Góc Phố Cà Phê

Tin trong và ngoài nước, tin Cộng Đồng ...
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »


Image

Mùa Xuân Nói Chuyện Hoa Mai

Tuyệt Mai

Hoa mai là loại hoa nở đầu tiên trong mùa Xuân. Nói đến mùa Xuân người ta liên nghỉ đến hoa mai, nói đến hoa mai người ta liên nghỉ đến mùa Xuân. Hoa mai là một trong những loài hoa được ưa chuộng nhất từ trước đến nay. Có nhiều loại hoa mai, hầu hết các loại mai đều có năm cánh, hay tám cánh, có loại có nhiều tầng nên có rất nhiều cánh. Nhưng hai loại phổ thông, được nhiều người biết đến là hoa mai vàng (huỳnh hoa) và mai trắng (bạch mai). Mai vàng là hoa mai người ta thường nói tới, nở rộ vào mùa Xuân từ miền Trung vào Miền Nam. Màu vàng tượng trưng cho sự cao thượng, cao sang, màu của vua chúa. Vào khoảng Tết ta, ra khỏi ngoại ô Saigon, đi về hướng Lái Thiêu, Bình Dương, dọc đường nhà nào cũng có một cội mai già, hoa đua nở đầy cành, vàng rực, đẹp không thể diễn tả.

Loại hoa mai thứ hai là "bạch mai", có màu trắng, cũng có năm cánh hay tám cánh như huỳnh mai, nhưng mai trắng rất hiếm quý và có hương thơm dìu dịu, thanh khiết. Có người gọi mai trắng là "Tuyết Mai", vì tuyết có màu trắng.

Hoa mai không có hương sắc quyến rũ như hoa hồng, cũng không sực nức hương thơm như dạ lý, nhưng hoa mai mỏng mãnh, đính trên cành, trên thân cây gầy guộc, cằn cỗi tạo một nét đẹp tương phản, thật duyên dáng, độc đáo.

Tại Việt Nam có một loại hoa mai gọi là "mai tứ quý". Hoa cũng có năm cánh vàng như huỳnh mai, khi hoa tàn thì năm cánh rụng, năm đài hoa đổi thành màu đỏ, úp lại, ôm lấy nhụy là hạt màu xanh. Hạt lớn dần đẩy năm đài hoa bung ra giống như hoa mai đỏ. Vì vậy mai tứ quý được gọi là "Nhị Độ Mai" tức là hoa mai nở hai lần, lần đầu cánh hoa có màu vàng, lần sau cánh hoa có màu đỏ. Loại hoa này nở quanh năm.

Ngoài hương sắc và duyên dáng, hoa mai được các nhà Nho và các bậc Thiền sư coi là một biểu tượng của hai đức tính "Nhẫn" và "Dũng". Chịu đựng thời tiết khắc nghiệt lạnh lẽo mùa Đông, hoa vẫn kết nụ để là đóa hoa đầu tiên chào đón Chúa Xuân. Cảm cáí đức hạnh thủy chung, cái khí tiết nhẫn nhục và kiêu dũng đó, Chúa Xuân phong cho hoa mai là vua của tất cả các loài hoa khác, có tên là "Đông Quân". Nhiều nữ sĩ có tên "Mai" lấy bút hiệu là "Đông Quân" cũng từ điễn tích này.

Từ nét duyên dáng, thuần khiết bên ngoài cho đến tính khí đức hạnh, kiêu dũng bên trong, hoa mai được người Trung Hoa tôn vinh là "quốc hoa". Các nhà Nho và các Thiền sư Trung Hoa cũng như Việt Nam luôn coi hoa mai là một tấm gương, một biểu tượng của vẽ đẹp vẹn toàn, "bách hoa khôi". Họ đem ghép hoa mai với "tùng" và "trúc" thành một bộ ba "Tam Hữu". Cây tùng tượng trưng cho trượng phu, cứng cõi, ngay thẳng; cây trúc tượng trưng cho sự kiên nhẫn, rộng lượng và hoa mai được gọi là "ngự sử mai" tượng trưng cho sự hiểu biết và nét đẹp vẹn toàn. Người xưa rất quý "tam hữu".

Trong Hội Thơ Tao Đàn, Vua Lê Thánh Tôn có bài thơ "Mai Thụ" (Cây mai) như sau:

"Trội cành nam chiếm một chồi

Tin Xuân mãi mãi điểm cây mai

Tinh thân sáng, thuở trăng tĩnh

Cốt cách Đông khi gió thôi (ngừng)

Tiết cứng trượng phu, thông (tùng) ấy bạn

Nết trong quân tử, trúc là đôi (sánh đôi)

Nhà truyền (thống) thanh bạch dăng từng khối

Phỉ xứng danh thơm đệ nhất thời!"

Ngoài ra hoa mai cũng được ghép với lan, cúc, trúc, thành bộ "tứ quý", tức là bốn loại hoa, kiểng quý, tượng trưng của bốn mùa Xuân, Hạ Thu, Đông.

Cụ Chu Thần, Cao Bá Quát là một nho sĩ kiệt liệt, một tài năng văn chương lỗi lạc, một đại anh hùng thế thiên hành đạo, suốt quảng đời bôn ba khắp chốn cầu cổ kiếm để xây dựng sự nghiệp bá vương, cụ không gặp bậc chính nhân quân tử nào có cốt cách như "mai ngự sử", vì vậy cụ đã làm hai câu thơ:

"Thập tải luân giao cầu cổ kiếm

Nhất sinh đê thủ bái hoa mai"

Có nghĩa là:

"Mười năm xuôi ngược giao du cốt tìm thanh kiếm cổ

Một đời chỉ cúi đầu vái lạy trước hoa mai".

Cụ Chu Thần , Cao bá Quát đã hết lời xưng tụng "bách hoa khôi". Cụ cũng có bốn câu thơ "Trồng mai" được dịch ra như sau:

"Đầu non nắm hạt mai gieo

Giống thanh gửi chốn núi đèo xanh tươi

Nữa mai xuân điểm bầu trời

Bức tranh tuyệt tác cho đời ngắm chung".

Được bái lạy như vậy, hoa mai quả là một loài hoa rất quý?

Hoa mai đã gợi nhiều cảm hứng cho thi nhân, nên ảnh hưởng rất lớn trong văn hóa Trung Hoa và Việt Nam. Lý Bạch làm thơ:

"Ngồi trên lầu Hoàng Hạc, nghe tiếng sáo thổi

Giữa tháng năm, chợt vang khúc "hoa mai rơi" ở chốn Giang thành"

Nguyễn Trãi, vị khai quốc công thần nhà Hậu Lê yêu hoa mai vì:

"Yêu mai, yêu tuyết bởi vì đâu?

Vì tuyết trắng, mai thơ và tinh khiết"

Trong chuyện Kiều, Cụ Nguyễn Du có rất nhiều câu thơ nói về hoa mai.

"Thướt tha vóc liễu Xuân đầy

Cành mai xa bẻ ngất ngây ý sầu

Biết chàng lòng có thương sâu

Chúa Xuân ngán nỗi chờ lâu mỏi mòn"

Nhiều Thiền sư Trung Hoa và Việt Nam đã dùng hoa mai làm ẩn dụ cho sự hạnh phúc, niềm vui giác ngộ trong những bài kệ để truyền dạy Phật pháp cho phật tử, cho hậu thế. Bài kệ về "Mùa Xuân Hoa Mai"của Thiền Sư Thích Mãn Giác được phổ biến rộng rãi trong giới phật tử:

"Xuân đi trăm hoa rụng

Xuân đến trăm hoa cười

Trước mắt việc đi mãi

Trên đầu già đến rồi

Đừng tưởng Xuân tàn hoa rụng hết

Đêm qua sân trước một cành mai"

Bài thơ có nghĩa là, cuộc đời là một dòng sinh diệt, vô thường, biến chuyển theo thời gian và không gian. Xuân đến rồi Xuân đi, hoa cười rồi hoa rụng…là lẽ đương nhiên của vũ trụ, hể có sinh thì có diệt. Nhưng trong sự sinh diệt của vũ trụ vẫn còn có một cái không sinh diệt đó là Phật tánh, là chân tâm, chân như. Nếu chúng ta luôn tu tập, Phật tánh đó giúp ta có được cuộc sống an lành, hạnh phúc. Tâm an bình gọi là Tâm Xuân, trong tâm Xuân, cành mai (biểu tượng của hạnh phúc) sẽ còn mãi mãi, không tàn, không rụng. Cần gì phải chờ đến mùa Xuân mới có hoa mai? Hoa nở rồi hoa cũng tàn. Chỉ có cành mai trong tâm Xuân là tồn tại mãi mãi, ngoài dòng sinh diệt, vô thường, bể dâu của vũ trụ.

Từ ngày lưu lạc tha hương, những thi sĩ hải ngoại luôn mang theo trong tâm tưởng những hoài niệm dấu yêu về một mùa Xuân êm đềm nơi quê cũ. Nhà thơ Nguyễn Vô Cùng thương xót cội mai già:

"Xót cội mai khô , bình rạn vỡ

Thương cành Xuân héo, dạ đầy vơi

Khói hương tàn lạnh từ Xuân ấy

Mà quyện tim ai mãi cuối đời"

Trong mãnh vườn hoài niệm đó có tang tóc, đổ vỡ, chia ly, bom đạn…Nhà thơ NguyễnVô Cùng viết:

"Mùa Xuân này em có về quê mẹ

Thăm dùm anh vườn cũ có còn xanh

Tới gốc mai từng trúng đạn bao lần

Xem có nở nụ hoa nào kịp Tết"

Nhà thơ Đăng Nguyên diễn tả mùa Xuân ở Huế tuyệt đẹp với mai vàng, mai trắng:

"Xuân nào đẹp hơn Xuân Huế

Mai vàng, mai trắng hương xưa

Em cười tươi như hoa ngọc

Thơ ơi! Thương mấy cho vừa

Bao giờ mùa Xuân trở lại

Bao giờ non nước đơm hoa!"

(Nhung nhớ vườn Xuân)

Làm thân viễn khách trên miền đất lạ, Nhà thơ Phan Khâm luôn thiết tha nhớ về cố quận, hồi tưởng lại cảnh mai vàng nở rộ trên đường quê:

"Mùa Xuân nào mình về thăm Cam Lộ

Ghé chợ Phiên đầy bắp đậu sắn khoai

Đường nhà em còn hoa vàng nở rộ

Mít ổi trong vườn chính cho ai?"

Một lần nữa Xuân lại về trên đất khách, nếu chúng ta may mắn có được một cành mai để chưng trong nhà ngày Tết thì nét diễm kiều thanh tú của hoa mai cũng không đem lại cho chúng ta niềm vui Xuân rội rã như những mùa Xuân kỷ niệm êm đẹp quê nhà. Xuân đến rồi xuân cũng đi, mai nở rồi mai cũng tàn, thôi thì chúng ta hãy vun xới mãnh vườn tâm trong ta, biến vườn tâm thành vuờn Xuân tuyệt đẹp của thế gian. Trong Tâm Xuân luôn có những cành mai.


TUYẾT MAI
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

CÔ CON GÁI QUÁ GIANG TRONG ĐÊM MỒNG MỘT TẾT
phạmtínanninh
Chiếc thuyền nhỏ mang theo hơn năm mươi người, một nửa là đàn bà và con nít, ra khơi hai ngày thì gặp bão. Chúng tôi may mắn được một chiếc tàu chuyên chở dầu hỏa của Nauy trên đường từ Nhật sang Singapore cứu vớt. Hai ngày sống trên tàu chúng tôi có cảm giác như đang ở trên một thiên đàng. Tất cả đều được tận tình hỏi han chăm sóc. Chúng tôi cảm thấy vừa mừng vừa xót xa khi nhận ra thế gian này vẫn còn có đầy ấp tình người. Họ là những kẻ xa lạ, không cùng màu da, màu tóc, không cùng ngôn ngữ, mà lòng thông cảm yêu thương họ đã dành cho chúng tôi lớn lao biết đến dường nào. Trong lúc những “người anh em” cùng một nhà thì lại hành hạ đuổi xô chúng tôi đến bước đường cùng để phải đành lòng bỏ nước mà đi. Với ân tình đó chúng tôi chọn Vương quốc Nauy là quê hương thứ hai để gởi gấm phần đời còn lại của mình và vun đắp tương lai cho mấy đứa con nhỏ dại.

Sau gần một năm ở trại tị nạn, gia đình chúng tôi được đi định cư. Khi bầu đoàn thê tử như một bầy nai vàng ngơ ngác bước xuống phi trường Oslo, được nhiều người đón tiếp, trong đó lại có cả mấy ông nhà báo và đài truyền hình nhà nước phỏng vấn, quay phim. Gốc nhà quê, nên tôi cũng chẳng biết họ quay phim để làm cái gì. Trước khi về nhà, chúng tôi còn được mời vào một nhà hàng Tàu, và tha hồ gọi bất cứ thức ăn nào mình thích.

Đến khi bước vào ngôi nhà, được bà trưởng phòng xã hội trao cho một chùm chìa khóa, dẫn đi một vòng xem phòng ốc đã được trang trí xong nội thất, cái bếp và cả cái tủ lạnh có sẵn đầy đủ thức ăn nước uống, một cái TV màu. Mọi thứ đều mới tinh. Sáu đứa con và hai đứa cháu họ của tôi thì ngồi mân mê mấy cái bàn học, và mấy cái ba lô có đầy đủ sách vở trong đó. Trước khi ra về bà giới thiệu chúng tôi một cô nhân viên của bà, và một cô giáo ở lại hướng dẫn chúng tôi xử dụng mọi thứ tiện nghi trong nhà, và mỗi ngày sẽ đến đưa gia đình chúng tôi đi mua sắm, khám bệnh, làm răng, còn cô giáo thì đặc trách lo việc học hành cho mấy đứa nhỏ. Khi tất cả ra về, tôi nằm dài dưới sàn nhà và chợt khám phá ra rằng mình quả là may mắn được đến định cư ở một nước Bắc Âu xa lạ nhưng thơ mộng và có quá rộng tấm lòng này, mà lúc xuống biển ra đi chắc chẳng có ai bao giờ nghĩ tới.

Buổi tối, cơm nước xong, cả nhà quây quần trước cái TV. Thằng con trai lớn ra điều mới học được văn minh, bấm tới bấm lui tìm đài. Cả đám bất ngờ nhìn thấy dung nhan của mình trên màn ảnh. Thì ra chương trình phóng sự. Họ đang kể về gia đình chúng tôi: “những công dân mới của Nauy, mà ông bố đã từng ở tù nhiều năm, giống nhiều người Nauy bị nhốt trong các trại cải tạo của Đức quốc xã, cái thời Hitler làm mưa làm gió ở Âu châu, và đã can đảm dắt theo sáu đứa con và hai đứa cháu nhỏ vượt đại dương trên một chiếc thuyền đánh cá mong manh”. Nghe họ ca ngợi mình mà tôi xấu hổ. Dù gì tôi cũng là kẻ bỏ nước tha phương, với họ, ít nhiều gì cũng là một cành tầm gởi. Còn chuyện vượt biển, vượt biên, đến bước đường cùng thì ai cũng phải liều mạng thế thôi, chứ có hàng triệu người còn can đảm gấp vạn lần tôi. Nhiều người đi bằng đường bộ, trèo núi, băng rừng, lội suối, bơi sông, qua Cam Bốt, Thái Lan, để vài năm sau mới đến được Singapore. Và dĩ nhiên đã có biết bao nhiêu người chẳng bao giờ tới bến.

Cũng vì cái chương trình phóng sự bất ngờ này, mà sau đó, mỗi ngày gia đình chúng tôi phải tiếp nhiều người khách không mời, và nhận đủ thứ quà. Trong số đó, đặc biệt có một người đàn bà Việt Nam, mà lúc bà mới bước vào nhà, chúng tôi cứ tưởng là người Nhật, hay là người Tàu gì đó, khi nhìn thấy cái vẻ quí phái đặc biệt của bà. Tôi nghĩ có lẽ không có người Việt Nam nào sống ở cái xứ Bắc Âu xa lạ này từ lâu để có được nét đẹp của một người con gái đông phương pha lẫn âu tây ở cái tuổi còn trẻ như bà. Sau đó tôi bất ngờ thú vị khi bà tự giới thiệu tên là Huyền-Trân Thomassen, hiện là giảng sư môn nhân chủng xã hội học tại trường đại học Oslo, chồng bà là người Nauy, hiện đang làm đại sứ tại Mexico. Bà không muốn bỏ nghề bà yêu thích, hơn nữa bà vẫn còn tiếp tục nghiên cứu về ngành này, nên không theo chồng mà ở lại Nauy với hai đứa con. Lúc nhỏ bà theo cha sang sống ở Thụy Sĩ, khi cha bà là đại sứ của VNCH tại đó. Người chồng của bà, cũng thuộc một gia đình có truyền thống ngoại giao. Cha của ông cũng một thời là đại sứ của Nauy tại Thụy Sĩ. Hai người con của hai ông đại sứ quen nhau từ khi học chung một trường trung học và làm đám cưới sau khi tốt nghiệp đại học tại thủ đô Bern, một năm trước khi miền Nam Việt Nam thất thủ.

Tôi rất ngưỡng mộ người đàn bà trẻ này. Rời Việt nam từ lúc 12 tuổi, nhưng bà nói tiếng Việt rất lưu loát, hiểu biết rất nhiều về văn học Việt nam, từ truyện Kiều của Nguyễn Du, đến bài thơ Hai Sắc Hoa TyGôn của TTKH. Điều đặc biệt hơn hết là bà rất quí mến và giúp đỡ tận tình người đồng hương. Gia đình tôi cũng mang nặng khá nhiều ơn nghĩa của bà.

Những ngày sống hạnh phúc ở quê người, nhìn con cái ngày một lớn lên và đang có cả một bầu trời xanh bao la trước mặt, lúc nào tôi cũng chạnh lòng nhớ lại cái thời mình khốn khó và những bạn bè xưa. Tôi thấy mình nợ nần nhiều người mà không biết làm sao trả được. Trong số này, người mà tôi thường nghĩ tới nhiều nhất và ân hận chẳng giúp được điều gì là Nguyễn Thượng Tâm, người đồng đội và cũng là đứa em kết nghĩa của tôi.

* * *

Tâm ra trường sau tết Mậu Thân. Về trình diện đơn vị tôi khi vừa tròn 18 tuổi. Mặc dù còn rất trẻ, nhưng được đào tạo từ lúc còn nhỏ tại trường Thiếu Sinh Quân nổi tiếng ở Vũng Tàu nên Tâm là một hạ sĩ quan gương mẫu trong kỷ luật và gan dạ trong chiến trường. Tâm hiền lành và rất ít nói. Nhưng không phải vì vậy mà tôi trở thành thân thiết với Tâm và hai thằng kết nghĩa anh em, nếu không có buổi sáng mồng một Tết năm 1969, khi đơn vị chúng tôi tạm dừng quân trong một ngôi làng hoang đổ nát nằm sâu giữa những động cát nơi giáp ranh hai tỉnh Bình Thuận và Bình Tuy lúc trước.

Dù đang hành quân, nhưng biết hôm đó là mồng một Tết, tôi thức dậy thật sớm, thay bộ đồ trận mới, đi một vòng chúc tết anh em. Ngày đầu năm, nằm giữa một khu hoang tàn không một bóng người, chắc ai cũng chạnh lòng nhớ tới gia đình. Chiếc radio từ một căn lều poncho nào đó đang phát ra tiếng hát nỉ non của ca sĩ Duy Khánh, trong bản nhạc Xuân Này Con Không Về của Trịnh Lâm Ngân, làm lòng tôi càng thêm lắng xuống. Đến cuối ngôi làng, tôi bỗng giật mình khi nghe tiếng sụt sùi. Lại gần tôi mới nhận ra Tâm. Anh ta đang quì lạy trước một cái bàn thờ được kê bằng cánh cửa sổ của căn nhà nào sập xuống. Trên bàn thờ dã chiến, tôi thấy có mấy cái hoa rừng cấm trong cái bi đông nước, hai bát cơm bằng gạo sấy và một lon guigoz có lẽ chứa nước trà hay canh nấu bằng lá giang hay lá tàu bay gì đó. Tâm khấn vái một lúc, quay lại bất ngờ nhận ra tôi. Tâm đưa tay chào và cũng như mọi khi, không nói một lời nào. Có lẽ Tâm biết là tôi đã đứng im lặng ở đây từ lâu lắm. Tôi bước tới nắm chặt tay Tâm, kéo anh đứng lên. Tâm vội rút tay ra lau nước mắt. Tôi đến trước bàn thờ vái một vái, rồi vỗ vai Tâm:

- Em cúng bố mẹ à. Sao đầu năm mà buồn quá vậy em.

- Không, bố em còn ở ngoài Bắc, em không biết là còn sống hay đã chết. Mẹ em thì đã qua đời lúc em còn bé lắm. Nhà em ở tận Ý Yên, nhưng bố em đi làm xa, nên phải gởi hai anh em em xuống nhà ông chú ở Hà Nội học, rồi theo gia đình chú ấy xuống tàu há mồm vào Nam luôn.

- Còn anh của em bây giờ ở đâu? Tôi hỏi

- Anh ấy chết rồi. Anh là sĩ quan thủy quân lục chiến, tử trận đúng ngày mồng một tết Mậu Thân ở ngay Sài gòn. Hôm nay là giổ đầu của anh ấy.

- Anh em tên gì?

- Nguyễn thượng Minh, khi chết anh vừa mới lên trung úy.

Tôi giật mình. Cái tên Nguyễn thượng Minh làm tôi nhớ ngay đến một thằng bạn cùng tên hồi còn tiểu học. Tôi hỏi Tâm:

- Vậy có phải em là cháu của thầy giáo Nguyễn Thượng Cầu?

- Dạ phải, nhưng chú Cầu đã chết lâu rồi. Tâm trả lời rồi nhìn tôi ngạc nhiên.

Năm 1954, tôi đang học lớp nhì trường huyện Vạn Ninh. Nhập học được vài tháng, thì thầy hiệu trưởng Nguyễn công Tố dắt ba đứa học trò lạ vào lớp giới thiệu với cô giáo Kiệt rồi dặn dò đám học trò chúng tôi:

- Hôm nay trường nhận thêm những em học trò mới, trong đó có ba em vào lớp này. Tất cả các em phải biết yêu thương và giúp đỡ những người bạn này, vì họ đã vừa phải bỏ quê hương, gia đình ngoài miền Bắc, di cư vào đây. Đó cũng là lời kêu gọi của Ngô Thủ Tướng.

Hai thằng con trai và một đứa con gái cúi đầu chào cô giáo rồi quay xuống chào chúng tôi bằng thứ tiếng lạ hoắc khó nghe. Thằng lớn con nhất được cô Kiệt chỉ cho ngồi dãy bàn cuối lớp, ngay phía sau tôi.

Đến giờ ra chơi, bọn tôi bu quanh “phỏng vấn” nó đủ điều. Tên nó là Nguyễn Thượng Minh. Nó và thằng em nhỏ hơn bốn tuổi, nhà ở quê, mẹ chết sớm, ông bố đi làm xa, nên phải gởi anh em nó xuống Hà Nội ở nhà ông chú để học hành, hơn nữa ông lại là thầy giáo. Khi có lệnh di cư, ông chú không liên lạc được bố nó, nên dắt hai anh em nó xuống tàu há mồm vào Nam luôn, rồi được chính quyền phân phối đến định cư ở quê tôi, Vạn Giã, cùng với hơn mười gia đình khác. Nó bảo vài hôm nữa ông chú nó cũng sẽ được sắp xếp cho vào dạy lớp ba trường này, thay cho một ông thầy thuyên chuyển đi nơi khác.

