Bình Luận , Quan Điểm

thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

ÐỪNG MÊ NGỦ NỮA !

Cái tai hại cho dân tộc Việt Nam hiện nay là vai trò làm nô lệ cho Trung Cộng của Cộng Sản Việt Nam. Có nhiều người còn nghĩ rằng Việt Cộng sẽ đương đầu với sự xâm lăng của Trung Cộng. Có người thấy những vũ khí tối tân của Hoa Kỳ bao vây Trung Cộng mà cho là “thế nào Hoa Kỳ cũng không để cho Trung Cộng đánh chiếm Việt Nam”, hoặc một trận chiến sống mái giữa Hoa Kỳ và Trung Cộng thế nào cũng xảy ra. V.v… và v.v…Ðó là những kẻ nằm mơ giữa ban ngày. Nếu chúng ta, người dân Việt Nam tỉnh thức, chúng ta sẽ thấy thế lực có thể bảo vệ được Ðất Nước hiện nay chính là người Việt Nam.

Trung Cộng đã nắm đầu Bộ Chính Trị của Việt Cộng, chúng cứ thúc đẩy Việt Cộng nhường từ quyền lợi này đến quyền lợi khác cho đến khi không còn gì để nhượng nữa cũng là lúc Việt Nam không còn là của Việt Nam nữa. Dù cho Hoa Kỳ có tăng cường viện trợ cho Việt Cộng bao nhiêu súng đạn, bao nhiêu tiền của chắc chắn cũng như bể, như nước đổ đầu vịt mà thôi. Ðó là chưa kể một khi Chú Sam thấy có lợi là Chú Sam bán ngay không một chút tiếc rẽ, không một chút do dự. Những ngày gần đây, có nhiều người cho rằng Trung Cộng có vẻ hòa hoãn hơn lúc trước, hy vọng vụ Biển Ðông Việt Nam sẽ không mất quyền lợi. Trên thực tế Trung Cộng đang vẫn xâm lăng và bước chân xâm lăng của Trung Cộng thật vững chắc nhờ có Việt Cộng hết lòng giúp đỡ. Sở dĩ Ðới Bỉnh Quốc phải qua Việt Nam đấu dịu với Cộng Sản Việt Nam là vì chúng sắp cho cái giàn khoan khổng lồ của chúng vào hoạt động trên biển Ðông. Tàu Cộng sợ bị quấy nhiễu miếng mồi dầu khí to lớn trong khi chúng khai thác. Tuy nói là đấu dịu, nhưng chỉ có Ðới Bỉnh Quốc “đấu dịu” hay đe dọa chứ hải quân của chúng vẫn tiếp tục quấy nhiễu Việt Nam và cụ thể nhất là chúng quấy nhiễu tàu Ấn Ðộ, dằn mặt Ấn Ðộ mà cũng gởi một thông điệp cho Hoa Kỳ, cảnh cáo Hoa Kỳ “coi chừng” khi vào hải phận Việt Nam. Nói trắng ra là Trung Cộng không muốn bất cứ nước nào giao thiệp với Việt Cộng.

Những sự việc xảy ra hằng ngày trước “thập mục quan chiêm” mà một đứa con nít cũng nhận ra là Việt Cộng không bao giờ chống Trung Cộng.

Muốn cứu nước chúng ta chỉ còn một con đường: nỗ lực vận động đồng bào trong nước cùng đứng lên, buộc Việt Cộng phải công bố tất cả những văn kiện, những sự thật trên biển và trên đất liền đối với Trung Cộng, mất bao nhiêu biển, bao nhiêu đất. Nếu không trả lời thì chúng ta có chính nghĩa để phản đối, lật đỗ chế độ Cộng Sản. Các cuộc biểu tình của dân chúng Việt Nam những tuần lễ vừa qua đã làm cho cả Trung Cộng và Việt Cộng lo sợ, nhất là tin tức cho biết dân chúng Lybia đã dần dần dẹp được tên độc tài Gadhaffi. Chắc chắn chuyến công du Việt Nam vấn đề dân chúng biểu tình cũng là vấn đề “ưu tiên một phải giải quyết”.

Sở dĩ anh em Trung Cộng và Việt Cộng sợ các cuộc biểu tình của dân chúng Việt Nam là vì những lý do sau đây: một là chống Trung Cộng xâm lăng: Sự xâm lăng trên biển và trên đất liền Việt Nam của Trung Cộng đã quá rõ ràng, dân Việt Nam có động lực chính đáng để phản đối, nếu Việt Cộng dùng bạo lực đàn áp thì mọi người đều biết chúng là tay sai của Trung Cộng, chúng đứng về phe với Trung Cộng, chúng mất chính nghĩa trước quốc tế cũng như quốc nội. Hơn nữa, một khi các cuộc biểu tình tại Việt Nam thu hút được nhiều người thì dân chúng Trung Cộng chắc chắn cũng sẽ đứng lên đòi dân chủ tự do. Rất tiếc là những tin tức về bang giao Trung Việt không được phổ biến, văn tự bán nước của Hồ Chí Minh và Phạm Văn Ðồng chưa được phổ biến sâu rộng trong dân chúng. Nhưng dần dà rồi cũng sẽ đến tai mọi người Việt Nam trong nước. Văn tự của Phạm Văn Ðồng có giá trị như một bản cáo trạng Hồ Chí Minh và bè lũ VC là những tên bán nước buôn dân. Do đó, nếu chưa có những cuộc biểu tình qui mô là vì dân chúng chưa nắm được tình hình nguy ngập của đất nước trước nạn xâm lăng của Trung Cộng và với sự “làm tay trong” của Việt Cộng.

Trước đây, khi khởi đầu vụ Biển Ðông Dậy Sóng, những tướng lãnh Trung Cộng hăm doạ sẽ đánh Việt Nam, cụ thể là chúng đã cho một số quân đông đảo tập trận gần biên giới Hoa Việt với một thông điệp: “Trung Cộng sẵn sàng cho Việt Nam một bài học”. Việt Cộng không thể im lặng mới tổ chức một cuộc họp 12 tỉnh biên giới để “sẵn sàng đối phó” với quân thù. Ðây là một lợi thế tuyên truyền cho chúng ta. Tại sao có cuộc họp này?

Vì Trung Cộng hăm dọa đánh Việt Nam. Việt Cộng đã chẳng đặng đừng tiết lộ cho quân đội nhân dân của chúng biết Trung Cộng xâm lăng Việt Nam. Binh lính cũng như các sĩ quan Việt Cộng đã hiểu phần nào tại sao dân chúng biểu tình chống Trung Cộng. Câu hỏi kế tiếp là tại sao Nhà Nước lại đàn áp khi người dân chỉ biểu tình trong ôn hòa? Cũng vì quá sợ nên báo chí Trung Cộng đã phao vu rằng những cuộc biểu tình chống Trung Cộng tại Việt Nam là do Hoa Kỳ giựt dây. Chúng ta phải làm những gì anh em Trung Cộng và Việt Cộng sợ.

Từ văn kiện bán nước của Phạm Văn Ðồng, từ những tang chứng mất Thác Bản Giốc, Suối Phi Khanh, Ải Nam Quan từ những vụ khai thác bâuxít tại Cao Nguyên từ những làng Trung Hoa được Việt Cộng cho hép thiết lập trên đất nước Việt Nam v.v… chúng ta đã có đủ dữ kiện để hô hào toàn dân tham gia biểu tình chống Trung Cộng, quan thầy của Việt Cộng.

Một sự kiện khác đã và đang xảy ra trong nước cũng liên quan mật thiết đến dân tộc Việt nam. Ðó là tình trạng đầu hàng tại chỗ của hàng giám mục Việt Nam. Nếu các giám mục minh định rõ ràng không lật đổ chính phủ, không làm chính trị, chỉ chuyên chú về mặt xã hội và tôn giáo. Nhưng những gì liên quan đến xã hội và tôn giáo? Thưa đó là nạn phá thai, nạn bóc lột dân chúng trắng trợn, nạn buôn phụ nữ ra nước ngoài làm nghề mãi dâm, nạn để cho mấy chục thiếu nữ trần truồng như nhộng để cho ngoại quốc chọn và mua, nạn nhà nước ăn cướp đất đai của nhân dân, giáo dân, những băng hoại xã hội v.v… Ðó là bổn phận của các giám mục, tại sao các ngài im lặng như vậy? Các ngài cũng thần phục Việt Cộng y như Việt Cộng thần phục Trung Cộng? Tuần vừa qua, trong thánh lễ Giáo Hội đã cho đọc bài Cựu Ước, đại ý là Thiên Chúa đã phán với một vị tiên tri: Nếu kẻ gian ác phạm tội mà người (người của Thiên Chúa) nói cho chúng biết mà chúng không ăn năn hối
cãi thì chúng sẽ bị trừng phạt, nhưng nếu chúng làm những sự gian ác mà người không nói cho chúng biết thì chúng cũng bị trừng trị và người cũng bị trừng trị (vì không nói cho kẻ gian ác biết hành động tội lỗi của chúng) Rao giảng chân lý là bổn phận hàng đầu của đạo Công giáo cho đến nỗi một vị lớn nhất trong giáo hội đã ví các giám mục là “chó của Thiên Chúa” và hỏi tại sao không sủa?

Trong bài trước, người viết có trình bày rằng chính Việt Cộng đã làm những điều phản dân hại nước rõ ràng, có thể sờ được, động đến được, đó cũng là cách thức chúng muốn cho dân chúng đứng lên lật đổ chúng, chúng cũng muốn thử thách lòng yêu chuộng công bình, sự thật của dân chúng. Nhưng dân chúng im lặng. Ðó là điều bất hạnh cho đất nước.

Cũng một thể thức đó, Việt Cộng đã “khuyến khích” Giáo Hội Việt Nam bằng những hành động công khai rõ ràng chà đạp lên Giáo Hội, phá đổ Thánh Giá, công khai ăn cướp tài sản của Giáo Hội, của Giáo Dân mà các Giám Mục im lặng. Tại sao? Hay quý vị đã cho rằng những hành động đó không liên quan đến giáo lý? Hay quý vị “đổi chát” với Việt Cộng? Hội Ðồng Giám Mục đã đổi gì? Lấy gì? “Nếu ai không thích Cộng Sản thì người đó đừng yêu cầu chúng tôi khích bác họ”. Ðây là lời tuyên bố của một giám mục Việt Nam phát biểu tại Thánh Ðường Thánh Phao Lồ ở Roma. Ðức Giám Mục này đã đổi cho Cộng Sản chính Ðức Tin của Ngài, chính Giáo Lý và Giáo Luật của Hội Thánh, đi ngượclại những huấn từ của các Ðức Giáo Hoàng. Tội của Giám Mục này đã nặng. Nhưng những ai nghe lời nói phản Chân Lý này mà im lặng cũng bị phạt chung một hình phạt, vì đồng lõa. Ðể Cộng Sản xâm nhập vào vấn đề đào tạo linh mục, điển hình là Giám Mục Tri Bữu Thiên đã cho cán bộ VC tổ chức lớp học giáo dục quốc phòng và an ninh cho Ðại Chủng Sinh giáo phận Cần Thơ (Tương Quan giữa Ðạo Công Giáo và Dân tộc Việt Nam, Lm Cao Phương Kỷ đăng trên Diễn Ðàn Giáo Dân số 117 tháng 8 năm 2011). Giáo phận Cần Thơ đã đổi chát với VC một vật tuy vô hình những rất “phá đạo”. Ðồng lõa với Giám Mục Cần Thơ cũng bị phạt như ngài.

Việt Cộng đã phục vụ Trung Cộng như những tên nô lệ, đem giang sơn của tổ tiên đổi lấy an toàn và địa vị, quyền lợi của chúng. Các Giám Mục Việt Nam đã dùng chân lý, Sự Thật và Sự Sống (thai nhi) đổi cho Việt Cộng và được chúng cho một vài quyền lợi “không đáng chi”, còn những sự trọng đại như phong chức giám mục, linh mục, bổ nhiệm v.v…

đều phải được chúng cho phép, phải “xin – cho”. “Nắm được giám mục là nắm được Giáo Hội Công giáo Việt Nam. Nắm được đảng Cộng Sản Việt Nam là nắm được đất nước Việt Nam.” Trước tình thế này: công dân Việt Nam phải lật đổ chế độ Cộng Sản Việt Nam, chúng đã không bảo vệ tổ quốc, dân tộc thì người dân phải ra tay hành động, vì không thể để giang sơn của cha ông lọt vào tay ngoại bang.

Các Giám Mục đã thần phục Việt Cộng, giáo dân thôi đừng chờ lệnh các ngài. Người Công Giáo trước hết phải vâng lời Thiên Chúa mà làm chứng Sự Thật và Công Lý.

Ðừng mê ngủ nữa!.

Lê Văn Ấn
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

Nhà nước bất hảo

Không còn cách nói nào khác hơn được để nói về chế độ CS Trung Hoa hiện nay.

Nói điều này hơi thừa, nhưng cũng phải nói, như một cách để hành xử quyền tự do ngôn luận vì ở VN ít có người dân nào dám nói lên sự thật này cho dù ở VN giờ đây có đến 700 tờ báo, hàng trăm đài phát thanh và truyền hình với hàng chục ngàn phóng viên và hàng trăm nhà bình luận thời cuộc, nhưng họ đều im re vì không được phép .

Theo BBC – RFI trích thuật lại một tờ bài báo của tờ Financial Times: “Hải quân Trung Quốc cản đường chiến hạm Ấn Độ tại Biển Đông”

“Sự cố xẩy ra vào hạ tuần tháng Bảy, nhưng đến hôm nay, 01/09/2011 mới được tiết lộ. Chiến hạm Ấn Độ INS Airavat, trên đường đi nhân chuyến ghé thăm hữu nghị Việt Nam, đã bị tàu chiến Trung Quốc xét hỏi ngoài khơi bờ biển Việt Nam. Đây là hành động mới nhất của Bắc Kinh nhằm buộc các nước công nhận chủ quyền Trung Quốc trên Biển Đông.”

Đây là một việc vô cùng nghiêm trọng nhưng Bộ ngoại giao VN – chính phủ VN vẫn lặng im như không có gì xảy ra, và người dân VN sẽ chẳng biết được điều gì nếu tờ báo trên không tiết lộ thông tin.

Tiếp theo đó báo chí và chính phủ Ấn Độ đã công khai về thông tin này nhưng nói thêm là không hề có sự hiện diện của tàu Trung quốc gần đó:

‘Theo nguồn tin này, hôm 22 tháng 7, khi ở ngoài khơi cách Nha Trang 45 hải lý, chiếc INS Airavat đã nhận được qua hệ thống radio của tàu thông điệp của một người tự nhận là “Hải quân Trung Quốc”, nói rằng “Quý vị đang tiến vào hải phận Trung Quốc”.

Đối với hải quân và chính phủ Ấn Độ đây là một hành động khiêu khích gây hấn, nhưng đối với nhân dân VN thì đây là một hành động xâm lược vì hải quân Trung cộng tự cho mình cái quyền làm chủ nhân ông trên lãnh hải VN.

Sau việc này không biết nhân dân và chính phủ Ấn Độ nghĩ gì về đất nước và dân tộc chúng ta? Nghĩ gì về chế độ CS hiện nay khi những người cộng sản đã từng tự hào rằng họ đã đánh bại hai đế quốc lớn là Pháp- Mỹ và nước CHXHXN Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, được “cộng đồng quốc tế đánh giá cao”.?!

Việc làm này của hải quân Trung Cộng (TC) biến những lời tuyên bố hùng hồn về chủ quyền và thành tựu của CSVN thành một trò khôi hài lố bịch. Chúng ta còn nhớ cách đây không lâu, ông Nguyễn Minh Triết trong chuyến thăm hữu nghị Cuba, ông đã tuyên bố rằng: “VN và Cuba cùng gìn giữ hòa bình của thế giới” vậy còn hòa bình và an ninh của VN thì để cho ai giữ đây khi TC ngang nhiên sách nhiễu những vị khách của chúng ta ngay trong hải phận của mình?

Mới đây, RFI, BBC, VOA đều đưa tin rằng: Tháng 7 năm 2011 khi chế độ Gaddafi đang trên bờ sụp đổ, vậy mà những công ty sản xuất vũ khí của Trung Cộng đã mật đàm để bán cho quân đội Gaddaffi một số lượng vũ khí như: Phi đạn chống tăng và bệ phóng phi đạn trị giá 200 triệu USD. Mục đích thực của phi vụ bán vũ khí này là TC muốn bằng mọi giá giúp đỡ cho quân đội Gaddafi đánh bại quân nỗi dậy để ngăn chặn làn sóng Cách mạng đang lan truyền từ Bắc Phi và Trung đông,đây là cách TC cứu nguy cho chính bản thân mình và nhất là các chế độ độc tài đàn em của TC. Người ta tìm thấy tài liệu này trong một cơ quan nhà nước của Gaddafi bỏ lại. Khi mọi việc đổ bể thì nhà cầm quyền Trung Cộng nói là: Họ không hề hay biết gì về vụ mua bán này. Thật khôi hài và vô liêm sỉ hết chỗ nói… Thế giới sẽ tôn trọng Trung Cộng hơn nếu họ công nhiên nhìn nhận trách nhiệm về vụ việc trên. Còn hậu quả của việc này thì xấu như nhau.

Đây không phải là lần đầu tiên Trung Cộng vi phạm lệnh cấm vận vũ khí của Liên Hiệp quốc. Họ vẫn lén lút bán vũ khí cho Iran và các chế độ bất hảo bị Liên Hiệp quốc cấm vận.

Mỹ và Thế giới đã nhiều lần than phiền, cảnh cáo, nhưng mỗi lần như vậy Trung Cộng đều phủi tay một cách trơ trẽn…Còn trong lĩnh vực kinh tế, những gì Trung Cộng đang thực hiện tại Châu Phi làm cả Thế giới quan ngại vì chính sách thực dân tàn bạo của nó.

Nhưng một vấn đề có liên quan đến an ninh và sinh mệnh của đất nước ta là việc TC cho công bố bản đồ hình chữ U xác nhận chủ quyền của họ trên 80% biển Đông,thôn tính Hoàng sa và một phần Trường sa, sách nhiễu, bắn giết ngư dân VN đang hành nghề trên vùng biển truyền thống của mình. Trên đất liền họ chiếm của chúng ta hàng trăm cây số và những vị trí chiến lược, theo một số nguồn tin thì Ải Nam quan và một phần thác Bản Giốc nay thuộc về TC.

