Page 58 of 180

Posted: Mon May 23, 2011 12:52 am
by KýCóp
Giá trị của lòng bạo dạn

Tổng thống đã can đảm chọn việc tấn công vào Osama bin Laden. Liệu ông sẽ hành động như thế vì dân chúng Libya trong bước kế tới hay không?

Nguyên bản Anh ngữ: Paul Wolfowitz/Newsweek
Chuyển ngữ: Vann Phan/Người Việt


Biểu tượng rất quan trọng, và biểu tượng trong cái chết của Osama bin Laden đã không đúng như những gì các thuộc hạ kỳ vọng ở ông ta. Cái chết của bin Laden không phải là cái chết vinh quang.


Image
Thanh thiếu niên tại Benghazi học tập quân sự để chiến đấu chống nhà độc tài Gaddafi, giành tự do, dân chủ cho đất nước Libya.
(Hình: Saeed Khan/AFP/Getty Images)

Không phải vì người ta thiếu cố gắng mà bin Laden đã không bị hạ sát hoặc bắt sống sớm hơn nhiều. Nhưng, trong một ý nghĩa nào đó, cũng là điều tốt để cho ông ta sống lâu đến thế - đủ lâu để thấy sự tiêu tan của biết bao nhiêu giấc mộng tàn ác của ông ta bị thảm bại. Quan trọng hơn hết, vẫn có cái nền công lý sâu xa trong sự thể là trước khi chết ông ta đã có cơ hội chứng kiến sự sụp đổ của nhiều nhà độc tài Ả Rập, bị lật đổ không phải dưới tay các thuộc hạ của ông ta mà là do những người đàn ông và những người phụ nữ yêu chuộng tự do (và trang mạng Facebook).

Một trong những khía cạnh lạ thường nhất trong những cuộc biểu tình phản kháng từng quét ngang qua thế giới Hồi Giáo là lòng can đảm của những người biểu tình. Lòng can đảm vô biên của người dân Tunisia và người dân Ai Cập đã bị lòng can đảm của người dân Libya và Syria vượt qua, trong khi đó Bashar al-Assad và Muammar Gaddafi đã được liệt vào hàng bin Laden về tội ác giết hại người dân không có vũ khí tự vệ.

Một trong số các thủ hạ của bin Laden đã viết rằng khuyết điểm của nền dân chủ là nó khuyến khích dân chúng yêu thương cuộc đời quá mức đến độ sợ chết và rồi tiến tới chỗ không muốn tử vì đạo nữa. Ðiều mà bin Laden và kẻ viết câu đó không chịu hiểu là vẫn có những người thương yêu cuộc sống, nhưng lại yêu chuộng tự do hơn và sẵn lòng liều mạng sống để có được tự do. Chính lòng yêu thương cuộc đời theo kiểu đó - chứ không phải chỉ là lòng hy vọng về một cõi thiên đàng - là động lực thúc đẩy dân chúng Mỹ quả cảm từng bảo vệ đất nước họ qua bao thế hệ. Và ngày nay, chúng ta cũng đang chứng kiến lòng yêu chuộng tự do một cách dũng cảm được hàng nghìn người dân Ả Rập biểu lộ.

Khi Mahdi Ziu, một viên chức ngành dầu mỏ 48 tuổi của Libya và cũng là người cha của hai cô con gái, chất đầy chiếc xe hơi bằng những bình ga rồi tự cho nổ tung mọi thứ lên thì không phải là ông đã hành động để sát hại những người dân vô tội mà là để cứu lấy mạng sống con người nhờ việc cho nổ tung các cánh cổng của trại lính Katiba ở Benghazi để yểm trợ cho quân nổi dậy chống Gaddafi trong thành phố đó. Người con gái của ông, tên là Zuhur, phát biểu: “Bố tôi nói rằng mọi người có nhiệm vụ phải chiến đấu cho cuộc cách mạng. Ông không phải là một kẻ quá khích. Ông không thích chính trị. Nhưng ông sẵn lòng làm một việc gì đó. Chúng tôi không biết đó lại là việc làm kia.” Chẳng giống như bin Laden, ông Ziu đã chết như một vị anh hùng, cũng giống như rất nhiều người khác tại những nơi như Misrata và Deraa vậy.

Hiện còn quá sớm để có thể nói những thay đổi tràn qua thế giới Ả Rập sẽ đi về đâu. Nhưng nếu người ta phải lựa ra một “con ngựa chiến” (dùng chính từ ngữ bóng bẩy của bin Laden) thì kẻ đó chính là những người Ả Rập chiến đấu cho tự do, chứ không phải là những kẻ tuẫn đạo [kiểu Hồi Giáo quá khích].

Quyết định của Tổng Thống Obama ra lệnh tấn công vào bin Laden cũng đòi hỏi phải có lòng can đảm. Ðó không phải là cái gan dạ trên chiến trường mà là cái can đảm chấp nhận sống với các hậu quả của một quyết định liều lĩnh. Và vì sứ mạng đó tiến hành tốt đẹp cho nên ông xứng đáng được ca ngợi, đồng thời tư thế chính trị của ông cũng được nâng cao. Nhưng không hề có bảo đảm nào rằng cái sứ mạng loại này không dẫn tới sai lầm thảm hại. Chúng ta thảy đều là kẻ thừa hưởng lợi ích do quyết định của Tổng Thống Obama, nhưng, cuối cùng, thì trách nhiệm lại chỉ nằm trên bàn giấy của một người mà thôi.

Vì một số lý do nào đó, cho tới nay, tổng thống đã không chịu đưa ra những quyết định không đòi hỏi phải liều mạng sống của người Mỹ mà lại có khả năng cứu mạng dân chúng Libya, là những kẻ mà chúng ta đã cam kết bảo vệ - như là quyết định công nhận chính phủ lâm thời tại Benghazi, cung cấp cho họ viện trợ quân sự, đóng cửa bộ máy tuyên truyền của chế độ Gaddafi. Không có bất cứ hành động nào trong số đó sẽ bảo đảm cho sự chiến thắng của đối thủ nhưng lại sẽ giảm thiểu nguy cơ kéo dài tình trạng bế tắc làm tiêu hao thêm sinh mạng của nhiều người dân Libya và gia tăng những rủi ro trong việc người Mỹ, sau cùng, lại bị lôi cuốn sâu hơn vào cuộc diện một cách không cần thiết. Vì sự sống còn của dân chúng Libya và vì uy tín của người Mỹ trong thế giới Ả Rập, người ta trông đợi Tổng Thống Obama nhận chân được cái giá trị của lòng bạo dạn.

Posted: Wed May 25, 2011 12:18 am
by khieulong
Chiến dịch an ninh chưa từng có bảo vệ Obama

Tổng thống Barack Obama sẽ nằm trong tầm mắt theo dõi sát sao của lực lượng an ninh dày đặc, hùng hậu, trong chuyến công du tới nước Anh hôm nay.

Image
Obama và vợ bước xuống từ chiếc Air Force One khi hạ cánh tại sân bay Stansted, Anh. Ảnh: AFP.
Chiến dịch an ninh trong chuyến công du châu Âu đầu tiên của Obama sẽ được thắt chặt hơn bao giờ hết do lo ngại những cuộc tấn công trả thù của các phần tử cực đoan sau cái chết của Osama bin Laden.

Khi Tổng thống Obama và Đệ nhất phu nhân Michelle tới Anh, họ sẽ được hộ tống bởi đội quân gồm hơn 500 nhân viên và một đội kỵ binh hùng hậu. Trong khi chi tiết về chiến dịch an ninh không được các quan chức tiết lộ, nhưng Telegraph tiết lộ đoàn tùy tùng của ông dự kiến sẽ bao gồm hơn 200 lính tinh nhuệ thuộc Cơ quan an ninh quốc gia, trang bị đầy đủ vũ khí.

Mỗi nhân viên - canh gác 24/24 giờ - được trao quyền đặc biệt để mang vũ khí và hòa lẫn với lực lượng bảo vệ của cảnh sát Anh. Một số vệ sĩ được đeo kính râm đặc biệt có gắn camera thu nhỏ để ghi lại hình ảnh về đám đông và truyền về cơ quan đầu não của Cơ quan an ninh quốc gia ở Washington.

Là tổng thống da màu đầu tiên của nước Mỹ, Obama cũng đối mặt với số lần bị đe dọa tính mạng nhiều chưa từng có trong lịch sử. Ông đã được dặt trong sự bảo vệ của Sở Mật vụ Mỹ kể từ tháng 5/2007 - 18 tháng trước khi đắc cử tổng thống - đó là sự chuẩn bị an ninh sớm nhất trong lịch sử nước này cho một ứng cử viên tổng thống.

Vợ chồng Obama - với mật mã an ninh là Renegade and Renaissance - cũng sẽ được đi kèm một nhóm gồm 6 bác sĩ, vài đầu bếp và một số nhân viên Nhà Trắng trong chuyến thăm hai ngày.

Đội y tế Nhà Trắng - bao gồm bác sĩ phẫu thuật, y tá và các chuyên gia y tế khác sẽ túc trực liên tục phòng trường hợp tổng thống bị ốm. Một nguồn dự trữ máu AB - nhóm máu của tổng thống - cũng được chuẩn bị sẵn sàng phòng trường hợp tổng thống bị tai nạn nghiêm trọng hay bị ám sát.

Một sĩ quan quân đội cấp cao - mang theo mật mã để phóng tên lửa hạt nhân - cũng đồng hành với tổng thống.

Trước đó, các nhân viên của Sở mật vụ Mỹ đã đến Anh vài lần để liên hệ với các quan chức an ninh và sĩ quan cảnh sát Anh. Các quan chức sẽ kiểm tra từng chi tiết trong chiến dịch an ninh tiêu tốn nhiều triệu USD và sẽ rà soát kỹ lưỡng để loại trừ nguy cơ từ rệp điện tử, vũ khí và cả các loại vi khuẩn gây chết người.

Hôm nay, vợ chồng Obama tới sân bay Stansted, Anh, trên chiếc Air Force One - chuyên cơ dành cho tổng thống được trang bị tối tân nhất thế giới. Được coi như "văn phòng tổng thống trên bầu trời" - phi cơ được bọc thép và có thể chống lại một vụ nổ hạt nhân từ mặt đất.

Thân máy bay được bọc lớp vỏ đặc biệt để bảo vệ hệ thống liên lạc thiết yếu khỏi bị nghe lén, trong khi hệ thống phòng vệ điện tử có thể làm nhiễu radar của kẻ địch.

Có diện tích 371 m2, gồm 3 tầng, chiếc Boeing 747 còn được gắn 85 điện thoại vệ tinh để giúp tổng thống luôn chỉ huy được qua điện thoại trong trường hợp bị tấn công.

Ngoài ra, tổng thống cũng có thể sử dụng phòng tập ngay trên khoang để giữ gìn sức khỏe, phòng y tế cũng có thể hoạt động như một phòng phẫu thuật. Khoang bếp có thể lưu trữ tới hơn 2.000 bữa ăn.

Khi hai vợ chồng hạ cánh, họ sẽ được đưa vào trung tâm London trên chiếc Marine One - trực thăng VH-3D của riêng tổng thống. Marine One luôn bay giữa một loạt phi cơ giống hệt như nó, trong phi đội 19 chiếc của tổng thống. Trực thăng này này có khả năng bắn pháo sáng làm chuyển hướng các tên lửa tầm nhiệt.

Tổng thống Obama di chuyển trong London bằng chiếc limousine bọc thép - chiếc Cadillac chống đạn còn được gọi là "Quái vật". Cỗ xe luôn là trung tâm của đoàn xe hộ tống bao gồm hàng chục xe bảo vệ, xe cảnh sát và xe cứu thương. Thùng xăng của xe chứa loại bọt đặc biệt có thể ngăn phát nổ cho dù bị trúng hỏa lực.

Lốp của xe là loại Kevlar được gia cố, chống rách cũng như có lớp vành bằng thép cho phép xe có thể đi tiếp được cho dù bị bắn thủng. Cốp xe chứa nguồn dự dữ oxy và một hệ thống chữa cháy, súng hơi cay và thiết bị nhìn ban đêm, trong khi cánh cửa dày 20 cm được bọc thép và nặng gần bằng cánh cửa cabin của máy bay Boeing 757.

Trong chuyến thăm này, Obama sẽ gặp Thủ tướng Anh David Cameron tại dinh thự ở số 10 phố Downing và phát biểu trước quốc hội Anh tại cung điện Westminster. Họ cũng sẽ tham dự bữa quốc yến do Nữ hoàng chủ trì tại cung điện Buckingham và đến thăm Tu viện Westminster - nơi công tước và nữ công tước xứ Cambridge làm đám cưới vào tháng trước.

Song Minh

Posted: Fri May 27, 2011 5:42 pm
by vuphong
Pháp-Anh đưa thêm 16 trực thăng đến Libya
Thursday, May 26, 2011 6:55:09 PM


PARIS (Financial Times) - Pháp và Anh sẽ đưa 16 trực thăng võ trang đến tăng cường cho chiến dịch không kích ở Libya.

Image
Trực thăng mẫu hạm HMS Ocean của Hải Quân Hoàng Gia Anh đã được đưa đến Ðịa Trung Hải ngoài khơi Libya. (Hình: ACIG.org)

Pháp triển khai 12 trực thăng Tiger và Gazelle đặt căn cứ trên tàu đổ bộ Tonnerre và Anh có 4 trực thăng Apache trên trực thăng mẫu hạm HMS Ocean ở Ðịa Trung Hải ngoài khơi Libya.

Nguồn tin ngoại giao cho biết sự leo thang hoạt động quân sự của NATO đã được thảo luận giữa Tổng Thống Barack Obama, Tổng Thống Nicolas Sarkozy và Thủ Tướng David Cameron bên lề hội nghị thượng đỉnh G-8 họp tại Deauville, Pháp, hôm Thứ Năm.

NATO hy vọng với việc sử dụng trực thăng võ trang sẽ có thể tấn công chính xác vào các mục tiêu di động, kể cả những mục tiêu trong thành phố và tránh gây ra tổn thất phụ cho thường dân.

Quân đội trung thành với Gadhafi vẫn giao tranh với quân nổi dậy và hôm Thứ Năm tiếp tục pháo kích vào thành phố Misurata. Nhưng theo các quan sát viên, chiến dịch oanh kích của NATO đến nay tỏ ra đã có áp lực hiệu quả. Moammar Gadhafi buộc phải lẩn trốn không còn xuất hiện nhiều trước dân chúng, khi các máy bay NATO đang gia tăng oanh kích thủ đô Tripoli, mặc dầu chưa bao giờ trực tiếp nhắm Gadhafi là mục tiêu tấn công chính. Nhiều dấu hiệu khác cho thấy chính quyền Libya tìm cách giải quyết cuộc khủng hoảng bằng con đường thương lượng.

Theo AP, lần đầu tiên hôm Thứ Năm chính phủ Libya nói rằng có thể nói chuyện với lực lượng nổi dậy. Thủ Tướng Al-Baghdadi al-Mahmoudi tuyên bố với các phóng viên là sẵn sàng thảo luận với “tất cả mọi người Libya kể cả thành phần nổi loạn ở Benghazi.” Trước kia chính quyền Tripoli luôn luôn khẳng quyết “không nói chuyện với phe nổi loạn vì họ không đại diện dân Libya.”

Tuy nhiên vẫn theo lời Thủ Tướng al-Mahmoudi: “Lãnh tụ Moammar Gadhafi ở trong trái tim của mỗi người dân Libya. Nếu ông ra đi thì dân chúng Libya không còn gì nữa.”

Thủ Tướng al-Mahmoudi đã gởi văn thư đến các nước Âu Châu đề nghị NATO ngưng oanh kích. Tây Ban Nha là nước đầu tiên lên tiếng, cho biết đã nhận được đề nghị nhưng “Tây Ban Nha này và toàn thể 27 nước trong EU đòi hỏi Libya phải có một số bước tiến trước,” một phát ngôn viên chính phủ cho hay hôm Thứ Năm. Phát ngôn viên này từ chối bình luận và cho biết thêm chi tiết.