Nó lầm lì ít nói, chắc ngại cái tiếng Bắc Kỳ xa lạ của nó. Nhưng không phải vì điều đó mà làm cho tôi ghét nó, và đã có nhiều lần đánh lộn với nó nữa. Lý do chính là nó đánh bi rất giỏi, giành mất giải quán quân của tôi trong lớp. Nó đánh bi khác với chúng tôi. Chúng tôi để viên bi lên đầu ngón tay giữa rồi bắn đi, còn nó đặt viên bi trong lòng bàn tay và bắn đi bằng ngón tay cái. Vậy mà nó ăn tôi sạch túi. Bọn tôi bảo là nó ăn gian, không được chơi kiểu bắc kỳ của nó mà phải chơi theo kiểu trung kỳ của bọn tôi. Nhập gia phải tùy tục. Nó cô đơn một mình nên chịu thua, phải trả lại cho tôi tất cả viên bi nó thắng ngày hôm đó. Vậy mà hai hôm sau nó chơi trở lại, dĩ nhiên với cái kiểu hoàn toàn mới lạ với nó, nhưng nó vẫn thắng tôi oanh liệt. Cuộc đấu bi này bây giờ không phải chỉ giữa cá nhân hai thằng: tôi với nó, mà giữa hai miền nam-bắc, cho nên học trò trai gái cả trường bu quanh làm khán giả. Tôi thua trắng tay, mất luôn chức vô địch từ lớp năm đến bây giờ. Dĩ nhiên là tôi ức lắm. Điều ghê gớm hơn nữa, là chỉ có cuối tháng đầu tiên nó đứng hạng ba trong lớp, lên nhận bảng danh dự sau tôi, nhưng kể từ tháng thứ nhì trở đi nó đều chiếm hạng nhất. Tôi đâm ra hận nó, có nó là tôi mất tất cả. Mấy lần tôi nhại tiếng Bắc chọc quê nó, nó cũng chỉ cười, tôi nghe lời xúi của lũ bạn, bảo nó rờ sau “đít” coi có còn tòn ten cọng rau muống nào không, nó chỉ im lặng. Có lần bọn tôi xô nó ngã, nó chỉ cười, đứng dậy rồi phủi bụi trên áo quần. Tôi thua nó, nhưng cố làm ra vẻ tự mãn: “nó vẫn chỉ là một anh hùng cô đơn, không có ai chơi với nó”.

Đùng một cái nó nghỉ học. Chẳng có ai biết lý do. Nhưng rồi vài ngày sau nó tới trường, nhưng không phải để học mà để bán bánh mì và cà rem. Cô giáo và bạn bè hỏi, nó khóc và bảo là bà thím, sau khi cãi vã với chú nó một trận, không nuôi hai anh em nó nữa, nó phải tự “khắc phục” để còn nuôi một thằng em nhỏ. Hôm đó bọn tôi nhiều thằng cũng khóc theo với nó. Chờ cho tất cả vào lớp, tôi ở nán lại chỉ để ôm nó và nói một lời xin lỗi về những điều đã qua. Nó nhìn tôi thân thiện, và bảo là nó chưa hề để tâm tới điều ấy. Tôi “tâm phục khẩu phục” nó. Nó còn nhỏ mà thông minh và thánh thiện hơn tôi nhiều.

Tôi bèn làm ngay một cuộc “quảng cáo” cho bánh mì và cà rem của nó, vì vậy hôm nào nó mang mọi thứ tới trường là bán sạch ngay trong giờ ra chơi buổi sáng. Sau đó tôi còn kêu gọi một cuộc lạc quyên giúp nó: gạo, tiền xu, tiền cắc, áo quần, có thằng còn mang tới cho nó cả buồng chuối và một trái mít nữa.

Rồi nó cũng được chính quyền giúp đỡ, tôi nghĩ như thế, nên vài tuần sau nó trở lại lớp học, và chỉ bán bánh mì trong giờ ra chơi. Nó vẫn học giỏi, vẫn đứng đầu lớp, nhưng lần này nó không còn là anh hùng cô đơn nữa mà nó có đông đảo bạn bè, mà thằng thân nhất chính là tôi.

Ông chú nó, thầy giáo Nguyễn thượng Cầu, cũng đã vào trường dạy lớp ba, nhưng bây giờ anh em nó không còn ở chung với ông chú nữa, mà chỉ đến thăm ông vào những cuối tuần. Có khi nó dắt tôi đi theo. Vì vậy tôi mới bíết ông thầy, chú nó sợ bà vợ Bắc kỳ còn hơn sư tử, nên chẳng dám bênh vực nhiều anh em nó, mặc dù ông rất đau lòng xót xa khi bọn nó phải dọn ra ở ké nhà một gia đình người di cư khác.

Tôi mất mẹ, cha tôi cũng đi làm xa, nên tôi thông cảm hoàn cảnh của Minh, nên thường đưa anh em nó về nhà ông bà nội tôi và chơi với đám anh em họ hàng của tôi.

Khi xong tiểu học, tôi vào Nha Trang học trung học, cũng là lúc phải chia tay nó. Bởi Minh cũng vừa theo một số người di cư vào tận khu định cư Phước Tỉnh nào đó ở trong nam, người ta bảo trong ấy làm ăn khấm khá hơn ở quê tôi nhiều lắm. Từ đó, tôi không gặp lại nó, mặc dù trong ký ức tuổi ấu thơ của tôi, lúc nào hình ảnh nó cũng in lên đậm nét.

Không ngờ hôm nay, giữa chiến trường xa xôi này tôi lại bất ngờ gặp lại thằng em duy nhất của Minh, và lòng tôi lắng xuồng khi biết nó cũng từng là lính đánh giặc và đã hy sinh đúng ngày này năm trước: ngày mồng một Tết. Cái ngày mà lời chúc Tết của ông Hồ Chí Minh trên đài phát thanh Hà Nội chính là cái mật lệnh “Tổng Công Kích Tết Mậu Thân” để giết hại bao nhiêu người vô tội, đặc biệt hàng vạn người ở Huế bị chôn sống. Cũng là cái ngày người ta nhận diện được bọn trí thức, sinh viên phản trắc, đã giết hại bao nhiêu thầy, bạn của chính mình.

Sau đó, tôi rút Tâm về làm việc bên cạnh tôi, phụ tránh toán quân báo gồm toàn những người lính trẻ. Chúng tôi yêu thương nhau như anh em. Rồi vào một đêm trăng sáng, dưới sự chứng giám của đất trời, tôi đã nhận Tâm là đứa em kết nghĩa, sau lần Tâm liều mình cứu tôi thoát chết trong một cuộc phục kích ở Thiện Giáo. Đổi lấy sự an toàn cho tôi, Tâm phải mất hai ngón tay của bàn tay trái và nằm bệnh viện hơn một tháng để được giải phẩu lấy một mãnh đạn nằm trong sâu trong thanh quản. Sau khi xuất viện, Tâm phát âm tương đối khó khăn. Được hội đồng giám định y khoa xếp vào loại không còn khả năng chiến đấu, Tâm có thể chọn về một đơn vị hành chánh hay tiếp vận nào mà Tâm thích, nhưng Tâm một mực chối từ và nằng nặc đòi trở lại đơn vị cũ. Tâm xác nhận là mình vẫn còn khả năng chiến đấu, hai ngón tay của bàn tay trái và giọng nói khó khăn một chút không gây trở ngại nhiều cho một người lính chiến trường. Cuối cùng Tâm được toại nguyện.

Tôi vừa vui mừng vừa cảm động khi Tâm trở về trình diện. Tâm bảo sống chết gì em cũng muốn ở bên anh. Vì gia đình em có còn ai nữa đâu. Đơn vị này là gia đình của em. Tôi sắp xếp cho Tâm một công việc tạm thời ở hậu cứ để tiếp tục chửa bệnh. Chỉ sau vài tháng giọng nói của Tâm gần trở lại bình thường. Tâm nghe lời tôi xin vào khóa Sĩ Quan Đặc Biệt ở Thủ Đức. Tâm được ưu tiên thu nhận vì gốc TSQ.

Ra trường đúng vào mùa hè đỏ lửa 1972, Tâm lại xin trở về đơn vị cũ, lúc này đang ngày đêm nằm trong lửa đạn ở mặt trận Kontum. Năm tháng sau, tôi bị thương, được tản thương về Quân y viện Pleiku nằm điều trị gần một tháng. Xuất viện, được điều về Phòng Hành Quân. Cả tháng tôi không gặp lại Tâm, nhưng ngày nào chúng tôi cũng liên lạc trên hệ thống vô tuyến.

Cuối năm 1973, chiến trường lắng dịu. Tâm xin phép về Sài gòn cưới vợ. Vợ Tâm là cô bạn nhỏ ngày xưa trong cùng một viện mồ côi. Bây giờ là cô giáo. Hai người gặp lại và tình yêu nẩy nở trong thời gian Tâm học ở trường Thủ Đức. Cả vợ chồng tôi đều có mặt trong ngày cưới, và làm chủ hôn bên họ nhà trai. Đám cưới xong, tôi vận động xin cho vợ Tâm được chuyển lên dạy tại một trường tiểu học nằm trong thành phố Pleiku, để vợ chồng được gần gũi nhau hơn.

Đầu tháng 3/1975 Ban Mê Thuột thất thủ, bản doanh Bộ Tư lệnh SĐ 23 BB bị tràn ngập sau một phi vụ bắn nhầm. Ông Tư Lệnh Phó cùng ông tỉnh trưởng Đắc Lắc bị bắt. Hai tiểu đoàn của Trung Đoàn 44 được trực thăng vận nhảy xuống đầu tiên ở Phước An, quận duy nhất còn lại của tỉnh Đắc Lắc, nhằm vừa ngăn chặn địch quân tràn xuống Khánh Dương theo Quốc lộ 21, vừa tái chiếm thị xã Ban Mê Thuột khi tình hình cho phép. Tâm có mặt trong toán quân đầu tiên này. Tôi không gặp được Tâm nhưng có liên lạc nói chuyện vài lần trong máy vô tuyến. Tâm rất đau lòng khi phải bỏ vợ và đứa con gái ba tuổi trên Pleiku, trước khi gởi gấm cho anh trung sĩ tiếp liệu đại đội cố dắt theo cùng đoàn quân triệt thoái về tỉnh lộ 7, bây giờ không biết ra sao. Tâm khẩn khoản nhờ tôi tìm mọi cách liên lạc và giúp vợ con mình. Tôi lấy cái tình anh em kết nghĩa mà thề với Tâm là tôi sẽ cố gắng hết sức mình. Không ngờ, đó là một kế hoạch triệt thoái tồi tệ nhất trong lịch sử chiến tranh Việt Nam, đã làm mất biết bao nhiêu sinh mạng, kéo theo sự sụp đổ cả miền Nam. Ra tận Tuy Hòa, đứng đón dòng người tả tơi, nét mặt còn đậm nỗi kinh hoàng, họ vừa trải qua và chứng kiến biết bao nhiêu cái chết thê thảm để được đến bên này bờ con sông Ba nhuộm máu, tôi nghĩ là tôi chẳng còn có cơ hội nào gặp lại vợ con Tâm. Trở lại Khánh Dương, đúng lúc Phước An thất thủ và đơn vị của Tâm đã phải tan hàng, tôi gặp lại vị chỉ huy của Tâm ở Dục Mỹ, ông xác nhận là trung úy Nguyễn Thượng Tâm đã nằm lại trên đỉnh đồi Chu Cúc, khi chiến đấu tới viên đạn cuối cùng rồi tự sát trước một biển người của địch quân tràn lên chiếm giữ.

* * *

Hơn sáu tháng định cư ở Nauy, cả nhà tôi lúc nào cũng miệt mài để sớm hội nhập vào quê hương mới. Thời gian qua nhanh quá. Mới đây mà chúng tôi cũng đã tập tành tổ chức ngày lễ Giáng Sinh và ăn cái tết Tây đầu tiên theo truyền thống của Nauy. Sau đó bận bịu đi học đi làm, và cũng chẳng có cuốn lịch Âm lịch nào để biết ngày nào là Tết Ta, Nguyên Đán. Một buổi tối vợ chồng tôi đang ngồi cãi nhau về thời điểm giao thừa để thắp một nén hương tưởng nhớ ông bà, thì điện thoại reo. Bà Huyền-Trân Thomassen gọi, mời cả nhà chúng tôi tối mai lên ăn tết với gia đình, chồng bà từ Mexixo cũng mới trở về. Bà cho biết bây giờ đã là sáng mồng một Tết bên Việt Nam. Thì ra, chúng tôi tệ quá, mới rời khỏi Việt Nam hai năm mà không còn nhớ ngày tết và tổ chức mừng Tết như bà. Tôi cám ơn và nhận lời bà xong, vội vàng thắp mấy nén hương tạ tội ông bà. May mắn ngày mai là thứ bảy.

Bà biết gia đình chúng tôi có tới mười người mà chỉ có một cái xe Ford vừa nhỏ vừa cũ, nên bà đặt một chiếc taxi tám chỗ ngồi lại đón chúng tôi. Bà xã tôi chỉ huy bầy con gái trên chiếc taxi, còn tôi lái xe chở đám con trai chạy theo sau. Trời thật lạnh, tuyết rơi trắng cả bầu trời. Chúng tôi phải chạy gần một tiếng đồng hồ mới tới nhà bà. Bà ở trong một ngôi biệt thự khá xinh, cách trường đại học Oslo, nơi bà dạy, chừng năm phút lái xe. Trong phòng khách bà trang trí giống như tết ở Việt Nam, đặc biệt có cả một cành mai thật to (một loài hoa Bắc Âu nở hoa vào mùa đông, nhìn giống như hoa mai) trong một cái bình sứ lớn, nằm ở giữa nhà. Chồng bà rất phúc hậu, và nói được một ít tiếng Việt. Khi giới thiệu ông với chúng tôi bà đùa:

- Hoàng đế Chế Mân của tôi đây.

- Không, tôi là Trần Khắc Chung. Ông vừa đưa tay bắt tay tôi vừa đùa.

Ông ta khá am tường về lịch sử Việt nam. Ông cũng biết khá nhiều và có những nhận định khá công bình về cuộc chiến Việt nam. Ông cho biết là lúc cuộc chiến Việt Nam đang ác liệt, khi ấy ông là trưởng ban ngoại giao của Quốc Hội Nauy, đã phản đối kịch liệt những nhóm tả khuynh và đặc biệt là những nhận định và việc làm của ông Olaf Palma, thủ tướng Thụy Điển, người đã hô hào ủng hộ Bắc Việt và tuyên bố sẵn sàng chấp nhận cho binh lính Mỹ đào ngũ đến dung thân ở nước ông. Khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, nhìn hàng triệu người phải bỏ nước ra đi, ông vừa kịp phản tỉnh thì cũng bị ám sát chết.

Bữa ăn còn có cả dưa hành, thịt kho và bánh chưng. Tôi phục bà và thấy xốn xang nhớ những ngày tết lúc tôi còn nhỏ ở quê nhà.

Ăn uống xong, bà còn lì xì bì thơ màu đỏ cho mấy đứa con và mấy đứa cháu của tôi. Tôi đành phải ngượng ngùng xin lỗi vì không chuẩn bị kịp quà cáp cho hai đứa con của bà. Nhưng bà rất khéo léo, khi bảo sự có mặt của gia đình chúng tôi trong thời khắc đặc biệt này đã là một món quà vô giá, rất có ý nghĩa cho mẹ con bà.

Tôi thay mặt gia đình cám ơn, chúc tết ông bà và gia đình. Tôi cũng nói lên lòng ngưỡng mộ của chúng tôi đối với một người đã xa quê hương lâu ngày và lập gia đình với một người ngoại quốc mà vẫn còn giữ được truyền thống và bản sắc văn hóa Việt Nam, trong lúc một số người mới chân ướt chân ráo sang đây đã vội tập tành thành người bản xứ, muốn quên hết nguồn cội của mình.

Chia tay bà lúc gần mười hai giờ đêm. Đường sá vắng tanh. Tuyết vẫn rơi kín bầu trời. Không quen lái xe trên tuyết, tôi chạy thật chậm. Khi đến trước khu đại học Blindern, tôi thấy có một người đứng dưới tàng cây thông, đưa tay đón. Tôi dừng xe lại. Một cô gái chạy tới xin quá giang về nhà, vì cô dự tiệc tối ra, đã gọi taxi khá lâu mà không thấy tới. Tôi bảo đứa con trai lớn của tôi ra ngồi ở băng sau, nhường ghế trước cho cô gái. Khi cô lễ phép chào tôi, và bắt tay mấy cậu con và cháu của tôi ngồi ở băng sau, tự giới thiệu tên Anita rồi ngồi lên ghế, tôi mới nhận ra cô gái gốc Á đông, nhưng phát âm tiếng Nauy và điệu bộ hoàn toàn như người bản xứ. Tôi ngạc nhiên khi thấy cô đang run vì lạnh. Cô chỉ mặc một cái áo khoác mỏng. Tôi dừng xe, cởi cái áo choàng bằng lông cừu choàng qua vai cô. Gương mặt cô bé xinh xắn dễ thương, nhưng phảng phất buồn. Tôi hỏi cô bé đến từ nước nào. Cô cho biết cô được cha mẹ nuôi người Nauy nhận mang về đây lúc chưa tròn ba tuổi, nên cô chẳng biết gì. Sau này lớn lên, cô mới được cha mẹ nuôi kể lại là cô được Cơ quan Bảo Trợ Nhi Đồng LHQ nhận từ một viện mồ côi ở Việt Nam vào năm 1975. Ông bà xin nhận cô làm con nuôi từ Cơ quan này. Cô bé rất mong muốn được trở lại Việt nam một lần, để biết nơi mình sinh ra và nhờ người tìm lại tông tích, mồ mả của cha mẹ ruột. Cô sẽ xây mộ cho ông bà. Cha mẹ nuôi có hứa sẽ đưa cô về sau khi cô học xong trung học, và khi nào việc xin visa vào Việt Nam dễ dàng hơn. Nhà cô không xa nơi tôi ở, có lẽ không quá hai mươi phút lái xe. Khi qua hết mấy khu rừng thông thanh vắng, cô chỉ ngôi nhà lớn nằm lưng chừng trên một ngọn đồi, bảo tôi dừng lại phía dưới. Cô sẽ đi lên bằng con đường tắc. Cô cám ơn tôi, cởi trả lại tôi cái áo choàng. Cô hỏi xin tôi một mảnh giấy, viết địa chỉ xong rồi đưa lại cho tôi. Cô mời tôi đến Lễ Phục Sinh ghé lại nhà cô chơi. Vì chỉ còn một ngày nữa cô phải đi London tiếp tục theo học một năm chương trình trao đổi học sinh. Cha mẹ nuôi của cô rất thích nói chuyện với người Việt Nam, nhất là những người đã từng tham gia cuộc chiến. Tôi hứa với cô là thế nào tôi cũng đến thăm cô cùng ông bà cha mẹ nuôi tốt bụng.

Về nhà, khi kể lại chuyện cô bé quá giang cho vợ và mấy cô con gái nghe, tôi mới nhận ra một điều: sao tôi lại có duyên với những người mồ côi đến thế. Suốt cả đêm hôm ấy tôi nằm trằn trọc nghĩ đến thân phận mình và nhớ thật nhiều đến Nguyễn Thượng Tâm, người mà tôi đã từng nhận làm đứa em kết nghĩa, nhưng mãi đến bây giờ vẫn chưa làm tròn được lời thệ ước của mình.

* * *

Ðến Lễ Phục Sinh, nhớ lời hẹn, tôi rủ bà xã và hai cô con gái lớn đến thăm cô Anita. Bây giờ là đầu tháng tư mà tuyết vẫn còn rơi trắng cả bầu trời. Nhờ ban ngày nên tôi thấy rõ nhà cô hơn. Ngôi nhà có dáng của một lâu đài, cổ kính, sang trọng. Chung quanh là một hàng thông. Chủ ngôi nhà chắc đã trọng tuổi và giàu có. Ngần ngừ một lúc, tôi bấm chuông. Đúng như tôi nghĩ, người mở cửa là một bà già khoảng trên bảy mươi, nhưng còn khỏe mạnh và nói năng vui vẻ lịch thiệp. Bà ngạc nhiên nhìn tôi, và hỏi tôi đến có việc gì bất ngờ mà bà không đuợc báo trước. Tôi xin lỗi, giới thiệu tên mình và cho bà biết là tôi có hẹn với cô Anita, con gái của bà, đến thăm cô ấy và vợ chồng bà. Có lẽ cô Anita quên, không kể chuyện lại với bà. Bà tròn mắt ngạc nhiên:

- Anita nào ? vì đứa con gái duy nhất của chúng tôi đã chết rồi mà.

Bây giờ đến lượt tôi ngơ ngác. Tôi kể cho bà nghe chuyện tôi gặp cô Anita trước cổng trường đại học hồi tháng hai, và cho cô quá giang về đây lúc nửa đêm. Bà mời tôi vào nhà, chỉ cho tôi tấm ảnh treo trên vách.

- Đây chính là cô Anita mà tôi đã gặp, trước khi cô trở lại London để tiếp tục học. Tôi nói to như để xác nhận với bà.

Bà nhìn tôi sụt sùi hai dòng nước mắt.

- Ðúng rồi, sau lần về thăm nhà và cũng để khám bệnh ấy, thay vì trở lại trường, con tôi phải vào bệnh viện, do một mảnh đạn nằm sâu trong tim từ lúc cháu ba tuổi, và cháu qua đời sau đó một tuần. Trước đây, bác sĩ có khám và chụp hình, nhưng bảo mảnh đạn nằm ở một vị trí khá an toàn, và rất nguy hiểm nếu phải giải phẩu. Không ngờ cháu lại chết vì chính mảnh đạn từ thời chiến tranh này.

Bà ra nhà sau lên tiếng gọi ông chồng, kể cho ông nghe câu chuyện tự nãy giờ. Ông đến chào tôi, và bảo tôi chờ ông bà mặc áo lạnh rồi sẽ dẫn tôi ra nghĩa trang, nằm không xa ở phía sau nhà, thăm ngôi mộ cô con gái.

Ngôi mộ phủ đầy tuyết trắng. Bà đưa tay phủi lớp tuyết trên tấm bia, hàng chử khắc sâu trên bia: ANITA NGUYEN HILDE. Nhìn tấm ảnh trên mộ bia, tôi có cảm giác dường như cô cũng đang nhìn tôi mỉm cười. Tôi đứng trước mộ, chấp hai tay khấn nguyện một đôi điều. Ông bà chủ nhà sụt sùi, bảo với tôi đó là cô con gái duy nhất mà ông bà hết lòng thương quí. Từ khi cô ta qua đời, ông bà chẳng còn thiết tha bất cứ thứ gì trên cõi đời này nữa. Đưa tôi trở lại nhà, ông châm củi thêm vào lò sưởi, rót mời tôi một tách cà phê nóng. Ông bảo nếu cô không chết thì mùa hè này ông bà sẽ đưa cô về thăm quê hương nguồn cội ở Việt Nam. Riêng cha mẹ ruột của cô thật sự đã chết trong chiến tranh rồi.

Dường như vừa nhớ lại một điều gì, ông đứng lên bước tới kệ sách, quay lại nói vói tôi:

- Trong hồ sơ của con tôi, người ta có ghi chú: Khi hấp hối, mẹ cháu có trăn trối nhờ người mang nó về một viện mồ côi mà bà quen. Bà có để trong túi áo quần của đứa con một tấm hình khi vợ chồng bà làm đám cưới. Sau tấm hình có ghi tên và đơn vị của ba cháu. Đó cũng là dấu tích duy nhất về gốc gác của cô con gái nuôi yêu dấu của chúng tôi.

Tôi chưa kịp hỏi, ông đã đưa cho tôi tập album, và chỉ cho tôi một tấm ảnh đen trắng ngã màu vàng sậm, được dán ngay ở trang đầu. Nhìn tấm ảnh, tôi giật thót cả người, như đang bị mộng du vào một cõi xa xăm nào đó: hai người trong tấm ảnh chính là vợ chồng Nguyễn Thượng Tâm, người em mồ côi kết nghĩa mà chúng tôi đã lạc mất nhau trong những ngày cuối của một cuộc chiến huynh đệ tương tàn.


phạm tín an ninh
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Image


VALENTINE: NÓI CHUYỆN TÌNH YÊU

Tuyết Mai


Cứ vào Tháng Hai thì các cửa hàng ở Mỹ bày bán rất nhiều thứ làm quà như kẹo, chocolate đựng trong hộp hình trái tim, hoa tươi, vàng vòng , kim cương có hình trái tim để những cặp tình nhân hay vợ chồng mua trao tặng nhau nhân ngày tình yêu, có tên là ngày Valentine.

Ngày Valentine là 14 Tháng Hai là ngày mất của Ông Thánh Valentine. Theo truyền thuyết thì ông là người có trái tim nhân ái, anh hùng và lãng mạn. Đang lúc nước có chiến tranh, Hoàng Đế Claudius II cho rằng những ai có vợ con sẽ không có tinh thần hăng say chiến đấu vì có nhiều lo
âu cho gia đình, vì vậy ông ra lệnh cấm tất cả trai tráng lấy vợ. Ông Valentine đã âm thầm chống lại lệnh của Hoàng Đế, bí mật cử hành hôn lễ cho nhiều đôi tình nhân trẻ, ông bị bắt và bị xử tử ngày 14 Tháng Hai năm 269 sau Công Nguyên.

