Page 61 of 180

Posted: Sat Aug 06, 2011 3:26 am
by hoanghoa
Một phiên tòa quốc tế

Trần Bình Nam (lược dịch và bình luận)

LTG. Trong trang web http://globalnation.inquirer.net, một diễn đàn Anh ngữ của người Philippines (Inquirer Global Nation: The Home of Filippinos Worldwide), Luật Sư Ted Laguatan, thuộc Luật Sư Ðoàn California và là một trong 29 luật sư ưu tú nhất về luật di trú tại Hoa Kỳ đặt câu hỏi: “Tại sao Trung Quốc không chịu mang vụ tranh tụng quần đảo Trường Sa ra trước Liên Hiệp Quốc” (Why China will not bring the Spratleys issue to the United Nations?). http://globalnation.inquirer.net/7319/w ... ed-nations. Ðể trả lời ông, hãy mường tượng một phiên tòa qua bài báo nói trên.



Dựa vào luật hàng hải quốc tế hiện hành, Trung Quốc biết nếu họ mang vụ Trường Sa ra kiện trước Tòa án Công lý Quốc tế (United Nations International Court of Justice) hay Tòa án Quốc tế về Luật Biển (International Tribunal for the Law of the Sea) để đòi chủ quyền trọn vẹn Biển Ðông (TBN: trong bài báo, trên quan điểm một người Philippines ông gọi Biển Ðông là biển Tây Philippines - West Philippine Sea) thì sự thắng kiện mong manh như ta thấy tuyết giữa sa mạc Sahara.
Image
Một khu nhà kiên cố của Trung Quốc trên đảo Mischief Reef thuộc quần đảo Trường Sa đang tranh chấp giữa nhiều quốc gia.
(Hình: Romeo Gacad/AFP/Getty Images)


Trước tòa là một chánh án của Liên Hiệp Quốc (ông chánh án) và Luật Sư Liu đại diện chính phủ Trung Quốc (Luật Sư Liu). Phiên tòa bắt đầu:

Ông Chánh án: Xin luật sư xác nhận trước tòa án quốc tế này luật sư đại diện cho Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc kiện giành chủ quyền trọn vẹn Biển Ðông.

Luật Sư Liu: Cám ơn ngài chánh án. Ðòi hỏi của chúng tôi dựa vào bằng chứng lịch sử không thể chối cãi rằng Biển Ðông là của chúng tôi từ đời nhà Hán.

Ông Chánh án: Xin luật sư chứng minh điều đó.

Luật Sư Liu: Tôi trình tòa bản đồ của Trung Quốc 2000 năm trước cho thấy giới hạn của vương triều nhà Hán bao gồm cả Biển Ðông.

Ông Chánh án: Bản đồ luật sư trình tòa là một bản đồ ghi đường hải hành của thuyền bè Trung Quốc từ đời Hán không liên quan đến ranh giới của triều nhà Hán.

Tuy nhiên cứ giả sử rằng lúc đó Philippines, Việt Nam, Malaysia, Brunei và các nước khác chung quanh Biển Ðông đều thuộc triều đại Hán thì vấn đề vẫn chưa giải quyết xong. Theo sử, triều đại nhà Hán kéo dài từ năm 206 trước Công nguyên cho đến năm 220 sau Công nguyên phải không ?

Luật Sư Liu: Trình tòa, đúng vậy .

Ông Chánh án: Ông luật sư biết Hoàng Ðế Alexander, một ông vua trẻ tuổi người Macedoan là người đã chinh phục hầu hết đất của thế giới chứ?

Luật Sư Liu: Thưa ông chánh án, tôi biết.

Ông Chánh án: Khi Hoàng Ðế Alexander qua đời năm 323 trước Công nguyên, đế quốc của ông ấy bao gồm Hy Lạp, Syria, Ba Tư - nay là Iran - Ai Cập và một phần của Ấn Ðộ. Và luật sư có biết quê hương của Alexander bây giờ là Cộng Hòa Macedonia không ?

Luật Sư Liu: Vâng, tôi không có gì để tranh biện những gì ông chánh án vừa nói.

Ông Chánh án: Tốt lắm. Ông luật sư là người rất am tường lịch sử. Vậy luật sư cũng biết đế quốc La Mã tồn tại hơn 1000 năm không ?

Luật Sư Liu: Cám ơn ông chánh án. Tôi có học sử thế giới.

Ông Chánh án: Vậy luật sư biết vào thời cực thịnh, đế quốc La Mã bao gồm hầu hết Âu Châu, và một phần Phi Châu và Á Châu?

Luật Sư Liu: Vâng, thưa ông chánh án, tôi biết

Ông Chánh án: Từ thời Hoàng Ðế Alexander và đế quốc La Mã đến nay đã có nhiều biến chuyển lịch sử và nhiều quốc gia độc lập, có đất đai riêng biệt thành hình. Ðây là một thực tế ai trong chúng ta cũng chấp nhận. Ông luật sư cũng đồng ý chứ?

Luật Sư Liu: Tôi không thể không công nhận thực tế đó.

Ông Chánh án: Trở lại vụ kiện của Trung Quốc. Có phải hiện nay đế quốc của Hoàng đế Alexander, đế quốc La Mã và đế quốc của triều đại nhà Hán không còn tồn tại nữa?

Luật Sư Liu: Ðúng vậy thưa ông chánh án.

Ông Chánh án: Nếu bây giờ Cộng Hòa Macedonia, và chính phủ Ý đưa đơn trước tòa án quốc tế này đòi ra án lệnh phán rằng các đất đai trước kia thuộc đế quốc của Alexander và của La Mã thì bây giờ là đất đai của nước Macedonia và của nước Ý thì tòa này có thể chấp nhận không?

Luật Sư Liu: Tôi hiểu ông chánh án muốn nói gì. Nhưng những gì Trung Quốc chúng tôi đang đòi là biển chứ không phải là đất.

Ông Chánh án: Quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa không phải là đất sao? Còn về biển. Không phải Trung Quốc đã ký bản Thỏa ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982 (TBN: United Nations Convention on the Law of the Sea 1982 - UNCLOS) và Quốc Hội quý quốc phê chuẩn ngày 7 háng 6 năm 1996 sao? Thỏa ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982 minh thị rằng vùng biển chung quanh một quốc gia dày 200 hải lý thuộc chủ quyền kinh tế của quốc gia đó phải không?

Luật Sư Liu: Thưa ông chánh án, Trung Quốc phê chuẩn Thỏa ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982 vào một thời điểm chúng tôi chưa nắm được những thiệt thòi cho nước chúng tôi bởi luật đó.

Ông Chánh án: Tôi muốn thẳng thắn hỏi ông luật sư rằng, có phải luật sư muốn nói ngày ấy Trung Quốc chưa biết có rất nhiều dầu khí nơi lòng đất dưới đáy biển trong vòng 200 hải lý cách bờ của các nước trong vùng. Và lúc này Trung Quốc biết, Trung Quốc không ngần ngại vi phạm luật quốc tế dùng sức mạnh quân sự và kinh tế áp lực các nước nhỏ hơn, yếu hơn trong vùng - dù biết rằng các nước này cũng cần tài nguyên thiên nhiên đó để phát triển đất nước - để chiếm đoạt kho tàng dầu khí đó cho riêng mình **

Ðến đây phiên tòa tưởng tượng kết thúc. Luật Sư Ted Laguatan kết luận: Ai cũng có thể đoán tòa quốc tế phán quyết như thế nào. Và đó là lý do tại sao Trung Quốc không thuận đưa vấn đề ra tòa án quốc tế (TBN: Tòa quốc tế không thể thụ lý một vụ kiện nếu một trong các nước liên hệ không chịu đứng đơn), mặc dù Hoa Kỳ, Philippines và các nước trong vùng. (TBN: trừ Việt Nam do một lý do khó hiểu) đều yêu cầu đưa vấn đề tranh chấp chủ quyền Biển Ðông ra trước tòa án quốc tế.

Trái lại Trung Quốc luôn dùng miếng mồi kinh tế và áp lực quân sự đe dọa buộc các nước nhỏ trong vùng thương thuyết tay đôi với Trung Quốc không có sự can thiệp của Liên Hiệp Quốc hay Hoa Kỳ để họ dễ bắt nạt. Luật Sư Ted Laguatan khuyến cáo Phi Luật, Việt Nam và các nước khác không nên nghe lời dụ dỗ của Trung Quốc, và cần chuẩn bị sức mạnh quân sự, đoàn kết nhau thành một khối với sự hỗ trợ quốc tế chống lại tham vọng của Trung Quốc.

Tổng Thống Benigno Simeon Aquino của Philippines trong một bài diễn văn đọc trước quốc dân khẳng định rằng cái gì của Philippines là của Philippines. Lời cam kết này có nghĩa Philippines sẽ dùng bất cứ gì để chống lại áp lực tinh thần và quân sự của Trung Quốc.

Luật Sư Ted Laguatan nói rằng người dân chỉ yên tâm khi có người lãnh đạo quốc gia biết đặt quyền lợi đất nước lên trên quyền lợi của phe đảng mình (TBN: ám chỉ Việt Nam?)

TBN: Việt Nam cần bày tỏ thái độ bằng cách đưa vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa ra trước Tòa án Công lý Quốc Tế hay Tòa án Quốc tế về Luật Biển dù biết làm mất lòng Trung Quốc. Về phía Hoa Kỳ, Thượng Viện Hoa Kỳ cần phê chuẩn Luật Biển UNCLOS. Hoa Kỳ là một trong những nước tích cực trong khi thảo luận hình thành Luật Biển từ 1973 đến 1982, và sau đó trong các cuộc thảo luận tu chỉnh cho hoàn hảo từ năm 1990 đến năm 1994 khi Luật Biển trở thành có hiệu lực quốc tế.

Hoa Kỳ công nhận Luật Biển như một “luật quốc tế thông thường” (Customary International Law). Nhưng Thượng Viện Hoa Kỳ vẫn chưa phê chuẩn Luật Biển cho rằng Luật Biển ban cho các nước nhỏ quá nhiều quyền trên biển có thể ảnh hưởng bất lợi cho quyền lợi của Hoa Kỳ. Một lý do khác Thượng Viện thường viện ra là chính phủ Hoa Kỳ công nhận trên nguyên tắc giá trị của Luật Biển là đủ chưa cần phải chính thức phê chuẩn.

Thái độ “nước đôi” của Hoa Kỳ không giúp cho tư thế của Hoa Kỳ trong các vụ kiện liên quan đến Luật Biển trường hợp Hoa Kỳ được tòa án mời ra làm nhân chứng. Thấy nhược điểm này, trong cuộc họp báo ngày 23 tháng 7, 2010 tại Hà Nội khi đến tham dự Hội nghị Thường niên của Diễn Ðàn An Ninh Á Châu (Asean Regional Forum - ARF) có thảo luận về Biển Ðông bà bộ trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ Hillary Clinton nói với báo chí rằng Thượng Viện Hoa Kỳ sẽ phê chuẩn Luật Biển trong năm tới. Bà nói: “Tôi xin nói thêm về Luật Biển. Luật này được sự ủng hộ của lưỡng đảng, và một trong những ưu tiên ngoại giao của Hoa Kỳ trong năm tới là vận động Thượng Viện phê chuẩn.”

Tuy nhiên, từ đó đến nay chưa thấy Thượng Viện rục rịch, và bà Hillary Clinton cũng im lặng luôn.

Posted: Sun Aug 07, 2011 8:02 pm
by TranAnhDung
Người quyền lực nhất thế giới bước vào tuổi 50
50 là trẻ hay già? Điều đó còn tùy từng cá nhân, nhưng trên chính trường Washington, 50 là số tuổi còn trẻ măng so với đa số những nhân vật có tiếng tăm trong chính phủ, quốc hội và trong ngành tư pháp. Câu Chuyện Nước Mỹ tuần này mời quí thính giả theo dõi những chi tiết liên quan đến tổng thống Barack Obama, được coi là một trong những người trẻ trung trong lịch sử Hoa Kỳ ngồi vào địa vị hàng đầu của quốc gia, và theo một nghĩa nào đó, hàng đầu của thế giới, nhân dịp sinh nhật thứ 50 của ông. Lan Phương gửi đến quí vị những chi tiết sau đây qua gợi ý từ báo chí Mỹ và cuộc nói chuyện với ông Ngô Nhân Dụng, chuyên gia về tài chính học đồng thời là cây bút bình luận của nhật báo Người Việt tại California.
Lan Phương | VOA

Image
Tổng thống Obama (phải) cùng với Ðại tá Rizer quay lại để nghe giới truyền thông và phi hành đoàn hát bài chúc mừng sinh nhật 'Happy Birthday' khi ông đến Chicago
Tổng thống Barack Obama ra đời ngày 4 tháng 8 năm 1961, vào ngày 4 tháng 8 năm nay ông vừa chẵn 50. Theo tờ Bloomberg số ra ngày 3 tháng Tám, khi ra tranh cử lần đầu, ông là ứng cử viên tổng thống trẻ trung nhất trong số những ứng cử viên lúc đó. Sang đến kỳ tranh cử vào năm 2012, có lẽ ông cũng sẽ là ứng cử viên tổng thống trẻ tuổi nhất khi xét tới sự kiện những ứng cử viên đảng Cộng Hòa đã tuyên bố ra tranh sự đề cử của đảng đều lớn tuổi hơn ông Obama.

Ông là 1 trong 3 vị tổng thống Mỹ bước vào tuổi 50 khi đang tại chức, sau tổng thống Theodore Roosevelt và tổng thống Bill Clinton.

Nét trẻ trung của ông chắc chắn được coi là một lợi điểm trong cuộc tranh cử năm 2008. Sự trẻ trung giúp ông dễ dàng cảm thông với giới cử tri trẻ tuổi. Ông cũng là người thuộc thế hệ mà công nghệ cao phát triển mạnh, được giới trẻ sử dụng thành thạo. Ông đã sử dụng những phương tiện đó để tiếp cận rộng rãi với cử tri, và ông đã vận động được sự ủng hộ của họ cả bằng lá phiếu lẫn bằng đóng góp tài chính, hơn nữa cử tri muốn thấy một sự thay đổi, một sức sống trẻ trung mà những đối thủ của ông không có.

Tuy nhiên trong cuộc tranh cử sơ bộ năm đó, ông bị đối thủ “nặng ký” là Thượng nghị sỹ Hillary Clinton xoáy vào nét trẻ trung của ông để đồng hóa ông với điều mà bà gọi là thiếu kinh nghiệm chính trường. Thực vậy, trước khi ra tranh cử tổng thống, ông là một nhà làm luật chỉ mới bước vào con đường chính trị có một thời gian ngắn và không được nhiều người biết đến. Nhưng như đã nói trên, sự trẻ trung của ông cùng với hiểu biết về công nghệ cao và của ban tham mưu đã giúp ông đánh bại bà Clinton để được đảng Dân chủ đề cử và rồi đã thắng đối thủ đảng Cộng Hòa để nắm giữ chiếc ghế tổng thống của một cường quốc hàng đầu.

Nhân dịp bước vào tuổi 50 năm nay, ông Obama cử hành sinh nhật bằng một buổi gây quĩ lớn được tổ chức tại Chicago (vào tối 3 tháng 8), để chuẩn bị cho cuộc tái tranh cử vào năm tới. Trong kỳ tranh cử sắp tới, chắc chắn khó có đối thủ nào của ông có thể chỉ trích ông thiếu kinh nghiệm được nữa.

Hơn 2 năm của nhiệm kỳ tổng thống, ông Obama đã thu thập được những kinh nghiệm gì? Về mặt kinh tế, chuyên gia tài chính học đồng thời là cây bút bình luận của nhật báo Người Việt tại California nhận xét:
Ngô Nhân Dụng: Hai năm trong cuộc đời một người thường thì nó cũng không dài lắm, không đủ để cho người ta nói rằng “ồ tôi đã khôn hơn trước hay tôi đã kinh nghiệm hơn trước”. Nhưng bất cứ người nào làm đến chức tổng thống của nước Mỹ thì hai năm đủ khiến cho người đó bạc đầu rồi. Điều “may mắn” cho ông Obama là hai năm đầu tiên khi ông làm tổng thống là những năm rất là khó khăn cho nước Mỹ vì nước Mỹ bị rơi vào một cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng nhất kể từ năm 1930. Riêng chuyện đối phó với cuộc khủng hoảng đó cũng đủ để cho người ngồi vào ghế tổng thống học được rất nhiều kinh nghiệm về cách vận hành của nền kinh tế quốc gia và làm sao để đối phó với những khó khăn. Chúng ta biết rằng cuộc khủng hoảng kinh tế lần này khác với những lần trước đây bởi vì nó không bắt đầu từ trong lãnh vực sản xuất và tiêu thụ mà nó lại bắt đầu từ lãnh vực tín dụng. Theo kinh nghiệm trong lịch sử kinh tế, cuộc khủng hoảng nào bắt đầu từ hệ thống ngân hàng, hệ thống tín dụng, thì bao giờ nó cũng trầm trọng hơn là những cuộc khủng hoảng bắt đầu trong lãnh vực sản xuất, bởi vì trong lãnh vực sản xuất, người tiêu thụ cũng như người sản xuất có thể chuyển đổi rất nhanh, còn trong lãnh vực ngân hàng, tín dụng, sự thay đổi rất chậm.

Ông Ngô Nhân dụng giải thích là khi hàng triệu người không có tiền trả nợ thì tất cả các ngân hàng phải thay đổi chính sách, thắt chặt lại không cho vay nợ một cách bừa bãi. Và khi các ngân hàng đã sợ hãi như vậy rồi thì làm sao để họ thay đổi thái độ và dễ dãi hơn, nới lỏng một chút cho khách hàng vay nợ thì thời gian để cho ngân hàng suy nghĩ, tính toán và canh chừng kéo dài rất lâu. Trong lúc các ngân hàng ngần ngại không dám cho vay nhiều thì những món nợ mà ngân hàng cho vay trước đây vẫn tiếp tục gây tai họa vì số người mua nhà không trả được nợ mỗi năm cứ tăng lên. Chuyên gia tài chính Ngô Nhân Dụng giải thích: trong một nền kinh tế mà đồng tiền không lưu chuyển thì toàn thể nền kinh tế phải chịu ảnh hưởng.

Trong trường hợp ông Obama, ông đã gặp một cuộc khủng hoảng khó khăn nhất kể từ 80 năm qua. Mặc dù kinh tế có hồi phục, như các hãng xe hơi của Mỹ đã lấy lại phong độ và nhiều ngân hàng lẽ ra đã vỡ nợ nhưng đã đứng vững và hoạt động trở lại, nhưng còn phải mất một thời gian dài để kinh tế tăng trưởng nhanh hơn và giải quyết nạn thất nghiệp hiện còn cao.

Chuyển sang lãnh vực ngoại giao, nhà bình luận Ngô Nhân Dụng nêu lên những thành quả mà ông Obama đã đạt được từ khi ông ngồi vào tòa Bạch Ốc:

Ngô Nhân Dụng: Từ khi làm tổng thống, ông Obama đã chiếm được cảm tình của rất nhiều chính phủ và nhiều người trên thế giới. Ông đã đi đến những nước nghèo như Ai Cập chẳng hạn, người dân ở đó nhiệt liệt hoan nghênh ông. Ông sang Pháp, sang Anh cũng được hoan nghênh. Ngay nữ hoàng Elizabeth (đệ nhị) rất quyền quí và có thể coi là lạnh lùng, khi gặp vợ chồng ông Obama lại bày tỏ những thiện cảm làm mọi người ngạc nhiên.

Nhà bình luận Ngô Nhân Dụng cũng ghi nhận một thay đổi quan trọng trong chính sách của Tổng thống Obama mà người Việt rất chú ý:

Ngô Nhân Dụng: Về mặt ngoại giao, có lẽ một trong những điều mà người Việt Nam chúng ta chú ý nhất là chính phủ Obama bắt đầu quay trở lại vùng Á đông. Có thể nói trước đó chính phủ Mỹ không quan tâm đến vùng này, vì họ chú ý quá nhiều đến phong trào khủng bố, chính phủ Obama đã chuyển hướng. Riêng tại vùng Á đông, chính quyền Obama, từ ông bộ trưởng Quốc phòng đến bà bộ trưởng Ngoại giao, người nào cũng đề cao quyền lợi của nước Mỹ cần được bảo vệ trong vùng này. Chúng ta còn nhớ sự có mặt của bà Clinton và ông Gates ở hội nghị Singapore, những chuyến viếng thăm của họ qua Việt Nam hay qua Trung Quốc đã làm cho tất cả mọi người trong vùng đông nam Á thấy là nước Mỹ vẫn quan tâm bảo vệ an ninh của vùng này để cho việc thông thương dễ dàng, và đó chính là quyền lợi cơ bản của nước Mỹ chứ không phải là một chuyện xa xôi không dính líu gì đến nước Mỹ. Và đây có thể coi là một kinh nghiệm về ngoại giao để ông có thể nói với dân chúng Mỹ là: một ông tổng thống phải nhìn toàn diện cục bộ thế giới, chứ không nên để bị ám ảnh riêng về một cục bộ nào. Đấy là một thành công của ông.

Kể từ khi còn vận động tranh cử tổng thống, ông Obama đã hứa sẽ rút quân khỏi Iraq và Afghanistan. Ông đã thực hiện việc rút lực lượng chiến đấu khỏi Iraq và sẽ từ từ rút quân khỏi Afghanistan trong năm nay. Trong địa vị tổng tư lệnh quân đội, ông Obama đã nhìn thấy sự khác biệt giữa một trận đánh và một cuộc chiến. Nhà bình luận Ngô Nhân Dụng giải thích thêm:

Ngô Nhân Dụng: Có thể nói nước Mỹ là một nước có trách nhiệm toàn cầu, thì những cuộc chiến tranh như ở Iraq hay Afghanistan cũng có thể coi như những trận đánh ở địa phương trong toàn thể những cuộc chiến mà nước Mỹ phải đối phó ở khắp thế giới. Tôi nhớ là hồi ông Obama đang tranh cử năm 2008, ông đã gặp tướng Petraeus là người chỉ huy quân đội Mỹ ở chiến trường Iraq, ông Petraeus có than phiền với ứng cử viên Obama là tại sao ông cứ nói đến chuyện rút quân như vậy làm cho tôi gặp khó khăn trong việc điều khiển chiến tranh ở đây, ông Obama trả lời rằng “tôi thông cảm với những khó khăn của ông và những mối lo lắng của ông, nhưng nếu tôi làm tổng thống thì một vị tổng thống không chỉ chú ý đến một cuộc chiến tranh ở Iraq mà thôi, mà phải nhìn thấy tất cả những ưu tiên của nước Mỹ trong vấn đề quốc phòng, và có thể trong tất cả những vấn đề mà nước Mỹ phải đối phó thì chiến trường Iraq không phải là chiến trường duy nhất và không phải là chiến trường quan trọng nhất, và với thứ tự ưu tiên thì tôi thấy việc rút quân khỏi Iraq là ý kiến mà tôi cho là tốt.” Ngay từ lúc ông (Obama) còn đang ứng cử, ông đã đặt mình vào địa vị của một ông tổng thống, để mà nhìn thấy việc giữ địa vị của nước Mỹ trên thế giới, để thấy nơi nào là quan trọng cần phải chú ý, và nơi nào quan trọng hơn nơi khác. Ông đã học được kinh nghiệm trong hai năm qua, với những quyết định như là rút quân khỏi Iraq và sau này sẽ rút quân khỏi Afghanistan, trong khi vẫn giữ được vai trò của nước Mỹ ở những nơi khác.

Nhà bình luận Ngô Nhân Dụng còn nhắc tới sự kiện lực lượng đặc biệt Mỹ dưới quyền ông Obama, Tổng tư lệnh quân đội Hoa Kỳ, đã diệt trừ được thủ lãnh al-Qaida trong một chiến dịch hết sức ly kỳ như một điểm son trong lãnh vực quân sự.

Trong quá khứ, chúng ta đã thấy các tổng thống như Bill Clinton, George W. Bush đã già đi rất nhanh trong khoảng thời gian từ lúc bắt đầu cầm quyền cho đến khi kết thúc nhiệm kỳ. Với trách nhiệm đối nội, đối ngoại đè nặng lên vai trong tình thế hết sức khó khăn từ kinh tế, chính trị, quân sự cho đến ngoại giao kể từ khi lên nhậm chức đến nay, người ta thấy trong hơn hai năm qua vị tổng thống trẻ trung Barack Obama cũng không tránh khỏi thông lệ đó. Mặc dù đến nay ông vẫn giữ được thân hình thon gọn và sức khỏe tốt, mái tóc ông đã điểm bạc và gương mặt đã hằn sâu thêm nhiều nếp nhăn khi ông bước sang tuổi 50.

Posted: Mon Aug 08, 2011 6:08 am
by dailien
Hãy Vất Bỏ Khối Nặng của Tính Ác và Sự Xấu!
Phan Nhật Nam
Lời nói đầu:
Xin quý vị vui lòng bỏ chút thời giờ quý báu để đọc và có thể chia sẻ....bài viết cưong trực, liêm chính, chân thành, đầy tính xây dựng, yêu thương cội nguồn quê hương và dân tộc của nhà văn Quân đội PHAN NHẬT NAM.
Cũng nên nhắc biết sơ qua (dù thừa) tác giả vốn xuất thân khóa 18 Trường Võ Bị Quốc Gia VN (Đà Lạt) . Binh chủng nguyên lai: Nhảy Dù.
Sau thời gian phục vụ trong Sư đoàn Dù, ông ta chuyển ra Bộ Binh trong các nhiệm vụ "phóng viên chiến trường", "nhà văn Quân đội" thuộc Tổng
Cục Chiến Tranh Chính Trị / Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa cho đến ngày Miền Nam bị Cộng sản Bắc Việt cưỡng chiếm 30-4-1975.

