Tạp Ghi

MatVit
Posts: 1332
Joined: Fri Sep 02, 2011 9:10 pm
Contact:

Post by MatVit »

Con chó đợi đèn

Tạp ghi Huy Phương
Hình ảnh trên YouTube ghi lại chuyện một con chó nhất quyết đợi đèn xanh mới sang đường trong khi có hai cô gái vượt đèn đỏ khiến nhiều người xem không khỏi ngạc nhiên, vì đây là một câu chuyện lạ đối với nhiều người.


Hẳn con chó này chưa hề ngồi qua một lớp dạy luật lệ giao thông dành cho chó, hay được ai dạy dỗ, căn dặn về chuyện tôn trọng luật lệ đi đường. Nhưng có một điều tôi biết chắc là người chủ của con chó là một người “công dân có giáo dục” và là một người tử tế. Từ khi con chó được lớn lên trong gia đình này, đi theo người chủ, chưa bao giờ nó thấy người chủ vi phạm luật giao thông, ông chưa bao giờ vượt đèn đỏ để qua đường, và con chó đã học được thói quen ấy trong nhiều năm.

Bây giờ không có người chủ đi bên cạnh, không có cảnh sát hướng dẫn, không có cây chắn đường, con chó vẫn ngồi chờ cho đến khi có đèn xanh, để qua đường. Cử chỉ này xem qua có vẻ đơn giản nhưng quá khó khăn, vì hiện nay hàng triệu người Việt Nam văn minh, tử tế vẫn chưa làm được như con chó này.

Chuyện con chó chờ đèn xanh để qua đường gây được sự chú ý của dư luận, lẽ cố nhiên, phần lớn là ở trong nước, vì ở ngoại quốc, người ta xếp hàng trước tiệm ăn, hay một con chó chỉ chịu qua đường khi đèn xanh bật lên thì đâu có gì lạ. Không thấy ai khen ngợi con chó, không ai chấp nhận nó còn hơn cả con người, sinh vật mà lâu nay đi bằng hai chân, một tác phẩm tuyệt hảo của Thượng Đế hay sao?

Thật là ngu như chó! Nó không thông minh, không linh hoạt, không thích ứng như con người. Vì vậy người ta xem nó hành động cứng nhắc vì nó không biết cách “uyển chuyển theo tình huống” bằng con người, nghĩa là khi không có xe thì cứ qua, khi không có cảnh sát thì cứ vượt đèn đỏ.

Bình luận cho việc một con chó đợi đèn, một người trong nước cho biết ý kiến: “Tôi không cổ xúy cho việc phải phá vỡ luật nhưng mình cứ chọn đúng thời điểm, chớp thời cơ thì không có gì là sai cả!” Theo ý kiến người này, không cần thiết phải đợi đèn, cứ vượt đèn đỏ đúng lúc, “miễn là đúng thời điểm” và chớp thời cơ, phải chăng là khả năng của con người XHCN trong bất cứ hoàn cảnh nào. Cách đây 70 năm, Hồ Chí Minh đã “chọn đúng thời điểm, chớp thời cơ” nhảy ra cướp chính quyền, việc lớn cũng không sao, huống gì ngày nay với dăm ba việc lẻ tẻ, sống sao có lợi cho bản thân mình là được.

Bí quyết thành công của con người hôm nay là phải quên cái câu “mình sống vì mọi người,” ngày nay muốn thành công “phải đạp lên đầu người khác mà đi!”

Ở Việt Nam hiện nay, họa là ngu mới đứng lại ở đầu đường khi đèn trở màu đỏ. Tai nạn vượt đèn đỏ không nguy hiểm tàn khốc bằng tai nạn khi chúng ta tuân hành đèn giao thông và dừng lại khi thấy đèn đỏ, vì chúng ta sẽ bị những loạt xe đằng sau tiến lên cán nát.

Một người khác thì cho rằng: “Đèn giao thông chẳng qua là một quy định chung cho số đông, nhưng cái mà nó tiến đến cũng là phục vụ sự thuận tiện cho con người!”

“Phục vụ sự thuận tiện cho con người!” có nghĩa là sống theo luật rừng, thuận tiện nhưng không cần đến quy luật. Phục vụ cho sự thuận tiện của con người, phải chăng là thấy đói thì ăn, không biết thức ăn đó là của ai, khát thì uống dù thức uống đó không phải của mình, phóng uế bất cứ nơi đâu khi cần, và buông thả thú tính khi không có ai kèm thúc, ràng buộc.

Không thấy hổ thẹn khi con người phá bỏ ngay quy ước và luật lệ do con người đặt ra để bảo vệ an toàn chính cho con người. Bài báo này hẳn không có mục đích để ca tụng một con chó, con vật mà trong xã hội Việt Nam, lâu nay vốn đã xem nó là thấp hèn, hạ tiện biết chừng nào. Từ việc xem chó như một con vật bình đẳng của một số rất nhỏ hiện nay, tiến tới chuyện con người Việt Nam biết thương yêu và tôn trọng những con vật như chó, người Việt Nam phải trải qua, ít nhất là vài trăm năm nữa!

Có nhiều điều rất mâu thuẫn trong cung cách đối xử giữa con người với nhau, và sự khinh miệt của con người đối với một con chó. Tuy khinh miệt loài chó, loài người Việt Nam có thể hung hãn giết một con người bằng đủ loại hành động tàn khốc, man rợ thời trung cổ, để bênh vực một con chó, dù chỉ là một con chó qua đường, không thuộc quyền sở hữu của họ.

Có một đất nước nào tôn trọng, bênh vực sự sống tốt đẹp của loài chó như trong “thiên đường” Việt Nam không, để cho bất cứ con chó nào trên trái đất này đều có một mơ ước trở thành một con chó Việt Nam? Nghĩa là vì sự sống của một con chó, người ta có thể giết một con người. Nhưng sự thật là không phải vậy. Phải ở trong xã hội Việt Nam mới thấy cái “chó” của những vở kịch đẫm máu này!

Bài viết nhỏ nhoi này không hề có ý bệnh vực loài chó vì trong câu chuyện này vẫn có người khẳng định: “Con người hơn chó là vậy đấy. Người hơn chó vì biết chớp thời cơ!”

Câu chuyện còn đưa đến một kết luận: “Đơn giản là chú chó sợ chết hơn con người.” Sợ chết, muốn sống là bản năng của sinh vật, bất kể con người hay con chó. Nhưng vì sao con chó trong câu chuyện này sợ chết, mà con người lại không?

Những bản tin trên báo chí Việt Nam đọc đến nhàm chán: - “Ba xe chờ đèn đỏ bị xe tải chạy tới hất văng,” - “Đang đứng lại đầu đường vì đèn đỏ, thiếu nữ bị tông xe, ngã nhào,” - “Xe container đâm hàng loạt xe đang chờ đèn đỏ,” - “Vợ chồng dừng lại đèn đỏ, vợ bị xe sau tông chết...” Như vậy, chúng ta đi xe dừng lại khi thấy đèn đỏ bật lên là đúng luật hay sai luật? Nhưng quan trọng là con người lại muốn sống hơn là được công nhận thi hành đúng luật giao thông hay không?

Chúng ta hãy nghe một tài xế vượt đèn đỏ gây tai nạn giải thích lý do: “Đèn bật đỏ! Tôi tưởng cái xe chạy trước tôi đi luôn, nhưng không hiểu sao, nó dừng lại!” Các bạn đã thấy một đám xe gắn máy khi gặp đèn đỏ chưa? Họ hung hãn, tống chân ga, chen lấn, ào lên, lấn lách, tràn lên hè phố, nơi người ta buôn bán, đi bộ.

Đứa nào đứng lại, không thuộc loại dại cũng là ngu, không thuộc loại lừ đừ cũng là thứ gà chết. Cuối cùng, đứng lại khi thấy đèn đỏ cũng chết, vượt đèn đỏ sai luật lại càng dễ chết hơn.

Ở Mỹ này, có khi bạn đi về rất khuya, đến chỗ đèn đỏ, dù lúc bấy giờ đường sá vắng tanh, không có một ai qua lại, bạn vẫn tự động dừng xe lại chờ. Không phải vì bạn sợ chết như chuyện con chó đợi đèn, hay bạn sợ một ông cảnh sát nào đó bỗng nhiên lù lù hiện ra, mà đó chỉ là một thói quen, một phản ứng tự nhiên. Để có một phản ứng như vậy, bạn phải có chừng năm, bảy năm sống trong một cộng đồng loài người văn minh, ở một xứ sở văn minh.

Sài Gòn có thể cần $5 triệu để chống ngập lụt, $5 triệu nữa để chống nạn kẹt xe, nhưng thật tình tôi không biết phải cần bao nhiêu tiền nữa để sửa cái “công tắc” trong đầu mỗi người dân, cái “công tắc” đó để chỉ huy người lái xe, tự động đứng lại khi gặp đèn đỏ và chỉ chạy xe khi có đèn xanh?
tramthaiha
Posts: 453
Joined: Tue Sep 08, 2009 7:54 pm
Contact:

Post by tramthaiha »

Chúng ta có thể làm được gì cho đất nước?

Nguyễn Hưng Quốc

(Nguồn: VOA)
Với chữ “chúng ta” ở đây, tôi chỉ giới hạn trong cộng đồng người Việt Nam ở hải ngoại. Nghe nói cộng đồng ấy đã lên đến trên dưới bốn triệu người sống rải rác trên khoảng một trăm quốc gia trên thế giới. Ðó là một cộng đồng khá đa tạp, bao gồm nhiều thành phần khác nhau, những cách thức rời bỏ quê hương khác nhau, từ những người vượt biên và những cựu tù nhân chính trị được ra đi chính thức đến những người được thân nhân bảo lãnh, các cựu du học sinh và những người quyết định định cư ở nước ngoài chỉ vì lý do thuần túy kinh tế.

Tuy đa tạp như vậy, nhưng tất cả đều có một số điểm chung. Chung ở hoàn cảnh: lưu vong. Chung ở tâm thế: tâm thế lưu vong. Theo các nhà Lưu vong học, tâm thế ấy bao gồm bốn điểm chính: Thứ nhất, tất cả đều chia sẻ một số ký ức tập thể chung liên quan đến nguồn cội. Thứ hai, tất cả, với những mức độ khác nhau, đều cảm thấy ít nhiều lạc lõng trên đất khách. Thứ ba, tất cả đều không nguôi nhớ về quê cũ, thi vị hóa quá khứ, đau đáu theo dõi từng diễn biến trong đời sống chính trị ở cái nơi mình đã bỏ ra đi. Cuối cùng, thứ tư, như là hệ quả của ba đặc điểm vừa nêu, tất cả đều sống trong trạng thái ở giữa: giữa quê cũ và quê mới, giữa quá khứ và hiện tại, giữa hoài niệm và hoài bão, giữa đây và đó.

Trong các đặc điểm vừa nêu, điều đáng chú ý nhất là những ám ảnh về quê cũ. Những ám ảnh ấy có nhiều biểu hiện khác nhau. Có người thấy thỏa mãn với việc thỉnh thoảng bay về quê hương như một du khách. Có người thường xuyên theo dõi các biến chuyển ở quê hương một cách thụ động. Có người trăn trở muốn làm một cái gì đó để thay đổi tình hình đất nước. Chính với nhóm người sau cùng này, một câu hỏi thường được đặt ra: Liệu những nỗ lực của họ có thành hiện thực? Hay nói cách khác, rộng hơn, liệu những người đó có thể làm được gì cho đất nước?

Ðể trả lời câu hỏi ấy, không thể không nhìn lại kinh nghiệm của các cộng đồng lưu vong trên thế giới. Sau năm 1917, cả hàng triệu người Nga bỏ nước ra đi. Sau năm 1945, hàng triệu người Ðông Âu bỏ nước ra đi. Họ, cũng giống chúng ta, không ngớt thao thức về đất nước, và một số khá đông cũng tìm mọi cách để dân chủ hóa đất nước của họ. Nhưng họ còn hơn chúng ta ở một điểm: Trong họ, có nhiều tài năng có tầm vóc thế giới, nhiều tên tuổi nổi tiếng trong nhiều lãnh vực khác nhau, từ khoa học đến văn học nghệ thuật. Cuối cùng, họ đã làm được gì cho đất nước của họ?

Câu trả lời khá buồn: hầu như không được gì cả. Từ đầu thập niên 1980 trở về trước, bất chấp những sự phê phán và phản kháng của các cộng đồng lưu vong ở nước ngoài, các chế độ Cộng Sản ở Nga và Ðông Âu vẫn vững mạnh. Cuối thập niên 1980, các chế độ Cộng Sản ở những nơi ấy lần lượt sụp đổ vì những lý do khác chứ không hề từ những nỗ lực tranh đấu từ bên ngoài. Sau khi chủ nghĩa Cộng Sản sụp đổ, các cộng đồng lưu vong cũng không đóng góp được gì trong quá trình dân chủ hóa chế độ. Từ trước đến sau, các cộng đồng lưu vong đều là những kẻ ngoại cuộc, bất lực và vô vọng.

So với các cộng đồng lưu vong Nga và Ðông Âu trước đây, cộng đồng lưu vong Việt Nam có gì khác?

Có.

Cái khác căn bản nhất là ở thời đại: Chúng ta, may mắn hơn, sống trong thời toàn cầu hóa, trong đó, các phương tiện truyền thông đại chúng, đặc biệt là Internet, phát triển vượt bậc khiến quan hệ trong và ngoài nước được dễ dàng và vô cùng nhanh chóng. Trước, những tiếng nói phản kháng của những người lưu vong, kể cả những người từng đoạt giải Nobel về văn chương, từ Aleksandr Solzhenitsyn (1918-2008) đến Joseph Brodsky (1940-1996), đều chỉ vang lên ở Tây phương chứ không vọng về được trong nước họ. Bây giờ, với chúng ta, tình hình khác hẳn. Bất cứ tiếng nói nào được cất lên ở hải ngoại, qua mạng lưới Internet, được người trong nước nghe ngay tức khắc. Con đường ngược lại cũng tương tự: một tiếng kêu từ trong nước, trong vòng tích tắc, đã được tiếp nhận ở hải ngoại.

Với những quan hệ chặt chẽ giữa trong và ngoài nước như vậy, những nỗ lực tranh đấu của người Việt ở nước ngoài sẽ dễ có hiệu quả hơn. Hiệu quả ấy có thể thấy trên hai khía cạnh: Thứ nhất, người Việt ở hải ngoại đóng góp phần lớn vào tiến trình quốc tế hóa cuộc đấu tranh trong nước. Một trong những lý do chính làm cho các chính phủ Tây phương cũng như các tổ chức về nhân quyền trên thế giới biết đến những sự đàn áp thô bạo của chính quyền Việt Nam chính là nhờ các nỗ lực vận động của người Việt ở nước ngoài. Không có họ, các tiếng gào thét cất lên từ trong nước rất dễ tan biến vào hư không. Thứ hai, điều người Việt ở nước ngoài có thể đóng góp cho những người Việt tranh đấu ở trong nước là về phương diện lý luận. Người Việt ở trong nước có nhiều kinh nghiệm trực tiếp về sự độc tài và tàn ác của chế độ, nhưng điều họ thiếu là những kinh nghiệm về dân chủ cũng như tầm nhìn bao quát về địa chính trị vốn là mặt mạnh của những người Việt Nam ở hải ngoại.

Nói cách tóm tắt, qua các mạng truyền thông xã hội, người Việt trong và ngoài nước cùng bắt tay nhau trên con đường tranh đấu cho tự do và dân chủ. Mỗi bên đều có mặt mạnh và mặt yếu nhưng qua sự hợp tác, các mặt yếu sẽ được khắc phục và các mặt mạnh sẽ được phát huy. Tất cả sẽ góp phần hình thành nên một trận tuyến chung trong việc dân chủ hóa đất nước
trinhham
Posts: 133
Joined: Mon Dec 10, 2012 2:07 am
Contact:

Post by trinhham »

Cảm ơn Tập Cận Bình!
Phạm Chí Dũng


Image
‘Sói chết không chừa nết’

Mười tám tháng sau câu chuyện giàn khoan Hải Dương 981 khiến người dân Việt bớt ghẻ lạnh nhau, những ai còn quan ngại đến vận mạng đất nước lại cần “Cảm ơn Tập Cận Bình”.

Không thể khác hơn được!

Bởi vì chỉ một ngày sau khi rời Việt Nam, diện mạo của nhân vật đang nhắm đến vị trí quyền lực thứ hai thế giới - sau Putin - đã đổi màu lột xác. Tập Cận Bình đã biến cuộc “sinh hoạt” tại Viện nghiên cứu Đông Nam Á của Singapore vào ngày 7/11 thành diễn đàn đảng trị một chiều “sói chết không chừa nết”: “Các hòn đảo ở biển Nam Trung Hoa là lãnh thổ của Trung Quốc từ thời xa xưa”, và “Chính phủ Trung Quốc phải có trách nhiệm để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và quyền lợi lãnh hải chính đáng”.