Mặt khác, theo dự tính, tổng thống Nam Phi sẽ đến Tripoli ngày Thứ Hai, 30 tháng 5, thay mặt cho các nước Liên Minh Phi Châu (AU) thảo luận tìm một giải pháp cho Gadhafi có thể rút lui. (HC)

Posted: Sat May 28, 2011 1:35 am
by thienthanh
Nhà tù Cali và bỏ phiếu ở New York

Ngô Nhân Dụng

Chính trị là việc lựa chọn. Những lựa chọn chung cho một đám đông cùng sống trong một nước, một tỉnh, hay một làng. Không phải chỉ là lựa chọn giữa thiện và ác, giữa cái tốt và cái xấu. Phần lớn các vấn đề chính trị là lựa chọn giữa nhiều thứ cùng tốt cả.

Thí dụ tiểu bang California nước Mỹ được lệnh của Tòa án Tối cao phải giảm bớt số tội phạm trong các nhà tù, vì họ đang sống chật chội quá. Tiểu bang phải chọn, hoặc xây thêm phòng cho tù nhân, hoặc phải thả họ ra.

Thẩm phán Tối cao Anthony Kennedy đã đưa ra quyết định trên nhân danh Hiến Pháp Mỹ và ông thống đốc California sẽ phải tuân theo lệnh quan tòa. Hiện nay các nhà giam ở California giữ 142,000 tù nhân. Ba vị quan tòa kháng án liên bang đã ra lệnh phải giảm xuống còn 110,000 trong hai năm tới, và bị kháng án lên tòa trên. Nay Tòa án Tối cao Liên bang chấp thuận quyết định của tòa dưới, yêu cầu tiểu bang phải giảm bớt trên 30,000 tù nhân; vì tình trạng nhà tù hiện nay thiếu những điều kiện tối thiểu để các tù nhân sống xứng đáng với phẩm giá con người mà bản Hiến Pháp Hoa Kỳ nói rõ ràng cần phải bảo vệ. Các Thẩm phán Tối cao đã được coi ba tấm hình cho thấy những cảnh trong nhà tù rất chật chội: Có nơi chưa đủ giường ngủ phải nhốt riêng một người tù trong cái chòi ổ chuột. Có nơi 200 tù nhân chỉ có vài người lính gác. Có tù nhân bị bệnh tâm thần đứng giữa bãi nước tiểu của mình. Ðối với người Mỹ, khi chính quyền để cho một người dân, dù là tội phạm, sống trong cảnh như vậy, là vi phạm Hiến Pháp.

Nhưng California không thể xây thêm nhà tù vì ngân sách đang thiếu hụt. Các chương trình cải huấn các can phạm cũng sẽ tốn tiền, có khi tốn hơn là giữ họ trong nhà tù. Có quận nào muốn lãnh thêm tù nhân về nhà giam nhỏ của mình không? Tiền đâu ra? Mỗi năm California chi tiêu khoảng 10 tỷ đô la trong việc giam giữ các tù nhân (trung bình giam mỗi người tù tốn trên 70,000 đô la một năm). Vậy thì phải thả họ ra sớm hơn? Người dân sẽ lo lắng nhà mất trộm, mất xe, an ninh không được bảo đảm!

Tại sao California nhiều người bị tù như vậy? Một phần vì luật lệ rất gắt gao. Mà luật gắt gao không phải vì nhà nước khó tính, mà vì dân chúng muốn như vậy. Thí dụ, dân California đã bỏ phiếu ủng hộ một đề án “Quá tam ba bận,” theo đó thì ai phạm tội đến lần thứ ba là nhốt luôn, không còn hy vọng ân xá nữa. Ý kiến này hay quá, nhiều tiểu bang đã bắt chước làm theo. Nhưng khi thi hành luật này thì một người phạm một tội nhỏ ba lần, thí dụ ăn cắp vặt hay bị bắt với một chút ma túy nhỏ, cũng có thể bị giam giữ suốt đời. Luật lệ tiểu bang về tạm tha cũng rất gắt gao, một vi phạm nhỏ trong thời gian “parole” là trở lại nhà tù chờ ngày xét xử lại.

Sự thể đưa tới tất câu chuyện này là do những lựa chọn của người dân California từ nhiều năm trước. Một mặt họ bỏ phiếu cho những luật lệ nghiêm khắc để ngăn ngừa tội phạm, đó là một ý kiến rất tốt. Ðồng thời, ai cũng muốn các tù nhân phải được đối xử như xứng đáng với phẩm giá con người, một ý rất tốt nữa. Ở một xứ tự do dân chủ người ta không thể đem hàng trăm ngàn người bỏ lên rừng mặc cho sống chết sao cũng được! Nhưng nếu bây giờ California muốn thực hiện cả hai thiện ý trên thì phải tăng thuế. Mà người dân ở đâu cũng vậy, ai cũng muốn giảm bớt gánh nặng thuế má, đó là một ý tốt khác. Khi lựa chọn giữa cái tốt và cái xấu, chúng ta nhờ đạo đức, tôn giáo chỉ đường. Nhưng ở đời chúng ta cũng hay phải lựa chọn giữa nhiều cái tốt như nhau; khi lựa chọn có tính chất tập thể thì gọi là chính trị!

Một biến cố chính trị khác mới diễn ra ở Mỹ cũng đặt ra trước người dân những lựa chọn khó khăn. Hôm Thứ Ba vừa rồi, bà Kathy Hochul (Dân Chủ) đã thắng bà Jane Corwin (Cộng Hòa) trong một cuộc bầu cử điền khuyết một ghế dân biểu trống ở đơn vị bầu cử số 26, tiểu bang New York (viết tắt là NY 26). Bà Kathy Hochul được 47.1% số phiếu, bà Jane Corwin được 42.5%, người về thứ ba là ông Jack Davis được 9.2% số phiếu, ông này trước thuộc đảng Dân Chủ năm nay ứng cử với tư cách “Ðảng Tiệc Trà,” Tea Party. Tin tức về cuộc bỏ phiếu này chắc không được quý vị chú ý lắm, nhưng đã gây một cơn sóng gió trên các diễn đàn chính trị. Vì đơn vị NY 26 trong 58 năm qua luôn luôn bầu cho các ứng cử viên Cộng Hòa. Các ông Tổng Thống Georges W. Bush, Nghị Sĩ John McCain đều đã được dân ở đây ủng hộ (năm 2008 McCain hơn Obama 6 điểm ở vùng này).

Nhưng lý do chính khiến mọi người bàn luận sôi nổi về cuộc bỏ phiếu nhỏ này là vì họ không đồng ý nó đang báo trước, hay sẽ ảnh hưởng đến cuộc bầu cử tổng thống và Quốc Hội sang năm như thế nào. Bên đảng Dân Chủ thì vui mừng tuyên bố là kết quả cuộc bỏ phiếu ở NY 26 chứng tỏ nhiều cử tri độc lập đang chống lại chính sách của đảng Cộng Hòa về vấn đề Medicare. Phía Cộng Hòa thì nhún vai vạch ra rằng ứng cử viên Davis thuộc Tea Party đã chiếm mất nhiều phiếu bảo thủ đáng lẽ đã bỏ cho bà Jane Corwin.

Chúng tôi sẽ không tham dự vào cuộc tranh luận trên mà chỉ muốn nêu ra một điểm lựa chọn căn bản trong đó. Sở dĩ vấn đề Medicare, y tế cho các người về hưu ở Mỹ, trở thành quan trọng trong cuộc bỏ phiếu này vì Hạ Viện Mỹ đã thông qua một bản ngân sách do Dân Biểu Paul Ryan đề nghị. Trong dự thảo ngân sách này, ông Paul Ryan chủ trương trong tương lai sẽ thay thế chương trình Medicare hiện nay, bằng cách phát cho mỗi người về hưu một số phiếu (vouchers) để trả các chi phí chữa bệnh. Ðây là một hình thức tư nhân hóa, vì mọi người có thể dùng vouchers trực tiếp trả cho các công ty bảo hiểm hoặc cung cấp dịch vụ y tế, không còn do chính phủ chi trả như hiện nay nữa. Bản ngân sách Paul Ryan cũng đề nghị giảm thuế cho những người giầu nhất nước Mỹ, từ 36% xuống 25%.

Dự thảo ngân sách Paul Ryan đã cẩn thận chỉ áp dụng sự thay đổi về Medicare cho những người từ 54 tuổi trở xuống mà thôi, để tránh cho các người đang hoặc sắp được hưởng Medicare không bị thay đổi. Nhưng trong dư luận người ta vẫn lo sợ, những người tuổi 40 cũng lo ngại. Bởi vì người ta không biết khi họ đến tuổi về hưu thì chi phí y tế ở Mỹ sẽ tăng lên như thế nào, và số tem phiếu mà chính phủ sẽ phát cho họ có tăng lên kịp với tốc độ của chi phí hay không. Vì biết ông Paul Ryan đang gây ra mối lo đó, nhiều lãnh tụ đảng Cộng Hòa cũng lên tiếng phản đối dự thảo ngân sách của ông, như Nghị Sĩ Scott Brown tiểu bang Massachusetts, và ông Newt Gingrich, cựu chủ tịch Hạ Viện và có thể sẽ tranh cử tổng thống sang năm.

Tại đơn vị NY 26, bà Jane Corwin đã ủng hộ Dự thảo ngân sách Paul Ryan, trong khi bà Kathy Hochul thì kịch liệt chống lại, và nêu vấn đề Medicare làm đề tài tranh cử chính. Trong đơn vị này, cứ 4 cử tri độc lập thì có một người coi vấn đề Medicare là yếu tố quyết định việc bỏ phiếu. Ðảng Cộng Hòa đã nhìn thấy mối nguy bị thua trong đơn vị trung thành cố hữu này, đã giúp 400 ngàn đô la cho quỹ tranh cử của bà Corwin. Tổ chức chính trị của ông Karl Rove, cố vấn chính trị của Tổng Thống Bush đã góp thêm 700 ngàn đô la. Nhưng cuối cùng bà Jane Corwin đã thua. Sau đó 2 ngày, Thượng Viện Mỹ đã bác bỏ Dự thảo ngân sách của Hạ Viện với số phiếu 57-40. Một số nghị sĩ Cộng Hòa đã bỏ phiếu giống các đồng viện Dân Chủ, như các bà Olympia Snowe và Susan Collins, tiểu bang Maine, Scott Brown của Massachusetts và Lisa Murkowski thuộc Alaska, một người đã bị bà Sarah Palin chống nhưng vẫn đắc cử.

Chúng tôi không bàn về những đề nghị thay đổi của ông Paul Ryan về Medicare mà chỉ chú ý đến vai trò của nó trên kết quả cuộc bầu cử ở đơn vị NY 26. Rõ ràng, nếu không có Ngân sách Ryan thì chưa chắc đảng Dân Chủ đã thắng ở đó. Cử tri tại NY 26 đứng trước một lựa chọn: có muốn thay đổi chương trình Medicare theo đề nghị của Ngân sách Paul Ryan hay không?

Nhưng nói như vậy là quá giản dị. Bởi vì các đề nghị của Ngân sách Paul Ryan có những lý do sâu xa, không thể chỉ tóm tắt trong một câu được. Chương trình Medicare sẽ phá sản nếu cứ tiếp tục chi tiêu như tốc độ hiện nay, thế nào cũng phải thay đổi. Ngân sách Paul Ryan có một thiếu sót là không bảo đảm các tem phiếu y tế phát cho người về hưu đuổi theo kịp chi phí y tế leo thang; cũng không đưa ra những biện pháp để giảm tốc độ các chi phí đó. Ðưa ra một biện pháp làm giới trung lưu lo sợ sẽ bị thiệt hại trong khi lại muốn bớt thuế cho giới giầu có, đó cũng là một điều khiến nhiều cử tri bất bình. Nhưng cuối cùng, nước Mỹ sẽ phải đối diện với vấn đề chương trình Medicare (cùng nhiều chương trình khác như An Sinh Xã hội, MediCal-Medicaid, vân vân). Bảo vệ sức khỏe và lợi tức của người về hưu, đó là một bổn phận của cả xã hội. Nhưng làm cách nào thực hiện được điều đó trong khi không ai muốn tăng thuế? Một mặt dân Mỹ muốn thu nhỏ vai trò của chính phủ lại để bớt phải đóng thuế, mặt khác lại muốn chính phủ phải lo bảo vệ những người già và người yếu kém. Cử tri bỏ phiếu ở đơn vị NY 26, cũng như Thượng Viện Mỹ, chỉ trì hoãn chưa thay đổi chương trình Medicare, chứ không giải quyết gì cả trong những lựa chọn lớn như trên!

Cũng như các cử tri ở California trong mấy chục năm qua. Họ biết có vấn đề các nhà tù chật chội, nhưng vẫn muốn luật pháp phải nghiêm khắc để bảo vệ an toàn cho đời sống. Bây giờ Tòa án Tối cao đã ra lệnh tiểu bang phải giải quyết.

Cuối cùng, các vấn đề chính trị trên đều đặt ra trên những lựa chọn tập thể. Tăng thuế hay không? Bảo vệ sức khỏe người già như thế nào? Ai sẽ đóng góp, cho ai hưởng? Mọi vấn đề chính trị đều là những lựa chọn kiểu đó. Ở các nước tự do dân chủ thì chính người dân đứng ra lựa chọn, qua lá phiếu. Chúng ta biết lựa chọn nào cũng có thể lầm lẫn, hoặc có thể đúng trong một thời gian rồi lại sai khi hoàn cảnh thay đổi, kể cả những lựa chọn tập thể. Vì thế chế độ dân chủ tự do đặt ra những “luật chơi” cho việc lựa chọn tập thể; nếu có sai thì tất cả cùng chịu trách nhiệm. Dù sao cũng hơn là phải sống trong chế độ độc tài, mọi lựa chọn đều do một nhóm người quyết định, không một người dân nào được quyền tham dự.

Posted: Mon May 30, 2011 2:55 am
by thienthanh
Ðiểm mặt các ngôi sao đảng Cộng Hòa

Philip Elliott & April Castro/AP
Chuyển ngữ: Văn Giang/Người Việt


WASHINGTON (AP) - Cuộc vận động để đại diện đảng Cộng Hòa tranh cử năm 2012 để lật Tổng Thống Barack Obama hiện chưa ngã ngũ nhưng đột nhiên sôi động hẳn lên.

Image
Cựu Thống Ðốc Mitt Romney tiểu bang Massachussetts trở ra xe sau buổi nói chuyện tại Des Moines, Iowa hôm Thứ Sáu.
Với đương kim Thống Ðốc Texas Rick Perry lấp ló muốn tranh cử tổng thống, chính trường đảng Cộng Hòa đang im ắng bỗng náo nhiệt hẳn lên.
(Hình: AP Photo/Charlie Neibergall)

Sau nhiều tháng bác bỏ các lời kêu gọi tham gia vào cuộc vận động, thống đốc tiểu bang Texas, ông Rick Perry, hôm Thứ Sáu nói rằng ông sẽ xem xét điều này. Quyết định của ông Perry có thể làm thay đổi cục diện các ứng viên phía Cộng Hòa vì nay có sự tham dự của một đương kim thống đốc, người chưa hề thua một cuộc bầu cử nào.


Cựu thống đốc Alaska, bà Sarah Palin, cũng làm chấn động các giới chức trong đảng Cộng Hòa với lời tuyên bố sẽ có một chuyến đi “thăm dân cho biết sự tình” bằng xe buýt dọc theo bờ biển miền Ðông. Bà là người mới nhất trong số những người có thể ra tranh cử sau khi Thống Ðốc Mitch Daniels của tiểu bang Indiana loan báo cuối tuần qua rằng ông sẽ không tham dự vào cuộc vận động.

Và cựu thị trưởng thành phố New York, ông Rudy Giuliani, hiện cũng đang dự trù đến tiểu bang New Hampshire tuần tới, tạo thêm các lời đồn đại cho rằng ông sẽ bước vào vòng tranh cử.