Sau ngày 30-4-1975, nhà văn và cũng là phóng viên Quân đội PHAN NHẬT NAM sống tù đầy trong cái lò cải tạo của Cộng sản VN với cấp bậc Đại Úy QLVNCH và Ông đã bị giam hãm hơn một thập niên tại miền bắc VN dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa.
Và bây giờ thì xin mởi quý vị đọc bài viết của nhà văn Quân đội PHAN NHẬT NAM dưới đây.
Trân trọng,


Nguyễn Văn Trọng (K13)


Không gì bực mình hơn là phải nghe người ta nói thiệt! Vì lời nói thiệt dễ làm mích lòng nhau. Nhứt là đối với những người thường hay được nghe những lời ca tụng, tán dương và kể cả nịnh bợ không có thiệt về mình, về gia đình mình, về cộng đồng mình và luôn cả về dân tộc mình!


Nói lên sự thực với người mình —người Việt Nam— quả là một chuyện hết sức khó làm. Bởi vì từ trước tới nay hầu hết những lời nói hay bài viết của người này đề cập đến người kia, nếu không là chửi bới quá đáng, thì cũng là tán dương quá độ. Trong tiến trình tán dương quá độ, mọi ngôn từ hoa mỹ đều được vận dụng để ca ngợi đối tượng, mà không có phần nào nghiêm chỉnh phê phán để cho đối tượng này thấy được những khuyết điểm cần phải sửa chữa. "Mặc áo thụng vái nhau,"đó là lối mòn mà người mình —đặc biệt là các văn nghệ sĩ— vẫn ưa dùng để công kênh nhau trên mọi phương tiện truyền thông có được, bất chấp lương tri và lẽ công bằng. Cứ hết ca ngợi lẫn nhau đến ca ngợi dân tộc mình riết như vậy rồi thành thói quen. Khi có người nào đó dám mon men vạch ra những khuyết điểm hay thói hư, tật xấu của người Việt Nam thì nhiều người sẽ lại nổi giận lên như thể là danh dự của họ đã bị xúc phạm nặng nề rồi. Không, đó chỉ là cái tự ái dân tộc hảo huyền mà thôi, thưa quý vị.

Sau khi đã nói vậy, bài viết sau đây không nhằm chê bai hay chửi bới ai hết, mà chỉ nhằm nói thiệt, tức nói lên sự thật, về những nguyên do tại sao mà một dân tộc vốn ưa hãnh diện về truyền thống lịch sử, văn hoá và đạo đức của mình như dân tộc Việt Nam mà bây giờ lại trở nên một trong những dân tộc trầm luân nhứt thế giới nếu xét về những mặt như nghèo đói, không luật pháp, tàn ác với nhau, tự cho mình là giỏi, hay tham lam, chuyên phản phúc, luôn chê bai và chửi bới những ai không phải là chính mình, coi chuyện ăn hối lộ là quyền đương nhiên của mình, lúc nào cũng chỉ coi trọng đồng tiền và vật chất...

Còn một điều này nữa. Người viết không muốn bị những người trừ trước tới nay chỉ thích được nghe người khác tán dương hay nịnh bợ (mà nay đành thất vọng vì không được tiếp tục nghe những lời tán dương, nịnh bợ đó) chụp mũ là cộng sản (như 90% những trường hợp cho thấy), là phản quốc, hoặc là coi thường dân tộc mình... Vì vậy, người viết đành ra tay trước để phòng thủ, tạm thời tự vỗ ngực nhận mình là một trong những người chống Cộng kiên cường nhứt thế giới, người có tình yêu nước Việt Nam nồng nàn nhứt, và người duy nhứt trong cộng đồng nhỏ bé cuả mình lúc nào cũng chỉ biết đặt quyền lợi của tổ quốc và dân tộc lên trên hết.

Dân tộc Việt Nam, ngoài những điểm ưu việt ghê gớm mà các dân tộc khác trên thế giới không có, còn có những khuyết điểm, hay nói huỵch tẹt ra là những thói xấu, mà các dân tộc kia không thể nào sánh nổi cho dù họ có cố gắng học hỏi hay bắt chước chúng ta cách mấy đi nữa. Những thói xấu này giải thích tại sao người Việt Nam mà chúng ta vẫn luôn luôn tự hào là thông minh xuất chúng đến như vậy mà bây giờ lại trở nên một trong những dân tộc lụn bại, trầm luân nhứt thế giới, tính cho đến cuối thiên niên kỷ này.

Những thói xấu của người mình thiệt ra khá nhiều, nhiều hơn mức bình thường. Người viết bài này chỉ gạn lọc và trình bày một số tính tiêu biểu đã gián tiếp hay trực tiếp đóng góp vào tình trạng đất nước Việt Nam ngày càng xơ xác, tiêu điều, các cộng đồng Việt Nam tại hải ngoại ngày càng tiếp tục chia rẻ, phân hoá tưởng như không bao giờ hàn gắn được.
Các thói xấu đó là:

- không tôn trọng sự thực và lẽ phải,
- khoe khoang và kiêu ngạo,
- cố chấp và ngoan cố
- độc tôn,
- kỳ thị,
- tàn ác,
- thiếu cao thượng và ưa chơi gác,
- phe đảng,
- thiển cận,
- ganh ghét,
- thích làm vua làm chúa,
- không công tâm,
- không tôn trọng luật lệ,
- cướp công của người khác,
- ưa nịnh bợ, tâng bốc,
- thích ăn hối lộ,
- tham lam,
- không tôn trọng nguyên tắc và giờ giấc,
- không tuân giữ các cam kết...


Những dẫn chứng về xã hội và lịch sử Việt Nam —cả ở trong lẫn ở ngoài nước— có thể giúp soi rọi vào cội nguồn và những ngóc ngách của các thói xấu nêu trên.

1. Không tôn trọng sự thực và lẽ phải: Lịch sử dân tộc Việt Nam do người mình viết có nhiều điểm mơ hồ và không đi sát sự thực, như những chi tiết liên hệ tới nguồn gốc dân tộc, về các vị nữ anh hùng, về công cuộc mở mang bờ cõi, về các lý do đằng sau việc cấm đạo Cơ Ðốc, về các triều đại nhà Nguyễn Tây Sơn và nhà Nguyễn, và gần đây nhứt là về các chiến thắng của Vua Quang Trung trước quân nhà Thanh xâm lược.

(2) Những lời đồn đại về Ngô Triều sau ngày 1-11-1963 cũng như những tập hồi ký của các cựu Tướng Ðỗ Mậu, Trần Văn Ðôn, Nguyễn Chánh Thi, Tôn Thất Ðính...

(3) cũng là biểu hiện của tính không tôn trọng sự thực của người mình. Còn lịch sử Việt Nam do Ðảng Cộng Sản Việt Nam viết nên thì lại không hề có lấy một phần mười của tính trung thực cần có trong phương pháp sử học, mà chỉ nhằm phục vụ mục đích tuyên truyền và tự tôn vinh của người Cộng Sản Việt Nam. Gần như người Việt nào ở hải ngoại cũng chửi bới Cộng sản, nhưng hễ đã được về thăm quê hương thì một số lại khen lấy, khen đễ Cộng sản, cốt sao cho được việc của mình và gia đình mình chớ không hề muốn nói lên sự thực chút nào.

(4) Khoe khoang và kiêu ngạo: Ðào Duy Anh, khi viết về dân tộc Việt Nam, đặc biệt chú ý tới tính hay khoe khoang, trang hoàng bề ngoài, ưa hư danh của người mình. Trần Trọng Kim cũng cho rằng người Việt Nam hay khoe khoang và ưa trương hoàng bề ngoài, hiếu danh vọng.

(5) ở nước ngoài, chúng ta vẫn thường nghe nói tới sự thông minh và tài giỏi của người Việt Nam, tiêu biểu là số lượng học sinh và sinh viên học giỏi, đậu cao tại các học đường Âu, Mỹ, rồi tự lấy làm hí hửng là dân tộc mình number one. Bình tĩnh mà xét, điều này cũng không có gì lạ lắm, vì có cả trăm triệu người ở Châu Âu, Châu Mỹ đậu những bằng cấp mà người mình đã, đang và sẽ đậu, nhưng họ nào có xuýt xoa hay khua chiêng, gỏ mõ gì đâu, mà chỉ im lặng làm việc và thành công sau khi đã lấy được những bằngcấp kia.

(6) Ðó là chưa kể tới câu hỏi mà ai cũng nhắc tới là Một người Việt Nam thì vậy, còn hai, ba hay nhiều người Việt Nam nữa đứng chung với nhau thì sao? Còn về tính kiêu ngạo thì có lẽ không ai kiêu ngạo hơn dân tộc mình, kể cả dân Thiên Hoàng Nhựt Bản và dân Con Trời Trung Quốc. Theo lời Cộng Sản Việt Nam (và ngay cả một số những người Quốc gia bị thua trận trước đây), thì Việt Nam quả là cái thế anh hùng khi một mình đánh thắng hết mọi đế quốc sừng sỏ từ Trung Hoa và Mông Cổ tới Pháp, tới Nhựt rồi tới Mỹ. Người Cộng sản còn phô trương rằng giới lãnh đạo của họ là những bộ óc ưu việt, những đỉnh cao trí tuệ cuả loài người tiến bộ trên thế giới đã xuất thần mà đề xướng ra hai cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp và Ðế quốc Mỹ rồi lại sáng suốt "dắt giống nòi" vào con đường xã hội chủ nghĩa.

(7) Nên nhớ rằng kiêu ngạo là tính mà Ông Trời ghét nhứt, và cũng chính vì tật xấu này mà loài người hay bị Trời phạt nhiều nhứt. Các thành Sodom và Gomorrha (như được kể lại trong Thánh Kinh Cơ Ðốc Giáo) đều đã bị lửa Trời tiêu huỷ chỉ vì dân chúng ở đó quá kiêu ngạo đến nỗi lo ăn chơi sa đoạ và dâm loạn, bất chấp những điều răn của Thượng Ðế. Cứ xem dân tộc mình hiện đang bị nghèo đói, trầm luân, rên siết đêm ngày dưới ách Cộng sản thì biết ngay.

2. Cố chấp và ngoan cố: Không ai cố chấp và ngoan cố như dân ta. Cái gì của mình cũng là nhứt, còn người ta là hạng bét. Hễ đã tin là mình đúng rồi thì cứ bắt người khác phải theo cho bằng được; còn nếu sai thì vẫn cứ cố cãi cho tới chết chớ không chịu nhận là mình sai. Vua Tự Ðức không tin lời Nguyễn Trường Tộ nói là dân mình bị lạc hậu so với Tây phương, tiếp tục nghe theo Tàu gọi các nước Âu Mỹ là Tây di, rồi khư khư ôm lấy chính sách bế quan, toả cảng, để rồi cuối cùng dân tộc ta phải làm nô lệ cho thực dân Pháp. Hồi thập niên 1950-60, Hồ Chí Minh và phe đảng ông, vì tin rằng muốn cho đất nước giàu mạnh thì cả hai miền Nam, Bắc chỉ có cách là đi theo con đường xã hội chủ nghĩa mà thôi nên đã nhứt quyết dùng võ lực buộc chính phủ và nhân dân Miền Nam Việt Nam phải từ bỏ con đường tự do dân chủ. Còn chính quyền Ngô Ðình Diệm hồi đó thì vẫn khăng khăng cho rằng các chính đảng khác, kể cả Việt Nam Quốc Dân Ðảng và Ðại Việt, không có khả năng chống Cộng như mình. Phe quân nhân sau đảo chánh 1-11-1963, vì quá tự tin ở khả năng mình, đã không để cho các nhà lãnh đạo dân sự có cơ hội cầm quyền tại Miền Nam Việt Nam, cho dù họ có tài đức đến đâu. Cộng sản Việt Nam thì cho giáo điều của họ là hay nhứt, không có lý thuyết chính trị nào hay hơn, kể cả bọn xét lại Liên Sô và bọn hiện đại hoá Trung Quốc. Ngay cả sau khi Liên Sô, vị thánh tổ của Cộng sản thế giới và đại sư báọ của Cộng sản Việt Nam, đã sụp đổ cùng với khối Cộng sản Ðông Âu hồi 1991, Cộng sản Việt Nam, dù biết rằng mình đã hoàn toàn sai trái, nhưng vẫn ngoan cố không chịu nhìn nhận điều này để sửa đổi chế độ cho dân tộc được nhờ. Một số đảng viên đã ly khai của họ -- như "hồi chánh viên" Bùi Tín chẳng hạn -- vẫn cứ nhứt định cho rằng chỉ có giới lãnh đạo tại Hà Nội, chớ không phải là chủ nghĩa Cộng sản, đã sai lầm. Các cộng đồng Việt Nam tại hải ngoại, tiêu biểu là tại Nam California, không ai nhịn ai, mạnh ai nấy xưng hùng, xưng bá, làm cho cộng đồng nát bét, chẳng qua cũng chỉ là vì tính cố chấp mà thôi.

3. Ðộc tôn: Người mình, nhứt là các nhà lãnh đạo, thường có tính ưa độc tôn, tức là chỉ muốn độc quyền làm lãnh tụ hay chỉ muốn lịch sử ghi nhận rằng không có ai ngoài họ có thể trị nước an dân. (8 ) Hồ Chí Minh vẫn thường nói với đám con nít: "Xưa các Vua Hùng có công dựng nước, nay Bác cháu ta có công giữ nước." (ý của họ Hồ là chính ông ta, chớ không phải là ai khác, mới là kẻ có công giữ nước.) (9) Chính vì cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu chỉ muốn thế giới coi ông là người anh hùng duy nhứt có khả năng giữ vững được Miền Nam Việt Nam khỏi bị Cộng sản nuốt sống nên ông đã cố tình làm cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà phải tan rã (cho thiệt đúng với câu après moi le déluge, nghĩa là nếu tao mà xuống ngôi rồi thì tụi bây chỉ còn có nước đắm chìm trong bể khổ), (10) rồi lại ráng canh cho tới giờ thứ 25 mới giao quyền lại cho cựu Tướng Dương Văn Minh để cho ông này, vốn cũng không có tài kinh bang tế thế gì mấy, chỉ còn kịp đầu hàng Cộng sản mà thôi. (11) Trong các cộng đồng người Việt hải ngoại cũng vậy, phàm người không làm được việc gì để phục vụ đồng hương thì cũng chẳng thích kẻ khác làm được việc cho cộng đồng để nổi bật hơn mình. Thái độ này đã và đang là trở lực chính ngăn chặn Việt Nam tiến lên bắt kịp với trào lưu tiến bộ hiện nay của thế giới. Người Cộng Sản trong nước, dù biết chắc là họ thua tài, thấp trí và bất lực, vẫn không chịu chấp nhận một thể chế dân chủ đa nguyên để cho người Quốc gia có cơ hội đóng góp tài năng xây dựng đất nước.

4. Kỳ thị: Người Việt hải ngoại, nhứt là tại Mỹ, vẫn hay cười chê người da trắng bản xứ là kỳ thị chủng tộc này nọ.. Nhưng hãy suy gẫm kỹ mà xem thử người mình có mắc bệnh kỳ thị hay không, và bệnh đó so với người Mỹ thì nặng hay nhẹ hơn. Người viết bài này nhớ hồi nhỏ, lúc còn đi học, vẫn được mấy anh lớn trong xóm dạy cho một bài hát châm chọc người Hoa kiều -thường được gọi là "các chú" di cư sang buôn bán làm ăn tại Việt Nam. Bài hát có câu: Si-noa là giống bên Tàu, đẻ ra thằng Chệt ăn toàn... trâu! Ðối với dân tộc thiểu số miền núi (như Rhadé, Tày, Mạ, Mán...), người mình không ngần ngại gọi họ là "mọi," với ý nghĩ rằng họ là những giống người kém văn minh hơn ta đây. Dĩ nhiên là đối với hai ông bạn láng giềng Lào và Căm-Bốt thì người Việt Nam lúc nào cũng vẫn tự coi là mình hơn người ta một bậc, bất kể về phương diện nào. Lại nhớ ngày xưa khi còn lính Mỹ tại Việt Nam, những người đi làm sở Mỹ hay phụ nữ kết hôn với binh lính và sĩ quan Mỹ vẫn còn bị coi là làm chuyện kém vinh dự hay thiếu đạo đức (vì ham tiền mới làm), và con lai —dù lai Pháp hay lai Mỹ— vẫn bị xã hội mình coi rẻ, nếu không bảo là khinh khi, gọi là "đồ lấy Tây," "đồ lấy Mỹ." (Chả bù với thời nay, có chút dính dáng về máu huyết hay hôn nhơn với người Mỹ da trắng, kế tới là Anh, Pháp, Ðức, Hà Lan, Gia Nã Ðại, ý, Ðan Mạch, Na Uy, Thuỵ Ðiển, áo, Úc... thì lại là một vinh dự lớn lao!)

5. Tàn ác, thiếu cao thượng và ưa chơi gác: Thật ra, người Việt Nam mình không phải là một chủng tộc có bản tính tàn ác. Trong các vua đời Nhà Lý và Nhà Trần, nhờ ảnh hưởng tốt đẹp của Phật Giáo, nhiều vị đã hết sức thương dân và còn biết đem lòng từ bi, hỉ xả cuả nhà Phật ra để dạy dân biết ăn ở cho có đạo đức, nhân từ. Về mặt tàn ác của người mình, sử sách còn ghi lại cách đối xử tàn bạo cuả binh lính Nhà Nguyễn dưới quyền Tướng Nguyễn Huỳnh Ðức lúc đang chinh phạt Cao Miên (đời Vua Thiệu Trị). Cung cách Cộng sản Việt Nam đối xử với tù binh Mỹ trong tay họ phải nói là tàn ác và tồi tệ chẳng thua chi quân phiệt Nhựt hồi Thế Chiến II nữa. (12) Người Mỹ, tuy bị coi là ham mê tình dục mà ít chú trọng tới danh dự (kiểu Clinton) và chỉ nghĩ đến cá nhân mình, nhưng lại giàu lòng thương hại kẻ yếu kém hơn họ. Chẳng hạn, người Mỹ, lúc đã trở nên giàu có, thường dùng tiền bạc dư thừa để làm việc từ thiện, dù có khi chỉ để mua danh. Và họ ít khi muốn đánh kẻ đã ngã ngựa, cho dù kẻ đó là Ðức hay Nhựt. Việt Nam mình thì khác: Kẻ thắng sẽ đánh, giết người thua cho tới cùng. Các ví dụ trong lịch sử gồm có chuyện Trần Thủ Ðộ giết hại tôn thất nhà Lý, chuyện Vua Gia Long cho đào mả Vua Quang Trung để lấy đầu lâu đái vào và xử tử nữ Tướng Bùi Thị Xuân cuả Tây Sơn một cách tàn nhẫn, chuyện các vua đời Hậu Lê và Nguyễn giết hại công thần... Quân viễn chinh Việt Nam tại Lào và Căm-Bốt luôn luôn chơi gác đồng minh của mình, dù phe taọ là Quốc gia hay Cộng sản. Hiện đại nhứt vẫn là chuyện Cộng Sản Bắc Việt chơi gác Mỹ tại bàn Hội nghị Ba-lê, với lá bài tẫy là tù binh Mỹ trong tay họ. (Có điều trớ trêu là người Mỹ chỉ ngu đoản kỳ, trong khi Cộng sản Bắc Việt lại ngu trường kỳ!)

6.. Phe đảng: Không dân tộc nào lại có tính phe đảng hơn người mình. Phe đảng đây có nghĩa là ngoài mình ra, mình chỉ lo cho vợ con mình, bà con mình hay bè bạn mình là hết, còn đất nước thì cứ kệ mẹ nó, muốn ra sao thì ra. Ðiều này đúng cho cả phe Quốc gia lẫn phe Cộng sản, cho nên đất nước mình mới mau chóng tàn mạt như thế này. (13) John Paul Vann, Cố vấn Trưởng Vùng II Chiến thuật hồi thập niên 1970, đã ngỏ ý xa gần rằng "người Việt Nam là những kẻ yêu thương chan chứa nhứt (thế giới)" (the Vietnamese are the greatest lovers), ý nói người mình chỉ biết yêu thương, lo lắng cho sự an nguy của quyến thuộc, thân bằng mà quên đi vận mệnh chung của đất nước. Ngay cả lúc cần phải lui quân (cỡ Dunkerque), sĩ quan và binh lính ta vẫn đèo bòng vợ con làm cho cuộc triệt thoái thêm phần vướng víu, chậm chạp và dĩ nhiên là nhiều thương vong. Hồi còn Việt Nam Cộng Hoà, cái triết lý một người làm quan, cả họ được nhờ là triết lý phổ biến nhứt và được nhiều người theo nhứt. Ai cũng chê Tổng Thống Diệm là gia đình trị, nhưng nếu chính quyền rơi vào tay một gia đình khác thì cũng thế, có điều là gia đình này có độc tài và tham nhũng hơn gia đình kia hay không mà thôi. Thời quân nhân cầm quyền ở Miền Nam Việt Nam thì chỉ có ai trong đảng ka-ki mới được trao quyền cai trị đất nước. Quân đội thì lại bị một số tướng lãnh coi như là tài sản riêng, để rồi họ cứ nhân danh tập thể Quân đội mà ban phát cấp bậc hay chức vụ cho những ai trung thành với họ. Thời Cộng sản thì khỏi nói rồi, chỉ có "Ðảng ta" là xứng đáng được ăn trên, ngồi trốc, làm giàu và cho con du học (Ðế quốc) Mỹ mà thôi! Thử hỏi một khi đã mở cửa cho dân chủ đa nguyên thì làm sao mà Cộng sản có thể thực thi chính sách phe đảng cho được?

7. Thiển cận: Ai viết sách hay giảng thuyết nơi đâu cũng khen ông cha chúng ta là nhìn xa, trông rộng. Sự thật chỉ đúng một phần nào đó mà thôi như phần chịu nhịn nhục triều cống Trung Hoa sau mỗi đợt chiến thắng quân xâm lược phương Bắc còn phần nhiều là thiển cận. Vì vậy dân tộc ta mới bỏ mất cơ hội canh tân đất nước (thời nhà Nguyễn), cơ hội hoà giải dân tộc và tái thiết đất nước thời hậu chiến (khi Cộng sản thắng năm 1975) và cơ hội lấy lại Quần đảo Hoàng Sa vốn là lãnh thổ của ta 100 phần trăm (khi Trung Cộng đang bị đánh bại trên mặt trận sáu tỉnh biên giới phía Bắc). Cứ nhìn các công trình kiến trúc nhỏ xíu của các triều đại vua, chúa Việt Nam để lại cho hậu thế thì biết: Không phải tại vua, chúa ta nghèo hay chẳng muốn vắt kiệt sức dân để phục vụ quyền lợi riêng như vua Tàu, vua Miên, vua Xiêm hay vua Lào đâu, nhưng chính là vì cái nhìn cuả người mình không thoáng, không vượt quá luỹ tre xanh đầu làng nên các công trình kiến trúc của mình thiếu vẻ bề thế, bao la và hùng tráng. (14) Cũng chỉ vì tầm nhìn không xa, không rộng nên dân chúng Miền Nam mới liên tục biểu tình đòi hoà bình với bất cứ giá nào, đòi Mỹ cút ngay, cho dù Việt Cộng đang đánh sát sàn sạt bên hông. Còn các tướng, tá trong Quân Ðội Cộng Hoà thì chỉ thích lật đổ Tổng Thống Diệm cho khuất mắt để được dịp tự lên lon cho lẹ! Và cũng chính vì cái tính thiển cận này mà người Việt hải ngoại ít quan tâm đến những cuộc đầu tư có tính cách lâu dài, như đầu tư vào chính trị (đi bầu cho đông để tạo áp lực, ra tranh các chức vụ dân cử...) hay đầu tư vào văn hoá (cấp học bổng cho sinh viên Việt Nam, làm công tác bất vụ lợi...) mà chỉ thích làm sao hễ sáng bỏ tiền ra là tối phải thu lợi vào ngay, chớ không thể để ngâm vốn lâu được!

8. Ganh ghét và đố kỵ: Tại sao người Việt hải ngoại sau hơn hai thập niên sống lưu vong vẫn chỉ làm được có mỗi một việc (coi không được) là đem nộp cho Cộng Sản Việt Nam hơn một tỷ đô-la mỗi năm? Ðó lại người mình không đoàn kết (trong tình đồng bào cũng như trong sách lược chung), mà cỗi nguồn của tình trạng này vẫn là lòng ganh ghét, đố kỵ nhau từng ly, từng tí. (15) Ðối với người mình, trâu buộc ghét trâu ăn đã đành, nhưng trâu ăn này lại còn ghét cay, ghét đắng trâu ăn kia nữa mới là đáng nói! Một ví dụ điễn hình là vụ Còi hụ Long An thời Ðệ nhị Cộng Hoà ở Miền Nam Việt Nam, tức là vụ phe của Bà Thiệu tranh đua buôn lậu với phe của Bà Khiêm, đôi bên đều sử dụng các lực lượng quân đội hùng hậu, kéo còi hụ hộ tống hàng hoá um sùm trời đất. Người viết bài này trộm nghĩ phe Cộng sản bên nhà cũng chẳng khá hơn phe hải ngoại trong lãnh vực này. Cứ nhìn việc "Ðảng ta" hạ bệ ngay và không tiếc xót "đệ nhất công thần" Võ Nguyên Giáp sau trận Ðiện Biên Phủ hồi 1954, cứ nhìn những cuộc thanh trừng nội bộ liên tiếp trong "Ðảng ta" —mà Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam là nạn nhân "đáng thương" nhứt— từ hồi chiếm được Miền Nam Việt Nam đến nay thì đủ biết.

