Page 56 of 187

Posted: Thu Apr 07, 2011 5:12 am
by lynhcao
Về sự sợ hãi
Tôi vốn không đặc biệt hâm mộ ông Cù Huy Hà Vũ. Những lý lẽ ông đưa ra tôi cũng không thấy có tính thuyết phục đặc biệt. Nhưng với những gì xảy ra gần đây, ông thể hiện mình như một con người không tầm thường.

Như Hector người thành Troy, như Turnus người Rutuli hay như Kinh Kha người nước Vệ, ông Vũ không hề sợ hãi khi phải đối mặt với số phận của mình. Những nhân vật huyền thoại này đã làm mọi thứ để được đối mặt với số phận, để hoàn thành sứ mệnh của mình trong cuộc đời này.

Đối diện với ông Vũ là những người bắt ông bằng hai bao cao su đã qua sử dụng, là phiên tòa nửa công khai, nửa bí mật xảy ra ngày hôm qua và là ông quan tòa từ chối thực hiện thủ tục tố tụng để tránh tranh luận về nội dung những bài viết, chứng cớ về những việc được cho là vi phạm pháp luật của ông Vũ. Có cố tình làm mất thể diện quốc gia, chắc cũng khó mà làm hơn mấy ông bà này.

Nghĩ mãi tôi cũng chỉ tìm ra hai cách lý giải. Khả năng thứ nhất là họ muốn làm nhanh cho xong việc. Trong trường hơp này, họ rất xứng đáng được truy cứu trách nhiệm. Khả năng thứ hai là ông quan tòa sợ phải đối mặt với những lý lẽ của ông Vũ. Trong trường hợp này, rất nên tạo điều kiện cho ông ta chuyển sang công tác khác, phù hợp hơn.

Không thể lấy sự cẩu thả và sự sợ hãi làm phương pháp bảo vệ chế độ.

GS Ngô Bảo Châu

Posted: Fri Apr 08, 2011 5:40 am
by thienthanh
Người Việt khác người Nhật
Ngô Nhân Dụng


Sau khi đọc tin, coi hình ảnh hoặc chứng kiến thái độ bình tĩnh của người Nhật Bản sau cuộc động đất và sóng thần vừa qua, chúng ta phải công nhận dân Nhật có những đức tính mà mình phải học. Thái độ khiêm cung này rất cần thiết; vì nếu mình không nhìn thấy, không biết thán phục những cái hay của người khác thì cũng không biết tự sửa chữa những cái dở của mình.

Nhưng không thể so sánh Việt Nam với Nhật Bản hay với bất cứ nước nào, để nói dân tộc này hơn hay kém một dân tộc khác. Người mình có những ưu điểm khác với người Nhật, cũng như người Nhật có những nhược điểm khác với mình. Chúng ta có thể nhìn lại với con mắt quân bình, không thiên kiến, để thấy không phải cái gì mình cũng nên giống như người Nhật Bản. Có thể rút kinh nghiệm vụ động đất vừa qua để thấy xã hội Nhật Bản có một tinh thần khắc kỷ và trật tự rất mạnh; nhưng ngược lại họ quá cứng rắn, có khi thành cố chấp. Trong khi cũng phải công nhận dân Việt mình thì có tính mềm dẻo, linh động nhiều khi quá đáng, cần phải tránh.

Tuần báo Economist tường thuật sau trận động đất và sóng thần đánh vào làng Kesennuma, nơi có hơn 25 ngàn người chết hoặc mất tích, cho thấy guồng máy chính quyền Nhật Bản quá cứng nhắc. Vì động đất người dân phải xếp hàng chờ đợi mua xăng; trong khi. Tuy các nhà máy lọc dầu gia tăng hoạt động, số cung cấp xăng dầu không giảm đến mức quá thiếu thốn; nhưng chính việc áp dụng luật lệ cũng làm cảnh thiếu xăng trầm trọng hơn. Một điều luật ở Nhật bắt các trạm xăng phải dự trữ một số lượng đủ cung cấp cho 70 ngày. Ngay trong cảnh mới động đất xong, các trạm xăng khi thấy số dự trữ xuống tới mức 70 ngày cũng ngưng bán. Tất nhiên người tiêu thụ ở Nhật bình thản chấp nhận cảnh khan hiếm xăng do luật lệ gây ra như thế; vì bản chất họ luôn luôn trọng kỷ luật. Nhưng người ngoài thì ai cũng thấy trong hoàn cảnh khẩn cấp thì bảo vệ một điều luật như vậy là cố chấp! Phải đợi 10 ngày sau, chính phủ trung ương mới cho phép các trạm xăng chỉ giữ một khoảng dự trữ cho 45 ngày mà thôi!

Có thể nói hệ thống chính trị nước Nhật được xây dựng rất kiên cố, xã hội quá trật tự, không uyển chuyển để thích ứng với cơn nguy biến. Ngay khi bại trận, họ đã xóa bỏ chế độ quân phiệt độc tài, nhưng cả xã hội và hệ thống hành chánh vẫn tổ chức theo lối hàng dọc từ trên xuống dưới. Mọi sinh hoạt chính trị, kinh tế đều đặt dưới sự điều hành của ba thế lực trong xã hội. Ðó là guồng máy hành chánh, các ngân hàng lớn, và các đại công ty. Chưa kể, một đảng chính trị gần như nắm độc quyền trong hơn nửa thế kỷ, vì đảng Tự do Dân chủ liên kết được cả ba thế lực trên. Người dân Nhật thản nhiên chấp nhận tình trạng đó từ năm 1947 khi bản Hiến Pháp dân chủ được áp dụng. Nhờ đảng Tự do Dân chủ và các đồng minh của họ trong guồng máy hành chánh và giới tài phiệt đã mang lại cuộc sống thịnh vượng, với những người lãnh đạo có tư cách đáng kính trọng cho nên dân Nhật vẫn chấp nhận. Nhưng một hệ thống chính trị tập trung và chỉ huy như vậy chứa sẵn mối rủi ro, nếu dân trí không cao hoặc nếu người cai trị không lương thiện. Thói quen răm rắp tuân theo lệnh trên của người dân và quyền hành tập trung vào guồng máy hành chánh đó không còn thích hợp khi phải đối phó với những biến cố bất ngờ lớn.

Người Nhật Bản đã nhìn thấy nhược điểm đó một lần trong vụ động đất ở Kobe năm 1995. Năm đó, chính phủ Nhật lúng túng và chậm chạp trước tai biến lớn lao (phải công bằng mà nói thêm rằng chính phủ Mỹ cũng lúng túng như vậy trong thời gian bão Katrina). Cuộc động đất Kobe đã khiến nhiều người Nhật cảm thấy mất lòng tin vào khả năng của họ. Năm nay chính phủ Naoto Kan đã phản ứng rất nhanh trong việc trấn an tinh thần dân chúng. Các công chức bộ Kinh Tế, Thương Mại và Công Nghệ làm việc ngày đêm, có lúc làm việc trong bóng tối để tiết kiệm điện. Nhưng guồng máy hành chánh vẫn chạy theo thói quen cố hữu.

Một nghị sĩ đảng đối lập, ông Kouta Matsuda đã cố gắng đi cấp cứu vùng Miyagi mà ông là đại biểu. Vốn là một nhà kinh doanh thành công, ông Matsuda đã lái một chiếc xe tải nhỏ 4 tấn chở phẩm vật tới giúp các cử tri của mình. Nhưng cảnh sát không cho phép ông lái chiếc xe đó trên con đường dành cho xe tải. Bởi vì đã có lệnh con đường đó được dành riêng cho các xe cấp cứu. Ông cho biết tại Miyagi còn rất nhiều thực phẩm nhưng thiếu một hệ thống phân phối hữu hiệu.

Sau đó, ông Matsuda đã mượn môt chiếc máy bay trực thăng chở thức ăn, thuốc men và dụng cụ để sạc điện cho máy điện thoại di động tới Miyagi; nhưng cảnh sát không cho phép máy bay đáp xuống. Cũng vì đã có lệnh cấm. Ông bèn xin phép được thả các phẩm vật từ máy bay xuống đất; lại bị từ chối, vì làm như vậy là trái luật lệ, mặc dù chiếc trực thăng bay là là chỉ cách mặt đất có một mét!

Người Nhật rất trọng kỷ luật. Một chuyến xe lửa phải ngưng chạy trong 16 tiếng đồng hồ, nhưng tất cả các hành khách vẫn bình tĩnh và lễ độ; các phòng vệ sinh vẫn sạch sẽ không một vết nhơ. Ðức tính kỷ luật của cả một dân tộc rất đáng kính phục. Nhưng thi hành luật lệ một cách cứng nhắc thì không nên, sẽ trở thành cố chấp. Người Việt Nam trái lại; có thói quen sống linh động, “chín bỏ làm mười.” Nhưng biến báo, uyển chuyển thái quá thì có khi sẽ thành vô kỷ luật.

Giữa hai thói xấu, tính cứng nhắc và thiếu kỷ luật, chúng ta không thể nói thói nào xấu hơn. Nhưng người ta chỉ phạm lỗi cứng nhắc hoặc cố chấp khi phải đối phó với những hoàn cảnh bất thường. Nghĩa là những trường hợp hiếm hoi. Trong hoàn cảnh bình thường, giữ đúng kỷ luật thì không gọi là cố chấp nữa. Còn thói “biến báo” có khi bất chấp kỷ luật thì nếu đã tập nhiễm sẽ khó bỏ; có thể sẽ trở thành một thói xấu thường xuyên, xã hội sẽ khó sống hạnh phúc.

Tại sao người Nhật với người Việt mình khác nhau như vậy? Những thói quen có tính cách tập thể này chắc đã thành hình suốt chiều dài lịch sử mỗi dân tộc. Trong hơn một ngàn năm gần đây, lớp người được kính trọng nhất trong xã hội Việt Nam là các nhà Nho. Ở Nhật Bản, lớp người ưu tú là những võ sĩ, đẳng cấp bushi xuất hiện từ thời đại Bình An (Heian, 794-1185). Năm 1185 Tướng quân Minamoto Yoritomo biến tầng lớp Samurai thành một định chế chính thức. Họ cũng được rèn luyện theo luân lý Nho giáo giống như các nhà Nho Việt Nam; nhưng người Nhật lấy các võ sĩ làm gương. Nho giáo truyền vào nước Nhật qua ngả Hàn Quốc. Năm 285, Vua Keun Ch'ogo thuộc triều đại Paekche đã cử một nhà Nho là Wang In đem 10 chương trong sách Luận Ngữ và cuốn Nhất Thiên Tự (Senjimon) sang Nhật Bản. Nho giáo được đưa sang Việt Nam sớm hơn; chính thức bắt đầu từ thời Sĩ Nhiếp (187-226). Cùng học một hệ thống đạo lý nhưng ở nước Nhật thì đẳng cấp võ sĩ là tiêu biểu cho nền đạo đức, nhấn mạnh đến lòng trung thành tuyệt đối với chủ nhân, tức là các sứ quân; trong khi đó ở nước ta chính các nhà Nho, tức là những văn nhân, là lớp người chuyên chở đạo lý.

Văn khác với võ; người Nhật cương còn người mình nhu. Vì kỷ luật là điều kiện sống còn của các người ra chiến trận, còn các nhà văn cần được tự do, và nghĩ đến tình hơn lý, trọng những cá tính đặc thù hơn tính chất đồng nhất của tập thể. Dân tộc nào cũng cần biết khai triển những ưu điểm của nền văn hóa mình trong khi phải học hỏi người khác.

Khung cảnh thiên nhiên có thể thay đổi lối sống. Khổng Tử đã nhận xét về ảnh hưởng của địa dư trên tính khí con người: “Khoan nhu dĩ giáo, bất báo vô đạo, nam phương chi cường dã; quân tử cư chi. Nhẩm kim cách, tử chi bất yếm, bắc phương chi cường dã; nhi cường giả cư chi” (Dạy dỗ người với lòng khoan nhu; không báo thù kẻ vô đạo, đó là sức mạnh của người phương Nam; người quân tử theo đó. Nằm ngủ với áo giáp, binh khí; chết cũng không sợ, đó là sức mạnh của người phương Bắc; người hùng mạnh theo đó, Trung Dung, chương 10). Trong câu trên Khổng Tử nói đến những giống dân không phải người Hán sống ở phía Nam Trường Giang và phía Bắc vùng châu thổ Hoàng Hà. Dân Nhật Bản có sức mạnh của người phương Bắc, người Việt Nam có sức mạnh của người phương Nam.

Nhu quá thành vô kỷ luật, cương qua thành cố chấp. Mỗi dân tộc Việt và Nhật có nhiều ưu điểm và nhược điểm khác nhau. Cả hai nước Việt Nam và Nhật Bản đều chịu ảnh hưởng của luân lý Nho giáo cũng như dân Hàn Quốc; và mỗi nước đã phát triển trên những con đường khác nhau. Chúng ta không nên thấy những thói quen xấu của người Việt Nam gần đây mà nghĩ rằng đó là những tật xấu có từ lâu, do bản tính dân tộc. Thực ra đại đa số những thói xấu như sống vị kỷ, vô kỷ luật, trọng tiền tài; đến cảnh quan chức tham nhũng, vô trách nhiệm, khinh dân, như chúng ta đang chứng kiến trong xã hội hiện nay đều là do ngoại cảnh hoặc gây ra, hoặc đẩy lên đến mức độ quá cao, quá lộ liễu. Vì thượng bất chính, hạ tất loạn, điều này ai cũng biết.

Nhật Bản là một nước dân chủ, tinh thần võ sĩ và luân lý Nho giáo vẫn tồn tại mặc dù chế độ chính trị thay đổi. Nhưng truyền thống của dân Nhật cũng đưa tới những nhược điểm trong hệ thống chính trị, hiện rõ qua vụ động đất vừa qua. Nổi bật nhất là trong vụ nhà máy điện nguyên tử Daiichi.

Như trên đã nói, hệ thống chính trị Nhật Bản tuy là dân chủ nhưng vẫn quá tập trung. Ðặc biệt là giới tư bản nắm guồng máy tài chánh, kinh tế, cộng tác quá chặt chẽ với hệ thống hành chánh. Người Nhật đoàn kết và tin cẩn nhau, nhìn ai cũng thấy người ta lương thiện, chính trực, ai cũng trọng công ích, có tinh thần trách nhiệm; đó là một ưu điểm tập thể nhờ truyền thống võ sĩ đạo. Nhưng khi những công chức có nhiệm vụ kiểm soát giới quản lý trong lãnh vực tư mà tin tưởng quá đáng vào những người mình phải kiểm soát, thì họ rất dễ phạm những sai lầm. Tình trạng cộng tác mật thiết đó khiến trong hệ thống bị thiếu thói quen chất vấn, tranh luận, thói quen nghi ngờ, phải kiểm tra và tái kiểm tra. Khi nhà quản lý bỏ qua không quan tâm đến những báo động về mối rủi ro mà giới công chức đồng ý một cách dễ dàng thì công chúng sẽ lãnh hậu quả xấu. Mặc dù giới công chức Nhật không cấu kết với giới quản lý kinh doanh, nhưng họ có thể làm không tròn nhiệm vụ kiểm soát chỉ vì hai bên đoàn kết và tin cẩn nhau quá đáng!

Từ mười năm qua nhiều chuyên gia độc lập đã báo động công ty điện lực TEPCO, chủ nhân nhà máy Daiichi rằng các lò nguyên tử ở đó, do các kỹ sư Mỹ thiết kế từ nửa thế kỷ trước, đã lỗi thời, Nhưng các báo động đó bị bỏ qua. Các chuyên viên ở nhà máy đã không thực hiện đủ những cuộc thanh tra kỹ thuật định kỳ bắt buộc, kể cả lần trước ngày động đất hai tuần. Khi động đất xẩy ra, các lò nguyên tử đang giữ chứa nhiều thỏi nguyên liệu hạt nhân đã dùng rồi, nhiều hơn con số tối đa được giữ. Một tháng trước ngày động đất, các công chức đã chấp thuận lời yêu cầu của công ty TEPCO triển hạn việc sử dụng sáu lò nguyên tử thêm 10 năm nữa mặc dù đã có những báo động là sức chịu đựng quá nặng nề rồi.

Không ai nghi ngờ giới công chức Nhật Bản đã dễ dãi với công ty điện lực vì được hối lộ. Tuy nhiên, trong hệ thống điều hành kinh tế cũng như chính trị một quốc gia, sau khi tạo ra những định chế cân bằng để tự kiểm soát thì vẫn còn phải tạo thêm thói quen chất vấn, tranh luận với nhau, chứ không thể nhân danh tình đoàn kết mà hoàn toàn tin tưởng nhau. Ðây là một vấn đề văn hóa chứ không còn là chính trị nữa.

Tất nhiên, dù hệ thống chính trị nước Nhật có nhược điểm như thế, nó cũng trăm lần tốt hơn một hệ thống chính trị hoàn toàn dựa trên tham nhũng và tinh thần bè đảng, bất chấp công ích và đạo lý. Nhưng xin đừng ai nghĩ rằng tình trạng xấu xa tàn tệ đó là do bản chất của người Việt Nam tạo ra! Không người Việt Nam nào chấp nhận tình trạng đó. Khi so sánh với nước ngoài, ai cũng cảm thấy nhục nhã.

Posted: Sun Apr 10, 2011 6:56 pm
by KýCóp
CIA Chánh Thức Trở Lại VN
Vi Anh

Richard Halloran trong một bản tin phân tích khá dài tựa là “A Long Reconciliation” (Một Cuộc Hòa Giải Lâu Dài), đăng trên báo Honolulu Star-Advertiser ngày 20-3-2011, có nói đến việc Cơ Quan Trung Ương Tình Báo Mỹ là CIA mở văn phòng liên lạc tại Hà nội, thủ đô của nước Cộng Hoà Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Tin này đáng chú ý trong việc hợp tác an ninh giữa Washington và Hà nội trên phương diện nổi. Nó còn rất đáng chú ý trên phương diện chìm trong những sinh hoạt của những nhà hoạt động đối lập và đối kháng với nhà cầm quyền CS Hà nội.

Một, nguồn tin CIA chánh thức trở lại VN xuất phát đúng chỗ. Honolulu như nhiều người biết là đầu cầu Á châu của Mỹ. Về quân sự là nơi toạ lạc của Bộ Tư Lệnh Quân Lực Mỹ Vùng Thái Bình Dương. Về chánh trị Honolulu là trạm trung chuyển giữa các nước Á châu và Mỹ. Hẩu hết những cán chính Việt Nam Cộng Hòa khi xưa trước khi đến Mỹ để công du Mỹ theo lời mời của các cơ quan công quyền Mỹ như Quốc Hội với Fulbright Grant, hay các bộ và đại học Mỹ đều được “Mỹ“ mời ghé thăm East West Center (Trung Tâm Đông Tây). Nói là viếng thăm theo văn từ ngoại giao chớ thực sự là để được thuyết trình và nghe ý kiến về tình hình. Bây giờ trước khi có Một Cuộc Hòa Giải Lâu Dài như là nhà báo nói trên đã viết, Đaị Sứ Lê Công Phụng mười ngày trước cũng đã bay tới Honolulu.

Hai, Washington, Hanoi hợp tác an ninh. Chuyện này đã chuẫn bị từ lâu. Hàng chục cuộc họp, hàng chục biểu thị họp tác, hàng chục lời tuyên bố của các giới chức Ngoại giao, Quốc Phòng từ Bộ Trưởng, Thứ Trưởng, Phụ tá, kể cả Tư Lịnh Thái bình Dương nữa.

Như Việt Báo kể sơ sơ, “Hạm Đội Thái Bình Dương của Mỹ tại Trân Châu Cảng, nơi đã gửi khoảng nửa tá tàu chiến sang thăm các hải cảng VN các năm gần đây, dự định mở một hội nghị với các cấp chỉ huy tương nhiệm vào mùa xuân này để thu xếp thêm các chuyến tàu chiến Mỹ thăm VN. Trong một quyết định có tính đột phá, Việt Nam báo rằng hải cảng ở Vịnh Cam Ranh sẵn sàng mở ngõ đón tàu chiến hải quân nước ngoài.”.. “Năm ngoái, phi cơ từ mẫu hạm USS George Washington đã chở nhiều lãnh tụ quân sự và chính trị VN bay ra tàu chiến đậu ngoaì khơi. Mẫu hạm USS John Stennis cũng làm như thế trước đó cùng năm, cả 2 lần đều bị Bắc Kinh phản đối vì nói rằng vi phạm vùng Biển Đông của TQ.”

Không cần gì một chuyên viên theo dõi và phân tích thời sự mới biết, người phó thường dân VN cũng biết “Mỹ đi rồi Mỹ lại vế” nhứt là sau những chuyễn động dồn dập của Mỹ vào Biển Đông qua ngỏ ASEAN với các cuộc họp Bộ Trưởng Ngoại Giao, Quốc Phòng Mỹ ở Hà nội và họp thượng đỉnh có mặt TT Mỹ Obama và Chủ Tịch Nước Cộng Hoà Xã hội Chủ nghĩa VN Nguyễn minh Triết ở New York. CS Hà nội muốn Mỹ làm lá chắn cho VN trong vấn đề Biễn Đông mà Trung Cộng đã chiếm gần 80% lãnh hải và hai đảo Hoàng sa Trướng sa làm thành Huyện Tam Sa của TC.

Mà họp tác an ninh của Mỹ ở ngoại quốc điều kiện cần và đủ là phải có CIA vì CIA là cơ quan trung ương tình báo an ninh chánh trị, là tai mắt của chánh quyền Mỹ nói chung, có một vị thế trọng yếu trong Hội Đồng An Ninh Quốc gia Mỹ, thường thuyết trình cho tổng thống khi có biến cố ở hải ngoại.

Ba, Hà nội đã tạo điều kiện dễ dàng cho CIA hoạt động chánh thức và công khai ở VN với việc đồng ý cho CIA lập văn phòng liên lạc hay trụ sở ở VN. Hai chục năm, từ ngày Washington lập bang giao rồi giao thương với nhà cầm quyền CS Hà nội tới nay, theo truyền thống tổ chức, nhu cầu công vụ quốc gia,chắc chắn CIA đã bí mật vào Việt Nam rồi. Nhiều hình thức ngụy trang lắm, đội lốt ngoại giao, kinh doanh, báo chí, văn hoá, giáo duc, thiện nguyện, v.v...

Nói không có CIA ở VNCS thời mở cửa cho đầu tư nước ngoài vào và bang giao, giao thương với Mỹ là không biết Mỹ. Ngay thời VN Cộng Hoà đồng minh với Mỹ mấy ông lớn còn ngán CIA. Nhưng CS Hà nội quá cần Mỹ trong kinh tế, giao thương, ngoại giao, còn CIA thì quá dồi dào con người và phương tiện tài chánh, kỹ thuật điêu luyện. Nên người ta chưa thấy một lần nào CS bắt và trục xuất một CIA..

Cho CIA lập văn phòng liên lạc tức chánh thức có mặt và hoạt động ở VN là siết mối dây hợp tác an ninh chặt chẽ để thêm tai mắt tin tức về TC. Đúng nhưng mới một mặt nhỏ thôi. Luật đầu của CIA về tương quan là không bạn, “first law no friend”. Luật đầu của công tác CIA là quyền lợi của nhân dân và chánh quyền Mỹ là tối thượng. Chánh quyền Mỹ có thể hết tổng thống này tới tổng thống kia, đảng này tới đảng nọ cầm quyền, nhưng chánh nghĩa quyền lợi Mỹ là lý tưởng bất di bất dịch trong hoạt động của CIA.

Cho đến bây giờ CIA vẫn còn là cơ quan tình báo số 1 hoàn cầu. Đối với CIA. TC là một đối tác, VC cũng là một đối tác của CIA. Cái gì lợi cho đất nước, nhân dân Mỹ là CIA làm.

Bốn, ngoài công tác an ninh tình báo, CIA còn làm công tác chánh trị nữa, lắm trường họp công tác chánh trị còn nhiều và trội yếu hơn nữa. Nhiều khi công tác chánh trị của CIA không cùng chiều hướng với Toà Đại sứ. CIA có thể làm việc chánh thức với ngành an ninh đồng nhiệm và bán chánh thức với tất cả các ngành quân dân cán chính, nhứt là ngành chánh trị là lãnh vực tổng hợp của nhà cầm quyền.

Ngân sách của CIA rất bí mật nhiều khi hội đoàn tư nhân và các cơ quan công quyền của Mỹ tặng nhưng đó là tiền của CIA. Khi nào cần thì CIA nói với “bạn của chúng ta” giúp dưới nhiều hình thức.

Truyền thống, lịch sử, tinh lý và nguyên tắc của nên tự do, dân chủ Mỹ không bao giờ chấp nhận một chế độ độc tài, độc đảng, chuyên chính, toàn trị. Quốc Hội Mỹ không thể chấp nhận một nền chánh trị không có đối lập. Nên người ta không ngạc nhiên tại sao khi xưa ở Saigon Toà Đại sứ Mỹ, Cơ quan Viện Trợ Quân sự Mỹ ủng hộ chánh quyền của TT Nguyễn văn Thiệu. Nhưng Đại Tướng Dương văn Minh đối thủ của TT Thiệu vẫn hoạt dộng tĩnh bơ. Báo chí đối lập càng bị tịch thu càng lời, nhờ “ bon” giấy của cơ quan thông tin Mỹ giúp. Đó là chưa nói những số tiền mà người bạn Mỹ kín đáo giúp trong các nhà an toàn có rất nhiều, ở nhiều nơi, kể cả Huế, Đà nẵng, Cần Thơ, dĩ nhiên có rất nhiều ở Saigon, nơi đây có lúc văn phòng chi nhánh của CIA ở Đông Nam Á.

Bốn, một thời sự để đối chiếu về hoạt động muôn mặt của CIA vì một thứ là quyền lợi Mỹ. Tin Reuters của nước Anh, nhân viên CIA đã có mặt tại Libya: trước khi tổng thống Obama ký sắc lịnh hành pháp điều động; trước khi những siêu cường Tây Phương giằn co nên hay không nên viện trợ vũ khí cho quân nổi dậy chống độc tài Gadhafi; trước hai ba tuần trước khi Quốc Hội Mỹ một số vị chỉ trích TT sử dụng không lực lập vùng cấm bay mà không tham khảo Quốc Hội.

CIA đã phái nhân viên sang Libya để tiếp xúc với phe nổi dậy và đánh giá khả năng của lực lượng này. TT Mỹ có đặc quyền cho phép CIA tiến hành các hoạt động bí mật mà không cần phải ký sắc lệnh. Việc làm này Hành Pháp không báo cho Ủy Ban Tình Báo Thượng Viện trước khi xuất phát. Số nhân viên tình báo Mỹ này xâm nhập Libya qua biên giới Ai cập.

Từ đó cho thấy việc Hà nội cho CIA lập văn phòng liên lạc ở Hà nội là một con dao hai lưỡi đối với nhà cầm quyền quá tham nhũng, quá độc tài, quá mang tiếng xấu trên thế giới.