Không một lời thèm đá động đến hai số phận quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và cũng chẳng hề thốt ra một hứa hẹn nào về “sẽ giải quyết tranh chấp Biển Đông” trước gần 500 đại biểu Quốc hội Việt Nam quen nín lặng, nhẫn nhục, đạo diễn của vở kịch mang tên “Hải Dương 981” hoàn toàn để ngỏ khả năng Bắc Kinh sẽ dàn chào những giàn khoan Hải Dương mới, hay thậm chí còn tệ hơn - như biển số 000.79 của xe hơi mà họ Tập sử dụng ở Hà Nội mới đây - như một gợi ý lộ liễu về quá khứ “dạy cho Việt Nam một bài học” trong cuộc chiến biên giới Việt - Trung năm 1979.

Song chính tia mắt đỏ lừ vằn vện tự tôn vô giới hạn của con sói đã mang lại cho giới lãnh đạo Việt Nam một bài học mới: Còn lâu mới có chuyện “mười sáu chữ vàng” và “bốn tốt”.

Tập có can thiệp được vào ‘Bộ chính trị Giao Chỉ’?


Trước “chuyến thăm” của người nhất thể hóa hai cương vị tổng bí thư và chủ tịch Trung Quốc tại Việt Nam vào hai ngày 5 và 6 tháng 11, đã xuất hiện không ít lo ngại về kịch bản lãnh đạo Trung Quốc tìm cách, và rất có thể sẽ thành công, can thiệp vào đường lối đối ngoại và cả hoạt động nhân sự cao cấp của “Bộ Chính trị Giao Chỉ” trước khi đại hội đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 12 diễn ra vào đầu năm 2016. Tin tức Trung Quốc viện trợ cho Việt Nam 1 tỷ nhân dân tệ càng làm nỗi lo sợ bị Hán hóa tăng vọt.

Thế nhưng tuyên bố có thể được hiểu là “Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về Trung Quốc” của Tập Cận Bình tại Singapore có lẽ làm giảm bớt nỗi lo ngại nói trên. Đơn giản là với tính cách quá ngạo mạn của nhà nước Đại Hán, Tập Cận Bình sẽ không dại gì tái khẳng định chủ quyền biển đảo của Trung Quốc, nếu mục tiêu mơn trớn và lôi kéo Bộ Chính trị Hà Nội vào vòng phụ thuộc Bắc Kinh đã đạt được qua những cuộc gặp với “tứ trụ” Việt Nam.

Dư luận xã hội, được biểu trưng bằng hệ thống báo chí “mang tính đảng”, là một bằng chứng rất thiết thực về hiệu ứng có thể coi là mờ nhạt của Tập Cận Bình tại Hà Nội.

Trong khi tờ PetroTimes chọn từ “xảo ngôn” - một từ ngữ nặng nề để chỉ trích thái độ “đại bá của lãnh đạo Trung Quốc” và báo Pháp Luật TP. HCM nói ông Tập đã “ngang ngược” khi tuyên bố rằng các đảo trên biển Đông là thuộc về lãnh thổ Trung Quốc từ thời xa xưa, thì trang Giáo dục Việt Nam chạy tít “Thiện chí chót lưỡi đầu môi”: “Trung Quốc vẫn cứ làm theo ý mình trong khi mong muốn và tìm cách ép các bên liên quan, bao gồm Việt Nam, phải theo luật chơi của họ”.

Hoàn toàn dễ hiểu là giới báo chí Việt Nam - những tờ báo có truyền thống phản biện và có thể cả báo đảng - đã được nhân vật bị coi là “thân Trung” như Nguyễn Phú Trọng không cấm cản để tung ra những câu chữ bất thường lên án Trung Quốc. Ban Tuyên Giáo trung ương của Ủy viên Bộ Chính trị Đinh Thế Huynh, cũng vì thế, được xem là địa chỉ “bật đèn xanh” cho chiến dịch phản tuyên truyền này, cho dù mới vào nửa đầu năm ngoái, tất cả còn bị trói tay bởi từ “tàu lạ”.

Nguyên khí Quang Trung Nguyễn Huệ

Image
Một dấu chỉ khác càng làm nổi bật quan điểm “dần thoát Trung” khi nhân vật số hai của giới lãnh đạo Việt Nam - Chủ tịch nước Trương Tấn Sang - đã công khai nói trong cuộc tiếp Tập Cận Bình: “... những năm gần đây, lòng tin về quan hệ hai Đảng, hai nước trong một bộ phận quần chúng nhân dân, cán bộ, đảng viên đã bị suy giảm bởi những tranh chấp, bất đồng giữa hai nước về vấn đề trên biển cũng như việc một số thỏa thuận hợp tác giữa hai nước không được thực hiện đầy đủ."

Rất cần để ý rằng đây là lần đầu tiên kể từ khi nhậm chức chủ tịch nước và cũng là lần đầu tiên sau nhiều cuộc tiếp xúc với phía Trung Quốc, ông Sang - người từng bị dư luận chỉ trích khá nặng nề về tư thế cúi đầu quá thấp trước quốc kỳ Cộng hòa nhân dân Trung Hoa tại Bắc Kinh vào năm 2013, đã có gan “càm ràm” trực diện với lãnh tụ Đại Hán. Phát ngôn cùng hành động có phần “vượt trên chính mình” này đã khiến nhiều người ngạc nhiên. Tuy thế, một số dư luận, kể cả trong giới đấu tranh dân chủ nhân quyền, lại tỏ ra phần nào đồng cảm với ông Trương Tấn Sang về nguyên khí Quang Trung Nguyễn Huệ:

“Đánh cho để dài tóc

Đánh cho để đen răng

Đánh cho nó ngựa xe tan tác

Đánh cho nó manh giáp chẳng còn

Đánh cho nó biết nước Nam anh hùng có chủ”

Nhưng khá trái ngược, một số dư luận lại tỏ vẻ tiếc nuối: nhân vật số 3 của giới lãnh đạo Việt Nam - Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và là người từng nêu ra từ ngữ bất hủ về “tình hữu nghị viển vông” - vào lần tiếp Tập Cận Bình vừa qua đã chỉ "... đánh giá cao ý nghĩa chuyến thăm Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình cũng như những nhận thức chung quan trọng mà Tổng Bí thư hai Đảng đạt được trong cuộc hội đàm về phát triển quan hệ hai Đảng, hai nước".

‘Quay đầu là bờ’

“Phát triển quan hệ hai Đảng, hai nước” lại là tiêu ngữ mà giới lãnh đạo Việt Nam, đặc biệt là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thể hiện như một chủ trương mới mẻ và có vẻ thành thật đối với Hoa Kỳ từ năm 2014, và “đi vào chiều sâu” trong chuyến công du Washington tháng 7/2015 của ông Trọng, chứ không mang vẻ “ngớ ngẩn” của Ủy viên Bộ Chính trị Phạm Quang Nghị tại Mỹ vào tháng 7/2014.

Hình như ngày càng nổi rõ sự kiện Tổng Bí thư Trọng được tổng thống Hoa Kỳ tiếp đón rất trang trọng tại chính Phòng Bầu dục đã mở ra một điểm ngoặt mang tính quyết định cục diện đối ngoại đối với giới lãnh đạo Việt Nam: xoay trục sang phương Tây để tương thích với chính sách xoay trục về châu Á - Thái Bình Dương của nước Mỹ.

Hệ quả là sau sự kiện tháng Bảy 2015, lần đầu tiên kể từ năm 1975, tàu chiến Mỹ thực thi nhiệm vụ “tuần tra thường xuyên ở khu vực Biển Đông”, bất chấp Trung Quốc có muốn hay không.

“Cảm ơn Tập Cận Bình” cũng bởi thế đang vô hình trung phát sinh. Ve vãn và lôi kéo Việt Nam không thành công, quyết tâm tái khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa của lãnh đạo Trung Quốc càng khiến dân chúng Việt nổi giận; còn những kẻ thân Trung cuối cùng ở Hà Nội càng lo sợ cho tương lai của họ: sẽ ra sao nếu một khi Việt Nam bị Hán hóa lần nữa, họ sẽ trở thành một thứ “quần thần lơ láo”, hoặc tệ hơn là phải chịu số phận bị tận diệt về chính trị?

Bây giờ thì đã rõ, từ đây đến đại hội đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 12 và ít ra vài năm sau đó, Trung Quốc sẽ chẳng đời nào để cho nội tình Việt Nam yên ấm. Và vẫn sẽ là những cuộc gây hấn mang tính tiểu xảo và có thể cả xung đột quy mô nhỏ trên biển và trên bộ, rồi chờ một lúc nào đấy khi người Mỹ chợt “buông” Việt Nam thì sẽ nổ ra cuộc xâm chiếm đất Giao Chỉ một lần nữa…

Nhưng đó lại là cơ may cho dân chủ cùng tình cảm dân tộc chấn hưng. Một chế độ chính trị Việt Nam sau đại hội 12, dù với nhân sự của bất cứ phe phái nào, không còn cách nào khác, sẽ phải ít nhiều “quay đầu là bờ” để còn giữ được cơ hội nhìn mặt nhân dân.
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »

Chuyện cục gạch của 'Bác Hồ'

Huy Phương

Liên tưởng là nhân sự việc, hiện tượng nào đó mà nghĩ tới sự việc, hiện tượng khác có liên quan, có khi tương đồng nhưng có khi tương phản. Mấy hôm nay trời California trở lạnh, tôi nghĩ đến những ngày tuyết giá ở miền Đông, nơi mà tôi đã sống một thời gian mấy năm, nhưng đồng thời tôi cũng nghĩ đến một cái gì nóng và ấm. Thì ra tôi đang nhớ đến chuyện cục gạch của “Bác Hồ” mà tôi đã được nghe qua ở đâu đó.

Chuyện cục gạch này không phải là huyền thoại, nó cũng không là chuyện tiểu thuyết hư cấu, mà chính là chuyện thật của đời “Bác,” do chính “Bác” kể, và chính “Bác” viết thành sách, thì đương nhiên phải là chuyện thật. Tên cuốn sách là: “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch,” và tác giả là Trần Dân Tiên, không sai vào đâu, đó chính là “Bác.” Khổ nỗi, không ai nói cho bọn trẻ dưới chế độ XHCN biết Trần Dân Tiên “chính mi,” Hồ Chí Minh.

Câu chuyện Trần Dân Tiên viết ở trang 36 về “cục gạch của Bác” như sau:

cucgach“Ông trọ ở một phòng nhỏ trong một khách sạn rất rẻ tiền ở xóm lao động. Phòng chỉ vừa kê một cái giường sắt chật, một cái bàn nhỏ và một cái ghế. Chỉ thế thôi, không có gì khác. Về mùa Đông lạnh, mỗi buổi sáng trước khi đi làm, ông để một viên gạch vào lò bếp của khách sạn. Chiều đến ông lấy viên gạch ra, bọc nó vào trong những tờ báo cũ, để xuống nệm cho đỡ rét.”

Câu chuyện Trần Dân Tiên viết, có thể xem qua rồi bỏ, nhưng khổ thay các con cháu của “Bác” lại cứ nhặng xị lên, làm như thật, vì cái gì của “Bác” lại không thơm tho, vĩ đại. Không rõ câu chuyện thực hư thế nào, các văn công thi sĩ cứ vung bút ca tụng lên cho có lập trường cái đã, rồi mọi chuyện tính sau.

Chế Lan Viên, chuyên viên nịnh bợ, đã viết một câu thơ chẳng ra thơ:

“Có nhớ chăng hỡi gió rét thành Ba Lê
Một viên gạch hồng, Bác chống lại cả một mùa băng giá!”

Tố Hữu không quên “nghề của chàng” nhưng câu cuối xuống “xề” quá vụng:

“Muôn nỗi đời như ảnh trắng đen
Bâng khuâng đêm lạnh, thức bên đèn
Một hòn gạch nóng nung tâm huyết
Mẩu bánh mì con nuôi chí bền.”

Sách “Bác” ghi rõ ràng là viên gạch, trước khi đi làm “Bác” bỏ vào lò bếp khách sạn, nhưng đời sau, sợ bếp khách sạn không đủ nóng, người ta lại nói “Bác” đem gửi cục gạch ở lò bánh mì. Con cháu đời sau, có người minh chứng rằng một “cục gạch hồng” không thể gói bằng tờ giấy báo đem lên lầu hai nơi “Bác” ở được, tờ báo sẽ cháy và “Bác” sẽ bị phỏng tay. Một cục gạch nếu được đốt nóng cũng không giữ nhiệt được quá một tiếng đồng hồ.

Bác ở nhà số 9 ngõ Compoint từ ngày 14 Tháng Bảy, 1921 đến 14 Tháng Ba, 1923, mãi đến 56 năm sau, hơn nửa thế kỷ, kể cũng lạ, là khi phái đoàn Cộng Sản Bắc Việt đến Paris, tìm đến thăm nơi “Bác” ở, mà tất cả hãy còn nguyên vẹn: “Một chiếc la-va-bô treo tường, có vòi nước chỉ để rửa mặt, ngay cạnh đó là một chiếc tủ quần áo làm bằng gỗ tạp. Sát tường bên trái là một chiếc giường sắt đơn vừa đủ một người nằm. Đầu giường có một chiếc tủ con để sách vở và vài đồ lặt vặt. Phía trên có một ngọn đèn nhỏ vừa đủ để thắp sáng gian buồng...”

Báo Giáo Dục và Đào Tạo còn phịa chuyện: “Ta còn phải học Bác ở tinh thần vượt gian khổ để học tập. Thời gian Bác sống ở Paris, rất cực khổ. Bác thuê phòng trọ nhỏ trong một khách sạn rẻ tiền, mỗi buổi mai nấu cơm trong một cái sanh nhỏ đặt trên ngọn đèn dầu. Cơm ăn với một con cá mắm hoặc một ít thịt, ăn một nửa còn một nửa dành đến chiều. Có khi một miếng bánh mì với một miếng phó-mát là đủ ăn cả ngày.”

Ở Paris vào năm 1921, chưa có dân Việt tị nạn Cộng Sản chạy sang đông như dân Little Saigon ngày nay, mà “Bác” đã kiếm ra cá mắm để xơi nửa con, và gạo Ông Địa để nấu cơm, mà nấu cơm trên một ngọn đèn dầu, lòng tôi không thấy chút nào khâm phục “Bác” mà khâm phục người viết báo thối tha nào đã bịa chuyện kinh hoàng đến mức này.

Ông Nguyễn Trường Phú, chuyên viên Bảo Tàng Hồ Chí Minh, còn bạo gan nói rằng “hiện vật viên gạch hồng” cùng với nhiều đồ vật khác mà người thanh niên Nguyễn Ái Quốc sử dụng khi ở ngôi nhà số 9, ngõ Công-poăng, quận 17, thành phố Pa-ri (Pháp) nằm trong bộ sưu tập quý của Bảo Tàng Hồ Chí Minh.” Nhưng sau đó, thấy chuyện vô lý, ông này đã nói lại là viên gạch trưng bày ở đó hiện nay là viên gạch được phục chế trên cơ sở viên gạch đồng thời, đồng loại do ông tổng lãnh sự Pháp tại Sài Gòn tặng viện bảo tàng!

“Năm 1974, chiếc tủ đựng quần áo, tủ con để đầu giường đã được đại sứ quán nước ta tại Pháp tổ chức lực lượng vận chuyển qua Béc-lin (Đức) bằng xe lửa, rồi gửi về nước!” Thật quá rắc rối!

Cũng không hiểu sao với chuyện nhà cửa đắt đỏ ở một thành phố lớn như Paris, mà bà chủ nhà Jammot lại để nguyên đồ đạc trong căn phòng của “anh Nguyễn” hơn nửa thế kỷ, để chờ phái đoàn Việt Cộng đi hội đàm ở Paris đến thăm và đòi mua lại. Hồ Chí Minh sinh năm 1890, hoạt động ở Paris đến năm 1921, tức là lúc ông đã 31 tuổi. Nếu bà cụ Jammot trẻ lắm thì phải trạc hay hơn tuổi “Bác,” như vậy năm 1974, bà đầm này cũng đã 84 tuổi, còn ở nguyên căn nhà ấy, còn minh mẫn để nhớ, kể chuyện vanh vách và dẫn lên tầng 2, nơi “anh Nguyễn” ở. Giá mà Bộ Chính Trị chở được bà này về Hà Nội trưng bày trong viện bảo tàng thì hay biết mấy!

“Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch” “là cuốn sách kể lại những mẩu chuyện về đời hoạt động của Chủ Tịch Hồ Chí Minh từ lúc ra đi tìm đường cứu nước cho đến những năm đầu trong cuộc kháng chiến thần thánh của nhân dân ta chống thực dân Pháp xâm lược,” của chính một người viết để đánh bóng thân thế và sự nghiệp của chính mình. Chính “Bác” trong cuốn sách này đã tự tả vẻ “đẹp lão“của mình (vào năm 1946) “Tóc người đã hoa râm, trán rộng và cao, đôi mắt sáng ngời, mũi thẳng ...”