Ông Perry, hiện là thống đốc tại chức lâu năm nhất trong lịch sử tiểu bang Texas, sẽ mang đến một lập trường bảo thủ vững chắc, một bộ máy vận động tài chánh vững vàng và một tiếng nói mới. Ngay cả trong khi các cố vấn thân cận cho hay ông không có ý định tham gia tranh cử, Thống Ðốc Perry đã thấy xuất hiện ở nhiều nơi, tạo thêm tin đồn là ông sẽ vào cuộc.

“Tôi sẽ nghĩ về việc này,” ông Perry cho hay hôm Thứ Sáu. “Tôi cần phải nghĩ về rất nhiều điều.”

Chỉ một lời tuyên bố đó thôi cũng đủ tạo nên các tin đồn cho rằng ông sẽ bước vào cuộc vận động hiện đang thiếu một nhân vật có thế vượt trội. Cánh bảo thủ xã hội trong đảng Cộng Hòa hiện vẫn chưa tìm ra ứng viên ưng ý. Các nhân vật tranh đấu trong phong trào Tea Party chưa có người của mình. Thành phần thế lực lâu năm trong đảng Cộng Hòa hiện vẫn chưa đồng ý được với nhau về ai sẽ là người đại diện đảng.

Ông Mitt Romney, cựu thống đốc tiểu bang Massachusetts, có vẻ là người sáng giá nhất hiện nay. Cũng giống như ông Giuliani, ông ra tranh cử để đại diện đảng năm 2008 nhưng thua nghị sĩ tiểu bang Arizona John McCain.

Ông Romney sẽ chính thức khai mạc cuộc vận động tranh cử của ông tại tiểu bang New Hampshire vào Thứ Năm tuần tới, cùng ngày ông Giuliani dự trù đến để tham dự một cuộc gây quỹ cho đảng bộ Cộng Hòa tại tiểu bang và dùng bữa trưa với một số giới chức Cộng Hòa. (V.Giang)


Dưới đây là một số những nhân vật được cho là (hoặc đang được đảng viên Cộng Hòa hy vọng là) sẽ ra tranh cử tổng thống năm 2012.


Cựu Thống Ðốc Sarah Palin tiểu bang Alaska, từng là ứng cử viên phó tổng thống năm 2008: Gần như chắc chắn sẽ tranh cử, hiện đang chuẩn bị cho một vòng vận động suốt dọc miền Ðông Hoa Kỳ.

Cựu Thống Ðốc Mitt Romney tiểu bang Massachusetts, từng tranh cử năm 2008: Sẽ chính thức loan báo tranh cử tại New Hampshire tuần tới. New Hampshire là tiểu bang có cuộc bầu cử sơ bộ đầu tiên. Thống Ðốc Romney từng thông qua cuộc cải tổ bảo hiểm y tế tại tiểu bang Massachussetts nhưng nay bị cho là làm như vậy là giống cải tổ của Tổng Thống Obama.
Cựu Thị Trưởng New York Rudy Giuliani, người từng được xem là anh hùng của thành phố này sau vụ 11 tháng 9, từng tranh cử năm 2008.

Cựu Thống Ðốc Utah Jon Huntsman, một chuyên gia ngoại thương. Ông được Tổng Thống Obama cử làm đại sứ Hoa Kỳ tại Trung Quốc năm 2009, và rời chức vụ này năm 2011. Trước đó, ông từng là đại sứ trẻ nhất của nước Mỹ trong 100 năm, phục vụ tại Singapore.

Cựu Chủ Tịch Hạ Viện Newt Gingrich, người giành lại phần đa số cho đảng Cộng Hòa tại Hạ Viện năm 1994 sau 40 năm trong tay đảng Dân Chủ. Tuy nhiên, đời tư ông Gingrich với hai lần ly dị làm giới Thiên Chúa Giáo bảo thủ không vừa lòng.

Thống Ðốc Texas Rick Perry, tuy chưa tuyên bố chính thức, nhưng mới đây nói với báo chí ông “sẽ suy nghĩ về việc này,” làm sôi nổi chính trường đảng Cộng Hòa. Nếu tranh cử, ông sẽ là ứng cử viên duy nhất đang tại chức trong chính quyền, khác với một loạt các “cựu” viên chức.

Một số nhân vật sáng giá khác tuyên bố sẽ không tranh cử: Thống Ðốc Indiana Mitch Daniels, Thống Ðốc Mississippi Haley Barbour, và tỷ phú Donald Trump.

Posted: Thu Jun 02, 2011 1:27 am
by vuphong
Biển Đông sẽ không bao giờ yên tĩnh nếu…
Song Chi.

Sự kiện ba chiếc tàu hải giám Trung Quốc ngang nhiên vào sâu trong vùng lãnh hải của Việt Nam, cắt cáp thăm dò dầu khí của một chiếc tàu thuộc một tập đoàn dầu khí lớn nhất VN, hoành hành suốt hơn 3 tiếng đồng hồ trước khi rút lui mà không gặp bất cứ trở ngại gì khiến lòng người Việt trong và ngoài nước nổi sóng ba đào!

Báo chí “lề trái”, “lề phải”, các diễn đàn độc lập, các trang blog cá nhân…đồng loạt lên tiếng. Người dân trong nước từ thành thị đến nông thôn nói với nhau về chuyện này tại nơi làm việc, tại những quán café, quán nhậu, ngoài cánh đồng làng và cả trong phòng ngủ gia đình. Người dân xa xứ nói với nhau qua điện thoại, internet. Những trái tim sôi sục, phẫn nộ. Trước sự ngang ngược quá đáng của Trung Quốc và trước sức ép từ người dân, cuối cùng Bộ Ngoại Giao VN, các websites và tờ báo đại diện cho tiếng nói chính thức của Đảng, quân đội và nhà nước CSVN như website ĐCSVN, website Chính phủ, báo Quân Đội Nhân Dân… cũng phải lên tiếng. Thế đã là…tiến bộ lắm! Nhưng cái trò phản đối bằng mồm này rõ ràng là chẳng ăn thua gì với TQ!


Thế giới mạng của người Việt nóng hẳn lên mấy bữa nay. Người ta cùng nhau đọc lại bản tuyên cáo đanh thép của chính quyền Miền Nam Cộng Hòa khi Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974. Người ta nhớ lại những hình ảnh sôi sục của những ngày cuối năm 2007, đầu năm 2008 khi hàng trăm, hàng ngàn sinh viên, học sinh, văn nghệ sĩ biểu tình chống Trung Quốc xâm lược Hoàng Sa Trường Sa tại Hà Nội và Sài Gòn.
Đã có những lời kêu gọi nhà nước VN hãy để cho người dân được tự do lên tiếng, phản đối hành động ngang ngược của Trung Quốc, cũng như những lời kêu gọi xuống đường ôn hòa để biểu lộ thái độ đối với Bắc Kinh.


Hơn bất cứ dân tộc nào khác, người Việt từ xưa đến nay đã có quá nhiều kinh nghiệm cay đắng khi sống bên cạnh người láng giềng khổng lồ và xấu chơi Trung Quốc. Người Việt quá hiểu rằng với Trung Quốc, đâu cứ phải cứ lùi bước, cứ nhân nhượng là Trung Quốc để yên cho. Đối sách của đảng và nhà nước cộng sản VN từ nhiều năm nay là nín nhịn, Trung Quốc muốn gì đáp ứng nấy, dâng đất, dâng biển…
Thế nhưng kết quả là gì? Trung Quốc đã đánh vỗ mặt Việt Nam năm 1979, xâm chiếm Trường Sa năm 1988. Trung Quốc đã lấn lướt được của Việt Nam hàng trăm kilomet vuông lãnh thổ dọc biên giới phía Bắc và hàng trăm dặm vuông lãnh hải, thông qua Hiệp ước biên giới trên đất liền năm 1999, Hiệp định Phân định Vịnh Bắc Bộ VN-TQ năm 2000, bởi sự nhân nhượng của nhà nước Việt Nam. Hiện tại, Trung Quốc có thể chưa vội dùng vũ lực trên đất liền với Việt Nam, nhưng họ chắc chắn sẽ đánh chiếm nốt những hòn đảo thuộc quần đảo Trường Sa mà Việt Nam đang nắm giữ để thực hiện âm mưu chiếm trọn 80% khu vực biển Đông này. Bởi đó là lợi ích cốt lõi của họ. Là chiến lược và tham vọng lâu dài tiến tới xưng hùng xưng bá trên cả khu vực này, đối trọng với Mỹ. Đã là chiến lược, là tham vọng lâu dài của “kẻ khác” thì chúng ta có nín nhịn, có ngoan ngoãn phục tùng cũng chẳng được yên.


Đảng và nhà nước cộng sản VN chắc cũng không đến nỗi tối dạ gì mà không hiểu điểu đó.


Nhưng khốn thay, chính họ đã tự trói tay mình, tự làm khó mình để bây giờ rơi vào thế kẹt tứ bề và càng lúc sẽ càng khó khăn hơn!
Với thế giới, do khăng khăng bảo vệ mô hình của một chế độ độc tài chuyên chế, Việt Nam đã không thể có được sự ủng hộ mạnh mẽ từ các nước láng giềng trong khối ASEAN cho tới các nước tự do dân chủ phương Tây và Hoa Kỳ. VN cũng không có đồng minh chiến lược. Thêm vào đó là chính sách ngoại giao theo kiểu đu dây giữa các nước lớn, lúc thế này lúc thế khác, tiếng là “bạn với tất cả” cũng có nghĩa chẳng có ai thực sự là bạn khi cần thiết!
Với Trung Quốc, chính nhà nước VN đã tự đút đầu vào thòng lọng của anh bạn láng giềng khi quay đầu lại bám víu lấy TQ sau sự kiện Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ. Từ đó, VN cứ mãi không sao thoát khỏi vòng kềm tỏa của TQ. Lại thêm nạn tham nhũng, dốt nát, điều hành quản lý kinh tế quá kém khiến kinh tế càng lúc càng bết bát, đất nước càng lúc càng ngập trong nợ nần, khoảng cách tụt hậu mỗi lúc mỗi xa so với các nước. Tài lực, nội lực không mạnh thì làm sao trụ vững một mình , thoát khỏi sự phụ thuộc nặng nề vào nước khác?


Với nhân dân, sau bao nhiêu năm đảng và nhà nước tích cực bóp nghẹt mọi quyền tự do dân chủ, mọi tiếng nói phản biện, dập tắt mọi biểu hiện yêu nước của người dân, hậu quả là ba phần tư người Việt trong nước hôm nay đã sống theo kiểu “chuyện chính trị, chuyện nước là của… nhà nước lo”. Người dân phần vì sợ hãi, muốn yên thân, phần vì quanh năm quay cuồng với cơm áo gạo tiền nên chẳng mấy ai thực sự thấy hết hiện trạng của đất nước cũng như hiểm họa từ phương Bắc. Làm nhụt nhuệ khí của dân tộc, đảng và nhà nước cộng sản VN hôm nay cũng đồng thời phải lãnh hậu quả: khi cần đến tinh thần công dân, sự quật cường của người dân để chống lại kẻ thù nếu có một cuộc xâm lăng xảy ra, liệu phải mất bao lâu để gầy dựng lại cái tinh thần, nguyên khí, nội lực đó?


Rút cục, đảng và nhà nước VN cứ loay hoay như đèn cù: đối ngoại vừa muốn chơi với Hoa Kỳ nhưng lại sợ mất đảng, vừa muốn bám lấy TQ làm chỗ dựa kinh tế và chỗ dựa cho chế độ nhưng lại sợ mất nước! Khi quan hệ với TQ “cơm không lành canh không ngọt” vừa muốn lên tiếng cho thế giới hay vừa sợ nếu làm căng quá thì TQ lại “dạy cho một bài học” nữa thì không có ai cứu. Vừa muốn để cho người dân phản ứng hộ mình nhưng lại sợ “các thế lực thù địch” lợi dụng chuyển hướng thành cuộc cách mạng hoa nhài hoa cúc…Nên cứ thậm thà thậm thụt, hành xử bất nhất, từ người dân cho đến thế giới cũng chả biết rõ đảng và nhà nước cộng sản VN muốn cái gì!


Chưa kể, kinh tế thì đang lao đao, xã hội thì quá nhiều vấn đề, lòng dân oán thán.


Hiểu rõ cái thế yếu, sự khó khăn đó của Hà Nội, Bắc Kinh càng ngày càng lấn tới.


Từ việc chọn lựa sai mô hình, thể chế chính trị, chọn bạn mà chơi cho đến vô vàn những sai lầm trong đường lối chính sách về kinh tế, xã hội, đối nội, đối ngoại…nhưng lại khư khư không muốn thay đổi, chỉ muốn giữ quyền lực đến cùng, đẩy đất nước và dân tộc đến tình thế khó khăn ngày hôm nay, là trách nhiệm của các thế hệ lãnh đạo đảng và nhà nước cộng sản VN.


Tổ tiên VN đã bao đời chiến đấu chống lại họa ngoại xâm, đặc biệt là từ phương Bắc, đồng thời mở mang bờ cõi về phương Nam để trao lại cho họ, các thế hệ lãnh đạo đảng và nhà nước VN một tổ quốc như ngày hôm nay. Nhưng các thế hệ lãnh đạo đảng và nhà nước VN trong nhiều năm qua đã không xứng đáng với tổ tiên. Chưa bao giờ VN bị mất đi một rẻo đất chỉ đến khi dưới “triều đại” của họ. VN cũng chưa bao giờ phải hèn hạ đến thế trước nước lớn, chỉ dưới “triều đại” của họ. Họ cũng chẳng xứng đáng với một dân tộc yêu nước như dân tộc VN. Điều cuối cùng mà họ có thể làm được để tạ lỗi với tổ tiên và với nhân dân là hãy thức tỉnh, kịp thời chọn lựa một con đường đi khác- tự do dân chủ pháp trị đa nguyên đa đảng, để đưa đất nước tiến lên giàu mạnh, thoát khỏi vòng kềm tỏa và cả cái họa bành trướng từ nước láng giềng khổng lồ.


Còn nếu họ nhất định bám giữ quyền lực, trách nhiệm cứu nước tùy thuộc vào lương tri sáng suốt của người VN.


Biển Đông sẽ không bao giờ yên tĩnh và Việt Nam cũng sẽ chẳng bao giờ được yên ổn nếu TQ không thay đổi thành một quốc gia dân chủ, biết tôn trọng luật pháp, các công ước quốc tế. Hoặc chính VN phải thay đổi trước để tự cứu mình.


Nếu không, rồi sẽ đến một ngày, cả vùng biển này là của kẻ khác, ngư dân VN chỉ còn biết ngồi đó mà khóc. Ông bạn láng giềng chiếm hết đảo, xây căn cứ sân bay, căn cứ tàu ngầm, rồi tàu chiến ngày đêm ngang dọc tuần tra, VN sẽ chẳng còn nhúc nhích cục cựa vào đâu được nữa.


Tương lai đất nước này, dân tộc này chẳng lẽ lại bi đát đến thế?

Posted: Fri Jun 03, 2011 12:42 am
by dailien
Bà mẹ Thiên An Môn đòi danh dự cho con


Image
Cuộc biểu tình chống tham nhũng và đòi mở rộng dân chủ tại Thiên An Môn đã bị đàn áp thẳng tay hồi tháng 6/1989
Lần đầu tiên, nhóm Bà mẹ Thiên An Môn tiết lộ công an Trung Quốc tiếp cận họ để nói về khả năng "trả tiền" cho những vụ việc đến nay vẫn bị che dấu.

Trong thư ngỏ công bố trên các trang mạng nhân quyền về Trung Quốc hôm nay 31/5/2011, các bà mẹ có con bị giết, mất tích hoặc truy bức sau cuộc thảm sát Thiên An Môn năm 1989 nói họ vẫn muốn đối thoại với chính quyền.