Để tưởng niệm ông, người bấy giờ quyết định lấy ngày 14 Tháng 2 làm ngày hẹn hò và đính ước. Dần dần có nhiều thay đổi, nay ngày này được coi là ngày của tình yêu, những người yêu nhau chọn những món quà độc đáo, lãng mạn tặng cho người yêu để biểu lộ tình yêu và cũng để sưởi ấm tình nồng.

Có truyền thuyết cho là lúc Ông Valentine bị giam trong ngục, ông đã đem lòng yêu cô con gái của người bắt giam ông. Khi ra pháp trường ngày 14 Tháng Hai ông viết một lá thư cho người yêu rồi ký tên “From your Valentine” . Từ đấy ngày 14 Tháng Hai trở thành ngày của tình yêu. Lá thư nhỏ của Ông Thánh Valentine đã trở thành tục lệ trao đổi thiệp cho nhau trong ngày này.

Điều quan trọng nhất là ngày này không phải là ngày chỉ dành riêng cho những người đang yêu nhau mà cũng là ngày của tình bạn, của tình người.

[center]Tình Yêu là niềm giao cảm kỳ diệu, là những rung động bất tận của những trái tim đa cảm … cho đến nay tình yêu vẫn còn là những hiện tượng còn đầy bí ẩn mà loài người vẫn chưa tìm hiểu được cho thấu đáo. Thi ca VN là một dàn đại hợp xướng , kết hợp bằng những giai điệu tuyệt vời, những âm hưởng du dương và lãng mạn, tình yêu trong thi ca VN đã trở thành một đề tài lớn, một nghệ thuật rực rỡ và vĩnh cữu của nền văn hóa dân tộc.

Xuân Diệu, một nhà thơ lớn của thi ca VN, dỗi hờn với người yêu:



“Được giận hờn nhau ! sung sướng biết bao nhiêu
Anh một mình nghe tất cả buổi chiều
Vào chầm chậm ở trong hồn hiu quạnh”
(Tương Tư Chiều)


Với Xuân Diệu tình yêu không thể ngầm hiểu nhau mà phải nói lên thật nhiều lần:

“Yêu tha thiết , thế vẫn còn chưa đủ
Phải nói yêu, trăm bận đến ngàn lần
Phải mặn nồng cho mãi mãi đêm Xuân
Đem chim bướm thả trong vườn tình ái”
(Phải nói).


Nguyễn Nhược Pháp diễn tả trâm trạng yêu ngất ngây của cô gái tuổi mười lăm đi Chùa Hương gặp chàng trai trẻ:

“Làn gió thổi hây hây
Em nghe tà áo bay
Em tìm hơi chàng thở
Chàng ơi chàng có hay

Đường đây kia lên trời
Ta bước tựa vai cười
Yêu nhau , yêu nhau mãi!
Đi, ta đi, chàng ơi!

Ngun ngút khói huơng vàng
Say trong giấc mơ màng
Em cầu xin Giời Phật
Sau cho em lấy đựơc chàng”
(Chùa Hương)


Đỗ Huy Nhiệm nũng nịu “Bắt Đền” người yêu:

”Hôm nay em đến bắt đền anh
Đã để cho em ngủ một mình
Trong giấc mơ màng bao sợ hãi
Quờ tay chỉ thấy bóng trăng thanh!

Phòng vắng sương gieo, gió lạnh vào
Tìm chăn, chăn đã biến nơi nao
Lạnh lùng em muốn anh ôm ấp
Để cõi lòng em ấm chút nào

Em giận con gà gáy sáng ran
Làm em trót tỉnh giấc mơ tan
Anh ơi khẽ kéo rèm the lại
Nối lại cho em giấc mộng vàng”

Nguyễn Bính thì dối lòng, không dám nhận mình yêu:

”Cô chẳng bao giờ biết đến tôi,
Mà tôi dan díu mấy đêm rồi
Mấy đêm dan díu người trong mộng
Mộng tỉnh canh tàn châu lệ rơi

Chòm hoa dâm bụt bên bờ giếng
Nở đỏ như muôn mản lụa điều
Tôi dối lòng tôi nên chẳng dám
Nhận là mình đã bắt đầu yêu”
(Nhạt Nắng)

Thanh Tịnh bâng khuâng … tình yêu như áng mây chiều:

Còn nhớ hôm xưa độ tháng này
Cánh đồng xào xạc gió đùa cây
Vô tình thiếu nữ cùng ta ngắm
Một đoạn tơ trời lững thững bay

Tơ trời theo gió vướng mình ta,
Mối khác bên nàng nhẹ bỏ qua
Nghiêng nón nàng cười đôi má thắm
Ta nhìn vơ vẫn áng mây xa”
(Tơ trời với tơ lòng)


Hồ Dzếnh Ngập ngừng… xin em cứ hẹn nhưng đừng đến nhé:

“ Em tôi ơi, tình có nghĩa gì đâu
Nếu là không lưu luyến buổi sơ đầu?
Thủa ái ân mong manh như nắng lụa,
Hoa bướm ngập ngừng, cỏ cây lần nữa,
Hẹn ngày mai mùa đến sẽ vui tươi
Chỉ ngày mai mới đẹp, ngày mai thôi!”
…
Nếu trót đi em hãy gắng quay về,
Tình mất vui khi đã vẹn câu thề
Đời chỉ đẹp những khi còn dang dở
Thơ viết đừng xong, thuyền trôi chớ đỗ
Cho nghìn sau…lở lửng…với ngàn xưa”
(Ngập Ngừng).


Hàn mạc Tử thích đi vào cỏi mộng:

“Mà anh hay em trong tim đều rạn
Đều chôn sâu hình ảnh một người thơ
Bây giờ đây quấn quít hiện bây giờ
Chỉ biết có đôi ta là đang sống

Đang cho nhau ngọt ngào và đang mộng
Cố làm lơ không biết đến thời gian
Đến bông hoa tàn tạ với trăng ngàn
Đến những tình duyên xung quanh thất vọng
Nhiều hành tinh tan đi vì đã lỏng
Ôi muôn năm! Giác mộng đả đời chưa?”
(Đôi ta).


Nguyên Sa đắm đuối trong tình yêu:

“Tháng sáu trời mưa em có nghe mưa xuống
Trời không mưa em có lạy trời mưa
Anh vẫn xin mưa phong tỏa đường về
Anh vẫn cầu mưa mặc dầu mây ảm đạm

Da em trắng anh chẳng cần ánh sáng
Tóc em mềm anh chẳng thiết mùa Xuân
Trên cuộc đời sẽ chẳng có giai nhân
Vì anh gọi tên em là nhan sắc

Anh sẽ vuốt tóc em cho đêm khuya tròn giấc
Anh sẽ nâng tay em cho ngọc sát vào môi
Anh sẽ nói thầm như gió thoảng trên vai
Anh sẽ nhớ suốt đời mưa Tháng Sáu.”


Những dòng thơ trữ tình trên đây đã nói lên khát vọng thiết tha với tình yêu của thi nhân, còn đọng lại trong bầu trời thi ca VN, tạo nên những cung
bậc , mà người yêu thơ càng đọc, càng cảm thấy ngọt ngào, say đắm.

Chính những khát vọng mãnh liệt này đã mang đến cho thi ca VN một
sắc thái quyến rũ lạ lùng và tình yêu là vô tội, đẹp như hương yêu say dậy
với trăng rằm. Kính chúc mọi người một Valentine tràn đầy thương yêu, hạnh phúc.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »


Image


Phan thị Minh Yến - Câu Chuyện Một Bà Mẹ Quốc Gia Nghĩa Tử
Góa Phụ Ba Mươi Tháng Tư 1975


Gửi tặng đại hội QGNT tại San Jose tháng hai 2008
Một năm có ba trăm sáu mươi lăm ngày, ngày nào chả là ngày của mẹ. Mang nặng đẻ đau, chín tháng mười ngày, chúng ta ai cũng phải có một bà mẹ. Để toàn dân tỏ tình với thân mẫu, Hoa Kỳ điều kiện hóa tấm lòng hiếu thảo bằng cách đặt ra một ngày Chủ Nhật lần thứ nhì của tháng 5 là Ngày Của Mẹ. Tập tục đẹp đẽ này bắt đầu từ hơn 150 năm trước.

Cho đến bây giờ thì những bà mẹ được xưng tụng vào ngày đầu tiên tại Hoa Kỳ đã đi xa cả rồi, nhưng nước Mỹ hiện đã có nhiều bà mẹ với đủ mọi sắc diện và ngôn ngữ đang nối tiếp đóng góp những bàn tay xây dựng cho cái xã hội rất đa diện và hết sức phong phú này.

Di ảnh Tướng Lê Nguyên Vỹ.

Qua thế kỷ thứ 21 là đến lượt các bà mẹ Việt Nam hiện diện. Bốn năm trước, cơ quan IRCC, chương trình Radio Dân Sinh và thành phố San Jose hợp tác lần đầu tiên trong một chương trình tuyên dương rất mới mẻ dành cho các bà mẹ trong cộng đồng Việt Nam tại một thị xã điện tử nổi danh toàn thế giới.

Đã có 20 bà mẹ với lớp tuổi khác nhau, hoàn cảnh khác nhau được giới thiệu lên lãnh bằng tuyên dương do đề nghị của chính các con trong gia đình.

Có thể quý vị sẽ tự hỏi tại sao với 30 ngàn bà mẹ Việt Nam tại San Jose lại chỉ có 20 bà mẹ được tuyên dương. Câu trả lời rất giản dị. Đó là vì các con ghi tên tham dự.

Tất cả các bà mẹ đều là những nữ anh hùng trong “Ngày Của Mẹ” xét theo quan điểm của các con. Mỗi năm, khi tháng Năm trở về, gia đình thuộc sắc dân nào thì cũng phải nghĩ đến món quà để trao tặng vào “Ngày Của Mẹ.”

Đối với các con, bà mẹ nào cũng vĩ đại. Bà mẹ lo cho con ăn và lo cho con ngủ từ lúc còn thơ ấu cho đến lúc trưởng thành. Ngay từ lúc còn nằm trong nôi, bà mẹ đã là người hùng của đứa con. Mỗi khi thấy người lạ đến gần là đứa con lẩn trốn trong vòng tay mẹ. Mẹ là sự no ấm. Mẹ là sự bình an. Mẹ là trời đất. Mẹ là tất cả.

Phần lớn chúng ta sống tại San Jose trên 3 năm cho đến 30 năm. Thị trấn nổi danh này bây giờ đã trở thành miền đất quê hương thứ hai với đầy đủ vui buồn của một làng xã Việt Nam.

Ngày Của Mẹ đối với các gia đình ghi danh sẽ cùng nhau tham dự một buổi lễ giản dị nhưng đầy ý nghĩa. Con cái sẽ mời bà mẹ lên nhận sự tuyên dương trên diễn đàn của hội trường thành phố San Jose tại City Hall. Cô gái nhỏ sẽ cất tiếng thương yêu trong niềm hãnh diện: “Thưa quý vị, đây là Mẹ của chúng con.” Và bà mẹ đầy ân tình của cô sẽ lên trên bục diễn đàn để nhận một bản tuyên dương của thị xã. Món quà mang ý nghĩa tượng trưng như là một chìa khóa vàng trao cho bà mẹ là cư dân danh dự của San Jose. Phim ảnh muôn màu sẽ ghi lại giây phút vinh quang của tình mẫu tử.

Do đó, sự lựa chọn và tham dự vào Ngày Của Mẹ trong chương trình này không nhằm vào giá trị của tài sản, danh tiếng hay sự nghiệp của vị nữ lưu. Đây chỉ là món quà của người con gửi cho mẹ được trình diện trước công chúng. Và công chúng ở đây cũng chỉ gồm có các gia đình thân hữu cùng tham dự chương trình. Rõ ràng là trong vòng thân mật.

Vì ý nghĩa của tổ chức trong phạm vi địa phương nên tất cả các thành viên tham dự đều cư ngụ tại Bắc California. Tuy nhiên,vào năm 2004 cũng có một người ở bên bờ biển Đại Tây Dương được đề nghị nhưng không đến tham dự. Chúng tôi yêu cầu ông thị trưởng San Jose gửi quà tuyên dương đến cho bà. Câu chuyện của bà mẹ Việt Nam này tôi thấy rất cần phải kể lại cho quý vị nghe trong dịp anh chị em quốc gia nghĩa tử bốn phương về họp tại San Jose..

Vào năm 1954, cô Phan Thị Minh Yến còn rất nhỏ, nhà ở Cầu Đất, Hải Phòng bắt đầu theo cha mẹ di cư vào Nam. Cô gái Bắc Kỳ nhỏ nhỏ được gia đình cho học chương trình Pháp tại Sài Gòn và đã có câu chuyện tình từ năm 17 tuổi. Khi được 19 xuân xanh thì chính thức lập gia đình với một anh Đại Úy Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Lúc đó là mùa Xuân năm 1964. Chàng hơn nàng 10 tuổi. Nhưng trước sau cô Yến chỉ có một mối tình từ khi biết yêu cho đến lúc thành hôn. Tiếp theo là 10 năm làm vợ lính thời chinh chiến. Rồi bắt đầu làm mẹ. Những đứa con lần lượt ra đời. Các cháu Quang, Minh, Chính,... Đại. Ba đứa con trai đầu lòng đặt tên với niềm tự hào của người cha cương trực sống trong một hoàn cảnh đất nước nghiêng ngả. Nhưng cô Út bé bỏng, xinh đẹp chỉ được gọi là em Đại ở trong gia đình. Khi ở ngoài lớp học thì đây là cô nhỏ Tường Vi của bà mẹ Hải Phòng.

Suốt thời gian thơ ấu, người cha đi chinh chiến đêm ngày. Các con phần lớn sống gần gũi và trông cậy vào mẹ. Tuy nhiên, hình ảnh người cha quân đội vẫn là chỗ dựa tinh thần mạnh mẽ cho cả mẹ con.

Tháng 4 năm 1975, bà mẹ 29 tuổi dẫn 4 con từ 6 tuổi đến 10 tuổi di tản qua Hoa Kỳ. Người chồng chỉ huy đơn vị nên không có cơ hội tiễn chân vợ con. Lần chia tay sau cùng mà vợ chồng không biết là lần vĩnh biệt. Anh đã ra đi vào miền vĩnh cửu khi quân đội tan hàng. Không một mảnh khăn tang. Không một giọt nước mắt. Vợ con cũng không hề biết tin về cái chết của người thân yêu. Năm đó chưa 30 tuổi, cô Phan Thị Minh Yến trở thành góa phụ ở vậy nuôi con cho đến năm nay 2008 vừa đúng 33 năm.

Qua Hoa Kỳ, một mẹ và 4 con nhỏ, Minh Yến bắt đầu bằng nghề cắt tóc. Cố gắng tự lập nuôi con. Vừa làm mẹ, vừa làm cha. Từ nữ sinh trường đầm ở Sài Gòn, trở thành vợ lính sống cảnh gia binh, rồi trở thành góa phụ.

Sau bằng ấy năm trời, các con đã trưởng thành, tốt nghiệp đại học, có cháu nội cháu ngoại. Hỏi rằng bây giờ chị làm gì? Còn làm gì nữa. Trước sau cũng chỉ làm một việc cắt tóc chải đầu. Nhưng nghề chính là vừa làm cha vừa làm mẹ. Làm mẹ thì cũng dễ vì đã làm mẹ từ Việt Nam. Nhưng làm cha cho những đứa con trai ở Hoa Kỳ mới thật khó. Tất cả đều phải quyết định một mình. Không bàn với ai được. Ba đứa con trai ở tuổi niên thiếu tại miền đất lạ. Biết bao nhiêu là khó khăn. Chuyện học hành, chuyện sinh sống, chuyện yêu đương của các cháu rồi đến chuyện hôn nhân. Cái gì cũng là chuyện của các con.

Khi được hỏi rằng thế chị làm ở tiệm tóc thì làm chủ hay làm thợ. Được trả lời rằng trước sau chỉ làm công mà thôi. Đã bảo rằng nghề chính là làm mẹ, nếu bôn ba mở tiệm, e rằng không có đủ thì giờ trông nom lũ nhỏ. Hỏi rằng đi làm như vậy có gặp những điều gì khó chịu không. Trả lời rằng lúc đầu cũng thấy tủi thân lắm. Nhưng rồi thì cũng phải nhịn nhục cho quen đi. Vả lại, ở đây cũng không ai biết hoàn cảnh mình ra sao nên cứ việc mình, mình làm. Cũng thi lái xe, cũng lấy bằng, cũng tìm đường đi học nghề, đi làm và nuôi con. Vâng, việc chính là nuôi con.

Chị có buồn giận về chuyện anh nhà đã không đi được vào năm 1975 hay không? Trả lời rằng thì anh nghĩ coi, ai mà chả muốn có vợ có chồng. Các con muốn có đủ cha mẹ. Nhưng phần số đã như vậy thì mẹ con phải sống sao cho phải đạo với sự hy sinh của ông nhà tôi. Ông ấy mà còn thì cũng chỉ muốn cho các con của chúng tôi được học hành tốt nghiệp đại học, rồi dựng vợ gả chồng cho các cháu như bây giờ gia đình tôi đã được như vậy.

Ngoài việc hãnh diện về chuyện con cái, bà mẹ gốc Hải Phòng còn kể thêm với niềm hào hứng đặc biệt. Đó là mối liên hệ với mẹ chồng.

Số là ngay sau khi di tản qua Hoa Kỳ, gia đình được tin chồng chết nên đã tìm cách báo về Bắc cho bà mẹ già biết tin. Tội nghiệp chưa. Ông nhà tôi, lời chị Yến, cũng di cư vào Nam từ 54, mẹ con xa nhau 21 năm không liên lạc. Bây giờ bà cụ mới biết tin con dâu và các cháu ở Mỹ thì đồng thời cũng biết tin con trai đã qua đời.

Những năm đầu ở Hoa Kỳ cũng rất chật vật nên không tiếp tế được nhiều. Những năm sau này bắt đầu gửi tiền về miền Bắc cho bà cụ. Chính tôi là con dâu mà chưa hề biết mặt mẹ chồng. Đến khi liên lạc được thì chồng đã chết. Gia đình tôi và các cháu tiếp tục liên lạc về Bắc. Mấy năm gần đây cụ vào Nam gặp các bà chị tôi rồi thu xếp cải táng đưa di hài nhà tôi về Bắc. Xong công việc quan trọng, cụ mới qua đời mấy năm gần đây.

* * *

Vâng, thưa quý vị, tôi vừa kể hầu quý vị một câu chuyện của bà mẹ Việt Nam trong nghĩa vụ thay chồng làm cha thời hậu chiến kéo dài hơn 30 năm tại Hoa Kỳ. Một người thiếu nữ 10 năm làm vợ nhưng đã có đến 30 năm vừa làm cha, làm mẹ, và làm dâu hàm thụ qua thư tín.

Cũng suốt 33 năm tại Hoa Kỳ, với vốn liếng Pháp văn và Anh ngữ của trường Đầm Sài Gòn, trước sau bà cũng vẫn chỉ là cô Yến làm tóc tại Hoa Kỳ. Bởi vì, người phụ nữ Việt Nam đơn giản này đã có một nghề cao quý vô cùng mà bà phải hết lòng theo đuổi. Đó là nghề làm mẹ. Do đó Ngày Của Mẹ hàng năm sẽ là ngày đặc biệt đối với những đứa con của bà.

Và mỗi năm, ngày tang 30 tháng 4 cũng là ngày giỗ bố của đám nhỏ. Bà mẹ Việt Nam tổ chức giỗ chồng bằng âm lịch những vẫn dặn con vào ngày cuối tháng 4, dù ở đâu cũng phải dành cho bố những giây phút tưởng niệm.

Bởi vì thân phụ của các cháu đã chết đúng ngày 30 tháng 4 năm 1975. Tên ông là Lê Nguyên Vỹ, người Sơn Tây, Bắc Việt, chết tại Lai Khê miền Đông Nam Phần.

Ngày nay, tại ngôi đình làng cũ tỉnh Sơn Tây có thờ bài vị của tướng công Lê Nguyên Vỹ, Tư Lệnh Binh Đoàn Số 5 của quân đội Sài Gòn. Ông đã tự sát vào ngày đất nước thống nhất và hòa bình. Đó là cách ghi nhận của người đồng hương Sơn Tây với một chút tự hào. Và hình ảnh của ông vẫn trong lòng các con Lê Nguyên Quang, Lê Nguyên Minh, Lê Nguyên Chính và con gái út Lê Nguyên Đại Tường Vi tại miền Virginia Hoa Kỳ.

Đối với lũ trẻ Quang Minh Chính Đại, ba trăm sáu mươi lăm ngày, ngày nào cũng là Ngày Của Mẹ.

Giao Chỉ - San Jose
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Khi Các "Siêu Sao"... Muốn
Thỉnh thoảng những ngôi sao cũng thích chứng tỏ mình theo một cách khác người, và thế là trong phút ngông cuồng, đôi khi họ trở nên lố bịch vì những đòi hỏi quá giới hạn.

Một số sao có thói quen đưa ra những yêu cầu ngớ ngẩn, một số khác lại tự đánh bóng mình bằng những đòi hỏi lố bịch. Nhưng đối với các sao, điều đó chẳng hề gì, bởi nó sẽ giúp họ trở thành một nhân vật đặc biệt quan trọng.

1. Barbra Streisand: Trong chuyến tới thăm Lodon gần đây, Barbra Streisand đã đưa ra yêu cầu y hệt nhau đối với hai khách sạn mà cô nghỉ lại. Nó bao gồm hoa hồng rải trong cầu tiêu, giấy WC màu hồng đào cùng 120 khăn tắm lạ mắt cùng màu.

2. Christina Aguilera: Vào các chuyến lưu diễn, cô ca sĩ tóc vàng này yêu cầu vệ sĩ phải là cảnh sát hộ tống tại sân bay cùng chiếc Limo sang trọng. Ngoài ra, mỗi chương trình biểu diễn của Xtina sẽ không thể hoàn hảo nếu cô thiếu một chai vitamin của Flinstones.
Image
3. Mariah Carey: Luôn đòi hỏi một chiếc bệ toa lét mới cùng với vòi rửa bằng vàng trước khi làm thủ tục nhận phòng. Cô còn đề đạt rõ thói quen nằm trên giường chăn gối đệm bọc bằng vải lanh êm ái cùng với những thùng to đựng nước suối tinh khiết, đủ để cho cô và con chó cưng tắm rửa thỏa thích mỗi ngày. Trong mỗi tour diễn, Mariah cũng yêu cầu phòng thay đồ của mình được trang bị hai máy làm sạch không khí, những con chó và mèo con, cùng với người phục vụ luôn sẵn sàng mang đến cho cô kẹo cao su cũng như rượu champagne.

4. David Hasselhoff lại luôn đòi hỏi một hình nộm to y hệt mình ở chốn hậu trường.

5. Paul McCartney: Không hơn không kém 19 cây xanh cao đúng 6 foot (tương đương 1m82) cùng 4 cây thẳng đứng cao cũng chừng đó phải được trồng trong phòng thay đồ của Paul.

6. Yul Brenner: Phòng khách sạn phải được sơn màu be trầm ngay trước khi Yul xuất hiện tại đây. Phòng ăn cũng được cung cấp đầy đủ trứng màu nâu cho sành điệu thay vì màu trắng quen thuộc.

7. Eminem: Ở hậu trường của mỗi chương trình của Eminem phải có một người xoa bóp, một chỗ để chơi bóng rổ, bóng bàn, chơi game, và vô số món ăn nhanh đến từ các khách sạn danh tiếng khác nhau.

8. Rod Stewart: Đội ngũ nhân viên của anh phải làm hàng rào chắn để đảm bảo không một ánh sáng nào lọt vào phòng anh trong giấc ngủ trưa.

9. Justin Timberlake: Cứ hai giờ một lần, Justin lại thẳng thắn yêu cầu những vị khách viếng thăm ra ngoài đi lại vài vòng để "tẩy uế" cho căn phòng xinh đẹp của mình..

10. Kevin Federline có rất nhiều yêu cầu. Anh đòi hỏi 2 cây nến thơm, Vodka, vài hộp Red Bull, bột tăng lực và vô số các thứ vặt vãnh khác.
Image
11. Sharon Stone: Ở mỗi phim mà cô xuất hiện, Sharon luôn yêu cầu một phòng riêng đủ rộng để nhét đủ tất cả những người phụ tá, bao gồm cả hầu gái và cô trông trẻ.