9. Thích làm vua, làm chúa: Cái này thì đã rõ từ thời còn mồ ma thực dân Pháp kia, khi các quan cai trị Pháp nghiên cứu về dân tộc tính của người "An-nam" ta. Một vị Tây mũi lõ —dường như là Toàn Quyền Pierre Pasquier— đã "phán" thẳng thừng: Trong bụng mỗi một người An-nam đều có một ông quan. Câu nói này tuy hơi khắt khe nhưng cũng đã nói lên tính thích làm vua, làm chuá của người mình. Chính vì cái tính này mà người mình đâu có ai chịu phục ai. Bởi thế cho nên, nhìn quanh, nhìn quất trong cộng đồng người gốc á châu-Thái Bình Dương ở hải ngoại, chỉ có nhóm người Việt Nam mình là phải thường xuyên khổ sở vì tranh chấp và kiện tụng về quyền lãnh đạo, từ các trung tâm văn bút cho tới các ban đại diện cộng đồng. Quý vị còn lạ gì khi thấy cảnh bên Mỹ một tiểu bang hay nửa tiểu bang mà có tới hai, ba ban đại diện cộng đồng Việt Nam, trong khi đó xuất hiện hằng trăm hội đoàn, mà hầu hết các hội đoàn này chỉ có chủ tịch đứng tên trong hội đồng quản trị mà thôi. Thậm chí có người đã cả gan một mình đứng làm chủ tịch cả chục hội đoàn, vừa Việt vừa Mỹ. Mà phải như các hội đoàn này có hoạt động gì ích quốc, lợi dân cho cam! Trái lại, nó chỉ hiện diện để người cầm đầu dễ bề lợi dụng danh nghĩa cộng đồng vào những âm mưu làm kinh tế hay chính trị riêng tư của họ.

10. Không công tâm: Không công tâm tức là tư vị, mà chuyện này thì xảy ra như cơm bữa tại Việt Nam dù dưới chế độ nào đi nữa. Con ông, cháu cha (phải được ưu tiên) vẫn là phương châm của mọi thời đại. Vì không công tâm nên mới sinh ra nạn phe đảng và bè phái làm ung thối mọi cấp chính quyền trong quá khứ cũng như hiện tại, bên này hay bên kia vĩ tuyến 17 cũng vậy. Chính nhờ nổi tiếng là có công tâm nên Cụ Trần Văn Hương mới được mời làm đến Thủ Tướng và sau đó là Tổng Thống Việt Nam Cộng Hoà. Nhưng điều đáng tiếc cho vận nước là số người như cụ không nhiều hơn số ngón trên một bàn tay đã cụt hết bốn ngón rồi! Bệnh không công tâm còn thể hiện qua cách viết lách, tường thuật, phê phán vụ việc và ghi chép lịch sử nữa. Ðặc biệt về cuộc Chiến Tranh Việt Nam, người Việt Nam, ở một mức độ cao hơn người Mỹ, thường thiếu công bằng khi kể lại các sự kiện xảy ra. Nếu là một cựu quân nhân Nhảy Dù, Thuỷ Quân Lục Chiến hay bộ binh viết về một trận đánh nào đó tại Nam Việt Nam, thành tích của đơn vị gốc cuả tác giả thường được đề cao, trong khi thành tích cuả các đơn vị bạn lại bị kín đáo dìm xuống hay có khi bị lờ đi, không đề cập gì tới cả. (16) Lối tường thuật và viết sử của Cộng sản dĩ nhiên là còn tồi tệ hơn nhiều, nghĩa là không đếm xỉa gì tới sự thực mà hoàn toàn thiên vị nhằm mục đích tuyên truyền và độc tôn phe Cộng sản. Dĩ nhiên, một lý do khác của sự thể này là người cầm bút của mình thường thiếu phương pháp sử học và không hề để ý tới nguyên tắc vô tư trong tường thuật báo chí.

11. Không tôn trọng luật lệ: Chính nhờ tinh thần thượng tôn luật pháp mà Mỹ Quốc, tuy chỉ mới lập quốc có hơn 200 năm, nay đã trở thành một siêu cường giàu mạnh nhứt thế giới. Nhưng Việt Nam ta thì coi như không mấy ai bận tâm đến chuyện phải tôn trọng luật pháp. Ðây là hậu quả tất yếu của một quốc gia phải trải qua cả nghìn năm chinh chiến, hết nội thù đến ngoại xâm, hầu như không có lúc nào được an hưởng thái bình đủ lâu để củng cố hệ thống luật pháp chung cho đất nước. Ðất nước Việt Nam tuy mang tiếng là được trung ương tập quyền từ đời Lý (thế kỷ thứ 11-13) nhưng thiệt sự triều đình chỉ nắm được quyền thu thuế và bắt lính qua trung gian một hệ thống làng xã khá vững chắc. Phép vua thua lệ làng, câu này vừa nói lên tính tự trị từ ngàn xưa cuả hệ thống làng xã Việt Nam - vì triều đình quá bận bịu chinh chiến chống ngoại xâm và nội thù — vừa nói lên sự lỏng lẻo cuả luật pháp quốc gia. Hay nói khác đi, Việt Nam chỉ thiệt sự có luật pháp quốc gia từ đầu thế kỷ 19 với Bộ Luật Gia Long, mặc dù, trên nguyên tắc, đất nước đã có luật pháp chung kể từ thời Lê Thánh Tôn (thế kỷ thứ 15) với Bộ Luật Hồng Ðức. Nói chung, ý thức tôn trọng luật pháp của người mình rất thấp. Một phần là vì khả năng truyền thông yếu kém do tình trạng nghèo nàn lạc hậu, phần khác do đầu óc sứ quân và óc địa phương, làng xã còn nặng, phần khác nữa do đời sống dân chúng hãy còn quá đơn giản, chưa có những nhu cầu phức tạp của một dân tộc văn minh cao. Khi Cộng Sản cởi đầu, cởi cổ được cả hai miền Nam Bắc thì họ liền trở về với tình trạng phân hoá sứ quân cũ, nghĩa là mỗi tỉnh đều có luật lệ riêng để áp dụng, có khi luật tỉnh (do bí thư tỉnh ủy đảng Cộng Sản hành xử) còn được đặt trên cả luật pháp quốc gia, với dụng ý để cho cán bộ tỉnh dễ bề tham nhũng và có thể tuỳ tiện ăn hối lộ mà không cần phải trình báo cho trung ương. Và rồi tình trạng vô luật pháp chỉ là một hậu quả tất nhiên của tệ nạn tham nhũng và hối lộ lan tràn, bởi vì lúc nào cũng thấy diễn ra cảnh "nén bạc đâm toạc tờ giấy." Ngày nay, những ai từng về Việt Nam du lịch đều nhìn nhận rằng Việt Nam không hề có luật lệ giao thông. Hễ đã ra đường rồi thì mạnh ai nấy chạy, mạnh xe nào nấy đi, chừng nào tai nạn xảy ra thì cứ chửi nhau inh ỏi cả lên, ai to tiếng hơn thì thắng, còn có bồi thường thì cũng chỉ là vờ vịt, qua loa mà thôi, chủ yếu là xuýt xoa xin lỗi.
Cướp công của người khác: Vì không có một hệ tư tưởng hay học thuyết dân tộc cuả riêng mình, người Việt Nam rất dễ dàng tiếp nhận những luồng tư tưởng từ bên ngoài. Việt Nam đã du nhập nào Khổng Giáo, Lão Giáo, Phật Giáo, Cơ-Ðốc Giáo, chủ nghĩa tự do dân chủ Tây phương, chủ nghĩa duy vật Mác-xít Lê-nin-nít, triết học hiện sinh cùng với các trường phái nghệ thuật từ cổ điển và lãng mạn tới ấn tượng và lập thể. Người mình còn ưa lấy các học thuyết khác nhau của Trung Hoa và Ấn Ðộ xào nấu lại rồi cho đó là công trình sáng tạo của mình, gọi các công trình đó là một hình thức Việt Nho hay Việt Học. (17) Các sản phẩm kiến trúc hay âm nhạc cuả Việt Nam thiệt ra đều là những bản sao có thêm thắt cuả lối xây cất hay cách thế ca hát, nhảy múa của Trung Hoa và Chàm (Ấn Ðộ). (18 ) Các nhà cai trị thực dân Pháp cũng từng ghi nhận rằng dân tộc Việt Nam có tài bắt chước, mà hễ đã bắt chước thì không phải là sáng tạo mà chỉ là lấy của người làm của mình thôi. Một tỷ dụ điển hình khác cuả thói xấu này là tật "cướp công cách mạng" khi Cộng Sản tự vỗ ngực cho rằng chính họ là người duy nhứt đi tiên phong trong phong trào đánh Pháp, đuổi Nhựt. Thiệt sự thì những đảng phái quốc gia khác như Việt Nam Quốc Dân Ðảng hay Ðại Việt, hoặc các giáo phái như Cao Ðài và Hoà Hảo cũng là những thành phần có công chống Pháp, kháng Nhựt vậy. Chỉ có điều là họ không giành được chính quyền vào tay để mà tha hồ kể công với lịch sử như Cộng sản đang làm.

12.Ưa nịnh bợ, tâng bốc: Vì có máu kiêu ngạo thêm tính ưa làm quan (như đã kể trên), người Việt Nam thường chỉ thích được kẻ khác nịnh bợ, tâng bốc. Những lời nói thiệt, nói thẳng kiểu Nguyễn Trường Tộ hay Phan Châu Trinh dễ làm vua quan ta phật ý. Sử chép rằng Vua Khải Ðịnh thích được các quan quỳ lạy, xưng tụng đến nỗi nhà vua đã cho thiết lập cả một triều đình ngay tại Marseilles trong thời gian có Hội Chợ Kinh Tế (Ðấu Xảo) Ðông Dương thuộc Pháp năm 1925. (19) Tổng Thống Diệm cuả Miền Nam Việt Nam chỉ thích được nghe người ta suy tôn Ngô Tổng Thống. Nhưng họ Hồ và Ðảng Cộng Sản Việt Nam thì ở một mức độ cao hơn nhiều. Ðám bồi bút và văn nô cuả Hồ Chí Minh, đứng đầu là Tố Hữu (nhà thơ mà sau làm đến Phó Thủ Tướng Ðặc Trách Ðổi Bạc) với các phụ tá như Xuân Diệu, Nguyễn Ðình Thi, Huỳnh Minh Siêng... lúc nào cũng sẵn sàng làm thơ, làm văn, làm nhạc, hết mình ca tụng Bác và Ðảng. Và cho dù Bác và Ðảng có thực sự xua đẩy đất nước mình xuống bờ vực thẳm, họ cũng không hề dứt lời say sưa ca ngợi: Bác đến từng nhà thăm các cụ già, cầm tay chúng con, Bác bắt nhịp bài ca kết đoàn. —Tiếng Hát Thành Phố Mang Tên Người.

13. Thích ăn hối lộ: Ðây là căn bệnh chung của phần lớn các quan lại và những người mà trong bụng lúc nào cũng có một ông quan. Bệnh phát triển quá mức bình thường một khi niềm tin vào kỷ cương và giềng mối cuả đất nước tan rã. Tại Miền Nam Việt Nam, sau khi chiếm được Dinh Gia Long, phe đảo chánh Tổng Thống Diệm chỉ tìm thấy chiếc giường gỗ và một giá sách trong phòng ngủ của ông. Nhưng sau khi Tổng Thống Thiệu ra đi, người ta tin rằng ông đã mang theo ra nước ngoài nếu không phải là cả tấn vàng thì cũng một số lớn tài sản tích luỹ được ố-kể cả các chương mục ngân hàng tại Thuỵ Sĩ— sau 10 năm cầm quyền. Các tướng lãnh dưới quyền ông từ Trần Thiện Khiêm tới Cao Văn Viên và Ðặng Văn Quang cũng đều được người đời nhắc nhở tới như là những tay tham nhũng lớn của chế độ. Các vị này vẫn thường coi chuyện ăn hối lộ và tham nhũng như là quyền đương nhiên của giới lãnh đạo, nhứt là trong lúc đất nước đang có chiến tranh, bản thân họ thì phải vào sanh ra tử. Tỷ dụ như Tướng Ðỗ Cao Trí, một vị tướng rất tài giỏi (cỡ Patton) nhưng không sạch của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, trong một phút cao hứng, từng nói với báo chí ngoại quốc rằng ông vừa đánh giặc vừa làm giàu, (ý nói ông có quyền tham nhũng và buôn lậu qua vùng tam biên). Nhưng than ôi! Tham nhũng cỡ đó thì đâu có thấm béo gì nếu so với các quan chức Cộng sản hiện đang toàn quyền cai trị 75 triệu dân Việt Nam (và một số Việt kiều yêu nước ở hải ngoại)! Trên thực tế, tình trạng tham nhũng và hối lộ ở Miền Nam, phát sinh từ chiến tranh chống Cộng, đã gia tăng với một nhịp độ khủng khiếp sau khi Sàigòn rơi vào tay Cộng sản. Và tình trạng này đã lây lan mãnh liệt, làm ung thối luôn cả chế độ Cộng sản Miền Bắc vốn bị kìm hãm trong kỷ luật sắt của một nước độc tài, đảng trị (đang dốc hết mọi tài nguyên vào cuộc chiến tranh xâm lược nước khác) và quá nghèo nàn, không biết lấy gì để tham nhũng cho ra trò. (20) Dân chúng Miền Nam Việt Nam vẫn cho rằng ngày xưa vì chỉ có các ông lớn ăn —mà phần lớn là ăn tiền của Mỹ cho— nên dân còn đỡ đỡ một chút. Nay dưới trào Cộng sản thì mạnh lớn, lớn ăn, mạnh nhỏ, nhỏ ăn (mà lại chỉ ăn vào tiền mồ hôi nước mắt cuả dân chúng chớ làm gì có viện trợ của Liên Sô hay Trung Quốc đổ xuống dồi dào như hồi Mỹ chưa phụ bạc Miền Nam Việt Nam) nên đất nước ta mới xác xơ đến vậy. May mà có Việt kiều hải ngoại thương tình mỗi năm chính thức bôm vào trong nước khoảng 1 tỷ rưỡi đô-la chớ không thì dân nghèo sẽ chết trước hết, rồi từ từ mới đến người giàu và cán bộ, đảng viên khệnh khạng mua vé Air France hạng tối danh dự bỏ nước ra đi sang định cư tại Thuỵ Sĩ!

14. Tham lam: Mặc dù lòng tham là bản tính chung Trời ban cho loài người không phân biệt chủng tộc, người Việt Nam đặc biệt tham hơn người khác vì đau khổ và thiếu thốn nhiều quá. Lòng tham này biểu hiện trong cách buôn bán lừa đảo, làm hàng giả và chặt đầu lột da, không phân biệt phải trái và không kể chi đến chuyện lưu nhân tình để ngày sau hảo tương kiến. Kinh nghiệm thực tế cho thấy, người Việt gốc Hoa, tuy cũng tham lam chớ chẳng phải là không, trong buôn bán vẫn tỏ ra thiệt thà và giữ gìn chữ tín hơn là người Việt chính tông của mình. Cộng Sản, tuy tự xưng mình là vì giai cấp vô sản mà chiến đấu, lại đặc biệt bóc lột đám dân vô sản cô thế và xô đẩy con người vào chỗ tham lam vô cùng, vô tận. Cứ đi về Việt Nam du lịch một vòng thì biết liền: Bà con, họ hàng gì mà cho tiền ít thì hờn giận, nói xỏ, nói xiêng; địa phương thanh lịch gì mà qua cầu khỉ cũng phải trả tiền; khách sạn tối tân cỡ nào mà giá lại đắt hơn cả bên Mỹ; "núm ruột ngàn dặm" gì mà hễ đi thăm thú nơi đâu thì cũng bị đồng bào ruột thịt chặt tiền gấp đôi... Ai cũng ngậm ngùi khi thấy cảnh hoàng cung và các lăng tẫm tại cố đô Huế tiêu điều, hoang phế mặc dầu đây là một trong các điểm du lịch hái ra tiền nhiều nhứt nước. Ai có ngờ đâu rằng Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá Liên Hiệp Quốc (UNESCO) đã cấp cho nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam hằng triệu Mỹ kim để trùng tu di tích này, nhưng họ cứ để vậy, một phần vì tiền đó đã bị họ chia chác nhau ăn cả rồi, phần khác vì họ có thâm ý tạo cảnh tang thương đặng gợi lòng xúc cảm của du khách, mà chung quy cũng chỉ là để moi tiền thêm mà thôi!

Không tôn trọng nguyên tắc và giờ giấc: Người Việt Nam tỏ ra rất thích nghi thức và kiểu cách, nhưng lại không chịu tuân thủ một nguyên tắc nhứt định nào làm chuẩn cả. Từ lễ cúng ông bà ngày Tết cho tới lễ cúng thần hoàng hay lễ hỏi, lễ cưới... mỗi miền đềutheo một nghi thức riêng, không ai chịu ai là chuẩn mực. Rồi cứ thế tam sao thất bổn, đến đời nay mỗi khi có lễ lạc gì thì mạnh ai nấy làm, mới nhìn thì cũng na ná như nhau, lại gần mới biết là không nơi nào hành lễ giống như nơi nào cả. Theo một bài viết của cựu Tướng Ngô Quang Trưởng, hồi tháng Ba năm 1975, các đơn vị thuộc Vùng I Chiến Thuật đã phải rút bỏ Huế chỉ vì phải tuân thủ nguyên tắc thi hành trước, khiếu nại sauọ của Quân Ðội, trong khi đó vị tổng tư lệnh là Tổng Thống Thiệu thì lại không tuân giữ nguyên tắc trước sau như một khi ban lệnh: chiều thì lệnh phải giữ Huế, sáng thì lệnh phải bỏ Huế, làm cho lòng quân rối loạn dẫn tới chuyện mất Vùng I rồi mất nước luôn. (21) Cộng Sản cũng vậy, đã có lệnh của trung ương rồi, nhưng các tỉnh ủy vẫn tuỳ tiện ra phản lệnh hoặc ra thêm lệnh khác, nhứt là lúc cần đánh thêm một đợt thuế nữa vào những nhà đầu tư ngoại quốc lớ ngớ tới làm ăn tại Việt Nam. Còn chuyện không tuân thủ giờ giấc thì ai cũng biết là người mình chẳng hề có khái niệm nào đứng đắn về thì giờ, vì thế mới có thứ giờ cao su. Cứ chịu khó đi dự một phiên họp cộng đồng hay đi ăn một đám cưới nào thì quý vị đủ biết. Giờ hành lễ trên giấy tờ là 9 giờ sáng hay 5 giờ chiều thì cứ y như rằng là phải đợi mãi đến 11 giờ trưa hay 7 giờ tối mới nói tới chuyện khai mạc được, rồi rề rà, ê a mãi tới quá ngọ hay tuất gì đó (9 giờ tối) mới thực sự đi vào trọng tâm buổi lễ. Ðiều có vẻ khó hiểu là hầu hết các quan khách Việt Nam này bình thường, khi đi làm sở Mỹ để lãnh lương, thì lại rất hiếm khi thấy có ai dám thử mạo hiểm dỡn mặt supervisor đi làm trễ giờ!

15. Không tuân giữ các cam kết: Thất hứa hay không tuân giữ các cam kết cũng là một trong các thói xấu mà người Việt mình mắc phải. Các chính trị gia thời chế độ Cộng Hoà ở Miền Nam ưa thất hứa vì tình trạng bầu bán lúc đó, tuy có dân chủ nhưng chưa dân chủ đúng mức, cho nên cử tri khó có dịp để trừng phạt họ bằng lá phiếu. Chính quyền Cộng sản bây giờ tại Việt Nam thì hoàn toàn không hề bận tâm đến chuyện phải giũ lời hứa với ai, vì có cử tri nào có thực quyền hạ bệ họ đâu mà họ phải ngán? Chuyện nuốt lời hứa của Cộng Sản đã nổi bật ngay sau khi họ "giải phóng" được Miền Nam và đưa hằng trăm ngàn quân nhân, viên chức, thành viên các đảng phái đối nghịch với họ đi "học tập cải tạo" từ 1 tháng tới 10 ngày. Các con số 1 tháng hay 10 ngày này sau cùng đã biến thành 5 năm, 10 năm, 15 năm hay lâu hơn nữa, bởi vì toàn thể Miền Nam Việt Nam đã bị nhà cầm quyền Hà Nội trắng trợn lường gạt ngay trong "cái thuở ban đầu lưu luyến ấy" (22) của cuộc "hoà hợp, hoà giải dân tộc" mà họ đã không ngừng cổ võ và cam kết để phía bên kia nhẹ dạ nghe theo mà buông súng đầu hàng cho lẹ.

Trên đây mới chỉ là 18 trong vô số những thói xấu mà người Việt ở trong cũng như ngoài nước hiện đang mắc phải. Có thể một số quý vị sẽ cảm thấy bàng hoàng vì không tin là cái dân tộc của chính mình mà lại mang nhiều khuyết điểm trong đạo đức làm người đến như vậy. Ðể quý vị có thêm cơ sở, người viết xin đưa ra một số nguyên do đã đưa đẩy con người Việt Nam, bằng máu và thịt, ở trong cũng như ngoài nước, đến cuộc khủng hoảng đạo đức và xã hội như hiện nay: Vì nội chiến và ngoại xâm liên miên trong suốt chiều dài của lịch sử, dân tộc Việt Nam luôn luôn phải đặt mình trong tình trạng nghi ngờ, giận dữ và thù hằn. Cái đạo đức của một dân tộc hiếu hoà như bất cứ dân tộc nhỏ bé nào đó trên một hải đảo Thái Bình Dương nào đó thiệt khó có cơ hội phát triển trong dân tộc mình. Ðiều này cũng tương tự như hoàn cảnh cuả một đứa bé phải sống trong bối cảnh một gia đình đầy những sự lạm dụng (abuse) và bạo lực (violence). Do lâm trận hoài trong chiến tranh, người Việt Nam có thể là những chiến sĩ tài giỏi nhứt thế giới, nhưng đồng thời cũng có thể là những con người ít thuần tánh nhứt và dữ dằn nhứt. Cứ xem cung cách quân ta hành xử với người Chàm trước đây hay người Miên sau này (mà sử sách còn ghi lại) thì đủ biết. Ðiều này cũng có thể giải thích phần nào sự tàn ác mà Cộng sản vẫn thường dành cho các tù binh trong tay họ, cho dẫu đó là người Miền Nam (đồng chủng tộc với họ) hay người Mỹ (dị chủng, mũi lỏ, mắt xanh).

a/. Chiến tranh triền miên và tiêu hao, cộng thêm với những năm tháng bị xích xiềng nô lệ vừa làm cho người Việt Nam bị phân hoá (dân Bắc kỳ, dân Trung kỳ, dân Nam kỳ; Quảng Nam hay cãi, Quảng Ngãi hay lo, Bình Ðịnh so đo, Thừa Thiên đớp hết...) vừa làm cho quyền lực của chính quyền trung ương khó tới được các địa phương và tạo ra tình trạng phép vua thua lệ làng như đã nói, một tình trạng thiệt chẳng hay ho gì nếu ta xét về mặt quyền lợi quốc gia, vì nó đẻ ra tệ nạn sứ quân (thời tiền Ðinh) và tỉnh uỷ (thời Cộng Sản). Ðiều này cũng giải thích tại sao dân tộc Việt Nam là một trong các dân tộc ít được chính quyền (do họ bầu lên hoặc không) chăm lo, phục vụ nhứt trong lịch sử nhân loại. Mối quan hệ dễ thấy nhứt giữa nhà nước và nhân dân ở Việt Nam là bên này chỉ chăm chú bắt bên kia phải đóng thuế và đi lính cho mình, chớ bên này chẳng hề phải lo lắng, phục vụ cho bên kia như quan hệ giữa chính quyền và dân chúng tại các nước khác trên thế giới mà người Việt hải ngoại đã may mắn có dịp nhìn thấy và học hỏi.

b/. Chiến tranh và "đổi đời" liên tiếp cũng tạo nên trong tâm lý người Việt Nam những điều thái quá không hay khác như không cha không chúa, hoài nghi, lo lắng, tích luỹ, dễ bạo động, không khoan nhượng và tha thứ, nhẫn tâm, chai đá, sống cuồng sống vội, vá víu, cục bộ, tuỳ tiện, bội bạc, tham lam, hỗn quân hỗn quan, vô luật pháp, vô đạo đức... Ðọc lại lịch sử đất nước, các vua, chuá ta một khi đã chiến thắng kẻ khác thường không mấy khi hành xử cho cao thượng mà chỉ lo trả thù, đôi khi khá hèn hạ. Họ cứ làm như là không hề biết tới cái đạo lý của các hiệp sĩ từ Ðông sang Tây là ôkhông đánh kẻ ngã ngựa. Ðiều này giải thích tại sao Cộng Sản Việt Nam đã công khai hành hạ và ngấm ngầm giết hại hằng trăm ngàn tù nhân chính trị Việt Nam Cộng Hoà qua chính sách giả nhân giả nghĩa "học tập cải tạo" mà họ luôn mồm huênh hoang là "khoan hồng nhân đạo" (nhứt thế giới!) Quý vị hẳn cũng thừa biết, về phiá dân tộc Mỹ, với chỉ có 200 năm văn hiến, kẻ thắng (phe Miền Bắc) đã đối xử ra sao với người bại (phe Miền Nam) sau cuộc Nội Chiến 1861-1865.

c/. Xét riêng về Miền Nam Việt Nam, nền đạo lý dân tộc cũng đã suy sụp theo thời gian và tuỳ vận nước nổi trôi. Thời Ðệ Nhứt Cộng Hoà, chính quyền của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, tuy bị người đời (và nhứt là người Mỹ) gán cho là gia đình trị và đàn áp tôn giáo, vẫn có cái thanh bình, an lạc và kỷ cương của nó mà suốt quãng đời còn lại sau này dân chúng Miền Nam Việt Nam không còn tìm thấy đâu nữa. Thời Ðảo Chánh và Tướng Lãnh cầm quyền, đạo đức bắt đầu đi xuống và hỗn loạn đã thấy ló mầm với hơn nưả triệu binh lính Mỹ tràn vào các thành thị và thôn làng Việt Nam, (cho dẫu với sứ mạng cứu viện đồng minh). Thời Ðệ Nhị Cộng Hoà, khi mãnh lực cuả đồng đô-la Mỹ bắt đầu lấn áp nền luân lý khắc kỷ á Ðông —vẫn còn đâu đó ở Nam Việt Nam sau cơn hỗn quân, hỗn quan— các tệ nạn như tham tài bội nghĩa, giàu bỏ bạn, sang bỏ vợ, vật giá leo thang, bợ đít quan thầy, đĩ điếm, ăn cắp (đồ Mỹ trước, đồ bạn sau rồi tới đồ nhà), ăn chơi đua đòi, sống thác loạn... bắt đầu hoành hành, gây đổ vỡ cho gia đình và làm rạn nứt giềng mối quốc gia. Với cường độ tham nhũng gia tăng theo đà chiến tranh tàn khốc cộng với nạn khủng hoảng kinh tế triền miên vì tiền viện trợ Mỹ, khi trồi, khi sụt (thời Tổng Ngọc, thời Tiến sĩ Hảo, thời thuế trị giá gia tăng, thời thuế kiệm ước...), luật pháp quốc gia và đạo đức dân tộc coi như tụt giốc kinh hoàng. Nhưng cũng chưa đến nỗi, vì vẫn còn có những gương sáng xa xa và lẻ loi như một Thủ Tướng Trần Văn Hương liêm khiết, một nhà văn hoá Mai Thọ Truyền tâm huyết cộng với nhứt Thắng, nhì Chinh, tam Thanh, tứ Trưởng là bốn tướng sạch (và giỏi nữa) trong Quân Ðội. Cho đến đời Cộng Sản thống trị thì vũ trụ mới thiệt sự sụp đổ hoàn toàn trên đầu dân chúng Miền Nam Việt Nam.

