Thời Sự, Bình Luân

thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

MỸ - TRUNG QUỐC - BIỂN ĐÔNG -

Ngay tại Bắc Kinh, Mỹ tuyên bố tiếp tục hiện diện ở Biển Đông

Image
Đô đốc Mỹ Mike Mullen phát biểu tại đại học Nhân dân Bắc Kinh, 10/07/2011

Trọng Nghĩa RFI
Ngay trong ngày đầu tiên công du Trung Quốc, tham mưu trưởng quân đội Mỹ Mike Mullen khẳng định, Hoa Kỳ kiên quyết duy trì sự hiện diện của mình tại Biển Đông, nơi đang có căng thẳng sau một loạt hành động hung hăng của Trung Quốc nhắm vào Việt Nam và Philippines.

Nếu có một tuyên bố đang được nhiều nước châu Á trông đợi, thì đó chính là tuyên bố vào hôm nay, 10/07/2011, của đô đốc Mike Mullen, tham mưu trưởng quân đội Mỹ. Phát biểu tại Bắc Kinh, nhân ngày đầu tiên trong chuyến đi thăm Trung Quốc, ông Mike Mullen khẳng định là Hoa Kỳ kiên quyết duy trì sự hiện diện của mình tại Biển Đông, nơi mà tình hình đang căng thẳng sau một loạt hành động hung hăng của Trung Quốc nhắm vào Việt Nam và Philippines.

Trong những tháng qua, Bắc Kinh đã gia tăng đáng kể các hành động nhằm áp đặt chủ quyền của họ trên Biển Đông. Nổi cộm nhất là vụ đưa tàu vào sâu trong các vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, cắt cáp tàu thăm dò dầu khí của Việt Nam, rồi đổ lỗi cho Việt Nam khai thác trái phép vùng biển của Trung Quốc.

Đối với Manila, Bắc Kinh cũng hành động tương tự. Ngoài việc cho tàu vào hù dọa tàu thăm dò dầu khí cho Philippines, họ còn bắn dọa ngư thuyền Phi, cho chuyên chở vật liệu đến xây dựng tại các khu vực mà Manila xác định thuộc chủ quyền của mình.
Trong một cuộc họp báo, đô đốc Mike Mullen trước hết đã bày tỏ thái độ quan ngại của Mỹ trước khả năng các sự cố xẩy ra gần đây dẫn đến xung đột võ trang : “Lo ngại chính của tôi, trong số nhiều mối quan ngại khác, đó là nguy cơ các sự cố gần đây châm ngòi cho một sự tính toán sai lầm, và cho một tai họa mà không ai dự đoán được”.

Đối với lãnh đạo quân đội Mỹ, Hoa Kỳ đã hiện diện lâu dài trong khu vực châu Á, vì thế, Hoa Kỳ cũng có “một trách nhiệm lâu dài”. Trong tinh thần đó, ông Mike Mullen cho biết là Mỹ đang nỗ lực “ủng hộ mạnh mẽ cách giải quyết hòa bình các tranh chấp” trong khu vực.

Cho dù nhấn mạnh đến mong muốn của Hoa Kỳ về một giải pháp hòa bình để giải quyết các tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông, đô đốc Mike Mullen vẫn khẳng định : "Mỹ sẽ không rời khỏi khu vực. Sự hiện diện lâu dài của chúng tôi trong khu vực đã rất quan trọng với các đồng minh của chúng tôi trong nhiều thập kỷ qua, và sẽ tiếp tục đóng vai trò như vậy".

Theo các nhà quan sát, tuyên bố khẳng định sự hiện diện lâu dài của Mỹ tại Biển Đông là thêm một lời đáp trả của Washington đối với một loạt những tuyên bố gần đây của Bắc Kinh, cho rằng Hoa Kỳ không được quyền can dự vào vấn đề Biển Đông, để yên cho các nước trong vùng giải quyết vấn đề trong khuôn khổ song phương.
Vấn đề là theo như nhận định của hầu hết các chuyên gia phân tích, chiến thuật đàm phán song phương do Trung Quốc chủ trương không ngoài mục tiêu “chia để trị” và dùng uy lực nước lớn để chèn ép các quốc gia nhỏ yếu hơn mình.

Trong một bài xã luận công bố hôm thứ sáu 08/07 vừa qua, nhật báo Anh ngữ China Daily của nhà nước Trung Quốc lại lên tiếng kêu gọi Hiệp Hội Đông Nam Á - ASEAN - là không nên chấp nhận cho các thế lực bên ngoài can thiệp vào tranh chấp song phương. Theo giới quan sát, đó là một lời chỉ trích nhắm vào cam kết của Mỹ là sẵn sàng giúp đỡ Philippines, cũng như quyết định cử chiến hạm đến Đà Nẵng tham gia các “hoạt động” hải quân hỗn hợp với Việt Nam từ ngày 15/07 tới đây.
Ngoài thông điệp gởi tới Trung Quốc, lẽ dĩ nhiên, tuyên bố của đô đốc Mike Mullen còn nhằm mục tiêu trấn an các nước châu Á, đang lo ngại về nguy cơ bị Hoa Kỳ bỏ rơi vì cần phải hòa hoãn với Trung Quốc.

Trong những tháng qua, quan hệ quân sự Mỹ-Trung đã hòa hoãn trở lại một cách đáng kể so với cách đây một năm, và chuyến đi thăm Trung Quốc lần này của tham mưu trưởng quân đội Mỹ là một cử chỉ nối tiếp theo chuyến công du Hoa Kỳ của tướng Trần Bỉnh Đức, tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc.

Tuy nhiên, giới phân tích cho rằng về căn bản, quan điểm của Mỹ vẫn không thay đổi so với tuyên bố cứng rắn của Ngoại trưởng Hillary Clinton tại Diễn đàn An ninh Khu vực của khối ASEAN tại Hà Nội vào năm ngoái.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Trung Quốc đòi các bên 'khôn khéo' về Biển Đông

Image
Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Phó Oánh. Ảnh: fmprc.

Bắc Kinh hôm qua yêu cầu Philippines và Việt Nam sử dụng "phương thức ngoại giao khôn khéo" để giải quyết căng thẳng ở Biển Đông, trong khi Trung Quốc đang bị chỉ trích vì ngày càng hung hăng trong các tuyên bố của mình.
"Điều quan trọng là phải giải quyết các điểm xung đột", Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc - bà Phó Oánh phát biểu trong diễn văn về "sự phát triển hòa bình của Trung Quốc và môi trường quốc tế" tại Hong Kong hôm qua.

"Cả Trung Quốc, Việt Nam và Philippines cần khôn ngoan trong các biện pháp ngoại giao để đảm bảo kìm hãm và xử lý tốt các xung khắc và chúng ta sẽ không để cho những mâu thuẫn này ảnh hưởng tới quan hệ của chúng ta".

"Các bạn có thể thấy chúng tôi đang đi theo hướng này", bà nói đồng thời thừa nhận rằng các quốc gia trong vụ tranh chấp lãnh thổ đều có luận điểm chắc chắn về các tuyên bố của mình.

Bà Phó Oánh cũng bảo vệ việc Trung Quốc tăng cường sức mạnh quân sự, trong lúc đang xuất hiện các tin tức về việc Trung Quốc chế tạo tàu sân bay hoàn toàn nội địa.

"Sự phát triển quốc phòng của Trung Quốc đi liền với sự phát triển của quốc gia", AFP dẫn lời bà Phó Oánh nói. "Quân đội Trung Quốc vẫn còn yếu kém, chưa phải là mạnh mẽ nhất. Lời cảnh báo về sự phát triển quốc phòng của Trung Quốc là hơi bị thổi phồng".

Tháng 6, quan chức quân sự hàng đầu Trung Quốc lần đầu tiên thừa nhận Bắc Kinh đang xây dựng một tàu sân bay lớn.

Việt Nam và Philippines trong thời gian gần đây tố cáo Trung Quốc có hành vi hung hăng trong tuyên bố chủ quyền ở biển Đông.

Cuối tháng 5, tàu hải giám Trung Quốc đã cắt cáp thăm dò của một tàu khảo sát đang hoạt động bình thường trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Đầu tháng 6, tàu cá Trung Quốc lại vào thềm lục địa Việt Nam quấy phá hoạt động của tàu thăm dò.

Tổng thống Philippines Benigno Aquino cũng buộc tội Trung Quốc gây ra ít nhất 7 vụ khiêu khích, trong đó có một trường hợp tàu của Trung Quốc bắn vào các ngư dân Philippines.

Phản ứng lại, Trung Quốc khẳng định muốn giải quyết tranh chấp trong hòa bình nhưng vẫn cứng rắn tuyên bố chủ quyền với hầu hết vùng Biển Đông, kể cả những vùng nước trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines.

Song Minh
caolynh
Posts: 317
Joined: Wed Dec 17, 2008 7:21 pm
Contact:

Post by caolynh »

Đô đốc Mỹ thử máy bay Trung Quốc

Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ Mike Mullen có một loạt các hoạt động tham quan năng lực quân sự Trung Quốc,
trong đó có việc ngồi vào buồng lái của chiến đấu cơ Su-27.
Đô đốc Mile Mullen tới thăm một căn cứ không quân tại tỉnh Sơn Đông, phía đông Trung Quốc, và được chứng kiến màn biểu diễn của các chiến đấu cơ nước chủ nhà. Cùng theo dõi với vị đô đốc 64 tuổi là nhiều nhà báo nước ngoài vốn rất hiếm khi được phép vào các căn cứ không quân của Trung Quốc, đài phát thanh NPR của Mỹ cho hay.
Image
Đô đốc Mullen ngồi vào buồng lái của một chiếc Su-27. Ảnh: AP

Đô đốc Mullen trực tiếp thị sát một chiếc chiến đấu cơ Su-27 tại căn cứ nói trên. Ông thoải mái ngồi vào buồng lái và trò chuyện với các phi công Trung Quốc một cách khá thân mật. Su-27, tên đầy đủ là Sukhoi Su-27, là loại máy bay chiến đấu hai động cơ do Nga sản xuất. Trung Quốc hiện sử dụng khoảng 70 chiếc Su-27 gồm các phiên bản khác nhau.

Ngoài chuyến ghé thăm căn cứ không quân Sơn Đông, ông Mullen còn theo dõi một cuộc tập trận chống khủng bố tại trung tâm chỉ huy chiến trường tại thành phố Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang. Kịch bản của cuộc diễn tập bao gồm nội dung các tên khủng bố chống chính phủ kiểm soát một trường tiểu học và một ngôi đền.

Động thái công khai phần nào các hoạt động quân sự vốn trước đây được coi là bí mật nằm trong diễn biến hàn gắn giữa Trung Quốc và Mỹ, sau khi Bắc Kinh cắt đứt quan hệ quân sự với Washington vì thương vụ bán vũ khí có liên quan tới Đài Loan hồi năm ngoái.

Đáp lại sự cởi mở hơn từ phía Trung Quốc, đô đốc Mỹ Mullen dành sự tán tụng cho cường quốc châu Á. "Trung Quốc không phải là một cường quốc đang lên, bởi họ thực sự đã là một cường quốc của thế giới", ông Mullen nói.

Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ bắt đầu chuyến thăm 4 ngày tới Trung Quốc từ hôm 10/7, trong một động thái được coi là nhằm xoa dịu căng thẳng giữa hai nước trong thời gian qua. Điểm đến tiếp theo của ông Mullen trong chuyến công du châu Á trước khi rời nhiệm sở vào tháng 9 sẽ là Hàn Quốc.

Phan Lê
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Phải độc lập về tư tưởng

Ngô Nhân Dụng

Ông Ðới Bỉnh Quốc, ủy viên phụ trách về đối ngoại trong Thường Vụ Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Trung Quốc có lần viết rằng nước ông không bao giờ có chính sách xâm chiếm các nước khác.

Ðọc xong ai cũng phải bật cười. Không riêng gì người Việt Nam mà người Tây Tạng, người Uyghur, người Cao Ly (Hàn Quốc), người Mông Cổ, Mãn Châu và Ðài Loan, nếu học sử đều biết đất nước họ đã từng bị người Hán tấn công, chiếm đóng, khai thác, bóc lột rất nhiều lần. Thời gian mà nhà Ðường chiếm nước ta, đặt tên là An Nam thì họ cũng gọi tên Hàn Quốc là An Ðông. Trong các nhóm người này, hiện giờ chỉ còn những dân tộc Việt và Hàn còn đứng riêng chưa bị nuốt vào trong bụng Trung Quốc.

Cái tên Trung Quốc được dùng từ thời nhà Chu, trong sách Mạnh Tử ông nhiều lần nói đến tên này; mà trong thời Chiến Quốc ông sống thì những vùng phía Nam Trường Giang (thường gọi là sông Dương Tử) vẫn chưa thuộc Trung Quốc. Cái tên này chỉ là một danh từ địa lý chứ không phải tên một quốc gia; cho tới khi Tôn Trung Sơn lập Trung Hoa Dân Quốc nó mới thông dụng. Trước đó, để gọi tên nước Trung Hoa người ta chỉ dùng tên của các triều đại, gọi là nước Hán, nước Ðường, nước Tống, vân vân. Ông Tôn Trung Sơn người Quảng Ðông, thời xưa không thuộc vùng đất gọi là Trung Quốc. Nhưng người Tây Tạng, người Mông Cổ ngày nay không ai muốn bị gọi là người Trung Quốc.

Người Uyghur không may mắn như vậy. Họ vốn là một dân tộc hùng cường và văn minh, thuộc giống Turk. Họ cũng dũng mãnh như người Mông Cổ, đã từng làm chủ soái các bộ lạc du mục khác ở phía Bắc nước Tầu. Ðời Ðường gọi họ là Hồi Hột nhưng bị họ phản đối, đổi thành Hồi Cốt, đời Nguyên gọi là Duy Ngô Nhĩ, cho tới bây giờ. Họ đã đặt ra chữ viết riêng trước các bộ lạc du mục khác. Khi Thành Cát Tư Hãn đặt ra những đạo luật đầu tiên cho cả đế quốc Mông Cổ, ông đã phải dùng chữ Uyghur để ghi chép. Ðời Nguyên Thế Tổ, ông nhờ các vị lạt ma thông thái đặt ra một lối viết riêng, thống nhất ngôn ngữ Mông Cổ. Nhưng ngày nay, người Uyghur chịu thân phận làm một giống dân thiểu số trong tỉnh Tân Cương, lâu lâu lại nổi lên chống chính sách đồng hóa của Cộng Sản Trung Quốc và bị đàn áp tàn nhẫn.

Hai dân tộc rất dũng mãnh ở Mãn Châu và Mông Cổ đã từng xâm chiếm và thống trị nước Tầu một cách tàn bạo, nhà Nguyên kéo dài cả trăm năm, nhà Thanh gần bốn trăm năm. Hai triều đại đó đã góp công mở mang ảnh hưởng của Trung Quốc, nhà Nguyên chiếm thêm Ðại Lý và suýt nữa thì chiếm cả Việt Nam; nhà Thanh thì chiếm lấy Tây Tạng, xóa bỏ bản hiệp ước mà vua nhà Ðường công nhận Tây Tạng độc lập vào thế kỷ thứ 8. Người Mông Cổ đã chinh phục một vùng rộng lớn, kéo dài từ Cao Ly, bán đảo Sơn Ðông, qua các nước Hồi Giáo ở Trung Á, cho tới sông Volga, Kiev (Ukraina bây giờ), tới tận Hungary, Ba Lan, về phía Nam tiến xuống tới Syria, trước khi diệt nhà Tống chiếm nước Tầu. Khi Kublai, thường gọi là Nguyên Thế Tổ, chuyển kinh đô của ông từ Karakurum về Bắc Kinh vì thế lực của ông ở cố đô không mạnh bằng người anh họ, ông ta đã mở đầu một quá trình tự đồng hóa, biến người Mông Cổ thành người Trung Quốc, mặc dù trong triều đình ông chỉ dùng các vị thượng thư gốc Mông Cổ, hoặc người Tây Tạng, Uyghur, Á Rập, Thổ, tuyệt nhiên không dùng người Trung Hoa. Người Mông Cổ còn may mắn giữ được một mảnh đất ngoài xa, đất đai khí hậu người Trung Hoa không chịu nổi, bây giờ mang tên nước Mông Cổ. Còn người Mãn Châu thì hoàn toàn bị đồng hóa.

Trung Quốc không phải là một dân tộc. Trên căn bản, đó là một đế quốc, bao gồm rất nhiều dân tộc. Mỗi lần uy quyền trung ương tan rã, các mảnh đất thuộc Trung Quốc hoặc bị các đế quốc khác chiếm, hoặc tự tuyên bố lập thành quốc gia riêng. Vì không có ý thức dân tộc, ít nhất cho tới thời Dân Quốc, người dân Trung Hoa có thể chịu sống dưới các chính quyền ngoại quốc, như những thời Nam Bắc Triều kéo dài nhiều thế kỷ mà miền Bắc do các giống dân từ phương Bắc kéo xuống cai trị, hoặc thuộc vào nước Liêu (từ Mãn Châu), nước Kim, đế quốc Mông Cổ, hoặc triều đình Mãn Thanh,vân vân.

Ngay bây giờ, nhiều người dân ở Quảng Ðông vẫn nuôi lòng hoài cổ, muốn nghiên cứu để xác nhận và phục hồi một nền văn hóa Nam Việt, nhất là sau khi người ta tìm ra ngôi mộ của vị vua nước Nam Việt thấy cái ấn tín viết Văn Ðế Hành Tỷ. Tức là ông vua, cháu nội Triệu Ðà, vẫn tự xưng mình là Ðế, mặc dù trong sử Tầu viết rằng ông đã chịu thần phục hoàng đế nhà Hán, chịu nhận chỉ phong Vương mà thôi. Trong ngôi mộ này, ngoài cái triện đó người ta không thấy chữ Hán, các hình trang trí cũng khác hẳn lối người Hán ở phương Bắc. Tới thế kỷ thứ 10, người Quảng Ðông vẫn lập ra một nước riêng, gọi là Nam Hán, đã từng nuôi mộng độc lập. Tỉnh Vân Nam cho tới thế kỷ thứ 12 vẫn là một quốc gia độc lập, trước gọi là Nam Chiếu, sau họ Ðoàn đổi tên là Ðại Lý; cho tới khi Kublai, một cháu nội của Thành Cát Tư Hãn sai quân Mông Cổ đánh chiếm và đặt quan cai trị. Chưa đầy một ngàn năm, bây giờ thì những người dân Quảng Ðông, Quảng Tây và Vân Nam tự nhận họ là người Trung Quốc mà không thắc mắc gì cả.