Mưu đồ xâm lược VN là dã tâm hiển nhiên của Trung Cộng, nhưng vấn đề làm chúng ta xấu hổ và bị sỉ nhục là những lời tuyên bố của ông Nguyễn Chí Vịnh như sau:

“Trung Quốc cam kết không lấy đất, lấy biển của Việt Nam”.

Tướng Vịnh cũng nói sau chuyến thăm tới Bắc Kinh mới đây:

“Nếu Việt Nam cần sự ủng hộ, đồng cảm, hợp tác và phát triển thì còn có ai hơn một nước Trung Quốc xã hội chủ nghĩa láng giềng một khi các đồng chí tôn trọng độc lập chủ quyền của Việt Nam và mong muốn Việt Nam cùng phát triển”.

Nhà nước Trung Cộng là nhà nước bất hảo thì ai cũng biết rồi. Nhưng công khai ca ngợi và kết thân với một nhà nước bất hảo thì hành động này gọi là gì? Ca ngợi kẻ xâm lược đất nước mình, bắn giết nhân dân mình CSVN có còn xứng đáng để lãnh đạo đất nước này không?

Xin được nhắc lại lời cảnh báo nghiêm khắc của vua Trần nhân Tông “Một tấc đất của tiền nhân để lại cũng không được để lọt vào tay kẻ khác. Ta cũng để lời nhắn đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu’..

Cộng sản VN vẫn tiếp tục tư duy theo cái kiểu mà tôi xin mượn lời của ông Stora (một nhà phân tích chính trị) đã nói để áp dụng trong trường hợp này ”hình như là CSVN chưa cập nhật được tình hình địa chính trị ở thời đại mới, thời đại mà bức tường Berlin đã bị hủy, chiến tranh lạnh đã kết thúc…(và thời đại của Cách mạng Hoa lài bùng nổ) Bởi thế họ phân tích các mối quan hệ quốc tế hiện tại bằng những tiêu chuẩn lỗi thời, họ muốn trung thành với một thế giới đã đi vào dĩ vãng, vì thế họ đã tỏ ra thiển cận.”

© Huỳnh Ngọc Tuấn (Quangda1959@gmail.com)
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Thủ tướng Nhật lo ngại quân sự Trung Quốc

Tân Thủ tướng Nhật Bản Yoshihiko Noda hôm qua bày tỏ sự quan ngại trước việc phát triển quân sự của Trung Quốc trong thời gian gần đây.

Image
Tân Thủ tướng Nhật Bản Yoshihiko Noda. Ảnh: AFP
"Tôi thực sự quan tâm tới sự tăng cường sức mạnh quốc phòng của Trung Quốc, điều mà tôi cho rằng vẫn còn chưa có đủ sự minh bạch cần thiết", AFP dẫn lời Thủ tướng Noda. "Tôi cũng lưu tâm với sự gia tăng các hoạt động hải quân của Trung Quốc".

Tân thủ tướng Nhật Bản cho hay ông hy vọng nước láng giềng Trung Quốc sẽ đóng một vai trò thích hợp, như một thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.

Ông Noda còn cho biết thêm rằng ông muốn tới thăm Trung Quốc vào một thời điểm thuận lợi cho cả hai bên. Đây là phát biểu mà vị thủ tướng 54 tuổi đưa ra trước quốc hội Nhật Bản, thể hiện mong muốn thắt chặt quan hệ với Trung Quốc nhân dịp sắp kỷ niệm 40 năm hai nước nối lại quan hệ ngoại giao (1972-2012).

Tuyên bố của ông Noda được đưa ra theo sau việc phát hành sách trắng quốc phòng hồi tháng trước. Văn bản này có nội dung bày tỏ sự quan ngại trước sự mở rộng tầm ảnh hưởng hải quân, mà Trung Quốc thực hiện tại các vùng biển lân cận cũng như tại khu vực Thái Bình Dương. Nhật Bản cũng thể hiện sự quan tâm đối với sự không rõ ràng trong ngân sách quân sự ngày một lớn của Bắc Kinh.
Image
Máy bay tiêm kích tàng hình J-20 của Trung Quốc. Ảnh: Xinhua
Trung Quốc sau đó phản ứng một cách giận dữ, với tuyên bố của Bộ Ngoại giao nước này cho rằng sách trắng quốc phòng của Nhật Bản đã có những nhận xét không hay, và khẳng định xu hướng của Bắc Kinh trong việc hiện đại hóa quân đội là hoàn toàn mang tính chất tự vệ.

Trung Quốc đầu năm nay công bố chi tiêu quốc phòng của nước này sẽ tăng 12,7% lên thành 601,1 tỷ tệ (khoảng 91,7 tỷ USD) trong năm 2011. Bắc Kinh thời gian qua liên tục thể hiện sức mạnh quân sự với việc cho trình làng tàu sân bay đầu tiên, liên tiếp thử nghiệm máy bay tàng hình tự sản xuất cũng như hàng loạt vũ khí, khí tài hiện đại khác. Những động thái rõ ràng này của Trung Quốc khiến nhiều quốc gia láng giềng quan ngại, trong đó có Nhật Bản.

Phan Lê
tiendung
Posts: 884
Joined: Tue Jun 19, 2007 7:47 am
Location: Paris
Contact:

Post by tiendung »

Khó Mà Che Giấu

Vi Anh
Độc tài và dân chủ khác nhau như nước với lửa. Dầu có ranh mãnh, gian ngoan, dàn dựng thế mấy con người của nhà cầm quyền độc tài cũng không che dấu được tính độc tài trong đời sống công cũng như tư. Điều này có thể thấy qua hai thí dụ có tính thời sự sau.

Một là hình ảnh của ông tân đại sứ của một chánh quyền dân chủ, của dân, vì dân, do dân - là Mỹ. Đại sứ Gary Locke đi nhận nhiệm vụ rất nhân bản, bình dân, giản dị làm người dân ở TC vô cùng ngạc nhiên đầy thích thú. Một chuyện khó xảy ra ở Trung Quốc và Việt Nam Cộng sản.

Theo tin Thông tấn xã AP của Mỹ và điện báo Seattlepi - Ông Gary Locke, một người Mỹ gốc Hoa làm Thống Đốc tiểu bang Washington nhiều nhiệm kỳ, được TT Obama đề cử và Thượng Viện phê chuẩn làm đại sứ Mỹ tại TC. Ông đi nhận nhiệm sở ngoại giao ở Trung Cộng, vai mang ba lô như một du khách Mỹ bình thường, lại dẫn theo đứa con gái út nhỏ như bao người Mỹ thương và trọng trẻ em khác. Ông ghé mua cà phê trong một quán ở phi trường quốc tế Tacoma, Washington. Như một người Mỹ sẵn sàng xài lớn khi cần nhưng tiết kiệm từ chuyện nhỏ, Ông trả bằng coupon; tiệm không chịu, thì Ông dùng thẻ tín dụng, không một lời than phiền.

Ông ZhaoHui Tang, một thương gia Mỹ gốc Hoa ở Bellevue, Washington, biết Cựu Thống Đốc, đương kim Đại Sứ Mỹ, xin chụp tấm hình để kỷ niệm. Và hào hứng với cuộc tao ngộ và muốn chia xẻ với đồng bào ở nước nhà TQ, người thương gia này đưa hình ảnh lên trang mạng xã hội của TQ là Sina Weibo.

Người dân TQ vô cùng ngạc nhiên đầy thích thú. Cả 40,000 người vào xem và rất ngạc nhiên về tính bình dân, giản dị của một “quan chức Mỹ”. Một điều không thể có ở một chế độ gọi là cộng hoà nhân nhân nhưng cán bộ đảng viên cấp nhỏ hơn vị đại sứ Mỹ nhiều trở thành một giai cấp mới, đi thì tiền hô hậu ủng, sống vương giả như ông hoàng bà chúa ngày xưa.
Một cách hồn nhiên, vị đại sứ Mỹ bên cạnh nhà cầm quyền CS Bắc Kinh coi như đi vào lòng dân TQ rồi, trước khi trình ủy nhiệm thư cho Chủ Tịch Nước TC.

Hai là sự dàn dựng phức tạp, sắp xếp nhiêu khê để đánh bóng hình ảnh của ông chủ tịch nước TC đi thăm dân, ăn khoai với gia đình dân nhơn dịp Tết Nguyên Đán. Báo cáo của Toà Đại sứ Mỹ ở Bắc Kinh gửi cho Ngoại trưởng Mỹ vào tháng 11/2009, do Wikileaks tiết lộ, cho thấy nhà cầm quyền CS độc tài đảng trị toàn diện chuẩn bị cho người cầm đầu nhà nước, đảng và quân đội tỉ mỉ còn hơn cho vua Tàu khi xưa và dàn dựng biến nhà độc tài thống trị 1 tỷ 3 người dân TQ thành một người bình dân qua “đài báo” công cụ tuyên truyền của CS thật nhiêu khê còn hơn đạo diễn phim ở Hollywood nữa.


Bức điện tín mật này của Toà Đại sứ Mỹ tại Bắc Kinh nói tin này nhận được từ Shi Jing, cựu bí thư tỉnh ủy Cam Túc. Điều đó cho thấy tại sao ngành an ninh của CSTQ và VNCS lúc nào cũng có một ngành phản gián riêng để chống CIA Mỹ và cũng cho thấy ngành ngoại giao Mỹ không nói ra, chớ CS khó mà che dấu được với Mỹ.


Xin trích ra một vài chuẩn bị mị dân đến cả những chi tiết nhỏ nhặt để đánh bóng, thần thánh hoá lãnh tụ trong kỹ thuật tuyên truyền của CS. Dĩ nhiên là cả trăm cán bộ đảng viên trung ương và địa phương dến tại nhà người nông dân để bày đặt trước. Đó là chưa nói ngành an ninh cận, cận vệ phải coi từ hũ gạo, cái bếp, “nắm” lý lịch từng người trước. Nguyên tắc và nhiệm vụ của những người này phải bảo sẽ không có điều gì sơ suất xảy ra.


Mục đích chánh là “định hướng dư luận”, biến lãnh đạo cao cấp nhứt của Đảng Nhà Nước trở thành một người lãnh đạo thân dân, đi thăm "một nhà nông Cam Túc phong sương điển hình". Họ chỉ thị cho người nông dân là đừng cạo râu - để xem mộc mạc như trong đời thường. Họ “đề nghị” theo thuật ngữ CS là ra lịnh không được làm - đừng sửa sang gì nhà cửa.

Nhưng gian mà không ngoan, bị “sự cố”, trục trặc kỹ thuật do lời nói của trẻ em thường là ngây thơ và chân thật. Khi Ông Hồ Cẩm Đào đưa khoai cho cháu gái của lão nông Li Cai, thì cô bé không nhận mà nói "chán ngấy món khoai".

Thế là bề mánh không thể thực hiện kế hoạch tuyên truyền cho khoai Tây Đinh và biến nơi này thành "thủ phủ khoai Trung Quốc". Và tự nhiên khúc phim cô bé ngây thơ nói chán khoai này bị cắt và ráp nối khúc cháu này ăn khoai sau khi đã được thuyết phục ăn một miếng khoai, để “báo đài” của Đảng Nhà Nước TC như CCTV lon tải về chuyên thăm dân cho biết sư tình của Ôn Hồ.

Chuyện kế tiếp là dàn dựng cho Ông Hồ cầm Đào làm món quẩy xoắn, là món mà người làm phải ném sợi bột đã được nhào kỹ rồi vặn xoắn lại vào chảo dầu sôi. Họ dàn dựng Ông Hồ cầm một đôi đũa thật dài nhún vào chảo dầu nóng 70 độ rủi có văng cũng không phỏng. Sau đó người ta quay hình Ông Hồ ăn một chiếc quẩy khác, đã chuẩn bị sẵn, theo bức điện tín của Toàn Đại sứ Mỹ viết.

Ba và sau cùng, việc bảo vệ lãnh đạo quốc gia là việc dĩ nhiên, nước nào cũng làm, chánh quyền nào cũng làm. Việc lãnh đạo quốc gia thăm dân cho biết sự tình cũng thế ở đâu cũng có, thời nào cũng làm.. Lãnh đạo quốc gia cũng là con người như mọi người. Nhà cầm quyền cũng là con người như mọi công dân. Đâu có cần gì phải làm màu mè, thần thánh hoá như vậy như vậy.

Càng giả dối, dàn dựng, càng thần thánh hoá, khi bể bạt càng tai hại. Dầu trong chế độ độc tài tin tức bị bưng bít. Nhưng mắt dân như mắt khóm, cây kim trong túi giấu cũng có ngày lòi ra. Lúc đó người dân lại càng chán chê.
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Về chuyện “Đã có Đảng và Nhà nước lo”

Trịnh Hữu Long

Đã 7 Chủ nhật trôi qua, cộng đồng mạng Việt Nam đã có một chủ đề nóng để mải miết bàn luận. Một đất nước, hay nói cho chính xác là nhiều thế hệ người Việt Nam ngày nay đang tập làm quen với biểu tình và những khái niệm cơ bản liên quan đến nó, như cha ông họ cũng đã từng làm quen trước năm 1945. Những giá trị được thừa nhận rộng rãi ở các quốc gia phát triển đang được chúng ta mổ xẻ để tìm ra câu trả lời riêng của mình, âu cũng là lẽ tự nhiên và sự thận trọng cần thiết. Từ đó, nhiều luồng ý kiến, quan điểm khác nhau, thậm chí đối lập nhau ra đời. Tôi cũng có một vài quan điểm rời rạc của mình và muốn chia sẻ quan điểm đó như góp một tiếng nói nho nhỏ vào cuộc tranh luận sôi nổi này và cũng để hoàn thiện quan điểm của mình hơn. Tuyệt nhiên tôi không dám đánh giá thấp những ai có quan điểm khác tôi và càng không dám áp đặt nó cho bất kì người nào. Hy vọng chúng ta sẽ nhìn nhận vấn đề một cách cởi mở và sẵn sàng chấp nhận những phản biện gay gắt có thể đến.

Câu nói "Đã có Đảng và Nhà nước lo" có lẽ là câu nói quen thuộc nhất với những người biểu tình, như là lý do để các cơ quan công vụ giải tán họ. Họ được nghe câu này ở khắp nơi, từ đủ những người ở những vị trí khác nhau: từ chú công an ngồi trên xe chĩa loa ra ngoài cho đến các bác trật tự phường đã có tuổi, từ anh công an khu vực đến tận nhà, tận cơ quan nhắc nhở hay những người bạn vốn dĩ bình thường chỉ nói chuyện phiếm với nhau.

Có rất nhiều người tin chắc rằng đó là lý do đúng đắn và những người biểu tình cần phải về nhà. Nhưng tôi thì lại trộm nghĩ thế này:

1. Xét về mặt logic, chuyện Nhà nước lo về chủ quyền quốc gia và chuyện công dân đi biểu tình là hai chuyện khác nhau, không mâu thuẫn với nhau và không triệt tiêu lẫn nhau. Vì vậy chuyện Nhà nước lo không có nghĩa là công dân không được lo, càng không có nghĩa là công dân không được biểu tình. Và chuyện công dân đi biểu tình không có nghĩa là họ không tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước như nhiều người ngụy biện.

2. Xét về mặt pháp lý, bảo vệ chủ quyền quốc gia là nghĩa vụ Nhà nước phải làm và biểu tình là quyền chính trị của công dân được Hiến pháp quy định. Nhà nước được nhân dân bầu lên và đóng thuế duy trì để thay mặt họ quản lý xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Nhân dân không đi xin Nhà nước lo cho họ mà cái chuyện "lo" đấy là chuyện đương nhiên Nhà nước PHẢI LÀM. Và tất cả những quy định pháp luật nào trái với quyền biểu tình được quy định tại điều 69 Hiến pháp đều không có giá trị pháp lý.

3. Xét về mặt lịch sử, chưa từng có thắng lợi nào của Đảng và Nhà nước mà không phải trả giá bằng máu và nước mắt của nhân dân. Hàng trăm ngàn người đã hi sinh, hàng triệu người đã xuống đường biểu tình dưới sự lãnh đạo của Đảng trong 15 năm giành độc lập dân tộc (1930 - 1945). Tôi không biết trong những cuộc biểu tình của nhân dân suốt 15 năm đó, có khi nào Đảng nói rằng "Đã có Đảng lo" hay không? Hay là Đảng mới là người tích cực tuyên truyền và phát động nhân dân xuống đường?
9 năm kháng chiến chống Pháp sau đó đã có 300 nghìn người lính đã hi sinh, 500 nghìn người khác bị thương để làm nên kết cục cuối cùng là chiến thắng Điện Biên Phủ, có khi nào Đảng và Nhà nước nói "để chúng tôi lo" không?
Và nếu chỉ có Đảng và Nhà nước lo, thì 1,1 triệu người lính đã ngã xuống trong cuộc kháng chiến chống Mỹ là những ai? Ai là người đã kêu gọi họ ra trận và để lại tuổi thanh xuân của mình ở đấy?
Xét cho cùng, vị trí lãnh đạo của Đảng hiện nay đã được xây dựng và củng cố bởi sự hi sinh của hàng chục triệu người và hàng ngàn cuộc biểu tình. Do đó, nhân dân không đáng phải nghe cái câu "Đã có Đảng và Nhà nước lo" như một sự ban phát và càng không đáng bị tước mất cái quyền biểu tình mà nhờ đó Đảng có được như ngày hôm nay.

4. Xét về mặt quản lý xã hội, có rất nhiều thứ đáng để Đảng và Nhà nước phải lo nhưng thực tế lại không hẳn như vậy. Ai đang lo khi nhân dân các vùng sâu vùng xa phải tham gia "giao thông đường dây" để qua sông bao nhiêu năm qua? Ai đang lo khi giữa thế kỷ 21 mà 240 nghìn nông dân Thanh Hóa phải đứng trước nguy cơ chết đói? Ai đang lo khi hàng chục triệu người hàng ngày ra đường và đối mặt với nạn tắc đường? Ai đang lo khi chỉ cần một cơn mưa nhỏ là phố phường cũng hóa những con sông?
Chắc nhân dân sẽ sung sướng lắm, khi mỗi lần bị cắt điện, có đại diện của Đảng và Nhà nước phát biểu "đã có Đảng và Nhà nước lo". Còn các bà nội trợ chắc cũng không thấy phiền lòng khi có Đảng và Nhà nước lo làm sao cho mỗi lần họ đi chợ mua rau không giống như huấn luyện viên đi mua cầu thủ. Tôi cũng chưa từng thấy ai nói rằng "Đã có Đảng và Nhà nước lo" khi các thế lực tội phạm hoành hành cuộc sống của nhân dân, càng không thấy ai nói điều đó khi hàng trăm công nhân Trung Quốc mang ống nước đến đập phá nhà cửa và đánh trọng thương công dân Việt Nam ngay trên đất Việt Nam.