Ðể giải thích cho sự băng hoại và tan rã hoàn toàn cuả xã hội Việt Nam hiện nay dưới ách thống trị mê muội và điên cuồng của Cộng sản, chỉ cần xét tới các nguyên do sau:

Người bình dân Việt Nam, vốn không phải là những triết gia có chiều sâu và những tín đồ có đức tin vững vàng, dễ có khuynh hướng tin rằng Ông Trời không có thiệt hoặc không có mắt, vì làm lành như Việt Nam Cộng Hoà lại bị Thế Giới Tự Do và người bạn Ðồng minh Mỹ rủa sả và bỏ rơi, trong khi làm ác như Cộng Sản vẫn không hề bị trừng phạt mà lại còn được vinh thân phì da, thăng quan tiến chức, giàu có bốn biển, năm thê bảy thiếp, kẻ hầu người hạ, tiền hô hậu ủng, tiền rừng bạc biển, ăn trên ngồi trốc, miệng hét ra lửa, tay chân nắm quyền, Việt kiều [vừa yêu nước vừa] sợ sệt, tiền gởi Thụy Sĩ, con học Huê Kỳ... Hễ Thượng Ðế (Ông Trời) đã chết thì con người được phép làm mọi sự mà không sợ bị ai xét đoán, trừng phạt. (23) Người Việt Nam ngày nay được tự do làm mọi điều thất đức và đoản hậu vì, qua cuộc đổi đời vừa qua, lúc người trung mắc nạn chẳng hề có tiên xuống phò gì cả. (24) Hơn nữa, chủ trương cuả Cộng Sản là vô thần và bách hại tôn giáo, nhưng, cho tới nay, chưa có vị thần thánh nào (mà các tôn giáo vẫn cho là linh thiêng lắm) đủ quyền năng để ra tay trừng phạt (bẻ cổ...) họ cho dân chúng mở mắt ra. Sự thực thì chỉ có tôn giáo mới có thể cung ứng một thứ luật pháp tối thượng và vĩnh cửu để chăn giữ người đời làm lành, lánh dữ, cũng như chỉ có sự hiện hữu cuả một Ðấng Chí Tôn mới củng cố được niềm tin cuả nhân loại về tội ác và hình phạt và về ngày phán xét cuối cùng. (25) Cứ xem cái gương của nước Mỹ: May mà tôn giáo (mà đại diện là các nhà thờ) bên này vẫn còn mạnh chớ nếu không thì luân thường đạo lý của dân Mỹ ngày nay đã đi đong rồi (mặc dù hiện nay tiền bạc và tình dục đang ở thế thượng phong, trênchưn đạo đức).

Tâm lý tuyệt vọng đã xô đẩy dân tộc Việt Nam tới chỗ ngày càng xa rời đạo lý và tiến gần đến tội ác. Thông thường, nếu một người có chút hy vọng vào cuộc sống thì người đó, dẫu sao, vẫn e dè hay miễn cưỡng khi phải phạm tội, vì họ vẫn còn hy vọng vào sự thưởng phạt trong đời. Ngược lại, người tuyệt vọng có mọi lý do để biện minh cho những hành động vô luân, ác đức của mình, bởi vì, theo họ, trách nhiệm về mọi tội ác thuộc về kẻ khác, nhứt là những kẻ đã làm cho đời hợ trở nên tuyệt vọng, mà trong trường hợp này là những lãnh tụ Cộng sản bất tài và vô đạo đức đang thống trị đất nước. Phần lớn dân chúng Việt Nam hiện nay đều mang tâm lý tuyệt vọng, không hề tin tưởng gì vào tương lai đất nước hay vào những mỹ từ như tổ quốc, dân tộc, danh dự, trách nhiệm... mà mạnh ai nấy tìm cách đưa gia đình, con cái mau mau chạy ra nước ngoài (nhứt là sang Mỹ, dĩ nhiên rồi!) qua ngả chữa bệnh, du học, hay theo các diện hôn phu, hôn thê, hôn phối... Và phần lớn số người còn ở lại Việt Nam đều là những kẻ, hoặc không có phương tiện hay cơ hội nào để bỏ nước ra đi, hoặc là vì họ đang có thừa thế lực và tiền bạc để có thể lợi dụng tình trạng tuyệt vọng của người khác mà củng cố quyền hành và làm giàu thêm.

Nền giáo dục cuả Cộng Sản Việt Nam coi như sụp đổ hoàn toàn vì tiền bạc cũng không để xây dựng trường, lớp và nâng đỡ học sinh nghèo (vốn chiếm đại đa số trong tình trạng kinh tế suy sụp hiện nay) mà tình nghĩa thầy trò cũng mất rồi. Thiệt tình mà nói, hiện nay một số các tổ chức tư nhân từ hải ngoại đang phải về Việt Nam lo xây dựng trường, lớp cho con em đi học, bởi vì chính quyền Cộng sản trong nước, có lẽ vì tham nhũng nhiều nên mập quá, tối ngày chỉ biết nằm mà ăn thôi, chớ không sao đứng dậy nổi mà lo cho dân nghèo (theo đúng đường lối mà Ðảng đã huênh hoang từ năm 1932), cho dù dân nghèo đó lại chính là các em nhi đồng cục cưng của "Bác Hồ kính yêu" thuở nào. Trong khi đó, một số không nhỏ các giáo viên trong nước, nhân danh nghèo đói, lại đang triển khai lề thói bắt học trò của mình phải đóng tiền để học riêng tại nhà mình (viện cớ phải kèm cặp thêm cho mau giỏi), nếu trò nào, nghèo quá, không đến học nổi thì thường bị trù dập. Vả lại, các trường học Cộng Sản không hề dạy cho trẻ em về đức dục, tức là luân lý (như kiểu "luân lý giáo khoa thư" mà các cụ lưu vong bên này vẫn ngày đêm nhớ thương, tiếc nuối) mà chỉ dạy về chính trị, về lòng hận thù (giai cấp) và về lý thuyết cộng sản, tức là một hình thức công dân giáo dục (civics) nào đó. Ngay sau "giải phóng," một giáo viên Miền Bắc thuộc loại con ông cháu cha vào dạy học ở các trường Miền Nam Việt Nam đã phải thốt lên: Ôi! Sao mà học trò trong Nam này lại lễ phép và học giỏi đến thế! Chả bù với học sinh Miền Bắc (xã hội chủ nghĩa), vừa vô lễ lại vừa dốt như bò! (26)

d/. Chủ nghĩa vật chất, mãnh lực kim tiền và nếp sống thụ hưởng kiểu Mỹ (mà Cộng Sản đã hoan hỉ rước vào như một cứu tinh cho nền kinh tế thối rửa của họ) đang hoành hành dữ dội tại Việt Nam nhờ có những đợt thăm viếng (điạ đạo Củ Chi) của du khách ngoại quốc cùng với các chuyến về thăm quê hương liên tiếp và gởi tiền về Việt Nam ồ ạt của Việt kiều hải ngoại (mà số dách là Việt kiều từ Mỹ, kế đến theo thứ tự là Ca-na-đa, Anh, Pháp, Bỉ, Hoà Lan, Úc, ý, Ðức (bắt đầu hơi kẹo), Nhựt Bản (cũng hơi kẹo), Nam Hàn (kẹo hơn chút nữa), rồi mới tới các lân bang, các hải đảo Thái Bình Dương và Phi Châu). (27) Từ chỗ tranh sống, những thành phần giàu có không mấy hợp pháp nhờ thời thế hỗn mang hiện nay (như thành phần đảng viên, cán bộ cộng sản, dân đầu cơ tích trữ, mánh mung...) lại đang tranh sướng, tức là làm sao cho cuộc sống của cá nhân mình, gia đình mình và phe đảng của mình ngày một tràn đầy khoái lạc hơn, bất kể quốc gia hưng vong. Trong khi nội lực (đạo đức làm người) thì không có, mà ngoại chưởng (đô-la và nếp sống hưởng thụ) thì lại quá mạnh, hỏi làm sao dân tộc Việt Nam chống nổi để khỏi bị trầm luân, băng hoại và từ từ tiến đến chỗ diệt vong?

e/. Sống gian lận, lừa đảo lâu thành quen, và thói xấu này dần dần đi vào cõi vô thức của dân tộc, hay nói cách khác là nhập tâm, tức là hội nhập vào tâm tình dân tộc. Tội nghiệp cho dân Việt Nam thuộc thế hệ hiện nay ở chỗ là họ không hề biết là mình đang ngày càng xa rời cỗi nguồn đạo đức mà mới đời ông, đời cha của họ vẫn còn có đó. Hễ vào làm việc nơi đâu thì phải lo ăn cắp thì giờ, nguyên vật liệu và cả tiền bạc (khi có cơ hội thụt két) để được no đủ, vì nhà nước hay xí nghiệp chỉ có thể cung cấp cho họ đồng lương chết đói. Là dân buôn bán, cho dù là bán thuốc Tây —trên nguyên tắc là để cứu nhân độ thế— nhưng người ta vẫn phải áp dụng mọi thủ đoạn lường gạt khách hàng mới mong giàu có. Câu chuyện ngụ ngôn về đạo đức nhan đề Cái Cân Thuỷ Ngân mà ngày xưa vẫn thấy đem giảng dạy tại các học đường để cảnh giác con người phải làm ăn và sống cho lương thiện thì ngày nay không hề được nhắc nhở đến. Ngày xưa thì chỉ có Hoa kiều Chợ Lớn chuyên làm đồ giả mạo để tranh thương, ngày nay người Việt mình dường như đã trở thành sư phụ trong những ngón nghề làm đồ giả để lường gạt đồng bào mình. (Chớ đem bán ra nước ngoài, ai mà thèm mua?)
Trong nước, vì có nạn Cộng sản, mới đành phải ra nông nỗi. Nhưng tại sao bản chất của người Việt định cư tại các nước văn minh ở hải ngoại lại cũng vẫn không khá hơn "khúc ruột quê nhà"của mình về mặt đạo đức? Xin thưa:

Một học giả người Pháp mà người viết bài này không nhớ rõ tên, khi viết về dân tộc Việt Nam, có ngỏ ý khen rằng người Việt Nam có biệt tài hấp thụ và đồng hoá những cái hay, cái đẹp của các nền văn minh thế giới do tình cờ lịch sử được mang đến Việt Nam.Thiệt ra thì ông đã quá khen. Người mình quả có tài đó, nhưng lại chỉ hấp thụ những cái dở, cái xấu của nước người để làm thành sản phẩm của mình, vì cái dở, cái xấu lúc nào cũng dễ nuốt hơn là cái hay, cái đẹp vốn đòi hỏi nhiều hy sinh, khắc kỷ mà con người nói chung khó có thể có được.

Posted: Mon Aug 08, 2011 6:21 am
by dailien
(28 ) Ngoại trừ thế hệ trẻ của người Việt hải ngoại được sinh ra, lớn lên và được giáo dục y hệt như người bản xứ, các thế hệ phụ huynh đi trước dễ có khuynh hướng hấp thụ những cái xấu của nước người, mà trước hết là thói hưởng thụ. Khi cái chủ trương hưởng thụ nơi người Việt từng bỏ nước ra đi vì lý tưởng Tự do mà gia tăng thì phải biết rằng họ đang ngày càng xa rời lý tưởng Tự do và cội nguồn đạo đức cuả dân tộc, vì họ không còn tâm trí và thì giờ đâu mà tranh đấu cho Tự do nữa! Rồi từ đó sinh ra bệnh trục lợi (hay nhân danh một lý tưởng nào đó đặng lạc quyên mà làm giàu cho mình), tranh giành, lường gạt và khoe khoang thành tích là những tai họa đang liên tục giáng vào tình đoàn kết trong các cộng đồng người Việt hải ngoại..

Mang nặng nhiều mặc cảm cuả kẻ chiến bại khi đặt chân đến xứ người để tiếp tục cuộc sống lưu vong, những người Việt Nam từng gắn bó với Việt Nam Cộng Hoà thuở xưa, nhứt là những người có ít nhiều trách nhiệm trong Chiến Tranh Việt Nam, dễ có khuynh hướng chạy tội bằng cách đổ lỗi cho nhau, rõ nét nhất là qua hằng loạt hồi ký do các cựu tướng lãnh viết về cuộc đảo chánh Tổng Thống Diệm, về cuộc chiến đấu chống Cộng không thành sau đó, về vai trò và trách nhiệm của họ, vân vân và vân vân. Rất ít người có can đảm và đủ khẳng khái tự nhìn nhận là "tôi làm tôi mất nước," (29) trong khi đó một số nhà lãnh đạo trước đây của Miền Nam Việt Nam lại còn mơ hồ nghĩ tới chuyện Cộng sản có thể triệu vời họ về cho một giải pháp hậu hoà hợp hoà giải dân tộc nào đó! Những vị này thường lợi dụng những cuộc họp mặt với bạn bè và thuộc hạ xưa để nay thả ra một quả bóng, mai gióng lên một tiếng chuông thăm dò đặng chào mời sự ủng hộ của đồng hương, nhưng thường thì chỉ nhận được những lời phản đối, chỉ trích, châm biếm chua cay, có khi còn có tính cách xúc phạm nữa. (30) Ngược lại, một số không nhỏ khác lại trở nên tiêu cực vì không còn được hưởng những đặc quyền, đặc lợi, lên voi xuống chó như ngày xưa. Có khi, vì quá tiêu cực, họ đâm ra phân biệt kẻ chạy trước với người chạy sau, kẻ ở tù Cộng sản với người bỏ nhiệm sở chạy ra nước ngoài sớm. Ðó cũng chính là mầm mống gây chia rẽ, bất an âm ỉ khôn nguôi trong cộng đồng nguòi Việt tỵ nạn ở hải ngoại hiện nay.

Nhờ được hưởng các quyền tự do rộng rãi nơi những đất nước thiệt sự dân chủ, nhiều người Việt lưu vong đâm ra quá trớn trong những lời chỉ trích và luận tội những người không cùng ý kiến với mình mà, oái oăm thay, phần lớn lại là các chiến hữu cũ của mình. Thông qua tự do báo chí và nhờ vào chi phí in ấn khá rẻ tại hải ngoại, có tới hằng ngàn tờ báo Việt ngữ đang lưu hành trên khắp thế giới tự do. (ở đây không nói tới sách vở với hàng ngàn hồi ký, truyện ngắn, truyện dài, khảo luận, diễn từ... mà phần nhiều là được viết tuỳ hứng chớ không dựa theo một phương pháp hẳn hoi.) Ðiều đáng buồn là chỉ có một số rất ít trong các tờ báo này làm đúng thiên chức thông tin, nghị luận hay văn hoá, còn phần nhiều chỉ chuyên chửi bới nhau, có khi còn lôi cả tông chi, họ hàng đối thủ ra mà chửi. (31) Bởi vì, như người ta thường nói, xem văn, biết người, chúng ta chỉ cần xem cung cách người Việt Nam mình (dĩ nhiên là người ở hải ngoại, chớ trong nước hiện nay thì làm gì có tự do ngôn luận mà đòi cầm bút) viết lách ra làm sao thì cũng có thể thấy được không những là trình độ học vấn mà còn cả đạo đức làm người của họ nữa. Kiến thức và đạo đức vẫn là hai điều kiện không thể thiếu của một người cầm bút trong ý nghĩa là làm văn hoá, dù ở bất cứ nơi đâu và trong bất cứ thời đại nào.

f/. Một số đáng kể những người Việt lưu vong, do bất đắc dĩ phải tiếp xúc lâu dài với môi trường mới đầy những luận điệu tuyên truyền xảo trá tại quê nhà trước khi ra hải ngoại, đã bị nhiễm những tánh xấu của Cộng sản hồi nào không hay. Một trong các tánh đó là óc tự hào dân tộc thái quá đến độ cuồng tín, bất chấp sự thực là khả năng của mình không có là bao nhiêu. Chẳng hạn, khi có ai nêu lên một sự thực (đau lòng) rằng trong cuộc chiến tranh vừa qua, Miền Nam Việt Nam không có tài nguyên nào đáng kể để đánh Cộng sản mà chỉ dựa vào viện trợ Mỹ cấp cho mình do nhu cầu Chiến Tranh Việt Nam mà Mỹ là kẻ chủ chốt thì lập tức thế nào cũng có một vài người giận dữ phản đối, cho nhận xét đó là không ôyêu nướcọ và sai sự thực. Họ lý luận rằng ta có nhân sự, và nhân sự đó chính là vốn quý của ta. Nghe như âm hưởng đâu đây của một bài học chính trị căn bản mà Cộng sản đã đem ra dạy cho dân chúng Miền Nam Việt Nam sau ngày giải phóng: Ðất nước ta giàu đẹp, dân tộc ta anh hùng... (32) Họ quên rằng nếu ta thiệt sự có khả năng (vật chất) thì cho dù Mỹ có bỏ rơi ta bằng cách cúp viện trợ thì cũng mặc xác họ, mắc mớ gì mà ta phải thua chạy vất vả đến như vậy? Chỉ vì quá tự hào với tiềm năng vu vơ của mình đến độ kiêu căng chưa từng thấy mà Cộng sản đã xô đẩy dân tộc Việt Nam đến chỗ nghèo hèn cùng cực như hiện nay.
g/. Người ở hải ngoại, nhứt là những người đã lớn tuổi, dẫu sao khi rời bỏ đất nước ra đi cũng đã mang theo một số tánh xấu căn bản cuả dân tộc, để rồi khi sang đây cứ thế mà phát huy: chia rẻ, khích bác lẫn nhau, thích làm lãnh tụ, không lo viết lách cho ra hồn mà chỉ lo chửi bới, loè bịp bạn bè nơi xứ lạ (bằng nhà lầu, xe hơi trả góp), loè bịp người trong nước đang nghèo túng (bằng những chuyến áo gấm về làng, vung tiền qua cửa sổ)... Một số, nhờ vào lệnh cấm vận kinh tế trước đây của Mỹ chống Cộng sản Việt Nam, đã dùng những chuyến du lịch về thăm quê nhà của mình để buôn bán hay chuyển tiền lậu, không ít thì nhiều cũng làm giàu cho cán bộ, viên chức Cộng sản trong nước. Có người, vì quá tha thiết với chuyện về Việt Nam, đã không dám tỏ thái độ nào với những vi phạm nhân quyền hay bách hại tôn giáo của Cộng sản trong nước, lơ là trong các sinh hoạt chống Cộng ở hải ngoại, miễn sao khỏi bị Cộng sản nằm vùng ghi sổ đen rồi trả thù khi họ lơn tơn xách gói về Việt Nam mà thôi. Lại có kẻ ráng sức bình sanh làm ra các sản phẩm văn nghệ sao cho thiệt hợp gu với Cộng sản bên nhà, với hy vọng nới rộng thị trường làm ăn, buôn bán với Cộng sản sau này, cho dù, để làm chuyện đó, họ đã phải nhẫn tâm phản bội tình chiến hữu năm xưa và chà đạp lên sự thực, trong đó có sự thực về cuộc Chiến Tranh Việt Nam vừa qua. (33)
Sự hoành hành của các thói xấu kinh niên này tưởng cũng đủ để giải thích tại sao Việt Nam ta ngày nay đang rơi vào hố sâu của sự nghèo nàn lạc hậu, chia rẻ và nghi kỵ lẫn nhau đời đời không nhạt phai, cho dù chúng ta có trốn chạy đến góc biển, chân trời nào đi nữa. Và nếu đà nầy cứ thế tiếp diễn, dân tộc Việt Nam sẽ tự mình đi vào chỗ diệt vong bên cạnh ông láng giềng Trung Hoa khổng lồ đang ngày càng bành trướng thế lực sang các lân bang nhỏ bé hơn như Hàn Quốc, Việt Nam, Lào, Căm-Bốt, Thái Lan, Miến Ðiện và Nê-pan. Khi cảnh giác mọi người về những thói hư, tật xấu này của người Việt Nam, người viết không hề có ý định bôi lọ dân tộc mình —như những thiên tài chụp mũ trong cộng đồng mình vẫn nghĩ— mà chỉ muốn gióng lên một tiếng chuông cảnh tĩnh cho tất cả những ai đang ngủ mê trong giấc mộng vàng son rằng người Việt chúng ta quá tài hoa, quá đức độ, để rồi lại uất ức, tức tưởi sao vận nước —mà Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam Việt Nam trước đây thường ca cẩm là "đã đến rồi" —(34) vẫn cứ còn lao đao ghê gớm, dân tộc mình vẫn còn trầm luân, khổ ải như vậy. Sự thật thì người mình cũng chẳng có tài cán là bao so với các dân tộc bạn như Trung Hoa, Ðại Hàn, Ấn Ðộ, và nhứt là Nhựt Bản. Vài ba cái thành công lẻ tẻ trên đường học vấn hay trong kinh doanh nhỏ mà mình luôn hãnh diện kia không nói lên được cái gì đáng chú ý. (35) Ðó là chưa nói tới sự kiện là hầu hết những kẻ thành công này —hiện không còn mang quốc tịch Việt Nam nữa cho dẫu khi về thăm quê hương họ có thiệt sự được Cộng sản ban cho quy chế song tịch (Việt-Mỹ đề huề)— sau cùng cũng chỉ dốc tâm phục vụ cho xứ sở mới của họ chớ không mấy khi cho đất nước Việt Nam. Chỉ có những thói hư, tật xấu có tính cách tổ tông truyền đó là còn ở mãi trong ta như là một di sản dân tộc không thể tách rời, và chính vì thế mà nó đã tác hại tới tương lai dân tộc Việt Nam rất nhiều. (36) Dám xin các bậc thức giả và quý vị có chút công tâm hãy giúp soi sáng đồng hương về những gì tốt đẹp mình đáng nên hãnh diện và những gì chẳng hay ho mình nên biết tự lấy làm xấu hổ mà sớm từ bỏ. Thiết tưởng, bên cạnh lòng tự hào về dân tộc, chúng ta cần phải nhìn ra những nhược điểm, những thói hư, tật xấu của mình. Thái độ vô tư, khách quan trong việc phê phán, đánh giá là cần thiết để nhận diện lại mình ngỏ hầu đưa đến một phản tỉnh chân thành. Bởi vì có nhìn rõ được mình và có tự biết mình chúng ta mới tự sửa đổi được để tiến lên Chân, Thiện, Mỹ. Trên thực tế, phải tu thân trước đã rồi mới mong tính tới chuyện tề gia, trị quốc và bình thiên hạ. (37) Ðức Khổng Tử có nói: Người quân tử hễ biết điều lỗi thì sửa đổi nhanh như gió.. Thiệt là xót xa khi toàn bộ vận mệnh đất nước Việt Nam ngày nay lại tuỳ thuộc vào ý thức về câu nói trên, tức là vào thành tâm, thiện chí sửa đổi bước đường sai trái mà, vì bệnh ngoan cố kéo dài từ hơn nửa thế kỷ qua, những người Cộng sản đã dùng bạo lực cưỡng ép dân tộc phải đi theo. Người viết bài này ước mong rằng người Việt chúng ta khắp nơi sẽ sớm tìm dịp thuận tiện để nhìn lại mình trong gương, sửa đổi bớt những điều sai trái kia, bớt tự hào xằng bậy đi, bớt kiêu căng đi, bớt nghi kỵ đi, bớt chấp nhứt đi, bớt chửi bới nhau đi, để rồi cùng nhau bắt tay tìm một lối ra hợp lý cho đất nước, ngỏ hầu đem lại hạnh phúc, ấm no cho hằng triệu đồng bào giờ đây còn "điêu linh nơi quê nhà đang chìm đắm." (38 ) Chỉ có lúc đó Việt Nam mình mới có hy vọng tiến lên theo kịp đà tiến hoá chung của nhân loại trong thiên niên kỷ tới.

