Page 50 of 180

Posted: Tue Nov 09, 2010 7:45 am
by caolynh
Cù Huy Hà Vũ bị bắt,
là cú đánh cuối cùng của Nguyễn Tấn Dũng


Dân Làm Báo
Nguyễn Bá Thanh vốn cay cú Nguyễn Tấn Dũng vụ Casino Silver Shore Hoàng Đạt mà Bá Thanh được hưởng không ít quyền lợi từ dự án này. Mặc dù rất cay cú nhưng Thanh đã phải chấp nhận vì sai phạm rất rõ ràng.

Nguyễn Bá Thanh rất được lòng Lê Hồng Anh, ngay một Chánh thanh tra Bộ Công An mà Thanh còn lôi được về xử được, chứng tỏ vụ này đã được dàn xếp rất tốt giữa Nguyễn Bá Thanh và Lê Hồng Anh.

Lê Hồng Anh cũng là người chỉ đạo vụ Cô gái Đồ Long. Không có vụ bắt giam khẩn cấp Hương Trà thì đa phần cả nước chẳng ai biết về những thông tin tiêu cực về Nguyễn Khánh Toàn. Mục tiêu của Lê Hồng Anh khi bắt Hương Trà về tội…phỉ báng Nguyễn Khánh Toàn chính là để làm mất uy tín của Nguyễn Khánh Toàn cùng phe nhóm trong Bộ Công an. Nguyễn Khánh Toàn vốn là người không dễ dàng khuất phục Lê Hồng Anh, một người tay ngang sang ngồi lên đầu mình. Vì thế blogger Hương Trà nhỏ bé dưới bàn tay của Lê Hồng Anh đã trở thành khẩu đại bác bắn thẳng vào Nguyễn Khánh Toàn.

Bên cạnh Lê Hồng Anh, Nguyễn Bá Thanh còn có mối giao tình thân thiết với Phạm Quang Nghị – Bí thư thành ủy Hà Nội, thậm chí còn bày ra trò ký văn bản kết nghĩa huynh đệ rồi công bố trên báo chí, nhưng thật ra là muốn phô cho tất cả Ủy viên trung ương biết hai người là một, ủng hộ lẫn nhau.

Nhân cơ hội Nguyễn Tấn Dũng bị đánh dữ dội về boxit, Vinashin, ngay trước ngày bầu cử, Lê Hồng Anh đã đạo diễn một vở kịch tuyệt vời là bắt Cù Huy Hà Vũ. Bắt Ls Vũ là vừa tạm dẹp qua một bên vụ Cồn Dầu để cứu bồ ruột là Nguyễn Bá Thanh, bởi vụ Cồn Dầu đến giờ ảnh hưởng tầm thế giới, nhất là quốc hội Mỹ còn phải có phiên điều trần. Mặt khác, bắt Ls Vũ nhằm lôi lại vụ kiện Nguyễn Tấn Dũng vốn vẫn chưa được giải quyết, thực chất đó vẫn là một vụ treo lơ lửng đó. Nó sẽ làm mất uy tín của Nguyễn Tấn Dũng vì dư luận trong nước và quốc tế sẽ suy nghĩ chính Nguyễn Tấn Dũng là người đứng đằng sau việc bắt giam Cù Huy Hà Vũ bởi vì ông này dám kiện Thủ Tướng.

Cù Huy Hà Vũ bị bắt là cơ hội đẩy Nguyễn Tấn Dũng ra khỏi ghế đang ngồi và dọn đường cho Nguyễn Bá Thanh lên làm Thủ tướng. Rồi sẽ thấy, Ls Cù HuyVũ chỉ bị tạm giữ vài ngày rồi cho về, vì thực ra Ls Vũ không hoạt động lật đổ, không tuyên truyền chống chế độ, không khép được vào tội nào như vậy cả, cùng lắm bị phạt hành chính vì tội chống người thi hành công vụ. Kẻ bị ném lựu đạn trong vụ này, tương tự như Nguyễn Khánh Toàn là Nguyễn Tấn Dũng.

Xin thêm:

Thực chất Ls Cù Huy Hà Vũ chưa hề sơ múi gì được đồng chí Quỳnh đặc tình của bên an ninh cả. Đồng chí này chính là “luật sư H.L.N.Q”. Tất cả báo chí chỉ nói đang ở trong tư thế thiếu vải và thêm chi tiết 2 vỏ bao cao su nữa. Cứ nhớ lại hồi bắt New Century, cũng thấy vương vãi trên sàn nhà nhiều bao cao su đã qua sử dụng trong khi bọn tin tin nó vào vũ trường để lắc và uống rượu chứ chúng nó dùng bao cao su trong sàn làm cái gì.

Đồng thời giờ đây, toàn bộ chứng cớ tội trạng của Vinashin đều đã nằm trong tay Lê Hồng Anh và sẽ được xón ra dần dần từ nay tới ngày đại hội đảng.

Posted: Thu Nov 11, 2010 3:39 am
by caubennoc
KISSINGER ĐÃ ĐẤM NGỰC THÚ TỘI

Lê Thành Nhân

Trong vòng chỉ 3 tháng nay một loạt biến động lớn lao về chánh-trị, ngoại-giao và quân-sự đã dồn dập diễn ra trong khu vực Á châu và Thái Bình Dương.

- Ngày 23-7-2010 Nữ Ngoại-trưởng Hilary Clinton nhân danh đại cường quốc Hoa Kỳ long trọng khẳng định tại Hội-nghị ASEAN ở Hà Nội: ”Hoa Kỳ xem Đông Nam A là khu vục thuộc lợí ích quốc gia của Hoa Kỳ về các phương diện anh ninh, kinh-tế, thương mại.”

- Ngày 24-9-2010, Tổng thống Obama đích thân triệu tập và chủ tọa Hội-nghị thượng-đỉnh tại New York (Second ASEAN Leaders Meeting) với các người đứng đầu các nước ASEAN để chủ động kết hợp các nước ấy trong một thế chiến lược mới. Một bản Tuyên bố chung (Joint Statement) quan trọng đã được công bố, và Tổng thống đã bỗ nhiệm ngay một Đặc sứ thường trực bên cạnh ASEAN tại Trụ sở của ASEAN tại Djakarta .

- Chỉ 5 ngày sau: ngày 29-9-2010: Bộ Ngoại-giao Hoa Kỳ tổ chức một cuộc hội-thảo ngay tại Bộ Ngoại giao tại DC dưới sự điều hợp của Đại-sứ Brynn với đề tài “Kinh nghiệm Hoa Kỳ tại Đông Nam Á” (The American Experience in Southeast Asia : Historical Conference) trong đó diễn giả chính là Henry Kissinger.

- Trong khi chúng tôi đang viết bài nầy thì các đại diện ngoại giao, quân-sự cao cấp của các nước thuộc ASEAN và Hoa Kỳ, Nhựt, Úc, Ấn-độ, v.v...đã bắt đầu Hội nghị các Tổng-trưởng Quốc-phòng (ADMM plus) tại Hà Nội từ ngày 12-10-2010 rồi tiếp tục với những phiên họp riêng giữa các thành viên ASEAN và các cường quốc trong vùng: Hoa Kỳ, Nhựt bản, Ấn độ, Úc, v.v...Phiên họp ngày 28-10-2010 là một phiên họp cao cấp quan trọng với sự tham dự của NT Clinton.

Giữa lúc đó thì chiến hạm Hoa Kỳ tiến sát và tập trận dọc thềm lục địa Á Châu từ Biển Nhựt Bản xuống Ấn-độ dương…có lúc vào tận cảng Tiên Sa (Đà Nẳng) của Việt Nam .

Tất cả những diễn biến đó không phải là những điều ngẫu nhiên.

Trong bài nầy chúng tôi chỉ chú trọng đến cuộc hội-thảo tại Bộ Ngoại-giao ngày 29-9-2010 để tìm hiểu ý nghĩa và tầm quan trọng của các lời phát biểu của Henry Kissinger tại cuộc hội-thảo này (Đọc giả có thể tham khảo bài tường trình ngày 6-10-10 của Người Việt Online)

Các ý-kiến của Kissinger phát biểu trong cuộc hội-thảo nói trên được tóm gọn như sau: “Sự thảm bại tại Việt Nam năm 1975 là do Hoa Kỳ chớ không phải do VNCH.”

Nhân dân Việt Nam và thế giới công chính đã chờ đợi câu nói đó từ 35 năm rồi, nay mới được thốt ra từ chính cửa miệng của Henry Kissinger, vào một thời điểm và tại một địa điểm có tính toán. Bởi vậy, nó có một giá trị vô cùng quan trọng. Nó trả lại danh dự cho hàng triệu chiến sĩ tự do của VNCH, từ nguời dân đen đến cấp lãnh-đạo cao nhứt. Nó giải oan cho hàng triệu linh hồn người Việt đã hi sinh cho Tự do. Nó trả lại DANH DỰ VÀ CHÍNH NGHĨA cho toàn thể Quân Dân VNCH từng bị bọn phản chiến và truyền thông bất lương bôi lọ.

Xin nhắc lại: Henry Kissinger là người chịu trách nhiệm về chánh sách ngoại giao của Hoa Kỳ từng đưa đến việc bán đứng VNCH cho Bắc Việt qua Hiệp-định Paris 1972, sự rút lui của Hoa Kỳ khỏi Đông dương 1975, và giao cho Trung Cộng làm “cai thầu khu vực” với bản Tuyên ngôn Thượng Hải (1972.)

Nixon và Kissinger bị mù mắt vì cái thị-trường khổng lồ béo bỡ của Hoa Lục, không ngần ngại phản bội lại đồng minh của mình. Cảnh tượng xót xa, bẽ bàng nhứt là Đệ 7 Hạm đội Hoa Kỳ nhẫn tâm án binh bất động, đứng nhìn hải quân TC cưỡng chiếm Hoàng Sa của đồng minh VNCH hồi tháng Giêng 1974. Ngày nay, khi Trung cộng trở mặt, sử dụng Hoàng Sa làm pháo đài khống chế Đông Nam Á và Thái Bình dương thì nước Mỹ mới mở mắt và nhận thấy hối hận về sự phản bội đồng minh VNCH của mình 35 năm trước.

Thực vậy, dân tộc Việt Nam là nạn nhân gánh chịu hậu quả thảm khóc nhứt của chánh sách Nixon-Kissinger với “Ngày 30 tháng 4 năm 1975.” Chính chánh-sách đó đã đưa gần 30 triệu nhân dân Miền Nam tự do vào cảnh điêu linh, thống khổ, nhà tan cửa nát, con mất cha, vợ mất chồng, kẻ thì bỏ xác trong ngục tù CS, người thì làm mồi cho hải tặc hoặc vùi thây dưới đáy biển. Không bút mực nào tả hết những tội ác của cộng đảng VN đối với gần 30 triệu dân Miền Nam từ 1975 đến nay.

Lời tuyên bố của Kissinger hôm nay, tuy rất ngắn, nhưng có một ý nghĩa vô cùng quan trọng: “Sự thảm bại tại Việt Nam năm 1975 là do Hoa Kỳ chớ không phải do VNCH.”

Bằng những lời phát biểu ngày 29-9-2010 tại ngay thủ đô nước Mỹ, lãnh đạo nước Mỹ hiện nay dường như muốn nhờ Kissinger thay mặt nước Mỹ (Bộ Ngoại giao tổ chức) nói lên lời tạ tội và sám hối của nước Mỹ đối với gần một triệu sinh linh của chế-độ VNCH đã chết oan uổng, trong đó hơn nửa triệu đồng bào vượt biên chìm dưới đáy biển, hàng trăm ngàn Dân Quân-Cán-Chính VNCH chết trong các trại tập trung lao-động khổ sai, cộng với hàng trăm ngàn vợ con họ chết trong các “vùng kinh-tế mới” vì đói rét, bệnh tật và rắn rết.

Tại hội-nghị các Bộ-trưởng Quốc-phòng ASEAN (ADMM Plus) họp sau đó tại Hà Nội ngày 12-10-2010, Bộ-trưởng Quốc-phòng Hoa Kỳ Robert Gates đại ý tuyên bố ngay trước mủi của tên BTQP Trung cộng: ”Hoa Kỳ sẽ nhận trách nhiệm bảo đảm an ninh và tự do cho tất cả các quốc-gia ĐNA, nhứt là hải lộ xuyên Biển Đông, vì khu vực nầy thuộc quyền lợi quốc-gia của Hoa Kỳ về các phương diện an ninh, kinh-tế và thương mại.” Trong khi đó thì tàu chiến Hoa Kỳ trang bị vũ khí nguyên-tử đang tập trận với hải quân Nam Hàn ngoài khơi vùng biển của Trung cộng.

Gần hai tỷ dân trong khu-vực Á châu –Thái-Bình-dương thở phào, nhẹ nhỏm! Vì, từ nay, cái “lưỡi bò” hung hăng của tên bá quyền Hán tộc bổng teo lại thành……cái lưỡi gà bé tí tẹo! Không ai còn nghe các tướng lãnh TC khoác lác vung vít về sức mạnh quân sự của CHNDTQ và tham vọng độc chiếm Biển Đông của chúng. Không ai còn nghe cái loa khoác lác của Bộ Ngoại giao TC hàng ngày bô bô lên tiếng đe dọa các quốc gia tiếp giáp với “cái lưỡi bò đói khát”, nhứt là Việt Nam, Nam Dương, Phi-luật-tân, Brunei. Ngay sau khi Bộ-truởng QP Hoa Kỳ tuyên bố như trên, phát ngôn nhân của con cọp giấy Trung cộng bèn rêu rếu thông báo trả tự do vô điều kiện cho 9 ngư dân của đảo Lý sơn/Quảng Ngải bị chúng bắt giữ gần đảo Hoàng Sa cả tháng trước đó.

Các sự kiện trên đây chứng minh là vì cả tin nơi những tính toán sai lầm của tên con buôn chính-trị Kissinger, nước Mỹ phải để gần 40 năm (1972-2010) mới học được cái chân-lý đơn giản: Người CS marxist dù Nga hay Tàu hay Việt, chúng đều phản phúc như nhau. Nhờ sự giúp đỡ trong 40 năm qua của Hoa Kỳ nước Tàu mới thoát khỏi tình-trạng đói khát, lạc hậu và bắt đàu hơi khấm khá. Nhưng chưa chi thì chúng đã quay lại định ăn tươi, nuốt sống người thi ân cho mình. Đó là bản chất của người Cộng-sản Marxist. Hai dân tộc Đức và Nhật cũng được Hoa Kỳ giúp đỡ tái thiết sau chiến tranh, nhưng họ không mang tính phản phúc đó.

Vấn đề mà chúng ta muốn bàn hôm nay là: vì cần mua bán, đổi chác với Trung cộng để trục lợi, bọn chánh khách vô liêm sĩ ở Hoa Thạnh Đốn, đã ra sức gán cho VNCH đủ thứ tội: nào là quân đội không chịu chiến đấu, nào là công chức tham nhũng, v.v…Bọn chánh khách bất lương Âu châu thì kết tội VNCH là tay sai Mỹ chỉ vì ganh ghét với Hoa Kỳ. Nếu quân dân VNCH không chịu chiến đấu thì làm sao giữ vB0ời Việt Quốc-gia càng sáng tỏ hơn bao giờ hết. Bây giờ thì không một ai còn nghi ngờ nữa: VNCH còn là còn tất cả! VNCH mất là mất tất cả! Chúng ta đòi hỏi lịch sử và nhân dân thế giới phải trả lại sự công bằng và danh dự cho Quân Dân VNCH, từ người thứ dân cho đến các cấp lãnh đạo Quốc-gia. Trong nội bộ người Việt, yêu cầu những kẻ vô ý thức hay bị CS tuyên truyền tẩy não trong 35 năm qua hãy chấm dứt những luận điệu tự phỉ nhổ mình bắng cách gọi các vị lãnh đạo Quốc-gia, các tướng lãnh của VNCH bằng thằng nọ, thằng kia. Cái cuộc “đổi đời” năm 1975 đã biến “THẰNG thành ÔNG” và đem “ÔNG xuống làm THẰNG” nay đã chấm dứt rồi, vì đó là cái thang giá trị Marxist trong đó “trí thức không bằng cục phân” (lời Mao Trạch Đông.) Thang giá trị (échelle des valeurs) của một xã hội Việt Nam văn minh đạo đức truyền thống phải được tái lập để làm nền tảng cho một nước Việt Nam hậu Cộng-sản. Chúng tôi sẽ bàn đến “hệ thống giá trị chân chính” của người Việt trong một bài khác.
dHải ngoại, ngày 28-10-2010 Lê Thành Nhân

- Ngày 23-7-2010 Nữ Ngoại-trưởng Hilary Clinton nhân danh đại cường quốc Hoa Kỳ long trọng khẳng định tại Hội-nghị ASEAN ở Hà Nội: ”Hoa Kỳ xem Đông Nam A là khu vục thuộc lợí ích quốc gia của Hoa Kỳ về các phương diện anh ninh, kinh-tế, thương mại.”

- Ngày 24-9-2010, Tổng thống Obama đích thân triệu tập và chủ tọa Hội-nghị thượng-đỉnh tại New York (Second ASEAN Leaders Meeting) với các người đứng đầu các nước ASEAN để chủ động kết hợp các nước ấy trong một th�=E1��ng được Miền Nam đến 1975, khi mà Mỹ và Trung cộng ngã giá xong vụ buôn bán bẩn thỉu trên đầu nhân dân Việt Nam?

Ngoài ra, sau tháng 4, 1975, nhiều tướng lãnh liêm sĩ Hoa Kỳ đã viết lại hồi ký công nhận tinh thần dũng cảm và khã năng chiến đấu xuất sắc của QL/VNCH. Chúng ta không cần lặp lại ở đây. Còn nếu nói: vì tham nhũng mà chánh quyền VNCH sụp đỗ thì cứ hỏi chả lẽ nhà nước CHXHCN hiện nay ở VN ít tham nhũng hơn VNCH ngày trước? Thế tại sao nó còn nguyên đó hơn 35 năm nay? Cũng trong cùng thời gian với VNCH ai cũng biết ở các lân bang như Thái Lan, Phi Luât Tân, Nam Dương tình trạng tham nhũng trầm trọng hơn cả chục lần, nhưng có nước nào sụp đổ đâu!

Tóm lại, các chánh khách thiển cận, mù quáng của nước Mỹ lúc bấy giờ đã “hi sinh” quyền lợi của đồng minh VNCH với ảo tưởng đổi lấy một thị-trường béo bỡ của nước Tàu. Nhưng sự thật phủ phàng hôm nay là chính cái nước Tàu mà nước Mỹ vỗ béo đó đã đang quay lại ăn thịt nước Mỹ để giành ngôi vị đệ nhứt cường quốc trên thế giới. Và nước Mỹ ngày nay đã tỉnh ngộ, đang trở lại làm y chang cái công việc mà Quân Dân VNCH đã làm trước 1975, tức là chiến đấu chống đế quốc CS Trung quốc. Thế thì VNCH đã bị bức tử một cách oan uổng. Nhờ giương cao ngọn cờ chống lại bá quyền Trung cộng, bảo đảm an-ninh và tự do cho khu vực nên hiện nay Hoa Kỳ đang được nghênh đón trở lại Việt Nam như là môt “hiệp-sĩ.” Như vậy bọn CSVN không còn coi Hoa Kỳ là “đế-quốc xâm lược” nữa. Trái lại chúng coi Hoa Kỳ là vị cứu-tinh, và trả lại danh dự cho nước Mỹ.

Thế còn công lao hi sinh chiến đấu của Quân Dân Miền Nam để ngăn chận làn sóng đỏ của Nga, Tàu trong hơn 50 năm thì sao?

Vì thế, Quân Dân VNCH đòi hỏi nước Mỹ và thế giới phải trả lại danh dự cho họ vì họ đã hi sinh chiến đấu cho Tự do và An ninh của cả thế giới mà đã bị đối xử bất công bằng sự phản bội và bức tử oan uổng năm 1975.