Còn thực tế thì sao?

5. Xét riêng trong vấn đề biểu tình, có rất nhiều thứ đáng để Đảng và Nhà nước phải lo. Đó là soạn thảo và ban hành Luật biểu tình, đó là đảm bảo cho công dân được thực thi quyền biểu tình đã được Hiến pháp thừa nhận, đó là đảm bảo an ninh cho đoàn biểu tình, đó là đưa tin về các cuộc biểu tình một cách đầy đủ và trung thực trên báo chí, vân vân và vân vân... Nếu có thế lực nào đó có âm mưu lợi dụng lòng yêu nước của đoàn biểu tình để gây phương hại đến lợi ích xã hội, thì việc của Đảng và Nhà nước phải lo là phát hiện và ngăn chặn bọn họ.
Nhưng cho đến cuộc biểu tình ngày 17.7 vừa qua, tôi mới chỉ thấy Đảng và Nhà nước "lo" được một việc, đó là ngăn chặn công dân biểu tình bày tỏ lòng yêu nước.

Đừng trách nhân dân đã không cố hiểu Đảng và Nhà nước đã lo như thế nào, bởi Bộ Ngoại giao đã từ chối lời thỉnh cầu của 18 vị nhân sĩ trí thức hàng đầu về việc công khai nội dung chuyến công du Trung Quốc của Thứ trưởng Hồ Xuân Sơn. Như vậy thì nhân dân biết Đảng và Nhà nước đã lo như thế nào?

Tôi thực sự muốn nói rằng: đất nước này là của gần 90 triệu người Việt Nam, hàng chục triệu người đã đổ xương, đổ máu, đổ mồ hôi để có được dải đất hình chữ S này, vì vậy đừng nói rằng, chỉ có Đảng và Nhà nước mới có quyền được lo.
caubennoc
Posts: 553
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:43 pm
Contact:

Post by caubennoc »

VẬN MỆNH CỦA ĐẤT NƯỚC PHỤ THUỘC VÀO CHÍNH CHÚNG TA.
Vài trăm người xuống đường bảo vệ chủ quyền trong một đất nước 90 triệu người nói lên sự cam đảm và tinh thần yêu nước cao độ của những người con yêu quý của Mẹ Việt Nam. Điều này có ý nghĩa gì không?

Hãy thử nghĩ xem:

Một đất nước với 90 triệu người vì sợ hãi đã chấp nhận im lặng khi dân tộc đang ở bờ vực tử sinh. Đây là hậu quả tàn khốc của bao nhiêu năm sống dưới sự đe dọa của lưỡi hái và búa liềm.

Vì sợ hãi nên từ đó công an vô tư đánh đập và giết hại người dân, bởi mọi việc rồi sẽ chìm xuồng. 90 triệu người cúi đầu trước cái ác và học cách nép mình cẩn thận để mong bản thân mình không trở thành nạn nhân.

Vì sợ hãi nên 90 triệu người chấp nhận tự bịt miệng mình, âm thầm chịu đựng những áp bức bất công. Con giun xéo mãi cũng... quen, đó là tâm lý cam chịu.

Vì sợ hãi nên đành cúi đầu để những người với bằng cấp dỏm, kiến thức giả, đạo đức suy đồi lãnh đạo. Cũng vì sợ nên đành để cho những kẻ quen cầm búa liềm cầm súng hơn là cầm bút vạch đường dẫn lối cho 90 triệu người và lên lớp chỉ bảo toàn dân phải sống sao cho đạo đức và “đúng lề”.

Vì sợ hãi nên chấp nhận tham ô, nhũng lạm là quy luật tự nhiên của cuộc sống. Chấp nhận thỏa hiệp bằng nhiều hình thức tiếp tay làm giàu, nuôi sống guồng máy bất lương. Dần dà đâm ra tự an ủi bản thân rằng đây mới chính là hành động thức thời. Điều này tạo nên một xã hội băng hoại và vô cảm.

Vì sợ hãi nên chấp nhận tham gia “nghi thức bầu cử” đã được định sẵn kết quả, nhắm mắt phó mặc vận mệnh quốc gia trong tay những người không xứng đáng lãnh đạo đất nước này.

Kết quả là những kẻ được chính thức giao khoán cho cái quyền lãnh đạo bởi 99% những con người sợ hãi đang sống trên mảnh đất này đã tàn phá đất nước tan hoang: Nền kinh tế bị lệ thuộc vào Trung Quốc, công trình xây dựng, điện lực nằm trong tay Trung Quốc, trong đường lối ngoại giao - chính trị phải khom lưng cúi đầu trước Trung Quốc, lạm phát đứng đầu châu Á, tài nguyên đất nước khô kiệt, lao động Trung Quốc tràn lan xứ mình và lao động Việt Nam tha phương cầu thực xứ người.

Kết quả là chính những kẻ được chính thức giao khoán cho cái quyền lãnh đạo bởi 99% những con người sợ hãi đang sống trên mảnh đất này đã thay mặt, nhân danh 90 triệu dân cúi đầu với ngoại bang để nói "nguyện cùng với Trung Quốc, tăng cường sự hiểu biết và tin cậy lẫn nhau, tăng cường giao lưu và hợp tác trong các lĩnh vực, kiên trì giữ gìn đại cục hữu nghị Việt-Trung" và quay mặt lại với nhân dân để "Kiên quyết xử lý vấn đề tụ tập đông người ở Việt Nam với tinh thần không để sự việc tái diễn".


Cuối cùng thì sao?

Một phần thân thể Mẹ Việt Nam đã rơi vào tay ngoại bang.

Và cả đất nước Việt Nam đứng trước nguy cơ được đổi tên thay họ.

Nhưng nỗi buồn lớn nhất của Mẹ Việt Nam đó là những đứa con Lạc cháu Hồng của mẹ đã và đang trở thành những đứa con cừu - cháu thỏ.

Vài trăm người xuống đường bày tỏ lòng yêu nước trong một đất nước 90 triệu người nói lên sự cam đảm và tinh thần cao độ của những người con yêu quý này của Mẹ Việt Nam.

Họ là ai???

Họ không phải là những người phi thường. Họ không phải là những người không biết sợ hãi những cú đạp của công an, những cánh cửa tù rộng mở.

Nhưng..

Họ là những người biết sợ hãi cái viễn cảnh của một dân tộc bị nô lệ, bị hán hóa.

Họ biết sợ hãi khi hình dung ra cảnh những đứa con của mình trở thành ác nhân hay những con cừu.

Họ biết sợ hãi cái cảm giác kinh tởm chính mình mỗi khi nhìn vào trong gương và thấy ở đó một con người hèn hạ và ích kỷ.

Chính vì thế:

Họ xuống đường.

Họ xuống đường và hiểu rõ đâu là vấn nạn cốt lõi, đâu là nguồn gốc của cảnh nước mất nhà tan. Nhưng họ chưa bao giờ nhân danh những điều đó để giải thích cho hành động của mình.

Có kẻ nói họ là những người đã "bị lợi dụng".

Có kẻ nói họ là những người ngây thơ chỉ biết giặc ngoài mà không nhận ra thù trong.

Nhưng hơn ai hết những người xuống đường đều hiểu rõ việc mình làm, đều mang trong lòng nỗi ước ao, đều cân nhắc những việc mình làm để giảm bớt đi sự sợ hãi của những người xung quanh mình, để có thêm được một người bước ra bóng đêm sợ hãi, để cùng nhau lấy lại quyền làm chủ đất nước.

Có ai không biết hiểm họa Trung Quốc chỉ là kết quả của bao nhiêu mối nguy hiểm khác?

Nhưng hiểm họa lớn nhất đang giết lần giết mòn sức sống và tương lai của dân tộc Việt Nam lại chính là: sự sợ hãi trong mỗi cá nhân.

Giải quyết được sự sợ hãi của mỗi con người Việt Nam mới là mục tiêu cấp thời. Không giải quyết được điều ấy thì đừng nói đến dân chủ, độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ.

Vận mệnh của đất nước này phụ thuộc vào chính chúng ta, chứ không phải ai khác.

menam blog
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »

Một di sản của Phạm Văn Ðồng

Ngô Nhân Dụng

Hôm nay đánh dấu ngày ông Phạm Văn Ðồng ký một bức thư năm 1958 gửi ông Chu Ân Lai, thủ tướng Trung Cộng.

Trong lá thư đó ông Phạm Văn Ðồng đã nhân danh chính phủ của một nước Việt Nam chính thức đồng ý với bản tuyên bố mươi ngày trước đó của chính phủ Trung Quốc về hải phận. Mà trong bản tuyên bố này Trung Quốc xác nhận các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc lãnh thổ của họ, giống như Ðài Loan, Bành Hồ. Bức công hàm ngày 14 tháng 9 để lại một di sản nặng nề mà ngày nay người Việt Nam còn chịu hậu quả. Những hậu quả chính trị, ngoại giao nhiều người đã biết; trong bài này sẽ nêu lên một trong những hậu quả về kinh tế. Chữ ký của Phạm Văn Ðồng đã ngăn cản việc khai thác tài nguyên và phát triển đất nước Việt Nam.

Từ năm 1958 tới nay, Bắc Kinh luôn luôn vin vào lá thư của ông Phạm Văn Ðồng để nói rằng chính quyền Cộng Sản Việt Nam đã công nhận họ là chủ nhân của quần đảo Hoàng Sa. Họ đã dùng vũ lực đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974, hải quân Việt Nam Cộng Hòa đã anh dũng kháng cự với bao chiến sĩ đã hy sinh. Hành động cướp đất thô bạo này, diễn ra trong thời gian mới cách đây 37 năm, là một bằng chứng cụ thể chứng tỏ là Hoàng Sa vốn là của Việt Nam, đã bị Trung Cộng cưỡng chiếm. Với bằng cớ hiển nhiên đó bất cứ chính quyền Việt Nam nào cũng có thể đưa ra tòa án quốc tế để đòi xét xử và lấy lại. Nhưng vì lá thư Phạm Văn Ðồng chính quyền Hà Nội há miệng mắc quai. Ngược lại, khi nói ra còn bị Bắc Kinh tố cáo là “vô ơn” và “lật lọng”.

Vin vào lá thư của Phạm Văn Ðồng, với quyền làm chủ Hoàng Sa, Trung Quốc tự cho quyền tấn công các ngư dân Việt Nam từ Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quy Nhơn không cho đi đánh cá ngoài khơi. Bao đồng bào mất phương tiện sinh sống. Họ còn đe dọa và ngăn cấm cả các công ty quốc tế không cho tìm và khai thác dầu khí trong vùng biển thuộc nước ta. Người Việt Nam không được hưởng những tài nguyên thiên nhiên tổ tiên chúng ta để lại!

Việc ngăn cấm các công ty quốc tế tìm dầu trong thềm lục địa Việt Nam buộc chính quyền Bắc Kinh phải giải thích với nước có những hang dầu bị cấm. Và họ đã viện dẫn lá thư Phạm Văn Ðồng làm bằng cứ. Một điện văn của đại sứ Mỹ ở Hà Nội (mới tiết lộ cuối tháng 8 năm 2011) kể lại mấy cuộc tiếp xúc với quan chức Trung Cộng để nghe họ biện minh việc cấm đoán các hãng dầu Mỹ. Trong cuộc gặp gỡ ngày 7 tháng 3 năm 2008 với nhân viên ngoại giao Mỹ, ông Trịnh Chấn Hoa (Zheng Zhenhua Ð/N), phó chủ nhiệm phòng Kế Hoạch thuộc Vụ Á Châu, Bộ Ngoại Giao Bắc Kinh, đã nêu lên lá thư do ông Phạm Văn Ðồng ký gửi Thủ Tướng Chu Ân Lai để chứng minh Việt Nam đã chính thức công nhận chủ quyền của Trung Quốc trên các đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ năm 1958.

Trước hết, Trịnh Chấn Hoa giải thích về đường Lưỡi Bò (còn gọi là Cửu Ðoạn Tuyến) trong vùng biển Ðông của nước ta, nói rằng nó đã được chính phủ Tưởng Giới Thạch vẽ ra từ năm 1947, rồi lại được nêu lên chính thức trong đạo luật về vùng kinh tế độc quyền ven biển năm 1998 của Bắc Kinh. Trịnh Chấn Hoa cũng nói từ năm đó cho đến thập niên 1960 “không một quốc gia nào kể cả nước Mỹ từng nêu câu hỏi nghi ngờ về chủ quyền của Trung Quốc” trên các quần đảo đó. Ý nói cả chính quyền Việt Nam ở Hà Nội cũng không hề lên tiếng phản đối. (Sự thật thì chính quyền Việt Nam ở Sài Gòn, từ năm 1956 đã nhiều lần xác nhận chủ quyền trên các quần đảo này, bác bỏ lập trường của Bắc Kinh.)

Trịnh Chấn Hoa còn dẫn sự tích lịch sử, nói từ đời Ðông Hán ((23-220) dân Trung Hoa đã sống ở các đảo đó; và trong thời Nam Bắc Triều nhà (Nam) Tống (420-478) đã đặt các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc vào tỉnh Quảng Ðông. Nhưng lý luận kiểu này hoàn toàn vô giá trị. Không thể chiếm đóng một nước khác rồi dùng làm chứng cớ coi đó là lãnh thổ của mình. Từ thời Ðông Hán cho tới thời nhà Ðường, tất cả nước Việt Nam bị “chiếm đóng”; Người Việt chỉ tự giải phóng được từ thế kỷ thứ 10. Trong thời gian chiếm đóng thì các vua quan nước Tàu cứ việc coi bất cứ người Việt nào, ở đâu, cũng là “dân” của họ cả. Cứ việc ghi tên bất cứ vùng đất nào của Việt Nam vào một tỉnh nước Tàu. Hoàng Sa và dân sống ở Hoàng Sa cũng vậy. Nếu dùng lý luận của Trịnh Chấn Hoa thì người Tàu có thể nói Lạng Sơn, Hà Nội cho tới Vinh đều thuộc lãnh thổ Trung Quốc hay sao? Các ông Tô Ðịnh, Cao Biền, Trần Bá Tiên chẳng đã từng đặt các tỉnh của Việt Nam vào trong địa giới nước Tàu hay sao? Nói vậy chẳng khác gì chính phủ Anh Quốc tuyên bố các tiểu bang miền Ðông nước Mỹ ngày nay vẫn thuộc chủ quyền của nước Anh vậy!

Cuộc tiếp xúc của Trịnh Chấn Hoa cốt giải thích cho chính phủ Mỹ hiểu lý do họ đã ngăn cản không cho công ty dầu lửa Mỹ Chevron hợp tác với công ty Dầu khí Việt Nam thăm dò tại Block số 122, giữa Hoàng Sa và bờ biển nước ta. Trịnh Chấn Hoa cho nhà ngoại giao Mỹ biết rằng Bắc Kinh chỉ vạch giới hạn 12 hải lý như là hải phận của mình ở quanh các đảo Hoàng Sa, nơi họ coi là có chủ quyền chắc chắn. Còn chung quanh các đảo Trường Sa thì họ không làm, vì còn nhiều tranh chấp với các nước khác “phức tạp hơn”. Sự phân biệt này rõ ràng là vì chính quyền Bắc Kinh dùng lá thư ông Phạm Văn Ðồng ký ngày 14 tháng 9 năm 1958 biện hộ việc họ làm chủ Hoàng Sa, coi như không cần bàn cãi nữa. Một hậu quả là Trung Cộng ngăn cản các công ty dầu khí quốc tế không được thăm dò và khai thác gần Hoàng Sa.

Công ty Chevron, hợp tác với Petronas/Carigali đã dự tính thăm dò ở phía Tây Block 122, nằm bên ngoài vùng tranh chấp Hoa-Việt quanh quần đảo Hoàng Sa. Nơi này Chevron cho biết là vùng có triển vọng tìm được dầu và khí đốt cao nhất, chỉ nằm cách bờ biển Việt Nam 17 hải lý, nhưng vẫn bị Trung Cộng ngăn cấm. Một quản đốc cao cấp của công ty Chevron thú nhận rằng họ sợ bị Bắc Kinh trừng phạt, trong một dự án lớn hợp tác với công ty Dầu Khí Trung Quốc, PetroChina khai thác khí đốt ở tỉnh Tứ Xuyên. Chevron phải bãi bỏ việc thăm dò Block 122.

Ngoài công ty Chevron, trong vòng mấy tháng đầu năm 2008 các công ty dầu khí British Petroleum (BP) của Anh; Idemitsu, Nippon Teikoku Nhật Bản; Santos của Úc; Pearl Energy của Singapore; và Lundin Petroleum của Thụy Ðiển cũng phải bỏ các dự án khai thác dầu trong vùng biển Việt Nam vì bị Trung Cộng đe dọa. Ðó là một hậu quả của lá thư ông Phạm Văn Ðồng ký ngày 14 tháng 9 năm 1958! Quyền lợi kinh tế và việc phát triển công nghiệp của nước Việt Nam bị thiệt hại vì bao nhiêu dầu khí không được khai thác. Bắc Kinh còn nêu lên những “bằng chứng phụ” khác để chứng minh Cộng Sản Việt Nam đã công nhận chủ quyền của họ trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, qua những lời tuyên bố của ông Ung Văn Khiêm, một ngoại trưởng, hay những tấm bản đồ chính thức và sách giáo khoa do chính quyền Hà Nội in đều ghi các đảo trên thuộc Trung Quốc. Nhưng các chứng cớ trên không đủ mạnh bằng một văn kiện do một ông thủ tướng Việt Nam ký tên.

Các công điện của đại sứ Mỹ ở Hà Nội cũng cho biết PetroVietNam đã hứa với Chevron rằng Hải quân Việt Nam sẽ bảo vệ các công tác ngoài biển! Chắc Chevron đã biết chính quyền Hà Nội thường “nhún mình” trước Trung Cộng như thế nào. Lời hứa hẹn “bảo vệ” này không thể thực hiện được! Ngay cả việc bảo vệ các ngư dân đi đánh cá bị bắt cóc đòi tiền chuộc mà chính quyền Việt Nam cũng không làm được, thử hỏi làm sao họ dám đương đầu khi đụng vào các quyền lợi lớn như dầu khí?