Chúng ta phải tự hỏi tại sao đế quốc Mông Cổ đã từng hùng mạnh và rộng lớn như vậy mà lại tàn tạ sau một trăm năm, còn đế quốc Trung Hoa tồn tại cho tới bây giờ? Nền tảng tồn tại của đế quốc đó chính là nền văn minh Trung Hoa. Cũng vậy, đế quốc Hồi Giáo thành hình từ thế kỷ thứ 7, mặc dù bây giờ đã tan rã nhưng vẫn còn để lại một nền văn minh Hồi Giáo kéo dài từ Bắc Phi sang tới Indonesia. Văn minh Hồi Giáo dựa trên một tín ngưỡng. Văn minh Trung Hoa dựa trên cách tổ chức xã hội, gồm một nền luân lý (Khổng Giáo) và một chế độ chính trị tập quyền do Tần Thủy Hoàng thiết lập. Từ đời Hán, tuy các triều đại vẫn bài xích Tần Thủy Hoàng nhưng trong thực tế họ vẫn sử dụng các thuật trị quốc của Pháp Gia (Nội Nho, Ngoại Pháp, hoặc nói ngược lại cũng được!) Ðế quốc Mông Cổ chấp nhận tất cả các tôn giáo. Ðạo luật của Thành Cát Tư Hãn lập ra cho một xã hội du mục, không đủ để duy trì trật tự trong đám dân định cư, phương tiện giao thông thô sơ không đủ để nối liền những vùng đất kéo dài từ Âu sang Á. Ðến đời các cháu nội của Thành Cát Tư Hãn thì đã có một người cải theo đạo Hồi và liên kết với đạo quân Ai Cập chống lại anh em mình, một người khác tự biến thành người Trung Hoa để sử dụng phương pháp cai trị của họ! Cuối cùng, một đế quốc hùng mạnh như Mông Cổ mà biến mất chỉ vì đã tự đồng hóa trước một nền văn minh vững chắc!

Sống hơn hai ngàn năm bên cạnh một nước lớn với lịch sử bành trướng dữ tợn như Trung Quốc, dân tộc Việt Nam (cũng như dân Cao Ly) vẫn còn tồn tại, đó là một hiện tượng lạ, đáng ngạc nhiên. Người Việt Nam có thể tự hào, họ là những người học trò của văn minh Trung Hoa, nhưng vẫn giữ được bản sắc văn hóa dân tộc mình. Trong đó, quan trọng nhất là những đặc tính phóng khoáng, trọng cá nhân và tôn trọng quyền bình đẳng của phụ nữ, những đặc tính văn hóa của các dân tộc phát xuất từ các đảo phía Nam. Người Việt Nam tồn tại cũng nhờ giữ được tiếng nói riêng, với văn phạm khác tiếng Tầu, và xã hội Việt Nam dựa trên làng xã khác với bên Tầu dựa trên các gia tộc.

Trong lịch sử, các vị vua Việt Nam thường chịu thần phục vua Tầu, nghĩa là tự nhận là phận dưới, không dám tranh giành ngôi vị (danh xưng hoàng đế) với các ông vua Tầu ở Biện Kinh hoặc Nam Kinh (đời Tống) hay Bắc Kinh (đời Nguyên). Nhưng ngoài những việc cống tiến giống như các nước nhỏ khác ở chung quanh nước Tầu, vua nước Nam vẫn không chịu khuất phục. Người Mông Cồ thường bắt vua các nước nhỏ trong đế quốc của họ phải tới triều bái hoàng đế nhà Nguyên, nhưng các vị vua nhà Trần đã từ chối. Có lúc Trần Nhân Tôn ngỏ ý muốn chấp nhận điều kiện đó để dân chúng khỏi bị họa binh đao, nhưng các vị tướng như Trần Hưng Ðạo đã phản đối, với câu nói nổi tiếng: Xin chém đầu tôi trước đã! Cuối cùng nhà Nguyên cũng phải thôi. Cùng thời gian đó, vua Miến Ðiện cũng từ chối không gửi con sang Bắc Kinh, và nước họ cũng bị xâm lăng ba lần đẫm máu, như nước ta.

Mặc dù ông Ðới Bỉnh Quốc ba hoa nói nước ông không nuôi tham vọng bá chủ bao giờ, hiện nay Trung Quốc đang chèn ép nước Việt Nam một cách có tính toán. Họ coi cả vùng Biển Ðông của nước ta là ao nhà của họ, cho tầu hải giám, ngư chính đi giám sát, tuần tiễu giống như cho cảnh sát đi tuần trên đường phố của nước Việt Nam!

Người Việt Nam chắc chắn không chịu cảnh làm nô lệ. Trung Quốc vin vào lá thư của ông Phạm Văn Ðồng gửi ông Chu Ân Lai năm 1958 để coi các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về họ, kể cả các vùng biển chung quanh! Ðối với bất cứ nước nhỏ nào ở bên cạnh Trung Quốc, chỉ đợi chính quyền nước đó theo đuổi những chính sách sai lầm là người Trung Quốc nhân dịp đè nén. Mối sai lầm lớn nhất là từ khi đảng Cộng Sản Việt Nam chấp nhận “tư tưởng Mao Trạch Ðông” làm đường lối chỉ đạo quốc gia, rồi sau đó thi hành các chính sách giống hệt như Cộng Sản Trung Quốc, từ chỉnh huấn đến cải cách ruộng đất, cho tới cả chế độ lao cải; rồi sau lại tính đem chủ nghĩa cộng sản với tư tưởng Mao Trạch Ðông bành trướng trong khắp vùng Ðông Nam Á. Trong các thứ nô lệ, không gì nguy hiểm bằng nô lệ tư tưởng. Nếu người cầm quyền ở nước ta còn tiếp tục bắt chước “mô hình Trung Quốc” trong việc phát triển quốc gia, thì tình trạng nô lệ về tư tưởng sẽ còn trầm trọng hơn nữa.

Muốn giữ nền độc lập, trước hết phải độc lập về tư tưởng. Trên thế giới hiện nay, mô thức phát triển có hiệu quả và mang lại hạnh phúc cao nhất cho người dân là lối tổ chức xã hội theo các quy tắc dân chủ tự do, về kinh tế cũng như chính trị. Ðối với người Việt Nam, đi theo con đường đó không những là tìm con đường phát triển hữu hiệu nhất mà còn là con đường duy nhất để bảo vệ độc lập dân tộc đối với nước láng giềng phía Bắc.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Mục ruỗng từ bên trong

Ngô Nhân Dụng

Bạn Paolo Nguyễn kể chuyện đi biểu tình chống quân Trung Quốc đè nén dân Việt Nam, bị bắt vào bót nghe anh công an khuyên can bằng những lời quen thuộc: “Ai cũng yêu nước, ai cũng bức xúc nhưng cứ yên tâm, có đảng lo rồi...!”

Một bà công an tên Oanh lại nhắc: “Mọi chuyện có nhà nước lo rồi, bọn em đừng làm mọi chuyện rối lên!”

Nhưng, chính cái đảng và nhà nước đó thực sự lại đang rối lên, rối đến nỗi phải la lên báo động với nhau! Tờ báo Quân Ðội Nhân Dân vừa mới cảnh giác các đảng viên cộng sản phải cùng nhau chống lại tình trạng “chế độ tự mục ruỗng từ bên trong;” và báo động là cảnh “mục ruỗng từ bên trong” đó sẽ “dẫn tới... sụp đổ.”

Ðể cho lời cảnh cáo này có trọng lượng, báo Quân Ðội Nhân Dân đã dẫn chứng cảnh sụp đổ của những chế độ độc tài trong 20 năm gần đây. Bắt đầu là những cuộc cách mạng “xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Ðảng Cộng Sản, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Ðông Âu bằng diễn biến hòa bình.” Những người bình thường và tỉnh táo ở khắp thế giới kể cả ở Việt Nam, khi nhắc đến các cuộc đổi đời trên thì hoan hỉ, mừng rỡ cho người dân các nước Nga và Ðông Âu, trong đó có cả các đảng viên cộng sản, được thoát cái họa độc tài và chậm tiến. Nhưng tờ báo Quân Ðội Nhân Dân thì ngược lại, lấy đó làm một dấu hiệu cần báo động!

Sau các biến cố ở Ðông Âu, báo Quân Ðội Nhân Dân nhấn mạnh đến các cuộc cách mạng ở các nước cũ thuộc Liên Xô: “...cuộc 'cách mạng đường phố' ở Nam Tư, 'cách mạng hoa hồng' ở Gru-di-a năm 2003, 'cách mạng cam' ở U-crai-na năm 2004, 'cách mạng tuy-líp vàng' ở Cư-rơ-gư-xtan năm 2005,...” rồi tiếp theo là những cuộc cách mạng hoa nhài ở Bắc Phi và Trung Ðông. Nhắc lại những cuộc cách mạng đó để làm gì? Chỉ cốt để hô hào các đảng viên cộng sản phải lo bảo vệ chế độ, đề phòng, chống lại cách mạng! Bao nhiêu năm đảng Cộng Sản vẫn lấy chiêu bài “Cách mạng” để mị dân, nhân danh hai chữ “Cách mạng” bắt mọi người hy sinh xương máu dựng lên một chế độ độc tài chuyên chế, rồi bảo vệ chế độ đó. Bây giờ chính cái đảng này đang hô hào đảng viên cùng đứng lên... phản cách mạng!

Mục tiêu của bài văn hô hào trên tờ Quân Ðội Nhân Dân là chống lại “các thế lực thù địch.” Các thế lực thù địch đó là ai, nó ở đâu? Họ lung túng, ấp úng như miệng ngậm hột thị, không cách nào kể ra được. Có lúc họ nói đến những “nước ngoài” khuyến khích các cuộc cách mạng ở những nước cựu cộng sản, hoặc thúc đẩy các cuộc cách mạng hoa nhài. Nhưng họ không dám công khai gọi tên đó là những nước nào cả, mà cũng không giải thích được là việc khuyến khích các cuộc cách mạng đó có ích lợi gì cho những “nước ngoài” đó hay là chỉ người dân các nước làm cách mạng đó được ích lợi. Một sự thật mà báo Quân Ðội Nhân Dân không dám nói ra, là chính người dân các nước trên, từ Ðông Âu đến Bắc Phi, đã đứng lên làm cách mạng lật đổ các chế độ độc tài, và họ đang sung sướng xây dựng chế độ tự do dân chủ cho mọi người dân cùng hưởng! Nói lăng nói nhăng như vậy chứng tỏ người viết bài trên tờ báo khinh thường trình độ hiểu biết của tất cả các độc giả, đặc biệt là các đảng viên cộng sản, đối tượng chính của họ!

Khinh thường độc giả, khinh thường các đảng viên cộng sản khác, cho nên tác giả bài báo trên Quân Ðội Nhân Dân mới đưa ra một lối lý luận rất lẩn quẩn khi giải thích tại sao có tình trạng “tự mục ruỗng từ bên trong” mà họ còn gọi tên là “tự diễn biến,” “tự chuyển hóa.”

Hình ảnh “tự mục ruỗng từ bên trong” được tờ báo thuật lại, bao gồm tình trạng tham ô, tham nhũng, lối sống vô đạo đức của các cán bộ, đảng viên có chức có quyền, không cần nói ai cũng biết. Hậu quả của tình trạng chế độ tự mục ruỗng từ bên trong là không còn ai tin nữa. Nhưng nguyên nhân nào đã khiến cho chế độ “tự mục ruỗng” từ bên trong?

Ðối với những người bình thường và tỉnh táo, với cái đầu không đến nỗi ngu si thái quá, thì ai cũng biết tình trạng mục ruỗng đó là do chế độ độc tài chuyên chế. Khi một đảng nắm độc quyền cai trị hàng nửa thế kỷ mà không chấp nhận một định chế nào có khả năng cân bằng và kiểm soát, quyền hành của các cán bộ. quan chức không bị luật lệ nào ràng buộc và giới hạn, thì tham ô, nhũng lạm là hệ quả tất nhiên. Nhưng theo báo Quân Ðội Nhân Dân thì khác. Giống như bạn Paolo Nguyễn nghe các ông bà công an nói, báo Quân Ðội Nhân Dân cũng lập lại “những lời quen thuộc” lại đổ tội cho “thế lực thù địch!” Tờ báo này viết “các thế lực thù địch đặc biệt quan tâm” làm công việc gọi là “tự diễn biến,” “tự chuyển hóa” đó. Vì tình trạng này “phù hợp với hướng tác động trong chiến lược ‘diễn biến hòa bình’ của các thế lực thù địch!” Chính các thế lực thù địch... “gia tăng các hoạt động tác động, chuyển hóa, làm cho chế độ ‘tự mục ruỗng’ từ bên trong, dẫn tới chệch hướng và sụp đổ!”

Người Việt Nam mình gọi lối nói đó là lý luận cù nhầy! Cứ hỏi các ông Huỳnh Ngọc Sỹ, Bùi Tiến Dũng, Sầm Ðức Xương, Nguyễn Trường Tô xem họ đã “tự diễn biến,” “tự chuyển hóa” tự “diễn biến hòa bình” theo lời xúi giục của các thế lực thù địch ngoại quốc nào? Ðổ tội cho người ngoài để chạy tội cho mình, để lừa dối dân, gạt gẫm các đảng viên, đó vẫn là đường lối quen thuộc của đảng Cộng Sản từ thế kỷ trước cho tới bây giờ.

Nhưng tại sao người ta đem đem những lý luận cù nhầy, những lời lẽ lăng nhăng đó ra đăng trên báo Quân Ðội Nhân Dân vào lúc này?

Lý do chính là có những người trong đảng Cộng Sản Việt Nam đang lo sợ cuống cuồng, muốn ngăn chặn những phong trào tự phát trong giới trí thức và người dân Việt Nam đòi các quyền dân chủ tự do.

Những cuộc biểu tình chống Trung Quốc hống hách và đè nén người Việt Nam từ một tháng qua đang chuyển hóa, dần dần biến thành một phong trào đòi tự do dân chủ. Nhân danh quyền được tự do tập hợp và bày tỏ ý kiến trước các hành động xâm lược của Trung Quốc, các nhà trí thức và thanh niên nước ta đang thẳng thắn đòi các quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do bầu cử và ứng cử. Ðây là cảnh tượng đã diễn ra hàng chục năm trước những cuộc cách mạng ở Ðông Âu, đã diễn ra ở các nước Bắc Phi và Trung Ðông bây giờ.

Báo Quân Ðội Nhân Dân phân tích các phong trào đòi dân chủ đó để báo động những người thủ cựu trong đảng Cộng Sản hãy rút ra bài học ở Ðông Âu và Bắc Phi: “Các thế lực thù địch đặc biệt chú ý thúc đẩy sự hình thành và công khai hóa các tổ chức chính trị đối lập... Thông qua các tổ chức đối lập, các thế lực thù địch tập hợp quần chúng, tiến tới tạo dựng ‘ngọn cờ’ và lực lượng đối lập trong xã hội, làm nòng cốt để tiến hành ‘cách mạng đường phố,’ nhằm thay đổi thể chế chính trị.” Người đọc lại tự hỏi “các thế lực thù địch” đó là ai mà tác động được hàng triệu người dân tay trắng ở Ðông Âu và Bắc Phi, Trung Ðông đứng lên làm cách mạng đường phố? Ðó chính là những người dân thức tỉnh, những nhà trí thức có lương tâm, họ không cam chịu sống mãi trong kiếp nô lệ, hèn yếu và chậm tiến, họ không cam chịu bị mất quyền sống xứng đáng với phẩm giá con người!

Nhưng hiện nay, mối lo của đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn chưa phải là một phong trào đòi tự do dân chủ bùng lên. Hai mối lo chính của họ là sức ép của Trung Quốc từ trên xuống và lòng yêu nước sôi sục của người dân đẩy từ dưới lên. Guồng máy công an của đảng vẫn còn hiệu quả trong việc đàn áp dân, nhưng vô giá trị khi cần đối phó với các đồng chí Trung Quốc. Cho nên, trong hai mối lo kể trên, những người thủ cựu trong đảng Cộng Sản chủ trương trước hết phải làm yên một mối lo dễ đối phó hơn, đó là dân. Nếu dân Việt Nam chịu ngậm miệng không lên tiếng phản đối Trung Quốc nữa, thì đảng Cộng Sản Việt Nam sẽ dễ ăn dễ nói với các đồng chí cộng sản đàn anh Trung Quốc!

Nhưng đàn áp dân không dễ. Phải làm sao giải thích được việc đàn áp đó không phải là bênh vực các đồng chí Trung Quốc, bảo vệ các đồng chí Trung Quốc? Bài trên báo Quân Ðội Nhân Dân đã hiến kế: Ðổ tội cho các “thế lực thù địch” muốn “diễn biến hòa bình;” các thế lực thù địch muốn “tập hợp quần chúng, tiến tới tạo dựng ngọn cờ đối lập” trong xã hội và thay đổi chế độ!

Ðăng bài này trên báo Quân Ðội Nhân Dân là tiếng kèn thúc đẩy những người cầm đầu đảng Cộng Sản Việt Nam phải ra tay hành động, phải đàn áp mạnh mẽ các cuộc biểu tình chống Trung Quốc! Bài báo trên tờ Quân Ðội Nhân Dân nhấn mạnh: Cần nhận thức và ứng xử đúng đắn đối với việc hình thành các tổ chức “độc lập,” kiên quyết không để các thế lực thù địch lợi dụng để tác động chuyển hóa! Nói như vậy là giúp đảng Cộng Sản sẵn một cách giải thích: Cấm biểu tình tức là chống diễn biến hòa bình, chứ không phải là bênh Trung Quốc! Có thể coi đây là một thủ đoạn do các đồng chí Trung Quốc mach kế, muốn đảng Cộng Sản Việt Nam phải cấm người Việt Nam đi biểu tình trong những ngày tháng tới.