Trên thực tế thì nhân dân Việt Nam trong nước đã làm việc nầy từ khi bọn “cách mạng” đặt chân vào Miền Nam vì, đối với mọi người dân trong nước thì cái gì của “ngụy” cũng tốt hơn “cách mạng”: bác sĩ “ngụy” cũng giỏi hơn, nhạc “ngụy” cũng hay hơn, nhân bản hơn, nếp sống “ngụy” cũng văn minh hơn, người dân “ngụy” cũng ấm no, hạnh-phúc hơn, v v...

Cuối cùng, sau khi chiếc mặt nạ của đảng CSVN kể công đánh ngoại xâm Pháp, Mỹ để giành độc lập bị rơi xuống đất, để lộ cái mặt thật của những kẻ bán nước đem tổ quốc dâng cho Tàu thì cái chính nghĩa bảo quốc của Quân Dân VHCN, của Người Việt Quốc-gia càng sáng tỏ hơn bao giờ hết. Bây giờ thì không một ai còn nghi ngờ nữa:

VNCH còn là còn tất cả!
VNCH mất là mất tất cả!

Chúng ta đòi hỏi lịch sử và nhân dân thế giới phải trả lại sự công bằng và danh dự cho Quân Dân VNCH, từ người thứ dân cho đến các cấp lãnh đạo Quốc-gia. Trong nội bộ người Việt, yêu cầu những kẻ vô ý thức hay bị CS tuyên truyền tẩy não trong 35 năm qua hãy chấm dứt những luận điệu tự phỉ nhổ mình bắng cách gọi các vị lãnh đạo Quốc-gia, các tướng lãnh của VNCH bằng thằng nọ, thằng kia. Cái cuộc “đổi đời” năm 1975 đã biến “THẰNG thành ÔNG” và đem “ÔNG xuống làm THẰNG” nay đã chấm dứt rồi, vì đó là cái thang giá trị Marxist trong đó “trí thức không bằng cục phân” (lời Mao Trạch Đông.) Thang giá trị (échelle des valeurs) của một xã hội Việt Nam văn minh đạo đức truyền thống phải được tái lập để làm nền tảng cho một nước Việt Nam hậu Cộng-sản.

Chúng tôi sẽ bàn đến “hệ thống giá trị chân chính” của người Việt trong một bài khác.

Lê Thành Nhân

Posted: Fri Nov 12, 2010 3:20 am
by TranAnhDung
Đọc bộ hồi ký ‘Thời Đại Của Tôi’ của Giáo sư Vũ Quốc Thúc
Thursday, November 11, 2010

Phạm Xuân Đài
Trong năm 2010 này, nhà xuất bản Người Việt đã phát hành một lúc hai tác phẩm mang tên chung là Thời Đại Của Tôi của giáo sư Vũ Quốc Thúc, cuốn I có tên riêng là Nhìn Lại 100 Năm Lịch Sử, cuốn II là Đời Tôi Trải Qua Các Thời Biến.

Cuốn thứ nhất, Nhìn Lại 100 Năm Lịch Sử, dày hơn 400 trang hẳn nhiên là một cuốn sách về lịch sử, nhưng được tác giả khẳng định không phải là một thiên khảo luận về lịch sử Việt Nam, cũng không phải là một luận đề về chính trị hay xã hội học, mà chỉ là một bản tóm lược những điều mà tác giả thâu thái được trong khi cố gắng tìm hiểu về thời đại của mình. Không kể phần Phụ Lục, sách chia ra làm năm hồi: Hồi thứ nhất: Việt Nam dưới chế độ thuộc Pháp; hồi thứ hai: Việt Nam trong cuộc thế chiến 1939- 1945; hồi thứ ba: Việt Nam tranh đấu giành lại độc lập; hồi thứ tư: Việt Nam trong cảnh qua phân lãnh thổ; hồi thứ năm: Việt Nam tái thống nhất dưới chế độ Cộng sản. Trong mỗi hồi, tác giả chia ra từng giai đoạn hay từng vấn đề để xem xét riêng rẽ, trong mục đích, như tác giả khẳng định từ đầu, là để cố gắng tìm hiểu thời đại của mình. Đó là những đề tài tác giả khai triển lịch sử phần nào theo cái nhìn riêng, cốt để nhấn mạnh đặc tính của giai đoạn đó mà không bị bóp méo đi như một số tài liệu khác.
Image
Hai tập hồi ký của GS Vũ Quốc Thúc. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)

Nhìn chung, cuốn thứ nhất chính là cái khung thời gian và không gian cần thiết phải được giới thiệu trước để chuẩn bị cho cuốn sau trong đó tác giả kể những sự việc của đời mình qua từng giai đoạn. Đây là công việc phần nào mang đặc tính của một nhà giáo, rất sư phạm: đó là, trước khi kể chuyện đời mình, tác giả đã vẽ ra trước cho độc giả thấy cái bối cảnh rộng lớn làm nền cho cả tấn kịch đời của tác giả sẽ được kể trong cuốn II. Sự chuẩn bị đó rất cần thiết, có lẽ tác giả nhắm cho các thế hệ độc giả mai sau để hiểu được câu chuyện sẽ được kể trong từng giai đoạn lịch sử tương ứng với tất cả đặc điểm của nó.

Cuốn thứ hai với tên gọi Đời Tôi Trải Qua Các Thời Biến thì đích thực là một cuốn hồi ký. Về cái tên chung Thời Đại Của Tôi, theo tác giả là để xác định ranh giới cho cuốn sách, rằng đây là một cái gì “của tôi” chứ không phải là một cuốn lịch sử, đòi hỏi một quá trình làm việc rất khoa học và phiền toái của một sử gia. Trái lại tác giả chỉ chú trọng vào những phản ứng về mặt tâm lý và tinh thần mà các biến cố lịch sử gây ra trong tâm khảm của mình. Khoảng thời gian mà tác giả gọi là “Thời đại của tôi” để nhìn lại và suy ngẫm được ấn định là 90 năm, kể từ khi tác giả được sinh ra năm 1920 cho đến năm nay 2010, khi tác giả viết những dòng cuối cho cuốn sách này.

Cuốn sách cũng được chia làm năm hồi. Hồi thứ nhất: trước khi Thế chiến II (1939- 1945) bùng nổ; hồi thứ hai: từ tháng 9 năm 1939, tức thời điểm xảy ra cuộc thế giới chiến tranh thứ 2, cho tới cuộc đảo chánh ngày 9 tháng 3 năm 1945 ở Việt Nam, ngày Nhật đảo chánh Pháp; hồi thứ ba: từ 9 tháng 3, 1945 tới hiệp định Genève ngày 20.7.1954, chia đôi đất nước Việt Nam; hồi thứ tư: từ tháng 7.1954 tới 30.4.1975, Việt Nam tái thống nhất do sự xâm chiếm của chế độ Cộng sản Việt Nam; hồi thứ năm: Từ tháng 4, 1975 tới nay.

Đọc hết năm hồi này qua 700 trang sách, cảm tưởng đầu tiên của người đọc phải là ngạc nhiên về trí nhớ phi thường của tác giả. Ông bắt đầu viết thiên hồi ý này khá trễ, vào năm 1996 là lúc ông đã 76 tuổi, thế mà ông kể lại tường tận tỉ mỉ từ chuyện xa nhất như môi trường gia đình của ông từ ngày ông sinh ra, đến việc học hành, thi cử, ra đời làm việc, những biến cố trong đời..., không phải chỉ việc riêng của cá nhân ông, mà luôn luôn đầy những nối kết với xã hội, với môi trường thời đại, với vô số nhân vật đương thời. Đúng là những trang sách của ông đã tạo nên bức bích họa của thời đại ông, dù là thời ông còn nhỏ, hay thời kháng chiến của Việt Minh, lúc đi thi tiến sĩ và thạc sĩ bên Pháp, hoặc thời giữ những chức vụ quan trọng trong chính quyền miền Nam, hay quãng đời sau 1975 đi tị nạn bên Pháp. Giai đoạn nào ông viết cũng đâu ra đấy, sự việc nào cũng đầy đủ đầu đuôi gốc ngọn, chuyện cá nhân và chuyện thời đại xen kẽ, đan kết nhau, bổ túc cho nhau để làm nên một bức tranh hoàn chỉnh.

Đây không phải là những trang hồi ký để đề cao cái ta của tác giả, không, người đọc tuyệt nhiên không nhận thấy điều ấy, mà càng đọc càng say sưa vì các chi tiết sống động của xã hội đương thời mang đầy sinh khí cho mọi câu chuyện được kể. Đọc ông, người ta thấy rõ cái tinh thần đại học được thể hiện ở từng trang: uyên bác, tôn trọng sự thật đến tối đa, cộng với tài kể chuyện duyên dáng mà thành thật, khiến cho người đọc dễ dàng cảm thấy một niềm tin cậy, khiến cái ông gọi là “thời đại của tôi” biến thành “thời đại của chúng ta” lúc nào không hay. Biến cái riêng của mình thành cái chung của mọi người, đó là sự lớn lao của cuốn hồi ký này. Lời kể của ông đã phản ảnh cả một thời đại trong đó cuộc đời ông đã trải qua, đó cũng là thời đại chứa đựng cuộc đời của hầu hết chúng ta hôm nay, đọc ông chúng ta sẽ đồng cảm với ông, và sẽ thầm cám ơn ông đã nói hộ cho chúng ta vô số điều mà ta không đủ điều kiện để biết hết.

Trước hết cuốn hồi ký này đã cống hiến cho người đọc rất nhiều tư liệu về văn hóa Việt Nam. Chỉ nội một chương đầu tiên, có tên là Môi Trường Gia Đình, chúng ta được biết nhiều điều về thành phố Nam Định từ cổ truyền cho đến khi thuộc Pháp, sự buôn bán làm ăn ở đó, cư dân và truyền thống văn học khoa cử của đất thành Nam v.v...; từ thông tin gia đình ông vốn trước kia họ Phạm, từ thế kỷ 17 đổi sang họ Vũ, chúng ta được đọc hầu như cả một thiên khảo cứu về việc đổi họ ở nước ta; từ một chi tiết “truyền thống thờ tổ tiên của gia đình tôi” chúng ta được biết buổi lễ học vỡ lòng cuốn Tam Tự Kinh của tác giả đã xảy ra như thế nào, tinh thần Nho giáo “quỷ thần kính nhi viễn chi” đã khiến thân phụ của tác giả thờ ơ đối với mọi tôn giáo khác mà chỉ coi việc thờ cùng tổ tiên là vô cùng hệ trọng ra sao. Với cung cách nghiên cứu đại học, hầu như bất cứ việc nhỏ nhặt nào cũng được tác giả trình bày đến tận nguyên ủy. Chỉ riêng về khía cạnh văn hóa, độc giả có thể học từ cuốn sách này vô số điều.

Giáo sư Vũ Quốc Thúc, là một nhà khoa bảng lớn của Việt Nam, ông đã đậu Tiến sĩ Luật và Thạc sĩ Đại học Kinh tế tại Pháp. Cuốn hồi ký đã cho thấy truyền thống học vấn sâu dày của tổ tiên đã ảnh hưởng đến sự thông minh, tính kiên trì nhẫn nại cùng ý chí học hỏi nơi ông lớn lao ra sao. Nhưng điều đáng phục nơi ông là khả năng “tri hành hợp nhất” mà ông đã thi thố với đời, đem kiến thức khoa bảng vào việc xây dựng cho đất nước Việt Nam. Chương 5, kể chuyện tác giả về dạy ở trường Luật Hà Nội năm 1951 là một chương đầy thú vị, cho thấy sự “quật khởi” của một trí thức trẻ Việt Nam trước tinh thần thực dân của những ông khoa bảng Pháp. Tác giả, với học vị, với tinh thần sòng phẳng trong Thỏa Hiệp Văn Hóa mới ký kết giữa Pháp và Việt Nam, đã cứng cỏi dẹp tan những lấn lướt cố hữu của người Pháp, từ việc giữ vững vị trí Giám Đốc trường Luật Hà Nội của mình đến việc tranh đấu về lương bổng bình đẳng giữa giáo sư người Pháp và người Việt.

Về sau, trong những năm đầu đầy khó khăn của chính quyền Ngô Đình Diệm ông đã thành công trong công tác thảo luận rất gay go với Pháp và hai nước Cam Bốt và Lào để giải tỏa các định chế cũ trong gần một thế kỷ cai trị của người Pháp ở Đông Dương, để thiết lập Viện Phát Hành tiền tệ, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, Viện Hối Đoái cho Việt Nam. Hình ảnh của ông đúng là một con người “kinh bang tế thế” mà chúng ta vẫn nghe thấy trong văn chương, và ông hoàn toàn xứng đáng với lời của TT Ngô Đình Diệm ngợi khen ông là một người “thao lược”, sau khi ông thành công trong công tác khó khăn này.

Sau tháng 4, 1975, tác giả đã trải qua những ngày bất an, thậm chí có thời gian ngắn bị bắt giam vì dự tính vượt biên. Cộng sản tiếp thu trường Luật, và trường Luật bị đổi thành trường Kinh tế. Chế độ toàn trị không cần tinh thần luật pháp cho xã hội, vì tinh thần ấy dựa trên những ý niệm căn bản về con người như chủ quyền cá nhân, sự bình đẳng, công bằng v.v... Những nguyên lý có tính vĩnh cữu như thế đã tạo ra những đạo luật tồn tại hàng thế kỷ trước đây, nay hoàn toàn không có giá trị đối với đảng cộng sản. Luật của họ dựa trên những nguyên lý khác, chỉ do đảng đặt ra, họ chỉ cần đào tạo một lớp người để thi hành và giữ gìn luật của riêng họ, không cần có một trường luật với môn luật học dựa trên những đặc tính bền vững của con người và xã hội con người. Hai mươi năm trước giáo sư Nguyễn Mạnh Tường ở miền Bắc đã nhân danh luật pháp lên tiếng về việc đấu tố trong cải cách ruộng đất, đã bị đảng triệt hạ, trừng phạt một cách thê thảm. Và nay, khi cộng sản tiếp thu trường Luật ở Sài Gòn, việc đầu tiên là họ cho nghỉ việc bốn giáo sư, trong đó có giáo sư Vũ Quốc Thúc.

Tuy nghỉ việc nhưng vẫn phải theo Khóa Nghiên cứu lý luận Mác Lê nin, và trong khóa này giáo sư Vũ Quốc Thúc đã một lần đụng độ về lý luận với một giảng viên từ ngoài Bắc vào, một hành động thời đó được coi là dũng cảm không ai dám làm, được nhiều người trong giới xem là “bảo vệ danh dự của trí thức miền Nam”. Kể lại chuyện này, tác giả cũng ý thức được sự nguy hiểm khi để lộ ra bất cứ sự bất đồng ý kiến nào với một chế độ độc tài, và biết rằng để sống yên trong một chế độ như thế, con người phải nghĩ một đằng nhưng nói một nẻo.

Phải nhận rằng tác giả có một số mạng rất may mắn. Dù là phải trải qua đủ thứ chế độ trên đất nước Việt Nam, mà sau hết là chế độ cộng sản đầy tệ hại, nhưng cuối cùng ông cũng thoát ra để tới được nơi an toàn. Chỉ ba năm sau 1975 ông đã được cùng gia đình xuất cảnh sang Pháp, do lời thỉnh cầu của chính Thủ tướng Pháp thời đó với ông Phạm Văn Đồng khi ông này sang thăm nước Pháp với tư cách là Thủ tướng Việt Nam. Qua đến Pháp giáo sư Vũ Quốc Thúc đã được bổ nhiệm dạy môn Kinh tế ngay tại đại học Paris 12, làm đúng nghề sở trường của mình, không phải vất vả tìm kiếm việc làm khác. Qua thập niên 1980 ông lại bắt tay vào một số hoạt động để bênh vực cho thuyền nhân, và đặc biệt là cuộc vận động để vãn hồi Hiệp định Paris ký năm 1973, trong đó có sự tham gia của cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và nhiều nhân vật của Việt Nam Cộng Hòa. Năm 2000 ông tham gia việc công bố Hiến chương 2000 tại Paris. Và những trang chót của cuốn sách này ông đã dành để nói về việc vận động cho Việt Nam được hưởng quy chế Trung lập theo quốc tế công pháp. Tác giả Vũ Quốc Thúc kết thúc cuốn sách vào tháng 6 năm 2010, khi ở tuổi 90.

Như tác giả đã cho biết từ đầu, gia đình ông chỉ thờ cúng ông bà chứ không theo tôn giáo nào. Lúc trẻ, khi đứng trước trước các khó khăn bất trắc, có khi ông đi coi bói. Ông đã kể lần đi coi bói tại Paris (và sau đó nhiều lần coi bói khác nữa) khi ông sang dự kỳ thi Thạc sĩ vào năm 1952, một bà đầm già tám mươi tuổi đã nhìn vào một quả cầu thủy tinh và mô tả cho ông những hình ảnh bà đã thấy trong quả cầu ấy. Bà ấy không khẳng định ông thi đậu hay rớt mà chỉ cho thấy hình ảnh của một buổi tiếp tân vui vẻ vào sau lễ Giáng Sinh năm ấy. Kết quả là ông đã thi đậu thạc sĩ và khi về đến Sài Gòn ông khoa trưởng trường Luật Khérian đã mở một buổi tiếp tân để chào mừng ông vào ngày đầu năm 1953, đúng như hình ảnh bà đầm mô tả. Ông đã trải qua nhiều trường hợp linh nghiệm trong bói toán, và ông suy ra rằng “quả thật trong đời có những yếu tố siêu hình chúng ta không thể xét đoán với con mắt trần tục (...) tuy nhiên có người nhìn được, Trời ban cho họ khả năng nhìn thấy những cái đó.”

Khuynh hướng dựa vào yếu tố siêu hình về sau đã trở nên mạnh hơn nơi tác giả khi nghịch cảnh trở nên quá nặng nề trong giai đoạn sống với cộng sản sau 1975: ông đã gần như dựa hẳn vào tôn giáo. Nhưng đó chưa phải là tín ngưỡng đích thực, mà chỉ là sự tìm kiếm, cầu xin một lối thoát giữa hoàn cảnh khó khăn của cuộc sống: “Hằng ngày mặc dù không phải tín đồ Thiên Chúa Giáo, tôi đã đến nhà thờ Đức Bà. Tôi cầu nguyện trước tượng Đức Mẹ xin Đức Mẹ run rủi cho gia đình tôi được thoát khỏi Việt Nam toàn vẹn.” Một lần nữa, tác giả lại “cầu được ước thấy”, rốt cuộc ông và gia đình đã được đi tị nạn bên Pháp. Từ việc tin vào bói toán, đến cầu xin một hình tượng tôn giáo để nhất thời tìm giải pháp cho những khó khăn của mình, những việc ấy chứng tỏ nơi tác giả có một tiềm năng tín ngưỡng, nhưng chỉ phát lộ ra dần dần từ thấp đến cao qua những lần dựa vào đó để mong tìm lối thoát cho những bế tắc cụ thể trong đời.
*
Cuốn hồi ký này đã cống hiến cho chúng ta hình ảnh một nhà trí thức luôn luôn tích cực với đất nước. Giáo sư Vũ Quốc Thúc là người học rộng, khoa bảng cao, điều đó ai cũng biết, nhưng ông xứng đáng với danh xưng là Trí Thức vì lúc nào ông cũng vận dụng hiểu biết của ông để làm những điều ích lợi cho quốc gia, lúc nào ông cũng dấn thân hết mình vào từng giai đoạn cụ thể của thời đại ông, không những đáp ứng những nhu cầu cấp thiết của thời điểm đó, mà còn có khả năng nhìn vượt thời đại của mình để mưu cầu sự tốt đẹp cho một Việt Nam trong tương lai. Viết kể lại những hoạt động của đời ông là một việc cần thiết mà ông nên làm và đã làm, nhưng mặt khác, đọc kỹ những gì ông viết lại là điều cần thiết hơn đối với chúng ta hôm nay và cả con cháu của chúng ta mai sau nữa.

