57 am
by thienthanh

Image

VŨ HỮU ĐỊNH -
Người đội vương miện cho thành phố Pleiku

Đầu thập niên 70, sau khi bỏ ngôi nhà thuê ở cuối đường Ngô Tùng Châu, gia đình chúng tôi dọn về cư xá Bưu Điện.

Chúng tôi ở căn đầu, có chiếc cửa số ngó vào đường Hồng Thập Tự, mà bên kia đường là cư xá Thành Tín, nơi làm việc của Vũ Quang Ninh, Hoàng Quốc Bảo, Từ Công Phụng, Hồ Đăng Tín, Dương Nghiễm Mậu, Nguyên Huy,... thuộc đài Phát thanh Tiếng Nói Tự Do. Sau, tới phiên tôi, cũng thường ra vào cư xá đó, đưa bài cho đài Mẹ Việt Nam ; và, kịch cho nghệ sĩ Bích Sơn...

Mặt tiền cư xá Bưu Điện, là con đường dẫn qua nhà bạn tôi, Phạm Tuấn Bách, và đài phát thanh Saigòn: nơi làm việc của một số bạn tôi, như Nguyễn Đình Toàn, Uyên Thao, Vũ Thành An...

Bên hông ngôi nhà tôi ở, có một xe phở và một xe bún bò Huế khá nổi tiếng. Nhiều buổi sáng, nhà văn Thảo Trường bắc tay làm loa gọi tôi, bảo khôn hồn thì dậy cho mau, ông sẽ cho ăn bún bò... Tiếng gọi của ông cùng mùi ban mai thức sớm trên những cành, trái trứng cá, mùi bún bò Huế, mùi phở, bay tới tận chỗ tôi nằm. Hẻm kiệt này, không biết từ lúc nào, đã trở thành những buổi sáng của văn nghệ miền Nam tụ tập, đấu láo, cười, nói, ồn ào, váng vất tới trưa, vẫn khôn tan, lắng.

Không biết có phải ngôi nhà chúng tôi ở là một địa điểm thuận lợi về nhiều mặt hay không, mà thời gian này, rất nhiều anh em văn nghệ cũ, mới thường xuyên viếng thăm, lui tới... Có tuần lễ các phái đoàn văn nghệ ở xa về, đổ bộ đông quá, nhà tôi phải đem cháu về bên ngoại, nhường chỗ ở cho họ.

Thời gian này cũng là thời gian Nguyễn Tất Nhiên “tha” người về nhà tôi nhiều nhất. Từ Lê Vĩnh Ngọc, Phạm Đình Thống, tức Phạm Chu Sa, tới Ngụy Ngữ, Hạc Thành Hoa, Hoàng Yên Duy, Chung Đình Ngọc, vân vân... Trong số những người Nhiên “tha” về đó, có Vũ Hữu Định.

Một buổi trưa, từ cục Tâm Lý Chiến về nhà, tôi đã thấy Nguyễn Tất Nhiên đang ngồi uống cà phê với một thanh niên đậm người, thấp, đen... Nhiên cười toe bảo, Vũ hữu Định đấy anh. Em Pleiku má đỏ môi hồng đó anh...

Lúc này ca khúc Còn Chút Gì Để Nhớ của Phạm Duy đang trở thành phổ thông. Anh em văn nghệ rất lấy làm thích thú khi được biết thêm rằng, lời của ca khúc này là thơ của Vũ Hữu Định. Tôi nghĩ, phải thành thật ghi nhận rằng, trước khi có ca khúc Còn Chút Gì Để Nhớ, ít ai biết Vũ Hữu Định. (Có phải vì thơ anh ít xuất hiện trên mặt báo?)

Gặp gỡ thứ nhất, với Vũ Hữu Định, tôi đã có thiện cảm ngay với người làm thơ có dáng vẻ hiền lành này. Những lần trở lại sau này của họ Vũ, càng gia tăng thêm lòng yêu mến ở nơi tôi. Điều tôi thích nhất nơi Vũ Hữu Định, là Định không bao giờ thảo luận văn chương. Định cũng không mầu mè, không lên gân, không tác điệu cho ra vẻ của một người làm thơ. Cần gì, Định nói thẳng thành lời, chẳng quanh co rào đón. Bên trong cái dáng vẻ cục mịch, hơi ngơ ngác, Vũ Hữu Định, trong ghi nhận của tôi còn là một người rất ý tứ. Tôi nhớ những lần trong nhà tôi gần hết cà phê, hết thuốc lá, Định tế nhị từ chối không uống, không hút.. Cùng lắm, Định bảo tôi mua cho Định một bao thuốc đen Quân Tiếp Vụ. Định nói Định quen hút loại thuốc đó. Tôi hiểu, sự thực, Định muốn nhường thuốc thơm cho người khác.

Giao tiếp lâu với Định, tôi được biết Định có một đời sống rất cơ cực.
Sinh trưởng ở thành phố Quảng Nam trong một gia đình nghèo, nên việc học của Định vì thế, cũng lỡ dở. Ngay từ tấm bé Vũ Hữu Định đã phải lao vào đời để kiếm sống. Hoàn cảnh này, đưa tới sự kiện Vũ Hữu Định lập gia đình sớm. Định mơ ước một ngày nào có nhiều tiền, Định sẽ đền đáp công ơn cho người vợ tào khang của mình.

Định nói, chính vì không kiếm ra tiền nuôi vợ con cho nên tôi mới phải bỏ vào Saigòn, để khỏi thấy cảnh gia đình nheo nhóc. Vào đây, tưởng kiếm được việc, ai ngờ việc không có mà lại còn là gánh nặng cho bạn bè vì hoàn cảnh trốn lính của tôi nữa!

Tuy không khá, nhưng Vũ Hữu Định là một người rất trọng nhân cách.
Ít năm sau biến cố 30 tháng 4-75, tôi được tin Vũ Hữu Định mất tại Đà Nẵng. Đã nhiều năm qua, tôi không được gặp những người bạn chung, nên không kiểm chứng được tin này. Nhưng, ở quê người, mỗi khi tình cờ được nghe ca khúc Còn Chút Gì Để Nhớ, tôi không nhớ Pleiku, (cái nơi chốn ảnh hưởng rất nhiều tới đời sống riêng của tôi,) mà, tôi lại chỉ nhớ Vũ Hữu Định. Tôi nhớ tới anh, như từng nhớ tới Hàn Mặc Tử; người, bằng những vần thơ của mình, đã đội vương miện cho Thôn Vỹ Dạ; hoặc, như Nguyễn Nhược Pháp, người đã làm cho những thước đường dẫn tới Chùa Hương ngạt ngào trầm, hương vĩnh cửu.

Như Hàn Mặc Tử, như Nguyễn Nhược Pháp..., Vũ Hữu Định không còn nữa, nhưng những phần đất, những địa danh (những phần xương thịt của tổ quốc, của quê hương,) nhờ họ mà thơm tho hơn, đáng yêu hơn, vẫn còn đó. Và, tấm lòng chúng ta yêu mến họ, các thi sĩ, vẫn còn đó, dù có trải qua bao vật đổi sao dời.

Du Tử Lê

Posted: Thu Oct 28, 2010 6:57 pm
by lengoi

Image

Nỗi Đau Tuổi Già


Báo OC Register thứ sáu tuần trước có đăng tin một ông già bị người ta đem bỏ trước cổng một ngôi chùa ở thành phố Westminster. Ông lặng lẽ ngồi trước hiên chùa suốt ngày. Cảnh sát đến mang ông vào bệnh viện tâm thần. Ông không có trong người bất cứ một thứ giấy tờ nào để biết được ông là ai, ở đâu. Ông không nói một lời nào, chỉ biết lặng lẽ, đôi khi cười một mình như một người mất trí. Ông là một người châu Á, Việt Nam cũng chưa chừng, như vậy ông không phải sinh ra ở đây, hay từ trên trời rơi xuống như cô bé Maika trong một tập phim Tiệp Khắc. Vậy là có người chở ông tới và bỏ ông lại đây, không ai ngoài con cái hay thân thích của ông. Lâu nay thỉnh thoảng người ta thấy có những thiếu phụ sinh con rồi đem con bỏ vào thùng rác, nhưng chưa thấy ai đem cha mẹ vứt bỏ ngoài đường. Ông già chỉ cười vu vơ, trí nhớ của ông đã suy kiệt, nếu không ông sẽ đau khổ biết chừng nào?