Người Trung Quốc rất khôn ngoan. Khi một tờ báo chính thức của đảng Cộng Sản nhân danh sự tồn tại của chế độ mà đòi hành động, các lãnh tụ đảng sẽ khó lòng từ chối lý luận này. Họ sẽ phải đàn áp dân để chấm dứt các cuộc biểu tình. Còn tình trạng mục ruỗng từ bên trong thì sao? Nói theo kiểu các ông bà công an: Cứ để đó, từ từ đảng sẽ lo, dân Việt Nam cứ ngoan ngoãn nhắm mắt và ngậm miệng!

Bây giờ nước Việt Nam chỉ còn trông cậy vào những người như Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Diện, như Anh Ba Sàm, như anh bạn trẻ Paolo Nguyễn. Tin tưởng vào mục tiêu hành động của mình. Tổ tiên đang nhìn xuống các bạn. Tương lai con cháu nằm trong tay các bạn! “Ðứng vững không khuỵu chân - trên mảnh đất nghèo khổ,” như câu thơ Thanh Tâm Tuyền viết trong nhà tù 30 năm trước đây.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Xem phụ nữ Hà Nội biểu tình bị bắt lên xe Bus
nhưng vẩn chưởi CA và cho bọn nầy 1 bài học "yêu nước.
Chuyển để quí bạn xem

Bị bắt áp giải trên xe tiếp tục biểu tình ngày 17/7/2011 (Hà Nội)



Xem phụ nữ Hà Nội biểu tình bị bắt lên xe Bus nhưng vẩn chưởi CA và cho bọn nầy 1 bài học "yêu nước.

Hay quá ACE ơi.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Cựu Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ qua đời ở Malaysia
RFA 22.07.2011

Cựu Phó tổng thống Việt Nam Cộng Hòa, ông Nguyễn Cao Kỳ đã qua đời tại một bệnh viện ở Malaysia, vì bệnh phổi.

Image
RFA file photoCựu Phó Tổng thống VNCH Nguyễn Cao Kỳ trong chuyến về thăm Việt Nam tháng 1-2005.

Nguồn tin thân cận với gia đình cựu Tưởng Nguyễn Cao Kỳ cho biết ông từ trần vào khoảng 1 giờ sáng thứ Bảy ngày 23 tháng 7-2011, theo giờ Việt Nam.Tin cho hay, cô Nguyễn Cao Kỳ Duyên, con gái ông Nguyễn Cao Kỳ, đang trên đường sang Malaysia mang thi hài thân phụ về Việt Nam an táng.

Ông Nguyễn Cao Kỳ sinh năm 1930 tại Sơn Tây, nhập ngũ và qua khóa huấn luyện sĩ quan quân đội quốc gia Việt Nam ở khóa Nam Định năm 1952, rồi được tuyển đưa đi học phi công ở Marrakech, Morocco, cho tới năm 1954.

Trong Không quân Việt Nam Cộng Hòa, ông tiến nhanh từ chức vụ phi đoàn trưởng vận tải lên tới chỉ huy trưởng căn cứ không quân Tân Sơn Nhất.

Ông được qua Hoa Kỳ một thời gian để theo học trường chỉ huy tham mưu không quân ở Alabama và khi trở về nước đã thăng cấp mau chóng cùng với nhu cầu phát triển của không quân Việt Nam Cộng Hòa.

Năm 1963 ông tham gia cuộc đảo chính Tổng thống Ngô Đình Diệm và sau đó được thăng cấp Thiếu tướng, giữ chức vụ Tư lệnh Không quân.

Tướng Kỳ nổi bật ở giai đoạn 1964-1965 vì tính cách độc lập của ông và vai trò của không quân trong sự tranh chấp giữa các tướng lãnh đưa tới những cuộc đảo chính liên tiếp.

Giữa năm 1965 khi chính phủ dân sự trao quyền lực cho quân đội, tướng Nguyễn Cao Kỳ làm Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương, tương đương Thủ tướng.

Năm 1967, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ đắc cử Phó Tổng thống trong liên danh tướng Nguyễn Văn Thiệu và phục vụ tới năm 1971.

Năm 1975 khi quân đội miền Bắc tiến chiếm miền Nam, tướng Nguyễn Cao Kỳ rời khỏi Sài Gòn trước giờ chót bằng trực thăng ra tàu USS Blue Ridge của hạm đội 7 Hoa Kỳ ngoài khơi Vũng Tàu.

Những năm đầu lưu vong tại Mỹ ông Kỳ định cư ở thành phố Westminster, tiểu bang California.

Đến năm 2004 ông trở về thăm Việt Nam, và cổ vũ cho các công ty Mỹ vào làm ăn ở Việt Nam.

Từ năm 2005 ông Nguyễn Cao Kỳ chính thức trở về sống tại Việt Nam và chỉ trở lại Hoa Kỳ từng thời gian.

Ông Kỳ có ba người vợ. Vợ thứ nhất của ông là một phụ nữ Pháp ông lấy trong thời gian được huấn luyện phi công ở Bắc Phi. Sau cuộc đảo chính năm 1963 ông kết hôn với một nữ tiếp viên Air Vietnam, bà Đặng Tuyết Mai. Người vợ thứ ba là bà Lê Kim, sống cùng ông cho đến cuối đời.
TranAnhDung
Posts: 297
Joined: Tue Oct 28, 2008 7:43 pm
Contact:

Post by TranAnhDung »

Chính trị Mỹ trong vụ Giới hạn Công trái

Ngô Nhân Dụng

Nhà bình luận Nguyễn Văn Khanh mới đặt câu hỏi trên nhật báo Người Việt: Ai là sếp của đảng Cộng Hòa?

Ông Nguyễn Văn Khanh chỉ muốn trình bày một thực trạng: Trong cuộc tranh luận giữa Tổng Thống Barack Obama và các dân biểu Cộng Hòa về Mức Giới Hạn Công Trái (Debt Ceiling), không biết giữa hai Dân Biểu John Boehner và Eric Cantor, cộng thêm những nggg đang dự tính ứng cử tổng thống năm 2012, ai là người phát biểu “lập trường” của đảng Cộng Hòa? Không biết.

Nhưng điều này nằm trong bản chất chế độ dân chủ. Các đảng chính trị trong một nước tự do dân chủ không có “lãnh tụ vĩ đại” hay “lãnh tụ kính yêu” như trong các nước độc tài! Thời ông Gorges W. Bush làm tổng thống thì Nghị Sĩ John McCain là một tiếng nói “đối lập” trong nhiều vấn đề, từ cách điều hành hai cuộc chiến tranh đến việc cắt thuế má; mà cả hai đều thuộc đảng Cộng Hòa. Bây giờ ông Obama làm tổng thống cũng vậy, trong khi ông loay hoay tìm cách thỏa hiệp với các ông John Boehner và Eric Cantor thì cựu Tổng Thống Bill Clinton tuyên bố, theo ông, ai làm tổng thống thì cứ theo Hiến Pháp Mỹ mà đi vay nợ thêm, chẳng cần xin Quốc Hội nâng mức trần làm gì cho mất thời giờ! Vì Tu chính án số 14 đã nói không ai được làm cho công trái của chính phủ Mỹ bị nghi ngờ giá trị. Vị tổng thống nào cũng phải bảo vệ giá trị các công trái chính phủ Mỹ, do đó nếu cần vay thì phải đi vay để trả các món nợ cũ! Chính vì người ta quen sống trong một xã hội dân chủ cho nên ngay trong mỗi đảng chính trị cũng có những ý kiến khác nhau. Và bất cứ người nào cũng có quyền phát biểu ý kiến cho công chúng nghe. Nếu không thì làm sao gọi là chế độ tự do dân chủ được?

Nhưng tại sao các đại biểu Cộng Hòa lại có nhiều ý kiến khác nhau như vậy? Ðây không phải là một nhược điểm của đảng Cộng Hòa, hay của bất cứ đảng nào trong hệ thống chính trị nước Mỹ. Họ có ý kiến khác nhau vì những người dân đã bỏ phiếu cho họ có ý kiến khác nhau! Các nhà chính trị dân cử chịu trách nhiệm trước cử tri, mà họ mong còn tiếp tục ủng hộ họ trong cuộc bầu cử sắp tới. Tất cả các đại biểu Cộng Hòa trong Hạ Viện mới bỏ phiếu cho dự luật ngân sách vừa qua đều biết rằng dự luật đó sẽ không thể qua cửa ải Thượng Viện, đừng nói tới sẽ bị ông tổng thống phủ quyết. Nhiều đại biểu Cộng Hòa đang đề nghị phải tu chính Hiến Pháp Mỹ buộc chính phủ phải cân bằng ngân sách, rồi mới chịu nâng mức trần của các món nợ quốc gia. Họ cũng biết tu chính Hiến Pháp là một việc thiên nan vạn nan. Ngay trong thời Tổng Thống Bush, khi đảng Cộng Hòa chiếm đa số ở cả hai viện Quốc Hội và ngồi trong Tòa Bạch Ốc, cũng không ai đưa ra dự luật làm tu chính án đó. Nhưng tại sao nay vẫn có người muốn tu chính Hiến Pháp như vậy? Bởi vì từ đây đến năm 2012, họ sẽ phải tranh thủ để được đưa ra ứng cử lần nữa. Muốn sang năm được đưa ra tranh cử thì phải qua cửa ải “bầu sơ bộ,” trong đó các người trong mỗi đảng đi bỏ phiếu lựa chọn coi ai sẽ làm đại diện cho đảng mình.

Mà nhiều nhà chính trị Cộng Hòa biết rằng trong đơn vị mà họ đại diện có những cử tri hăng hái, tích cực nhất, chịu khó đi vận động và đi bỏ phiếu nhất, chính những người này, phần lớn thuộc phong trào Ðảng Tiệc Trà (Tea Party), đều là những người chống tăng thuế, chống chính phủ lớn, và muốn có tu chính án cân bằng ngân sách để cắt giảm chi tiêu! Những người tích cực trong phong trào này đang lên tiếng nhắc nhở rằng năm ngoái, 2010, chính phong trào Tea Party đã giúp đảng Cộng Hòa tăng thêm được 87 đại biểu trong Quốc Hội!

Trong đảng Dân Chủ cũng không khác. Phần lớn những cử tri tích cực, hăng hái nhất trong đảng Dân Chủ là đoàn viên các công đoàn, các hội bảo vệ người tiêu thụ hay bảo vệ môi trường. Nếu các nhà chính trị trong đảng bị các cử tri tích cực này chống đối đến cùng thì khó đi qua cửa ải “bầu sơ bộ” trong đảng.

Nếu không được chọn trong các cuộc bầu sơ bộ của đảng mình thì làm sao ra tranh cử với đảng khác? Vì vậy, các nhà chính trị đều phải nói lớn, làm mạnh, để trước hết không bị chính các người trong đảng mình chống đối.

Ngày xưa nước Mỹ không có phong tục “bầu sơ bộ,” cũng giống như hầu hết các nước dân chủ tự do ở Âu Châu bây giờ. Việc chọn một người ra ứng cử được diễn ra trong nội bộ mỗi đảng, với các người hoạt động mạnh và nắm các chức quan trọng nhất trong đảng. Những người này họp riêng với nhau, bỏ phiếu đi bỏ phiếu lại, giành giật, mặc cả, rồi chọn một ứng cử viên cho mỗi chức vụ sẽ được bầu. Trong những cuộc họp kín đáo đó, người ta rất dễ chịu ảnh hưởng của các thế lực kim tiền, rất dễ thực hiện những vụ trao đổi quyền lợi, nói theo lối Mỹ là “anh gãi lưng tôi, tôi sẽ gãi lưng anh!”

Nếu so sánh giữa hai lối chọn ứng cử viên, hoặc do các “lãnh tụ đảng” chọn, hoặc do tất cả các cử tri theo đảng cùng chọn, đằng nào phản ảnh đúng ý muốn của người dân hơn?

Một điều khiến các đại biểu Quốc Hội đảng Cộng Hòa phải tỏ ra cứng rắn, luôn miệng bác bỏ các đề nghị của Tổng Thống Obama, là vì họ sợ tới kỳ bầu sơ bộ sang năm họ sẽ phải đối diện với các cử tri đang được nhóm Tea Party vận động, kích thích bằng những lập trường “không khoan nhượng.” Vì vậy, có những lúc ông John Boehner, chủ tịch Hạ Viện đã tỏ ý sẵn sàng thỏa hiệp với Tòa Bạch Ốc, thì ông Eric Cantor, trưởng khối đa số trong Hạ Viện, lại lắc đầu. Và phần lớn các nhà chính trị đang chuẩn bị để sang năm ứng cử tổng thống cho đảng Cộng Hòa đều chống mọi việc thỏa hiệp, không ai chịu lui bước. Họ cũng sợ khó đi qua cửa ải bầu sơ bộ sang năm nếu bị các cử tri thuộc Tea Party chống đối! Trong số các “chuẩn ứng cử viên” này, ai lùi bước trước sẽ bị những người khác vạch mặt chỉ tên ngay! Hơn nữa, đằng nào thì họ cũng chưa làm tổng thống, họ sẽ không chịu trách nhiệm nếu chính phủ Mỹ không được vay nợ nữa, nếu điểm tín dụng của nước Mỹ bị xuống thấp làm kinh tế sẽ suy yếu! Ngược lại, nếu kinh tế yếu đi thì ông Obama sẽ yếu theo, sang năm nếu được đảng đưa ra tranh cử, họ sẽ dễ thắng hơn!

Tình trạng rắc rối đó là cái giá mà người Mỹ phải trả khi muốn sống theo các quy tắc dân chủ. Trong tương lai người ta có thể tìm cách sửa đổi những phương pháp bỏ phiếu sơ bộ, để những nhóm cực đoan không lấn át tất cả một đảng. Nhưng hiện giờ người ta chấp nhận cái giá phải trả đó. Cứ theo các quy tắc hiện hành mà tranh cử với nhau, cũng giống như nếu đá bóng thì phải chấp nhận luật chơi. Nhiều người Mỹ đang kêu trời rằng đội tuyển phụ nữ Mỹ đã lấn áp, dẫn trước đội tuyển Nhật suốt hai hiệp đấu, mà cuối cùng lại thua chỉ vì mấy quả đá trực tiếp sau khi Nhật gỡ huề vào những phút muộn màng! Nhưng luật chơi đá banh nó như vậy! Nếu hồi xưa cả thế giới đồng ý một luật chơi khác, thí dụ, khi hai đội bằng điểm nhau thì đội nào ghi bàn trước sẽ thắng, chắc năm nay đội tuyển Mỹ đã là vô địch! Nhưng luật chơi vẫn là luật chơi, ai cũng phải tôn trọng! Nếu có ai muốn đổi luật chăng nữa thì sau khi cả thế giới đồng ý đổi mới đem áp dụng được!

Trong cuộc chơi chính trị đang diễn ra về Giới Hạn Công Trái giữa Tổng Thống Obama và các đại biểu Hạ Viện, đảng Cộng Hòa có thể sẽ bị thiệt thòi vì găng quá. Trong khi lo làm sao vừa lòng các cử tri thuộc nhóm Tea Party, các nhà chính trị Cộng Hòa có thể sẽ bị các cử tri khác chán ghét, kể cả những người vẫn ủng hộ đảng Cộng Hòa.

Một cuộc nghiên cứu dư luận mới công bố ngày Thứ Hai, 18 Tháng Bẩy 2011, cho biết 68% các cử tri độc lập, không đảng phái, đồng ý một kế hoạch giảm bớt khiếm hụt ngân sách gồm cả việc cắt giảm chi tiêu lẫn tăng thêm thuế. Ðó cũng là con đường Tổng Thống Obama đang theo. Ðiều đặc biệt là 55% các cử tri xưa nay ủng hộ đảng Cộng Hòa cũng đồng ý với giải pháp này. Trong khi đó các đại biểu Hạ Viện Cộng Hòa thì vẫn khăng khăng không muốn nói chuyện tăng thuế, dù chỉ là bỏ bớt các lỗ hổng, trợ cấp vẫn giảm thuế cho các đại công ty hay những người giầu nhất nước.

Tổng Thống Barack Obama cũng phải bước qua một hàng rào trong đảng ông khi chấp nhận cắt giảm chi phí trong các chương trình y tế, xã hội. Ðã có nhiều lãnh tụ công đoàn và những người trong đảng Dân Chủ lên tiếng phản đối ông, dọa sang năm sẽ không ủng hộ ông nữa. Nhưng trong đảng Dân Chủ hiện nay chưa thấy ai có khả năng thay thế ông Obama. Trong khi đó, mỗi đại biểu Cộng Hòa đều biết có nhiều người đang lấp lé chờ họ nói lỡ một câu thì nhẩy vào giành lá phiếu trong đảng!

Ðiều khó nhất cho ông Obama là phải cắt giảm các chi phí xã hội và y tế cho người già và cho người nghèo, tất cả các chương trình đó đều do đảng Dân Chủ đưa ra từ thế kỷ trước. Ông để nghị cắt 3,000 tỷ đô la trong 10 năm, đổi lại sẽ yêu cầu đảng Cộng Hòa chấp nhận tăng số thu 1,000 tỷ đô la, tổng cộng sẽ giảm bớt 4,000 tỷ đô la khiếm hụt.

Nhưng ông Obama biết gói ghém các đề nghị cắt giảm để cho cử tri dễ nuốt hơn. Ðến năm 2036 mới tăng số tuổi được hưởng Medicare từ 65 lên 67. Ông cũng đề nghị tăng thêm số tiền mà người thụ hưởng phải trả cùng (co-pays) với chính phủ khi hưởng Medicare. Hiện nay điều kiện cùng trả này đã có sẵn, cho nên không phải là một thay đổi bất ngờ. Sẽ cắt bớt 200 tỷ chi phí trả cho các công ty chế thuốc, các bệnh viện và những nơi cung cấp dịch vụ y tế khác. Ông Obama sẽ không lo các cử tri ủng hộ ông bị ảnh hưởng ngay, vì không trực tiếp đụng tới quyền lợi của nhiều người đang thụ hưởng.

Về mặt tăng thuế các công ty và những người giầu nhất thì đa số cử tri Mỹ dễ chấp nhận. Hiện nay các công ty Mỹ đang phải đóng suất thuế thấp hơn các nước giầu khác trên thế giới. Mà suất thuế hiện hành ở Mỹ cũng thấp hơn so với trong quá khứ. Trong thập niên 1950 các xí nghiệp Mỹ đóng góp 28% trong tổng số thuế nhà nước thu vào, năm 2010 họ chỉ đóng góp 9%. Thuế lợi tức cá nhân của những người giầu nhất nước hiện nay cũng thấp nhất trong thời gian gần 70 năm qua.