Theo bức thư nói rằng "Không được làm ô danh các gia đình Thiên An Môn", chừng 27 người đã ký tên, nhắc lại cuộc đàn áp sinh viên vào tháng 6/1989 dưới thời Đặng Tiểu Bình ở thủ đô Bắc Kinh.

Kể từ ngày đó, ngày người Trung Quốc gọi là Lục Tứ (4 tháng 6), các gia đình có con cái bị giết tại quảng trường Thiên An Môn không ngừng kêu gọi phục hồi danh dự cho họ.

Họ nêu ra tên tuổi của các thanh thiếu niên mà có người mới chỉ 13 tuổi khi bị thương vì đạn của quân đội.

Đối thoại vì sự thật

Lá thư viết họ chỉ nêu ra ba điều cơ bản: đối thoại để tìm ra sự thật về con số người bị quân đội Trung Quốc giết chết; đánh giá lại bối cảnh chính trị khi đó để xác định công và tội của các nhà lãnh đạo; và đòi bồi thường.

Dù con số chính thức chỉ là 203 người bị giết, các giới vận động nhân quyền cho rằng Bắc Kinh có trách nhiệm điều tra để biết con số thực mà họ tin là cao hơn khi xe tăng của Hồng quân Trung Hoa tràn vào giải tán người biểu tình ở Thiên An Môn.
Image
Công an Trung Quốc ngăn các thân nhân của sinh viên bị giết tại Thiên An Môn năm 1989 tụ tập hồi 2009 để tưởng niệm con cái họ
Nay, lần đầu tiên các bà mẹ Thiên An Môn cũng tiết lộ rằng hồi tháng 2/2011, các quan chức ngành công an Trung Quốc đã tiếp cận một số gia đình và sau đó, vào tháng 4 vừa qua, có đề nghị "trả tiền bao nhiêu thì đủ" cho những cá nhân có người thân thiệt mạng năm 1989.

Theo BBC Tiếng Trung tại London, hoạt động của các quan chức công an có thể là dấu hiệu lãnh đạo cấp cao nhất của Trung Quốc đang tìm cách giải quyết chủ đề Thiên An Môn hiện vẫn bị cấm nêu ra tại nước này.

Tuy nhiên, lá thư của các bà mẹ cho hay giới chức không hề đưa ra một lời giải thích nào về vụ Thiên An Môn, không hứa hẹn điều tra gì.

Các cuộc gặp cũng được phía nhà nước cho là "riêng tư", nhằm "trao đổi ý kiến" mà thôi.

Điều các bà mẹ Thiên An Môn muốn không chỉ là cuộc đối thoại công khai về sự kiện Thiên An Môn, mà cả việc phục hồi danh dự cho thân nhân của họ.

Cho đến nay, truyền thông chính thức của Trung Quốc gọi biến cố Thiên An Môn là do "bọn phản cách mạng" và "gây rối" tạo ra.

Chính quyền cho tới nay cũng không muốn coi tổ chức Các bà mẹ Thiên An Môn như một nhóm chung, mà chỉ tiếp xúc riêng tư với từng gia đình.

Họ cho rằng để cho công an đứng ra "nói chuyện riêng" với các gia đình nạn nhân Thiên An Môn là điều bất thường.

Nay, các bà mẹ yêu cầu chính quyền chỉ định ra một vị trí hay cơ quan có chức danh hẳn hoi để đối thoại với họ.

Đặc biệt, họ cũng nêu ra rằng kể từ đầu năm nay, làn sóng dân chủ ở Trung Đông và Thế giới Ảrập khiến chính quyền Trung Quốc lo sợ và chỉ muốn tiếp tục im lặng về vụ Thiên An Môn dù nhiều năm đã qua.

Posted: Sun Jun 05, 2011 1:41 am
by KýCóp
Quân đội Mỹ không dễ 'buông' Biển Đông
Bộ Quốc phòng Mỹ đang có nguy cơ bị cắt giảm ngân sách trong bối cảnh quân đội Trung Quốc rầm rộ mở rộng vùng hoạt động bao gồm Biển Đông, nhưng giới chức Washington cho thấy họ không dễ 'buông xuôi".
Trong hội nghị an ninh Đối thoại Shangri-La đang diễn ra tại Singapore, giới quan sát nhận định phái đoàn Mỹ do Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates dẫn đầu có thái độ về vấn đề Biển Đông bớt mạnh mẽ hơn so với năm ngoái, khi ông tuyên bố Mỹ có mối quan tâm đặc biệt tới Biển Đông và khẳng định quyền lợi kinh tế và an ninh của Mỹ gắn liền với khu vực này.

Ngoài ra, trong năm ngoái hàng loạt quan chức cấp cao của Mỹ cũng nhấn mạnh đến quyền lợi quốc gia của nước này trong vấn đề an ninh hàng hải ở Biển Đông. Khi đó quan hệ quân sự Mỹ - Trung đang ở mức độ căng thẳng và quan điểm về Biển Đông của Mỹ đã gặp phải sự phản đối gay gắt từ Bắc Kinh.
Image
Giới chức Philippines lên thăm tàu sân bay Mỹ USS Carl Vinson ghé thăm Manila hồi tháng trước. Ảnh: AP.


Còn quan hệ quân sự Mỹ - Trung hiện nay đã có những cải thiện rõ rệt kể từ đầu năm, với liên tiếp các cuộc gặp song phương giữa bộ trưởng quốc phòng hai nước. Trên đường tới dự Đối thoại Shangri-La 2011, ông Gates cũng nhấn mạnh đến mong muốn cải thiện hơn nữa quan hệ đối thoại với quân đội Trung Quốc.

Quan điểm không muốn làm mất lòng Trung Quốc của ông Gates, cộng với việc Bắc Kinh cử phái đoàn rầm rộ nhất từ trước đến nay dự Đối thoại Shangri-La do Bộ trưởng Quốc phòng Lương Quang Liệt dẫn đầu, càng khiến giới quan sát có cơ sở khẳng định Mỹ sẽ không có có tiếng nói mạnh mẽ như trước về vấn đề Biển Đông.

Thêm vào đó, ngân sách quốc phòng Mỹ đang đối mặt với nguy cơ bị cắt giảm mạnh, cũng chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến chính sách quân sự của nước này. Lầu Năm Góc được cho là đang trong quá trình sắp xếp lại lực lượng tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương, bao gồm Đông Nam Á. Mức độ thành công kế hoạch này sẽ phụ thuộc lớn vào việc ngân sách Lầu Năm Góc sẽ bị cắt giảm nhiều hay ít.

Tổng thống Mỹ Barack Obama hôm 13/4 công bố một kế hoạch giảm chi tiêu cho quốc phòng xuống mức 400 tỷ USD trong 12 năm tới. Trong khi đó một số nghị sĩ và cả các nhà phân tích độc lập của Mỹ còn kêu gọi phải cắt giảm thêm. Với việc cuộc chiến tại Iraq và Afghanistan dần kết thúc, tiết kiệm chi tiêu cho quốc phòng là trung tâm trong giải pháp ngăn chặn thâm hụt của chính phủ Mỹ hiện nay.

Trong bối cảnh trên, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gates trong chuyến dự Đối thoại Shangri-la lần cuối cùng trước khi nghỉ hưu được dự đoán sẽ mang theo sứ mệnh trấn an các đồng minh châu Á. Theo đó ông sẽ làm rõ rằng không nên coi việc cắt giảm ngân sách quốc phòng của Mỹ sẽ dẫn tới việc thu hẹp sự hiện diện của quân đội nước này tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

Bản thân giới chức Mỹ cũng lo ngại việc một số khu vực tại châu Á sẽ ngả về phía Trung Quốc, nếu Washington khiến họ nghĩ rằng Mỹ đang bỏ rơi nơi đó hoặc giảm sự ủng hộ về quân sự. Đáp lại điều này, trước thềm hội nghị an ninh tại Singapore, ông Gates tuyên bố sẽ sử dụng diễn đàn này để tăng cường quan hệ quân sự của Mỹ tại Đông Nam Á, bất chấp nguy cơ phải cắt giảm ngân sách quốc phòng.

"Đã có nhiều nước tăng cường quan hệ quân sự với Mỹ, từ Singapore, Indonesia, Việt Nam, Phillippines, Malaysia, Australia cho đến các đồng minh truyền thống của Mỹ như Thái Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc. Mỹ cần phải linh hoạt khi phát triển mối quan hệ với các quốc gia này", Foreign Policy dẫn lời ông Gates.

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ cũng nhấn mạnh việc đang tìm kiếm cách xây dựng mối quan hệ với những nước châu Á để giải quyết những thách thức đa dạng trong tương lai tại khu vực này, đồng thời cam kết duy trì vai trò của Mỹ như là một đối tác đáng tin cậy của các đồng minh trong khu vực.

Nói cách khác, Mỹ đang muốn thể hiện rõ thông điệp họ không dễ dàng "buông" khu vực châu Á bao gồm Biển Đông để Trung Quốc có thể tự do hành động, bất chấp những khó khăn nội tại. Ông Gates không úp mở về điều này khi bình luận trước khi đến Singapore: "Người Trung Quốc không có ý định cố gắng cạnh tranh với chúng tôi trên tất cả các khả năng, nhưng tôi nghĩ họ đang có ý định phát triển các khả năng nhằm giúp họ có quyền tự do đáng kể trong hành động ở châu Á và mở rộng ảnh hưởng".

Tuy nhiên, thế khó của Mỹ lúc này là vừa muốn khẳng định tiếp tục hiện diện quân sự tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương như trước, vừa không muốn làm tổn hại mối quan hệ với Trung Quốc đang được cải thiện. Trong hơn 4 năm lãnh đạo Lầu Năm Góc vừa qua, ông Gates cũng coi quan hệ với Bắc Kinh là vấn đề ưu tiên đặc biệt.

Mối quan hệ giữa Bắc Kinh và Washington cũng luôn nóng lạnh thất thường vì chứa đầy những va chạm trên nhiều lĩnh vực, mà gai góc nhất là vấn đề Đài Loan. Đầu năm 2010, Bắc Kinh ngừng mọi liên hệ quân sự với Washington để phản đối Mỹ bán vũ khí cho Đài Loan. Từ đầu năm nay quan hệ quân sự song phương đang có tiến triển và giới quan sát cho rằng ông Gates sẽ nhân Đối thoại Shangri-la 2011 để thúc đẩy xu hướng này trước khi rời nhiệm sở.

Trong khi đó, trước nhận định Trung Quốc và Mỹ đang tranh giành ảnh hưởng tại châu Á, bao gồm Biển Đông, lãnh đạo một số nước châu Á đã tuyên bố rõ họ không cần phải lựa chọn giữa Bắc Kinh hay Washington. Thủ tướng Malaysia Najib Razak trong bài phát biểu khai mạc Đối thoại Shangri-La hôm qua đã nêu rõ điều này.

Ông Najib Razak cho rằng "cần phải tránh tình trạng đơn cực kiểu Chiến tranh Lạnh trong khu vực", do đó các châu Á không nên đặt mình trước sự lựa chọn làm đồng minh của Mỹ hay Trung Quốc. Theo đó các nước châu Á cần hợp tác với cả hai bên gồm một là siêu cường quân sự truyền thống và một là quyền lực đang lên của thế giới.

Mỹ cũng tỏ ra khôn khéo khi Đô đốc Robert Willard, tư lệnh Bộ chỉ huy Thái Bình Dương, tuyên bố trước khi đi Singapore: "Mỹ không đứng về bên nào trong một cuộc tranh chấp. Đây là một cam kết chắc chắn để cho thấy rằng các bên liên quan tới tranh chấp cần phải cùng nhau giải quyết vấn đề một cách hòa bình và thông qua đối thoại, chứ không phải bằng những va chạm trên biển hoặc trên không".

Đình Nguyễn

Posted: Mon Jun 06, 2011 3:21 am
by quaichao
Cuộc đối thoại trước LSQ/TQ và trong trụ sở TNCS TP
Đỗ Trung Quân

Đêm qua tôi bay chuyến cuối cùng từ Đà Nẵng về Sài Gòn. Các Anh Huỳnh Tấn Mẫm, Cao Lập, Lê Hiếu Đằng hẹn “Sáng 5-6-20011 ở Sài Gòn”. 6g 30 sáng 5-6: Người đến sớm nhất là anh A. Menras, tên Việt là Hồ Cương Quyết, người Pháp quốc tịch Việt. Hơn 30 năm trước, Menras đã treo cờ mặt trận trên tượng đài Thủy Quân Lục Chiến trước Hạ nghị viên Sài Gòn và giờ này đang ngồi cặm cụi viết biểu ngữ “ Hòa bình và công lý cho Hoàng Sa- Trường Sa & biển Đông”. Lần lượt các anh Huỳnh Tấn Mẫm, Cao Lập, Lê Công Giàu, Lê Hiều Đằng, Nguyễn Quốc Thái và Giáo sư sử học ngoài 90 tuổi Nguyễn Đình Đầu, quần áo chỉnh tề, cùng có mặt. Hai chiếc taxi ra Nhà thờ Đức Bà, đồng hồ chỉ 8 giờ kém 15 phút.

Đối thoại trước lãnh sự quán Trung Quốc

Chúng tôi nhập vào một nhóm người trẻ đến sát Lãnh sự quán Trung Quốc xế bên Nhà Văn Hóa Thanh Niên số 4 Phạm Ngọc Thạch. Khu vực tràn ngập chốt chăn và cảnh sát chìm thường phục nhưng dễ nhận họ ra bằng máy bộ đàm. Nhiếu người thường phục đưa máy ảnh, điện thoại di động lên chỉa về phía chúng tôi. Cuộc đối thoại bắt đầu. Một chiếc áo thường phục hung hăng nhất: “Đề nghị giải tán, hoạt động phải có luật pháp”. Anh Cao Lập, cựu tù Côn Đảo vốn nóng tính, hét to: “Pháp luật là để bảo vệ người dân và bảo vệ đất nước không phải để bảo vệ bọn Trung Quốc!”. Tiếng vỗ tay ầm ĩ. Một người mặc thường phục khác tiến về anh Lê Hiếu Đằng [Cựu Phó Chủ tịch Mặt trận tổ quốc TP], anh Đằng chỉ mặt quát: “Anh đứng về phía nào, Việt Nam hay Trung Quốc?”. Người mặc thường phục phải lùi lại. Anh Huỳnh Tấn Mẫm và tôi băng qua đường sang phía Nhà Văn Hóa Thanh Niên quan sát.
Image
một vài người tôi chưa hân hạnh biết tên. chỉ biết đeo cà vạt là gs sử học nguyễn đình đầu. ông lê hiếu đằng đứng cạnh gs,các ông andre, cao lập và bs huỳnh tấn mẫm đứng cuối cùng tay phải...
Trụ sở của Đoàn thanh niên Cộng sản kéo cổng, vắng tanh, trừ những nhân viên an ninh. Trên sân thượng, Camera chỉa xuống thu toàn cảnh. Một người còn trẻ tiến đến nói: “Chú Quân, chú Mẫm, khuyên dùm anh em, bày tỏ thế là được rồi, giải tán đi…”. Đấy là một cán bộ thành đoàn tôi không biết tên, anh Huỳnh Tấn Mẫm nói: “Được là sao? lẽ ra Thành đoàn phải tổ chức cho thanh niên, Thành đoàn không dám thì thanh niên họ phải tự làm thôi!”. Bên kia đường, các anh Lê Hiếu Đằng, Lê Công Giàu, Cao Lập, A. Menras dương cao các khẩu hiệu phản đối Trung Quốc. Một vài người lăm lăm dùi cui tiến đến chỉ vào mặt anh Lê Công Giàu, Huỳnh Tấn, Mẫm: “Đề nghị các chú giải tán!”. Anh Lê Hiếu Đằng nói: “Hãy để cái dùi cui vào mặt bọn Trung Quốc. ”. Chắc họ còn trẻ không biết, nhưng camera trên Nhà Văn Hóa Thanh Niên đã biết và báo cho ông Nguyễn Văn Đua, Phó Bí thư thường trực Thành phố. Một cán bộ Thành đoàn ra, nói: “Anh Ba Đua mời các anh vào nói chuyện”. Anh Lê Hiếu Đằng khoát tay: “Chúng tôi không có chuyện gì để nói?”. Ba mươi phút sau, đích thân ông Nguyễn Văn Đua, Nguyễn Thành Tài xuất hiện, bắt tay và đề nghị chúng tôi vào trụ sở thành đoàn số 1 Phạm Ngọc Thạch để tiếp chuyện. Sau vài phút hội ý anh Lê Công Giàu , Huỳnh Tấn Mẫm ,Lê Hiếu Đằng , Cao Lập… đồng ý vào.