12. James Brown: Hai cô gái trẻ dưới 21 tuổi và một phụ nữ để sấy khô tóc.

14. Beyonce: Một phòng tắm sạch sẽ với nhiệt độ nước nóng lúc nào cũng đúng 78 độ ở sau sân khấu.

15. Jennifer Lopez: Cà phê của J.Lo phải được sẵn sàng sau mỗi chương trình cô biểu diễn. Hậu trường phải được trang trí với những tấm thảm trắng muốt kết hợp thêm ánh nến và hoa hồng trắng trong phòng.

16. Brittany Murphy: Luôn yêu cầu món bánh mì bơ lạc được bưng đến phục vụ liên tục mỗi giờ đồng hồ khi quay phim.

17. Rose McGowan: Bạn diễn trong phim Grindhouse của cô được yêu cầu không mặc màu đỏ vì Rose đã chọn nó để xuất hiện trên sân khấu và cô không muốn vì điều đó mà mình bị phân tán sự chú ý.

18. Janet Jackson: Chiếc Limo phải đỗ đúng cửa phòng thay đồ vì Janet không muốn đi bộ. Ngoài ra, chiếc xe phải được trang bị chiếc ghế dài êm ái cùng 10 bông hồng đen.

19. Johnny Depp: Rèm trong phòng thay đồ của anh phải được làm theo phong cách Ma-rốc cùng với nến trang hoàng.
Image
20. Madonna: Luôn đi cùng chai nước phép đặc biệt của Do Thái trong mỗi buổi chụp hình. Trong chuyến lưu diễn năm 2006 Confessions, Madonna còn yêu cầu một cái bệ toa lét mới vào mỗi đêm.

21. Prince: Phải có một bác sĩ luôn túc trực sau sân khấu để đề phòng những âm mưu ám sát.

22. Jennifer Hudson: Lần ra mắt mới đây của ngôi sao mới nổi này đã buộc phải hoãn lại vì yêu cầu 5 chiếc ô tô, cùng đội ngũ làm tóc, trang điểm, bảo vệ đi kèm với một bữa sáng bằng cánh gà nướng.

23. Joss Stone: Trong lần xuất hiện mới đây, Joss đã yêu cầu 12 bông hoa hồng dài lê thê với những cái gai đã được gỡ bỏ hết.

24. Angelina Jolie: Yêu cầu một hãng phim phải gánh thêm chi phí học lái máy bay cho chồng yêu Brad Pitt trước khi cô gật đầu đồng ý xuất hiện trong phim của họ.

25. Jim Carey: Phải có nơi đỗ cho chiếc máy bay riêng hiệu Gulfstream nếu như hãng phim nào ngỏ ý muốn mời Jim.

26. Sean “Diddy”Combs: Trước khi đồng ý xuất hiện tại hộp đêm của London, Sean yêu cầu phải được trả bằng 6 chiếc xe hạng sang, bao gồm Rolls Royce, Limo và Mercedes. Tuy nhiên, trong khi người chủ của hộp đêm chưa kịp gật đầu, Diddy lại bổ sung thêm một loạt yêu cầu mới khiến chương trình về sau buộc phải hoãn bỏ.

27. Russell Crowe: Khi đóng phim Cinderella Man, Russell đã đòi rèm phòng thay đồ của anh phải có màu đen để không ai có thể nhìn thấy anh và ngược lại.

28. Usher: Tại lễ trao giải của GQ, Usher yêu cầu không có ai được đứng ở thảm đỏ khi anh chụp ảnh và trả lời phỏng vấn. Điều đó khiến các sao có mặt tại đây không khỏi điên tiết.

29. 50 Cent: Để đồng ý xuất hiện tại VMA, anh đã yêu cầu hai hộp chứa đầy bao cao su.

30. Dick Cheney: Tất cả TV ở khách sạn anh xuất hiện phải chuyển sang băng tần Faux Fox News.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »


Image

PHÓNG SỰ SÀIGÒN NỬA ĐÊM NGOÀI PHỐ
Thiên Hà
Buồn vào hồn không tên
Thức giấc nửa đêm
Nhớ chuyện xưa vào đời...

Đó là ca từ một bài hát khá phổ biến vào những năm đầu thập niên 60 của nhạc sỹ Trúc Phương ố chàng lãng tử xứ dừa Trúc Giang (Bến Tre) khe khẽ ngân ngân trên bước đường khởi nghiệp, khi đặt chân tới chốn phồn hoa đô hội Sài Gòn, khá quen thuộc đối với lớp trẻ thời ấy mãi tới bây giờ có người vẫn còn nghêu ngao.

GIỮA ĐƯỜNG PHỐ
HOA ĐÈN...


Thế mới hiểu ra từ nửa cuối thế kỷ 20 của một Sài Gòn xa lắc đã từng có những bước lang thang “nửa đêm ngoài phố” của những mảnh đờià để mà nhớ, để mà thương, để mà hình dung được phần nào về “Hòn ngọc Viễn Đông” trong quá khứ ố Một quần thể văn hóa hội tụ dân tứ xứ, xin được chọn nơi này làm quê hương, gắn bó một đời cật ruột.

VANG NHỮNG BƯỚC CHÂN KHUYA

Nói như thế có người cho rằng Sài Gòn bây giờ là Sài Gòn cơ giới, người ta đi ô tô, xe gắn máy chớ mấy ai lại lê gót bách bộ đâu mà vang những bước chân khuya trên ngõ vắng, nghe ham! Thật vậy, khi cuộc sống quá tất bật của một thành phố như hiện nay mà nói tới chuyện đi bộ dạo phố như thuở nào quả là điều hoang tưởng “xưa rồi Diễm”. Đâu còn ai có thời gian để mà nhớ tới cái thú tản bộ lang thang qua những con đường có lá me bay, lặng ngắm thân cổ thụ sù sì như nhà thơ Hoàng Trúc Ly một thời đã từng ngẩn ngơ để có được câu thơ bất hủ:
“Người yêu tóc xõa tròn vai
Nửa đêm da thịt quên cài áo khuy”,
nghe lãng mạn làm sao!

Tưởng vậy mà không phải vậy! Ít ai nhận ra ở một góc phố nào đó, ở một quãng đường nào đó giữa lòng Sài Gòn bây giờ hãy còn vang những bước chân khuya.

Khi màn đêm buông xuống mọi sinh hoạt thường nhật của Sài Gòn được coi như chìm vào giấc ngủ, lại chính là thời khắc những họat động khác của Sài Gòn bắt đầu không kém phần sôi động huyên náo. Có người cho đây là mặt trái của Sài Gòn nhưng cũng có không ít người bảo đấy mới là bộ mặt thật của thành phố công nghiêp. Một thành phố không ngủ yên, mà thao thức trắng canh rộn ràng náo nhiệt.

Còn đó những bước chân khuya khoắc lặng lẽ của những chị, những anh ánh lên trong lớp áo dạ quang ngời sáng vang từng bước nhịp theo tiếng chổi xào xạc qua những đường phố vắng tanh. Sương đêm trở lạnh mà họ vẫn miệt mài thấm đẫm mồ hôi với bao công việc quét dọn thu gom hàng đống rác rưởi trong một góc tối nào đó, ở một giao lộ nào đó mà đèn xanh, đèn đỏ đã tắt ngấm tự bao giờ. Chốc chốc lại thấy “người phu quét đường dừng chổi lắng nghe” không phải lắng nghe tiếng “đại bác đêm đêm dội về thành phố” của Trinh Cong Son, mà họ ngẩn ngơ trước bao “ghềnh thác thanh âm” thét gào, cuồng bạo toát ra từ những tầng “hộp đêm” rậm rật đến buồn nôn.

Thế mới hiểu được ở Sài Gòn này bao giờ cũng còn đó những bước chân lao động cần cù quanh năm suốt tháng lấy đêm làm ngày. Bên cạnh đó Sài Gòn cũng không thiếu những bước chân khuya quay cuồng thác loạn bởi những điệu “Pop - Rap” trên các sàn nhảy sau cánh cửa quán Bar, vũ trường. Thật vô cùng thiếu sót, nếu như đề cập chuyện “Sài Gòn nửa đêm ngoài phố” mà không kể tới điểm dừng.

NHỮNG QUÁN ĂN KHUYA

Không phải đến tận bây giờ Sài Gòn mới xuất hiện những dịch vụ ăn uống giữa đêm thâu, mà trước đó rất xa hàng bốn năm thập kỷ người Sài Gòn đã từng quen thuộc kiểu ẩm thực trong những “quán nửa khuya đèn vàng theo hơi khói” để màà “Trút tâm tư vào đêm vắng canh trường”à nếu như Sài Gòn xưa chỉ nổi tiếng ăn đêm ở một vài khu vực: khu Chợ Cũ, ngã tư Quốc Tế, ngã sáu Sài Gòn (tức ngã sáu Phù Đổng bây giờ), chợ Đuổi, chợ Trương Minh Giảng, Tân Định, Đa Kao, Bà Chiểu, v.và thì nay có nơi còn, có nơi biến hẳn, hình thành khu vực bổ sung mới vô số kể.

Càng về sau này, kỹ nghệ ăn uống càng phát triển khá đa dạng phong phú hơn. Thu hút thực khách càng đông hơn. Khi thành phố đã lên đèn, là lúc mọi hoạt động ăn uống trở nên tắp nập, rộn ràng hơn cả ban ngày. Những người sống về đêm, nhận rõ điều này hơn ai hết, về những loại hình ăn uống được hình thành theo từng khu vực gọi là “ẩm thực đường phố” giữa đêm khuya. Không chỉ là những hàng quán nằm quanh một số khu vực bến bãi như Xa cảng miền Đông, Xa cảng miền Tây, hay trước cổng một vài bệnh viện như Ung Bướu, Nhân dân Gia Định (trước là Bệnh viện Nguyễn Văn Học trên đường Nguyễn Văn Học nay là Nơ Trang Long) nhằm phục vụ khách có nhu cầu 24/24, cũng chẳng phải những hàng phở, hàng bún bình dân mọc lên ven đường dành riêng cho số thực khách là dân lao động thức khuya dậy sớm như xích lô, ba gác, hốt rácà Chúng tôi muốn nói tới những khu vực, những hàng quán khá sang trọng cho tới những hàng ăn tềnh toàng nhưng tất cả đều nổi tiếng tập trung ở một số nơi nhất định nằm rải rác giữa lòng thành phố này. Trước lúc 0 giờ một số điểm ăn uống còn vắng vẻ thưa thớt, chỉ lai rai đôi ba người nhưng kể từ sau 0 giờ trở đi thực khách kéo tới tấp nập, thậm chí có nơi còn không đủ chỗ ngồi.

Giả như chỉ cần tranh thủ bỏ bụng chút gì đó qua loa, vội vã về nhà quay ra ngủ cho kịp sáng ra tới sở làm thì người ta tiện đường tạt qua hông chợ Tân Định, chợ Phú Nhuận, Bà Chiểu hoặc tấp vào ngã sáu Phù Đổng, ngã bảy Sài Gòn hay ghé lại ngã tư Nguyễn Thiệt Thuật - Nguyễn Đình Chiểu sau chợ Bàn Cờ những nơi này thức ăn rất đa dạng đủ món trên đời vừa rẻ lại vừa ngon, từ nghêu, sò, ốc, hến, cua ghẹ đến hủ tiếu, bò viên, mì xào thập cẩm, bánh canh, bún Huế, bột chiên hột gà, hột vịt lộn, cháo quảng, cháo tiều không thiếu giống chi. Đó là chưa kể tới các món chè: nào đậu đỏ bánh lọt, tào thưng, táo soọng, nào hạt sen, bạch quả, sâm bổ lượng ngọt ngào bổ khỏe biết bao!

Cũng giống như những điểm trên, hàng quán chen nhau san sát. Đèn đóm sáng trưng là khu vực Tân Bình ố đường Trường Sơn và góc Hoàng Văn Thụ ố Lê Văn Sỹ. Đặc biệt ở đây “chuyên trị” các món gà: Gỏi gà, xôi gà, cháo gà, miến gà, chân gàà Ngoại trừ “Gà móng đỏ” không có trong thực đơn, nhưng đó đây cũng thấy thoáng ẩn thoáng hiện gọi mời với những nụ hồng héo hắt trên môi.

Một “điểm sáng” (bởi đèn đóng sáng choang) về ẩm thực sau lúc 0 giờ không nhắc tới là vô cùng thiếu sót. Ấy là khu vực dưới chân cầu Kiệu, cạnh quán Ngọc Hùng đường Hai Bà Trưng Q3 là một dãy liên tiếp 3 quán mang tên Mười Trí, thực khách ra vào tấp nập đông nghẹt, đến nổi ngồi kín cả những bàn kê ra lề đường, xe cộ chiếm cả lòng cầu Kiệu. Có lẽ giờ này không ảnh hưởng gì tới phần lề đường dành cho người đi bộ cũng nên. Khách ẩm thực tới đây đủ mọi thành phần: từ lao động chân tay đến lao động trí óc. Có cả y bác sĩ, kỹ sư làm ca đêm ra đây thưởng thức những món ăn ban ngày tìm mãi không ra. Nếu như ai đó “khoái” hương vị miền Bắc thì lập tức thẳng tới đường Hải Triều vùng chợ cũ Q1. Ở đây vừa ăn no bụng vừa được nghe mấy em tíu tít giọng Hà Nội ngọt ngào như mía lùi. Khác nào lời ru quan họ trên đất Thăng Long. Giá như có người không thích hương vị miền Bắc mà thèm tô phở kiểu miền Nam đầy ắp tái ố nạm ố gầu ố gân ố sách ố sữaà thì ngược lên đường Pasteur tìm đến phở Hòa, phở Ngân, phở Bình gì đó, ních một bát, no tới sáng.

Dân ăn đêm có bộ nhớ lưu lại những địa chỉ ăn uống trong đầu còn hơn IBM. Thèm bánh cuốn nửa đêm thì tới bánh cuốn cầu Bông đường Đinh Tiên Hoàng ố Bình Thạnh. Muốn thưởng thức món cháo trắng hột vịt muốn, cá bống kho khô, hay dưa mắm thì đến ngã ba Lý Chính Thắng - Huỳnh Tịnh Của. Còn thèm món hải sản theo kiểu Nhật thì có khu vực ngã sáu Ngô Gia Tự đường Nguyễn Tri Phương, Q10, chỉ cần vào một trong các quán Bà Mập, Tri Phương Phụng Vĩ, Quý Thành là có đủ các loại hải sản tươi sống đang lội trong bể nước. Muốn thưởng thức hương vị Tàu thì chịu khó lên đường Phan Xích Long ố một khu ẩm thực khuya rộn rịp chẳng thua phố nhậu Thi Sách buổi tối là có ngay các món gà ác tiềm thuốc Bắc, vịt tiềm ngũ quả, súp vi cá măng cuaà trong các quán có tên như người Hoa Chợ Lớn: Chấn Phát, Thuận Phát, Hồng Phát, Lâm Ký, Hương Ký, Dương Thành, Hải Sơn.

Rôm rả nhất trong hoạt động ăn uống từ nửa đêm về sáng có lẽ phải kể tới khu vực “trọng điểm” giữa địa bàn giáp ranh Q1 - Q5 đường Nguyễn Văn Cừ. Một dãy hàng quán ăn nhậu bình dân được hình thành san sát nhau từ đầu đường Phạm Viết Chánh ngó ra (ngã sáu Cộng Hòa còn gọi là vườn bông Khải Định trước đây, nay là quảng trường Hạnh Phúc) nổi tiếng khu vực hột vịt lộnà đạm bạc nhất. Từ 0 giờ kéo dài tới 3-4 giờ sáng lúc nào cũng ì xèo bát nháo, bởi những bóng dáng gái mại dâm mạt hạng, ế độ chì kéo xà nẹo với khánh hàng vớt vát cú chót kiếm chút tiềm còm.

Cách đó một quảng trên đọan Nguyễn Văn Cừ ố Nguyễn Trãi là nơi khá sang trọng, đèn đóm sáng choang, bàn ghế kê ra mặt đường dọc 2-3 căn nhà mà chẳng còn chỗ ngồi cho thực khách. Nơi đây có quán Sao Đêm với các món ăn được chế biến từ nai, bò, thỏ, heo, gà, chim đến cá, lươn, ếch, mựcà thơm lừng hấp dẫn mà giá cả cũng phải chăng. Thực khách đến đây đa phần thuộc tầng lớp khá giả. Một số cặp tình nhân. Sau khi rời khỏi vũ trường, ra ghé vào đây tìm thứ gì nhẹ bụng ăn cho lợi sức trước khi về “động hoa vàng”. Không thiếu những khuôn mặt diễn viên, ca sĩ hết “sô” kéo nhau tới quan Tân Hải Vân trên đường Nguyễn Trãi Q1 - một trong những quán ăn khuya lý tưởng nhất Sài Gòn hiện nay để thưởng thức lần lượt hàng loạt sao cho hết hàng trăm món ăn vừa rẻ, vừa hợp khẩu vị. Có thể nói cánh nghệ sĩ coi nơi này là “điểm hẹn” gặp nhau để vừa ăn vừa kể chuyện đêm khuya một cách hưng phấn về “CÁI THÚ ĂN ĐÊM”.

Cái gì cũng có cái thú của nó. Ăn đêm là cái thú của người sống về đêm, không ăn chịu không nổi, nó trở thành thói quen, không đói cũng kéo nhau đi ăn vì một nói nhớ nhung nào đó không tiện thổ lộ. Chẳng hạn như nhớ tới khung cảnh chỗ ngồi, nhớ tới bạn bè thân tình; và cũng đôi khi nhớ tới cô chủ, bà chủ quán duyên dáng ân cần, cô tiếp viên xinh xắn, trong sáng dễ thươngà Nói một cách khác, người có thú ăn đêm là để cảm nhận cái hồn quê, hồn phố, hồn quán, hồn người qua cái hồn của thực phẩm, của các món ăn được chế biến từ tay đầu bếp có tâm hồn.

Sài Gòn nửa đêm ngoài phố, không chỉ dành cho những người có cái thú ăn đêm, mà còn biết bao mảnh đời cơ nhỡ không cửa, không nhà, lang thang nửa đêm ngoài phố giữa lòng Sài Gòn.

Thiên Hà
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Image


Đấu giá bức ảnh khỏa thân của đệ nhất phu nhân Pháp
Trong khi đó một cuộc đấu giá khác sắp diễn ra tại thành phố New York cũng tạo nhiều chú ý, khi một bức ảnh của đương kim đệ nhất phu nhân Pháp và cũng là siêu người mẫu Carla Bruni, được ước lượng là sẽ bán với giá từ 3000 đến 4000 mỹ kim. Bức chân dung được chụp từ khi cô Bruni còn đang làm người mẫu vào năm 1993, do nhiếp ảnh gia Michel Comte thực hiện, đã được nhiều người chú ý từ khi cô lập gia đình với Tổng thống Nicolas Sarkozy vào hồi tháng 2.

Phát ngôn viên của nhà Christies về hình ảnh nói rằng rất nhiều người đã tỏ ra tò mò về bức ảnh này, và có lẽ việc cô Bruni đã trở thành đệ nhất phu nhân của Pháp làm cho nhiều người muốn mua bức ảnh hơn bao giờ hết. Cô Bruni sinh trưởng tại Ý Đại Lợi, từng là một người mẫu và là một ca sĩ, đã lập gia đình với ông Sarkozy chỉ 3 tháng sau khi gặp gỡ ông này. Bức ảnh khỏa thân là một trong 140 bức ảnh thuộc quyền sở hữu của một nhà sưu tầm người Đức tên Gert Elfering.

Trong số những bức ảnh được đem ra đấu giá còn có những tác phẩm của các nhiếp ảnh gia nổi tiếng như Irving Penn, Richard Avedon, Helmut Newton và Peter Beard. 4 buổi đấu giá các bức ảnh sẽ diễn ra vào hai ngày thứ năm và thứ sáu, kể cả những bức ảnh của bà Arbus nổi tiếng với những tác phẩm chụp những người sống bên lề xã hội, và Adams là nhà nhiếp ảnh gia nổi tiếng về những hình ảnh thiên nhiên. Một bức chân dung của nữ tài tử nổi tiếng người Pháp vào thập niên 50 và 60 là Brigitte Bardot của nhiếp ảnh gia Avedon dự trù sẽ thu về từ 80 đến 120,000 mỹ kim.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »


Image

Nam Lộc: Người Nhạc Sĩ của Tháng Tư
Mỗi năm cứ vào dịp kỷ niệm Tháng Tư đen, thì không thể nào người ta không hát, không nghe hoặc không nhắc đến ca khúc “Sàigòn Ơi, Vĩnh Biệt” mà nhạc sĩ Nam Lộc đã sáng tác vào những ngày cuối Thu 1975.

Sàigòn ơi, tôi đã mất người trong cuộc đời,
Sàigòn ơi, thôi đã hết thời gian tuyệt vời.
Giờ còn đây, những kỷ niệm sống trong tôi,
Những nụ cười nát trên môi,
Những giọt lệ ôi sầu đắng .....!

Ôi, có mấy ai sống ở miền Nam VN mà không nhỏ những giọt lệ sầu đắng cùng anh khi nghe được nhạc phẩm này. Một ca khúc mà tác giả viết cho chính thân phận mình cùng những kẻ tha hương đồng cảnh ngộ, hay cho người ở lại đã phải chào vĩnh biệt cái tên yêu dấu của thành phố Sàigòn vào tháng Tư, 1975.

Nhưng đối với người vượt biển thì mỗi độ Tháng Tư về, họ lại nhớ đến Nam Lộc qua những lời diễn tả xót xa của thân phận thuyền nhân, cùng cái giá mà họ đã phải trả để đổi lấy hai chữ Tự Do trong bài “Xin Đời Một Nụ Cười”:

Tự Do ơi Tự Do,
Tôi trả bằng nước mắt.
Tự Do hỡi Tự Do,
Anh trao bằng máu xương.
Tự Do ơi Tự Do
Em đổi bằng thân xác.
Vì hai chữ Tự Do,
Ta mang đời lưu vong....!

Quả thật, chúng ta hãy thử hỏi xem, trong số 3 triệu người tỵ nạn VN tại hải ngoại hiện nay, có bao nhiêu người đang sống lưu vong mà không phải vì hai chữ Tự Do?

Riêng đối với những người lính thuộc Sư Đoàn 5 Bộ Binh cùng những người tù cải tạo, và nhất là các tử sĩ QLVNCH, mà Nam Lộc gọi là “chiến hữu” thì không ai mà không nhớ đến anh qua đoản khúc cuối của nhạc phẩm “Người Di Tản Buồn”:

Cho tôi xin lại ngọn đồi,
Ở nơi tôi dừng quân cũ.
Cho tôi xin lại bờ rừng,
Nơi từng chiến đấu bên nhau.
Cho tôi xin một lần chào,
Chào bao nhiêu người đã khuất.
Xin cho tôi một mộ phần,
Bên ngàn chiến hữu cuả tôi ....!

Nam Lộc đã có lần tuyên bố, cũng chính vì những lời cam kết tâm huyết này mà anh đã bỏ hết công sức để góp phần xây dựng Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ tại Westminster, đồng thời đứng ra tổ chức hoặc tham dự vào các buổi nhạc hội ở khắp mọi nơi để gây quỹ trợ giúp Thương Phế Binh VNCH hiện đang sống vất vưởng ở quê nhà.

Tháng Tư 2008, đánh dấu 33 năm viễn xứ, người ta vẫn nhắc đến Nam Lộc. Nhiều người còn cho rằng dù 66 hay 99 năm sau, dù tình hình đất nước có thay đổi thế nào đi chăng nữa, thì cứ mỗi dịp Tháng Tư về, dòng nhạc của Nam Lộc vẫn là những viên thuốc an thần hiếm quý để xoa dịu vết thương không bao giờ lành trong khúc quanh đen tối nhất của lịch sử dân tộc Việt Nam.

Sơn Lai Khê (Cựu Trung Úy Sư Đoàn 5 Bộ Binh)
Viết tặng “chiến hữu” Nam Lộc, tháng Tư 2008
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Image

Tên Em Trong Trái Tim Anh

Bố mẹ tôi yêu nhau ngay từ cái nhìn đầu tiên. Bố mẹ không chỉ hài lòng về nhau mà còn chấp nhận cả những nhược điểm của nhau nữa. Đến giờ, sau hơn 50 năm, họ vẫn yêu nhau và ai cũng nhìn thấy sự nồng nàn ấy.