Cho nên trong trận đá banh giữa Tòa Bạch Ốc về Giới Hạn Công Trái, ông Obama đang có thế lưỡng lợi. Nếu cuối cùng đảng Cộng Hòa nhượng bộ thì ông tổng thống sẽ được tiếng là người chịu nhượng bộ nhiều hơn, đã dám cắt các chương trình y tế và xã hội, giống như ông Clinton đã cắt giảm welfare. Nếu các đại biểu đảng Cộng Hòa nhất định chống đến cùng thì họ sẽ bị mang tiếng là cực đoan. Họ sẽ được Tea Party ủng hộ nhưng sang năm sẽ mất phiếu của các cử tri độc lập. Cho nên, các người đang thỏa hiệp như Nghị Sĩ Mitch McConnell và Dân Biểu John Boehner, cùng với nhóm sáu người “Lục nhân bang” có thể sẽ trở thành những người cứu vớt uy tín của đảng Cộng Hòa trong cuộc đấu võ hiện đang lâm vào bế tắc.
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Tại sao trời không sập?

Ngô Nhân Dụng


Ðầu tháng trước, ông Lý Ðạo Quỳ (Li Daokui), cố vấn Ngân Hàng Trung Ương Trung Quốc đã cảnh cáo nếu cuộc thương thuyết ở Quốc Hội Mỹ bế tắc, nước Mỹ có nguy cơ vỡ nợ, đồng đô la sẽ xuống giá, làm thiệt hại đến nhà nước Trung Quốc, vì họ đang cầm trong tay những giấy nợ của Mỹ trị giá hơn một ngàn tỷ đô la!

Ngày hôm qua, bà Christine Lagarde, tân chính trị Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế và cựu bộ trưởng Tài Chánh Pháp cũng lên tiếng cảnh cáo rằng nếu chính phủ Mỹ “vỡ nợ” hoặc điểm tín dụng bị hạ xuống thấp thì cả thế giới sẽ bị vạ lây! Cuối tuần qua, cả Tổng Thống Barack Obama lẫn Chủ Tịch Hạ Viện John Boehner đều nói rằng họ sẽ cố đạt được một thỏa thuận trong chiều Chủ Nhật, trước khi các thị trường chứng khoán Á Châu mở cửa, để tránh cảnh người ta đổ xô đi bán các cổ phiếu vì lo!

Nhưng sau đó hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ vẫn chưa đạt được thỏa hiệp nào hết; mà các thị trường ở Á Châu vẫn mua bán thản nhiên! Trong lúc đó thì tại thị trường chứng khoán New York Chỉ số Dow Jones chỉ xuống chút đỉnh, hôm Thứ Hai mất 50 điểm, Thứ Ba mất 90 điểm. Mức sụt giảm nhỏ như vậy thường xẩy ra như khi mức lời của một vài công ty lớn thấp hơn mong đợi.

Thường khi một công ty hay một chính phủ có nguy cơ vỡ nợ thì những trái phiếu của họ bị sụt giá, vì với mức rủi ro lớn hơn mọi người muốn phải đạt được một mức tiền lãi cao hơn mới bõ công bỏ tiền mua. Nhưng trong mấy ngày qua các công trái 10 năm của chính phủ Mỹ vẫn vững giá, dân đầu tư chấp nhận chỉ được lãi 3% cũng thỏa mãn rồi! Tức là người ta hoàn toàn tin tưởng rằng cứ cho chính phủ Mỹ vay đi, thế nào cũng được hoàn trả! Các công ty Moody hay S&P dọa sẽ hạ thấp điểm tín dụng của chính phủ Mỹ? Nhưng các công ty thẩm lượng tín dụng chưa bao giờ hạ điểm của một xí nghiệp hay một chính phủ nào khi thị trường vẫn còn tín nhiệm khiến họ có thể đi vay với mức lãi suất chỉ có 3%!

Một con nợ mà chậm trả tiền lãi trong một hai ngày là coi như vỡ nợ rồi (hỏi công ty Vinashin thì biết). Nhớ lại cuối năm 2008, Ngân hàng Lehman Brothers phá sản, chính phủ Georges W. Bush muốn có 700 tỷ Mỹ kim để cứu các ngân hàng. Ðề nghị này bị Quốc Hội bác bỏ, thị trường chứng khoán khắp nơi sụt giảm mạnh, thế là cả hai đảng phải chấp thuận ngay món tiền cựu trợ đó. Vậy mà tới hôm nay hai đảng vẫn còn găng nhau, cò kè bàn cãi từng trăm tỷ đô la một, trong khi thị trường chứng khoán coi như chỉ lắc đầu, nhún vai chờ đợi!

Không lẽ hàng triệu nhà đầu tư khắp thế giới lại dửng dưng không lo lắng gì trước viễn cảnh quốc gia giầu mạnh này có nguy cơ vỡ nợ khiến kinh tế cả thế giới bị suy trầm?

Câu trả lời giản dị là: Người ta không tin chuyện đó sẽ xẩy ra! Lo lắng nước Mỹ sắp vỡ nợ cũng không khác gì chuyện “Người nước Kỷ lo trời sập” trong Cổ Học Tinh Hoa. Chắc trời sẽ không sập đâu! Chúng ta sẽ thấy khi nhìn vào các con số.

Hiện nay nhà nước liên bang Mỹ mang nợ hơn 14,000 tỷ đô la. Mỗi tháng Bộ Tài Chánh Mỹ phải trả tiền lãi cho các “chủ nợ” cũ, tức những người đang cầm các trái phiếu của chính phủ, số tiền phải thanh toán trung bình 15 đến 20 tỷ đô la. Trong Tháng Tám này sẽ phải trả 29 tỷ, Tháng Chín chỉ dưới 10 tỷ thôi. Trong khi đó, nhà nước vẫn thu tiền vào (đừng quên, dân Mỹ vẫn tiếp tục đóng thuế dù trời có sập hay không), trung bình mỗi tháng nhà nước Mỹ thu khoảng 200 tỷ Mỹ kim. Do đó, thế nào chính phủ cũng có tiền trả lãi. Còn tiền vốn đáo hạn phải trả thì sao? Bộ Tài Chánh sẽ dùng số tiền thu trong số 200 tỷ trên để hoàn lại chủ nợ cũ. Nhưng ngay sau khi trả nợ rồi thì tổng số nợ xuống dưới mức trần, họ có quyền đi vay đúng số tiền đó để bù vào ngân sách! Mỗi tuần chính phủ Mỹ vẫn cứ trả nợ rồi lại đi vay bao nhiêu lần chưa hề ngưng.

Vấn đề của chính phủ Mỹ không phải là vỡ nợ, mà là sẽ “thiếu tiền tiêu!” Một tổ chức độc lập, Bipartisan Policy Center (BPC) đã tính trong khoảng ngày 2 đến ngày 9 Tháng Tám, tổng số công trái (giấy nợ của quốc gia) sẽ lên tới mức 14,300 tỷ, tức là đụng trần. Nếu không được vay thêm nợ, thì chính phủ sẽ phải cắt giảm các món chi tiêu khác. BPC tính trong Tháng Tám này, chính phủ Mỹ sẽ thu được 172 tỷ đô la; trong khi theo ngân sách đã được Quốc Hội chấp thuận từ trước thì sẽ phải chi ra 307 tỷ.

Theo BPC, số tiền 172 tỷ đó dư để trả tiền lãi các món nợ cũ (29 tỷ), tiền Hưu Bổng Xã Hội (Social Security, hay SS, 49 tỷ), Medicare và Medicaid (50 tỷ), lương binh sĩ (3 tỷ), cựu chiến binh (3 tỷ). Còn lại chưa tới 40 tỷ để chi cho các mục khác.

Bây giờ chính phủ Obama sẽ phải quyết định đặt ưu tiên dùng món tiền 40 tỷ đó như thế nào! Thí dụ, có thể đem chi cho các món trợ cấp thất nghiệp (13 tỷ); trả lại dân số tiền thuế nộp dư (IRS refunds 4 tỷ); trả tiền cho các công ty cung cấp cho bộ Quốc Phòng (32 tỷ); trợ cấp xã hội trong đó có phiếu thực phẩm Food stamps (9 tỷ); chi cho bộ Giáo Dục (20 tỷ); cùng các cơ quan chính phủ khác. Tổng cộng sẽ thiếu 135 tỷ. Nếu không được vay nợ mới, chính phủ sẽ phải cắt các món chi tiêu khoảng 135 tỷ, tức là cắt 44%. Cắt món nào, cắt của ai? Dưới thời cựu Tổng Thống Clinton (Dân Chủ), đã có lúc chính phủ bị thiếu tiền giống như vậy; không phải vì đụng trần nợ mà vì Quốc Hội (Cộng Hòa) không chịu biểu quyết ngân sách như ông tổng thống muốn. Lúc đó, ông Clinton dọa sẽ không còn tiền trả lương hưu SS khiến Quốc Hội đã phải biểu quyết một ngân sách riêng cho món này!

Bây giờ cảnh đó có thể tái diễn, nhưng có nhiều cách để bộ Tài Chánh Mỹ vẫn có thêm tiền tiêu, ngay cả sau khi đụng trần giới hạn công trái.

Trong số hơn 14 ngàn tỷ nợ nần đó thực các chủ nợ là ai. Tới ngày cuối Tháng Ba năm 2011, tổng số nợ của chính phủ Mỹ là $14,270.1 tỷ (đô la Mỹ). Trong số đó, công chúng làm chủ $9,656.6 tỷ tiền nợ, Công chúng (public) gồm có các nhà đầu tư trong nước Mỹ và ngoại quốc, các chính phủ và ngân hàng trung ương các nước khác mà Ngân Hàng Trung Ương Mỹ (Federal Reserve system) làm chủ nhiều nhất, $1,427.4 tỷ. Ngân Hàng Trung Ương Trung Quốc đứng hạng nhì ($1,100 tỷ) rồi đến Nhật Bản ($900 tỷ). Những giấy nợ mà “công chúng” cầm, họ có quyền đem bán trên thị trường (marketable), một thị trường rất năng động vì ai cũng tin rằng cho chính phủ Mỹ vay là an toàn nhất!

Ngoài số nợ với “công chúng” kể trên, các con nợ khác của chính phủ Mỹ là “người nhà,” gồm những cơ quan trong chính phủ có ngân sách riêng của họ. Tiền quý vị đi làm đóng cho những quỹ như Quỹ Hưu Bổng Xã Hội và Medicare, vân vân, tiền các ngân hàng góp để bảo hiểm các trương mục, các công chức liên bang góp tiền hưu riêng, đều được giữ trong những Quỹ Tín Thác (Trust funds). Các vị quản lý những quỹ này cũng đi mua công trái của chính phủ để sinh lời, tức là các quỹ của nhà nước Mỹ trở thành chủ nợ của nhà nước! Giống như ông nhà nước rút tiền trong cái túi áo cho cái túi quần vay nợ vậy!

Tổng cộng số tiền do các “chủ nợ trong nhà” cho chính phủ vay, vào cuối Tháng Ba năm 2011 là $4,613.5 tỷ; trong số đó có khoảng $500 tỷ không được phép đem bán lại trên thị trường (nonmarketable), giống như sổ tiết kiệm vậy! Số chủ nợ trong nhà này rất lớn: Social Security trust funds là chủ nợ của $2,606.6 tỷ; Quỹ Bảo Hiểm Tai Nạn Nghề Nghiệp (Disability) có $173.1 tỷ; Quỹ Hưu Bổng Công Chức Liên Bang (Federal employees retirement funds) là chủ $782.7 tỷ, Quỹ Y Tế Medicare đã cho chính phủ vay $337.3 tỷ; Bảo hiểm các trương mục ngân hàng (Deposit insurance funds) là chủ nợ của $38.3 tỷ, vân vân.

Bây giờ chúng ta có thể thấy chính phủ Mỹ có thể “xoay sở” với các món nợ “trong nhà” để tiếp tục có tiền tiêu mà chưa cần Quốc Hội cho phép nâng mức trần nợ lên. Khi các Quỹ Tín Thác đem tiền của Social Security hoặc Medicare mua những công trái không được phép bán trên thị trường (nonmarketable) thì tổng số nợ tăng lên, tức là tiến gần mức trần hơn. Hành động đó khiến khả năng phát hành công trái bán ra ngoài (marketable) bị giảm. Bây giờ, muốn cho tổng số nợ khỏi đụng mức trần, bộ Tài Chánh có thể ngưng không phát hành thêm các công trái “nonmarketable” đó nữa, trong khi những công trái“nonmarketable” nào đáo hạn thì tạm khoan không thanh toán vội. Hậu quả là tổng số nợ tự động giảm xuống, dưới mức trần; nhà nước lại được đi vay thêm!

Họ có quyền làm như vậy hay không? Không có sách nào cấm cả, ít nhất là chưa có! Trong thực tế, quỹ hưu bổng của các công chức liên bang đã được đối xử như vậy một lần rồi! Họ cứ chờ sẽ đến lúc chính phủ có dư tiền, sẽ đem tiền đến trả. Giống như nhà nước rút tiền trong cái túi áo trả vào cái túi quần vậy!

Tóm lại, viễn tượng chính phủ Mỹ vỡ nợ rất khó xẩy ra. Từ năm 1962, Quốc Hội Mỹ đã biểu quyết nâng mức trần nợ lên 74 lần, riêng trong 8 năm thời Tổng Thống Reagan mức trần đã được tăng lên 17 lần, thời ông Clinton 4 lần, thời ông Bush trẻ 7 lần. Nhưng vấn đề của nước Mỹ không phải là mức trần công trái, mà là ngân sách khiếm hụt!

Vì chính phủ cứ được phép vay nợ đều đều nên cứ việc chi tiêu rộng rãi; ngân sách vì thế ngày càng thâm thủng. Chính phủ Mỹ bây giờ cứ thu được 6 đồng thì chi 10 đồng, tỷ lệ thâm thủng là 40% Không một quốc gia nào có thể cứ tiếp tục chi nhiều hơn thu, rồi đi vay nợ để bù vào như vậy mãi mãi được! Ðây là một vấn đề người Mỹ phải giải quyết, càng sớm càng tốt. Tổng Thống Obama vào ngồi ở Tòa Bạch Ốc đúng lúc mối lo lắng đó nổ bùng lên (tất nhiên các đối thủ chính trị của ông góp phần chọn thời điểm cho nó nổ). Vì thế, một quyết định giản dị là tăng mức trần nợ biến thành một cuộc tranh luận về ưu tiên trong ngân sách! Việc tăng mức trần nợ không ảnh hưởng gì tói kinh tế quốc gia.

Việc cắt giảm chi tiêu của nhà nước cũng như việc tăng thuế vào lúc kinh tế đang trì trệ sẽ khiến kinh tế khó hồi phục hơn. Nếu hai đảng có đồng ý với nhau trong mấy ngày tới, chắc chắn họ cũng đặt một thời hạn dài, trong 10 năm, để các khoản cắt hay tăng sẽ chỉ được thi hành trong thời hạn 2, 3 năm nữa.

Nếu kinh tế Mỹ hồi phục rồi tăng trưởng mạnh, thì lúc đó số tiền thuế thu được sẽ tự động tăng lên. Như đã xẩy ra thời ông Clinton, ông đã cắt giảm nhiều chương trình xã hội giúp cho ngân sách cân bằng rồi thặng dư, đến thời ông Bush trẻ mới biến thành khiếm hụt.

Vụ khủng hoảng tài chánh từ năm 2007 khiến số chi tiêu của chính phủ phải tăng thêm và số thuế thu được giảm xuống! Nhưng ở Mỹ cứ một đảng nào cầm quyền thì đảng đối lập cũng hô hoán về ngân sách khiếm hụt, để bắt nhà nước giảm chi! Vì vậy, chúng ta được chứng kiến cảnh hai đảng tranh cãi và những lời báo động nếu họ còn cãi nhau mãi thì nước Mỹ sẽ ‘vỡ nợ!”

Tuy nhiên, đến ngày 2 Tháng Tám này mà hai đảng vẫn không thỏa hiệp được với nhau về mức trần công trái, thì quý vị cứ an tâm. Nước Mỹ sẽ không vỡ nợ đâu!
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Dân là người đóng thuế

Ngô Nhân Dụng

Cuộc tranh luận ở Mỹ để quyết định “cho nhà nước đi vay thêm nợ” đã kéo dài trong không khí gay gắt trong mấy tháng nay.

Tổng thống Mỹ và các đại biểu Quốc Hội họp với nhau không biết bao nhiêu lần rồi. Ở Thượng Viện có ba dự án khác nhau, chưa được đem bàn. Riêng ở Hạ Viện đảng Cộng Hòa đã lần lượt đưa ra hai dự luật trong hai tuần liên tiếp! Dự luật thứ nhất được thông qua nhưng không hy vọng được Thượng Viện thảo luận. Dự luật thứ nhì ngày hôm qua lại không đủ túc số vì một số đại biểu Cộng Hòa cũng bác bỏ sau khi bà Sarah Palin cảnh cáo rằng họ đừng quên chính Tea Party đã đưa họ vào Quốc Hội. Ðây là lần thứ nhì ông John Boehner, chủ tịch Hạ Viện, bị các bạn cùng đảng bỏ rơi, vì một dự luật khác của ông về vấn đề này đã bị chung số phận đó hôm 31 Tháng Năm vừa qua!

Các ông bà đại biểu Quốc Hội có vẻ không sợ hãi gì trước những lời “hăm dọa” nước Mỹ sẽ vỡ nợ! Tại sao họ phải tranh luận gay cấn đến như vậy, về một quyết định bình thường, là đi vay thêm nợ cho đủ công quỹ? Lý do rất hiển nhiên: Vì họ đang cãi nhau về Tiền! Nói rõ hơn: Tiền chi ra và tiền thu vào của chính phủ Mỹ. Ở nước Mỹ, Quốc Hội kiểm soát cái túi tiền, Quốc Hội cho bao nhiêu ông chính phủ được xài bấy nhiêu. Mỗi năm các đại biểu Quốc Hội biểu quyết ngân sách thu, chi một lần; lâu lâu có dịp họ lại thi hành quyền đó thêm lần nữa!