Cuộc đối thoại trong trụ sở Thành đoàn TNCS TP

Những nhân vật trụ cột của Thành ủy: Nguyễn Văn Đua, Nguyễn Thành Tài, Nguyễn Thị Quyết Tâm… có mặt đủ. Thái độ của ông Nguyễn Văn Đua và các thành viên được ghi nhận là nhã nhặn. Ông Nguyễn Chơn Trung [ Sáu Quang-Nguyên Bí thư Đoàn TNCS TP ] lại không được nhã nhặn, ông đập tay xuống bàn nói với ông Lê Hiếu Đằng : “Các anh muốn gì cũng phải có phương pháp đúng đắn”. Ông Lê Hiếu Đằng [ môi giựt, tay run]: “Anh không phải dạy chúng tôi về phương pháp…”. Ông Cao Lập đứng bật dậy: “Tôi không thể tưởng tượng hôm nay anh Sáu Quang tệ hại đến mức này”.Ông Huỳnh Tấn Mẫm điềm đạm “ Chúng tôi đã bày tỏ xong thái độ.Nếu nhà nước hiểu lòng dân chúng tôi sẽ ủng hộ, nếu không thì chúng tôi tiếp tục bày tỏ thái độ. “ Ông Ba Đua vui vẻ gọi Andre Menras là “ đồng chí “. Andre - Hồ Cương Quyết nói “ đồng chí không có nghĩa là cùng trong đảng. Từ lâu nay tôi đứng về phía Việt Nam trong mọi cuộc chiến đấu chống sự bành trướng và xâm phạm chủ quyền VN, cuộc tuần hành này cũng trong tinh thần ấy.... “Cuộc đối có lúc khá thoại căng thẳng. Họ là những người từng đứng cùng một chiến tuyến chống Mỹ trước 1975. Ông Lê Công Giàu, cựu Phó bí thư thường trực Thành Đoàn, khét tiếng kiên cường trong tù đày, tra tấn. Ông Lê Hiếu Đằng, ngay cả khi đã giữ các trọng trách vẫn không vì phú quý vinh hoa, cứ theo lẽ phải mà đấu tranh. Ông Huỳnh Tấn Mẫm Chủ tịch Tổng hội sinh viên Sài Gòn, một người không chỉ nổi tiếng trong nước mà thành tích đấu tranh trước năm 1975 của ông còn làm tốn nhiều giấy mực của báo chí quốc tế.

Lúc 13g 00, khi tôi rời điểm nóng, cuộc tuần hành vẫn tiếp tục trên các tuyến trung tâm. Trong đám đống ấy tôi nhận thấy những gương mặt “già” quen thuộc: nhà thơ Nguyễn Duy, nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên, giáo sư Tương Lai, Osin Huy Đức… tùy sức khỏe, người đi hết cả hành trình, người tham gia từng chặng. Buổi sáng ngày 5-6-2011 chắc chắn sẽ làm cho những người ngồi trong tòa nhà Thành đoàn và trong Tổng Lãnh sự Trung Quốc hiểu như thế nào là Việt Nam.

Nguồn : Facebook Đỗ Trung Quân

Posted: Tue Jun 07, 2011 5:19 am
by vuphong
“CÒN LẠI TÌNH YÊU”

• Đoan Trang
Tôi biết đây sẽ là một bài viết rất kém của mình, bởi vì tôi không đủ khả năng để thể hiện hết những gì mình đã chứng kiến hôm qua, 5/6/2011. Tôi chỉ có thể nói, đó là một ngày nắng chói chang, vàng rực đường phố, cây lá rất xanh và màu cờ, màu áo thì rất đỏ.

Tôi đã thấy những bạn trẻ đứng dưới nắng như thế, từ 8h sáng, giơ cao cờ, những khẩu hiệu in lên giấy A4, ảnh Bác Hồ và ảnh tướng Giáp với nụ cười mạnh mẽ và quả đấm giơ lên: “Không sợ”. Tôi thấy hàng rào cảnh sát cơ động nai nịt, mũ bảo hiểm, khiên, dùi cui, đẩy các bạn lùi dần từng bước, từ dưới chân tượng Lenin, bật dần khỏi vườn hoa, ra vỉa hè và xuống lòng đường. Có những dân phòng trẻ, xô đẩy rất hung hãn. Có những dân phòng già hơn thì ôn tồn đạo mạo: “Được rồi, được rồi, ghi nhận. Thế thôi, xong. Về, về đi”, hệt như nói với trẻ nít. Ngay cả trong những phút ấy, tôi vẫn nghe các bạn nhắc nhau: “Đừng chửi, đừng nổi nóng”, “hết sức giữ bình tĩnh”, “ôn hòa anh em ơi”… Hàng người cứ bị đẩy lùi từng bước một, mặc cho các bạn trần tình: “Chúng em có làm gì đâu?”, “Các anh giăng dây đi vậy, cho cái ranh giới để chúng em biết chỗ mà đứng”.

Tôi thấy một dân phòng trẻ tuổi, gần như chỉ chờ lệnh ban ra là lấy hơi, giơ hai tay xông tới, sấn sổ đẩy các bạn cùng trang lứa với mình lại. Nhưng tôi cũng tin rằng, ngoài một số ít vị nhiệt tình quá mức đó, các nhân viên an ninh, cảnh sát cơ động, dân phòng… đều không chủ trương “chơi rắn”, vì nếu không, sẽ không có chuyện các phóng viên ảnh, nhiếp ảnh gia được tự do cứ việc mướt mồ hôi mà bấm máy tanh tách thế kia.

Và rồi đoàn người ấy xuống đường, rùng rùng bước đi.

Qua những con phố đông đúc, chật chội của thủ đô. Qua những cửa hàng hào nhoáng và những quán ăn vỉa hè nhếch nhác. Qua những hàng xà cừ xanh, bằng lăng tím và phượng đỏ. Qua một ngã tư, nơi vài người đi xe máy dừng chờ đèn đỏ đã vỗ tay hưởng ứng đoàn ra mặt. Tôi đã nghe các bạn nhắc nhau “đi gọn lại”, “chậm thôi”, “đừng giẫm lên cỏ”, “đi lên vỉa hè”. Các bạn hát Quốc ca, Nối vòng tay lớn, Dậy mà đi, Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng. Rồi đọc vang “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” phiên âm Hán-Việt – đành vậy, vì có tới ít nhất hai bản dịch tiếng Việt. Nhưng tiếng hét đến lạc cả giọng “Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư!” của các bạn, ai có thể xem thường?

Những chiếc xe cảnh sát vẫn áp sát, tiếng loa văng vẳng: “Các lực lượng đi bộ không đi xuống lòng đường. Các phương tiện giao thông tiếp tục di chuyển, không dừng lại, không đi lên vỉa hè”. Tôi mỉm cười, vì thật ra chính vào lúc đó, chúng tôi rất có cảm giác như mình đang được bảo vệ, giá các anh ấy gọi thẳng ra là “đoàn biểu tình” có phải hay hơn dùng cụm từ “các lực lượng đi bộ” không? Một bạn trẻ bỗng “nhân thể” hô lên: “Phản đối Trung Quốc xâm lược. Phản đối công an đi ngược chiều”. Ai cũng cười. Tôi thấy anh công an trẻ, rất đẹp trai, rảo bước song song với đoàn, quay đi cười rung rung vai.

Tôi biết tôi viết kém, vì ngay đến cái tựa đề, tôi cũng phải mượn của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp. Cũng vì tôi thích vở kịch “Còn Lại Tình Yêu” của ông, viết về người anh hùng Nguyễn Thái Học. Nhà văn viết rằng, con người làm cách mạng bất thành ấy, trước khi chết đã nói thế này: “Chỉ một mình mình tốt thôi thì nguy hiểm lắm. Người tốt bao giờ cũng yếu đuối và dễ vỡ. Những người tốt phải liên kết lại với nhau, như thế thì bọn xấu mới không làm hại được. Cái ấy gọi là chính trị đấy”. Chính trị, theo ý nghĩa đó, thật tốt đẹp thay vì là cái gì xấu xa, đáng sợ như người ta vẫn đang cố gắng làm cho thế hệ trẻ ở nước mình nghĩ. Chính trị, đơn giản như một sinh viên kinh tế đã nói với tôi, đó là vấn đề tạo cơ hội bình đẳng cho mọi người (lưu ý là tạo cơ hội bình đẳng chứ không tạo sự bình đẳng), bảo vệ người tốt và chống lại cái xấu, bảo vệ người yếu và chống lại kẻ bạo ngược.

Cuối cùng thì điều đọng lại sau cuộc biểu tình bị cho là “không tồn tại” kia, là gì? Đó là tình yêu.

Và tôi thấy một bạn trẻ, rất trẻ, có lẽ tôi nên gọi là em. Em cầm cuốn sổ tay, mở rộng, trên trang bìa lót của quyển sổ có hình tấm bản đồ nước CHXHCN Việt Nam, mà em đã dùng bút dạ đỏ khoanh hai trái tim vào quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Em đi hàng đầu, tay giơ cao quyển sổ mở, thiêng liêng như đang nâng lá cờ Tổ quốc. Em cứ đi như thế, rất lâu, dưới nắng hè gay gắt làm ai cũng phải nheo mắt lại. Người em gầy, mắt em cận, mặt em nhợt nhạt và nhễ nhại mồ hôi.

Tôi đi lùi lại, tụt xuống cuối đoàn, bởi vì tôi không muốn ai nhìn thấy tôi trào nước mắt.

http://nhipcauthegioi.hu/modules.php?na ... t&sid=2941
Được đăng bởi Trang the Ridiculous vào lúc 01:30
Nhãn: 5-6-2011, biểu tình, biểu tình chống Trung Quốc, Còn lại tình yêu

Posted: Thu Jun 09, 2011 1:09 am
by thienthanh
Trung Quốc 'vừa ăn cướp, vừa la làng'

BẮC KINH (TH) - Sau sự kiện hàng ngàn người Việt Nam biểu tình chống Trung Quốc ở hai thành phố Sài Gòn và Hà Nội,
Bộ Ngoại Giao Trung Quốc hôm Thứ Ba đưa ra kêu gọi: “Việt Nam hãy có nỗ lực nghiêm chỉnh để giải quyết tình trạng đối đầu tranh chấp ở biển Ðông.”

Image
Hai cuộc biểu tình chống Trung Quốc tại Việt Nam hôm 5 tháng 6 đã làm cho Bắc Kinh nổi giận. (Hình: Blog BaSam)

Lời kêu gọi của Phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Trung Quốc, ông Hong Lei (Hồng Lỗi), được xem là hành động của kẻ “vừa ăn cướp, vừa la làng.”

Trong một tháng qua, theo cáo buộc của phía Việt Nam, Trung Quốc liên tục xâm phạm chủ quyền của Việt Nam mà đỉnh điểm là vụ tàu Bình Minh 02 bị tàu hải giám Trung Quốc cắt cáp thăm dò và gây hấn hôm 26 tháng 5.

Ðáp lại, phía Việt Nam bật đèn xanh cho truyền thông trong nước liên tục loan tin với mật độ dày đặc về chủ quyền biển đảo đồng thời lên án hành động của Bắc Kinh.

Việt Nam cáo buộc Trung Quốc làm trầm trọng thêm sự tranh chấp và đòi Bắc Kinh phải bồi thường những hư hại gây ra cho chiếc tàu thăm dò. Phía Trung Quốc đòi Việt Nam chấm dứt các hoạt động trong vùng biển có tranh chấp.

Cao điểm của loạt phản ứng của Việt Nam là hai cuộc “biểu tình tự phát” của hàng ngàn người ở Sài Gòn và hàng trăm người ở Hà Nội phản đối Trung Quốc vào sáng 5 tháng 6.

Hành động gây hấn của Trung Quốc làm mối quan hệ giữa Bắc Kinh và Hà Nội đang trở nên căng thẳng hơn vì cuộc tranh chấp đã có từ lâu liên quan đến chủ quyền tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Trong cuộc họp báo hôm Thứ Ba tại Bắc Kinh, phát ngôn viên bộ Ngoại Giao Trung Quốc Hong Lei nói rằng: “Trung Quốc có chủ quyền không thể chối cãi ở các đảo tại Trường Sa và các vùng biển quanh đó.”

“Trung Quốc và Việt Nam nhiều lần đạt được sự đồng thuận liên quan đến việc giải quyết các vấn đề tranh chấp trên biển và duy trì sự ổn định ở biển Ðông.”

Ông nói thêm: “Chúng tôi hy vọng phía Việt Nam sẽ có các nỗ lực nghiêm chỉnh để thi hành những gì đã thỏa thuận.”

Việt Nam đáp trả

Sau khi kết thúc hội nghị các bộ trưởng quốc phòng Shangri-La ở Singapore, giới chức quốc phòng Việt Nam đã liên tục xuất hiện trên báo chí và đài truyền hình trong nước với lời lẽ cứng rắn hơn trước về chủ quyền trên biển Ðông.

Trả lời phỏng vấn của báo Tuổi Trẻ hôm 7 tháng 5, Trung Tướng Nguyễn Chí Vịnh, thứ trưởng Quốc Phòng Việt Nam nói rằng: “Nếu có xung đột trên biển Ðông thì không bên nào thắng, thiệt hại trước hết cho các nước tham gia xung đột và ảnh hưởng đến tất cả những nước có lợi ích ở khu vực.”

Ông Vịnh nói thêm: “Quan điểm của Việt Nam là các nước có xung đột giải quyết với nhau trên tinh thần cùng lợi ích nhưng công khai, minh bạch và tôn trọng luật pháp quốc tế. Không nước nào, không thế lực nào được quyền tự đặt ra những luật lệ riêng của họ, không có nước nào được bước qua luật lệ quốc tế đã được thừa nhận hoặc là những thông lệ trong hành xử của thế giới hiện đại ngày nay.”

Trước đó, trong bài phát biểu hôm 5 tháng 6 tại Shangri-La, Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam, Ðại Tướng Phùng Quang Thanh, bày tỏ: “Chúng tôi mong muốn Trung Quốc thực hiện đúng những gì họ tuyên bố công khai với thế giới và hai bên phải hết sức kìm chế, giải quyết các vấn đề một cách hòa bình.”

Philippines lên tiếng


Không chỉ nhắm vào Việt Nam, cũng trong cuộc họp báo hôm Thứ Ba, Trung Quốc cáo buộc Philippines là xâm phạm quyền hàng hải và các quyền lợi khác của họ ở Biển Ðông, để đáp lại việc Manila tố cáo là Bắc Kinh đang có hành động phương hại hòa bình trong vùng.

Hồi cuối tuần qua, Philippines nói rằng Trung Quốc đưa tàu đến vùng biển này để đe dọa các quốc gia khác tại biển Ðông, gây nguy hại cho hòa bình và ổn định trong vùng.

Nhưng phát ngôn viên Hong Lei của Trung Quốc bác bỏ điều này, nói rằng các tàu Trung Quốc chỉ thực hiện các cuộc nghiên cứu khoa học trong vùng biển thuộc quyền Trung Quốc.

Hong Lei cũng cảnh cáo là Manila phải ngưng “đưa ra những phát biểu vô trách nhiệm không đúng sự thật.”

Bộ trưởng Quốc Phòng Philippines, ông Voltaire Gazmin, nói rằng Mỹ có nhu cầu giữ cho khu vực biển Ðông được ổn định, an ninh và có sự tự do di chuyển.