Nhưng đối với phong trào người dân đấu tranh thì lợi nhiều vì bên cạnh bản tường trình của toà đại sứ còn có bản tường trình mật của CIA. Đó là chưa nói việc bí mật yểm trợ để VN có đối lập, có tự do, dân chủ./.( Vi Anh)

Posted: Mon Apr 11, 2011 5:50 am
by dailien
Xin cảm ơn Toà án Nhân dân Hà Nội!

Lâm Thế Nguyên (ĐVDVN)


Nhờ phiên xử thô bạo của toà án nhân dân Hà Nội với Ts. Cù Huy Hà Vũ, phong trào đấu tranh chống chế độ độc tài, tham ô và bất công đã lên cao nhanh chóng và mạnh mẻ ở ngoài và trong nước. Qua vụ án này, dư luận Việt Nam cũng như quốc tế đã có đủ yếu tố để có một thái độ dứt khoát hơn với đảng cầm quyền độc tài CSVN -- một điều mà các tổ chức đấu tranh dù có cố công thực hiện cũng không thể nào đạt được kết quả tốt đẹp như vậy. Rõ ràng là các nhà đấu tranh phải cần cảm ơn Toà án Nhân dân Hà Nội!

Nay là thời điểm mà 36 năm trước (30/4/1975) xe tăng Cộng sản Bắc Việt đã cán sập cổng Dinh Độc Lập, đánh dấu ngày chấm dứt nền Đệ Nhị Cộng Hoà. Trong hơn ba thập niên qua, nhiều nỗ lực đấu tranh dưới nhiều tầm vóc và hình thức khác nhau đã được thực hiện, từ vũ trang đến chính trị. Tuy nhiên trong thực tế, phần lớn sự suy yếu của chế độ, có nghĩa là sự thuận lợi của phong trào đấu tranh giải Cộng, lại xuất phát từ chính những chính sách, hành động phản dân, hại nước của đảng cầm quyền. Trong lần này, đảng CSVN đã tự phá vỡ một thành trì bảo vệ đáng kể nhất: sự trung thành của những người có công hay liên hệ mật thiết với chế độ. Trường hợp Ts Hà Vũ là một điển hình.

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ không phải là người trực tiếp có công với đảng cầm quyền, nhưng thân sinh Ông là người gắn liền với thế hệ đầu tiên khởi công xây dựng chế độ. Bản thân Ông, đúng ra cũng có thể là một thứ "Thái Tử" nào đó, có thể có tương lai không kém gì Nông Quốc Tuấn (con ông Nông Đức Mạnh) hay Nguyễn Thanh Nghị (con ông Nguyễn Tấn Dũng). Dù không tham chính, Ts Hà Vũ cũng có đầy đủ điều kiện để thành công to lớn và có địa vị đáng kể trong xã hội, nhất là bên cạnh Ông còn có người vợ trí thức đồng tâm là nữ Luật sư Nguyễn thị Dương Hà, và em ruột là nữ luật sư Cù thị Xuân Bích. Nhưng trước thực trạng đáng "bức xúc" của đất nước, Ông đã hành xử đúng theo tinh thần của người trí thức có lương tâm và trách nhiệm: lên tiếng cho nhân quyền, lẽ phải và sự công bằng. Hệ quả của việc làm đáng trân trọng đó là Ông bị tuyên án 7 năm tù giam, cộng 3 năm quản chế.

Nhìn từ góc cạnh nhân quyền bình thường, dư luận trong và ngoài nước, kể cả phía quốc tế, đều đã lên án vụ án phản nhân quyền này một cách mạnh mẽ.

Nhìn một cách sâu sắc hơn nữa về mặt chính trị, người ta còn thấy được vụ án này đã mặc nhiên giúp phá vỡ những chướng ngại tâm lý vốn tồn đọng từ nhiều năm qua. Đó là một số thành kiến sai lầm giữa Bắc và Nam, cũng như giữa Cộng Hòa và Cộng sản. Nhờ sự lên tiếng mạnh dạn, bộc trực của Ts. Hà Vũ, nhiều ranh giới tâm lý đã được hoá giải, giúp cho các thành phần dân tộc đứng gần với nhau hơn trên trận tuyến đấu tranh giải trừ nạn độc tài, tham ô và bất công đang hoành hành ở nước ta.

Một điểm quan trọng khác là thái độ bất khuất, anh hùng của Ts Hà Vũ trong suốt thời gian trước khi bị bắt, khi bị giam, và ngay cả lúc đối diện với hội đồng xét xử. Thái độ không nhận tội hay đầu hàng chế độ độc tài của Ông đã giúp phục hồi niềm tin đối với thành phần trí thức của nhiều giới đồng bào, kể cả tập thể đồng bào tỵ nạn CS đang sinh sống ở ngoài nước.

Thái độ dấn thân và chấp nhận hy sinh của Ts Hà Vũ đặt các tầng lớp trẻ, đặc biệt là lớp trí thức, vào một hoàn cảnh phải có thái độ rõ ràng hơn. Tại sao một người trí thức, là con cái gia đình công thần của chế độ, mà còn dám xông pha đấu tranh, bất chấp sự thiệt hại cho bản thân và gia đình? Nếu thái độ của Ts Cù Huy Hà Vũ là đúng, thì những người trí thức khác đứng ở vị trí nào trong công cuộc đối đầu với độc tài, tham ô và bất công? Một thách thức tự nhiên rất hợp lý.

Nhưng tất nhiên, riêng sự dấn thân của Ts Hà Vũ chưa đủ để khơi dậy hào khí đấu tranh, nếu như không có phiên toà thô bạo, phi lý #4411 (04/04/11). Bản án 7 năm tù + 3 năm quản chế dành cho một người trí thức trẻ đấu tranh chống độc tài, tham ô và bất công một cách ôn hoà, đặc biệt là với một trình tự xử án vi luật, vi hiến nghiêm trọng... đã châm ngòi cho hàng chuỗi sự lên án, chống đối mạnh mẽ trên khắp thế giới. Ông thẩm phán Nguyễn Hữu Chính (Chủ toạ Hội đồng Xét xử vụ án Cù Huy Hà Vũ) thật ra cũng chỉ là một nạn nhân của chế độ, phải thừa hành lệnh Bộ Chính trị đảng CSVN để tuyên án TS Hà Vũ. Đối tượng đáng nguyền rũa là đảng CSVN -- tác giả của bản án tiền chế.

Trong những năm gần đây, hàng ngũ cán bộ, công an CSVN đã vô tình tiếp tay cho phong trào đấu tranh chống chế độ bằng chính những hành động ngu xuẩn, bất nhân, phi lý.... tiếp tục xảy ra từ Bắc chí Nam.

Những vụ công án đánh đập, giết người vô cớ; những vụ án thô bạo, bất công; những lời tuyên bố vô liêm sĩ, trái đạo đức từ những người có chức vụ lãnh đạo cao nhất cho đến những tên công an ngu dốt và tàn ác... đã mặc nhiên giúp cho chính nghĩa đấu tranh giải thể chế độ Cộng sản được sáng ngời thêm.

Vụ án xử Ts Cù Huy Hà Vũ là một vụ án lịch sử, đánh dấu một giai đoạn đấu tranh quyết liệt giữa Dân chủ với Độc tài, giữa Thiện với Ác, và giữa Lẽ phải với Bất công.

Đã đến lúc để người Việt Nam ở trong và ngoài nước đồng tâm đẩy mạnh công cuộc đấu tranh giải trừ quốc nạn độc tài, tham ô và bất công ở nước nhà với lời dạy bất hủ của cụ Nguyễn Trãi: Đem Đại Nghĩa để thắng hung tàn, lấy Chí Nhân mà thay cường bạo.

Xin cảm ơn Toà Án Nhân Dân Hà Nội đã giúp thể hiện rõ nét hơn bản chất của chế độ độc tài và làm sáng ngời thêm chính nghĩa đấu tranh giải Cộng!

Lâm Thế Nguyên (ĐVDVN)

LINK: http://www.vidan.info/editorial/125-qd2 ... -1799.html

Posted: Tue Apr 12, 2011 2:58 am
by quaichao
Khổng Tử thay Mao

Ngô Nhân Dụng


Sau trận động đất ở Nhật Bản, một ký giả tờ Trung Ương nhật báo của Nam Hàn mô tả: “Hầu như không thấy có một người Nhật nào gặp phải thảm cảnh này mà khóc lóc than van. Cũng không nghe nói có chuyện thừa cơ trong lúc lộn xộn vì động đất để giết người cướp của.” Nói với đồng bào người Hàn quốc, ký giả viết: “Chúng ta vẫn còn phải học hỏi nhiều từ Nhật Bản, và còn xa chúng ta mới có thể trở thành một nước tiên tiến (như họ).”

Trong mục này bài trước đã dẫn những lời khen tương tự của ông Vương Hy Văn, ký giả Hoàn Cầu Thời Báo của đảng Cộng Sản Trung Quốc. Khi chứng kiến hành vi của dân Nhật sau trận động đất, ông thốt lên: “50 năm nữa người Trung Quốc cũng chưa thể có trình độ dân trí và ý thức công dân cao như người Nhật hiện nay.” Ông phải thú nhận: “Tôi hổ thẹn mình là con cháu của Khổng Tử nhưng không hiểu cái đạo Nhân Nghĩa bằng họ.”

Có thể nói Khổng Giáo là một gia tài văn hóa chung của các nước Á Ðông. Tại Việt Nam, trước cửa trường Trung học Trương Vĩnh Ký ở Sài Gòn năm xưa có đôi câu đối, vế đầu là “Khổng Mạnh Cương Thường Tu Khắc Cốt.” Khi chúng ta nhắc nhau hãy noi theo tấm gương của những Chu An, Nguyễn Trãi, Nguyễn Ðình Chiểu, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, không ai quên rằng tất cả các bậc tiền nhân đó đều được đào tạo trong “Cửa Khổng Sân Trình” và họ không bao giờ từ bỏ gia tài văn hóa đó để theo một chủ nghĩa ngoại lai nào cả.

Trung Quốc và Hàn Quốc là hai quốc gia bị quân đội Nhật Bản chiếm đóng nhiều năm và áp dụng những chính sách rất tàn bạo. Ai cũng biết hai dân tộc đó rất quật cường, nhưng các khái niệm Nhân Nghĩa, Trung Tín, mà hiện nay họ vẫn dạy trong các trường học đều xuất phát từ Nho Giáo. Khi nhìn thấy những cảnh đáng khâm phục ở nước Nhật, các ký giả trên đã thành thực nói lên ý nghĩ của mình mà không sợ đồng bào của họ chỉ trích. Nếu không biết thán phục những cái hay của người khác thì cũng không ý thức được cái dở của mình, và không bao giờ sửa đổi được.

Trong khi ở Nhật Bản và Nam Hàn Nho giáo vẫn được kính trọng và được dạy dỗ cho giới trẻ, thì ở chính trong nước Trung Hoa số phận ông Khổng Tử không được may mắn như vậy. Chế độ Mao Trạch Ðông đã quét sạch các “tàn tích” của Nho giáo, để thay thế bằng những giáo điều mới của Marx và Lenin, qua lời dẫn giải của Mao Trạch Ðông. Ký giả Vương Hy Văn chắc cũng biết rằng nếu đồng bào Trung Hoa của ông đã không thi hành đạo Nhân Nghĩa của Không Tử được bằng người Nhật, thì đó là do đảng Cộng Sản gây ra. Ở Việt Nam cũng vậy. Vừa rồi một ông ngoại trưởng Nhật Bản phải từ chức sau khi thú nhận đã vô tình nhận một món tiền ủng hộ tranh cử sai luật, vì do một người di dân không có quốc tịch Nhật đóng góp. Số tiền chỉ đáng 600 đô la Mỹ. Nhưng các quan chức Trung Quốc và Việt Nam ăn hối lộ hoặc tẩu tán tài sản công, hàng chục triệu Mỹ kim, hoặc hàng tỷ Mỹ kim như trong vụ Vinashin, thì không sao cả!

Ðầu năm 2011, trước khi ông Hồ Cẩm Ðào sang thăm nước Mỹ, một bức tượng Khổng Tử cao 8 mét được dựng lên tại Quảng trường Thiên An Môn, đối diện với cái lăng trưng xác ướp của Mao Trạch Ðông. Nhật báo Nhân Dân đã mở cuộc trưng cầu ý kiến độc giả, có hơn 800 ngàn người góp ý kiến, và 62% họ không đồng ý việc dựng pho tượng này! Tỷ số này đáng ngạc nhiên, vì trong hai mươi năm qua đảng Cộng Sản đã bắt đầu cho Khổng Từ “sống lại” rồi. Hội Khổng Học đã được chính thức thành lập năm 1990, sau biến cố Thiên An Môn đẫm máu dân lành. Chủ Tịch Giang Trạch Dân tới khai mạc hội này, đã hãnh diện kể chuyện rằng chính ông ta hồi nhỏ vẫn được thân phụ lén lút dạy Tam Tự Kinh: “Nhân chi sơ tính bản thiện,” một câu trong Luận Ngữ!. Một chương trình ti vi do Giáo Sư Vu Ðan phụ trách bàn về Luận Ngữ rất được hâm mộ. Sau cô đã xuất bản thành sách, tựa đề “Luận Ngữ Tâm Ðắc” bán ngay được mười triệu cuốn; cô được mời đi khắp thế giới thuyết trình; bản dịch tiếng Anh tựa là “Confucius From The Heart.” Căn cứ vào các sự kiện đó, phải nói là người Trung Hoa hiện nay cũng thiết tha muốn học lại nền tảng đạo đức của Nho Giáo. Sau khi đã bỏ qua các Sách Ðỏ của Mao, họ cũng muốn lấp vào khoảng trống tinh thần đó những lời nhân nghĩa, đạo đức, thay vì chỉ học “làm giầu là vinh quang” như ông Ðặng Tiểu Bình dạy!

Chúng ta có thể hiểu tại sao gần hai phần ba độc giả góp ý với báo Nhân Dân không đồng ý với việc dựng pho tượng Khổng Tử; nếu biết họ là những người nào. Ai cũng biết chỉ các cán bộ cộng sản cấp cao mới chịu bỏ thời giờ đọc báo Nhân Dân, để xem “các cụ ở trên” đang nói gì! Sau hơn nửa thế kỷ nghe bộ máy tuyên truyền bài bác, đả kích, bôi nhọ Nho giáo, các cán bộ này không thể hiểu tại sao bây giờ hình ảnh Khổng Tử lại được tôn kính như vậy!

Nhưng câu chuyện Giang Trạch Dân trên đây cho thấy ngay dưới chế độ Mao Trạch Ðông, người dân bình thường vẫn tôn kính Khổng Tử. Phần lớn thế hệ những người cầm đầu đảng Cộng Sản cũng đã được cha mẹ dạy Nho giáo, ảnh hưởng của nền giáo dục cổ truyền vẫn rất sâu đậm. Một lãnh tụ cộng sản biết bắt chước ngôn ngữ Nho giáo sớm nhất là Lưu Thiếu Kỳ. Trong cuốn “Ðể làm một người cộng sản tốt” do ông soạn (Như hà tố nhất cá hảo đích cộng sản chủ nghĩa, 1949). Lưu Thiếu Kỳ đã dùng động từ Tố, theo chữ Tố Nhân, nghĩa là Làm Người mà Nho giáo hay dùng. Lưu Thiếu Kỳ còn liệt kê những khẩu hiệu “Cách vật, Chí tri, Chính tâm, Thành ý, Tu thân, Tề gia, Trị quốc, Bình thiên hạ” trong sách Ðại Học, một trong Tứ Thư. Ông nói các đảng viên cộng sản phải học thuộc các khẩu hiệu mới, giống như nhà Nho xưa vẫn thuộc lòng các khẩu hiệu Tu Tề Trị Bình! Muốn thúc đẩy các đảng viên “học tập tốt,” ông còn trích dẫn lời Trình Tử đời Tống, “Ngô nhật tam tỉnh ngô thân,” (Mỗi ngày tôi tự hỏi tôi ba điều) để nói đảng viên cộng sản phải bắt chước mà “học tập” và “tự phê bình!”

Nhưng một “hảo cộng sản” như Lưu Thiếu Kỳ vẫn không được yên. Năm 1966, ông bị Mao hất ra khỏi hàng ngũ lãnh đạo. Ðến thời Cách Mạng Văn Hóa, bộ máy tuyên truyền của Mao Trạch Ðông đả kích cuốn “Cẩm nang đảng viên” của Lưu Thiếu Kỳ, tố cáo ông ta là kẻ đã muốn phục hồi “Chủ nghĩa Cá nhân” của Khổng giáo! Lưu bị bắt giam rồi chết trong ngục tối.

Tất nhiên Khổng Tử cũng không được yên. Cuối thời kỳ Cách Mạng Văn Hóa, nhóm Tứ Nhân Bang được lệnh Mao đã mở chiến dịch “Phê Lâm Phê Khổng.” Mục tiêu thứ nhất là để xóa trong trí nhớ người Trung Hoa mối sai lầm của Mao khi chọn Lâm Bưu làm “đông cung thái tử.” Lâm đã viết lời tựa cho Cuốn Sách Ðỏ của Mao, được coi như tài liệu học tập tương đương với cuốn sách “Luận Ngữ” của Khổng Tử đời xưa. Lâm Bưu đã được Mao chỉ định sẽ lên kế vị, điều này được ghi cả vào cương lĩnh đảng. Tháng 9 năm 1971, con trai Lâm Bưu tính đảo chính lật đổ vợ chồng Mao nhưng bị lộ, cùng bố mẹ chạy trốn, chết trong tai nạn máy bay trên đường sang Nga. Mãi một năm sau, người Trung Hoa ở lục địa mới biết Lâm Bưu đã chết. Rồi đến năm 1973, chiến dịch Phê Lâm Phê Khổng bắt đầu; mục tiêu thứ hai cốt nhắm đánh vào Thủ Tướng Chu Ân Lai. Khổng Tử bị phê là một “tên phản động.”

Tại sao Khổng Tử bị gán tội phản động? Mao đã phân chia các thời kỳ trong lịch sử Trung Hoa theo Duy vật Lịch sử của Karl Marx. Thời Xuân Thu được gọi thời kỳ Trung Quốc đang chuyển từ chế độ Nô lệ sang chế độ Phong kiến mà nền tảng là giai cấp các địa chủ. Khổng Tử bị tố cáo là “tên phản động” vì ông muốn bảo vệ quyền lợi tầng lớp quý tộc, chống giai cấp đang lên thiết lập chế độ “địa chủ chuyên chính” trong lịch sử! Năm 1974, phong trào “Phê Lâm Phê Khổng” được đẩy lên tột đỉnh. Tất cả các chi bộ đảng được lệnh học tập đấu tranh. Không những Khổng Tử bị đấu mà cả đến Beethoven và Shubert cũng bị liệt vào hàng ngũ phản động nữa! Lâm Bưu được gắn cho nhãn hiệu là một trong số nhiều ông “Khổng Tử Ðương Ðại!” Chu Ân Lai cũng được xếp loại như một “Khổng Tử Con,” nhưng may mắn ông ta bị ung thư đang nằm chờ chết cho nên không bị đem ra đấu trường.

Trong lúc đó, chính quyền Trung Hoa Dân Quốc khi còn ở lục địa cũng như khi chạy qua Ðài Loan vẫn tuyên dương Nho giáo. Năm 1948, khi Liên Hiệp Quốc soạn thảo bản Tuyên Ngôn Nhân quyền, phái đoàn Trung Hoa Quốc gia đã nhất thiết yêu cầu ghi được vào Lời Nói Ðầu một lời của Khổng Tử: “All Men are brothers,” dịch câu “Tứ hải chi nội giai huynh đệ,” (Luận Ngữ, chương XII Nhan Uyên, câu số 2). Ðến khi chính quyền Trung Cộng được vào Liên Hiệp Quốc thay thế Trung Hoa Dân Quốc vào cuối năm 1972, đại diện của Bắc Kinh đã kịch liệt công kích việc ghi tên Khổng Tử trong bản Tuyên Ngôn; họ muốn xóa bỏ đi! Vì cũng trong thời gian đó, chiến dịch Phê Lâm Phê Khổng sắp được Mao phát động!

Với những thành tích chống Khổng Mạnh quá khứ như thế, bây giờ Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Trung Quốc định sử dụng Khổng Tử vào mục đích củng cố chế độ chuyên chế độc đảng. Nhưng rồi họ sẽ thất bại. Vì khi được học hỏi, nghiên cứu và trao đổi với thế giới bên ngoài một cách tự do, người Trung Hoa sẽ thấy: Khổng Tử, Mạnh Tử không phải là những người ủng hộ một chính quyền chuyên chế, ngay trong thời đại của họ, dưới chế độ quân chủ và phong kiến. Chủ trương “tôn quân quyền” tuyệt đối chỉ bắt đầu xuất hiện từ đời Hán, ba, bốn thế kỷ sau thời Khổng, Mạnh. Dân Nhật Bản vẫn coi Khổng Tử là một vị thầy muôn đời nhưng tất cả mọi người Nhật vẫn tuân thủ một hiến pháp tự do dân chủ, không có điều gì mâu thuẫn cả

Người Trung Hoa ở lục địa cũng như người Việt Nam trong nước, vẫn có thể học được những quy tắc đạo lý mà Nho Giáo đã truyền bá suốt hai ngàn năm, mà không cần phải nhắm mắt tuân theo ý muốn của những kẻ nắm quyền, như ý đồ của Cộng Sản Trung Quốc. Người ta có thể học các quy tắc Trung Tín, Nhân Nghĩa, Chánh Trực Quang Minh, vân vân, mà không cần phải nhắc đến tên Khổng hay Mạnh! Chính những quy tắc đạo đức đó, khi được đem giảng dạy trong trường hy vọng sẽ thay đổi cách sống của thế hệ thanh niên mới lớn. Sau một vài thế hệ, thanh niên ở Việt Nam và Trung Quốc sẽ được đào tạo trong môi trường đạo lý không khác gì những người dân Nhật Bản ngày nay. Nhưng muốn cho họ không những học mà còn thực hành các quy tắc nhân nghĩa, thì tất cả guồng máy cai trị từ trên xuống dưới phải thi hành các quy tắc đó trước. Nếu không thì cảnh “nhà dột từ nóc dột xuống” sẽ khiến cho xã hội vẫn chìm đắm trong cảnh vô đạo! Nói theo lối nhà Nho, đó là “Thượng bất chính, hạ tắc loạn!”

Posted: Wed Apr 13, 2011 3:13 am
by khieulong
Người đâu? Người đây!

Tạ Phong Tần
(Nguồn: Blog TạPhongTần)


Lâu nay, đọc báo nhà nước thấy “nhà nước ta” cứ than thở không đủ người làm việc, không đủ cán bộ chống buôn lậu bảo vệ nền kinh tế nước nhà, bảo vệ tính mạng người dân mà thấy thương “nhà nước ta” đáo để.

Nào là: “Càng gần Tết, hàng lậu bắt không xuể bởi lực lượng chức năng không đủ người để ngăn chặn tất cả các hướng xâm nhập của dân buôn lậu”. (Buôn lậu nóng vùng biên - Báo Tuyên Quang - 30/12/2010). Rồi “2 tháng cuối năm Âm lịch là thời điểm hoạt động nhộn nhịp nhất của dân buôn lậu. Vì món lời lớn, dễ tiêu thụ nên họ đã bất chấp pháp luật để làm liều. Các cơ quan chức năng luôn kêu ca không đủ người để kiểm soát buôn lậu”. (Thể Thao & Văn Hóa - 21/01/2011)

Ở biên giới Tây Nam, xăng dầu thoải mái xuất lậu ồ ạt sang bên kia biên giới mà “nhà nước ta” thì bó tay, bắt xăng lậu như bắt cóc bỏ dĩa.

Không phải là cán bộ loại xoàng “kêu” thiếu người chung chung, mà là “quan chức đáng kính” hẳn hoi “kêu” nhé. Ông Phùng Quang Hội - chi cục trưởng Chi cục Hải quan Tân Thanh nói: “Tôi vừa phải tăng cường 5 cán bộ chi viện cho Cốc Nam. Thiếu cán bộ quá. Cửu vạn hàng lậu thì nhiều, ‘chim lợn’ thì lắm. Anh em ‘trần mình’ rét mướt để đấu tranh nhưng cũng không thể ngăn chặn triệt để”. (Gia Ðình - 28/01/2011).

Ðây là nói về mặt trận chống buôn lậu các loại ở khu vực biên giới phía Bắc, biên giới Tây Nam. Thời gian gần đây, không ít vụ tai nạn đường sắt thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản đã xảy ra, nhưng việc ngăn chận, phòng ngừa tai nạn trong thời gian tới thì... phó mặc cho trời. Ông Nguyễn Văn Bình - trưởng ban an toàn giao thông đường sắt Tổng công ty Ðường sắt Việt Nam nói: “Dù biết nguyên nhân chủ yếu của tai nạn đường sắt xuất phát từ đường ngang bất hợp pháp, nhưng nếu chỗ nào cũng lập rào chắn thì ngành đường sắt không đủ người”. (Tuổi Trẻ - 01/04/2011)

“Một nguyên nhân khác cũng tạo điều kiện cho rác công nghiệp nhập ồ ạt vào nước ta ở sự quá mỏng lực lượng cảnh sát môi trường, hải quan không đủ người, cộng với sự thiếu thốn phương tiện kiểm tra”. (Dân Việt - 25/10/2011)

Ðại khái là mỗi khi làm chuyện gì vì lợi ích của dân thì các quan kêu: Thiếu người làm nên tình hình mới tệ như vậy. Chúng tôi cũng muốn làm đúng pháp luật nhưng lấy đâu ra người làm. Người đâu?

Cứ tưởng “nhà nước ta” thật sự thiếu người làm việc công ích (được trả lương đàng hoàng), thôi tự an ủi nhau cố gắng lạc quan yêu đời dù cho phải mua hàng dỏm nhập lậu, dù phải chịu “sống chung với rác”, dù mỗi ngày ra đường là một cuộc chơi “Vượt lên tử thần”... nhưng biết làm sao được. Dân Việt Nam phải hiểu và thông cảm với “nỗi khổ” của “nhà nước ta” vì thiếu người làm việc mà.

Thế nhưng, qua những phiên tòa được ghi rõ trong quyết định đưa vụ án ra xét xử là “xét xử công khai” của “nhà nước ta” thời gian gần đây thì thực tế không phải như vậy. Từ vụ án của blogger Ðiếu Cày năm 2008, vụ án 8 giáo dân Thái Hà năm 2009, vụ án của Luật Sư Lê Công Ðịnh năm 2010, vụ án các giáo dân Cồn Dầu năm 2010, và ngày đám tang ông Trịnh Xuân Tùng (Hà Nội)... Mới nhất là vụ xử ông Tiến Sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ ở Hà Nội ngày 4/4/2011, cho thấy thực tế lực lượng chìm nổi của “nhà nước ta” bên ngoài tòa án rất hùng hậu, “đông như rươi” với đủ loại binh chủng. Còn bên trong phòng xử, ngoài lực lượng bảo vệ mặc sắc phục, ngoài vợ ông Vũ là thân nhân duy nhất của bị cáo được phép vào phòng xử, thì những người mặc thường phục ngồi đầy kín phòng xử cũng đều là “phe ta” được chọn lọc kỹ càng để vào đấy cả, ngoài phóng viên “lề phải”, phóng viên quốc tế (được phép) vào phòng kế bên phòng xử để xem “truyền hình chất lượng kém” thì đố có thằng dân đen nào lọt vào được.