Tranh luận về ngân sách thu, chi là một điểm nổi bật trong đời sống chính trị ở Mỹ, một dân tộc nổi tiếng về tinh thần thực dụng. Hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa thường không đem các chủ nghĩa hay lý thuyết to lớn nào ra lòe nhau cả. Họ thường bàn những chương trình chi và thu, họ vận động dân chúng để xin phiếu trên căn bản các khoản chi và thu trong ngân sách quốc gia. Ở Mỹ cũng có nhiều giáo sư đại học, các nhà bình luận nghiên cứu và tranh luận về triết lý chính trị; có rất nhiều chuyên gia bàn về chính sách trị quốc, bình thiên hạ, vân vân. Nhưng đối với người dân thì mọi tư tưởng, mọi chủ thuyết phải được diễn tả một cách cụ thể. Cụ thể như là: Chính phủ sẽ thu bao nhiêu tiền của dân? Ai đóng thuế nhiều, ai đóng ít? Chính phủ sẽ chi tiền cho những ai được hưởng? Món chi tiêu nào là ưu tiên, món nào thứ yếu, món nào phí phạm, đáng bỏ? Có nhiều cử tri Mỹ cũng bỏ phiếu dựa trên các nguyên tắc chính trị hay luân lý mà họ tin tưởng; hoặc vì những lý do tình cảm, vì đạo giáo, có khi dựa vào óc địa phương. Nhưng phần lớn các cử tri bỏ phiếu sẽ lựa chọn các ứng cử viên vì biết họ chủ trương guồng máy nhà nước sẽ thu và chi như thế nào.

Ðặc điểm của hệ thống chính trị Mỹ có thể thấy ngay trong ngôn ngữ, ngôn ngữ thể hiện cách suy nghĩ của người ta. Các nhà chính trị Mỹ ít khi dùng đến chữ “Nhân Dân” (The People). Danh từ đó trừu tượng quá, không có gì chính xác, cụ thể cả. Cho nên nó rất dễ bị lạm dụng, dễ bị đem dùng trong các khẩu hiệu mị dân. Viết trong các tuyên ngôn thì được; đem ra vận động tranh cử, người nghe lắc đầu, nghi ngờ! Khi các nhà chính trị cần nói đến “Nhân Dân,” hay khi người dân tự nói về mình, ở Mỹ người ta thường dùng một danh hiệu cụ thể, và dính dáng đến túi tiền! Ðó là “Những người đóng thuế” (Tax Payers).

Tên gọi “Những người đóng thuế” bao hàm một ý tưởng: Dân nuôi guồng máy nhà nước! Tiền bạc mà nhà nước đem chi tiêu là do “người dân chúng tôi” đóng góp. Có lẽ ở quốc gia nào người dân cũng biết sự thật sơ đẳng này. Không có dân đóng thuế, nhà nước lấy tiền đâu mà tiêu? Nhưng không phải ở nước nào dân chúng cũng được gọi là “Những người Trả thuế” như ở Mỹ. Xin chú ý đến động từ Trả tiền (Pay), giống như khi người tiêu thụ trả tiền mua một món hàng (thí dụ, cái áo) hay một dịch vụ (thí dụ, đi xe buýt). Tôi đã sống ở Montréal hơn 20 năm, ở đó mọi người thường dùng hai thứ tiếng, Anh ngữ và Pháp ngữ. Ngôn ngữ chính trị ở Canada cũng hay dùng từ “Những người đóng thuế.” Nhưng trong hai ngôn ngữ nó nặng nhẹ khác nhau.

Người nói tiếng Anh ở Canada thì dùng chữ Tax Payers, còn khi dùng tiếng Pháp người ta gọi là Người đóng thuế là Contribuables. Ðộng từ Pay có nghĩa là Trả tiền, nghe thấy ý trao đổi. Còn động từ Contribuer có thể dịch là Ðóng góp. Coi chữ dùng trong hai ngôn ngữ thì thấy người nói tiếng Anh (chịu ảnh hưởng Mỹ) và người nói tiếng Pháp suy nghĩ hơi khác nhau. Chúng ta có thể Ðóng góp (Contribuer) vào một quỹ của nhà thờ, nhà chùa; có thể đóng góp khi giúp một công tác từ thiện. Góp tiền đi nhậu cũng là đóng góp, contribuer. Nhưng khi Trả tiền, Pay, chúng ta chờ đợi người nhận tiền phải cung cấp một dịch vụ (đi xe buýt) hay một hàng hóa (cái áo). Ðúng là “Tiền trao cháo múc.” Còn khi Ðóng góp, có khi chúng ta không chờ đợi nhận được cái gì cả, chắc chỉ có một tờ giấy biên nhận hoặc thêm bản báo cáo tài chánh cuối năm mà ít người có thời giờ đọc. Ðóng góp rồi, sau đó người nhận tiền chi tiêu thế nào mình cũng chẳng quan tâm!

Phân biệt như trên rất quan trọng. Vì có khi người dân đóng thuế cũng chểnh mảng, coi đồng tiền đóng thuế của mình giống như là “đóng góp”; chứ không phải là trả tiền để mua các dịch vụ mà guồng máy nhà nước có trách nhiệm cung cấp cho dân: an ninh, trật tự, đường sá, trường học, vân vân. Ðiều nguy hiểm là nhà nước, là những người được quyền sử dụng số tiền của thập phương bá tánh đóng góp qua việc trả thuế, nhận được tiền của dân rồi họ cũng tự tiện tiêu xài như Tiêu Tiền Chùa!

Cho nên, tốt nhất người dân một nước nên tự gọi mình là “Những người đóng thuế” chứ không nên tự xưng mình là Nhân Dân. Nên ý thức vai trò “người trả tiền” của mình. Dân là người đóng thuế để nuôi guồng máy nhà nước, chứ không phải ông nhà nước tự đẻ ra tiền mà trả lương công chức, cán bộ, xây cầu hay sửa ống cống, phúc đức ban ân huệ cho dân. Phải xác định vai trò của mình và tương quan giữa người trả tiền với người dùng tiền. Nên nghi ngờ các nhà chính trị hay sử dụng những tiếng Nhân Dân. Nó trừu tượng và nói mãi sẽ trở thành huênh hoang rỗng tuếch. Nó chẳng gợi nên một tương quan nào có tính cách trao đổi: Dân góp tiền cho nhà nước để được hưởng những dịch vụ mà nhà nước phải cung cấp. Nếu các ông bà cầm đầu nhà nước mà không làm đủ trách nhiệm đó, dân sẽ truất phế, thay bằng người khác.

Phải tránh một ngộ nhận: Nghĩ rằng có những người dân không phải đóng thuế bao giờ cả. Như vậy họ có quyền đòi hỏi gì đối với chính quyền hay không? Nghĩ như vậy là sai. Thực ra ai cũng đóng thuế hết, trực tiếp hoặc gián tiếp, ngay cả những người sống bằng trợ cấp của xã hội. Mỗi lần quý vị đổ xăng, quý vị đã đóng thuế. Vì ngay mình khi trả tiền, ông nhà nước đã lượm ngay một số trong đó rồi! Quý vị mua vé xe buýt, cũng đang trả thuế. Vì công ty chuyên chở lấy một phần tiền đó mà đóng thuế, đủ các thứ thuế họ phải đóng. Chúng ta còn sống trong xã hội, còn đi mua áo, còn mua kẹo cho con cháu, mỗi lần trả tiền đều đóng thuế cả. Ðó là cái nghiệp của mọi chúng sinh sống trong xã hội. Một người nông dân nghèo ở Quảng Bình không bao giờ đi lên chợ cả, cũng vẫn thường xuyên đóng thuế cho nhà nước. Vì khi vợ ông ta mua vải, tự may lấy may áo cho gia đình, nhà nước đã thu tiền thuế của công ty dệt vải hay nhập cảng vải, trong đó có phần ông đóng góp! Mua một cái chén ăn cơm hay một con dao cũng vậy! Khi làm giấy giá thú hay khai sinh cho con cũng phải đóng tiền, cái đó chắc chắn là một thứ thuế, dù họ gọi bằng tên khác! Tất cả mọi người dân đều có thể tự xưng mình là Người đóng thuế!

Còn một thứ thuế gián tiếp hơn nữa mà ông nhà nước thường xuyên lấy của dân, mặc dù người dân không bỏ ra đồng nào cả. Ðó là khi nhà nước sử dụng những tài nguyên chung của quốc gia. Nhà tôi ở gần một cái xa lộ, cách 15 phút lại có một cái phi trường. Tất cả những tiếng động, ồn ào, bụi bậm gây ra, làm mất không khí yên tĩnh, mát mẻ đáng lẽ tôi được hưởng, cũng là một thứ thuế tôi phải đóng góp. Ðất là của chung toàn dân. Bầu khí quyển cũng vậy. Việc sử dụng các tài nguyên đó vào việc gì cũng giống như bắt người dân phải đóng góp, vì họ bớt được hưởng các tài nguyên chung.

Khi nghĩ mình như những người dân đóng thuế, chúng ta có thể giải thích được tại sao có suất thuế khác biệt khi người dân “trả tiền” mua các dịch vụ của nhà nước. Vì có người dùng nhiều, người dùng ít. Nếu tôi không lái xe, không hay đi ra xa lộ, hoặc cả đời không đi máy bay, tức là ông nhà nước đã “thu thuế” của tôi, cho nhiều người khác hưởng. Với tư cách một người đóng thuế, tôi có quyền hỏi những người “nghèo” như tôi được đối xử công bằng hay không? Tại sao tôi phải đóng cùng một thứ thuế để nuôi guồng máy cảnh sát, mà họ thì “phục vụ” phạt xe những người lái xe trên xa lộ hoặc canh gác giữ an ninh cho những người dùng phi trường nhiều hơn tôi? Guồng máy tư pháp một nước bảo vệ mọi người dân, trong đó có việc bảo vệ tài sản và công việc làm ăn của dân. Như vậy thì những người có tài sản lớn, làm việc kinh doanh lớn, họ được phục vụ nhiều hơn những người không có đất cắm dùi! Ở các nước tiến bộ, những người giầu phải đóng suất thuế cao hơn người nghèo, cũng là để trong xã hội việc đóng góp, “trả tiền mua dịch vụ” tùy theo mức thụ hưởng, được công bằng hơn!

Mỗi khi tài nguyên chung của quốc gia được sử dụng, mọi người dân đã bắt buộc phải đóng góp. Họ phải được hỏi ý kiến. Việc bầu cử Quốc Hội để cho Quốc Hội quyết định ngân sách quốc gia là một cách cho dân bày tỏ ý kiến. Vậy thì khi ông nhà nước ở Việt Nam đem rừng cho ngoại quốc thuê, đem mỏ bô xít cho người ta khai thác, tất cả mọi người Việt Nam đều đã “đóng thuế” một cách gián tiếp! Vì các tài nguyên đó là của chung tất cả mọi người, chứ không phải tài sản riêng của ông nhà nước! Với tư cách những người đóng thuế, dân Việt Nam có quyền thảo luận, phê phán, trước khi những việc cho thuê khai thác tài nguyên quốc gia được thực hiện.

Cho nên đừng thấy các đại biểu Quốc Hội Mỹ tranh cãi gay gắt và kéo dài lằng nhằng về chuyện chi thu của nhà nước mà nghĩ rằng họ chỉ làm phí thời giờ, không ai lo “làm việc nước.” Thu tiền của dân thế nào, chi tiêu vào những việc gì, đó chính là việc nước!

Tiền Chùa: Xin lỗi quý vị Phật tử, tôi chỉ dùng một từ rất thông dụng để nói về những người được quyền tiêu tiền chung mà không chịu trách nhiệm nào cả. Ngày nay, chính tại các nhà chùa hay nhà thờ, cũng như các hội thiện, sau mỗi đợt quyên góp cũng làm bản báo cáo tài chánh cho các đại chúng biết đã thu được bao nhiêu và chi tiêu ra sao; chứng tỏ tinh thần trách nhiệm rất cao!
TranAnhDung
Posts: 297
Joined: Tue Oct 28, 2008 7:43 pm
Contact:

Post by TranAnhDung »

Những người Sơn Tây

Giao Chỉ, San Jose.

Image


Hai mươi dặm về phía tây bắc Hà Nội là đất Sơn Tây, nơi có con sông Đáy, có núi Ba Vì. Cũng tại đất Sơn Tây, cùng thời với chúng tôi có chàng thi sĩ, có anh nhạc sĩ, có vị tướng công và có ông chính khách. Nhà thơ Quang Dũng, người viết nhạc Phạm Đình Chương, thiếu tướng Lê Nguyên Vỹ và chính khách Nguyễn Cao Kỳ. Những nghệ sĩ làm cuộc sống thăng hoa, tướng công làm ta hãnh diện và chính khách làm ta xấu hổ. Họ đều là những người Sơn Tây.
Image
Đôi mắt người Sơn Tây.
Đêm hôm đó là một buổi tối mà cả phòng trà ai cũng muốn được là người đất Sơn Tây. Phòng trà Đêm mầu Hồng, Saigon có chương trình ca nhạc phổ thơ Quang Dũng nên đầy khán giả. Ban hợp ca Thăng Long gần đủ mặt. Hoài Trung lên nói về thi sĩ Quang Dũng, người cán bộ tuyên huấn của trung đoàn Tây Tiến, sinh năm 1921 đã có những vần thơ trác tuyệt. Quang Dũng vốn là nhà thơ của đất Sơn Tây. Người đã đưa Sơn Tây qua đất Lào, lên Việt Bắc, về Hà Nội, vào Saigon và giờ đây thơ của ông được phổ nhạc gửi đi khắp bốn phương.“Đôi mắt người Sơn Tây, u uẩn chiều luân lạc, buồn viễn xứ khôn khuây”. Nhạc sĩ Phạm Đình Chương sinh năm 1929 khi phổ nhạc thơ Quang Dũng, cũng nhân danh là người con của Sơn Tây. Quê ngoại.
Tay cầm ly rượu, tay cầm micro Hoài Bắc Phạm Đình Chương hát những bài ông phổ thơ Quang Dũng. Nhạc sĩ hát để tặng cho một người.
Image

Đó là người hùng Sơn Tây, Nguyễn Cao Kỳ cùng với vợ mới cưới ngồi trong số những khán giả hiện diện. Ông đang là tư lệnh không quân, Tư lệnh đi phòng trà, lính gác từ trong ra ngoài. Khán giả may mắn vào được Đêm màu Hồng ngay từ buổi chiều, mê Sơn Tây quá nên ai cũng muốn là người đất Sơn Tây. Khổ cho tôi chưa, lúc đó còn là một sĩ quan vô danh ngồi một góc, tôi cũng ao ước trở thành người hùng đất Sơn Tây như Kỳ. Bụng bảo dạ, thằng cha này chỉ hơn mình có mấy tuổi mà sao ngon lành quá thể.
Cùng lúc đó, giữa biên giới gần Tây Ninh, có một chàng trai Sơn Tây khác, chưa bao giờ nếm mùi trà đình tửu điếm Saigon. Trung tá Lê nguyên Vỹ sinh năm 1933 trung đoàn trưởng bộ binh đang dò bản đồ, gọi máy xem các đơn vị đã vào được vị trí chưa. Đất Sơn Tây, cùng một lúc sinh ra những người con khác biệt biết chừng nào.

ImageImageImageImage

Quang Dũng , Ng. Cao Kỳ , Lê Nguyên Vỹ , Hoài Bắc
Giữa chàng thi sĩ, nhạc sĩ và người chiến sĩ thì anh chàng lãng tử giang hồ Nguyễn cao Kỳ lại là người nổi nhất.
Thiếu Tá Ngọc của San Jose là người thân thiết với ông Kỳ từ ngày ở Hà Nội, rồi đến Saigon và ngay bây giờ tại Hoa Kỳ.

Anh em ngồi bên cạnh Ngọc “Toét” và Hùng “Xùi” thì chuyện ông Kỳ kể hàng năm không hết. Cùng với anh Kỳ, chúng tôi xuất thân là dân Càn khu Chả cá, Hà Nội. Ông Ngọc nói như thế. Bây giờ cuộc sống vô thường. Đời là một sân khấu. Ngọc Toét của tôi buông nhẹ câu triết lý.
Quả thực như thế, cùng khóa tư với Hùng Xùi và Ngô Quang Trưởng lại thân thiết với Nguyễn Cao Kỳ mà khi qua Mỹ ông Ngọc vẫn giữ lon thiếu tá, cũng là chuyện lạ.

Quả thực cuộc đời là một hý trường, dù hay dù dở, dù xấu dù tốt, Kỳ vẫn luôn luôn là một ngôi sao sáng lên mọc từ đất Sơn Tây.
Sinh năm 1930 thuở nhỏ theo kháng chiến rồi về Thành. Động viên vào lớp sĩ quan Nam Định, sang Pháp học bay. Về nước ông lần lượt bước dần lên bực thang danh vọng. Giữa cơn binh biến từ 63 đến 65, Nguyễn Cao Kỳ trở thành người hùng trong quân đội với chức tư lệnh không quân VNCH. Từ 65 đến 67. Từ giã quân đội, Nguyễn Cao Kỳ trở thành thủ tướng và sau cùng là phó tổng thống của đệ nhị Cộng Hòa.

Sau 4 năm của nhiệm kỳ đầu, bị ông Thiệu bỏ rơi, Kỳ về làm nông trại tại Khánh Dương. Cùng thời đó ngoài Bắc thi sĩ Quang Dũng đất Sơn Tây đã chịu biết bao nhiêu trầm luân gian khổ từ sau vụ Nhân văn Giai phẩm.
Tháng 4-1975 người chiến sĩ xuất thân đất Sơn Tây là thiếu tướng Lê nguyên Vỹ tự tử tại tổng hành dinh Sư đoàn 5 Bộ binh. Bài vị được đem về thờ tại làng cũ đất Sơn Tây ghi danh là tư lệnh binh đoàn Lai Khê. Khi Sài Gòn có lệnh đầu hàng, ông bình tĩnh ăn ba chén cơm. Nói anh em liệu tìm đường thoát thân. Trung tá Đỗ đình Vượng còn nhìn thấy nụ cười của tư lệnh trước khi ông quay vào phòng nổ súng.