Thế giới từng có chuyện suy tôn lãnh tụ, cũng có văn, thi sĩ đặt thêm bút hiệu để tự ca tụng mình, nhưng quả thật trên đời này, không ai vô liêm sỉ bằng “Bác!”

Trở lại huyền thoại “cục gạch hồng” của “Bác” người ta kể lại một câu chuyện “tếu” như sau:

“Một phái đoàn Hà Nội được thành lập, lên đường đi Paris, quyết tâm cao tìm cục gạch. Đến Pháp, họ tới ngõ làm bánh mì ngày xưa, thăm hỏi, lục lọi nhiều nơi, nhiều ngày, nhưng không ai nghe nói đến cục gạch của 'Bác.' Cuối cùng họ gặp một bà đầm đầu tóc bạc, móm mém ở một góc phố. Kiên nhẫn, nhân viên trong phái đoàn lập lại những câu hỏi về cục gạch.

-Các ông nói là các ông đi tìm cục gạch để sưởi ấm những đêm Đông tại nhà trọ, ngõ này của ông Nguyễn?

-Vâng ạ, chúng cháu đang tìm cục gạch đó ạ.

-Thế thì: Cục gạch, mà các ông đang đi tìm chính là... tôi đây!

Đừng tin những gì “Bác” nói và những chuyện chúng ca tụng về “Bác.”

Chân lý ấy không bao giờ thay đổi.

Người Bắc gọi “bốc phét.”

Người Nam kêu “ba xạo!”
bobinh
Posts: 221
Joined: Fri Feb 26, 2010 1:35 am
Contact:

Post by bobinh »


Putin: 'IS nhận tiền từ 40 nước'


Tổng thống Nga cho rằng các cá nhân ở 40 nước đang hỗ trợ về tài chính cho phiến quân Nhà nước Hồi giáo (IS) tại Syria,
trong đó có cả thành viên của G20.

Sai lầm chết người của phương Tây nếu chỉ diệt IS bằng vũ lực / Mèo hoang chơi đùa ở nơi họp lãnh đạo G20

Image
Tổng thống Nga Vladimir Putin. Ảnh: Reuters


"Tôi đưa ra các ví dụ dựa trên dữ liệu về hoạt động cung cấp tài chính cho các đơn vị khác nhau của IS từ các cá nhân. Chúng tôi cho rằng số tiền này đến từ 40 nước, trong đó có một số thành viên G20", Tổng thống Nga Vladimir Putin nói với các nhà báo tại hội nghị thượng đỉnh G20 ở Thổ Nhĩ Kỳ. Putin cho biết đã chia sẻ thông tin này với các nước dự họp, theo RT.

Từ lâu đã có nhiều đồn đoán rằng phiến quân IS đang nhận tiền tài trợ từ các cá nhân ở Kuwait, Qatar và Arab Saudi, IBTimes cho hay. Tuy nhiên ông Putin không tiết lộ với các phóng viên nước nào đã viện trợ tài chính cho IS.

Trong hội nghị G20 diễn ra hai ngày tại Antalya, Thổ Nhĩ Kỳ, ông Putin cảnh báo các nước thành viên khác về nguy cơ của hoạt động mua bán dầu bất hợp pháp với IS.

"Tôi đã chỉ cho các đồng nghiệp những bức ảnh chụp từ vệ tinh và máy bay cho thấy rõ ràng quy mô hoạt động mua bán dầu mỏ và sản phẩm xăng dầu bất hợp pháp", ông Putin nói.

Ngày 15/11, ông Putin đã gặp riêng Tổng thống Mỹ Barack Obama để bàn về chiến lược giải quyết cuộc xung đột ở Syria.

"Tổng thống Obama và Putin đã nhất trí về quá trình chuyển giao chính trị do người Syria, của người Syria, cũng như lệnh ngừng bắn được xúc tiến bởi các cuộc đàm phán giữa phe đối lập và chính phủ Syria do Liên Hợp Quốc làm trung gian", Nhà Trắng thông báo.

Mỹ và Nga đều tuyên bố sẽ quyết tâm diệt trừ phiến quân IS ở Iraq và Syria, nhưng đến nay hai nước vẫn thi hành những chính sách riêng mà chưa thành lập được một liên minh chung chống lại tổ chức khủng bố giàu có và mạnh nhất thế giới này.

Bạch Dũng
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Image

Kinh Tạ Ơn của một người bội bạc

*Huy Phương
(Ghi lại nhân ngày Lễ Tạ Ơn)


Tạ ơn mẹ đã đẻ đau mang nặng
Suốt đời con vẫn bên ướt mẹ nằm
Nước mắt mẹ nay vẫn còn xuôi chảy
Con vô ơn, tính những tháng cùng năm.

Tạ ơn cha đã cày sâu cuốc bẫm
Cho tuổi thơ con được bát cơm đầy
Nuôi con, cha muốn điều nhân nghĩa
Mà đời nay nhốn nháo biết sao đây.

Tạ ơn thầy đã cho con chữ viết
Lúc vỡ lòng những tiếng đọc a,b
Giữa chợ đời lố lăng con uốn bút
Trả cho xong nợ rượu thịt bạn bè.

Tạ ơn em cho đời anh bóng mát
Với tình yêu thường mộng mị thần tiên
Mà lòng anh còn sân si bạc bẽo
Chỉ cho em toàn những nỗi ưu phiền.

Tạ ơn mày, người bạn thời thơ ấu
Vẫn theo nhau thuở bắt dế ngoài đồng
Tao lớn lên thường mấy khi ngó lại
Có gặp thời cũng làm lạ quay lưng.

Tạ ơn bạn, người một thời chiến hữu
Ta bên nhau trong trận mạc mỗi ngày
Một miếng lương khô, một bình nước suối
Tôi bỏ đi lúc lửa cháy thành vây.

Tạ ơn anh, người bạn tù khốn khổ
Đã cho tôi hơi ấm chiếc lưng gầy
Đêm Hoàng Liên Sơn mùa Đông buốt giá
Tôi sợ lòng tôi nay đã đổi thay.

Tạ ơn chị, người thuyền nhân tủi nhục
Vùi tấm thân xuống đáy biển oan khiên
Tôi là kẻ chưa một lần say sóng
Vẫn vô tâm không một thoáng ưu phiền.

Tạ ơn em đọa đày trong trại cấm
Chết không lui vẫn tranh đấu kiên cường
Tôi dửng dưng như con người ngoại cuộc
Toan xênh xang chuyện y cẩm hồi hương.

Tạ ơn cháu đã lầm sinh chế độ
Đành đem thân kiếm cách sống qua ngày
Tôi như tên lái buôn vừa trúng mánh
Còn biết gì nhân nghĩa một đêm say.

Xin tạ ơn những người vì vận nước
Suốt một đời đày đọa dưới cùm gông
Tôi phàm phu như người quên đọc sách
Còn biết gì hổ thẹn lúc soi gương.

Tạ ơn tổ tiên đào kinh đắp lũy
Dựng giang sơn có liệt nữ anh hùng
Tôi thế hệ sau coi thường việc nước
Miễn sao đời có áo mũ xênh xang.

Tạ ơn tiền nhân, trống đồng Ngọc Lũ
Mái đình làng bay bướm nét hoa văn
Tôi như ngọn lá đầu cành xa gốc
Đâu như chim còn nhớ đậu cành Nam.

Tôi đấm ngực: Tôi là người có tội
Nghĩ phận mình đâu dám ngẩng nhìn ai
Đau lòng những lúc trước đèn đối diện
Hổ thẹn đêm về ngắm bóng trăng soi.



*(Chúc thư của một người lính chết già)
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Image

Cám ơn nước Mỹ
Trần Trung Đạo

Trong cuộc sống đa đoan và nhiều thăng trầm, trắc trở của tôi, biết bao nhiêu kỷ niệm, biến cố đã trôi qua trong đời kể từ ngày tôi bám vào chiếc xe ba bánh, xa ngôi làng Mã Châu, xã Xuyên Châu, Quận Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam thân thuộc.

Những vui, buồn, hy vọng, tuyệt vọng đã đến và đi trong đời sống nhiều đến nỗi tôi không thể nào nhớ hết. Thế nhưng, tôi sẽ không bao giờ quên được những tháng ngày đầu tiên của tôi trên đất Mỹ.

Trong trí nhớ của tôi vẫn còn in đậm hình ảnh chiếc Boeing của hãng Northeast bay ngược chiều kim đồng hồ đưa chúng tôi từ Manila đến phi trường Chicago vào một ngày cuối tháng 11 năm 1981. Giọng người nữ tiếp viên hàng không êm ái cất lên lời tạm biệt. Tôi không hiểu hết nhưng đại khái biết rằng cô ta vừa chào mừng chúng tôi sắp đặt chân lên đất Mỹ. Tôi tự nhủ, “quãng đời lưu vong thật sự sắp bắt đầu”. Bên ngoài trời đẹp nhưng xa lạ.

Như lời bà hướng dẫn viên người Phi dặn dò trước khi lên máy bay, chúng tôi, tay cầm chặt chiếc túi đựng hồ sơ tỵ nạn có chữ ICM thật lớn, sắp một hàng dài dọc theo hành lang phòng đợi để khỏi bị lạc.

Người đầu tiên ra đón chúng tôi ở phi trường Chicago là một cô gái Việt trẻ đẹp, có lẽ còn là sinh viên và đang làm việc cho cơ quan thiện nguyện. Một ông Mỹ già đẩy đến cho cô ta một thùng áo quần và lặng lẽ bỏ đi. Theo lịch trình đã được ấn định trước, tại Chicago chúng tôi sẽ được cấp phát áo ấm mùa đông trước khi chuyển máy bay về địa điểm định cư cuối cùng trong hành trình tỵ nạn. Trạm cuối của tôi là Boston.Tôi biết và kính trọng thành phố Boston văn hóa lịch sử, qua nhiều môn học, nhưng chưa bao giờ nghĩ có một ngày sẽ là nơi tôi gửi gắm phần đời còn lại của mình.

Người con gái đẹp mà tôi không dám hỏi tên, phát cho mỗi người trong đoàn chúng tôi một chiếc áo ấm. Tất cả đều cùng một cỡ như nhau. Chúng tôi ngạc nhiên nhìn chiếc áo ấm dày cộm rộng thùng thình hoàn toàn tương phản với bầu trời nắng chang chang bên ngoài.

Hiểu ý, với giọng Huế nhẹ nhàng, người đẹp dạy cho chúng tôi, những lưu dân đến từ vùng nhiệt đới, bài học đầu tiên về thời tiết nước Mỹ: “Ngó vậy mà không phải vậy đâu. Trời gạt mấy anh đấy. Ra ngoài không áo ấm vài phút là chết cóng”. Ngừng một chút, nàng cười tinh nghịch: “Ai không tin bước ra thử thì biết”. Nghe cô ta nói vui vui, tôi cũng định đáp lại bằng vài lời tán tỉnh nhưng chợt nhớ ra đây không phải là quán cà-phê trên đường Duy Tân cây dài bóng mát mà là thân phận hẩm hiu của một người tỵ nạn chân vừa chạm đất quê người, nên đành im lặng.

Đúng như lời cô gái Việt ở Chicago cảnh cáo, Boston chào đón tôi bằng những cơn bão tuyết triền miên suốt mùa đông dài rét buốt.

Đêm giao thừa của ngày Tết Việt Nam đầu tiên trên nước Mỹ, không có bánh chưng xanh, không có rượu nồng pháo nổ, không một lời chúc tụng ngoại trừ âm hưởng của những bông tuyết trắng bị gió đùa vào cửa sổ.

Người anh lớn tuổi nhất trong nhà đang cặm cụi sửa soạn một bàn thờ nhỏ trong phòng khách để cúng ông bà. Bàn thờ đơn giản, chỉ một lon hương, hai cây đèn, một nải chuối và một bình hoa. Tôi và những người ở cùng nhà ra khỏi phòng, nghiêm trang đứng sau lưng anh. Anh khấn vái xong, chúng tôi, những kẻ không họ hàng, thân thuộc gì với nhau, cũng lần lượt mỗi người thắp một cây hương, cúi đầu vái ba vái. Không biết vái về đâu và cũng không biết từ phương Đông xa xôi, tổ tiên ông bà có nghe được lời cầu nguyện của những đứa con đang lạc loài trên đất khách.

Tôi thường gọi đất Mỹ nầy là đất tạm dung, trạm dừng chân của tôi và hàng triệu đồng bào tôi, trên quãng đường dài lưu lạc. Tôi trả thuế cho nước Mỹ căn cứ vào những lợi tức mà tôi thu nhập được. Đó không phải là một nghĩa vụ thiêng liêng theo kiểu “Đừng hỏi đất nước đã làm gì cho bạn, hãy hỏi bạn đã đóng góp được gì cho đất nước” (Ask not what your country can do for you; ask what you can do for your country) của cố TT Kennedy. Nước Mỹ không phải là “country” của tôi. Tôi trả thuế nhưng đó không thể gọi là đóng góp. Đóng góp hàm ý nghĩa thiêng liêng, tự nguyện trong lúc trả thuế là một điều luật pháp bắt buộc tôi phải làm nhằm trang trải cho các khoản chi dùng công cộng.

Ngày tôi đưa tay tuyên thệ làm một người Mỹ vừa được công dân hóa sau năm năm thường trú, tôi cảm thấy buồn nhiều hơn vui, tủi thẹn nhiều hơn tự hào. Một tên Mỹ da vàng không quê hương, không tổ quốc, ngơ ngơ ngác ngác giữa quê người, có gì đáng để mừng vui.

Viên thư ký sở nhập tịch hỏi tôi theo thủ tục có muốn thay cái tên cúng cơm của tôi bằng tên Mỹ. Tôi lắc đầu. Nhiều người đã chọn đổi tên. Một số người làm như thế chỉ để dễ kiếm công ăn việc làm nhưng cũng một số khác để chứng tỏ mình biết hội nhập vào đời sống Mỹ. Việt Nam, với nhóm người sau, đã đồng nghĩa với một thời quá vãng.

Tự do, vâng, tôi may mắn tìm được tự do nhưng đó chỉ là tự do cho chính bản thân mình. Ngồi trên thềm tòa nhà lịch sử Fanueil Hall ở Boston sau giờ tuyên thệ tôi làm bốn câu thơ lục bát để kỷ niệm ngày thành công dân Mỹ:

Mặt mày hớn hở vui tươi
Sao lòng nghe thẹn làm người tự do
Của nầy là của trời cho
Của ta đánh mất không lo đi tìm.

Năm 1999, vợ chồng tôi quyết định dời sang một tiểu bang khác nếu công ăn việc làm thuận tiện hơn. Tôi được một công ty chuyên về Internet ở miền Tây Nam phỏng vấn bằng điện thoại. Kết quả rất khả quan. Họ hứa hẹn rất nhiều, từ việc giúp chúng tôi di chuyển cho đến việc tạm cư trong thời gian đầu. Quyết định rời khỏi tiểu bang Massachusetts, về mọi phương diện, vật chất cũng như tinh thần, là một quyết định lớn của gia đình tôi. Sau này tôi không rời tiểu bang mà chỉ dời sang thành phố khác cũng thuộc Massachusetts. Dù sao chúng tôi cũng quyết định bán căn nhà ở Dorchester cho một người quen.

Đêm cuối trong căn nhà cũ, lần đầu tiên tôi khám phá ra rằng nước Mỹ với tôi không phải là đất tạm dung. Cảm giác đêm cuối cùng, cách đây gần 20 năm khi tôi xa Sài Gòn, đã trở lại với tôi lần nữa. Tôi sắp sửa rời xa một căn nhà, một nơi chốn thân thương. Căn nhà trên đường Thornley Street là nhà của tôi, Dorchester là thôn xóm của tôi và Boston là thành phố của tôi. Nước Mỹ đã cho tôi nhiều hơn tôi trả lại cho nước Mỹ.
Image
Ân huệ mà đất nước nầy đã cho tôi không phải chỉ là tự do nhưng còn là cơ hội và hy vọng, những điều tôi đã không tìm thấy trên quê hương ruột thịt của mình. Hy vọng không phải là giấc mơ huyền ảo mà là một điều có thực và là chất sống cần thiết để nuôi dưỡng một con người phải không ngừng tranh đấu để sống còn như tôi. Nước Mỹ gắn bó với cuộc đời tôi nhiều hơn tôi gắn bó với nước Mỹ.

Đêm cuối trong căn nhà cũ, lần đầu tiên, tôi nghĩ về đất nước đã cưu mang tôi trong suốt gần 20 năm nhiều thay đổi của đời tôi với một tấm lòng biết ơn và trân trọng chân thành.

Đêm cuối trong căn nhà cũ, tôi nằm nhớ lại bàn tay người lính hải quân Mỹ của chiến hạm USS White Plains vói xuống để nhấc thân hình ốm o, đói khát của tôi lên khỏi chiếc cầu dây đong đưa bên thành tàu. Chiếc cầu dây mong manh tôi bám để leo lên chiến hạm trở thành chiếc cầu biên giới, không chỉ cách ngăn giữa độc tài và tự do, của quá khứ và tương lai, mà còn giữa có quê hương và thiếu quê hương.