Trước đây người ta kể chuyện có người chở bà mẹ già bỏ ở cây xăng, tôi không tin, tưởng là chuyện đùa, nhưng bây giờ thực sự lại có người “đem cha bỏ chùa ”.


Cũng lại câu chuyện của một người già. Tháng trước, trong một dịp đưa người thân đi Việt Nam, tại quầy vé China Airline ở phi trường Los Angeles tôi đã chứng kiến một cảnh khá đau lòng. Trong khi mọi người đang xếp hàng trình vé, cân hàng thì một bà cụ người Việt cứ loay hoay lúng túng trước quầy vé với các thứ giấy tờ vương vãi, bề bộn trên sàn nhà. Bà ngồi bệt xuống đất hết móc túi này đến túi nọ, vẻ mặt lo lắng. Một nhân viên an ninh phi trường thấy tôi cũng là người Á Đông, ngỏ ý muốn tôi lên giúp bà cụ. Nhân viên quầy vé cho biết bà có vé máy bay, một visa nhập cảnh Việt Nam nhưng không có passport hay thẻ xanh. Tôi giúp bà moi từ đống giấy tờ ra chỉ thấy một cái hộ chiếu của Việt Nam cấp cách đây mười mấy năm khi bà đến Mỹ đã hết hạn và một cái ID của bà do tiểu bang Florida cấp. Bà mới từ Florida đến phi trường Los mấy giờ trước đây một mình và trình giấy tờ để lên máy bay đi Việt Nam.


Cuối cùng, bà cũng lên được máy bay, nhưng bà sẽ không bao giờ có thể trở lại Florida nữa vì trong tay bà không có passport của Hoa Kỳ, không thẻ xanh, không “entry permit”. Đây là trường hợp một bà mẹ già, quê mùa bị con cái “mời khéo” về Việt Nam. Tội nghiệp cho bà đã ngồi trên máy bay năm sáu tiếng đồng hồ để đến phi trường LAX, sắp tiếp tục chặng đường về Việt Nam nhưng không biết là mình không thể trở lại Mỹ và lòng bất nhân của con cái.


Hình ảnh bà già này cứ ám ảnh tôi mãi. Bà vụng về, quê mùa, có lẽ cũng chẳng giúp ích được gì cho con cái mà chỉ thêm gánh nặng. Thôi để cho bà đi, khi biết mình không trở lại Mỹ được thì chuyện đã rồi. Tuổi bà có nằm lại trên quê hương cũng phải, sống chẳng giúp ích gì được cho ai, chết ở đây bao nhiêu thứ tốn kém.


Hai vợ chồng sang Mỹ từ hai mươi năm nay, đi làm nuôi con, mua được căn nhà đã pay off. Khi các con đã có gia đình ra riêng thì ít năm sau ông cụ cũng qua đời. Thấy mẹ hiu quạnh trong một căn nhà khá lớn, mà giá nhà đang lên, các con bàn với mẹ bán nhà đi rồi về ở với các con. Bà mẹ bán nhà, thương con chia đều cho mỗi đứa một ít, còn dăm nghìn dắt lưng, rồi về ở với con. Bà không biết lái xe, không biết chữ nghĩa, cũng không biết trông cháu làm home work, nên cha mẹ chúng phải nhờ người đưa đón. Bà thích nấu ăn, gói bánh, kho cá, nhưng sợ nhà hôi hám, con cái không cho. Lúc đầu thì chẳng sao, lâu dần mẹ thành gánh nặng. Buổi chiều, đứa con gái xô cửa trở về nhà, thấy mẹ đang gồi xem TV, nó hất hàm hỏi:

-“Có hiểu gì không mà thấy má ngồi coi suốt ngày vậy?”

Có lúc chuông điện thoại reo, đứa con nhấc máy, bên kia không biết ai hỏi gì, trước mặt bà già, nó trả lời nhát gừng:

-“Bả đi khỏi rồi!”

Một bà mẹ khác, ở chung nhà với một đứa con nhưng nhờ một đứa con khác đưa đi bác sĩ. Xong việc, nó đưa mẹ về rồi lẹ lẹ dọt xe đi làm. Bà già vào tới cửa, móc túi mãi không tìm ra cái chìa khóa nhà. Bà không có chìa khóa, không cell phone, cũng không có tiếng Anh, sợ sệt không dám gõ cửa hàng xóm. Bà ngồi đó, trên bục cửa cho tới chiều, khi đứa con ở chung nhà đi làm về, thì bà đã kiệt sức vì khô nước, phân và nước tiểu đầy mình.

Đời xưa, người ta kể chuyện trong một gia đình, có hai vợ chồng đối xử với ông cha già đã run rẩy của mình tệ bạc, cho cha ăn trong cái “mủng dừa”. Một hôm hai vợ chồng đi làm về thấy đứa con nhỏ của mình đang hì hục đẽo một cái gáo như thế, được cha mẹ hỏi, nó “thành thật khai báo” rằng “để dành cho cha mẹ lúc về già”.

Đâu phải ai nuôi con cũng nghĩ tới lòng cha mẹ, cũng như nhớ truyện “trồng đậu có đậu, trồng dưa có dưa”.

Posted: Fri Oct 29, 2010 12:49 am
by thienthanh

Image

Nhạc sỹ Nguyễn Văn Tý:
Giữa cảnh nghèo cô đơn
Ông nằm đó, im lìm trên chiếc giường sắt nhỏ. Căn phòng chật chội ngột ngạt, hầm hập hơi nóng của buổi trưa Sài Gòn. Nhạc sỹ Nguyễn Văn Tý trở mình khó khăn khi thấy chúng tôi đến thăm ông. Ông yêu cầu đỡ ông ngồi dậy, thay áo cho ông ra ghế uống trà nói chuyện dù chúng tôi muốn ông cứ nằm nghỉ và trò chuyện. Nhạc sỹ lừng danh Nguyễn Văn Tý, thần tượng của nhiều thế hệ người Việt Nam yêu tình ca, nhạc cách mạng hiện ở trong căn nhà nhỏ, cũ kỹ, tường vôi tróc lở, thiếu thốn tiện nghi ở số 94/19 đường Trần Khát Chân - quận 1 - TP HCM.

Nhìn quanh căn nhà, vài chiếc ghế cũ kỹ, bộ ấm chén cọc cạch ố vàng, chiếc đài cát sét han gỉ từ những năm 80. Bên cạnh giường ông nằm là chiếc đàn organ bám bụi, hỏng mất vài phím, có tuổi thọ không dưới 15 năm ông dùng để viết nhạc. Trên tường trơ trọi chiếc đàn tì bà cũ sờn, tróc hết nước sơn đã lâu rồi không cất tiếng vì những ngón tay của ông 5 năm nay không còn nghe lời nhạc sỹ nữa. Ông với chiếc gậy chống ba chân, khó khăn đứng lên, chúng tôi dìu ông ra ghế. Nhạc sỹ nói: "Bác quen rồi, nếu không có ai dìu, để có thể đi từ đây ra nhà vệ sinh, bác phải mất gần 10 phút". Lòng nghẹn đắng, chúng tôi run run khi chạm vào người nhạc sỹ - thần tượng của ông bà, cha mẹ chúng tôi một thời giờ như ngọn nến trước gió, lê đi từng bước nhỏ khó khăn.

Trên ban thờ, hai lư hương của hai bà vợ lạnh lẽo. Ông ngồi xuống thở dốc, khó khăn và cười: "Bác không biết các cháu là ai, nhưng thấy có người đến thăm bác mừng lắm. Cả tuần nay bác chẳng trò chuyện với ai. Buồn chỉ nhìn lên ban thờ, lẩm nhẩm tâm sự với hai bà ấy thôi". Nhạc sỹ Nguyễn Văn Tý có hai đời vợ. Bà vợ đầu tiên sống với ông một năm, sinh hạ một con gái thì qua đời. Bà Bạch Lê là vợ thứ hai - em gái nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương, mất năm 2004. Năm nay nhạc sỹ Nguyễn Văn Tý 85 tuổi, tuổi mà người ta đang vui vầy cùng cháu con, hưởng phúc ấm những ngày cuối đời bình lặng. Nhưng hiện ông sống cô đơn lay lắt trong căn nhà lạnh lẽo. Hai lần tai biến mạch máu não khiến nhạc sỹ Nguyễn Văn Tý bị liệt nửa người. Lần thứ 3 - lần tai biến cuối cùng không biết lúc nào xảy ra với ông khi sức khỏe của ông càng ngày càng yếu.