Image
Tiến Sĩ Cù Hà Huy Vũ (giữa, quay lưng) bị đưa ra tòa và bị kết án 7 năm tù cộng thêm 3 năm quản chế, ngày 4 Tháng Tư. (Hình: Bee.net)
Bà Nguyễn Thị Dương Hà nói: “Bản thân tôi, vợ của Cù Huy Hà Vũ, tôi là người duy nhất trong gia đình được có mặt trong phiên xử hôm nay. Cả dòng tộc nội, ngoại, Cù Huy hay Ngô Xuân, không một ai được phép vào dự phiên xử gọi là công khai. Ðây là điều hoàn toàn vi phạm về tố tụng. Bản thân tôi ngồi trong phiên tòa cũng có một cô đeo biển số 47. Cô này tự nhận là công an được trao nhiệm vụ giám sát tôi. Tôi có nói với cô ấy rằng: ‘Tôi có phải là phạm nhân đâu mà giám sát tôi?’ Tôi muốn nói rằng, động vào chỗ nào là chỗ ấy là vi phạm về tố tụng, vi phạm pháp luật”.

Các phiên xử trước đó (những vụ được liệt kê ở trên) “thành phần tham dự” bên trong lẫn bên ngoài tòa án cũng đều như thế.

Cứ nhìn vào các bức hình, video được “phóng viên nhân dân” post lên mạng Internet mà xem. Hình ảnh, phim phèo cho thấy “lực lượng ta” hoàn toàn dư quân số, dư khả năng (gồm con người, vũ khí, phương tiện hỗ trợ, xe cộ, chó nghiệp vụ, máy phá sóng...) bao vây, trấn áp, khủng bố đám đông quần chúng cả mấy ngàn người dân muốn tham dự phiên tòa hay đưa tiễn người quá cố chết oan ức về nơi an nghỉ cuối cùng. Máy móc của “lực lượng ta” thừa khả năng làm “ngủm củ tỏi” tất cả các USB 3G của toàn bộ đám nhà báo “lề phải” được vào bên trong phiên tòa thì mấy cái máy định vị GPRS bọn buôn lậu dùng để báo động chả là cái thá gì so với các phương tiện hiện đại được bố trí vây quanh tòa án của “nhà nước ta”.

Thông tin từ gia đình Luật Sư Lê Quốc Quân và Bác Sĩ Phạm Hồng Sơn tại Hà Nội cho biết hai ông bị bắt giữ và khám xét nhà vì hành vi “gây rối trật tự công cộng” và “chống người thi hành công vụ” ở khu vực tòa án (nơi xét xử ông Vũ). Nếu quả thật ông Quân, ông Sơn có phạm tội thì tài sản cá nhân và nhà của 2 ông liên quan gì đến hành vi phạm tội đó mà “người nhà nước” phải xông vào lục soát?

Kết quả thấy rõ ràng là “lực lượng ta” đã “thành công tốt đẹp”, “hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” ngăn cản đám đông thường dân này, khiến cho bọn chúng không thể nào tiếp cận hàng rào tòa án, nói gì đến vào phòng xử, còn bên trong thì “quân ta” làm chủ tình hình, hễ khi nào “phe ta” nói thì dàn loa phát âm thanh tốt, còn bị cáo và luật sư của bị cáo nói thì “âm thanh bị trục trặc”, bọn bên ngoài đếch biết bên trong nói cái gì, “phe ta” tha hồ viết bài (láo khoét) đăng báo vung vít.

Ðó là chưa liệt kê hết tổng số cái loại “được trả lương” để suốt ngày mặc đủ kiểu thường phục, đội nón sùm sụp, đeo kính che mặt... ngồi rình quanh tư gia những người Việt Nam hay “vạch áo nhà nước ta cho dân xem mụt ghẻ”. Mỗi “ca rình” ít nhất 2 tên, một ngày 24 giờ vị chi có ít nhất 6 tên, nhân cho số “tư gia đặc biệt” sẽ có cả trung đoàn chứ chẳng chơi.

Ðến đây thì rõ rồi, quý vị quan chức có trách nhiệm chống buôn lậu, quý vị có trách nhiệm chống rác lậu, quý vị có trách nhiệm bảo vệ môi trường, quý vị có trách nhiệm bảo vệ đường sắt... Xin quý vị đừng có lên báo mà kêu ca điệp khúc “thiếu người” nữa. Làm gì có chuyện thiếu người, dư người nữa là đằng khác. Người ở đây chứ ở đâu, quý vị cứ việc đến ngay các phiên tòa, hay đến các “tư gia đặc biệt” thì sẽ thấy có ối “người nhà nước” ăn tiền dân rồi vô công rỗi nghề ngồi rình mò xung quanh suốt ngày. Quý vị cứ bảo bọn họ đi canh gác biên giới, canh gác những doanh nghiệp thích xả thải ẩu, canh gác đường tàu... sẽ có ích nước lợi dân hơn nhiều, lại được dân khen, chớ đi làm chi mấy chuyện rình mò, đàn áp dân chúng kiểu xã hội đen chỉ tổ phải chui rúc giấu mặt thiệt là cực khổ.

Cần nhấn mạnh rằng mấy cái việc cản trở người dân tham gia phiên tòa công khai, cướp đoạt tài sản hợp pháp của công dân (điện thoại, máy ảnh, máy ghi âm, USB...), cản trở báo chí tác nghiệp, cản trở người ta dự đám tang, hay rình rập nhà dân... đều là hành vi trái pháp luật Việt Nam và trái với các công ước quốc tế mà chính phủ Việt Nam đã tham gia ký kết. Ðiều phi lý ở Việt Nam hiện nay là làm việc ích quốc lợi dân, làm việc đúng pháp luật thì thiếu người, không có người, nhưng làm việc trái pháp luật thì “nhà nước ta” lại quá dư thừa người.

Chính cán bộ, quan chức “nhà nước ta” còn lên báo tự nhận xét về mình là: “Nói một đàng làm một nẻo”. Ngày xưa, ông cha người Việt có câu: “Miệng quan trôn trẻ” tuy xưa lắc xưa lơ, nhưng đến giờ chẳng hề thấy lạc hậu gì hết, mà xem chừng câu này càng ngày càng trở thành “hot thành ngữ” nữa á!

Posted: Fri Apr 15, 2011 5:04 am
by vuphong
Thỏa hiệp ngân sách có gây hại cho sự phục hồi kinh tế?

Nguyên bản Anh ngữ: Stephen Gandel/TIME
Chuyển ngữ: Vann Phan/Người Việt


Hầu hết mọi người dường như đều đồng ý rằng tránh được việc đóng cửa chính phủ vào giờ chót có thể sẽ gây hại cho nền kinh tế. Nhưng câu hỏi ở đây là liệu đạt được thỏa hiệp về ngân sách để tránh việc đóng cửa chính phủ có gây nguy hại cho nền kinh tế nhiều hơn việc Washington phải đóng cửa, tắt đèn hay không?
Image
Tổng Thống Barack Obama loan báo đã đạt được thỏa thuận ngân sách với Quốc Hội, tránh cho chính phủ liên bang khỏi đóng cửa, ngày 8 tháng 4.
(Hình: Joshua Roberts-Pool/Getty Images)



Thỏa hiệp ngân sách giữa Tổng Thống Obama và Chủ Tịch Hạ Viện John Boehner cùng với các nhà lập pháp Cộng Hòa khác vào dịp cuối tuần qua sẽ cắt giảm đi $38.5 tỉ trong mức chi tiêu của chính phủ vào năm tới. Nhìn chung, khi chính phủ tiêu pha ít thì nền kinh tế tiến triển chậm lại, cũng y như khi người tiêu thụ hoặc các công ty sản xuất tiêu pha ít đi. Cuối cùng thì đó là lý do khiến nhiều người nghĩ rằng việc đóng cửa chính phủ, tức là tạm thời cắt giảm mức tiêu pha của chính phủ và cho nghỉ phép 800,000 công nhân, viên chức, có thể sẽ làm hại cho nền kinh tế đất nước.

Thomas Lam, kinh tế gia chuyên về Hoa Kỳ của tổ hợp OSK-DMG Economics Group có trụ sở tại Singapore, nói rằng thỏa thuận ngân sách có thể làm giảm mức tăng trưởng GDP (tổng sản lượng quốc gia) xuống ít nhất là 0.4%. Tỉ lệ thất nghiệp, mà mới đây ở mức 8.8%, có thể lên cao thêm từ 0.2% tới 0.4% sau khi có thỏa thuận ngân sách. Và kinh tế gia Lam không phải là người duy nhất suy nghĩ như vậy. Và ông cũng không phải là người âu lo nhất trong số các chuyên gia. Diane Swonk, trưởng ban kinh tế tại tổ hợp Mesirow Financial có trụ sở tại Chicago, nói rằng ảnh hưởng tiêu cực của vụ thỏa thuận ngân sách có thể lên cao gấp đôi ước tính của Lam, tức là tới 0.9%. Bà ước lượng rằng mức tăng trưởng GDP sẽ đạt 3.3% trong năm 2011, tức là giảm mất 4.3% so với tính hình nếu không có thỏa thuận ngân sách.

Nhưng điều lạ lùng là chẳng có ai nghĩ chuyện thỏa thuận ngân sách sẽ làm hại cho nền kinh tế cả. Một người là Mark Zandi, trên trang mạng Economy.com, nói rằng thỏa thuận ngân sách sẽ chỉ gây hậu quả tối thiểu lên mức tăng trưởng kinh tế Hoa Kỳ. Một số người khác thì nói rằng sự kiện đó còn thúc đẩy gia tăng nền kinh tế và công ăn việc làm nữa. Sau đây là lý do tại sao:

Trước hết, đúng như là Zandi đã chỉ ra, nền kinh tế liên bang hiện khá hơn là cách đây một năm. Vì thế, có lẽ việc cắt giảm phần nào mức tiêu pha của chính phủ sẽ không ai nhận ra khi các công ty và cá nhân khởi sự tiêu pha nhiều hơn. Có lẽ thế. Nhưng khi nhìn đến phần tích cực trong việc cắt giảm chi tiêu của chính phủ, tờ New York Times cũng lặp lại lý luận sau đây để giải thích lý do tại sao những cắt giảm ngân sách có thể làm tăng trưởng nền kinh tế:

Khi chính phủ tiêu pha ít hơn thì chính phủ sẽ vay tiền ít hơn. Khi chính phủ thu ít tiền thuế hơn thì các công ty có thể gia tăng sức chi tiêu và mức đầu tư của họ. Chris Edwards, giám đốc nghiên cứu chính sách thuế tại viện Cato Institute, một tổ hợp tư vấn chủ trương phải cắt giảm mức chi tiêu liên bang, nhận định: “Những cắt giảm này phối hợp với các cắt giảm khác trong chiều hướng cải cách sẽ đem tới các tin lành trên mặt trận tài chính tại Washington cho nền kinh tế, cho công cuộc kinh doanh và cho các nhà đầu tư.”

Thắc mắc của tôi về quan niệm nói trên là các công ty không hề bị trở ngại gì trong chuyện vay tiền. Nên nhớ rằng, hồi năm ngoái, công ty IBM đã chỉ vay có 1% số nợ mà thôi. Bất cứ đại công ty nào cần tiền thì họ đều có thể lấy được tiền đó và lấy được với phân lời thấp chưa từng có trong lịch sử. Vâng, thì cũng có một số ít các công ty không đủ khả năng vay tiền. Và đó chỉ là vì họ không có được uy tín trên thương trường. Và những ai nhìn thấy chỗ tích cực của việc cắt giảm chi tiêu của chính phủ đã lý luận dựa trên cái lợi vì phân lời đang thấp chứ không để ý tới những thành phần thiếu uy tín trên thương trường.

Cuối cùng, lời giải đáp cho câu hỏi liệu cuộc thỏa thuận ngân sách sẽ gây hại hay giúp ích cho nền kinh tế lại chuyển sang tùy thuộc vào cảm nhận của quý vị về mức độ mắc nợ của liên bang. Nếu quý vị tin rằng chúng ta đang ở mức bùng vỡ vì phải đối phó với các vấn nạn nghiêm trọng trong vấn đề liệu chúng ta có đủ sức trả hết mọi khoản tiền mà chính phủ đã vay hay không thì quả đúng là vụ thỏa thuận ngân sách có thể thúc đẩy thêm mức tăng trưởng kinh tế vì nó giữ cho phân lời ở mức thấp. Còn nếu không phải như thế thì vụ thỏa thuận ngân sách này rất có thể sẽ làm chậm đi phần nào mức độ phục hồi kinh tế đất nước. Làm sao chúng ta có thể xác quyết rằng Hoa Kỳ đang ở mức bùng vỡ về nợ nần? Ðây là vấn đề cần phải được bàn đến trong những ngày tới.

Posted: Fri Apr 15, 2011 5:06 am
by vuphong
Thỏa hiệp ngân sách có gây hại cho sự phục hồi kinh tế?

Nguyên bản Anh ngữ: Stephen Gandel/TIME
Chuyển ngữ: Vann Phan/Người Việt


Hầu hết mọi người dường như đều đồng ý rằng tránh được việc đóng cửa chính phủ vào giờ chót có thể sẽ gây hại cho nền kinh tế. Nhưng câu hỏi ở đây là liệu đạt được thỏa hiệp về ngân sách để tránh việc đóng cửa chính phủ có gây nguy hại cho nền kinh tế nhiều hơn việc Washington phải đóng cửa, tắt đèn hay không?
Image
Tổng Thống Barack Obama loan báo đã đạt được thỏa thuận ngân sách với Quốc Hội, tránh cho chính phủ liên bang khỏi đóng cửa, ngày 8 tháng 4.
(Hình: Joshua Roberts-Pool/Getty Images)



Thỏa hiệp ngân sách giữa Tổng Thống Obama và Chủ Tịch Hạ Viện John Boehner cùng với các nhà lập pháp Cộng Hòa khác vào dịp cuối tuần qua sẽ cắt giảm đi $38.5 tỉ trong mức chi tiêu của chính phủ vào năm tới. Nhìn chung, khi chính phủ tiêu pha ít thì nền kinh tế tiến triển chậm lại, cũng y như khi người tiêu thụ hoặc các công ty sản xuất tiêu pha ít đi. Cuối cùng thì đó là lý do khiến nhiều người nghĩ rằng việc đóng cửa chính phủ, tức là tạm thời cắt giảm mức tiêu pha của chính phủ và cho nghỉ phép 800,000 công nhân, viên chức, có thể sẽ làm hại cho nền kinh tế đất nước.

Thomas Lam, kinh tế gia chuyên về Hoa Kỳ của tổ hợp OSK-DMG Economics Group có trụ sở tại Singapore, nói rằng thỏa thuận ngân sách có thể làm giảm mức tăng trưởng GDP (tổng sản lượng quốc gia) xuống ít nhất là 0.4%. Tỉ lệ thất nghiệp, mà mới đây ở mức 8.8%, có thể lên cao thêm từ 0.2% tới 0.4% sau khi có thỏa thuận ngân sách. Và kinh tế gia Lam không phải là người duy nhất suy nghĩ như vậy. Và ông cũng không phải là người âu lo nhất trong số các chuyên gia. Diane Swonk, trưởng ban kinh tế tại tổ hợp Mesirow Financial có trụ sở tại Chicago, nói rằng ảnh hưởng tiêu cực của vụ thỏa thuận ngân sách có thể lên cao gấp đôi ước tính của Lam, tức là tới 0.9%. Bà ước lượng rằng mức tăng trưởng GDP sẽ đạt 3.3% trong năm 2011, tức là giảm mất 4.3% so với tính hình nếu không có thỏa thuận ngân sách.

Nhưng điều lạ lùng là chẳng có ai nghĩ chuyện thỏa thuận ngân sách sẽ làm hại cho nền kinh tế cả. Một người là Mark Zandi, trên trang mạng Economy.com, nói rằng thỏa thuận ngân sách sẽ chỉ gây hậu quả tối thiểu lên mức tăng trưởng kinh tế Hoa Kỳ. Một số người khác thì nói rằng sự kiện đó còn thúc đẩy gia tăng nền kinh tế và công ăn việc làm nữa. Sau đây là lý do tại sao:

Trước hết, đúng như là Zandi đã chỉ ra, nền kinh tế liên bang hiện khá hơn là cách đây một năm. Vì thế, có lẽ việc cắt giảm phần nào mức tiêu pha của chính phủ sẽ không ai nhận ra khi các công ty và cá nhân khởi sự tiêu pha nhiều hơn. Có lẽ thế. Nhưng khi nhìn đến phần tích cực trong việc cắt giảm chi tiêu của chính phủ, tờ New York Times cũng lặp lại lý luận sau đây để giải thích lý do tại sao những cắt giảm ngân sách có thể làm tăng trưởng nền kinh tế:

Khi chính phủ tiêu pha ít hơn thì chính phủ sẽ vay tiền ít hơn. Khi chính phủ thu ít tiền thuế hơn thì các công ty có thể gia tăng sức chi tiêu và mức đầu tư của họ. Chris Edwards, giám đốc nghiên cứu chính sách thuế tại viện Cato Institute, một tổ hợp tư vấn chủ trương phải cắt giảm mức chi tiêu liên bang, nhận định: “Những cắt giảm này phối hợp với các cắt giảm khác trong chiều hướng cải cách sẽ đem tới các tin lành trên mặt trận tài chính tại Washington cho nền kinh tế, cho công cuộc kinh doanh và cho các nhà đầu tư.”

Thắc mắc của tôi về quan niệm nói trên là các công ty không hề bị trở ngại gì trong chuyện vay tiền. Nên nhớ rằng, hồi năm ngoái, công ty IBM đã chỉ vay có 1% số nợ mà thôi. Bất cứ đại công ty nào cần tiền thì họ đều có thể lấy được tiền đó và lấy được với phân lời thấp chưa từng có trong lịch sử. Vâng, thì cũng có một số ít các công ty không đủ khả năng vay tiền. Và đó chỉ là vì họ không có được uy tín trên thương trường. Và những ai nhìn thấy chỗ tích cực của việc cắt giảm chi tiêu của chính phủ đã lý luận dựa trên cái lợi vì phân lời đang thấp chứ không để ý tới những thành phần thiếu uy tín trên thương trường.

Cuối cùng, lời giải đáp cho câu hỏi liệu cuộc thỏa thuận ngân sách sẽ gây hại hay giúp ích cho nền kinh tế lại chuyển sang tùy thuộc vào cảm nhận của quý vị về mức độ mắc nợ của liên bang. Nếu quý vị tin rằng chúng ta đang ở mức bùng vỡ vì phải đối phó với các vấn nạn nghiêm trọng trong vấn đề liệu chúng ta có đủ sức trả hết mọi khoản tiền mà chính phủ đã vay hay không thì quả đúng là vụ thỏa thuận ngân sách có thể thúc đẩy thêm mức tăng trưởng kinh tế vì nó giữ cho phân lời ở mức thấp. Còn nếu không phải như thế thì vụ thỏa thuận ngân sách này rất có thể sẽ làm chậm đi phần nào mức độ phục hồi kinh tế đất nước. Làm sao chúng ta có thể xác quyết rằng Hoa Kỳ đang ở mức bùng vỡ về nợ nần? Ðây là vấn đề cần phải được bàn đến trong những ngày tới.

Posted: Sat Apr 16, 2011 4:07 am
by hoanghoa
BẢY CHUYỆN ‘LẠ’ CỦA VIỆT NAM

ĐINH LÂM THANH


‘Đỉnh Cao Trí Tuệ Loài Người’ và ‘Chiếc Nôi Của Nhân Loại’ là hai tiếng nổ phát xuất từ các kho đạn thiên đường cộng sản. Bọn rừng rú đã dốt lại dùng những chữ dao to búa lớn để lòe thiên hạ thì không thiếu gì chuyện lạ. Chắc chắn rồi đây đảng việt gian cộng sản sẽ đoạt giải vô địch thế giới về tất cả các bộ môn ‘nổ’ và ‘nói phét’. Từ những chuyện thường ngày được nhắc đến mới đây như ‘người lạ’, ‘tàu lạ’ đến ‘bệnh lạ’ ‘thuốc lạ’ ‘thức ăn lạ’…. nhưng thực tế chẳng có gì lạ cả ! Chỉ vì sợ phạm húy, từ quan đến dân không ai dám động tới hai chữ ‘thằng chệt’, nếu người nào vô tình nhắc đến có thể bị đi tù hay mất chỗ đội nón (cối) !



Ai cũng biết rằng, sau ngày ‘thằng chệt’ ngang nhiên kéo quân vào đô hộ Việt Nam theo lời mời của tập đoàn việt gian, cộng sản phải nhập cảng hàng ngàn tấn băng keo đặc biệt để dán mõn từ hàng phó thường dân cho đến bọn quan to súng dài. Từ đó, những gì liên quan đến các hành động ăn cướp giết người của bọn Tàu phù thì phải gọi là chuyện ‘lạ’ từ trời rơi xuống. Không ai được quyền thắc mắc và nhắc đến tên cúng cơm của đồng chí vĩ đại là bọn ‘Tàu ô’ hay còn gọi ‘thằng Chệt’ ! Những chuyện vưà nêu trên là một số chuyện lạ có tính cách ‘nội bộ’ Việt Nam, và chắc chắn trong tương lai, các vị học giả sẽ viết thêm nhiều chuyện lạ nữa để dành cho các thế hệ mai sau. Bài viết hôm nay, tôi xin phép đưa ra bảy chuyện ‘lạ’ có tầm ‘quốc tế’ để giúp cho thế giới mua vui cũng như các bạn trẻ hải ngoại tìm đọc, đồng thời để quý vị giải trí vài phút trong cữ café sáng hay sau một ngày làm việc mệt nhọc.



1. Chữa hoang : Xứ ‘thằng chệt’ trọng nam khinh nữ, do đó con gái sinh ra, nếu cần thì bóp cổ vứt sông là xong chuyện. Vì vậy, việc thiếu đàn bà là vấn nạn trầm trọng của một nước với 1 tỷ 400 triệu người mà trên hai phần ba là đàn ông. Nhưng bọn chúng đã giải quyết êm đẹp bằng cách đưa hàng chục sư đoàn quân đội nhân dân, bọn công an cũng như khuyến khích hàng vạn đàn ông điên khùng bệnh hoạn qua Việt Nam, vừa để giải quyết sinh lý vừa gầy giống… nhằm hợp thức hóa vùng đất đã tịếp thu từ tay bọn cộng sản đàn em ! Chỉ tội cho thân phận đàn bà con gái Việt Nam, lấy thằng chệt nhưng không thể làm hôn thú với đám người ‘lạ’ vô danh ! Rồi vài nằm sau, hàng chục ngàn thằng chệt con chào đời phải mang họ mẹ vì cha là người ‘lạ’ !!! Như vậy Việt Nam sẽ trở thành vô địch thế giới vì có đến hàng trăm ngàn con gái nhà lành mang bầu chính thức nhưng lại bị tiếng làm điếm đẻ con….với người lạ !



2. Dân kho đạn : Không biết số lượng kho đạn tại Miền Bắc có bao nhiêu nhưng dân chúng người nào cũng nổ như bắp rang, nhất là lúc chạy vào hôi của tại Miền Nam ngay sau ngày 30.4.1975. Tôi còn nhớ trong thời gian đi tù, bầy vẹt chính trị cũng như các chú ngố quản giáo đôi lúc hăng tiết vịt, chúng trả lời những câu hỏi ‘thật đểu’ do ‘lính ngụy’ nêu ra. Ví dụ như đề cập đến xe hơi ở Miền Bắc thì được các chú ngố vênh váo trả lời rằng : ‘Ô tô thì ngoài Bắc thiếu gì, chúng chạy đầy đường không còn chỗ cho người đi bộ’. Khi được hỏi đến thực phẩm thì được trả lời : ‘Heo, bò, gà, vịt hằng hà sa số ! Tha hồ ăn, hàng dư thừa phải đem biếu không cho Trung Quốc vĩ đại’…



Và còn một chuyện động trời nữa của cán ngố Miền Bắc, nếu trẻ con nghe được thì chắc chắn cười té ra trong quần : Số là trong thời gian ‘nín thở qua sông’ tại trại tù Kàtum, và, trong lúc kiểm điểm học tập chính trị theo từng tổ, một quản giáo đến tra khảo chữ ‘làm tình’ mà tôi đã gạt tên thượng úy chính trị viên tiểu đoàn, để tên nầy cao hứng đứng dậy vừa vỗ tay vừa hát đi hát lại cùng với anh em tù câu ‘Đêm thì giả gạo ngày vẫn làm tình’ (Đêm thì giả gạo ngày vẫn làm mùa – Bài hát Tiếng chày trên sóc Băm Bô). Sau đó bọn ănten báo cáo với tiểu đoàn ý nghĩa đểu cáng của tôi khi thay đổi vài chữ trong bài hát. Tôi bị gọi lên, tên chính trị viên đập bàn la hét : Địt mẹ mầy ! Đéo thì nói là đéo. Mày dùng chữ của đế quốc để bôi bác cách mạng. Mày hãy lói cho tao biết ‘nàm tình’ và đéo khác nhau ở chỗ lào ? Nhưng rồi chuyện cũng qua sau vài tờ tự kiểm cộng với một ngày bị nhốt trong thùng sắt…Nhưng tên quản giáo của khối còn căm chuyện nầy lắm, hôm nay ngày kiểm điểm của tổ là dịp để nó đến tra khảo tôi thêm một lần nữa. May thay, người bạn cùng tổ đã nhanh miệng đở đòn cho tôi khi tên cán ngố vừa xuất hiện: Thưa cán bộ, nghe nói bọn Mỹ đã lên đến cung trăng rồi phải không cán bộ ? Tên quản giáo trả lời thật nhanh rằng : Chưa chắc, để nhà nước hỏi chú Cuội xem thế nào ! Mấy anh em chúng tôi trố mắt nhìn, hắn nổi sùng nói một hơi : Chú Nguyễn Văn Cuội, gốc người Thanh Hóa của chúng ta, đã lên mặt trăng trước thằng Mỹ ! Thấy chúng tôi cười, hắn nóng mặt tiếp : Chú Cuội vì mê chị Hằng nên chú không trở về quả đất nữa. Kỳ lên lớp tới đồng chí chính trị tiểu đoàn sẽ giải thích sau !!! Thật hết ý kiến của dân kho đạn Miền Bắc.