Đêm cuối cùng trong căn nhà cũ, tôi mới sực nhớ ra rằng, tôi chưa bao giờ nói một tiếng cảm ơn những thủy thủ đã cứu vớt tôi trong đêm hãi hùng trên biển Đông năm ấy. Lẽ ra, ít nhất mỗi năm một lần, tôi nên gởi một tấm thiệp Giáng Sinh kèm theo lời cảm ơn về địa chỉ của chiến hạm USS White Plains ở bộ Hải Quân Mỹ. Tôi tệ đến nỗi một việc làm đơn giản như thế mà bao nhiêu năm qua tôi vẫn chưa làm được.

Đêm cuối cùng trong căn nhà cũ tôi nằm ôn lại một khoảng đời 20 năm, từ hai bàn tay trắng đến khi có được một gia đình êm ấm. Nỗ lực của chính tôi không thể nào thành đạt nếu không có những cơ hội đã được mở ra từ xã hội Mỹ. Nước Mỹ là vùng đất của cơ hội và mọi người đều có quyền có một American Dream.

Đêm cuối cùng trong căn nhà cũ, tôi nghĩ về con đường Dorchester mà tôi mỗi ngày mấy bận đi qua. Giống như đường Santa Clara ở San Jose, Bolsa ở Nam California, Colonial ở Orlando, đường Dorchester là xương sống của xóm Dorchester chúng tôi. Bao nhiêu người đã ăn nên làm ra cũng nhờ vào con đường nầy, mặc dù không phải ai cũng biết ơn nó, không phải ai cũng nhớ tới nguồn gốc của chính mình, không phải ai cũng nhớ đến những ngày đầu tiên đi sắp hàng mua từng vỉ cánh gà, từng gói mì ăn liền bằng Food Stamps trong cái rét căm căm của miền Đông Bắc.
Image
Trên đường phố Dorchester, Boston
Trên con đường đó mỗi buổi sáng tôi đã gặp hàng trăm em bé Việt Nam sắp hàng ở góc đường chờ xe bus đưa đến trường. Những chiếc xe bus màu vàng nối đuôi nhau đưa các em đến tương lai huy hoàng của nước Mỹ. Nói như cựu tổng thống Bill Clinton, các em là chiếc cầu của tương lai hiệp chủng quốc Hoa Kỳ. Các em may mắn quá. May mắn lớn nhất không phải chỉ vì các em được làm công dân của một cường quốc nhưng quan trọng hơn, các em không phải sống trong những ngày cháo rau khoai sắn như hàng triệu đứa trẻ cùng thế hệ các em bên kia bờ trái đất. Các em sẽ không bao giờ hiểu thế nào là “kế hoạch nhỏ”, “trồng cây, trồng người”. Các em sẽ lớn lên, vươn lên trong cuộc đời một cách hiên ngang, không sợ hãi.

Nhà văn Trần Hoài Thư đến Boston nhiều lần và cũng đã yêu mến một cách say mê con đường Dorchester như chính tôi đã và đang yêu mến. Anh Trần Hoài Thư có lần viết về thành phố Boston: “Con đường Dorchester qua những tiệm ăn, tạp hóa Việt Nam. Và một khu Việt. Và những gương mặt da vàng. Và những lời trao đổi bằng tiếng mẹ đẻ vang trên bãi đậu xe. Đời sống vẫn bận rộn. Cõi lòng vẫn quay quắt. Nhớ nhung vẫn bão bùng. Bạn hữu mấy thằng trôi thất tán. Mấy thằng đợi một chuyến đò ngang…Cái mẫu số chung ấy là mẫu số của bất cứ người tị nạn nào trong chúng ta…Cám ơn Boston với những con tim kỳ diệu. Nếu không có những con tim này, tôi nghĩ, chắc chắn sẽ không có Trần Trung Đạo”.

Đêm cuối trong căn nhà cũ, tôi biết rằng mình không chỉ có một quê hương. Ngoài quê hương Quảng Nam Đà Nẵng ở Việt Nam, tôi còn có một quê hương khác, quê hương Boston trên nước Mỹ này.

Trần Trung Đạo


(viết ngắn lại từ bút ký Hai Gánh Quê Hương)
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

KHÙNG ĐIÊN VÀ XÚC PHẠM

Nguyễn Nhân Trí

Vụ thảm sát hơn 130 người vô tội ở Paris hôm thứ Sáu 13 tháng Mười Một vừa qua một lần nữa cho thấy những kẻ cực đoan Hồi Giáo không gớm tay ở bất cứ hình thức khủng bố nào. Ngoài sự phẫn nộ từ nhiều phía trong cộng đồng thế giới trước tai biến nầy, nhiều người còn bày tỏ nỗi lo ngại khi thấy rằng dường như nhà cầm quyền Tây Phương hiện nay không có phương cách nào hữu hiệu để đối phó với những tổ chức cực đoan Hồi Giáo.

Sự lo ngại trên liên quan đến một vấn đề ít khi được nói đến, nhất là nói đến một cách công khai và chính thức. Đó là việc làm sao để chống trả những kẻ địch chẳng những không sợ chết mà còn tự nguyện đón chào cái chết? Thường muốn nhăn chận một chuyện gì người ta dùng đe dọa hay trừng phạt. Tuy nhiên hình phạt gì sẽ hiệu quả cho những kẻ không sợ hãi cái chết?

Chúng ta đang đứng trước những kẻ cuồng tín. Đây là những kẻ tin rằng nếu họ “chết như một tín đồ Hồi Giáo”, như chết khi chiến đấu cho danh nghĩa Allah – thí dụ như trong lúc tấn công những kẻ thù của Ngài – thì họ sẽ được lập tức đưa lên Thiên Đàng. Có những kẻ được thúc đẩy bởi niềm tin rằng phần thưởng của Allah gồm 72 nữ đồng trinh sẽ chờ đợi những kẻ tử vì đạo ở Thiên Đàng. Ngay những người thuộc diện trí thức (hay thực tế hơn) cũng tin rằng trách nhiệm và danh dự tối cao của một tín đồ Hồi Giáo là thực thi lời dạy của Allah và do đó sẵn sàng đánh đổi mạng sống họ để hoàn thành điều nầy.

Từ xưa đến nay trong chiến tranh, mục đích chính của mỗi bên là giết chết kẻ địch và tránh không bị kẻ địch giết chết. Đây là phản ứng sinh tồn tự nhiên của con người và quen thuộc trong truyền thống văn hóa và tâm lý nói chung của thế giới Tây Phương. Lần đầu tiên trong Thế Chiến Thứ Hai khi đứng trước những đoàn phi cơ Thần Phong của Hoàng Gia Nhật Bản, quân lực Đồng Minh đã sửng sốt và lúng túng không ít trước hiện tượng địch thủ không ngần ngại đổi mạng để lấy mạng. Ngày nay, một lần nữa thế giới Tây Phương đứng trước một kẻ thù có thái độ và hành vi cực đoan tương tự, tuy nhiên lần nầy không phải vì tiếng gọi tổ quốc mà là vì nhân danh thượng đế của họ.

Trong những năm cuối thập niên 1960, đầu thập niên 1970 ở Sài Gòn, đặc công phá hoại của Việt Cộng không quan tâm đến việc thường dân vô tội có bị ảnh hưởng hay không khi họ đặt chất nổ ở những quán ăn, rạp hát quân lính Hòa Kỳ thường tụ hợp. Ai kém may mắn có mặt đúng lúc đúng chỗ thì sẽ mang họa lây mặc họ. Điểm khác biệt ngày nay là bọn khủng bố Hồi Giáo chẳng những không quan tâm mà còn không phân biệt bất cứ ai là mục tiêu của chúng. Tất cả mọi người kể cả phụ nữ trẻ em sinh sống trong xã hội Tây Phương đều là những “kẻ tà đạo” và dưới danh nghĩa Allah đều đáng bị tiêu diệt. Và chúng có vẻ như không từ bỏ bất cứ phương cách nào miễn là gây thiệt hại tối đa cho sinh mạng của những “kẻ tà đạo” trên.

Hầu như tất cả vũ khí quân sự xưa nay sử dụng đều với mục đích tước đoạt mạng sống quân địch. Nhưng nếu đối diện một kẻ địch vừa có thể gây thiệt hại lớn vừa không sợ chết thì thế giới Tây Phương phải làm gì? Đây là một câu hỏi đến nay dường như chưa có câu trả lời nào thực tế cả.

Gần đây, một số người ở Hoa Kỳ cho rằng họ có một giải pháp chúng ta đang tìm kiếm. Giải pháp trên không phải là một sáng kiến mới mẻ gì cả; theo họ, một tướng Mỹ đã sử dụng nó thành công trong khoảng năm 1911. Họ muốn nhắc đến câu chuyện xảy ra ở Phi Luật Tân liên quan đến Chuẩn Tướng đương thời John J Pershing, biệt danh “Black Jack”.

Chuyện kể rằng lúc đó tướng Pershing đang là Toàn Quyền chỉ huy lực lượng Mỹ đóng cứ tại Phi Luật Tân. Trong thời điểm trước khi Đệ Nhất Thế Chiến chính thức bùng nỗ, các nhóm phản kháng Hồi Giáo trong vùng thường đột kích đồn trại Mỹ gây nhiều tổn thất nhân sự. Những phiến quân Hồi Giáo nầy rất lợi hại và cực kỳ can đảm không hề sợ chết. Tuy nhiên Pershing nghiên cứu và nhận biết rằng tín đồ Hồi Giáo xem thịt, da và máu heo là các thứ dơ bẩn. Họ không những kiêng cử không ăn mà nhiều người còn không dám chạm vào vì sợ bị ô uế lây, và do đó không được vào cửa Thiên Đàng. Ông biết được những người nầy tuy không sợ chết nhưng lại rất sợ bị cấm vào Thiên Đàng.

Khi lính của Pershing bắt được 50 phiến quân Hồi Giáo, ông ra lệnh xử tử tất cả, trừ một người. Sau khi trói 49 người nầy vào cột để chờ xử bắn, ông bảo lính của ông đem hai con heo còn sống ra cắt cổ trước mặt họ. Những viên đạn sắp được dùng để xử tử được nhúng vào máu heo trước khi lệnh xử bắn bắt đầu. Tất cả 49 người sắp bị bắn chết, lẫn người thứ 50 được tha chết, đều chứng kiến việc nầy. Ông Pershing nhận thấy những người sắp bị bắn biểu lộ một sự kinh hãi tột độ trước viễn ảnh sắp bị giết chết bởi các viên đạn tẩm máu heo vì tin rằng thay vì họ được vào Thiên Đàng thì sẽ bị đày xuống Địa Ngục mãi mãi. Sau khi bị bắn chết, tất cả 49 tử thi được bỏ chung vào một cái hố. Hai xác heo cũng được mổ bụng lấy ruột gan nội tạng ra đổ phủ đầy trên xác của các tử tù trước khi lấp đất lại.

Người thứ 50 sau khi bị chứng kiến toàn bộ những gì đã xảy ra đã được Pershing ra lệnh thả đi. Dĩ nhiên người nầy sẽ về tường thuật mọi việc lại cho các phiến quân khác. Chuyện kể rằng trong mấy mươi năm sau đó, quân đội Hoa Kỳ trú đóng ở Phi Luật Tân hầu như không còn bị bị phiến quân Hồi Giáo tấn công nữa.

Tôi xin nói ngay đây là một câu chuyện thuộc dạng “truyền thuyết” hơn là một sự kiện lịch sử vì nó chưa bao giờ được kiểm chứng hay được công nhận chính thức bởi quân lực Hoa Kỳ. Điều nầy vẫn không làm nhiều người cho nó chỉ là câu chuyện giả tưởng. Theo họ, trong lịch sử Hoa Kỳ, cũng như bất cứ quốc gia nào khác, nhiều sự kiện đã thật sự xảy ra nhưng không bao giờ được nhà cầm quyền xác nhận chính thức (trừ khi bất khả kháng). Một lý do là vì chúng có thể gây ra dư luận bất lợi cho chính phủ của họ.

Theo Tiến Sĩ Frank Vandiver của Đại Học Texas, tác giả quyển “Cuộc Đời của ‘Black Jack’ John J Pershing” thì đây chỉ là một câu chuyện giả tưởng. Theo ông, không có bằng chứng chính đáng gì cho thấy người Hồi Giáo tin rằng ăn hay đụng đến da thịt hay máu heo, v.v. thì sẽ lập tức bị cấm vào Thiên Đàng và bị vĩnh viễn lưu đày ở Địa Ngục.

Năm 2005 có một bích chương được dán lên tại tổng trụ sở của Đoàn Cảnh Vệ Quốc Gia California ở Sacramento. Bích chương nầy cổ động việc dùng đạn nhúng máu heo để bắn phiến quân Hồi Giáo. Bích chương nầy nhắc lại câu chuyện về tướng Pershing và nói: “Có thể lúc nầy là khi lịch sử cần phải tái diễn, có thể ở Iraq. Vấn đề là bây giờ tìm ở đâu ra một Black Jack Pershing?”

Đại diện các cộng đồng được cho là “thành phần ôn hòa” của Hồi Giáo đang sinh sống ở Hoa Kỳ, và các nhóm thân Hồi Giáo, đã lớn tiếng phản đối khi họ biết về bích chương nầy. Họ cho rằng ý tưởng dùng đạn nhúng máu heo để đối phó với phiến quân Hồi Giáo chỉ là một ý tưởng khùng điên. Hơn nữa nó còn xúc phạm đến niềm tin của Hồi Giáo cũng như đến cộng đồng Hồi Giáo.

Tôi cũng không nghĩ mọi người Hồi Giáo đều tin rằng chỉ cần chạm đến thịt hay máu heo, nhất là chỉ vì tai nạn hay bị cưỡng ép, thì sẽ bị cấm vào Thiên Đàng. Tuy nhiên cũng có người cho rằng chúng ta đang nói về những kẻ cuồng tín với các niềm tin hoàn toàn phản lý luận ở các mức độ khó tưởng. Họ lý luận rằng nếu một kẻ thật sự tin chỉ cần tử vì đạo thì sẽ được lên Thiên Đàng nhận lãnh 75 trinh nữ thì tại sao kẻ đó cũng không thể tin rằng đụng chạm đến thịt hay máu heo sẽ bị cấm vào Thiên Đàng? Họ cho rằng nếu là khùng điên thì hai niềm tin đó đều khùng điên ngang nhau.

Có thể những người lính trẻ của Đoàn Cảnh Vệ Quốc Gia California đã dán lên bản bích chương trên vì họ, cũng như không ít người Mỹ khác, cảm thấy cần phải làm cái gì đó cần thiết và khả dĩ để đối ứng với mối hiểm họa đang đe dọa quốc gia họ. Có thể phương cách dùng đạn nhúng máu heo của họ có phần “nằm ngoài khuôn khổ thông thường”, chưa kể là không rõ sẽ hiệu quả bao nhiêu. Dù gì đi nữa, điều mà tôi thắc mắc ở đây là tại sao những “cộng đồng Hồi Giáo ôn hòa” đã lớn tiếng phản đối rằng tờ bích chương xúc phạm đến tôn giáo và cộng đồng của họ.

Lý do tôi thắc mắc là vì tôi không nhớ thấy họ lớn tiếng phản đối khi các thành phần trong chính tôn giáo họ khủng bố giết hại thường dân vô tội. Và tôi cũng không nhớ thấy cộng đồng Hồi Giáo ôn hòa nào lên tiếng chống đối những lần các nhóm cực đoan mang danh nghĩa Hồi Giáo biểu tình công khai tại thủ đô một số nước đòi hỏi quyền sử dụng luật Sharia thay vì luật lệ dân sự quốc gia, hay những lần chúng kêu gọi dùng bạo động để “tẩy rửa sạch nền văn hóa đồi trụy dơ bẩn Tây Phương”.

Tại sao các đại diện cộng đồng Hồi Giáo lại cho rằng cổ động việc dùng đạn nhúng máu heo là xúc phạm họ và tôn giáo họ? Tờ bích chương của Đoàn Cảnh Vệ Quốc Gia California nói rất rõ đây là một biện pháp dành cho bọn cuồng tín cực đoan phiến quân Bang Quốc Hồi Giáo. Bọn phiến quân Bang Quốc Hồi Giáo nầy trên lý thuyết không liên quan gì cả đến các cộng đồng dân sự Hồi Giáo hiện đang sinh sống ở những nước Tây Phương. Có người phân tích rằng việc các đại diện cộng đồng dân sự Hồi Giáo có cảm giác bị xúc phạm cho thấy trong tiềm thức họ cảm thấy có một mối liên hệ với chúng. Có lẽ họ tự đồng hóa họ với bọn cuồng tín trên phần nào là vì họ và chúng đều mang cùng tôn giáo chăng? Do đó khi những “người ngoài” (những kẻ ngoại đạo, những kẻ không-Hồi-Giáo) tấn công bọn phiến quân trên một khía cạnh liên quan đến tôn giáo thì họ cũng cảm thấy bị tấn công, bị xúc phạm, phần nào chăng?