“Sự hiện diện của Mỹ sẽ điều ngăn chặn mọi hành động bất hợp pháp trong vùng Biển Ðông,” ông Gazmin tuyên bố với báo chí.

Manila từng cáo buộc Trung Quốc xâm nhập hải phận, nêu lên sáu trường hợp, kể cả một vụ xảy ra hồi tháng 3 khi hai tàu tuần Trung Quốc định ủi vào một tàu thăm dò địa chất của Philippines.

Ông Gazmin nói thêm rằng các hành động của Trung Quốc sẽ cho thấy họ thực sự muốn giải quyết các tranh chấp một cách ôn hòa như từng tuyên bố với thế giới hay không. (V.Giang- KN)

Posted: Fri Jun 10, 2011 3:04 am
by vuphong
Trung Cộng sửa soạn dư luận để xua quân đánh VN.

Sau đây là nội dung bài báo Tàu đã được dịch :

Quần đảo Nam Sa (Việt Nam gọi là Trường Sa) vốn dĩ là chuỗi ngọc trai lấp lánh của đất mẹ Trung Hoa, nhưng lại bị nhiều kẻ trộm cắp, muốn chiếm đoạt, giành giật, việc này chỉ làm phân tán đi ánh hào quang của chuỗi ngọc trai mà thôi. Trong số các đảo bị các nước chiếm đoạt, bọn Việt Nam kiêu ngạo, vong ơn bội nghĩa đã ráo riết chiếm đóng quần đảo với số lượng nhiều nhất.

Nghĩ lại mà xem, Việt Nam vốn xưa là phiên thuộc của nước ta. Năm 1885, theo Thỏa ước Pháp – Thanh, Việt Nam đã bị nhượng lại cho Pháp, dần trở thành thuộc địa của Pháp. Sau hai cuộc chiến tranh, Trung Quốc đã giúp Việt Nam đánh đuổi thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, hai miền Nam Bắc đã được thống nhất. Nhưng thật không ngờ bọn Việt Nam không những không biết ơn Trung Quốc, mà trái lại đã lấy oán báo ân, tự vỗ ngực xem mình là nước có tiềm lực quân sự lớn thứ ba thế giới, liên tiếp khiêu khích Trung Quốc. Mặc dù qua hai bài học, là cuộc chiến tranh biên giới Trung – Vi ệt và chiến tranh Bãi đá ngầm, nhưng Việt Nam vẫn không nhận ra được bài học, càng ra sức chiếm đoạt nhiều đảo hơn.

Do bọn Việt Nam bắt tay thực hiện khai thác đảo sớm nên điều kiện chiếm cứ thuận lợi hơn, hơn nữa lại có nguồn nước ngọt nên bọn chúng có thể thi công trên đảo, xây dựng sân bay, kiến tạo hạ tầng kỹ thuật thông tin di động, di dân ra đảo, tổ chức du lịch quốc tế, thiết lập phân chia ranh giới khu hành chính cấp huyện hòng vĩnh cửu hóa, thực tế hóa, quốc tế hóa, hợp pháp hóa hành vi bá chiếm. Tiếp đó các nước khác cũng lần lượt theo đuôi Việt Nam, như Philipin, Malaysia, Indonesia, Bruney… xâu xé vùng biển Nam Sa của Trung Quốc, xây dựng căn cứ quân sự hoặc khoan dầu mỏ. Tất cả bọn chúng đều không coi Trung Quốc ra gì.

Các nước xung quanh xâm chiếm quần đảo Nam Sa đúng vào thời kỳ đất nước Trung Quốc chúng ta tiến hành cải cách mở cửa, thực hiện chiến lược đối ngoại hòa bình, tập trung xây dựng kinh tế trong nước, duy trì hòa bình phát triển với bên ngoài. Cùng là những nước đang phát triển đáng ra Việt Nam và các nước lân cận phải có thiện ý giải quyết hài hòa những tranh chấp. Đất nước chúng ta đề xướng ra mục tiêu “gác lại chiến tranh, cùng nhau phát triển”. Tuy nhiên, 30 năm qua, lòng tốt của chúng ta lại không hề được báo đáp, mà trái lại các nước còn không ngừng tăng cường lấn chiếm khu vực biển của nước ta, ngang nhiên chiếm lãnh hải, lãnh thổ nước ta. Không khó khăn lắm, chúng ta cũng có thể nhận ra rằng, lòng tốt của chúng ta không được báo đáp tử tế; danh dự, lãnh thổ và lãnh hải quốc gia nếu chỉ dựa vào giao thiệp hòa bình thì khó mà giữ gìn, bảo vệ được. Ủy ban thềm lục địa của Liên Hiệp Quốc quy định, 12/5/2009 là kỳ hạn cuối cùng cho các quốc gia có liên quan phải hoàn thành việc gửi những bản giải trình các luận cứ khoa học về chủ quyền thềm lục địa và khu kinh tế đặc quyền. Tình hình phát triển còn làm phức tạp hóa vấn đề, sự xoay chuyển của thời gian sẽ làm cho chúng ta càng thêm bất lợi, nếu cứ tiếp tục kéo dài sự khoan dung của chúng ta thì kẻ khác sẽ cho rằng chúng ta đã chấp nhận, bằng lòng với việc đó. Vì thế, biện pháp có hiệu quả là phải dùng lực lượng quân sự chiếm đoạt lại Nam Sa, và phải đưa việc này vào chương trình nghị sự.

Chúng ta phải thấy một thực tế rằng, mức độ xâm phạm của các nước có liên quan đối với lợi ích của nước ta là khác nhau, do điều kiện môi trường và địa vị quốc tế khác nhau nên sẽ có những phản ứng khác nhau đối với hoạt động quân sự của nước ta, vì vậy mà chúng ta cần phải có những cách đối xử khác nhau, giải quyết tốt những mâu thuẫn chủ yếu, thúc đẩy giải quyết những mâu thuẫn thứ yếu. Không còn nghi ngờ gì nữa, mục tiêu tấn công chủ yếu của chúng ta phải là Việt Nam.

Chúng ta có đầy đủ lý do để tấn công Việt Nam, Việt Nam cũng có đầy đủ điều kiện để trở thành vật tế của trận chiến thu hồi Nam Sa :

1. Việt Nam xâm chiếm nhiều đảo nhất, có nguy hại lớn nhất, hơn nữa có thái độ kiêu ngạo nhất, ảnh hưởng xấu nhất. Trước tiên ta thu hồi lại những đảo mà Việt Nam chiếm đóng là có thể thu hồi lại hầu hết các đảo bị chiếm, khống chế được toàn bộ. Lấy gương xua đuổi thành công quân Việt Nam để răn đe các nước khác buộc chúng phải tự mình rút lui.
2. Trước đây, Việt Nam đã nhất nhất thừa nhận Tây Sa và Nam Sa thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Những bài phát biểu của các quan chức, bản đồ quân sự, tài liệu địa lý đều là những bằng chứng xác thực, cho đến sau khi thống nhất đất nước thì Việt Nam có những thái độ bất thường, có yêu cầu về lãnh thổ lãnh hải đối với Tây Sa và Nam Sa. Việt Nam ngấm ngầm thọc lưng Trung Quốc, tiền hậu bất nhất, đã làm mất đi cái đạo nghĩa cơ bản, khiến quân đội của chúng ta phải ra tay, với lý do đó để lấy lại những vùng biển đảo đã mất.
3. Việt Nam có lực lượng quân sự lớn nhất Đông Nam Á. Hơn nữa lại đang tăng cường phát triển lực lượng hải quân, không quân để đối đầu với ta. Quân đội của ta có thể phát động cuộc chiến Nam Sa, cho dù quân đội Việt Nam đã có chuẩn bị. Với chiến thắng trong cuộc chiến này, hoàn toàn có thể làm cho các nước khác thua chạy, không đánh mà lui. Đây là cách để loại trừ Việt Nam, làm cho Việt Nam ngày càng lụn bại.
4. Hai nước Trung – Vi ệt xích mích đã lâu, đã từng nảy sinh tranh chấp lãnh thổ và lãnh hải, lần này lại xảy ra xung đột quân sự. Đây là điều mà thế giới đã dự đoán và đã sớm nghe quen tai với việc này, chắc chắn phản ứng sẽ nhẹ nhàng hơn. Trái lại, nếu tấn công vào các nước như Philipin thì phản ứng quốc tế nhất định sẽ rất mạnh mẽ.
5. Các nước khác tuy cùng trong khối ASEAN nhưng chế độ xã hội và ý thức hệ khác với Việt Nam, các nước khác lại ủng hộ Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, thời gian đó đã sinh ra những khúc mắc. Là liên minh ASEAN, khi chúng ta phát động chiến tranh thu hồi lại Nam Sa ắt sẽ gặp phải sự phản đối của ASEAN, nhưng hậu quả của cuộc tấn công Việt Nam sẽ tương đối nhỏ, vì Việt Nam đã từng có ý đồ thiết lập bá chủ khu vực, việc này đã làm cho các nước láng giềng có tinh thần cảnh giác, việc làm suy yếu lực lượng quân sự của Việt Nam cũng là điều tốt cho các nước ASEAN.
6. Tình hình quốc tế gần đây có lợi cho việc giải quyết vấn đề Nam Sa. Quan hệ Trung – M ỹ ; Trung – Nga đang ở thời kỳ tốt nhất, không phải vì thế mà dẫn đến sự đối đầu về quân sự giữa các nước lớn. Quân đội Mỹ đang sa lầy vào chiến trường Afganistan, Iraq và vẫn phải chuẩn bị ứng phó với chiến tranh có thể xảy ra với Iran, chưa rảnh tay để quan tâm tới chiến sự Nam Sa. Hơn nữa tranh chấp đảo giữa Nhật Bản và Hàn Quốc, tranh chấp giữa Campuchia và Thái lan đều sẽ làm phân tán sự chú ý của cộng đồng quốc tế.
7. Quần đảo Nam Sa là một vị trí chiến lược không thể thiếu của Trung Quốc trên trận tuyến kéo dài từ Trung Đông đến Viễn Đông, tuy eo biển Malacca là con đường yết hầu nhưng quần đảo Nam Sa không phải là không có vị trí chiến lược. Có được Nam Sa sẽ uy hiếp được Malacca, yểm trợ các đường ống dẫn dầu, Nam Sa là một trong những vùng hiểm yếu, Trung Quốc quyết không ngần ngại chiến đấu để thu hồi Nam Sa.
8. Lấy chiến tranh để luyện tập quân đội, lấy việc thực hiện chiến tranh để kiểm nghiệm và nâng cao năng lực chiến đấu của quân ta, tình hình phát triển của hai bờ Đài Loan – Hải Nam có thể đảm bảo để hai bên bờ sẽ không xảy ra chiến tranh trong tương lai gần, giải quyết triệt để vấn đề Nam Hải, trong khi thực hiện chiến tranh trên biển phải khảo sát những thiếu sót của hải quân, không quân của Trung Quốc để kịp thời nhận diện những khiếm khuyết, cải thiện, nâng cấp, nhằm phát triển càng nhanh càng tốt lực lượng hải quân không quân của ta, để chứng tỏ rằng quân đội ta là lực lượng quân đội theo mô hình mới, có kinh nghiệm chiến đấu hiện đại, chuẩn bị sẵn sàng cho chiến sự Đài Loan – Hải Nam hoặc để đối phó với những thách thức khác có thể phát sinh. Lực lượng hải quân, không quân của Việt Nam không thể xem là quá mạnh cũng không thể xem là quá yếu, chúng phù hợp với việc luyện tập quân đội của ta.
9. Việc thiết lập hợp tác quân đội với Đài Loan có thể còn nhiều khó khăn, sự bất đồng giữa hai bờ Đài Loan – Hải Nam có thể tồn tại, nhưng việc thu hồi Nam Sa thì hai bên lại có chung một lập trường. Mặc dù không thể mời quân đội Đài Loan cùng tham chiến, nhưng trước và sau trận chiến đều cùng nhau tiến hành các hoạt động như : cung cấp nguyên vật liệu, thiết bị bảo trì, nhân viên xử lý, máy bay, tàu chiến do nhu cầu cần thiết hạ cánh hoặc cập bến trong chiến tranh, chắc chắn rằng sự phối hợp hai quân đội sẽ góp phần vào đoàn kết, thống nhất quốc gia.
10. Việt Nam là bọn tham lam, kiêu ngạo, vô lễ, tuyệt đối không thể thông qua đàm phán để chiếm lại quần đảo Nam Sa, không chiến đấu thì không thể thu hồi lại biên cương quốc thổ. Như vậy, cuộc chiến Nam Sa là không thể tránh khỏi, đánh muộn không bằng đánh sớm, bị động ứng phó không bằng chủ động tấn công.

Vẫn còn rất nhiều lý do nhưng không tiện để nêu ra cụ thể từng lý do được.
Mặc dù nói chúng ta đánh Việt Nam như đánh bạc nhưng việc thu hồi Nam Sa quả thực không phải chuyện nhỏ. Hải quân và không quân Việt Nam cũng đang dần hiện đại hóa cho nên ta quyết không đánh giá thấp đối phương, bắt buộc phải làm tốt công tác chuẩn bị, không đánh thì thôi, đã đánh là phải thắng nhanh. Trong khi bàn việc lấy lại Nam Sa vấn đề không phải là xét xem có thể thành công hay không mà phải xét xem thắng lợi có triệt để hay không, những tổn thất, rủi ro có phải là nhỏ nhất hay không và kết quả cuối cùng có phải là tốt đẹp nhất không… Vì thế cần phải xác định 4 mục tiêu rõ ràng. Đó phải là, xuất một đường quyền đẹp mắt về chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao.

Trên lĩnh vực quân sự, đáng tiếc rằng Việt Nam đã làm những việc gây phản ứng mãnh liệt như xâm chiếm nhiều đảo mới, giam giữ ngư dân và tàu đánh cá Trung Quốc. Ta tuyên bố rằng lãnh thổ lãnh hải nước ta không dễ dàng xâm chiếm, bắt buộc Việt Nam trả lại những đảo đã xâm chiếm, nhanh chóng hoàn thành việc triển khai quân sự tại Nam Hải. Nếu quân đội Việt Nam không chịu thì Trung Quốc sẽ tiến hành tấn công xua đuổi, kẻ nào dám phản kháng ta kiên quyết diệt trừ, nếu tăng viện trợ máy bay tàu chiến cho Việt Nam thì sẽ bắn hạ, bắn chìm hết. Quân đội Việt Nam đã trang bị một số lượng nhất định máy bay, tàu chiến và tên lửa tiên tiến do Nga sản xuất. Quân đội của ta sẽ huy động tiềm lực hải quân, không quân để phong tỏa những căn cứ hải quân, không quân của chúng. Quân đoàn pháo binh thứ hai cần làm tốt việc che giấu những cứ điểm chiến lược hiểm yếu, không quân và chiến hạm cần làm tốt công tác dự báo; cung cấp nhiên liệu cho kế hoạch tấn công lâu dài ở căn cứ phía Nam. Lực lượng trên mặt đất phải luôn luôn sẵn sàng ứng phó với các cuộc tấn công quấy nhiễu của quân đội Việt Nam ở khu vực biên giới bất kỳ lúc nào; phải thực hiện phá hủy các căn cứ hải quân không quân ở miền Bắc. Tóm lại, ta sẽ lấy việc tấn công Việt Nam như là cuộc diễn tập để giải phóng Đài Loan, một khi tình hình đã lan rộng thì sẽ triệt để phá hủy lực lượng hải quân, không quân Việt Nam.

Trên lĩnh vực chính trị, vạch trần việc các nước như Việt Nam xâm chiếm lãnh thổ, lãnh hải nước ta, nhắc lại rằng nước ta muốn duy trì phương châm hòa bình, nhưng chúng ta không thể hòa bình với những kẻ xâm hại đất nước ta. Cho dù xảy ra rồi thì chúng ta không mong nhìn thấy xung đột quân sự. Trung Quốc hy vọng rằng các bên liên quan nên ngồi lại tiến hành đàm phán hòa bình để nhanh chóng kết thúc chiến tranh. Nếu các nước như Việt Nam chịu khuất phục trước sức ép quân sự to lớn của nước ta thì nước ta sẽ không sử dụng biện pháp vũ lực nữa, sẽ mở rộng tiếng nói quốc tế của nước ta.