Cũng chuyện nổ, cách đây vài năm, ‘vua’ nước Việt Nam, tên Nguyễn Minh Triết bị gậy ăn mày ở Mỹ, ngay sau ngày về, đã tuyên bố rằng chính y đã hoàn toàn thuyết phục được quốc hội Mỹ ! Mẹ khiếp, nổ ơi là nổ, rặn cả ngày chưa ra được chữ ‘No’ chữ ‘Yes’ mà nổ hơn cả đại pháo 175 ly. Còn nữa, mới đây bọn rừng rú tuyên bố rằng chúng ta ngang hàng với các cường quốc thế giới ! Thật không biết xấu hổ, khổ người thì đứng ngang thắt lưng quần người ta, bộ óc chỉ bằng hạt đậu, đầu không có một chữ làm vốn, tay chưa thắt được cái gút cà vạt và cũng chưa cột được sợi dây giày mà cứ mở miệng ra là đỉnh cao trí tuệ loài người và cái nôi văn hóa của nhân loại…



3. Vừa làm vua vừa kiêm ma cô dắt mối : Các vị nguyên thủ quốc gia đôi lúc đi thăm viếng nước ngoài thường dẫn theo đoàn tùy tùng kinh tế tài chánh để may ra còn ký thêm vài ba hợp đồng, như trường hợp Pháp mỗi khi đi qua Tàu hay Việt Nam… Bọn việt gian cộng sản cũng vậy, mỗi khi có dịp ra ngoại quốc, nhất là đi Mỹ, chúng thường dẫn theo một đoàn ngợm, ngồi chật cả chuyến bay mà chẳng làm được gì ngoài việc du hí và xài tiền. Riêng vai trò của vua Nguyễn Minh Triết, trước đây hai năm, ra ngoại quốc đã công khai rao bán thịt sống. Trường Cầu Muối dạy cho Nguyễn Minh Triết cách làm thương mãi thật đơn giản ; đến nơi nào chỉ cần kêu gọi giới đầu tư hãy vào làm ăn với Việt Nam vì Việt Nam có nhiều gái đẹp, tự nhiên chơi thoải mái mà giá cả lại rẻ như bèo. Như vậy là đủ ăn tiền cho một chuyến công du, cần gì phải tốn công sức để rặn từng chữ cho các chương trình kinh tế tài chánh thêm nhức đầu đau óc ! Đây là chuyện động trời trong giới chính trị, đáng ghi danh tranh giải vô địch thế giới về nghề ma cô dắt mối tại các động đĩ. Các trường đại học kinh tế thương mãi trên thế giới hãy nhanh tay mời cho bằng được Nguyễn Minh Triết về làm giáo sư giảng dạy môn ‘tiếp thị’ hiện đại của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa, vì đây là bí quyết có một không hai trên hành tinh nầy.



4. Vay nợ : Vay nợ là chuyện của nhà nghèo, người nào túng thiếu tiền bạc để sống hoặc để giải quyết một việc gì ngoài khả năng dự trữ tài chánh nên buộc lòng phải đi vay. Ngược lại tại Việt Nam dưới thời đại Đỉnh Cao Trí Tuệ Loài Người thì nguời đi vay nợ chính là những tên tỷ phú ! Điều nầy do ‘vua’ Việt Nam Nguyễn Minh Triết đã thanh minh thanh nga và khẳng định với đám Vịt kiều yêu nước trong kỳ đại hội vừa qua tại Hà Nội rằng : Ở Việt Nam không có tham nhũng, nhất là đảng viên cán bộ nhà nước, tất cả hoàn toàn trong sạch. Xin đừng nghi oan mà tội nghiệp cho đảng viên và cán bộ nhà nước chúng tôi ! Số là, trong kho bạc quá nhiều tiền, để lâu ngày sợ mối cũng như mọt phá hoại, nên chúng tôi mượn đở đem về xài và gởi ra ngoại quốc cất giùm cho an toàn. Mượn lâu ngày không thấy ai đòi (!) do đó chúng tôi lại mượn thêm, rồi cứ tiếp tục mượn tiếp, mượn tiếp…Đó, đồng bào thấy không ? Chúng tôi có tham nhũng đâu, chỉ đơn giản là mượn tạm mà thôi !



Cũng chuyện nợ nữa, Việt Nam dưới thời cộng sản là con nợ từ làng trên xuống xóm dưới, từ xứ nầy qua quốc gia kia, từ tổ chức nầy đến tổ chức khác…Tập đoàn tham nhũng nhân danh nghèo đói, xây dựng và hiện đại hóa đất nước để mượn nợ khắp năm châu… Sau khi đánh bạc thua, làm ăn lỗ vốn thì chúng giở trò quỵt…Hãy ghi danh đảng việt gian cộng sản vào danh sách tranh chức vô địch ‘vô liêm sỉ’ và ‘quỵt nợ’ do thế giới sẽ tổ chức nay mai…



5. Bán nước : Không phải bán nước uống, nước đá, nước mía, nước cam, nuớc ngọt mà bán giang sơn tổ quốc Việt Nam. Chưa có một nhà vưa, nhà độc tài hay một chính thể nào mà giới lãnh đạo đất nước lại đi bán giang sơ tổ quốc cho kẻ thù. Độc nhất vô nhị chỉ có đảng cướp cộng sản Việt Nam. Từ tên già Hồ, Phạm văn Đồng nhượng biển cho Tàu phù để đổi lấy súng đạn đem về giết hại đồng bào ruột thịt Miền Nam. Tiếp đến tên Lê Khả Phiêu vì dính chàm vụ chơi gái do bọn Tàu phù dàn cảnh nên phải bàn một phần đất phía cực Bắn Việt Nam. Cuối cùng, tên Nguyễn Tấn Dũng cũng nhận tiền của thằng Chệt đễ trải thảm đỏ đỏ mời bọn Tàu đói vào khai thác Bauxiet tại Tây Nguyên. Từ lịch sử Đông Tây kim cổ, từ chốn đồ đá sơ khai cho đến các vùng văn minh hiện đại, chưa có một tập đoàn cai trị nào đi bán đất nước và tổ quốc của mình cho giặc để nhận tiền và đem vũ khí về giết hại chính đồng bào của mình.



6. Tiến sĩ danh van (viết không dấu): Chuyện nầy thì lạ đối với thế giới, vì tại các xứ tự do hiện nay những người tốt nghiệp tiến sĩ thường thuộc các ngành khoa học, kỹ thuật, xã hội, văn chương, nghiên cứu với các danh hiệu Ts Toán, Ts Vật Lý, Ts Hóa học..Ts Xã Hội Học, Ts Văn Chương, Ts Môi Trường vân vân…chứ chưa bao giờ nghe đến Tiến sĩ Danh Van. Nhưng tại Việt Nam thì bằng cấp nầy không thiếu gì. Đó là Tiến sĩ Đánh Vần (viết có dấu) hay còn gọi là Tiến sĩ Cầu Muối. Trường đại học nầy cấp bằng cho thí sinh qua sự lựa chọn rất chu đáo, nhất là bậc tiến sĩ. Trường không dựa vào tiêu chuẩn phải có tối thiểu hai năm cao học và cũng không cần một luận án công phu, giá trị nào….mà điều kiện cần và đủ là thí sinh phải có thẻ đảng. Do đó, cán bộ đảng viên có bằng cấp Tiến sĩ dưới chế độ không cần phải biết làm tính cộng trừ nhân chia (tiến sĩ toán), không cần phải biết tính toán cân đo (tiến sĩ vật lý), không cần phân biệt được nước sạch nước dơ (tiến sĩ hóa học), không cần biết đời sống và quyền lợi người dân (tiến sĩ xã hội học), không cần viết đúng hay sai văn phạm (tiến sĩ văn chương) và không cần phân biệt được mùi thơm hay mùi thúi (tiến sĩ môi trường)…Chung quy những đảng viên cán bộ tiến sĩ không cần phải biết, không cần phải đọc, không cần phải viết…nên được gọi là Tiến Sĩ Đánh Vần ! Đấy là Đỉnh Cao Trí Tuệ Loài Người. Giải vô địch nầy Việt Nam khỏi cần ghi danh tham dự, chỉ cần đưa mấy tên cán ngố ra trình diện, giám khảo quốc tế vừa trông thấy mặt thì tức thời chấm đậu hạng tối ưu.



7. Ảo thuật : Trường đảng nhằm đào tạo lý thuyết cộng cho cán bộ đảng viên tại Hà nội đã phải đóng cửa từ khi già Hồ hộc máu mồm lăn ra chết một năm sau vụ thất bại Mậu Thân 1968. Lý do đơn giản là bài vở nhà trường không còn hợp thời và lôi cuốn học viên. ‘Đảng cộng sản anh minh’ đành phải đổi tên thành ‘trường ảo thuật’ là nơi đào tạo trò múa rối và hát xiệc. Màn ảo thuật của khóa đầu tiên chúng trình diễn tại Miền Nam ngay sau ngày 30.4.1975. Thật ngoạn mục, chỉ một đêm hàng chục triệu người giàu sang phú quý đã biến thành ăn mày bị gậy, trên người chỉ còn chiếc quần xà lỏn, tay bồng tay bế kéo nhau lên vùng kinh tế mới phá núi phá rừng trồng khoai trống sắn hay chạy ra biển làm mồi cho cá mập. Trước đây, bằng những trò ảo thuật, chúng đem ngoại tệ viện trợ và vay mượn quốc tế đặt lên chiếu bạc, mua cỏ nuôi ngựa hoặc tổ chức đóng tàu thủy…rồi vổ tay hô ‘biến’ một cái, hàng trăm triệu dollars biến mất trong vài giây. Mấy ngày vừa qua Hà Nội lại bắt dân chúng nạp vàng và ngoại tệ cho nhà nước rồi cũng vỗ tay một cái. Màn ảo thuật nầy thật hấp dẫn, dân chúng trắng tay, không kêu ca khiếu nại được gì với bọn côn đồ tay cầm AK, túi lận lựu đạn, đứng làm cái chơi bài ba lá…Và trong vài ngày nữa, một màn ảo thuật đại chúng sẽ xảy ra từ hang cùng ngõ hẻm ra đến thành phố, thủ đô… chúng sẽ thu hồi tiền giấy già Hồ đang lưu hành và cho đổi lấy giấy lộn cũng mang hình già Hồ với mệnh giá cao hơn. Trò ảo thuật sắp tới sẽ đạt tới ‘đỉnh cao trí tuệ loài người’ vì đây là một lối ăn cướp có môn bài. Dân cả nước sẽ trắng tay. Chỉ có bọn cầm đầu đảng cướp thì đại thắng, đại đại thắng, vì chúng tự tay in tiền, tự ấn định số lượng đổi cho mỗi đầu ngườì, cho mỗi gia đình…còn bọn chúng thì in bao nhiêu và đổi bao nhiêu chẳng được !!!



Thế giới có bảy kỳ quan, Việt Nam dưới thời cộng sản thì có bảy chuyện lạ và chắc chắn trong tương lai sẽ trở thành bảy vô địch thế giới về các bộ môn ‘nổ’, ‘xạo’ và ‘bịp’. Thế mới thấy bọn việt gian cộng sản thật ‘tuyệt vời’, chính chúng nó đã đưa đất nước Việt Nam lên hàng đầu thế giới với tiếng nổ ‘Đỉnh Cao Trí Tuệ Loài Người và Cái Nôi Trung Tâm Của Nhân Loại

Paris, 12.4.2011

Posted: Sun Apr 17, 2011 4:45 pm
by tankhoasinh
Tập đoàn Nguyễn Tấn Dũng thêm lỗ thủng lớn

Ngô Nhân Dụng


Ông Nguyễn Tấn Dũng là người nâng cao quyền hành của chức thủ tướng lên đỉnh cao nhất trong lịch sử hệ thống cai trị cộng sản ở Việt Nam.

Vị thủ tướng đầu tiên là ông Phạm Văn Ðồng gần như không có quyền nào cả; tất cả các quyết định cho guồng máy nhà nước thi hành đều nằm trong tay chức tổng bí thư. Các ông Ðỗ Mười, Võ Văn Kiệt đã đoạt được nhiều quyền hơn nhờ thế lực và vây cánh của họ lên cao gần bằng những người nắm chức tổng bí thư. Nhưng ông Nguyễn Tấn Dũng thì đã lấn áp cả Nông Ðức Mạnh và sẽ qua mặt luôn cả Nguyễn Phú Trọng. Bởi vì Nguyễn Tấn Dũng là vị thủ tướng đầu tiên giành quyền kiểm soát các công ty quốc doanh vào trong tay mình.

Ông Phan Văn Khải đã đặt ra hệ thống các tổng công ty, vì muốn bắt chước các chaebol của Nam Hàn; nghĩ rằng công ty càng lớn thì càng làm ăn giỏi. Ðó là một ảo tưởng. Ở Ðại Hàn người ta thành công vì trên căn bản các đại công ty là của tư nhân, họ làm việc lời ăn lỗ chịu, cho nên phải cố gắng kiếm lời. Còn ở Việt Nam thì các tổng công ty do nhà nước cai quản, các vị quản đốc tiêu tiền chùa, nếu tiền mất tật mang thì không phải họ mang tật mà công quỹ gánh chịu, toàn dân Việt Nam sẽ mang thương tích!

Lúc mới lên, ông Nguyễn Tấn Dũng đặt ra một hình thức công ty mới, gọi là tập đoàn. Tại sao gọi tên tổng công ty không đủ mà lại phải đổi? Thứ nhất là những chữ Tập đoàn Kinh tế rất thông dụng ở Trung Quốc; dùng cùng một danh từ như Trung Quốc là noi theo chính sách của Hồ Chí Minh đời trước. Ông Hồ đã có công nhập cảng rất nhiều danh từ của phương Bắc, như chỉnh huấn, cải tạo lao động, đấu tố, đảm bảo, hộ lý, vân vân. Lý do thứ hai là nhân dịp đặt tên mới, sẽ tổ chức lại các doanh nghiệp nhà nuớc, ông Nguyễn Tấn Dũng có cơ hội “tái cấu trúc” bằng cách tập trung tất cả các Tập đoàn Kinh tế vào trong tay Phủ Thủ Tướng! Trước kia các công ty than đá, dầu khí thuộc một bộ, các công ty vận tải hay tin học, viễn thông thuộc những bộ phụ trách các ngành này. Ông Nguyễn Tấn Dũng đã rút tất cả ra khỏi quyền kiểm soát của các bộ trưởng để tập trung vào tay mình. Có thể coi ông là ông chủ lớn của tất cả các Tập đoàn Kinh tế và tổng công ty thuộc nhà nước Việt Nam! Cho nên phải gọi chung tất cả các xí nghiệp đó là Tập đoàn Kinh tế Nguyễn Tấn Dũng!

Nắm các doanh nghiệp nhà nuớc là nắm quyền ban phát ân huệ. Tất cả các vị quản đốc doanh nghiệp nhà nuớc từ trên xuống dưới được hưởng địa vị, lương bổng, quyền hành, là do ông thủ tướng ban cho. Quyết định đặt một nhà máy ở đâu, cho ai vay mượn, cũng nằm trong tay ông thủ tướng. Nghĩa là các bí thư tỉnh, thành, quận huyện, vân vân, đều phải tìm đến cửa ông thủ tướng để vận động xin ân huệ! Vì thế, trước kỳ đại hội đảng Cộng Sản vừa qua, cả nước nghĩ rằng ông Nguyễn Tấn Dũng phải ra đi sau những chính sách mất lòng dân và thất bại kinh tế thấy rõ như ban ngày (Vinashin, lạm phát phi mã, bô xít, cho thuê rừng vân vân) nhưng cuối cùng Nông Ðức Mạnh và Nguyễn Minh Triết phải ra đi chứ ông Nguyễn Tấn Dũng vẫn vững như bàn thạch! Trong số các đại biểu đi bỏ phiếu có bao nhiêu người đã được Nguyễn Tấn Dũng ban phát ân huệ?

Nhưng Tập đoàn Nguyễn Tấn Dũng lèo lái con thuyền kinh tế Việt Nam đi về đâu? Ngày hôm qua, bản tin Bloomberg News loan báo một nhà phân tích của Công ty Standard & Poor's là ông Kim Eng Tan, ở Singapore-based đã báo động rằng nước Việt Nam có ổn định hay không tùy thuộc khả năng chính quyền có giảm bớt được tốc độ gia tăng của tổng số ngân hàng cho vay hay không. Năm ngoái, công ty S&P cùng với 2 công ty thẩm lượng tín dụng Moody's và Fitch Ratings đều đã đánh điểm tín nhiệm của nước Việt Nam rớt xuống hạng “đầu tư nhiều rủi ro.” Trước những vụ xì căng đan như vụ Vinashin không có tiền nhỏ trả định kỳ cho những món nợ khổng lồ hàng tỷ đô la, các ngân hàng quốc tế mất lòng tin vào khả năng trả nợ của cả nước Việt Nam, điểm tín nhiệm tất nhiên phải xuống thấp. Bản tin Bloomberg cũng nhắc nhở rằng cán cân mậu dịch thâm thủng của nước ta lên tới 1.15 tỷ Mỹ kim trong tháng 3, cao hơn số khiếm hụt 1.11 tỷ vào tháng 2. Số dự trữ ngoại tệ của Việt Nam chỉ còn $12.4 tỷ đô la Mỹ vào cuối năm 2010 so với $14.1 tỷ năm 2009 và $23 tỷ năm 2008, theo con số của Ngân Hàng Thế Giới.

Với số dự trữ ngoại tệ không đủ để trả một tháng hàng nhập cảng, tất cả các nhà cung cấp nước ngoài khi bán hàng cho người Việt Nam sẽ rất dè dặt không dám bán chịu, và các nhà nhập cảng trong nước sẽ khó đi vay nợ quốc tế để mua hàng. Ông Kim Eng Tan mô tả là các doanh nghiệp Việt Nam đang “chiến đấu vất vả” để có ngoại tệ cho họ tiếp tục làm ăn! Tất nhiên hàng hóa nhập khẩu sẽ tăng giá; thêm một nguyên nhân khiến giá sinh hoạt lên cao, ngoài những lý do dễ thấy là điện, xăng tăng giá, hối suất đô la Mỹ lên cao, dân lo đổi tiền mặt lấy hàng hóa để ngừa lạm phát. Tỷ lệ lạm phát ở Việt Nam đã tăng lên tới 14% trong tháng 3 vừa qua đúng như đã được tiên đoán.

Nhìn vào các con số đó, phải kết luận Tập đoàn Nguyễn Tấn Dũng đang ăn vào vốn, loay hoay không thấy đường thoát! Trong khi đó, tập đoàn này lại càng ngày càng sa lầy trong các vụ xì căng đan không thể bưng bít được. Vụ Vinashin thua lỗ hàng tỷ Mỹ kim chưa biết sẽ giải quyết ra sao, lại thêm một cái “lỗ thủng lớn” mới được khui ra, là vụ công ty tài chánh ALC II, tức Công ty Cho thuê Tài chính II thuộc Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, còn gọi la Agribank.

“Cho thuê Tài chánh” là một từ mới, quen gọi là lease financing trong thuật ngữ tài chánh tiếng Anh, người Trung Quốc gọi là “tô nhấm (cho thuê) lý tài (cho vay)” ở Ðài Loan gọi là “tô nhấm tài phí.” Nó bao gồm hai hoạt động: Cho vay tiền (tài chánh), và Cho thuê những máy móc, dụng cụ, thiết bị mua được nhờ số tiền cho vay đó. Nói giản dị, công việc của ALC II là cho vay nợ, cũng giống như ngân hàng vay vậy.

Ðiểm mới mẻ là khi dùng thủ tục “lease financing” này thì ngân hàng chủ nợ không đưa tiền cho con nợ, tức người đi vay. Chủ nợ sẽ mua các máy móc, thiết bị mà người vay cần, rồi sau khi mua về sẽ cho người vay sử dụng các máy đó trong thời hạn của món nợ. Con nợ sẽ phải trả tiền lãi và vốn định kỳ, không khác gì quý vị ở Mỹ trả nợ khi đi vay tiền mua nhà. Khác với các món nợ mua nhà, những máy móc mà con nợ lease financing sử dụng vẫn thuộc quyền sở hữu của ngân hàng chủ nợ.

Làm ăn trong ngành “Cho thuê Tài chánh” như vậy phải coi là “ăn chắc!” Ngân hàng cho thân chủ vay tiền mua máy, nhưng ai cũng chỉ cho vay sau khi đã xem xét dự án họ muốn dùng cái máy đó vào việc gì. Tất nhiên, ngân hàng sẽ phải coi dự án đầu tư đó có lời hay không, có sinh ra tiền để trả nợ hay không rồi mới đưa tiền cho vay chứ? Ăn chắc hơn nữa, là cái máy đưa cho thân chủ sử dụng đó trước sau nó vẫn thuộc sở hữu của ngân hàng. Theo hợp đồng, nếu người vay không trả được tiền hàng tháng là ngân hàng cứ tới đem cái máy đó về nhà mình! Nó khác với cái nhà mà quý vị vay tiền để mua, vì quý vị là chủ nhân cái nhà đó; ngân hàng muốn xiết nợ thì phải đi qua tòa án rất lôi thôi!

“Cho thuê Tài chánh” là một ngành làm ăn rất chắc chắn như vậy. Nhưng khi dụng cụ tài chánh đó được trao cho Tập đoàn Nguyễn Tấn Dũng thì nó lại nát như tương! Thiên tài của ông thủ tướng và của cái đảng Cộng Sản (mà ông đang làm lãnh tụ không ai thay thế được) là cái gì hay ho đến đâu, khi đưa vào tay các ông nó cũng nát bét!

Ban kiểm toán công ty ALC cuối tháng 10, 2010 cho biết, năm 2009 ALC II lỗ tới 3,004 tỷ đồng bạc Việt Nam (gấp 8.5 lần vốn điều lệ chỉ có 350 tỷ). Công ty ALC II làm thất thoát số tiền của Nhà nước tới 4,617 tỷ đồng. Trong số các món nợ có đến 60% là nợ xấu, tức là người vay không trả được đúng hạn! Trong ba tháng cuối năm 2009, ALC II thiếu 1,763 tỷ đồng không có tiền để trả ai hết; và đến cuối năm 2010 đã thất thoát 4,000 tỷ.

Ðúng là tiêu tiền chùa!

Theo báo Tiền phong, công ty ALC II được thành lập năm 2006, đã đưa quá nhiều tiền cho các công ty ít vốn và mới thành lập vay; tiền đầu tư tập trung vào ngành vận tải biển quá lớn (chiếm 56.6% tổng số nợ), là ngành mà họ không có kinh nghiệm! Kinh khủng hơn nữa là công ty ALC II đã mua những thứ máy móc từ các công ty không có quyền sở hữu trên các máy móc đó! Blog của Ðào Tuấn kể chuyện: “Công ty ALC II mua một xe cẩu thủy lực 250 tấn của công ty Quang Vinh với giá 65 tỉ đồng. Trong khi đó, chỉ 7 ngày trước, Quang Vinh mua chiếc xe này với giá chỉ chưa tới 32 tỉ đồng!” Quang Vinh được lời 33 tỷ trong một tuần, đúng là tiền trên trời rớt xuống! Thế mới Vinh Quang!

Tiêu tiền chùa như thế, nhưng tiền chùa ở đâu ra? Báo Tiền Phong cho biết: “ALC II còn rất mạnh tay trong huy động vốn với mức huy động vượt trần lãi suất, thậm chí thoát ra khỏi ‘hạn mức bảo lãnh của Agribank’ tức là ngân hàng mẹ đẻ!” Ông Nguyễn Thế Bình, chủ tịch Hội Ðồng Quản Trị Agribank chỉ biết nói: “Chúng tôi cũng có trách nhiệm!”

Ðây là một thủ thuật ăn cướp giữa ban ngày: Công ty ALC II, một thứ ngân hàng thuộc Tập đoàn Nguyễn Tấn Dũng, đã nhân danh “lợi ích chung” đi vay tiền của các ngân hàng quốc doanh cũng thuộc Tập đoàn Nguyễn Tấn Dũng, lãi suất cao bao nhiêu cũng chịu. Sau đó, đem tiền đi mua máy móc, thí dụ cái cần cẩu, với giá bao nhiêu cũng trả. Thế là 33 tỷ đồng của nước VN, của 85 triệu người Việt Nam được “đánh bùn sang ao” chuyển vào tay một nhóm tư nhân! Có bao nhiêu nhóm đã hưởng lộc trời như vậy? Những ai đứng đằng sau họ? Chỉ có Tập đoàn Nguyễn Tấn Dũng biết với nhau mà thôi!

Những thành viên trong Tập đoàn Nguyễn Tấn Dũng có đủ cách moi tiền công quỹ. Blog của Ðào Tuấn cho biết: “Tổng công ty xăng dầu lỗ 3,600 tỷ chỉ trong 3 tháng.” Làm thế nào để khỏi bị lỗ? Ðã có cách: “Họ xin có một tỷ giá riêng!” Tức là người thường muốn đổi lấy một đô la Mỹ phải trả 18 đến 21 ngàn đồng Việt Nam. Ví dụ chỉ cần 12,000 đồng đổi được một đô la, thì coi như “nhân dân” Việt Nam vừa mới trợ cấp cho công ty xăng dầu 6,000 đồng. Ðổi một lần độ 100 triệu đô la thì toàn dân Việt Nam đã đóng góp cho Tập đoàn Nguyễn Tấn Dũng độ 600 ngàn tỷ đồng!

Toàn dân Việt Nam đang bị rút ruột một cách tinh vi như thế! Nhưng cũng có một số người sẽ chịu tai nạn trực tiếp vì vụ ALC II này. Blog của nhà báo Bút Lông báo tin rằng nếu ALC II phá sản thì “Quỹ Hưu Bổng Xã Hội của các công chức về hưu có thể mất 610 tỉ đồng vì đã đầu tư 1,010 tỉ đồng vào ALC II. Ngân hàng mẹ, tức là Ngân hàng NN&PTNT chỉ bảo lãnh đến mức 400 tỉ đồng mà thôi!”

Quý vị công chức nghỉ hưu nếu mất tiền hưu bổng có thể được an ủi: Trong tai nạn lớn của toàn dân thì những mất mát của mình còn quá nhỏ! Quý vị đã hy sinh cả đời phục vụ cho một tập đoàn thống trị; nay chịu hy sinh thêm một chút nữa cũng được. Có thể Tập đoàn Nguyễn Tấn Dũng sẽ tặng cho mỗi vị một huy chương anh hùng kinh tế!

Hết cái lỗ hổng Vinashin lại đến cái lỗ ALC II! Ðã bao năm khai thác tài sản của nước Việt Nam, sức lực của người Việt Nam, không biết bao giờ đến lượt cái tập đoàn Nguyễn Tấn Dũng mới về hưu?

Posted: Tue Apr 19, 2011 1:48 am
by vuphong
Quyền và sử dụng quyền

Ngô Nhân Dụng


Gần đây ở nước ta có rất nhiều người dân chết trong đồn công an. Từ giữa năm 2007 đến nay hơn 20 người đã chết sau khi bị công an bắt giữ; nhiều người được nói là đã tự hủy mình. Khắp thế giới, chính quyền nào cũng phải chịu trách nhiệm về nơi mình giam người. Sơ ý để một người tự tử trong phòng giam là những cơ quan giam giữ bị khiển trách và trừng phạt. Không biết ở Việt Nam hiện nay có theo tục lệ văn minh đó hay không.