Và cũng có thể là vì trong tiềm thức họ cũng thông cảm và ít nhiều đồng tình với thái độ của chúng về việc cần “tẩy rửa sạch nền văn hóa đồi trụy dơ bẩn Tây Phương” chăng? Đây không phải là một phân tích hoàn toàn vô lý là vì hầu như tất cả người sùng tín đều mang một quan điểm chung cho rằng đạo đức tôn giáo của họ là chân chính, cao cả hơn hết; và những gì đi ngược lại đạo đức tôn giáo họ đều là sai trái, hư hoại. Vì nhiều lý do họ không, và không thể, công khai chủ trương “tẩy rửa sạch nền văn hóa đồi trụy dơ bẩn Tây Phương”. Tuy nhiên khi thấy có kẻ làm điều nầy thì họ không cảm thấy cần thiết để cực lực phản đối chúng chăng?

Cái mà tôi nhớ thấy về đại diện các cộng đồng Hồi Giáo là sau các cuộc khủng bố thì họ thường biện bạch rằng “Hồi Giáo thật ra là một tôn giáo hòa bình, không chủ trương giết chóc. Những kẻ khủng bố chỉ là thiểu số đã hiểu sai lời dạy của Allah.” (Đúng theo tâm lý “tôn giáo của tôi luôn luôn chân chính, đạo đức”)

Đây là một điều nữa mà tôi có vấn đề rất lớn. Luận điệu “Hồi Giáo không chủ trương giết chóc… Kinh Koran không hề dạy điều đó…” nói trắng ra, theo tôi, chỉ là hoặc những lời tự bịt mắt ru ngủ của những người muốn lẫn trốn trách nhiệm hoặc những lời nói láo. Tôi đã trích dẫn Kinh Koran để dẫn chứng rõ sự sai lầm của luận điệu nầy trong bài Những Hạt Cỏ Độc đăng trước đây không lâu trên Da Màu. Vấn đề của tôi quan tâm và muốn nhấn mạnh ở đây là ngay cả một số chính khách Tây Phương cũng công khai đồng tình với lập luận nầy. Có thể họ chỉ lập lại những lời người khác nói mà chưa từng đọc qua Kinh Koran (cũng như nhiều người Thiên Chúa Giáo chưa hề đọc qua Kinh Thánh) để tự tìm hiểu cho chính họ. Hoặc họ là những người dễ tin. Hoặc họ là những người chỉ thấy những gì họ muốn thấy. Hoặc họ là những người chủ trương “dĩ hòa vi quý”, với bất cứ giá nào. Theo tôi, những người ở vị thế như họ không chịu tìm hiểu rõ ràng trước khi tuyên bố lập trường như thế là một điều đáng trách và đáng lo ngại.

Tôi hiểu các nhà cầm quyền Tây Phương phải liên tục đương đầu với nhiều áp lực chính trị lẫn ngoại giao và văn hóa từ mọi phía. Họ không có sự tự do áp dụng những biện pháp đối phó, ngay cả nếu họ nghĩ rằng sẽ có hiệu quả, nếu các biện pháp đó bị xem là “có thể xúc phạm” đến các cộng đồng Hồi Giáo. Tĩnh từ “đúng đắn chính trị” (politically correct) là một từ xuất hiện trước nhất khi thiết kế hay đề cử những phương cách hành động gì. Nếu một chính sách, hay một phương án, có thể bị cho là “phản cảm” đối với một nhóm người nào đó, đặc biệt là nếu họ thuộc về một cộng đồng tôn giáo hay sắc tộc, thì nó sẽ bị xem là không “đúng đắn chính trị” và sẽ bị dẹp sang một bên. Rất nhiều chính trị gia không muốn làm mất lòng cử tri vì họ thường xuyên nghĩ đến việc ai sẽ bỏ phiếu cho họ trong kỳ bầu cử sắp đến.

Tôi hiểu vô số thường dân Hồi Giáo, ở các quốc gia Hồi Giáo Trung Đông hay ở trong xã hội Tây Phương, chỉ muốn được yên ổn sinh sống cuộc đời của họ một cách bình an, hiền hòa. Tôi hiểu đối phó với thảm họa Hồi Giáo cực đoan là một chuyện cực kỳ phức tạp. Tìm ra một biện pháp cân bằng để tiêu trừ thảm họa nầy đồng thời tránh thiệt hại cho người dân Hồi Giáo vô can là một việc hầu như bất khả thi. Dùng đạn nhuốm máu heo tuy có thể không phải là một phương cách hiệu nghiệm nhất để chống lại bọn phiến quân tàn ác nhưng ít ra nó không tệ hại bằng thái độ sợ sệt dư luận của những người cầm quyền Tây Phương không dám sử dụng những phương cách nghiêm khắc và dứt khoát cần thiết trong lúc nầy.

Đạn nhúng máu heo chỉ là một trong nhiều thí dụ cho thấy bề mặt đạo đức giả và thực chất hèn nhát của nhiều nhân vật và tổ chức chính trị trong giới cầm quyền của chúng ta về vấn đề nầy. Cái gọi là cuộc chiến tranh chống lại Hồi Giáo cực đoan là một mặt trận không có chiến tuyến. Các chiến trường đang diễn ra ở Trung Đông là những môi trường chiến tranh cực kỳ khó khăn cho quân đội Tây Phương. Bọn phiến quân thường không có những lực lượng cố định để đối đầu công khai trực diện. Chúng thường trà trộn lẫn lộn với dân chúng bản xứ nên rất khó biết ai là thù ai là bạn. Những vụ tấn công bằng khủng bố xảy ra ngay trong lòng những quốc gia Tây Phương hiện nay, thí dụ như ở Paris vừa qua, còn là những hoàn cảnh khó khăn hơn thập phần. Thế giới Tây Phương đang đứng trước một hiểm họa hiểm nghèo nếu không ai sớm có thái độ dứt khoát để thi hành những giải pháp hữu hiệu hơn những giải pháp đã và đang được sử dụng đến nay.

Ở một vài nước Âu Châu, các cộng đồng Hồi Giáo có dân số rất lớn. Họ có những khu vực sinh sống riêng rẻ. Ở Pháp chẳng hạn, có những khu vực mà ngay cả cảnh sát Pháp rất ngần ngại mỗi khi cần đi vào. Những cuộc biểu tình ủng hộ Bang Quốc Hồi Giáo đã nhiều lần xảy ra ở các nước khác bên ngoài Âu Châu, như ở Úc chẳng hạn. Nhà cầm quyền địa phương cho đến nay nói chung đã làm ngơ có lẽ vì không muốn bị xem là đàn áp tín ngưỡng hay kỳ thị chủng tộc. Và có nhiều người trong các cộng đồng Tây Phương vẫn tiếp tục mơ ngủ trong những giấc chiêm bao ngây thơ của họ rằng cứ dốc lòng tiếp tục bày tỏ lòng yêu thương và mở rộng vòng tay chào đón mọi người thì mọi người sẽ đáp ứng bằng lòng tôn trọng lẫn nhau và mọi việc sẽ dần dà tự giải quyết êm đẹp.

Cuộc tấn công ở Paris có lẽ đã làm một số người thức tỉnh phần nào. Nhiều chính phủ các nước Âu Châu lẫn Mỹ, Úc đang hối hả chỉnh đốn chính sách chống khủng bố của họ. Nhiều “biện pháp mạnh” cần thiết đang được cứu xét với hy vọng đáp ứng được nhu cầu cấp bách nầy. Tuy vậy, bức tường “đúng đắn chính trị” vẫn cần phải vượt qua trước khi các biện pháp trên có thể được biểu quyết.

Chúng ta cần phải bảo vệ cuộc sống an lành của dân chúng, kể cả những thường dân Hồi Giáo yêu chuộng hòa bình, của chúng ta. Bất cứ với giá nào. Đây là vì sự sống còn của chúng ta, của nền văn minh và đạo đức nhân loại, của cuộc sống tự do mà ông cha chúng ta đã qua bao nhiêu thế hệ bỏ mình chiến đấu để gìn giữ. Chúng ta đừng vì tư tưởng “đúng đắn chính trị” mà tự trói tay, chặt chân mình trong khi đương đầu với một kẻ địch không có quan niệm gì về tinh thần mã thượng hay ý định tuân theo bất cứ luật lệ giao tranh (rules of engagement) nào.

Tục ngữ Việt Nam có một câu có lẽ rất thích hợp cho hoàn cảnh hiện nay: “Đi với Bụt thì mặc áo cà sa, đi với ma thì mặc áo giấy.” Những giải pháp khùng điên và xúc phạm như đạn nhúng máu heo có lẽ chỉ là một dấu hiệu của thời cuộc và là một dạng áo giấy cần thiết chăng?
tramthaiha
Posts: 453
Joined: Tue Sep 08, 2009 7:54 pm
Contact:

Post by tramthaiha »

Hiểu thế nào về món quà từ thiện của chủ nhân Facebook

Hà Tường Cát
/Người Việt/Tổng Hợp

Nhà tỷ phú trẻ tuổi Mark Zuckerberg, nhân dịp mừng đứa con đầu lòng, vừa quyết định hiến tặng 99% chứng khoán Facebook của mình
cho việc từ thiện thông qua Chan Zuckerberg Initiative, với mục tiêu “phát huy tiềm năng của con người
và cổ vũ bình đẳng cho tất cả mọi trẻ em thế hệ mai sau”.

Image
Hai vợ chống Mark Zuckerberg-Pristila và đứa con mới sinh (Hình::/Facebook)

Ai cũng biết là Zuckerberg rất giầu, anh hứa hẹn sẽ cho gần như toàn thể cổ phiếu, 99%, mà mình sở hữu trong công ty Facebook đã lập ra.

BBC cho biết Zuckerberg đã báo cho các nhà điều chình điều chỉnh hoạt động công ty Mỹ biết toàn thể ngân khoản được hứa là $45 tỷ. Khởi đầu sẽ là $1 tỷ trong ba năm đầu. Sau đó chưa có quy định rõ về thời gian, tuy nhiên không thể nghi ngờ sẽ rộng rãi vì được hứa hẹn là 99% tổng số cổ phiếu của Facebook. Cũng theo BBC tiền hiến tặng cho hoạt động từ thiện ở Anh Quốc là $10.5 tỷ một năm.

Như vậy đây là một đóng góp rất lớn, tuy nhiên chưa có chi tiết rõ về tiến độ ngân khoản sẽ được đưa ra, có nghĩa là kế hoạch này còn cần qua thời gian chứ không phải tức khắc.

Trang mạng Common Dreams NewsCenter thường được gọi tắt là Common Dreams, thuộc một tổ chức vô vụ lợi, nhận định rằng có một vấn đề căn bản không được đề cập trong thư ngỏ của cặp vợ chồng Mark Zuckerberg/Priscilla Chan. Đó là hai người không đưa tiền thẳng cho các tổ chức từ thiện mà cụ thể là chuyển dần vào Chan Zuckerberg Initiative, một công ty trách nhiệm hữu hạn (LLC) của họ.

Theo BBC, chuyển khoản qua một LLC thay vì đến tổ chức từ thiện là một phương cách khác thường, có lẽ vì mục đích kiểm soát. Qua LLC, Zuckerberg có thể nắm giữ quyền bỏ phiếu và phân phối các cổ phần anh ta đưa vào đó. Và khác với một tổ chức từ thiện hay quỹ tín thác từ thiện (charitable trust), LLC có thể chi tiêu cho bất cứ cái gì nó muốn – kể cả tư nhân, hay đầu tư có lãi. LLC có thể cho tiền các cơ quan từ thiện nhưng không bắt buộc phải làm thế. Hơn nữa tiền ở quỹ này còn có thể dùng trả cho các nhà vận động hậu trường (lobbyist) và ủng hộ những chính trị gia.

Zuckerberg không mất quyền kiểm soát công ty khi cho đi các chứng khoán như thế. Động thái này “không tác động đến quy chế của Mark với tư cách là cổ đông lớn nhất của Facebook trong một tương lai có thể thấy trước”. Facebook minh định như vậy trong lời giải thích trình bày dưới dạng Q&A, hỏi và trả lời. Theo Facebook: “Mark vẫn giữ quyết tâm với Facebook và sứ mạng của nó. Ông tiếp tục ở vai trò Chủ Tịch - Tổng Giám Đốc trong nhiều, nhiều năm nữa”. Facebook nói thêm “Trong quá khứ Mark và Priscilla đã đóng góp $1.6 tỷ cho công tác từ thiện. Zuckerberg và bác sĩ Chan cũng cho tiền cho các công tác y tế, chẳng hạn đã cho bệnh viện đa khoa San Francisco $7.5 triệu

Tuy nhiên có những chỉ trích. Internet.org project của Zuckerberg có mục tiêu kết nối Internet cho hàng tỷ người chưa có truy cập, nhưng người ta cho rằng việc này chỉ nhắm mục đích gia tăng số người sử dụng Facebook, Instagram và WhatsApp. Một phần của số tiền $1.6 tỷ được cho các trường học, nhưng nhiều nhà hoạt đông cộng đồng, phụ huynh và công đoàn nói rằng hầu hết đến tay các chuyên viên tư vấn chứ không phải là giúp cho học sinh biết đọc.

Robert Wood, một cộng tác viên của tạp chí Forbes nói: “Sự hào phóng của Zurkerberg rất có hiệu quả về lãnh vực đóng thuế”. Ông nói: “Tại sao lại cho chứng khoán? Với chứng khoán, nhà mạnh thường quân được giảm thuế về việc từ thiện căn cứ trên trị giá thực của chứng khoán. Trị giá và giá căn bản là hai điều hoàn toàn khác nhau, có nghĩa là hưởng lợi về thuế rất lớn”.

Common Dreams nói thẳng rằng đây là một kế hoạch âm mưu trốn thuế. Bằng cơ cấu này Zuckerberg và Chan có khả năng chuyển quyền sở hữu của số chứng khoán khổng lồ Facebook mà không phải trả một xu tiền thuế lợi tức đầu tư (capital gain taxes) nào.

Các tỷ phú, từ Bill Gates đến Warren Buffett đều đặt tài sản khổng lồ của họ vào những tổ chức tư nhân và ngoài tầm can dự của công chúng. Zurkerberg cũng không đi khác con đường ấy. Chuck Collins thuộc Institue for Policy Studies nói rằng các người này bằng nhiều phương cách trốn tránh thuế mà không ai có thể kiểm soát được. Theo ông “Tài sản của Zurkerberg xây dựng trên đầu tư của công chúng trong ngành Internet, cơ sở hạ tầng, hệ thống giáo dục, hầu như tất cả đều bằng tiền của dân đóng thuế”.

Một báo cáo mới đây của Institue for Policy Studies cho biết toàn thể tài sản của 20 người giầu nhất nước Mỹ – trong đó có Zurkerberg – bằng phân nửa tổng số của phân nửa dân Mỹ nghèo. Không cấn nói, ai cũng hiểu điều ấy giúp họ có ảnh hưởng xã hội và chính trị rất quan trọng. David Maloney của tờ Guardian cho rằng chủ trương từ thiện và xóa nghèo đói của họ thật ra không thể dứt họ ra khỏi gốc rễ tư bản đế quốc, và những ảnh hưởng xâm nhập vào văn hóa thế giới đang mạnh hơn bao giờ hết. Theo Maloney: “Người giầu hãy còn rất có hiệu quả trong sự tạo lập tương lai mà họ muốn thấy”.

David Lee, bình luận viên BBC ở Silicon Valley, nhận định rằng, hành động của Zurkerberg/Chan chứng tỏ tham vọng nổi lên thành những nhân vật lớn trên chính trường toàn cầu. Những đóng góp lớn cho công tác từ thiện có thể giúp họ rất nhiều đối với cử tri, nhưng đồng thời không thể tránh khỏi thu hút nhiều chỉ trích phê phán.
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »


Dân Nam Hàn tạ ơn nhà nước Bắc Hàn

Lâu nay mình cứ tưởng dân Mỹ ăn mừng lễ Tạ Ơn lớn nhất thế giới, hóa ra không phải vậy. Nam Hàn mới là nước đoạt giải quán quân về môn ăn mừng ngày lễ mang đầy tính làm người ăn ở có hậu này.

Mình khám phá ra điều “kỳ diệu” này là nhờ hôm rồi, sau ngày Lễ Thanksgiving, mình ghé tiệm tạp hóa của một người Đại Hàn ở gần nhà, nơi mình hay lẻn vợ đến mua lon bia Hai-ni-ken về nhâm nhi để lấy khí thế vào Anh Tẹc Nét nghiên cứu tư tưởng bác Hồ, là cái khoản mụ vợ mang dòng máu Ngụy… Văn Thà của mình cho là thứ hồ đồ, đụng vô làm chi cho phí thì giờ, thà ở không, nếu có “ngồi buồn” thì bắt chước ông già gân Trần Văn Hương, “gãi háng cho dái lăn tăn”; còn hơn là lên mạng lăn tăn với Bác.