Ghi chú:

Nếu quả dân tộc Việt Nam ta có đầy đủ những đức tính quí báu hơn hẳn người gấp bội như yêu nước, yêu người, anh hùng bất khuất, trung hậu đảm đang, cần cù chịu khó vượt bực, thông minh, tài trí, lanh lợi, kiên trì... thì sao lịch sử lại lắm tang thương và đến nay tình trạng sa đọa, phân hoá hầu như không thể nào chữa trị được? Và đối chiếu với thế giới, thực trạng đất nước càng bi đát, thua sút hẳn một đôi dân tộc mà lịch sử không lắm oai hùng như Việt Nam. Nguyễn Thuỳ & Trần Minh Xuân, Tinh Thần Việt Nam, Mekong-Tỵnạn, 1991.

(1) Nguyễn Gia Kiểng, một thành viên cuả Nhóm Thông Luận tại Paris, Pháp Quốc, trong một bài báo nhan đề Phải chăng nhân vật Nguyễn Huệ qua lịch sử đã được tôn vinh quá lố? đăng trên Ngày Nay Minnesota ngày 31 tháng Mười, 1997, đã đặt lại vấn đề công lao và thành tích của Vua Quang Trung trong lịch sử, tỏ dấu hoài nghi rằng sử sách Việt Nam, nhứt là Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim, đã thổi phồng quá lố uy danh và đảm lược cuả Quang Trung Ðại Ðế, một trong những vị anh hùng dân tộc vĩ đại nhứt và được tôn thờ nhứt qua bao triều đại và chế độ chính trị tại Việt Nam.

(2) Cựu Thiếu Tướng Ðỗ Mậu cuả Việt Nam Cộng Hoà, người giúp phe quân nhân lật đổ Tổng Thống Ngô Ðình Diệm hồi năm 1963, viết quyển Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi, một hồi ký cho hay tại sao ông phản bội vị đỡ đầu tinh thần trước đây của mình là Tổng Thống Diệm để đứng về phe đảo chánh do Tướng Dương Văn Minh cầm đầu. Phe đảo chánh đã giết vị tổng thống và bào đệ của ông rồi lên cầm quyền tại Miền Nam Việt Nam. Các Tướng Trần Văn Ðôn, Nguyễn Chánh Thi và, gần đây nhứt, Tôn Thất Ðính cũng viết hồi ký về cuộc đời binh nghiệp và những đóng góp của mình vào đất nước mà các vị đó đã giúp cho bại trận.

(3) Nhiều người, sau khi từ Việt Nam trở về, đã giúp quảng cáo cho du lịch Việt Nam. Có người đã viết cả những bài báo dài khen ngợi những đổi mới tại Cộng Sản Việt Nam ngày nay, với ngụ ý rằng Việt kiều hải ngoại nên thử về thăm đất nước một phen. Tất cả những việc làm này đều nhân danh tổ quốc và dân tộc.

(4) Xin xem Việt Nam Văn Hoá Sử Cương của Ðào Duy Anh và Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim.

(5) Ðối với người Mỹ, các công trình sau khi tốt nghiệp đại học thiệt đáng kể, vì họ không dừng lại ở mảnh bằng kiếm được mà đánh giá cao những phát minh, nghiên cứu hoặc sáng tác cuả người mang bằng cấp đó. Sinh viên các nước khác đến du học tại xứ này lấy được bằng cấp xong thường về xứ làm quan to, và coi như thoả mãn với thành tựu khoa bảng của mình.

(6) Tổng Giám Mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, trong một bài giảng nhan đề Thập Ðại Bịnh đăng trên Tập san DấnThân, tháng 5 & 6, 1999, gọi đó là bệnh phô trương chiến thắng. Thập Ðại Bịnh là 10 thói hư tật xấu của người Việt Nam mà theotác giả thì nay đã biến thành những căn bệnh hầu như hết thuốc chữa.

(7) Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận gọi đó là bệnh cá nhân chủ nghĩa. (bđd).

(8 ) Theo Nguyễn Thuỳ & Trần Minh Xuân, Cộng Sản Việt Nam chủ trương toàn dân phải kế thừa có phát triển nền văn minh rực rỡ của Việt Nam mà tiền nhân đã để lại. Phê phán chủ trương này, tác giả viết: Chủ trương rất đẹp, nhưng họ [Cộng sản] lại tự hào chỉ có Ðảng và Nhà Nước Cộng Sản, chỉ có nền văn học, văn nghệ hiện thực xã hội chủ nghĩa mới phát triển được truyền thống dân tộc một cách trung thực và tốt đẹp, ngoài ra không một ai khác. (sđd).

(9) Cựu tư lệnh Sư đoàn Nhảy Dù cuả Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, Tướng Lê Quang Lưỡng, trong một bài viết đăng trên Ðặc san Hoa Dù Denver, 30 tháng Tư năm 1998, đặt nghi vấn về ý đồ của vị tổng tư lệnh quân đội, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, khi ông ra lệnh xé lẻ đại đơn vị vũ bão hàng đầu này của quân lực ra từng lữ đoàn riêng rẽ trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến tại Việt Nam. Trước đó, Ông Thiệu cũng đã ra lệnh buộc một đại đơn vị vũ bão hàng đầu khác, Sư Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến, phải cấp tốc cùng với Biệt Ðộng Quân và bộ binh rút lui khỏi Vùng I Chiến Thuật, làm cho sư đoàn này bị thiệt hại rất nặng vì phải hứng chịu toàn bộ gánh nặng của một cuộc rút quân không có chuẩn bị. Nhiều cấp chỉ huy TQLC từng vào sinh, ra tử để tái chiếm và giữ vững từng tấc đất của vùng giới tuyến khỏi tay Cộng sản trong Mùa Hè Ðỏ Lửa, 1972, đã uất ức tự sát khi bị địch bao vây và phục kích.

(10) [Ðiều cần ghi nhận là Miền Nam Việt Nam đã không sụp đổ chỉ vì những hành động có tính cách không ăn được thì đạp đổ đó của cựu Tổng Thống Thiệu, mà vì chúng ta đã bị đồng minh Mỹ bỏ rơi. Một khi Mỹ đã bỏ rơi rồi, không ai —kể cả người anh hùng ôtận trung báo quốcọ Nguyễn Khoa Nam— có thể giữ vững Miền Nam hay xoay chuyển tình thế trong giờ phút đó, vì chúng ta đã quá tuỳ thuộc vào viện trợ Mỹ. Vận nước đã đến hồi như vậy, cho nên mình cũng khó trách cứ riêng ai được.]

(11) Nhiều người vẫn nghĩ rằng Tổng Thống Thiệu đã chơi khăm Tướng Minh Lớn cho bỏ ghét, vì giữa khi cuộc chiến đang khốc liệt và tinh thần quân dân Việt Nam Cộng Hoà có lúc đang lên cao, vị cựu lãnh đạo cuộc đảo chánh lật đổ Tổng Thống Diệm và cũng là lãnh tụ của cái gọi là thành phần thứ ba tại Miền Nam Việt Nam (mà Cộng Sản ưa thích) lại hô hào một giải pháp hoà bình, với chủ trương rằng Việt Nam Cộng Hoà nên đơn phương ngưng chiến đấu mà tiếp tục thương thuyết với Việt Cộng là phía luôn luôn áp dụng chiến thuật vừa đánh vừa đàm trong suốt cuộc Chiến Tranh Việt Nam. Dĩ nhiên là Tướng Minh đã quá tin vào phe Cộng Sản nên mới chịu nhận trách nhiệm lãnh đạo Việt Nam Cộng Hoà sau khi một trong những phòng tuyến cuối cùng của phe chính phủ là Xuân Lộc, cách Sàigòn 70 cây số về hướng Ðông Bắc, đã mất — hay nói cho đúng hơn là sau khi quân Cộng Sản, mệt quá, đã bỏ không đánh Xuân Lộc nữa mà đi vòng về phía Sàigòn.

(12) Xin xem When Hell Was In Session (Rớt Xuống Âm Ty) cuả Jeremiah A. Denton, một Ðại tá Hải Quân Mỹ từng bị Cộng Sản Bắc Việt bắt giam tại Nhà tù Hoả Lò Hà Nội sau khi phi cơ cuả ông bị bắn rơi trên vùng trời Bắc Việt trong Chiến Tranh Việt Nam.Nhà xuất bản Traditional Press, Alabama.

(13) Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận gọi đây là bệnh bè phái chia rẽ. (bđd).

(14) Thành tựu lớn nhứt về kiến trúc của Việt Nam cổ xưa là Thành Cổ Loa thời An Dương Vương Thục Phán mà nay đã bị thời gian với bao lớp sóng phế hưng và binh lửa tàn phá. Các tài liệu của Cộng Sản Việt Nam mô tả thành xây trên một khu đất cao và rộng, diện tích 92 hec-ta, nằm trên tả ngạn sông Hoàng Giang, gồm ba vòng thành theo hình xoáy trôn ốc. Chu vi vòng ngoài 8km, vòng giữa 6,8km, vòng ba là 1,6km... Bề rộng chân luỹ 20m, rộng 4m, cao 12m. Giữa hai vòng thành, nơi xa nhất 400m, giữa các vòng thành có hào sâu có thể lưu thông bằng thuyền. Mỗi luỹ có nhiều lối, nhiều ngõ thông nhau...

(15) Theo Trần Trọng Kim, người Việt Nam cũng có khi quỉ quyệt và hay bài bác nhạo chế. (sđd).

(16) Trong Những Trận Ðánh Lịch Sử Trong Chiến Tranh Việt Nam, 1963-1975 (Nhà xuất bản Ðại Nam, Hoa Kỳ), tác giả Nguyễn Ðức Phương, khi đề cập đến Trận An Lộc, đã không hề nhắc nhở tới vai trò của Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù là một đơn vị vừa vô cùng thiện chiến vừa đầy tinh thần cảm tử của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà. Nếu Biệt Cách Dù không nhảy vào giải cứu An Lộc thì làm sao có được hai câu thơ bất hủ vinh danh: An Lộc địa sử ghi chiến tích; Biệt Cách Dù vị quốc vong thân? Nên nhớ là để soạn nên chương này, tác giả đã tham khảo tất cả tới 32 quyển sách, báo được liệt kê trong một thư mục dà ở cuối chương. Các hồi ký hay tường thuật của phe ta về những trận đánh lớn khác —như trận Quảng Trị chẳng hạn— cũng vấp phải lỗi lầm tương tự tuỳ theo người viết thuộc màu áo, màu mũ nào.

(17) Thiệt ra, từ lâu đã có Thuyết Việt Nho, một công trình nghiên cứu hết sức khoa học và nghiêm túc do Giáo sư Kim Ðịnh khởi xướng và thuyết minh qua 14 tác phẩm mà ông đã viết. Ðại khái, tác giả cho rằng văn minh và văn hoá Việt Nam có trước hay ít ra cũng đồng thời với văn minh và văn hoá Trung Hoa, bởi vì giòng giống Việt (Bách Việt) từ phương Bắc đã tiến vào Trung Hoa trước để lập nên các triều đại cuả Vua Phục Hi, Thần Nông và Huỳnh Ðế. Sau đó Hoa tộc (tức Hán tộc) tràn đến. Và sau trận đánh tại Trác Lộc giữa Hoàng Ðế (lãnh đạo Hoa tộc) và Si Vưu (lãnh đạo Viêm Việt tộc), Si Vưu chết nên giống Viêm Việt lùi bước dần về phương Nam để trở thành người Việt Nam ngày nay. Trong quyển Nguồn Gốc Văn Hoá Việt Nam, Giáo sư Kim Ðịnh vạch rõ rằng Việt Nho chủ trương nhân chủ, dân quyền, bình quyền, bình quyền nam nữ, quân bình tình lý hay là văn võ song hành.


(18 ) Sử chép rằng đời Nhà Trần, sau những trận đánh Chiêm Thành, quan quân Ðại Việt thường bắt đem về nước các cung nga, vũ nữ cuả Chiêm Thành. Các đặc sứ văn hoá này đã truyền bá nghệ thuật Chiêm Thành tại Việt Nam qua các vũ điệu cung đình mà họ trình diễn, làm say mê ngây ngất triều đình ta và làm cho ta phải lật đật bắt chước.
(19) Vào đúng lúc có Cuộc Ðấu Xảo Ba-lê, Phan Châu Trinh đã gởi cho Vua Khải Ðịnh một bức thơ dài, đại khái ông hài tội nhà vua là chỉ lo sống xa hoa, ưa xiểm nịnh và chuộng sự quỳ lạy cho rõ mình là một đấng quân vương mà không hề để ý đến phúc lợi của dân tộc Việt Nam lúc đó đang nằm dưới ách đô hộ cuả thực dân Pháp. Bức thơ có tác dụng như một gáo nước lạnh tạt vào mặt một vị hoàng đế, mà vào thời đó nếu không phải là một nhà Tây học được Hội Nhân Quyền Pháp hậu thuẫn triệt để như Phan Châu Trinh thì không một sĩ phu Việt Nam đương thời nào dám dỡn mặt.
(20) Nhiều người vẫn tin rằng dân tộc Việt Nam mình đặc biệt có khả năng xâm thực và làm hư hỏng bất cứ học thuyết đạo đức hay ý thức hệ chính trị nào được du nhập vào Việt Nam, cho dù đó là đạo lý Khổng Mạnh, học thuyết dân chủ Tây phương hay ý thức hệ Mác-xít Lê-nin-nít!
(21) Xin xem Vì sao tôi bỏ Quân Ðoàn I cuả cựu Tướng Ngô Quang Trưởng, đăng trong Tạp chí Sóng Thần 1999, Kỷ Niệm 45 Năm Thành Lập Thuỷ Quân Lục Chiến Việt Nam Cộng Hoà.
(22) Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy, nghìn năm chưa dễ đã ai quên. Thơ Thế Lữ.
(23) Hai triết gia vô thần Ðức của thế kỷ 19 là Feuerbach vả Nietzsche lần lượt rao giảng tin dữ Thượng Ðế đã chết, và mọi giá trị truyền thống của con người theo đó cũng chết luôn. Hễ đã không có Thượng Ðế thì cuộc đời chẳng hề có mục đích và ý nghĩa gì, và con người được phép làm mọi sự mà y muốn.
(24) Ai cũng phải nhìn nhận rằng, qua cuộc xung đột tại Việt Nam, Cộng Sản Việt Nam đã chứng tỏ họ thuộc loại tàn ác nhứt, nhì thế giới, với thành tích thủ tiêu thiệt lẹ đối thủ theo phương châm thà giết lầm hơn bỏ sót, pháo kích bừa bãi vào các khu dân cư (chỉ vì các khu này tình cờ nằm gần các căn cứ quân sự Mỹ hay Việt Nam Cộng Hoà), bắn giết dân lành vô tội ngay trong lúc họ đang chạy trốn Thần Chiến Tranh do chính họ thả ra, tạo nên những Ðại Lộ Kinh Hoàng và Quốc Lộ Máu vang danh trong lịch sử. Nhưng vì sao Ông Trời lại để cho họ chiến thắng? Tại sao Ông Trời lại bắt những người cầm súng bảo vệ dân lành và tự do cho dân tộc như các chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà phải thua, phải chết thảm? Nếu còn phải đợi tới "ngày phán xét cuối cùng" lúc đó Ông Tròi mới chịu ra tay trừ bạo thì ai còn biết Ông Trời ở đâu?
(25) Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu, nghĩa là Lưới Trời lồng lộng, tuy thưa nhưng không ai có thể thoát ra được. ý nói con người dù có thể thoát được luật pháp trần gian (nhờ cướp được chính quyền nên khỏi bị thế gian trừng trị) nhưng không thể thoát khỏi lưới Trời, bởi vì Thượng Ðế chí công và đầy quyền năng sẽ trừng phạt những kẻ gian ác, cho dù kẻ đó hiện đang cầm quyền sinh sát trong tay.
(26) Một giáo sư trường Cao Ðẳng Sư Phạm Sàigòn đã tâm sự như vậy với các giáo sinh của mình về tình hình trường trại và trình độ học vấn của học sinh Miền Bắc Việt Nam từng là học sinh của bà trước đây.
(27) Người Việt Nam tại quê nhà hiện nay, có lẽ vì quá thiếu thốn nhưng lại ham hưởng thụ vì cuộc đời tuyệt vọng, luôn luôn đánh giá Việt kiều hải ngoại về thăm quê hương qua cách chi tiền rộng hay hẹp của mấy người này. Thương thay cho những Việt kiều nào tiền thì không có là bao mà tình yêu quê hương đất nước thì dạt dào như biển rộng, sông dài và đại dương bát ngát, chi tiền nhỏ giọt như xê-rum phòng mổ nên mới bị người thương xỉa xói là đồ Việt kiều kẹo kéo!
(28 ) Nguyễn Thuỳ & Trần Minh Xuân viết về khả năng hội nhập các nền văn hoá nước ngoài của dân tộc Việt Nam như sau: "Cái cốt tuỷ, tinh hoa cuả các thứ du nhập hầu như không có đất tốt để thị hiện mà chỉ có cái phần đuôi cặn bã của những thứ đó mới tung hoành ngang dọc trên mảnh đất này [Việt Nam]. Tóm lại, chúng ta chạy theo cái đuôi cuả mọi nền văn hoá bên ngoài mà không thực sự nắm bắt được cái tinh lý ảo diệu của các luồng tư tưởng ngoại lai." (sđd).
(29) Tôi làm tôi mất nước, bút ký cuả Lê Văn Phúc. Nhà xuất bản Ðại Nam, Hoa Kỳ.
(30) Cựu Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ, trong một bài nói chuyện trước các chiến hữu Không Quân của ông cách nay vài năm tại Texas, đã hô hào một cuộc hợp tác chính trị với Cộng Sản Việt Nam như là một cách thế để người Việt trong và ngoài nước cùng nhau bắt tay kiến tạo quê hương. Lời hô hào của vị cựu tướng Không Quân đã lập tức bị những người Việt chống Cộng tại khắp nơi trên thế giới phản đối kịch liệt, cho là đón gió trở cờ. Dường như thời gian gần đây cựu Tướng Kỳ đã có những tiếp xúc không chính thức với Hà Nội để mưu cầu một chỗ đứng chính trị nào đó nơi quê nhà, vì vị cựu Tư Lệnh Không Quân Việt Nam Cộng Hoà, người từng đem máy bay ra oanh tạc Bắc Việt hồi 1965, coi như không làm nên được chuyện gì kể từ khi qua sống lưu vong bên Mỹ. Có tin là một cựu tướng lãnh khác cuả Miền Nam Việt Nam, Nguyễn Khánh, cũng đang thực hiện những cuộc phiêu lưu chính trị tương tự. Cũng như ông Kỳ, vị cựu tướng lãnh này vẫn tin rằng một ngày nào đó Cộng Sản sẽ phải cần tới ông. Riêng cựu Tổng Thống Dương Văn Minh thì đã công bố kế hoạch về sinh sống tại Việt Nam với Cộng Sản. Vị cựu tướng bốn sao từng có công sát hại một trong những địch thủ lợi hại nhứt của Cộng sản là Tổng Thống Diệm của Miền Nam Việt Nam trong một cuộc đảo chánh hồi năm 1963, nghĩ rằng mình đã lại có công đưa Việt Nam Cộng Hoà vào chỗ đầu hàng không điều kiện quân Cộng Sản Bắc Việt hồi tháng Tư năm 1975, tiết kiệm được nhiều xương máu cho cả đôi bên trong cuộc chiến.
(31) Bà Hạnh Phước, Hoa Hậu Phu Nhơn Liệt Quốc Trong Vũ Trụ, 1995 (Mrs. All Nations Universal, 1995), Giám Ðốc Thẩm Mỹ Viện Hạnh Phước tại Houston, Texas, vì lý do cạnh tranh nghề nghiệp, đã bị một tờ báo Việt ngữ điạ phương chửi bới liên tục. Vị chủ nhiệm kiêm chủ bút tờ báo trịnh trọng tuyên bố: "Chừng nào Bà Hạnh Phước còn thì tờ báo chúng tôi vẫn còn," ý nói tờ báo này được sinh ra với sứ mạng chửi Bà Hạnh Phước! Thiệt là: "Truyện Kiều còn thì tiếng Việt hãy còn" (Phạm Quỳnh), và "Tôi chửi bới, vậy tôi hiện hữu" (kiểu Descartes).
(32) Tất cả những trại "học tập cải tạo" tại Miền Nam Việt Nam đều có một giáo trình 10 bài học chính trị cơ bản cho sĩ quan, viên chức "ngụy" (tức chế độ Việt Nam Cộng Hoà cũ), bắt đầu bằng Bài Số 1 "Ðất nước ta giàu đẹp, dân tộc ta anh hùng". Các bài còn lại là về cuộc chiến đấu chống Thực dân Pháp và Ðế quốc Mỹ, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, chính sách "khoan hồng nhân đạo" của Chính phủ Cách mạng (Cộng sản) dành cho "nguỵ quân, nguỵ quyền"... Trên lý thuyết, "cải tạo viên" học xong 10 bài này thì coi như mãn khoá và được trả về nguyên quán. Nhưng vì 10 bài này có xào tới, nấu lui cũng chỉ lâu khoảng hai tháng cho nên không có ai được về, mà tất cả đều phải ở lại tiếp tục "cải tạo lao động" cho đến khi "thật sự tiến bộ". "Cải tạo lao động" tức là đi lao động khổ sai tại đồng ruộng hay núi rừng. Muốn được coi là thật sự tiến bộ, cải tạo viên phải ở lại trại tập trung từ ba đến năm hay mười năm hay lâu hơn nữa, thường là tuỳ ở sức nặng của món "nợ máu" đối với nhân dân (tức là Cộng sản) mà "cải tạo viên" đã vay trong cuộc chiến.
(33) Xin xem Paris By Night 40, chủ đề Mẹ, cuả Nhà Thuý Nga Paris. Giám đốc sản xuất là Tô Văn Lai; biên tập & giới thiệu chương trình là Nguyễn Ngọc Ngạn.
(34) Ðoạn cuối bản quốc thiều nước Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam [Cộng Sản Nam Việt Nam] trước ngày bị chính đàn anh Cộng Sản Bắc Việt yêu dấu của họ thủ tiêu: Vận nước đã đến rồi, nguyện hy sinh đến cùng. Dựng xây non nước sáng tươi muôn đời... Giải Phóng Miền Nam Hành Khúc.
(35) Nguyễn Thuỳ & Trần Minh Xuân: Chúng ta có thể có một đôi cá nhân thông minh, xuất sắc, nhưng để tạo nên một cái tiếng chứ trên thực tế không có một đóng góp nào đáng giá. (sđd).
(36) Nguyễn Thuỳ & Trần Minh Xuân: "Kể không hết những thói hư tật xấu của người Việt Nam. Ðến nay, những thói xấu đó càng trở nên lộ liễu khiến cả thế giới phát sợ." (sđd). Trên thực tế, tại hải ngoại đang có hiện tượng chối phăng nguồn gốc Việt Nam khi nào có thể được, điễn hình là một số người trong giới ca sĩ chuộng sĩ diện. Ca sĩ hát tiếng Việt Nam gì mà hễ được hỏi tới nguồn gốc thì cứ khai mình là người Tàu! Vì sao được sinh ra và lớn lên tại Việt Nam, nói tiếng Việt Nam từ thuở mới lọt lòng mẹ, và nhờ có người Việt Nam đổ máu ra trong chiến tranh mới được quốc tế cho đi tỵ nạn mà lại không dám nhận mình là người Việt Nam? Té ra là vì sợ. Mà điều gì làm cho mấy người này phải sợ? Hỏi tức là trả lời.
(37) Khổng Tử: Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Nghĩa là: Trước hết phải tu dưỡng tánh tình để trở thành người có đạo đức. Sau đó mới tính tới chuyện quản lý gia đình. Kế đó mới đem tài năng ra mà trị nước. Và sau cùng, khi đất nước đã thịnh vượng, ta mới tính đến chuyên mang lại an lạc, thanh bình cho tất cả mọi người trên thế gìan.
(38 ) Lời nhạc trong Chuyến Ðò Vĩ Tuyến của Lam Phương.

Posted: Tue Aug 09, 2011 3:33 am
by tramthaiha
Cám ơn lòng can đảm

Vũ Ðông Hà
(Nguồn: DanlambaoVN.blogspot.com)

Image
(Hình: Dân Làm Báo)

1. Bố mẹ chúng tôi đã đào mồ chôn sâu lòng can đảm từ Mùa Ðông Cải cách ruộng đất, từ những ngày Trần Dần đi không thấy phố thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ. Can đảm đã biến mất trên cuộc đời khi mảnh đất tổ tiên trở thành một phần của hợp tác xã, khi những miếng thịt không còn trong cửa hàng mậu dịch, và hơi thở tự do của Nhân Văn Giai Phẩm đã vào tù. Từ ấy, chúng tôi r... a đời. Sữa mẹ ngọt nhưng luôn có mùi sợ hãi. Sợ hãi! Gia tài lớn nhất để lại cho con. Can đảm? Làm sao chúng tôi mất đi cái chưa bao giờ có - từ thuở lọt lòng cho đến lớn khôn!?