PXĐ
Tháng 11, 2010

Posted: Sat Nov 13, 2010 6:12 am
by nguyenvsau
Bùn đỏ Nguyễn Tấn Dũng

Ngô Nhân Dụng
Trong tiếng Việt, mai mốt nếu quen dùng, sẽ có thứ bùn gọi tên là Bùn Ðỏ Nguyễn Tấn Dũng. Cũng giống một từ người Pháp đã đặt ra trong ngô ngữ của họ, Vespasienne. Danh từ này là do tên Vespasianus, một hoàng đế La Mã (từ năm 69 đến năm 79).

Vespasienne, nghĩa là chỗ đi tiểu công cộng. Hoàng đế Vespasianus đã có sáng kiến đặt những cái chum ở bên đường cho người qua lại lấy chỗ đi tiểu. Khi còn làm chức “aedile,” giống như cảnh sát trưởng đô thành ngày nay, ông đã bị Hoàng đế Caligula trừng phạt vì để cho kinh đô đế quốc, với hàng triệu dân vào thời đó, thiếu vệ sinh. Hình phạt được thi hành là lột chiếc áo khoác (toga) của ông ta, đem ngâm áo vào những xú uế ngập ngụa trên đường phố (sau đó có bắt ông ta mặc áo lại hay ngay không, sách không nói rõ)! Các sử gia kể đường phố La Mã 2000 năm trước rất nhơ nhớp, vì nhiều nhà đem thùng vệ sinh đổ ngay ra mặt đường. Nếu bây giờ quý du khách đi trên các con phố cổ thấy những tảng đá dọc theo đường, đó chính là để cho nhân dân có chỗ đặt chân tương đối sạch sẽ!

Các nhà nguyên ngữ học cho là sở dĩ tên tuổi Vespasianus được nhắc nhở đến bây giờ trong tiếng Pháp Vespasienne là vì ông còn buộc ai sử dụng cái chum của hoàng đế phải trả hai đồng xu, không kể dùng lâu hay mau! Và sau đó, còn có thể thêm sáng kiến kiếm tiền khi sai bán những thùng nước phế thải cho nông dân ngoại thành làm phân bón. Chính vì thế mà tên Hoàng đế Vespasianus đã lưu danh thiên cổ, nói cách khác là lưu xú vạn niên!

Bây giờ, ở Việt Nam khi nghe tin có cơn lũ bùn đỏ ở Hà Giang, người ta chợt nghĩ đến ông Nguyễn Tấn Dũng, đặt tên loại bùn này là Bùn Ðỏ Nguyễn Tấn Dũng. Trước đây, mọi người đã biết có bôxit trong các tầng đá vôi ở Hà Giang, Cao Bằng và Lạng Sơn. Ngày 5 tháng 11, một cơn lũ bùn đỏ tràn xuống xóm Nà Kéo, xã Duyệt Trung, thị xã Cao Bằng. Dân trở tay không kịp, nhiều nhà cửa, súc vật “bị bùn đỏ nuốt chửng” theo lời báo chí trong nước. Dọc hai bên bờ suối dài khoảng 2 km, toàn là bùn đỏ. Bộ máy thông tin của nhà nước xã hội chủ nghĩa giải thích nguyên nhân là đập chắn nước thải rửa quặng của xí nghiệp khai thác quặng sắt Nà Lũng bị vỡ nên gây ra tai nạn này. Nhưng dân bán tín bán nghi! Và ai cũng liên tưởng đến vụ bùn đỏ tràn ngập ở Hungary gần đây, do mỏ khai thác bô xít gây nên. Cái tên ông Dũng từ nay có thể được lưu danh hậu thế, không khác gì tên Vespasienne!

Có lẽ để cho dư luận bỏ qua chuyện Bùn Ðỏ, cho dân lãng quên luôn cả hai kiến nghị phản đối việc khai thác Bô xít ở Tây nguyên, cho nên nhà nước đã ra tay bắt Luật Sư Cù Huy Hà Vũ! Vừa đánh vào một luật sư của mạng lưới Bô xít, vừa đánh lạc hướng dư luận. Khi trong số những người ký tên vào bản kiến nghị do nhóm các giáo sư Nguyễn Huệ Chi, Phạm Toàn, vân vân khởi xướng lại có tên nhiều vị tướng lãnh, học giả, kể cả những người đã từng phục vụ đảng suốt đời như các bà Nguyễn Thị Bình, Võ Thị Thắng, thì đảng cảm thấy nhột quá, ra tay bây giờ là đúng lúc.

Các ông Nông Ðức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng đã quả quyết việc cho Trung Quốc khai thác Bô xít là chủ trương chiến lược của đảng Cộng Sản. Phải làm sao cho dư luận đừng ai nghĩ tới cái ung nhọt đó nữa, để các công ty Trung Quốc làm ăn. Công an trước đây đã ra tay gây nhiều vụ đánh lạc hướng dư luận, trong lúc vẫn đe dọa nhóm chủ trương mạng Bô Xít Việt Nam, nhưng chưa có hiệu quả. Bắt người làm blog “Cô Gái Ðồ Long,” một tờ báo mạng chuyên về xì căng đan có 23 triệu người vào đọc; nhưng cũng chẳng ai quên được vụ Bô xít. Bắt Luật Sư Lê Thị Công Nhân, nhưng lại thả ngay. Hạch tội Nguyễn Tấn Dũng ở Quốc Hội về vụ Vinashin làm biến mất 4, 5 tỷ Mỹ kim trong mấy năm “làm kinh tế,” cũng chưa đủ. Bây giờ, guồng máy công an đã bắt ông Cù Huy Hà Vũ, người nhận làm luật sư cho mạng Bô Xít Việt Nam. Một công đôi việc, vừa gây sôi nổi trong dư luận, vừa đe dọa thẳng vào mạng Bô Xít.

Luật Sư Cù Huy Hà Vũ đã nhiều lần cù nách đảng, cù vào nhiều huyệt “nhậy cảm” khác làm cho đảng luôn luôn bị nhột. Nhưng trong đảng cộng sản cái nách bên phải bị cù có khi cái nách bên trái nó lại cười khúc khích, cù vào chỗ khác thì cả hai cái nách đều khoái trí, có khi cái nách lại xúi cho họ Cù cứ tiếp tục cù vào cái bàn chân. Vì thế cho nên lâu nay ông Cù Huy Hà Vũ cứ tiếp tục cù mà vẫn còn được yên thân. Có người tin rằng ông đã được một nhóm bên trong đảng che chở, cho nên mới bạo mồm bạo miệng như vậy. Nhưng nhiều người biết Cù Huy Hà Vũ vốn là tay trên trời dưới đất không sợ ai cả, có lúc giận bố lạm chiếm miếng đất nhỏ cũng làm đơn kiện cả bố, can mãi mới thôi. Lại có người Hà Nội nói Cù Huy Hà Vũ tin rằng mình có chân mạng, thế nào cũng phải lãnh đạo dân Việt Nam, vì cái số như thế không thể tránh được. Rất có thể Cù Huy Hà Vũ chỉ là một người nóng và thẳng, không biết sợ ai cả, như Bác Sĩ Hà Thúc Nhân thời Việt Nam Cộng Hòa xưa kia. Hà Thúc Nhân từng tủ thủ trong bệnh viện, tuyên bố nếu không dẹp được tham nhũng thì tự sát; ông cũng từng ra trước Quốc Hội họp báo tố giác tham nhũng. Dân Việt Nam không thiếu những người khẳng khái, táo tợn như vậy.

Dù không biết có giả thuyết nào giải thích đúng hành vi của Cù Huy Hà Vũ, phải công nhận là ông làm được những việc rất đáng phục, luôn luôn thọc nách đảng.

Ðảng ra tay bắt Cù Huy Hà Vũ, nhưng vụ bắt bớ này lại được đạo diễn rất vụng về, ngớ ngẩn, có thể gọi là lố bịch!

Nửa đêm mùng 4 tháng 11, công an nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam bắt Cù Huy Hà Vũ ở một khách sạn trong Sài Gòn, cùng với một phụ nữ, gán cho tội danh là “Quan hệ với gái mãi dâm.” Công an tung lên mạng lưới hình ảnh, trong đó có cả hình Cù Huy Hà Vũ cởi trần. Ðây là một tin giật gân, loại thông tin chuyên được các tờ báo của công an khai thác để câu khách bán báo.

Nhưng nhiều người đã nêu lên các điều đáng nghi ngờ. Những bức hình có vết ghép lại, không phải hình thật. Bức hình ông luật sư cởi trần đã được chụp từ nhiều tháng trước. Ðiều lố bịch nhất là không nước nào lại đem công an từ trên bộ xuống làm công việc khám khách sạn, bắt người mua bán dâm, một công việc thuộc thẩm quyền của Cảnh sát Kiểm Tục! Ông Cù Huy Hà Vũ không cần phải tự biện hộ, chính bà vợ ông cũng tin rằng ông vô tội! Phản ứng ngược: Bà Nguyễn Thị Dương Hà, một luật sư, tin rằng chính nhà nước cộng sản mới có tội! Bây giờ bà đã phản đồng, tố cáo công an và nhà nước đã xúc phạm cả ông lẫn gia đình bà.

Biết bị hố, nghiệp vụ loảng choảng không đâu vào đâu, guồng máy công an và tuyên truyền của đảng cộng sản bèn sửa sai ngay. Chế độ độc tài nào cũng vậy, phải dùng hai cánh tay: Ðàn áp và Dối trá. Họ rêu rao lên là mới đến khám nhà Cù Huy Hà Vũ và tìm ra chứng cớ ghép ông vào tội “tuyên truyền chống đảng và âm mưu lật đổ chính quyền, vi phạm điều 88 trong bộ luật hình sự!” Từ tội mua dâm chuyển sang tội âm mưu lật đổ chính quyền, nghe không khác gì thơ Bút Tre!

Nhiều người Việt Nam thấy thế rất buồn. Ðây là một bằng cớ cho thấy ngay cả bộ máy công an cũng bất lực thê thảm! Ðáng buồn, vì xưa nay công an là guồng máy chạy tốt nhất ở trong đảng Cộng Sản Việt Nam. Kỹ sư công chánh có thể xây cầu chưa xong đã sập. Bộ Giáo Dục có thể bất lực để cho trẻ em ở thôn quê thất học; đào tạo sinh viên ra trường đến hãng ngoại quốc nào người ta cũng phải huấn luyện lại. Hải quân có thể bất lực không bảo vệ được ngư phủ Việt Nam, để cho “tàu lạ” cướp thuyền, cướp máy móc và tôm cá, bắt cóc, đòi tiền chuộc! Cả guồng máy cai trị có thể bất lực để cho nước cống phềnh lên tràn ngập các thành phố Sài Gòn, Hà Nội; đêm đêm dân nằm ngủ nghe tiếng nước chảy dạt dào dưới gậm giường, người này lại đổ cho người kia! Tất cả các cơ quan cai trị có thể làm ăn bết bát, không đâu vào đâu cả; nhưng công an xưa nay vẫn là bộ máy chạy tốt nhất, không ai chê được. Châm ngôn của công an là “Ðảng còn, mình còn” có thể tin là họ làm được!

Bây giờ chính guồng máy có công suất tốt nhất đó lại làm ăn loạng choạng! Nhiều người rất thất vọng! Tại sao các chiến sĩ công an lại vụng tính như thế? Nếu đã tính bắt người để gán tội “tuyên truyền chống đảng và âm mưu lật đổ chính quyền, vi phạm điều 88 trong bộ luật hình sự nhà nước xã hội chủ nghĩa” thì cứ đến gõ cửa nhà người ta ở Hà Nội, đòi xét nhà rồi đem tài liệu do mình chế tạo ra nhét vào gậm giường, cứ theo đó mà kết tội cũng được. Tại sao còn đi theo đuôi vào tận Sài Gòn, rình mò ở khách sạn cứ như bọn du côn được các bà Hoạn Thư thuê mướn! Phá cửa xông vô phòng, lại còn bầy ra chuyện ghép hình mua bán dâm cũng ghép vội vã, tất cả thành công cốc! Ðể làm cái gì? Thật là khó hiểu!

Một cách giải thích giản dị, là thực sự công an nó như vậy, khả năng của nó không hơn gì các kỹ sư làm cột xi măng cốt tre cả! Xưa nay người ta cứ sợ công an, không phải vì họ giỏi, mà chỉ vì họ đông quá, lấy thịt đè người. Họ lại không phải theo một quy tắc luật pháp hay đạo đức nào cả, bất cứ hành động nào cũng sẵn sàng nhẫn tâm thi hành, miễn là “bảo vệ đảng!” Cả bộ máy đó chạy khi nào được trên chỉ huy thống nhất.

Nhưng khi ngay ở bên trong đảng, trên tận chóp bu, mà có cảnh đấm đá nhau tranh quyền trước ngày đại hội đảng, thì guồng máy đó không chạy được như trước nữa. Một ông bảo phải làm cái này “Vì đảng;” ông khác lại bảo làm cái khác. Bố ai biết đâu mà bảo vệ được các ông! Tệ nhất là guồng máy công an có thói quen nghe lệnh trực tiếp từ các cụ ở trên ban ra cho các bộ phận bên dưới. Không như thời Trần Quốc Hoàn, chỉ có một người nắm đầu tất cả, vừa lo dắt gái cho chủ tịch nước, vừa lo thủ tiêu gái khi không dùng tới nữa, tất cả được kín đáo thi hành trong ngoài không ai dám nói! Bây giờ phân công ra, có khi sinh loạn, nhất là trong thời đại Internet này.

Có thể trong thời gian qua, một bộ phận đang lo gài bẫy, bêu xấu những người lớn tiếng bất đồng ý kiến với đảng; bằng cách rình mò khách sạn, bất kẻ là ai. Trong khi đó một bộ phận khác đang chuẩn bị truy tố Cù Huy Hà Vũ vào một cái tội vi phạm điều 88, như đã dùng cho Nguyên Văn Ðài, Lê Thị Công Nhân. Anh thứ nhất, thấy một cơ hội thì ra tay trước, bắt Cù Huy Hà Vũ ngay trong khách sạn, sợ mình chậm chân thằng khác nó tranh công! Anh thứ hai nhảy ngay vào để giành thành quả chiến thắng giương cao ngọn cờ điều 88! Thế là cả guồng máy đụng nhau, tất cả thành ra lùng bùng, đến độ bầy nhầy, không khác gì cảnh đường phố thành La Mã khi ông Vespasianus phụ trách quản lý vệ sinh công cộng!

Nhưng bộ phận truyền thông lề bên phải đã làm việc đắc lực, tung câu chuyện Cù Huy Hà Vũ bị bắt lên, lôi kéo dư luận chú ý. Ít nhất, khi dân chúng kháo nhau về câu chuyện xí căng đan hấp dẫn, họ quên chuyện Bô xít! Dù việc dàn dựng không thành công về kỹ thuật nhưng báo chí trong nước không dám phê phán, nay mai ông Cù Huy Hà Vũ bị đưa ra tòa về cả hai vụ, báo chí lề phải sẽ tường thuật hết! Nhờ tin tức sôi nổi quanh xì căng đan này mà mọi người quên đi mối đe dọa của Bùn đỏ Nguyễn Tấn Dũng. Quên đi cả mối quan hệ giữa mối nguy bùn đỏ với áp lực từ Bắc Kinh đang muốn xếp đặt Bộ Chính Trị mới trong kỳ đại hội sang năm! Khi các ông lớn trong Bộ Chính Trị mổ lẫn nhau thì ngư ông ở Bắc Kinh lại thấy sức ép của mình càng mạnh và có hiệu quả hơn! Dù việc bắt giữ Cù Huy Hà Vũ có luộm thuộm, ngớ ngẩn, bị thiên hạ chê cười, nhưng nếu sang năm Bắc Kinh xếp đặt được đúng người của họ vào cái ghế tổng bí thư, thì kể như công tác vẫn đạt thành quả cao! Khi đó, bùn đỏ có thể được đổi tên, không còn là Bùn Nguyễn Tấn Dũng nữa!

Posted: Thu Nov 18, 2010 5:19 am
by dailien
Về lại nhà tù lớn

Xuyến Như, chuyển ngữ theo The Economist
Một lần nữa, Aung San Suu Kyi, lãnh tụ đối lập Miến được trả tự do trên lý thuyết. Ðợt quản thúc mới nhất vừa kết thúc hôm nay, 13 tháng 11, 2010, khi bà vừa mới được trả tự do tại Yangon lại bị bắt lại ngay vì bà dám tiếp xúc ngay với hàng nghìn người ủng hộ bà.
Image
Lãnh tụ Aung San Suu Kyi (giữa) vừa được chính quyền Myanmar trả tự do, ngày 16 tháng 11, 2010. (Hình: Soe Than Win/AFP/Getty Images)



Những lần trước, gọi là trả tự do thực ra cũng chỉ là nói mà chơi thôi. Nhà cầm quyền quân phiệt đã hết sức hạn chế hoạt động của bà nên chỉ xem như là họ trả bà về với nhà tù lớn thôi.

Lần này, bà Suu Kyi trở về trong một bối cảnh chính trị đã có phần thay đổi. Hôm 7 tháng 11, 2010 vừa rồi, lãnh đạo quân phiệt Miến tổ chức tuyển cử lần đầu sau 20 năm gián đoạn. Họ làm vậy chẳng phải là để giao quyền lại cho các chính khách dân sự đâu, mà thực ra chỉ là để cho đám quân phiệt tiếp tục giữ lại quyền lực. Thật thế, chính đảng của giới quân phiệt đã tuyên bố thắng lớn. Tuy nhiên, cuộc tuyển cử này ít ra cũng dè sẻn màu mè đa đảng trong một định chế toàn trị.

Câu hỏi đặt ra lúc này là bà Suu Kyi sẽ xoay sở thế nào trong bối cảnh chính trị mới này. Nếu dựa theo kinh nghiệm quá khứ thì có lẽ bà phải ứng xử như một chính khách. Theo lời luật sư của bà thì bà Suu Kyi sẽ không chấp nhận bất kỳ một hạn chế hoạt động nào trong thời gian tới. Bà đã hẹn với công chúng ủng hộ bà chiều nay rằng ngày mai, 14 tháng 11, 2010, bà sẽ có lời tuyên bố chính thức với đồng bào.

Tuy vậy, chính đảng Liên Ðoàn Quốc Gia Vì Dân Chủ (National League for Democracy, NLD) nay đã chính thức bị giải thể, và giới quân phiệt trước nay không hề nhân nhượng với các hoạt động chính trị của bà. Họ rất căm giận vì bà có uy tín lớn với quốc tế - bà được giải Nobel Hòa Bình năm 1990 - nên đã ra sức trấn áp đối lập chính trị tại quốc nội, họ lo sợ rằng tiếng tăm của bà có thể đe dọa vị thế quyền lực của họ.

Ngay trước khi bà được trả tự do, hàng trăm người đã tụ tập gần nhà bà và quanh trụ sở của Liên Ðoàn Quốc Gia vì Dân Chủ (NLD) trước kia. Ðây là một sự kiện đáng chú ý trong hoàn cảnh giới quân phiệt cố tình muốn thủ tiêu hình ảnh bà trên hệ thống truyền thông đại chúng do chính họ kiểm soát.

Nhưng bà Suu Kyi là một khuôn mặt đặc biệt. Sự kiện bà là con gái của Aung San, người anh hùng giải phóng cho độc lập quốc gia Myanmar, là một lợi điểm. Kế đó là vẻ duyên dáng của bà đã thu hút khối lớn công chúng khi bà từ Anh Quốc trở về nước năm 1988 để chăm nom thân mẫu bị yếu mệt. Ngay cả trong thời gian bị quản thúc tại gia, uy thế của bà đã giúp cho Liên Ðoàn Quốc Gia Vì Dân Chủ thắng cử vang dội trong cuộc tuyển cử năm 1990, nhưng kết quả bầu cử không được tôn trọng. Và sự kiên trì sắt đá của bà trong suốt thời gian hai thập niên bị trấn áp càng khiến bà được công chúng quý trọng thêm.