Còn người hùng không quân đất Sơn Tây nói chuyện quyết tâm chiến đấu cứ như đinh đóng cột tại trường Chỉ huy Tham mưu Long Bình. Anh em sĩ quan cao cấp trong khóa học lòng dạ đang tan nát vì gia đình bị kẹt ở miền Trung, bỗng tưởng như thấy lại trời xanh. Ông Kỳ lại tiếp tục hô hào thêm một lần nữa tại họ đạo Tân sa Châu. Dân di cư công giáo nghĩ rằng phen này gặp được người anh hùng xoay lại thời thế.
Nhưng sau cùng, nhạc sĩ Phạm đình Chương và thiếu tướng Nguyễn cao Kỳ cùng sống những ngày còn lại tại Hoa Kỳ. Nhạc sĩ tiếp tục phổ thơ, những tác phẩm bất hủ kể lể nỗi niềm về Đêm nhớ Trăng Saigon.
Ông thiếu tướng cũng di tản kịp thời qua Mỹ và tiếp tục là người tạo tin tức thời sự trong cộng đồng Việt Nam hải ngoại.
Những chàng trai đất Sơn Tây lần lượt ra đi. Từ chiến sĩ Lê nguyên Vỹ tự sát 1975 trong Nam, thi sĩ Quang Dũng chết trong hiu quạnh 1988 ngoài Bắc, đến nhạc sĩ Phạm đình Chương qua đời trong thương tiếc năm 1991 tại Hoa Kỳ. Bây giờ đến lượt nhà chính khách ồn ào Nguyễn cao Kỳ người đất Sơn Tây ra đi sau cùng 2011
Định mệnh đã có những cơ duyên lạ lùng. Người đất Sơn Tây chết tại Hà Nội, chết tại Saigon, chết tại Hoa Kỳ. Riêng mình ông sống không giống ai, đến khi ông chết tang lễ cử hành tại Mã Lai.

Nguyễn cao Kỳ dưới mắt Hoa Kỳ.

Tờ New York Time số vừa qua viết về ông cựu phó tổng thống miền Nam có thể được coi là phản ảnh dư luận Mỹ.
Ký giả Mỹ viết rằng từ một tay chơi ông Kỳ trở thành tư lệnh không quân miền Nam và thủ tướng tại Saigon thời kỳ 65-67.
Cháu của ông là Peter Phan nói với AP là ông Kỳ qua đời tuần vừa qua tại Kuala Lumpur, Mã lai hưởng thọ 81 tuổi. Dựa theo hồi ký củachính ông Kỳ, báo Mỹ viết rằng Kỳ đã từng phục vụ cho cộng sản và quân đội thực dân Pháp. Trên thực tế thời toàn quốc kháng chiến ông Kỳ mới là một thiếu niên cho đến khi trưởng thành bị động viên vào khóa sĩ quan tại Nam Định. Tuổi trẻ chưa hề có ý niệm gì về quốc cộng và hoàn toàn bị lôi cuốn vào dòng đời theo hoàn cảnh.


Dưới mắt báo chí Hoa Kỳ, vị thủ tướng Việt Nam một thời đóng vai chính khách huê dạng, ông làm chính trường thành kịch trường và tự biến mình thành một kép hát. Cả 2 vợ chồng đều mặc đồ bay, áo liền quần màu đen, khăn tím, kính dâm, tóc dài. Tướng Kỳ đeo súng lục xệ bên hông.
Trong sách Stanley Karnow tả ông Kỳ như là một tay thổi kèn saxophone ở hộp đêm hạng nhì. Chính ông Kỳ cũng nhắc lại như vậy. Ông tự xưng là con Phật đứng lên chiến đấu để cứu Việt Nam.

Thời kỳ ông thủ tướng “cao bồi” của Việt Nam cầm quyền, đến dự lễ duyệt binh với phu nhân Tuyết Mai. Cả khán đài quan khách Việt-Mỹ đứng lên đón chào theo lời của xướng ngôn viên buổi lễ. Anh hùng và giai nhân cặp kè như các diễn viên trên sân khấu. Quan khách ngoại quốc và ngoại giao đoàn mở to mắt nhìn hoạt cảnh có một không hai trên chính trường miền Nam.
Đứng bên cạnh khán đài, đại úy tùy viên của tướng Westermoreland nói nhỏ với tôi. Ông Kỳ là chủ nhân của Saigon hoa lệ và cũng là chủ nhân của bông hoa đẹp nhất Saigon. Tôi cũng không biết là anh này nói thực lòng hay mỉa mai.

Không ngồi trên khán đài, đại tá Loan, xếp xòng an ninh của ông Kỳ chân đi dép, áo trận bỏ ngoài quần, đầu không đội mũ, bên hông đeo súng lục, lẹp xẹp đi tới đi lui, đích thân kiểm soát an ninh tại khán đài.
Với những hình ảnh đó, Hà Nội luôn luôn tuyên truyền rằng chính phủ miền Nam là bù nhìn của Mỹ, và là những con rối tệ hại nhất.
ImageImage
Danh tiếng kỳ cục.

Cuộc đời của ông Kỳ là một chuỗi dài những tin tức, những danh tiếng ồn ào và kỳ cục. Ông là tay ăn chơi ngông nghênh nhất hạng. Lấy vợ, bỏ vợ, rồi lấy vợ, rồi bỏ vợ. Một thời nổi danh là Lady Killer. Ông theo Mỹ rồi chống Mỹ. Ông quyết liệt chống cộng rồi lại lên tiếng bênh vực chính quyền Hà Nội.

ImageImage

Ông từ chối ra đi, kêu gọi mọi người ở lại chiến đấu, nhưng sau cùng ông lại ra đi.
Ông tham gia các phong trào vận động phục quốc, nhưng đánh trống bỏ dùi, ông quay lại hô hào hòa giải dân tộc. Ông có khả năng hùng biện và luôn luôn nói lời tâm huyết, vì nước vì dân. Ông tự coi là người yêu nước chân thực và nồng nàn. Nhưng thực sự Nguyễn cao Kỳ không hề yêu ai cả. Ông chỉ yêu có Nguyễn cao Kỳ.Từ trong nước ra đến hải ngoại, trong hay ngoài quân đội, trước hay sau 75, ông luôn leo lên đầu lên cổ anh em để múa gậy vườn hoang. Ông dậy dỗ hải ngoại đoàn kết dân tộc. Ông dậy dỗ trong nước chống Mỹ, chống Tàu.


Từ khi xuất thân là dân càn Hà Nội, cậu Kỳ chỉ muốn chơi trội. Cậu chỉ muốn suốt đời là cái đinh của vũ trụ, cái rốn của địa cầu. Dù trái hay phải, dù xấu hay tốt, dù suôi chiều hay ngược lối, dù lẫm liệt hay cúi đầu nhục nhã, dù đóng vai chính nhân hay phản diện, luôn luôn cậu phải là ngôi sao sáng của chính trường. Cậu là con cầu tự. Con Trời con Phật. Thiên hạ phải đứng chung quanh vỗ tay.

Nhưng đau thương là ở phần chúng ta, bởi vì chúng ta không phải là khán giả của một vở kịch đời, xem qua rồi bỏ. Chúng ta là dân của một nước đã mất vì người lãnh đạo một thời được so sánh với anh thổi kèn saxophone cho một phòng trà hạng bét. Người ta nói rằng, dân tộc thời nào thì có lãnh đạo thời đó. Khổ thân tôi chưa. Tôi lại chính là người dân Việt Nam của thời kỳ đó.
Bây giờ còn biết nói năng chi.

Dù hết sức kính trọng tướng Lê Nguyên Vỹ, dù cảm phục tài hoa thi sĩ Quang Dũng, dù rất say mê nhạc Phạm Đình Chương, nhưng tôi không còn tha thiết ước mong là người Sơn Tây như thủa xưa ngồi ở Đêm Mầu Hồng. Ước mơ gì kỳ cục. Tôi xin trở về làm dân Nam Định hiền lành như mọi người.
Ngưòi chính khách cuối cùng đã đi rồi, đem theo cả tiếng bấc tiếng chì. Dân Càn chả cá Hà Nội bây giờ chẳng còn ai. Ngọc Ghẻ chết từ khuya, chỉ còn bác Ngọc Toét ngồi cười ruồi với bác Hùng Xùi ở San Jose. Hai bác đang bàn nhau suôi Nam đón tro cốt anh Kỳ.
Nghĩa tử vẫn là nghĩa sau cùng.

Giao Chỉ, San Jose
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Chúng ta chắc chắn sẽ mất nước!

Song Chi

Chúng ta chắc chắn sẽ mất nước, nếu nhìn vào tấm hình những người đi biểu tình yêu nước bị công an VC -là những con người cùng chung máu đỏ da vàng, cùng ngôn ngữ, cùng chung sống trên một lãnh thổ đất mẹ cong cong hình chữ S- đánh đập, đối xử thô bạo như với kẻ thù hay tội phạm loại nặng. Nào vác trên vai như khiêng con vật giữa phố, nào kéo lê xềnh xệch giang hai tay hai chân giữa đường, nào bị đạp thẳng vào mặt, ngực, bị quẳng quật trên xe...Những bức hình chụp, video clip còn đầy đó trên mạng, thời buổi này có cái gì che dấu được dưới ánh sáng mặt trời?


Chúng ta chắc chắc sẽ mất nước khi đa số đội ngũ công an chìm nổi, cảnh sát cơ động cho tới dân quân trật tự...còn tin rằng những người đi biểu tình ôn hòa xuất phát từ lòng yêu nước -là những kẻ bị bọn xấu lợi dụng, sẽ trở thành có hại cho chế độ, cho cách mạng, cần phải trấn áp. Hoặc họ được các thế lực thù địch nào đó cho tiền, chỉ với 50.000/đồng, để xuống đường gây rối!

Chúng ta chắc chắn sẽ mất nước bởi con số những người dũng cảm đi biểu tình để cất lên tiếng nói phản đối những hành vi ngang ngược, gây hấn của nhà cầm quyền Trung Cộng còn quá ít nếu so sánh với những con người thờ ơ, bàng quan, vô cảm trước vận mệnh đất nước. Còn quá nhiều những người tin rằng cái bọn xuống đường kia là bọn phản động hoặc rỗi hơi, muốn chơi nổi. Rằng không nên dính dáng đến chính trị, chuyện lớn đã có nhà nước lo, đảng lo. Rằng biển Đông vẫn yên tĩnh!! quan hệ giữa hai nước vẫn tốt đẹp!! chỉ có những kẻ có cái nhìn bi quan, tiêu cực là hay làm lớn chuyện mà thôi!!

Chúng ta chắc chắn sẽ mất nước bởi ngay trong những ngày một con tàu thăm dò dầu khí của VN bị tàu Trung Cộng cắt cáp, và sự căm phẫn của người dân đang đốt nóng các diễn đàn, báo chí, thì một ông Phó Thủ tướng (Hoàng Trung Hải) lại ra lệnh tích cực triển khai xây dựng Cung Hữu Nghị Việt Trung (một dự án được xây dựng từ nguồn vốn viện trợ không hoàn lại của nhà nước Trung Cộng dành cho nhà nước Việt Nam!). Trong những ngày tháng 6, khi người dân đang sục sôi xuống đường biểu tình thì đoàn Mặt trận Tổ quốc VN (một tổ chức mang tiếng là đại diện cho nhân dân) lại đang đi thăm Trung Cộng để khẳng định Việt Nam rất coi trọng mối quan hệ với Trung Cộng (lời của Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Trần Hoàng Thám). Những ngày tháng 7, khi ngư dân VN tiếp tục bị tàu quân sự Trung Cộng với các binh lính có vũ trang đánh đập tàn tệ thì đoàn lãnh đạo các cơ quan báo chí-Hội nhà báo VN lại đang hồ hởi đi thăm Trung Cộng v.v...

Chúng ta chắc chắn sẽ mất nước bởi giữa lúc cả thế giới, trong đó có Hoa Kỳ, đều lên tiếng bênh vực VN, lên án hành động ngày càng leo thang gây hấn của Trung Cộng trên biển Đông và sẵn sàng chìa bàn tay cho VN. Thì ngay sau đó, từ ông Bộ trưởng Bộ quốc phòng Đại tướng Phùng Quang Thanh cho đến ông Thứ trưởng ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn lại tiếp tục ca bài ca Việt Nam luôn coi trọng quan hệ đoàn kết, hữu nghị, "đối tác hợp tác chiến lược toàn diện" với Trung Cộng; tiếp tục trân trọng 16 chữ vàng lừa mỵ. Và ông Thứ trưởng ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn lại thân hành sang tận Bắc Kinh, chấp nhận con đường đàm phán song phương với Trung Cộng!

Chúng ta chắc chắn sẽ mất nước bởi là một nước nhỏ, yếu hơn Trung Cộng nhiều lần nhưng những người lãnh đạo VN lại khước từ mọi lợi thế chính nghĩa mà VN đang có trên hồ sơ biển Đông, khước từ sự hỗ trợ của bạn bè quốc tế, khước từ mọi sự đàm phán đa phương, dựa cậy vào luật pháp quốc tế...Từ ông Thứ trưởng Bộ quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh cho đến ông Chuẩn đô đốc Phạm Ngọc Minh, Phó Tư lệnh Tham mưu trưởng quân chủng hải quân, mạnh miệng tuyên bố VN không liên minh liên kết quân sự với bất cứ nước nào, không cần đến bất cứ ai, tự mình cúi đầu đi thẳng đến cái bẫy đàm phán song phương của kẻ thù!

Chúng ta chắc chắn sẽ mất nước bởi đường lối ngoại giao sai lầm của đảng và nhà nước cộng sản VN, chọn kẻ thù lâu dài của dân tộc làm đồng minh, bạn bè, sợ hãi làm bạn với các quốc gia dân chủ tiến bộ. Một đường lối ngoại giao không rõ ràng, nước đôi nước ba, lúc thế này lúc thế khác, làm mất lòng tin của nhân dân và cả thế giới!

Chúng ta chắc chắn sẽ mất nước với một nhà nước mang tâm lý khiếp nhược sợ hãi nước khác quá nặng. Một nhà nước không dám và cũng không thể bảo vệ được người dân của mình trên biển và cả trên bờ. Một nhà nước không dám đứng về phía nhân dân, thiếu lòng tin vào nhân dân, luôn luôn đặt quyền lợi và sự tồn vong của đảng, của chế độ lên trên quyền lợi của đất nước và dân tộc. Một nhà nước không bao giờ công khai minh bạch việc nước trước quốc dân, chỉ chăm chăm đi đêm, hết ký hiệp ước này lại đến thỏa thuận kia. Đất đai biển cả cứ ngày càng hẹp dần, mất dần.

Chúng ta chắc chắn sẽ mất nước bởi ngay chính những người dân, kể cả tầng lớp trí thức nhân sĩ, dù đã hiểu ra cái họa mất nước là từ phương Bắc, nhưng vẫn chưa nhìn ra hoặc chưa dám thừa nhận gốc rễ của cái họa mất nước chính từ những kẻ bán nước đang ngồi trên đẩu trên cổ dân tộc, từ sự lựa chọn, con đường đi mà họ đang dẫn dắt cả dân tộc phải theo! Nên chỉ kêu gọi đảng sửa đổi, cải cách mà không dám nghĩ đến chuyện phải thay đổi luôn cả cái đảng ấy, cả mô hình thể chế chính trị này.

Chúng ta chắc chắn sẽ mất nước bởi trong từng người dân Việt, vẫn là cái tâm lý ích kỷ cộng với tầm nhìn ngắn, chỉ thấy cái lợi trước mắt mà không thấy cái hại lâu dài, chỉ nghĩ đến cái lợi cho bản thân mà không nghĩ đến cái lợi chung của đất nước, của cả cộng đồng.

Chúng ta chắc chắn sẽ mất nước bởi muôn vàn cái thực tế hiển nhiên đang bày ra trước mắt như thế.

Nhưng thực sự thì, chúng ta đã mất nước chưa?

VN có còn là một quốc gia hoàn toàn độc lập, toàn vẹn về lãnh thổ lãnh hải?

Câu trả lời đau đớn là chúng ta đã mất nước rồi, mất dần dần, mất toàn diện về mọi mặt mà chúng ta nhiều người vẫn chưa ý thức hết.

Chúng ta đã mất nước rồi khi nhìn lại trên dải đất VN này, người nước lạ muốn làm gì thì làm, vào ra nước ta như chỗ không người, vơ vét tài nguyên, nguyên liệu, thực phẩm chất lượng cao mang về nước vả đổi lại những hàng hóa thực phẩm kém chất lượng, hàng độc hại. Thuê đất thuê rừng của ta, đưa người sang làm việc rồi cắm rễ lâu dài trên quê hương ta. Những công trình kinh tế trọng điểm đều trao vào tay người nước lạ. Trong những công trường, nhà máy... của nước lạ, người nước lạ tràn ngập, nếu có chuyện gì xảy ra, khác nào kịch bản Con ngựa thành Troy sẽ xảy ra?

Chúng ta đã mất nước rồi khi báo chí phê phán chỉ trích Trung Cộng thì bị Bắc Kinh cao giọng mắng nhà cầm quyền VN phải biết định hướng dư luận, phải về dạy dỗ lại nhân dân! Nhất cử nhất động của đảng, của nhà nước VN đều "được" sự quan tâm chỉ đạo kèm cặp của Bắc Kinh. Và ngay trong những cuộc biểu tình của người VN, cũng có bóng dáng người Trung Cộng đứng quan sát, theo dõi, chỉ thị...

Chúng ta đã mất nước từ lâu, từ trong sự lệ thuộc về tư tưởng, khi sao chép của Trung Cộng từ mô hình thể chế chính trị, kinh tế... cho đến cách ứng xử với nhân dân, học theo làm theo từ cải cách ruộng đất, đánh tư sản mại bản cho đến mẫu trang phục quân đội! Từ trong sự lệ thuộc về kinh tế ngày càng nặng nề, mà lệ thuộc kinh tế tất yếu đưa đến sự lệ thuộc vể chính trị. Lệ thuộc về văn hóa, lệ thuộc về tinh thần.

Đâu cần phải đợi đến khi chiến tranh xảy ra, chúng ta mới thực sự mất nước?