Bố tôi là người sống thực tế, thích trêu chọc người khác hơn là típ người lãng mạn nhưng sau khi gặp mẹ, ông trở thành một người khác hẳn.

Ông vẫn kể cho chúng tôi nghe lần đầu ông gặp mẹ. Đó là một ngày sau chiến tranh thế giới thứ 2, khi ông vừa trở về từ Nhật Bản. Ông đã lái chiếc xe (mượn của ông anh trai) đi theo mẹ khắp thành phố, cho đến khi mẹ vào một cửa hàng đồ nội thất. Bố đỗ xe ngay ở ngoài và chạy vào theo.

Mẹ tôi - lúc đó 26 tuổi - hỏi người bán hàng rằng hai chiếc giường đơn mà mẹ thấy ở đây tuần trước đâu rồi. Bố tôi, từ phía sau lưng mẹ, bước ngay ra nắm lấy tay mẹ và nói to:

- Em, sao em bướng thế? Chúng ta làm sao ngủ trên hai chiếc giường đơn được?

Mẹ tôi choáng váng đến đỏ cả mặt, còn bố vẫn thản nhiên như không.

Ba tháng sau, bố và mẹ làm đám cưới. Họ đã ngủ trên một chiếc giường đơn cho đến khi họ đủ tiền mua một chiếc giường đôi mà hai người cùng thích.

Hơn 50 năm sau, họ vẫn ngủ trên chiếc giường đó.

Ở tuổi 78, bố tôi phải trải qua một ca phẫu thuật tim. Mẹ dành hết thời gian để vào viện chăm bố, mong ông tỉnh dậy. Và điều đầu tiên bố nói với mẹ tôi khi tỉnh lại là điều lãng mạn nhất mà tôi từng nghe thấy:

- Maude, Em có biết các bác sĩ thấy gì khi mổ tim cho anh không? Họ thấy tên em trong trái tim anh.

Minh Nguyệt (dịch từ Internet)
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »


Image

XEM SHOW ASIA “LÁ THƯ TỪ CHIẾN TRƯỜNG”, TÔI ƠI NHỮNG GIỌT LỆ!

Nguyễn Thiếu Mai
Cho đến bây giờ thì những năm tháng định cư ở Hoa Kỳ và thời gian ông chồng tôi khổ cực trong các trại tù cải tạo của Cộng Sản, nếu được tính sổ lại, kể như là hai con số bằng nhau. Gia đình tôi đến nước Mỹ định cư khá muộn màng so với những người đồng cảnh ngộ, và đời sống là những chuỗi ngày bù đầu lo cơm áo gạo tiền, cả vợ lẫn chồng đều phải cắm cúi làm việc, lo nhà, lo cửa, lo cho con cái học hành. Sinh hoạt ở đây làm tôi cảm thấy như một ngày phải có hơn hai mươi bốn tiếng đồng hồ mới đủ. Nhưng rồi cũng xong, cuộc sống cũng tạm ổn định. Cô con gái út còn hai tháng nửa là tốt nghiệp đại học, cậu con trai lớn thì cuộc sống được kể như đâu đã vào đó, ra trường, đi làm như bao nhiêu người khác.

Vào một buổi chiều thứ Bảy đầu mùa Xuân, vào dịp Spring break, Khương, chồng tôi rủ hai người bạn ở cùng đơn vị cũ với anh, chúng tôi đi xem show ca nhạc của trung tâm Asia, chủ đề “Lá Thư Từ Chiến Trường”. Khương nói với tôi trên đường đến rạp là, tuy thời gian phục vụ trong quân đội của anh so ra không dài bằng những ngày sống ở Mỹ, nhưng những năm tháng đó cứ ở quanh quẩn bên anh với bao nhiêu kỷ niệm. Từ dạo phải tức tưởi rũ bỏ chiếc áo lính, không ngày nào mà những hình ảnh cuộc đời quân ngũ không quấn quýt bên anh. Khương nhớ rất rõ đến từng chi tiết của ngày đầu tiên tôi tiễn anh lên đường, ngày ấy tôi còn là một nữ sinh năm cuối cùng Trung Học, chỉ biết nhìn nhau qua đôi mắt ngập tràn những giọt lệ. Mỗi lần nhắc đến ngày nhập ngũ, Khương đều kể lại với nỗi thiết tha. Từ tiếng còi báo thức sớm mai, những đêm khuya tập trận hành quân, cho đến lần đầu tiên ôm ghì lấy tôi lâu nhất kể từ lúc quen nhau, đó là sau buổi lễ gắn Alpha cho các sinh viên sĩ quan tốt nghiệp.

Nói đến những người bạn đồng khóa với Khương anh vẫn nhớ rõ mồn một từng tên gọi nào là “Mười Lựu Đạn”, “Khanh Tỳ Bà”,”Phước Râu Xồm” v…v… Tôi cũng có được dịp gặp gỡ các anh này trong ngày tôi ra trường và trong dịp hôn lễ của chúng tôi. Bây giờ thì những đồng đội thân thương của Khương cũng không còn nữa, nhân bài viết này, tôi xin được cầu nguyện cho hương hồn các anh mãi mãi bình yên nơi cõi vĩnh hằng.

Sân Khấu Asia:

Nhìn quanh hội trường của buổi trình diễn show nhạc “Lá Thư Từ Chiến Trường”, tôi nhận thấy những người lính năm xưa với các bộ quân phục của nhiều quân binh chủng khác nhau, nào là Không Quân, Thủy Quân Lục Chiến, Nhảy Dù, Biệt Kích Dù, Cảnh Sát Quốc Gia, Hải Quân, Nữ Quân Nhân, Bộ Binh v…v…Sân Khấu Asia trang hoàng khá tốn kém và đầy ý nghĩa, được dàn dựng công phu với cảnh một khu rừng, ánh sáng cấu tạo kỹ lưỡng, khiến cho khán giả khi vừa bước vào rạp đã có được cái cảm nghĩ là mình đang sống trong một khu rừng nào đó ở chiến trường VN của một thời chinh chiến điêu linh.

Chỉ mới bước vào rạp, chưa xem trình dìễn mà người ta đã có một cảm nhận như trên, phải chăng những chiến binh chiều nay chắc sẽ nhớ vô cùng những ngày chiến đấu năm xưa? Khương bỗng nắm chặt tay tôi và trong khoé mắt anh dường như có những giọt lệ. Từ sân khấu đến khán giả, những chiến hửu ngày xưa trong các bộ quân phục nề nếp có lẽ đã làm mọi người hồi tưởng lại thời gian đóng quân nơi các tiền đồn hẻo lánh. Phong cảnh đầy tốn kém để dựng lại được một sân khấu đầy đủ như thế nói lên được sự tôn trọng của nhà sản xuất với khán giả. Asia đã không ngại tốn phí để dựng lại được một chòi canh cao bằng chiều cao sân khấu, nhóm thực hiện còn mang cả chiếc xe jeep lên trong một vài tiết mục của chương trình. Ngoài ra họ còn để một màn ảnh thật vĩ đại và rõ ràng làm back ground để thu hút người xem bằng những hình ảnh đệm cho các bài hát. Sự “chịu khó” tốn kém, chi tiết về một sân khấu có tầm vóc lớn lao như thế đã nói lên trình độ nghệ thuật cao, có thể so sánh với các chương trình nghệ thuật khác mà chúng ta đã từng được xem qua các show ca nhạc lớn của người Hoa Kỳ.

Chương Trình:

Liên khúc mở đầu của chương trình gồm các bài hát trước năm 1975. Asia đưa ra hơn 10 nghệ sĩ nồng cốt của trung tâm như Băng Tâm, Y Phụng, Lâm Nhật Tiến, Đặng Thế Luân, Như Quỳnh, Nguyễn Hồng Nhung, Ngọc Huyền, Thiên Kim v..v.. lần lượt trình diễn với sự phụ họa của những “extra” là một đoàn lính trang phục như đang hành quân ở một khu rừng nào đó. Tiết mục khai mạc đã được kết thúc lúc quốc kỳ VNCH trang trọng buông xuống và toàn thể khán giả đã đứng dậy, những cựu quân nhân thì đưa tay lên chào trong tư thế trang nghiêm đầy kính trọng, còn các khán giả trẻ và gia đình cựu quân nhân thì ngậm ngùi trong nước mắt. Bấy nhiêu đó trong màn mở đầu, Asia đã được những tràng pháo tay đầy khích lệ, bấy nhiêu đó thôi cũng đủ để nói lên lòng yêu nước cao độ của tất cả mọi người tham dự, và cũng bấy nhiêu đó cũng đủ tô thắm cho những trang hùng sử một thời chiến chinh của QLVNCH.

Tôi nhận thấy tất cả những bài hát trong chương trình đều được chọn lọc kỹ lưỡng và ca sĩ đã trình bày “rất tới”. Tôi ru hồn tôi với những: Anh Đi Chiến Dịch, Các Anh Đi, Viết Từ KBC, Thương Về Vùng Hỏa Tuyến, Bóng Nhỏ Đường Chiều… Tôi ngậm ngùi với Tầu Đêm Năm Cũ, Chân Trời Tím, Đêm Cuối Cùng… tôi cho tôi những niềm hân hoan với Lính Mà Em hay Tình Ca Người Đi Biển v..v.. và Nguyễn Hồng Nhung đã mang cho tôi cùng nhiều khán giả phái nữ những xúc động bất chợt khi cô diễn tả xuất sắc bản Người Tình Không Chân Dung: “Anh là ai? cái nón sắt ngày nào ấp ủ, mộng mơ của anh mộng mơ của một con người…” hay “trong cái nón sắt của anh để lại, mặt trời vẫn có đó, ban ngày và ban đêm, mặt trăng hay muôn muôn triệu triệu những vì sao vẫn còn đó, vẫn còn đó….”. Khi bài hát được kết bằng một âm vực cao trong 3 tiếng “Anh là ai?...” thì người tình không chân dung như được hiên ra rõ rệt từng nét đậm trong lòng mọi khán giả dù phía sau màn ảnh là một bức hình cái nón sắt của người lính được đậy lên trên khẩu súng. Những giọt lệ không còn cầm giữ được nữa! Cám ơn những chiến sĩ đã hy sinh cho chúng tôi những người còn lại dù ở nơi quê nhà hay đang tha hương trên toàn thế giới.

Chương Trình cũng mang đến cho người xem tìm lại những tiếng hát năm xưa như Thanh Phong hay một thời “Người Yêu Của Lính” như Ngọc Minh. Phương Dung, Phương Hồng Quế ..., những tiếng hát này vẫn thế, dường như không có gì thay đổi, vẫn tình tứ, nồng nàn. Nhưng riêng với Thanh Thúy thì sự xuất hiện của chị trong nhạc phẩm bất hủ “Bóng Nhỏ Đường Chiều” với tôi là một thành công rất đáng kể, nhất là khi chị không còn lối phát âm “rất Huế” như những thập niên qua. Chừng như có đến hơn 45 năm bây giờ tôi mới được nghe lại lối phát âm rất chuẩn tiếng Việt của nữ ca sĩ Thanh Thúy. Từ trước đến nay người ta thường hay nghe Thanh Thúy hát với lối phát âm mà tôi gọi là “rất Huế” ấy. Tôi đã được nghe Thanh Thúy tập dượt ca hát với một ông anh họ tôi (Thiếu Úy Trương Văn Vinh, người đã hy sinh trong trận chiến Hạ Lào), tại một căn nhà tôi không nhớ rõ lắm ở Đà Nẵng. Ngày ấy tôi yêu tiếng hát Thanh Thúy với lối phát âm “rất miền Bắc” của chị khi chị đang tập hát, tôi cho rằng đó mới là giọng hát thật của Thanh Thúy mà tôi còn giữ mãi, giữ mãi cho đến bây giờ. Hôm nay nghe Bóng Nhỏ Đường Chiều và sự thay đổi từ thể cách trình diễn đến lối phát âm của Thanh Thúy đã làm tôi yêu mến tiếng hát chị nhiều hơn nữa. Chất giọng Thanh Thúy vẫn còn rất trong sáng và những luyến loáy trong các nốt nhạc “rất tới” nhưng nếu chị thay đổi lối phát âm tôi tin chắc chị sẽ thành công nhiều hơn.

Chương trình cũng được xen lẫn với vỡ kịch ngắn “Quê Hương” qua sự trình diễn của đôi uyên ương Quang Minh & Hồng Đào cùng hai cô con gái là Vicky và Bé Tí Tẹo. Vở kịch đã đưa người xem nhìn được lối diễn mới của cặp danh hài này. Xem Quang Minh & Hồng Đào người ta vẫn thường nghĩ đến những nụ cười nhiều hơn, nhưng trong vở kịch ngắn của chương trình lần này, ngoài những tiếng cười, còn có thêm nước mắt! Nhất là nước mắt cuả anh chàng Quanh Minh thì mới là điểu lạ! Khán giả đã có dịp được thưởng thức tài nghệ cuả họ qua một lối diễn mới, lối diễn chú trọng về nội tâm. Thực ra kịch bản viết về một mảnh đời những người Việt sống xa quê hương rất đời thường nhưng khi được trao cho Quang Minh & Hồng Đào thì hai nghệ sĩ này đã khai phá những nét diễn tài tình để làm cho tác phẩm sáng rực lên và đã mua được cảm tình của khán giả và cũng đã khiến người xem phải khóc cho thân phận mình, thân phận những người Việt trong tuổi xế chiều sống trên xứ lạ quê người. Quang Minh & Hồng Đào đã lấy được nước mắt khán giả khi kết thúc vở kịch không những đầy nhân hậu tính mà còn để khán giả tự suy gẫm lấy rồi đây mình là ai nơi tuổi già bóng xế?

Chương trình được kết thúc là sự xuất hiện của Nam Lộc và khoa học gia Dương Nguyệt Ánh để giới thiệu một sáng tác mới nhất của Trúc Hồ qua phần hợp ca, đó là nhạc phẩm “Đáp Lời Sông Núi”, mà tôi tin rằng anh đã viết bằng con tim của những người thiết tha yêu nước:

Đáp lời sông núi, anh em ta đáp lời sông núi.
Tổ quốc lâm nguy, xương máu này ta nguyện hiến dâng.
Đáp lời sông núi, anh em ta đáp lời sông núi.
Quyết bảo vệ giang san, ta thà chết cho quê hương.
Việt Nam, Việt Nam, Việt Nam…

Các MC và Special Guests:

Asia đưa lên chương trình những MC thuộc nhiều thế hệ và nghề nghiệp khác nhau, mỗi người mỗi nét rất đặc biệt, khiến đã tạo cho chương trình thêm phần phong phú: MC Việt Dũng đã làm cho người xem giữ mãi sự yêu mến với lối “diễu” đầy duyên dáng của anh, có lúc thì lại đầy trân trọng khi nói đến những tri ân của anh với những người chiến sĩ đã bỏ mình cho Tổ Quốc hay những gian khổ đã qua trong cuộc chiến mà người lính đã âm thầm chịu đựng. Thùy Dương đầy chất kịch tính khi cô đọc những bức thư của người yêu lính dù khi cuộc chiến xảy ra cô hãy còn quá bé. Người luật sư trẻ Thùy Dương cũng đã làm cho khán giả yêu mến hơn khi cô thành thật nói rằng khi thực hiện chương trình nói về người lính đã làm cho cô hiểu thêm về lịch sử cuả cuộc chiến VN, và cô đã không cầm được nước mắt để cám ơn sự có mặt ngày hôm nay của cô là những hy sinh của Cha, Ông ngày trước . Vị MC “khách mời” nhà văn quân đội Phan Nhật Nam thì ngược lại, ông đã đưa người xem chứng kiến những trang sử hào hùng của người lính VNCH. Với tôi, hơn ai hết Phan Nhật Nam là một trong những nguời có đủ khả năng để viết quân sử. Người sĩ quan Nhảy Dù hào hùng trong các chiến trường, các chiến dịch, người đã từng tham dự trong các trận đánh đẩm máu, những cuộc hành quân gay go nhất trong lịch sử chiến tranh VN hôm nay, anh lại là một nhà văn nên Phan Nhật Nam có đủ yếu tố và dữ kiện để mang cho chúng ta những hình ảnh chân thực về người lính, và để chứng minh sự tồn tại của hôm nay đã đến từ những hy sinh đầy gian khổ và quả cảm của những chiến sĩ đã âm thầm chiến đấu, dù họ đã vĩnh viễn ra đi hay vẫn đang còn hiện diện bên cạnh chúng ta. Cám ơn nhà văn Phan Nhật Nam, ”người hùng của tôi”.

Riêng về nữ khoa học gia Dương Nguyệt Ánh (DNA) thì có thể noí rằng, mời được chị xuất hiện trong chương trình “Lá Thư Từ Chiến Trường” dù dưới bất cứ tư thế nào, dù có gọi chị là MC hay “khách mời đặc biệt” (special guest) đi nữa thì quả là Asia đã làm mọi người đầy thỏa mãn để đến xem hay “chiêm ngưỡng” chị.

Bởi vì chỉ nghe đến tên tuổi của DNA không thôi là ta đã cảm thấy niềm hãnh diện dâng trào. Chị là một trong số những người VN đã xứng đáng làm cho cả một cộng đồng bé nhỏ cuả chúng ta ở Hoa Kỳ “được thơm lây”. Hay nói đúng hơn đã làm cho những người Việt trên toàn thế giới nở mặt. Hôm nay được nhìn thấy chị trên sân khấu Asia “người công dân ngoại hạng của Hoa Kỳ”, hình ảnh người khoa học gia chế Bom Áp Nhiệt đã không còn hiện ra trong tôi khi chị vừa bước ra. Dưới ánh đèn rực rỡ cuả sân khấu, tôi đã nhìn thấy Dương Nguyệt Ánh như là một nghệ sĩ chuyên nghiệp bên cạnh MC Nam Lộc. Với một giọng nói trong và đầy sắc tính của sân khấu, ánh sáng và cảnh trí thiên nhiên đã làm sắc đẹp của chị nổi bật hơn với đôi mắt chứa những thông minh. Đối với tôi, một người dẫn dắt chương trình thuộc phái Nữ phải cần hội đủ hai yếu tố quan trọng đó là:sắc đẹp và giọng nói và DNG đã có cả hai.

Khi trình chiếu phần “video clip” giời thiệu nữ phi công: Đại Úy Elizabeth Phạm, DNA và Nam Lộc đã làm cho người xem thích thú trong những đoạn đối đáp đầy duyên dáng. Tiết mục này còn có sự xuất hiện đặc biệt của Bà Kim Trần (thân mẫu của Đại Úy Elizabeth Phạm). Bà Kim Trần đã làm mọi người xúc động khi nói đến người con gái của mình đang đâu đó trên chiếc Oanh Tạc Cơ F-18. Có thể đang là một chuyến bay đêm nơi chiến trường Fallujah của Iraq hay đang nghỉ ngơi trên chiến hạm Ronad Regan ngoài biển khơi. Bà Kim Trần đã trao cho Asia một quốc kỳ Hoa Kỳ, (lá cờ này được gắn trên chiếc F-18 của Đại Úy Phi Công Elizabeth Phạm để nếu có phải hy sinh thì lá quốc kỳ này sẽ được dùng để phủ xác người chiến sĩ phi công) và Bà Kim Trần gọi đó là “lá cờ chiến thắng”.

Khi trở lại với Nam Lộc trong tiết mục trình chiếu nói về Trận Hải Chiến Hoàng Sa năm 1974 và Cố Hải Quân Trung Tá Ngụy Văn Thà, Dương Nguyệt Ánh đã hãnh diện mình là một người VN khi chị nói: “Việt Nam là một quốc gia nhỏ bé nhưng người Việt Nam là một dân tộc quật cường với lòng ái quốc vô biên...”. Xin được trân trọng trao đến chị một nụ hồng rất tươi dù tôi cũng được hiểu rằng trong thời chiến tranh VN chị mới là một cô bé học trò tiểu học.

Còn đối với MC Nam Lộc thì biết “nói mấy cho vừa?” về con người tài ba mà hầu như cộng đồng chúng ta không ai mà không nghe, không biết đến anh, thậm chí ngay cả chính quyền Hoa Kỳ, các cơ quan thiện nguyện hoặc những tổ chức thuộc dòng chính. Các buổi đại nhạc hội xây dựng tượng đài chiến sĩ, tượng đài nạn nhân Cộng Sản hoặc các chương trình gây quỹ trợ giúp Thương Phế Binh đang sống khốn khó tại quê nhà. Chưa hết, còn những chương trình vận động để định cư các thuyền nhân từ VN hay còn đang vất vưởng ở những nước ĐNÁ, rồi đến các cuộc vận động lập pháp cho quyền lợi cuả người di dân hay tỵ nạn v..v.. Với những đóng góp và thành quả nóí trên anh quả xứng đáng để nhận những giãi thưởng cao quý từ các cơ quan chính phủ hoặc những tổ chức nhân đạo ở HK. Nhưng có lẽ đáng noí nhất là những sáng tác nghệ thuật qua dòng nhạc ngậm ngùi anh viết thân phận của những người phải rời bỏ quê hương để sống cuộc đời tỵ nạn. Trong lãnh vực MC, Nam Lộc đã bước những bước rất thành công. Riêng trong chương trình “Lá Thư Từ Chiến Trường”, với lối dẩn dắt vừa đủ và thu hút khán giả, Nam Lộc không nói nhiều hay nói thừa hoặc dài dòng những đìều không cần thiết. Anh luôn giới thiệu tóm gọn và đầy ý nghĩa ngay cả lúc anh “thọc lét” để khán giả có những giây phút cười thoải mái.

Lá Thư Từ Chiến Trường:

Lá Thư Từ Chiến Trường là chủ đề của show diễn mà Asia khi thực hiện đã bỏ rất nhiều công phu để tìm được những lá thư từ hơn 40 năm trước. Thư của những người Mẹ viết cho con trai đang ở chiến trường, những người vợ gửi cho chồng, những người lính viết cho tình nhân khi dừng chân sau một cuộc hành quân v..v... Những bức thư được trình chiếu trên màn ảnh với những bì thư còn đọc được từ những địa chỉ của KBC (Khu Bưu Chính). Có những lá thư làm cho người xem cảm thấy buồn nhớ về những thời xa xưa trong cuộc chiến, có người con gái viết cho người lính mình đang yêu và cầu nguyện nếu có phải rủi ro nào cho anh thì cũng xin cầu mong anh cũng chỉ bị thương tích nhẹ thôi để “em được ở gần bên anh…”. Có những người con trai viết cho Mẹ mình để mong Mẹ “kiếm cho con một người vợ…” . Hơn hai mươi bức thư tượng trưng sau khi đã chọn lọc được Asia đưa lên màn ảnh làm tôi nhớ có lần tôi đã viết cho Khương khi đơn vị anh đang hành quân ở Khe Sanh (gần biên giới Lào Việt). Ngày ấy tôi vẫn còn là sinh viên và hai đứa đã hứa hẹn sẽ lập gia đình với nhau sau khi tôi tốt nghiệp đại học. Tôi chỉ còn nhớ rất mường tượng như sau:

Khương yêu dấu,

Nhận được thư anh bảo rằng đơn vị đang sửa soạn rời A Lưới để qua Khe Sanh, em nghĩ giờ này anh đang ở đâu đó gần biên giới Lào Việt, đoán thôi anh ạ, vì em xem bản đồ và thấy vậy đó. Hỏi anh Phạm Như Đà Lạt vừa về nghỉ phép và đã trở lại đơn vị hành quân, anh Lạt nói với em rằng ở đấy bây giờ không còn nắng chói chang với gió Hạ Lào nữa. Chắc bây giờ trời đang mưa anh nhỉ? Mưa, trời ơi lại mưa! em nhớ những cơn mưa mấy ngày cuối cùng khi chia tay với anh ở trại Hoàng Hoa Thám để một lần nữa anh lại đi. Bốn tháng qua nhanh quá Khương ạ, nhớ lần ấy anh đến nhà khi đơn vị về dưỡng quân ở Vũng Tàu anh vội vã đến thăm em, nhìn anh gầy đi nhiều, em nhớ mãi đôi giày anh mang khi đến thăm em, đúng là “đôi giày đinh bết bùn đất hành quân…” . Chị Hà của anh tuần trước vào Saigon có đến thăm em, hai chị em nhắc đến anh mãi, mà này Khương ơi anh có nhảy mũi không vậy, biết không Mẹ em mắng em đấy, bảo rằng nhắc anh hoài làm anh nhảy mũi ra đấy, em thì nhớ anh quá nên muốn anh nhảy mũi hoài…Chị Hà cũng có nói đến ngày em ra trường mùa hè năm tới và như hai đứa mình đã hứa hẹn là tháng 9 mình sẽ có nhau mãi mãi, bên nhau suốt đời, phải vậy không anh? Thư rồi anh viết là những cuộc hành quân vào mùa mưa đầy cam go , em lo quá Khương ạ, em chỉ cầu nguyện những cơn mưa hãy thôi đừng đổ nữa cho đến tháng 9 năm sau!
Và khi em viết những giòng này thì mưa lại đang rơi ngoài khung cửa nhà em. Em ngừng đây vì không còn viết được nữa, mong anh nghĩ rằng dù có còn mưa thêm bao lâu nữa em vẫn mãi là của anh.
Yêu anh,
Mai


Tôi bước ra khỏi rạp Long Beach, buổi chiều vẫn còn sót lại một chút nắng vàng. và dù gió biển có thổi mạnh, nhưng vẫn chưa làm khô được dòng nước mắt. Tôi ơi những giọt lệ!
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Cuộc Chiến Ðấu Của Những Người Lính Không Còn Binh Chủng

Nguyên Huy
Bốn người ngồi trong một phòng khách sang trọng. Họ vốn là sĩ quan đồng khóa 14 Thủ Ðức trước năm 1975. Ra trường người được chuyển về Hải Quân, người Không Quân, người về Bộ Binh, Chiến Tranh Chính Trị. Những năm tháng trong quân ngũ, họ vẫn gặp nhau thường xuyên do tình cờ cùng công tác ở một Nha, Sở. Ba Mươi Tháng Tư Một Chín Bẩy Lăm, họ tan tác. Người di tản được. Người vào tù. Người trốn tù, vượt biên. Ba Mươi Tháng Tư năm nay họ gặp lại được nhau. Buổi gặp mặt hôm nay là tiệc mừng đón kẻ sang Mỹ chậm nhất trong 4 người.