Tuy vậy, không phải là bà không bị phê phán đâu. Ðám quân phiệt xem ra quyết tâm giữ quyền lực, ngay cả sau khi đã tổ chức tròn trịa một cuộc tuyển cử giả hiệu để lập một chính phủ dân sự. Người ta trách bà là đã từ chối thỏa hiệp. Năm 1995, bà đã rút Liên Ðoàn Quốc Gia Vì Dân Chủ ra khỏi “nghị hội quốc gia” để thảo ra Hiến Pháp mới. Cuối cùng thì, như đã đoán trước, đám quân phiệt đạt được toan tính ban đầu: họ tiếp tục nắm quyền lực. Cuộc trưng cầu ý dân gian lận tổ chức năm 2008 đã thông qua kết quả này.

Năm nay, bà Suu Kyi lại quyết định là liên đoàn tẩy chay cuộc tuyển cử. Ðiều này dẫn đến việc liên đoàn bị giải thể, rồi dẫn đến phân hóa, vì một nhóm tách ra để tham gia tuyển cử. Có thể là họ có nguyên tắc, nhưng cả hai lần tẩy chay hẳn nhiên là sai lầm. Nói cho đúng, cả hai lần tẩy chay kia có thể tạo nên phần nào tính chính đáng nhưng cũng không tránh khỏi bị loại trừ.

Ðây là lần thứ ba bà Suu Kyi được trả “tự do,” kể từ khi bà bị quản thúc năm 1989. Lần bà được trả tự do năm 1995 đã nhen chút hi vọng, khi giới quân phiệt cho phép thông tấn nước ngoài được gặp bà. Ðã có lúc tưởng chừng bà được phép hoạt động chính trị. (Lần này thì thông tấn nước ngoài bị cấm, như là họ bị cấm trong ngày tuyển cử vừa rồi, và các tòa đại sứ và tổng lãnh sự khá cực nhọc khi loại những kẻ thâm nhập dưới danh nghĩa “du khách”).

Giới quân phiệt chắc sẽ không cho bà đi lại thoải mái để gặp gỡ thành viên và những người cảm tình viên với liên đoàn. Năm 2000, bà đã bị giữ suốt 19 tháng. Mới được trả tự do vào tháng 12, 2002, bà lại bị bắt lại năm 2003 vì họ quy tội cho bà là đã can dự vào cuộc tàn sát khi đoàn xe bà đi cùng lại bị bọn đầu gấu do phe quân phiệt thuê tấn công. Họ lại còn kéo dài thêm hạn giam lỏng bà vào tháng 5 năm ngoái khi quy tội cho bà vốn chỉ là nạn nhân của một vụ đột nhập mà một người Mỹ hơi bất bình thường, bơi qua hồ gần nhà bà và bảo rằng ông đến thăm bà theo lệnh truyền của Thượng Ðế!

Lần giam giữ này hết hạn vào ngày 13 tháng 11. Giới quân phiệt vẫn tỏ ra kiên định với sự cứng rắn của họ khi họ thiết định luật lệ trán áp. Có lẽ vì thế mà cuộc tuyển cử vừa qua đã được sắp xếp một tuần trước ngày trả tự do cho bà, cho đến ngay lúc này đây giới tướng lĩnh quân phiệt cũng chưa thể lường trước được là bà sẽ tác động đến công luận ra sao.

Ðến đây, chúng tôi xin bày tỏ đôi ba ý kiến riêng. Chúng tôi đã hân hạnh được gặp bà vài lần vào những năm 1990, và vô cùng ngưỡng phục sự dũng cảm, vẻ nghiêm nghị và cả sự dí dỏm của bà. Người ta cứ vẽ ra hình ảnh của một Suu Kyi nguyên tắc nhưng cố chấp, chẳng biết nhân nhượng giới quân phiệt, quên rằng bà từng bị chính cánh đối lập chê trách. Lần bà được trả “tự do” năm 1995, lúc ấy ai ai cũng nghĩ tới thiện ý đối thoại và thỏa hiệp với những người vẫn còn mơ tưởng rằng với thành quả tuyển cử vang dội năm 1990 thì sẽ chẳng bao lâu có thể quét sạch bọn quân phiệt. Bà Suu Kyi thực sự vẫn bám chắc nguyên tắc của Gandhi. Bà dứt khoát loại trừ giải pháp bạo động mà một số người theo bà hi vọng bà sẽ lãnh đạo để tạo ra cuộc cách mạng đối đầu giữa quần chúng và giới quân phiệt.

“Nên nhớ rằng sự linh hoạt và sự nhu nhược là hoàn toàn khác hẳn nhau,” bà đã nói với The Economist như thế vào lúc đó. Một sợi thép mạnh được là nhờ nó linh hoạt, chiếc đũa thủy tinh xem ra cứng cỏi đấy nhưng có thể gãy dễ dàng. Trong ngần ấy năm, bọn quân phiệt đã làm đủ trò để mong bà trở thành chiếc que thủy tinh. Xem ra họ chưa thành công.

(Nguồn: Thông Luận)

Posted: Sat Nov 20, 2010 1:56 am
by thienthanh
Hội Thảo Biển Ðông tại Sài Gòn - lời kể người trong cuộc

'Học giả Trung Quốc là nạn nhân của tuyên truyền'

Hà Giang/Người Việt
VIỆT NAM - Với chủ đề “Biển Ðông: Hợp tác vì an ninh và phát triển trong khu vực,” buổi hội thảo quốc tế về Biển Ðông lần thứ 2, được tổ chức tại Sài Gòn, vào hai ngày 11 và 12 tháng 11 vừa qua, thu hút được gần 120 người tham dự, gồm các học giả từ các nước ASEAN, Trung Quốc, Ðài Loan, Australia, Belgium, Canada, Pháp, Ðức, Thụy Ðiển, Ấn Ðộ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hoa Kỳ, cùng đại diện các cơ quan ngoại giao nước ngoài ở Việt Nam.
Image
Giáo Sư Carl Thayer cùng các đại biểu tham dự hội thảo quốc tế về biển Ðông tại Sài Gòn, lắng nghe ý kiến của các bên.



Cuộc hội thảo, theo lời người tham dự, “thu hút được số người tham dự đông đảo hơn, và đã có những phút tranh luận căng thẳng hơn giữa những học giả người Việt Nam với học giả Trung Quốc, về một vấn đề rất nhậy cảm với người dân của hai nước, đó là chủ quyền trên Biển Ðông.”

Ngay sau khi buổi hội thảo vừa chấm dứt, báo chí trong lẫn ngoài nước đã ào ạt đăng những bài tường thuật, hay bình luận về hiệu quả của buổi hội thảo quan trọng này.

Lẫn trong những bài viết này, là một tường thuật về cuộc phỏng vấn khá căng thẳng giữa phóng viên của báo mạng VietNamNet (VNN) và học giả Trung Quốc, Vương Hàn Lĩnh, có tựa đề: “Học giả Trung Quốc đe dọa Việt Nam.” Một số bloggers đã nhanh chóng đưa nguyên nội dung bài phỏng vấn này, cũng như đường dẫn vào website của VietNamNet, vào blog của họ, nhưng khi người ta bấm vào đường dẫn này thì gặp phải hàng chữ: “Không tìm thấy trang, bạn vui lòng kiểm tra lại đường dẫn.”

Học giả Trung Quốc Vương Hàn Lĩnh đã nói lời gì được xem là có tính cách đe dọa?

Bài viết “Học giả Trung Quốc đe dọa Việt Nam,” trích dẫn:



VNN: Xin ông cho biết, vì sao phía Trung Quốc vẫn kiên trì với cách tiếp cận song phương đối với các tranh chấp trên Biển Ðông?

Vương Hàn Lĩnh: Bởi vì cách giải quyết giữa hai bên liên quan, theo cái cách mà hai bên cho rằng công bằng nhất, là giải pháp tốt nhất. Còn sự tham gia của bên thứ ba chỉ làm phức tạp thêm tình hình.

Hơn nữa, nếu bên thứ ba lại tham gia bằng cách dùng vũ lực, hay các biện pháp phi hòa bình, thì ngay cả nếu tranh chấp được giải quyết, anh sẽ gặp rắc rối trong tương lai.

Tôi muốn nhắc lại nếu không chọn cách giải quyết như tôi vừa nêu, các anh sẽ phải hứng chịu các xung đột bằng vũ lực, hoặc thậm chí chiến tranh. Ðiều này không hề tốt cho tương lai.


Thế nhưng lời nói của TS Vương Hàn Lĩnh đã khiến mọi người phẫn uất là đoạn hỏi đáp sau đây:

VNN: Xin quay lại chuyện chủ quyền, Trung Quốc nói có chủ quyền và quyền tài phán từ hơn 2000 năm nay. Phía Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và chứng cớ pháp lý, chẳng hạn với quần đảo Hoàng Sa, từ hàng trăm năm nay. Ông nói sao?

Vương Hàn Lĩnh: Nên nhớ rằng cho đến năm 1885, Việt Nam vẫn là thuộc quốc của Trung Quốc.

Phóng viên của nhật báo Người Việt tiếp xúc với Giáo Sư Carl Thayer, thuộc Học Viện Quốc Phòng Australia, người đã có nhiều năm nghiên cứu về Việt Nam, và cũng là một học giả tham gia hội thảo này để tìm hiểu về sự kiện này và nghe nhận xét của ông, theo cái nhìn từ bên trong buổi hội thảo.

Giáo Sư Carl Thayer cho biết, theo ông: “Qua buổi hội thảo này, Việt Nam đã thành công trong việc đem vấn đề tranh chấp chủ quyền Biển Ðông thành một vấn đề quốc tế.”

“Phải nói lần này Việt Nam đã tiến xa, vì tôi cũng tham dự buổi hội thảo về Biển Ðông lần thứ 1, và lúc đó được một người bạn là một phóng viên Việt Nam thì thầm dặn là 'đừng nói gì đến chữ 'internationalization' (quốc tế hóa) nhá, chúng tôi bị cấm không được dùng chữ đó.” Ông chia sẻ.

GS Thayer nhận định: “Lần này, thì với sự can thiệp của Hoa Kỳ, Biển Ðông đã trở thành vấn đề quốc tế, và trong khung cảnh đó, Trung Quốc và những quốc gia trong khối Asean cùng học giả của nhiều quốc gia đã gặp nhau ở mức chuyên gia để tìm cách tìm ra những thoả thuận và hợp tác trong lĩnh vực quốc phòng, cũng như thúc đẩy DOC.”

Ðược hỏi về những căng thẳng của buổi hội thảo, ông cho biết là buổi tranh luận trở nên “có lửa,” nhất là lúc những thuyết trình viên của Hội Luật Gia Việt Nam trình bày về tranh chấp chủ quyền tại Biển Ðông với Trung Quốc.

“Họ (những luật sư) phân tích và bác bỏ một cách lạnh lùng, tỉ mỉ, đanh thép, và chắc nịch về việc Trung Quốc đòi chủ quyền của họ trên Biển Ðông theo bản đồ lưỡi bò, và họ hùng hồn đến nỗi người nghe thấy là cái bản đồ lưỡi bò đó không có một căn cứ nào về chứng cớ lịch sử theo đúng luật biển quốc tế.”

Cũng theo Giáo Sư Carl Thayer, thì các diễn giả Trung Quốc, mặt khác, không có vẻ hung hăng lắm trong việc tranh cãi, mà họ muốn hướng cuộc thảo luận đến việc hợp tác trong việc khai thác ngư nghiệp tại Biển Ðông.

”Các diễn giả Trung Quốc lên án Hoa Kỳ là đã can thiệp vào những tranh chấp của riêng Asean, nhưng họ không hùng hồn lắm, như nói vì bổn phận phải nói.” Ông kể lại.

Trả lời câu hỏi của Người Việt là ông có chứng kiến cuộc phỏng vấn giữa phóng viên của Việt Nam Net với học giả Trung Quốc Vương Hàn Lĩnh không, ông cho biết là giới truyền thông, gồm khoảng 25 người không được tham dự cuộc hội thảo.

“Họ bị bắt đứng chờ ở ngoài một hành lang dài nhỏ xíu, bên ngoài phòng họp, và chỉ được tiếp xúc với những người tham dự trước hay sau giờ họp, hoặc lúc nghỉ 15 phút, hay giờ ăn trưa.”

“Hãy thử tưởng tượng chỉ có 15 phút nghỉ cho một phòng họp hơn 100 người, thì biết công việc của giới truyền thông ở đó khó như thế nào.” Ông nói.

“Chính tôi cũng được một tờ báo lớn nổi tiếng của Sài Gòn phỏng vấn, nhưng toàn bài phỏng vấn cũng không được đăng, vì bị cho là ‘nhạy cảm quá!’”

Ông cho biết không chứng kiến cuộc phỏng vấn đầy căng thẳng này, nhưng xác nhận là vấn đề “cho đến năm 1885, Việt Nam vẫn là thuộc quốc của Trung Quốc” có đựơc học giả Trung Quốc Vương Hàn Lĩnh đề cập đến, trong bài viết của ông, và đã “mau chóng bị nhiều học giả Vịêt Nam dẹp đi.”

Giáo Sư Carl Thayer nhấn mạnh rằng, đây là một cuộc hội thảo có tính cách “khoa bảng” nhiều hơn là chính trị, và nhận định rằng các học giả Trung Quốc đến đây mới “ngỡ ngàng rằng khi họ mang những điều họ học ở trong nước để ra ngoại quốc, va chạm với những dữ kiện mới, với những sự thật mới, thì họ phải suy gẫm và tìm tòi hơn khi về nước.”

Bất kể những giây phút căng thẳng, Giáo Sư Carl Thayer nhận định rằng buổi hội thảo quốc tế về Biển Ðông lần thứ 2 đã mang đến được một kết quả tích cực, vì trong hai tiết mục cuối, là phần “Giải quyết những tranh chấp” và “Hợp tác tại Biển Ðông,” Việt Nam đã rất khôn khéo đưa ra phương cách để Trung Quốc có thể bước ra khỏi thái độ cứ khăng khăng khẳng định Biển Ðông là của mình, mà phải tìm cách hợp tác với các nước Asean vì an ninh và phát triển trong khu vực.

“Vấn đề tranh chấp chủ quyền trên Biển Ðông có lẽ sẽ chuyển thành việc tìm phương cách để cùng hợp tác, và không ai nhắc đến 'quyền lợi cốt lõi' nữa.” Ông kết luận.

Posted: Sun Nov 21, 2010 5:25 am
by tranphuongdong
“Túi khôn dân tộc” bác bỏ hoàn toàn cương lĩnh của Bộ Chính Trị

Bùi Tín

Ðây là một tin cực kỳ hệ trọng.
Một tin động trời, có thể nói trời nghiêng đất ngả cho thế lực cường quyền.


Image
Các thành viên Bộ Chính Trị Trung Ương Ðảng CSVN tại buổi họp với Ðảng Ủy Quân Sự Trung Ương ở Hà Nội. (Hình: TTXVN)



Sự kiện như thế này chưa từng có trong lịch sử 70 năm của đảng Cộng Sản Việt Nam.

Tác động của sự kiện này chưa thể lường hết được.

Ngày 7 tháng 10 năm 2010 vừa qua tại Hà Nội hơn 20 trí thức hàng đầu của thủ đô, đều là đảng viên cộng sản kỳ cựu, hơn nữa đều là đảng viên cấp cao, do Bộ Chính Trị quản lý, đã tụ tập trong một cuộc hội thảo khoa học rất lý thú.

Danh nghĩa của cuộc họp là do Hội khoa học kinh tế Việt Nam và Trung tâm thông tin, dự báo kinh tế - xã hội quốc gia cùng phối hợp tổ chức, nhằm “góp ý cho các dự thảo văn kiện Ðại hội XI của đảng Cộng sản”. Các dự thảo chính là báo cáo chính trị của ban chấp hành trung ương, cương lĩnh quá độ lên chủ nghĩa xã hội và chiến lược kinh tế - xã hội 2010-2020, thường gọi tắt là Báo cáo chính trị, Cương lĩnh và Chiến lược, mà quan trọng nhất là Cương lĩnh.

Xin kể một vài tên tuổi và chức vụ của những người tham dự. Có Giáo Sư Trần Phương, nguyên ủy viên trung ương đảng, phó thủ tướng ; ông Vũ Khoan, nguyên bí thư trung ương đảng, phó thủ tướng; Phó Giáo Sư Trần Ðình Thiên, hiện là viện trưởng Viện Kinh Tế; Giáo Sư Phan Văn Tiệm, nguyên thứ trưởng Bộ Tài Chính; ông Việt Phương, nguyên cố vấn của thủ tướng; Giáo Sư Ðào Xuân Sâm, dạy môn quản lý kinh tế tại trường đảng Nguyễn Ái Quốc; bà Phạm Chi Lan, nguyên cố vấn kinh tế của thủ tướng; bà Dương Thu Hương, nguyên phó thống đốc Ngân hàng Nhà nước; Phó Giáo Sư Võ Ðại Lược, nguyên viện trưởng Viện Kinh Tế Thế Giới; ông Nguyễn Trung, từng là đại sứ ở Thái Lan; ông Vũ Quốc Tuấn, cố vấn chính trị - kinh tế của thủ tướng; Tiến sỹ Lê Ðăng Doanh; Tiến sỹ Nguyễn Mại; Giáo sư Lê Du Phong; Giáo sư Nguyễn Ðình Hương; Tiến sỹ Lưu Bích Hổ; Giáo sư Vũ Huy Từ; Giáo sư Ðào Công Tiến...

Suốt 9 tiếng đồng hồ, hơn 20 vị phát biểu ngắn gọn, súc tích, mỗi lần chỉ 10 phút, được ghi âm và ghi vào biên bản, nhằm chuyển cho ban dự thảo các văn kiện. Trưởng ban dự thảo mỗi văn kiện là tổng bí thư hay một ủy viên Bộ Chính Trị, đều không có mặt...

Các vị trí thức đảng viên cấp cao trên đây có thể coi là một mảng tinh hoa của đảng cộng sản, được đảng tuyển lựa, học hành bài bản, nói chung giỏi ngoại ngữ Pháp, Anh, Nga, Trung Hoa... có kinh nghiệm cầm quyền. Họ có thái độ khoa học khách quan, vô tư, phần lớn đã nghỉ hưu, đang hoạt động tự do, có tư duy độc lập, nói chung không dính dáng với các nhóm thân hữu, cánh hẩu, các nhóm lợi ích riêng, tham nhũng, tệ hại trong nền kinh tế phe phái (crony economy) như các chuyên gia của Ðại Học Harvard Hoa Kỳ tại Việt Nam phát hiện và đặt tên.

Các nhân vật trên đây, theo tôi, có thể gọi là một “think tank” mới mẻ, một “túi khôn” đặc sắc, quý báu của dân tộc, vì rõ ràng qua từng lời phát biểu có trách nhiệm, họ tỏ ra gắn bó với nhân dân, với dân tộc, không theo đuôi, không sợ hãi, không ham danh vọng tiền tài, những điều cực kỳ quý hiếm khi toàn đảng sa sút, mất uy tín, khi xã hội băng hoại khủng khiếp do nạn độc đảng, độc đoán dai dẳng gây nên.

Họ đã nói, đã góp ý kiến những gì? Xin mời các bạn mở mạng Viet-Studies để đọc nguyên văn 9 trang biên bản ghi ý kiến từng người. Cực kỳ sinh động, lý thú, mở mang hiểu biết cho người đọc.

Tôi xin tóm lược trung thực gọn ghẽ như sau.

Một nét chung là cả hơn 20 vị đều tỏ ra có tư duy độc lập, suy nghĩ kỹ lưỡng bằng cái đầu tỉnh táo riêng của chính mình, nhưng lại đạt đến sự đồng thuận đến kỳ lạ. Mỗi vị phát biểu sau đều nói lên sự đồng ý sâu sắc với những ý kiến phát biểu trước, chỉ nói thêm những điều mới mẻ hay nhấn mạnh thêm, bổ sung thêm ý của người phát biểu trước. Không có ý nghĩ, quan điểm nào trái nhau giữa hơn 20 vị tham dự hội thảo.