Trên lĩnh vực ngoại giao, một khi chiến sự xảy ra, cộng đồng thế giới chắc chắn sẽ đưa ra bốn chữ “phê phán, phản đối”. Chúng ta cần nhanh chóng tranh thủ sự thông cảm của Mỹ, Nga, Liên minh Châu Âu, nhiệm vụ quan trọng nhất của hoạt động ngoại giao là nắm được mục tiêu của các nước ASEAN, cố gắng bình tĩnh trước sự phẫn nộ và hoảng hốt của họ, khiến họ tin tưởng rằng Trung Quốc vô cùng coi trọng quan hệ với ASEAN, tuyệt đối không làm tổn hại đến lợi ích của các quốc gia ASEAN ngoại trừ Việt Nam, Trung Quốc sẽ làm cho mức độ phản ứng của họ giảm xuống mức tối thiểu.
Trên lĩnh vực kinh tế, để chung sống hòa bình cần thực hiên chiến lược “Dùng đất đai đổi lấy hòa bình”. Để hòa bình phát triển thì cần thực hiện chiến lược “Dùng tiền bạc đổi lấy đất đai”. Đối với quần đảo Nam Sa thì lại phải thực hiện phương châm “chủ quyền thuộc về tôi, cùng nhau phát triển, thỏa hiệp hòa bình, chia sẻ lợi ích” thiết lập một số khu vực cùng phát triển ở giáp giới các nước ASEAN gần quần đảo Nam Sa. Lấy nước ta làm chủ, lần lượt cùng hợp tác phát triển với Philipin, Malaysia, Bruney... giúp các đối tác cùng có lợi. Mục đích của các nước này muốn chiếm đảo là vì muốn đạt được lợi nhuận dầu mỏ, giúp cho họ kiếm được tiền mà họ muốn, làm cho nó dễ dàng đồng ý chủ quyền Trung Quốc. Nếu Việt Nam đồng ý với chính sách này thì có thể cũng nhận được một phần nào đó.

Với ý đồ lấy phương thức hòa bình để giải quyết tranh chấp Nam Sa thì kết quả cuối cùng Nam Sa quần đảo ắt bị chia cắt. Tất cả những đảo bị chiếm giữ là do ban đầu lực lượng quân đội của nước ta không đủ, khi có đủ năng lực thì không cần phải do dự mà không quyết định, việc sử dụng vũ lực chắc chắn sẽ dẫn đến có sự phản đối. Cùng năm đó, Anh ra sức tranh đoạt đảo Falklands cũng đã bị lên án chỉ trích nhiều, nhưng khi đảo Falklands đã nằm trong tay nước Anh, ai đã có thể làm gì họ. Nếu Việt Nam nguyện làm đầu têu thì phải đánh cho chúng không kịp trở tay.

Hãy giết chết bọn giặc Việt Nam để làm vật tế cờ cho trận chiến Nam Sa.


Gs. Vũ Cao Đàm
dịch theo nguyên bản tiếng Tàu trên điện báo “Trung quốc Binh khí Đại toàn”
http://www.cnweapon .com/html/ news/2010- 01/news14304. html

Posted: Sat Jun 11, 2011 2:40 am
by thienthanh

'Death by China': Thực dân, và thuộc địa, kiểu mới
Hà Giang

IRVINE, California -Buổi hội thảo có tên gọi “Death By China - Confronting the Dragon - A Global Call to Action,”
và giới thiệu tác phẩm cùng tên, được tổ chức tại Bechman Center thuộc thành phố Irvine chiều ngày 7 tháng 6.


Image
Tiến Sĩ Peter Navarro giải thích về hiểm họa Trung Quốc trong buổi hội thảo tại Beckman Center, Irvine, ngày 7 tháng 6, 2011.
(Hình: Hà Giang/Người Việt)
Hai tác giả Peter Navarro, Greg Autry và những diễn giả có thẩm quyền cũng như kiến thức về Trung Quốc đã thay phiên nhau vẽ nên một bức tranh, cận cảnh, rõ ràng, về hiểm họa mà chính sách của quốc gia này đang mang đến cho thế giới.
Trong phần trình bày linh động và cặn kẽ, kéo dài suốt gần một tiếng đồng hồ, Tiến Sĩ Peter Navarro khiến cử tọa lặng người đi, và bị thuyết phục, rằng nếu tình trạng hiện tại cứ tiếp diễn, thì nhân loại, hay trong một phạm vi hẹp hơn, người dân và đất nước Hoa Kỳ, sẽ “chết dưới tay Trung Quốc.”

Tại sao?

Câu trả lời đầy đủ nhất dĩ nhiên nằm trong tác phẩm “Death By China,” hơn 250 trang, kết quả của hơn hai năm nghiên cứu, phỏng vấn và những chuyến viếng thăm nhiều miền khác nhau trên đất nước Trung Quốc của cả hai tác giả, và phụ tá của họ.
Với 16 chương, tác phẩm “Death By China” được chia làm hai phần chính, gồm lập luận cũng như dẫn chứng về hiểm họa Trung Quốc, và lời kêu gọi một số hành động mà cả chính quyền, giới đầu từ lẫn người tiêu thụ Hoa Kỳ cần phải làm, và cần làm ngay, để có thể tránh được hiểm họa này.
Hai tác giả Navarro và Autry lập luận rằng cứ với đà này, nhân loại sẽ dần dà bị chết hết dưới tay Trung Quốc, vì:
Thứ nhất, người tiêu thụ sẽ bị hàng hóa độc hại của Trung Quốc giết dần giết mòn;
Thứ hai, chính sách cạnh tranh bất chính của nhà cầm quyền Trung Quốc tạo nên một loạt những “võ khí” được sử dụng một cách có hệ thống để tiêu diệt nền kinh tế của các quốc gia khác, nhất là nền kinh tế Hoa Kỳ;
Thứ ba, biện pháp cho gián điệp xâm nhập vào nước Mỹ, ăn cắp bí mật quốc phòng cộng với việc ngày càng tăng ngân quỹ quốc phòng, sẽ khiến Trung Quốc chỉ trong vài năm nữa có thể đuổi kịp, rồi vượt qua, Hoa Kỳ về sức mạnh quân sự;
Thứ tư, chính sách tìm đủ mọi cách để chế tạo ra hàng hóa với giá thành rẻ nhất, Trung Quốc sẽ hủy hoại môi sinh tàn tệ và nhanh chóng đến mức khó có thể nào cứu gỡ được.
Dẫn chứng sự độc hại và nguy hiểm của hàng hóa Trung Quốc, “Death By China” đưa ra hàng loạt những thí dụ như melamine trong sữa, melamine trong thức ăn cho chó mèo (pet food), quần áo cho trẻ em dễ bốc cháy, thuốc aspirin chứa độc tố, thuốc Lipitor và Viagra giả, chất arsenic trong nước ngọt, chất chì trong trà, than giả, nôi em bé chỉ dùng vài lần là gẫy thành khiến nhiều em bé bị ngã gẫy cổ, trẹo sườn, điện thoại di động bị phát nổ, “dry wall” chứa độc tố, sofar bị xịt đầy chất “dimethyl fumarate” gây bệnh ngứa ngoài da kinh niên, những món ăn chứa đầy chì, vòng đeo cổ và đồ chơi gây khó thở, và còn rất nhiều ví dụ khác.
Những dẫn chứng về sự cạnh tranh bất chánh cũng nhiều không kém!
Trước tiên, Trung Quốc đập tan những quy ước về cả tự do mậu dịch lẫn thương mại bằng chính sách “vừa con buôn thủ lợi, vừa bảo vệ nền công nghệ nội địa” bằng cách đổ tiền của nhà nước vào từng nền công nghệ mà họ muốn cạnh tranh với Hoa Kỳ, và cướp đi công việc của người dân Mỹ.
Còn những võ khí được sử dụng có hệ thống để giết hại nền kinh tế của Hoa Kỳ thì sao?
Theo “Death by China,” các võ khí này gồm việc hỗ trợ cho các hàng xuất cảng vi phạm luật của WTO, sản xuất hàng giả, đánh cắp kỹ thuật, hoàn toàn không quan tâm đến những cách sản xuất có hại cho môi sinh, và ngược đãi công nhân, biến họ thành lao nô.
Ðiểm then chốt của chính sách con buôn trục lợi bất chấp các quy ước của WTO mà Trung Quốc đã ký kết là việc thao túng hối suất, khiến hàng nhập vào Trung Quốc có giá thành rất cao, tạo cho Hoa Kỳ một nguy cơ như trái bom nổ chậm: Thâm thủng mậu dịch hàng năm lên đến gần $1 tỉ!
Cùng lúc đó, bất cứ công ty nào muốn bước vào thị trường được chính phủ Trung Quốc bảo hộ kỹ càng để bán hàng cho dân địa phương phải chịu số phận chung là dần dà sẽ bị đánh cắp hết kỹ thuật và phát minh. Trường hợp của Google và Google China là một ví dụ điển hình. Lý do là luật của Trung Quốc đòi hỏi các công ty muốn vào nước họ phải chuyển bộ phận nghiên cứu và phát triển đến đó.
Một vài thống kê trong “Death by China” làm độc giả giật mình.
Kể từ khi Trung Quốc gia nhập WTO năm 2001, chủ trương “con buôn trục lợi” và bảo vệ công nghệ nội địa của họ đã khiến nhiều kỹ nghệ của Hoa Kỳ, như may mặc, bàn ghế, hóa chất, giấy, sắt, bánh xe, bị thu nhỏ lại còn một nửa. Riêng kỹ nghệ dệt bị triệt tiêu hơn 70%. Trong ngành vi tính và điện tử, Trung Quốc lấy đi của Hoa Kỳ hơn 40% công ăn việc làm.
Theo Navarro và Autry, trong vòng mười năm qua, Trung Quốc lấy đi của Hoa Kỳ mỗi năm 1 triệu công ăn việc làm. Cũng theo họ, trong con số 13.9 triệu người đang bị thất nghiệp tại Mỹ, 10 triệu việc làm được chuyển sang Trung Quốc.
Vũ khí cuối cùng trong chính sách thâm độc của Trung Quốc là việc mà hai tác giả của “Death by China” gọi là “xâm lăng” hay “chiếm lãnh thuộc địa” khắp nơi bằng cách lạm dụng tự do mậu dịch để giành lấy tài nguyên của các quốc gia đang phát triển.
Một kịch bản quen thuộc được Navarro và Autry vẽ nên: Một ông Trung Quốc bụng phệ, mang ngân phiếu đến một quốc gia nghèo khó nào đó, và hứa sẽ cho quốc gia đó mượn một số tiền khổng lồ với tiền lời rẻ mạt để “giúp” xây cất đường sá hay canh tân quân đội. Ðổi lại, quốc gia này chỉ cần làm hai điều rất nhỏ cho Bắc Kinh: Trao hết quyền khai thác tài nguyên, đồng thời cho phép Trung Quốc được quyền bán những sản phẩm được chế tạo bởi chính những tài nguyên vừa khai thác được từ nước này cho người tiêu thụ quanh vùng.
Tại sao đây lại là mánh lới quỷ quyệt? Vì những hợp đồng loại này biến quốc gia vừa ký kết cho Trung Quốc khai thác tài nguyên trở thành thuộc địa của họ. Cả thị trường cũng của Trung Quốc nốt.
(Trong các bài sau, Người Việt Online trình bày tiếp về hiểm họa gây ra bởi chính sách ăn cắp bí mật quốc phòng và gia tăng đầu tư quân sự của Trung Quốc, cũng như những đề nghị được “Death by China” đưa ra để đối phó với hiểm họa này.)

Posted: Wed Jun 15, 2011 8:49 pm
by tankhoasinh
Làm sao nói chuyện với thế giới

Ngô Nhân Dụng

Từ khi tầu Trung Quốc tấn công các tầu thăm dò đáy biển của Việt Nam, báo chí quốc tế hầu như không để ý đến những xung đột này.

Mọi người coi như đó là những chuyện nhỏ, mặc dù đối với người Việt Nam thì đây là một tin nhức đầu hạng nhất. Cuối tuần qua, tạp chí quốc tế The Economist có 3 bài liên tiếp về Trung Quốc bành trướng thế lực ở vùng Ðông Nam Á. Họ bàn về trường hợp Miến Ðiện, Campuchia, và tên nước Việt Nam chỉ được nêu lên vì có thể cạnh tranh ảnh hưởng với Trung Quốc tại xứ Chùa Tháp. The Economist chỉ nhắc đến các cuộc biểu tình ở Hà Nội và Sài Gòn qua 4 dòng chữ khi bàn về hội nghị Shangri-La ở Singapore - mặc dù báo này có đăng một bức hình người Việt Nam biểu tình chống Trung Quốc vừa qua để minh họa bản tin về Campuchia!

Báo chí Pháp, như tờ Le Monde, là một cơ sở truyền thông quốc tế đầu tiên nhắc đến các biên cố đó, khi mô tả những dấu hiệu đáng lo ngại về một cuộc xung đột hải quân (confrontation navale) ở vùng Ðông Nam Á. Ði chậm hơn, ngày hôm qua hệ thống các đài NPR ở Mỹ mới loan tin tương tự, với tựa đề: Trung Quốc, Việt Nam căng thẳng hơn vì tranh chấp lãnh hải.” Ðặc biệt là bản tin này có kèm hình ảnh những thanh niên Việt Nam đi biểu tình trước tòa Ðại Sứ Trung Cộng ở Hà Nội.

Tại sao báo chí thế giới lơ là với tin tức về các vụ Bình Minh 2, Viking 2, cùng những cuộc biểu tình ở Hà Nội và Sài Gòn trong hai tuần liên tiếp như vậy? Trong khi họ đã sẵn sàng loan báo tin về những cuộc biểu tình ít người hơn ở Tây Tạng, ở Nội Mông khi vừa mới xẩy ra? Chắc chắn các nhà báo đều biết rằng chính Tây Tạng và Nội Mông Cổ đang thuộc vào Trung Quốc, còn Việt Nam thì vẫn độc lập; chứ không phải ngược lại! Người ta dễ chú ý đến dân Tây Tạng vì họ đã có một quá khứ quật cường chống Cộng sản Trung Hoa! Lý do chính khiến tin tức Việt Nam bị thế giới bỏ qua là vì chính các báo, đài ở Việt Nam cũng lơ là! Người làm báo quốc tế chỉ loan báo những tin khi thấy chúng có thể gây ra các ảnh hưởng lớn và lâu dài. Trước những tin tức mà chính các nhà báo ở Việt Nam cũng không loan tải, thì thế giới bên ngoài sẽ cảm thấy những vụ cắt cáp hay các cuộc biểu tình ở Việt Nam chỉ là các biến cố hoặc sự kiện nhỏ, không có gì quan trọng!

Như Tiến Sĩ Hà Sĩ Phu mới trình bày trên mạng Bô Xít Việt Nam, sau những cuộc biểu tình liên tiếp hai ngày Chủ Nhật của dân chúng Hà Nội và Sài Gòn, “...báo chí ‘lề phải’ (do đảng Cộng sản kiểm soát) không dám đưa tin biểu tình một cách xứng đáng mà còn bôi nhọ rằng đây là sự “tụ tập” chỉ đi ngang qua cơ quan của Trung Quốc và khi được giải thích thì đã tự giải tán?” Hà Sĩ Phu phê phán: “(Những) người đưa tin như thế thật không xứng đáng là công dân nước Việt chứ nói gì danh hiệu cao quý của một nhà báo!”