Người ngồi trong góc tối mờ của phòng khách bắt đầu kể lại một kỷ niệm. Giọng anh bình thản, đều đều như đọc một trang sử đã qua. Ba người ngồi nghe, nhạt nhòa trong ánh sáng của đèn phòng khách.

Bên ngoài, trời Cali đầu Hè, vẫn lạnh. Không gian tĩnh quá như muốn nhấn mạnh cái lẻ loi, cô đơn của người xa xứ.

***

Vào những ngày chộn rộn nhất của Tháng Tư năm ấy tôi lại phải ra công tác ngoài Huế. Chả là vị Giám Ðốc của tôi được lệnh cho thu dọn đài phát tuyến để chuyển vào Nam vì tình hình mất Huế kể như gần chắc rồi. Lòng không muốn, nhưng quân lệnh, khó mà cưỡng. Ở Huế, tôi vội vã cùng nhân viên địa phương tháo gỡ hết và liên lạc xong với 1 đơn vị Hải Quân, xin được 1 chuyến tàu chuyên chở. Nhưng chỉ vào tới Ðà Nẵng thôi vì tàu còn phải trở lại để di chuyển cho nhiều cơ quan khác. Tôi đành đánh điện về xin chỉ thị. Kết quả: bằng mọi giá, tôi phải giữ được dụng cụ vật liệu của Trung Tâm đã tháo ra. Thế là tôi đành ở lại Ðà Nẵng để chờ Trung Ương liên lạc với bên Hải Quân xin chuyên chở vật liệu vào Sài Gòn. Bắt đầu là những giờ phút kinh hoàng ập đến. Huế đã thất thủ. Ðà Nẵng lên cơn sốt di tản. Người đổ ra cảng Ðà Nẵng và suốt dọc bờ biển Sơn Trà hỗn loạn. Dân lính hòa nhau trong cuộc chạy đua ra biển. Một cuộc tìm sống hãi hùng. Pháo Cộng Sản bắt đầu nã rải dọc bờ biển là lúc mà con người không còn đối xử được với nhau 1 chút nhân ái nào nữa. “Panique” đã diễn ra. Tôi phải làm sao? Bỏ của chạy lấy người? Ðể rồi vào Sài Gòn chắc là sẽ bị ra tòa án quân sự. Ở lại để chờ di chuyển vật liệu. Chắc chết. Tôi không thể nào dứt khoát được. Không phải tôi có tinh thần trách nhiệm cao đâu, mà chính vì sợ phải ra tòa án quân sự khi không hoàn tất được nhiệm vụ. Lúc này, tôi mới thấy mình ngu. Người ta thì bỏ cả đơn vị, công sở, thậm chí cả vợ con để chạy lấy người mà mình thì không dứt khoát được. Tôi cố nhờ một vài đơn vị còn trụ lại để liên lạc với thượng cấp của tôi mà không liên lạc được. Vị Sĩ quan truyền tin bảo tôi, “Ông cứ xuống tầu đi, Trung Ương phải biết tình thế này chứ. Chuyến tầu của đơn vị tôi sẽ nhổ neo lúc 3 giờ. Nếu đi, 2 giờ 30 ông lại đây”. Tôi cảm ơn, chạy về đơn vị mình. Viên trung sĩ trực, đi cùng tôi vẫn bình tĩnh nằm chờ ở bến. Tôi hỏi :

- Mình tính sao bây giờ ?

Hiểu ý tôi, viên trung sĩ đáp.

- Tùy đại úy quyết định.

- Vậy 2 giờ 30 mình ghé tiểu đoàn truyền tin đi cùng họ.

- Vâng.

Anh ta lặng lẽ xếp lại tấm chăn dã chiến và cái ba lô anh lấy làm gối. Gấp chiếc ghế bố nhà binh để góc tường, anh ngó căn nhà kho rộng chứa đầy những vật liệu tháo gỡ từ một trung tâm phát tuyến, anh thẫn thờ:

- Bỏ lại kể cũng tiếc thật. Cả chục triệu đô la chứ ít gì.

Tôi hỏi anh là Trung Ðội Ðịa Phương Quân được tòa tỉnh Huế biệt phái cho đi khuân vác theo đâu.

Anh rắn rỏi đáp:

- Mạn phép đại úy, tôi cho họ về Huế cả rồi.

Tôi trợn mắt:

- Tình thế này mà anh để họ về Huế.

- Họ nôn nóng vợ con gia đình. Biết làm sao.

Tôi định la nhưng chợt nhận ra tình cảnh chung, đành lặng lẽ thu xếp hành trang.

Pháo địch nã lên dữ dội hơn. Tiếng súng nhỏ râm ran khắp thành phố. Nhưng dòng người vẫn chật đầy phố phường. Như một cảnh hội pháo. Nhưng là hội của quỷ vì ai nấy mặt mũi xanh rờn, áo quần tơi tả.

Tôi ngó ra bãi biển. Như một cảnh tắm biển Mùa Hè ở các xứ người. Nhưng ở đây, nơi quê hương khốn khổ này, người ra biển không phải là để tắm mà để trốn chạy chính đồng bào của mình. Không có cảnh áo tắm nào đâu. Chỉ là một bãi biển đen kịt những con người khốn khổ. Một đám lính không còn vị chỉ huy nào, hùng hổ vừa bắn chỉ thiên vừa lao những chiếc jeep, dodge ào ào xuống bãi. Chúng gạt mọi người, cướp những chiếc thuyền cao su, thuyền gỗ, hay bất cứ thứ gì nổi trên nước có thể đưa chúng ra nơi tàu hải quân đậu. Tiếng người la ó, gào thét râm ran. Tiếng đại pháo từng chập rộ lên và bây giờ thì liên tục triền miên. Bỗng đám đông xao động hẳn. Nhiều tiếng la thất thanh:

- Việt Cộng đã vào thành phố rồi đấy.

Tôi hốt hoảng, ngoắc viên trung sĩ chạy túa theo đoàn người quên cả ba lô hành trang.

Chạy dọc theo bãi Sơn Trà xuống phía Nam cùng dòng người hỗn loạn, tranh cướp nhau lên một chiếc đò gỗ. Người lái đò hét lớn:

- Mỗi người một lạng vàng, tôi mới chở.

Ai nấy gật đầu. Tôi cũng gật đầu.

- Chung vàng ra.

- Cứ cho đò ra khơi đi. Chúng tôi sẽ chung đủ.

Tôi nhìn lại người trên thuyền. Chiếc thuyền khoảng 5m dài hơn 1m rộng mà có tới gần 5 chục người. Nước mấp mé mạn thuyền. Tôi tìm viên trung sĩ. Không thấy. Chúng tôi đã lạc nhau. Một ông trung niên, dáng như nhà buôn, đứng ra thu vàng cho tên lái thuyền. Thôi thì lại huyên náo. Người không có vàng, chỉ đưa tiền. Tiền cả bịch lớn, chẳng biết là bao nữa. Người lột đồng hồ, tư trang... Còn tôi? lấy gì bây giờ. Tôi đành lắc đầu.

- Không có gì, lính mà.

Ông thương gia trừng mắt :

- Nhảy xuống đi. Lính mà cũng chạy à.

Chợt ông nhìn trên tay tôi, hỏi :

- Rolex hả.

Tôi chợt nhớ chiếc đồng hồ đeo tay Rolex quí giá của tôi. Tôi lưỡng lự:

- Cũ rồi.

Ông thương gia gay gắt:

- Tháo ra đi. Mất thì giờ quá.

Một bà dè bỉu :

- Còn tiếc gì nữa cơ chứ. Sống là may.

Có tiếng la lớn:

- Thuyền chìm! Thuyền chìm!

Rồi hỗn loạn. Tôi chỉ kịp cởi chiếc áo lính thì nước đã tới cổ. Bản năng sinh tồn đã đưa tôi tới mạn tầu hải quân lúc nào tôi cũng chẳng biết. Lên tầu, vừa lạnh mệt tôi thiếp đi bao lâu để khi tỉnh dậy thoáng nghe thấy tiếng reo:

- Cam Ranh.

***

Ở lại Cam Ranh chờ chuyến tầu Hải Quân để về Vũng Tầu cả tháng trời, tôi không còn biết phải làm gì. Ngày ngày dạo quanh các khu tị nạn, ngóng chờ các chuyến xe hàng từ Nha Trang vào để đọc nghiến ngấu những tin chiến sự trên báo Chính Luận phối họp những tin tức nghe được trên đài BBC vào chiều tối, thấy càng sốt ruột. Tôi đã thử lội bộ, tìm đường về Nam nhờ các chuyến xe hàng. Nhưng một xu dính túi không có giữa lúc bạc tiền được tung ra không tiếc để có được một chỗ trên xe hàng chạy về Nam. Vả lại, trên đường bộ xuôi Nam, làm sao có an toàn. Mỗi lúc, câu chuyện di tản chiến thuật của quân dân Miền Nam càng trở nên bi đát, đau thương, kinh hoàng hơn. Ðắn đo mãi, tôi đành ở lại chờ đi bằng đường thủy.

Buổi sáng hôm xuống được chuyến chiến hạm HQ của Hải Quân Việt-Nam, cũng là lúc mà mọi người được tin là Nha Trang đã mất. Khi vào đến Vũng Tầu, tôi mới được biết là Nha Trang đã bỏ ngõ khi Cộng Quân còn ở cách thành phố đến cả nửa ngày đường. Người ta bảo nhau chạy vì tối hôm trước đài BBC có loan tin Cộng Quân tiến vào thành phố Nha Trang.

Từ Vũng Tầu về Sài Gòn chẳng còn bao xa nữa. Nhưng tôi vẫn nôn nóng. Trước cảnh chiến địa tan hoang, người người ly tán ở miền Trung, tôi không còn lòng dạ nào ngoài ước muốn được ở bên gia đình lo cho vợ dại con thơ. Nhưng ở Vũng Tầu, ngoài các bến bãi và những nơi tạm trú cho quân đội và dân chúng, thành phố biển này cũng chỉ hơi xao động. Phố xá vẫn buôn bán tấp nập, tầu bè san sát và bãi biển thì đông đặc người. Cũng có người tắm, nhưng phần nhiều là ngóng chờ những chuyến ra khơi. Nghe nói thì tầu Mỹ đã bắt đầu đón người, nên ai nấy đều nhìn ra biển chứ ít ai nghĩ đến trở vào đất liền.

Trong khi đó chiến sự lan mạnh. Có tin Phan Rang đã mất và Cộng Quân đang dồn về Long Khánh. Thoáng trong óc tôi, một hình ảnh một mạng lưới đang thu hẹp lại. Tôi quyết định tìm mọi cách trở về Sài Gòn mà không lóng ngóng ở bãi biển để tìm cách ra đi như mọi người khác.

Khi men được về đến Biên Hòa thì Biên Hòa cũng thất thủ. Ðó là sáng ngày 28 tháng 4 năm 1975. Tôi vội lội bộ băng ruộng cùng rất nhiều đồng bào, tìm về hướng Thủ Ðức. Nhiều tiếng miền Trung thốt lên, e ngại:

- Có ai biết đường về Thủ Ðức-Sài Gòn không?

- Cứ đi. Qua các thôn xóm hỏi thì rõ.

Tôi quan sát đám người cùng đi. Bấy giờ tôi mới chợt nhận ra, phần lớn là anh em trong quân đội. Có một vài phụ nữ, với con nhỏ, chắc là gia đình của quân nhân. Chúng tôi tập họp nhau lại khoảng 50 người. Một anh bạn trẻ, mặc chiếc sơ mi rách nát nhầu, nhưng cái quần lại là quần “trây di”, chân đi dép Nhật, hăng hái nói:

- Cứ theo tôi.

Tôi hỏi anh.

- Anh biết rõ lối đi không.

Nhìn kỹ tôi một lát, anh mới nói:

- Cách đây 10 năm tôi có ở vùng này 8 tháng.

Hiểu ý anh tôi hỏi:

- Tôi khóa 14. Còn anh.

Anh vui mừng :

- Chúng ta cùng khóa rồi. Vậy anh còn nhớ đêm di hành cuối khóa không?

Tôi ngần ngại thú nhận:

- Ðêm đó tôi trốn hành quân.

Anh không nói gì, quay nhìn bốn hướng. Rồi chợt nhận ra điều gì anh quả quyết.

- Mình đi về hướng này. Chỉ đến trưa là sẽ tới sân bắn mới Thủ Ðức. Tới đó mình tìm xe lam về Sài Gòn được rồi. Bọn nó chưa ra khỏi được Biên Hòa đâu.

50 người chúng tôi theo anh lội tắt các khu ruộng. Hết xóm đến thôn, lại đến ruộng, rạch. Ðâu đâu cũng thấy dân chúng nhớn nhác nên chẳng ai để ý đến chúng tôi cả. Một vài nơi đã dám kéo cờ Giải Phóng Miền Nam, nửa xanh nửa đỏ có ngôi sao vàng.

***

Chúng tôi tới được bờ Nam sông Sài Gòn thì cũng vừa lúc tiếng súng lớn nhỏ nổ rộ bốn chung quanh. Anh bạn trẻ nói cho cả bọn:

- Mình đang ở giữa một mặt trận rồi.

- Sao anh biết.

- Kinh nghiệm chiến trường lâu nay.

Một người trong bọn lắng nghe rồi nói:

- Phía này là quân bạn.

Rồi anh kéo một số người đi tiếp. Tôi đắn đo. Anh bạn trẻ lôi tôi đi:

- Phải đi thôi.

- Nhưng lỡ lọt vào trận tuyến địch thì sao.

- Anh quên tiếng M1 nổ rồi à.

Tôi chợt tỉnh, yên tâm đi theo.

Nắng chiều gắt gao. Ðồng cỏ hừng hực hơi nóng. Cỏ lút đầu người. Mới đó mà không hiểu mọi người đã tản đi đâu hết. Tôi đành nhắm hướng các ngọn cỏ lau xao động phía trước mà tiến tràn. Lúc này tiếng súng nổ ran như pháo Tết ở sau lưng, càng khiến bước chân tôi lội nhanh về phía trước. Có lẽ tôi đã lạc bọn rồi. Phía trước chỉ là những làn cỏ lướt trong gió. Không một dấu hiệu nào chứng tỏ đồng bọn tôi đang trú ẩn. Có tiếng đạn réo trên đầu. Tôi cúi xuống chạy lúp xúp. Những ngày ở quân trường năm xưa tôi đã quên hết. Bốn tháng giai đoạn 1 học chiến thuật, 4 tháng sau đó về ngành CTCT rồi ra trường, chỉ ở văn phòng. Bỗng tôi thấy 1 người nằm vắt qua bờ mương nhỏ. Một chiến binh. Bên nào? Bộ quân phục dã chiến đầy bùn quen thuộc, nhưng đôi giầy “saut” lại bằng vải. Quân đội mình làm gì có giầy nầy. Chợt tôi thấy cái nón cối cách xa đó. Tôi hốt hoảng, rẽ về lối khác. Thế là mình đang ở trong chiến tuyến của Cộng Quân rồi. Phải ra thoát. Lúc này 1 cây súng trên tay chắc có ích. Tôi quay lại, nhặt lấy khẩu A.K. bên xác chết. Hình như đâu đó có tiếng nói. Tôi lắng tai cố nghe nhưng không thấy gì. Chỉ là tiếng gió rào rạt làm nền cho những tiếng súng từng hồi rộ lên.

Chiều xuống thấp lắm. Cơn gió đồng mát mẻ thổi trên người bắt đầu se khô mồ hôi đẫm áo. Phía trước mặt tôi, hình như là một thôn xóm. Ðã thấy một lối đi mòn giữa một bãi tha ma trống. Tôi không dám tiến đến bãi tha ma vì sợ làm đích cho cả hai bên. Lại phải đi vòng. Hình như thấp thoáng có một mái tranh. Và những nóc nhà tranh, nhà ngói hiện ra. Một địa danh chợt đến: Linh Xuân Thủ Ðức ư. Không. Ðây phải là Cát Lái rồi. Cánh đồng cỏ lút đầu vẫn trải dài trong bóng chiều thật nhạt. Tiếng súng vẫn từng chập, ở mọi phía. Lúc này, hình như tôi không phải là tôi nhút nhát, mà lại quen được tiếng súng nổ. Thỉnh thoảng có vài phút yên tĩnh trên cánh đồng, tôi lại sợ cái yên tĩnh ấy.

***

Bây giờ thì tôi khá bình tâm. Một vài dấu hiệu quen thuộc trong cảnh chiều đã xuống thấp. Rõ rồi. Ðây là Ngã Ba Cát Lái. Ðúng con sông này và con đường nhựa nhỏ tôi đang băng qua đây. Ký ức chợt hoạt động mạnh mẽ. Biết bao nhiêu chiều Chủ Nhật tôi đã cùng N. tới nơi này. Dựng xe bên bờ đường, ngồi trên bờ cỏ, ngắm chiều xuống rồi trở về thành phố ăn một bữa cơm tây và chia tay. Chả có gì nhưng đã là những hình ảnh làm tôi nuối tiếc, thèm khát biết bao khi vào quân trường phải thực tập những bài học lính gác giặc tại các khu vực này. Bây giờ, cả chục năm đã qua, trở lại chốn cũ giữa hoàn cảnh khó tả này, hình ảnh người yêu cũ lại hiện ra và cũng cùng lúc hình ảnh gia đình ập đến. Bước chân tôi lại dồn dập. Tiếng súng vẫn ở sau lưng rộ lên nhiều hơn phía trước mặt. Tôi đoán, quân bạn đang rút về thành phố. Cuộc chiến này sắp chấm dứt rồi sao. Chấm dứt ngắn gọn như thế sao. Chúng tôi sẽ còn lại gì. Không thể thế được. Mậu Thân 1968 chúng tôi đã phản công và chỉ sau 2 tuần, lại làm chủ tình thế suốt từ Nam ra đến Thạch Hãn.

Nhưng bây giờ, chúng đang đẩy lùi chúng ta. Cuộc chiến bây giờ là trận địa chiến không phải du kích, đánh lẻ như phần lớn các cuộc đụng độ hồi 1968.

Vậy sẽ thua sao? Tương lai rồi sẽ thế nào cho một Việt-Nam?

- Ðứng lại.

Một tiếng quát nhỏ đưa tôi về thực tại. Tôi bàng hoàng nhìn trong đêm, phía có tiếng quát, và đứng sững người, bỏ khẩu A.K. xuống đất.

- Ðơn vị?

Tiếng nói dịu đi. Tôi vội trả lời vì đoán là quân bạn.

- Chiến Tranh Chính Trị.

- Ở đâu.

- Sài Gòn.

Một thân người nhô ra khỏi bức tường. Trong ánh sáng mờ của đêm sao, tôi thấy rõ một chiến binh Việt-Nam Cộng-Hòa vì dáng đứng của anh. Anh ngoắc tay cho tôi lại gần:

- Di tản miền Trung vào hả.

Tôi gật đầu, giải thích:

- Ðang công tác thì chiến sự lan đến.

- Bỏ chạy cả phải không.

Anh chiến binh cười lớn, ngạo nghễ. Một tràng tiểu liên réo trên đầu. Lửa đạn nhoang nhoáng. Anh đẩy tôi ngã sấp, miệng chửi tục. Cùng lúc, phía bức tường, từng tràng trung liên khạc lửa, đinh tai nhức óc.

Anh chiến binh bảo tôi:

- Lấy súng rồi tìm chỗ nấp. Chúng đã dò ra bọn mình rồi đó.

Có tiếng gọi chiêu hàng xa xa:

- Các anh hãy bỏ súng xuống. Hòa bình đã tới rồi. Cách Mạng sẽ khoan hồng cho các anh. Ðừng ngu xuẩn điên cuồng chống lại Cách Mạng, chống lại nhân dân.

Lại một tràng trung liên xuyên về hướng đó. Anh chiến binh chửi tục. Anh nói với tôi:

- Anh rút theo đồng bào hay ở lại chiến đấu với tụi tôi.

Tôi vội vàng:

- Tôi phải về Trung Ương báo cáo công tác ngay không thể ở lại với các bạn được. Bạn có thể cho biết đơn vị nào đang chặn địch ở đây không.

Anh lẩm bẩm :

- Ðơn vị. Chính tôi cũng không còn biết nữa. Rút chạy từ Qui Nhơn, tôi đã lạc đơn vị.

- Vậy anh đang chiến đấu với ai.

Anh hất đầu về phía bức tường.

- Tổ trung liên kia gồm một Dù, một Biệt Ðộng Quân và một Bộ Binh. Họ không nói nhưng nhìn quân phục và huy...

Tiếng nổ chát chúa ngay bên tai, khói mù mịt. Tiếng những bước chân chạy và tiếng vũ khí va đập. Thoáng có tiếng gọi:

- Rút vào trong thôn đi các bạn.

Thấp thoáng tôi thấy cả chục bóng đen di chuyển. Tôi cố gắng len lỏi theo họ, qua các hàng rào tre, gỗ, kẽm gai, tường gạch. Vẫn là tiếng anh chiến binh lúc đầu:

- Nếu anh không ở lại thì nên đi phía này ra xa lộ mà kiếm xe về Sài Gòn. Bọn tôi sẽ về chân cầu xa lộ...

Tiếng súng chợt nổ rền 4 phía. Chúng tôi đang ở trong một thôn xóm. Hình như chúng tôi đã bị bao vây tứ phía. Anh chiến binh kéo tôi chạy vào trong 1 căn nhà gạch. Có tiếng nói gằn giọng:

- Chạy đâu nữa, kiếm 1 vị trí chiến đấu đi.

Tôi chợt nhận ra quanh tôi có rất nhiều người. Phần lớn là chiến binh. Tôi không rõ họ thuộc đơn vị nào. Nhưng tất cả, quân phục đều tả tơi, nhưng vũ khí lại rất đầy đủ. Một người trong nhóm nói:

- Chúng ta không thể tụ cả lại đây được. Phải phân tán ra.

- Ai chỉ huy ở đây.

- Tôi.

Mọi người đều dồn mắt nhìn về phía tiếng người vừa xưng “tôi” dõng dạc. Nền trời đêm qua khung cửa mở rộng soi rõ một dáng người nhỏ nhắn nhưng vững chãi. Tự nhiên tôi thấy vững tin và có lẽ những người chung quanh tôi cũng vậy. Nhiều tiếng nói:

- Chúng tôi sẵn sàng.

Bỗng có tiếng một người:

- Chiến đấu gì nữa. Tìm đường mà rút thôi.

Người nhỏ nhắn đanh giọng:

- Ðó là ý kiến của một mình anh. Anh có quyền làm như vậy. Và xin anh ra khỏi căn nhà này ngay.

Rồi với một giọng cao hơn, người nhỏ nhắn cương quyết:

- Ai muốn rút cứ việc bỏ vũ khí lại, nhất là đạn và lựu đạn.