Nét nổi bật thứ 2 là hầu hết những đường lối, chính sách then chốt, chủ yếu nhất trong Cương lĩnh và Chiến lược do Bộ Chính Trị hiện tại và ban chấp hành trung ương đương nhiệm thông qua trong những kỳ họp 11 và 12 khóa X đều bị bác bỏ và phê phán rất thẳng thắn, đúng mức. Tất cả đều cho rằng đường lối “kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin” là sai lầm, giả dối, nguy hiểm vì Mác mắc nhiều sai lầm cơ bản (như cổ súy cực đoan đấu tranh giai cấp, căm thù quyền tư hữu, tiêu diệt sở hữu cá nhân, thổi phòng một cách cực đoan sở hữu nhà nước), do đó đã phá sản hoàn toàn ở Ðông Âu, Liên Xô, và tàn phá nền kinh tế các nước XHCN, trong đó có Việt Nam.

Tất cả đều cho rằng đường lối “kiên định chủ nghĩa xã hội” cũng là sai lầm, giả dối vì chủ nghĩa xã hội hiện thực từng áp dụng ở hơn một chục nước (ở Việt Nam từ 1960 đến nay) đều thất bại, phá sản hiển nhiên. Còn chủ nghĩa xã hội trước mắt và tương lai, gắn liền với kinh tế thị trường, thì chưa ai hình dung ra sao, làm sao mà thực hiện được. Ðây là một quan điểm ảo tưởng, viển vông, lừa dối, không khoa học.

Còn mục tiêu xây dựng một xã hội Dân chủ, Bình đẳng, Hiện đại, Văn minh chỉ là nói suông, là bánh vẽ, nhằm lừa dối nhân dân và tự lừa dối mình, vì kèm theo không có những biện pháp hiện thực để thực hiện. Ðặc biệt khái niệm dân chủ - dân chủ trong xã hội và dân chủ trong đảng - là vấn đề then chốt nhất, cần thực hiện cụ thể rõ ràng thì lại không có biện pháp thiết thực.

Tất cả các vị tham gia hội thảo đều nhất trí cho rằng vấn đề chính trị lớn nhất, cơ bản và cấp bách nhất là đổi mới hệ thống chính trị, là thay đổi cơ chế lãnh đạo của đảng và nhà nước, vì tổ chức hệ thống cai trị, cầm quyền hiện nay quá cũ kỹ, không hợp lý, không hợp pháp, vai trò của Quốc Hội được xác định trong Hiến pháp là cơ quan quyền lực cao nhất của đất nước nhưng thực tế lại không có thực quyền, việc gì cũng phải chờ quyết định của “Thường vụ Bộ Chính Trị”, mà nhóm người này bao biện, ôm đồm, trình độ kém, không do dân cử, không có quyền gì theo Hiến pháp hay pháp luật.

Về kinh tế, có rất nhiều ý kiến mạnh bạo mới mẻ. Tất cả các vị đều cho rằng quan điểm coi hình thức “sở hữu quốc doanh đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế” là sai lầm lớn, nguy hiểm, tai hại, trái với quan điểm bình đẳng trước pháp luật giữa mọi hình thức sở hữu. Sự phá sản, lỗ nặng của biết bao tổng công ty, tập đoàn kinh tế quốc doanh chưa đủ để mở mắt những người viết dự thảo hay sao?

Việc các bộ từ bỏ vai trò đề ra và quản lý việc thực hiện chính sách, lại chỉ chăm lo làm cái việc điều hành các tổng công ty quốc doanh là một lệch lạc tệ hại nguy hiểm.

Việc hạn chế trên thực tế hoạt động kinh doanh của tư nhân, ngăn cản tư nhân lập những tổng công ty hùng mạnh cũng như vừa và nhỏ... như ở Nhật Bản, Nam Triều Tiên, v.v. là một sai lầm nghiêm trọng, coi nhẹ động lực kinh doanh tư nhân hợp pháp, kìm hãm động lực vô tận của nền kinh tế quốc dân.

Nhiều đại biểu vạch rõ các quan chức ở các bộ mê say tổ chức các công ty quốc doanh vì đó là “sân sau” làm ăn, lũng đoạn, thu lợi phi pháp, làm giàu bất chính của các quan chức đương quyền.

Có đại biểu nêu lên việc Chiến lược 10 năm đưa Việt Nam lên hàng ngũ một nước công nghiệp, với bình quân giá trị sản phẩm hàng năm là 3,000 đôla là một điều mỉa mai chua chát, vì Hungary từ năm 2009 đã đạt 15,000 đôla. Ðã vậy không tìm ra chỗ nào ghi biện pháp cụ thể, bằng những bước đi nào, để hiện đại hóa nền công nghiệp nước ta.

Tất cả các vị đều cho rằng vấn đề nông dân đã bị bỏ qua một cách nguy hiểm vì nông dân vẫn chiếm gần 70% số dân, quyền sở hữu tư nhân về ruộng đất vẫn mù mờ - “sở hữu toàn dân” kỳ quặc, không giống nước nào, không quan tâm thực sự đến đại đa số dân cư, từng được hứa hẹn về liên minh công nông mà không có nội dung, biện pháp thực hiện.

Cuộc hội luận báo động về nạn tham nhũng bất trị, về đạo đức xã hội sa sút thê thảm, về nền giáo dục bế tắc mà Cương lĩnh và Chiến lược chỉ đưa ra vài khẩu hiệu cũ kỹ, không hiệu quả.

Tất cả đều phê phán các văn kiện dài lê thê mà rỗng, đặc biệt là xa rời thực tế, xa rời cuộc sống, xa rời nhân dân, nhấn mạnh giai cấp mà coi nhẹ dân tộc.

Về đường lối đối ngoại, tất cả tham luận đều phê phán quan điểm đối với Trung Quốc không rõ ràng, như kiêng kỵ, ấp úng, e ngại, sợ sệt. Sao không đàng hoàng nói điều cần nói, cần bàn bạc trong đảng, trong xã hội, minh bạch công khai, đặc biệt là lúc này, khi có vấn đề biển Ðông...

Sau khi phát biểu ngay thật góp ý xây dựng, trong thời gian cuối, các đại biểu cho rằng các văn kiện đều chứa quá nhiều sai lầm, mâu thuẫn, hầu hết sai lầm lệch lạc, thiếu sót là trong đường lối, chính sách, trong các quan điểm cơ bản. Coi như những cột cái của một ngôi nhà đều ọp ẹp, đổ gãy.

Mọi người cho rằng các văn kiện cần phải viết hẳn lại, không thể sửa chữa nhỏ, thêm bớt bộ phận.

Cũng có ý kiến trước khi chia tay là nếu không kịp viết lại thì thà rằng khất lại một thời gian, còn hơn là thông qua những dự thảo yếu ớt, giáo điều, sai lạc đầy rẫy như thế này.

Một đại biểu bi quan cho rằng lãnh đạo hiện nay không có khả năng lắng nghe và tiếp thu lẽ phải, trong khi các văn kiện đại hội XI là thụt lùi rõ ràng so với văn kiện các đại hội IX và X.

Cũng có một đại biểu trong giây phút cuối nghĩ ra một sáng kiến là chẳng lẽ khoanh tay để cho tình hình đất nước tiếp tục sa sút, suy đồi, bế tắc với vô vàn thảm họa to lớn hơn, toàn dân phải gánh chịu, nên chăng cần có một lá cờ, nghĩa là một lực lượng, một tổ chức trong sáng bảo vệ và quảng bá những chính kiến đúng đắn, xây dựng, được nghiền ngẫm kỹ, vừa được phát biểu trong cuộc hội thảo rất có giá trị này. Riêng ý này chưa được bàn thêm.

Mong rằng Bộ Chính Trị và Học Viện Chính Trị - hành chính quốc gia gồm những cây bút tin cẩn của Bộ Chính Trị, phản biện được những phản biện của cuộc hội thảo này, có đủ lý lẽ để giữ nguyên các văn kiện mà Bộ Chính Trị vừa mời toàn dân góp ý, hạn cuối là ngày 30 tháng 11 năm nay.

Có mà đội đá vá trời! Tôi nghĩ thế.

Thật đại phước cho dân tộc và nhân dân ta, trong cơn nguy biến, vẫn còn một “túi khôn dân tộc” chất lượng cao đang dấn thân cho Ðại nghĩa Dân tộc.

Hy vọng còn nhiều “túi khôn” nữa.

Một Xã hội Dân sự có chất lượng ngày càng cao, số lượng ngày càng đông, mang nhiều màu sắc, đang vẫy gọi nhau, khoác vai nhau, đồng hành trên con đường cứu nước. Ðẹp quá!

(Nguồn: VOA)

Posted: Mon Nov 22, 2010 8:29 am
by nguyenvsau
Ai sẽ giải cứu Luật sư Cù Huy Hà Vũ ?

Trên Mạng Dân Luận, bạn Lưu Mạnh Anh đặt vấn đề ai sẽ giải cứu Luật sư Cù Huy Hà Vũ ?

Đây là vấn đề thời sự rất cấp bách, rất cần thiết, hợp đạo lý và luật pháp, cần đặt ra trước công luận trong nước và quốc tế.

Đã có một loạt cá nhân và tổ chức trong và ngoài nước lên tiếng lập tức và mạnh mẽ đòi chính quyền Việt Nam phải trả ngay tự do cho Luật sư Hà Vũ.

Hiện nay anh Hà Vũ đã bị khởi tố về tội « tuyên truyền chống nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam », bị tạm giam 4 tháng, và khi ra tòa xét xử, anh có thể bì kết án từ 5 đến 10 năm tù giam .

Đây là một vụ án cực kỳ phi lý, nếu theo đúng Hiến pháp, luật pháp Việt Nam cũng như các Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc tế mà Việt Nam đã cam kết tôn trọng .

V ì tất cả những chính kiến của anh Hà Vũ đều dựa vững trên quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí , mang tính chất xây dựng cho chính quyền, với động cơ duy nhất là bảo vệ những quyền lợi tối cao của nhân dân và đất nước.

Nếu muốn bịt mồm, trừng phạt tất cả mọi người cùng chung chính kiến, cùng chung thái độ chính trị xây dựng nhưng không vừa lòng, không hợp ý với 15 vị trong Bộ chính trị, thì sao họ không dám đụng đến, không kiếm cớ để tạm giam luôn bà Nguyễn Thị Bình, tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, ông Lê Hữu Đằng, nguyên thứ trưởng Đặng Hùng Võ, Tiến sỹ Nguyễn Quang A và hàng ngàn vị khác đã tỏ ra đồng tình với anh Hà Vũ ?

Chính quyền đã tỏ ra rất lúng túng, vụng về, bị động, tiến thoái lưỡng nan trong vụ án chấn động này. Họ bày chuyện bắt anh Hà Vũ về tội ‘mua dâm’ một cách ngớ ngẩn, chắp nối những ảnh chụp từ 8 tháng trước, rồi bày ra chuyện khám phá ra những tài liệu chống chính quyền, trong khi tất cả các tài liệu ấy đều là những bài báo công khai từ vài tháng nay rồi. Cơ quan điều tra của Bộ công an tỏ ra vụng dại đến ngớ ngẩn !

Vì bị động nên chính cơ quan công an và tư pháp không dám sòng phẳng, đồng ý hay bác bỏ việc Luật sư Trần Đình Triển và Luật sư Dương Hà đứng ra bảo vệ bị can trước tòa .

Vì loay hoay bị động nên chính quyền không dám tổ chức sớm phiên tòa xét xử công khai để đông đảo nhân dân tham dự, để truyền thanh và truyền hình cho toàn dân theo dõi. Họ đang lúng túng to, cố nghĩ ra mưu kế để khỏi trở thành bị cáo trong một vụ án công khai chấn động, để thoát khỏi cảnh ‘ gậy ông đập lưng ông ‘, làm trò cười cho toàn dân và thế giới. Được biết việc chọn ai chịu đứng ra làm Chánh án và những ai tham gia Hội đồng xét xử đang bế tắc, vì không ai muốn ở một cương vị khó khăn gay go khó xoay sở đến thế .

Đã vậy, lãnh đạo nhà nước và lãnh đạo đảng đang bị chiếu tướng trở lại. Bà Dương Hà kiện lại chính quyền. Nhiều thành viên khác của gia đình đã khởi kiện . Chú ruột và người Trưởng họ Cù cũng phát đơn kiện chính quyền. Một vụ án đẻ ra nhiều vụ án mới, mà ỉm đi thì không xong.

Xin bạn Lưu Mạnh Anh chớ quá lo cho số phận của Luật sư Hà Vũ.

Tôi hình dung anh Hà Vũ đang mỉm cười trong nhà tạm giam. Anh đang ngâm thơ và rung đùi nữa. Tuy ‘một ngày bị giam bằng nghìn năm tự do’ nhưng tình thế đã đổi thay, và còn đổi thay nhanh. Chính những vụng dại, sơ hở, có khi ngớ ngẩn do chủ quan duy ý chí mà các nhà lãnh đạo đã tự hại mình.Trong vụ án khờ khạo này, 15 vị chóp bu cũng không nhất trí trong đường đi nước bước, giũa lúc họ lại đang kèn cựa nhau quyết liệt dành vị trí tại Đại hội XI sắp đến.

Cho nên ai sẽ giải cứu người Luật sư của nhân dân và của dân tộc Cù Huy Hà Vũ ?

Đó là Hiến pháp và luật pháp buộc phải nghiêm minh trước con mắt của Nhân dân sẽ cứu Anh ;

Đó là Công luận xã hội đã chuyển biến lớn để phân biệt rõ đúng sai, phải trái, sẽ cứu Anh ;

Đó là Công luận thế giới, báo chí thế giới, là các tổ chức Quốc tế như HRW, như RWB – Phóng viên không biên giới , như Văn bút Quốc tế …sẽ cứu Anh ;

Đó là nhiều tổ chức dân chủ và nhân quyền, là cư dân Blog, Internet, là mạng Bauxite gồm hơn 4 ngàn trí thưc dân tộc, mà anh là Luật sư bảo vệ cho mạng về mặt luật pháp ;

Đó là Sự Thật, Lẽ Phải, lòng Yêu nước sẽ thắng một chính quyền thấp hèn trước bọn bành trướng, chuyên hà hiếp dọa nạt người dân bị phơi bày, sẽ giải cứu Anh ;

Nhưng người sẽ cứu Anh thoát hiểm chủ yếu, quyết định nhất là chính ANH, khi anh đã chọn con đường dấn thân , hy sinh mình cho nhân dân, cho dân tộc, cho dân oan, cho người dân thấp cổ bé họng, do chính bản chất của anh đã phát huytruyền thống cách mạng của dòng họ Cù từ thời Cần Vương.

Tất nhiên Chị Dương Hà Luật sư, người vợ tin yêu của anh, và Luật sư Trần Đình Triển một luật sư Vì dân thật sự đang góp phần không nhỏ để sớm đón Anh trở về trong vinh quang..

Hiện nay lãnh đạo đang bí, định kéo dài vụ án đến sau Đại hội XI, do đó chúng ta không thể để một ngày cho họ yên, không thể để vụ án nằm nghỉ, cần nhắc nhở hàng ngày, vì một ngày anh Hà Vũ mất tự do là một ngày tội ác của Bộ chính trị ; cho nên cần nêu cao yêu cầu phải xét xử vụ án trươc khi họp Đại hội XI (tháng 1-2011) ;

Và bạn đọc Dân luận thân mến, xin bạn hãy vui lòng góp phần của mình và tự tìm cách tốt nhất để tham gia công cuộc giải cứu Anh Hà Vũ quý mến của tất cả chúng ta .

Bùi Tín

Posted: Tue Nov 23, 2010 2:18 am
by thienthanh
Nhân phẩm con người
Sunday, November 21, 2010

Blogger Mẹ Nấm
(Trích menam0.multiply.com)
Nhân phẩm chính là những giá trị phản ánh và tạo nên phẩm chất của từng cá nhân. Mỗi con người đều có những giá trị nhất định. Không ai có quyền chà đạp hay tước đoạt nhân phẩm của người khác. Ðó là bài học “Tôn trọng nhân phẩm” mà tôi đã được học ngày trước, còn thực tế hiện nay thì sao?

Xem báo, coi tin tức hàng ngày, người ta dễ dàng nhận thấy rằng, các giá trị căn bản của con người trong xã hội Việt Nam hiện tại đang bị xem nhẹ.

Báo chí và truyền thông có thể dễ dàng hạ nhục người khác bằng nhiều cách thức, nhiều thủ đoạn.

Những người thừa hành luật pháp có thái độ coi thường nhân phẩm của người khác. Tôi không phát biểu điều này chỉ vì sau khi xem đoạn clip hạ nhục một cô gái điếm đang gây nhiều tranh cãi trên Facebook của bạn bè.

Ðây là những trải nghiệm mà tôi đã chứng kiến hàng ngày.

Nếu ai đã bị tạm giữ (giam), hẳn sẽ trải qua cái cảm giác bị làm nhục ngay ở ngày đầu tiên mới bước chân vô trại giam bằng hình thức tra hỏi và lục xét thân thể trước sự chứng kiến của người thừa hành công vụ, đó là hình thức làm nhục con người vô hình trung tước đoạt luôn ý thức về bản thân của người bị làm nhục.

Tôi còn nhớ, khi bị gọi đi chụp hình và lăn tay để lưu hồ sơ trong trại tạm giữ, tôi đã phản ứng, vì hôm đó là ngày thứ 6 của hạn tạm giữ, và tôi chưa bị kết án. Nhưng họ vẫn tiến hành. Và tôi, đã có vài tấm hình mỉm cười trong chiếc áo tù. Trong giai đoạn chưa có sự kết án của tòa án, thì mọi công dân vẫn có quyền bình đẳng trước pháp luật và xã hội, vậy mà, vô tình hay cố ý, người ta đã tước đi quyền làm người của những người dính dáng đến luật pháp trước phiên tòa xét xử?

Làm nhục người khác khi họ phạm tội (lỗi) là một cách cư xử thô bạo và sẽ làm mất đi ý thức về quyền con người, khiến cho tính hướng thiện trong mỗi con người bị mài mòn dần đi, đó là cách tiêu diệt một xã hội nhân văn hữu hiệu.

Vậy thì kêu gọi xây dựng một xã hội tương thân, tương ái để làm gì, khi luôn tự cho mình cái quyền xúc phạm và chà đạp lên nhân phẩm của người khác?

Xã hội chúng ta ngày càng trở nên vô cảm hơn, bởi vẫn còn có nhiều người cho rằng tước đoạt nhân phẩm của những người phạm tội (lỗi) là chuyện đương nhiên phải có.

Nếu con người là trung tâm phát triển của xã hội, thì con người được quyền sống xứng với phẩm giá của mình

Không một lý lẽ nào có thể biện minh cho việc chà đạp lên phẩm giá của con người ở bất kỳ hình thức nào.

Quyền căn bản của con người không phải là quà tặng của bất kỳ một ai trên trần gian này.

Quyền căn bản đó không phải đi xin xỏ hay chờ đợi thời gian hay tranh đấu mới có được.

Quyền căn bản của con người được Tạo Hóa ghi khắc nơi phẩm giá của con người, gắn liền với bản tính của con người và đó là những quyền bất khả xâm phạm!

Quyền căn bản của con người cần phải được nhìn nhận và thăng tiến ngay cả về mặt pháp lý hay hiến pháp.

Một quốc gia, một chính thể tự cho mình cái quyền xâm phạm những quyền căn bản này của con người đó là một chính thể, quốc gia tàn ác, vô nhân tính, độc tài, không xứng với một quốc gia văn minh tiến bộ, dân chủ, pháp quyền và hiến pháp.

Một quốc gia văn minh, dân chủ và pháp quyền phải biết tự giới hạn chính mình trước những quyền căn bản này của phẩm giá con người.

Chính phẩm giá con người là thước đo mức độ nhân bản, pháp quyền và hiến pháp của một quốc gia là điểm quy chiếu tối hậu cho mọi mục tiêu xã hội.

Posted: Thu Nov 25, 2010 3:08 am
by thienthanh
Khi người ta gọi bác của tôi, ba tôi và anh tôi là 'giặc'!

Dang Binh Diem Chi
(Nguồn: Facebook)

Trước giờ vẫn nghe câu “Thắng làm vua, thua làm giặc” và “Kẻ thắng viết nên lịch sử,” nhưng chưa từng thấm thía nó như lúc này!