Chúng ta có thể thông cảm với các nhà báo trong nước; đang nằm trong rọ thì rất khó cao quý! Vì không những họ bị một ông Tô Huy Rứa kiểm soát, mà có lúc còn nhận được huấn thị từ Bắc Kinh gửi qua nữa. Cuối tháng 8 năm 2007 bộ Ngoại Giao Bắc Kinh đã gọi Ðại Sứ Việt Nam Trần Văn Luật đến, ông ta yêu cầu báo chí Việt Nam phải ngưng không được đăng những tin tức về hàng hóa, sản phẩm Trung Quốc làm giả mạo hoặc phẩm chất xấu. Chưa một quốc gia nào trên thế giới lại can thiệp đòi ngăn cấm quyền tự do ngôn luận của dân chúng một khác như vậy! Trong cùng thời gian báo chí ở Việt Nam viết về hàng Trung Quốc như thế thì báo chí ở Tây phương và các nước khác cũng đang bản cãi ồn ào về hàng giả, hàng xấu của Trung Quốc; nhưng Bắc Kinh không dám mời đại sứ của bất cứ quốc gia nào khác, từ Pháp, Mỹ đến Mã Lai, Thái Lan tới để hạch hỏi cả! Ðến chuyện hàng hóa mà còn được chỉ thị rõ ràng tỉ mỉ, nữa là những chuyện tranh chấp hải đảo? Chưa có một quốc gia nào lại để cho người nước khác chỉ huy, ra lệnh cho cả báo chí, thông tin trong nước mình như vậy! Hành động đó không những khiến cho chính bọn người ra lệnh chúng khinh cho, mà còn làm mất thể diện của cả dân tộc nữa!

Ðến đầu tuần này, dân ta thở phào nhẹ nhõm, vì các báo đài thế giới đã bắt đầu để ý đến vụ Trung Quốc bắt nạt Việt Nam. Ðiều này cho thấy họ đang nhìn cuộc xung đột ngày càng trầm trọng, càng đáng chú ý, người Việt Nam sẽ không bị thế giới bỏ rơi để cho bất cứ ai bắt nạt cũng được!

Nhưng còn các chính khách quốc tế? Ðiều đáng buồn là trong mấy tuần lễ, chỉ có người Việt Nam quan tâm còn người ngoại quốc không ai biết tới nỗi uất hận của dân mình. Người Việt đã đi biểu tình phản đối trước tòa Ðại Sứ Trung Quốc ở nhiều thủ đô Âu, Mỹ để đánh thức chính khách các nước này. Hôm đầu tuần, tại Mỹ tạp chí National Journal mới báo tin Nghị Sĩ Jim Webb đã lên tiếng về những hành động gây hấn của Trung Quốc trong vùng biển Ðông Việt Nam. Vị nghị sĩ đảng Dân Chủ ở tiểu bang Virginia nói trong một cuộc họp của Hội Ðồng Ngoại Giao (Council on Foreign Relations), một tổ chức không thuộc chính phủ Mỹ. Ông cho biết sẽ đưa ra Thượng Viện Mỹ một nghị quyết về việc này. Ngày hôm sau, Nhật báo Financial Times loan tin Việt Nam đã yêu cầu chính phủ Mỹ và các quốc gia khác giúp giải quyết các tranh chấp với Trung Quốc trong vùng biển Ðông.

Nhưng chính quyền Cộng Sản Việt Nam sẽ lấy lý do nào để yêu cầu các nước khác can thiệp?

Trong vụ xung đột quyền lợi về các quần đảo từ bao lâu nay, chính quyền Bắc Kinh vẫn lấy lá thư năm 1958 do Phạm Văn Ðồng ký gửi Chu Ân Lai làm căn bản để khẳng định chủ quyền của họ trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trong thư đó, ông Phạm Văn Ðồng đã ủng hộ bản tuyên bố của chính phủ Trung Quốc về lãnh hải; mà bản tuyên bố này kèm theo cả bản đồ vẽ các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc Trung Quốc. Sau này, các người cầm đầu đảng Cộng Sản Việt Nam biện hộ rằng ông Ðồng chỉ ủng hộ ý kiến về lãnh hải nhưng không ủng hộ cái chi tiết về các quần đảo đó. Nói như vậy trong việc ngoại giao rất khó nghe, cũng giống như một người ký cái giấy bán nhà rồi lại nói tôi không chịu bán cái cái mái nhà!

Nhưng không phải chỉ có ông Phạm Văn Ðồng nhu nhược và chịu nhục nhã. Nhóm lãnh tụ Cộng Sản Việt Nam vẫn tiếp tục truyền thống nhịn nhục đó, sau khi xin Trung Quốc tái lập bang giao!

Cảnh ngoại giao nhịn nhục đã bắt đầu từ năm 1950 và chỉ bị đứt đoạn một thời gian sau năm 1975, khi Lê Duẩn tuyệt giao với Tầu để hoàn toàn theo Nga. Ngay hành động chống đối này cũng thiếu suy nghĩ, rất dại dột. Sau khi đã nhận viện trợ của Cộng Sản Tầu từ cây kim sợi chỉ đến súng đạn, bom mìn suốt bao nhiêu năm chiến tranh, Lê Duẩn quay mặt chống Tầu đến mức ghi vào Hiến Pháp tên Trung Quốc như một kẻ thù truyền thống. Hồi ký Khrutchew kể lại trong hai lần ông sang Bắc Kinh đều ngỏ ý xin Trung Cộng cho Nga sử dụng một hải cảng vùng nước ấm không bị đóng băng vào mùa Ðông, cả hai lần đều bị từ chối. Lê Duẩn đã cho Hải Quân Nga sử dụng cảng Cam Ranh trong lúc Tầu và Nga đang coi nhau là tử thù. Những hành động thiếu khôn ngoan này khiến Bắc Kinh khinh bỉ, coi Việt Nam là một giống dân bội bạc; tâm lý này đã ăn sâu, từ trong giới lãnh tụ cho đến người dân Trung Hoa bình thường. Nhưng đến năm 1990 chế độ cộng sản ở Nga và Ðông Âu sụp đổ, các món viện trợ chấm dứt, thì chính những người cầm đầu đảng Cộng Sản Việt Nam bắt buộc phải quay trở lại xin tái lập bang giao với Bắc Kinh. Trong lúc chế độ cộng sản khắp nơi tàn lụi, Lê Khả Phiêu lại sang Trung Quốc xin tái lập một “Quốc tế Cộng sản” mới để Bắc Kinh đóng vai lãnh đạo các nước còn lại như Việt Nam, Cuba, Bắc Hàn. Bắc Kinh đã từ chối thẳng. Bởi vì lúc đó cả thế giới biết rằng Cộng Sản Trung Hoa đã coi việc cải tổ kinh tế là quan trọng nhất để chế độ tồn tại, họ chỉ mong được bán hàng sang các nước tư bản, từ Mỹ đến Âu Châu. Làm sao Bắc Kinh có thể đóng vai đối nghịch với các khách hàng, khiêu khích các người mua hàng của họ để mua lấy một cái danh hão! Chỉ có Bộ Chính Trị Cộng Sản Việt Nam không nhìn thấy điều đó, cho nên mới đưa ra một đề nghị, tưởng là để lấy lòng Trung Quốc nhưng lại hoàn toàn đi ngược với quyền lợi của chính họ! Từ đó lòng khinh rẻ của Cộng Sản Trung Hoa càng tăng thêm. Từ khinh rẻ chuyển thành thái độ chèn ép, ngày càng kiêu căng, đưa tới những hành động “lấn chân” của họ, trên trường ngoại giao, trên mặt đất và trên biển.

Trước thái độ khinh rẻ của Cộng Sản Trung Hoa, những người lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam vẫn tiếp tục nhịn nhục. Tháng 2 năm 1992 Trung Quốc ban hành “Luật về lãnh hải và vùng nước tiếp giáp của nước CHND Trung Hoa” gồm 17 điều. Ðiều 2 xác khẳng định phạm vi chủ quyền của Trung Quốc trên “tất cả các đảo ven biển, Ðài Loan và các đảo phụ thuộc bao gồm đảo Ðiếu Ngư (Senkaku-theo cách gọi của Nhật Bản), quần đảo Bành Hồ, các quần đảo Ðông Sa, Tây Sa, Trung Sa, Nam Sa và kể cả các đảo nhỏ khác.” Trong đó Tây Sa và Nam Sa chính là các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa của nước ta. Trước sự kiện đạo luật này xâm phạm chủ quyền đất nước ta, chính quyền Cộng Sản Việt Nam không hề lên tiếng phản đối! Chính vì, cũng giống như Phạm Văn Ðồng thời trước, họ coi việc ngoại giao của quốc gia không quan trọng bằng tình “đồng chí anh em” giữa hai đảng cùng theo một chủ nghĩa cộng sản!

Chính sách nhịn nhục của đảng Cộng Sản đối với Trung Quốc từ 60 năm nay khiến cho bây giờ muốn nhờ các nước khác, trong đó có nước Mỹ can thiệp cũng rất khó nói năng. Muốn đứng ra nói chuyện với các nước khác để nhờ họ giúp, trước hết Cộng Sản Việt Nam phải công khai phủ nhận lá thư năm 1958 của ông Phạm Văn Ðồng. Một công hàm ngoại giao có thể bị xóa bỏ chính thức bất cứ lúc nào, không có gì đáng lo cả. Dân tộc Việt Nam không thể ngậm đắng nuốt cay mối nhục đó mãi được.

Tiến Sĩ Hà Sĩ Phu mới nhận xét: “Sự khiếp nhược trường kỳ gây đau thương vĩnh viễn cho dân tộc.” Nhưng tại sao Ðảng Cộng Sản Việt Nam lại phạm những sai lầm lớn liên tục như vậy? Tất cả đều do một nguyên nhân. Ðảng Cộng Sản làm ngược lại một quy tắc ngoại giao cổ điển ai cũng thuộc lòng, là “các quốc gia không có bạn hay kẻ thù, mà chỉ có quyền lợi thôi.” Ðảng Cộng Sản Việt Nam, ngay từ những năm 1950 đã làm ngược lại quy tắc này. Họ phân chia các nước thành bạn với thù; bạn thì cái gì cũng tốt, thù thì cái gì cũng xấu! Chính sách ngoại giao của đảng Cộng Sản chỉ dựa trên bảng sắp hạng đó chứ không đặt quyền lợi quốc gia và tương quan quốc tế làm căn bản.

Nhà báo Huy Ðức gần đây mới ghi lại: Từ tháng 2, 1999 đến 12, 2000, Trung Quốc ký với tất cả 10 quốc gia Ðông Nam Á các thỏa ước cộng tác song phương, qua hình thức tuyên bố chung giữa các bộ trưởng Ngoại Giao hay phó thủ tướng, chỉ trừ đối với Việt Nam là phải có thêm thỏa ước ký bởi hai tổng bí thư. Trong việc thực hiện sự cộng tác giữa Trung Quốc và các quốc gia khác, Trung Quốc chỉ đòi hỏi tổng quát là trao đổi cấp cao. Riêng Việt Nam, thỏa ước năm 1999 đòi hỏi toàn diện cộng tác từ đảng, chính quyền, cho tới các tổ chức quần chúng, các địa phương! Chưa nước nào lại theo đường lối ngoại giao như vậy, trừ các nước chư hầu!

Trong thập niên 1960 đến 80, tại các nước chịu ảnh hưởng mạnh nhất của Mỹ, Nam Hàn, Ðài Loan và Thái Lan, trong khi chính quyền bao giờ cũng thân thiết với Mỹ, nhận viện trợ Mỹ, thì các sinh viên, học sinh vẫn liên tiếp biểu tình chống Mỹ. Nhưng đó là một hiện tượng bình thường ở các nước tự do dân chủ, với những dân tộc biết tự trọng. Ðến nay, dân Nhật ở Okinawa vẫn tiếp tục biểu tình chống Mỹ, nhưng hai nước này vẫn chấp nhận. Mà chính vì vậy nên họ mới là là đồng minh thân thiết, hai nước mới là “bạn” thật. Trong việc ngoại giao, đảng Cộng Sản đã bỏ mất cả lòng tự trọng của dân tộc. Họ dựa trên ý thức hệ, trên những chủ thuyết trừu tượng, trên một thứ tình “đồng chí anh em” hoàn toàn trống rỗng. Không những thế, đảng Cộng Sản còn bắt tất cả mọi người dân phải suy nghĩ về bạn, hay thù theo chính sách từng giai đoạn của đảng. Cho nên họ không bao giờ được nghe lời nói phải, không bao giờ biết sự thật. Một chế độ như thế không thể tồn tại được.

Posted: Thu Jun 16, 2011 1:07 am
by vuphong

Image

Yêu nước thật không thể chịu như thế
Phạm Hồng Sơn

Vừa rồi chính phủ Việt Nam lần đầu tiên đã có một số thể hiện làm cho nhiều người yêu nước hy vọng rằng không phải tất cả các lãnh đạo cao cấp hiện nay của chế độ độc đảng đều hèn nhát, cúi đầu trước sự ngạo mạn, xấc xược của chính quyền Trung Quốc.


Ngày 8/6/2011 Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã dõng dạc tuyên bố: “Nhân dân Việt Nam, đất nước Việt Nam có đủ ý chí quyết tâm và sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc để giữ gìn, bảo vệ các vùng biển và hải đảo của mình.”


Ngày 10/6/2011 bà Nguyễn Phương Nga phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao Việt Nam cũng lần đầu tiên mạnh dạn thổ lộ: “Mọi nỗ lực của cộng đồng quốc tế trong việc duy trì hòa bình ổn định ở khu vực Biển Đông đều được hoan nghênh.”


Ngày 13/6/2011 chính phủ Việt Nam còn cho phép Bộ Quốc phòng thực hiện diễn tập bắn đạn thật trên biển ngay gần vùng Trung Quốc đã xâm phạm lãnh hải và đang có tin quân đội Việt Nam sẽ tham gia tập trận chung với Mỹ trên biển Đông.


Cho dù lần phản ứng này của chính phủ Việt Nam đối với việc Trung Quốc cắt cáp (phá hủy phương tiện sản xuất của chính phủ) lại mạnh hơn rất nhiều so với những lần Trung Quốc đã bắn giết, bắt giữ, ngược đãi nhiều ngư dân Việt Nam thì những phát ngôn và hành động vừa kể của chính phủ Việt Nam cũng đáng ghi nhận là một thay đổi tiến bộ trong cách ứng xử với Trung Quốc. Tuy nhiên, nhiều người yêu nước vẫn còn nghi ngại động cơ thật đằng sau những phát ngôn và hành động tiến bộ đó.

Image

Rất đáng tiếc, thực tế đang cho thấy những nghi ngại đó lại có cơ sở. Bởi không một chính phủ nào muốn tìm cách bảo vệ tổ quốc lại đi cấm đoán, xúc phạm, bắt bớ, giam giữ những người muốn bày tỏ lòng căm hờn kẻ xâm lấn tổ quốc.


Không một chính quyền nào muốn được cộng đồng quốc tế chia sẻ, trợ giúp để chống trả mộng bá quyền hung hãn của Trung Quốc lại để cho tờ báo của đảng mình phê phán một cách lố bịch việc NATO (khối quốc gia văn minh, hùng mạnh nhất thế giới) đang giúp đỡ nhân dân Lybia chống lại chế độ độc tài của Gaddafi là hành động “phản nhân đạo”, “răn đe các chính quyền tiến bộ khác ở khu vực...”


Như vậy, không hiểu những biểu hiện mâu thuẫn đó là do lãnh đạo của chính phủ Việt Nam chưa xử lý được tình trạng “trên bảo dưới không nghe” hay là chính phủ Việt Nam vẫn chỉ lo lắng quẩn quanh cho quyền lợi riêng tư của mình, hơn là sự tồn vong của quốc gia, dân tộc? Nhưng một điều chắc chắn rằng nếu lãnh đạo của chính phủ Việt Nam hay của Đảng Cộng sản Việt Nam đã bắt đầu có thiện tâm vì nước, vì dân thì những mâu thuẫn kiểu đó phải sớm được chấm dứt. Vì đã biết yêu nước, biết nhục khi lòng yêu nước bị sỉ nhục, không ai lại chịu để như thế.


Phạm Hồng Sơn