Không khí chợt im lặng, làm tiếng súng bên ngoài càng rõ hơn. Không một ai có cử động bỏ ra ngoài. Người nhỏ nhắn bắt đầu phân công tác:

- Hai bạn nào ra nhận định hướng tiến của địch?

Hai bóng người vụt đứng lên, lẻn qua cửa rất nhanh.

- Tổ trung liên án ngữ đường vào thôn.

- Rõ.

Ba người vác súng và đạn chuyền qua cửa sổ ra sau vườn căn nhà.

- Các bạn còn lại, vũ khí đạn dược còn được bao nhiêu?

Nhiều tiếng nói lao xao. Người nhỏ nhắn tiếp:

- Không sao. Chúng ta cố gắng cầm cự, rút đến chân cầu xa lộ là có đủ đạn dược rồi. Ở đó có một đơn vị Dù đang trấn cầu. Bây giờ tôi chia như sau, 3 người một nhóm. Nhóm 1, bên phải căn nhà chế ngự hướng xa lộ. Nhóm 2, bên trái, cũng vậy. Nhóm 3 phía sau nhà, kiểm soát các nhà lân cận. Còn lại là nhón 4 trừ bị tại đây. Chúng ta chờ “tiền sát” về sẽ tìm đường rút ra khỏi thôn.

Mọi người im lặng thi hành nhiệm vụ. Bây giờ thì mọi người đều không cần biết đến địch ở bên ngoài là bao nhiêu, nhưng cứ nghe tiếng súng thì không thể nào nghĩ là quân số 2 bên ngang nhau được. Nhưng tất cả đều như nhớ lại những bài học chiến thuật xưa và văng vẳng câu nói của cán bộ dạy chiến thuật “phải biết lao vào chỗ chết để tìm ra đường sống khi bị địch vây hãm hay phục kích”.

Tiếng súng bên ngoài thưa thớt. Ðêm hình như đã khuya. Ðã nghe rõ tiếng côn trùng rỉ rả khắp khu vườn tối.

Hai tiền sát viên trở lại. Tôi nghe rõ từng giọng hổn hển:

- Chúng không vào thôn. Chúng đang tiến về cầu xa lộ. Chúng đi từng đoàn nghênh ngang. Dân nói, chúng đông lắm...

Vị “chỉ huy” của chúng tôi ra lệnh:

- Vậy ta rút. Bây giờ để toán 3 rút trước, rồi toán 2 và toán 1. Trung liên sau cùng với tôi và nhóm trừ bị. Thôi, Chúng ta bắt đầu.

Tự nhiên tôi cảm thấy yên tâm ghê gớm. Hình như tôi đã trút bỏ được hết nỗi lo lắng về gia đình. Trước mặt tôi bây giờ chỉ là một cuộc chiến đấu không cân sức mà chúng tôi phải chấp nhận.

Khi chúng tôi ra khỏi thôn thì trời hửng sáng. Phía chân trời một vài vệt đỏ rõ ràng. Một vài ngọn gió mát lướt trên cánh đồng không xua đuổi được hết cái oi bức của đêm qua.

Tôi quay nhìn vị “chỉ huy”. Anh thấp hơn tôi chút ít, da ngâm đen vì sương gió chiến trường. Dưới chiếc mũ sắt mà chiếc quai vải bỏ không cài, gương mặt anh rắn đanh. Ðôi mắt thật sáng. Dưới bộ quân phục hoa Dù, vẻ người của anh vẫn không hết những nét chân chất của người nông dân miền Nam. Tôi chợt nhận ra nơi ve áo ngực anh cái lon Thượng Sĩ Nhất. Vội sờ lên cổ áo, tôi mừng thầm nhớ ra là đã tháo bỏ lon Ðại Úy của mình. Tò mò tôi nhận xét người chiến binh đi cạnh tôi. Trên ve áo ngực anh có 2 lỗ thủng nơi chỗ thường gắn cấp bực. Phải là một Sĩ quan. Tôi tin thế và hỏi:

- Anh ở đơn vị nào?

- Sư Ðoàn 1.

Anh tiếp luôn:

- Sư đoàn tập trung ở Vũng Tầu nhưng tôi bỏ, tính về Sài Gòn tìm xem vợ con ra sao thì lại kẹt. Còn anh?

- Tôi đang công tác ở Ðà Nẵng.

Anh giải thích thêm:

- Anh em ở đây đủ sắc phục, đủ các đơn vị. Chiều qua tụi tôi tình cờ tụ lại với nhau khi chiến đấu ở dọc xa lộ. Trên cùng một chiến tuyến mà tôi chẳng biết thuộc đơn vị nào. Ðến lúc thưa tiếng súng, hỏi nhau mới rõ chẳng có ai biết đơn vị mình đang chiến đấu là đơn vị nào và cũng chẳng có ai là chỉ huy cả. Thế nhưng, anh em vẫn cứ tiếp tục cầm súng mà không ai bỏ hàng ngũ cả. Thật lạ.

- Bây giờ thì có “chỉ huy” rồi đó.

Người chiến binh đi bên tôi, nghiêm chỉnh trả lời:

- Rất tiếc là anh không dự 1 trận phá vòng vây chiều qua của tụi tôi ở Ngã Ba Long Thành. Vị “chỉ huy” này đã một mình ôm cây Trung liên yểm trợ cho mười mấy anh em vượt ngã ba phía Bắc xuống phía Nam vì bên quận Tân Uyên chúng dầy đặc không còn lối nào thoát. Ai cũng sợ phải vượt Ngã Ba vì lộ trống quá mà. Nhưng nhờ có khẩu trung liên mà 1 đơn vị có dễ đến cả đại đội địch không tiến lên được. Có nhìn thấy anh nằm khơi khơi ôm khẩu trung liên ở bến xe đầu ngã ba mới thấy phục. Ai cũng lên tinh thần cả nên mới cùng nhau tiếp tục chiến đấu đấy chứ.

Một chiến binh đi phía sau cũng góp tiếng:

- Chiến đấu không phải để chạy đâu mà chiến đấu để tìm 1 đơn vị bạn, rồi sẽ nhập vào chiến đấu qui mô.

Tôi quay lại. Người vừa nói hất đầu hỏi tôi.

- Phải vậy không?

Tôi gật, Anh định nói tiếp vừa lúc vị “chỉ huy” reo khẽ:

- Cầu xa lộ.

Chúng tôi theo “lệnh”, đi về hướng bờ sông Sài Gòn tránh hướng cầu. Dự định tới bờ sẽ đi ngược lên tới chân cầu để tìm 1 đơn vị lớn nào đó đang trấn cầu ngăn đà tiến của địch.

Buổi sáng một ngày như mọi ngày. Hướng xa lộ vẫn có tiếng xe chạy rào rạt. Người đi lại có vẻ đông đúc. Có lẽ dân chạy di tản về Sài Gòn. Vậy chúng sẽ tiến quân lối nào, chúng có dùng xa lộ không. Anh em chúng tôi đang bàn hỏi nhau thì chợt nghe tiếng máy nổ dồn dập rồi chiếc T.54 đầu tiên nhô cái nòng lên trước. Mạch máu anh em chúng tôi căng thẳng. Ôi! Chúng kiêu ngạo quá! Chúng dám tiến quân lẫn trên đường di tản của dân. Vị “chỉ huy” thúc chúng tôi tiến nhanh về phía cầu, bỏ không đi về hướng bờ sông nữa. Trên xa lộ, một chiếc T.54 bắt đầu rẻ xuống bên đường quay nòng về cánh đồng. Chúng đang yểm trợ cho bộ binh qua cầu.

Một tiếng nổ từ phía cầu. Một cụm khói bốc lên từ chiếc T.54. Thế là đạn trên tăng vã ra như mưa rào về phía cầu. Chúng tôi quan sát trên cầu. Từng ụ cát trải dài nhưng tiếng súng vẫn không có. Quân bạn đã rút rồi chăng. Trên mặt lộ lúc này vắng tanh. Phía sau 3 chiếc T.54 là từng đoàn địch quân đang mở rộng vòng tiến lên cầu. Bọn chúng chạy lúp xúp. Có đứa chạy rơi cả mũ, vội quay lại nhặt. Những chiếc nón cối mới tinh và những bộ quân phục cũng mới tinh. Chúng tự tin là vào Sài Gòn tiếp thu ư ? Có thế, chúng mới mặc quân phục mới khi còn phải chiến đấu.

Bây giờ thì chúng đang mở rộng trận tuyến. Có thể như 1 trung đội đang tiến về phía chúng tôi. Vị “chỉ huy” làm hiệu tay triển khai chiến tuyến. Chúng tôi, 3 người một, nhanh chóng tìm các ụ chiến đấu. Chúng đã tới gần. Chúng định làm 2 gọng kìm bẻ vào chân cầu tiêu diệt quân bạn trên cầu. Vị “chỉ huy” khai hỏa. Chúng tôi đồng loạt nổ ròn vào những cái bia sống rất rõ. Lúng túng mất một lúc tôi mới sử dụng được khẩu A.K. Tôi cố điều chỉnh để đạn không ra liên thanh, quên hẳn nút điều chỉnh. Từng loạt người đổ rập, nhưng vẫn là những bóng người nhấp nhô tiến lại. Có một lúc tôi tự hỏi không biết chúng có được học chiến thuật không mà chúng - chiến đấu kỳ lạ thế. Cứ xồng xộc xông vào lưới đạn, đội hình lung tung. Tôi chợt nhận ra qui luật của chúng. Cứ khoảng 5 phút là một đợt tiến lên rồi lại nằm xuống ngay giữa cánh đồng. Như một cái máy. Khẩu trung liên của chúng tôi như cũng tìm ra được khuyết điểm đó của chúng nên cũng cứ 5 phút một lại quạt một tràng. Cuộc chiến đấu căng thẳng. Sức tiến của địch chậm hẳn lại. Trên cầu súng của bạn lúc này cũng nã xuống như mưa. Hai chiếc T.54 đã bốc cháy. Nhấp nhô trùng điệp phía xa, địch quân đang dồn lên. Trên tuyến chiến đấu của chúng tôi đã thủng, cắt rời ba chúng tôi với anh em cùng vị “chỉ huy”.

Khẩu A.K. của tôi đã hết đạn. Tôi quăng súng nhìn 2 chiến hữu. Một người ngoắc đầu bảo tôi rút. Tôi thấy anh nạp băng đạn kép vào khẩu M.16 của anh và say sưa bắn tỉa như muốn yểm trợ cho tôi rút xuống bờ sông.

Không để lỡ cơ hội. Tôi lăn mình vào 1 bụi rậm sau lưng rồi cứ len theo các bụi lau sậy trườn xuống. Tiếng súng mỗi lúc mỗi xa dần. Ðến khi nhìn thấy bờ nước thì tôi đã cách xa hẳn tuyến chiến đấu rồi. Tìm được một bụi lau lớn, tôi để ngập mình trong làn nước, nhìn trở lại phía các bạn đang chiến đấu. Phía đó, không còn tiếng súng nữa. Phía cầu, khói bốc mù mịt. Nhiều tiếng nổ lớn dội lên. Tôi mong chiếc cầu sập xuống. Nhưng không, nó vẫn đó, vẫn vắt qua hai bờ, lưng cầu uốn lên vạch một đường cong trên bầu trời xanh ngắt. Mặt trời đã cao. Nước trên mặt đã ấm nhưng ở dưới chân vẫn còn buốt. Tôi nhìn về phía bờ bên kia. Tân Cảng - New Port. Hai chiếc tầu Hải Quân nhỏ vẫn còn đó. Tầu thuyền san sát. Người đen nghẹt trên bến.

Tôi ước ao bơi được qua sông. Sông quá rộng.

Lúc này tiếng súng phía cầu chỉ còn thưa thớt. Nhưng bầu trời bỗng rền vang tiếng trực thăng. Tôi mừng thầm. Quân ta đang được trực thăng vận phản công. Một chiếc Chinook rồi 2, rồi 3 lượn vòng về phía thành phố. Không có 1 cuộc đổ quân nào cả. Trên cầu đã có bóng nón cối qua lại.

Tôi ngậm ngùi nhớ vị “chỉ huy”, nhớ các chiến hữu trong mấy tiếng đồng hồ vừa qua. Họ còn sống không.

Bây giờ, 18 năm sau, tôi vẫn nghĩ họ còn sống, những người chiến binh không còn binh chủng.


Người kể chuyện vuốt mặt, đứng dậy đi về phía cửa sổ phòng khách. Anh kéo cánh cửa kính. Tiếng rào rạt liên tu bất tận của dòng xe cộ trên đường phố Cali ào vào phòng phá vỡ cái không khí trầm mặc của câu chuyện anh vừa kể.

Cả 4 người chợt nghĩ “Sắp hết ngày Chủ Nhật. Lại sắp bắt đầu một tuần lễ “đi cầy”.

Một ngày Tháng Tư

Nguyên Huy
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Công An Nhân Dân và Asia - Thúy Nga Paris

LTS: Báo Công An Nhân Dân phát hành tại Việt Nam vừa tung ra liên tục 2 bài báo viết về 2 trung tâm Asia và Thúy Nga Paris.
Sự thật như thế nào tùy bạn đọc nhận định theo sự suy luận riêng.
Take2Tango xin tải đăng nguyên văn hai bài báo, chỉ cắt bỏ 2 đoạn ở cuối hai bài tuyên truyền y hệt nhau không sai một dấu phẩy.



Image
Trung tâm băng nhạc Asia lại giở trò xấu
Mới đây, Trung tâm băng nhạc Asia, ở Mỹ lại giở trò tâm lý chiến, dàn dựng cái gọi là "chương trình biểu diễn nghệ thuật", cái gọi là "Lá thư từ chiến trường" nhằm xuyên tạc chống phá quê hương, đất nước. Đây là chương trình "biểu diễn nghệ thuật" rất phản động mà những kẻ cầm đầu tổ chức không hề giấu giếm ý đồ thâm độc.

Hiện nay, Trung tâm Asia đã sao chép toàn bộ nội dung "chương trình biểu diễn nghệ thuật" nói trên phát hành in ra DVD để tuồn lậu vào nước ta, phá hoại an ninh văn hoá, tư tưởng.

Chương trình "Lá thư từ chiến trường" do Trung tâm Asia tổ chức dàn dựng, "biểu diễn" vào ngày 22/3/2008, tại bang California (Mỹ). Nội dung xuyên suốt buổi "biểu diễn ca nhạc" nêu trên tập trung xuyên tạc 2 cuộc kháng chiến thần thánh giải phóng dân tộc với những ca từ hết sức phản động.

Theo kế hoạch, Trung tâm Asia đã đưa toàn bộ nội dung "chương trình" nêu trên phát hành in ra DVD, có tựa đề "Lá thư từ chiến trường - Asia 58" (có tên gọi khác là "Những tình khúc thời chinh chiến II") để phát hành trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại, sau đó tuồn lậu vào thị trường băng, đĩa nhạc ở trong nước vào dịp lễ kỷ niệm chiến thắng 30/4 năm nay.

Thiết nghĩ cũng cần điểm ra đây một vài hình ảnh, âm thanh về buổi biểu diễn "ca nhạc" nêu trên để thấy rõ hơn bản chất phản động của Trung tâm Asia. Toàn bộ cảnh quay trên sân khấu trong nhà hát được dàn dựng với cảnh diễn viên trong trang phục Quân đội Việt Nam Cộng hòa trước năm 1975 trang bị súng ống, với vẻ mặt sát khí đằng đằng. Thêm vào đó, trên nền sân khấu trang trí toàn là xe tăng, lô cốt, xung quanh phủ kín cờ vàng ba sọc. Để tăng thêm phần "hấp dẫn", Trung tâm Asia đã treo thưởng tặng mỗi người xem chương trình 1 bộ DVD trị giá 30 USD nếu có hành động vỗ tay, gào thét để ủng hộ mỗi cảnh diễn viên thể hiện "ca khúc". Và hình ảnh đó được đạo diễn chương trình cho quay nhiều lần với dụng ý thâm độc cho rằng chương trình này được đông đảo quần chúng ủng hộ.

Đến nay, Trung tâm băng nhạc Asia đã sản xuất và tung ra thị trường băng đĩa nhạc ở hải ngoại 57 bộ DVD luôn cài cắm những nội dụng đậm mùi thâm độc lợi dụng biểu diễn nghệ thuật để thực hiện các chiến dịch tâm lý chiến chống phá quê hương, đất nước. Chủ đề xuyên suốt trong hoạt động sản xuất, biểu diễn, kinh doanh nghệ thuật của Trung tâm Asia là luôn tìm cách khai thác, ca ngợi người lính Việt Nam Cộng hoà; bóp méo, xuyên tạc tình hình trong nước; xuyên tạc công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, chính sách cải tạo những người từng tham gia bộ máy chính quyền Việt Nam Cộng hòa trước năm 1975; kích động lòng hận thù dân tộc với những ca từ hết sức phản động.

Qua chương trình "Lá thư từ chiến trường" cũng cần đề cập vấn đề ca sỹ trong nước mới gia nhập đội quân hát thuê như N.H.N, N.H, vợ chồng PT và NL, diễn viên Y.P,... Tất cả họ đều là những ca sỹ, nghệ sỹ thành danh là do nhà trường, gia đình, xã hội ở Việt Nam vun trồng, đào tạo nuôi dưỡng mà có được sự nghiệp nghệ thuật như hiện nay. Thế mà vừa đặt chân tới đất Mỹ thời gian ngắn, họ đã vội quên đi tất cả để gia nhập đội quân hát thuê, tham gia một chương trình "văn nghệ" hết sức phản động chống phá quê hương, đất nước như vậy. Thử hỏi lương tâm, trách nhiệm với quê hương, đất nước, với người thân của họ ở đâu? N.H.N thì mới đây thôi đã gào thét những ca từ giằng xé ngụ ý xấu xa xuyên tạc hình ảnh người phụ nữ Việt Nam lấy chồng xa xứ. PT, NL, N.H.N, N.H,… không biết họ được Trung tâm Asia trả bao nhiêu đồng đô la để tham gia đội quân hát thuê với những ca từ, giọng điệu xuyên tạc chống phá quê hương, đất nước như thế? Hỏi khi có cơ hội trở về Tổ quốc, liệu họ còn mặt mũi nào để gặp người thân, đồng nghiệp - những người góp phần không nhỏ cho họ thành danh như ngày hôm nay?

Qua chương trình "biểu diễn nghệ thuật" trên cho thấy, đã đến lúc các cơ quan bảo vệ văn hoá trong nước cần đưa ra những biện pháp chế tài nghiêm khắc với những ca sỹ, nghệ sỹ từng được đào tạo, nuôi dưỡng trong nước khi tham gia những chương trình kiểu tâm lý chiến như "Lá thư từ chiến trường" do Trung tâm Asia vừa dàn dựng.

Lan Anh
Image

Trung tâm Thúy Nga Paris lại tự vấy bẩn váy mình
Trung tâm Thúy Nga Paris thường thực hiện các chiến dịch tâm lý chiến chống phá quê hương đất nước, qua việc sản xuất và đưa lậu vào Việt Nam những bộ DVD ca nhạc có nội dụng sặc mùi chống Cộng ở những thời điểm trong nước đang diễn ra những sự kiện chính trị quan trọng.

Trong nhiều năm qua, Trung tâm băng nhạc Thúy Nga Paris (viết tắt là Trung tâm Thúy Nga Paris, có văn phòng chính nằm khuất trong một con hẻm nhỏ ở thủ đô Paris, Cộng hòa Pháp) được biết đến như một địa chỉ chuyên sản xuất và kinh doanh các sản phẩm ca nhạc, biểu diễn nghệ thuật phục vụ nhu cầu giải trí của cộng đồng người Việt ở hải ngoại.

Nhưng đằng sau vỏ bọc ấy, từ lâu trung tâm này đã bị Tô Văn Lai, có tên gọi khác là To Lai Peter, sinh năm 1937 lũng đoạn, trở thành nơi lôi kéo, tụ họp của một bộ phận ca sĩ, nghệ sĩ người Việt ở hải ngoại để thực hiện các chiến dịch tâm lý chiến, gieo rắc tư tưởng phản động, xuyên tạc chống phá quê hương đất nước.

Bàn tay tiếp tục “nhúng chàm”
Đầu tháng 4/2008, Trung tâm Thúy Nga Paris lại tung ra thị trường băng, đĩa nhạc ở hải ngoại bộ DVD (2 đĩa) ca nhạc có nhan đề “Huế - Sài Gòn - Hà Nội” (Paris By Night 91), gồm 26 “ca khúc”, như “Con đường cái quan - từ miền Bắc, đến miền Trung - vào miền Nam”, “Giấc mơ hồi hương” (Khánh Hà), “Sài Gòn niềm thương nỗi nhớ” (Trịnh Lam), “Hát trên những xác người” (Khánh Ly), “Vọng cổ tiếng hò miền Nam” (Hương Lan & Minh Vương), “Sài Gòn chiều bơ vơ” (Minh Tuyết) v.v...

Trên 2 đĩa ấy, vẫn những bộ mặt từng chống Cộng (thực chất là chống lại quê hương đất nước) như cặp MC Nguyễn Ngọc Ngạn, Nguyễn Cao Kỳ Duyên bước ra sân khấu chọc cười khán giả một cách rẻ tiền. Và sau đó là Khánh Ly với vẻ mặt chứa đựng nỗi buồn u uất; rồi là Khánh Hà, Trần Thái Hòa, Thu Phương, Chí Tài, Minh Vương, Quang Dũng, Lan Hương v.v...

Đáng lên án là, bộ DVD "Paris By Night 91" đã lồng ghép vài cảnh phim tư liệu (mua từ một địa chỉ ở Pháp) được người dẫn chương trình xuyên tạc là “Tội ác của Việt Cộng tại Huế năm Mậu Thân 1968”.

Cũng cần điểm thêm ra đây một vài hình ảnh của DVD "Paris By Night 91" để thấy rõ hơn nữa bộ mặt phản động của Trung tâm Thúy Nga Paris. Mở đầu là một mớ hình ảnh và âm thanh hỗn độn mô tả cuộc “di tản” của giáo dân miền Bắc năm 1954 do Quang Lê, Khánh Ly và nhóm múa phụ họa trong nhạc kịch “Huế Mậu Thân”.

Dưới màn ánh sáng lờ mờ trên sân khấu hiện ra cảnh vài diễn viên múa may, nhảy nhót “hóa trang” thành “người di tản”, cho phần biểu diễn của Quang Lê, Khánh Ly thể hiện dụng ý xuyên tạc của Trung tâm Thúy Nga Paris về chiến thắng của quân dân ta.

Bộ DVD "Paris By Night 91", còn “ca ngợi” về thời kỳ “hoàng kim” của chế độ Việt Nam Cộng hòa trước năm 1975, qua một vài “ca khúc” như: “Đêm đô thị và Sài Gòn”, “Sài Gòn niềm thương nỗi nhớ” hay “Sài Gòn chiều bơ vơ” do Quang Dũng, Minh Vương, Trần Thái Hòa, Khánh Hà, Thanh Trúc, Thu Phương, Chí Tài, Hương Lan “thể hiện”.

Qua những “ca khúc” trên, Trung tâm Thúy Nga Paris còn thể hiện ý đồ khơi gợi lại những cảnh tượng đau thương, mất mát trong chiến tranh mà người dân Việt Nam phải chịu đựng.

Hiện nay, qua điều tra phát hiện bộ DVD “Paris By Night 91” đã tuồn vào nước ta, bắt đầu xuất hiện tại các cửa hàng kinh doanh băng, đĩa nhạc ở Hà Nội, TP HCM, Hải Phòng, Cần Thơ, Khánh Hòa, Đắk Lắk, Nghệ An, Thừa Thiên – Huế v.v...

Sau bộ DVD ca nhạc đầu tiên tung ra thị trường băng, đĩa nhạc hải ngoại có tên “Paris By Night 1”, đây là bộ DVD ca nhạc thứ 91 mà Trung tâm Thúy Nga Paris đã sản xuất. Do những mầm mống độc hại của nó, các cơ quan bảo vệ văn hóa trong cả nước đang tổ chức thu giữ, tiêu hủy bộ DVD này.

Hãy chấm dứt trò “tâm lý chiến”!
Trung tâm Thúy Nga Paris thường thực hiện các chiến dịch tâm lý chiến chống phá quê hương đất nước, qua việc sản xuất và đưa lậu vào Việt Nam những bộ DVD ca nhạc có nội dụng sặc mùi chống Cộng ở những thời điểm trong nước đang diễn ra những sự kiện chính trị quan trọng.