Song Chi
tramthaiha
Posts: 453
Joined: Tue Sep 08, 2009 7:54 pm
Contact:

Post by tramthaiha »

Lột Trần Chế Độ CSVN

Dương Thu Hương
Đối với thế giới, uy tín của chính quyền cộng sản Việt Nam đã mất từ lâu, mất một phần khi xảy ra cuộc chiếm đóng Cambodia, mất toàn phần khi làn sóng thuyền nhân tràn lên các đại dương và xác chết của họ trôi khắp bãi bờ các quốc gia khác.

Với dân chúng trong nước, giờ đây họ thôi là nhà cầm quyền vĩ đại. Bởi sự thoát đồng đã xảy ra từ rất lâu, họ thôi là thượng đế và dân chúng thôi là những con nộm bị điều khiển bằng thứ tôn giáo do kẻ cầm quyền sáng tác. Dân chúng đã nhìn rõ bản mặt của họ: những con vật đi bằng hai chân, những con vật tham tàn, những con vật đang run sợ vì sự tham tàn của chúng không còn được bóng tối che đậy.

Nhà cầm quyền Hà Nội lúc này chỉ còn tin vào nòng súng. Nhưng bất kì kẻ cầm súng nào cũng có lúc chết vì chính thứ vũ khí mà họ sử dụng. Bởi vì, chẳng có thứ vũ khí nào tự động nhả đạn. Vũ khí nào cũng cần bàn tay của con người, dù là bàn tay bấm nút chiến tranh hạt nhân hay bàn tay cầm dao găm, súng lục. Khi con người đã nhìn rõ sự thật, khi họ không còn bị huyễn hoặc bởi các trò mị dân, khi họ hiểu họ là ai và họ có thể làm chủ số phận của họ bằng cách nào, lúc ấy, các nòng súng sẽ đổi hướng.

Tiếng nhạc ầm ĩ trong ngày hội “Ngàn năm Thăng Long” hẳn đã át đi tiếng nức nở của trên năm mươi gia đình nạn nhân chết vì bão lụt ở miền Trung. Các quan chức Hà Nội không bỏ ra một nửa giây để tưởng niệm những kẻ xấu số. Họ quên. Cũng như họ đã từng quên những người dân đánh cá tỉnh Thanh bị giặc Tầu giết ngoài khơi, như họ quên các chiến sĩ đã bỏ mình trên biên giới vào cuộc chiến tranh năm 1979. . .
Họ quên và họ quên. Vậy họ nhớ điều gì?

Khi con gái họ có nhu cầu mua một chiếc váy cưới xấp xỉ 200.000 euros tại đại lộ Champs Elysées thì họ phải nghĩ cách làm đầy thêm các ngân khoản ở ngân hàng ngoại quốc. Khi nhân tình của họ cần chiếc xe hơi sang trọng như xe của cô Hồ Thu Hồng thì họ phải nghĩ cách để kiếm cho bằng được chiếc xe ấy, để nàng khỏi tủi thân vì kém chị kém em. Khi ngôi lầu của họ chỉ đáng giá hai triệu đô la mà của kẻ khác giá gấp đôi thì họ phải tìm cách đuổi kịp và vượt hắn. Đó là mối quan tâm cốt lõi của giai cấp tư sản đỏ Việt Nam giờ đây, cái guồng quay cũ kĩ của đám mới giầu.
Ai đó từng nói câu này: “Trong giai đoạn tích luỹ tư bản, giai cấp tư sản có thể giết chết cha đẻ của họ để có tiền”.
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »

Tham vọng áp đặt trật tự thế giới mới của ‘Ðại Hán’

Võ Long Triều

Dựa vào sự lớn mạnh về kinh tế và quân sự của mình, Trung Quốc lợi dụng lúc cả thế giới đang gặp khủng hoảng kinh tế, đồng thời Hoa Kỳ và các nước Tây phương bị cầm chân bởi chiến tranh ở Afganistan và Iraq, Bắc Kinh ngang nhiên tuyên bố chủ quyền trên Biển Ðông gồm cả vùng to lớn do cái lưỡi bò của họ - tự ý đặt ra - liếm gần hết Biển Ðông và khẳng định đó là chủ quyền của Trung Quốc “không thể tranh cãi.”

Image
Khu trục hạm Mianyang của Trung Quốc đe dọa Biển Ðông. (Hình: Torstein Blackwood/AFP/Getty Images)


Bắt đầu một âm mưu áp đặt trật tự thế giới mới, trong đó phải có sự dẫn đạo hay chia phần của Trung Quốc.

Tự nhiên Trung Quốc làm cho Biển Ðông nổi sóng, gây tranh cãi chủ quyền, làm cho các nước láng giềng chung quanh bất bình trước cảnh ỷ mạnh hiếp yếu. Sự tranh chấp ngày càng lan rộng trở thành gay gắt. Bắc Kinh không ngần ngại dùng vũ lực đối với Việt Nam là đồng chí láng giềng tốt, là chư hầu mang nặng nợ viện trợ trong thời kỳ chiến tranh cho nên Việt Nam sẽ không dám phản ứng vì đã là một vệ tinh thuần phục.

Sở dĩ có sự ngang ngược nầy là sau khi Liên Xô sụp đổ, Trung Quốc âm mưu áp đặt một trật tự thế giới mới mà họ chờ đợi từ lâu khi có cơ hội thuận tiện để chứng minh vị thế siêu cường của mình. Thể theo sự chỉ đạo của Ðặng Tiểu Bình, nhà lãnh tụ đầy mưu mô được tôn trọng như một chiến lược gia lỗi lạc.

Nói về vấn đề trật tự thế giới mới, cách đây 19 năm tôi có viết bài phổ biến ngày 31 tháng 3 năm 1992 trên đài phát thanh quốc tế Pháp (RFI). Xin trích lại một vài đoạn còn giữ y giá trị của nó.

Trích dẫn:

“Sự tan rã của thế giới cộng sản đương nhiên chấm dứt chiến tranh lạnh giữa hai khối đối đầu bằng ý thức hệ. Vấn đề còn tồn tại là vì không muốn chấp nhận trật tự thế giới mới do Hoa Kỳ dẫn đạo, nên Trung Quốc muốn tìm cách tạo thế đứng quân sự cho mình và ráo riết trang bị vũ khí tối tân. Ba lý do buộc Trung Quốc ồ ạt tăng ngân sách quốc phòng một cách bí mật và quá đáng gây lo ngại cho thế giới Tây phương, đặc biệt là Hoa Kỳ, đó là:

1. Sự tranh chấp biên giới giữa Trung Quốc và Nga.

2. Sự tranh chấp chủ quyền các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (TQ đã đánh chiếm của VNCH năm 1974).

3. Sự giao ước quân sự của Hoa Kỳ đối với Philippines, Nam Hàn và Nhật.

Và cũng vì tham vọng muốn làm bá chủ quân sự ở vùng Ðông Nam Á.”

Muốn đạt được ý đồ đó Trung Quốc chuẩn bị và dọn đường thực hiện sách lược toàn cầu do chiến lược gia Ðặng Tiểu Bình, nhà lãnh đạo quân sự chính trị, chủ trương và đã thực hiện. Báo “Giải Phóng Quân” của Trung Quốc còn bình luận thêm: Trong bối cảnh quốc tế hiện tại, chúng ta có được một may mắn lịch sử để xây dựng một quân đội và phải nghĩ đến dài hạn, chúng ta không thể bỏ qua sự may mắn đó vì nó sẽ không trở lại...

Kinh nghiệm chiến tranh vùng Vịnh cho ông Ðặng Tiểu Bình thấy rằng vũ khí tối tân là cần thiết tuyệt đối. Năm 1978 ông sắp việc phát triển guồng máy quân sự vào ưu tiên thứ tư. Ngày nay (1992) ông đưa nó lên số một...

Trung Quốc hy vọng có được một tiềm năng quân sự thật lớn, càng sớm càng hay, để làm giảm ý đồ của Washington muốn buộc Trung Quốc từ bỏ chủ nghĩa cộng sản bằng vũ lực. Trung Quốc thương lượng với Iran để mua toàn bộ phi cơ của Iraq đã bay sang đó tị nạn hồi chiến tranh vùng Vịnh. Theo một bản báo cáo của các cơ quan tình báo Hoa Kỳ thì Israel đã bán cho Trung Quốc kỹ thuật tối tân để chế tạo hỏa tiễn Patriot.

Theo tác giả bài báo đăng trên US News and World Report, Susan Lawrence viết: “Trung Quốc không hề từ bỏ ý định chiếm lĩnh toàn bộ các quần đảo ở Biển Ðông gồm khoảng 500 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó có Trường Sa và Hoàng Sa của Việt Nam. Một vùng được ước đoán có nhiều dầu hỏa và khí đốt. Theo lời một nhà ngoại giao Tây phương, Trung Quốc muốn phô trương sức mạnh của mình để dựng cờ trên khắp các đảo nầy.Và theo ông Susan Lawrence, nếu có nổ súng trên thế giới trong những năm sắp tới, có nhiều hy vọng điều đó sẽ xẩy ra tại vùng nầy...”

Sau năm 1949, Trung Quốc lần lượt sát nhập Mãn Châu, Nội Mông, Tân Cương, Tây Tạng. Ủng hộ triệt để hai nước chư hầu cộng sản Bắc Hàn và Việt Nam. Kết thân và nâng đỡ các nước độc tài quân phiệt ở Á Châu là Miến Ðiện, Iran ở Trung Ðông, Lybia ở Phi Châu, Venezuela và Cuba ở Mỹ Châu, kết bè chống lại lập trường dân chủ, tự do, bảo vệ nhân quyền của các nước Tây phương đứng đầu là Mỹ.

Ngoài ra, Trung Quốc còn đầu tư viện trợ cho các nước nghèo khó trên khắp thế giới để gây ảnh hưởng, tạo uy thế của một cường quốc giàu mạnh như Mỹ đã từng thực hiện qua chương trình “viện trợ Mỹ.” Ðặc biệt tại vùng Ðông Nam Á người ta thấy Bắc Kinh đầu tư viện trợ nhiều cho Lào và Campuchia, tách rời ảnh hưởng của cộng sản Hà Nội đối với hai nước láng giềng nói trên. Bằng cớ là trong vấn đề tranh chấp chủ quyền các quần đảo trên Biển Ðông có lần Lào và Campuchia không ủng hộ lập trường của Việt Nam như thường lệ.

Nói đến ASEAN, Trung Quốc dùng Miến Ðiện tạo mầm chia rẽ và bất đồng trong nội bộ của tổ chức nầy bởi vì Trung Quốc đầu tư khá nhiều và viện trợ giúp kinh tế Miến Ðiện đứng vững, quan hệ Trung-Miến luôn luôn tốt đẹp. Ông tổng thư ký hiệp hội ASEAN đã từng tuyên bố: “Chúng ta nói... và nói... còn Bắc Kinh nói và cướp lấy” (We talk and talk, China talk and take).

Gần đây, hội nghị các bộ trưởng ngoại giao bàn về Biển Ðông mới thuyết phục được Trung Quốc ký bản hướng dẫn cách ứng xử hòa bình giữa các bên trên Biển Ðông. Một chữ ký lấy lệ sau bao nhiêu năm từ chối chỉ vì bây giờ vấn đề đó trở thành quốc tế hóa sau khi Hoa Kỳ tuyên bố “trở lại Á Châu” và “Hoa Kỳ có quyền lợi quốc gia thiết yếu trên Biển Ðông,” ngoài ra Ðô Dốc Mike Mullen, lãnh đạo quân sự cao nhứt nước Mỹ, và Ðề Ðốc Robert Willard, tư lệnh lực lượng quân sự Mỹ tại khu vực Thái Bình Dương, tuyên bố sự hiện diện của Mỹ trên Biển Ðông còn tiếp tục lâu dài.

Sự dè dặt, chấp nhận ký kết bản tuyên bố về ứng xử của Trung Quốc chỉ là giai đoạn và giả tạo mà thôi. Sự cạnh tranh và giành quyền ảnh hưởng trên thế giới thấy rõ qua những lời tuyên bố chính thức của phát ngôn viên Hồng Lỗi nói nhiều lần: Các quần đảo Tam Sa nằm trong hải phận thuộc chủ quyền của Trung Quốc là điều không thể tranh cãi. Vấn đề tranh chấp ở Biển Ðông là vấn đề của Trung Quốc và Á Châu. Mỹ không nên can dự vào. Sự tranh chấp chủ quyền chỉ giải quyết bằng sự đàm phán song phương mà thôi. Những cuộc tập trận hỗn hợp giữa Hoa Kỳ và các nước Nam Hàn, Philippines, Việt Nam, Nhật là có tính khiêu khích Trung Quốc.

Những sự lên tiếng có tính cách đe dọa đó chỉ có mục đích cổ võ cho tham vọng bành trướng của Bắc Kinh và âm mưu áp đặt một trật tự thế giới mới, trong đó Trung Quốc, nếu chưa lãnh đạo được hoàn toàn, thì ít nhất cũng chia phần chủ động trên nhiều lãnh vực trên thế giới.
tramthaiha
Posts: 453
Joined: Tue Sep 08, 2009 7:54 pm
Contact:

Post by tramthaiha »

Tại sao phải dùng Bạo Lực Lật Đổ chế độ Độc Tài ở Việt Nam
Hướng Dương txđ

Lịch sử những cuộc đấu tranh chống độc tài cho thấy rằng không thể dùng những phương pháp ôn hòa mà đi đến được thắng lợi. Trong bất cứ một cuộc cách mạng nào, luôn luôn phải có bạo động, phải có đổ máu, phải có hy sinh. Có đổ máu, có hy sinh nhưng bạo lực không đến nới đến chốn, không đủ cường độ để chống bạo lực đối phương thì vẫn thất bại. Hình ảnh cuộc nổi dạy của thanh niên sinh viên Trung Hoa ở Thiên An Môn năm 1989 là thí dụ điển hình. Cuộc nổi dậy chống nhà độc tài Khadafi ở Lybia là một bài học đau đớn hơn nữa. Những kẻ nổi dậy không có đủ vũ khí súng đạn – chưa kể là khộng được tổ chức đàng hoàng – nên dù có dùng đến bạo lực nhưng cuộc đấu tranh vẫn dai dẳng, vẫn chưa đưa tới thắng lợi.

Có người hỏi tại sao lại nghĩ tới chuyện lật đổ chính thể Cộng sản ở Việt Nam? Câu trả lời đơn giản là vì nếu không lật đổ thì chế độ độc tài tàn bạo này sẽ vẫn cứ tồn tại cha truyền con nối, dân tộc Việt nam sẽ tiếp tục bị hoạn nạn, nguy cơ bị xâm lăng sẽ vẫn còn đó. Nhìn lại quá khứ và hiện tại, chúng ta không thấy có lý do gì để mong muốn chế độ cộng sản độc tài tiếp tục kéo dài ở Việt Nam. Độc tài sáng suốt như ở Đại Hàn dưới tướng Park Chung Hi hay Tân Gia Ba dưới thời cầm quyền của Lý Quang Diệu thì ai không muốn? Nhưng Việt Nam không may mắn có được một chế độ độc tài sáng suốt như hai nước này.

1. Chế độ Cộng sản độc tài Việt Nam đã dùng bạo lực để cướp chính quyền kể từ những năm kháng chiến chống Pháp, phong trào Việt Minh đã thủ tiêu một cách dã man những thành phần quốc gia yêu nước không cùng đường lối Mác xít. Bọn Cộng Sản đã dùng bạo lực để dành quyền làm chủ đất nước, chúng dựa vào các nước Cộng Sản đàn anh để chống Pháp với chiêu bài chống thực dân, chiêu bài giải phóng quê hương chỉ để lừa bịp người dân và lợi dụng lòng yêu nước của toàn thể dân chúng trong cao trào chống ngoại xâm. Năm 1954, Cộng sản Việt Nam bị áp lực của Trung Cộng phải ký Hiệp Định Geneva chia cắt đất nước. Sau đó chúng có tham vọng nuốt nốt miền Nam, đưa quân vào khủng bố cắt cổ mổ bụng người dân buộc họ phải theo chúng. Việt Cộng dùng bạo lực để trả thù những người chống lại hay không theo chúng, tiêu biểu nhất là những cuộc khủng bố đặt mìn và hơn cả là cuộc tàn sát vào ngày Tết Mậu Thân 1968 ở Huế. Cộng Sản trong mọi trường hợp lấy máu để biểu tượng lòng thù hằn, lấy vũ khí súng đạn bom mìn để biểu tượng bạo lực nhằm khống chế người dân. Bằng bạo lực chúng hạch hỏi điều tra dọa nạt hành hạ tra tấn và giết chết một cách dã man hàng trăm ngàn người dân vô tội mà chúng coi như là kẻ thù, chúng nuôi hận thù và khống chế những ai chúng không tin tưởng và sẵn sàng thủ tiêu họ như trong trường hợp hàng mấy trăm ngàn quân cán chính VNCH đã bị chúng đưa đi đầy ải sau ngày chúng cướp được chính quyền ở Miền Nam để họ chết dần chết mòn trong những nhà tù mà chúng gọi là những “trại cải tạo."

2. Chế độ Cộng sản Độc tài không danh chính ngôn thuận vì không bao giờ do dân bầu lên và chưa bao giờ được dân ủng hộ. Vì bị cưỡng chế mà người dân đã phải theo Việt Minh vì bị lừa và đã phóng lao thì phải theo lao, nếu không theo thì sẽ bị thủ tiêu. Những trí thức văn nghệ sĩ thương gia lỡ ủng hộ phong trào Việt Minh rồi đành phải câm miệng nhịn nhục và tiếp tục ra vẻ ủng hộ mặc dù bên trong thì thì họ đã biết sự thật và chán ghét Việt Minh.