Mình ngạc nhiên: ngày lễ đã qua cả tuần nay rồi, sao nhà ông Đại Hàn vẫn còn đầy không khí… tạ ơn; ông còn chào mình “Happy Thanksgiving” nữa chứ. Ông chủ tiệm nhận ra sự ngạc nhiên nơi đôi mắt mình, liền giải thích ngay:

– Dân Nam Hàn chúng tôi ăn mừng dài dài cả tháng để tạ ơn nhà nước Bắc Hàn đã không “giải phóng” Miền Nam như Cộng Sản Việt Nam.

Nghe ông này giải thích, mình càng ngạc nhiên hơn. Bức xúc quá, mình không biết phản ứng thế nào, bèn nhìn xuống hai bàn chân, thấy bốn mắt cá cũng trố ra nhìn lên mình, khiến mình sáu mắt nhìn nhau thắc mắc, chẳng hiểu ông Nam Hàn nói như vậy nghĩa là gì.

Ông “Kim chi” này không biết mình là dân Việt kiều yêu nước CS, không sợ mất đi một lão thành cách mạng, à quên, lão thành khách hàng chuyên tiêu thụ bia Hai-ni-ken cho ông từ chục năm nay, nên tỉnh bơ, tự nhiên như người Hà Nội; ông nói mà không biết người nghe (là mình) bị chạm nọc:

– Nghĩ mà thương cho người Việt miền Nam các anh. Nếu không bị Miền Bắc giải phóng thì chí ít, ngày nay họ cũng ngang hàng như Nam Hàn của chúng tôi. Anh biết trước 1973, tôi là lính của Sư đoàn Bạch Mã của Nam Hàn đã tham chiến ở VN, tôi biết rõ trình độ Việt Nam Cộng Hòa ngày đó, nói chung còn tiến bộ hơn Nam Hàn chúng tôi. Thế mà bây giờ VN thua xa Nam Hàn chúng tôi như anh thấy.

Sỡ dĩ Nam Hàn chúng tôi được như hôm này là vì được yên ổn làm ăn, không bị Bắc Hàn vào giải phóng. Anh còn lạ gì hậu quả của Miền Nam phải gánh chịu suốt 20 năm chiến tranh, và sau chiến tranh thì ôi thôi, lại càng bi thảm: mọi thứ họ cố sức tạo dựng được trong hoàn cảnh thù trong giặc ngoài, đầy dẫy khó khăn, đều bị xóa sạch.

Mình đang đắng nghẹn cứng cuống họng, chưa biết xoay xở ra sao để giải thích cho ông Củ Sâm ý nghĩa cao cả của cuộc chiến tranh thần thánh mà Bác và Đảng đã hy sinh hàng triệu sinh linh người Việt hai miền để có được Mùa Xuân Đại Thắng 1975, giải phóng Miền Nam hoàn toàn, mang về Bắc hàng tỷ tỷ đủ loại chiến lợi phẩm, trong đó có con búp bê biết nhắm mở mắt mà nhà báo Huy Đức đè cập trong cuốn sách “Bên Thắng Cuộc”. Thì ông Nam Hàn nói tiếp:

– Như anh biết đó, nước Đại Hàn, cũng y hệt như Việt Nam, bị chia cắt làm hai. Miền Nam theo chế độ Tư Bản, Miền Bắc theo chế độ CS. Nếu Bắc Việt Nam cứ để yên cho Miền Nam như Bắc Hàn để yên cho Nam Hàn, thì ngày nay dân Việt Nam cần gì phải đánh đường sang tận Nam Hàn để, thứ làm thuê, thứ học hỏi. Chỉ cần nhờ ngay người Việt Miền Nam là… có khi còn văn minh tiến bộ hơn Nam Hàn nếu không bị giải phóng nó hành.

Nghe nói đến đó, mình ù cả hai tai, định nói với ông, thôi từng đó đủ rồi, nhưng chủ tiệm nói tiếp:

– Anh thấy đó, đã 40 năm rồi mà dân Miền Nam vẫn còn oán CS Miền Bắc vì khi không họ đang tự do hạnh phúc, đang trên đà phát triển, tự dưng Miền Bắc vào phá nát đến nỗi ngày nay trình độ thua cả hai nước Miên Lào mà ngày xưa thua họ xa về mọi mặt. Ngược lại Nam Hàn được như ngày nay là nhờ CS Miền Bắc để yên cho chúng tôi.

Mình hết biết chui đi đâu thì ông Nam Hàn tiếp tục:

– Mấy chục người Mỹ hồi mới đến Tân Lục Địa chỉ nhờ dân Da Đỏ cung cấp cho thức ăn và bày cho cách trồng trọt để cứu đói sinh tồn mà đến nay họ còn tạ ơn như vậy. Huống chi dân Nam Hàn ngàn nay được giàu có, tiến bộ, văn minh, được cả thế giới, nhất là Việt Nam, trọng vọng như như vầy. cũng là nhờ người anh em Bắc Hàn không nỡ vào giải phóng như VN. Nên anh đừng ngạc nhiên khi thấy dân Nam Hàn chúng tôi ăn mừng lễ Thanksgiving lớn và lâu hơn cả người Mỹ là vậy. Tạ Ơn Bắc Hàn đã không giải phóng Nam Hàn.

Đến đây mình chẳng còn thiết tha gì đến bia rượu gì nữa. Định chào ông chủ quán ra về tay không thì chủ quán chạy lại quầy xách lại cho mình nguyên cả một thùng bia Hai-ni-ken loại 24 chai, nói:

– Tôi biếu anh, xin được chia sẻ với anh niềm vui của dân Nam Hàn chúng tôi may mắn không bị người anh em phía Bắc giải phóng như dân Việt miền Nam của anh.

Mình không ưa những gì ông Đại Hàn so sánh Đại Hàn với Việt Nam, nhưng mình vẫn ưa thùng Hai-ni-ken ông biếu không cho không, nên hồ hởi phấn khởi nói cảm ơn người chủ tiệm và phóng mau lên xe.
tramthaiha
Posts: 453
Joined: Tue Sep 08, 2009 7:54 pm
Contact:

Post by tramthaiha »

Nỗi buồn cuối năm, nỗi buồn cuối đời


Tạp ghi Huy Phương

Câu chuyện đi thăm Tướng Đỗ Kế Giai tại một nhà dưỡng lão ở Garland, Texas, đã ám ảnh tôi suốt một đêm khó ngủ. Đó là một buổi chiều Chủ Nhật vào cuối Tháng Mười Hai Dương Lịch, trời đã bắt đầu se lạnh, bãi đậu xe trống vắng bóng xe, gần như không có một người khách thăm viếng. Nhưng ông bà cụ già, ngồi trên xe lăn, dồn ra phòng khách, trên lối đi vào, với đôi mắt đờ đẫn không nhìn ai, hay gục mặt nhìn xuống thân mình, trong thói quen chờ đợi, hy vọng có một người thân của mình hiện ra trên ngưỡng cửa với một nụ cười, bó hoa hay món quà trên tay.


Tôi biết trên thế giới Tây phương có nhiều đứa con không dám đi du lịch xa, vì sợ con mèo, con chó hay bầy cá ở nhà không ai cho chúng ăn hay săn sóc, nhưng cha mẹ già thì đã có những nhà dưỡng lão. Thậm chí trong tình vợ chồng, người vợ còn mạnh khỏe, siêng đi lễ hay lên chùa, nhưng chồng thì cô đơn, trên chiếc xe lăn trong một nhà già quạnh hiu nào đó.

Chúng ta có bao nhiêu lý do để bào chữa, biện minh cho việc bỏ bê cha mẹ già trong một cơ quan y tế, được cho ăn mỗi bữa, áo quần có người giặt, vài ba ngày được đẩy xe vào phòng tắm, trần truồng và được cô y tá hay một nam nhân viên dội nước, xát xà phòng, vo đầu. Những việc săn sóc này dù có mang chút tình người đi nữa thì cũng là những công việc hằng ngày bắt buộc, thương ghét hay xúc động chỉ là những cảm tính vô ích.

Có những đứa con nại cớ bù đầu với công việc ở sở, và việc con cái bếp núc ở nhà nên không có thời gian dành cho cha mẹ già, đành phải đưa cha mẹ vào nhà dưỡng lão. Gần đây người ta lên tiếng hoan nghênh những người phụ nữ hy sinh lợi tức để ở nhà toàn thời gian chăm nom, săn sóc con cái, nhưng nào có ai nghe chuyện có những đứa con bỏ việc làm vì còn cha mẹ cần sự giúp đỡ lúc về già! Người ta thường kêu than không có thời giờ, “đầu tắt, mặt tối” nhưng còn có thời gian mua sắm trong các cửa hàng thời trang, mất một hai tiếng đồng hồ trong gym mỗi ngày, năm giờ cho một chương trình ca nhạc ở sòng bài, không tính thời giờ đi về. Đó là chưa kể thời gian “bắt buộc” phải ngồi trước máy điện toán, vào Facebook, hay trao đổi tin nhắn với bạn bè.

Người ta có thể mỗi năm tổ chức những chuyến du lịch bắt buộc, ra ngoài để mở tầm mắt trước thế giới, nhưng “nhắm mắt” làm ngơ về một lần sắp xếp thời gian đi thăm cha mẹ già.

Ngày xưa một người mẹ nuôi được năm mười đứa con, ngày nay cả năm mười đứa con không nuôi nổi được một mẹ, phải chăng vì vậy mà phải đẩy mẹ vào nhà dưỡng lão, để cho những người xa lạ trông coi. Ở đây có khi mẹ thiếu ăn, cơ thể mất nước, dơ bẩn trong mớ phân và nước tiểu, bị đối xử tàn tệ, cũng chẳng hề ai biết đến. Ngày xưa “bên ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn,” không có bậc cha mẹ nào có thể ngoảnh mặt trước cảnh con đói khát hay bị lăng nhục bởi một người khác.

Con biết giờ đây, “một ông già bằng ba đứa trẻ” cha “lẩm cẩm” bước đi, và mẹ phải nương lưng nhờ gậy chống.

Xưa kia khi các con còn thơ ấu, thân xác chưa trưởng thành và tâm hồn con yếu đuối, điều một điều hai vẫn là mẹ. Một đứa trẻ có thể biết lạnh, biết nóng, biết đói, biết khát, biết đau, nên khóc la, nhưng chóng quên, khóc đó rồi cười đó. Trái lại, một ông già còn biết buồn, biết tủi thân, biết xót xa mà chỉ biết gậm nhấm mang lấy nỗi buồn của riêng của mình, nên tuổi già cũng cần chăm sóc, gần gũi, ân cần như là một đứa trẻ, có khi còn hơn thế nữa!

Thói quen của người đời, người ta thường hỏi nhau có được mấy con, mấy ai quan tâm xem song thân còn hay mất! Đối với cha mẹ, con là tất cả, nhưng đối với con, cha mẹ là một thứ quá khứ cần xếp lại.

Ngày xưa, niềm vui của cha mẹ là nghe tiếng đứa con chập chững bi bô, hay toét miệng cười, ngày nay cha mẹ về già, các con ở xa, chỉ mong nghe tiếng điện thoại reo vui vào những ngày lễ, Tết, và đầu điện thoại bên kia có tiếng nói: “Mẹ ơi!” hay “Mẹ đó hả?”Trong cái tổ ấm cúng ngày xưa, và là cái tổ trống hoác ngày nay, khi các con đã đi xa, những cái phòng của các con vẫn để trống, biết đâu có ngày con về thăm bố mẹ. Con búp bê bằng nhựa, con gấu nhồi bông vẫn còn trên chiếc dương cầm phủ bụi của con gái, tủ sách, nhiều giải thưởng và những lá cờ kỷ niệm của trường đại học vẫn còn gắn trên bức tường trong phòng đứa con trai. Và ngôi vườn kia, đã đầy lớp lá vàng vào Thu hay phủ tuyết mùa Đông, cái ghế xích đu ngoài vườn ngày trước con thích ngồi, vẫn rung khẽ cùng cơn gió nhẹ.

Nhiều lúc cha mẹ muốn bán ngôi nhà cũ đầy ắp kỷ niệm, nhiều phòng, để đi tìm một cái condo, nhưng cứ nghĩ khi con về, và còn những đứa cháu nữa, sẽ ở đâu?

Cha mẹ Việt Nam tự an ủi, ru mình bằng bốn tiếng “nước mắt chảy xuôi” là mọi chuyện đều cho qua, nhận thức đời sống một phần cũng cho là duyên, là phước. Phải chi cha mẹ như cha mẹ nơi quê người, không hề lưu luyến, bịn rịn, ngay từ lúc đứa con đã trưởng thành rời mái ấm ra đi.

Nhưng có lẽ mọi điều không phải như vậy, dù bên trời Tây hay bên phương Đông.

Chúng tôi vừa được xem một đoạn phim rất ngắn kể chuyện một người già cô đơn ở phương Tây.

Những ngày lễ lớn năm nay, cô con gái tin cho biết là cô không về thăm cha được vì bận việc. Ông cụ lủi thủi một mình, cô đơn trong căn nhà nhỏ với những bữa cơm lặng lẽ hàng ngày. Nhưng rồi, cô con gái nhận được tin cha mình qua đời đột ngột, cô thu xếp cùng chồng trở về nhà.

Trên bậc cửa, cô thấy người cha thân yêu của cô hiện ra với tấm lưng còng và mái tóc bạc phơ. Cô bật khóc. Phải chăng vì nghe tin cha chết, cô mới trở về, trong khi còn sống, người cha cần có con, thì không có cô bên cạnh.

Nhưng cũng còn may. Cách đây mười mấy năm ở Paris, vào mùa Hè, có một trận nóng kinh khủng giết hàng trăm cụ già trong nhà dưỡng lão. Nhà nước thông báo cho những đứa con trở về lo chôn cất. Nhưng chúng, nhiều đứa đành xin lỗi, vì đang kẹt trong chuyến du lịch dài ngày ở xa!
tiendung
Posts: 884
Joined: Tue Jun 19, 2007 7:47 am
Location: Paris
Contact:

Post by tiendung »

Image

Resolution (29/12/2015)

Bùi Bảo Trúc

Một câu hỏi người ta hay hỏi nhau là cái gì ở Mỹ có đời sống ngắn nhất. Câu trả lời nhiều người đưa ra và cũng nhiều người đồng ý là các toa xe điện mới và sạch sẽ của hệ thống xe điện ngầm ở New York. Các toa xe điện mới này có một đời sống rất ngắn: Chỉ sau vài tiếng đồng hồ sau khi ra khỏi nhà máy và được đem sử dụng là chúng được phủ đầy kín ngay bằng những graffiti nhảm nhí cùng với những nét vẽ rùng rợn của các nghệ sĩ đường phố của thành phố New York, thành phố không bao giờ đi ngủ này.

Thế còn cái gì có những đời sống dài hơn những toa xe điện này một chút, một chút xíu thôi? Tôi chắc đông đảo sẽ trả lời rằng đó là những điều tâm nguyện, những quyết tâm mà người Mỹ viết xuống mỗi cuối năm. Thực ra thì chẳng riêng gì người Mỹ làm công việc này, mà gần như ai cũng làm. Thí dụ sáng sớm mai thức dậy, chính chúng ta cũng tự hứa với mình là sẽ làm cho xong một số việc cần làm trong ngày. Những lời tự hứa ấy đôi khi chúng ta làm được và cũng có những lần không thực hiện được đầy đủ. Làm được thì tốt, không làm được thì, theo tôi, cũng... chẳng sao cả.

Trong những ngày cuối năm sắp bước qua năm mới, rất nhiều người chúng ta sẽ ngồi xuống viết những điều tâm nguyện, quyết làm cho bằng được trong năm mới. Có thể là “diet” để xuống một ít cân, lo cho sức khỏe nhiều hơn, bỏ thuốc lá, chừa rượu, bớt cà cái thẻ mua chịu, ít đi shopping ... Nhưng chỉ vài ba ngày, có khi mấy tuần sau, hay dăm ba tháng sau là đâu lại vào đó: Vẫn hút mỗi ngày một bao thuốc, uống một sâu bia, trông thấy cái treadmill là như bò thấy nhà táng...

Như Kiều đã có lần thú nhận với Kim Trọng về tiếng đàn của mình “...rằng quen mất nết đi rồi...” nên có viết xuống những điều tâm nguyện, những cam kết với chính mình thì rồi cũng chẳng đi đến đâu. Viết xuống những điều tự hứa với mình thì vẫn viết nhưng có làm được đúng những cam kết ấy hay không thì lại là chuyện khác. Nên năm nay tôi cũng vẫn lại cam kết tâm nguyện rằng:

Mỗi ngày sẽ chỉ uống một chai nước cốt nho lên men, thứ nước màu đỏ thẫm tục gọi là Cabernet Sauvignon, hay Pinot Noir... mà khi ánh sáng chiếu qua cái ly đựng nó thì hết sức đẹp.