Những bộ DVD "Paris By Night 90" (Chân dung người phụ nữ Việt Nam), bộ DVD (Hành trình 30 năm viễn xứ - "Paris By Night 77"), Bộ DVD "Paris By Night 73" - “Song ca đặc biệt” v.v... là những sản phẩm điển hình cho kiểu chống phá này.

Chủ đề xuyên suốt trong hoạt động sản xuất, biểu diễn, kinh doanh nghệ thuật của trung tâm này là luôn tìm cách khai thác, ca ngợi người lính Việt Nam Cộng hòa; xuyên tạc công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc; chính sách cải tạo những người từng tham gia bộ máy chính quyền Việt Nam Cộng hòa trước năm 1975; kích động lòng hận thù dân tộc; xuyên tạc công cuộc xây dựng và phát triển ở Việt Nam hiện nay, bằng những ca từ hết sức phản động.

Bên cạnh số ca sĩ, nhạc sĩ đã từng cộng tác nhiều năm qua, rất tiếc gần đây một số ca sĩ, nghệ sĩ được đào tạo trong nước, đã bị lôi kéo gia nhập đội quân hát thuê cho Trung tâm Thúy Nga Paris như Thu Phương, Quang Dũng, Minh Vương v.v... (xuất hiện trong bộ DVD "Paris By Night 91").

Quang Dũng nhiều năm qua vẫn thường xuất hiện đều đặn trên diễn đàn nghệ thuật trong nước. Ca sĩ Thu Phương cũng thành danh nhờ được đào tạo, nuôi dưỡng ở trong nước; rồi Minh Vương con đường nghệ thuật của anh ta cũng là nhờ thầy cô, gia đình, bạn bè trong nước ủng hộ, giúp đỡ.

Thế mà khi vừa đặt chân đến “trời Tây” trong thời gian ngắn, chỉ vì mấy đồng USD, họ đã lóa mắt, vội quên đi tất cả để gia nhập đội quân hát thuê, quay lưng lại với quê hương đất nước, tham gia vào một chương trình “văn nghệ - tâm lý chiến”, xuyên tạc chống phá quê hương! Thử hỏi khi có cơ hội trở về Tổ quốc, liệu họ còn mặt mũi nào để gặp người thân, đồng nghiệp, nhà trường - đã góp phần không nhỏ đào tạo, bồi dưỡng, cổ vũ họ thành danh như ngày hôm nay!

Thy Nga
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Nhân Chi Sơ, Tính Bản Thiện

Nguyễn Ðạt Thịnh
Một cuộc nghiên cứu của các nhà phân tâm học tại Wake Forest University được đăng trong tạp chí Journal of Pediatrics tháng Mười năm ngoái, khẳng định tầm quan trọng của yếu tố môi trường trong việc đào tạo con người –không có người công dân tốt trong một môi trường xã hội xấu.

Bạo động và khủng bố là những thái độ không học không có được, lớp học vẫn là môi trường xã hội con người sinh sống trong đó.

Bác học Nga Ivan Pavlov, dùng một con chó để chứng minh là con người cũng dạy được bằng những kinh nghiệm bản thân, vì con chó, con chuột thí nghiệm còn phải làm những điều vừa ý nhà thí nghiệm để được thưởng miếng ăn, thì con người cũng không khác gì.

Tại sao người trong một xã hội lương thiện ở hiền? Vì phần thưởng của “ở hiền” là “gặp lành”.

Giáo sư Robert H. DuRant, người chủ trương cuộc nghiên cứu nói, “… phỏng vấn gần 1,000 học sinh trung học, chúng tôi tìm ra là những em sống trong các chung cư nghèo, chứng kiến nhiều cuộc bạo động, cướp bóc, giết người, hơn những em khác; và ảnh hưởng này khiến chúng thường đem những khí cụ giao tranh như dao, búa, súng vào lớp học.”

Tại sao những đứa trẻ của xóm nghèo lại thích võ trang? Chỉ vì bài học thấy ông A có súng thì sống, ông B không súng thì chết.

Quý vị tiến sĩ toàn thế giới, thông thái và nhiều bằng cấp, họp hành, thảo luận với nhau cả năm, cả đời, để tìm ra cái chân lý vỡ lòng “nhân chi sơ, tính bản thiện,” của những lớp văn hoá Mao Xếnh Xáng.

Trên bình diện thực dụng, người Mỹ đem cái triết lý cũ kỹ này vào thương trường, huấn luyện nhân viên có thái độ làm lợi cho thương vụ sử dụng họ.

Hệ thống khách sạn lớn Hilton của Hoa Kỳ tổ chức những lớp huấn luyện mang tên “Nụ cười làm tươi khuôn mặt”, để dạy nhân viên góp nụ cười làm tươi thu nhập business của khách sạn, họ thưởng những nhân viên tươi cười, sa thải những người xấu nết. Kết quả: những chi nhánh Hilton có lớp huấn luyện “nụ cười” ghi nhận một lợi tức 9% cao hơn những chi nhánh với nhân viên chưa được huấn luyện.

Một người Việt Nam, ông Nguyên Hùng, ưu tư với tình trạng văn hóa suy đồi, rồi thắc mắc nêu lên câu hỏi: “vì sao nhiều người trẻ trong nước có vẻ thiếu mất sự cảm thông và lòng trắc ẩn để biết vị tha và yêu thương đồng loại.

“Dân phòng tra tấn học sinh kiểu như xã hội đen, thầy giáo hiếp dâm nữ sinh, đổi tiền-tình lấy điểm,” Nguyên Hùng viết, “học trò đánh thầy giáo, bác sĩ làm tiền bệnh nhân, cán bộ lạm dụng chức vụ quyền hạn tham ô, nhũng nhiễu v.v…và v.v... Đạo đức ngày nay chẳng lẽ đã suy đến mức không còn hiện hữu mấy tí trong xã hội ta?”

Nguyên Hùng nhận định, “… rất nhiều vụ án xảy ra giữa những người lẽ ra hết sức yêu thương nhau như cha mẹ, con cái, vợ chồng, anh em... Mâu thuẫn phát sinh từ những chuyện hết sức bình thường, một câu nói, một số tiền, một lợi ích vật chất nào đó dù nhỏ nhoi người ta sẵn sàng đánh đổi những gì yêu quý nhất. Đó là nói về trong gia đình; trong quan hệ xã hội còn tệ hơn, có khi chỉ vì một cái nhìn phải đổi bằng mạng sống, chuyện va quệt xe nhẹ cũng phải giải quyết bằng dao búa, chủ hành hạ người giúp việc một cách nhẫn tâm, công an đánh người, tống tiền tống tình, bảo kê tội phạm, cảnh sát ăn tiền mãi lộ!?”
Rồi Nguyên Hùng chua chát hỏi, “Có lẽ nào qua bao nhiêu đấu tranh gian khổ giành lại non sông gấm vóc từ tay ngoại bang đã rèn luyện dân ta từ trong tiềm thức thành một loại võ sĩ chỉ biết thượng đài đấm đá và cấu xé nhau.

“Chúng ta nghĩ gì khi lễ hội hoa Anh Đào tại Hà Nội với 300 cành hoa Anh Đào Nhật Bản bị vặt trụi chỉ còn trơ lại gốc khi lễ hội chưa kết thúc, bạn bè từ xa không ngại khó khăn mang từ Nhật Bản tới cho mình thưởng lãm, vậy mà mình đang tâm bẻ cành. Những người làm việc vô văn hóa đó lại là những nam thanh nữ tú của đất Hà Thành, những người “trí thức thanh lịch”!

“Ôi còn đâu câu ca dao: “Chẳng thơm cũng thể hoa nhài, Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng an”. Cái cốt cách đó của ta ở đâu? có còn không?”

Một độc giả nhận xét về cái cốt cách không “thơm” mà cũng chẳng “thanh lịch” nữa của người “Trường An Hà Nội”, góp ý, “Xét cho cùng thì sự hư hỏng của lớp trẻ là do tấm gương hành xử của người lớn (hãy hiểu cho rằng: ngày nay người trẻ không tin, nghe lời thuyết giảng nữa đâu mà thường nhìn vào việc làm là chính). Cán bộ xấu xa như hiện nay cũng là điều dễ hiểu: do cơ chế và pháp luật mà ra. Nếu cần giáo dục cán bộ hãy thay đổi cơ chế và pháp luật; giáo dục bắt đầu từ đó!

Một ông Việt Kiều sau nhiều năm cặm cụi làm hồ sơ bảo lãnh gia đình một đứa con trai có vợ, có con, đến ngày hồ sơ hoàn thành, ông gửi tiền và giấy tờ về cho con, mới vỡ lẽ ra là cậu con không hề muốn đoàn tụ với ông bố, mà chỉ muốn lừa vài ngàn bạc tiền vé máy bay ông gửi về, để tiêu xài tại Việt Nam.

Dĩ nhiên báu vật bị con đánh cắp trị giá vô cùng lớn hơn vài ngàn mỹ kim, ông than, “tôi không hiểu thái độ của nó”; thái độ lừa gạt bố ruột và lợi dụng tình thương của ông.

Không ai lọt lòng mẹ ra đã biết lưu manh, lừa gạt, nhưng đứa con 40 của ông bố bị lừa khó giữ được tính bản thiện, sau 33 năm nhìn Việt Cộng gian dối mọi điều, nghe chúng gọi mọi xấu xa bẩn thỉu nhất bằng những cái tên rất đẹp –như chúng gọi hệ thống trại tập trung, đầy ải, khổ sai bố cậu và hàng trăm ngàn người đồng đội của ông, để tắm máu khô miền Nam, giết giới trí thức Nam Việt là “cải tạo” họ; hoặc nhìn chúng rình rang cờ quạt, kèn trống để kỷ niệm đại thắng Mậu Thần của “quân dân” Việt Nam, trận “đại thắng” được đánh dấu bằng hành động chôn sống 6,000 lương dân Huế trong cuộc tàn sát diệt chủng khiếp đảm.

Mậu Thân và mọi tội ác khác của Việt Cộng đều to tầy trời, nhưng có lẽ tội to nhất, tạo ra hậu quả khiếp đảm nhất, lâu dài nhất là chúng phá nát nền đạo đức Việt Nam bằng cách tạo môi trường tưởng thưởng tham nhũng, đề cao những kẻ vô lương tâm, vô trách nhiệm, khuyến ác, … để huấn luyện một thế hệ trẻ đa số mất nhân tính, mất bẩm chất “bản thiện” chỉ vài năm sau tiếng khóc vào đời.

Huấn luyện bằng cách tạo môi trường gian dối, lưu mang trên tầm vóc rộng lớn toàn quốc.

Nguyễn Ðạt Thịnh
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Đi tìm kỷ niệm về trào lưu Tu-Luc Van-Doan
Ngôi nhà mái ngói 80 phố Quán Thánh (Hà Nội) - nơi thành lập Tự lực văn đoàn năm 1933 - nay bị che khuất bởi những căn nhà nhỏ.

Quán Thánh là một con đường khá dài của Hà Nội. Bắt đầu từ vườn hoa Hàng Đậu chạy thẳng lên tận hồ Tây. Xưa kia, đường tàu điện từ bờ hồ Hoàn Kiếm lên chợ Đồng Xuân đi đến két nước Hàng Đậu thì rẽ làm hai, một đường đi thẳng theo Hàng Than lên dốc Yên Phụ, một đường rẽ sang phố Quán Thánh để đi lên tận Bưởi.

Đó là con đường đi giữa hai hàng cây rợp bóng, dọc bên đường là những biệt thự ẩn sau những tán lá sum sê. Đường tàu điện là trục vận chuyển nông sản từ các huyện ngoại thành qua chợ Bưởi, đến chợ Đồng Xuân. Đó cũng là phương tiện đi lại của các cậu học sinh trường Trung học Bảo hộ (LYPRO), sau này là trường Chu Văn An, một ngôi trường có lịch sử 100 năm vào năm 2008.

Ngày nay đường tàu điện đã bị bóc dỡ, Quán Thánh trở thành một con đường tấp nập đi một chiều, xe máy, ôtô nườm nượp chảy thành dòng, không còn đâu bóng dáng của những cô gái ngoại thành đem rau vào bán trong phố, hay những chàng trai trẻ cắp sách đi học, hoặc những người nhàn tản cuốc bộ lên hồ Tây. Dọc hai bên phố không còn thấy hình bóng của những biệt thự cổ kính, mà chỉ là những cửa hàng và khách sạn phô trương ánh đèn màu và hàng hoá bày la liệt.

Nhưng thử hỏi có ai còn nhớ rằng nơi đây đã chứng kiến sự ra đời một tổ chức văn học tiên phong, mở đầu cho một trào lưu văn học mới, góp phần hình thành nền văn học hiện đại Việt Nam. Đó là Tự lực văn đoàn do nhà văn Nhất Linh (Nguyễn Tường Tam) chủ trương năm 1933. Trên căn gác của số nhà 80, Nhất Linh đã ấp ủ ý tưởng thành lập tổ chức văn học đầu tiên với một tuyên ngôn đơn giản: "Lúc nào cũng mới trẻ, yêu đời, có chí phấn đấu và tin ở sự tiến bộ. Theo chủ nghĩa bình dân, không có tính cách trưởng giả quý phái. Tôn trọng tự do cá nhân...".

Những người đầu tiên tham gia văn đoàn là các em của Nhất Linh như Hoàng Đạo (Nguyễn Tường Long - em thứ tư), Thạch Lam (Nguyễn Tường Lân - em thứ sáu) và một người bạn văn gần gũi là Khái Hưng (Trần Khánh Giư), rồi có thêm Tú Mỡ, Thế Lữ, Trần Tiêu, Xuân Diệu, hồi đó tự nhận là Thất tinh nhưng thực ra đã có tám người. Tất cả đều trở thành những trụ cột trong văn đàn Việt Nam trước kia cũng như sau này.

Mặc dầu ra đời cách đây hơn 70 năm và tồn tại chỉ có hơn 10 năm, nhưng Tự lực văn đoàn đã để lại dấu ấn không dễ gì phai nhạt trong nhiều thế hệ văn nhân nước ta. Có nhà văn nào lại không biết đến các tác phẩm của văn đoàn khi bước vào nghề cầm bút? Có học sinh nào yêu thích môn văn mà không một lần cầm đến sách của Tự lực văn đoàn? Ấy vậy mà có một thời người ta lại muốn quên đi, không đưa tác phẩm của Văn đoàn lên giá sách của thư viện, không đưa các tác giả này vào sách giáo khoa. Cũng vì vậy mà ngôi nhà số 80 trên phố Quán Thánh cũng bị thời gian phủ lớp bụi quên lãng.

Hơn 60 năm sau, người con út của nhà văn Nhất Linh từ nước ngoài trở về thăm quê cũ, đã tìm đến nơi này và không khỏi bàng hoàng trước những đổi thay: "Tôi dừng lại trước ngã tư Quán Thánh-Hàng Bún. Toà nhà đó phải là ở đây, nhưng tôi không nhận ra. Tôi dò con số 80. Con số đó thuộc một căn nhà ở cuối một ngõ cụt, rất ngắn. Căn nhà hai tầng với bức tường quét vôi vàng loang lổ.

Tôi quay trở ra ngoài ngõ, băng qua bên kia phố Quán Thánh, nhìn từ xa ngược lại. Tôi nhìn ra cái mái ngói nâu nhô lên cao của toà nhà mang số 80 cuối ngõ và tôi hiểu ra: cái vườn hoa nhỏ phía trước biệt thự đã biến mất, thay bằng những căn nhà nhỏ chắn mặt tiền biệt thự chỉ chừa một con ngõ nhỏ đi vào cổng.Tôi băng trở lại con ngõ, nhìn kỹ vào toà nhà cũ kỹ kia. Cái nôi của Tự lực văn đoàn bây giờ bị chia cắt thành từng mảng nhỏ với rất nhiều hộ ở chen chúc [...].

Ở ngã tư đối diện với toà nhà 80 là một khách sạn lớn. Tôi đứng rất lâu dưới mái hiên khách sạn. Ơ vị trí đó tôi có thể nhìn được bao quát: vừa thấy được cái mái ngói nâu của toà biệt thự vừa thấy được mấy cây bàng ở phố Hàng Bún. Tôi lặng người đối diện với cái khung cảnh mà bao năm đã trở thành "linh địa" trong tâm khảm tôi [...].

Đứng ở gốc cây bàng nhìn toà nhà 80 Quán Thánh, cũng như bố tôi năm nào trong hương trầm của đêm 30 Tết, mắt tôi cũng mờ đi vì thương cảm. Bố tôi đã ra đi được non 40 năm. Thất tinh của Tự lực văn đoàn nay tụ hội đầy đủ ở thế giới bên kia, biết đâu anh linh còn vương vấn bên kia đường, dưới cái mái ngói thâm nâu của toà nhà cổ kính kia". (Nguyễn Tường Thiết, "Nhất Linh cha tôi").

Tuy không có tâm trạng như tác giả đoạn văn trên, nhưng khi đứng trước ngôi nhà số 80, chúng ta không khỏi bồi hồi khi nghĩ rằng đây chính là cái nôi sản sinh ra một trào lưu văn học hiện đại mà ảnh hưởng của nó vẫn còn tiếp tục mãi đến ngày nay. Giờ đây chỉ còn là một ngôi nhà chung cư nhếch nhác, với cửa hàng bún chả quạt khói mù trời, và mấy chị bán hàng tò mò nhìn những người khách lạ dừng trước quán nhưng không chịu vào ăn quà với cặp mắt không lấy gì làm thân thiện. Có nên chăng để một tấm biển ở đây, chỉ rõ cho người qua đường biết mình đang đứng ở đâu.

Nếu có một ngày rỗi rãi, bạn hãy dành thời gian đi bộ dọc theo đường Quán Thánh, lần bước lên hồ Tây. Bạn sẽ bắt gặp một vài du khách từ nước ngoài trở về, bước đi không vội vã, nhìn ngó nghiêng nghiêng. Đó có thể là những người đang đi tìm lại một vài hình bóng xưa, những ký ức về một thời đã qua?

Đào Hùng
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Kiểu Ghen của Các Vợ "Đại Gia"
Đánh ghen ầm ĩ, theo dõi rình rập chồng, trả thù tình địch, đòi ly dị hay ra điều kiện một là tôi, hai là nó... không phải là kiểu đánh ghen của các vợ "đại gia".

Những bà vợ "đại gia" không ghen tuông kiểu bạo lực

Họ biết rằng có làm vậy cũng không "lấy lại" được chồng, ngược lại, còn mất đi một kho báu có thể khai thác lâu dài. Họ đã chuyển sang ghen tuông kiểu khôn ngoan hơn. Sau đây là một số "vở" mới của họ...

Thua tình thì
kéo lại... tiền
Không giữ được người thì cũng phải kéo lại ít của, đó là cách ghen mới của một số bà vợ "đại gia". Một bà vợ của một ông giám đốc nọ biết chồng của mình có vài ba "cơ sở" nữa, ngoài bà là vợ chính thức, đã ngậm bồ hòn làm ngọt, một lòng chung thủy với chồng. Nhưng bà là chuyên gia rũt lõi, mang tiền đi tậu đất, mua nhà mà chồng đâu có biết. Có bà còn lo tới cả chuyện hậu sự - mua hẳn một khoảng đất rộng, thuê người xây tường bao để làm công viên vĩnh hằng cho mình và gia đình mai sau.

Làm như vậy các bà đã hả giận, lại được bạn bè, người quen nhìn nhận như một phụ nữ tột cùng sung sướng. Hơn nữa, phòng khi sự cố xảy ra, bà cũng không phải là người tay trắng. Thứ bảy, chủ nhật, chồng đi công tác, mà thực chất là đi nghỉ mát với bồ nhí, bà vợ cũng vẫy tắc xi về quê, hay lên trang trại riêng của mình, vừa nghỉ ngơi, thăm họ hàng, tiện thể ngắm nghía thành quả của mình cho nguôi cơn ghen. Xin đừng ai nghĩ họ không biết ghen, chẳng qua họ chuyển hướng ghen mà thôi.

Bù đắp cho con cái - một kiểu ghen khôn ngoan
Không mua đất, mua nhà cho riêng mình, bà Hiển ở Ba Đình có hai cậu con trai. Từ lâu bà biết chồng bà không còn là của riêng bà nữa, nhưng bà phải nghiến răng chịu khổ để giữ bố cho các con. Nhưng thực chất, bà biết với cương vị hiện nay của ông, ông là cái mỏ vàng để bà có thể khai thác.

Tuy hai con bà học hành không giỏi giang gì, nhưng bà cho cả hai đứa đi du học tự túc. Hàng tháng bà gom tiền gửi cho các con ăn học thoải mái. Không những vậy, bà mở cho chúng tài khoản cá nhân, khi kiếm được tiền từ chồng hay từ các nguồn lợi khác do địa vị của chồng mang lại, bà lại bỏ vào tài khoản.

Bà nghĩ rằng dù sau này bố chúng nó có làm sao, thì các con bà cũng đã có thể tự lập từ tấm bằng học ở nước ngoài cộng với vốn liếng bà âm thầm tạo dựng cho các con. Mà con thành đạt là bà... được nhờ, còn ông ấy muốn đi với ai thì đi. Kiểu ghen này khiến bà tạm thời yên lòng, vì nghĩ mình đang ở thế thắng.

"Ăn nem" cho đỡ thiệt
Thỉnh thoảng báo chí có nói đến hiện tượng các chị "xồn xồn" đi xe xịn, lượn quanh các phố, tìm mấy "em trai" lao động ngoại tỉnh khỏe mạnh, đưa về nhà nhờ "tẩm quất". Nhưng đó chỉ là những chị "hạng thường", tranh thủ chồng đi vắng, "cải thiện" chút ít. Còn các bà vợ "đại gia" không thèm "ăn tạp" như vậy. Đối tượng các bà chọn phải phong độ, sạch sẽ, có học thức và trẻ trung.

Những "em trai" ấy không chỉ giúp các bà chị nhu cầu do chồng "bỏ đói", mà còn giúp các bà ấy "xả giận". Khi "cặp" được với các em trẻ trung, phong độ, đẹp trai, các bà thầm tự hào: "Đừng tưởng ông bỏ tôi đi với con trẻ là đã hơn tôi à? Có tiền, tôi cũng có khối em trai trẻ "yêu".

Xu hướng các bà vợ "ăn nem" không giống các anh đàn ông. Họ không muốn thay đổi người tình thường xuyên, mà có hướng muốn "trói chặt" một em trai nào đó lâu dài. Đã có một vài "em trai" đổi đời nhờ lọt vào "mắt xanh" của các bà chị "hận chồng" rồi đấy!

"Đánh thuế" quá mức - một kiểu ghen độc
Đây là kiểu ghen của các vợ đại gia còn trẻ. Họ biết chồng họ có thể cặp bồ cũng chỉ vì ham của lạ, vì "vấn đề ấy", chứ chẳng phải yêu thương gì. Thế là một chiến dịch được đặt ra. Một mặt ra sức làm đẹp, tân trang quần áo, ăn uống tẩm bổ. Mặt khác, tạo cho mình phong cách bốc lửa. Họ thường xuyên nũng nịu, đòi chồng yêu bất cứ khi nào ở gần nhau.

Chị Lan đã rất vui với kiểu ghen này của mình và tâm sự rằng: "Có hôm tao biết lão ấy tắm rửa sạch sẽ, ăn mặc tươm tất, định xách túi ra đi. Tao biết chắc là đi gặp con ấy. Tao vờ nũng nịu, ôm vai bá cổ lão, đòi lão nộp thuế trước khi đi. Thế là sau đó tao thấy lão ở nhà. Tao cười khẩy bảo sao không đi họp đi, chưa muộn đâu. Lão bảo "muộn rồi, không đi nữa". Tao thừa biết, lão ấy có ra đi, cũng chẳng làm ăn được gì nữa, có khi chỉ lôi nhau đi ăn uống nhà hàng, tốn tiền". Chỉ một vài lần như vậy, tao đã khiến con kia hờn dỗi, nghĩ rằng chồng tao đang có ý xa lánh, ruồng bỏ nó, thế là nó chạy đi tìm đối tác khác để đeo bám".

Nói chung đã phải ghen tuông thì không sung sướng gì, dù có tưởng là "chiến thắng", cũng chỉ là "sự tự an ủi" bản thân mà thôi. Nhưng dù sao những câu chuyện kể trên cũng là lời "cảnh tỉnh" cho những người chồng "đại gia" say sưa với "kiếm chác" bên ngoài, đã vô tình để cho "địch trong nhà" phản công!
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 7 guests