Năm 1954, hai triệu người đã bỏ nơi chôn nhau cắt rốn di cư vào miền Nam vì biết rõ bộ mặt thật của Cộng sản. Những người nhe dạ ở lại đã bị tịch thu tài sản, đem ra đấu tố (cải cách ruộng đất) hay bị đầy ải cho đi cải tạo (Trăm Hoa Đua Nở - Nhân văn Giai Phẩm). Sau khi đã đóng vĩ tuyến 17 vẫn còn những người liều chết bỏ trốn đi vào miền Nam bằng thuyền bè. Trong suốt thời gian có chiến tranh giữa hai miền đã có hàng ngàn binh lính Cộng Sản trở về với chính nghĩa quốc gia qua chiến sách chiêu hồi của Việt Nam Cộng Hòa. Nhiều tù binh Cộng Sản đã từ chối không chịu trở về miền Bắc trong cuôc trao đổi tù binh năm 1973 nhưng vì qui định của hiệp định ký kết tại Paris họ đã miễn cưỡng phải trở về Bắc. Họ cũng như những kẻ về hồi chánh đã quá biết bộ mặt thật của chính thể độc tài ở Miền Bắc và yêu chuộng chế độ tự do nhân bản của Miền Nam.

Năm 1975, do sự phản bội của chính phủ Hoa Kỳ - TT Thiệu nói là của Kissinger cho nhẹ lời - quân đội Mỹ rút lui, Miền Nam đã bị bỏ rơi, không còn nhận được viện trợ quân sự của Hoa Kỳ để tiếp tục chiến đấu tự bảo vệ, nên Bắc Việt với sự ủng hộ và viện trợ quân sự ồ ạt của Trung Cộng và Liên Sô, đã lợi dụng tình thế, xua quân vào cưỡng chiếm Miền Nam. Ngày 30 tháng Tư năm 1975 toàn dân Miền Nam đã đau đớn chịu mất nước, những người không may mắn nhanh chân chạy thoát đã phải đi tù, nhiều người trên chục năm trời, một số không nhỏ (hàng chục ngàn) đã bị hành hạ hay bỏ chết đói chết bệnh hay bị hãm hại trong trại giam. Hơn một triệu người đã liều mạng bỏ trốn ra nước ngoài, kẻ trên những con thuyển lênh đênh trên biển Nam Hải, kẻ thì băng đường rừng đi vượt biên giới để tìm tự do. Bao nhiêu người đã chết tức tưởi trong cuộc ra đi tìm cái sống này, con số chính xác không có, chỉ có sự ước định là vào khoảng trên 400,000 người. Chưa bao giờ Miền Nam chấp nhận Cộng Sản. Bằng bạo lực một chính thể độc tài bất nhân ác đức đã được áp đạt lên đầu những người dân miền Nam. Trước đó quân Cộng sản đi đến đâu là người dân kinh hãi bồng bế nhau đi trốn tránh, lòng người dân Miền Nam chưa bao giờ chấp nhận Công sản.

3. Và cho đến nay 36 năm sau bị Miền Nam bị cưỡng chiếm, nhân dân vẫn chưa chấp nhận chế độ Cộng Sản và chưa bao giờ ủng hộ chính thể độc tài hiện thời. Lòng dân chán ghét chế độ đến cực điểm nhưng vì Cộng sản kiểm soát người dân bằng bạo lực nên không ai dám tỏ thái độ, không ai dám lên tiếng đã đảo, chỉ vì họ sợ bị đi tù, bị hành hạ, bị tra khảo, và thủ tiêu. Đọc bài tựa đề “Một vị máu đắng miệng, một giọt lệ phẫn nộ trong mắt” mới được công bố đây của André Menras, một người Pháp trước kia đã phải đi tù dưới thời VNCH vì đã ủng hộ Việt Cộng, người ta càng ý thức việc chế độ Cộng sản độc tài hiện nay vẫn đang sử dụng bạo lực để kiểm soát và kiềm chế người dân một cách tàn bạo:

Hôm nay, ngày 18-7, lại rất đau đớn và đầy phẫn nộ! Tôi đã xem những bức ảnh – không cắt dán lắp ghép – của những công an quần áo màu lục hay màu lam, đội mũ, đi ủng, hay những công an mặc thường phục; họ xô đẩy, lôi kéo, đấm đá; họ đá cả vào mặt một thanh niên đã ngã xuống.
……….. Tôi hổ thẹn cho các ông. Tôi hổ thẹn về lòng thù hận của các ông khi hành hạ những công dân lương thiện, ôn hoà và can đảm; về sự hèn nhát của các ông trước bọn cướp trung quốc.
……….. Bằng những hành động trấn áp ngày càng bạo liệt, một số lãnh đạo của chế độ hiện đang … gây ra cùng một loại dị ứng trong dân chúng trước đám công an, chìm hay nổi, tràn ngập, ngày càng hung hãn. Họ tạo ra điều kiện cho sự sụp đổ từ bên trong rất có hại cho Việt Nam, bởi vì phong trào yêu nước, ôn hoà và dân chủ, đã hiển lộ giữa ban ngày, sẽ không dừng lại.
………. Quả là đến lúc dừng lại dùi cui, để mở mắt nhìn và để dỏng tai nghe: con đường đàn áp là bế tắc. Hỡi quý ông mang dùi cui, cái vị máu trong miệng đó, và cái nỗi thịnh nộ đó, mà mỗi ngày các phản ứng hèn hạ của quý ông mỗi làm cho thêm người cùng nếm trải, đang đưa quý ông, và gia đình, và cả đất nước này đến thảm hoạ.

Suốt hơn 60 năm vẫn một đảng độc tài sắt máu, vẫn một quốc hội bù nhìn, một đảng dân chủ cuội, người dân phải đi bầu để khỏi bị trù dập và đi bầu thì vẫn chỉ bầu cho những kẻ do Đảng chỉ định. Nhà nước nói người dân làm chủ đất nước nhưng kỳ thật đất nước nằm trong tay một số đảng viên côn đồ gộc nằm trong cái gọi là Bộ Chính Trị hay Trung Ương Đảng gì đó.

Quyền lực chính trị được chia chác giữa một số người vì nó gắn liền với quyền lợi vật chất tiền bạc, những đãng viên gộc cũng là những tư bản đỏ, tải sản lên tới bạc tỷ, lòng tham vô đáy kéo theo nhu cầu phải bảo vệ quyền lực và lòng dã thú, họ sẵn sàng dùng bạo lực để duy trì vi thế của họ. Vì thế bọn Cộng sản luôn luôn phải nuôi dưỡng một hệ thống công an mật vụ để bảo vệ cho chúng và chúng sẵn sàng áp dụng những mưu mô qủy quyệt nhất, những biện pháp tàn bạo vô nhân đạo nhất để duy trì chế độ Việt gian.

4. 36 năm sau khi đất nước được “thống nhất”, xã hội băng hoại, thối nát tham nhũng lan tràn từ trên xuống dưới, chính quyền bất tài bất lực không có khả năng phát triển đất nước, cứ trông cậy vào những nhà đầu tư ngoại quốc, những tên tư bản thực dân lỏi ở ngay trong vùng Đông Nam Á, đổ tiền vào lợi dụng nhân công rẻ rúng ở địa phương để trục lợi. Nhà nước không có chính sách bảo vệ quyền lợi quốc gia như bảo vệ tài nguyên nhiên liệu, bảo vệ sức lao động của người dân, cứ mặc nhiên để cho bọn ngoại quốc hút máu hút mủ đất nước và nhân dân ta. Lý do đơn giản là vì chỉ bằng cách để cho bọn chúng vào đầu tư thì những tên đầu sỏ trong Đảng và Nhà Nước mới chấm mút được, tiền đầu tư trực tiếp ngoại quốc (FDI – foreign direct investment) hàng mấy chục tỷ một năm có lợi cho người dân thì ít mà lợi cho bọn đầu nậu Cộng Sản và ngoại quốc thì nhiều.

Tình trạng kinh tế tài chánh luôn luôn khủng hoảng, cán cân chi thu và cán cân xuất nhập cảng luôn luôn mất cần bằng, tiền vay nợ các ngân hàng thế giới lên tới con số nhà nước không còn thanh toán nổi, ngoại tệ luôn luôn khan hiếm, lạm phát gia tăng, đồng tiền sụt giá liên tục làm cho đời sống người dân ngày càng khốn đốn, nhưng nhà nước đâu cần biết, miễn sao tiền tiếp tục vào trong túi những tên “tư bản đỏ” còn nhân dân thì sống chết mặc bay. Nhà nước cũng không chú trọng đến tương lai, không có kế họach đào tạo những lớp người có khả năng khoa học kỹ thuật chuyên môn cần thiết để phát triên đất nước. Việt Nam cần bao nhiêu chục năm nữa mới bắt được đà những nước xung quanh, đó là nỗi ưu tư của ai khác chứ những nhà lãnh đạo Cộng Sản không cần biết. Câu nói về dân tộc Việt Nam của một nhà báo Pháp - hình như là Jean Larteguy? – tuyên bố cách đây đã cả bốn năm chục năm sao bây giờ vẫn thấy thấm thía: “Một dân tộc sư tử mà lại bị những con lừa lãnh đạo (un people de lions conduit par des ânes)”.

Hai giai cấp “đi tiên phong” trong cuộc “Cách Mạng Vô Sản” là công nhân và nông dân bị lừa bịp nặng nhất: Nông dân bị chính phủ lấy đất để bán cho ngoại quốc làm sân golf hay xây dựng những nhà máy hay cơ sở thương mại, thậm chí còn bị những chính quyền địa phương thối nát ăn cướp đất làm của riêng. Công nhân thì được gửi đi “ bán sức lao động” khắp thế giới – hàng triệu thanh niên hiện đang đi làm dịch vụ nô lệ ở ngoại quốc. Ngay tại nước nhà công nhân bị các chủ xưởng hãng bóc lột sức lao động, thường xuyên đình công. Nhà nước không hề bảo vệ người công nhân với lý do đơn gian là những tay tổ trong chính quyền đã ăn chia với những tên tư bản thực dân ngoại quốc rồi. Những kẻ bị bóc lột thậm tệ đó, giai cấp công nông, sẽ là mũi dùi đi đầu trong cuộc đứng lên lật đổ chế dộ Cộng Sản. Họ “không có gì để mất ngoài những xiềng xích đang trói buộc họ” (chính lời của Marx).

5. Để bảo đảm việc giữ vững chế độ độc tài thối nát này, bọn lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam sẳn sàng phản quốc phản dân tộc. Chúng dựa vào hơi hám bọn đàn anh Trung Cộng của chúng để củng cố chế độ bất lương do chúng thiết lập. Chúng thà bán nước chứ không để mất những quyền lợi béo bở mà chúng đang được hưởng. Sau những vụ cắt đất cắt biển dâng cho quan thầy của chúng, chúng câm miệng không dám ho he trước vụ xâm lăng lãnh hải của ta, giết chết đồng bào ta - những ngư phủ bị bọn Tàu phù bắt, hành hạ, và ám hại - và quan trọng hơn nữa là vụ Trung Cộng xâm chiếm hai đảo Trường Sa và Hoàng Sa, nơi có những mỏ dầu hỏa, nguồn tài nguyên quí giá của đất nước ta. Bọn Cộng Sản Việt Nam giở thói côn đồ đối với những thanh niên Việt yêu nước đứng lên sôi sục biểu tình chống lại Trung Công, dùng bạo lực đánh đập chửi bới người dân làm cho những kẻ trước đây ủng hộ chúng trong cuộc xâm chiếm Miền Nam, nay cũng phải phẩn uất. André Menras trong bài được nói đến trên đây đã viết:

Bằng những hành động trấn áp ngày càng bạo liệt, một số lãnh đạo của chế độ hiện đang chui vào cùng một rọ với bọn du thủ du thực vô tổ quốc của chế độ cũ. Họ gây ra cùng một loại dị ứng trong dân chúng trước đám công an, chìm hay nổi, tràn ngập, ngày càng hung hãn. Họ tạo ra điều kiện cho sự sụp đổ từ bên trong rất có hại cho Việt Nam, bởi vì phong trào yêu nước, ôn hoà và dân chủ, đã hiển lộ giữa ban ngày, sẽ không dừng lại.

Trước làn sóng đang dâng lên, hợp pháp, lành mạnh và cứu rỗi, sự đàn áp sẽ lên đến những mức nào trong cái bẩn thỉu, sự hãi sợ, và sự ngu xuẩn? Có phải người ta sẽ mở lại các trại tập trung? Có phải người ta sẽ xử dụng xe tăng theo kiểu Thiên An Môn? Có phải người ta sẽ bắn vào quần chúng? Tra tấn? Thủ tiêu? Liệu có ai ngây thơ đến độ tin rằng nhân dân Việt Nam cũng giống như nhân dân Trung Quốc, và sẽ cúi đầu trước roi vọt? Bởi vì phong trào đã âm ỉ từ lâu như thế, và đã tiến lên như thế, sẽ không dừng lại. Đó không phải là một phong trào bột phát lửa rơm của sinh viên: nó đã tụ hợp được trên những điểm mấu chốt những trí thức có tiếng tăm, có quá khứ ái quốc đầy uy tín, được kính trọng và được lắng nghe, những quân nhân mà sự vinh quang phục vụ tổ quốc cũng như sự liêm khiết không ai có thể nghi ngờ. Nó bắt rễ rất sâu trong quá khứ yêu nước và trong văn hoá đại chúng.

Quả là đến lúc dừng lại dùi cui, để mở mắt nhìn và để dỏng tai nghe: con đường đàn áp là bế tắc. Hỡi quý ông mang dùi cui, cái vị máu trong miệng đó, và cái nỗi thịnh nộ đó, mà mỗi ngày các phản ứng hèn hạ của quý ông mỗi làm cho thêm người cùng nếm trải, đang đưa quý ông, và gia đình, và cả đất nước này đến thảm hoạ.

Kết Luận:

Chế độ Cộng Sản độc tài hiện tại là một chế độ bất lực, thối nát, phản dân hại nước, đi ngược lại với cao trào dân chủ trên toàn thế giới. Những kẻ lãnh đạo trong cái đảng “mafia” ở Hà Nội là những kẻ vô học, vô lương tâm, hám của, ham ăn chơi, ham sắc, chỉ biết nghỉ tới quyền lợi riêng tư, không màng gì đến đất nước, đến dân tộc, chúng coi thường những quyền lợi chân chính của dân ta. Đất nước bị xâm chiếm, chúng cũng làm ngơ, người dân khốn khổ không đủ cơm ăn áo mặc, chúng cũng bỏ mặc.

Để duy trì cái chế độ mang vàng bạc châu báu đến cho chúng, để giữ vững quyền lực bất chính cha truyền con nối trong tay một thiểu số những kẻ bất lương, chúng bỏ hàng tỷ ra để nuôi dưỡng một bộ máy kìm kẹp bịt miệng bịt mắt người dân bao gồm hàng triệu bọn côn đồ mật vụ và công an, sẵng sàng tuân lênh chúng, dùng bạo lực để khủng bố đe dọa, trừng phạt, bắt bớ bỏ tù, đánh đập tra khảo và thủ tiêu những ai đứng lên tố cáo chúng với thế giới, đòi quyền sống, đòi công bình, đòi dân chủ tự do… Chúng sẵng sàng dùng súng đạn xe tăng đàn áp, khủng bố những ai dám xuống đường chống lại chúng, sẵn sàng bắt chước quan thầy Trung Quốc của chúng tạo ra một “Thiên an môn”, tàn sát người dân.

Chỉ những kẻ mơ tưởng hay ngu dại mới nghĩ rằng chúng từ từ sẽ thay đổi, sẽ thực hiện dân chủ, sẽ thương nước thương dân, v…v… Đối với những kẻ đã mất lương tri như bọn cộng sản độc tài, những kẻ không bao giờ hiểu lẽ phải, không bao giờ biết công bình bác ái, thì tranh đấu ôn hòa cũng không thể đi đến đâu. Thanh niên sinh viên vừa xuống đường bầy tỏ lòng yêu nước là đã bị chúng dùng bạo lực trấn áp một cách công khai. André Menras, một tay trước đây là “đồng chí” với bọn Việt Cộng, nay đã sáng mắt nhưng vẫn còn ngây thơ tự hỏi:

Trước làn sóng đang dâng lên, hợp pháp, lành mạnh và cứu rỗi, sự đàn áp sẽ lên đến những mức nào trong cái bẩn thỉu, sự hãi sợ, và sự ngu xuẩn? Có phải người ta sẽ mở lại các trại tập trung? Có phải người ta sẽ xử dụng xe tăng theo kiểu Thiên An Môn? Có phải người ta sẽ bắn vào quần chúng? Tra tấn? Thủ tiêu?

Bọn Cộng Sản có khi nào từ bỏ đàn áp người dân, có khi nào chúng không sợ hãi người dân nổi dậy? Chúng có khi nào đóng cửa những trại tập trung? Sao chúng lại không dùng xe tăng để trấn áp những người đứng lên chống lại chúng? Bằng chính sách ngu dân, bằng những phong trào đầu độc tư tưởng, những phương pháp tẩy não, tuyên truyền, bằng những lời dối trá bịp bợm, chúng muốn ru ngủ dân ta, muốn dân ta trở thành là những con cừu, chỉ biết ngoan ngoãn tuấn lệnh, nghe theo những gì chúng nói, muốn dân ta trở thành những con vật chúng dễ sai khiến, hay những người máy chúng dễ điểu khiển. Nếu dân ta không nghe, không tuân lệnh, chúng ra tay ngay, chúng sẽ dùng bạo lực để trấn áp chúng ta.

Như vậy đối với bọn Cộng Sản độc tài, không thể có sự đấu tranh ôn hòa, không thể có một thỏa hiệp, vì một lý do đơn giản là chúng ngoan cố không bao giờ chấp nhận ai đấu tranh chống lại chúng, không bao giờ chấp nhận thỏa hiệp. Như vậy chỉ có thể một cuộc đấu tranh bằng bạo lực mới có thể chống lại sự tàn bạo của chúng, mới có thể lật đổ chế độ độc tài hiện hành. Không thể nào không có đổ máu mà cuộc nổi dậy có thể thành công. Chỉ có bạo lực mới chống lại được bạo lực. Một sự éo le khác là ngày nào Việt Cộng còn thì quan thầy Trung Cộng của chúng vẫn còn là mối đe dọa cho dân tộc, đất nước ta. Có diệt được bọn Việt cộng độc tài mới trị được bọn Trung Cộng xâm lăng. Đó lại càng là lý do chúng ta phải dùng bạo lực lật đổ chế độ Cộng Sản tay sai Đế Quốc Trung Cộng này.

Hướng Dương txđ
Tháng 7 năm 2011

http://huongduongtxd.com/latdochedodoctai.html
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 3 guests