Không để ý tới những người không làm được gì cho mình nhưng lại luôn luôn có ý kiến về những việc mình làm.

Tử tế với chính mình.

Không bỏ quên bất cứ một niềm vui nào cho dẫu niềm vui thỉnh thoảng cũng bỏ quên chúng ta.

Tin rằng Khổng Tử không phải lúc nào cũng đúng.

Thời biểu làm việc mỗi ngày là thứ cần phải theo cho thật đúng, lâu lâu phải quên nó đi.

Không làm nô lệ cho cái đồng hồ nữa.

Cà phê là thứ không thể đếm được nên không đếm những ly cà phê uống trong ngày.

Thịt đỏ không làm chết người nên phải tử tế với nó. Nên yêu và thỉnh thoảng nên thưởng thức những cái tatar steak máu chảy ròng ròng.

Đời sống quá ngắn không nên uống vang dở và rẻ tiền.

Không cho dù chỉ một tràng pháo tay mỗi khi emcee năn nỉ, khẩn khoản xin.

Mỗi sáng đọc báo đều hy vọng trang cáo phó có tên của mấy tên chóp bu ở Hà Nội.

Cầu mong những đứa như Nguyễn Phú Trọng, Nông Đức Mạnh, Lê Khả Phiêu, Lê Đức Anh... sớm ra đi cho đỡ bẩn quả đất này.

Mong cặp giò Hillary Clinton được thon thả để nàng khỏi phải mặc pant suit vì nhiều người trông sốt ruột lắm rồi.

Tin những điều đọc thấy trong Facebook đều là sự thật.

Không ghét cay ghét đắng hai chữ “chia sẻ” hay “sẻ chia” nữa mặc dù vẫn không dùng chúng.

Nghĩ là Nguyễn Thanh Phượng càng béo càng đẹp giống con mẹ nó.

Tin là Nguyễn Tấn Dũng quả thật có bằng cử nhân Luật mặc dù không biết nó học ở đâu và hồi nào.

Cố gắng cười theo khi mấy emcee pha trò vô duyên chưa nói đã cười.

Cố chải mái tóc cho giống tóc của Donald Trump.

...

Cầu mong ơn trên giúp làm được những điều tâm nguyện viết ở trên. Nếu không làm được thì cũng... chẳng sao cả.
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »


Thích-Nhất-Hạnh: Vòng Đời Luẩn-Quẩn!!!


Diệu-Tiên
(Một Phật-tử viết về "Quả-Báo")

Image
Cuộc đời là một vòng luẩn-quẩn. Luật “luân-hồi nhân-quả” của nhà Phật, nghe thì cao vời-vợi! Nhưng nhiều khi “quả-báo nhãn tiền” cũng chẳng bao xa!!!

Thầy Thích-Nhất-Hạnh sinh ra ở miền Trung và lớn lên bằng cơm gạo của miền Nam Cộng-Hòa. Khi trưởng thành, thầy được chế độ Cộng-Hòa ưu-đãi nhiều hơn ai khác! Ở tuổi 30, trong khi bao nhiêu thanh niên cùng trang lứa với thầy đang trèo đèo, lội suối, vào sinh ra tử nơi địa đầu chiến tuyến! Thì thày ung dung tự tại trau dồi kiến thức ở Đai Học Văn Khoa.

Khi tốt nghiệp, thầy được học bổng qua Mỹ du học tại một Đại học danh tiếng (Princeton). Trong thời chiến, đi du học bên Hoa Kỳ không phải là chuyện dễ! Có lẽ, có một bàn tay nào đó đã nâng đỡ cho thày (?)

Về nước năm 1964, dạy ở Đại Học Vạn Hạnh một thời gian, để rồi lại xuất ngoại vào năm 1966. Lần này, chuyến Mỹ du của thày có mục đích để phổ biến những tư tưởng phản chiến trong dư luận quốc tế! Với bộ áo của nhà tu hành, với trình độc của một sinh viên tốt nghiệp Đại Học Princeton, thày mau chóng tạo được uy tín với người ngoại quốc. Thày đi nói chuyện khắp nơi, lớn tiếng kết tội VNCH là "hiếu chiến". Thầy nói: “Tôi ra đi để nói rõ là dân VN không muốn đánh nhau nữa, chỉ muốn ngồi xuống thương-thuyết với nhau, để đi tới một giải-pháp hòa-bình, và các cường-quốc trên thế-giới đừng dùng VN làm một chỗ để tranh-dành ảnh-hưởng nữa! đừng xử-dụng ý-thức hệ cũng như bom đạn trên đất nước nhỏ bé này!”

Ngày 2/6/1966, thày tố cáo trước Thượng Viện Hoa Kỳ là "Mỹ và VNCH là nguyên-nhân gây ra thảm-họa chiến-tranh tại VN! đã bị nhân- dân trong nước hết sức bất mãn và chống đối mạnh-mẽ!!!"

Tôị nghiệp cho chính thể VNCH, đã đặt biết bao kỳ-vọng vào người“con yêu của đất nước!” gửi đi du học. Người con yêu này, thay vì đem hết kiến thức thu nhận được, trở về phục vụ cho đất nước, cho đồng bào thì lại “gậy ông, đập lưng ông”, dùng dao “đâm sau lưng chiến-sĩ VNCH”. Lẽ dĩ nhiên, chính phủ VNCH không thể “nuôi ong tay áo”! “nuôi khỉ dòm nhà” được! Nên đành phải cấm cửa đứa con “ăn cơm quốc-gia thờ ma cộng-sản!” này trở về nơi quê cha đất tổ.

Không biết thầy lấy danh-nghĩa gì mà phát-biểu thay cho dân VN! Dân miền Nam khao-khát hòa-bình! Nhưng phải là hòa-bình đem lại độc-lập, dân-chủ, tự-do,hạnh-phúc! Chứ không phải là loại hoà-bình dung-túng cho chế-độ VC độc-tài, thối-nát! Tay sai ngoại-bang của Trung-Cộng và Liên-Sô lúc đó.

Sau khi hòa bình đã vãn hồi trên đất nước, thày NH không trở về VN sống với VC. Thày ở lại Pháp xây dung "sự-nghiệp", đồng thời cũng tiếp tục trải tư tưởng thiên Cộng trong các tác phẩm của thày “Hoa Sen trong biển lửa, môt đề-nghị hòa-bình của Phật Giáo” lên án chính phủ VNCH và Hoa Kỳ đàn áp Phật Giáo, gây cảnh tang tóc cho nhân dân miền Nam, và đề cao chính nghĩa cũng như lòng yêu nước của MTGPMN. Thày cũng không quên nhấn mạnh: “Trong đầu óc của người VN nói chung, HCM là vị anh hùng dân-tôc lãnh-đạo cuộc đấu- tranh chống Pháp!”
Image
Thày TNH không trở về VN, thì tháng 1/2006, nhà nước gửi TT Thích Đức Nghi sang Làng Mai tu-tập. Thày Thích-Đức-Nghi nhờ cư xử khôn khéo, biết làm vừa lòng sư-phụ nên đã trở thành đệ tử tâm đắc của thày TNH. TT Thích-Đức-Nghi được giới thiệu sang thiền-viện Lộc-Uyển bên Hoa-Kỳ để quyên tiền về xây dựng Thiền-Viện Bát-Nhã ở Lâm Đồng.

Theo lời mời của chính quyền Hà-Nôi, ngày 1/12/05, TNH đem 100 tang-sinh Làng Mai về VN. Thiền sư được đón tiếp trọng thể với một đội ngũ tang-ni đông-đảo, có tán vàng che đầu, có hoa thơm rắc lối đi! TT Thích-Đức-Nghi ngỏ ý muốn cúng dường tu-viện Bát Nhã cho TNH để làm nơi cho các tang-sinh tu-tập!

Trong thời gian 3 tháng lưu lại VN, TNH đi thuyết-pháp nhiều nơi và tổ-chức trai đàn, cầu-siêu cho các vong-linh đã nằm xuống trong thời-kỳ chiến-tranh. TNH cũng được chủ-tịch nhà nước Nguyễn Minh Triết tiếp kiến tại Phủ Chủ-Tịch vào tháng 5/2007.

Ngày 29/10/2008, trưởng-ban Tôn-Giáo chính-phủ của VC tố-cáo Tăng-ni Làng Mai vi-phạm Luật-pháp VN và ít ngày sau đó, công-an Lâm-Đồng cưỡng-bách trục-xuất 400 đệ-tử tu học Pháp môn Làng Mai ra khỏi Thiền-viện Bát-Nhã!!!

Có lẽ để xoa dịu dư luận, một phiên họp Phật giáo bất thường được tổ chức tại Saigon, không có mặt của đại diện Làng Mai, đã đưa quyết định mới: mọi người có thể tiếp tục tu học, ai chưa có đủ giấy tờ, cần bổ túc, ai quậy phá, sẽ bị xử lý! Về tài sản, thì 2 bên (Làng Mai và Bát-Nhã) có thể tự giải quyết, hay nhờ pháp luật!!!

Ngày 27, 28, 29 tháng 6 năm 2009, 200 thanh niên thuộc xã hội đen của công-an VC sai bảo, tới Thiền-Viện Bát-Nhã đâp phá đồ đạc, vứt bỏ đồ ăn, cúp điện nước, khóa hết cửa ra vào. Mọi sự hỗ trợ bên ngoài đều vô vọng vì con đường độc đạo từ Bảo-Lộc vào Bát-Nhã đều có đám thanh niên tụ tập để kiểm tra!!!

Tin tức chính thức từ Bát-Nhã Tu-Viện gửi đi lên mạng toàn cầu kêu cứu! TT Thích-Đức-Nghi cũng lên tiếng yêu cầu mọi tăng ni và tăng sinh rời khỏi Tu-viện Bát-Nhã.!!!

Chắc Thiền-Sư TNH cũng biết rõ là ai đã làm ra những chuyện này? Những đệ tử của thầy có nhiều người lớn tuổi bán nhà bán cửa ở Mỹ để đi về dưỡng-già theo lời đường mật của thầy, bây giờ không biết làm sao! Ra ngoại quốc trở lại thì nhà bán rồi, còn chỗ nào khác ngoài cách vào “nhà già” sống? Ở trong nước thì tá túc vào chỗ nào? Còn riêng cá nhân thầy, tuy có bị VC và sư Thích-Đức-Nghi lât lọng làm cho hư bột hư đường! Mọi sự thì cũng đừng buồn!

Bởi vì, sự việc mà Cộng-Phỉ đối xử với thầy hôm nay, cũng giống như những gì thầy đã đối-xử với VNCH trước kia.

Là người đọc sách Phật, chắc thầy cũng thấy Luật Nhân-Quả và Quả Báo Nhãn-Tiền!

Còn nếu thày chưa nhìn rõ thì: Nam Mô A Di Đà Phật! Xin Ngài khai-thông huệ-nhãn cho thầy!

Diệu-Tiên
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Sử Gia & Dân Biểu Dương Trung Quốc
Tưởng Năng Tiến


Lúc bé, tôi vẫn thường xem phim cọp. Lý do, giản dị, chỉ vì tôi rất ít khi có tiền mua vé. Lỡ có, tôi lại muốn dùng tiền để mua những thứ khác: bắp nướng, đậu phụng rang, cà rem, bánh kẹo … để nhai lai rai trong lúc coi phim.
Nhưng làm thế nào để vào cửa cọp mới được chứ? Ít nhất cũng có hai cách. Thứ nhất là đứng xớ rớ trước cửa rạp, thấy một ông hay một bà trông có vẻ bảnh bao và dễ tính là mình xà ngay đến:

-Thưa chú, thưa dì, thưa cô, thưa bác… con muốn coi cái phim này hết sức nhưng không có tiền, làm ơn dắt con vô luôn nha?

Nếu họ gật đầu là kể như … khỏe. Theo lệ, mỗi nguời lớn đi xem phim có quyền dắt theo một trẻ em - miễn phí.
Lối thứ hai rắc rối hơn một chút, kém đàng hoàng hơn một tí, và cần một ít vốn đầu tư. Mấy đứa phải hùn hạp đủ tiền cho một thằng hay một con nào đó mua vé (hạng nhi đồng) vào cửa. Rồi nó sẽ len lén mở cửa bên hông rạp, cho cả lũ vào luôn!
Có lần vì giông bão, nên dù là ngày Chủ Nhật, rạp chiếu bóng cũng chỉ có mấy ngoe mua vé vào xem. Lũ nhi đồng chúng tôi quên chi tiết đó, vẫn tiếp tục rủ nhau vào cửa cọp. Không những thế, nhiều đứa còn “mời” cả anh chị và bố mẹ “đi” luôn. Dân trong xóm tôi đều nghèo, đều rất ham… vui; do đó, gặp ngày mưa buồn bã và rảnh rỗi – rạp hát lại gần nhà – nên mọi người đều vui vẻ … vô luôn!
Chủ rạp kinh ngạc khi thấy vé không bán được bao nhiêu mà bên trong rộn rã tiếng cười đùa vỗ tay của trẻ con, rôm rả tiếng bàn tán nói cười của nguời lớn. Không cần phải thông minh lắm người ta cũng tìm được lý do, không lâu, sau đó.
Thế là bất ngờ, sau một lời xin lỗi ngắn ngủi qua hệ thống phát thanh, đèn bật sáng lên, chủ nhân cùng nhân viên ào vào xoát vé. Lần lượt từng mạng một, không phân biệt già trẻ lớn bé, không xót một mạng nào, cả xóm bị “mời” ra khỏi rạp bằng những lời lẽ - tất nhiên - hoàn toàn không nhã nhặn.
Ðã có lúc vui miệng, tôi kể cho mấy đứa con bé nhỏ của mình nghe về cái kỷ niệm ấu thơ (không mấy êm đềm) này. Chúng đều tỏ vẻ ái ngại và vô cùng thất vọng về thái độ hơi thiếu đàng hoàng của tôi:

- It’s not fun. Như vậy đâu có vui bố.
- And it’s not fair, either! Cũng không công bằng mấy bố à.
- Ờ thì bố cũng thấy là không vui gì cho lắm và có hơi kỳ kỳ một chút.
- Kỳ một chút sao được. It’s cheating, như vậy là ăn gian, đó bố!

Tôi miễn cưỡng đồng ý với tụi nó mà bụng dạ (nói thiệt) có hơi buồn. Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng mình đã gian lận gì nhiều trong chuyện xem phim mà vào bằng cửa cọp. Cũng như tất cả những người dân lớn nhỏ khác của cả xóm mình, tôi chỉ có tội nghèo mà ham… vui, và hơi láu cá chút đỉnh, thế thôi.
Láu cá (rõ ràng) không phải là một đức tính, dù nhìn theo quan niệm đạo đức của bất cứ ai. Bởi vậy, càng già tôi càng đàng hoàng thấy … rõ! Những người tử tế, biết phục thiện, và đàng hoàng tử tế như tôi - tiếc thay - hơi ít.

Tạp chí Khởi Hành số 34, phát hành tháng 8 năm 99, từ California, có bài viết “Khi Chính Trị Chi Phối Văn Hoá”, của Trần Anh Tuấn, về những người … rất không đàng hoàng như thế. Những kẻ mà đến lúc chết vẫn còn (vô cùng) láu cá!
Một phần của bài viết, ông Trần Anh Tuấn dùng để điểm cuốn Lịch Sử Và Văn Hoá Việt Nam, Những Gương Mặt Trí Thức, tập Một, do Dương Trung Quốc, Nguyễn Quang Ân và Tạ Ngọc Liễn sưu tầm và biên tập, nhà xuất bản Văn Hóa Thông Tin Hà Nội xuất bản năm 1998. Nội dung cuốn sách được ông Trần Anh Tuấn ghi nhận như sau:

“Với hơn 700 trang, các tác giả đã chọn ra 71 nhân vật mà họ vinh danh là những trí thức Việt Nam tiêu biểu trải qua 770 năm lịch sử, với 9 thời đại và thời kỳ (Trần, Hồ, Lê, Trịnh, Nguyễn, Tây Sơn, Nguyễn, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, và Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa V.N.).