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý đi lại phải có chiếc gậy 3 chân và phải có người dìu. Cô giúp việc mà ông coi như con hàng ngày đến đỡ đần ông việc nhà, nấu nướng. Ngồi bên ông, ôm lấy bàn tay run run của ông và nghe thời gian, không gian như dừng lại. Một lúc sau, người nhạc sĩ già nói: "Từ khi bà ấy mất năm 2004, bác sống cô đơn và buồn lắm. Hai năm sau bác bị liệt. Con ở Hà Nội hơn 10 năm mới vào một lần. Đứa ở Sài Gòn thì một tháng đến thăm bác một lần. Nhiều lúc mong thấy các con lắm, nhưng bác biết chúng nó cũng bận bịu, vả lại cũng khó khăn đủ đường. Mỗi lần Tết đến, vào mồng 2, bác đi thăm các con và lì xì cho các con từ số tiền bác cố gắng mỗi tháng để dành ra một ít. Đó là thời gian bác thấy vui nhất. Giống như hồi trẻ thơ vậy, mong Tết về trước cả tháng. Ngày xưa mong Tết vì pháo thơm, vì có quà lì xì của bố mẹ, giờ mong Tết để nhìn thấy nụ cười của con cháu". Chúng tôi hỏi bác sinh sống hàng ngày thế nào, tiền hưu có đủ trang trải cuộc sống, thuốc men không? Nhạc sỹ Nguyễn Văn Tý buồn buồn nói: "Một tháng bác có 3 triệu tiền lương hưu, nhưng phần lớn dùng để mua thuốc trị bệnh. Còn lại vài trăm ngàn để ăn uống sinh hoạt. Rau cháo đạm bạc qua ngày thôi. Bác phải uống nhiều thuốc lắm, toàn thuốc đắt tiền phải tự mua, còn thuốc được cấp ít dùng vì không hiệu quả.

Lâu lâu bác lại được người ta trả một ít tiền bản quyền, cũng chả biết có ở đâu để đòi, mà có biết thì cũng làm sao mà đi đòi?".
- Thế còn bạn bè có biết bác ốm đau để đến thăm hỏi giúp đỡ bác không ạ?
- Chỉ có một người thôi, mỗi tháng qua biếu bác 200 ngàn. Tháng nào quên thì tháng sau biếu bác 400 ngàn.
Thỉnh thoảng nhà thơ Đỗ Trung Quân và vài người bạn qua thăm, động viên giúp đỡ bác. Có lúc buồn quá, bác gọi điện cho nhà thơ Đỗ Trung Quân hỏi có chương trình ca nhạc gì hay, dẫn bác đi xem với, bác buồn quá. Bây giờ có người để bác gặp mặt, nói chuyện cũng là niềm hạnh phúc, an ủi lớn với bác rồi. Thấy các cháu qua chơi bác vui lắm. Có người trò chuyện bác thấy khỏe ra. Nhạc sỹ nhìn chúng tôi mắt rưng rưng. Dừng lại một lúc, tay run run cầm tách trà, nhạc sỹ Nguyễn Văn Tý nói tiếp: - Bác không trách bạn bè vì có nhiều người cũng không biết bác hiện thời ra sao, hoặc xa xôi cách trở, người còn người mất. Có người thành đạt, gia tài đồ sộ như ông Phạm Duy, danh tiếng lẫy lừng bác cũng ngồi đây mừng thay cho bạn thôi. Bác mong họ hạnh phúc, khỏe mạnh và không lâm vào tình trạng như bác. Nhiều khi, bác buồn quá ngồi ngẫm lại những kỷ niệm cũ, với anh em bạn bè, với những người phụ nữ bác từng yêu, thời kháng chiến hào hùng ấm tình đồng đội. Rồi những “Dư âm”, “Người đi xây hồ kẻ gỗ”, “Mẹ yêu con”… vọng về từ đâu đó của ký ức để bác nguôi ngoai". Ông nhìn lên ban thờ và mỉm cười: "Bà ấy đẹp lắm, mặn mà và thanh tao.

Những năm bác đi công tác biền biệt, bà ấy (chỉ bà vợ sau - Bạch Lê) phải về ở với mẹ chồng ở Thanh Chương - Nghệ An. Về sau bà ấy kể lại, những khi máy bay địch vần vũ trên bầu trời, bụng mang dạ chửa bà được mẹ bác đỡ lên bè chuối đẩy ra giữa sông để tránh bom. Khi bác về thăm nhà, nghe kể lại mà bác vừa xúc động vừa mừng vì mẹ và vợ mình vẫn an toàn qua cơn bom đạn. Mừng hơn khi bác được làm cha lần thứ hai.

Bác không biết diễn tả thế nào cho các cháu hiểu cảm giác khi bác run run vén mùng nhìn đứa con gái bầu bĩnh, mắt to tròn thích thú nhìn bác, đôi môi chúm chím bập bẹ… Những hình ảnh thiêng liêng ấy là dòng suối âm nhạc tuôn trào cho ca khúc “Mẹ yêu con” ra đời. Các cháu chắc cũng từng nghe bài hát đó"

Nguyễn Phúc

Posted: Sat Oct 30, 2010 2:57 am
by vuphong
Image

Triệu Đoá Hoa Hồng

(NhạcHoà Tấu : Nga (Alla Pugacheva)
Lời Việt: Unknown)


Một chuyện tình yêu anh họa sĩ
Vào trong tranh vẽ những u buồn
Lòng anh thầm yêu nàng ca sĩ
Cô gái rất yêu bông hoa hồng

Dưới anh nắng sương long lanh
Triệu cành hồng khoe sắc thắm
Mới sáng sớm bên song thưa
Em bên hoa cười trong nắng
Mới diễm phúc cho anh
Thêm bao yêu thương lòng say đắm
Sẽ mãi mãi như hoa kia
Trao cho em suốt cuộc đời

Và vì bình minh em tỉnh giấc
Tưởng còn say đắm giấc mơ màng
Khoảng vườn nhà em hoa rực rở
Ai đã mang hoa trao cho nàng

Thầm hỏi lòng em ai triệu phú
Ai người mang đến những bông hồng
Một mình lẻ loi trong thương nhớ
Chờ em anh đứng dưới hiên buồn

Posted: Sat Oct 30, 2010 4:05 am
by lengoi
Dưới chế độ thực dân Pháp, Việt Nam đã từng có tự do báo chí
Friday, October 29, 2010

Phạm Quế Dương

Gần đây dư luận khá sôi động về việc Thủ Tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo liên tiếp đưa ra những phát biểu hô hào cho dân chủ,
tự do và kêu gọi giới lãnh đạo Ðảng Cộng Sản Trung Quốc nhanh chóng tiến hành cải cách chính trị.

Image
Bìa báo Nam Phong Tạp Chí năm 1971. (Hình:Langtucodoc/Wikimedia/Public Domain)


Trong cuộc trả lời phỏng vấn gần đây của đài CNN, Thủ Tướng Ôn Gia Bảo khẳng định rằng tự do ngôn luận là một quyền không thể thiếu ở tất cả mọi nước, bất kể là nước đang phát triển hay đã phát triển, nước nghèo hay nước giàu.

Trong giới học giả Trung Quốc cũng có nhiều người phát biểu, viết bài và viết kiến nghị tập thể ủng hộ ý kiến của Thủ Tướng Ôn Gia Bảo. Có người còn nói rằng: “Ôn Gia Bảo muốn trở thành Mikhail Gocbachev chăng?”

Sự thật thì vấn đề tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam hiện nay dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng Sản Việt Nam vẫn còn bị ngăn cấm. Song dưới thời thống trị của thực dân Pháp, ở nước ta đã có thời kỳ tự do báo chí. Báo của Ðảng Cộng Sản Việt Nam lúc đó gọi là Ðảng Cộng Sản Ðông Dương ở cả Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ đều đã từng xuất hiện. Tên các tờ báo đó là: Ðọc, Le Peuple, Tin Tức, Dân Tiến, Dân Muốn, Ðời Nay, Ðiện Tín... Ðấy là những thông tin rút ra từ tờ báo Dân Chúng của Ðảng Cộng Sản Việt Nam xuất bản ở Sài Gòn, lúc đầu ra tuần hai số, sau ra hàng ngày. Trụ sở của báo ghi công khai ở số nhà 51-E Clorel Gimaud - Saigon, nay là phố Phạm Ngũ Lão.