Image
Tượng “Tiếc Thương” trước cổng Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa, bị cho nổ tan sau 1975.



Ngày còn cắp sách đến trường, mỗi thứ hai đứng chào dưới cờ tổ quốc, gào lên cùng lũ bạn “àcờ in máu chiến thắng” mà không biết rằng lá cờ ấy cũng có thấm máu của người thân mình, những dòng máu bị rẻ khinh, không được thừa nhận!

Khi người ta cố nhồi nhét hình ảnh về một đấng lãnh tụ vĩ đại, toàn năng vào đầu óc non trẻ của tôi, tôi đã không kháng cự, chỉ đôi lúc tự hỏi một cách lén lút: “Thật là có con người như thánh sống thế ư?” Bởi vì đôi khi những gì họ nói trước sau bất nhất. Họ chẳng bảo: “Không có gì tuyệt đối và toàn vẹn” đấy sao? Hay có ngoại lệ?

Ngày đó ngây thơ đến mức nằm trong phòng đọc bài học lịch sử oang oang, không ngừng mắng chửi “ngụy,” “tay sai,” mà không nhớ rằng ba mình từng khoác áo lính của Việt Nam Cộng Hòa!

Khi người ta dạy cho tôi phỉ báng những người lính “ngụy,” coi khinh họ như nhưng kẻ không có lương tâm, những kẻ bán rẻ tổ quốc, những con người máu lạnh, giết người không gớm tay.

Thì tôi, đã thấy những người lính sa cơ ấy rất hiền lành, là những người cha, người chồng mẫu mực, những người nông dân không ngại vất vả ngoài đồng.

Thì tôi, thấy trong ánh mắt họ một nỗi đau bất lực vì không bảo vệ được tổ quốc của mình!

Thì tôi, thấy họ loay hoay tìm cho gia đình mình một con đường tươi sáng khác để đi. Họ không ngồi đó và khóc cho một quá khứ tươi đẹp đã mất, đã bị cướp mất!

Tôi đã thấy họ dạy con họ yêu tổ quốc, yêu cội nguồn, và trân trọng tình thân! (xin đừng đánh đồng như cái cách người ta đang giả vờ tự lừa dối nhau, tổ quốc không bao giờ nên hiểu là “người chiến thắng,” và “người chiến thắng” cũng không phải là tổ quốc, nếu như hôm nay tôi nói tôi chẳng có chút cảm tình nào đối với “người chiến thắng” thì không có nghĩa là tôi không yêu đất nước của tôi.)

Tôi đã thấy họ tìm được một cuộc sống tốt đẹp hơn nơi đất khách, nhưng cái nhìn của họ vẫn hướng về nơi này một cách khắc khoải. Bởi lẽ, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp họ đã bị đẩy đi xa quá xa nơi họ được sinh ra và lớn lên, nơi còn có những người thân còn ở lại! Họ có thể trở về, nhưng họ sẽ không trở về, tôi biết thế, không phải vì họ chê cố hương nghèo khó!

Khi người ta nói họ là những kẻ “vong quốc,” tôi sẽ lắc đầu bảo rằng không phải, họ là những người “vọng quốc” (luôn luôn hoài vọng về tổ quốc của mình).

Khi người ta bảo rằng họ ở bên kia bờ biển đang tìm mọi cách phá hoại an ninh quốc gia, thì tôi lại tin rằng, họ đã bày tỏ một nỗi thất vọng khôn xiết về cách “trị quốc” của “kẻ thắng,” họ đang bày tỏ niềm xót thương với những số phận đang ngày ngày tìm đến nhau trong niềm an ủi và hi vọng, dù là nhỏ nhoi. Họ đang cất lên tiếng nói giúp những những người mà họ nghĩ rằng “thấp cổ bé họng.”

Không có triều đại nào vĩnh viễn, thì sao cứ mãi lừa mị nhau về cái gọi là “muôn năm”?

Khi người ta gọi bác tôi, ba tôi và anh tôi là “giặc” thì tôi vẫn cứ tự hào về họ, những người đàn ông Việt Nam đúng nghĩa!

Khi người ta gọi họ là “ngụy” thì tôi vẫn vô cùng kính trọng và yêu thương họ!

Bản chất không nằm ở tên gọi và lịch sử cũng không thuộc về kẻ chiến thắng!

Tôi sẽ ngẩng cao đầu vì là cháu, con và em của họ!

Posted: Sat Nov 27, 2010 7:00 pm
by dailien
1000 năm Thăng Long và thân phận thương phế binh Việt Nam
Tôi bước đi, không thấy phố, không thấy nhà
Chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ


Có lẽ không có câu chuyện nào lột tả trọn vẹn sự bi thảm của quê hương và lịch sử VN thời nay bằng câu chuyện mà tôi vừa được nghe Lan, một người bạn thuật lại những điều trông thấy nhân chuyến về dự đám tang gia đình. Lan kể cho tôi nghe về sự “vĩ đại” của Lễ hội 1000 năm Thăng Long đối chiếu với thực tế nghèo xác xơ của đại đa số dân chúng đói khổ mà tôi không đề cập trong bài viết này vì nghĩ rằng tất cả mọi người đều biết đến qua tin tức báo chí và chỉ ghi lại nơi đây sự suy tư về hình ảnh hai người thương phế binh Việt Nam.

Sau khi tham dự Lễ hội 1000 năm Thăng Long, trên hành trình trở về Sài Gòn khi dừng chân ở Nha Trang, Lan tình cờ gặp được một người ăn mày cụt hai chân. Nghe tiếng chân nàng bước đến gần người hành khất cất tiếng ngửa tay xin tiền. Ông ta chạc tuổi 70, trên chiếc áo vá chằng chịt treo lủng lẳng chiếc huy chương khoe thành tích anh hùng bộ đội. Ông ngậm ngùi kể lại cuộc đời kháng chiến và thành qủa của nó là chiếc huy chương trị giá đôi chân của ông để lại trên chiến trường Hạ Lào. Ông bất mãn trước sự phủi tay của Bác Đảng không ngó ngàng gì đến thành phần thương phế binh được bác Hồ vinh danh là “anh hùng” sau khi cuộc chiến tàn. Lan kể cho ông ta nghe về Lễ hội 1000 năm Thăng Long. Với ánh mắt sôi sục căm hờn ông khóc nức nở ước gì còn đôi chân để cầm súng đi đòi nợ máu những kẻ đã bán nước lừa dân.

Khi về Cần Thơ hình ảnh người ăn mày mà lần này Lan có dịp tiếp xúc là một thương phế binh Việt Nam Cộng Hoà. Đôi cánh tay của anh đã trở về lòng đất mẹ nơi Cố Đô Huế trong trận đánh Tết Mậu Thân 1968. Cũng giống như thân phận các thương phế binh Việt Nam Cộng Hoà khác, ngoài sự hận thù của chế độ CSVN đổ lên đầu họ như bị hắt hủi đánh đập, mất hộ khẩu, đối xử khác biệt, mất quyền công dân ...anh sống như một người bị đẩy ra ngoài lề xã hội. Khi Lan hỏi anh nghĩ gì về Lễ hội 1000 năm Thăng Long, tuy héo hắt cười chua chát nhưng sao ánh mắt anh vẫn rực nét tự hào. Anh cho biết Lễ hội 1000 năm Thăng Long chỉ là sự công khai hợp thức hóa vai trò nô bộc CSVN qụy lụy quan Thầy Trung Cộng. Sự kiện này giúp cho người dân nhìn thấy hiểm họa Hán hóa và nhìn ra chính nghiã đứng về phía những người “bại trận” VNCH đã can trường bảo vệ Trường Sa Hoàng Sa, ngăn chận làn sóng đế quốc đỏ Trung Quốc. Cũng vì thế, dù bại trận trong tàn phế nhưng anh hãnh diện đã làm tròn bổn phận của một người công dân cố giữ từng tấc đất của tổ tiên để lại.

Câu chuyện của hai thương phế binh ở thời điểm 1000 năm Thăng Long nghe qua không phải chỉ là chuyện qua đường mà nó ẩn chứa biết bao điều cay đắng và bất hạnh cho dân tộc Việt Nam. Một dân tộc nhân bản, lấy tình thương và lòng bao dung làm kim chỉ nam cho lẽ sống, giờ đây đã bị cái “chính sách trăm năm trồng người” của Hồ Chí Minh hủy diệt gia tài tinh thần qúy báu đó chỉ trong vòng nửa thế kỷ. Thời xưa cha ông ta lấy đức trị dân, lấy lòng bao dung giáo hóa dân tình. Thật vậy, các vị vua VN sau khi thắng giặc Tàu, đã ra lệnh chôn cất kẻ thù và mỗi năm vào ngày lễ xá tội vong linh đều cho lập đàn lễ cầu siêu cho linh hồn kẻ thù sớm được siêu thoát. Mặt khác những ai có công giữ nước đều được tri ân và trọng đãi xứng đáng. Cách hành xử nhân bản trọng tình nghiã của tổ tiên ta khác hẳn với hành động vắt chanh bỏ vỏ của Cộng sản Việt Nam đối với thành phần thương phế binh của họ. Tiếc thay những giá trị tinh thần trên đã không còn chỗ đứng trong trái tim lãnh đạo CSVN thời nay. Chính sách cai trị dân bằng hận thù, bạo lực và trấn lột của CSVN là nguyên nhân chính gây ra biết bao tang thương đổ vỡ cho quê hương dân tộc về mọi mặt, từ vật chất, tinh thần, đến sự suy đồi văn hóa và băng hoại đạo đức trong con người lẫn ngoài xã hội.

CSVN không chỉ vắt kiệt sức con người mà họ còn vắt sạch lý tưởng của nạn nhân trước khi tàn nhẫn bỏ vỏ. Có lẽ chỉ có những người hành khất thương phế binh CSVN mới cảm nhận trọn vẹn nỗi đau “bị vắt chanh bỏ vỏ” bởi Bác Đảng khi phải chứng kiến cảnh diễn binh hùng hậu với rừng cờ đỏ sao vàng trong Lễ hội 1000 năm Thăng Long. Có đau rồi thì mới hiểu thấu tâm can Trần Dần được gói ghém trong hai câu thơ bất tử, là nguyên nhân dẫn đến cuộc đời lao tù của ông:

Tôi bước đi không thấy phố không thấy nhà

Chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ

Ở thời điểm đó, thi sĩ Trần Dần mới chỉ cảm nhận được những giọt nước mắt dân tộc rơi trên màu cờ đỏ. Để rồi nửa thế kỷ sau những giọt nước mắt nọ đã đọng thành biển máu dân tộc. Ngày hôm nay, nhìn rừng cờ đỏ sao vàng phất phới bay trong cuộc diễn binh, các thương phế binh và cán binh CSVN tránh sao không khỏi rợn người nhớ tới hơn một triệu đồng đội đã hy sinh trong cuộc chiến huynh đệ tương tàn để cho lá cờ thấm đỏ máu dân tộc được “ngạo nghễ chiến thắng” bay trong Lễ hội 1000 năm Thăng Long gián tiếp mừng ngày quốc khánh Trung Cộng. Một chiến thắng nhục nhã mà trong đó kẻ thua là dân tộc Việt Nam và kẻ thắng trận không cần phải phí một viên đạn lại chính là Trung Cộng. Sự vắt chanh bỏ vỏ lý tưởng người dân miền Bắc có để lại một vết thương nhức nhối trong tâm hồn của vài triệu người đã hy sinh cuộc đời hay một phần thân thể của mình trên quê hương để bảo vệ lãnh thổ hay không khi mà giờ đây hiện ra một sự thật phũ phàng:

Tôi bước đi không thấy Ải Nam Quan, thác Bản Giốc, Trường Sa–Hoàng Sa...

Chỉ thấy biển máu thương binh thấm màu cờ đỏ

Khi biết người thương phế binh CS nêu trên đã sôi sục phẫn uất mơ có đôi chân để có cơ hội cầm súng đi đòi nợ máu những kẻ bán nước lừa dân, tôi tự hỏi những đồng đội của ông còn sống sót nguyên vẹn hình hài giờ đây có còn thấy đau xót trước thảm cảnh Hán hóa hay không? Hay con tim họ giờ đã chai đá chạy theo những vũ khúc bán nước cầu vinh uốn éo lắc lư trong lễ hội 1000 năm Thăng Long mặc cho vận nước điêu đứng dân tình lầm than? Nhưng sao trong tôi vẫn hy vọng rằng lý tưởng cứu nước thời xưa mà họ đã từng đeo đuổi vẫn còn thoi thóp lấp lóe đâu đó trong tiềm thức họ. Một khi hồn nước đã bật dậy trong mỗi con người VN thì lịch sử tất sẽ phải lật sang trang mới, ghi lại những chiến công hào hùng đập tan chế độ độc tài bán nước và những ý đồ Hán hóa của Trung Cộng .

Hướng tâm tư về anh thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa nơi quê nhà, tôi ngưỡng phục khí phách của người chiến binh “bại trận”. Sự trù rập của chế độ vẫn không làm soi mòn niềm tin vào chính nghiã mà anh đã chọn lựa. Anh vẫn can đảm giữ vững phong cách và tiết tháo của một quân nhân trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Chấp nhận đói khổ nhưng không cúi đầu trước bạo lực ký bản tự thú nhận tội mình sai lầm để được khoan hồng. Đây là một chiến thắng nội tâm đầy dũng cảm mà bạo quyền CSVN sẽ không bao giờ dập tắt được ngọn lửa chính nghiã vẫn âm thầm bền bỉ cháy trong xác thân tàn phế người chiến binh VNCH. Cộng đồng người Việt tỵ nạn Cộng sản hải ngoại sẽ không bao giờ quên ơn các anh, những anh hùng vô danh trong cuộc chiến đã hy sinh một phần thân thể của đời mình để bảo vệ miền Nam và bảo bọc cho người dân miền Nam có được những giấc ngủ an lành cho tới ngày 30/4/1975.

Ở những quốc gia văn minh nhân bản như Hoa Kỳ chả hạn, sau khi cuộc nội chiến Mỹ chấm dứt, những người lính đã nằm xuống và những thương phế binh của hai bên đều được đối xử ngang nhau. Quá khứ khác biệt về chính trị đã được khép lại thay vào đó bằng sự bao dung để hàn gắn lại đổ vỡ đau thương con người hầu xây dựng lại xứ sở. Tiếc thay CSVN chỉ biết nói nhưng lại chỉ thích làm ngược những gì mình tuyên truyền. Ngày nay cuộc sống lây lất của thương phế binh CS và VNCH ở khắp nẻo đường đất nước là một bằng chứng cho thấy thái độ vắt chanh bỏ bỏ và sự hận thù vẫn còn nguyên vẹn trong lòng chế độ CSVN. Và như thế liệu chúng ta có tin được những mỹ từ khép quá khứ của CSVN hay không khi mà ngay lúc này công an đàn áp thương phế binh VNCH không cho họ nhận qùa cứu trợ của Hoà Thượng Thích Không Tánh, Tổng Vụ trưởng Tổng Vụ Từ Thiện Xã Hội, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất ở chùa Phước Huệ, tỉnh Quảng Trị? Cũng như những huyễn tượng đấu tranh bất bạo động để xây dựng xã hội dân sự dưới gông xiềng bạo lực vẫn sẽ chỉ là cơ hội ngàn vàng cho CSVN tiếp tục vắt chanh sự khờ dại của những con người sống trên mây chưa hề biết hay có kinh nghiệm sống với CSVN.

Nếu có ai hỏi dân tộc Việt Nam nghĩ gì về Lễ hội 1000 năm Thăng Long thì chắc chắn câu trả lời sẽ là nhà cầm quyền CSVN đã thành công mỹ mãn trong việc tự lật mặt nạ cho toàn dân nhìn thấy bộ mặt phản quốc của mình. Một vết nhơ trong lịch sử ngàn đời sau còn nhắc đến.

Ôi ! Còn nỗi uất nhục nào lớn cho dân tôi cho bằng, trong khung cảnh xa hoa lộng lẫy của Lễ hội 1000 năm Thăng Long mà sao trong lòng lại ngổn ngang trăm mối hận sầu mất nước:

Tôi bước đi không thấy Ải Nam Quan, thác Bản Giốc, Trường Sa–Hoàng Sa...

Chỉ thấy biển máu dân tôi thấm màu cờ đỏ

Nam Dao (Adelaide)4/11/2010

Posted: Sun Nov 28, 2010 3:06 am
by vuphong
XIN HÃY LẤY “TẠ ƠN” THAY CHO “NGUYỀN RỦA”

Lê Thành Nhân

BOM ĐẠN TỪ KẺ THÙ VÀ BOM ĐẠN TỪ PHÍA CỦA CHÍNH CHÚNG TA

Nếu ai có cơ hội đọc các bài viết trên Mạng của người Việt (mà đa số là người Việt Quốc gia tỵ nạn CS) trong những ngày cuối tháng 10, đầu tháng 11 vừa qua đều không khỏi vô cùng đau đớn, xót xa: Riêng tôi, tôi cảm thấy những ngày ấy còn đen tối, đớn đau và xót xa hơn cả cái sáng 30 tháng 4 năm 1975 khi tôi đứng trước Dinh Độc Lập chứng kiến cảnh quân CS Bắc Việt tiến vào chiếm thủ đô Saigon. Ngày 30 tháng 4 năm 1975, Quân Dân Miền Nam bị tấn công bởi kẻ thù với các chiến xa và hỏa tiển của TC và Liên xô. Hôm nay người QG ở hải ngoại phải hứng trên đầu những trận mưa bom từ những người tự nhận là “Quốc gia”. Mỗi ngày có hàng ngàn bài viết trên các diễn đàn Việt ngữ chửi bới thâm tệ các cấp lãnh đạo của các chế-độ Miền Nam, từ thời Chánh-phủ Quốc gia (1948) đến đệ nhứt là đệ nhứt và đệ nhị Cộng hòa. …Vị quốc-trưởng nào, vị lãnh đạo quân sự, hành chánh nào cũng có tỳ vết, lỗi lầm để những cây viết ấy moi ra để chửi.………. Từ Quốc-trưởng Bảo Đại, đến các Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, PTT Nguyễn Cao Kỳ, PTT Trần Văn Hương (và là Tổng thống hợp pháp cuối cùng của VNCH), các Tướng Trần Thiện Khiêm, Dương Văn Minh, Lê Minh Đảo, v. v. … Chửi bới cấp lãnh đạo quốc gia không đả, họ quay sang chửi bới lẫn nhau. Rồi nhóm nầy chửi nhóm kia, đáng buồn nhứt là tôn giáo mà cũng chia phe, chia phái ra để chửi nhau thì không còn gì để nói. Lịch sử VN chưa bao giờ phải trải qua một thời kỳ bi đát đến như vậy! Đó là lý do tại sao chúng ta thua CS ngày 30 tháng 4 năm 1975. Đó là lý do tại sao hơn 35 năm rồi, người QG ở hải ngoại không làm được điều gì để có hy vọng xóa bỏ được chế độ CS tại quê nhà. Chúng ta phải can đảm nhìn nhận sự thật phủ phàng nầy.