2. 3 giờ sáng Thứ Hai sau biểu tình Chủ Nhật lần thứ 9. Bạn không ngủ được, réo vào Skype. Buồn quá! Bức xúc quá! Cả một nước bao nhiêu triệu người mà chỉ có mấy trăm mạng tuần hành biểu tình! Mấy thằng bạn của mình ở Cầu Giấy, ở Hàng Buồm, còm say sưa trên mạng. Kêu gọi, bàn mưu tính kế, nên dùng khẩu hiệu này, nên hát bài hát kia... Chống TQ không đếch đủ, phải đả đảo tụi bán nước... Kiếm địa chỉ thằng Minh đi, tao sẽ làm thịt nó... Thả truyền đơn phải làm như vậy này... 9 giờ sáng, số người tuần hành đông ra phết, mình máu lên gọi tụi nó... Không sao, ra đi! Nhắn luôn qua thôn Danlambao... Chẳng thấy đứa nào! Về nhà mới biết tụi nó bình an hoan hô và đả đảo bằng còm! Lại đọc cái còm: Hôm nay trời mát mà, sao giải tán sớm thế...!

3. Tội ác lớn nhất của một triều đại không hẳn là đốt sách, giết người hay làm cho đất nước trở nên nghèo khó, mà là làm cho cả một dân tộc trở nên hèn nhát, ích kỷ và mê muội... Tôi muốn nói với bạn về những điều đã viết nhưng cũng bằng thừa. Ðã mất mát quá nhiều để có thể bù đắp bằng lời, tự an ủi hão với nhau. Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc, Hoàng Sa, Trường Sa, Biển Ðông, Biên giới Việt Bắc... Những mất mát to lớn. Nhưng thế hệ chúng tôi và thế hệ đàn anh đã mất đi nhiều thứ tủi nhục hơn mà chính những mất mát đó đã dẫn đến những mất mát được viết thành khẩu hiệu xuống đường ngày hôm nay. Chúng tôi mất đi lòng can đảm, mất tinh thần làm chủ vận mạng chính mình và vận mạng đất nước, mất đi ý chí hy sinh bình an cá nhân để đạt được những lợi ích chung. Mất hay không có? Làm sao có thể mất được những thứ mà chúng tôi không có ngay từ thuở lọt lòng!?

4. Ðã bao nhiêu năm chúng tôi đã bị bao vây, gò ép, uốn nắn như những con cá mòi trong hộp sắt với nước sốt màu đỏ để từng ngày, mỗi tháng, nhiều năm chúng tôi nghiễm nhiên trở thành những cái đinh, con ốc của guồng máy. Trong căn nhà nhỏ, bố chúng tôi bao vây chúng tôi bằng quá khứ kháng chiến, bằng thúc đẩy tương lai chúng tôi phấn đấu vào đoàn. Mẹ bao vây với lời khuyên lẫn nước mắt - thôi con! Ai sao mình vậy. Anh bao vây bằng cảnh báo - liệu hồn, đừng làm ảnh hưởng đến vị trí, công ăn việc làm của anh. Bố mẹ anh chị tự bao vây chính họ và bao vây chúng tôi. Ðó là cách sống an toàn nhất.

5. Trong ngôi nhà lớn chúng tôi bị bao vây, gò ép, uốn nắn để ngày còn bé khăn quàng đỏ xiết cổ, nằm mơ chỉ mong gặp lãnh tụ vô vàn kính yêu. Lớn lên chỉ có một đường yêu nước là yêu xã hội chủ nghĩa. Cuộc đời chúng tôi và đất nước này đã có đảng lãnh đạo, soi đường dẫn lối với 700 tờ báo bao vây, 300 kênh truyền thanh truyền hình bao vây, một rừng luật rừng bao vây. Chúng tôi bị bao vây bởi hào quang của những chiến thắng thần thánh, bởi lãnh tụ vĩ đại, bởi tấm bảng chỉ đường vĩ đại, bởi lừa dối từ những người bị lừa dối. Bạn bè chúng tôi bao vây lẫn nhau - đừng sống khác nhau, đừng tìm kiếm để đừng có những gì mà anh em muốn nhưng không dám có: Tự do, độc lập và can đảm. Hãy sống như nhau! Và để đảm bảo an toàn nhất, chúng tôi học cách tự bao vây chính mình. Quay lưng lại với thế kỷ trước và bước sang kỷ nguyên mới thế hệ chúng tôi mang theo một cái tên đáng nguyền rủa: Mackeno.

6. Vậy thì phải tiếp tục xuống đường! Nhìn lại quá khứ, con người, hoàn cảnh mới thấy ý nghĩa và bước ngoặc to lớn của 9 lần xuống đường yêu nước ngày hôm nay. Phải cắt bỏ cái tên Mackeno đang dính liền với thế hệ mình. Phải bước ra khỏi bóng đêm tự nguyền rủa và giỏi đổ thừa. Bạn tôi kết luận. Chúng ta xuống đường để đòi lại biển đảo, đất đai đã mất và bảo vệ những gì có thể sẽ mất. Nhưng sâu thẳm hơn, cấp kỳ hơn, quan trọng hơn chúng ta xuống đường để phá tan những vòng vây oan nghiệt, để tìm lại những gì đã bị lấy mất ngay trước khi chúng ta chào đời. Không tự tìm lại được những thứ đó cho mỗi chúng ta, và từ đó, cho cả dân tộc thì mọi thứ khác sẽ mất. Sẽ không còn gì trên một mảnh đất của những xác chết còn thở.

Bài viết này thân tặng YUNC - người bạn suốt đêm không ngủ. Xin viết với lòng biết ơn gửi đến các cụ, cô chú, anh chị và những người em thân yêu trên đường phố Yêu Nước. Những bước chân can đảm ấy sẽ giúp những bàn chân sợ hãi bước theo. Lịch sử sang trang bởi một thiểu số người dấn thân khai đường mở lối. Xin gửi niềm quý mến đến các bạn Sài Gòn lặng lẽ biểu tình ngồi - tưởng như là sợ hãi nhưng trong tôi, các bạn là những người can đảm nhất.

Posted: Wed Aug 10, 2011 2:22 am
by nguyenvsau
Syria có nguy cơ bị cô lập như Libya


Chính phủ Syria bắn người biểu tình khiến Hội đồng Bảo an và các nước phương tây lên án, đồng thời bị các nước láng giềng tẩy chay.
Đây là những bước đi Libya từng trải qua trước khi chìm vào nội chiến hiện nay.

Image
Biểu tình chống chính phủ Syria tại Cairo, Ai Cập. Ảnh: AFP.
Hàng loạt quốc gia vùng Vịnh đang lên án chính phủ Syria đàn áp người biểu tình và cho rút đại sứ về nước. Đầu tiên là Ảrập Xêút và tiếp theo là Kuwait và Bahrain có động thái phản đối qua đường ngoại giao này. Bản thân các nước này, đặc biệt là Bahrain, cũng từng hứng chịu làn sóng biểu tình dữ dội.

Quốc vương Abdullah của Ảrập Xêút hôm qua kêu gọi Damascus "chấm dứt cỗ máy bắn giết và tắm máu trước khi quá muộn". BBC dẫn lời chính phủ Kuwait thì hối thúc Syria "chấm dứt sử dụng quân đội" ứng phó người biểu tình. Giới chức Liên Hợp Quốc hoan nghênh các nước láng giềng gây sức ép ngoại giao với Syria.

Đầu tuần trước, Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc ra tuyên bố lên án Syria đàn áp người biểu tình. Đồng minh của Syria là Nga cũng chỉ trích chính quyền Tổng thống Bashar al-Assad. Tổng thống Mỹ Barack Obama sau đó điện đàm với người đồng cấp Pháp Nicolas Sarkozy và Thủ tướng Đức Angela Merken để thảo luận các biện pháp mới chống lại chính quyền Assad.

Lãnh đạo Mỹ, Pháp và Đức hoan nghênh tuyên bố của Hội đồng Bảo an và đồng ý cân nhắc các biện pháp bổ sung để trừng phạt chính quyền Syria. Washington ngày càng thể hiện quan điểm muốn Tổng thống Assad phải ra đi, sau khi tuyên bố rằng sự có mặt của nhà lãnh đạo này đang gây ra sự bất ổn tại Syria.

Liên minh Châu Âu (EU) cũng tuyên bố đang cân nhắc mở rộng các biện pháp trừng phạt chống lại cá nhân Tổng thống Syria Assad, trong khi Đức doạ sẽ chính thức tuyên bố rằng ông không còn tư cách cầm quyền về mặt pháp lý.

Phiên bản "mùa xuân Ảrập" châm ngòi từ Tunisia và Ai Cập đã diễn ra gần 5 tháng tại Syria, sau khi làn sóng biểu tình chống Tổng thống Assad bùng phát từ tháng 3. Tổng thống Assad bất chấp sự chỉ trích vẫn duy trì biện pháp đàn áp mạnh tay trước làn sóng chống chính phủ. Các nhà hoạt động ước tính có khoảng hơn 2.000 người Syria bị lực lượng an ninh bắn chết trong các cuộc biểu tình.

Tổng thống Assad cam kết cải cách, nhưng cáo buộc "các băng đảng tội phạm có vũ trang" với sự hậu thuẫn của nước ngoài đang gây ra tình trạng bất ổn. Sau vài tháng âm ỉ, bạo loạn bùng phát tại Syria hồi đầu tháng này khi chính quyền Syria huy động cả cả xe tăng vào trung tâm thành phố Hama, điểm nóng nhất của làn sóng biểu tình chống chính phủ, để giành lại quyền kiểm soát.

Đình Nguyễn

Posted: Thu Aug 11, 2011 1:20 am
by nguyenvsau
Trung Quốc lên lớp Mỹ

Ngô Nhân Dụng

Hậu sinh khả úy, người sinh sau có khi giỏi hơn người sinh trước. Nhưng ít chúng ta thấy một người trẻ lên tiếng dậy bảo người già giầu kinh nghiệm sống hơn mình.

Nước Mỹ đã sống trong kinh tế thị trường từ mấy thế kỷ nay; có thể nói đã từng trải với hàng trăm chu kỳ kinh tế khi lên khi xuống. Trung Quốc mới học tập làm ăn theo lối thị trường được chừng ba mươi năm, và cũng chỉ chịu học có một nửa thôi, chưa áp dụng hết bài bản. Cho nên khi chính quyền Trung Quốc có lời dạy khôn chính quyền Mỹ về tài chánh, đó là một chuyện lạ đáng chú ý.

Số là sau khi công ty thẩm lượng tín dụng S&P hạ thấp điểm của chính phủ Mỹ từ AAA xuống AA+, Tân Hoa Xã đã dẫn lời của một viên chức Trung Hoa nói rằng: “Chính quyền Mỹ nên nhận thức 'những ngày vàng son'... của họ đã chấm dứt rồi.” “Những ngày vàng son” nói đây là thời gian chính phủ Mỹ tha hồ đi vay nợ để tha hồ chi tiêu. Họ khuyên chính phủ Mỹ nên “cai bệnh ghiền nợ” và chấm dứt những cuộc cãi lộn chính trị “thiển cận.” Và họ cũng nhắc lại ý kiến mà Bắc Kinh đã nói từ năm ngoái, là thế giới cần có một đồng tiền dự trữ khác thay thế cho đô la Mỹ.

Tân Hoa Xã là một tiếng nói chính thức của đảng Cộng Sản Trung Quốc. Những ý kiến họ nêu ra chắc hẳn đã được Bộ Chính Trị duyệt y. Và phải nói là họ đưa ra những điều đúng sự thật và rất đáng nghe. Một sự thật là chính phủ Mỹ, và cả dân Mỹ, đã vay nợ nhiều quá; chắc chắn nên tốp bớt lại. Nhưng Bắc Kinh còn nhân dịp này lên tiếng với tư cách một “chủ nợ” đang cầm trong tay nhiều “giấy nợ” do chính phủ Mỹ phát hành. Họ bảo: “Trung Quốc có đủ thẩm quyền để yêu cầu Hiệp Chúng Quốc giải quyết những vấn đề có tích cách cơ cấu về nợ nần của họ để bảo đảm (họ gọi là đảm bảo) những chứng khoán bằng đồng đô la Mỹ.”

Nghe đến đây, nhiều người coi là họ đang dọa dẫm. Khi một ông chủ nợ dọa con nợ, chắc chắn lời hăm dọa phải có trọng lượng. Con nợ nào cũng phải lo sợ: Lỡ ông ấy không cho mình vay tiền nữa, hoặc bắt phải trả hết nợ ngay lập tức thì sao? Ðó chính là điều chúng ta nên phân tích.

Trước hết, trong kinh tế thị trường phải phân biệt hai loại nợ nần. Một, quý vị có thể đến ngân hàng vay tiền. Họ sẽ đặt ra những điều kiện trả lãi, đáo hạn thì trả hết vốn. Ðó là việc riêng giữa người vay và nhà băng, người đi vay cứ kỳ kèo mặc cả sao cho có lợi nhất. Không trả được tiền lãi đúng hẹn thì vỡ nợ.

Còn một cách thứ hai, là dùng thị trường tài chánh. Quý vị có thể phát hành những trái phiếu, trong đó chính quý vị đặt ra những điều kiện trả lãi và trả vốn, thí dụ trả 5% mỗi năm, trong mười năm thì trả hết vốn, không bao giờ thay đổi. Khi quý vị trả lãi, trả vốn đầy đủ thì không ai làm gì được. Lãi suất cao hay thấp tùy theo mức rủi ro của người phát hành; càng nhiều rủi ro thì thị trường càng đòi mức lời cao hơn. Bình thường, khi điểm tín dụng của công ty bị hạ thấp là người cho vay sẽ đòi mức lời cao hơn, vì rủi ro hơn.

Thị trường là chỗ công cộng, ai có tiền cứ việc tham dự. Người nào mua trái phiếu, trở thành chủ nợ của người phát hành. Nhưng các chủ nợ này không giống ngân hàng. Vì ai thích thì vào mua, không có chuyện kỳ kèo mặc cả trực tiếp với con nợ. Chủ nhân một trái phiếu có thể khi cần tiền thì đem bán. Giá bán cao hay thấp hơn lúc mua tùy theo lúc bán lãi suất trên thị trường đang hạ xuống hay đang lên cao so với lãi suất khi phát hành. Khi lãi suất hạ thấp thì các trái phiếu đều lên giá, và ngược lại. Chuyện một chủ nhân trái phiếu phải bán giá thấp hơn khi mua (lỗ), hay bán được với giá cao hơn (lời), kẻ phát hành trái phiếu không cần biết đến. Nhưng một công ty phát hành trái phiếu thường phải lo bảo vệ giá trị nó, nếu công ty làm ăn kém, điểm tín dụng bị hạ thấp, thì giá trái phiếu của họ sẽ xuống giá, vì nó rủi ro hơn. Ngược lại, nếu công ty được tín nhiệm hơn, giá trái phiếu sẽ tăng vì người mua tín nhiệm đòi mức lời thấp hơn. Giá trái phiếu lên xuống ngược chiều với mức lời mà người mua đòi hỏi.

Vay trên thị trường bằng cách phát hành trái phiếu (chính phủ vay thì gọi là trái phiếu công, hay công trái, hoặc công khố phiếu) khác với cách vay ở ngân hàng là như vậy. Cho nên việc chính phủ Mỹ khác với trường hợp chính phủ Hy Lạp đang nhờ Ngân Hàng Trung Ương Aạu Châu (ECB) cứu giúp; hay việc chính phủ Nga nhờ Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế cứu trước đây. Nga và Hy Lạp đều đóng vai con nợ tới ngân hàng vay tiền. Họ phải chịu nghe lời nhà băng đòi hỏi thế này, thế nọ, để bảo đảm sau sẽ trả được nợ. Còn chính phủ Mỹ chỉ đi vay trong thị trường, ai không muốn cho vay thì đừng tham dự chứ không đặt điều kiện nào cả. Miễn là người ta còn tin con nợ sẽ có tiền trả, là người ta cho vay.

Trung Quốc đang giữ trong nhà các trái phiếu của chính phủ Mỹ (công trái) trị giá hơn một tỷ đô la. Nếu muốn, họ cứ việc đem ra bán hết trên thị trường. Hoặc họ cứ chờ, mấy tháng lại nhận được tiền trả lãi, đến ngày đáo hạn thì được trả vốn. Nếu bây giờ Trung Quốc đem rất nhiều công trái chính phủ Mỹ ra bán thì sao? Tất cả các giấy nợ của chính phủ Mỹ sẽ xuống giá ngay lập tức. Hậu quả là chính Trung Quốc sẽ mất tiền. Nhưng đó không phải là phiền chính. Ðiều quan trọng hơn là sau khi bán họ sẽ mang tiền đầu tư vào đâu? Hàng chục năm nay họ cứ mua công trái của Mỹ chính vì họ không biết chỗ nào khác tốt hơn! Chính phủ Mỹ có lo vỡ nợ không? Như đã trình bày trong mục này tuần trước, họ không lo. Số tiền họ thu vào hàng tháng dư để thanh toán mọi thứ nợ nần. Nếu thiếu thì họ cắt của dân Mỹ chứ không ai dám quỵt nợ, vì điều 14 trong Hiến Pháp Mỹ đã cấm!

Cho đến năm nay cũng vậy, trên thế giới khó tìm được chỗ nào đầu tư an toàn bằng công trái của nước Mỹ vay! Ðiều này đã thấy rõ trong mấy tuần qua. Sau khi công ty S&P hạ thấp điểm tín dụng của Mỹ ngày Thứ Sáu vừa rồi, công trái Mỹ vẫn lên giá trên thị trường thế giới. Ngày Thứ Ba, 9 Tháng Tám, giá công trái 10 năm của Mỹ vẫn còn lên; chỉ đòi lợi suất có 2.32% so với mức 2.34% ngày hôm trước! Ðiều đó chứng tỏ những người (và các nước) có sẵn tiền vẫn muốn cho chính phủ Mỹ vay! Ngày hôm qua, lần đầu tiên sau khi bị S&P hạ điểm tín dụng chính phủ Mỹ phát hành công trái đi vay thêm nợ. Họ vay 32 tỷ đô la, thời hạn 3 năm. Số tiền mà người ta đem tới sẵn sàng cho vay lên tới gần 100 tỷ, cao hơn 3 lần số tiền Mỹ muốn vay. Theo thủ tục thông thường, người mua (tức các chủ nợ tương lai) phải “đấu giá” với nhau, ai đòi lợi suất thấp hơn (tức là trả giá cao hơn) thì mua được. Sau cùng, công trái đó đem bán với lợi suất chỉ có 0.50% một năm! Ðó là một lợi suất thấp kỷ lục; nước Mỹ chưa bao giờ được vay nợ với mức lời thấp như vậy! Mối lo kinh tế thế giới trì trệ làm cho thị trường các cổ phiếu tụt giảm, nhiều người có dư tiền sau khi bán cổ phiếu. Sẵn tiền, họ lại đi tìm mua công trái Mỹ, vì vẫn thấy đó là nơi đầu tư an toàn nhất. Họ có đi mua vàng thì cũng bị thiệt, vì giá vàng đang lên cao kỷ lục sẽ lên tận trời xanh! Chính phủ Trung Quốc sẽ khó tìm đâu ra nơi “gửi tiền” an toàn hơn công trái Mỹ, nhất là một khối lượng tiền lớn cỡ ngàn tỷ đô la.

Nếu chúng ta biết nguồn gốc từ đâu chính phủ Trung Quốc có hơn ba ngàn tỷ đô la dự trữ để cho chính phủ Mỹ vay bớt, thì thấy những lời tuyên bố mà Tân Hoa Xã loan báo rất buồn cười. Vì chính đảng Cộng Sản Trung Hoa đã đồng lõa và có lợi trong việc cho Mỹ vay. Họ tạo ra một tình trạng thiếu cân bằng trong kinh tế thế giới, do chính sách kinh tế thiếu cân bằng mà đảng này đang thi hành trong nước họ.

Kinh tế Trung Quốc thiếu cân bằng vì lo làm để xuất cảng, không lo cho người tiêu thụ (tức là hàng ngàn triệu người Trung Hoa) được hưởng xứng đáng với công lao của họ. Dân Trung Hoa làm việc cực nhọc, được trả lương rất thấp, để các doanh nghiệp nhà nuớc xuất cảng thu tiền vào. Dân Mỹ thì phởn phơ tiêu thụ vì hàng nhập cảng rẻ rề. Cán cân thương mại cứ nghiêng về phía Tây, tiền Mỹ chạy sang Tầu. Muốn giữ giá đồng Nguyên thấp (để dễ xuất cảng), chính phủ Tầu thu mua hết đô la Mỹ trong nước đem vào Ngân Hàng Trung Ương. Rồi chẳng biết đầu tư ở đâu, lại đem sang Mỹ cho vay, cho chính phủ Mỹ đến các ngân hàng lớn vay.

Cái vòng quay của đồng tiền này đã chạy đều đặn hàng chục năm nay không nghỉ, làm cho kinh tế thế giới cũng thiếu cân bằng! Nếu Trung Quốc không bán hàng thặng dư sang Mỹ thì không có nhiều tiền để cho vay như thế. Chính những số tiền khổng lồ do Bắc Kinh cho vay đã khiến lãi suất ở Mỹ rất thấp (nhiều người cho vay hơn thì tự nhiên lãi suất xuống). Chính Bắc Kinh đã gây ra bệnh “ghiền nợ” cho dân Mỹ! Vì các ngân hàng Mỹ đầy tiền với giá rẻ cho nên họ cho vay mua nhà bừa bãi với điều kiện thấp trong mấy năm trước năm 2007! Chính nó đã gây ra cơn khủng hoảng địa ốc làm suy sụp nền tài chánh Mỹ năm 2008, đến giờ tai họa vẫn chưa dứt!

Cả thế giới đã kêu gọi Bắc Kinh phải cải tổ cơ cấu kinh tế, chú ý hơn đến người tiêu thụ (những người Trung Hoa đổ mồ hôi ra làm hàng hóa giá rẻ bán cho dân Mỹ). Muốn vậy thì phải nâng giá đồng Nguyên của họ lên, cho dân Trung Hoa được mua hàng nhập cảng giá rẻ hơn. Nhưng đảng Cộng Sản Trung Hoa không chịu nghe. Vì các quan chức, đảng viên của họ vẫn được tiêu thụ “hàng ngoại” thoải mái, họ đâu có thiếu gì!

Cho nên, việc chính quyền Cộng Sản Trung Hoa lên lớp khuyên bảo chính phủ Mỹ nghe rất tức cười. Không hiểu ai xui khiến mà họ lại lên giọng như thế! Cũng như Thủ Tướng Nga Vladimir Putin. Ông mới gắn nhãn hiệu cho nước Mỹ là “kinh tế ký sinh,” ví như cây tầm gửi vậy. Nhưng chính nước Nga là quốc gia đã từng ngửa tay đi xin các nước khác “tha nợ” và năn nỉ Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế cứu mấy lần, nước Mỹ thì chưa. Lão Tử đã nói “Tri giả bất ngôn; Ngôn giả bất tri.” Người biết thì không nói, cái anh hay nói lại không biết gì cả!

Posted: Fri Aug 12, 2011 3:44 am
by vuphong
Phe nổi dậy Lybia tiến về thủ đô

BIR AL-GHANAM, Libya (Reuters) - Phía nổi dậy ở Libya, vừa chiếm được thành phố Bir al-Ghanam, nằm cách thủ đô Tripoli chừng 80 km về phía Nam,
hôm Thứ Hai cho hay họ sẽ tiếp tục tiến về cứ địa sau cùng này của nhà lãnh đạo độc tài Moammar Gadhafi, nhưng cũng biết là sẽ rất khó khăn.

Image
Chủ tịch Hội Ðồng Chuyển Tiếp Quốc Gia Mustafa Abdul-Jalil trong cuộc họp báo ở Benghazi hôm Thứ Ba liên quan đến việc giải tán ủy ban điều hành.
(Hình: AP Photo/Alexandre Meneghini)



Thành phố sa mạc Bir Al-Ghanam là vị trí gần Tripoli nhất của phía nổi dậy và việc chiếm được nơi này hồi cuối tuần sẽ chắc chắn tạo thêm động lực cho các nỗ lực lật đổ Gadhafi từ sáu tháng nay, vốn gặp trở ngại trong vài tuần trở lại đây.

Các tay súng chống Gadhafi đã bố trí trên các cao điểm nhìn xuống thành phố này từ cuối Tháng Sáu, nhưng không tiến thêm được bước nào. Các tay súng nổi dậy cho hay hôm Thứ Hai họ chiếm được nơi này vào ngày Thứ Bảy dưới sự yểm trợ của phi cơ NATO.

Lực lượng nổi dậy nói rằng mục tiêu sắp tới của họ là Zawiyah, một thành phố nằm trên bờ biển Ðịa Trung Hải, cách Tripoli chừng 50 km về phía Tây.

Zawiyah là nơi xảy ra hai đợt nổi dậy chống chế độ Gadhafi bất thành từ Tháng Hai đến nay. Nhiều tay súng ở Bir al-Ghanam đến từ thành phố này, dù rằng nhiều người tham dự hai cuộc nổ dậy trước đó nay bị giam hay đã chết.

Tiến triển của phía nổi dậy đã chậm hơn ước tính của các quốc gia Tây Phương khi NATO khởi sự chiến dịch không tập hồi Tháng Ba. Phía nổi dậy có nhiều chia rẽ, được thấy rõ 12 ngày trước đây khi tư lệnh lực lượng võ trang của họ bị giết trong hoàn cảnh mờ ám.

Phía nổi dậy hôm Thứ Hai giải tán ủy ban điều hành, một hình thức nội các, gồm 14 thành viên vì các lý do được miêu tả là “lỗi lầm hành chánh” trong việc đối phó với vụ bắn chết Abdel Fattah Younes. (V.Giang)

Posted: Sun Aug 14, 2011 6:45 am
by thienthanh
Trung Quốc "thử chiến đấu cơ trên tàu sân bay"
Quân đội Trung Quốc có thể tiến hành cuộc hạ cánh thử nghiệm đầu tiên của máy bay chiến đấu trên tàu sân bay vào hôm nay.