Xin gửi lại độc giả bài: “Từ đây nhân dân Ðông Dương được hưởng hoàn toàn tự do báo chí” đăng trên số 15, ngày 10 tháng 9 năm 1938 của báo Dân Chúng:

“Từ đây nhân dân Ðông Dương được hưởng hoàn toàn tự do báo chí.”

“[...]Sức tranh đấu oanh liệt hàng bao nhiêu năm của dân chúng xứ này hiệp với sức tranh đấu ủng hộ của bình dân Pháp đã đem đến cho nhân dân Ðông Dương sự tự do báo chí, một điều trong các quyền tự do dân chủ mà chúng tôi, là những người cộng sản, nhiệt liệt bênh vực và luôn luôn đi tiên phong trong sự chiến đấu để thực hiện những nguyện vọng thiết tha ấy.[...]

“Căn cứ vào sức tranh đấu của nhân dân Ðông Dương , sức ủng hộ của bình dân Pháp , dựa vào lời quyết nghị của Tòa Thượng Thẩm Paris về vụ Dân-Quyền ngày 22 juillet 1938, chúng tôi đã cho xuất bản tờ Dân-Chúng, một tên lính tiên phong cho sự tự do báo chí, không phải xin phép trước. Toàn thể dân chúng xứ này đều hoan nghênh.

“Hơn một tháng sau, Quan Bảo Hộ ở Pháp ngày 6 tháng 9, 1938 ấn hành đạo sắc lịnh 30 tháng 8, 1938 bãi bỏ những điều khoản 2, 4 của sắc lịnh 30 tháng 12, 1898 về chế độ báo chí ở Ðông Dương, nhìn nhận chánh thức sự tự do xuất bản báo chí quốc âm.

“Nhân dân Ðông Dương!

“Chúng ta được thêm một khí cụ để mạnh mẽ tiến bước đến sự thi hành triệt để các quyền tự do dân chủ khác. Tiến lên.”

(Nguồn: Thông Luận 2010)

Phạm Quế Dương37 Lý Nam Ðế
Ðiện thoại: # 84-4-62 700 002

Posted: Sat Oct 30, 2010 8:41 pm
by khieulong
Image

"Trả Ta Sông Núi"


Ít người Việt miền Nam không biết đến ông Phạm Văn Liễu vì tên ông cứ trôi nổi với thời gian từ khi Thiếu tá Liễu tham gia cuộc đảo chính không thành chống lại chính phủ Ngô Đình Diệm ngày 11-11-1960.

Bây giờ ở tuổi 75, ông viết hồi ký "Trả Ta Sông Núi", đã in được 2 trong số 3 tập, kể lại đời mình từ khi thanh niên Phạm Văn Liễu đi kháng chiến chống Tây rồi lưu lạc sang Tầu (1946 - 1949) với ẩn danh "Cách mạng" Trần Sơn Nam trước khi trở về Việt Nam tiếp tục cầm quân đánh nhau với Việt Minh.

Đi cùng quân lính vào miền Nam sau Hiệp định Geneve 1954 chia đôi đất nước, người sỹ quan trưởng thành Phạm Văn Liễu tiếp tục chỉ huy quân đội chống lại quân Cộng sản. Năm 1955 ông là người đã thành lập Binh chủng Thủy quân Lục chiến của quân đội Việt Nam Cộng Hòa và là cấp Chỉ huy thứ hai của binh chủng này.

Đến tháng 11-1960, người từng xưng ""Thưa Tổng thống, Tôi người Bắc" với Tổng thống Ngô Đình Diệm để bị "từ chối bắt tay" vào thời các Sỹ quan Quân đội hay các chính khách, cấp chỉ huy dân chính phải "Bẩm Cụ, Thưa con", ông Liễu tham gia cuộc đảo chính trong nhóm Trung tá Vương Văn Đông và Đại tá Nguyễn Chánh Thi. Cuộc đảo chính bất thành khiến ông phải lưu vong qua Cao Miên.

Sau cuộc đảo chính lần hai chống chính phủ Ngô Đình Diệm thành công của nhóm Sỹ quan do tướng Dương Văn Minh cầm đầu năm 1963, ông Liễu giã từ cuộc đời lưu vong bên xứ Chùa Tháp trở về Quân đội tiếp tục cầm quân đánh nhau với Cộng sản hoặc đào tạo Quân đội.

Thời chính phủ Phan Quy Quát ông được mời giữ chức Tổng Giám đốc Cảnh sát Quốc gia từ 1965 đến tháng 5/1966.

Nhưng cuộc đời binh nghiệp và chính trị của "chuyên viên đảo chính" Phạm Văn Liễu , như nhiều người đã gọi ông hay như ông nhìn nhận "đã tham gia nhiều cuộc đảo chính và phản đảo chính", được coi như "bế mạc" từ năm 1969, khi Tổng thống (Trung tướng ) Nguyễn Văn Thiệu, sau thời gian củng cố quyền hành, bổ nhiệm ông giữ chức "ngồi chơi xơi nước" Chỉ huy Trưởng căn cứ huấn luyện Đồng Tâm ở vùng Cửu Long.

Tại đây, có lần ông Liễu bị "ai đó" đầu độc bằng thuốc bỏ vào một bát chè, nhưng thoát chết sau một thời gian dài chữa trị. Ông Liễu nói ông không thể gán cho ai làm việc đó vì ông không nắm trong tay bằng chứng cụ thể nhưng vào lúc bấy giờ, với tính tình bộc trực, ưa nói ngay, nói thẳng và nói thật dù mất lòng của ông Liễu, ai cũng nghi đó là một cuộc "đầu độc" có lý do của những người không ưa hay sợ ông.

Ông Liễu như cá sống trên khô như chim bị nhốt vào lồng không còn toan tính gì được nữa. Vì vậy mà ông đã coi Tổng thống Thịêu là "người có tài củng cố quyền hành chứ không có tài đánh giặc."

Tổng thống Thiệu đã có lần muốn ông đi làm Tỉnh trưởng cho "khuất mắt" nhưng ông Liễu từ chối vì, theo lời ông: "Tôi biết ông Thịêu muốn hủ hoá tôi, đưa tôi vào con đường tham nhũng để bêu xấu tôi."

Và theo lời Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng (Đại học George Mason) thì ông Liễu cũng từ chối lên cấp Tướng,nếu chỉ để "ngồi mát ăn bát vàng" chẳng có quyền hành gì cả. Ông Liễu , vẫn theo Giáo sư Hùng, chỉ muốn làm Tư lệnh Thủy quân Lục Chiến hay Tư lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh là hai đơn vị có thể làm đảo chính nên ông Thịêu không bao giờ đồng ý !

Sau ngày quân Cộng sản miền Bắc chiếm Sài Gòn ngày 30-4-1975, mái đầu "đen - bạc" Phạm Văn Liễu lưu vong lần thứ ba sang Hoa Kỳ để rồi lại rơi vào hệ lụy "kháng chiến không đi tới đâu" với "Mặt trận Quốc gia thống nhất Giải phóng Việt Nam" hay còn được gọi là "Mặt trận Hoàng Cơ Minh", từ năm 1980 .

Giấc mộng làm cách mạng của ông cựu Đại tá Phạm Văn Liễu một lần nữa không thành. Mặt trận Hoàng Cơ Minh Minh mà ông đã góp công xây dựng và lãnh đạo dưới tên "kháng chiến" Trần Trung Sơn từ những ngày còn trong trứng nước đã vỡ ra làm hai mảnh sau thời gian cơm không lành mà canh cũng chẳng ngọt giữa ông và Đề đốc Hoàng Cơ Minh và anh em nhà tướng Minh. Sự bất đồng đưa đến đổ vỡ giữa họ tập trung vào guồng máy được gọi là "tổ chức kinh tài" cho Mặt trận do anh em nhà họ Hoàng và các cộng sự viên thân tín của tướng Minh điều hành.

Những người ly khai quây quần với ông Liễu có cả Cựu Đại tá Cảnh sát Trần Minh Công đã tìm cách lấy lại uy tín "kháng chiến" sau khi Mặt trận tan hàng rã cánh năm 1983 với nhiều tai tiếng "tiền bạc lem nhem" và "kháng chiến bên ngoài Việt Nam". Nhưng ông Liễu cũng đã "sức cùng lực kiệt" không đi thêm được bước nào nữa.