Tôi cảm thấy đau đớn, xót xa không phải vì tôi là một tổng thống, thủ-tướng hay tướng lãnh hay là họ hàng, thân thuộc của những vị đó. Tôi chỉ là một công dân như bao nhiêu công dân khác của VNCH. Tôi cảm thấy tủi nhục bởi vì vinh dự của Quốc gia tôi bị xúc phạm, quốc thể của nước tôi bị chà đạp. Lẽ nào một Đất Nước tự hào có hơn 4 ngàn năm văn hiến mà gần cả trăm năm nay lại không sản sinh ra được một nhà lãnh đạo quốc gia, một vị tổng thống nào mà “không bị chửi bới” hết! Ví dụ, tôi vừa mới thấy một bài viết ca ngợi Cụ Trần Văn Hương thì ngày sau đã có hai ba người viết xuyên tạc, bôi lọ Cụ một cách vô lý, không chắc là từ người CS. Trong khi đó thì tại sao nước Mỹ có một lịch-sử chỉ mới hơn 200 năm mà đã có được biết bao tổng thống mà toàn dân Mỹ biết ơn và kính trọng? Không phải vì nước Mỹ có nhiều bậc lãnh đạo đáng kính, nhưng là vì người dân Mỹ biết kính trọng những bậc lãnh đạo của họ. Đó chính mới là cái mấu chốt của căn bệnh của người Việt Quốc-gia trong quá khứ và hiện tại. Ví dụ như ai cũng biết Tổng thống Clinton đâu phải là một con người toàn vẹn, thế mà người dân Mỹ vẫn dành cho ông ta sự kính trọng của một vị tổng-thống. Người dân Mỹ đâu có lên internet lôi ra chửi bới thậm tệ như người Việt Nam chửi bới các tổng thống, tướng lãnh, lãnh tụ của mình. Những dân tộc văn minh trên thế giới như Anh, Mỹ, Pháp, Nhựt, Đức, v.v… đều có được một trình độ dân trí cao, KHÔNG hề thất lễ, chửi bới, mạt sát các vị lãnh đạo quốc gia của nước họ. Bởi, người dân có trình độ nhận thức cao ắt phải hiểu là khi mình nhục mạ các cấp lãnh đạo quốc gia của mình tức là tự phỉ nhổ chính mình chứ đâu phải là điều vinh dự đáng tự hào. Dân tộc càng văn minh họ càng biết ơn, kính trọng vua, quan (nếu còn chế-độ quân chủ như Anh, Nhựt, v.v..), các cấp lãnh đạo, trí thức, tướng lãnh của nước họ.

TẠI SAO NGƯỜI VIỆT QUỐC GIA CHỬI BỚI CÁC CẤP LÃNH ĐẠO QUỐC GIA CỦA MÌNH?

Các nguyên nhân chính của tình trạng đó là:

Tuyên truyền của CS trước và nhứt là sau 1975. NQ36 của BCT/ĐCSVN tại hải ngoại hiện nay.
Sự thảm bại của Miền Nam năm 1975 và chánh sách tẩy não, đấu tranh giai cấp của CS.
Yếu tố lịch-sử và sự lạm dụng “Tự do”.

Như mọi người đều biết: vũ khí được người CS sử dụng nhiều nhứt là bịa đặt, bôi lọ cá nhân các cấp lãnh đạo của phía Quốc gia từ trước 1945.

Hơn 65 năm nay họ vẫn đầu độc người dân bằng cách đó. Ngày nay họ còn “xuất khẩu” chiến tranh tuyên truyền đó ra hải ngoại trong khuôn khổ của NQ36. Người dân Việt Nam không phải ai cũng có đủ sáng suốt và trình độ để không bị ảnh hưởng bởi các luận điệu tuyên truyền của CS.

Sự thảm bại năm 1975 của chế độ Miền Nam trước cuộc xâm lược của CS Miền Bắc với sự viện trợ quân sự vô giới hạn của Liên xô và TC đã triệt hạ danh dự và uy tín của hàng ngũ lãnh đạo của phía Quốc gia trong mọi lãnh vực: chính trị, quân sự, hành chánh, v.v... Thêm vào đó kẻ tạm gọi là “chiến thắng” đã bắt mấy trăm ngàn quân-dân-cán-chính VNCH giam vào các trại tập trung (concentration camps) kiểu Staline để tẩy não và tuyền truyền hàng chục năm. Kẻ chién bại không có quyền viết lịch sử!

Ngoài các trại tập trung, trong xã hội thì người CS tiến hành “đấu tranh giai cấp”: con tố cha, vợ tố chồng, công nhân tố chủ nhân, trò tố thầy, lính tố tướng lãnh, người công dân chửi bới thủ tướng, tổng thống mình, anh chăn trâu chửi người trí-thức….Họ lật ngược “thang giá trị” (échelle des valeurs) của xã hội văn minh và theo thang giá trị Marxist với câu nói tiêu biểu nhứt của Mao Trạch Đông: “Trí thức không bằng cục phân”. Người CS xây dựng xã-hội của họ trên hận thù giai cấp và sự dốt nát. Một số người Việt đã vô tình mang theo các tư tưởng đó ra nước ngoài mà không biết và đang sử dụng thoãi mái! Những cây viết hiện nay chửi bới thậm tệ nhứt chế độ VNCH là từ nước ngoài chứ không phải từ trong nước. Điều trớ trêu là người trong nước (kể cả người Miền Bắc trước đây) lại quý trọng tất cả những gì của VNCH cũ!

Người Pháp đã mang đến Việt nam nhiều “giá trị” quý báu về khoa học, văn học, nghệ thuật, khái niệm tự do, dân quyền, v.v. giúp Việt Nam phát triễn theo gương các nước Tây phương (thay vì vĩnh viễn lệ thuộc nước Tàu). Nhưng hệ thống chánh trị của Pháp thua xa hệ thống chánh trị của người Anh mà người Mỹ thừa hưởng ngày nay. Trong khi các cựu thuộc địa Anh như Ấn độ, Mã-Lai-Á, v.v….sau khi độc lập đều có được môt chế độ chính trị ổn định và phát triển tốt đẹp, thì tất cả các thuộc cũ của Pháp đều thất bại như Congo, Việt Nam,…Ngay cả mẩu quốc Pháp cũng bị khủng hoảng triền miên cả đến ngày hôm nay. Nhờ phỏng theo phần nào Tổng thống chế của Hoa Kỳ với Hiến-pháp đệ V Cộng-hòa, nên nền chính-trị nước Pháp đã được phần nào ổn định hơn trước kia. Người Anh nói vể người Pháp: ”Mỗi người Pháp là một nước Pháp”. Sau 100 năm hấp thụ khái niệm “tự do” của Pháp cộng với 50 năm của cuộc chiến chia rẽ dân tộc, ngày nay không ai lấy làm lạ: ”Mỗi người Việt Nam ở hải ngoại ngày nay là một nước Việt Nam”. Đó là các nguyên nhân chính của tình trạng phân hóa cực độ của chúng ta hiện nay.

Tại sao nước Nhựt, nước Đức, … cũng bại trận mà người dân họ đâu có đem vua họ, tướng lãnh họ ra để mạt sát? Chính nhờ vậy mà từ những nước chiến bại các nước đó đã trở lại vị thế của những cường quốc mà thế giới phải kính nễ. Các dân tộc đó có những “giá trị” mà chúng ta phải học hỏi. Chúng ta cần thay đổi “hệ thống giá trị’ (system of values) hiện hữu của chúng ta hoặc là chúng ta sẽ bị lịch sử đào thải.

Hôm nay, thuận cơ Trời, đáp lại tiếng gọi của lương tâm, người viết muốn lợi dụng cơ hội của mùa Lễ Tạ ơn có tính cách lịch sử năm nay để gởi đến mọi người Việt Quốc gia một thông điệp tích cực: “XIN HÃY TẠ ƠN THAY VÌ NGUYỀN RỦA”.

XIN HÃY “TẠ ƠN” THAY VÌ “NGUYỀN RỦA”

Sau khi đáp chiếc tàu MayFlower đến bến bờ Tự do trốn chạy nạn đàn áp, bách hại vì tín ngưỡng ở Anh quốc, vừa gặt hái xong mùa đầu tiên, những người di dân đầu tiên đã biết nghĩ trước nhứt đến việc “Tạ ơn”. Đó là một đặc điểm của cái “hệ-thống giá-trị” (system of values) mà tôi nói trên đây. Tôi sẽ trở lại vấn đề quan trọng nầy trong một dịp khác.

Hơn 3 triệu người Việt chúng ta trốn chạy nạn CS lẽ ra đã phải làm công việc “Tạ ơn” đó từ lâu thay vì phí không ít thì giờ và tâm trí để nguyền rủa quá khứ và chửi bới lẫn nhau.

Vậy trong tinh thần nêu trên của mùa Tạ ơn của người Mỹ năm nay tôi xin đề nghị với người Việt tỵ-nạn CS chúng ta như sau:

1. Xin hãy TẠ ƠN các bậc tiên đế, tiên hiền đã dựng nên nước Việt, giữ gìn và mở mang bờ cõi nước Việt được rộng lớn như ngày nay, kể cả các vua, quan Triều Nguyễn như Vua Bảo Đại.

2. Xin hãy TẠ ƠN các vị Quốc-trưởng, Tổng thống, các cấp lãnh đạo Quốc gia thuộc các lãnh vực chánh trị, quân-sự, v.v… đã lèo lái con thuyền Quốc gia được tồn tại cho đến ngày 30-4-1975 qua Chánh-phủ Quốc-gia Việt Nam (1948-1954) và hai chế-độ VNCH (1954-1975).

3. Xin hãy TẠ ƠN các anh hùng tử-sĩ, thuộc Dân Quân Cán Chính các cấp của Miền Nam đã hi sinh để giữ được Miền Nam đến ngày 30-4-1975, nhứt là các cấp lãnh đạo quân sự, chính trị, hành chánh đã tuẩn tiết sau ngày Miền Nam thất thủ.

4. Xin hãy TẠ ƠN những chiến sĩ Quốc gia đã đấu tranh để sống sót trong ngục tù CS hay để mưu đồ phục quốc trong các chiến khu.

5. Xin hãy TẠ ƠN những chiến-sĩ Quốc-gia, sau khi đến được bến bờ Tự do, đã tiếp tục giữ vững được ngọn lửa đấu tranh để chờ ngày quang phục quê hương.

6. Xin hãy ĐẶC BIỆT TẠ ƠN nước Mỹ đã cưu mang hơn hai triệu người tỵ nạn chúng ta và cho chúng ta cơ hội nuôi dưỡng một thế-hệ hậu duệ có khã năng thay thế chúng ta đánh đuổi ngoại xâm TC và xây dựng lại Đất Nước trong những năm tháng sắp đến.

7. Xin hãy ĐẶC BIỆT TẠ ƠN nước Mỹ đã, xuyên qua Ts. Henry Kissinger, trả lại danh-dự và công lý cho Quân Dân VNCH khi công khai nhìn nhận vào ngày 29 tháng 9 năm 2010 tại thủ-đô Washington là: chính nước Mỹ phải chịu trách nhiệm về của cuộc thảm bại tại Việt Nam năm 1975, chứ KHÔNG phải Việt Nam Cộng Hòa. (Xin mời xem bài “Đã đến lúc phải đòi lại Danh dự cho Quân Dân VNCH, trên trang mạng www.minhductandan.com)

8. Sau cùng, xin hãy ĐẶC BIỆT TẠ ƠN nước Mỹ đã công bố chánh sách ngoại giao và quân-sự mới nhằm bảo đảm an-ninh và tự do cho khu vực Á châu-Thái Bình Dương trong đó có Việtnam, chống lại tham vọng bành trướng của TC.

Bởi vậy, tôi coi mùa Tạ Ơn năm nay mang tính cách lịch sử. Người Việt chúng ta nên học từ các dân tộc tiên tiến cách đối xử công bằng với các cấp lãnh đạo Quốc gia của mình, dù trong vinh quang hay chiến bại. Những vị hiện thích chửi bới các tổng thống, thủ tướng, tướng lãnh, v.v. của VNCH thì xin vui lòng tự đặt cho mình hai câu hỏi sau đây:

Nếu vị nào chửi bới TT. Diệm, TT. Thiệu, TTg Hương, ông Tướng nầy, ông Tá kia là bê bối nên mất Nước thì tại sao hồi đó Vị đó không ra làm thay mấy ông đó để Nước khỏi mất?
Hiện nay TC đang xâm lược Việt Nam , VC đang bán Nước cho Tàu, tại sao các vị đó không làm gì để cứu Nước? (Đừng để sau nầy lại chửi bới ông nầy, bà kia đã để VC hại dân, TC cướp Nước).
Biết mà không nói là BẤT NHÂN;
Nói mà không biết là BẤT NGHĨA.

Trong hiện tình Đất Nước, những hành-động “nói mà không biết” không phải chỉ bất nghĩa mà nó còn cực kỳ tai hại đối với những chiến-sĩ Dân-Quân-Cán-Chính VNCH nào còn chút lòng với Đất Nước và Dân tộc, muốn đóng góp vào công cuộc đánh đuổi ngoại xâm và giải thể chế-độ CS tại Việt Nam.

Xin nguyện hồn thiêng Sông Núi phù trợ cho mọi con dân Nước Việt luôn luôn vẫn còn can đảm để tiếp tục chiến-đấu quang phục Quê Hương, dù phải hứng chịu làn tên, mủi đạn từ những người tự nhận là “quốc gia” .

Hải ngoại, Mùa Tạ Ơn năm 2010
Lê Thành Nhân

Posted: Tue Nov 30, 2010 6:14 am
by caolynh
Khi nhà nước "bới bèo ra bọ"
Giao Tiên
Nhà nước VN vừa thực hiện một màn kịch bắt ghen cực kỳ ngoạn mục. Ngày 5/11, vào lúc nửa đêm, giờ tý, canh ba, công an Saigon đã xông vào phòng của khách Sạn Mạch Lâm tại Phường 11, quận 6, Saigon để bắt quả tang Luật sư Cù Huy Hà Vũ đang ở trong phòng với một phụ nữ. Sự kiện này được công an chụp hình để đem ra cung cấp cho giới truyền thông. Tờ báo điện tử “VietNamNet” ngày 5/11, đã cho đăng bức hình này với phụ đề: “do cơ quan an ninh điều tra cung cấp.” Trong hình, ông Cù Huy Hà Vũ ở trần, ngồi ở mép giường. Người phụ nữ mặc quần áo kín đáo, đứng quay lưng lại ông Vũ, mặt được bôi đen để giữ kín nhân dạng. Tuy nhiên, tấm hình này được lấy xuống mấy giờ sau.

Để bắt quả tang, có lẽ công an đã phải mất nhiều thời giờ theo dõi sát hành tung của ông Hà Vũ, vì ông Hà Vũ ở Hà Nội, mới vào Nam, ở tạm khách sạn Mạch Lâm thì tai họa xảy ra.

Theo khía cạnh luật pháp, tấm hình này không thể là bằng chứng để kết tội dâm ô, hay ngoại tình, vì thiếu cơ sở ! Nhưng lại là một bằng chứng để bêu xấu thanh danh những người trong hình, và có thể phá vỡ hạnh phúc của một gia đình có thể là đang êm ấm.

Chuyện “trai đơn, gái chiếc” ở chung một phòng trong khách sạn vào lúc nửa khuya thì ai mà không liên tưởng tới những chuyện mờ ám. Tuy nhiên, chuyện mờ ám này là chuyện cá nhân, chuyện của bà Nguyễn thị Dương Hà, vợ ông Vũ phải lo, chứ không phải là chuyện của Trung Tướng công an Hoàng Kông Tư, và đám đệ tử lau nhau tới khám xét, chụp hình lúc nửa đêm. Ăn lương nhà nước, trả bằng tiền thuế nhân dân, mà làm chuyện…..ruồi bu, kiến đậu !

Công an sau khi khám xét phòng ông Hà Vũ, tịch thu chiếc laptop, và không tìm thấy đồ….quốc cấm, thì công an Hà Nội vội tiến hành khám xét tư gia của ông, trong lúc vợ chồng chủ nhà đều vắng mặt.

Có lẽ do không kiếm ra được các tài liệu nhà nước hằng….mong đợi, nên cuộc họp báo ngày hôm sau, 6/11 do Trung Tướng Tô Lâm, thứ Trưởng công an chủ toạ, và Trung Tướng Hoàng Công Tư. thủ trưởng cơ quan an ninh điều tra tham dự, chỉ chưng ra tấm hình….trai gái của ông Hà Vũ, và các bài viết cũ mà ông Cù Huy Hà Vũ đã đưa lên mạng và tuyên bố là ông Cù Huy Hà Vũ bị khởi tố khẩn cấp về tội tuyên truyền chống nhà nước XHCN, theo điều 88 Bộ Luật Hình Sự. Và ông bị bắt giam !

Bỏ tù vì lý do chính trị, mà lại chưng ra tấm hình... trai gái thì thực là .... đầu gà đít vịt, mặt thỏ mỏ dơi, nhưng lại lọt lỗ tai của 2 Trung Tướng công an của đảng quang vinh gồm các “đỉnh cao trí tuệ loài người”.

Ông Cù Huy Hà Vũ 53 tuổi, là con trai của “khai quốc công thần” Cù Huy Cận, một trong 3 người được HCM cử vào Huế để tiếp nhận ấn kiếm trong lễ thoái vị của vua Bảo Đại. Ông Cù Huy Cận đã từng giữ các chức vụ Bộ Trưởng, Thứ Trưởng, Đại Biểu Quốc Hội các khóa I, II, và VII.

Nhờ thế ông Cù Huy Hà Vũ được du học bên Pháp, tốt nghiêp Tiến sĩ Luật Khoa tại Đại học Sorbonne, Học Viện Quốc Tế hành chính công, và bằng Thạc Sĩ Văn Chương Pháp.

Ngày 3/7/09, ông đã gửi đơn kiện Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng về việc ban hành trái Hiến Pháp và Pháp Luật quyết định số 167/2007/QĐ-TTg về: “Phê duyệt, quy hoạch, phân vùng, thăm dò, khai thác, chế biến, xử dụng quặng Bauxit giai đoạn 2007-2015, có xét đến năm 2025.” Tòa Án nhân dân Hà Nội từ chối thụ án vì lý do: “không có thẩm quyền”. Ông khiếu nại lên Tòa Án tối cao, nhưng không có kết quả.

Ngày 14/9/2010, ông Cù Huy Hà Vũ lại kiện TT Nguyễn Tấn Dũng về việc ban hành nghị định số 136, cấm khiếu nại tập thể. Ông khẳng định rằng nghị định này trái với hiến pháp và luật pháp.

Ông cũng mạnh dạn phát biểu những nhận định qua các cuộc phỏng vấn của hệ thống truyền thông quốc tế và hải ngoại. Trong cuộc phỏng vấn của đài VOA, ông khẳng định: “Nguyên nhân của luật pháp quái thai ở VN chính là sự lãnh đạo độc quyền, độc tôn của đảng CS, được che chở bởi điều 4 Hiến Pháp.” Trong cuộc phỏng vấn của đài Little Saigon Radio do Chu Tất Tiến thực hiện, ông cho biết: “ông đã yêu cầu Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, Chủ tịch Nông Đức Mạnh và Nguyễn Minh Triết lập tượng đài ghi công cho 58 chiến sĩ VNCH đã hy sinh trong cuộc chiến bảo vệ Hoàng Sa và Trường Sa, vì chiếu theo Hiến Pháp thì: “ những ai hy sinh trong cuộc chiến bảo vệ chủ quyền đất nước phải được ghi công như những liệt sĩ....”

Văn phòng LS Cù Huy Hà Vũ đã lãnh bào chữa cho 6 giáo dân Cồn Dầu, bị ra tòa về tội “gây rối trật tự công cộng” và “chống người thi hành công vụ”. Ông đã trả lời cuộc phỏng vấn của báo Công Giáo Nữ Vương Công Lý ngày 2/11/10: “hiển nhiên là âm mưu chiếm đoạt đất đai của giáo dân Cồn dầu là từ phía chính quyền thành phố Đà Nẵng…. Đau đớn thay giáo dân Cồn dầu đang đối mặt với nguy cơ mất quê hương ngay chính trên quê hương mình…”

Ông Cù Huy Hà Vũ là cố vấn pháp luật cho mạng “Bauxit VN”. Các đơn kiện Thủ Tướng và quan điểm của ông đều được phổ biến trên mạng này.

Có lẽ vì quá tin tưởng vào uy tín và sức mạnh của gia đình, ông Hà Vũ đã có những hành động và lời phát biểu như những mũi dao nhọn đâm vào trái tim các lãnh đạo VN. Chính quyền VN thấy cần phải “nhổ đi cái gai trước mắt” bằng bất cứ cách nào, kể cả ...hạ sách.