Tháng 3 năm nay là một tháng xấu; không chỉ vì lạm phát mà còn vì công an. Trong một tháng 3 năm 2011, ba người Việt Nam bị công an đánh tới chết hoặc “treo cổ tự tử” trong đồn công an. Bắt đầu là ngày 6 tháng 3, ông Nguyễn Lập Phương 46 tuổi tắt thở sau khi bị công an huyện Thủy Nguyên (Hải Phòng) giam giữ 4 ngày vì tình nghi ông ăn trộm cau ở Khu Công Nghiệp Shinec. Ngày 8 tháng 3, ông Trịnh Xuân Tùng, 54 tuổi, đã chết sau khi bị một trung tá công an dùng gậy đánh gẫy cổ, sau khi ông bị bắt ở bến xe Giáp Bát, Hà Nội, trước đó 8 ngày. Ngày 14 tháng 3 năm 2011, ông Ðặng Ngọc Trung, 48 tuổi, xô xát với một phụ nữ trước quan Karaoke ở thị xã Ðồng Xoài (Bình Phước), ông bị bắt, rồi sáng hôm sau thấy chết ở trụ sở công an; họ nói ông Trung tự tử.

Hai nạn nhân đầu tiên đều bị công an đánh đập, trước và trong khi bị giam giữ. Khẩu hiệu của công an Việt Nam là “Ðảng Còn thì Mình Còn.” Nhưng không có dấu hiệu nào chứng tỏ ba nạn nhân trên từng có ý định chống đối nhà nước. Chắc chắn họ không bao giờ tính lật đổ độc quyền chính trị của đảng Cộng Sản Việt Nam. Nghĩa là việc đánh những người này đến chết không hề có lý do chính trị, công an không giết họ vì cần bảo vệ chính quyền “chuyên chế vô sản.” Các hành động sát nhân đó xẩy ra hoàn toàn trong những nghiệp vụ bình thường của các vị “công an nhân dân.” Chính cái vẻ bình thường đó mới thật là điều đáng kinh ngạc. Và đáng lo ngại.

Anh Nguyễn Lập Phương bị bắt ngày 2 tháng 3 năm 2011, 4 ngày sau, công an nói, họ thấy anh “có dấu hiệu bất thường về sức khỏe nên cho đi cấp cứu, lên viện thì chết.”Trong đêm mùng 1 tháng 3, bị bắt giữ tại Khu Công Nghiệp Shinec, anh Nguyễn Lập Phương đã bị những người “bảo vệ” của xí nghiệp này đánh.” Sáng hôm sau, họ đưa anh tới công an xã Thiên. Vì trên người anh Phương có nhiều vết bầm tím, nên công an xã đã đưa anh đến bệnh viện huyện Thủy Nguyên. Các bác sĩ ở đó chứng nhận anh Phương đã “bị chấn thương phần mềm ở mặt, chân tay, đầu gối, sườn sưng tím, không kêu đau bụng, đau đầu hoặc ngực, trạng thái tỉnh táo.” Ngày 6 tháng 3 năm 2011 anh lại được công an huyện đưa vào bệnh vào buổi chiều. Nửa giờ sau, công an xã nhận được tin anh Phương đã tử vong và đã đến báo cho gia đình biết. Anh Nguyễn Trung Trực, em trai nạn nhân cùng người nhà có mặt tại nhà xác bệnh viện Thủy Nguyên, chứng kiến thi thể anh Phương có nhiều vết bầm tím trên 2 tay, dọc hai bên sườn, chân, cằm và ngực bầm tím, hai mi mắt và hai bên tai có vết rách. Các bác sĩ cho biết: “Bệnh nhân Nguyễn Lập Phương được công an huyện đưa vào bệnh viện lúc 15 giờ 30 phút ngày 6 tháng 3 trong tình trạng đã ngưng thở.”

Theo lời thân nhân của Nguyễn Lập Phương thì lối giải thích ông bị tử vong “do suy tim” là vô lý. Họ cả quyết “từ trước đến nay, anh này không hề có bệnh gì.” Ông Hoàng Phú Giảng, phó trưởng công an xã Thiên Hương cũng khẳng định: “Trong thời gian từ sáng đến chiều ngày 2 tháng 3, tại trụ sở công an xã, anh Phương hoàn toàn khỏe mạnh, không có biểu hiện bệnh tật, trừ việc kêu đau ở tay vì bị đánh. Buổi trưa, anh này còn ăn được hai bát cơm đầy do công an xã đem cho.” Nguyễn Lập Phương cao khoảng 1m70, nặng 65 ký, khi làm việc trong tổ bốc vác, anh được các đồng sự coi là người khỏe nhất. Do đó, cái chết của anh chắc vì bị đánh đập trong lúc ở đồn công an huyện.

Sau khi anh Phương qua đời 2 ngày, đến lượt ông Trịnh Xuân Tùng chết, sau khi bị công anh cùng với một nhóm dân phòng đánh đập ở bến xe Giáp Bát, Hà Nội từ 8 ngày trước. Ông Tùng đã bị trung tá công an Nguyễn Văn Ninh dùng gậy đánh vào cổ.

Theo lời tường thuật của thân nhân thì trưa ngày 28 tháng 2, 2011, ông Tùng thuê xe ôm đi đến bến xe Giáp Bát đón xe lên đường vào Nam. Khi gần tới bến xe, ông xin người lái xe ôm dừng lại, ông cởi mũ an toàn ra để gọi điện thoại cho một người bạn. Trung Tá Nguyễn Văn Ninh (Công an phường Thịnh Liệt, Hoàng Mai) thấy ông Tùng không đội mũ an toàn bèn đòi phạt người lái xe, bắt xe, đưa về phường Thịnh Liệt và hẹn chiều sẽ giải quyết. Khi hai người trở lại để “giải quyết,” anh lái xe không chịu nhận lỗi. Hai bên cãi nhau, Trung Tá Ninh đã túm cổ người lái xe, cho nên ông Tùng can ngăn, gỡ tay ông ta ra khỏi cổ người lái xe ôm; từ đó đưa tới giằng co. Sau đó viên trung tá công an đòi 150 ngàn đồng tiền phạt (khoảng 10 đô la Mỹ), nhưng ông Tùng chỉ chịu nộp 100 ngàn đồng thôi. Cuộc mặc cả đưa tới cãi cọ, xô xát; ba cán bộ về trật tự trong bến xe cũng tới đánh ông Tùng. Trung Tá Ninh đã dùng gậy đánh vào đầu và cổ ông Tùng, xích ông vào gốc cây, rồi giải về phường với lý do đã chống người thi hành công vụ.

Năm giờ chiều, gia đình ông Tùng tới trụ sở công an phường Thịnh Liệt thăm, thấy ông quá yếu, đã bị liệt nửa người, nên xin cho đưa ông đi bệnh viện, nhưng bị từ chối. Công an nói họ “không có thời gian để giải quyết vụ việc này.” Ông Trịnh Xuân Tùng tiếp tục bị còng, cho tới 9 giờ 30 tối mới được cho đi tới bệnh viện Bạch Mai, hai tay vẫn bị còng. Vì tình trạng nguy kịch, ông Tùng được đưa tới bệnh viện Việt Ðức. Ông đã qua đời ngày 8 tháng 3, 2011, mười ngày sau khi bị đánh vào đầu và cổ.

Cuối cùng người Việt Nam nào cũng phải tự hỏi: Có cách nào cho những vụ đánh chết người đó không tái diễn nữa? Ðể trả lời câu hỏi này,chúng ta phải tìm hiểu nguyên nhân vì sao những người gác Khu Công Nghiệp Shinec và công an huyện Thủy Nguyên lại đánh chết ông Nguyễn Lập Phương chỉ vì trộm mấy buồng cau? Vì đâu Trung tá công an Nguyễn Văn Ninh lại đánh ông Trịnh Xuân Tùng đến nỗi chết chỉ vì nghi đã đi xe gắn máy không đội mũ an toàn? Người Việt Nam nào cũng phải tìm hiểu căn nguyên những cái chết này.

Không nên giải thích rằng lý do chính là tính tình các ông công an này nóng nẩy, cục cằn. Ðổ tội cho tính vũ phu, tàn ác của những cá nhân thì không chấp nhận được. Có người sẽ chua chát nói rằng mạng sống dân ta rẻ lắm, ai cũng giết người khác dễ dàng chỉ vì những vụ cãi nhau, đánh nhau. Nhưng đây không phải là chuyện giết nhau giữa những người dân thường. Nhũng vụ đánh chết người này xẩy ra trong mối quan hệ giữa các nhân viên công lực đang làm việc với một người dân (mà các vị công bộc này có nhiệm vụ bảo vệ). Chắc chắn đây không phải là những tranh chấp riêng tư.

Cuối cùng, chúng ta phải vượt trên phạm vi cá nhân mà đi tìm đến “lỗi hệ thống!” Ðó một từ thông dụng bây giờ, từ khi được ông Nguyễn Văn An nhắc đi nhắc lại nhiều lần, và lại được cô Song Chi ghi nhớ. Nhìn tới cả hệ thống, ta cần hiểu vì sao có các vị công an lại ra tay đánh chết người dân chỉ vì những cái lỗi nhỏ nhoi như cái mũ an toàn, giờ quen gọi là mũ bảo hiểm; hoặc vì một vụ trộm cau.

Rất nhiều người sẽ lên án cả chế độ chính trị đã tạo ra những người công an như ông Nguyễn Văn Ninh và các ông ở Thủy Nguyên. Nhưng chế độ chính trị đó như thế nào, nó làm cái gì mà gây ra những vụ đánh chết người này?

Chắc chắn không một hệ thống chính trị nào lại cho phép cảnh sát, công an đánh chết người chỉ vì phạm luật đi đường hay đi ăn trộm vặt. Không có đạo luật giao thông nào nói rằng nếu người dân cãi lời, đôi co to tiếng với cảnh sát, hoặc dám mặc cả giá tiền phạt với công an, thì nhân viên công lực được quyền đánh cho hắn gẫy cổ, chết bỏ. Tàn bạo như chế độ của các ông Hitler, Stalin hay các ông Mao Trạch Ðông chắc cũng không thiết lập những định chế cho phép công an giết dân dễ dàng như vậy.

Thế thì cái gì trong hệ thống chính trị ở nước ta đã đưa tới những vụ công an giết dân?

Như ai đã nghe chuyện đều biết, Trung Tá Nguyễn Văn Ninh đã gây ra cái chết của ông Tùng khi đang thi hành quyền của một người cảnh sát. Ông có trách nhiệm bảo đảm rằng luật lệ về giao thông được dân chúng tuân thủ. Công an Thủy Nguyên gây ra cái chết của ông Phương trong khi thi hành quyền giam giữ một người, để bảo vệ tài sản của các công dân khác. Những người công an trên biết rằng họ đang thi hành quyền bắt người, do nhà nước giao cho; họ là những người được ủy nhiệm. Họ tin rằng nhà nước mà họ đại diện đã được xã hội ủy nhiệm các quyền đó, để bảo vệ trật tự, an ninh. Các ông công an đã giết người khi nhân danh cả chuỗi những sự ủy nhiệm này. Tất cả các xã hội loài người đều ủy nhiệm những quyền bảo vệ an ninh, trật tự cho nhà nước.

Tất cả các guồng máy nhà nước đều ủy nhiệm cho cảnh sát công an làm những công việc bắt người vi phạm luật để đưa ra tòa án. Ở Việt Nam cũng như ở Bắc Phi. Ngày 17 tháng 12, tại nước Tunisia một sinh viên tốt nghiệp nhưng không có việc làm, anh Mohamed Bouazizi, 26 tuổi, bị một chị công an 45 tuổi tát tai, bắt về bóp, sau khi cãi nhau về tội anh đẩy xe bán rau không giấy phép. Ngày 4 tháng 1, 2011, anh Bouazizi chịu nhục nhà không nổi, đổ xăng tự thiêu. Ngày 6 tháng 6 năm 2010, tại Ai Cập, anh Khaled Said, 28 tuổi, bị công an đánh chết. Hai cái chết đó đưa tới những cuộc nổi dậy lật đổ chế độ độc tài ở hai quốc gia này, rồi lan ra các nước Á Rập khác.

Tại sao ở các nước văn minh chúng ta không thấy cảnh công an giết chết người một cách dễ dàng như ở Tunisia, Ai Cập, và ở nước ta? Chúng ta cần suy nghĩ đến vấn đề Quyền và sử dụng Quyền trong xã hội.

Bao nhiêu người dân Hà Nội đã tới dự đám tang của ông Trịnh Xuân Tùng dù không quen biết. Trong lòng nhiều người chắc cũng phải suy nghĩ về những câu hỏi này: Người dân ủy nhiệm cho nhà nước những quyền nào? Những quyền hành đó có giới hạn hay không? Có định chế nào bảo đảm rằng những giới hạn này được tôn trọng hay không? Tất cả những câu hỏi đó là để trả lời tại sao anh Tùng bị đánh chết. Người dân Hà Nội đã có ai đưa các câu hỏi trên ra thảo luận trước công chúng, trên các mạng lưới hay chưa?

Một bài thơ của Quang Dũng viết về Người Hà Nội kết thúc với hai câu thơ:

“Hàng Gai tay bỏng trục ba càng.

Ðất cũ Thăng Long người lẫm liệt.”

Con người Thăng Long lẫm liệt, không phải chỉ vì biết ôm súng chống ngoại xâm. Con người lẫm liệt phải đặt ra những câu hỏi căn bản về cuộc sống của xã hội mình: Tại sao chúng tôi phải sống mãi như thế này?

Posted: Wed Apr 20, 2011 5:51 am
by thienthanh
Đức Giám mục Phaolo Nguyễn Thái Hợp ký tên kiến nghị trả tự do cho Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ
Việc một Đức giám mục trong Hội Đồng giám mục Việt Nam, nhất là trong tư cách là Chủ tịch ủy ban Công lý và Hòa Bình, lên tiếng về những bất công xã hội, những cuộc bắt bớ trái pháp luật, cụ thể là trường hợp tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ, thì phải được coi như đây là một lời ngỏ cho các tín hữu hãy dấn thân mạnh mẽ hơn nữa cho công lý và sự thật, chung tay xây dựng một xã hội công bằng và bác ái hơn.

Ngay sau khi phiên tòa ma quỷ xử tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ một phong trào ký tên kiến nghị trả tự do cho tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ đã được khởi động và thu hút mọi thành phần từ các cựu tướng lãnh, sĩ quan cao cấp, các nhà tri thức hải ngoại cũng như quốc nội, cho tới các thương gia, nông gia.

Image
“Bức xúc vì trong thời gian vừa qua có nhiều vụ án không được xử theo những trình tự pháp luật.
Trong vụ án xử Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ bộc lộ rõ chuyện đó. Chuyện bắt tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ có nhiều điều giả tạo quá”. – GM Phaolo Nguyễn Thái Hợp
Trong danh sách ký tên kiến nghị trả tự do cho tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ (danh sách đợt 2), đáng chú ý có tên Đức Giám mục Phaolo Nguyễn Thái Hợp – giám mục giáo phận Vinh, Chủ tịch Ủy ban Công lý và Hòa bình trực thuộc Hội Đồng Giám mục Việt Nam.


Trả lời phỏng vấn đài RFI, đức cha Nguyễn Thái hợp cho biết lý do tham gia ký tên: “Bức xúc vì trong thời gian vừa qua có nhiều vụ án không được xử theo những trình tự pháp luật. Trong vụ án xử Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ bộc lộ rõ chuyện đó. Chuyện bắt tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ có nhiều điều giả tạo quá”.


Trong những ngày qua, đây là lần thứ hai, người ta thấy Đức cha Phaolo đã có những bước đi mạnh mẽ trong việc lên tiếng về những vấn đề bất công trong xã hội. Trước tiên là việc ngài can thiệp và yêu cầu nhà cầm quyền cộng sản phải thả luật sự Lê Quốc Quân, bác sĩ Phạm Hồng Sơn và lần này là ký kiến nghị yêu cầu chính quyền trả tự do cho tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ.

Cũng nên nhớ rằng ngài đã có văn thư gửi đến Chủ tịch UBND Đà Nẵng và Tòa án quận Cẩm Lệ vì một vụ án bất chấp pháp luật như vụ Cù Huy Hà Vũ đối với người dân Cồn Dầu.

Image
Phiên tòa Vũ Huy Hà Vũ, nỗi nhục quốc thể trước toàn dân và dư luận quốc tế
Trước đó, ngài cũng đã ký tên vào bản kiến nghị dừng dự án Bauxite ở Tây Nguyên, một dự án không hợp lòng dân, có nguy cơ cao đối với vùng văn hóa Tây Nguyên lâu đời cũng như đe dọa an ninh của nửa miền Nam đất nước. Đặc biệt dự án này được ví như hành động “rước voi giày mả tổ” khi đưa đội quân bành trướng bá quyền phương Bắc vào tận sào huyệt cốt tử của đất nước.


Việc một Đức giám mục trong Hội Đồng giám mục Việt Nam, nhất là trong tư cách là Chủ tịch ủy ban Công lý và Hòa Bình, lên tiếng về những bất công xã hội, những cuộc bắt bớ trái pháp luật, cụ thể là trường hợp tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ, thì phải được coi như đây là một lời ngỏ cho các tín hữu hãy dấn thân mạnh mẽ hơn nữa cho công lý và sự thật, chung tay xây dựng một xã hội công bằng và bác ái hơn.


Hy vọng rằng việc Đức cha Phaolo Nguyễn Thái Hợp mạnh mẽ lên tiếng cho những bất công xã hội, những việc làm phi pháp của chính quyền Hà Nội thời gian qua, sẽ là tiền đề tạo nên một làn sóng hiệp thông cụ thể và mạnh mẽ hơn nữa trong Giáo hội Công giáo Việt Nam.


Cũng hi vọng rằng, sau khi TGM Giuse Ngô Quang Kiệt – người đã không ngần ngại chia sẻ với những thân phận đau khổ và lên tiếng chống lại bất công, xã hội – buộc phải rời nhiệm sở của mình, các Giám mục Việt Nam đã có một thời kỳ dài im lặng, nhiều khi tưởng như vô cảm trước những vấn đề xã hội, đất nước trước sự đau khổ của các thân phận nghèo hèn, bị áp bức… thì nay đã đến lúc các Giám mục Việt Nam sẽ mạnh mẽ hơn và có đường lối, hành động rõ ràng làm gương mẫu cho giáo dân vững bước tiến lân xây dựng đất nước theo con đường Sự thật – Công lý – Hòa bình mà Đức cha Nguyễn Thái Hợp đã có những bước đi mạnh mẽ, hợp lòng người cũng như sứ vụ của Giáo hội công giáo.

Nữ Vương Công Lý

Posted: Thu Apr 21, 2011 4:07 am
by quaichao
Bài học máu xương và nước mắt:
Nam Việt Nam Ngày 30 - 4 - 1975


Nói đến chuyện đó, trước hết ta nên nhớ lại câu nói hàm chứa cả một âm mưu, tham vọng của Lenine, cha đẻ của cách mạng tháng 10 ở Nga, của Đệ Tam Quốc Tế cộng sản, sư phụ của Hồ Chí Minh, sư tổ của phong trào cộng sản thế giới " … First, we will take eastern Europe, then the masses of Asia, then we will encircle the United States which will be the last bastion of capitalism.

We will not have to attack. It will fall into our hands like an overripe fruit …" (The Death of A Nation - John A. Stormer - 1978 .- Liberty Bell Press,. Florissant, Missouri - U.S.A - Page 14). Tư tưởng, tham vọng này từ lâu đã sai bét hết cả rồi!

Nhà lãnh tụ được coi là vĩ đại nhất cuả phong trào cộng sản quốc tế này, trước đó hơn nửa

thế kỷ, đã từng vạch ra một chiến lược để đánh thắng Hoa Kỳ mà không cần phải tấn công trực tiếp vào Hoa Kỳ, chỉ cần đem phong trào cộng sản đến thống trị Đông Âu, rồi thống trị khối nhân dân khổng lồ ở Á Châu , sau đó bao vây Hoa Kỳ, thành lũy cuối cùng của chế độ tư bản. Hoa Kỳ sẽ như trái cây chín nẫu, rơi vào tay cộng sản. Chủ quan ghê gớm thật!

*

Biết như vậy rồi, bây giờ chúng ta bắt đầu nhìn lại những biến cố đã xẩy ra trên đất nước mình: ngày 30 – 4 – 1975, để rồi cùng nhau dưạ vào kinh nghiệm lịch sử, vào trào lưu tiến hoá nhân loại, cầu xin các Đấng thiêng liêng phù trợ mà tìm ra một phương cách tự cứu lấy bản thân, cứu lấy dân tộc, quê hương, đất nước than yêu cuả mình.

* Ngày 6 - 1 - 1975 : Tỉnh Phước Long và Thị Xã Phước Bình, cách Sài Gòn 60 dặm về phiá Bắc, rơi vào tay quân cộng sản Bắc Việt. Sau vụ "Mùa Hè đỏ lửa" ở vùng địa đầu giới tuyến Quảng Trị, năm 1972 thì Phước Bình là Thị Trấn đầu tiên của Nam Việt Nam bị quân cộng sản đánh chiếm. Không Quân Việt Nam Cộng Hoà thiệt hại 20 máy bay trong công cuộc bảo vệ Tỉnh Phước Long. Nhiều máy bay bị bắn hạ bằng hoả tiễn SA-7 của Liên Sô (The South Vietnamese Air Force loses 20 planes defending the province, many to SA-7 missiles made by the Soviet Union).

Sự thiếu phản ứng quân sự của Hoa Kỳ càng xúi giục cộng sản làm tới vì các chiến lược gia của cộng sản biết rằng đã đến lúc Hoa Kỳ phải rời bỏ Việt Nam. Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam Lê Duẫn và Bộ Chính Trị của Đảng cộng sản quyết định tăng cường các cuộc tấn công trên toàn lãnh thổ Nam Việt Nam để phát động một cuộc Tổng nổi dậy vào năm 1976. Cộng sản chỉ dám mong điều đó vào năm 1976 mà thôi.

· Ngày 28-1-1975 : Tổng Thống Hoa Kỳ, Gerald Ford , yêu cầu Quốc Hội tăng them

quân viện cho Nam Việt Nam và Kampuchia với ngân khoản 522 triệu Mỹ Kim vì lúc này Tổng Thống Ford được biết quân cộng sản Bắc việt đã có mặt tại Nam Việt Nam tới mức 289.000 người. Xe tăng, trọng pháo, hoả lực phòng không, do Liên Sô và Trung Quốc chi viện rất hùng hậu. Để giữ vững "Một tiền đồn chống cộng" ở Đông Nam Á Châu thì ngân khoản 522 triệu đô la có là bao ? Thế mà cũng không xong. Người ta đã muốn bỏ đi rồi.

* Ngày 5-2-1975 : Đại Tướng Bắc Việt Văn Tiến Dũng vào Nam để chỉ huy quân đội cộng sản.

* Ngày 10-3-1975 : Quân Bắc Việt, với những Sư Đoàn thiện chiến , phương tiện chiến

tranh hiện đại cuả Liên Sô và Trung Quốc , tấn công Ban Mê Thuột từ ngày 10-3. Ba ngày sau, quân cộng sản tràn ngập thị trấn này, trong khi những trận đánh lớn khác bùng nổ trên mặt trận Cao Nguyên Trung Phần.