Phe theo Đề đốc Minh tiếp tục con đường được gọi là "dấn thân" nhưng họ cũng đã bị đứt gánh giữa đường, trên đường xâm nhập vào Việt Nam, theo ngả miền Nam nước Lào. Tướng Minh bị thiệt mạng. Một số người khác bị mất tích hay bị bắt trong cuộc đụng độ với quân Cộng sản Lào và Việt Nam ngày 28-8-1987, theo tin của Mặt trận phổ biến ngày 28-7-2001. Sự "giấu tin" tướng Minh tử trận trong suốt 14 năm từ 1987 đến 2001 vẫn chưa được giới Lãnh đạo còn lại của tổ chức giải đáp minh bạch.

Tuy nhiên sự đổ vỡ của phong trào kháng chiến đã làm cho ông Liễu ray rứt khá nhiều vì có nhiều người đã vì tin ông mà ủng hộ hay đi về "khu kháng chiến" với Mặt trận. Mái tóc hoa râm của ông vì vậy mà đã bạc đi nhanh hơn thời gian từ dạo ấy.

Sự "bạc trắng tay không " bây giờ, 20 năm sau, đã mon men xói mòn cuộc đời thất bại nhiều hơn thành công của một Phạm Văn Liễu, chỉ mới biết khóc với thật lòng mình một lần trong đời, theo lời ông kể, là khi ông đứng trước quan tài vợ mình. Bà Liễu ra đi ngày 29-2-1992 để lại cho ông 7 người con vào năm Bà mới 54 tuổi.

Hình ảnh một Sỹ quan oai phong, hùng tráng trong bộ quân phục Thủy quân Lục chiến năm nào của ông Liễu không còn nữa. Nó cũng mất đi hình ảnh thiêng liêng của một chiến sỹ "kháng chiến áo nâu, mũ vải rộng vành và khăn rằn ri quàng cổ " của Phạm Văn Liễu khi ông còn đứng trước đám đông người Việt tị nạn chăm chú nghe ông nói chuyện kháng chiến giải phóng quê hương khỏi ách cai trị của Cộng sản Việt Nam vào những năm 1981 - 1982.

Ngày nay, sau "những cơn đau tinh thần vẫn còn ray rứt của cuộc đời binh nghiệp và chính trị" và sau nhiều cơn bạo bệnh thể xác , ông Liễu không còn đi lại bình thường được nữa. Người bạn gần gũi và thân thiết nhất bây giờ của ông không phải là hàng hà sa số bạn hữu ở khắp bốn phương trời thế giới mà là "chiếc xe lăn" vô tri vô giác ngày đêm đang gắn bó với ông!

Nhưng giọng nói của "ông già 75 tuổi" Phạm Văn Liễu bây giờ vẫn còn là của Đại tá Phạm Văn Liễu trên 40 tuổi khi xưa đứng trước hàng quân hay mỗi khi nói chuyện với các Sỹ quan và nhân viên ngành Cảnh sát VNCH. Giọng ông tuy không còn hùng dũng, sang sảng như ngày còn nắm binh quyền nhưng bộ óc minh mẫn và lối nói chuyện hấp dẫn của Tác giả "Trả Ta Sông Núi" vẫn còn đấy.

Ông Liễu đã chứng minh điều này trong buổi ra mắt hai tập Hồi ký của mình ở Trường Lụât, Đại học George Mason hôm 5-10 vừa qua. Mặc dù phải bó thân trong chiếc xe lăn chật hẹp nhưng ông đã nói không ngơi nghỉ hơn một tiếng đồng hồ và còn muốn nói nhiều nữa về những diễn biến lịch sử xung quanh lý do tại sao ông viết hồi ký và trả lời những câu hỏi của cử tọa.

Ông Liễu bảo ông viết hồi ký không phải để khoe tên tuổi hay đề cao cá nhân mà để "Viết lại những lỗi lầm đời mình dài theo dòng lịch sử quốc dân làm món quà cho những người bạn trẻ."

Ông viết trong lời mở đầu Tập I:" Cổ nhân dạy: Dẵm lên sương sớm, nhớ tới muà Đông. Biết đâu, những kinh nghịêm máu và nước mắt đời tôi chẳng giúp vài ba bạn trẻ hằng tâm với đất nước nào đó tránh được những vết xe đổ của người đi trước? Đó là tâm nguỵên duy nhất của người viết."

Ông Liễu có được mãn nguyện hay không thì chỉ có thời gian mới trả lời được. Nhưng những vinh nhục của người lính chiến đấu và người lính cách mạng Phạm Văn Liễu từ năm 1945 cho đến bây giờ vẫn còn nguyên đó. Nó bám lấy ông như hình với bóng để cùng lớn lên với những vết nhăn trên khuôn mặt khắc khổ của một người lính dường như chưa bao giờ biết mỏi mệt.

Ông tự ví mình là người "lúc nào cũng chỉ biết đội trời" nhưng ông đã "vá" được gì chưa thì tôi thiết tưởng Tác giả "Trả Ta Sông Núi" là người biết rõ mình hơn ai hết.

Ông Phạm Văn Liễu có muốn quên đi những vinh nhục của đời mình cũng chẳng dễ gì vì ông là một nhân vật lịch sử. -/-

Phạm Trần (10-03)

Posted: Sun Oct 31, 2010 4:55 pm
by khieulong

Image

NHỮNG MẠC ĐĂNG DUNG TÂN THỜI!

LÃO MÓC


Năm 1541, theo Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Mạc Đăng Dung và cháu là Mạc Văn Minh cùng bầy tôi là bọn Nguyễn Như Quế hơn 40 người, tự buộc dây thừng vào cổ, đi chân đất qua cửa Nam Quan, quỳ lạy, phủ phục trước quân Minh, khúm núm dâng biểu xin hàng, nộp trình sổ sách đất đai cho quân Tàu để mong nắm giữ vương quyền và thủ lợi riêng tư.

Ngày nay, những Mạc Đăng Dung “tân thời” dùng “chuyên cơ” sang chầu hầu “Thiên triều” ở Trung Nam Hải, ký kết các Thỏa ước về biên giới Việt Trung ngày 30-12 năm 1999 và Thỏa ước về Vịnh Bắc Bộ ký ngày 25-12 năm 2000.

Với thỏa ước về biên giới Việt Trung năm 1999 thì bọn Mạc Đăng Dung tân thời đã “dâng” ải Nam Quan và thác Bản Dốc cho “Thiên triều”.

Trong bài điều trần “Về việc đảng Cộng Sản Việt Nam, Lãnh đạo Nhà nước cắt lãnh thổ, lãnh hải cho Trung Quốc”, giáo sư Trần Đại Sỹ có kể câu chuyện rất cảm động như sau:

“Trong lần về Việt Nam này, chúng tôi thuê xe đi Lạng Sơn. Khi tới trạm biên giới mới, chúng tôi xin sang lãnh thổ Trung-quốc mới (Nam Quan cũ) thì bị Công an Việt Nam từ chối. Chúng tôi đặt vấn đề: Chúng tôi mang thông hành Liên Ấu, có visa hợp pháp vào Việt Nam thì chúng tôi có quyền ra khỏi Việt Nam chứ? Công an cửa khẩu trả lời rằng: “Ông có visa vào cửa khẩu Tân Sơn Nhất, Nội Bài, chứ không có quyền rời Việt Nam bằng cửa Hữu Nghị. Chúng tôi xin chụp hình cửa khẩu mới thì họ không cho. Chúng tôi đành về, rời Tân Sơn Nhất đi Quảng Châu. Từ Quảng Châu đi Nam Ninh. Từ Nam Ninh thuê xe tới Bằng Tường là đất Trung Quốc đối diện với Nam Quan. Rồi vào Nam Quan cũ. Đứng trước vùng đất thiêng của tổ tiên, nay vĩnh viễn trở thành đất của người . Tự nhiên tôi bật lên tiếng khóc như trẻ con. Viên sĩ quan Công an Trung Quốc tưởng tôi là người Hoa . Anh ta hỏi:

-Tiên sinh có thân nhân tử trận trong dịp mình dạy bọn Nam man bài học à?

Tôi lắc đầu, khóc tiếp. Anh an ủi:

-Thôi, người thân của Tiên sinh đã hy sinh dưới cờ thực, nhưng nay bọn Nam man đã dâng đất này tạ tội rồi. Tiên sinh chẳng nên thương tâm nhiều.