Hiện tại, bà Dương Hà đang làm đơn khiếu nại gửi lên các Ủy Ban Tư Pháp Quốc Hội, Bộ Trưởng Công An Lê Hồng Anh, và Viện Trưởng viện Kiểm sát Nhân Dân Tối cao Trần Quốc Vượng. Các hội đòan quốc tế nhân quyền cũng yêu cầu trả tự do cho ông Cù Huy Hà Vũ tức khắc và vô điều kiện. Người phụ nữ có mặt trong bức hình với ông Hà Vũ, bà Hồ Lê Như Quỳnh cũng đang nhờ LS kiện công an TP Hồ Chí Minh về hành đông bêu xấu thanh danh bà.

Nói thế nhưng ai cũng biết tất cả các khiếu nại kiện tụng chỉ là vô ích trong một chế độ công an trị và luật pháp nằm trong tay những kẻ nắm quyền lực trong đảng. Tuy nhiên, hệ quả pháp lý không quan trọng. Cái nhân nhà nước muốn có trong chuyện “bắt ghen ” hộ đã được gieo rồi, trong gia đình ông Hà Vũ. Cái quả ra sao thì còn chờ thời gian.

Giao Tiên

Posted: Wed Dec 01, 2010 3:31 pm
by thienthanh
Julian Assange - 'Người hùng' không chốn dung thân

Với những người ủng hộ thì sáng lập viên trang Wikileaks Julian Assange là người hùng của sự thật, còn với với những người chỉ trích,
anh là kẻ chỉ thích làm rùm beng những thứ nhạy cảm khiến nhiều người gặp nguy.

Image
"Người hùng" bị truy đuổi Julian Assange. Ảnh: AP
Cuộc sống của Julian Assange đã thay đổi hoàn kể từ khi anh và các cộng sự cho ra đời trang Wikileaks năm 2006. Khi đó, người đàn ông Australia 39 tuổi này đã quyết định sử dụng kinh nghiệm trong những năm tháng làm hacker khét tiếng và chỉ số thông minh được bạn bè tán tụng để xây dựng trang Wikileaks, mà sau đó được mệnh danh là "quả bom sự thật".

Sự nổi tiếng của Wikileaks gắn liền với việc thu thập những thông tin bí mật với khối lượng lớn, lưu trữ chúng bằng công nghệ làm sao để chính phủ và các tổ chức khác không thể thu hồi, sau đó công bố trên phạm vi toàn cầu. Những đợt công bố thông tin gây chấn động của Wikileaks gồm 250.000 thư tín ngoại giao của Mỹ vừa qua cùng hơn 90.000 tài liệu mật của Mỹ về chiến tranh Afghanistan và 400.000 tài liệu tương tự về Iraq, đều diễn ra trong năm nay.

Tuổi trẻ "dữ dội"

Julian Assange sinh ra tại thành phố Townsville, bang Queensland, miền bắc Australia năm 1971 và có một tuổi thơ "dữ dội". Cha mẹ anh gặp nhau trong một lần đi biểu tình phản đối chiến tranh tại Việt Nam và có lẽ điều này đã góp phần khiến đứa con của họ mang trong mình một tinh thần "ưa nổi loạn". Sự bất ổn về cư trú bắt đầu đeo bám Assange ngay từ khi còn thơ với 37 lần phải đổi trường học, vì cha mẹ điều hành một nhà hát lưu động nay đây mai đó.

Những nguồn tin từ Australia cho rằng Assange đã bỏ nhà đi bụi từ năm 17 tuổi và có thời gian sống vất vưởng ở thành phố Melbourne. Dù yêu thích toán và vật lý, Internet mới là niềm đam mê đích thực của cậu thanh niên có bản lý lịch khác người này. Niềm đam mê đã dẫn dắt Assange trở thành một phần của thế giới ngầm trong làng máy tính khi ở độ tuổi mới lớn. Anh tìm cách học làm hacker để đột nhập vào tài khoản email của những người giàu có hoặc có ảnh hưởng, rồi khai thác bí mật của họ.

Duy trì lối sống ưa tự do nhưng Assange đã lên chức bố ngay từ năm mới 18 tuổi. Đi đêm lắm cũng có ngày gặp ma, năm 1995, Assange đã suýt phải vào bóc lịch trong nhà tù vì 25 cáo buộc liên quan đến tội danh tấn công hệ thống máy tính. Cuối cùng Assange lĩnh án phạt vài nghìn đô la Australia và chỉ may mắn thoát cảnh ngồi tù với điều kiện không được tái phạm.

Qua thời 'nông nổi'

Sau lần vướng vào vòng lao lý, Assange quyết định đi theo một hướng khác có tính chất khá hàn lâm, khi làm việc suốt 3 năm với nhà nghiên cứu Suelette Dreyfus, chuyên nghiên cứu về các ảnh hưởng của Internet, và viết chung một cuốn sách với bà. Dreyfus mô tả Assange là "nhà nghiên cứu rất có tài", người khá quan tâm đến những vấn đề vĩ mô như khái niệm chủng tộc và công lý, cũng như những việc mà các chính phủ nên và không nên làm.

Bước đi mang tính "hàn lâm" tiếp theo của Assange là vào học tại Đại học Melbourne và theo đuổi nghiên cứu môn toán và vật lý. Tại đây anh đã trở thành một thành viên nổi tiếng của hiệp hội những nhà nghiên cứu về toán học của trường. Nhưng bước ngoặt thực sự của chuyên gia xuất thân từ hacker này đến từ năm 2006, khi anh và những người bạn cùng niềm đam mê lập ra trang Wikileaks với lời giới thiệu là "trang Wikipedia không thể kiểm duyệt".

Trang web phi lợi nhuận này được Assange điều hành với sự cộng tác của một nhóm tình nguyện viên, chuyên công bố những tài liệu nhạy cảm hoặc bí mật về những sai trái của các chính phủ cũng như tổ chức, đồng thời chuyển những thông tin đặc biệt này cho giới truyền thông.

Một trong những tài liệu gây chấn động đầu tiên mà Wikileaks công bố là đoạn băng video bí mật ghi lại cảnh một trực thăng chiến đấu Apache của Mỹ bắn giết 12 thường dân, gồm hai phóng viên Reuters, tại Baghdad năm 2007. Tiếp theo là đợt công bố thông tin ồ ạt về các bí mật của tình báo Mỹ liên quan đến chiến tranh Afghanistan và Iraq vào tháng 7 và tháng 10 vừa qua. Mới đây nhất là đợt tung ra 250.000 thư tín, phơi bày hậu trường nền ngoại giao Mỹ từ ngày 28/11 có liên quan đến khắp thế giới.

Dù là người sáng lập và điều hành trang web Wikileaks đã trở nên nổi tiếng khắp nơi, Assange sống khá bí hiểm và rất hiếm khi xuất hiện. Bình thường cuộc sống của Assange nay đây mai đó, luôn mang theo một chiếc máy tính và ít quần áo trong ba lô. Tiền đi lại của anh được lấy từ "các nguồn kiếm trên Internet". Assange được nhận diện với mái tóc bạc không tương xứng với độ tuổi, cùng vẻ ngoài không lấy gì làm phong trần và phong cách luôn bỏ ngoài tai những lời chỉ trích.

Một phóng viên của tạp chí New Yorker là Raffi Khatchadourian, người từng có dịp theo chân Assange đi khắp nơi trong vài tuần, đã mô tả cha đẻ của trang Wikileaks là người có thể đi những quãng đường dài mà không cần ăn, có thể tập trung làm việc rất lâu và ngủ rất ít.

Chấp nhận "gieo gió" bằng cách tung ra bàn dân thiên hạ những thông tin nhạy cảm đụng chạm đến những "ông lớn" có quyền lực không giới hạn, nên Assange "gặp bão" là điều không thể tránh khỏi. Cuộc sống không ổn định thời trai trẻ của anh đang được tiếp nối bằng hành trính trốn chạy khắp thế giới của một người đàn ông đã gần 40 tuổi nhưng vẫn không có địa chỉ nhà cố định.

Hành trình trốn chạy

Ngay khi Wikileaks chưa tung ra "quả bom sự thật" gây sốc trong năm nay về chiến tranh tại Afghanistan và Iraq, cả Lầu Năm Góc và Bộ Tư pháp Mỹ đều mang Luật tình báo năm 1917 ra để "đe" Assange và yêu cầu anh phải trả lại tất cả các tài liệu của chính phủ mà mình đang có, đồng thời họ nhấn mạnh không được công bố chúng dưới bất kỳ hình thức nào.

Nhưng câu trả lời của Assange là từ chối làm theo và chấp nhận cuộc sống trốn chạy khắp nơi, trong hoàn cảnh gần như không còn nơi nào trên trái đất muốn chứa chấp. Khi tranh cãi về các tài liệu mật liên quan đến chiến tranh Afghanistan được Wikileaks công bố còn đang còn nóng vài tháng trước, Assange đã bay tới Thuỵ Điển và tìm cách xin định cư và hy vọng được bảo vệ vì quyền tự do báo chí nổi tiếng ở nước này.

Ban đầu Assange đã được chào đón nhiệt tình tại đất nước Bắc Âu. Tờ New York Times dẫn lời kể của anh về những ngày đầu tại Thuỵ Điển: "Họ gọi tôi là James Bond của báo chí. Tôi có rất nhiều người hâm mộ ở đó và thậm chí một vài trong số họ đã gây cho tôi chút rắc rối".

Rắc rối mà anh nhắc tới chính là việc mối liên lạc với hai người phụ nữ Thuỵ Điển đã dẫn tới việc Thuỵ Điển bất ngờ phát lệnh bắt Assange với cáo buộc hãm hiếp và quấy rối tình dục. Assange phủ nhận cáo buộc này và cho rằng đó chỉ là một âm mưu được sắp đặt nhằm chống lại cá nhân mình và trang Wikileaks.

Trong khi cảnh sát Thuỵ Điển còn đang điều tra, cuối tháng 9 vừa qua, Assange quyết định rời Stockholm đi Berlin (Đức). Trong lần di chuyển này, chiếc túi anh làm thủ tục lên chuyến bay khá vắng đã không cánh mà bay, trong đó có chứa 3 chiếc laptop được mã hoá. Đến nay chúng vẫn không bao giờ được tìm thấy và Assange cho rằng đã có người can thiệp vào vụ này.

Ở Đức không được bao lâu, Assange lại sang London mang theo mối lo có thể bị bắt ngay khi vừa đặt chân tới xứ sở sương mù. Theo luật của Anh, tấm hộ chiếu Australia cho phép Assange có quyền ở lại nước này trong thời gian 6 tháng. Assange cũng tính nơi đến tiếp theo của mình có thể là đảo quốc Iceland, nơi cũng có nền tự do báo chí khá thoải mái và có nhiều người ủng hộ Wikileaks. Nhưng sau đó anh cho rằng chính phủ tại đây cũng giống như ở Anh, rất dễ chịu ảnh hưởng từ Washington, nên không thể là "miền đất hứa" của mình. Hiện theo nhiều nguồn tin phỏng đoán, người sáng lập trang Wikileaks vẫn có mặt tại Anh.

Trong khi đó quê nhà Australia thậm chí còn trở thành "miền đất dữ" đối với hoàn cảnh của Assange, vì các quan chức nước này đã bóng gió rằng họ sẵn sàng hợp tác với Mỹ nếu Washington quyết định truy tố người sáng lập Wikileaks. Anh kể lại việc một quan chức Australia từng nói với anh rằng: "Anh đã chơi không đúng luật nên anh sẽ bị xử ngoài luật".

Hiện không chỉ các chính phủ lên án Assange, mà ngay cả những cộng sự thân thiết cũng từ bỏ anh vì tính khí thất thường và độc đoán. Họ cũng nhận thức được rằng những thông tin nhạy cảm mà Assange tung ra trên Internet có thể khiến họ phải trả giá bằng máu. Một số đồng nghiệp tại Wikileaks cho biết Assange đã tự mình quyết định tung các tài liệu mật về Afghanistan mà không bỏ nguồn tin tình báo người địa phương làm cho NATO. Họ mô tả hình ảnh Assange là người sáng tạo và có khả năng hấp dẫn người khác, nhưng cũng giống như các ngôi sao đã ngày càng trở nên độc đoán, lập dị và đồng bóng.

Tuy vậy, không hẳn cả thế giới đều quay lưng với Assange. Ngay khi trang Wikileaks công bố những tài liệu thư tín nhạy cảm của các sứ quán Mỹ trên khắp thế giới, một nước có quan điểm khác Washington tại Nam Mỹ là Ecuador tuyên bố sẽ cho Assange được định cư ở nước mình. BBC dẫn lời Thứ trưởng Ngoại giao Ecuador hôm qua cho biết: "Chúng tôi để ngỏ việc mời Assange đến sống tại Ecuador mà không có bất cứ điều kiện hay rắc rối nào".

Nhưng dường như cánh cửa Ecuador sẽ không thể giúp Assange tìm được cuộc sống yên ổn. Ngay khi Wikileaks công bố các thư tín ngoại giao mà Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton lên án là "hành động tấn công vào thế giới", lực lượng cảnh sát quốc tế Interpol vừa phát đi lệnh truy nã Assange. Lý do vẫn là cáo buộc hãm hiếp và quấy rối hai phụ nữ Thuỵ Điển. Hơn nữa, Tổng thống Ecuador Rafael Correa cũng vừa lên tiếng rút lại đề nghị do thứ trưởng ngoại giao đưa ra.

Những hệ luỵ của Wikileaks

Trước khi công bố các tài liệu về Afghanistan và Iraq gây chấn động thế giới, trang Wikileaks đã có những động thái gây chú ý mạnh. Họ công bố các tài liệu về nhà giam nghi phạm khủng bố của Mỹ ở Guantanamo, dữ liệu về tài khoản email Yahoo cá nhân của cựu ứng viên phó tổng thống Mỹ Sarah Palin, những báo cáo về các vụ giết chóc ngoài vòng pháp luật tại Kenya và Đông Timor, danh sách thành viên đảng tân phát xít tại Anh và đoạn video quay cảnh các trực thăng chiến đấu Apache của Mỹ đang bắn giết ít nhất 12 người tại Baghdad năm 2007.

Nhưng khi sự tò mò và thậm chí là độ sốc đã qua đi, Wikileaks bắt đầu đối mặt với sự chỉ trích và nghi ngờ. Các tổ chức bắt tay với Lầu Năm Góc lên án trang web này đã khiến cuộc sống của nhiều người gặp nguy hiểm bằng cách công bố các tài liệu chiến tranh, trong đó phơi bày tên của những người Afghanistan đang làm việc cho người Mỹ hoặc làm "tay chân" cho quân Mỹ.

Một phát ngôn viên của Taliban tại Afghanistan là Zabiullah Mujahid cho biết qua một cuộc trả lời phỏng vấn bằng điện thoại rằng, Taliban đã thành lập một "uỷ ban" gồm 9 thành viên sau khi các tài liệu về Afghanistan được Wikileaks công bố. Mục đích của họ là "truy lùng những người Afghanistan đang làm gián điệp" cho kẻ thù Mỹ. Nguồn tin này cho biết thêm hiện Taliban có danh sách truy nã 1.800 người Afghanistan đã được Wikileaks công bố tên tuổi.

Đình Nguyễn

Posted: Fri Dec 03, 2010 7:15 am
by hoanghoa
Láng giềng ‘hữu nghị’ phá hoại Việt Nam


Nguyễn Trọng Vinh
(Nguồn: Bauxite Việt Nam)


Việt Nam không hề khiêu khích và xâm phạm vào đất Trung Quốc. Thế mà năm 1979, Trung Quốc huy động hàng chục sư đoàn “dạy cho Việt Nam một bài học,” giết hại dân và tàn phá bốn tỉnh của Việt Nam; đánh chiếm cao điểm 1509 trong huyện Vị Xuyên-Hà Giang của chúng ta; năm 1988, đánh đắm tàu hải quân, giết hơn 70 chiến sĩ, sĩ quan và chiếm một số bãi đá ngầm trong quần đảo Trường Sa của chúng ta.
Image
Thác Bản Giốc trở thành biểu tượng của sự mất đất vào tay Trung Quốc. (Hình: commons.wikimedia.org)



Trong đàm phán biên giới, họ ép ta làm ta mất một nửa thác Bản Giốc, dân ta cũng không được đặt chân đến Ải Nam Quan nữa, tất cả ta mất hàng trăm km2 đất. Họ xóa hiệp định phân định ranh giới vịnh Bắc Bộ giữa hai chính phủ Pháp-Thanh (do lịch sử để lại) đòi chia lại, ăn hơn của ta một phần hải phận.

Sau khi nêu ra phương châm 16 chữ và 4 tốt với lãnh đạo ta, họ đã nghiễm nhiên đứng được trên nóc nhà Ðông Dương, vị trí chiến lược xung yếu của ta, khai thác Bốc-xít, di hậu họa cho hàng triệu đồng bào ta.

Các công ty của họ thuê rừng 50 năm để trồng cây bạch đàn, trước tiên là chặt cây phá rừng, tạo thêm nguyên nhân gây lũ lụt cho ta. Bạch đàn là cây ăn rất hại đất, hết hạn thuê, họ rút đi để lại cho ta hàng dãy hecta đất trống đồi trọc, vì không cây gì mọc được. Ðây là một mưu kế rất thâm hiểm hại ta. Nguy hiểm hơn nữa là các công ty của họ thuê các khoảnh rừng trong đó ôm cả những đồi cao 600-700m tại các huyện Tràng Ðịnh, Bảo Lộc của Lạng Sơn và Tiên Yên của Quảng Ninh, có nơi chỉ cách biên giới Trung Quốc 700m. Họ phá rừng để trồng bạch đàn, phá rừng làm đường vào khu rừng họ thuê, họ làm đường xoáy trôn ốc lên đỉnh các đồi cao nói trên. 50 năm không ai kiểm soát được, họ có xây dựng công sự gì trên đỉnh các cao điểm ấy cũng không ai biết, liệu có để sau này sử dụng như cao điểm 1509 ở Vị Xuyên trước đây không?

Ngoài việc năm 1974, đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của ta, họ tự ý vẽ một cái “lưỡi bò” rất phi pháp bao chiếm gần hết biển Ðông của Việt Nam, khoanh vùng cấm ngư dân ta vào đánh cá trong hải phận của mình, bắn chết, bắt ngư dân ta, tịch thu tài sản, ngư cụ, giam giữ, phạt tiền, dùng “tàu lạ” đâm chìm tàu cá của ngư dân ta.

Cậy có hải quân mạnh, tập trận diễu võ dương oai ở Biển Ðông, uy hiếp ta, luôn tuyên bố sẽ “thu hồi” Tây Sa, là Trường Sa của Việt Nam, mà họ to mồm nhận xí là của họ. Họ thuê dài hạn một đoạn bờ biển ở Ðà Nẵng, nói là để xây dựng “khu vui chơi giải trí,” xây nhà máy điện nguyên tử chỉ cách biên giới tỉnh Quảng Ninh 60km, nếu rò rỉ phóng xạ thì bên ta mang họa.

Trên thượng nguồn sông Mê Kông, Trung Quốc xây một hệ thống đập trong đó có đập Tiểu Loan, chặn mất một khối nước vô cùng lớn. Nam Bộ của chúng ta ở cuối dòng sông, mùa khô đồng bằng sông Cửu Long sẽ thiếu nước, liệu còn nuôi được cá tra, cá basa nữa không? Có đủ nước tưới cho các vùng cây trái không? Vựa lúa Nam Bộ có bị ảnh hưởng không? Sông cạn, nước mặn sẽ dâng sâu vào nội địa, triều cường càng dữ, nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh liên quan sẽ sống ra sao? Trung Quốc chặn nguồn nước thượng lưu của một con sông quốc tế, thật là một kế hoạch ích kỷ, ác độc.

Họ trúng thầu một loạt nhà máy nhiệt điện và một số công trình, họ tự do đưa ồ ạt lao động của họ vào. Thế là, trên khắp đất nước ta, từ “nóc nhà Ðông Dương,” từ rừng núi tới đồng bằng, đến ven biển đã có hàng vạn người Trung Quốc rải ra, có là mối nguy tiềm ẩn không?

Từ những tình hình trên, rõ ràng Việt Nam ta bị hại đủ đường, và bị o ép tứ phía. Vì đâu nên nỗi này? Nhân dân ta nghĩ gì?

N. T. V.