* Ngày 14 - 3 - 1975 : Sau khi họp bàn với một số Tướng Lãnh và nhân vật thân cận (?), Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, bỏ vùng cao nguyên Trung Phần và các Tỉnh phiá Bắc của Nam Việt Nam. Các Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn 2, Phạm Văn Phú, và Quân Đoàn I, Ngô Quang Trưởng, ngỡ ngàng, sửng sốt, không biết tại sao lại bỏ những vùng đất quan trọng, cửa ngõ, quyết định sự sống chết của Nam Việt Nam vào lúc này, chưa đánh nhau chi cả, trong khi các lực lượng chiến đấu của 2 Quân Đoàn ( Army Corps ) Việt Nam Cộng Hoà rất hùng mạnh, sẵn sàng đọ sức với quân đội cộng sản. Mất Ban Mê Thuột đâu có nghiã là phải mất luôn cả Quân Khu I và Quân Khu 2! Ông Thiệu làm như thế để gây áp lực với chính phủ Mỹ: phải quyết tâm tăng cường viện trợ mọi mặt cho Nam Việt Nam, nếu không thì "Tiền đồn chống cộng ở Đông Nam Á Châu cuả Mỹ " là Nam Việt Nam sẽ xụp đổ. Ông Thiệu khờ khạo quá trời quá đất ! Tại sao? - Bởi vì người Mỹ đã tìm cách tháo lui khỏi cái " Vũng lầy Việt Nam" để ra đi một cách ít phũ phàng, ít mất mặt chừng nào hay chừng đó , sau khi ông Cố Vấn An Ninh Quốc Gia của Tổng Thống Mỹ, Henry Kissinger đã cố dọn đường, mở lối cho Tổng Thống Richard Nixon sang Trung Cộng năn nỉ với Mao Trạch Đông vào năm 1972 , qua sự giàn xếp của Tổng Thống Hồi Quốc Yahya Khan. Mao Trạch Đông với sức mạnh đàn anh, từng viện trợ, cố vấn tích cực cho cộng sản Hà Nội, đã ép cộng sản Hà Nội bớt ương ngạnh, ngưng chơi trội và bắt bí Mỹ ở Hội Nghị Paris, diễn ra tại Salle de Conférence Kléber. Trong vụ này, Mỹ được tí chút lợi lộc là ký được cái "Hiệp Định Ngưng Bắn - Agreement of Cease-Fire" để tháo lui có văn bản đàng hoàng, mà phe cộng sản coi như mớ giấy lộn, chẳng có giá trị gì cả, để tránh cái cảnh quân Mỹ tháo lui bỏ chạy vô tổ chức,nhưng trong đó Mỹ phải bấm bụng làm lơ, không được nói năng chi tới cái chuyện quân Bắc Việt đã vào Nam cả mấy chục Sư Đoàn (Divisions) rồi. Tội vạ đổ lên đầu người bạn đồng minh Việt Nam Cộng Hoà hết cả. .Phái đoàn Việt Nam Cộng Hoà phản đối mấy cũng hoài hơi mà thôi vì " Xếp " đã chơi đòn " tháu cáy " rồi thì ráng mà chịu cho quen. Dân nhược tiểu chơi với anh bạn khổng lồ là vậy! Việc Mỹ làm cú đi đêm ( Furtive Conspiracy ) liên kết với Trung Cộng để chống Liên Sô thì kể như 2 bên cùng có lợi, nhưng riêng phần Trung Cộng thì lời to : Trung Cộng nhẩy vào ngồi cái ghế " Hội viên thường trực - Permanent Member " cuả Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, với quyền phủ quyết ( Veto ) đáng giá cả…tỉ tĩ Mỹ Kim, đánh văng Ông Quốc Dân Đảng Trung Hoa ra Đài Loan mà chơi luôn, mặc dầu Trung Cộng đánh thắng và kiểm soát lục địa Trung Hoa từ năm 1949. Thêm cái lợi nữa là chính quyền Nixon phải lén lút, dấu diếm bán vũ khí tối tân cho Trung Cộng để chống Liên Sô mà không được cho ai biết hết, nhất là Liên Sô, kể cả Quốc Hội, Dân Chúng và Báo Chí Mỹ nữa. Đó! Mỹ dã tìm cách tháo lui bằng mọi giá, với thế bị đánh bại rồi thì Ông Thiệu có bỏ 2 Quân Khu 1 và 2, chớ Ông Thiệu có bỏ luôn cả Quân Khu 3, Quân Khu 4 và Biệt Khu Thủ Đô, bỏ hết miền Nam Việt Nam chăng nưã thì Mỹ cũng chẳng bao giờ dại dột quay đầu trở lại để cứu Nam Việt Nam nữa. Nếu nói là cứu thì cứu hết sức từ 1965 đến 1973, với 58 ngàn quân nhân Mỹ hy sinh, mấy ngàn người mất tích, hàng trăm ngàn bị thương, hàng triệu người đau khổ, mất mát, mà đâu có cứu nổi ! Nay trong lúc đã tan hàng, bỏ chạy thì còn cứu cái nỗi gì nữa đây? Rút mau chừng nào hay chùng đó! Ông Thiệu phải biết chớ! Dù cách nào đi nữa, Ông Thiệu ra lệnh bỏ 2 Quân Khu, bắt 2 Quân Đoàn phải bỏ chạy khi chưa đánh nhau với ai cả thì: Làm rối loạn hàng ngũ quân đội và dân chúng, làm mất nước mà không chiến đấu, không kháng cự gì cả là tội to tầy trời của Ông Thiệu ! Lịch sử cận đại Việt Nam không thể bỏ qua chỗ này! Đại quân cộng sản đã từng chiếm đóng thành phố Huế trong dịp Tết Mậu Thân 1968, đã từng đánh chiếm Quảng Trị và kiểm soát hoàn toàn Thị Trấn An Lộc trong Mùa Hè đỏ lửa 1972 mà có Quân Khu nào bị mất, phải bỏ chạy đâu ? Trái lại, Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã phản công một cách vô cùng anh dũng, để giành lại những địa điểm chiến lược đã rơi vào tay giặc. Thế thì tại sao mới mất có Ban Mê Thuột mà phải bỏ Quân Khu I, trong khi Danh Tướng Ngô Quang Trưởng cuả Muà hè Đỏ Lửa 1972, từng được thế giới biết đến và kính phục, luôn luôn nắm vững tình hình Quân Khu của Ông, trong khi Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân Khu 2, phải lớn tiếng cự lại Tổng Thống Thiệu trong hệ thống liên lạc Vô tuyến Siêu Tần Số, dù Ông biết rằng làm như thế là có thể mất lon, phải ra trước Toà Án Quân Sự Mặt Trận. Tướng Phú đang sẵn sàng chờ địch tiến đánh Pleiku, vì Tướng Phú biết rằng : đánh thì chưa chắc đã chết, nhưng tự dưng bỏ chạy thì chắc chắn cả lính lẫn dân đều phải chết bi thảm trong cảnh hỗn loạn, dưới những làn mưa bão pháo binh, hoả tiễn cuả cộng sản, tự do hoành hành mà không gặp sức chống trả. Năm ngày sau, khi quân đội và dân chúng đang tháo chạy một cách thê thảm, hỗn loạn thì Ông Thiệu lại ra lệnh cho Tướng Ngô Quang Trưởng là phải " Tử thủ thành phố Huế " ( … five days later, Thieu orders Hue held at all costs…). Ông Thiệu vốn được chính giới coi là khôn ngoan, mưu mô, xảo quyệt từ ngày còn là Đại Tá Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh, tham gia đảo chính lật đổ Ông Diệm năm 1963, rồi lên làm Trung Tướng Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia, rồi lên làm Tổng Thống Việt Nam, Đệ Nhị Cộng Hoà, nhiệm kỳ I, kỳ 2, rồi còn định vận động Quốc Hội sửa đổi Hiến Pháp để Ông làm luôn Tổng Thống keo thứ 3 nưã, mà sao lúc này Ông Thiệu lại khờ khạo đến mức độ… nhiều người, nhất là nhiều Sĩ Quan trong quân đội cho là (xin lỗi) đại ngu xuẩn , để ra lệnh bỏ 2 Quân Khu, không đánh đấm chi cả, trong khi 2 Quân Đoàn Việt Nam Cộng Hoà đang trong tư thế sẵn sàng chờ địch để thêm một lần nữa cho cộng sản học lại những bài học Mậu Thân 1968 và Mùa Hè Đỏ Lửa 1972. Tướng Ngô Quang Trưởng trả lời là : không thể nào làm được việc đó vì trước đó 5 ngày, Ông Thiệu đã hạ lệnh rút bỏ Quân Khu I. quân đội và cả triệu dân chúng hỗn loạn rút chạy suốt 5 ngày rồi, làm sao mà trở lại vị trí cũ, tổ chức, phối trí lực lượng để mà "tử thủ ! " Ông Thiệu là Tướng Lãnh, là Tổng Thống, Tổng Tư Lệnh quân đội mà không biết việc đó hay sao? Chẳng lẽ Ông ta (xin lỗi) điên hay ngu dại đến mức kỳ lạ như vậy? * Ngày 24 - 3 - 1975 : Thấy tình thế thuận lợi, cộng sản Hà Nội quyết định chính thức mở màn Chiến dịch Hồ Chí Minh. Hà Nội giao cho Tướng Văn Tiến Dũng một " Thời khoá biểu " phải kịp thời đánh chiếm hoàn toàn Nam Việt Nam trước khi mùa mưa bắt đầu vào tháng 5. Muốn vậy, quân Bắc Việt phải vào chiếm Sài Gòn chậm nhất là tuần lễ cuối cùng của tháng 4, trước khi quân đội miền Nam có thể tái phối trí lực lượng hầu bảo vệ Sài Gòn và Quân Khu 4 ở miền Tây.

* Ngày 25 - 3 - 1975 : Ông Thiệu ra lệnh bỏ thành phố Huế. Trong có mấy ngày mà ra lệnh bỏ Quân Khu 1, có Huế trong đó, rồi lại ra lệnh Tử thủ Huế, rồi lại ra lệnh bỏ Huế ! Đúng là điên hạng nặng ! Vào lúc này, dân chúng đông tới hàng triệu người. Họ không quên cảnh cộng sản tàn sát tập thể dân chúng cũng như viên chức chính quyền, nhân vật Đảng Phái vào dịp Tết Mậu Thân- 1968 - nên đã kéo nhau tràn xuống thành phố Đà Nẵng, lúc đó đang bị quân cộng sản tấn công từ xa bằng hoả tiễn 122 ly cuả Trung Cộng và đại bác 130 ly cuả Liên Sô. Ông Thiệu còn ra lệnh: Không giữ được Huế thì cũng phải cố mà giữ lấy vùng duyên hải Đà Nẵng, coi như vị trí chiến lược làm đầu cầu cho quân đội Mỹ đổ bộ lên, một khi chính quyền Mỹ quyết định trở lại cứu vớt Việt Nam Cộng Hòa, đương đầu với cuộc xâm lăng đại quy mô của cộng sản. Trời Đất quỷ thần ơi! Tới lúc này mà Ông Thiệu còn hy vọng

Mỹ trở lại cứu Việt Nam Cộng Hòa thì trên thế gian này, Lãnh Tụ Quốc Gia, Tổng Tư Lệnh Quân Đội chỉ có Ông là một mà thôi ! Không thể có kẻ thứ 2 kiểu như thế ở cõi đời này! Ông Thiệu là Tổng Thống, “chơi“ với Mỹ, đồng minh thân thiết của Mỹ, lãnh tụ “ Tiền đồn chống cộng “ của Mỹ tại Đông Nam Á Châu mà Ông Thiệu đâu có biết gì về Mỹ : ngày 29 - 6 - 1973 Hạ Viện Hoa Kỳ đã biểu quyết dự luật cấm các hoạt động quân sự của Hoa kỳ trên toàn lãnh thổ Đông Nam Á Châu. Dự luật này được lưỡng viện Quốc Hội Hoa Kỳ thông qua ngày 21 – 9 – 1973. Kế theo đó, ngày 12 – 10 – 1973, lưỡng Viện lại thông qua dự luật hạn chế quyền của Tổng Thống Mỹ trong việc đưa quân đội Hoa Kỳ ra ngoại quốc ( sau bài học cay đắng tại Việt Nam ). Ông Thiệu lúc này loạng quạng, quáng gà là đúng thôi vì Ông không biết gì về người bạn dồng minh và cũng chẳng biết gì về công việc phải làm của mình nữa...

* Ngày 29 - 3 - 1975: Cộng sản chiếm thành phố Đà Nẵng, đang rối loạn, mà chẳng tốn 1 viên đạn nào. Dân chúng tìm mọi cách thoát khỏi vùng này bằng mọi giá, chấp nhận chết chóc, đau đớn chia lìa trong máu và nước mắt… Kẻ viết bài này kẹt lại Đà Nẵng, rồi đi tù cải tạo hơn 12 năm vì trước đó phi đạo Đà Nẵng bị hỏa tiễn Trung Cộng cầy nát, không sử dụng được nữa, trực thăng không có, tầu Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa từ trong Nam kéo ra bãi biển Mỹ Khê, Quận 3 Đà Nẵng cứu nạn, nhưng đủ thứ người trốn chạy cộng sản giành nhau leo lên tầu bằng đủ mọi cách đã gây nên cảnh kinh hoàng, người già, trẻ con rơi xuống biển như những chíếc lá mùa thu. Kẻ này phải vỗ vai Đại Úy Từ Khánh Sinh, Quản Đốc Quân Lao Đà Nẵng, cựu Đại Đội Trưởng nhẩy dù : “Không đi bằng cách này được! Mấy đứa trẻ này sẽ chết hết! “ Đại Úy Sinh kiếm được tay Nghĩa Quân, đàn em, hắn lôi cái thuyền nhỏ xíu dìm dưới nước lên và tính chuyện ra khơi, lên tầu Mỹ. Ngay tức khắc, hàng chục mũi súng AK của du kích địa phương đã chĩa vào cái thuyền : thuyền ra là bắn tất cả ngay ! Cả 2 chúng tôi cùng đi tù cải tạo với nhau nơi rừng sâu, núi thẳm ghê người! Điều an ủi cho kẻ này là trước đó chỉ non một ngày, nhân danh Sĩ Quan cấp chức cao nhất của 2 Tòa Án Quân Sự Mặt Trận Quân Khu I và Toà án Quân Sự Thường Trực Đà Nẵng còn có mặt, tôi đã ra lệnh phóng thích tất cả hơn 1 ngàn quân phạm, bất kể Sĩ Quan hay Binh Sĩ, tiểu hay đại hình, xếp hàng, cứ 10 người một chạy ra khỏi Quân Lao, về lo chuyện gia đình trước họa cộng sản đang tràn đến... Ai cũng có thân nhân, gia đình, ai cũng là người cả !

* Ngày 6 đến 15 - 4 - 1975 : 2 Trung Đoàn thuộc Sư Đoàn 2 Bộ Binh V.N. Cộng Hòa cùng với 1 Lữ Đoàn nhẩy dù được đổ xuống phi trường Phan Rang vào ngày 6 để hy vọng đánh trận phản công. Cộng sản thấy hơi khó ăn vì ngán quân nhẩy dù nên để cho tình hình yên tĩnh 3 ngày. Thế là Lữ Đoàn nhẩy dù được bốc đi Xuân Lộc là nơi đang có trận đánh lớn giữa Sư Đoàn 18 Bộ Binh VN Cộng Hoà dưới quyền chỉ huy cuả Tướng Lê Minh Đảo với 2 Sư Đoàn quân Bắc Việt. Thay thế cho Lữ Đoàn nhẩy dù thiện chiến, người ta đưa tới đó 1 đơn vị Biệt Động Quân. Lập tức quân cộng sản cho xe tăng T-54 của Liên Sô ào ạt tiến vào, chọc thủng phòng tuyến Phan Rang và chiếm đóng vùng này không khó khăn.

* Ngày 7 - 4 - 1975 : Lê Đức Thọ, Ủy viên Bộ Chính Trị cộng sản Hà Nội, tới Tổng Hành Dinh quân cộng sản ở Miền Nam, đóng tại Lộc Ninh để xem xét tình hình và quyết định kế hoạch cho giai đoạn chót cuả cuộc đánh chiếm miền Nam. Lúc này, cộng sản đã kiểm soát được 2/3 lãnh thổ Nam Việt Nam.

· Ngày 8 đến 21 - 4 -1975 : Sư Đoàn 18 Bộ Binh

VN Cộng Hoà do Tướng Lê Minh Đảo chỉ huy, chống giữ oanh liệt trước sức tấn công vũ bão cuả 2 Sư Đoàn cộng sản nhằm tiến chiếm Sài Gòn bằng cách phá vỡ phòng tuyến cuối cùng này. Một Trung Đoàn thuộc Sư Đoàn 5 Bộ Binh và Lữ Đoàn nhẩy dù từ Phan Rang được đưa vào tăng viện. Tướng cộng sản Văn Tiến Dũng phải tung vào mặt trận này 2 Sư Đoàn nữa là 4 Sư Đoàn tất cả để hòng dứt điểm càng sớm càng tốt. Đánh chiếm miền Nam

mùa xuân năm 1975, đây là mặt trận duy nhất quân cộng sản gặp sức chiến đấu dũng mãnh, oanh liệt cuả quân đội VN Cộng Hoà, cộng sản phải dùng số quân 4 đánh 1, trong lúc thế mạnh mọi mặt đang ở phía chính họ. Tướng Homer Smith, tùy viên Quốc Phòng Mỹ tại Sài Gòn, ngày 13, đã gửi 1 bức điện văn cho Tướng George S. Brown, Tham Mưu Trưởng Bộ Tổng Tham Mưu Hoa Kỳ ca ngợi ý chí và tinh thần chiến đấu can đảm, dũng mãnh tuyệt vời của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, dù những bất lợi đang đè nặng tên vai họ. Tướng Smith, sau khi theo dõi cuộc chiến đấu tại Xuân Lộc, đã nói : “ Sự dũng cảm và chiến đấu anh hùng của quân chính phủ Miền Nam, kể cả Địa Phương Quân Tỉnh Long Khánh đã chứng tỏ họ chiến đấu giỏi hơn đối phương của họ rất nhiều...” Nếu Ông Nguyễn Văn Thiệu không ra lệnh bỏ 2 Quân Khu 1 và 2 ngay từ lúc chưa đánh nhau chi cả thì quân đội miền Nam Việt Nam sẽ có biết bao nhiêu trận đánh oanh liệt như thế này, và nếu chính quyền Mỹ không cố ý bỏ chạy khỏi Việt Nam thì làm sao cộng sản chiếm nổi Nam Việt Nam một cách dễ dàng như đã xẩy ra ? Cuối cùng phòng tuyến Xuân Lộc chỉ rơi vào tay quân cộng sản, đông và hỏa lực mạnh gấp 4 lần, vào ngày 21 - 4 - 1975, khi Tướng Tư Lệnh Quân Khu 3 Việt Nam Cộng Hoà không muốn hy sinh 1 Sư Đoàn 18 Bộ Binh anh dũng, thiện chiến trong hoàn cảnh bất lợi về tất cả mọi mặt nên đã ra lệnh cho Sư Đoàn này rút khỏi phòng tuyến đang trấn giữ.

* Ngày 21 đến 25 - 4 - 1975 : Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu bị áp lực từ nhiều phía phải tuyên bố từ chức, chuyển giao quyền hành cho Phó tổng Thống Nguyễn Văn Hương để ra ngoại quốc, đem theo những gì Ông đã lo liệu từ trước cho cuộc sống ở nước ngoài, bỏ lại đằng sau: Quê Hương, Chiến Hữu và Đồng Bào của Ông, là những gì thiêng liêng mà Ông đã từng long trọng tuyên đọc lời thề khi nhậm chức Tổng Thống, cũng như trong các dịp Quốc Lễ là sẽ sống chết bảo vệ đến hơi thở cuối cùng.

* Ngày 23 - 4 - 1975: Tại Hoa kỳ, Tổng Thống Ford ( Gerald Rudolph Ford – Tổng thống thứ 38 – Ông Tổng Thống duy nhất của Hoa Kỳ làm Tổng Thống mà không hề được dân chúng, cử tri bầu vào chức vụ Tổng Thống hay Phó Tổng Thống, dù là chỉ 1 phiếu ) nói " Chiến tranh Việt Nam kể như chấm dứt. " Dư luận hiểu rằng "Chính quyền Mỹ lúc đó đã buông tay và… chạy làng" bằng mọi giá, trong khi Liên Sô và Trung Cộng hồ hởi, phấn khởi là đã hoàn thành nhiệm vụ " Dứt điểm tiền đồn chống cộng cuả Mỹ tại Á Châu ".

* Ngày 28 - 4 - 1975 : Bị áp lực nặng nề cũng từ nhiều phiá, Tổng Thống Trần Văn Hương phải trao quyền hành cho Tướng 4 sao Dương Văn Minh, người đã đóng vai chính trong vụ đảo chính lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm tháng 11 năm 1963, để cho chính quyền Mỹ đổ quân tác chiến vào Nam Việt Nam và lãnh đạo cuộc chiến tranh ở đây theo kiểu "chiến tranh nhà giầu cuả Mỹ " nhưng hoàn toàn vô hiệu đối với kiểu "chiến tranh nhân dân - People's War " không có mục tiêu, không trận tuyến, lẫn lộn với nhân dân của cộng sản. Tướng Dương Văn Minh lên làm Tổng Thống theo đúng với sự sắp xếp cuả Hà Nội, qua trung gian cuả người em ruột Dương Văn Nhựt, Sĩ Quan cao cấp cuả cộng sản, đã có liên lạc với Dương Văn Minh từ hồi Tướng Minh được Ông Diệm cho thăng Trung Tướng sau khi Tướng Minh đánh tan các lực lượng giáo phái vũ trang ở miền Tây. Chuyện đó bại lộ. Tướng Minh, vì có công trạng, và Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ, người bà con, cùng quê quán xin cho, nên được 2 Ông Diệm, Nhu tha tội, chỉ bị mất chức cầm quân, ngồi ghế Tổng Thanh Tra hữu danh nhưng vô thực. Tổng Thống Dương Văn Minh luôn luôn phải nhận lệnh qua điện thoại với Ông Thích Trí Quang, một nhân vật trong hàng lãnh đạo tôn giáo, người gốc Bắc Việt, đã được cộng sản sử dụng vào vị trí “ chuyên viên tôn giáo vận tử năm 1946 “ 2 lần bị Tây bắt từ hồi chiến tranh Việt-Pháp vì tình nghi hoạt động cho Việt Minh cộng sản, người đã lãnh đạo dân chúng đấu tranh tôn giáo lật đổ Ông Ngô Đình Diệm (… Thich Tri Quang, a politically sophisticated Monk of North Vietnamese origin, twice arrested by French on suspicion of Vietminh connections , stirs the people against Ngo Dinh Diem… ) đấu tranh tôn giáo chống chính quyền Thiệu - Kỳ - Có hồi 1966 ở Miền Trung Việt Nam, nhưng cuối cùng bị Tướng Không Quân Nguyễn Cao Kỳ, với cương vi Thủ Tướng, cùng 1 tôn giáo với Ông, cho quân đội và quân cảnh từ trong Nam ra dẹp tan, bắt Ông Thích Trí Quang cùng nhóm thân cận, nhốt lại, dẹp yên chuyện đấu tranh rối loạn lung tung, làm nát bét xã hội miền Nam, hoàn toàn chỉ có lợi cho cộng sản.

* Tướng Dương Văn Minh, một Tướng đánh giặc giỏi nhưng hoàn toàn không biết gì về chính trị, lại nhẩy ra làm Tổng Thổng trong giai đoạn nước sắp mất, với 1 cổ 2 tròng, nhận lệnh từ 2 nơi (Cả ông Thích Trí Quang lẫn đại diện cộng sản Hà Nội đều hứa hẹn với Ông những điều tốt đẹp) thì làm được cái gì đây? Ông Minh làm Tổng Thống chỉ làm được có mỗi một việc: Theo lệnh của cộng sản, đã

chiếm xong dinh Độc Lập, lên tiếng tuyên bố « đầu hàng vô điều kiện" mà thôi. Ôi! Giây phút xót sa, đau đớn cho biết bao nhiêu tâm hồn, nhất là những người quốc gia đã bao năm quyết tâm chống cộng sản Hà Nội để giữ vững Nam Việt Nam. Kẻ viết bài này cùng nhóm Sĩ Quan thân thiết xung quanh, hai tay ôm lấy mặt, nén chặt trong lòng, trong tim cho tiếng khóc đau sót khỏi bật ra, trong lúc đang bị tạm giam tại trại tập trung Vĩnh-Điện, Quảng Nam cùng với hàng chục ngàn người trong hoàn cảnh tan hàng, thua trận, bị cầm tù một cách đau buồn và tủi nhục. Năm 1951, với tuổi 20, đang đi kháng chiến chống Pháp, mình bị Tây bắt ở Huyện Tiên Hưng, Thái Bình lần thứ 2, đem về tập trung ở sân vận động tĩnh Thái Bình, rồi đưa về giam ở Nhà Máy Rượu, thành phố Nam – Định mà có sao đâu, coi là chuyện thường vì đấu tranh cho đại cuộc là như thế, không thấy đau buồn tủi nhục bằng hơn 20 năm chống cộng sản, bị cộng sản cầm tù, đưa đi cải tạo, rồi phải theo lệnh bộ đội cộng sản, dí súng vào sau lưng, bắt vỗ tay hoan hô khi nghe Dương Văn Minh, qua hệ thống truyền thanh, tuyên bố đầu hàng vô điều kiện... Thế là nước mất, nhà tan, đau buồn, uất hận vì... mất hết ! mất hết ! mất cả thể xác lẫn tâm hồn...

* Xin trở lại: rạng sáng Ngày 30 tháng 4, quân cộng sản tiến vào Sài Gòn, vẫn còn gặp vài ổ kháng cự lẻ tẻ. Xe tăng cộng sản hung hăng ủi xập cổng Dinh Độc Lập để quân cộng sản tiến vào. Dương Văn Minh cứ yên trí theo bài bản đã nhận được từ "cấp trên" qua điện thoại, ra đón tiếp quân "giải phóng" và sau đó "xin bàn giao chính quyền". Viên Đại Tá chỉ huy quân cộng sản lúc đó quát vào mặt Dương Văn minh "Các Anh còn cái gì nữa vào lúc này mà đòi bàn giao ? Chỉ có chấp nhận đầu hàng vô điều kiện mà thôi! "Đại Tá cộng sản Bùi Tín ( sau đã bỏ đi Pháp) lúc đó đóng vai Chính Ủy bên cạnh viên Đại Tá Chỉ huy quân giải phóng, vào Dinh Độc Lập. Bùi Tín khôn ngoan, nhỏ nhẹ hơn nên nói " Chúng tôi chấp nhận việc đầu hàng của các Ông. Các Ông không có chi phải sợ cả. Người Mỹ là kẻ xâm lăng đã bị đánh bại. Nếu các bạn là những người yêu nước thì hãy coi giờ phút này là niềm vui chung của dân tộc, và trên đất nước của chúng ta, chiến tranh đã chấm dứt!" Buổi sáng hôm đó, cộng sản bắt Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng trước quân cộng sản. Chiến tranh đã chấm dứt, đất nước đã thống nhất nhưng dân chúng miền Nam không vui mừng, sung sướng, hạnh phúc mà lại xô nhau chạy đi mọi ngả, tìm cách thoát chạy khỏi chính quê hương, đất nước của mình để tránh họa cộng sản, bất kể mọi gian nguy, bị giết chóc, cướp bóc, hải tặc hãm hiếp, quăng xác xuống biển… Chính quyền mới truy lùng, tiêu diệt, bắt bớ những kẻ đã phục vụ cho chế độ cũ, nhân vật Đảng Phái chính trị, tống họ vào những trại tập trung cải tạo ở các vùng rừng núi âm u, hiểm hóc, cách biệt hẳn với xã hội loài người. Nam Bộ là cái túi đựng người quá đông đảo mà lại không có rừng núi thích hợp cho việc thiết lập các trại cải tạo, vừa an toàn lại có lợi nhiều cho nên cộng sản mới phải đưa số đông " kẻ thù " của họ ra Bắc, tống lên các trại cải tạo vùng Thượng Du Bắc Việt.

* Cán bộ cộng sản từ lớn đến nhỏ, ngơ ngáo nhìn Sài Gòn và Nam Việt Nam trong cảnh xác sơ, buồn thảm nhưng vẫn không làm mất, không che dấu được sự phồn thịnh, phát triển quá cao so với “thiên đàng hay địa ngục Bắc Bộ“. Cộng sản lớn nhỏ thi nhau vơ vét tài sản của kẻ bỏ chạy, của nhân dân Miền Nam "tay sai Mỹ Ngụy" đem về Bắc như những chiến lợi phẩm cuả 1 cuộc chiến thắng. Sau này, có cơ hội tiếp xúc với người thân ở Bắc Việt Nam, từng giữ chức vụ quan trọng trong bộ máy chính quyền cộng sản thời gian này, kẻ viết được biết mật lệnh của cộng sản Hà Nội lúc đó có những điểm rất kinh khủng: bắt nhốt hết mọi kẻ có khả năng chống cự, nổi dậy sau này, tịch thâu mọi loại vũ khí có tầm sát hại tập thể hay cá nhân, khi có dấu hiệu hay mầm mống biến động thì tất cả những kẻ ít nguy hiểm nhất cũng phải tập trung cải tạo (vì thế khi Trung Cộng tràn vào đánh phá 6 Tỉnh miền Bắc Việt Nam ngày 27 tháng 2 – 1979 để “dậy cho cộng sản Hà Nội 1 bài học“ thì ngay ngày hôm sau, tất cả mọi Sĩ Quan đã giải ngủ lâu hay mau, không đi cải tạo sau 30 – 4 – 1975, cũng phải nhốt đầu lại hết), cán bộ, nhất là công an phải tìm cách dụ dỗ vợ con, làm áp lực để phá tan các gia đình sĩ quan đã đi cải tạo để lấy hết, vét hết, không cho lực lượng sĩ quan khi trở về, còn có thể làm chi được nữa, chỉ còn lo miếng cơm ăn cũng không nổi ...Thân phận cuả một Đất Nước nhỏ bé đã có "Ngàn năm nô lệ giặc Tầu - Trăm năm nô lệ giặc Tây " nhưng cũng có 900 năm độc lập, tự chủ, sau trận đánh thắng lẫy lừng của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng, đánh bại đạo quân xâm lược khổng lồ cuả nhà Nam Hán, lúc này lại như thế đó !

* Đất nước Việt Nam cuối cùng chỉ là bãi chiến trường để 2 phe đối nghịch ý thức hệ quốc tế tiêu thụ vũ khí chiến tranh và thử nghiệm chính sách cuả mình: 1 bên là chính sách ngăn chặn ( Containment Policy ) của Mỹ chống lại Chủ nghiã bành trướng (Expansionism) của phong trào cộng sản quốc tế. Sự việc này thực ra đã được nhìn thấy truớc và ra sức ngăn chặn không cho Nam Việt Nam rơi vào hoàn cảnh đó: Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu. Hai nhân vật này đã bị những người thân cận chung quanh lợi dụng uy thế để kiếm danh kiếm lợi, làm hỏng kế hoạch chống cộng có sách lược hiệu quả (Effective Policy & Strategy) hẳn hoi, đã bị sức ép, mưu hại từ phía người bạn đồng minh khổng lồ, lúc đó bị bị giới tài phiệt (Financial Oligarchy) khuynh đảo, chủ trương buôn bán chiến tranh, tìm cách loại trừ bằng sức mạnh quân đội và tôn giáo của chính Miền Nam Việt Nam.