Tôi kiếm tảng đá ngồi ôm đầu khóc. Anh công an bỏ mặc tôi. Khóc chán, tôi trở sang Bằng Tường, kiếm một cơ sở mai tang (Xây mộ, làm mộ chí). Tôi mượn họ khắc trên một miếng đá bóng nhân tạo (granite) bài thơ bằng chữ Hán. Bài thơ 16 chỉ xin ghi ra đây 4 câu, như sau:

“Thử địa cựu Nam Quan
Biên ải ngã cố hương
Kim thuộc Trung Quốc thổ
Khấp khốc, ký đoạn trường…”


Và tác giả tự dịch ra như sau:

“Đất này xưa gọi Nam Quan
Vốn là biên địa cố hương của mình.
Hiện nay là đất Trung nguyên
Khóc chảy máu mắt, đoạn trường ai hay?...”


Đứng trước mảnh đất được gọi là ải Nam Quan là địa danh lịch sử, đã đi vào tâm tư, là niềm tự hào của dân tộc nay đã bị bọn Mạc Đăng Dung tân thời”dâng” cho “Thiên triều”, bác sĩ Trần Đại Sỹ đã “khóc chảy máu mắt”!

Nhưng, có một ông “trí thức” lại cảm thấy dửng dưng, lại còn ra sức bênh vực cho… Tàu. Người đó là ông cựu Thẩm phán Nguyễn Cần, tức Lữ Giang, tức Tú Gàn.

Ông này chơi trò “trồng chuối ngược” là ra sức chứng minh ải Nam Quan là của Tàu. Ông này đưa ra đủ thứ “phịa sử” nhưng, sau cùng thì ông ta đành ngậm miệng - cũng giống như ông ta đã phải ngậm câm miệng hến trước sự tranh đấu kiên cường, bất khuất của linh mục Nguyễn Văn Lý mà ông ta đã hỗn xược gọi vị linh mục này là “ngôn sứ đô-la”.

Gần đây, trong bút hiệu Lữ Giang, Tú Gàn lại tiếp tục làm chuyện “trồng chuối ngược” viết bài kín đáo bênh vực cho bọn Mạc Đăng Dung tân thời trong “tiến trình mất đất”.


Ai cũng biết hậu quả mà 84 triệu người dân trong nước phải gánh chịu ách cai trị độc tài của một giai cấp bóc lột, phi nhân là đảng Cộng sản Việt Nam mà đảng này là do tên tội đồ của dân tộc Hồ Chí Minh thành lập và lãnh đạo. Để hoàn thành nhiệm vụ do Cộng sản quốc tế giao phó, Hồ Chí Minh đã can tội bán nước khi trong chức vụ Chủ tịch Nhà Nước Việt Nam đã ra lệnh cho Thủ Tướng của y là Phạm Văn Đồng gửi văn thư tới Tổng lý Quốc vụ viện Trung Cộng là Chu Ân Lai để thừa nhận quyết định về hải phận của Trung Cộng bao gồm các vùng đảo Hoàng Sa và Trường Sa ngày 14-9-1958.

Sau tháng 4 năm 1975, chính lời chúc Tết của Hồ Chí Minh:

“Đánh cho Mỹ cút, Ngụy nhào
Bắc Nam sum họp Xuân nào vui hơn!”


Nghe nói sau đó đã được nhà thơ Bùi Giáng “cải biên” thành:

“Đánh cho Mỹ cút, Ngụy nhào
Đánh cho chết mẹ đồng bào miền Nam!”


từ bấy đến nay hai miền Nam, Bắc đã “xuống hố cả nước!”.

Tội bán nước của tên tội đồ dân tộc Hồ Chí Minh rành rành như thế mà vẫn có kẻ “đạp kít” Tú Gàn ra sức viết bài bênh vực cho y.

Ông này là ông “luật sư” Nguyễn Tường Bá. Nghe nói ông luật sư này là em của cố văn hào Nhất Linh Nguyễn Tường Tam , người nổi tiếng với câu tuyên bố: "Đời tôi để lịch sử xử!” trước khi dùng độc dược quyên sinh để phản đối chế độ Ngô Đình Diệm.Thấy trong bài viết ông có khoe là “Cố vấn của Phong Trào Dân Chủ” tại Việt Nam.

Ông “luật sư” này “dzui” lắm, ông chơi trò trồng chuối ngược bằng cách viết bài “kết tội” đảng Cộng sản VN vi phạm nhân quyền… của ông Hồ Chí Minh.

Xin quốc dân đồng bào nghe trích đoạn bài viết cười chết bỏ của ông luật sư Nguyễn Tường Bá:

“Tôi không ưa thích ông Hồ Chí Minh mà còn viết bài phê bình gắt gao, nhưng khi ông Hồ đã chết và bị xâm phạm nhân quyền nghiêm trọng lâu năm, tôi bênh vực.

Tôi bị thúc đẩy bởi truyền thống nhân quyền, bênh vực mẹ góa, con côi, người cô thế của nghề luật sư mà tôi được trau dồi khi gia nhập văn phòng luật sư Vương Văn Bắc từ nửa thế kỷ nay.”

Chuyện “dzui” sau đó là ông luật sư “kết tội” “bọn đàn em” của Hồ Chí Minh đã “vi phạm nhân quyền của Hồ Chí Minh” bằng cách:

-Lấy tên Hồ Chí Minh đặt cho Sàigòn;

-Đặt ra “tư tưởng Hồ Chí Minh” và điều 4 hiến pháp

-Phát động chiến dịch Hồ Chí Minh và huynh đệ tương tàn…

Mạo danh người chết chính là vi phạm nhân quyền.

Ông Hồ đã bị vi phạm nhân quyền nhiều khi quá cố (lố?)


Và cần được công lý soi sáng. Đòi công lý này xin ưu tiên dành cho những người yêu, tôn thờ ông Hồ; trong số những người này không có tôi. Việc đòi công lý cho ông Hồ bao gồm sự phân biệt rõ những gì ông Hồ làm và những gì ông Hồ không chiụ trách nhiệm vì do đám đàn em Lê Đức Thọ, Lê Duẫn, Trường Chinh v.v.. làm. Cũng đưa ra ánh sáng những bất hạnh mà mấy năm trước khi chết ông Hồ có ý khác nên đã bị khinh khi cô lập, bao vây thậm chí bỏ cho chết dần, đầu độc.”

Và ông “luật sư” kết luận bài viết “dzui đíu tả nỗi” như sau:

“Chẳng lẽ trong nước toàn những mưu đồ chính trị, nhân danh, mạo danh, lôi ông Hồ ra làm bung xung, dẫn chứng, kiếm ăn từ trên xuống dưới mà không thấy tình yêu thật sự vô tư và trong sáng cho ông Hồ.” (Trích báo điện tử www.baotoquoc.com).

Ôi! Trời đất thiên địa quỷ thần ơi! Ôi ông luât sư Bá ơi! Ca tụng “con quỷ râu xanh” Hồ Chí Minh có “tình yêu thật sự vô tư và trong sáng” thì có khác nào ca tụng Hitler, Pon Pốt?

Ông “luật sư” Nguyễn Tường Bá còn có một bài viết còn “dzui” hơn bài này. Bài viết có cái tựa “Đừng Hiểu Sai, Viết Lầm Về Hồ Chí Minh”. Bài này được nhiều người góp ý lắm! Góp ý mà Lão Móc “tâm đắc” ghi lại trong bài viết này nguyên văn như sau: “Lời lẽ của bọn chó phản động.” Ông bạn ký tên “chuyentoan” coi chừng bị “bọn chó phản động” đi kiện về tội “vi phạm súc quyền” đấy!

Thấy dưới bài viết ông luật sư Bá có ghi chức vụ như sau: “Cựu Tổng Thư Ký Luật Sư Đoàn tại Tòa Thượng Thẩm Sàigòn”, thằng bạn thối mồm của Lão Móc nói ông này mà làm… tới chức “Tổng Thư Ký Luật Sư Đoàn tại Toà Thượng Thẩm Sàigòn” mà tới tháng Tư năm 1975 mới mất nước thì đúng là chuyện lạ!

Giận thay cho những Mạc Đăng Dung tân thời!

Ôi! Tội nghiệp thay cho những kẻ “trí thức” - như Tú Gàn, Nguyễn Tường Bá lại đi làm chuyện trồng chuối ngược!