Global Times dẫn một nguồn tin liên quan cho biết cuộc hạ cánh thử nghiệm sẽ được tiến hành nếu điều kiện thời tiết thuận lợi. Các phi cơ phản lực sẽ tiếp cận con tàu, hạ cánh rồi cất cánh ngay sau đó.

Nguồn tin trên cũng tiết lộ rằng các phản lực cơ chiến đấu được sử dụng trong cuộc thử nghiệm là J-15, hay còn gọi là "Cá mập bay", tương đương với Su-33 của Nga. Cuộc thử nghiệm chủ yếu nhằm mục đích kiểm tra hệ thống radar và hạ cánh của tàu sân bay.

"Hạ cánh trên một con tàu đang di chuyển không phải là dễ dàng, vì thế chúng tôi sẽ tích cực tiến hành thử nghiệm và kiểm tra", nguồn tin trên nói và thêm rằng các phi công đã được huấn luyện chuyên sâu để chuẩn bị cho cuộc thử nghiệm này.
Image
Tàu sân bay đầu tiên của Trung Quốc tại cảng Đại Liên. Ảnh: China post


Tuy nhiên, ông Xu Yongling, phó phụ trách một trạm không quân và là một cựu phi công thử nghiệm trực thăng J-10, cho rằng việc thử nghiệm chưa thể diễn ra hôm nay.

"Con tàu vẫn chưa hoàn chỉnh cả về trang thiết bị lẫn đội ngũ để thực hiện các cuộc thử nghiệm như thế", ông Xu nói và cho rằng phải mất ít nhất hai tháng nữa việc hạ cánh thử nghiệm mới có thể bắt đầu trên tàu sân bay.

Văn phòng báo chí của Bộ Quốc phòng Trung Quốc nói không bình luận gì về các thông tin liên quan đến tàu sân bay.

Trước đó, hôm 10/8, Cơ quan An toàn hàng hải tỉnh Liêu Ninh đã ra thông báo về việc giới hạn lưu thông trên biển và liên lạc bằng sóng phát thanh trong khu vực bán kính 17 hải lý ở biển đông bắc Bột Hải. Động thái trên đã làm dấy lên những đồn đoán rằng một cuộc thử nghiệm có thể sắp diễn ra trên tàu sân bay. Chính quyền Trung Quốc cũng ban bố một lệnh cấm lưu hành từ 10-14/8 trên biển Hoàng Hải và vịnh Liêu Ninh.

Tàu sân bay đầu tiên của Trung Quốc, nguyên bản là tàu Varyag mua lại từ Ukraina, đến cảng Đại Liên cách đây 9 năm, trở thành mối quan tâm của quốc tế khi lần đầu chạy thử vào hôm 10/8. Mỹ và Nhật Bản đều đã lên tiếng đòi Trung Quốc giải thích về chương trình tàu sân bay, do nghi ngờ động thái này sẽ gây ảnh hướng lớn đến tình hình trong khu vực. Tuy nhiên, phía Trung Quốc khẳng định con tàu này chủ yếu được dùng cho mục đích huấn luyện và nghiên cứu.

Anh Ngọc

Posted: Mon Aug 15, 2011 2:20 am
by thienthanh
Xã hội dân sự lừng lững tiến bước
Bùi Tín
(Nguồn: VOA)

Ðã qua 9 Chủ Nhật, xã hội Việt Nam đã quen dần với những cuộc biểu tình định kỳ. Xưa kia đã có những cuộc biểu tình lớn,
do đảng và nhà nước chủ trương, già trẻ lớn bé đi là bắt buộc.

Image
Biểu tình tại Hà Nội chống Trung Quốc xâm lược biển đảo Việt Nam, ngày 7 Tháng Tám. (Hình: Blog Nguyễn Xuân Diện)


Nay là biểu tình, tuần hành của công dân, của những người yêu nước, khi tổ quốc lâm nguy, nêu cao ý chí bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của đất nước.

Trải qua 9 cuộc đấu tranh, rõ ràng xã hội dân sự nước ta đang lừng lững bước tới - theo cách nói của nhà văn hóa Nguyên Ngọc - với xu hướng phát triển từng bước. Từ những con số 200, 400, số người tham gia đã có lúc lên đến 1,000 rồi hơn 2,000, nếu kể cả những người tham gia tuần hành từ đầu đến cuối, cộng với những người tham gia từng đoạn, từng nơi tập trung. Nếu kể cả người dân phố hai bên đường vẫy tay, vỗ tay, hô khẩu hiệu hưởng ứng, con số còn lớn hơn.

Khí thế tuần hành cũng có xu thế cao dần, các cờ, khẩu hiệu nhiều hơn, sát thực tế hơn, to đẹp hơn. Các bài hát đồng ca cũng nhiều hơn, truyền cảm hơn, vang động hơn.

Hình ảnh truyền đi thật hấp dẫn. Những cô gái mặc áo dài duyên dáng, nét mặt cương nghị, có cụ bà 90 tuổi, cụ ông 90 tuổi bên các cháu nhỏ kháu khỉnh, có người cha công kênh con nhỏ trên vai, hai vợ chồng sát cánh nhau, có lão nghệ sỹ kéo đàn bên anh thanh niên gảy nhịp ghi-ta, có các bạn từ Sài Gòn, Nha Trang, Huế, Hải Phòng đến dự; có các cô gái hàng Ðào ra tặng hoa, có chàng trai hàng Bài mang từng két nước ra mời và chung lời hô khẩu hiệu, có cảnh đưa tặng hoa sen cho anh công an, làm cho không khí êm dịu, chan hòa.

Bên cạnh những trí thức, giáo sư, luật sư, nhà văn, nhà thơ, nhà báo có uy tín xã hội, là đông đảo sinh viên, học sinh, thanh niên, bên cạnh đảng viên CS lâu năm là đảng viên trẻ, là đoàn viên thanh niên, sát cánh cùng người ngoài đảng, làm cho các cuộc biểu tình tuần hành thêm đa dạng, tiêu biểu cho mọi tầng lớp xã hội.

Những người chung sức nhen nhóm các cuộc biểu tình yêu nước đang chuẩn bị cho cuộc biểu tình thứ X vào Chủ Nhật 14 tháng 8 tới đây.

Từ trong nước đã có nhiều góp ý xây dựng cho cuộc xuống đường này, do đó bà con ta trong và ngoài nước có thể hy vọng rằng cuộc biểu tình thứ X sẽ diễn ra vượt trội tất cả các cuộc tập trung trước đây. Các blog có uy tín nhất trong nước như blog Dân Làm Báo -Có 2 vạn độc giả vào xem trong một ngày - vừa thông tin cho biết:

- Cuộc biểu tình lần thứ X sẽ nêu bật nguy cơ khẩn cấp, báo động đỏ: Phía Trung Quốc đang tập trung bộ binh quy mô lớn áp sát biên giới Việt-Trung ở phía Bắc; họ đang đưa dàn khoan dầu khổng lồ vào vùng biển Hoàng Sa, Trường Sa; họ chính thức báo tin trong tháng 8 này, sẽ đưa tàu sân bay Tinh Lang của họ vào vùng biển Ðông. Họ đang nắn gân chính quyền và nhân dân ta. Cuộc biểu tình lớn 14-8 sẽ trả lời thách thức nghiêm trọng ấy.

-Hàng vạn áo in hình No - U cắt lưỡi bò sẽ được mặc và phát rộng rãi, tặng cả các quan chức và ngành công an;

-Hàng triệu truyền đơn yêu nước in đẹp, nhiều khổ lớn nhỏ sẽ được tán phát, đặc biệt những bài viết đặc sắc của các nhà văn, nhà thơ, nhà văn hóa như Nguyên Ngọc, Võ Thị Hảo, Thùy Linh, Ðỗ Trung Quân... về các cuộc biểu tình yêu nước sẽ được tán phát rộng. Những bài của Người Buôn Gió trong Ðại Việt Chí Dị liên quan đến các cuộc biểu tình yêu nước sẽ được tán phát trong dịp này.

Sẽ có thể có một số cựu chiến binh và công an tham dự.

Nhân dịp này, các mạng thông tin yêu nước nhấn mạnh lời tuyên bố danh dự của giám đốc công an thủ đô là không có chủ trương đàn áp, đánh đập những người biểu tình yêu nước, và biểu dương đại biểu Quốc Hội Dương Trung Quốc đã nói rõ trước Quốc Hội là các cuộc biểu tình yêu nước là rất cần thiết và chính đáng.

Lần biểu tình thứ X này, nhiều ý kiến yêu cầu người biểu tình báo trước hành trình và thời gian cụ thể của cuộc tuần hành để yêu cầu công an và cảnh sát giao thông bảo vệ đoàn dân biểu tình sẽ đàng hoàng đi xuống lòng đường, đúng như tập quán đã thành nề nếp ở các nước văn minh như Hoa Kỳ, Pháp, Ý, Ðức, hay như ở Thái Lan, Philippines ở gần ta. Không có lý do gì các cuộc biểu tình lớn đầy chính nghĩa, đàng hoàng của những công dân yêu nước lại bị dẹp lên vỉa hè.

Ngay sau cuộc biểu tình lần thứ X, sẽ có đại diện công dân yêu nước đưa kiến nghị đến các cơ quan, bộ, ngành liên quan, yêu cầu Bộ Ðầu Tư và Bộ Công Thương xem xét trong hoàn cảnh chính trị hiện nay, để cho một công ty lớn quốc doanh Trung Quốc trúng thầu xây dựng nhà máy nhiệt điện Trà Vinh trị giá 1.3 tỷ đôla có phù hợp hay không? Kiến nghị này cũng sẽ yêu cầu Bộ Lao Ðộng cho biết đã giải quyết đến đâu việc hàng vạn lao động phổ thông, không chuyên nghiệp Trung Quốc, đến đầy các công trường địa phương, không có giấy tờ hợp pháp giữa lúc dân ta không có công ăn việc làm.

Xã hội dân sự Việt Nam đang lừng lững, đĩnh đạc bước tới phía trước, trong sự thức tỉnh của toàn dân, trong sự quan sát có nhiều thiện cảm của thế giới tiến bộ, trong sự khuyến khích quý mến của cộng đồng Việt Nam ở khắp nơi.

Các cuộc đấu tranh vài chục người dễ bị dập tắt. Lên đến hàng trăm, vài ba trăm, bộ máy đàn áp có thể chia cắt rồi dập tắt. Nhưng khi lên đến 700, 800 công dân sát cánh, đầy khí thế, bộ máy đàn áp đã cảm thấy đuối sức và e ngại. Khi lên đến hàng ngàn, rồi là có thể lên đến vài ngàn, sức mạnh tinh thần của những người có tâm huyết, chỉ có biểu ngữ, truyền đơn yêu nước, bó hoa trong tay, sẽ trở nên tất thắng.

Tháng Tám Mùa Thu, hoa phượng đỏ rực khắp thủ đô Thăng Long-Hà Nội, từ ngoài Bắc vào trong Nam, mùa nghỉ hè rỗi rãi của học sinh, sinh viên, nhà giáo, sau 9 cuộc tập dượt biểu tình bền bỉ, định kỳ, xin chân thành chúc cuộc xuống đường lần thứ X đưa xã hội dân sự Việt Nam trưởng thành lên một nấc mới.

Vận nước bĩ rồi lại thái là thế. Hồn thiêng sông núi luôn phù hộ những người con quý yêu là thế. Cục diện quê hương thế cùng tất biến cũng là thế.

Tự do không ai cho không, không tự do mà có - Freedom is not free, câu châm ngôn hay. Xin biết ơn các bạn đang nô nức chuẩn bị xuống đường ngày 14 tháng 8 này.

Xã hội dân sự Việt Nam vượt qua mọi thách thức đang lừng lững bước tới phía trước.

Posted: Tue Aug 16, 2011 1:16 am
by KýCóp
Hà Nội: 1 số hình ảnh đặc biệt trong lần biểu tình thứ 10

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Posted: Wed Aug 17, 2011 5:53 am
by dailien
Image


Nước Nga 20 năm sau
Ngô Nhân Dụng

Ðến thành phố Moscow lần này, tôi chỉ có hai việc quan trọng muốn làm. Một là thăm Giáo Sư Nguyễn Minh Cần, sau hơn ba năm chưa gặp lại, mà lần sau cùng thấy ông bà đang rất yếu.

Hai là đến thăm ngôi nhà cũ của Pasternak ở Peredelkino. Tôi đã làm xong hai việc, và đáng lẽ không thấy cần viết gì khác về nước Nga cả. Nhưng sau một buổi tối được trò chuyện với cụ Nguyễn Minh Cần, lại thấy một đề tài phải viết: Nước Nga 20 năm sau khi chế độ cộng sản sụp đổ.

Gần hai mươi năm trước, gặp Giáo Sư Nguyễn Minh Cần lần đầu khi cụ tới thăm báo Người Việt, tôi được nghe cụ vui vẻ kể rằng hai lần trong đời cụ đã tham dự hai biến cố gọi là cách mạng, cùng vào ngày 19 Tháng Tám. Lần đầu là năm 1945 ở Việt Nam; lần sau là năm 1991 ở Moskba (Người Nga đọc là Mátx-cơ-va). Cuộc cách mạng năm 1945 cuối cùng đã bị thoái hóa, chế độ độc tài cộng sản đưa dân Việt Nam vào sống trong một hình thức nô lệ mới. Chính Nguyễn Minh Cần cũng từng bị phản bội, cụ phải sống lưu vong ở Nga suốt từ thập niên 1960 cho tới ngày nay.

Ngày 19 Tháng Tám năm 1991 dân thành phố Mátx-cơ-va đã kéo nhau ra đường, tới tòa nhà Quốc Hội ủng hộ ông Boris Yeltsin chống lại nhóm tướng công an mật vụ đảo chánh. Cụ Nguyễn Minh Cần và cụ bà Inna đã tham dự trong biến cố đó. Yeltsin và dân thành phố Mátx-cơ-va thành công, đưa tới cảnh sụp đổ của Liên Bang Xô Viết và của chế độ cộng sản ở Nga. Trên đống tro tàn còn nóng hổi này, một thể chế mới thành hình, với hứa hẹn biến nước Nga thành một quốc gia tự do dân chủ.

Năm nay, cụ Nguyễn Minh Cần nghĩ gì về “cuộc cách mạng” 20 năm trước? Tôi hy vọng cụ sẽ viết một bài cho nhật báo Người Việt trong vài tuần lễ tới, khi cụ bà bình phục sau cuộc giải phẫu trong tuần này. Cụ Nguyễn Minh Cần sẽ có dịp trình bày các ý nghĩ của mình một cách đầy đủ hơn. Chỉ xin tóm tắt một điều tôi mới được nghe: Nhà văn, nhà giáo Nguyễn Minh Cần, một lần nữa, lại thất vọng. Nếu gọi ngày 19 Tháng Tám năm 1991 là một cuộc cách mạng, thì cuộc cách mạng đó cũng đã phản bội những người từng hăng hái xuống đường tham dự.

Trước khi tới Mátx-cơ-va năm nay chúng tôi đã theo dõi tin tức biết rằng guồng máy của ông Vladimir Putin hoàn toàn là một chế độ độc tài. Không có gì cần bàn cãi về điển đó. Có thể so sánh nó với những chế độ của Franco ở Tây Ban Nha, Marcos ở Phi Luật Tân, hoặc Pinochet ở Chile trước đây. Họ tập trung quyền hành vào tay một cá nhân. Ở nước Nga, ông Putin, từng làm tổng thống 8 năm, đang làm thủ tướng, và 2 năm nữa chắc sẽ ứng cử tổng thống trở lại, có triển vọng sẽ nắm quyền ít nhất hai nhiệm kỳ tổng cộng 12 năm nữa (họ mới sửa đổi Hiến Pháp để vị tổng thống sắp tới sẽ có nhiệm kỳ 6 năm!). Ông Putin đã dùng ngôi vị tổng thống khơi lại đầu óc tự tôn dân tộc cùng tham vọng đế quốc vẫn tiềm tàng trong tâm lý dân Nga từ thời các Sa hoàng cho tới thời Stalin. Cho nên ông được dân Nga nhiệt liệt ủng hộ. Nước Nga vẫn còn bản hiến pháp dân chủ, nhưng bản chất rất độc tài! Ông Putin nắm cả các đảng “đối lập” do ông cho phép dựng lên! Lãnh tụ một đảng nhỏ “Nước Nga Công Lý” vừa mới tuyên bố sẽ quay ra đối lập với đảng cầm quyền “Toàn Nga,” nhưng lại xác định nhất định không chống ông Putin! Ðây là một thứ “đảng bỏ túi,” nói theo cụ Nguyễn Minh Cần.

Trong khi đó thì xã hội Nga mục nát thêm. Tham nhũng lại ngóc đầu dậy, con bạch tuộc mạnh mẽ, tinh vi với những cái vòi lan rộng hơn trong tất cả mọi sinh hoạt trong xã hội, tệ hại hơn cả thời cộng sản. Kinh tế thì đang trì trệ, trong tay một nhóm các nhà tư bản gốc mật vụ tụ họp chung quanh ông Putin. Họ chia nhau thu lợi nhờ khai thác các tài nguyên quốc gia. Như nhà báo Lan Hương đã sống ở Mátx-cơ-va hơn 20 năm nhận xét, đây là một nền kinh tế hoàn toàn dựa vào việc đào đất lên mà ăn! Họ tận tình khai thác các khoáng sản phong phú của nước Nga, một quốc gia có diện tích rộng nhất thế giới. Khi nào giá dầu lửa, khí đốt, giá vàng còn lên, thì dù việc sản xuất có bê trễ, kinh tế Nga còn đứng vững cho các tay tư bản quả đầu thụ hưởng!

Từ cái xác Liên Bang Xô Viết đã chết, nhiều quốc gia đã tái lập, nước nào cũng viết một bản Hiến Pháp có hình thức dân chủ. Nhưng trong số 15 quốc gia đó, chỉ có ba nước được tổ chức Freedom House đánh giá là thực sự tự do. Ðó là những quốc gia vùng biển Baltic, Estonia, Latvia và Lithuania với đời sống văn hóa cao hơn. Năm nước được coi là hơi hơi tự do. Còn bẩy nước được xếp vào loại hoàn toàn không có tự do, nói trắng ra là vẫn độc tài. Trong đó có Cộng Hòa Nga nơi các quyền tự do đạt được sau ngày 19 Tháng Tám năm 1991 đã dần dần bị tước bỏ trong 10 năm kể từ khi ông Putin lên nắm quyền. Và người dân Nga hầu như vẫn chấp nhận tin tưởng đặt số phận mình trong tay ông Putin.

Dân Nga hiện nay nghĩ sao về cuộc “Cách Mạng” 1991?

Một cuộc nghiên cứu dư luận mới hỏi 1,500 người Nga họ nghĩ gì về biến cố đó? Có 10 phần trăm nói họ không nhớ khi cuộc đảo chánh và chống đảo chánh diễn ra thì lúc đó họ ủng hộ bên nào! Bên các tướng lãnh mật vụ KGB tổ chức đảo chánh năm 1991 thì muốn xóa bỏ những cải tổ của cựu Tổng Bí Thư Gorbachev, tái lập lại một thể chế độc tài kiểu Stalin. Phe ông Yeltsin và giới trí thức Nga, trong đó có hai ông Nguyễn Minh Cần và bà Inna, thì muốn thành lập một chế độ dân chủ tự do thực sự. Cuối cùng “phe Dân Chủ đã thắng, sau ba ngày đêm xuống đường. Vì cả quân đội Nga, các sĩ quan KGB trung cấp và cả Ban Chấp Hành Trung Ương Ðảng Cộng Sản đều không ủng hộ nhóm đảo chính, với những ông tướng công an lẩm cẩm và say rượu. Ba lực lượng nắm vận mệnh Liên Xô thời đó là Ðảng Cộng Sản, KGB và Quân Ðội, không nhóm nào muốn trở lại với chế độ Stalin. Vì tất cả đã chán ngấy, họ đều biết guồng máy đó không còn sinh lực, không còn sức điều hành và phục dậy một nền kinh tế đã tê liệt sau 70 năm cộng sản nắm toàn quyền. Dân Nga năm đó đã thản nhiên chấp nhận một cuộc đổi đời! Vậy mà, 20 năm sau, 10 phần trăm người Nga không còn nhớ năm đó họ chọn thái độ nào!

Cuộc nghiên cứu dư luận cũng cho biết trong dân Nga bây giờ chỉ có 17% nghĩ rằng cuộc “cách mạng” năm 1991 là tốt, phe chống đảo chính xứng đáng thành công để đưa nước Nga vào một con đường mới. Ngược lại, cũng có 17% nghĩ rằng đáng lẽ phe đảo chính mới đáng thành công để tái lập chế độ cộng sản!

Cuối cùng, có tới 55% dân Nga bây giờ không có ý kiến nào về biến cố năm 1991. Tức là họ nghĩ nó ra sao cũng được!

Những con số vừa nêu lên chứng tỏ điều cụ Nguyễn Minh Cần phán đoán là đúng. Cuộc “Cách Mạng” năm 1991 “không mang lại ánh sang mà dân Nga mong đợi.” (Ðây là một lời phán đoán mà Boris Pasternak đã viết trong tiểu thuyết Bác Sĩ Zivago, vào thập niên 1950. Ông được tặng giải Nobel Văn Chương năm 1958 nhưng dưới áp lực của đảng Cộng Sản Liên Xô đã phải từ chối).

Trong thời cộng sản cai trị, dân Nga đã thất vọng về chế độ “chuyên chính” mà họ đã xây dựng, đã đổ máu bảo vệ, nhưng guồng máy công an mật vụ vĩ đại không cho phép ai lên tiếng. Pasternak, Soljenytsin là những tiếng nói của lương tâm, cất lên, rồi bị dập vùi. Nhưng trong số dân Nga sống ngày hôm nay, có bao nhiêu người còn nhớ những gì xẩy ra thời Stalin cho tới thời trước khi Gorbachev cải tổ?

Chế độ cộng sản có hai bộ máy bảo vệ, một guồng máy bạo lực của công an mật vụ; và một guồng máy tuyên truyền dối trá, nhồi sọ, ngu dân, che đậy, bưng bít thông tin. Họ cấm đoán không cho con người suy nghĩ tự do, tất cả dân chúng hàng ngày bị nhồi nhét vào đầu về “ánh sáng” của chủ nghĩa Marx-Lenin, về hình ảnh huy hoàng của chế độ “vô sản chuyên chính” và hình ảnh một nửa thế giới hướng về Liên Xô với lòng ngưỡng mộ!

Còn trong chế độ tự do, ngay sau năm 1991, không có một bộ máy tuyên truyền như vậy. Không có một nhóm người làm truyền thông chuyên nghiệp nào mỗi ngày ca ngợi “ánh sáng dân chủ tự do!” Chính những người lên cầm quyền nhờ cuộc cách mạng 1991 không ai muốn dùng sức mạnh công an và quân đội trong tay họ để bịt miệng những người đối lập! Vì làm như vậy là phản bội chính lý tưởng của họ!

Trong khi đó, cuộc cách mạng vì tự do đã tạo hoàn cảnh cho những kẻ hoạt đầu (cơ hội chủ nghĩa) lợi dụng lái những vận động chính trị theo chiều hướng có lợi nhất cho họ! Những cựu sĩ quan KGB cấp tá như ông Putin đã gắn bó với nhau, biến thành một lực lượng chính trị hoạt đầu, dùng óc khôn ngoan của họ để chiếm cảm tình của Yeltsin, được chính Yeltsin ủy nhiệm kế tục nắm quyền. Khi đã có quyền bính trong tay, họ lái vận mệnh nước Nga theo con đường của họ: Tập trung quyền hành, cả về chính trị lẫn kinh tế. Mị dân bằng tinh thần tự ái dân tộc, bằng quá khứ đế quốc vàng son. Và thiết lập một chế độ độc tài kiểu mới. Họ biết sử dụng cơ hội mà kinh tế thị trường cho phép để thu góp tài sản quốc gia vào trong tay phe đảng mình. Sử dụng các kỹ thuật đàn áp mà cuộc đời làm việc trong guồng máy KGB cũ đã tập luyện cho họ, trở thành những thói quen khó gột rửa!

Còn người dân Nga, tại sao họ chóng quên và dễ dãi chấp nhận chế độ mới như vậy?

Dân nước nào cũng vậy, người ta chỉ muốn được sống an thân. Dân Tây Ban Nha đã chịu đựng chế độ Franco suốt bao nhiêu năm. Dân Phi Luật Tân cũng vậy, dưới chế độ Marcos. Những người đã quen sống trong những chế độ độc tài suốt dọc lịch sử, rất khó thuyết phục họ ý thức tự do dân chủ, ngoài những nhu cầu thường nhật! Không thể bắt hàng trăm triệu người dân bình thường mỗi ngày đều ý thức một cách tỉnh táo, sáng suốt về các quyền lợi dân sự và chính trị của họ!

Lịch sử không thiếu gì những cuộc cách mạng bị phản bội. Dân Pháp vào thế kỷ 18, 19 có thể rất thán phục Montesqieux, Voltaire, Saint Just. Nhưng họ vẫn bị những “đại đế” như Napoleon lôi kéo! Người dân, tại bất cứ nước nào, đều dễ bị khích động bằng những khẩu hiệu đầy tình tự. Nhưng người ta không ai muốn sống với những lý luận trừu tượng suốt 24 giờ! Ðó cũng là một ý kiến mà Pasternak viết ra trước đây hơn 50 năm!