Trong khi đó thì ngay cả những tàu thủy Petro Việt Nam thuê đi thăm dò đáy biển cũng bị tàu Trung Cộng đến cắt dây cáp thẳng tay, trong lúc các ông Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng vẫn ca ngợi tình đồng chí anh em với 16 chữ vàng! Cả kho tài nguyên dầu khí của nước ta sẽ bị chính quyền Bắc Kinh phong tỏa, không được sử dụng. Cho tới bao giờ có một chính quyền Việt Nam chịu chấp nhận chia phần với họ trong việc khai thác các mỏ dầu khí trong vùng này, mà trong đó Trung Cộng sẽ chiếm lấy phần lớn; may ra lúc đó các công ty ngoại quốc mới được phép khai thác gần quần đảo Hoàng Sa. Nếu các thỏa hiệp chia chác đó được giữ bí mật theo lối giao thiệp “giữa đồng chí anh em” thì chắc không người dân Việt nào được biết cả.

Nhưng Trung Quốc không đối xử như vậy đối với các nước khác cũng nằm trong tình trạng tranh chấp ở biển Ðông. Trong công điện ngày 7 tháng 9 năm 2007, nhân vụ Chevron, tòa đại sứ Mỹ tại Hà Nội báo cáo về Bộ Ngoại Giao Mỹ cho biết các tòa đại sứ Mỹ ở Phi Luật Tân, Indonesia và Malaysia nói rằng chính phủ Bắc Kinh không hề can thiệp hay ngăn cản các công ty dầu quốc tế khi đến khai thác tại vùng biển các nước này. Những hòn đảo tranh chấp giữa các nước trên với Trung Quốc thường nằm trong vùng Trường Sa, ở phía Nam Hoàng Sa, nhưng đều bị Trung Quốc gom trong Ðường Lưỡi Bò. Công điện này nhận xét: “Trong lúc các nước Ðông Nam Á khác cũng ký các hợp đồng cho khai thác (dầu khí) ở vùng biển Nam Trung Hoa đang có tranh chấp (với Trung Quốc) thì Trung Quốc chỉ phản đối riêng các hợp đồng ký với Việt Nam mà thôi!”

Tại sao họ có hai cách đối xử khác nhau như vậy? “Nhiều công ty năng lượng quốc tế cho là việc tranh chấp có ẩn ý sâu xa hơn, không phải chỉ là vấn đề dầu khí.” Trung Quốc không muốn đối đầu với nhiều quốc gia trong vùng Ðông Nam Á cùng một lúc. Tách riêng Việt Nam ra để thí nghiệm phương pháp đè nén, ép buộc xem kết quả sao; rồi sẽ tính chuyện với các nước khác. Phương pháp của nước mạnh vẫn là “chia để trị”. Cho nên, Bắc Kinh nhất định đòi nói chuyện riêng với Việt Nam, không có nước nào khác can dự. Chấp nhận đàm phán song phương là tự bước vào trong bẫy của họ. Ngay bây giờ, họ đã đối xử theo cách tách rời Việt Nam và Hoàng Sa ra. Như ông Trịnh Chấn Hoa nói với người Mỹ, “trường hợp Trường Sa phức tạp hơn”. Họ chọn Việt Nam để làm áp lực với các công ty dầu quốc tế, bởi vì nó “không phức tạp”. Chính quyền Trung Quốc coi những bất đồng về hải phận đối với Việt Nam không cần bàn cãi. Vì chỉ riêng đối với Việt Nam họ mới nắm được trong tay một văn kiện cụ thể, là bức thư của ông Phạm Văn Ðồng, của ông thủ tướng một nước gửi ông thủ tướng nước khác. Và họ trưng ra bằng chứng đó bất cứ khi nào phải giải thích trước các quan sát viên quốc tế. Các nước Ðông Nam Á khác sẽ thấy khó lòng bênh vực Việt Nam về Hoàng Sa khi Bắc Kinh trưng lá thư Phạm Văn Ðồng ra.

Chính quyền Mỹ thì vốn đã phủi tay, luôn luôn nói nước Mỹ không can dự vào những vùng biển, đảo còn tranh chấp ở Ðông Nam Á. Ngay từ khi quân Trung Cộng tấn công Hoàng Sa năm 1974, các chiến sĩ Việt Nam bị đắm tàu kêu cứu nhưng Hạm Ðội Thứ Bẩy ở gần đó cũng không thèm tới cứu, chắc vì sợ phải can dự! Ông Trịnh Chấn Hoa, ngay trong cuộc nói chuyện kể trên đây, sau khi xác định chủ quyền của Trung Quốc trong vùng Ðường Lưỡi Bò, vẫn cẩn thận trấn an người đại diện chính quyền Mỹ: “Trung Quốc cam kết tàu bè có quyền đi lại tự do trong vùng Ðường Chín Ðoạn.” Hai năm sau, khi bà ngoại trưởng và ông bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ lên tiếng ở Singapore về “quyền tự do hải vận” trong vùng Ðông Nam Á thì Bộ Ngoại Giao Trung Quốc chỉ cần nhắc lại lời cam kết suông mà ông Trịnh Chấn Hoa đã nói. Bằng cách đó, họ có thể tiếp tục cô lập nước Việt Nam. Còn bao nhiêu mỏ dầu khí của dân ta sẽ bị khóa cửa, không cho khai thác. Ðó là hậu quả chữ ký của ông Phạm Văn Ðồng ngày 14 tháng 9 năm 1958.

Khi còn sống ông Phạm Văn Ðồng được tiếng là một ông thủ tướng tốt bụng, hiền lành, chăm chỉ, không muốn làm hại ai. Nhạc sĩ Ðặng Thái Sơn kể khi anh chiếm giải Dương Cầm Chopin năm 1980, anh được ông thủ tướng mời vào khen ngợi. Trước khi từ giã ông còn hỏi, “Cháu có cần bác giúp gì không?” Nhạc sĩ trẻ xin cho thân phụ anh được có lại hộ khẩu ở Hà Nội, và ông Phạm Văn Ðồng giúp ngay. Nhờ thế, thi sĩ Ðặng Ðình Hưng đã được trở về sống ở Hà Nội sau hơn 20 năm bị lưu đầy ở miền quê vì đã tham gia nhóm Nhân Văn Giai Phẩm. Nhà thơ được cư ngụ dưới cầu thang một ngôi nhà gần Chợ Cửa Nam. Ðặng Thái Sơn nhớ cái ơn đó mãi mãi. Nhưng lòng tốt của ông thủ tướng chỉ giới hạn tới mức đó thôi. Việc ký bức thư ngày 14 tháng 9 năm 1958 chắc chắn không phải là sáng kiến của ông Phạm Văn Ðồng. Suốt đời ông chỉ làm công việc ký giấy tờ, do người khác quyết định. Ông Ðồng chỉ là một đảng viên tốt, thi hành mọi việc do đảng sai bảo. Trong thời gian năm 1958, những người nắm quyền quyết định cao nhất ở Hà Nội là Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Trường Chinh, vân vân. Cho nên nếu gọi bức thư ngày 14 tháng 9 là một “công hàm bán nước” thì cái tội bán nước không riêng ông Phạm Văn Ðồng phải gánh.
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »


Image

Thư rơi

Nguyễn Hưng Quốc

Một trong những khuyết điểm lớn nhất của người Việt là sự chia rẽ. Một trong những biểu hiện rõ rệt nhất của tệ nạn chia rẽ ấy là hiện tượng thư rơi.

Thư rơi là tên gọi chung của những bức thư vu khống và bôi nhọ không ký tên hoặc ký một cái tên vớ vẩn nào đó vất rải trên đường phố hoặc trong các thùng thư. Gần đây, lại thêm một hình thức mới: gửi qua email. Ở cả hai hình thức, truyền thống và hiện đại, thư rơi đều có những đặc điểm giống nhau: vu khống và hèn hạ. Bởi, nếu không vu khống và nếu có bằng chứng đàng hoàng, hẳn không ai chọn hình thức tố cáo nặc danh như thế. Và nếu không hèn hạ thì cũng không ai chơi cái trò ném đá giấu tay như thế.

Mục đích đầu tiên của những kẻ sử dụng thư rơi là nhằm tạo nên một dư luận xấu, qua đó, làm mất uy tín ai đó. Không biết mục tiêu ấy có thực hiện được không, nhưng về phương diện pháp lý, ở Tây phương, có thể bị mang ra tòa. Đó là lý do chính khiến sinh hoạt chính trị và xã hội Tây phương tương đối sạch sẽ. Dĩ nhiên, chỉ tương đối thôi. Ở Tây phương, người ta vẫn chơi xấu nhau. Nhưng không chơi xấu theo kiểu thư rơi: lợi bất cập hại.

Trong cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại, tiếc thay, nạn thư rơi vẫn khá phổ biến. Trước đây, lúc còn ở Pháp, làm việc trong tòa soạn một tờ báo, tôi thường xuyên nhận được những bức thư nặc danh như thế gửi đến từ khắp nơi. Từ Mỹ. Từ Úc. Từ Đức. Vân vân. Tất cả đều nhằm nói xấu một ai đó. Có khi là một linh mục. Có khi là một thượng tọa. Nhiều hơn, là một nhân vật tương đối có tiếng tăm trong cộng đồng. Sau này, nghỉ làm báo, sang Úc dạy học, thỉnh thoảng tôi hỏi một số bạn bè trong báo giới ở Úc và ở Mỹ về tình trạng của các bức thư rơi như thế. Hầu như ai cũng trả lời giống nhau: Thì cũng vậy!

Chuyện cá nhân với nhau, thật ra, không đáng kể. Điều đáng nói là những trò ném đá giấu tay như vậy có khi gây thiệt hại cho cả cộng đồng. Ở Úc, cách đây nhiều năm, có một tiểu bang định phát triển ngành Việt ngữ và Việt học trong các trường trung và tiểu học. Đó là một cơ hội quý báu cho cả cộng đồng. Để trẻ em còn có cơ hội duy trì tiếng Việt. Một giáo sư được Bộ giáo dục đề cử với nhiệm vụ quản lý dự án ấy. Việc bổ nhiệm chưa được công bố, tin đã xì ra ngoài. Gần như ngay tức khắc, Bộ giáo dục tiểu bang nhận được vô số thư rơi tố cáo vị giáo sư ấy là... Việt cộng. Sợ phiền, Bộ giáo dục bèn đổi ý, giao chức vụ quản nhiệm ngành Việt ngữ lại cho một người... Ý. Và cái người Ý ấy, thay vì tìm cách phát triển môn tiếng Việt lại lo phát triển môn tiếng Ý. Kết quả là, mấy năm sau, ở tiểu bang ấy, tiếng Ý thì phát triển như vũ bão còn tiếng Việt thì, dù dân số người Việt rất đông, vẫn cứ lẹt đẹt mãi.

Một chuyện khác, gần đây hơn, ở ngay địa phương tôi đang sống. Trong một bài viết đăng trên blog này, có lần tôi dám cả quyết: ở hải ngoại, không đâu việc dạy tiếng Việt lại mạnh mẽ như ở Úc; ở Úc, không đâu mạnh mẽ bằng tiểu bang Victoria; và trong tiểu bang Victoria, không đâu mạnh bằng thành phố Melbourne. Với dân số người Việt khoảng 70,000 người, cả Melbourne có khoảng gần 10,000 học sinh Việt Nam đang học tiếng Việt, từ lớp 1 đến lớp 12. Ai cũng thấy đó là điều cực kỳ may mắn. Thế nhưng không phải ai cũng biết trân quý sự may mắn ấy. Một hôm, người ta nhận được những tờ thư rơi hoặc bỏ ở các cửa tiệm hoặc gửi qua email tố cáo trường này là cộng sản, trường nọ là tham nhũng. Và kêu gọi phụ huynh tẩy chay các trường ấy.

Ai viết những bức thư rơi như thế?

Một số người trả lời: Cộng sản. Hỏi: Tại sao? Trả lời: Vì cộng sản muốn ly gián và phá hoại cộng đồng!

Có thể như thế thật. Nhưng tôi không nghĩ đó là sự thực hoàn toàn. Các đây khá lâu, tôi có một người bạn làm việc trong ngành truyền thông được chính phủ Úc tài trợ. Anh ấy là một ký giả xuất sắc. Rời Việt Nam sang Úc định cư lúc còn nhỏ (mới 13 hay 14 tuổi gì đó), anh vừa giỏi tiếng Anh vừa giỏi tiếng Việt. Lại được rèn luyện trong môi trường giáo dục Tây phương, các bài viết của anh đều có tính khoa học cao: tài liệu cập nhật và chính xác, được diễn dịch một cách khách quan và phân tích một cách sâu sắc. Nhưng khi tiếng tăm của anh càng nổi, anh nhận được càng nhiều những bức thư rơi tố cáo anh là Việt cộng! Thời ấy, computer chưa phổ biến, hầu hết thư rơi đều viết tay. Có điều, dù ký nhiều tên khác nhau, các bức thư ấy đều có cùng một nét chữ. Anh bạn của tôi giữ tất cả các bức thư ấy để làm... kỷ niệm. Mấy năm sau, do một dịp tình cờ, anh phát hiện ra người viết các bức thư nặc danh tố cáo anh là Việt cộng ấy chính là một người quen của anh. Cũng nét chữ ấy. Cũng giọng điệu ấy. Anh hỡi ơi!

Cái người chuyên rải thư rơi tố giác một số trường Việt ngữ ở Melbourne là Việt Cộng tôi mới kể ở trên, sau này, cũng bị phát hiện. Chủ yếu là do người ấy dốt computer. Tưởng cứ việc bịa ra một địa chỉ email giả là tha hồ gửi thư rơi bêu xấu thiên hạ. Ông ấy không biết phần lớn các hồ sơ trong computer đều mang danh tính của chủ nhân. Chính vì thế, sau đó, ông bị bắt quả tang. Đó là ai? Không phải là một Việt cộng đâu. Mà là một thầy giáo. Hậu quả là ông ấy bị đuổi việc và phải rời khỏi văn phòng, trả computer lại cho nhà trường, cấm sử dụng email của nhà trường, gần như ngay tức khắc.

Vấn đề là: Tại sao người ta lại làm vậy?

Tôi chịu. Không trả lời được. Xin nhường cho bạn đọc.

VOA
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Benjamin Franklin nghĩ gì về thuế
Ngô Nhân Dụng


Một nhân vật tiêu biểu cho tinh thần dân Mỹ thời lập quốc là Benjamin Franklin. Ông nổi tiếng trên thế giới vì góp công vào những phát minh như đèn điện, cột thu lôi, kiểu lò sưởi đốt củi mới, vân vân.

Nhưng Ben Franklin còn đưa ra và thực hiện những sáng kiến giúp cho xã hội chung quanh, khi ông lập ra rất nhiều hội tư để mở thư viện, trường học, xây hội trường cho mọi người sử dụng, lập đội cứu hỏa, vân vân. Ông đã vận động công chúng đóng góp tiền để làm đèn đường, thuê người quét đường, lát gạch đường đi, đào rãnh thoát nước, những việc công ích mà chính quyền thuộc địa của vua nước Anh lúc đó chưa làm. Ben Franklin nhận thấy các con đường quanh chợ mặc dầu rộng và thẳng, nhưng mùa khô thì bụi đầy, mùa mưa thì ngập lụt, xe ngựa đi qua biến thành một bãi bùn lầy. Ông viết trên báo thuyết phục mọi người, chỉ một quãng đường được trải đá. Ông lại viết trên báo của ông và và in thành tờ rời đi phát từng nhà, đề nghị mọi người đóng góp để thuê một người đi quét dọn bùn đất và bụi bậm hai lần một tuần, tiền công nửa đồng (sixpence) mỗi tháng. Các gia chủ hai bên đường phải đóng tiền trả công người quét. Dần dần cả thành phố ai cũng đồng ý với những khoản đóng góp tự nguyện đó, sau được định chế hóa, gọi là đóng thuế.

Thuế, do dân tình nguyện đóng góp để dùng cho những việc lợi ích chung, chứ không phải vì người cầm quyền ra lệnh phải đóng; đó là một khái niệm “mới mẻ” vào đầu thế kỷ 18. Benjamin Franklin cũng là một người đầu tiên nêu ý kiến người giầu phải đóng thuế nhiều hơn người nghèo Lý do, vì họ được hưởng lợi ích nhiều hơn do các định chế xã hội mang lại. Khoảng năm 1737 khi Franklin 31 tuổi, thành phố Philadelphia có lệ mọi người phải thay phiên nhau gác đêm canh phòng trộm cắp, cùng với ông cảnh sát (constable). Nhiều người dân không muốn gác đêm thì nộp 6 shillings cho ông constable một năm; trên nguyên tắc để ông ta thuê người khác gác thay; còn dư ông bỏ túi, và nhậu nhẹt. Số tiền 6 shillings đó cũng trở thành một thứ thuế. Benjamin Franklin đã viết một bài nêu ý kiến rằng việc bắt mỗi gia chủ phải đóng 6 shillings như nhau là không công bằng. “Một bà góa nghèo, mà tài sản của bà được lính gác bảo vệ không quá 50 pounds, bà cũng phải đóng thuế bằng một thương gia giầu có, với hàng hóa trong tiệm trị giá hàng ngàn pounds!” Ðáng lẽ người giầu phải đóng nhiều hơn! Khi nêu lên ý kiến rằng người giầu được hưởng lợi nhiều hơn người nghèo nhờ định chế canh gác cho nên phải đóng góp nhiều hơn, Ben Franklin đã đưa ra một khái niệm mới về công bằng xã hội. Mà lúc đó, chính ông cũng thuộc loại người giầu trong thành phố.

Ben Franklin đã trình bày ý kiến táo bạo của mình với một “Câu Lạc Bộ Cùng Tự Cải Thiện” (club of mutual improvement) đặt tên là JUNTO mà ông cùng mấy người bạn hiếu học lập ra; mọi người đồng ý thuế phải thay đổi. Họ chuyền bản ý kiến đó đưa cho các câu lạc bộ (club) khác trong thành phố, cũng được nhiều người đồng ý, và mở cuộc vận động. Phải mấy năm sau, chính quyền mới đổi suất thuế theo quan niệm mới để người giầu đóng góp nhiều hơn người nghèo. Ðây là một khái niệm mới về công bằng xã hội, mà Ben Franklin là một người đầu tiên cổ võ. Gần đây, mười sáu người giầu nhất nước Pháp, tháng 8 năm 2011, mới công bố một bức thư tình nguyện đóng thêm thuế “phụ trội” để giúp ngân sách chính phủ đỡ thiếu hụt. Họ cũng nêu ra ý kiến như giống Ben Franklin đã viết từ gần 2 thế kỷ trước: “Chúng tôi ý thức rằng mình đã được hưởng lợi rất nhiều (pleinement bénéficé trong nguyên văn) nhờ mô hình và khung cảnh (kinh tế) Pháp và Âu Châu... và chúng tôi muốn đóng góp để bảo vệ (mô hình đó).”