* Có bao giờ những nhà lãnh đạo Hoa Kỳ dám nghĩ rằng: Một ngày nào đó Hoa Kỳ phải chịu sự thua trận đầu tiên, với cái giá quá cao, thê thảm như vậy không? Thê thảm đến nỗi Đại Sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn, Graham Martin, suýt nữa thì không kịp ôm lá cờ "Bách chiến bách thắng" chui vào phi cơ trực thăng để tháo chạy hay không? Thật là đau đớn! Tuy nhiên, ở đây kẻ viết cũng xin nói lên lời ghi ơn ông Đại Sứ Martin đã cương quyết và khéo léo chống lại kế hoạch của Hoa Thịnh Đốn muốn di tản 6 - 7 ngàn người Mỹ, bị kẹt lại ở Sài Gòn vào lúc quân cộng sản đã chuẩn bị vào làm chủ vùng đất này, theo phương cách: đưa Thủy Quân Lục Chiến Mỹ vào Sài Gòn giữ vòng đai an ninh quanh khu vực Tòa Đại Sứ để phi cơ trực thăng từ Hạm Đội Thái Bình Dương liên tục bốc người Mỹ và một số nhân viên làm việc cho Tòa Đại Sứ và các cơ sở phụ thuộc của Mỹ mà thôi, không cho dân chúng Sài Gòn, Nam Việt Nam dính ké vào vụ di tản kinh hoàng này. Ông Đại Sứ khôn ngoan và ít nhiều nhân đạo Martin đã chống lại quyết định của Hoa thịnh Đốn với lý luận : Sĩ Quan, quân lính Nam Việt Nam còn đông đảo tại Sài Gòn và vùng phụ cận với tâm trạng tức giận lẫn bàng hoàng, họ còn đủ các loại vũ khí lớn nhỏ trong tay. Nếu người Mỹ di tản theo cách ích kỷ và tàn nhẫn đó thì những chiếc trực thăng cất cánh bay lên lập tức sẽ bị bắn hạ như trái cây chín rụng và cuộc chiến đẫm máu, tàn khốc giữa những chiến binh Nam Việt Nam và thủy quân lục chiến Mỹ bắt buộc phải xẩy ra, Sài Gòn và dân chúng vô tội sẽ lãnh nhiều hậu quả không cách nào lường trước được.

* Giới truyền thông cuả Mỹ, trước và sau ngày Miền Nam xụp đổ, đa số đã sa vào mê hồn trận của Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản, bị ảnh hưởng của phong trào phản chiến do Đảng Cộng sản Mỹ chủ trương và lãnh đạo, đánh giá Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa qua hình ảnh những ngày rút quân, bỏ chạy tán loạn do lệnh của ông Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Báo chí Mỹ bị mặc cảm lần đầu tiên thua trận, bỏ cuộc, chạy làng cho nên đã không tiếc lời đổ hết mọi tội lên đầu Quân Đội VN Cộng Hòa là thiếu tinh thần chiến đấu. Họ đâu có biết Quân Đội VN Cộng Hòa chiến đấu trong hoàn cảnh khắc nghiệt ra sao, chiến đấu không ngưng nghỉ, phương tiện thiếu thốn chớ đâu có được chiến đấu trong hoàn cảnh "nhà giầu" như quân đội Mỹ ở Việt Nam lúc đó, được bảo vệ, yểm trợ một cách gần như tuyệt đối. Họ đâu có biết chính quyền của Ông Johnson ở Hoa Thịnh Đốn đổ quân vào Việt nam, hòng tiêu diệt cộng sản ở đây trong vòng 3 năm, nhưng lại làm cái việc kỳ quái, mà chỉ có giới tài phiệt Mỹ mới hiểu được là "… Johnson's administration made agreements to sell or give the Soviet Union and her commuinist satellites hundreds of millions of dollars worth of food, electronics computers, chemical plants, oil refinery equipment, airborne radar apparatus, jet aircraft engines, machine tools for an $800-million auto assembly plant and military rifles…" Đó! Bán hoặc cho cộng sản Liên Sô và các nước cộng sản chư hầu thực phẩm, máy điện toán, dụng cụ, hoá chất, động cơ máy bay phản lực, máy Radar, nhà máy chế tạo xe cộ, súng đạn, để rồi tất cả những thứ đó lại đổ lên quân cảng Hải Phòng, đem vào chiến trường Miền Nam để giết lính Mỹ và Việt Nam Cộng Hoà! Chỉ có Trời mới hiểu nổi!

· Ở đây, kẻ viết chỉ muốn nói lên một điều: Quân Đội VN Cộng Hòa

nói chung, đã chiến đấu rất anh dũng, kiên cường, bất chấp mọi trở ngại, khó khăn, thiếu thốn. Miền Nam xụp đổ, nhiều Tướng Lãnh: Nguyễn Khoa Nam, Phạm Văn Phú, Lê Nguyên Vỹ, Trần Văn Hai, Lê Văn Hưng vv... và nhiều Sĩ Quan cao cấp đã tự sát trong khung cảnh vô cùng oanh liệt, chưa từng có trong quân đội 1 quốc gia nào trên thế giới, họ không chịu đầu hàng hay để bị bắt làm tù binh, hàng triệu quân nhân, viên chức chính phủ, nhân vật Đảng Phái chính trị bị nhốt vào các trại tù cải tạo khổng lồ nơi rừng thiêng, nước độc, dân chúng ồ ạt bỏ nước ra đi, bỏ hết tài sản, không kể sống chết, thảm hoạ kinh hoàng trên

biển cả vv… là những vấn đề vượt quá khả năng và tầm tay cuả người Việt Miền Nam chúng ta. Chỉ có các Đấng thiêng liêng, chỉ có Lịch Sử mới hiểu được mà thôi !

Điều đáng mừng cho chúng ta là càng ngày, dân chúng Hoa Kỳ cũng như thế giới loài người càng hiểu ra sự thật của cuộc chiến tranh Việt Nam (mà có những nhà chính trị, Giáo Sư Đại Học lẩm cẩm kêu là cuộc nội chiến, tức là người Việt Nam đánh lộn với nhau) một Bài Học Đắt Giá , quý báu cho người Việt Nam, cho siêu cường quốc Hoa Kỳ và tất cả các quốc gia nhược tiểu khác trên thế giới. Nước nhỏ yếu mà chỉ trông cậy, giao vận mạng dân tộc mình vào tay một nước lớn mạnh khác lo hộ hoàn toàn thì nhiều chuyện nguy hiểm bắt buộc sẽ phải đến. Nước lớn, dù là Đệ Nhất Siêu Cường Quốc mà thiếu chung thủy, coi thường Đồng Minh, bạn bè, phản bội dễ dàng những người đã từng sống chết với mình trên cùng một chiến tuyến, coi thường Liên Hiệp Quốc là cơ quan quốc tế có thẩm quyền cao nhất để giải quyết những khó khăn, tháo gỡ những rắc rối, tranh chấp điên khùng của loài người ngày nay có nhiều tham lam, ích kỷ, ưa dùng bạo lực, ít biết đến giá trị của hòa bình... thì không được đồng minh, bạn bè chân thành kính nể, rồi không lúc này thì cũng lúc khác sẽ bị những thế lực thù địch khác, mà tất nhiên có nhiều kẻ thù lớn nhỏ, tìm cơ hội đánh cho những đòn chí mạng, thảm khốc, kinh hoàng, loài người xưa nay chưa từng thấy, chưa dám nghĩ đến, nhất là trong một thế giới ngày nay khoa học, kinh tế, vũ khí chiến tranh, quyền lợi, tôn giáo xung đột, phát triển mau hơn, mạnh hơn so với mức độ hòa giải, tuy có, nhưng khó khăn và chậm chạp. Cho đến gaàn ñaây, tháng 3 – 2006, một số các nhân vật chính trị, các Giáo Sư Sử Học, Chính Trị Học mới tụ họp nhau lại ở Boston để tìm ra phần nào những sai lầm, thiếu sót của chính quyền Mỹ trong cuộc chiến Việt Nam, như đã nói sơ lược ở trên, trong khuôn khổ hạn hẹp của một bài báo, không phải là 1 cuốn sách, hầu cải thiện tình trạng bế tắc, hiểm nghèo, sa lầy của cuộc chiến tranh tại Iraq giữa 1 Siêu Cường Quốc ( Superpower ) hàng đầu của thế giới loài người với 1 quốc gia nhỏ bé, tầm thường, đã bị thương nặng trong cuộc chinh phạt thần tốc ( lighting-speed expedition ) của lực lượng Đồng Minh, Dân Chủ, Tư Do mà chính yếu là Hoa Kỳ, vào năm 1991. Chúng ta có quyền hi vọng ở tương lai: thế hệ trẻ Việt Nam, những người yêu nước trong cũng như ngoài nước, với trình độ kiến thức, hiểu biết rộng rãi về " Tiến trình cuả nhân loại - Process of Human Society " , hiểu biết về khoa học, kỹ thuật, nhất là với niềm tự hào cuả một Dân tộc tuy nhỏ bé, gần như suốt đời này qua đời khác, luôn luôn bị xâm lăng, thống trị dã man, tàn bạo, nhưng không bao giờ đánh mất Niềm Tin vào Tổ Quốc, từng có những trang sử oanh liệt cuả Ngô Quyền, Lê Lợi, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Quang Trung Nguyễn Huệ vv… sẽ mãi mãi muôn đời có mặt trong Cộng Đồng Thế Giới Tự Do, Tiến bộ và thật sự Văn Minh.
Tài liệu tiết lộ sau này để đọc thêm:
*
HENRY KISSINGER: LỖI LẦM TRONG CUỘC CHIẾN VIỆT NAM LÀ DO NGƯỜI MỸ GÂY RA

Ngày 2 Tháng 10 Năm 2010
(AP) - Tiến Sĩ Henry Kissinger, từng giữ các chức vụ cố vấn an ninh quốc gia và Ngoại Trưởng Hoa Kỳ dưới thời Tổng Thống Richard Nixon, là nhân vật nòng cốt trong việc chính sách của Washington vào những năm cuối của cuộc chiến Việt Nam, tuyên bố rằng những lỗi lầm trong cuộc chiến ấy là do chính người Mỹ gây ra. Ông Kissinger đưa ra nhận định này tại hội thảo về chiến lược và lịch sử cận đại của Hoa Kỳ tổ chức hôm thứ Tư 29-9-2010 tại trụ sở Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ ở thủ đô Washington. Theo ông thì người Mỹ muốn thương thuyết hầu chấm dứt cuộc chiến đó, nhưng phía Hà Nội thì nhất định phải đạt chiến thắng. Cộng Sản Việt Nam ấp ủ, tiến hành mục tiêu đó để thống nhất hai miền Nam Bắc từ khi họ đánh đuổi người Pháp ra khỏi Đông Dương vào năm 1954. Trước khi cuộc chiến Việt Nam kết thúc hồi năm 1975, ông Kissinger cũng ca ngợi phía Hà Nội là khôn khéo nên đã thành công trong việc đàm phán với Mỹ. Tuy nhiên qua những lời nhận lỗi cho rằng thất bại hoàn toàn về phía Hoa Kỳ, ông đã làm lu mờ những chiến công mà từ phía đối thủ Bắc Việt, luôn cho đó là một chiến thắng “thần thánh” giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước về một mối.

Dư luận vẫn chưa quên lời phát biểu của ông Kissinger sau ngày 30 tháng tư, 1975, khi nói rằng “thời gian sẽ trả lời ai thắng ai.”

Phan Đức Minh

Tài liệu tham khảo:

* The Death of a Nation. - John A. Stormer. - Liberty Bell Press. - Missouri - 1978. * The World Almanac of The Vietnam War -John S. Bowman (General Editor). - Bison Books Corp, NewYork.-1985

* Vietnam - The History & The Tactics.- Ashley Brown & Adrian Gilbert.- Orbis Publishing Limited, London - 1982.

* Kennedy. - Theodore Sorensen. - Harper & Row . New York - 1965.

* New Standard Encyclopedia .-. Standard Educational Corporation. Chicago – 1981.

* Henry Kissinger’s Diplomacy. - Simon & Schuster .- New York, 1994.

* A Book of U.S. Presidents - George Sullivan - Scholastic Incorporation, New York - 1984.

* Một số tài liệu chọn lọc trên Internet của những Nhân Vật chính trị, Giáo Sư Chính Trị và Sử học danh tiếng.-

Posted: Fri Apr 22, 2011 1:12 am
by quaichao
TRÍ THỨC NÀO, CHÍNH QUYỀN NẤY _

BẰNG PHONG ĐẶNG VĂN ÂU



Thành phố Houston, Tiểu bang Texas, Hoa Kỳ, ngày 20 tháng 4 năm 2011,

Kính gửi Nhạc sĩ Tô Hải,
Thưa anh, Đọc sách của anh, tiếp tục theo dõi những bài viết của anh và nhiều lần trò chuyện cùng anh qua điện thoại, tôi nhận thấy anh xứng đáng là vị lão thành cách mạng anh hùng. Bởi vì anh dứt khoát lên án kẻ đánh lừa nhân dân đi vào con đường bán nước hại dân; trong khi lắm kẻ tay trót nhúng chàm , nhìn đất nước suy vi, dân tình khốn khổ, một mặt thì kiến nghị bày tỏ sự phản kháng mà miệng vẫn tụng câu “Bác Hồ vô vàn kính yêu”. Sợ là tâm lý rất thường tình của con người, chẳng có gì phải dấu giếm. Anh đã từng sợ, nhưng nay vượt qua nỗi sợ thì thẳng thừng lên án kẻ đã gieo rắc sự sợ hãi khiến cho cả dân tộc trở nên hèn. Anh tự thú nhận “Anh là thằng hèn” trong hàng triệu người hèn thì anh không còn hèn nữa. Một khi anh dám nói lên Sự Thật thì tâm hồn anh, xác thân anh được giải phóng. Vì ngưỡng mộ anh, hôm nay tôi ngồi viết thư này để tâm tình cùng anh về chuyện quê nhà. Trước năm 1975, ở Miền Nam nhà văn Nguyễn Mạnh Côn viết cuốn “Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử” bằng những bức thư gửi cho người bạn mang tên Kiên Trung, để thuật lại bối cảnh lịch sử diễn ra vào thời điểm gọi là Cách Mạng Mùa Thu. Nhờ đọc cuốn sách này, hàng hậu bối như tôi mới có sự hiểu biết về những thủ đoạn chính trị của người cộng sản. Năm 1960, nhờ đọc cuốn “Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc” do học giả Hoàng văn Chí biên soạn và xuất bản năm 1959, tôi biết được tình hình các nhà trí thức, các văn nghệ sĩ ở Miền Bắc bị chủ nghĩa cộng sản đầy đọa như thế nào. Đặc biệt tôi ngưỡng mộ hai tác giả, một già và một trẻ, là cụ Phan Khôi khí phách qua bài tham luận “Phê Bình Lãnh Đạo Văn Nghệ” và thi sĩ Phùng Quán yêu sự chân thật qua bài thơ “Lời Mẹ Dặn.”

Tôi không phải là nhà văn chuyên nghiệp như Nguyễn Mạnh Côn, mà chỉ thuần là người lính đánh giặc để bảo vệ giá trị tự do (a freedom fighter), chẳng qua bị “lạc đường vào lịch sử” mà cầm bút viết chuyện nước non. Tự biết khả năng hạn hẹp của mình, tôi mạo muội đánh bạo kế tục con đường của nhà văn Nguyễn Mạnh Côn và noi gương hai đức tính cao quý của cụ Phan Khôi và thi sĩ Phùng Quán với ước mong rằng mình không làm hổ thẹn thanh danh ba vị dưới suối vàng và hy vọng giúp thế hệ sau mình biết được những gì đã xảy ra trên đất nước Việt Nam vào thời đại mình đã sống. Dĩ nhiên, đây không phải là chính sử hay biên niên sử, nhưng chắc chắn những ghi chép này hoàn toàn độc lập, không thuộc phe phái nào, không định kiến hay lòng thù hận.

Vốn ảnh hưởng triết lý Phật giáo, nhưng thờ phượng Ông Bà Tổ Tiên là chính, tôi tin vào luật nhân quả luân hồi. Có lẽ kiếp trước mình không khéo tu nên bị đầu thai làm người Việt Nam ở vào thời đại quỷ ám. Dân tộc ta từng bị Tầu, Tây đô hộ, nhưng chưa có thời kỳ nào khủng khiếp như cái thời kỳ có những nhà cách mạng giả danh cứu nước mang về một loại tà giáo quái ác đến kinh hồn. Tầu và Tây không làm cho ta mất bản sắc văn hóa, không áp bức dân ta xuống hàng thú vật; chỉ có con quỷ cộng sản có khả năng làm điều đó mà thôi!

Tôi đoán chừng rằng ông Hồ Chí Minh là một Con Quỷ, tu luyện lâu năm thành tinh, rồi đầu thai vào dân tộc Việt Nam, hiện hình thành một nhà đạo đức giả với mục đích đầy đọa dân ta. Anh Hải biết vì sao tôi đoán như thế không? Bởi vì một con người dù tài ba đến thế nào đi nữa cũng không thể có khả năng mê hoặc những bộ óc thông minh nhất nước ta và những bộ óc thông minh nhất thế giới từ khi còn sống cho đến khi đã chết gần nửa thế kỷ như ông Hồ. Có những nạn nhân bị đảng cộng sản do ông Hồ lập lên dẫn ra pháp trường mà mồm vẫn hoan hô Hồ Chí Minh muôn năm. Có những người lương thiện, từng hết lòng nuôi dưỡng, phục vụ kháng chiến bị Hồ Chí Minh làm nhục, rồi giết chết mà con cái họ cứ tôn vinh, thờ kính ông ta. Ví dụ, nhạc sĩ Phạm Tuyên có người cha là nhà văn hóa Phạm Quỳnh bị Hồ Chí Minh giết chết, mà sau ngày ba mươi tháng tư năm 1975 lại đặt nhạc để tung hô hung thủ giết cha mình bằng bài ca “Như Có Bác Hồ Trong Ngày Vui Đại Thắng”!

Nay ông Hồ không còn trên thế gian nữa, tội ác của ông bị phanh phui rành rành từ thư khố cộng sản ở Liên Xô, nhưng vẫn còn có những tín đồ sụp lậy ông ta, coi ông ta như một bậc Thánh. Nếu không phải là loài quỷ, ông Hồ không thể sản sinh ra một đàn quỷ con làm nhiều điều cùng hung cực ác mà dân vẫn để cho ngồi yên trên chiếc ghế thống trị. Ấy là nhờ bọn quỷ con này đặt con quỷ Hồ nằm chình ình giữa quãng trường Ba Đình như hòn đá tảng không cho dân Việt cất đầu lên nổi.

Một con quỷ thứ hai rất đắc lực phục vụ con quỷ Hồ là Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nằm chờ chết ở bệnh viện Việt Xô, nơi dành cho cán bộ cao cấp. Anh Hải có biết tại sao tôi gọi Võ Nguyên Giáp là con quỷ thứ hai? Khi thành lập chính phủ liên hiệp, ông Hồ Chí Minh mời cụ Huỳnh Thúc Kháng – một nhà cách mạng tên tuổi – làm Bộ trưởng Nội Vụ, tức là bộ Công An ngày nay. Cụ Huỳnh chỉ là bề mặt có tính cách trình diễn đoàn kết Quốc Cộng, người phụ tá Cụ Huỳnh là Giáp, giữ chức Thứ trưởng mới là kẻ có thực quyền, có nhiệm vụ tuân lệnh Hồ Chí Minh thủ tiêu những lãnh tụ quốc gia như Lý Đông A, Trương Tử Anh, Huỳnh Phú Sổ v… v… Võ Nguyên Giáp sau đó được Hồ Chí Minh phong chức Đại tướng năm 37 tuổi, dù chưa từng trải qua trường quân sự nào và chưa từng đạt được chiến công nào, để thành lập “Bộ Đội Cụ Hồ”. Hồ thờ “quỷ giáo Mác Lê” chủ trương tiêu diệt lãnh tụ quốc gia; Giáp là tay chân thừa hành mệnh lệnh của Hồ. Ngoài nhiệm vụ thủ tiêu lãnh tụ quốc gia khi làm thủ lãnh Công An, Giáp còn là Đại tướng cầm quân, đẩy thanh niên trí thức thuộc gia đình tiểu tư sản trong “Bộ đội Cụ Hồ” vào các mặt trận ác liệt nhất nhằm nướng cho kỳ hết giai cấp tư sản trong kế hoạch “đào tận gốc, trốc tận rễ”. Đại Hội 10 năm 2006, cả thế giới đã lên án cộng sản phạm tội ác chống nhân loại, Võ Nguyên Giáp dù tay nhúng vào máu hãm hại hàng triệu thường dân vô tội, không hề tỏ ra ăn năn, sám hối, lại còn ca ngợi những thành tích vẻ vang của Chủ nghĩa Xã hội.

Trên đường Nam tiến, tổ tiên ta có lẽ đã giết hại nhiều dân tộc như Chàm, Thủy Chân Lạp, Khmer … cho nên con cháu đời này bị lũ quỷ hiện hình người, có nhiều ma thuật để trả thù, như các cụ ta đời trước đã dạy: “Đời Cha ăn mặn, đời Con khát nước”? Không phải tôi nghĩ quẩn hay loạn trí đâu, anh Hải. Tôi quả quyết tin rằng chỉ loài quỷ mới có khả năng làm tiêu tan văn hóa của một dân tộc với bốn ngàn năm văn hiến, biến cả một đất nước thành “Đêm Giữa Ban Ngày”. Đêm là bóng tối, là môi trường cho quỷ dữ lộng hành. Vì vậy con quỷ cộng sản phải làm cho cả dân tộc u tối bằng cách thi hành chính sách bưng bít thông tin để ngu dân. Hễ ai nói lên Sự Thật là chúng ra tay sát hại ngay!

Muốn chống lại quỷ, ta phải đưa ánh sáng vào nơi tối tăm. Ánh sáng đó là gì? Là Trí Tuệ, là Sự Thật, là Dũng Cảm. Thập niên cuối của thế kỷ trước, ông Hà Sĩ Phu đã dùng ba vũ khí đó để chống lại quỷ. Ấy là ông dùng trí tuệ để dẫn dắt đám quỷ sứ đang lộng hành ra khỏi vũng lầy. Ông lấy Sự Thật từ thực tiễn ba quốc gia có lãnh thổ bị chia đôi như Đức quốc, Triều Tiên và Việt Nam thì cái nửa thuộc phe “tư bản dẫy chết” có tự do hơn, cơm no áo ấm hơn, năng suất sản xuất cao hơn; còn cái nửa thờ tà giáo cộng sản thì như thể là địa ngục trần gian để chứng minh. Cái dũng cảm của ông Hà Sĩ Phu là dám ví cộng sản là loài ký sinh sống bám vào lòng yêu nước của nhân dân. Tiếc thay cái ánh sáng của nhà trí thức Hà Sĩ Phu chỉ le lói, không được các nhà trí thức khác phụ họa để tăng cường độ sáng, nên ông bị tù đầy, bị quản chế. Ông Hà Sĩ Phu đã không dồn quỷ vào chân tường. Ông dành cho quỷ một lối thoát. Ông tạm chấp nhận cái luận điểm của quỷ phô trương rằng nhờ chủ nghĩa cộng sản mà Việt Nam có thể đánh Tây đuổi Mỹ giành độc lập. Ông bảo rằng thôi được, các ông bảo thế thì ta tạm tin như thế. Nhưng dùng thuyền để sang sông được rồi, tại sao không bỏ thuyền xuống mà đi cho thoải mái, lại cõng cái thuyền ấy trên lưng để đi lom khom chả giống ai? Chính vì cứ cõng cái thuyền trên lưng (nhất định không bỏ Điều 4 Hiến pháp) nên tập đoàn quỷ Việt Nam cứ phải đi lom khom trước giặc thù Phương Bắc và bắt nhân dân cả nước cũng phải đi lom khom như mình!

Anh Tô Hải thân mến,

Xin lặp lại: Tôi đánh giá anh là nhà cách mạng lão thành số một vì không những anh dám tự xác nhận mình là thằng hèn, nhưng anh dám chống gậy đi biểu tình cùng với giới trẻ chống lại Trung Cộng chiếm Hoàng Sa, Trường Sa. Còn các ông “quyết tử để dân tộc quyết sinh” thì trốn biệt tăm, biệt tích! Anh đã thẳng thừng kết tội Hồ Chí Minh trên giấy trắng mực đen. Thế kỷ trước tôi phục Hà Sĩ Phu, thế kỷ này tôi phục anh. Trông gương anh, tôi không hiểu sao các anh hùng quyết tử một thời còn dám tự xưng mình là lão thành cách mạng? Họ không đáng là hậu duệ của luật sư Cù Huy Hà Vũ; chứ đừng nói là bậc trưởng thượng!

Tổ tiên mình linh thiêng lắm anh Hải ạ! Nhà Trời phái xuống xứ sở mình một cô gái nhỏ nhắn tên là Phạm Thanh Nghiên dám ngồi nhà ôm tấm bảng “Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam” để phản kháng tại gia. Cô gái biểu dương lòng yêu nước bằng một hành động rất hiền hòa, bị tập đoàn ma quỷ bắt bỏ tù. Thế mà cả nước không ai biết cô là người của Nhà Trời phái xuống để bắt chước noi gương cô nhằm phản kháng thụ động để tê liệt bô máy cai trị. Tiếp theo, một vị Bồ Tát xuất hiện. Đó là tù nhân Trương văn Sương được ví như một Nelson Mandela. Trương văn Sương bị quỷ cộng sản bỏ tù chung thân, được quỷ tạm thả ra một năm để tự lo chữa bệnh tim, rồi sau đó phải vào ở tù tiếp. Thế mà một con người đang bệnh hoạn, ốm yếu ngồi giữa Saigon dám lên án cộng sản là kẻ có tội với dân tộc Việt Nam, nhưng sẵn sàng bao dung tha thứ vì ai cũng có thể phạm vào lỗi lầm. Ông khuyên: “Người Việt phải biết thương yêu người Việt”. Tôi nghĩ ông Trương văn Sương đúng là vị Bồ Tát tái sinh. Anh Hải biết tại sao không? Bởi vì ông Sương có cha là người Trung Hoa, mẹ là người Khmer. Nghĩa là về huyết hệ, ông Sương không phải là người Việt Nam, ông chỉ sinh trên đất nước Việt Nam. Vị Bồ Tát đã lấy lượng bao dung mở một lối thoát sám hối mà không thể cảm hóa được bọn cầm quyền. Điều đó chứng tỏ tập đoàn cai trị là quỷ, chứ đâu phải người?