LÃO MÓC

Posted: Mon Nov 01, 2010 3:11 am
by caolynh
Tiger Woods mất ngôi số một thế giới
Chuỗi ngày dài thống trị làng golf thế giới của Woods đã kết thúc hôm qua, khi anh bị tay golf người Anh Lee Westwood vượt qua chiếm ngôi số một.
Việc Tiger Woods bị phế ngôi sau 281 tuần liên tiếp dẫn đầu bảng xếp hạng thế giới các tay golf chuyên nghiệp nam là điều đã được dự báo. Nhưng trước thời khắc lịch sử này, cơ hội vươn lên chiếm vị trí của Woods chia đều cho hai tay golf đứng kế sau là là nhà vô địch PGA người Đức Martin Kaymer (thứ ba) và Westwood (thứ hai).
Image
Westwood. Ảnh: Golfer.


Do Westwood bị chấn thương và không thể dự giải Andalucia Masters cuối tuần qua, Kaymer được cho là có cơ hội lớn hơn. Chỉ cần lọt vào top 2 của giải đấu tại Tây Ban Nha này, tay golf người Đức sẽ lên ngôi số một. Tuy nhiên, Kaymer hôm qua đã không tận dụng được thời cơ này và Westwood bất chiến tự nhiên thành.

Westwood trở thành tay golf người châu Âu đầu tiên sau Nick Faldo năm 1994 xếp số một thế giới. Tay golf người Anh 37 tuổi này cũng là người thứ 13 có vinh dự đứng trên đỉnh bảng xếp hạng các tay golf nam thế giới kể từ khi hệ thống xếp hạng này ra đời năm 1986.

"Chẳng khác nào một giấc mơ khi mọi người nói rằng chẳng tay golf nào trên thế giới hiện tại giỏi hơn tôi. Đây là một mốc son chói lọi trong sự nghiệp của tôi. Trở thành tay golf số một thế giới là sự ghi nhận xứng đáng những nỗ lực của tôi", Westwood không giấu vẻ tự hào.

Westwood lên ngôi số một thế giới mà chưa hề có một danh hiệu lớn nào trong sự nghiệp. Nhưng nhờ phong độ rất ổn định trong hai năm gần đây - bốn lần đứng trong top 3 của sáu giải gần nhất, trong khi Woods sa sút tệ hại, Kaymer thì thi đấu không thành công, Westwood đã tích lũy đủ điểm để vươn lên ngôi số một.

12 tay golf từng giữ ngôi số một thế giới trước Westwood

Tiger Woods (Mỹ) - 623 tuần
Greg Norman (Australia) - 331 tuần
Nick Faldo (Anh) - 98 tuần
Seve Ballesteros (Tây Ban Nha) - 61 tuần
Ian Woosnam (Xứ Wales) 50 tuần
Nick Price (Zimbabwe) - 44 tuần
Vijay Singh (Fiji) - 32 tuần
Fred Couples (Mỹ) - 16 tuần
David Duval (USA) - 15 tuần
Ernie Els (Nam Phi) - 9 tuần
Bernhard Langer (Đức) - 3 tuần
Tom Lehman (Mỹ) - 1 tuần

Phương Minh

Posted: Tue Nov 02, 2010 4:40 am
by vuphong

Image

Lỡ Một Chuyến Tàu
Tưởng Năng Tiến
Cả dân tộc bước ra biển lớn.
(Nguyễn Tấn Dũng)

Tôi rất ngại chuyện đánh răng, rửa mặt. Tắm, gội, giặt giũ – tất nhiên – cũng không lấy gì làm hào hứng lắm. Kẻ xấu miệng nói như vậy là ăn dơ, ở bẩn, người biết chuyện thì giải thích rằng tại tôi không phải mạng Thủy nên sợ nước. Riêng tôi, đôi lúc, lại trộm nghĩ rằng đây là nỗi sợ chung củaquốc dân đồng bào chứ chả riêng ai. Coi:

Tắm thì ra sông, ra ao. Người già không thể bơi lội được thì ở nhà, lấy nước ở bể nước mà con cháu gánh về, dội ít gáo… Rửa mặt thì có khăn cũng được, không thì dùng bàn tay mà rửa, rồi vuốt một cái. Rửa chân thì rửa bùn đất ở ao hay nước cạnh bếp, đợi một lát cho khô khi bước lên giường thì ngồi buông thõng chân xuống, xoa vào nhau cho hết bụi cát, là rửa chân cạn. Đánh răng là chuyện không thấy ai nói đến. (Lê Văn Siêu. Truyền thống dân tộc. Trang 127& 128).

Khỏi đánh răng luôn, cho nó đỡ phiền, là chuyện cũng… bình thường thôi nhưng rửa chân bằng cách “xoa xoa vào nhau cho hết bụi cát” thì quả là vô cùng giản tiện. Những bộ tộc sống trong vùng sa mạc Sahara (như Tubu, Nubians, Zaghawa, Kanuri, Peul hay Fulani, Hausa và Songhai) nếu biết được tục lệ “rửa chân cạn” lạ lùng và độc đáo này – chắc chắc – sẽ đều phải thích thú gật gù tán thưởng, và chân thành tỏ lòng ngưỡng mộ. Nhiều ông, nhiều bà dám còn ước mơ (qua đêm) bỗng biến luôn được thành người Việt – cho nó khoẻ!

Đó là mới nói (sơ) về sự e dè trong “truyền thống dân tộc” đối với nước ở ly, ở lu, ở gáo, ở chậu, ở khạp, ở ao, hay ở giếng – cạnh nhà. Đối với nước ở thác, ở ghềnh, ở sông, ở suối, ở hồ, ở biển… thì người Việt còn ngần ngại hơn nhiều:

Lênh đênh qua cửa Thần Phù
Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm!

Nghe mà thất kinh. Dù chưa bao giờ qua cửa Thần Phù, và dù không phải là thầy bói, tôi vẫn đoán chắc rằng ghe thuyền mà “lênh đênh” ngang đây thì nhang khói bốc lên (chu cha) dám tới… thấu trời xanh!

“Chỗ này chắc tà ma dữ lắm à nha?”

“Làm gì có, cha nội. Cửa Thần Phù – thuộc huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình – là chỗ sông Chính Đại đổ ra vịnh Bắc Bộ. Chưa bao giờ nghe ai nói tới ma qủi hoặc thủy quái gì hết trơn hết trọi.”

“Vậy cớ chi mà phải hương khói (mịt mù) như vậy?”

“Chắc tại thấp thoáng thấy biển nên lật đật nhang đèn cầu cạnh, van nài, xin xỏ, lễ bái, khấn vái (tùm lum) cho nó chắc ăn – vậy thôi. Có kiêng có lành chớ bộ.”

“Ôi, mà đó là chuyện hồi xa lắc xa lơ kìa. Đến cuối đời Lê, cửa sông Thần Phù đã bị bồi lấp và trở thành đất liền. Tuy vẫn còn bị ‘ám ảnh’ bởi hai câu ca dao vừa dẫn nhưng thái độ của mọi người, đối với nước nôi, chắc cũng đã khác (xưa) nhiều rồi – đúng không?”

“Không dám khác đâu. Nghe thử hai câu ca dao (tân thời) này là biết liền hà:

Mấy ngàn cây số biển xanh
Mà sao thiếu muối cho canh hàng ngày!

Và nếu ai không tin tưởng vào giá trị của văn học truyền khẩu, muốn có chứng cớ “bác học” hơn, xin hãy nghe nhận xét sau đây của ông Tổng Thư ký Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam (“đương đại”) Dương Trung Quốc:

Chợt nghĩ lại mà giật mình, với một quốc gia nằm trải dài trên biển cả, ngay trên một tuyến đường hàng hải truyền thống nối từ Thái Bình Dương sang Ấn Độ Dương, mà dấu tích của những con tàu đắm và các cuộc khai quật khảo cổ học đáy biển gần đây là một minh chứng, mà dường như dân tộc ta đã từng là một dân tộc… sợ biển.
…

Đến mức mà một quốc gia có bờ biển dài rộng với tất cả các đô thị lớn đều nằm dọc kề bờ biển mà sau ngày thống nhất (1976) chúng ta cố đưa vào vận hành một con tàu khách hiện đại nối Hải Phòng với Thành phố HCM mà chẳng bao lâu sau, mọi người lại lội lên bờ mà đi ô tô, tàu hỏa hay sang hơn là máy bay…”

Như thế (nếu nói nói theo Khoa Tử Vi Tập Thể) dân tộc Việt thuộc mạng Mộc, mạng Kim, mạng Hoả, hay mạng Thổ (tả)… gì đó – chứ dứt khoát không phải là mạng Thủy. Vận mạng này, đã có lúc (suýt) được thay đổi bởi mệnh lệnh của một vị lãnh đạo đất nước – khi ngài nghiêm giọng hô to:

“Cả dân tộc hãy bước ra biển lớn!”