Benjamin Franklin xuất thân rất nghèo, cha là dân lao động, bỏ nước Anh sang Mỹ tìm tự do tín ngưỡng từ năm 1682. Ông sinh 17 đứa con, Ben sinh năm 1706, sau còn thêm 2 em gái. Năm lên 8 tuổi Ben mới được đi học, lên 10 phải bỏ học để giúp cha trong nghề làm nến, rồi đi tập nghề thợ in. Năm 17 tuổi bỏ nhà đi tự lập, từ Boston xuống tới Philadelphia (đi bộ và đi tầu thủy, mất hơn 10 ngày). Nhưng khi ngoài 30 tuổi, ông đã khá giả, làm chủ một nhà in, một tờ báo, là một người giầu có địa vị trong thành phố.

Khi tham gia Nghị Viện của “tỉnh” Pennsylvania (thời đó chưa gọi là bang), Ben Franklin lại cùng các nghị viên khác chống một dự luật thuế của vị thống đốc. Vì dự luật này bắt dân chúng đóng thêm thuế giúp cho đoàn quân hoàng gia đang được điều động tới bảo vệ tỉnh, nhưng lại miễn cho các địa chủ, phần lớn họ sống bên Anh, không phải đóng. Nghị Viện, đa số thuộc giáo phái Quaker, đã yêu cầu các địa chủ giầu có phải đóng góp cho công bằng. Vị thống đốc không chịu, Nghị Viện bỏ phiếu bác bỏ dư luật. Cuối cùng, chính các địa chủ đành tự nguyện góp một số tiền lớn để đạo luật được thông qua, nếu không thì ông thống đốc sẽ không có tiền! Cuộc tranh luận về thuế đó kéo dài cả chục năm chưa chấm dứt, cho tới khi Ben Franklin được Nghị Viện cử sang Anh thương thuyết với chính phủ hoàng gia và trực tiếp thảo luận với luật sư đại diện của giới địa chủ. Chúng ta biết rằng dân các thuộc địa Mỹ Châu đã nổi lên chống vua Anh khởi đầu cũng vì thuế. Họ nêu khẩu hiệu: Không có đại biểu góp ý kiến thì không được đánh thuế dân!

Những nhà tỷ phú Pháp khi viết ý kiến tự nguyện đóng thêm thuế đã không nêu tên Ben Franklin làm mẫu mà lại nhắc đến tên các ông Bill Gates và Warren Buffett, cùng các tỷ phú Mỹ khác, những người viết thư ngỏ yêu cầu được đóng góp cho xã hội nhiều hơn bằng cách tăng suất thuế họ phải đóng. Tổng Thống Barack Obama khi đưa ra dự án cắt giảm khiếm hụt ngân sách trong đó có khoản buộc những người giầu nhất nước Mỹ phải trả suất thuế giống như trước khi được cắt giảm năm 2011, ông cũng nêu lên “Quy tắc Buffett” mà quên không nhắc tới “Quy tắc Franklin.” Thật là một sơ sót đối với nhà lập quốc này.

Ông Warren Buffett cũng chỉ theo tinh thần của Ben Franklin khi ông than phiền rằng những người giầu như ông nhiều khi đóng ít thuế hơn những người làm công cho họ; trong đó ông nêu thí dụ người thư ký của ông. Bởi vì người giầu biết cách tránh thuế nhờ sử dụng những “lỗ hổng” trong luật thuế khóa. Tiền lời nhờ đầu tư chỉ phải đóng thuế 15% mà các tỷ phú có thể kiếm bạc triệu nhờ đầu tư; trong khi cô thư ký lãnh lương về có thể phải đóng 20%.

Không phải ai cũng đồng ý với ông Warren Buffett. Nhiều người Mỹ cũng không biết cảnh nghèo khó có thật ở chung quanh mình. Một dân biểu Quốc Hội liên bang, ông Michael Steele khi được phỏng vấn, đã không biết hiện nay lương tối thiểu trả người lao động Mỹ là bao nhiêu; chắc vì ông không quen biết ai đang lãnh lương tối thiểu. Dân Biểu Sean Duffy lãnh lương 174,000 đô la một năm, than là không đủ. Dân Biểu John Fleming than phiền bị đóng thuế nhiều quá. Với lợi tức kinh doanh hơn 6 triệu Mỹ kim một năm, ông nói cần đến 600,000 để lo cho gia đình và đầu tư thêm vào business, “Sau khi lo nuôi gia đình xong, tôi chỉ còn dư chừng 400,000 đô la để đầu tư thêm mà thôi!” Nhiều người Mỹ chỉ mong kiếm được một phần mười số tiền dư chưa xài hết của ông Fleming!

Khi Ben Franklin nêu lên thí dụ về người nghèo và người giầu ở Philadelphia vào giữa thế kỷ 18, thì tỷ lệ chênh lệch về tài sản là người giầu có gấp 20 lần người nghèo. Ở nước Mỹ bây giờ, chênh lệch về tài sản và lợi tức cao hơn nhiều. Một phần trăm những người giầu nhất nước nắm 34% tổng số tài sản; còn 90% những người nghèo nhất giữ trong tay 27%. Những người kiếm nhiều tiền nhất nước, trong 10,000 người có một người, lợi tức bình quân hơn 27 triệu Mỹ kim một năm. Những người trong 1% giầu nhất thì lợi tức cũng lãnh về hơn một triệu Mỹ kim. Có hơn 46 triệu người Mỹ sống dưới “Mức Nghèo Khó;” mức nghèo được ấn định là lợi tức 11,139 đô la một năm, nếu độc thân, và 22,314 đô la cho một gia đình 4 người. Con số 46.2 triệu người nghèo là một kỷ lục, chưa bao giờ đông như vậy kể từ khi có số thống kê.

Một sự kiện có thể làm nhiều người Mỹ buồn, là chỉ số chênh lệch giầu nghèo ở Mỹ đứng hàng tệ nhất thế giới, trong một quốc gia giầu có nhất thế giới. Chỉ số Gini đo lường mức chênh lệch cho thấy nước Mỹ đứng ngang hàng với các nước như Cameroon, Madagascar, Rwanda, Uganda, Ecuador về khoảng cách giữa người giầu với người nghèo. Những nước Ấn Ðộ, Trung Quốc mà còn có chỉ số Gini tốt hơn Mỹ!

Cuộc suy thoái kinh tế, bắt đầu năm 2007, đã làm người Mỹ trung lưu nghèo đi. Lợi tức của dân Mỹ ở mức chính giữa, thường gọi là Trung số, Median, vào năm 2010 là 49,445 đô la đã giảm hơn 2% so với năm trước, vì kinh tế xuống. Tính từ năm 1999 thì lợi tức chính giữa đã giảm mất tới 7%, xuống bằng mức năm 1996, khi ông Bill Clinton còn đang làm tổng thống.

Nhưng dân Mỹ vẫn có tinh thần tương trợ rất cao. Chính nhờ tinh thần Ben Franklin vẫn tồn tại ở nước Mỹ cho nên mới nhiều chương trình xã hội giúp người gặp cơn khốn khó. Nếu không nhờ lãnh các khoản trợ cấp thất nghiệp thì sẽ có thêm 3.2 triệu người nữa rớt xuống tình trạng dưới mức nghèo khó. Nếu nước Mỹ không có chương trình Hưu Bổng Xã Hội (Social Security) thành lập từ thời Tổng Thống Franklin Roosevelt, thì số người già nghèo khó sẽ tăng lên gấp 5 lần!

Thanh niên khắp thế giới đều nên đọc cuốn tự truyện của Ben Franklin để thấy hình ảnh một con người đáng noi gương. Từ nhỏ ông đã tự đặt lấy những kỷ luật đạo đức theo suốt đời. Cậu Ben cần cù làm việc; nhiều sáng kiến, phát minh; rộng lượng và vị tha. Khi trưởng thành luôn luôn nghĩ cách vận động bạn bè lập các tổ chức công dân mới để giúp lẫn nhau; tham gia chính trị góp công soạn thảo bản hiến pháp Mỹ, đồng thời là một nhà ngoại giao giỏi được mọi người tin cậy. Có lúc ông phải đeo quân hàm đại tá để chỉ huy một đạo dân quân, lập thành lũy tự vệ cho tỉnh mình, xây dựng xong thành thì trao quyền lại cho một sĩ quan chuyên nghiệp. Có lúc được đề nghị lên chức tướng, vì ông thống đốc biết Franklin được tiếng tốt sẽ tuyển mộ được nhiều người tình nguyện. Nhưng ông từ chối vì biết có nhiều sĩ quan quen trận mạc hơn mình. Suốt đời ông luôn luôn tìm cơ hội vận động cải thiện xã hội bằng các hội tự nguyện. Có thể nói ông là một người đầu tiên xây dựng xã hội công dân ở các thuộc địa Mỹ, một nền tảng của chế độ tự do dân chủ được triết gia người Pháp de Tocqueville vào thế kỷ sau ca ngợi. Một con người như vậy mà bây giờ trên thế giới người ta chỉ biết đến qua chân dung in trên tờ giấy bạc 100 đô la! Nếu thấy hình ông mà chỉ nghĩ đến tiền, không học được tấm gương cuộc đời của ông thì thật là uổng!
caubennoc
Posts: 553
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:43 pm
Contact:

Post by caubennoc »

Tác Phẩm “ ĐI ” của Hồ Khanh
và bản án của Cộng sản với nhà văn Doãn Quốc Sỹ


Vương Trùng Dương

Image
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ qua nét vẽ Đinh Cường

Ngày 10 tháng 12 năm 1970, Hàn Lâm Viện Thụy Điển tuyên bố trao tặng giải Văn Chương Nobel cho nhà văn Alexander Solzhenitsyn. Điểm đặc biệt trong giải thưởng Văn Chương Nobel nầy với nhà văn A. Solzhenitsyn là toàn bộ tác phẩm mô tả đời sống trong lao tù trên toàn cõi Liên Bang Xô Viết được mệnh danh là GULAG (Glavnoye Upravieniye Lagereiy) và xã hội của Liên Xô mà ông là chứng nhân, điển hình qua các tác phẩm: Một Ngày Trong Đời Ivan Denitsovitch (One Day in The Life of Ivan Denitsovich), Khu Ung Thư (Cancer Ward), Tầng Đầu Địa Ngục (The First Circle), Quần Đảo Ngục Tù (The Gulag Archipelago)…

Năm 1941 A. Solzhenitsyn nhập ngũ, phục vụ trong binh chủng Pháo Binh, lập được nhiếu chiến công vì vậy tháng 2-1945, Solzhenitsyn mang cấp bậc Đại úy với nhiều huy chương khen thưởng. Thời gian chiến đấu ở mặt trận Âu Châu, Solzhenitsyn viết thư cho người bạn ở Moscow, bày tỏ mối ưu tư về chính sách độc tài Stalin đưa đẫy đất nước vào vòng khổ đau, thư bị kiểm duyệt. A. Solzhenitsyn bị ngưng chức và giải giao về Moscow. Tòa án với cơ quan mật vụ NKVD xét xử, A. Solzhenitsyn bị kết án với tội trạng phản động. Ông mang số tù 232, lao động khổ sai tại khu xây dựng Lenin. Trải qua 4 năm lao tù ở đó, ông lãnh thêm 3 năm lao động khổ sai ở Kazakhstan, phía Tây Nam của miền Siberia rộng mênh mông, băng giá và đầy khắc nghiệt. Với một lá thư nói lên tâm trạng của bản thân người lính trước hiện tình của đất nước với người bạn nhưng khi bị kiểm duyệt, bị bản án hành hạ gần 8 năm.

Sau khi A. Solzhenitsyn được tuyên bố giải Nobel Văn Chương, nhà cầm quyền Liên Xô tung ra nhiều đòn thâm độc để đe dọa nhưng nhờ sự can thiệp của nhiều chính giới của quốc tế nên ngày 14 tháng 12, 1974, ông được “tước quyền công dân” rời Liên Xô để “lưu đày hải ngoại”. Ông ra đi, để lại người vợ hiền Natalia và hai đứa con thơ Yernolai và Ignat.

Sau tháng 4 năm 1975, nhà giáo Doãn Quốc Sỹ không “đi” được, ở lại Sài Gòn, được “lưu dung” dạy tại Đại Học Sư Phạm Sài Gòn, thế rồi ngày 4 tháng 4 năm 1976, ông bị kết tội trong thành phần “văn nghệ sỹ phản động”, đưa vào trại giam Phan Đăng Lưu rồi chuyển lên trại tù Gia Trung ở núi rừng cao nguyên, cho đến tháng Giêng năm 1980. Ra tù, bản thân ông không bao giờ nghĩ đến chuyện “đi” nếu không có những người thân yêu. Không “đi” được, ông viết “ĐI ” để sang Pháp rồi bị lén lút kiểm duyệt, cũng như A. Solzhenitsyn, ông bị kết án 10 năm tù! Ông thọ án cũng gần 8 năm như A. Solzhenitsyn!

Nhà văn Doãn Quốc Sỹ cho biết: “Năm 1980, sau bốn năm “chém tre đẵn gỗ trên ngàn” tôi được trở về sống với gia đình, bắt được liên lạc với nhà xuất bản Lá Bối, viết những bài báo phúng thích ngắn ký dưới bút hiệu tếu tếu: Củ Hành Khô!

Sau đó là cảnh đau lòng tử biệt sinh ly của chính mình khi chứng kiến cảnh đám con cháu cùng thân bằng cố hữu lần lượt mạo hiểm tổ chức vượt biên. ĐI được sáng tác đúng vào dịp nầy. ĐI chính là một hồi ký tự sự viết dưới hình thức tiểu thuyết. ĐI được bằng hữu thân tình tìm cách chuyền sang Pháp tới nhà Lá Bối. Tên tác giả được ghi là Hồ Khanh. Sự chọn lựa nầy liên tưởng tới những bài phúng thích trước đây được ghi với bút hiệu Củ Hành Khô. Củ Hành Khô khi nói lái lại thành một bút hiệu nghiêm chỉnh: Hồ Khanh”.

Trong dịp tiếp xúc với nhà văn Doãn Quốc Sỹ, ông cho biết, khi viết xong từng chương, ông gởi qua bưu điện sang Pháp, ông cảm thấy được trót lọt nên tiếp tục viết và gởi. Năm 1984, Công An đến nhà ra lệnh bắt, ông hỏi tội gì thì Công An đưa ra những bản đã photocopy bài viết mà ông gởi qua đường bưu điện.

Ông biết mình đã bị theo dõi và kiểm soát rất gắt gao nên đành chấp nhận. Bị nhốt 4 năm cho đến năm 1988 mới ra tòa và bản án: 10 năm. Năm 1991, ông ra khỏi tù, năm 1995, được con cái bảo lãnh sang định cư tại Texas, Hoa Kỳ.

Tác phẩm Đi, gồm 19 chương, trên khổ 5.5 X 8.5 inches, dày 224 trang, là những mẫu chuyện có thật xảy ra trong gia đình, con cháu, người thân… với lối hành văn rất nhẹ nhàng, chân thật bắt gặp trong đời sống người thân và gia đình ông của thời điểm sau năm 1975.

Mở đầu tác phẩm ĐI, chương I ông viết: “Bà nội bảy mươi bảy tuổi chẳng bao giờ ngờ chuyến đi từ Hà Nội vô Sài Gòn này lại chỉ chứng kiến đám con cháu nội ngoại trong Nam ra đi gần trọn ổ. Thật buồn! Nhưng qua kinh nghiệm và cảm nghĩ bản thân, cụ cũng thấy rằng điều đó chẳng thể tránh được.

Đây là lần thứ hai cụ vô Nam đấy. Lần đầu cụ vô Sài Gòn vào tháng 3 năm 1977. Ngày đó thằng con trưởng của cụ (di cư vô Nam từ 1964) đã bị bắt giữ rồi… Tháng Giêng năm 1980 cụ nhận được điện báo tin thằng trưởng của cụ được tha. Thế là cụ tức tốc lo liệu giấy tờ lấy… Mẹ con sau hai mươi sáu năm trời xa cách (trên một phần tư thế kỷ) được gặp nhau trước Tết; lũ cháu nội ngoại được quây quần bên bà ríu rít chuẩn bị đón Xuân… Hạnh phúc mẹ gặp con, bà gặp cháu của một đại gia đình thương yêu hòa thuận không bút nào tả xiết. Vậy mà cụ có ngờ đâu chỉ sau đó ít lâu cụ chứng kiến cảnh chúng nó ra đi dần, có đứa bị bắt giữ rồi được thả rồi lại ra đi nữa…

Từ lúc đột nhiên khám phá ra lũ con cháu trong Nam đang tuần tự ra đi dần cụ chỉ biết niệm Phật, hầu như thường xuyên niệm Phật, kể cả đêm khuya lúc cụ thiếp ngủ tâm tưởng của cụ vẫn hướng về lời niệm…”

Chương II đề cập đến bản thân ông qua hình ảnh ông giáo: “Ông giáo thương lũ con vô cùng. Ngày xưa làm được đồng nào ông nuôi chúng ăn học đầy đủ, ngày nay ông càng thương chúng vì thiếu thốn đủ thứ. Đã đành ông thương chúng như cha thương con, ông còn thương chúng như đạo hữu thương đạo hữu trong pháp nạn, như đám chúng sanh đói khát khổ nạn thương đám chúng sanh đói khát khổ bạn, thương chúng bằng thứ tình nhân bản tinh lọc nhất. Ngay thuở còn trong trại lao động cưởng bách, ông đã viết thư nói với tám con là ông cám ơn Trời Phật đã ban cho ông tám vị bồ tát…”.

Trong những chương kế tiếp, ông nói về hình ảnh người thân, học hành, ra trường, xin việc, mất việc rồi “đi” đường bộ, đường thủy, bị bắt rồi lại “đi”… tin buồn, tin vui lẫn lộn trong lòng thân mẫu ông giáo, vợ chồng ông giáo.

Cuối chương XVI, sau tháng ngày chứng kiến hình ảnh con cháu “Bà cụ nhìn đám cháu còn lại. Cụ biết rôi đây khi cụ đã ra Bắc rồi, nếu có tổ chức gì (ý cụ nghĩ về H.C.R) mà bảo lãnh cho chúng đi tất nhiên chúng sẽ ra đi hết. Có bao giờ cụ quên niệm Phật cầu nguyện cho chúng đâu”.

Rồi những dòng thư của những đứa con xa cha mẹ với bao nỗi nhớ thương, những dòng chữ viết trong nước mắt gởi từ phương trời xa về cho người thân.