Chưa hết! Trời còn cử ra một nhân vật khác để cứu dân Việt Nam. Đó là luật sư Cù Huy Hà Vũ. Anh tưởng rằng tôi nói nhảm à? Tổ tiên ta muốn dân ta giác ngộ, sám hối thì mới mong thoát ra cái họa bị quỷ ám. Ông Cù Huy Hà Vũ là con đẻ của nhà thơ Huy Cận và cũng là con nuôi của nhà thơ Xuân Diệu. Hai nhà thơ thời tiền chiến này được cả nước yêu chuộng, nhưng lầm đường lạc lối vị bị con quỷ cộng sản dụ dỗ. Hai nhà thơ dùng khả năng thiên phú của mình đã góp sức với quỷ làm mê hoặc lòng người, giúp cho quỷ lên ngôi. Nay Trời Phật bắt con của hai người phải có hành động sám hối. Lâu nay người ta ca tụng ông Hà Vũ bênh vực dân oan Cồn Dầu, bảo vệ di tích văn hóa Huế, kiện Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng mà người ta không nói đền cái việc ông Hà Vũ đòi nhà cầm quyền làm lễ truy điệu và dựng bia tưởng niệm các anh hùng Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa can trường chiến đấu chống lại bọn bành trướng Trung Cộng vào năm 1974. Lời đòi hỏi của luật sư Cù Huy Hà Vũ có một tầm chiến lược rất cao mà nhà cầm quyền vì mê muội bạc tiền, công danh nên không nhận ra đã đành, nhưng các nhà trí thức, các vị lão thành cách mạng không nhìn thấy tầm chiến lược đó thì thật là đáng trách.

Tại sao tôi khẳng định lời đòi hỏi của luật sư Cù Huy Hà Vũ có tầm chiến lược rất cao ư?

Thưa anh Tô Hải,

Tà giáo cộng sản luôn luôn giương cao ngọn cờ chính nghĩa để thu phục lòng người. Khát vọng của nhân dân Việt Nam dưới gót giày xâm lược của Thực dân Pháp là được độc lập, tự do và hạnh phúc. Nhờ núp dưới khẩu hiệu đó, cộng sản đã động viên toàn dân không tiếc máu xương. Giương cao ngọn cờ “Giải phóng Miền Nam”, cộng sản đã chiếm được Miền Nam, nhưng hành động của kẻ chiến thắng còn tàn ác hơn quỷ dữ: đẩy dân ra biển, lùa dân lên rừng để chiếm đoạt của cải! Đánh tư sản mại bản tan hoang. Trong đầu óc người cầm quyền và trong não trạng của thành phần gọi là cách mạng lão thành vẫn coi chính quyền Miền Nam là ngụy quân, ngụy quyền, đầy tớ Đế quốc Mỹ. Tội ác của cộng sản gây ra sau khi xâm chiếm Miền Nam được ông Hà Vũ yêu cầu Đảng sám hối bằng hành động tuyên dương chiến sĩ Hải Quân Việt Nam là anh hùng cứu nước để hòa giải hòa hợp nhằm đoàn kết toàn dân chống lại giặc thù Phương Bắc. Tầm chiến lược cao của ông Hà Vũ là điểm đó.

Cuối thế kỷ trước, căn cứ vào thực tiễn, ông Hà Sĩ Phu kết tội cộng sản là loài ký sinh sống bám vào lòng yêu nước. Đầu thế kỷ này, cũng căn cứ vào thực tiễn, ông Cù Huy Hà Vũ xác nhận rằng quân dân Miền Nam anh hùng, đã noi gương tiền nhân dám đương đầu chống lại Tầu Cộng mạnh hơn mình; trong khi đó cộng sản luôn luôn vỗ ngực tự cho rằng “khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” thì lại quá ươn hèn nhu nhược. Đòi hỏi của ông Hà Vũ xây đài tưởng niệm chiến sĩ Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa là nhìn nhận Miền Nam yêu nước, Đảng hãy xóa bỏ lằn ranh Quốc Cộng và trở về đạo lý dân tộc, cùng nhau đoàn kết diệt kẻ thù chung và xây dựng đất nước trong tình thương yêu giống như Bồ Tát Trương văn Sương nhắn nhủ: Người Việt Hãy Yêu Thương Người Việt. Năm 2010, phụ họa theo lời yêu cầu của Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, tôi gửi một bức thư cho nhà cầm quyền Việt Nam qua cơ quan ngoại giao của họ ở Hoa Kỳ, đề nghị Nhà Nước cung cấp một chiến hạm nhân Ngày Rằm Tháng Bảy lễ xá tội vong nhân, để chở thân nhân các chiến sĩ Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa chống Trung Cộng trong trận hải chiến năm 1974 và thân nhân chiến sĩ Hải Quân Nhân Dân chống Trung Quốc năm 1988 ra Hoàng Sa làm lễ truy điệu các chiến sĩ đã bỏ mình vì nước. Tôi dù là lính Không Quân, cũng sẵn sàng tháp tùng chiến hạm. Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn giữ im lặng.

Tôi từng viết thư đề nghị nhà cầm quyền Việt Nam thành tâm thực hiện đoàn kết dân tộc bằng những hành động cụ thể (chứ không phải bằng Nghị quyết 36) thì người Việt hải ngoại sẽ bỏ qua quá khứ phạm tội ác của họ. Khối chất xám và tài chánh của người hải ngoại sẽ là nguồn lực giúp cho nước Việt Nam mau chóng trở thành con tiểu long của Châu Á. Bằng cớ là Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ dù là con đẻ và con nuôi của công thần chế độ mà chỉ cần kêu gọi nhà cầm quyền dựng tượng đài kỷ niệm chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa thì đã được hầu hết đồng bào hải ngoại lên tiếng ủng hộ. Có người đòi về Việt Nam biện hộ cho Cù Huy Hà Vũ trước tòa. Anh có thấy đấy chính là phía thua trận đã sẵn sàng xóa lằn ranh Quốc Cộng giữa người Việt quốc gia và Cù Huy Hà Vũ? Đảng cầm quyền bỏ tù Cù Huy Hà Vũ vì họ không muốn hòa giải hòa hợp với người quốc gia yêu nước, nhân dân Việt Nam có thấy không?

Nếu dân tộc ta chịu thức tỉnh để nhận ra tín hiệu từ Trời Phật gửi xuống thì mỗi người Việt phải là một Phạm Thanh Nghiên, một Trương văn Sương hoặc một Cù Huy Hà Vũ. Ai là người sẽ khởi xướng tự biến mình là Phạm Thanh Nghiên, là Trương văn Sương, là Cù Huy Hà Vũ, nếu không phải là các nhà trí thức, các cách mạng lão thành? Tôi tin chắc rằng cộng sản sẽ bó tay, không cách nào có thể bỏ tù hết 80 triệu con người nếu toàn dân ta dám noi gương các vị anh hùng vừa nêu. Tôi không đồng ý với người anh thúc bá – Hùm Xám Đặng văn Việt – gửi đơn khắp các cơ quan để xin phục hồi danh dự cho song thân mình. Mới đây, đọc thư của ông anh mình trên trang Bauxite-VN, tôi hoàn toàn thất vọng.

Năm ngoái, nhà văn Trần Mạnh Hảo viết bài tham luận “Chỉ có sự thật mới giải phóng con người, giải phóng văn học và đất nước” được nhiều độc giả quốc nội hải ngoại tán thành và khen hay. Bài tham luận đó cho đến nay vẫn còn được nhiều người nô nức phổ biến cho nhau đọc. Điều đó chứng tỏ ai cũng quý SỰ THẬT. Vậy tôi sắp sửa nói lên sự thật này thì liệu người nghe có thấy khó chịu? Nhóm chủ trương trang mạng Bauxite-VN tự nhận mình là những nhà trí thức phản biện. Liên tiếp mấy năm liền, các vị đã viết kiến nghị gửi lãnh đạo Việt Nam, được nhiều người tên tuổi ký vào để xin việc này việc nọ. Nhưng không lần nào được lãnh đạo đếm xỉa, các kiến nghị đều bị ném vào sọt rác! Sự khinh thường của người cầm quyền đến nước này là tột độ.

Theo tôi, viết đơn như anh Đặng văn Việt xin Đảng phục hồi danh dư song thân hoặc viết kiến nghị xin nhà cầm quyền ngưng dự án khai thác Bauxite ở Tây Nguyên như các nhà trí thức phản biện đã làm, là một cách hợp thức hóa cho Nhà Nước Cộng Sản có vị thế chính đáng (legitimacy) trong việc cai trị. Cộng sản tự nhận họ là chính quyền nhân dân là một sự tiếm dụng danh nghĩa, bởi vì họ dùng thủ đoạn chính trị và bạo lực để cướp chính quyền; chứ họ không hề cho người dân dùng lá phiếu để lựa chọn. Đáng lý ra sau nhiều lần gửi kiến nghị mà đều bị coi khinh thì người trí thức không nên kiên nhẫn làm việc đó nữa. Rồi đây kiến nghị xin tha Cù Huy Hà Vũ cũng sẽ bị nhà cầm quyền ném vào sọt rác.

Giá như các nhà trí thức viết một bản cáo trạng có nội dung tương tự như sau, để ai đồng ý thì ký vào:

“Chúng tôi – những cách mạng lão thành, những nhà trí thức – cực lực lên án việc Đảng Cộng sản Viêt Nam bỏ tù Tiến sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ về tội âm mưu lật đổ Chính quyền Nhân dân là vô căn cứ, trái với quyền làm người của một công dân yêu nước được quốc tế xác nhận, bởi vì dưới ách cai trị của cộng sản, Việt Nam chưa hề có Chính quyền Nhân Dân.

Chúng tôi – những cách mạng lão thành, những nhà trí thức – cực lực lên án việc Đảng Cộng Sản Việt Nam nhượng đất nhượng biển, cho ngoại nhân khai thác Bauxite ở Tây Nguyên, khai thác rừng đầu nguồn mà không cho dân biết, dân bàn, dân kiểm tra là hành động bán Non Sông của Tổ tiên để lại…”

Đó mới là khẩu khí của người tự nhận mình là cách mạng lão thành từng dám quyết tử để thế hệ sau quyết sinh, của nhà trí thức dám đứng về phía kẻ bị đàn áp, bị bóc lột để đòi quyền làm người. Tự do không thề xin mà có! Nếu các vị cách mạng lão thành không có cái dũng của Tô Hải, vẫn còn bám vào thần tượng Hồ Chí Minh để thờ, còn coi quân dân Miền Nam là ngụy, là phản động; và nếu các nhà trí thức không có cái dũng của Hà Sĩ Phu ở cuối thể kỷ trước dám coi cộng sản là ký sinh trùng hoặc cái dũng của Cù Huy Hà Vũ ở đầu thế kỷ này công khai xác nhận quân dân Miền Nam anh hùng đã oanh liệt chống lại giặc thù truyền kiếp Phương Bắc thì nước Việt Nam sẽ còn ngụp lặn trong vũng lầy. Các nhà cách mạng lão thành trót bị ma đưa lối quỷ đưa đường, tham gia vào cái đảng của tội ác thì nay nên quỳ xuống xin lỗi quốc dân. Các nhà trí thức phải có cái dũng như người tù kiệt xuất Trương văn Sương ngồi giữa Saigon mà ngang nhiên kết tội cộng sản. Tôi không viết bài phê bình nhà toán học Ngô Bảo Châu như một số người, vì xét cho cùng, anh ta đáng thương hơn đáng trách, vì bộ óc thông minh xuất chúng đó trót sinh ra trong chế độ … của quỷ! Cách mạng lão thành “quyết tử”, các nhà trí thức còn viết kiến nghị xin xỏ thì không thể đòi hỏi gì hơn ở người trẻ Ngô Bảo Châu!

Thưa anh Tô Hải quý mến,

Bộ máy tuyên truyền cộng sản dùng phương pháp nhai đi nhai lại sự dối trá khiến cho người nghe riết thì tưởng là sự thật. Thực chất họ là tay sai Nga Tầu, nhưng ngụy trang là anh em đồng chí. Họ miệt thị lãnh đạo Miền Nam là bè lũ Nhu Diệm, Thiệu Kỳ làm đầy tớ cho Đế quốc Mỹ với mục đích bôi nhọ chính nghĩa của người Miền Nam và giành chính nghĩa giải phóng dân tộc về phía họ. Thực tế đã cho toàn dân thấy rõ Đảng Cộng Sản là kẻ bán nước. Và sử sách để lại chứng tỏ Tổng thống Ngô Đình Diệm là người yêu nước tôn trọng chủ quyền quốc gia, nhất định không để quân đội Hoa Kỳ hiện diện trên đất nước Việt Nam. Tôi đã gửi cho anh xem bức thư của bà Đặng Tuyết Mai – nguyên phu nhân cựu Phó Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Cao Kỳ – nay đã ly dị, viết cho tôi thì anh thấy rõ cung cách ứng xử của lãnh đạo Miền Nam đối với Hoa Kỳ ra sao. Trong một bức thư ngắn ngủi, bà Đặng Tuyết Mai không thể kể ra hết những sự kiện mà người chồng cũ của bà được Đồng Minh không những chỉ có Hoa Kỳ mà còn có cả lãnh tụ của các nước như Úc, Tân Tây Lan, Đài Loan, Đại Hàn, Mã Lai, Phi Luật Tân… kính trọng lãnh đạo Miền Nam như thế nào. Bà Đặng Tuyết Mai đang ở Saigon, ai cũng có thể đến để hỏi cho rõ ngọn ngành, chứ không cần đợi đến lúc bà xuất bản cuốn hồi ký. Chẳng hiểu trong hàng ngũ Tướng lĩnh trẻ cộng sản có sản sinh ra nổi một Nguyễn Cao Kỳ đầy nhiệt tình yêu nước thương dân, trong sạch, có nhân cách lãnh đạo để dân không khinh, để ra tay cứu nước?

Phương cách cai trị của Đảng Cộng Sản Việt Nam là dùng mánh mung, tiểu xảo, thủ đoạn từ đối nội đến đối ngoại. Họ không tuân thủ chính luật lệ do họ đặt ra. Nhân dân trong nước căm ghét họ vì cái tội nói dối; thế giới khinh khi họ vì tội đưa tay ký kết chấp nhận luật chơi quốc tế, nhưng vẫn có hành vi côn đồ đối với nhân dân. Tập đoàn thống trị cộng sản chắc chắn phải sụp đổ vì ngay trong nội bộ đã cho ta thấy mầm chia rẽ. Cái nguy cho đất nước là người cộng sản mang tâm lý không ăn được thì đạp đổ, nên họ nhất quyết không cho một tổ chức nào thành hình để chuyển nhượng quyền lực một cách êm thắm. Do đó, sự sụp đổ của cộng sản sắp tới đây sẽ vô cùng ghê gớm, vì ông Ba Tầu ở Phương Bắc chắc chắn sẽ nhẩy vào ăn có. Nghĩ tới ngày đó, tôi vô cùng lo lắng. Vì vậy ngày đêm tôi cầu mong sẽ có một vị Tướng cộng sản đang cầm quân bỗng nhiên được Trời Phật thanh tẩy để trở thành một vị Thánh Gióng, một Quang Trung Nguyễn Huệ … Ngoài ra, hết thuốc chữa rồi anh Tô Hải ạ!

Xin anh hãy cố gắng giữ gìn sức khỏe để viết những bài viết thức tỉnh các vị lão thành cách mạng cùng thời với anh.

Trân trọng,

Bằng Phong Đặng văn Âu

Posted: Sat Apr 23, 2011 1:19 am
by thienthanh
Thiện tâm ở tại lòng ta

Ngô Nhân Dụng


Mấy năm trước, mục này đăng một bài với đề tài: Thiện vẫn hơn Ác. Một vị độc giả Người Việt là Bác Sĩ Henny Nguyễn đã chọn đọc lại bài đó trong chương trình phát thanh Niềm Vui Mới nhân dịp Lễ Phục Sinh này.

Ðây là cơ hội để chúng ta cùng nhìn lại đề tài đó, để nuôi nấng niềm tin vào cái Thiện.

Nội dung bài Thiện vẫn hơn Ác nhắc đến một cuộc nghiên cứu khoa học in trên Tạp chí Nature năm 2008 trình bày kết quả một cuộc thí nghiệm của Giáo Sư Martin Nowak ở Ðại Học Havard, kết luận rằng, trong đời sống loài người, sau cùng ai ăn ở thiện vẫn “có lợi” hơn là những người sống với cái ác. Con người hướng về điều thiện, đó là một bẩm tính có thể chứng minh cho phương pháp khoa học được. Cũng giống như các loài chim thiên di mỗi mùa Thu bay về phương Nam bao giờ cũng bay từng đàn chứ không con chim nào bay riêng lẻ, loài người làm việc thiện vì đó là “sách lược tối ưu” cho cả chủng loại. Trải qua hàng triệu, hàng tỷ năm, mỗi loài sinh vật có những thói quen được tích tụ và truyền cho các thế hệ sau để tự bảo toàn, trong loài người Sống Thiện là một “chọn lọc tự nhiên,” đã trở thành di truyền.

Môn sinh học, khi nói đến “chọn lọc theo thiên nhiên” (natural selection) thì người ta nghĩ tới những sinh vật ích kỷ giành lấy tài nguyên cho chính mình, thắng thế với các đồng loại. Nhưng bây giờ thì các nhà nghiên cứu lại chú ý đến những hệ thống sinh học được tổ chức trên quy tắc cộng tác và vị tha, đặc biệt là trong xã hội loài người. Những cuộc nghiên cứu tên đề tài này hiện nay rất phổ biến và có những khám phá rất đáng chú ý. Từ phạm vi sinh học, người ta dùng cùng một phương pháp để nghiên cứu về kinh tế, xã hội học, và đạo đức học.

Hai Giáo Sư Claus Wedekind và Manfred Milinski ở Ðại Học Bern, đã làm một cuộc thí nghiệm về tính thiện của con người, bản báo cáo của họ vào năm 2000 nay đã trở thành một công trình “cổ điển.” Làm việc thiện tức là việc ích lợi cho người khác, và thế nào mình cũng chịu tốn kém một chút nào đó. Mục đích cuộc thí nghiệm của hai ông là xem tại sao có nhiều người thích làm việc thiện dù không được đáp lại. Hai ông dùng một lý thuyết sinh học là “đền đáp gián tiếp” (indirect reciprocity).

Bình thường, ai làm việc tốt cho mình thì chúng ta báo đáp. Trong quan hệ trực tiếp giữa hai cá nhân, hiện tượng vay trả, đáp ứng (reciprocity), có đi có lại, là chuyện thường diễn ra và dễ hiểu. Nhưng chúng ta cũng hay làm những việc tốt lành cho những người hoàn toàn hoàn toàn xa lạ; cho những người mình chỉ gặp gỡ tình cờ và không nghĩ trong đời sẽ còn gặp lại.

Tại sao người ta làm việc thiện “không cần đáp ứng” cho người lạ như vậy? Các nhà xã hội học thử đoán nguyên do theo lối thuần lý. Họ giả thiết là loài người ai cũng lo cho lợi ích của chính mình. Do đó có một lý do khiến mọi người làm việc tốt cho người khác mà không cần được đáp lại trực tiếp, là làm việc thiện sẽ tạo được tiếng tốt cho mình; nhờ được tiếng tốt đó mà sẽ được người khác tin, rồi sẽ làm việc tốt cho mình. Các nhà nghiên cứu gọi đây là hiện tượng “đền đáp gián tiếp” (indirect reciprocity). Trong văn hóa Việt Nam chúng ta còn tin là khi làm việc thiện thì sẽ tạo được phước đức, dù mình không được xã hội đền đáp trong đời này thì đến đời con, đời cháu cũng sẽ được đền đáp gián tiếp. Cả xã hội loài người có một guồng máy phân bố phước đức, có thể coi như một thị trường cho chúng ta đầu tư phúc đức. Mỗi người sinh ra đều nhận được một di sản Phúc Ðức do ông bà để lại, mình có thể được hưởng và đóng góp thêm vào kho phước đức đó cho đời sau! Niềm tin đơn giản đó giúp cả xã hội cùng tốt lành, có lẽ vì thế mà người Việt Nam cứ giữ niềm tin đó suốt bao nhiêu thế hệ! Nói theo lối thuyết tiến hóa, những thói quen nào có ích lợi cho cả chủng loại thường được lưu giữ trong phong tục, tập quán, thấm nhuần trong nền văn hóa.

Nói đến luật tiến hóa là người ta nghĩ đến quy tắc “cạnh tranh để sinh tồn;” nhờ mỗi sinh vật cố gắng giành phần lợi ích về tay mình cho nên cả xã hội được thúc đẩy tiến tới. Sống trải qua hàng triệu năm, những hành vi, thái độ và tính toán mà một sinh vật tập được để tự bảo tồn sự sống của mình, dần dần trở thành những thói quen tự nhiên. Những thói quen nào giúp bảo vệ chủng loại sẽ được truyền qua nhiều thế hệ, dần dần được coi là bản tính. Ngược lại, những hành vi, thái độ nào không có lợi cho chủng loại thì sẽ không được truyền lại vì những sinh vật mang các thói quen đó sẽ dần dần sẽ biến mất. Thí dụ khi quan sát một giống ong, người ta thấy những con ong thợ khi đến hút mật hoa trên một loại cây luôn luôn chọn hút các bông hoa từ dưới gốc cây rồi đi dần lên trên. Khi khảo sát người ta thấy những bông hoa ở phía dưới thường chứa nhiều mật hơn. Từ bản năng, các con ong đã biết lựa chọn một “giải pháp tối ưu!” Mặt khác, khi một con ong bay tới, sà vào một bông hoa mà thấy có “dấu chân” của một con ong khác đã tới thăm bông hoa đó rồi, thì rời bỏ cả cái cây đó luôn, không thử dò tìm các bông hoa khác trên cùng một cây nữa. Làm như vậy cũng là “lựa chọn tối ưu” vì về lâu về dài sẽ tiết kiệm được nhiều thời giờ.

Chắc không phải những con ong thợ này đã được huấn luyện trong tổ trước về “đường lối,” “chính sách,” và phương pháp quyết định “giải pháp tối ưu” trước khi cho đi “làm công tác?” Thói quen đó có thể giải thích bằng thuyết tiến hóa. Trong hàng tỷ năm cuộc đời của loài ong, những con ong có thói quen tốt này thì được sống lâu hơn, đông hơn, có cơ hội tồn tại và truyền giống; trải qua hàng tỷ thế hệ ong, nghệ thuật tìm mật hoa này đã biến thành những đặc tính bẩm sinh.

Trước đây khi nghiên cứu về diễn trình tiến hóa của các sinh vật và của loài người, người ta chỉ giả thiết ai cũng có thói vị kỷ, ganh đua, nhưng không mấy người chú ý đến vai trò của óc vị tha, của lòng từ ái. Nói chung là khi nghiên cứu thuyết tiến hóa người ta thiên về mặt duy lợi, vị kỷ mà không chú ý về Cái Thiện. Nếu đặt trọng tâm trên sự cộng tác giữa các cá nhân trong một giống sinh vật, người ta chỉ chú ý tới những hành động hy sinh của cá thể để bảo tồn giòng giống của chủng loại; một thứ bản năng có tính sinh học. Trong khi đó, một điều ai cũng phải thấy là tất cả các nền văn minh trong lịch sử đều đề cao Cái Thiện, thúc đẩy sự cộng tác giữa mọi người và ngăn ngừa tánh ích kỷ hại nhân.

Hai giáo sư người Thụy Sĩ Claus Wedekind and Manfred Milinski đã bày ra một “trò chơi” nhờ các sinh viên tham dự vào một cuộc thí nghiệm để tìm hiểu hiện tượng “đền đáp gián tiếp” có thật sự thể hiện hay không. Họ được 80 sinh viên cộng tác, mỗi người ngồi trước máy điện toán, coi như được phát một số đồng Franc tiền Thụy Sĩ. Họ có quyền phát tiền cho một người bạn tham dự cuộc chơi. Mỗi lần mỗi sinh viên lại cho tiền một người khác nhau, mỗi người chơi không biết ai là “đối tác” của mình; trên màn ảnh máy vi tính chỉ biết là đối tác đó đã từng phát tiền cho người khác bao nhiêu lần.

Kết quả cho thấy thuyết “đền đáp gián tiếp” (indirect reciprocity) được thể hiện. Nếu thuyết đó không đúng, tức là các sinh viên quyết định đem tặng tiền cho người khác một cách hoàn toàn ngẫu nhiên, thì khi trò chơi kết thúc, số tiền vốn của mọi người sẽ gần như bằng nhau. Nhưng sau cùng, khi tổng kết xem mỗi người còn bao nhiêu tiền, người ta thấy những sinh viên nào hay đem tiền cho người khác nhất cũng là những sinh viên nhận được nhiều hơn các bạn khác.

Nhưng tất nhiên trong nhân loại có những người vị tha hơn người khác, và ngược lại có người thường chỉ nghĩ đến mình. Hành vi của họ khác nhau như thế nào khi biết rằng những người có tiếng vị tha có thể được đền đáp?

Một cuộc nghiên cứu khác, công bố năm 2008 trên tạp chí Social Psychology Quarterly, của hai Giáo Sư Brent Simpson và Robb Willer ở Mỹ, đã tìm hiểu kỹ hơn về tác phong của con người trong hoàn cảnh có sự đền đáp gián tiếp. Trong thí nghiệm này, người ta trắc nghiệm trước các đối tượng để xếp loại những người có khuynh hướng vị kỷ trong một nhóm, nhóm kia là những người được xếp loại vị tha. Khi tham dự cuộc chơi mà biết rằng các hành động thiện trong tương lai có thể được đền đáp thì những người vị kỷ phản ứng rất tích cực. Ngược lại, những người vốn tính vị tha thì dù biết sau này có được đền đáp hay không, họ cũng không chịu ảnh hưởng. Như vậy nghĩa là hành động hoàn toàn vị tha là có thật; nhưng nhân loại không phải ai cũng vị tha. Thí nghiệm thêm lần nữa, hai tác giả thấy rằng khi được chứng ai có hành động thiện, thì những người vị tha thường “tưởng thưởng” cho những người thiện đó nhiều hơn những người có tính vị kỷ qua việc đền đáp gián tiếp.

Tạp chí Games and Economic Behavior tháng 11 năm 2009 đăng kết quả cuộc nghiên cứu của ba giáo sư ở Âu Châu, họ chia các đối tượng nghiên cứu làm hai nhóm, một nửa thì mỗi lần “làm việc thiện” đều được báo cho mọi người biết, một nửa thì hoàn toàn không. Kết quả cho thấy trong xã hội quả thật có hiện tượng thuần túy “đền đáp gián tiếp.” Nhưng bên cạnh đó cũng có những người làm điều thiện vì tính toán hơn thiệt.

Nhiều quý vị nghe những câu chuyện trên sẽ thấy là kết quả của những cuộc nghiên cứu mới kể thật ra không có gì lạ. Nếu vậy thì rất đáng mừng. Không thấy gì mới lạ, nghĩa là chúng ta không cần phải mất công bầy ra các cuộc nghiên cứu (hàng ngàn cuộc nghiên cứu đã thực hiện) chỉ để biết một điều mà ai cũng đã tin là đúng từ lâu rồi: “Thiện tâm ở tại lòng ta.”