“Nhưng nhìn vào danh sách là chúng ta thấy ngay sự ăn gian của những người làm sách: trong suốt 720 năm (1225 – 1945) họ chỉ chấm có 38 nhân vật tức 53%. Ðó là Trần Thái Tông, Lê Văn Hưu, Trần Quốc Tuấn, Trần Nhân Tông, Chu Văn An, Tuệ Tĩnh, Hồ Nguyên Trừng, Nguyễn Trãi, Triệu Thái, Lê Thánh Tông, Lê Sĩ Liên, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan, Lê Hữu Trác, Nguyễn Thiếp, Lê Quí Ðôn, Lê Thì Sĩ, Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Trần Văn Kỷ, Võ Trường Toản, Phan Huy Chú, Vũ Phạm Khải, Nguyễn Ðình Chiểu, Phạm Thuật Duật, Nguyễn Hữu Huân, Nguyễn Truờng Tộ, Nguyễn Quang Bích, Lương Văn Can, Nguyễn Phạm Tuân, Phan Bội Châu, Nguyễn Thượng Hiền, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Văn Trường, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn An Ninh, và Phạm Tuấn Tài.
“Trong 50 năm sau cùng (1945 – 1995), họ đưa ra một số lượng khổng lồ là 33 nguời, tức 47%. Trong số 33 tên, chỉ trừ giáo sư Hoàng Xuân Hãn sống ở Pháp, còn lại 32 tên không ai khác hơn là những đảng viên cao cấp của Ðảng Cộng Sản Việt Nam và những nguời phục vụ chế độ cộng sản. Ðó là Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Truờng Chinh, Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, Nguyễn Khánh Toàn, Ðặng Thái Mai, Trần Huy Liệu, Phạm Huy Thông, Tôn Thất Tùng, Hồ Ðắc Di, Phạm Ngọc Thạch, Trần Ðại Nghĩa, Nguyễn Văn Huyên, Tạ Quang Bửu, Trần Văn Giáp, Tôn Quang Phiệt, Hải Triều, Ngụy Như Kon Tum, Dương Ðức Hiền, Ðặng Văn Ngữ, Hoài Thanh, Nam Trân, Nguyễn Khắc Viện, Lê Văn Thiêm, Từ Chi, Nguyễn Ðổng Chi, Cao Xuân Hy, Trần Ðức Thảo, Hoàng Thúc Trâm, Ðào Duy Anh, và Hoàng Xuân Hãn.”

Cứ theo như lời của ông Trần Anh Tuấn thì “nhìn vào danh sách là chúng ta thấy ngay sự ăn gian của những người làm sách.”

Là kẻ hậu sinh, tôi không hề dám có nghĩ tranh luận hay bút chiến với một người cầm bút vào hàng trưởng thượng - và nặng ký - như ông Trần Anh Tuấn; tuy nhiên, vì đã lỡ biện minh cho chuyện vào cửa cọp của chính mình, tôi tự thấy có bổn phận phải lên tiếng để bênh vực cho một số những người vừa được vinh danh là “trí thức Việt Nam tiêu biểu” - trong nửa thế kỷ qua.

Theo tôi thì quí ông Ðào Duy Anh, Trần Ðức Thảo, Hoàng Xuân Hãn… đều dư sức dắt theo ba trự lóc nhóc cỡ như Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Trường Chinh… đi vào lịch sử mà khỏi cần mua vé. Như đã thưa, tuy không bằng luật nhưng theo lệ (ít nhất cũng là lệ ở những thành phố miền Nam, khi tôi còn bé) mỗi người đi xem phim có quyền dắt theo một nhi đồng - miễn phí. Hồi nhỏ tụi tôi vẫn đi xem phim ké theo kiểu đó mà. Ðiều này đâu có gì là gian lận mà ông Tuấn phải phàn nàn và nặng lời dữ vậy?
Giữa chuyện ham vui (của lũ bé con chúng tôi, ngày truớc) và chuyện ham danh (của những ông lãnh tụ cộng sản Việt Nam, bây giờ) có một điểm này chung: túng làm liều. Ðiểm chung đó, với ít nhiều chủ quan, tôi tin tưởng là thông cảm và chia sẻ được.
Nếu không, nghĩa là nếu ông Trần Anh Tuấn không đồng ý, tôi xin đề nghị chúng ta nên nhìn vấn đề theo cách khác - dựa vào hình ảnh, kinh nghiệm phổ cập hơn với phần lớn mọi người, và cũng vẫn với phong thái nhẹ nhàng tương tự. Hãy tưởng tượng đến cảnh quá giang.
Chiếc bè chở những “gương mặt trí thức Việt Nam tiêu biểu” của nửa thế kỷ qua đi vào lịch sử mà chỉ có vài ba ông cỡ như Ðào Duy Anh, Trần Ðức Thảo và Hoàng Xuân Hãn … thì ngó bộ hơi neo đơn và cũng (có phần) phí phạm. Nó còn rộng chỗ nên quí ông Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Trường Chinh… xin được quá giang - vậy thôi.
Nguời ta mượn lời để diễn ý. Ðặng ý thì bỏ lời. Thiên hạ mượn bè để qua sông. Miễn sao họ qua lọt thì thôi. Câu nệ quá tôi sợ… mất lòng và, chắc chắn, cũng sẽ mất vui!

Tôi chỉ tận tình chia sẻ nỗi bất bất bình của ông Trần Anh Tuấn về việc những vị sử quan đương đại - Dương Trung Quốc, Nguyễn Quang Ân, và Tạ Ngọc Liễn - theo chỉ thị, đã mở cửa hông cho thêm cả đống ông nữa (tổng cộng lên đến 33 mạng) ào ạt nhào luôn vào lịch sử.
Cũng như đi coi phim cọp, đi quá giang - dù là bằng thúng, bằng mủng, bằng bè, bằng ghe tam bản, bằng thuyền ba lá, bằng ca nô, bằng tầu, hay bằng thủy phi cơ … chăng nữa - nên tránh chuyện đàn đúm, kéo bè, kết đảng đông đảo quá. Xô đẩy, giành dật, chen lấn là cảnh (luôn luôn) rất khó coi và dễ gây hiểu lầm là một vụ thủy tặc hay không tặc. Ðó là chưa kể chuyện quá tải, rất không an toàn. Chìm xuồng, cả lũ, như chơi.
Nửa thế kỷ qua dân việt dở sống dở chết. Giữa lúc muôn họ lầm than, nhân tâm ly tán, nhân tài như lá mùa thu, tuấn kiệt như sao buổi sớm; danh nhân, trí thức, kẻ sĩ …ở đâu mà hăm hở chen lấn đi vào lịch sử đông dữ vậy - hả Trời? Chợ chưa họp mà kẻ cắp đã đến đủ mặt như thế (kể) cũng kỳ.

Mới đây ông Nguyễn Chính còn khám phá ra vụ này, ngó bộ, còn kỳ dữ nữa về chuyện khai thác bauxite ở Việt Nam: “Quốc hội chưa họp, nghĩa là chưa ai có ý kiến gì, ông dân biểu Dương Trung Quốc đã phát ngôn trên báo Tuổi Trẻ rằng ‘Nhưng Bộ Chính Trị đã quyết rồi thì bây giờ ta chỉ bàn làm sao cho tốt, cho an toàn thôi’ khiến nhiều cử tri rất ngỡ ngàng.”

Tôi thì không ngỡ ngàng gì cho lắm vì đã được họp tập trước về việc “Đảng chỉ tay, Quốc Hội vỗ tay, dân trắng tay” tự lâu rồi. Chỉ hơi ngờ ngợ vì cái tên của ông Dương Trung Quốc nghe (có vẻ) quen quen. Té ra, ông chính là một trong ba nhân vật đã sưu tầm và biên tập cuốn Lịch Sử Và Văn Hóa Việt Nam, Những Gương Mặt Trí Thức (tập I) do nhà xuất bản Văn Hóa Thông Tin Hà Nội xuất bản năm 1998.

Tưởng sao chớ “đi ra, đi vô cũng cái thằng cha khi nẫy” chớ ai! Mười năm trước ông Dương Trung Quốc tô vẽ cho nhiều kẻ bất hảo trở thành “Những Gương Mặt Trí Thức” của lịch sử và văn hoá Việt Nam. Bây giờ thì ông mở đường để con chúng nó mang đất nước ra băm xẻ, cho bằng thích.

Tôi nghe nhiều người tỏ ý bi quan về hiện cảnh cũng như tương lai (đen tối) của Việt Nam. Dân tộc nào, số phận đó. Một đất nước có những người viết sử và làm luật (cỡ) như ông Dương Trung Quốc thì … đen là phải!

Tương Năng Tiến
tramthaiha
Posts: 453
Joined: Tue Sep 08, 2009 7:54 pm
Contact:

Post by tramthaiha »

Một Trung Quốc vô trách nhiệm

Nấm chuyển ngữ
Brahma Chellaney



– Từ cuối năm 2013, Trung Quốc đã có dính dáng đến những hoạt động xây dựng các đảo nhân tạo vô cũng như các hoạt động
chuẩn bị quân sự hóa trên Biển Đông. Con số 5,3 nghìn tỉ USD giao thương mỗi năm trong khu vực có tầm chiến lược quan trọng chủ chốt này
đã dấy nên một câu hỏi đáng báo động. Nhưng điều thậm chí còn gây ngạc nhiên hơn – chưa kể đến còn là nguy hiểm –
là việc Trung Quốc đã không phải trả giá hay thừa nhận bất kỳ trách nhiệm quốc tế nào đối với hành vi của họ.


Image
Lá cờ Trung Quốc được treo trên chiếc thuyền tại một ngôi làng đánh cá ở thị xã Tanmen, tỉnh Hải Nam, bên cạnh Biển Đông
(Ảnh: Aly Song/Courtesy Reuters).

Tất nhiên, cộng đồng quốc tế ngày nay hiện đang phải đương đầu với rất nhiều các vấn đề, như cuộc khủng hoảng người tị nạn nhập cư ào ạt vì hỗn loạn tại khu vực Trung Đông. Nhưng trên thực tế, chừng nào Trung Quốc còn được tự do thực hiện các chiến lược của mình mà không phải đối diện với những biện pháp trừng phạt thì họ sẽ còn tiếp tục làm thế; việc gây sức ép với các nước láng giềng sẽ rất dễ trở thành một mối xung đột không có khoan nhượng cho các bên, và việc này chắc chắn sẽ cản trở sự phát triển của toàn khu vực châu Á.

Một yếu tố then chốt trong chiến lược của Trung Quốc tại Biển Đông là nạo vét ở tầng triều thấp để xây dựng các đảo nhỏ, bao gồm nằm ở các khu vực “ở cách xa Trung Quốc đại lục” như Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc về vấn đề châu Á, Liu Zhenmin, gần đây đã thừa nhận. Theo quan điểm của Trung Quốc, khoảng cách này là “cần thiết” để xây dựng các “cơ sở hạ tầng quân sự” trên. Và, quả thật, ba trong số bảy đảo nhỏ mới được xây dựng đã bao gồm sân bay, từ đó máy bay chiến đấu của Trung Quốc có thể thách thức khả năng hoạt động Hải quân Hoa Kỳ mà không bị cản trở trong khu vực này.

Thông qua việc quân sự hóa Biển Đông, Trung Quốc đang tìm cách thiết lập một khu vực nhận diện phòng không quốc tế như họ đã chính thức – và đã đơn phương – tuyên bố vào năm 2013 tại Biển Hoa Đông, nơi họ đã tuyên bố chủ quyền về những đảo mà họ thực không kiểm soát được. Trung Quốc biết rằng theo luật pháp quốc tế, những tuyên bố chủ quyền của họ trên hầu hết các vùng có tài nguyên phong phú tại Biển Đông, khi dựa trên cơ sở “chủ quyền lịch sử” là thiếu căn cứ; đó là lý do họ phản đối việc giải quyết bằng việc đem ra xét xử tại tòa trọng tài quốc tế. Thay vào đó, họ cố gắng bảo đảm một “sự kiểm soát hiệu quả” – dưới cơ sở luật pháp quốc tế, tăng cường một cách đáng kể tính hợp lý của chủ quyền quốc gia – như họ đã từng làm với khu vực dãy Himalayas và các khu vực khác.

Nhưng tham vọng của Trung Quốc còn mở rộng ra cả bên ngoài khu vực Biển Đông: Họ đang nhắm đến việc tạo ra một châu Á với tâm điểm tập trung vào Trung Quốc. Như vậy, nước này gần đây đã bắt đầu thành lập các căn cứ quân sự đầu tiên ở nước ngoài – một căn cứ hải quân ở Djibouti, vùng Sừng châu Phi – và họ đã nhiều lần liên tục gửi các tàu ngầm đến vùng Ấn Độ Dương. Hơn thế nữa, Trung Quốc đang tham gia ngày càng sâu vào các dự án kinh tế – như sáng kiến “One Belt, One Road”, mà trên thực tế sẽ yêu cầu phải xây dựng các cơ sở hạ tầng kết nối giữa châu Á và châu Âu. Chiến lược này sẽ đẩy mạnh sự hiện diện và tầm ảnh hưởng của Trung Quốc ở một số quốc gia, thông qua đó Trung Quốc hy vọng sẽ cải thiện lại góc nhìn địa chính trị trong khu vực về hình ảnh của mình.

Trong khi đó, chính quyền của Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama vẫn còn những do dự trong việc củng cố chính sách “trục” châu Á vốn thu hút được nhiều sự chú ý của truyền thông, bằng các hành động cụ thể – đặc biệt là các hành động nhằm hạn chế Trung Quốc. Thay vì áp đặt các lệnh trừng phạt hoặc các áp lực quân sự lên Trung Quốc, chính quyền Obama đã cố gắng phủ nhận trách nhiệm của mình. Cụ thể hơn, họ đã tăng cường sự hợp tác quân sự với các nước châu Á–Thái Bình Dương khác, và khuyến khích các bên có tranh chấp về lãnh hải ở Biển Đông củng cố các hoạt động quốc phòng của họ. Ngoài ra, Hoa Kỳ tiếp tục đóng vai trò tích cực hơn trong việc đảm bảo an ninh khu vực đối với các nước dân chủ như Úc, Ấn Độ, và kể cả Nhật Bản.

Nói thẳng ra, như thế là không đủ. Theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, không giống như các hòn đảo tự nhiên, các đảo được xây dựng nhân tạo của Trung Quốc – vốn được xây dựng với nguyên gốc độ cao ban đầu không vượt qua mực nước biển tại thời điểm triều cao – do đó không có chủ quyền trên 12 hải lý trong vùng biển xung quanh. Tuy nhiên, chỉ cho tới gần đây, Hoa Kỳ mới gửi một tàu chiến vào trong khu vực phạm vi 12 hải lý [mà Trung Quốc chiếm đóng – ND]. Và thậm chí sau đó, cơ quan ngôn luận của Trung Quốc đã cáo buộc một thuyền buồm của Hoa Kỳ khi đi vào khu vực này như một “chiêu trò chính trị”. Hoa Kỳ đã không thách thức chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc một cách trực tiếp hoặc đưa ra bất cứ yêu cầu nào đòi hỏi Trung Quốc phải ngừng chương trình xây dựng đảo của nước này.

Trên thực tế, ngay cả khi Trung Quốc vẫn cố chấp với hoạt động nạo vét đang diễn ra rất nhanh của họ – vốn đã tạo ra thêm hơn 1200 héc ta đất nhân tạo – chính phủ Hoa Kỳ vẫn yêu cầu đừng nên để các các cuộc thảo luận liên quan vấn đề Biển Đông gây tổn hại đến mối quan hệ Mỹ–Trung. Lối tiếp cận thiếu trách nhiệm này của Hoa Kỳ đối với tầm kiểm soát của Trung Quốc, hiện đang ngày càng rõ ràng đối với Biển Đông, đã làm các nước nhỏ hơn trong khu vực e ngại. Họ biết rằng khi một thương lượng giữa hai nước lớn được hình thành, chính các quốc gia nhỏ bé như họ sẽ là người thường chịu nhiều thua thiệt.

Năm 2012, Trung Quốc đã chiếm lấy vùng đảo cạn đang tranh chấp Scarborough vốn thuộc trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines. Hoa Kỳ đã tự đứng ra để dàn xếp một thỏa thuận giữa hai nước, yêu cầu các tàu thuyền của hai nước dời khỏi vùng này và không thực hiện một hành vi nào khác nữa. Hoa Kỳ cũng bỏ qua mối quan hệ hợp tác quốc phòng song phương họ đã có với Philippines.

Tuy nhiên, các nước nhỏ hơn trong khu vực châu Á không phải là các nước duy nhất nên lo lắng. Biển Đông vẫn là một vùng biển mang tầm quan trọng chiến lược, những hành vi bạo loạn trong khu vực này có thể đe dọa đến sự ổn định trong toàn khu vực. Hơn thế nữa, nếu Trung Quốc tiếp tục thực hiện chiến lược của mình thì họ sẽ mở rộng tham vọng đến khu vực Ấn Độ Dương và phía Tây Thái Bình Dương. Có lẽ điều quan trọng nhất, nếu hoạt động uy hiếp của Trung Quốc có thể cho phép họ lờ đi những thông lệ và quy tắc của quốc tế, thì một tiền lệ vô cùng nguy hiểm sẽ được bắt đầu định hình. Một đất nước có thể suy nghĩ dễ dàng đối với các quốc gia khác có thể chắc chắn sẽ phải chấp nhận họ.

________

Brahma Chellaney là giáo sư nghiên cứu về chiến lược tại Trung tâm Nghiên cứu Chính sách tại New Delhi và là thành viên cấp cao tại học viện Robert Bosch tại Berlin. Ông cũng tác giả của chín tựa sách, bao gồm “Asian Juggernaut”; Water: Asia’s New Battleground”; và “Water, Peace, and War: Confronting the Global Water Crisis.”
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 13 guests