Đoạn kết của ĐI khi người thân ra đi ở đảo với nỗi niềm: “Biết bao giờ gặp mặt! Biết bao giờ gặp mặt! Có thể rồi mai đây được bốc đi định cư ở một xứ sở xa xôi nào, rồi ở đâu đó, tiểu gia đình Hoa sẽ mọc rễ đâu đó như bố mẹ trước đây đã di cư vào miền Nam rồi sẽ mọc rễ ở miền Nam. Ông nội mất, bố có được gặp mặt đâu! Biết bao giờ gặp mặt! Biết bao giờ gặp mặt! Hoa ngẩng nhìn trời thăm thẳm và trong suốt như để tìm những vì sao – (lúc đó làm gì có sao) – nhưng là nhìn vào một tiền kiếp xa xưa nào, hồi bố mẹ còn là những vì sao trên trời”.

Với tâm hồn nhà giáo, nhà văn mang nặng tính nhân bản ghi lại những hình ảnh trong ĐI nó bàng bạc trong muôn nghìn gia đình vào thời điểm đó. Ông không phóng đại, cường điệu, dũng chữ “bao to búa lớn” để chửi bới, lên án mà là tâm tình của ông giáo nặng tình yêu thương với người thân trong hoàn cảnh đen tối đành “đứt ruột” chia tay!

Nếu không có hình ảnh “trốn ra nước ngoài theo địch” làm làm gì sau hai thập niên lại thay đổi khẩu hiệu lúc nào cũng rêu rao “nắm ruột nghìn dặm” thế mà khi nhà văn Doãn Quốc Sỹ đề cập thì mang bản án đến mười năm!

Nếu có ngày nào đó, tác phẩm ĐI được phổ biến trong nước, đọc tác phẩm và nhìn lại bản án… đành ngậm ngùi và xót xa.

Vương Trùng Dương
Tháng 9-2006
Nguồn: Văn Đàn Đồng Tâm
lengoi
Posts: 502
Joined: Sat Oct 23, 2010 7:17 pm
Contact:

Post by lengoi »

DIỄN BIẾN DÂN CHỦ HÓA TOÀN CẦU
ẤN ĐỘ NHẬP CUỘC NGĂN BÀNH TRƯỚNG


LÝ ĐẠI NGUYÊN

Tiến trình thăng hóa của lịch sử nhân loại đang mở ra một thời đại Nhân Chủ Nhân Văn Toàn Cầu. Người Trí Thức Thời Đại đều đang có cùng khuynh hướng và nhu cầu mặc nhiên là đòi Dân Chủ Nhân Quyền, Tự Do Công Lý, lấy Con Người Làm Cứu Cánh cho mọi sinh hoạt Văn Hóa, Tôn Giáo, Xã Hội, Kinh Tế, Chính Trị, Chính Quyền… ở mỗi Quốc Gia và trên toàn Thế Giới. Vượt ra khỏi các định chế độc tài, các tôn giáo cực đoan, các đảng phái quá khích. Nhằm huy động sức mạnh toàn dân và văn hóa truyền thống mỗi dân tộc để hoàn thiện ở từng Quốc Gia: Một Xã Hội Nhân Ái Trọng Pháp, trong Một Thế Giới Nhân Chủ Nhân Văn Hoà Bình Phát Triển, biết tôn trọng, thương quý và bảo vệ nhau, cùng nghiêm chỉnh tuân theo luật lệ do đại đa số người dân đã chấp thuận và kiểm soát, buộc chính quyền do dân lưạ chọn bầu ra phải công chính, minh bạch áp dụng Hiến Pháp và Luật Pháp Dân Chủ, không tà kiến, không thiên vị, không lạm quyền, và đều phải tuân giữ Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền. Công Ước Quốc Tế về những Quyền Dân Sự và Chính Trị. Công Ước Quốc Tế về những Quyền Kinh Tế, Xã Hội và Văn Hoá… để cùng với các nước trong cộng đồng thế giới thấy được bổn phận và trách nhiệm của mình ở thời đại Nhân Chủ Nhân Văn Toàn Cầu, mà trong đó mỗi Quốc Gia đã Chủ Động Tự Nguyện Gia Nhập.


Cuộc cách mạng Tự Do Nhân Phẩm và Công Lý Dân Chủ đã bắt đầu nở rộ trong Thế Giới Hồi Giáo vốn xa lạ với quan niệm về một chế độ Tự Do Dân Chủ, mà họ cho là theo kiểu Tây Phương thù địch. Đây là một diễn biến mà trước khi nó nổ ra không ai dám tin và khẳng định. Ấy thế mà Giới Trí Thức Thời Đại ở vùng Bắcphi và Trungđông đã vận động được sức trẻ và toàn dân đứng dậy, rồi được sự đồng thuận của quân đội, và được sự tiếp tay của các cường quốc dân chủ, đã lật đổ các nhà độc tài, tham nhũng, ngoan cố bám rễ quá lâu tại các xứ sở này. Do đó người dân ở các nước độc tài, nhất là độc tài toàn trị cộng sản còn sót lại tại Áchâu, đều hy vọng là làn sóng Cách Mạng Dân Chủ Hoalài từ Bắcphi, Trungđông nhanh chóng tràn sang Áchâu. Nhưng ở đây đã xuất hiện một nguy cơ khủng khiếp, to lớn hơn các chế độ độc tài của mỗi nước gấp nhiều lần, đó là hành động hung hăng đòi chủ quyền trên 80% khu vực Biển Đông, đe dọa an ninh toàn vùng Đông Nam Á và Áchâu, trong đó trực tiếp là Việtnam, Philippines kể cả Nhậtbản của bọn Bành Trướng Bắckinh. Thực ra, cũng vì sợ làn sóng Hoalài tràn vào Hoalục, nên bọn lãnh đạo Trungcộng mới đành phải ‘dậy non’ cho phát động cuộc lấn chiếm sớm hơn so với sức lực tự có. Khiến cho Hoakỳ danh chính ngôn thuận trở lại Áchâu và được các nước trong vùng kể cả Dân Chủ lẫn Độc Tài đón nhận.


Thế nhưng bằng Chiến Lược hai mặt : Đối Tác Kinh Tế. Đối Trọng Quân Sự của Hoakỳ với Trungcộng, Hoakỳ vẫn duy trì quan hệ hữu hảo về nhiều mặt, kể cả quan hệ quốc phòng với Trungcộng. Nhưng vẫn đặt Trungcộng là Đối Trọng về mặt Quân Sự. Chính vì vậy mà Mỹ-Ấn-Nhật-Úc, 4 cường quốc dân chủ Áchâu đã hình thành một ‘vòng cung dân chủ’ khoá cứng Trungcộng với tham vọng tự nhận chủ quyền phi pháp trên 80% diện tích Biển Đông, không nằm trong khuôn khổ của Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982. Riêng với Việtnam, là đối tượng chính của cuộc bành trướng Bắckinh, ở đây nhà cầm quyền Việtcộng lại vốn là đàn em ngoan ngoãn của Trungcộng. Đối nội, đối ngoại đều rập theo khuôn mẫu do Bắckinh chỉ đạo. Nên việc Mỹ nhập nội Việtnam, tuy trong âm thầm rất quyết liệt tiến tới, nhưng vẫn không muốn đẩy Trungcộng vào thế tranh chấp công khai về vấn đề Việtnam. Nhất là không cần thiết phải tiến tới chiến tranh với Trungcộng. Chính vì vậy mà Hoakỳ chủ trương không đứng về phiá nào trong cuộc tranh chấp chủ quyền Biển Đông, chỉ đòi hỏi các bên tranh chấp phải tôn trọng hoà bình. Nhưng Hoakỳ coi việc Tự Do Lưu Thông, Tự Do Hàng Hải trên Biển Đông thuộc lãnh vực quốc tế, là quyền lợi quốc gia Hoakỳ. Còn về vấn đề khai thác dầu khí tại vùng biển Việtnam thì chính phủ Mỹ để cho các công ty của mình quyết định. Chính vì vậy, mà một vài công ty dầu khí Anh, Mỹ sợ mất thị phần béo bở tại Trungcộng đã bỏ hợp đồng với Việtnam. Lập tức Tập Đoàn Dầu Khí Ấnđộ ONGC Videsh xuất hiện, triển khai công tác thăm dò tại Biển Đông. Tập đoàn này lại không có làm ăn gì tại Hoalục, nên Trungcộng không thể bắt bí.


Sau nhiều tháng phản đối ngoại giao vế các dự án thăm dò dầu khí tại Biển Đông của Ấnđộ, Mới đây theo tiết lộ của báo Hindustan Times Trungquốc chính thức phản đối Ấnđộ về việc ONGC Videsh hợp tác với Việtnam thăm dò và khai thác hai lô dầu khí 127 và 128 ngoài khơi Phú Khánh Việtnam. Bất chấp phản đối của Trungcộng, tập đoàn dầu khí Ấnđộ ONGC Videsh kiên quyết thúc đẩy hợp tác với Việtnam. ONGC và PetroViệtnam sẽ ký một biên bản ghi nhớ về hợp tác chiến lược, nhân dịp Trương Tấn Sang chủ tịch nước Việtcộng công du Ấnđộ vào tuần lễ thứ hai của tháng 10. Theo Hindustan Times: “Ngoài vấn đề hợp tác thăm dò dầu khí, Ấnđộ và Việtnam cũng đang nỗ lực tìm cách tăng cường quan hệ về mọi mặt, đặc biệt trong lãnh vực quốc phòng. Ngày 14/09/11, ngoại trưởng Ấnđộ S. M. Krishna công du Việtnam 4 hôm, “trong bối cảnh Trungquốc ngày càng tỏ ra mạnh mẽ tại vùng Biển Nam Trunghoa”, nhằm tăng cường quan hệ Việt-Ấn với chiều hướng; “Việtnam đang vươn lên thành một đối tác chiến lược quan trọng trong khu vực ChâuÁ- Thái Bình Dương”. “Ânđộ muốn trở thành một cường quốc toàn cầu”. Tạo thế liên hoàn: Mỹ - Úc - Ấn - Nhật chống Trungcộng. Hỗ trợ cho các nước trong khu vực Đông Nam Á yên tâm Dân Chủ Hoá chế độ, phát triển kinh tế, đủ sức và đủ tự tin để ngăn Bành Trướng Bắckinh.


Trong khi đó, Trungcộng ra sức nắm chặt Việtcộng, quan trọng nhất là giữ cho bằng được các cấp quân ủy Việtcộng trong tay. Qua cách cho tổ chức liên tục các cuộc gặp gỡ quân sự và chính trị cấp cao giữa 2 nước. Nhưng cuộc đối thoại chính sách quốc phòng Mỹ -Việt cấp thứ trưởng lần thứ 2, giữa Nguyễn Chí Vịnh thứ trưởng quốc phòng Việtcộng với trợ lý bộ trưởng quốc phòng Mỹ, Robert Scher, cũng vẫn diễn ra hôm 19/09/11 tại Washington, trong bối cảnh diễn biến căng thẳng tại Biển Đông và dưới sức ép quyết liệt nóng vội của Bắckinh lên Hànội. Tuy giới lãnh đạo Việtcộng trước mặt đàn anh vẫn tỏ ra ngoan ngoãn trung thành với ‘giải pháp song phương’. Nhưng trong chuyến công du Indonesia, Nguyễn Tấn Dũng gặp Tổng thống Susilo Bambang Yudhoyono đã đồng ý cho bộ ngoai giao 2 nước ký thoả thuận mở các cuộc tuần tra chung trên biển. Malaysia sẽ ký hiệp định hợp tác an ninh với Việtnam. Hai tầu phá mìn của Nhậtbản cũng vừa đến Đànẵng. Như vậy vấn đề Biển Đông đương nhiên đã được Quốc Tế Hoá. Với sự hợp tác toàn diện giữa Mỹ, Ấn, Nhật, Úc, Asean kể cả Trungcộng ở Việtnam. Vấn đề Việtnam cũng đã bị Quốc Tế Hoá rồi, chỉ còn thiếu có Dân Chủ Hóa mà thôi.

LÝ ĐẠI NGUYÊN
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Chính trị dối trá

Nguyễn Hưng Quốc
(Nguồn: VOA)

Ở Tây phương, người ta thường nói: Có hai nghề rất khó tìm ra người tử tế và nói thật: Những người bán xe cũ và các chính trị gia.

Image
Nhà độc tài Gadhafi (phải), kẻ nói láo lớn nhất mọi thời đại? (Hình: AP Photo)

Xe cũ đến mấy, khi vào tiệm, cũng đều được đánh bóng; và qua miệng của người bán hàng, tự nhiên biến thành mới, đẹp, an toàn, sang trọng và, dĩ nhiên, mắc tiền hơn hẳn. Có điều sự gian dối của những người bán xe cũ, nghĩ lại, cũng chẳng thấm tháp gì. Thứ nhất, họ chỉ lừa được từng người. Và mỗi người chỉ bị lừa, xui lắm, vài lần trong đời. Là hết. Vả lại, mức lừa cũng có giới hạn. Chiếc xe cũ trị giá thực khoảng năm ngàn, họ nâng lên khoảng 7, 8 ngàn là nhiều. Có lẽ hiếm khi nào tăng được gấp đôi. Lý do là họ còn chịu sức ép cạnh tranh của các đối thủ khác. Thứ hai, dù sao đó cũng là chuyện mua bán. Mà nguyên tắc chính của mua bán là sự đồng thuận (thuận mua vừa bán).

Các chính trị gia thì khác. Từ mà giới chính trị gia thường nói nhiều nhất có lẽ là từ “sự thật” hay “chân lý” (kiểu “Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng chân lý ấy không bao giờ thay đổi!”). Nhưng rất hiếm khi chân lý ấy là chân lý thật. Thường là giả. Lại là thứ giả do cố ý: Chúng là những sự dối trá. Có thể nói một cách ngắn gọn: Chính trị là dối trá. Tìm được một nhà chính trị thành thực, nhất là thực thà, là một điều bất khả. Sự khác biệt giữa nhà chính trị này và nhà chính trị kia, về phương diện này, chỉ là ở mức độ, kể cả mức độ dối trá cũng như mức độ khôn khéo khi dối trá. Vậy thôi.

Nói đến sự dối trá của các nhà chính trị, tôi nhớ ngay đến một nhận định của một nhà cựu ngoại giao người Singapore, Kishore Mahbubani, trong một bài viết trên The Financial Times mới đây:

“Các nhà độc tài đang sụp đổ. Các chế độ dân chủ cũng đang sụp đổ. Một trùng hợp lạ lùng chăng? Hay có lẽ, đó là dấu hiệu của một sự thay đổi căn bản nào đó trong khuynh hướng lịch sử nhân loại? Tôi ngờ là như vậy. Tại sao các nhà độc tài tồn tại? Tại chúng nói láo. Muammar Gaddafi là một trong những tên nói láo lớn nhất của mọi thời đại. Hắn tuyên bố là nhân dân nước hắn yêu hắn. Hắn kiểm soát mọi nguồn thông tin đến nhân dân hắn bằng cách ngăn chận mọi sự thật khác với những gì hắn kể. Rồi các máy điện thoại di động đơn giản ra đời nối kết mọi người lại với nhau. Sự thật lan tràn rộng rãi, cuốn trôi mọi sự dối trá mà tên đại tá đã phát đi phát lại trên các đài truyền thanh. Tương tự như vậy, ở Ai Cập và Tunisia, các chế độ mất quyền kiểm soát trên các tự sự. Nói một cách vắn tắt, kỹ thuật đã và đang xói mòn khả năng nói láo của các tên độc tài đối với nhân dân nước chúng. Vậy tại sao các nền dân chủ cũng đang sụp đổ cùng lúc? Câu trả lời đơn giản: Các nền dân chủ cũng đang nói láo.”

Cho các nền dân chủ đang sụp đổ kể cũng vội. Có lẽ Mahbubani chỉ căn cứ vào sự suy thoái kinh tế ở một số nước. Cho Gaddafi là kẻ nói láo lớn nhất mọi thời đại kể cũng hơi vội. Nghĩ xem, những điều Mahbubani kể về tội nói láo của Gaddafi, với người Việt chúng ta, nghe quen thuộc lắm, phải không? Thì, ở nước ta, cũng có người lúc nào cũng xưng xưng tuyên bố là được cả nước yêu mến đó thôi. Không phải chỉ yêu mến suông. Mà yêu mến như bác, như cha, như ông cơ! (Nhớ câu hát: “Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn các em nhi đồng”).

Không ai có thể chối cãi là ở các nước dân chủ, các chính trị gia cũng nói láo. Nói láo trắng trợn nữa là khác. Ðã có nhiều người viết nhiều cuốn sách dày cộm về thứ chính trị dối trá (the politics of lying) ở Tây phương với vô số bằng chứng hùng hồn. George W. Bush nói láo về sự hiện diện của các loại vũ khí giết người hàng loạt của Sadam Hussein như cái cớ để tấn công Iraq. Ðã đành. Ngay chính Barack Obama cũng bị kết tội nói láo khi không dám nhìn nhận sự thật là kinh tế Mỹ đang bị khủng hoảng nghiêm trọng và cần phải có những biện pháp cứu vãn mạnh mẽ và quyết liệt. Nhưng đó chỉ là những lần nói láo lớn. Còn những lần nói láo nhỏ hơn thì chắc chắn là nhiều hơn.

Tuy nhiên, dù nhiều đến mấy, chắc chắn các chính trị gia ở các nước dân chủ cũng không thể nói láo nhiều bằng các chính trị gia ở các nước độc tài. Ở các nước dân chủ, ít nhất cũng còn có các phe đối lập và giới truyền thông vốn lúc nào cũng rình rập để bắt quả tang những lời nói láo. Rồi tri hô. Rồi vạch mặt. Rồi phê phán. Biết vậy, giới làm chính trị, dù muốn nói láo, cũng đâm ra dè dặt. Ở các nước độc tài thì ngay cả những sự dè dặt tối thiểu cũng không có. Họ độc quyền trên các cơ quan truyền thông. Radio là của họ. Truyền hình là của họ. Báo chí là của họ. Không ai dám nghi vấn họ cả. Họ cứ nói như thánh phán. Rồi sẽ có cả bọn nịnh bợ xúm vào tâng bốc. Thành ra họ nói láo dễ dàng như việc họ mở miệng ban huấn từ. Nhân dân yêu mến họ. Nhân dân tin tưởng họ. Nhân dân ủng hộ họ. Một triệu người là nhân dân. Một ngàn người là nhân dân. Thậm chí, một người - chính họ - cũng là nhân dân nốt.