Nói thiệt: nghe mà (mừng) muốn rớt nước mắt luôn.

Ở xứ sở này, cách đây chưa lâu, hễ lò dò ra biển là bị bắn bỏ tức thì. Nếu không lãnh đạn thì cũng lãnh tù. Còn nếu may mắn mà bỏ (được) của chạy lấy người thì sẽ bị Đảng và Nhà nước ném theo (tới tấp) những lời chửi rủa tàn tệ và thô tục: đồ thành phần cặn bã, đĩ điếm, trộm cướp, ôm chân đế quốc, chạy theo bơ thừa sữa cặn, trây lười lao động, phản bộ tổ quốc…

Nay, tự nhiên, dân chúng (lại) được Thủ tướng cho phép “bước ra biển lớn”. Như vậy, kể như, là được giải phóng (thiệt) rồi. Từ đây, theo dự kiến, toàn dân sẽ được tự do di chuyển cứ y như ở xứ Angola và xứ Bồ Đào – nơi mà mọi người đều được “đi vào đi ra” (hoàn toàn) thoải mái. Miễn có cái vụ săn đuổi, giết hại, bắt bớ, giam cầm, đầy ải, hay vu cáo và rủa xả… tùm lum – như hồi đó nữa.

Thiệt là quá đã, má ơi!
Ông Nguyễn Tấn Dũng, rõ ràng, đã đáp ứng được sự khát khao (bị đè nén hơn nửa thế kỷ nay) của cả dân tộc Việt. Nói tình ngay, ai mà không ước ao được nhìn thấy xem cuộc sống của nhân loại (thật sự) ra sao – bên ngoài bức màn sắt. Do đó, diễn đàn Vươn ra biển lớn được hưởng ứng nồng nhiệt chưa từng thấy:

Kể từ ngày 13-12-2006, khi Tuổi Trẻ bắt đầu diễn đàn ‘Vươn ra biển lớn’ từ bài viết khởi động của nhà sử học Dương Trung Quốc (‘Đừng bỏ qua cơ hội lớn’), đến nay diễn đàn đã đăng liên tục 43 số báo, với trên 60 bài viết trong số trên 500 bài viết nhận được từ bạn đọc. Không chỉ bạn đọc ở mọi miền đất nước với mọi giới, mọi lứa tuổi, điều bất ngờ là diễn đàn nhận được rất nhiều email của bạn đọc đang sinh sống, học tập, làm việc ở nước ngoài mà lúc nào tấm lòng cũng hướng về Tổ quốc mình.”

Ngoài những bài viết đã được chọn đăng trên Tuổi Trẻ mà ở đó các tác giả đã thể hiện trăn trở và tâm huyết với nước nhà trước vận hội mới, những bài viết chưa được chọn đăng cũng bày tỏ nhiều quay quắt, băn khoăn cùng với những hiến kế táo bạo trong nhiều lĩnh vực, từ kinh tế, giáo dục, nhân lực đến cải cách hành chính, hợp tác quốc tế… với mục tiêu duy nhất: mỗi người là một tay chèo, quyết đưa con tàu đất nước ra biển lớn…

Con tầu đất nước, tiếc thay, “chưa rời bến được bao xa… đã chìm xuống biển” – theo như cách nói chua chát và ví von (Từ Titanic tới Vinashin – những cơn ác mộng kinh hoàng đến những cú lừa thế kỷ) của tác giả Nguyễn Trung:

Ngày 15 tháng 5 năm 2006, Vinashin khởi hành chuyến đi đầu tiên từ Văn phòng của Thủ tướng với quyết định 103/QĐ- TTg và cái đích đến là 10% thị phần đóng tàu biển của thế giới… Sau bốn năm hành trình và chưa rời bến được bao xa thì Vinashin đã chìm xuống biển sâu… dù vụ đắm tàu Vinashin không cướp đi những mạng người, nhưng cơn ác mộng của nó gây ra không phải là nhỏ. Hàng chục ngàn người mất việc. Nhiều công ty bị đẩy đến bờ vực phá sản hay chìm ngập trong nợ nần vì hùn hạp làm ăn với Vinashin, vì nhận thầu của Vinashin. Nhiều gia đình, mà trong có nhiều người về hưu, thương bệnh binh lâm vào sự khó khăn túng quẫn vì đã lỡ cho Vinashin vay mà không đòi được tiền.

Dư luận, trong cũng như ngoài nước – xem ra – đều có vẻ đồng thuận với nhận xét khắt khe, thượng dẫn. Theo phân tích của blogger Đào Tuấn, Vinashin chỉ là một cái bánh vẽ. Còn theo tuần báo Trẻ – phát hành từ Dallas, Texas – cái gọi là Tổng Công ty Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam, thiệt ra, đúng là một “cái máy rửa tiền”.

Sự thực, hy vọng, không đến nỗi tàn nhẫn và phũ phàng đến thế. Ai lại có thể nhẫn tâm đem buôn lòng tin, và niềm hy vọng, của cả một dân tộc (vốn đã khốn cùng) như vậy chớ? Dù vậy, khó ai mà chối cãi được rằng đất nước lại vừa lỡ thêm một chuyến tầu (đời) nữa!

Ông Thủ tướng không tái xuất hiện để giải thích về chuyện lỡ tầu, và số tiền phải trả cho cái cái vé (đã lỡ mua) mắc tới mấy tỉ Mỹ kim này. Chỉ thấy một ông Phó Thủ tướng bước ra sân khấu, và hứa (đại) rằng: “Quyết tâm năm 2015 sẽ có một Vinashin mới.”

Ổng còn long trọng tuyên bố rằng đích thân “sẽ phụ trách Ban Chỉ đạo thực hiện việc tái cơ cấu toàn diện Vanishin. Ban này còn có sự tham gia của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải và gồm một số Bộ trưởng, cùng với lãnh đạo một số Ban của Đảng.”

Ý, trời đất, qủi thần ơi! Ông Nguyễn Sinh Hùng nói chuyện nghe (sao) giống như một người mới từ trên Trời rớt xuống quá hà. Coi: chớ trước nay Vinashin có hoạt động mình ên bao giờ? Đâu khi nào mà không có sự tham gia và chỉ đạo của Đảng bộ (Tổng Công ty Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam) mà ông Phạm Thanh Bình là Bí thư Đảng uỷ chớ ai.

Chuyện đổi mới Vinashin cũng đâu phải mới mẻ gì. Theo Tạp chí Xây Dựng Đảng – nó đã được “đổi mới, sắp xếp lại tổ chức và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp” từ hồi đầu năm 2007 lận:

Từ đó đã phát huy vai trò của Đảng ủy Vinashin trong việc chỉ đạo các tổ chức đảng trực thuộc thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, nghị quyết và các văn bản chỉ đạo của Ngành, lãnh đạo đơn vị thực hiện nhiệm vụ sản xuất-kinh doanh, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật thực hiện Đề án phát triển Ngành Công nghiệp tàu thủy Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực và mở rộng thị trường… Tổ chức đảng ở các đơn vị thành viên từ chỗ có 35 TCCSĐ (khi thành lập Đảng bộ Vinashin), đến cuối năm 2006 đã phát triển thành 68 TCCSĐ với hơn 3.200 đảng viên. Các tổ chức đảng phát huy vai trò là hạt nhân chính trị ở cơ sở, lãnh đạo làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, của Đảng ủy Vinashin nhất là những chủ trương, chính sách về đổi mới, sắp xếp lại tổ chức và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước.

Năm năm sau, ông Phó Thủ tướng lại nhắc (lại) “chủ trương, chính sách về đổi mới, sắp xếp lại tổ chức và nâng cao hiệu quả”của Vinashin, và hứa hẹn rằng năm năm sau nữa – năm 2015 – sẽ có… một Vinashin mới!

Chèng ơi! Sao cứ “năm năm” hoài vậy, cha nội?

Thì cũng hỏi cho nó ra lẽ vậy thôi, chớ mạng tui kỵ nước (thấy rõ) đâu có mặn mà ham hố gì chuyện xuống tầu, vươn ra biển lớn. Còn cả dân tộc Việt thì không biết là mạng Kim, mạng Hoả, hay mạng Thổ (tả) gì đó mà cứ bị cái đám đầu trộm đuôi cướp móc túi và xí gạt hoài à!

Tưởng Năng Tiến