Posted: Thu Aug 18, 2011 4:53 am
by KýCóp

Image

Gadhafi chuẩn bị lưu vong


Nhà lãnh đạo Libya Gadhafi chuẩn bị chuyển giao lại quyền lực cho Bộ trưởng Tư pháp và rời khỏi đất nước, một hãng tin của Ảrập dẫn lời một quan chức cấp cao trong quân đội cho biết.
Theo hãng tin Albawaba, thủ lĩnh Libya đã sẵn sàng giao lại quyền lực cho Bộ trưởng Tư pháp Muhammad Alqamoda và đi lưu vong với điều kiện NATO chấm dứt ngay lập tức các hoạt động quân sự tại nước này.

Thỏa thuận được cho là đạt được vào ngày 15/8 tại Tunisia trong cuộc họp kín giữa đặc sứ của Gadhafi với Ủy ban dân tộc lâm thời - đại diện cho phe đối lập. Cuộc gặp mặt, mà phía quân nổi dậy phủ nhận này, còn có sự tham dự của đại diện Venezuela. Nước này cho biết sẵn sàng chấp nhận Gadhafi và người thân của ông.

Nguồn tin còn nói thêm một máy bay chở Gadhafi và gia đình ông tới Venezuela đã được chuẩn bị sẵn sàng tại một sân bay ở Tripoli.

Các nguồn tin khác thì nói rằng Gadhafi đang ốm và cần điều trị gấp ở ngoài Libya. Trợ tá hàng đầu của ông - Bashir Saleh - cũng đã gặp các đại diện của Anh và Pháp ở Tunisia để bàn về những cách đưa Gadhafi và gia đình ra khỏi Libya.

Cuộc nổi dậy từ giữa tháng 2 chống lại chính quyền của Gadhafi đã khiến hàng nghìn người Libya thiệt mạng. Một chiến dịch quân sự quốc tế nhằm "bảo vệ dân thường" tại Libya đã bắt đầu vào ngày 19/3 sau khi Liên Hợp Quốc đưa ra nghị quyết. Hoạt động quân sự này dự kiến kéo dài cho đến cuối tháng 9.

Song Minh

Posted: Fri Aug 19, 2011 4:17 am
by nguyenvsau
MỸ CHUYỂN TRỌNG TÂM CHIẾN LƯỢC VỀ Á CHÂU
VIỆT NAM NẰM Ở ĐẦU SÓNG NGỌN GIÓ

Phát biểu về quan điểm của chính quyền Obama, trợ lý ngoại trưởng Mỹ đặc trách về Châu Á Thái Bình Dương, ông Kurt Campbell, trong khuôn khổ cuộc ‘Đối Thoại Lãnh Đạo Mỹ - Úc’ vào cuối tuần qua, ngày 15/08/2011, tại Perth, đã nói rằng: “Một trong những thách thức quan trọng nhất của chính sách đối ngoại của Hoakỳ là phải tập trung nỗ lực thiết lập chính sách lâu dài tại Á Châu, thay vì chỉ lo đối đầu với những cản lực tại Trung Đông”. Ông giải thích: “Hoakỳ không chủ trương ‘xem nhẹ’ Trung Đông, nhưng quan điểm chiếm đa số hiện nay tại Washington là Hoakỳ quyết tâm dấn thân vào vùng châu Á”. Trong bối cảnh đó ông nói: “Hoakỳ đã tăng cường đối thoại với Trungquốc, nhưng không phải chỉ quan hệ với Bắckinh là quan trọng nhất”. Ông nhấn mạnh đến: “chiến lược củng cố hợp tác mật thiết với đồng minh chiến lược Úc, phục hồi quan hệ với Hiệp Hội Asean và các quốc gia thành viên chủ chốt của Đông Nam Á như Indonesia, Singapore và Việtnam cũng như Philippines”. Ông cũng bác bỏ ý kiến cho rằng Hoakỳ đang suy thoái. Cuối cùng ông nhận định về: “Các vụ Trungquốc uy hiếp tàu thuyền các nước trong khu vực trong đó có Nhậtbản, Việtnam, và cả tàu Mỹ”. Trợ lý ngoại trưởng, Kurt Campbell cho đây là: “Chính sách đối ngoại áp đặt quyền lực của Trungquốc không thể chối cãi, mà mọi người đều thấy Bắckinh thực hiện tại Biển Đông, cũng như tại nhiều nơi khác trên thế giới”.

Từ tổng thống, ngoại trưởng, bộ trường quốc phòng Mỹ, 2 năm trở lại đây, đã luân phiên khẳng định “Hoakỳ đã trở lại Á châu”, nay, đến trợ lý ngoại trưởng đặc trách về Đông Á và Thái Bình Dương, nhân vật trực tiếp thi hành chính sách của chánh phủ Mỹ tại khu vực đã nói rõ về: “quan điểm chiếm đa số hiện nay của Washington quyết tâm dấn thân vào vùng Á châu”. Trong khi đó Tầucộng thực hiện một cuộc tập trận lớn trên bộ, vào ngày 10/08/11, chưa biết ngày kết thúc, tại khu vực tự trị dân tôc Choang ở Quảng Tây, nằm sát biên giới Việtnam. Một số diễn đàn của Việtnam lấy tin từ các blogger Tầucộng về cuộc ‘di chuyển binh lính’ tới tỉnh Quảng Tây giáp ranh với Việtnam đã diễn ra từ hôm 04/08/11, với khối lượng binh lính khổng lồ bao gồm, pháo binh, bộ binh, xe thiết giáp thuộc nhiều quân khu. Các blogger Tầucộng nói tới ‘kế hoạch tấn công Việtnam’ vào cuối năm 2011. Thậm chí còn nói đây là lệnh của bộ trưởng quốc phòng Trungquốc, Lê Quang Liệt, thuộc trường phái cứng rắn đã ký. Ngày 11/08/11, bộ tư lệnh Biên Phòng Việcộng, trung tướng Trần Hoa, đã họp với 12 tỉnh biên giới phía Bắc nhằm thúc đẩy công tác bảo vệ chủ quyền biên giới.

Tầucộng thấy việc ‘dương oai diễu võ’ trên Biển Đông đã để cho thế giới nhìn rõ ‘bản mặt’ cậy mạnh hiếp yếu, cưỡng tình, đoạt lý, bất chấp công ước LHQ, chỉ làm lợi cho Hoakỳ danh chính, ngôn thuận trở lại Á châu, khiến cho các nước Đông Nam Á và Á châu, cùng toàn dư luận thế giới đều đứng về phía Mỹ. Ngay tên đồng chí đàn em Việtcộng vốn tỏ ra tận tụy với kế hoạch ‘tàm thực’ Việtnam của Tầu, cũng chuẩn bị quay gót chạy theo Mỹ. Cụ thể là báo chí ‘lề phải’ của Việtcộng đang rộ lên phong trào tố cáo tình trạng công nhân Tầu đang làm việc không giấy phép ở nhiều công trình do các hãng thầu Trungcộng tại Việtnam. Trương Tấn Sang tân chủ tịch nhà nước Việtcộng, khẳng định “Việtnam không chủ trương cho Trungquốc khai thác bôxít ở Tây Nguyên”. “Khi công trình xây dựng hoàn tất, công nhân Trungquốc sẽ rút về nước”. “và việc để cho lao động Trungquốc làm việc trái phép ở Việtnam là do cơ quan quản lý điạ phương lỏng lẻo trong kiểm tra và kiểm soát”. Thực tế thì điạ phương không dám đụng tới lông chân của các vị ‘con trời’ này. Vì từ tổng bí thư, đến bộ chính trị, chính phủ, trung ương đảng Việtcộng đều đã quỳ mọp dưới chân các lãnh tụ Bắckinh, luôn miệng hô lớn 16 chữ vàng, 4 tốt, thì cấp dưới kẻ nào dám dại dột kiểm tra, kiểm soát các vị ‘chúa Tầu’ nữa. Nhưng cuộc biểu tình của người dân Hànội ngày 14/08/11 vừa qua đã xuất hiện nhiều khẩu hiệu mới như: “Yêu nước là quyền thiêng liêng của mọi người Việtnam”. “Tổ quốc Việtnam là của 90 triệu người Việtnam, không riêng của bất kỳ ai, bất cứ nhóm người nào”. “Nhân dân có quyền được biết, được bàn về việc nước”. Phản đối Trungquốc đặt giàn khoan tại Biển Đông”. Đặc biệt hơn hết, đánh thẳng vào tử huyệt của kế hoạch ‘tằm ăn dâu’ của Tầucộng là đòi: “Trục xuất lao động bất hợp pháp Trungquốc - hiện đang có 1.3 triệu lao động Trungquốc tại Việtnam”. Đây mới chính là tiết lộ động trời gây kinh ngạc cho toàn dân và toàn thế giới về âm mưu ‘đồng hoá Việtnam của người Tầu’, phải do chính nội bộ Việtcộng xì ra thì người biểu tình mới biết. Đây mới chính là lý cớ Tầucộng phải động binh trên đất liền nhằm đe dọa đánh Việtnam một lần nữa.

Vây liệu Tầucộng có đánh Việtnam trong dịp này hay không? Nếu Tầucộng quyết đánh Việtnam là vi phạm Hiệp Ước Thượng Hải Mỹ-Tầu 1972, ký giữa tổng thống Mỹ, Richard Nixon và Chu Ân Lai, thủ tướng Trungquốc ngày 28/02/1972. Trong đó Trungquốc cam kết: “Tất cả các quốc gia lớn hay nhỏ phải được đối xử bình đẳng”. “Những quốc gia lớn không được gây tổn thương đau khổ cho những nước nhỏ”. Trungquốc không bao giờ là một siêu cường”. “Trungquốc chống lại quyền lực bá chủ và quyền chính trị dưới bất cứ hình thức nào”. Nay mà Tầucộng đánh Việtnam là trắng trợn gây tổn thương đau khổ cho một nước nhỏ. Tức là vi phạm hiệp ước ký với Mỹ. Chính phủ và Quốc Hội Hoakỳ không thể làm ngơ. Sở dĩ năm 1979, Đặng Tiểu Bình xua quân tràn sang biên giới Việtnam, chỉ dám tuyên bố “dậy cho Việtnam một bài học” trong vòng 1 tháng, mà trước đó họ Đặng đã phải sang Mỹ thăm dò phản ứng của chính giới Hoakỳ. Lúc bấy giờ, Việtcộng đang là đàn em của Liênxô, kẻ địch của Mỹ, nên phía Mỹ không tỏ dấu hiệu phản đối. Nay thì ngược lại ngày 05/08/11, Mỹ đã lập tức phái Tư Lệnh Hạm Đội 7, phó đô đốc Scott Van Buskirk đến thăm Hànội trong 2 ngày. Rồi cho hàng không mẫu hạm nguyên tử khổng lồ USS George Washington vào vùng lãnh hải quốc tế, ngoài khơi Việtnam. Ngày 13/08/11 mời quan chức Việtcộng lên thăm, nhằm trấn an Việtcộng trước sự hù dọa của Tầucộng. Trước đó một ngày 12/08, chiếc hàng không mẫu hạm nguyên tử khổng lồ khác, USS Ronald Reagan đã ghé thăm cảng Hồngkông, giữa lúc Tầucộng cho chạy thử chiếc hàng không mẫu hạm tân trang cuả họ. Đây là cơ hội cho mọi người có dịp so sánh, giữa 2 loại hàng không mẫu hạm của Mỹ với Tầu. Và cũng để nhắn với Tầucộng là đừng có chơi dại, đụng đầu với Mỹ trong lúc này. Nhất là đừng theo vết xe đổ của quân phiệt Nhật hồi 1941, tiến quân vào Đông Dương, rồi bị Mỹ hủy bỏ quy chế tối huệ quốc để rơi vào chiến tranh Mỹ-Nhật, đưa tới thảm bại về phía Quân Phiệt Nhật. Chắc Hồ Cẩm Đào sắp mãn nhiệm, họ Hồ chẳng dại gì đụng đầu với Mỹ, nên phó tổng thống Mỹ, Joe Biden đang có chuyến viếng thăm Trungcộng, cố tình gặp Tập Cận Bình, người kế nhiệm Hồ Cẩm Đào để xem nhân vật này có còn trung thành với Hiệp Ước Thượng Hải 1972 nữa hay không? Nhưng cho dù Tầu chống, hay hoà với Mỹ, thì Vìệtnam vẫn bị nằm ở vị thế ‘đầu sóng, ngọn gió’. Nếu Việtnam không sớm có Dân Chủ thực sự để huy động nội lực dân tộc của toàn dân, tạo thế chủ động tương tác với quốc tế, thì vẫn chỉ là quân bài thí của các thế lực quốc tế mà thôi.

LÝ ĐẠI NGUYÊN –
Little Saigon ngày 16/08/2011.

Posted: Sun Aug 21, 2011 3:23 am
by thienthanh
Một chế độ bắt mọi người ăn ớt

Ngô Nhân Dụng


Ðến Mátx-cơ-va vào buổi trưa, lúc 2 giờ chiều tôi đi tìm đến ngôi nhà cũ của Boris Pasternak nơi ông viết những ngày chót trong đời.

Ðể được nhìn những hàng cây, khu vườn, quanh ngôi nhà nơi ông đã sống, đặt chân lên mặt đất, bước trên những con đường mà ông thường đi bộ. Tôi đã xúc động và suy nghĩ về những bài thơ, về cuốn tiểu thuyết Bác Sĩ Zhivago trước đây nửa thế kỷ; và cảm thấy mang nợ ông từ thời đó. Sau khi Pasternak được trao giải Nobel năm 1958, hai dịch giả Văn Tự và Mậu Hải đã cho in bản tiếng Việt ở Sài Gòn. Bản dịch vẽ ngoài bìa hình ảnh một cánh đồng tuyết mênh mang dưới bầu trời xám nhạt và chân trời mầu tím, cũng là hình vẽ bìa cuốn sách in tiếng Ý, ấn bản đầu tiên được công bố trong thời gian đó.

Trên con đường đi bộ từ nhà ga xe lửa Peredelkino tới dacha (biệt thự miền quê) của nhà văn, trong đầu tôi chợt nhớ câu nói của một nhân vật trong Bác Sĩ Zhivago, “Con người ta sinh ra để sống, chứ không phải để chuẩn bị sống.” Ý tưởng này đã len vào đầu tôi từ nửa thế kỷ nay; càng sống và ngẫm nghĩ càng thấm thía. Hồi 20 tuổi, khi đọc tới câu đó tôi nghĩ đến những khẩu hiệu kêu gọi “xây dựng một thế giới mới,” những bài thơ ca ngợi một “ngày mai tươi sáng,” mà thế hệ cha anh cho đến thế hệ tôi đã được nghe. Chính Pasternak chắc đã cảm thấy chán ngán với những khẩu hiệu “chuẩn bị sống” như vậy trong nhiều năm, trước khi đặt bút viết.

Nhân vật Bác Sĩ Zhivago đã cảm thấy “Cuộc cách mạng không mang lại ánh sáng mà họ mong đợi.” Họ thấy loài người không thể cứ tiếp tục “chuẩn bị sống” suốt thế hệ này sang thế hệ khác. Nhất là suốt ngày cứ phải nghe máy phóng thanh đầu phố thúc giục “chuẩn bị sống,” hy sinh hôm nay cho một ngày mai càng ngày càng xa vời! Chính tâm trạng chán ngán lan trong toàn thể xã hội đã khiến người dân thờ ơ, lãnh đạm với cuộc sống thật, đưa tới cảnh trì trệ kinh tế trong chế độ Xô viết sau này.

Pasternak không phải một nhà phê bình chính trị. Ông đóng vai trò một thi sĩ. Thi sĩ sống và rung động cùng một nhịp với những xúc cảm của đồng bào chung quanh họ. Ðiều khiến các thi sĩ chán nản nhất là những lời nói được lập đi lập lại, bắt buộc phải nghe mãi sẽ thấy chúng trở thành trống rỗng. Pasternak cũng như nhân vật Zhivago thuộc thế hệ lớn lên trong cuộc cách mạng 1917 ở Nga, khi họ cảm thấy xã hội cần phải thay đổi toàn diện, tận gốc rễ. Ðó là lúc Pasternak nhìn thấy chung quanh ông, cảnh vật vô tình như những hàng cây cũng đang lên tiếng nói, những tảng đá cũng muốn biểu tình! Nhưng cuối cùng người ta cũng nhìn ra cuộc cách mạng lôi cuốn đầy những kẻ hoạt đầu trong vai trò lãnh đạo và cán bộ tuyên huấn. Họ khai thác, lợi dụng khát vọng thay đổi cuộc đời của mọi người chung quanh, để chiếm đoạt quyền hành. Rồi sau đó họ bám chặt lấy quyền bính, nhân danh lịch sử và nhân danh tương lai để chấp nhận bất cứ hành động tàn ác nào cũng làm được. Khi đã nhân danh một “chân lý duy nhất,” nhân danh tương lai của cả loài người, thì người ta không ngại gì phạm những tội ác lớn nhất. Họ phải bám lấy quyền bính, rồi biện minh quyền bính đó bằng cách lập đi lập lại những khẩu hiệu trừu tượng, cũ kỹ, sáo mòn, trống rỗng. Rồi nhét vào miệng mọi người buộc họ phải nuốt như những khẩu hiệu khô cứng đó như món ăn hàng ngày. Sống trong cảnh đó, những người biết rung động và biết suy nghĩ không thể nào chịu đựng nổi.

Trong một màn đối thoại vào lúc nước Nga đang lên cơn sốt cách mạng, sau khi chế độ vô sản chuyên chính đã thiết lập, có hai nhà trí thức Nga tranh luận với nhau. Một người lắc đầu nói: Những điều anh vừa bàn toàn là triết lý không à. Nhưng triết lý chỉ là những gia vị cho cuộc sống. Con người ta không thể sống bằng triết lý mà thôi, cũng như người ta không thể chỉ ăn ớt mà sống!

Vào những năm 1950, 60 ở Sài Gòn, lớp thanh niên chúng tôi cũng chuyền tay nhau đọc bản Tuyên ngôn Cộng sản do nhà xuất bản Thợ Thuyền ở Paris in bằng tiếng Pháp, cùng những cuốn sách mỏng ký tên Stalin, về Duy Vật Biện Chứng, về Duy Vật Lịch Sử, vân vân. Như một nhà văn Pháp sau này cảnh cáo: Chủ nghĩa Marx là một thứ ma túy của giới trí thức. Max cống hiến một cách nhìn thế giới và lịch sử như một bộ máy đồng hồ, một hệ thống sơ đẳng, máy móc. Pasternak là một thi sĩ, tiếp nối một dòng văn nghệ của nước Nga, với mối quan tâm sâu xa về ý nghĩa của lịch sử. Cả hai đều chịu ảnh hưởng tôn giáo. Pasternak thấm nhuần một cách nhìn thế giới như một hệ thống sinh học, mà có lẽ chính ông chưa bao giờ đọc về lý thuyết hệ thống.

Pasternak nhìn thế giới và lịch sử loài người như một huyền nhiệm, không thể dùng mô hình máy móc mà mô tả để hiểu được. Không có chánh kiến thì sẽ không thành cách mạng. Nhìn sai sẽ đưa tới những hành động sai lầm. Tệ nhất, là sẽ giết người, sẽ giết rất nhiều người! Pasterak viết: “Người ta không trông thấy lịch sử, cũng như không ai nhìn thấy cỏ mọc, không ai thấy rừng lá đang đổi mầu!” Khi đọc Pasternak vào những năm đầu 1960, tự nhiên chúng tôi nhận ra cuộc cách mạng vô sản là một ảo vọng, ở chính nước Nga nó đã không có thật. Và thế giới loài người không thể sống với những thứ triết lý máy móc như vậy. Nhiều người trong thế hệ chúng tôi ở miền Nam Việt Nam đã thoát khỏi ảo vọng của chủ nghĩa Marx chính là nhờ đọc Pasternak.

Những nhân vật trong cuốn Bác Sĩ Zhivago như Komarovsky và Strelnikov, mỗi người đều gây ra những khổ đau cho người khác theo cách riêng của họ. Nhưng những người này chỉ tác hại tạm thời, cá biệt. Mối họa lớn nhất gây ra tại nước Nga dưới chế độ cộng sản còn rộng lớn và sâu xa hơn, chắc chắn tác hại lâu dài hơn. Nhưng vào thời Pasternak đang viết cuốn Bác Sĩ Zhivago, ông chưa được chứng kiến những tai hại lâu dài khác mà chế độ cộng sản đã để lại, cả sau khi chính chế độ đó sụp đổ.

Một chế độ bắt mọi người dân chỉ được đọc một thứ báo, nghe một thứ đài, báo đài chỉ tuyên truyền một chiều, thì sẽ tước bỏ của mọi người một khả năng cần thiết để sống như những con người, là thói quen suy nghĩ độc lập. Một chính quyền bắt dân phải học tập căm thù, nghi ngờ, soi mói, rình mò, tố giác và sợ hãi lẫn nhau, thì sẽ phá nát nền móng của cả đạo lý lẫn nền tảng của thị trường kinh tế tự do. Một xã hội được tổ chức như một guồng máy, tất cả trông lên chờ nghe lệnh “ở trên” và chờ được “ở trên” ban phát ân huệ, thì sẽ không tập được thói quen tự lập, tự cường; mất luôn cả khả năng nhận trách nhiệm và chịu trách nhiệm về hậu quả những việc mình làm. Khi mọi sinh hoạt trong xã hội đều được chính trị hóa, những người cầm quyền không cần dùng luật pháp, cũng không cần đến đạo lý, thì nền tảng của xã hội bị phá vỡ và hủy hoại. Ðó là tình trạng Mạnh Tử gọi là “Thượng vô đạo pháp, hạ vô pháp thủ.”

Hậu quả của những tác hại đó là sau khi chế độ cộng sản sụp đổ ở nước Nga, tham nhũng đã hoành hành rộng hơn trước. Ngày xưa các công chức chỉ đi mua bóng đèn hư “cháy tóc” đem tới sở thay để lấy cái bóng đèn tốt mang về nhà. Ngày nay kinh tế đã phát triển hơn, đồ tiêu dùng nhiều hơn mà nhu cầu cũng nhiều hơn, các các quan chức cũng nhiều mánh khóe làm tiền hơn. Họ không đủ khả năng kinh doanh làm giầu, thì họ đem bán một thứ bán được, là quyền quyết định, là chữ ký, là con dấu, bằng mọi thứ mưu mẹo. Quan chức không có thói quen chịu trách nhiệm, mà cũng chưa bao giờ sống trong một hệ thống cai trị có luật lệ nào rõ ràng để căn cứ vào đó mà ấn định trách nhiệm. Tự do đối với họ có nghĩa là tự do sử dụng quyền hành để bắt chẹt người dân, bán lẻ quyền hành bắt dân phải mua. Họ chưa bao giờ được tập tành thói quen nghĩ rằng quyền hành nào cũng có giới hạn. Chính người dân cũng chưa có thói quen sống tự do, chưa có thói quen tự lo liệu những việc liên can đến cuộc sống công, bởi vì họ đã quen ỷ lại vào guồng máy bao cấp. Người ta dửng dưng, lạnh nhạt, thờ ơ với các lợi ích chung của cả xã hội, vì đã bị nghe nói dối nhiều quá. Nhiều người sợ tự do, ghét tự do, vì bị mất cảm giác lười biếng, an phận trong thời bao cấp! Cũng giống như cả một xã hội bị bắt ăn ớt mãi, đến khi được ăn cơm không biết cơm là ngon nữa!

Những tác hại của chế độ cộng sản trên đất nước Nga còn nhiều mặt phức tạp nữa. Và ở Việt Nam cũng vậy. Như một người mới nhận xét trên Blog Dân làm Báo. Ông Vũ Ðông Hà nhìn thấy “Gia tài lớn nhất để lại cho con” là “Lòng sợ hãi!” Ông viết: “Tội ác lớn nhất của một triều đại không hẳn là đốt sách, giết người hay làm cho đất nước trở nên nghèo khó, mà là làm cho cả một dân tộc trở nên hèn nhát, ích kỷ và mê muội...”

Người Việt Nam xưa kia có bổn tính sợ hãi, hèn nhát, ích kỷ và mê muội hay không? Chắc chắn là không. Tổ tiên chúng ta không mắc chứng bệnh tập thể đó. Người Nga vốn sẵn bổn tính tham nhũng và sợ hãi các tham quan hay không? Chắc không đến nỗi như thế. Pasternak nằm dưới mặt đất ở Peredelkino có thể coi là may mắn không phải chứng kiến những tác hại mà chế độ cộng sản để lại như một gia tài cho dân Nga, ngay cả sau khi chế độ đó đã sập. Các chứng hư tật xấu đã được gieo mầm trong 70 năm sống dưới chế độ độc tài toàn trị, khi được tự do có ngay cơ hội để bùng nổ. Nhưng khi đọc các bài thơ và theo dõi các nhân vật tiểu thuyết của ông, chúng ta có thể tin rằng dân tộc Nga vốn có một tâm hồn lớn. Tự do đã tạo cơ hội cho các tham quan, nhũng lại và bọn gian thương hoành hành. Nhưng tự do cũng sẽ giúp cho con người tập lối sống chịu trách nhiệm và tự gắng sức bảo vệ các quyền tự do của mình. Không phải nước nào chuyển hóa từ chế độ cộng sản sang một thể chế tự do hơn cũng biến chứng trở thành thoái hóa như nước Nga. Như Giáo Sư Nguyễn Minh Cần nêu ra làm thí dụ: “Ở các nước Ba Lan, Tiệp, họ đã dân chủ hóa thực sự, đã tập được lối sống dân chủ với tinh thần trọng pháp rất cao. Chúng ta biết, hàng chục năm trước khi bức tường Berlin đổ, giới trí thức ở Tiệp, giới công nhân ở Ba Lan đã mạnh dạn đứng lên tổ chức và tranh đấu cho các quyền tự do của họ. Chính những hoạt động đó đã gieo mầm cho một xã hội công dân, tạo nền tảng cho chế độ dân chủ tự do.”