Một mình họ tha hồ tô vẽ các tự sự hoang đường về chính họ. Họ nói láo không biết ngượng mồm là vì vậy. Có thể nói, nếu đặc điểm đầu tiên của các tên độc tài là nói láo, thì đặc điểm thứ hai của chúng chính là: Tuyệt đối không biết xấu hổ khi nói láo. Tuyệt đối.

Ví dụ, ở Việt Nam, sau khi câu chuyện Lê Văn Tám, cậu bé bán đậu phộng rang tẩm xăng tự đốt rồi chạy đến kho xăng, nhảy vào một thùng xăng gần nhất, làm bùng cháy cả một kho xăng lớn của Pháp vào năm 1946, gần đây, bị vạch trần là một câu chuyện hoàn toàn bịa đặt. Có ai xấu hổ không? Có. Hai người: Một là Trần Huy Liệu, một sử gia; và hai là Phan Huy Lê, cũng là sử gia. Còn giới chính trị thì sao? Không ai lên tiếng cả. Lê Văn Tám, cho đến bây giờ, vẫn được đặt tên đường, tên công viên và tên trường học. Hàng ngày, học sinh vẫn ra rả đọc các bài ca tụng “anh Tám” anh hùng chống Pháp.

Còn bao nhiêu chuyện khác nữa.

Nhưng thôi. Lại nhớ một câu viết của Mahbubani trong đoạn văn dẫn trên: “Kỹ thuật đã và đang xói mòn khả năng nói láo của các tên độc tài đối với nhân dân nước chúng.” Kẻ thù của những tên độc tài, như vậy, chẳng phải là đảng này đảng nọ đứng đằng sau xúi giục các biểu tình chống Trung Quốc đâu. Chúng chính là các blog, twitter, facebook và những chiếc máy điện thoại di động đấy, các “đồng chí” ạ. (Nhớ trả công tôi về việc tố giác này đấy nhé!)
TranAnhDung
Posts: 297
Joined: Tue Oct 28, 2008 7:43 pm
Contact:

Post by TranAnhDung »

Kết liên minh, vấn đề sinh tử quốc gia

Bùi Tín
(Nguồn: VOA)

Hiện nay vấn đề bạn thù, vấn đề lựa chọn liên minh của nước ta đang là vấn đề nóng bỏng, hệ trọng, có thể coi là sinh tử giữa một thế giới đang đổi thay nhanh chóng.

Trên thực tế, nhóm lãnh đạo hiện nay đang buộc chặt nước Việt Nam theo chế độ xã hội chủ nghĩa kiểu mác-xít với Trung Quốc cũng theo chế độ xã hội chủ nghĩa độc đảng. Tuy chưa chính thức gọi là “liên minh,” nhưng với những mỹ từ: “tình hữu nghị đặc biệt,” “mối quan hệ chiến lược, toàn diện, truyền thống keo sơn,” với mối tình hữu nghị “16 chữ vàng” và mối “quan hệ Bốn Tốt” chưa từng có với nước nào, có thể nói đây là mối liên minh đặc biệt như môi với răng, đến mức như không còn biên giới, “bên nay biên giới là nhà, bên kia biên giới cũng là quê hương.”

Trong hành động cụ thể, nhóm lãnh đạo trong nước hiện nay đã từ bỏ chủ quyền quốc gia, để cho nước đàn anh tha hồ vùng vẫy, lũng đoạn đất nước như trên lãnh thổ một thuộc quốc, một thuộc địa kiểu mới của họ. Các công ty lớn nhỏ Trung Quốc lộng hành, công nhân Trung Quốc cắm cờ 5 sao tại các vùng khai thác bauxite trên địa bàn chiến lược Tây Nguyên, hàng vạn lao động phổ thông Trung Quốc xâm nhập không giấy tờ, hàng hóa Trung Quốc phần lớn là hàng trốn thuế, hàng nhái, hàng lậu, hàng độc hại tràn qua biên giới, tỏa ra khắp nước, giấy bạc nhân dân tệ Trung Quốc xâm nhập ngang nhiên.

Trong mối liên minh đặc biệt này, mỗi năm có đến hơn 300 đoàn cán bộ đảng và chính quyền Việt Nam sang Trung Quốc để học hỏi kinh nghiệm về mọi mặt, đáng chú ý nhất là những đoàn cao nhất của tổng bí thư, chủ tịch nước, chủ tịch Quốc Hội, thủ tướng, các Bộ Quốc Phòng, Công An, Tổng Cục An Ninh, Ban Tổ Chức, Ban Tuyên Huấn, Bộ Tổng Tham Mưu, Tổng Cục Chính Trị.

Tuy phía Việt Nam luôn rêu rao rằng coi mọi nước đều là bạn bè, rằng Việt Nam không liên minh quân sự với một nước nào, không để cho nước nào có căn cứ quân sự trên đất Việt Nam, nhưng trên thực tế, quan hệ Việt Nam-Trung Quốc gắn bó còn hơn là một liên minh quân sự tay đôi. Cứ xem một vài sự kiện mới. Một thứ trưởng Quốc Phòng sang tận Bắc Kinh để báo tin là nước mình đã đàn áp các cuộc xuống đường chống bành trướng, còn hứa hẹn không để xảy ra trong tương lai, rồi một đoàn đại biểu quân sự do chủ nhiệm Tổng Cục Chính Trị cùng 5 chính ủy quân khu, các cục trưởng tổ chức, tuyên huấn sang làm việc tại Bắc Kinh... chứng tỏ mối liên minh quân sự đã quá sâu đậm, vì chính trị là nền tảng cơ bản nhất về tinh thần của quân đội. Ðây là sự phụ thuộc tuyệt đối, tiêu biểu cho sự thống trị của một láng giềng nguy hiểm, một bạn bè độc ác, một đồng chí phản trắc, một đối tác tham lam.

Từ 22 năm nay, nước ta đã mất dần chủ quyền dân tộc, mất từng mảng đất liền, mất từng vùng biển rộng, mất nhiều đảo giàu tài nguyên, mất chủ quyền trên 30 vạn hécta rừng, mất tiền của không sao tính hết vì buôn bán không bình đẳng, nhập gấp 20 lần xuất, lao động Trung Quốc lập vùng dân cư tàu, làng mạc tàu, khu phố tàu, với thái độ cao ngạo trây lỳ, không giấy tờ, đuổi không đi, hàng tàu tràn ngập ngoài Bắc trong Nam, con buôn họ còn giở trò hứa hẹn thu mua khoai và sắn giá hời để tàn phá lâu dài nền nông nghiệp truyền thống lúa nước của ta. Vậy mà nhóm lãnh đạo và những cái loa của họ cứ nói lấy được không chút ngượng ngùng rằng không có gì quý hơn là có được tình hữu nghị son sắt với nước láng giềng khổng lồ phương Bắc.

Họ chỉ có một luận điệu để chống chế, đó là ta cần biết thân phận nhược tiểu của mình, nhún nhường để yên thân, học tập ông cha ta luôn sống hòa hiếu, xử nhũn, còn triều cống hậu hỉ triều đình phương Bắc. Ðây là sự ngụy biện trơ tráo, vì ông cha ta luôn tỏ thái độ kiên cường bất khuất, luôn biết huy động cao nhất lòng yêu nước của toàn dân, giáng trả đích đáng mọi hành động xâm lược rồi sau đó mới tỏ thái độ hòa hiếu. Ông cha ta không bao giờ khúm núm, lũ lượt sang trình diện thiên triều từ những vị trí cao nhất, luôn khẳng định vị thế độc lập - Hoàng đế nước Nam hùng cứ phương Nam, làm chủ một quốc gia độc lập, bình đẳng, tự lực tự cường, một khối đồng thuận dân tộc vững chãi.

Cho nên hiện nay không có gì quan trọng, cấp bách hơn là giải tỏa gấp mối liên minh nguy hiểm đã gắn bó lãnh đạo 2 nước hơn 22 năm nay, mang tai họa chồng chất cho dân ta, cởi trói cho đất nước ta khỏi những mỹ từ tệ hại “16 Chữ Vàng” và “Bốn Tốt” lừa bịp. Càng hiểu rõ tư tưởng kiên cường bất khuất, khôn khéo thông minh của tổ tiên, toàn dân ta cần tỏ rõ ý chí sớm cởi trói của ách bành trướng, giành lại độc lập hoàn toàn, trong khi giữ quan hệ láng giềng bình thường lịch thiệp với nước láng giềng lớn, không khiêu khích gây sự với ai, thắt chặt hữu nghị với nhân dân Trung Quốc. Việc gỡ thoát ra khỏi ách Bắc thuộc không chút dễ dàng, nhưng không thể bỏ qua, trách nhiệm của nhóm lãnh đạo, của quốc hội rất lớn, nếu không hành động theo hướng ấy, đảng Cộng Sản sẽ tự mất chính danh cầm quyền, mất hết uy tín trước nhân dân, ổn định chính trị sẽ tiêu tan vì lòng dân không yên, xã hội không sao ổn.

Một vấn đề đi cùng với việc từ bỏ liên minh bất bình đẳng cũ, nước ta cần tìm một số bạn tốt để thành lập liên minh mới. Sao lại không? Ðây cũng là vấn đề hệ trọng, cấp bách, là vấn đề sinh tử của dân tộc ta hiện nay. Mỗi dân tộc ở vào mỗi thời điểm lịch sử cần suy tính để tìm bạn tốt, lập liên minh có lợi nhất cho toàn dân, cho đất nước.

Ðã có những tấm gương về thắt chặt và thay đổi liên minh. Pháp và Ðức thù địch suốt hàng chục thế kỷ nay trở thành 2 đồng minh trụ cột của khối Liên Âu. Nhật Bản và Hoa Kỳ là 2 tử thù của nhau trong Thế Chiến 2 nay thành đồng minh cực kỳ tin cậy.

Ba Lan, Tiệp Khắc, Hungary, Ðông Ðức... vốn liên minh với Liên Xô cũ, nay là những thành viên năng động của khối Liên Âu sau khi trả tự do cho công dân nước mình, xây dựng nền dân chủ đa đảng, xã hội phát triển hài hòa vững chắc, là tiêu biểu cho thay liên minh tiến bộ.

Thời cơ đang gợi ý cho toàn dân ta thực hiện những liên minh mới. Bản đồ chính trị-quân sự-kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương đang biến động lớn. Cả khu vực này sẽ là trọng tâm của thế giới mới, với các vùng đất rộng, biển mênh mông, dân số đông, tài nguyên vô tận.

Hoa Kỳ đã trở lại vùng này trên thế mạnh áp đảo về quân sự, đông đảo đồng minh tin cậy.

Trung Quốc tuy to xác nhưng chế độ chính trị lạc hậu, lạc lõng, hạnh kiểm xấu, đang bị ngăn chặn và cô lập. Trung Quốc phát triển về bề nổi, nhưng để cho dân nước mình nghèo khổ, mức sống tính theo đầu người ở dưới hơn một trăm nước trên thế giới. Trung Quốc càng thêm bẽ bàng khi “tỉnh nhỏ Ðài Loan” không hề khuất phục mẫu quốc, riêng một chế độ dân chủ làm mẫu cho đại lục, còn liên minh quận sự đàng hoàng với Hoa Kỳ, mua vũ khí hiện đại của Hoa Kỳ, làm tấm gương bất khuất cho nhóm lãnh đạo Việt Nam. Bắc Kinh vẫn nể sợ hòn đảo nhỏ này, từ Ðặng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân đến Hồ Diệu Bang chưa ai dám định thời gian cho việc thống nhất toàn Trung Hoa, để thu về một mối, chỉ vì không đủ sức, không đủ gan, lực bất tòng tâm.

Thời gian tới, việc thắt chặt quan hệ và khả năng liên minh toàn diện với Việt Nam được đặt ra rõ ràng trong 10 nước ASEAN, rồi trong 18 nước EAC - East Asia Community - Cộng đồng Ðông Á, bao gồm 10 nước Ðông Nam Á cộng với 8 nước: Úc, Trung Quốc, Ấn Ðộ, Nhật Bản, Nam Triều Tiên, New Zealand, Nga và Hoa Kỳ.

Chưa bao giờ Việt Nam có cơ hội tốt hơn như hiện nay để thắt chặt quan hệ thân thiết với các nước dân chủ ở Ðông Nam Á như: Indonesia, Thái Lan, Philippines, Malaysia, Singapore,... trong đó Philippines, Malaysia và Indonesia cùng có tranh chấp ở Biển Ðông với Trung Quốc.

Cũng chưa bao giờ Việt Nam có thời cơ thắt chặt quan hệ chiến lược, thậm chí liên minh toàn diện với Ấn Ðộ bằng lúc này, khi ngoại trưởng Ấn Ðộ S.M. Krishna đến Hà Nội để cùng phía Việt Nam chủ tọa cuộc họp của Ủy Ban Hỗn Hợp Việt-Ấn về hợp tác chiến lược toàn diện giữa 2 nước. Việc này càng hệ trọng sau khi tàu chiến Trung Quốc gây sự với tàu chiến Ấn Ðộ ghé thăm hữu nghị cảng Việt Nam. Trung Quốc còn hung hăng chính thức yêu cầu tập đoàn dầu hỏa Ấn Ðộ ONGC đình chỉ ngay việc thăm dò 2 lô dầu 127 và 128 ở ngoài khơi tỉnh Bình Ðịnh và tỉnh Phú Yên. Chẳng lẽ nhóm lãnh đạo Việt Nam lại ù lì đến độ bỏ qua thời cơ cực hiếm này?

Ngoài ra cũng còn có những thời cơ khác. Trước hiểm họa bành trướng của Trung Quốc, các cường quốc toàn thế giới đang chú trọng thắt chặt những mối liên minh chiến lược mới trên khắp mọi khu vực. Nổi bật là các mối liên minh Hoa Kỳ-Ấn Ðộ-Nhật Bản-Úc. Báo chí thế giới đang bàn nhiều về cuộc gặp giữa Bộ Trưởng Quốc Phòng Leon Panetta cùng Ngoại Trưởng Hilary Clinton của Hoa Kỳ với Bộ Trưởng Quốc Phòng Stephen Smith và Ngoại Trưởng Kevin Rudd của Úc tại San Francisco. Ðây là một cuộc họp được coi là có ý nghĩa lớn trong việc thắt chặt mối liên hoàn tứ trụ Hoa Kỳ-Ấn Ðộ-Nhật Bản-Úc liên lục địa, xuyên qua Ðông-Tây Thái Bình Dương sang Ấn Ðộ Dương và cả Ðại Tây Dương nữa. Bắc Kinh đang theo dõi sự kiện này với nhiều lo ngại.

Theo chương trình đã định, vào ngày 21 tháng 10, 2011, tại thủ đô Jakarta của Indonesia sẽ khai mạc hội nghị 18 nguyên thủ các nước EAC với sự tham dự nổi bật của Tổng Thống Hoa Kỳ Barack Obama. Trong cuộc họp này các nước liên minh với Hoa Kỳ vượt xa về mọi mặt các nước thân Trung Quốc bành trướng. Việt Nam sẽ ăn nói ra sao trong cuộc họp này, hay vẫn cứ mơ hồ bạn và thù, mờ mờ ảo ảo, do cứ phải tự trói mình với phương Bắc.

Bao nhiều dịp để dư luận nước ta suy nghĩ, bàn luận xem lúc này nước ta có thể tự do từ bỏ liên minh cũ có hại, lập những mối liên minh mới, tìm bạn tốt mà kết thân, với tiền đề là thay đổi cả hệ thống chính quyền của nước mình theo hướng dân chủ đa nguyên, trả lại cho toàn dân quyền xây dựng chế độ dân chủ đích thực, để hòa nhập với thế giới dân chủ tiến bộ.

Một cuộc thảo luận rộng khắp, sôi nổi về từ bỏ liên minh cũ, kết liên minh mới, với một cuộc trưng cầu dân ý công khai toàn quốc sẽ rất bổ ích và thú vị, có lợi cho đất nước, cho hiện tại và mai sau, mở ra sinh lộ tươi sáng cho quê hương đất nước.
MatVit
Posts: 1332
Joined: Fri Sep 02, 2011 9:10 pm
Contact:

Post by MatVit »

Hai giờ với Linh Mục Giáo Hội Chính Thống Nga Vitaly Borovoy

Ðoàn Thanh Liêm

Suốt tháng 3, năm 1972, trong dịp đến làm việc với văn phòng của Hội Ðồng Tôn giáo Thế Giới” (The World Council of Churches - WCC)
tại thành phố Geneva, Thụy Sĩ, tôi có cơ hội tiếp xúc với một số nhân vật trong các bộ phận chuyên môn của tổ chức quốc tế này.

Image
Nóc một nhà thờ Giáo Hội Chính Thống Nga tại Moscow lúc nửa đêm. (Hình: Oxaba Onipko/AFP/Getty Images)

Trụ sở chính của WCC tọa lạc trong một khu vực khá rộng lớn phía ngoại ô của cái thành phố êm ả thanh bình có danh tiếng trong lịch sử Âu Châu, trên Ðại lộ Route de Ferney, là nơi mà xưa kia vào thế kỷ XVIII văn hào nổi danh người Pháp Voltaire đã từng có thời gian dài cư ngụ tại đây. Dù đã là tiết xuân, nhưng tại vùng đồi núi ở đây, trời vẫn còn khá lạnh lẽo với nhiều ngày có tuyết đổ làm trắng xóa cả các bụi cây ven đường, nhất là mỗi khi trời nắng thì khối tuyết trên các đỉnh núi cao ngất lại phản chiếu ánh sáng mặt trời, coi thật uy nghi lộng lẫy.

Vào một buổi sáng, tôi đã có cuộc tiếp chuyện dài đến 2 giờ đồng hồ với vị linh mục thuộc nhà thờ Chính thống giáo nước Nga, tên là Vitaly Borovoy. Năm 1972 đó ông đã ngoài 55 tuổi, người tầm thước trong bộ áo tu sĩ dài màu đen phủ kín toàn thân, cổ đeo một thập giá mạ vàng khá lớn, và với bộ râu quai nón cũng khá rậm rạp vốn là hình ảnh đặc trưng của các linh mục trong hàng ngũ Giáo phẩm Chính thống giáo (Orthodox Hierarchy). Linh mục đã từng làm việc trong bộ phận phụ trách về ngoại vụ của Giáo Hội Chính Thống Giáo Nga. Ông nói tiếng Anh với giọng lắp bắp ngập ngừng, nhưng lại sử dụng từ ngữ khá chính xác.

Biết tôi từ miền Nam Việt Nam tới, ông hỏi thăm về tình hình chiến tranh mỗi ngày một leo thang ở đó ra sao. Tôi nói với ông rằng suốt đời tôi từ khi có trí khôn vào năm 1941-42 đến nay đã 30 năm rồi, tôi chỉ biết có chiến tranh tàn sát trên quê hương tôi mà thôi. Tôi đã chứng kiến nạn đói tại làng quê tôi vào năm 1945, làm chết bao nhiêu người bà con và bạn hữu, kể cả ông chú út là em của cha tôi nữa. Tôi thật đau lòng trước bao nhiêu tang thương đau khổ liên miên ròng rã đã bao lâu nay xảy đến cho những người thân yêu của tôi như vậy. Nghe tôi trình bày rõ ràng thành thật như thế, ông tỏ vẻ thông cảm và câu chuyện giữa hai chúng tôi đã mau lẹ trở thành thân mật và cởi mở, giống như giữa hai người anh em bà con trong cùng một dòng họ vậy.

Sau câu chuyện mở đầu thân mật đó, vị linh mục bắt đầu tâm sự với tôi bằng lời lẽ thẳng thắn, quả quyết đại khái có thể tóm lược vào mấy điểm như sau:

1. Thứ nhất, về phương diện đối ngoại, Giáo hội Chính thống chúng tôi không thể nào mà có thể có được một quan điểm công khai trái ngược với lập trường của chánh phủ Liên Bang Xô Viết. Cụ thể như đối với cuộc chiến tranh hiện nay ở Việt Nam, thì chúng tôi phải đứng về phe Xã Hội Chủ Nghĩa mà bênh vực chánh phủ Hanoi, để chống lại chánh phủ Saigon và phe Tư bản do người Mỹ lãnh đạo. Dĩ nhiên là chúng tôi vẫn giữ vị thế và sắc thái riêng biệt theo truyền thống lâu đời của Tôn giáo mình, chứ không phải là một thứ cơ quan trực thuộc chánh quyền hay là một thứ cơ sở ngoại vi của đảng Cộng Sản Liên Xô. Nhưng xin ông cũng thông cảm cho việc chúng tôi bị “kiểm soát, khống chế” khá là ngặt nghèo trong cung cách giao dịch với thế giới bên ngoài, đặc biệt là trong lãnh vực chính trị và ngoại giao quốc tế.

2. Thứ hai, về phương diện sinh hoạt nội bộ, thì từ khi chế độ cộng sản được thiết lập và củng cố vững chắc trên toàn thể nước Nga và các nước cộng hòa khác thuộc Liên bang Xô Viết, thì giáo hội chính thống chúng tôi phải liên tục chịu đựng những sự hạn chế, đàn áp vô cùng là ngặt nghèo tàn bạo không làm sao mà kể cho xiết được. Trong hơn nửa thế kỷ nay, chúng tôi đã có đến hàng chục vạn thánh đường, các tu viện, cơ sở tôn giáo, các chủng viện, các cơ sở văn hóa xã hội bị triệt hạ đến mất hết cả dấu tích luôn. Và bao nhiêu đồ tượng ảnh quý báu được dát bằng quý kim vàng bạc, cẩm thạch đá quý tích lũy từ bao nhiêu thế hệ xa xưa trong các cơ sở phụng tự đó đều bị tịch thu và mang đi đâu chẳng còn ai mà biết được nữa.

Ðó là về phương diện cơ sở và tài sản vật chất. Còn về tinh thần và nhất là về phương diện nhân sự tức là thành phần các tu sĩ, giáo sĩ, thì thật là thảm thương bi đát không một ai lại có thể tưởng tượng được nữa. Ðã có hàng ngàn giáo sĩ bị hành quyết (executed), hàng nhiều ngàn bị bắt, bị đầy ải ở Siberia và trong các trại tập trung và hầu hết đều đã kiệt sức vì đói, vì lạnh, vì bị làm việc nặng nhọc quá sức chịu đựng của con người. Ðó là chưa kể đến con số hàng triệu tín đồ bị hành hạ, bạc đãi, bị cưỡng bức phải di chuyển đi đến những vùng khô cằn hẻo lánh. Chưa bao giờ giáo hội chúng tôi lại bị bách hại thảm thương tàn ác đến thế!

3. Nói chung, thì nhà nước Xô Viết vẫn triệt để tìm mọi cách để tiêu diệt tôn giáo và thay thế vào đó bằng chủ thuyết vô thần. Nếu có được một sự nới lỏng, dễ thở nào đó cho sinh hoạt tôn giáo, thì chỉ vì nhu cầu giai đoạn cấp thời mà thôi. Cụ thể như từ lúc nước Nga bị quân Ðức Quốc Xã đến xâm lăng vào năm 1941, thì ông Stalin mới ra lệnh cho thuộc cấp trả lại một số cơ sở phụng tự, trả tự do cho một số giáo sĩ, tu sĩ và cho tín đồ được hành đạo tương đối thoải mái. Nhưng đó chỉ vì muốn lấy lòng các tầng lớp dân chúng để cho họ cùng tham gia vào công cuộc bảo vệ tổ quốc mà thôi. Sau chiến tranh rồi, thì guồng máy kềm kẹp lại tiếp tục vận hành, mà lại càng dã man cuồng nhiệt hơn nữa.

Cả ngay dưới thời của ông Krushchev, thì nạn bài trừ và đàn áp tôn giáo vẫn còn rất ngặt nghèo sắt máu, có đến hàng vạn nhà thờ bị phá hủy hay tịch thu trong các năm dưới quyền của ông lãnh tụ này. Chỉ gần đây, dưới thời của ông Brezhnev, thì mới có sự nới lỏng đôi chút mà thôi.

4. Ngày nay, nhờ áp lực mạnh mẽ của quốc tế mà giáo hội chúng tôi cũng mới bắt đầu phục hồi lại được phần nào. Nhưng nói chung, mọi tôn giáo ở Liên Xô, kể cả Chính Thống Giáo, Tin Lành, Hồi Giáo, Phật Giáo... thì vẫn còn phải chịu nhiều sự khốn khó hạn chế đủ mọi bề.

Những điều tôi nói với ông lúc này, thì các sách báo ở phương Tây đều đã viết lên đầy đủ cả rồi, dựa trên những chứng từ đáng tin cậy của bao nhiêu người đào thoát từ nước Nga, hay do các nguồn tin do chính người dân ở Liên Xô tiết lộ ra cho các bạn hữu của họ ở nước ngoài. Tôi vừa là nạn nhân, vừa là chứng nhân để có thể xác nhận với ông về những sự việc thực tế hết sức phũ phàng đau đớn này.

Nhưng tôi xin lưu ý ông là không nên công bố danh tính của tôi khi ông viết thuật lại những điều tôi tâm sự riêng tư với ông bữa nay, vì nếu nhà nước Liên Xô mà biết được chuyện “tôi nói không tốt về họ”, thì họ sẽ trách cứ và làm phiền cho văn phòng ngoại vụ của chúng tôi.

Tại nước Thụy Sĩ này, tôi được chứng kiến sự thịnh vượng sung túc và cuộc sống thanh thản an bình của người dân, mà tôi càng cảm thương cho dân tộc Nga thật là bất hạnh của tôi. Tôi cũng thương xót cho bao nhiêu đồng đạo, bao nhiêu anh em tu sĩ của tôi đã bị tàn sát do bàn tay của người cộng sản. Và tôi cũng xót thương cả đối với một ít tu sĩ đã vì hèn nhát mà cam tâm làm tay sai cho công an mật vụ, để phản bội lại chính các anh em đồng đạo của mình nữa.

Vitaly Borovoy, vị linh mục cao tuổi nhất của Giáo hội Chính Thống Giáo nước Nga, - tính theo ngày được thụ phong năm 1944 - đã qua đời vào năm 2008, ở tuổi thọ 92 (1916-2008). Ông được đánh giá là người đã góp công rất lớn vào công cuộc giữ vững và phục hồi nếp sống tinh tuyền trong truyền thống lâu đời của Giáo hội Chính Thống Nga.

Sau cùng, tôi chỉ xin ghi thêm vài dòng vắn tắt về Giáo hội Chính thống Nga đã tồn tại trên đất nước này từ trên một ngàn năm nay, đã bám rễ sâu vào nếp sống văn hóa và tình cảm tâm linh của dân tộc Slave này. Và dù chế độ cộng sản trong suốt trên 70 năm đã dùng mọi phương cách bạo hành thâm độc nhằm tiêu diệt tôn giáo này, thì rốt cuộc chính các thủ phạm tàn ác là người cộng sản lại bị người dân Nga loại trừ chối bỏ. Và các nạn nhân khốn khổ là những tín đồ tôn giáo nay đang trên đà phục hồi lại được cái truyền thống đạo hạnh và nhân ái ngàn xưa của cha ông mình.

Và công cuộc phục hồi này, dù vẫn còn khó khăn phức tạp, thì vẫn rõ ràng đang là một quá trình không thể nào mà có thể đảo ngược lại được nữa vậy (an irreversible processus).
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »

Linh hồn 'Quân Ðội Nhân Dân' lâm nguy
Bùi Tín
(Nguồn: VOA)

Vừa qua, một đoàn đại biểu quân sự cấp cao Việt Nam đã sang Bắc Kinh theo lời mời của phía Trung Quốc.

Image
Quân đội Việt Nam duyệt binh nhân dịp Hội Nghị Bộ Trưởng Quốc Phòng ASEAN tại Hà Nội năm 2010. (Hình: Carolyn Kaster/AFP/Getty Images)


Ðiều khác thường ở đây là đoàn chính trị này của quân đội nhân dân gồm 6 chính ủy quân khu và một số cục trưởng của Tổng Cục Chính Trị được dẫn đầu bởi Trung Tướng Ngô Xuân Lịch, chủ nhiệm Tổng Cục Chính Trị.

Tại sao lúc này hơn một chục tướng lãnh đứng đầu ngành chính trị của toàn quân lại tề tựu đông đủ chưa từng có như thế để sang trình diện và họp mặt với phía Trung Quốc?

Ngành chính trị - gồm các chính ủy, chủ nhiệm chính trị, cục trưởng chính trị, chính trị viên... luôn được coi là ngành hệ trọng nhất trong mạng lưới lãnh đạo và chỉ huy của quân đội kiểu cộng sản. Tổng Cục Chính Trị là cơ quan số 1, trực tiếp của Quân Ủy Trung Ương Ðảng Cộng Sản, luôn do tổng bí thư của đảng kiêm nắm chức bí thư Quân Ủy. Trước đây, trong thời chiến, chủ nhiệm Tổng Cục Chính Trị thường là một đại tướng, là ủy viên Bộ Chính Trị Trung Ương Ðảng, về nguyên tắc chỉ ở dưới bộ trưởng Quốc Phòng kiêm tổng tư lệnh. Có dạo theo quân đội Trung Quốc, nguyên tắc “chính ủy tối hậu quyết định” được áp dụng trong QÐND Việt Nam, khi giữa tư lệnh và chính ủy có ý kiến khác nhau thì ý kiến của chính ủy là ý kiến quyết định cuối cùng, viên tư lệnh phải tuân theo. Ngành chính trị do đó là ngành hệ trọng nhất, được giải thích là linh hồn, là bản mệnh của quân đội, với hình ảnh người cán bộ chính trị:

Ngang lưng thì thắt lập trường

Ðầu đội chính sách, tay cầm chủ trương

Vậy thì tại sao phía Trung Quốc lại triệu tập đoàn cán bộ cao nhất, đông đủ nhất trong ngành chính trị của quân đội Việt Nam sang Bắc Kinh, để làm gì?

Có thể dễ dàng nhận ra điều ấy trong bối cảnh của quan hệ Việt-Trung hiện nay. Phía Trung Quốc lo ngại rằng thái độ chống bành trướng đang biểu lộ ngày càng rõ trong xã hội Việt Nam với 11 ngày Chủ Nhật biểu tình công khai liên tiếp có thể ảnh hưởng đến tinh thần của quân đội Việt Nam. Họ càng lo ngại khi nhiều tướng lãnh, khá nhiều cựu chiến binh và cả một số sĩ quan tại ngũ cũng biểu thị tinh thần yêu nước, ý chí bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, kiên cường chống lại mọi hành động xâm lấn bành trướng của phía họ. Họ muốn nắm chắc, làm chủ tình hình, tránh bất ngờ. Họ từng bị quân đội và nhân dân Việt Nam giáng trả quyết liệt năm 1979. Cuộc chiến tranh cuối cùng gần đây nhất của Việt Nam là cuộc chiến Việt-Trung, được gọi là cuộc chiến tranh giữa những người anh em, giữa những người đồng chí.

Qua mấy ngày làm việc ở Bắc Kinh, đoàn cán bộ chính trị của quân đội Việt Nam đã tỏ ra thái độ như thế nào?

Cứ theo những gì được công bố qua những tin tức và thông báo của 2 bên mọi sự diễn ra êm đẹp, trôi chảy, rất là hữu nghị, thân thiết. Ðoàn Việt Nam được Phó Chủ Tịch nước kiêm Phó Bí Thư Quân Ủy Trung Ương Tập Cận Bình tiếp rất nồng hậu. Ông Tập Cận Bình sẽ thay ông Hồ Cẩm Ðào nhận chức nhân vật số 1 - tổng bí thư kiêm chủ tịch nước - từ cuối năm 2012, sau đại hội đảng lần thứ XVIII.

Ông Tập Cận Bình căn dặn phía Việt Nam hãy thực hiện “3 điều kiên trì: kiên trì hiệp thương hữu nghị, kiên trì tầm nhìn đại cục và kiên trì hợp tác 2 bên cùng có lợi.”

Chỉ vài câu ngắn gọn nhưng thâm thúy vô cùng. Hiểu rộng ra, “kiên trì hiệp thương hữu nghị” là dù cho phía Trung Quốc có trưng ra hình lưỡi bò, long trọng tuyên bố toàn vùng biển Ðông là thuộc sở hữu cốt lõi không ai được tranh cãi, còn cho tàu chiến vào vùng này, ngăn cấm ngư dân Việt đánh cá, ngăn cả tàu Ấn Ðộ vào thăm hữu nghị Việt Nam... thì phía Việt Nam không được và không nên phản đối, bình luận, không được để cho dân biểu tình, mà chỉ nên hiệp thương một cách ôn hòa hữu nghị với nhau.

“Kiên trì nhìn đại cục” nghĩa là phía Việt Nam chỉ nên coi những việc như nhân nhượng chút ít đất đai, vài vùng biển nhỏ, vài quần đảo chỉ là chuyện nhỏ, mà chuyện lớn là tình hữu nghị truyền thống, là “16 chữ Vàng,” là “quan hệ Bốn Tốt,” trên đại cục 2 nước là láng giềng tốt không có gì sai, trên đại cục 2 nước là bạn tốt không có gì xấu, trên đại cục là đồng chí tốt không chơi xấu nhau, trên đại cục cũng là đối tác tốt không làm hại nhau. Có gì xấu chỉ là về tiểu tiết, không đáng kể, nên bỏ qua.

“Kiên trì hợp tác 2 bên cùng có lợi,” 2 bên cùng thắng có nghĩa là không đấu tranh chống đối, tố cáo nhau làm gì cho lôi thôi, phức tạp, hãy chỉ coi nhau là bạn bè, anh em, đồng chí, luôn giữ hòa khí với nhau, hợp tác chiến lược toàn diện, sẽ duy trì tình anh em hòa thuận, có lợi cho cả 2 bên, chống đối nhau chỉ bất lợi, thiệt hại cho cả 2 bên.

Trung Tướng Ngô Xuân Lịch và toàn đoàn đã hoàn toàn tán thành ý kiến được coi như chỉ thị của ông Tập Cận Bình, còn cam kết rằng: “Quân đội 2 nước sẽ gương mẫu thực hiện thỏa thuận giữa 2 đảng, 2 nước là giải quyết những vấn đề tồn tại giữa 2 nước bằng đối thoại song phương.” Ông còn nhấn mạnh “phía Việt Nam không có ý định quốc tế hóa các vấn đề bất đồng về biển đảo, không kéo nước này chống nước khác.”

Ðược lời như cởi tấm lòng, phía Trung Quốc còn có mong muốn gì hơn.

Lẽ ra người đứng đầu ngành chính trị của quân đội phải đứng vững trên lập trường bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ chủ quyền tuyệt đối của đất nước, coi đó là nhiệm vụ hàng đầu của quân đội, thì Tướng Lịch đã hoàn toàn từ nhiệm nghĩa vụ đó. Lẽ ra ông Tướng Lịch phải nêu cao chính sách đoàn kết toàn dân chống bành trướng và xâm lược bất cứ ở đâu đến, nhưng ông đã thực hiện chính sách hòa hoãn, hàng phục bọn bành trướng, để tiếp tục đàn áp người yêu nước theo yêu cầu của Bắc Kinh.

Ngay giữa lúc Trung Quốc cho tàu chiến, tàu khoan dầu, tàu tuần tra hải giám vào vùng biển Việt Nam, xua đuổi ngư dân ta, đuổi cả tàu Ấn Ðộ và hãng dầu Ấn Ðộ ra khỏi vùng biển ta, thì Tướng Lịch và cả hơn 10 ông tướng chính trị đều im thin thít, không một lời phản đối, chất vấn, cảnh báo, coi như 2 bên đang sống hoàn toàn hòa thuận với nhau. Vậy họ đứng trên lập trường nào, theo chủ trương chính sách của ai, trên lập trường bảo vệ Tổ quốc như lời thề danh dự của Quân Ðội Nhân Dân, hay trên lập trường hợp tác với thế lực bành trướng và xâm lược? Rõ ràng đó là lập trường “hèn với giặc, ác với dân” phơi bày công khai. Lập trường này của ngành quốc phòng còn tệ hơn của ngành ngoại giao, có khi còn biết lên gân đôi chút.

Trở về nước, họ sẽ ăn nói ra sao, sẽ trả lời ra sao cho toàn thể quân đội và cho toàn dân?

Ðây phải chăng là đòn sát hạch hạnh kiểm chính trị của quan thầy đối với thuộc quốc nhằm chuẩn bị cho chuyến đi của tổng bí thư mới Nguyễn Phú Trọng sắp sang trình diện Bắc triều?

Và phải chăng đoàn cao cấp nhất về chính trị của quân đội đã mang linh hồn của toàn thể binh sĩ đi rao bán ra nước ngoài. Ðất nước quả là lâm nguy, lâm đại nguy.

Xin để toàn thể tướng lãnh, sĩ quan, binh sĩ và toàn dân ta nhận xét và đánh giá trên lập trường bảo vệ Tổ quốc, một cách khách quan và công bằng.
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest