Page 49 of 187

Posted: Fri Dec 03, 2010 6:47 am
by khieulong
Trung Quốc sẽ phải chán Bắc Hàn

Ngô Nhân Dụng
Phó Ngoại Trưởng Nam Hàn Chun Yung-woo, có lần tiên đoán với Ðại Sứ Mỹ Kathleen Stephens là chế độ ở Bắc Hàn sẽ chỉ tồn tại được ba năm sau khi lãnh tụ Kim Chính Nhật qua đời.

Ðây là một điều mới được tiết lộ trong số những tài liệu mật của chính phủ Mỹ được phơi bầy trên 5 tờ báo quốc tế, khiến nhiều chính khách khắp thế giới giật mình, bối rối, có khi cảm thấy trơ trẽn, vì những điều họ tưởng chỉ nói riêng với một vài người Mỹ nay ai ai cũng biết.

Không những thế, trong số những điều được tiết lộ có những chi tiết liên can đến Trung Quốc. Ông Chun Yung-woo còn nói thêm rằng nếu chế độ Bắc Hàn sụp đổ và Hàn Quốc được thống nhất dưới một thể chế dân chủ như ở Nam Hàn hiện nay, thì Bắc Kinh sẽ không phản đối. Họ đã giao thương với Nam Hàn từ mấy chục năm nay, Nam Hàn là một thị trường tiêu thụ bao nhiêu hàng Trung Quốc xuất cảng, giới tư bản Nam Hàn lại đầu tư mở nhà máy, tạo công ăn việc làm cho người Trung Hoa. Trung Quốc có thể sống với một nước Cao Ly mới, để việc làm ăn buôn bán sẽ tiếp tục như cũ, miễn là nước Ðại Hàn mới không chống Trung Quốc! Mà điều này thì Bắc Kinh có thể tin được. Vì có ai lại dại dột gây thù chuốc oán với một nước lớn nằm ngay bên cạnh mình? (Chỉ có ông Lê Duẩn và đảng Cộng Sản Việt Nam mới làm như vậy, khi liên kết với Nga Xô, chính thức ghi vào hiến pháp rằng người Trung Hoa là kẻ thù truyền kiếp!)

Nhưng Bắc Kinh có bối rối hay không khi Bắc Hàn cũng nghe lời tiết lộ của ông Chun? Chắc hẳn họ đang lo giải thích với Bình Nhưỡng. Rằng ông Chun này nói láo. Rằng Trung Quốc lúc nào cũng coi Bắc Hàn là đồng chí, lại là anh em. Rằng Bắc Hàn có thể tin tưởng vào sự bảo trợ của Trung Quốc trong các tranh chấp với lân bang, từ Nhật Bản đến Nam Hàn, và kể cả Mỹ. Chính quyền Kim Chính Nhật sẽ giả bộ tin tưởng vào những lới trấn an đó. Nhưng ông Kim cũng không phải người ngu - ngu thì làm sao giữ yên được triều đình cha truyền con nối suốt hơn nửa thế kỷ trong khi để dân chúng chết đói hàng triệu người? Nhưng bên trong, chế độ cộng sản ở Bắc Hàn vẫn đang đi tìm kế an toàn để bảo đảm lời tiên đoán của ông Chun Yung-woo không thể xẩy ra.

Mối lo của Kim Chính Nhật, từ mấy năm nay, là ông ta sẽ không tránh khỏi số. Bệnh ông rất nặng, không biết ngày nào nhắm mắt “đi theo các cụ Marx, Engels, Lenin, Stalin,” như ông Hồ Chí Minh đã viết trong di chúc. Vì biết mình sắp chết, Kim Chính Nhật đã lo lập ngôi thái tử, cậu út Kim Chính Vân (Kim Jong-Un) đã chính thức được phong làm phó chủ tịch ủy ban quân sự của Ðảng Lao Ðộng Triều Tiên - sang năm cậu có thể sẽ nhận thêm chức Phó chủ tịch Quân ủy trong guồng máy chính quyền. Những hành động có vẻ khó hiểu của Bắc Hàn gần đây đều do một động cơ, là làm mọi cách bảo vệ ngôi thái tử an toàn, sau sẽ lên ngôi cho ngai vàng họ Kim bền vững mãi trên nửa Bắc xứ Cao Ly.

Vụ pháo kích lên hòn đảo Diên Bình (Yeonpyeong) nằm trong kế hoạch tổng quát nhằm đề cao vai trò thái tử của Kim Chính Vân. Hai bố con ông Kim đã tới thăm giàn pháo của Bắc Hàn, chỉ mấy giờ trước khi khai hỏa; để mai mốt có thể quảng cáo rằng chính Cậu Út là một người góp phần lãnh đạo tất cả chiến dịch này. Trong ngày tình hình căng thẳng giữa hai bên, đài truyền hình Bắc Hàn đã chiếu những cảnh ông Kim bố và cậu Kim con vai sánh vai đi thăm các nhà máy, đi nghe hát. Và các đài ti vi không quên chiếu hình ông Tướng Tham mưu trưởng Quân đội Bắc Hàn đi giữa hai bố con. Họ muốn chứng tỏ rằng tất cả tướng lãnh, quân đội đang siết chặt hàng ngũ sau lưng vua và thái tử.

Hệ thống tuyên truyền các báo, các đài ở Bắc Hàn nằm trong tay của nhà họ Kim. Họ mô tả vụ pháo kích đảo Diên Bình như là một đòn “trừng phạt” đối với những hành động khiêu khích của chính phủ Mỹ và bọn “ngụy quyền tay sai đế quốc” ở miền Nam. Vì 23 triệu dân Bắc Hàn không được nghe, không được đọc một nguồn tin nào khác ngoài những gì báo, đài của đảng Cộng Sản, cho nên người dân sẽ tin vào lời giải thích đó. Mỹ đã làm gì mà gọi là khiêu khích? Chính là cuộc thao diễn hải quân của hai nước Mỹ và Nam Hàn, trong vùng Tây Hải (người Trung Hoa gọi là Hoàng Hải), với một hàng không mẫu hạm có khả năng phóng hỏa tiễn mang bom nguyên tử. Ðối với dân chúng Bắc Hàn, sau khi nghe đài và đọc báo của Ðảng, thì hành động pháo kích đảo Diên Bình hoàn toàn hợp lý và cần thiết. Không những thế, bộ máy tuyên truyền của Ðảng Lao Ðộng Triều Tiên sẽ mô tả đó là một hành động “vô cùng sáng suốt” và “vô cùng dũng cảm” để bảo vệ nhân dân Bắc Triều Tiên!

Cả chiến dịch tuyên truyền này sẽ kết thúc khi ông Kim Chính Nhật tuyên bố thắng lợi! Thắng lợi như thế nào? Guồng máy tuyên truyền cộng sản Bắc Hàn sẽ nêu cao những chiến thắng: Tất cả tầu chiến của “Ðế quốc Mỹ” và “ngụy quyền miền Nam tay sai đế quốc” đã phải rút ra khỏi Tây Hải! Người dân Bắc Hàn làm sao kiểm chứng được là cuộc thao diễn nào cũng phải có lúc kết thúc? Báo đài Bắc Hàn sẽ nêu lên thêm một chứng cứ khác cho chiến thắng của họ Kim: Ông bộ trưởng Quốc Phòng Nam Hàn đã phải từ chức! Ðối với mọi người trên thế giới thì việc từ chức của ông ta chỉ chứng tỏ tinh thần trách nhiệm, đáng khen ngợi. Nhưng bộ máy tuyên truyền cộng sản sẽ coi đó là kết quả của đòn “trừng phạt” nặng nề đối với bọn “ngụy quyền tay sai đế quốc!” Họ sẽ bắt dân chúng mở hội ăn mừng “Nhân dân Triều Tiên đã chiến thắng đế quốc và bè lũ tay sai” nhờ sự lãnh đạo của Ðảng Lao Ðộng Quang Vinh! Nhân dịp đó, Cậu Út Kim Chính Vân sẽ được gắn huy chương! Cậu có thể được phong thêm chức tước mới, vì đã góp công vào cuộc “chiến thắng vĩ đại” này.

Ðây là một màn dàn cảnh để tô điểm cho con người cậu Út, cho địa vị của cậu thêm vững vàng. Ai cũng biết các lãnh tụ cộng sản không tin ai hết, và chính họ không tin lẫn nhau. Trong guồng máy thống trị Bắc Hàn, có biết bao nhiêu người nuôi tham vọng thay thế họ Kim? Có bao người đang uất ức vì phải chịu cúi đầu làm tôi mọi cho một bọn bất lương, thối nát, để chính mình cũng đồng lõa mang tội với đất nước? Người Hàn Quốc Nam cũng như Bắc, không thiếu gì những kẻ thông minh, tài trí; không thiếu gì những người có can đảm muốn “làm đại sự?” Nhìn hình ảnh những tướng lãnh Bắc Hàn, phần lớn trên 60 tuổi, đứng bên cạnh Ðại Tướng Cậu Út Kim chúng ta có thể đoán họ cũng đang hy vọng ngày ông Kim bố chết sẽ có thay đổi! Ông Kim Chính Nhật phải cố gắng còn sống ngày nào thì phải tìm mọi kế củng cố ngai vàng cho cậu Út lên ngôi kế vị.

Trên đây là những mưu kế thi hành trong nội bộ Bắc Hàn để củng cố ngai vàng. Còn đối với bên ngoài, Kim Chính Nhật phải đi thêm một nước cờ khác: Làm sao ký kết được với nước Mỹ một hiệp ước đình chiến chính thức, trong đó Mỹ sẽ phải cam kết không đem quân đánh Bắc Hàn. Một điều chính quyền Bình Nhưỡng luôn luôn đòi hỏi từ bao nhiêu năm nay là được nói chuyện tay đôi, trực tiếp với Mỹ. Ngay sau khi đảo Diên Bình bị pháo kích, bộ Ngoại Giao Trung Quốc cũng nhắc lại rằng Bắc Hàn đang muốn nói chuyện trực tiếp với Mỹ. Cựu Tổng Thống Mỹ Jimmy Carter đã viết một bài trên báo nói rằng ông đã gặp các lãnh tụ Bắc Hàn nhiều lần, và biết chắc chắn một điều: Họ chỉ mong được nói chuyện tay đôi với Mỹ. Ông Carter có vẻ muốn than rằng các vị tổng thống từ Clinton, Bush, đến Obama đã bỏ qua không cho họ Kim được thỏa mãn ước muốn đó, cho nên mới xẩy ra bao nhiêu vụ rắc rối từ mấy chục năm nay!

Nhưng nước Mỹ có lợi gì khi bằng lòng nói chuyện tay đôi với Bắc Hàn? Lợi không bằng hại.

Chịu ngồi nói tay đôi với Bắc Hàn là bỉ mặt đồng minh Nam Hàn. Thế ngoại giao của nước Mỹ không cho phép làm như vậy. Mua được tình trạng yên tĩnh trên bán đảo Cao Ly, nhưng có thể làm mất lòng đồng minh Nam Hàn, một cường quốc kinh tế, một đối tác thương mại và đầu tư; có ai muốn đánh đổi như vậy hay không? Còn những phiền nhiễu do chế độ cộng sản Bắc Hàn gây ra, có phiền nhiễu thật, nhưng phiền rất nhẹ đối với nước Mỹ, trong khi lại rất nặng đối với các nước láng giềng của Bắc Hàn, trong đó có Trung Quốc. Ðặc biệt là Trung Quốc. Vì nước này phải “nuôi báo cô” chế độ Bắc Hàn, không khác gì ngày xưa viện trợ từng cây kim, sợi chỉ cho Bắc Việt. Ngày xưa, Lê Duẩn đã trở mặt. Có thể tin tưởng hơn vào họ Kim hay không?

Ðối với Trung Quốc, sự tồn tại của chế độ cộng sản ở Bắc Hàn gây thêm nhiều rủi ro. Nếu Bắc Hàn cứ gây sự hoài, sẽ đến ngày Nhật Bản, Nam Hàn phải lo chế bom nguyên tử. Có thể họ đã chuẩn bị sẵn sàng rồi, chưa tiến hành đấy thôi. Nếu Nhật và Nam Hàn có bom nguyên tử, Ðài Loan có chịu ngồi yên hay không? Trung Quốc có muốn thấy các nước đó làm bom nguyên tử, để đối phó với cha con Kim Chính Nhật hay không?

Cho nên, chính quyền Bắc Kinh sẽ tới lúc cũng muốn chế độ ở Bắc Hàn “thay đổi,” nếu không sụp đổ quá nhanh chóng đến nỗi hàng triệu người Bắc Hàn chạy sang Trung Quốc tị nạn. Trong những tài liệu mật của chính phủ Mỹ mới bị tiết lộ, một nhân vật chính quyền Trung Quốc nói nhỏ với một viên chức Mỹ rằng nếu Bắc Hàn sụp đổ thì Bắc Kinh sẽ phải phong tỏa biên giới. Hiện nay có 300,000 người Bắc Hàn đang tị nạn ở Mãn Châu, lo cho con số đó đã mệt rồi!

Trung Quốc có cần đến Bắc Hàn hay không? Hiện nay nước cộng sản đàn em này chỉ có ích cho Trung Quốc khi được dùng như một con cờ để trao đổi, khi cần thương lượng với các nước khác, từ Nhật Bản đến Mỹ. Còn cộng sản Bắc Hàn thì các nước đó còn cần Trung Quốc. Nhưng sẽ đến lúc chính Bắc Kinh phải so sánh cái lợi với cái hại. Một cái hại trông thấy ngay bây giờ là cả thế giới đang ngó về phía Bắc Kinh để coi họ có dậy bảo được đứa đàn em hung hãn hay không! Ở Mỹ, Nghị Sĩ John McCain đã gọi thẳng tên chính phủ Trung Quốc để phiền hà về hành động của Kim Chính Nhật!

Trong tài liệu mật mới được tiết lộ, Phó Ngoại Trưởng Trung Quốc Hà Á Phi (He Yafei) đã than với một nhà ngoại giao Mỹ rằng “Bắc Hàn giống như một đứa con hư.” Cả thế giới đang phiền trách chính phủ Bắc Kinh về đứa con hư đó.

Hiện nay một nửa số thực phẩm ở Bắc Hàn do Trung Quốc cung cấp. Hai phần ba nhiên liệu cũng đến từ Trung Quốc. Sẽ đến lúc ông bố già Trung Quốc sẽ cảm thấy sung sướng nếu dứt được cái của nợ này! Làm ăn với một Hàn Quốc tư bản thống nhất dễ chịu hơn nuôi nấng một chế độ cộng sản ăn bám!

Posted: Fri Dec 03, 2010 8:13 pm
by KýCóp

Image

Đại Họa Mất Nước
Một video đáng được nên xem
Cac anh chi,

Xin bo chut thi gio vao cai link duoi day (gom 8 chapters) de xem mot tac pham that la hay.
Xem de thay va so cho hiem hoa dang sap xay ra cho dan toc VN cua minh.
Coi xong cai video nay thi moi thay cam phuc va cam on nhung nguoi da bo cong, cua de lam ra tac pham nay.

Sau khi xem xong, xin cac anh chi chuyen toi cho gia dinh, nguoi than, ban be ma minh quen biet de hy vong tat ca nguoi Viet minh cung duoc xem. Tiec qua, cai video nay bang tieng Viet, chu neu duoc subtitle ra bang tieng My thi lop tre VN nhu dam con, chau VN cua minh no duoc xem va hieu biet them thi tot biet bao nhieu.
Xin co gang bo thi gio xem nhe, khong co thay uong phi thi gio cua cac anh chi dau.

Kính Gởi Quý Vị,
Bộ phim tài liệu Đại Họa Mất Nước @YouTube --Gồm 8 Chapter.

Xin bấm vào các link dưới đây --Control + Doble Click:
Chapter -1/8:
Chapter -2/8:
Chapter -3/8:
Chapter -4/8:
Chapter -5/8:
Chapter -6/8:
Chapter -7/8:
Chapter -8/8:

http://dangnguoivietyeunguoiviet.blogspot.com

Posted: Sat Dec 04, 2010 3:36 am
by dailien
Đảng Mất Lòng Dân -Biểu Hiện Xụp Đổ Chủ Nghĩa Cộng Sản VN


Lão Đảng Viên (Danlambao) – Không ai khác, Đảng có tội với toàn thể dân tộc Việt Nam, có tội với nhân dân Việt Nam, có tội với hàng chục triệu oan hồn liệt sĩ Việt Nam. Hàng triệu con người Việt Nam đã đi theo Đảng, đã phục vụ Đảng để rồi khi Đảng cầm quyền, Đảng đã đối xử với người dân như vậy đó. Là một đảng viên, tôi thật đau lòng viết lên sự thật này…

Trong những năm gần đây, Đảng cộng sản Việt Nam (sau đây gọi là Đảng) đã mất đi sự tín nhiệm của dân chúng. Mặc dù bộ máy tuyên truyền cồng kềnh với trên 600 cơ quan báo chí truyền thông cùng với cả hệ thống các ban bệ của Đảng từ trung ương đến địa phương với chi phí cực kỳ tốn kém từ tiền đóng thuế của dân vẫn ngày đêm ra rả tuyên truyền nhưng những luận điệu tuyên truyền sáo rỗng đó đã không còn được người dân tin cậy.

Trong xã hội ngày càng xuất hiện nhiều người có biểu hiện chống đối từ ngấm ngầm đến công khai, người dân mất niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng thấy rõ thông qua sự mất niềm tin vào chính quyền. Đảng luôn giao giảng là chính quyền nhân dân, chính quyền vì dân nhưng thực chất đó chỉ là trò lừa phỉnh rẻ tiền mà ngày nay dưới sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin và internet đã bóc mẽ trò lừa phỉnh rẻ tiền đó thông qua các blogger hay hệ thống báo chí quốc tế.

Ngày nay, càng nhiều tội ác của chế độ cộng sản được phơi bày trước bàn dân thiên hạ mà gần đây nhất là việc Duma của Nga đã bỏ phiếu thuận luận tội tên đồ tể của chủ nghĩa cộng sản Stalin với vụ thảm sát kinh hoàng và hết sức dã man giết chết hơn 22.000 sĩ quan Ba lan trong vụ rừng Katyn vào những năm 1940, vụ cộng sản Trung quốc giết chết hàng ngàn sinh viên biểu tình ở Thiên An Môn v.v… Những tội ác ấy man rợ và đáng khinh bỉ hơn tất cả mọi chế độ xã hội khác nhất là nó xảy ra ngay thời kỳ của thế giới văn minh với sự phát triển rất mạnh của nền đại công nghiệp của chủ nghĩa tư bản.

Ở Việt Nam, dưới sự quản lý xã hội và độc quyền cai trị, Đảng đã áp dụng những bài học man rợ của chủ nghĩa cộng sản để trong hơn nửa thế kỷ qua đã o ép nhân dân phải đi qua bao chặng đường gian nan vất vả.

Dưới sự bảo trợ của Liên Xô và Trung Quốc, chính quyền cộng sản Việt Nam đã đưa nhân dân vào cuộc chiến tranh cực kỳ tàn khốc và hết sức đẫm máu huynh đệ tương tàn giữa hai miền Nam Bắc. Chừng đó năm chiến tranh huynh đệ, đất nước rơi vào kiệt quệ, người dân đói khổ nheo nhóc bao nhiêu năm. Khi thống nhất tổ quốc, Mỹ rút quân khỏi Việt Nam đúng như mong muốn của bọn giặc Trung Quốc, người dân chưa kịp hồi sinh thì chúng lại trở mặt quay lại tấn công nhân dân ta và bài học 17 tháng 2 năm 1979 còn nguyên tính thời sự. Trước đó, vụ thảm sát các chiến sĩ Việt nam tại quần Đảo Hoàng Sa năm 1974, và quần đảo Trường Sa năm 1988 nếu ai được xem đều thấy sự kinh hoàng và giã man hết sức.

Vậy mà ngày nay, vừa hưởng hoà bình mấy chục năm, Đảng đã quên ngay kẻ thù trước mắt mà bằng chứng là ra sức đàn áp những người yêu nước, chống lại sự hoành hành chiếm đất, chiếm biển, chiếm đảo của bọn giặc phương Bắc. Đất đai, tài nguyên của nước ta bọn chúng sang lăm le khai thác hết mà vụ cho thuê rừng và khai thác bô xít ở Tây nguyên là minh chứng cụ thể nhất. Đảng run sợ trước sự bành trướng bá quyền phương Bắc cho nên đến kỷ niệm 30 năm ngày Trung Quốc tấn công giết chết hàng trăm ngàn dân thường và bộ đội của chúng ta tháng vào tháng 2 năm 2009 đã không một cơ quan nào của nhà nước nhắc lại, báo đài lề phải cũng im tịt không đưa tin theo sự chỉ đạo của Đảng. Trong khi đó, thì Đảng cứ nhắc mãi kỷ niệm ngày giải phóng Miền Nam đánh đổ chế độ xã hội Việt Nam Cộng Hoà.

Điều đó cho thấy nhận thức về kẻ thù của dân tộc Việt Nam trong Đảng đã hết sức sai lầm. Thế thì làm sao Đảng kêu gọi đoàn kết, làm sao kêu gọi hoà giải dân tộc được trong khi Đảng bắt tay kẻ thù, đàn áp phong trào đấu tranh bất bạo động và hòa bình trong nước hết sức bỉ ổi thông qua việc bắt bớ, qui tội kiểu chụp mũ những nhà đấu tranh ôn hoà cho một xã hội dân sự văn minh, cho tương lai dân tộc Việt Nam. Đỉnh điểm của sự tàn độc và mất nhân tính là kịch bản bắt tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ.

Đảng có biết rằng trên biên giới đất liền ngày nay, bọn giặc đang ra sức xoá dấu vết cũ của hiệp định phân chia biên giới Pháp – Thanh để lấn chiếm đất đai thông qua việc cho nhổ bỏ các cọc mốc biên giới cũ, hay Đảng cũng đồng loã với kẻ thù? Nếu đúng vậy thì Đảng sẽ đi vào lịch sử Việt Nam là như thế nào đây?

Trong khi đó, tình hình trong nước không có gì sáng sủa. Suốt những năn qua, khi mà thế giới đã đi những bước dài thì chúng ta đì đẹt nhích từng bước chậm rãi, nặng lề. Bộ mặt đô thị có đôi chút cải thiện hơn những năm cuối thế kỷ XX nhưng bù lại chúng ta phải trả giá quá đắt. Đó là việc tài nguyên bị khai thác kiệt quệ, rừng nhiệt đới bị khai phá tan hoang, môi trường bị ô nhiễm nặng mà không biết bao giờ khắc phục được, người dân bị thu hồi đất không có việc làm và hiện tượng tái nghèo rất nhanh đã diễn ra. Bên cạnh đó thì đạo đức xã hội xuống cấp nghiêm trọng, tham nhũng hoành hành trên tất cả mọi lĩnh vực, cán bộ có chức quyền thì giàu lên nhanh chóng trong khi đời sống đại bộ phận người lao động đang lao đao và rất khó khăn, giá cả thị trường tăng chóng mặt và năm nay chắc chắn lạm phát sẽ ở mức hai con số là không phải bàn cãi. Thất thoát tài sản nhà nước ngày càng phổ biến rộng hơn với số tiền thất thoát ngày càng lớn mà vụ Vinashin mới đây còn hết sức nóng hổi. Chính phủ thể hiện sự bất lực, điều hành yếu kém và đặc biệt nhất đó là cán bộ Đảng viên ngày nay đã không còn tự trọng, không biết xấu hổ trước dân chúng khi mà những việc làm xấu xa của mình đã phơi bày ra rồi mà không một quan chức nào nhận trách nhiệm và xin từ chức để rồi hiện tượng quanh co, chối tội, đổ lỗi cho nhau, đổ lỗi cho cơ chế và cuối cùng là đổ lỗi cho bộ chính trị và làm theo chỉ đạo của Đảng là hết. Họ vẫn giàu có xa hoa, vẫn có tài khoàn ngoại tệ hàng triệu, thậm chí trăm triệu USD ở ngân hàng nước ngoài, vẫn có nhiều đất đai, biệt thự triệu đô và nhiều tài sản lớn khác mà một công chức bình thường đi làm nhịn ăn cả ngàn năm cũng không có. Vậy tính minh bạch ở xã hội Đảng trị này còn có ý nghĩa gì không?

Không ai khác, Đảng có tội với toàn thể dân tộc Việt Nam, có tội với nhân dân Việt Nam, có tội với hàng chục triệu oan hồn liệt sĩ Việt Nam. Hàng triệu con người Việt Nam đã đi theo Đảng, đã phục vụ Đảng để rồi khi Đảng cầm quyền, Đảng đã đối xử với người dân như vậy đó. Là một đảng viên, tôi thật đau lòng viết lên sự thật này. Tiếng dân oan kêu đã thấu trời xanh, nếu Đảng còn mong một chút chính nghĩa trên đời, để lịch sử mai sau con cháu còn ghi nhận, hơn lúc nào hết Đảng phải lãnh trách nhiệm và từ bỏ ngay sự độc tài toàn trị của mình, chịu sự phán xét của nhân dân và công lý. Nếu lúc đó Đảng không có tội thì sẽ được người dân ủng hộ mà lãnh đạo xã hội một cách chính danh. Chủ nghĩa xã hội là gì? Chủ nghĩa Mác-Lê Nin là gì? mà tại sao dân tộc Việt Nam cứ phải nhắm mắt đi theo. Dân chủ Việt Nam khác dân chủ phương Tây ở điểm nào mà sao các vị cứ bao biện mãi thế? Đảng hãy minh bạch với dân những điều đó đi.

Hỡi những Đảng viên chân chính, hỡi những người dân Việt Nam yêu nước, hỡi những bậc tiền bối và nhân sĩ trí thức hãy vì nòi giống lạc hồng, hãy vì nhân dân và cùng nhân dân ta cương quyết đấu tranh đòi một nền dân chủ chính nghĩa, chính danh cho xã hội. Tiếng chuông cảnh tỉnh đã rung lên không thể để xã hội ta cứ mãi thụt lù với thế giới. Hãy lên tiến bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, hãy tẩy chay hàng Trung Quốc trên phạm vi cả nước, hãy cùng nhau mở rộng vòng tay thân ái để xây dựng đất nước nước ta ngày càng mạnh mẽ hơn, hùng dũng hơn để con cháu chúng ta không sợ hãi trước bọn cường quyền phương Bắc thô bạo và đáng khinh bỉ.

Hà nội, 02 tháng 12 năm 2010

Lão Đảng Viên
nguồn danlambaoblog

Posted: Mon Dec 06, 2010 1:29 am
by vuphong
Tài thật. Tài đến thế là cùng!

Nguyễn Hoàng
(Nguồn: trannhuong.com)

Mới cách đây mấy tháng, con tàu Vinashin chìm trong đổ vỡ. Trong phát biểu của một đại biểu Quốc Hội tại nghị trường,
số nợ cả trong và ngoài nước tới một trăm ngàn tỉ đồng. Công nhân thất nghiệp, nhiều tháng không có lương.

Image


Tầu bè, máy móc mua về cái thì quá đát, cái thì không đồng bộ, cái lạc hậu đang trở thành đống sắt han gỉ. Hàng hóa sản xuất ra kém chất lượng, không có người mua, nhiều hợp đồng bị hủy. Chỉ tính riêng tiền lãi ngân hàng đã lên đến hàng chục tỉ đồng/ngày. Lãnh đạo tập đoàn tham nhũng, làm trái quy định, đưa anh em, người nhà vào thao túng những vị trí then chốt. Nhiều công ty con trên bờ phá sản và công ty mẹ, con tàu Vinashin đang trên đà trở thành... con tầu Titanich chờ ngày chìm lỉm xuống đáy đại dương.

Trước tình hình bi đát trên, lãnh đạo cử Phó Thủ Tướng Thường Trực Nguyễn Sinh Hùng làm trưởng ban tái cơ cấu Vinashin. Và như một phép màu, chỉ hơn một tháng sau, con tầu sắp đắm Vinasin bỗng căng buồm lướt sóng ra khơi, báo hiệu những bình minh rực rỡ hiện hữu phía chân trời. Vị tân chủ tịch Tập đoàn hùng hồn tuyên bố: Vinashin vay thì Vinashin trả. Các cơ quan thông tấn báo chí, Ðài truyền hình Trung ương... rầm rộ khúc khải hoàn ca.

Chao ôi! Lãnh đạo ta tài thật. Tài đến thế là cùng. Thử hỏi trên thế gian này có bao giờ và ở nơi đâu lại có những tài năng kiệt xuất đến nhường này? Số tiền gần 5 tỉ USD là một tài sản lớn, rất lớn ngay cả với những nước giàu có như Mỹ, Nhật, Ðức,... chứ không nói gì đến nước nghèo kiết xác như ta. Nó lớn đến mức chỉ để in được ra theo quy trình in USD âm phủ ở phố Hàng Mã cũng phải mất cả tháng. Thế mà các bác chỉ “xắn tay áo” đi vài đường “quyền tái cơ cấu” là đâu đã vào đó. Lãnh đạo ta tài thật. Toàn những người kiệt xuất.

Xem ra mới thấy cái UB Nobel ấy, nó ngu lắm, có mắt như mù. Mỗi năm trao có mấy cái Nobel về kinh tế mà năm nào cũng chung, cũng đụng, nhiều khi vài ba vị giáo sư, tiến sĩ chia chác nhau một giải. Nếu họ phát hiện cái võ “tái cơ cấu Vinashin” của ta, hẳn sẽ đến tận nơi mà mời các bác sang thủ đô Thụy Ðiển nhận giải. Không. Ðấy là bí quyết gia truyền, là bí mật quốc gia, chúng ta quyết không để lộ cho thiên hạ biết các bác nhé. Biết, họ học mót mất thì nguy, thậm nguy. Ta mất bản quyền.

Nói khẽ với nhau thôi, cả lão Ôbama của nước Mỹ, rồi Ủy Ban Kinh Tế Liên Minh Châu Âu nữa, toàn bọn dốt nát, ăn hại tiền dân, có mỗi cái kinh tế thế giới mà lúc nào cũng lo ngay ngáy, sợ đứng sợ ngồi. Nếu có đôi mắt tinh đời, chắc chắn chúng nó phải mời, phải lạy, phải mang kiệu đến rước bằng được các vĩ nhân của công trình tái cơ cấu này về làm quân sư, cố vấn. Ví dụ mỗi tháng các bác kiếm được 5 tỉ USD, mỗi năm tròm trèm 60 tỉ USD. Ví dụ thế thì loại đại gia, tỉ phú đô la như Bin ghết có mà xách dép. Chao ôi khi đó, kinh tế thế giới sẽ phát triển huy hoàng, rực rỡ. Cái đói, cái nghèo sẽ chỉ còn nằm trong ký ức và mấy trang viết ôn nghèo kể khổ của mấy thằng nhà văn, nhà thơ vốn thiếu thiện chí, hay bới bèo ra bọ. Cứ nghĩ đến cảnh tiền USD nhiều như lá rụng bên bờ hồ Hoàn Kiếm mỗi độ thu sang mà ngất ngây con gà tây vì sung sướng.

Các bác ạ, các bác tài giỏi thế mà thiên hạ ngu, thế giới ngu, nhân gian cũng toàn một lũ ngu. Thôi, các bác không thèm chấp với chúng nó, không thèm chỉ bảo cho chúng nó làm gì cho mệt xác. Cổ nhân đã dạy đại để rằng: Mang lời khôn mà bảo người ngu như mang vàng bạc vứt ra đường cái. Hay các bác về Hội Nhà Văn Việt Nam? Với tài năng và trí tưởng tượng siêu nhân của các bác mà viết truyện thần thoại, cổ tích hay khoa học viễn tưởng thì chắc chắn sẽ lưu danh vạn cổ.

Từ ngày tận mắt chứng kiến việc tái cơ cấu Vinashin, nhiều doanh nhân học tập rất sáng suốt và trở nên thành đạt. Ví dụ như cái cô bán hàng cơm đầu phố nhà chúng em, “hàng thì chán, bán thì đắt,” lũ đàn em còn suốt ngày thì thụt chọn miếng nào ngon là ăn vụng, ăn trộm. Chủ nợ rập rình ngoài ngõ. Hàng quán đóng cửa đến nơi. Thế mà như có phép thần, cái quán ấy hồi sinh mạnh mẽ. Sau này tìm hiểu, mới biết mỗi khi hàng thiu, hàng ế là ông bố già lại hạ lệnh cho đám anh em phải “giải cứu con tin” bởi nếu để nó sập tiệm thì lũ con cháu của ông cụ chết đói. Và khi đó, bà chủ quán lại vác những cơm thừa, canh cặn đến nhà mấy ông anh, bà chị làm ở giao thông, dầu khí bắt mua. Biết là hàng thiu, hàng ế nhưng vì lệnh của bố nên vẫn phải mua, phải trả tiền sòng phẳng rồi ăn được thì ăn mà không ăn được thì cho chó, cho mèo, đổ xuống cống, xuống rãnh. Chỉ thương ông anh cả nhà ấy vốn ăn chay trường, mỗi lần nhận đống hàng thịt thà, cá mú mặt tái xanh, tái vàng như... tái cơ cấu.

Trở lại với những thành công vang dội trong việc tái cơ cấu Vinashin, để ghi nhớ công ơn cất đi món nợ 1,5 triệu đồng/ cho mỗi người dân, có lẽ nên phát động sâu rộng trong đời sống nhân dân một phong trào đền ơn đáp nghĩa bằng cách quyên góp tiền của đúc tượng đồng, bia đá để ghi nhớ công ơn to lớn này.

Còn loại nhà văn nhà veo như em, tiền bạc không có, xin được dâng tặng các bác câu nói của cố nhà văn Nam Cao cách đây 60 năm trong tác phẩm Ðôi Mắt: Tài thật. Tài đến thế là cùng!...

Posted: Wed Dec 08, 2010 7:01 am
by dailien
Wikileaks gây rắc rối ngoại giao

Ngô Nhân Dụng
Trước đây 30 năm, muốn ăn cắp một tài liệu mật của Bộ Ngoại Giao Mỹ rồi chuyển sang cho một người nào đó, công việc rất vất vả. Phải trang bị một cái máy chụp ảnh nhỏ xíu, nhỏ hơn cái đồng hồ đeo tay. Về nhà, lấy phim ra rồi phải tìm cách giấu trong một cái gì cũng nhỏ xíu nữa, nhỏ bằng que diêm hay cái đồng xu, nhìn bên ngoài không ai biết trong đó là cuốn phim micro. Tiếp theo, phải chuyển nó đi, qua những “hộp thư chết” hoặc là trao tay nhau trong một đám đông người.

Bây giờ cậu Bradley Manning, 23 tuổi, có thể ăn cắp 250,000 tài liệu của Bộ Ngoại Giao Mỹ, chép tất cả vào một cái đĩa, đút túi đem về nhà. Rồi tới một ngày, cậu chuyển những tài liệu đó cho mạng lưới Wikileaks, trong nháy mắt. Julian Assange, chủ biên mạng lưới này đã lần lượt tung những bí mật này cho báo chí coi và in lại. Lần này, ba tờ báo nhận được tin mật là Der Spiegel (Ðức), El Pais (Tây Ban Nha) và Guardian (Anh), tờ báo Anh này đã cho đồng nghiệp New York Times được dùng chung tài liệu.

Có 900,000 công dân Mỹ được “bạch hóa về an ninh” (clearance) để có mật mã vào xem những tài liệu mật loại này; trong đó có cậu Manning. Cậu bước vào phòng làm việc với những cái đĩa CD ca nhạc của Lady Gaga, cậu xóa nhạc trong đó đi, rồi dùng mật mã để được phép vào mạng lưới Secret Internet Protocol Router (SIPR), chép các bức điện thư (email) chứa trong đó vào đĩa. Manning hiện đang nằm trong nhà tù ở Virginia, chờ giám định y khoa xem cậu có bị bệnh thần kinh nặng hay không. Nếu bị truy tố và kết án, cậu có thể lãnh 52 năm tù.

Nhân vật đang giờ được cả thế giới chú ý đến là Julian Assange, người Úc Châu, đang “ẩn trốn” ở phía Nam thành phố London, nước Anh, hay là ở đâu đó bên Âu Châu, hay một nước Trung Ðông! Anh ta đã quyết định tung các tài liệu mật lên báo chí, sau khi coi kỹ. New York Times cho biết anh ta có xóa bỏ nhiều tên họ những người có thể bị nguy hại. Kết tội người ăn cắp tài liệu tương đối dễ, vì ăn cắp là có tội. Nhưng truy tố một người chỉ làm công việc phổ biến các tin tức bị ăn cắp thì khó. Vì các nước tự do dân chủ đều tôn trọng quyền tự do thông tin. Tại Mỹ đã có một án lệ: Năm 1971 Tối Cao Pháp Viện không cho phép chính phủ Nixon cấm tờ báo New York Times không được in các tài liệu mật lấy cắp từ Ngũ Giác Ðài. Trong các tài liệu bị tiết lộ đó có những lời nói của nhiều nhà lãnh đạo nước Mỹ cho thấy họ biết và nói với nhau những điều mà họ không cho công chúng biết; có khi ra trước công chúng họ nói ngược lại, tức là nói dối. Nội dung các câu chuyện đó liên can đến chiến tranh ở Việt Nam. Từ đó trở đi, các chính phủ Mỹ không kiện cáo những người phổ biến các tin mật nữa, mà chỉ tìm cách đối phó khi tin bị tiết lộ. Một vụ gần đây nhất là những bức hình chụp cảnh tù nhân ở Iraq bị dọa tra tấn, năm 2004, do Joe Darby, một binh sĩ công bố.

Nhưng các tài liệu bị tiết lộ gần đây không tai hại cho chính phủ Mỹ nhiều như các vụ trên. Tháng 4 và tháng 7 vừa qua, WikiLeaks chỉ làm cho các chính phủ Mỹ và Anh bối rối khi tiết lộ những lầm lẫn trong các cuộc hành quân ở Iraq năm 2007 và ở Afghanistan. Còn trong đợt tin tức bị tiết lộ sau cùng với khoảng 400,000 điện thư này thì cũng không có gì thuộc loại “bí mật về an ninh quốc gia” cả. Phần lớn đó là những chuyện thì thầm nhỏ to trong giới ngoại giao. Thí dụ, Ðại Sứ Mỹ Richard Hoagland tại Astana, thủ đô Kazakhstan báo cáo một nhân viên tòa đại sứ bắt gặp Thủ Tướng Karim Massimov nhẩy đầm say sưa trong một discotheque ở vào lúc quá nửa đêm.” Hay là một công chức ngoại giao Trung Quốc gọi lãnh tụ Bắc Hàn Kim Chính Nhật là một “đứa con nuông” khó dạy.

Nếu có người bị thiệt hại vì những tiết lộ mới này, đó là các viên chức là lãnh tụ các nước khác, khi các các nhân viên ngoại giao Mỹ vô tình báo cáo những lời họ được nghe các nhân vật này nói với họ. Thí dụ ông Tổng Thống Yemen Abdullah Saleh, nói với Tướng Mỹ Petraeus, chỉ huy quân đội Mỹ ở vùng Trung Ðông, rằng ông sẽ tiếp tục nói dối về những vụ Mỹ ném bom vào các căn cứ quân khủng bố ở nước ông: “Tôi sẽ cứ nói đó là bom do chúng tôi ném, không phải do các anh ném!”

Tất nhiên, những người như Tổng Thống Saleh hay Thủ Tướng Massimov sẽ ngượng ngùng khi báo chí và dân chúng nước họ biết những việc họ làm hay những lời họ nói trong vòng bí mật. Nhưng rất “may mắn” là ở những quốc gia này, chính quyền vẫn nói dối quen rồi! Họ không chấp nhận cho báo chí tự do! Cho nên, việc Wikileaks tiết lộ các tin trên cuối cùng chẳng gây nên tai hại nào cho các “lãnh tụ anh minh” đó cả!

Qua những tài liệu bí mật bị lộ chúng ta thấy ở những lãnh tụ nói dối phần lớn là từ các nước độc tài, họ chuyên nói hai lối khác nhau, trước công chúng nói một cách, chuyện trò thân mật với các nhà ngoại giao Mỹ lại nói khác! Các chính quyền độc tài thường phải sống đạo đức giả, không thể nào sống khác được!

Không thấy các nhà ngoại giao Mỹ phạm tội nói trong chỗ riêng tư những lời trái ngược với những gì họ nói với các nhà báo hay điều trần trước quốc hội. Chỉ trừ những điện thư trong đó các nhân viên ngoại giao Mỹ báo cáo về các hành động dò thám của họ đối với nhân viên nhiều phái đoàn ở Liên Hiệp Quốc; kể cả ông tổng thư ký! Nhưng có nhà ngoại giao nước nào đến Liên Hiệp Quốc họp ở New York mà không biết trước mình sẽ bị mật thám Mỹ dò xét? Một điện thư tai hại do một nhà kinh doanh ở Afghanistan viết, ông ta báo cho chính phủ Mỹ những tin tức thu lượm được tại Iran. Nhưng “điệp viên” ngây thơ này ghi trong thư các chi tiết về nơi sinh, trường học cũ, địa chỉ gia đình, nơi buôn bán của anh ta trong thư. Tuy không ghi tên họ thật nhưng gián điệp Iran sẽ biết ngay anh ta là ai! Ðây là một cơ hội cho anh được giải nghệ, và nước Mỹ đỡ phải trả công cho một điệp viên rất hớ hênh!

Một điều bị tiết lộ làm chính phủ Mỹ bối rối nhất có lẽ là những ý kiến của các chính quyền Á Rập ở Trung Ðông nói riêng với người Mỹ, được các nhà ngoại giao này báo cáo về nước rồi bây giờ cả thế giới được nghe! Vua Á Rập Sau Ði bảo người Mỹ hãy “Cắt đầu cái con rắn” Iran đi! Tấn công hẳn vào Teheran đi! Thế rối lãnh đạo các nước Ai Cập, Jordan, các tiểu quốc vùng Vịnh, cũng nói như vậy cả!

Nhưng có thể gọi những ý kiến trên là mới lạ, đáng ngạc nhiên hay không? Thật ra chẳng có gì mới cả. Ai cũng biết các nước Á Rập ghét Iran. Ða số dân họ theo phái Sunni, còn 90% dân Iran theo phái Shia. Không những thế, Iran vẫn tiếp tế, yểm trợ cho những người Shia thiểu số trong các nước Á Rập để đòi hỏi các quyền lợi của họ. Nếu Iran có bom nguyên tử thì không phải chỉ Israel bị dọa mà các nước Á Rập mới lo!

Nếu mục đích của những người tiết lộ và đang tải các tài liệu này là chống Mỹ, thì họ lại làm cho chính quyền Mỹ trông có vẻ sạch sẽ, tử tế hơn các nhà ngoại giao nước khác! Giới ngoại giao Hoa Kỳ chỉ có tội là vẫn tiếp tục giao du với các chính quyền độc tài khắp thế giới! Tất nhiên, nếu các vị quốc vương hay tổng thống những xứ Á Rập đều thành thật, nếu họ cai trị dân theo lối minh bạch, công khai, thì tốt nhất. Nhưng nếu họ không sống như vậy, cứ thì thầm với các nhà ngoại giao Mỹ những điều họ không bao giờ nói trước đám đông, thì chính quyền Mỹ cũng phải chấp nhận!

Khi thành lập mạng Wikileaks, giấc mộng của Julian Assange rất lớn. Như anh ta viết năm 2007: “Mối quan tâm chính của chúng tôi là phơi bày sự thật về những chế độ độc tài áp bức tại Á Châu, khối Xô viết cũ, các nước Phi Châu vùng Sahara, và các nước Trung Ðông...” Anh ta yêu cầu mọi người khắp thế giới hãy gửi cho Wikileaks những tài liệu mật để “phô bày những hành vi phi đạo đức của các chính phủ và các công ty thương mại.”

Nói vậy, nhưng trong mấy năm qua chưa thấy các người Á Châu hay Phi Châu giúp Assange. Không thấy tài liệu nào về việc khai thác bô xít hay cho Trung Quốc thuê rừng ở Việt Nam! Phần lớn Wikileaks chỉ nhận được các tài liệu mật từ nước Mỹ là đáng công bố! Anh Assange nói trước anh có những tài liệu mật về các ngân hàng lớn, sẽ được tiết lộ. Tin đó mới tung ra, giá cổ phần của một ngân hàng lớn ở Mỹ đã bị xuống giá!

Hiện nay Julian Assange đang bị chính phủ Thụy Ðiển nhờ Cảnh sát Quốc tế Interpol truy tầm, về một tội không liên can gì đến Wikileaks. Anh ta phủ nhận không hề phạm tội về tình dục như chính phủ Thụy Ðiển nói, nhưng có thể anh vẫn bị dẫn độ sang Thụy Ðiển để xét xử. Nhiều người nghĩ là Thụy Ðiển bày ra cái tội đó cốt để bắt giữ anh Assange, cho chính phủ Mỹ được nghỉ ngơi một thời gian, không lo một vụ tiết lộ các tài liệu mới. Nhưng điều này khó tin. Xưa nay nước Thụy Ðiển vẫn không yêu thích vai trò bá chủ của Mỹ, nếu có việc gì làm cho chính phủ Mỹ bối rối thì Thụy Ðiển chắc cũng không lo lắng giúp đỡ!

Trong khi chờ đợi chính phủ Mỹ phải chứng tỏ họ có phản ứng, đang làm “một cái gì đó” để ngăn cản anh Assange không cho tiếp tục. Có một việc chính phủ Mỹ có thể làm nhưng chưa chắc sẽ dám làm, là phá. Tại sao không dùng kỹ thuật tin học phá luôn cái mạng Wikileaks đi, không cho nó tác quái nữa?

Ðối với một nước sống trong tự do dân chủ thì trả lời câu hỏi này không dễ dàng. Chính phủ Obama không thể làm như chính phủ Putin hay Hồ Cẩm Ðào! Ông Putin đã dùng “quân xâm lăng tin học” tấn công làm tê liệt tất cả các mạng lưới ở Estonia năm 2007, làm cho các ngân hàng nước này tê liệt, dân chúng không rút được tiền từ máy ra nữa; các máy nhận thẻ tín dụng của cửa hàng không chạy nữa, những hợp đồng ký trên mạng lưới không thể áp dụng được nữa! Có thể nói cả nền kinh tế Estonia tê liệt trong một ngày, chỉ vì Nga muốn “trừng phạt” dân nước này đã đòi phá bức tượng “Hồng quân Giải phóng” nước họ! Năm 2008, ông Putin lại tái diễn đòn tấn công tin học đó đối với Georgia khi tấn công nước láng giềng này!

Nếu chính phủ Mỹ muốn “trừng phạt” Wikileaks và Assange thì phải dựng lên một thứ “Trường Thành Lửa” như chính quyền Trung Quốc đã và đang làm! Nhưng một chính quyền dân chủ tự do có muốn “nhúng tay vào bùn” như vậy hay không? Quốc Hội có cho phép hay không? Dư luận dân chúng có chấp nhận hay không? Cuối cùng, người Mỹ muốn chính quyền của họ tôn trọng các nguyên tắc dân chủ tự do nhiều hơn, hay là muốn bảo vệ uy tín các nhà ngoại giao và các lãnh tụ nước ngoài hơn?

Thiệt hại lớn nhất của nước Mỹ là trên mặt ngoại giao, từ nay các lãnh tụ thế giới không “nói thật” những ý nghĩ thầm kín của họ với các nhà ngoại giao Mỹ nữa. Nhiều thỏa ước ngoại giao chỉ ký kết sau khi người ta trao đổi những ý kiến không thể công bố được. Có những ý kiến nói ra sớm quá có thể khiến các cuộc hội đàm đổ vỡ. Giới ngoại giao Mỹ sẽ vất vả hơn khi sống trong cái nhà bốn chung quanh tường làm bằng kính, ai cũng nhìn qua được!

Nhưng người ta có cần phải nghe một phó bộ trưởng Ngoại Giao Trung Hoa gọi Kim Chính Nhật là “con nuông” mới biết chính quyền cộng sản ở Bắc Kinh nghĩ gì về đám tay sai ở các nước cộng sản nho nhỏ hay không? Nền ngoại giao Mỹ sẽ thay đổi sau biến cố này. Sẽ bớt những chuyện thì thầm, ngồi lê đôi mách. Như vậy thì tốt hơn hay là xấu hơn? Nếu biết rằng ở nước Mỹ không thể giấu dân chúng cái gì cả, thì nền ngoại giao Mỹ sẽ phải công khai, minh bạch hơn. Quan trọng nhất là trong việc giao thiệp giữa Mỹ và các chế độ độc tài trên thế giới. Chính phủ Mỹ sẽ không thể nói một đằng, làm một nẻo, miệng hô hào dân chủ tự do mà cứ tiếp tục nhắm mắt làm ngơ trước các hành động đàn áp dân chúng của các chế độ độc tài!

Posted: Thu Dec 09, 2010 4:57 am
by nguyenvsau
Thương thay thân phận luật sư

Tạ Phong Tần
Sau ngày 30 tháng 4, 1975, tất cả văn phòng luật sư đều bị “dẹp tiệm,” ai xui xẻo bị bắt (dù chưa ra Tòa) cũng coi như “xong phim,” chắc chắn là “có tội” vì trong phiên tòa chỉ có phía buộc tội (Viện Kiểm Sát, Hội Ðồng Xét Xử) mà không có phía gỡ tội.
Image
Ông Nguyễn Xuân Nghĩa (thứ hai, bên phải) và 5 người khác tham gia đấu tranh dân chủ hóa Việt Nam bị lôi ra tòa ở Hải Phòng ngày 8 tháng 10,
2010 để nhận các bản án nặng nề. (Hình: AFP/Getty Images)



Khi nhà nước Việt Nam đặt bút ký vào Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966, “Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền” (ngày 24 tháng 9, 1982), tất nhiên luật pháp Việt Nam cũng phải điều chỉnh (trên văn bản) theo hướng phù hợp với Công ước (Việt Nam gia nhập ngày 24 tháng 9, 1982). BLTTHS được sửa đổi nhiều lần để “hội nhập” thì Luật Luật Sư (2006) mới ra đời để “trang trí” cho nền tư pháp Việt Nam thêm phần “rậm đám.”

Nói luật sư Việt Nam là để “trang trí” bởi lẽ, như các luật sư tham gia hội thảo đã phát biểu họ bị cơ quan tố tụng cản trở tiếp xúc với thân chủ như: chậm chạp trong cấp giấy chứng nhận bào chữa, từ chối cấp giấy chứng nhận bào chữa với những lý do rất... trên trời, giới hạn thời gian gặp thân chủ, kè kè một bên hoặc không cho phép gặp.

Ở Việt Nam chưa có một cán bộ nào bị kỷ luật, bị khởi tố và xét xử vì đã cản trở quyền của luật sư, nên “cán bộ ta” an tâm cứ thế mà “vô tư” làm tới.

Ðấy là những kiểu cản trở công khai, thực tế còn có kiểu cản trở “ngầm” mà các luật sư tham gia hội thảo chưa đề cập. Ví dụ: Có “ai đó” gặp chính luật sư đặt ra “lời đề nghị khiếm nhã” không được bào chữa vụ A, B, C... (như trường hợp Luật Sư Trần Ðình Triển trong vụ án môi giới mại dâm ở Hà Giang) hoặc gặp chính bị cáo, thân nhân bị cáo đe dọa “mời luật sư sẽ bị xử án nặng hơn” (vụ án các giáo dân Cồn Dầu).

Vào Google gõ cụm từ “luật sư”+ “chạy án” sẽ cho kết quả 173,000 với nhiều dẫn chứng “người thật việc thật” cụ thể, còn cụm từ “luật sư” + “minh oan” kết quả là 83,500 nhưng chủ yếu là quảng cáo cho các văn phòng luật sư, họa hoằn mới có một số vụ luật sư minh oan được cho thân chủ ở những vụ án phạm tội hình sự bình thường, và không có vụ án chính trị nào luật sư minh oan được cho bị cáo. Như vậy, có thể hiểu luật sư ở Việt Nam làm cái việc “chạy án” nhiều hơn là bảo vệ công lý và sự thật.

Vai trò của luật sư không được coi trọng cũng như quyền được bình đẳng, quyền được hưởng sự công bằng và công lý của người dân bị xem nhẹ, chính ông PGS-TS Nguyễn Thái Phúc (là đại diện Bộ Tư Pháp tại Sài Gòn) còn cho rằng “không thể đòi hỏi LS có được quyền như điều tra viên.”

Tại sao luật sư không được quyền dùng tất cả những biện pháp mà điều tra viên làm để minh oan cho thân chủ mình, trong khi Hiến Pháp Việt Nam và BLTTHS khẳng định: “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”? Luật sư không được bình đẳng với điều tra viên, nghĩa là ngay từ đầu, cán cân công lý đã giành ưu thế nghiêng về phía buộc tội rồi dù chưa biết công dân đó có thật sự phạm pháp hay không.

Luật Luật Sư (LLS) đặt ra nhiều điều kiện vô lý để hạn chế công dân trở thành luật sư. Ðiều 35 LLS quy định luật sư hoạt động và đóng thuế như một doanh nghiệp tư nhân. Mà đã là doanh nghiệp tư nhân thì văn phòng luật sư (hay công ty luật) tồn tại, phát triển hay “sập tiệm” hoàn toàn phụ thuộc vào năng lực, uy tín của luật sư đối với khách hàng theo quy luật cung cầu, cạnh tranh và đào thải tự nhiên của thị trường.

Ví dụ: Không ai dại gì bỏ tiền ra thuê một người bốc vác hàng hóa cho mình khi người đó không đủ sức để vác, không cần ai “dạy dỗ” hay “quy định” người thuê cũng biết rằng phải tìm người làm thuê nào có sức khỏe để làm việc đó. Tuy nhiên, Ðiểm g Khoản 1 Ðiều 17 LLS lại quy định điều kiện để được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư là phải có “Giấy chứng nhận sức khỏe,” tức là “đương sự” phải phụ thuộc vào một cơ quan y tế nào đó, mặc kệ trình độ nghiệp vụ của “đương sự” như thế nào.

Trước khi đủ tư cách hành nghề, “đương sự” còn phải trải qua thời gian tập sự và kiểm tra tay nghề của Bộ Tư Pháp (Ðiều 14, Ðiều 15 LLS), mà kết quả kiểm tra “đạt” hay “không đạt” căn cứ theo tiêu chuẩn nào thì chưa thấy văn bản pháp luật nào quy định, đồng nghĩa với việc “đương sự” phải phụ thuộc vào “nơi chịu nhận thực tập” và cái “tùy hứng” của Bộ Tư Pháp.

Nếu “đương sự” có giỏi đến mấy mà không có văn phòng nào “dám chứa” (hoặc không thích cho) “y ta” thực tập thì coi như cả đời “y ta” không có cách gì trở thành luật sư. Vì vậy, có không ít trường hợp các văn phòng, công ty luật lợi dụng quy định này để “bóc lột” sức lao động của luật sư tập sự bằng cách không trả lương khi thực tập.

Ðiều kiện kế tiếp là “đương sự” phải cố gắng xin vào làm thành viên một đoàn luật sư tỉnh, thành phố nào đó thì mới được công nhận là luật sư và đủ tư cách hành nghề, dù “đương sự” biết rất rõ rằng với khả năng của mình thì không cần là thành viên đoàn nào cả vẫn hoạt động tốt.

Chưa hết, trong khi hành nghề, nếu “đương sự” tranh tụng hăng quá, cơ quan tố tụng không đủ lý lẽ bác bỏ lập luận của luật sư nên “quê độ” bèn tròng vào cổ luật sư cái thòng lọng: “Lợi dụng việc hành nghề luật sư, danh nghĩa luật sư để gây ảnh hưởng xấu đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.” (Ðiểm g Khoản 1 Ðiều 9 LLS) để “đuổi cổ” ra khỏi đoàn luật sư, dù không ai chứng minh được “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân” cụ thể nó ra làm sao cả. Vì vậy, không ít luật sư biết rõ cơ quan tố tụng xâm phạm quyền của mình nhưng vẫn “rét” và chấp nhận im lặng để được tiếp tục hành nghề.

Dù sao thì bị can, bị cáo mời được luật sư tham gia vẫn còn may mắn (chút ít), khi mà cả nước Việt Nam hiện nay có hơn 85 triệu người nhưng đến năm 2010 chỉ có 6,223 luật sư, tức 13,659 người dân mới có 1 luật sư, chưa kể những người nghèo không có tiền thuê luật sư.

Thân phận luật sư Việt Nam đã đáng thương, mà thân phận những công dân Việt Nam nào xui xẻo rơi vào vòng lao lý càng đáng thương hơn.

Posted: Fri Dec 10, 2010 3:56 am
by tankhoasinh
Chúng ta sẽ còn thua Việt Cộng dài dài
-nếu…

"...đã gọi là chống Cộng thì phải chống Cộng tới nơi, tới chốn, Bởi vì bọn Việt Cộng là một bọn cướp vô học.
Không những vô học, bọn chúng còn dã man, còn tàn bạo. Chống chúng, không thể dùng những lý lẽ của
Không Tử, những lời dạy của Đức Phật..."

Cuộc chiến Việt Nam mặc dầu đã được kết thúc trên ba chục năm nay, nhưng nhiều người vẫn còn tự hỏi, “Quân đội của chúng ta hùng mạnh như vậy, tinh thần chiến đấu của quân đội chúng ta anh dũng như vậy, nhiều quân nhân còn xâm chữ “Sát Cộng” vào cánh tay, còn đồng bào ta thì sợ Việt Cộng như cùi, như hủi, bọn chúng tới đâu là đồng bào ta bỏ chạy tới đó, vậy mà tại sao chúng ta lại thua Cộng Sản ? ”

Đành rằng nguyên nhân gần và trực tiếp là vì chúng ta bị đồng minh tức Hoa Kỳ bỏ. Nhưng còn nguyên nhân sâu xa là gì ? Đã có rất nhiều chính trị gia, chiến lược gia, sử gia Việt Nam cũng như ngoại quốc phân tích và đã đưa ra rất nhiều lý do, chủ quan cũng có, khách quan cũng có, nhưng chưa thấy tác gỉa nào nói tới lý do đạo đức và luật pháp.

Vì đạo đức, chúng ta không thể bắt chước Cộng Sản, “thà giết lầm còn hơn tha lầm”. Bắt được những tên Cộng Sản, những tên Việt Gian, những tên ăn cơm Quốc Gia, thờ ma Cộng Sản, chúng ta vẫn đối xử nhận đạo. Hẳn chúng ta còn nhớ, vào năm 1955-1956, một phong trào mang tên là Phong Trào Hòa Binh do các Phạm Huy Thông, Lưu Văn Lang, Trần Kim Quan v.v…thành lập. Đây là một phong trào thiên Cộng họạt đông với mục đích hỗ trợ cho Việt Cộng và đòi Tổng Tuyển Cử theo Hiệp định Geneve 1954, chính phủ Ngô Đình Diệm cũng chỉ tống xuất một vài tên qua cầu Hiền Lương ra Bắc.

Đến đầu năm 1965 cũng có một phong trào mang tên tương tự là “Phong Trào Tranh Đấu Bảo Vệ Hòa Bình do những tên Việt Gian, Ăn Cơm Quốc Gia, Thờ Ma Cộng Sản thành lập như Thượng Tọa Thích Quảng Liên, Bác Sỉ Thú Y Phạm Văn Huyến, Nhà Báo Phi Bằng tức Cao Minh Chiếm, Giáo Sư Tôn Thất Dương Kỵ, Bác Sĩ Lê Khắc Quyến v.v… Gần 30 thành viên của phong trào này đã bị bắt giữ, trong đó có Cao Minh Chiếm, Tôn Thất Dương Kỵ và Phạm Văn Huyến. Tướng Nguyễn Chánh Thi đã đề nghị thả dù bọn này ra bắc vỹ tuyến 17 tức bên kia cầu Hiền Lương cho Việt Cộng. Nhưng Thủ Tướng Phan Huy Quát vì lý do nhân đạo, sợ làm như vậy bọn chúng có thể gẫy chân, què tay vì bọn chúng đâu biết nhẩy dù, nên đã lấy cớ rằng làm như vậy, quốc tế sẽ chỉ trích, và chỉ đồng ý giải giao bọn chúng cho Việt Cộng bằng đường bộ qua cầu Hiền Lương.

Vì luật pháp, chúng ta cũng không thể cho chúng mò tôm, bắt ốc như bọn Cộng Sản đã làm đối với những người quốc gia, mà chúng ta phải đưa chúng ra tòa để xét xử theo luật pháp. Nhiều khi chúng ta còn rất nhẹ tay với chúng. Dù có tội thì cũng chỉ giam giữ ít lâư rồi lại thả ra. Trường hợp tử hình, thật là hiếm. Không những thế, nhiều khi còn để tình cảm lấn áp. Do đó có những trường hợp kẻ bị bắt có thế lực hoặc có liên hệ với các ông lớn trong chính quyền VNCH được can thiệp và cho tại ngoại ngay từ lúc mới bị bắt hoặc được cho biết trước để mà chạy trốn hoặc phi tang chứng cớ. Trường hợp điển hình là trường hợp của Trần Đình Ngọc, giáo sư trường Đại Học Khoa Học Saigon; vì có hoạt động cho Việt Cộng nên bị bắt. Ông Nguyễn Chung Tú, Khoa Trưởng Trường Đại Học Khoa Học Saigon đã lấy tư cách và uy tín của mình để bảo lãnh cho ông Ngọc. Vì thế, ông Ngọc không những đã được tại ngoại mà cũng chẳng phải ra toà lãnh án.

Vụ Têt Mậu Thân 1968, không thiếu gì những tên Việt Cộng giết người một cách dã man, giết người một cách vô tội vạ, giết người hang loạt, vậy mà đâu có đưa bọn chúng ra tòa? Còn chúng ta, nếu vì quá tức giận trước những hành động qúa độc ác, dã man cuả bọn chúng mà tự ý giết một tên Việt Cộng nào đó, thì dù có lý do chính đáng đến đâu cũng vẫn bị kết tội là dã man, là vô nhân đạo. Nếu không bị đưa ra tòa thì cũng bị nhiều người phê bình và thế giới nguyền rủa. Đó là trường hợp của tướng Nguyễn Ngọc Loan đã xử tử tên Việt Cộng Nguyễn Văn Lém tự Bẩy Lớp, kẻ đã sát hại cả gia đình một sĩ quan cảnh sát vào Tết Mậu Thân 1968.

Ngày nay, ở hải ngoại cũng vậy, những người chống Cộng luôn luôn bị một số người vin vào lý do đạo đức, văn hóa để chỉ trích người khác. Nếu chống Cộng hăng say quá thì bị chỉ trích là quá khích. Nếu dùng danh từ mạnh mẽ qúa hay bình dân quá thì bị phê bình, chỉ trích là ấu trĩ, là thiếu văn hóa, là phản tuyên truyền có khi còn bị nhục mạ là hạ cấp, là vô học.

Bọn Việt Cộng ăn gian nói dối cả trăm ngàn lần dân chúng trong nước đâu ai dám nói gì. Trái lại, ở hải ngoại, nếu có ai vì chống Cộng nói sai một chút, nói qúa lời một chút, mà đâu có phải nói họ mà chỉ là nói bọn Việt Cộng hoăc bọn Việt Gian Cộng Sản là bị chỉ trích, bị phê bình liền, có khi còn bị mạ lỵ.

Bọn người này, không biết họ thuộc loại nào, có thể là bọn Việt Cộng nằm vùng, có thể là bọn Việt Gian Cộng Sản, nhưng cũng có thể chỉ vì cảm tinh cá nhân, nói ra họ lại la làng là bị chụp mũ này, mũ nọ. Có điều chắc chắn là không bao giờ thấy họ viết một bài nào chống Cộng, hoặc nếu có thì cũng chỉ hời hợt hoặc vô thưởng, vô phạt để chứng tỏ ta đây cũng là người chống Cộng còn những bài viết chỉ trích những người chống Cộng thì phê bình chỉ trích tới nơi, tới chốn. Gọi ngụy quyền Cộng Sản Việt Nam là chính quyền Việt Nam mà chỉ trích thì đã đành. Viết hai chữ Cộng Sản là CS hay Việt Cộng là VC cũng bị chỉ trích hoặc gọi bọn bưng bô cho Việt Cộng hay làm lợi cho Việt Cộng là Việt Gian Cộng Sản cũng bị chỉ trích. Thật hết chỗ nói.

Trong khi đó, bọn Việt Cộng tung ra hải ngoại không biết là bao nhiêu là cán bộ đội lốt ca sĩ, du sinh, thày tu, bất đồng chính kiến v.v…thì chẳng thấy những người này nói tới. Chính vì vậy mà ngày nay, văn hóa phẩm của Việt Cộng tha hồ bầy bán trên thị trường hải ngoại và bọn Việt Gian, bọn tay sai Cộng Sản tha hồ tung hoành tổ chức nhạc hội gây qũy từ thiện, nhiều khi bọn chúng còn dám tổ chức triển lãm, hội thảo nữa mà cũng chẳng mấy ai dám nói tới, khiến bọn chúng lộng hành.

Trường hợp Cô Tim và Căn Nhà May Mắn là một thí dụ điển hình. Cô được Hội Người Việt San Fernando Valley, California tổ chức buổi Văn Nghệ Gây Qũy cho cô vào ngày 25 tháng 10 năm 2008. Cô Tim không những không chào cờ VN Cộng Hòa đã đành, cô còn ra lệnh cho ông Chủ Tịch Richard Mười Trương và những người trong ban tổ chức phải dẹp bỏ cờ vàng ba sọc đỏ đi cô mới chịu đăng đàn nói chuyện. Vậy mà ông Chủ Tịch Mười Trương và những thành viên trong ban tổ chức đã răm rắp nghe theo. Thà cứ như chùa Pháp Vân ở Canada trong buổi gây qũy cho cô Tim chẳng cờ quạt gì cả còn hơn. Đằng này ông Chủ Tịch mười Trương cũng cũng chào cờ quốc gia, cũng hát quốc ca VNCH, cũng mặc niệm, nhưng khi nhân vật chính là cô Tim lên diễn đàn nói chuyện, thì ông lại nghe lệnh cô Tim dẹp cờ vàng đi.

Hành động này, không khác gì mượn danh từ thiện để hạ nhục cờ quốc gia VNCH. Ấy vậy mà vẫn còn có kẻ bênh vực cho cô Tim, vẫn đòi hỏi phải có bằng cớ rõ ràng mới có thể kết tội cô là người của Việt Cộng. Chắc bọn Việt Gian Cộng Sản muốn chúng ta phải trưng ra thẻ đảng viên của cô hay ít nhất cũng phải có giấy công tác của cô do Việt Cộng cấp ?
Và gần đây, ngày 7/5/09, Tiêu Dao Bảo Cự, một tên bất đồng chính kiến cuội đã được bọn Việt Cộng cho sang Hoa kỳ và đã tới Đại Học Berkley thuyết trình về nhà thơ Hữu Loan với bài thơ Đồi Tím Hoa Sim nhưng chẳng thấy y nói gì tới bài thơ Đồi Tím Hoa Xim mà chỉ thấy y khuyến dụ sinh viên về nước giúp ngụy quyền Cộng Sản Việt Nam.

Ngày nay bọn Việt Cộng biết rằng cái chính nghĩa của chúng do sự tuyên truyền và bịp bợm mà có không còn có thể che dấu được nữa, nhất là đồng bào hải ngoại. Do đó chúng đã tìm mọi cách để xâm nhập vào cộng đồng người Việt Hải Ngoại để tìm cách chia rẽ và phá hoại sự đoàn kết của chúng ta. Chúng như con bạch tuộc. Nếu con bạch tuộc có nhiều chân thì bọn Việt Cộng có nhiều tiền. Bọn chúng sẵn sang tung tiền ra để mua chuộc những thành phần lưu mamh, ham danh, hám lợi, những thành phần ngu dốt, mê muội, tưởng chế độ Cộng Sản đã thay đổi, tưởng chúng muốn hòa hợp, hoà giải với người quốc gia để xây dựng đất nước. Do đó, chúng ta thấy ở bất cứ nơi nào, Hội đoàn nào, Diễn đàn nào, cũng có đầy dẫy nhưng kẻ luôn luôn tìm cách phá thối, lũng loạn để gây chia rẽ.

Tóm lại, đã gọi là chống Cộng thì phải chống Cộng tới nơi, tới chốn, Bởi vì bọn Việt Cộng là một bọn cướp vô học. Không những vô học, bọn chúng còn dã man, còn tàn bạo. Chống chúng, không thể dùng những lý lẽ của Không Tử, những lời dạy của Đức Phật hay của Đức Ki Tô, mà phải dùng những lời lẽ của những bà mẹ nông dân Việt Nam hay ít nhất cũng phải là những lời lẽ của những người bình dân đang bị VC cướp của, cướp nhà.

Những ai không chống Cộng hay không dám chống Cộng vì còn muốn về Việt Nam làm ăn với Việt Cộng hay về VN để ăn chơi du hí thì hãy im cái mồn lại, để người khác chống Cộng, Đừng đạo đức gỉa, đừng quân tử Tầu mà chỉ trích người khác.

Thật buồn khi thấy trên các báo chí cũng như trên các diễn đàn, những bài chống Cộng thì ít mà những bài chống nhau thì nhiều.
Chúng ta phải coi chừng, đừng mắc mưu bọn Việt Cộng nằm vùng hoặc bọn Việt gian Cộng Sản mà quên đâm thẳng mũi dùi vào bọn Việt Cộng mà lại quay mũi dùi đâm vào anh em. Nếu không, chúng ta sẽ còn thua Việt Cộng dài dài...

Cổ nhân đã dạy :

Đi với Bụt, mặc áo Cà Sa,
Đi với Ma, mặc Áo Giấy./-

LS.Lê Duy San

Posted: Fri Dec 10, 2010 5:42 am
by dailien
Trận chiến Mỹ-Hoa đã khởi sự
Nguyễn Xuân Nghĩa
Biến hóa vô lường

Nhiều người Việt chúng ta cứ hỏi nhau, rằng liệu chiến tranh giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ có xảy ra không? Câu trả lời phải là “chắc chắn!” Miễn là ta định nghĩa cho đúng thế nào là chiến tranh! Thực tế thì chiến tranh đã xảy ra rồi, với nhiều dạng biến hóa vô lường. Câu hỏi mà mình cần nêu ra là “trong hoàn cảnh đó, Việt Nam phải làm gì...?” Câu hỏi ấy, xin để kỳ khác!

Trước hết, hãy nói về định nghĩa.

Người ta thường nghĩ chiến tranh là xung đột bằng võ lực giữa hai tập thể chính trị. Nhưng từ ngàn xưa rồi, các nhà lãnh đạo xuất chúng đều chỉ ra rằng võ lực là giải pháp tệ nhất. Lý tưởng là phải đạt mục tiêu của tập thể, thí dụ như quốc gia, mà khỏi phải dụng binh. Vì vậy, chiến tranh vẫn có thể bùng nổ mà không có tiếng đạn bom sát phạt. Nó bùng nổ dưới nhiều dạng khác, như chính trị, ngoại giao, kinh tế, tuyên truyền, v.v... và nó vận dụng những phương tiện càng bất ngờ càng hay. Trong thế kỷ 21 này, loại phương tiện ấy thật ra dồi dào và bất lường - có khả năng lường gạt - hơn hẳn những gì mà loài người có thể nghĩ tới trong suốt mấy chục thế kỷ trước.

Dù phương tiện có khác xưa, chứ ý chí thì không đổi. “Binh bất yếm trá”, ai cũng biết thế. Nhưng, phàm về cách dụng binh thì “toàn quốc vi thượng” - giữ được sự an toàn cho quốc gia mới là thượng sách. “Không đánh mà khuất phục được quân của người thì mới là người giỏi trong những người giỏi”, một nhà chiến lược Trung Hoa đã nói vậy từ mấy ngàn năm trước! Nói cho dễ hiểu thì... phản chiến mà vẫn thắng thì mới là giải pháp lý tưởng.

Trong tình huống đó, chiến tranh giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ đã thực tế xảy ra. Gần đây, những vận động ồn ào về võ khí hay quân sự chỉ là phần biểu hiện ở mặt ngoài cho nhu cầu chiến thắng, và khuất phục, mà khỏi cần lâm chiến.

***

Nhìn từ Hoa Kỳ thì 10 năm sau khi chính quyền Mỹ mở cửa cho Trung Quốc gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới WTO, ngày nay lãnh đạo Bắc Kinh đã gây thêm vấn đề cho cộng đồng thế giới và đe dọa an ninh lẫn quyền lợi của nước Mỹ. Ba lãnh vực đáng chú ý là 1) thế giới, 2) an ninh và 3) quyền lợi kinh tế.

Trung Quốc tiếp tục phổ biến kỹ thuật và võ khí tàn sát cho các chế độ hung đồ được Bắc Kinh bao che và bảo vệ. Trung Quốc bành trướng sức mạnh quân sự và cả phương tiện chiến tranh phi quân sự và phi quy ước, và đe dọa an ninh của nhiều quốc gia tại Ðông Á, không riêng gì Ðài Loan. Tại Á Châu, Bắc Kinh không tham gia vào nỗ lực quốc tế của Liên Hiệp Quốc hay Minh Ước NATO để góp phần ổn định tình hình, thí dụ như tại Pakistan, Afghanistan hay toàn cõi Trung Á, mà còn khai thác nỗ lực đó của quốc tế để bảo vệ quyền lợi quốc gia. Ðấy là một vấn đề cho thế giới.

Bắc Kinh còn đẩy mạnh nỗ lực lũng đoạn, tình báo và xâm nhập điện toán nhắm thẳng vào Hoa Kỳ và đe dọa hạ tầng cơ sở điện tử của Mỹ. Bắc Kinh không chỉ kiểm soát và điều hướng thông tin và tuyên truyền trong lãnh thổ mà còn mở chiến dịch vận động ra ngoài. Và nhắm vào dư luận Hoa Kỳ, để tạo ra ấn tượng sai lạc về bản chất của Trung Quốc, về mối quan hệ Mỹ-Hoa và về Hoa Kỳ. Bắc Kinh không chỉ tác động vào dư luận các nước khác mà còn tận dụng các doanh nghiệp du thuyết - lobby - Mỹ để lung lạc chính trường, chánh sách và công chúng Mỹ. Quốc Hội Mỹ đã được báo cáo như vậy.

Về chiến lược phát triển, việc cải cách kinh tế mà Trung Quốc tiến hành từ ba chục năm qua không áp dụng quy tắc thị trường mà nhắm vào một sách lược kỹ nghệ có chọn lọc, có trợ cấp, để đẩy mạnh xuất cảng. Vì vậy, trong quan hệ kinh tế giữa hai nước, Trung Quốc đạt lợi thế đáng kể - xuất siêu rất cao - nhờ kềm hãm tiêu thụ và gia tăng tiết kiệm nội địa qua chế độ hối đoái giả tạo và qua quy chế mậu dịch lệch lạc so với quy định của WTO. Với khối dự trữ ngoại tệ cực lớn, Trung Quốc có khả năng tác động vào luồng trao đổi toàn cầu và vào thị trường tài chánh Hoa Kỳ - lẫn giá trị của đồng Mỹ kim.

Vì sự ổn định của thế giới lẫn sự an toàn và quyền lợi kinh tế của mình, Hoa Kỳ cần quan niệm lại đối sách với Trung Quốc. Lãnh đạo Hoa Kỳ đã từng mong muốn xứ này phát triển trong ổn định, thành đối tác biết điều có khả năng góp phần bảo vệ hòa bình và thịnh vượng cho nhân loại. Nhưng dù mong muốn như vậy và hợp tác với Bắc Kinh trong tinh thần đó, Hoa Thịnh Ðốn vẫn phải tự chuẩn bị cho tình huống bất lợi, xuất phát từ những tính toán của Bắc Kinh.

Nhìn từ Bắc Kinh thì đây là một quyết định thù nghịch!

***

Lãnh đạo Bắc Kinh cho rằng thế giới đã có thái độ bất công với Trung Quốc từ 150 năm nay rồi và họ có nhiệm vụ cải sửa sự bất công ấy.

Trong hai chục thế kỷ, Trung Quốc đã là siêu cường toàn cầu - khi toàn cầu mới chỉ là đại lục địa Âu-Á. Tình trạng ấy chấm dứt vào giữa thế kỷ 19, khi Trung Quốc lụn bại và bị liệt cường xâm lấn và sâu xé, rồi trôi vào nội chiến cho tới ngày đảng Cộng Sản đại thắng. Việc giành lại chủ quyền tại Hong Kong và Ma Cao và việc giải phóng Ðài Loan là một nhiệm vụ lịch sử của đảng.

Sau khi tiến hành cải cách kinh tế, Trung Quốc bắt đầu công nghiệp hóa và cố thu hẹp khoảng cách tụt hậu với thế giới. Ðảng Cộng Sản đã áp dụng chiến lược kinh tế đúng đắn để đưa xứ này thành đại cường kinh tế và tất nhiên phải giành lại ngôi vị siêu cường chính đáng của mình. Tuy nhiên, khác với lịch sử mấy ngàn năm, tiến trình kỹ nghệ hóa đòi hỏi Trung Quốc phải mở cửa giao thiệp với bên ngoài để bảo đảm nguồn cung cấp nguyên nhiên vật liệu và khuếch trương các thị trường xuất cảng.

Nhằm bảo vệ quyền lợi kinh tế chính đáng, Trung Quốc phải có phương tiện quân sự tương xứng.

Từ ngàn xưa, Trung Quốc từng bị các dị tộc tấn công từ hướng Tây và mạn Bắc, cho nên việc xây dựng vùng trái độn quân sự ở khu vực ngoại biên là đòi hỏi chiến lược. Khởi đầu là Vạn Lý Trường Thành ở mạn Bắc và chế độ “đồn điền” - kinh tế quân sự - ở Cao nguyên Thanh Tạng, Tây Vực, Mông Cổ và Mãn Châu. Trong thế kỷ 20, Trung Quốc còn bị tấn công từ hướng Ðông, từ vùng duyên hải, cho nên khái niệm “vùng trái độn quân sự” tất nhiên phải mở rộng.

Với công cuộc phát triển và nhu cầu bảo đảm thị trường cùng nguồn cung cấp trên toàn cầu, Trung Quốc phải thành đại cường hải dương. Trước hết phải xây dựng vùng trái độn rộng lớn và vững mạnh hơn. Trong bước đầu của một tiến trình lâu dài, Bắc Kinh phải kiểm soát được vùng biển cận duyên, biển xanh lục, để rồi sẽ kiểm soát được vùng viễn duyên, biển xanh dương. Trung Quốc phải làm chủ tình hình từ Thái Bình Dương qua Ấn Ðộ Dương lên tới Hồng Hải vào Trung Ðông, xuống tới vùng biển tiếp giáp với Châu Phi.

Vì thế, vùng biển xanh lục quan lãnh thổ, trải dọc từ Hoàng Hải bên bán đảo Triều Tiên xuống tới eo biển Ðài Loan rồi Trung Nam Hải - Ðông Hải của Việt Nam - trở thành vùng quyền lợi cốt lõi. Ðó là “hạch tâm lợi nghĩa”. Nghĩa vụ bảo vệ quyền lợi tâm huyết của tổ quốc. Nó cũng quan trọng như Ðài Loan, Tây Tạng hay Tân Cương.

Huống hồ, khu vực cận duyên ấy còn có tiềm năng rất lớn về kinh tế nằm sâu ở dưới, từ đảo Ðiếu Ngư Ðài / Senkaku đang tranh chấp với Nhật Bản đến Hoàng Sa đã cướp của Việt Nam và Trường Sa đang lấy của Việt Nam và các nước Ðông Nam Á khác.

Nhìn từ Bắc Kinh ra thì suốt 500 năm qua, các nước Âu Châu, rồi Mỹ, Nhật, Nga hay Liên Xô đều đã lý luận và thực hiện việc đó qua đường lối ngoại giao pháo hạm hoặc khuynh đảo trắng trợn. Ngày nay, các nước lại muốn cản trở nỗ lực phát triển chính đáng của Trung Quốc và tìm cách be bờ nên lãnh đạo không thể nhượng bộ được. Cho dù chưa có sức mạnh quân sự tương xứng, Trung Quốc vẫn có thể chống trả bằng hình thái chiến tranh bất cân xứng, bằng phương tiện phi quy ước của thế giới hiện đại.

Ðó là những suy tính “khách quan” của đôi bên.

***

Xưa kia, Ðặng Tiểu Bình khéo căn dặn đảng là phải kín đáo phát triển chứ đừng tỏ lộ ý chí bành trướng vì cần mối giao hảo tốt với thế giới để cải cách kinh tế. Từ Giang Trạch Dân trở về sau, lãnh đạo Bắc Kinh có thêm tự tin và bộc lộ ngày càng rõ hơn tinh thần bành trướng mà họ cho là chính đáng. Khẩu hiệu “phát triển trong hòa bình” chỉ là khẩu hiệu, vì hòa bình phải có nghĩa là hòa bình trong trật tự Trung Quốc.

Việc Mỹ mắc bận với cuộc chiến chống khủng bố Hồi Giáo và vướng chân vào hai chiến trường Iraq và Afghanistan là cơ hội bằng vàng để Bắc Kinh vừa bành trướng thế lực vừa gây chướng ngại cho Mỹ, vừa tỏ vẻ ôn hòa hợp tác chống khủng bố, nhưng là khủng bố Hồi Giáo tại Tân Cương thôi!

Nối tiếp thời cơ thuận lợi ấy cho Bắc Kinh là chuỗi khủng hoảng tại Hoa Kỳ: kinh tế suy trầm, thất nghiệp tăng vọt, quốc gia mắc nợ, lãnh đạo lúng túng đấu khẩu khi dân chúng lại sắp đi bầu. Trong khi ấy, kinh tế Trung Quốc vẫn tăng trưởng mạnh, lại vượt qua Nhật Bản và có khi sẽ bắt kịp Mỹ trong vòng hai chục năm tới.

Vì vậy mà Bắc Kinh đã đơn phương cắt đứt việc đối thoại về quân sự, Chủ Tịch Hồ Cẩm Ðào bãi bỏ chuyến Mỹ du vào tháng tới và đôi bên đều xẵng giọng, khiến thiên hạ mới tự hỏi là chiến tranh có bùng nổ giữa hai nước hay không.

Chiến tranh đã thực tế xảy ra khi quan hệ đôi bên về kinh tế, chính trị và quân sự đã rẽ qua hai ngả không thể hàn gắn. Nhưng nó xảy ra không có tiếng nổ. Ðó là một cuộc đấu tranh đa diện tới độ toàn diện, nếu có bạo lực thì đấy chỉ là tai nạn mà đôi bên đều muốn tránh. Bất chiến mà tự nhiên thành mới là mưu cao chước lạ. Chung quanh, sẽ có xứ mang vạ, có xứ kiếm lời...

***

Trước hết là trận tuyến ngoại thương vì kinh tế cũng là chính trị.

Ngược với chủ trương từ trăm năm nay, từ tháng 3, Hoa Kỳ ban bố “quốc sách xuất cảng”. Thay vì mở rộng thị trường để nhập cảng từ các nước và dùng đó làm lợi thế ngoại giao và an ninh, ngày nay Hoa Kỳ phải hạn chế nhập cảng và đẩy bộ máy công quyền vào hỗ trợ doanh nghiệp xuất cảng hầu tạo thêm công ăn việc làm cho người dân. Nhìn từ Bắc Kinh, đây là quyết định tuyên chiến vì đánh thẳng vào chiến lược kinh tế dựa vào xuất cảng của Trung Quốc.

Hoa Thịnh Ðốn không chỉ tuyên chiến bằng cách ra lệnh cho các phủ bộ phải yểm trợ xuất cảng - y như Bắc Kinh đã làm - mà còn liên tục khiếu kiện Bắc Kinh trước cơ chế WTO và nêu vấn đề về hối suất đồng Nhân Dân tệ. Vốn dĩ dễ bảo, các doanh nghiệp Mỹ nay lại tỏ vẻ thất vọng về thị trường Hoa Lục. Họ còn nói đến việc triệt thoái để đầu tư tại nơi khác, có lời hơn hoặc ít bị kiểm soát hơn. Một trong những nơi đó là Ðông Nam Á, với dân số gần 600 triệu, có sẵn quy chế hợp tác cấp vùng và trình độ sản xuất dù sao cũng cao hơn, luật lệ phân minh hơn...

Với Bắc Kinh, chiến tranh kinh tế đã bắt đầu - bằng trận chiến mậu dịch. Chỉ giữa các quốc gia đang giao thương với nhau thì chiến tranh kinh tế mới xảy ra khi quyền lợi hết tương đồng và mọi tương nhượng đều đụng vào lằn ranh chính trị của lãnh đạo. Trước đại hội đảng khóa 18 tại Trung Quốc và tái bầu cử tổng thống tại Hoa Kỳ, cùng tiến hành vào năm 2012 này, cả Hồ Cẩm Ðào lẫn Barack Obama đều hết đất lùi.

Thế rồi, vừa mon men xuống Ðông Hải, Bắc Kinh gặp lại Hoa Kỳ, siêu cường toàn cầu có sức mạnh hải dương vượt xa tổng lực của tất cả các nước khác. Mâu thuẫn chính trị vì vậy bùng nổ vì quyền lợi khách quan của hai nước.

Trung Quốc vừa xây dựng khu vực tự do mậu dịch với Hiệp hội ASEAN, thì Mỹ tung sáng kiến Ðối Tác Liên Thái Bình Dương để lôi kéo Việt Nam, Singapore cùng các nước Thái Bình Dương tại Nam Mỹ. Bắc Kinh muốn bẻ đũa từng chiếc qua phép đàm phán và mua chuộc song phương với từng nước trong Hiệp hội ASEAN của 10 quốc gia Ðông Nam Á thì Hoa Kỳ vận động tập thể ASEAN cùng thống nhất đường lối chính trị và ngoại giao, là bảo vệ quyền lợi chung về kinh tế và vận chuyển hàng hải tự do trong vùng biển Ðông Nam Á. Ðã vậy, Hoa Kỳ còn lấn vào sân sau của Trung Quốc vì đòi hợp tác với các nước Việt, Miên, Lào, Thái trong lưu vực sông Mekong.

Khi Ngoại Trưởng Hillary Clinton nói mạnh tại Hà Nội thì Tổng Trưởng Quốc Phòng Robert Gates tới Jakarta tăng cường quan hệ quân sự với Indonesia. Thậm chí tái tục việc hợp tác với lực lượng ưu binh Kopassus của xứ này. Mục tiêu vẫn là bảo vệ eo biển Malacca, một yết hầu của sự chuyển vận từ Thái Bình Dương qua Ấn ÐộD. Tuần qua, khi Trung Quốc lẻn xuống sân sau của ASEAN để hợp tác quân sự với xứ Ðông Timor nhỏ xíu thì Úc Ðại Lợi, một đồng minh chiến lược của Mỹ, lại lên tiếng báo động!

Như vậy, với Bắc Kinh, Hoa Kỳ đã lặng lẽ khai chiến về ngoại giao và chính trị.

Ðấy là bối cảnh của những chuyển động hải quân đang làm Thái Bình Dương nổi sóng: Hai lần thao diễn quân sự giữa Nam Hàn và Hoa Kỳ, xen kẽ là cuộc tập trận để thị uy của Trung Quốc và việc hàng không mẫu hạm USS George Washington ghé Việt Nam, rồi cuộc thao dượt giữa hải quân Hoa Kỳ và Việt Nam! Kết quả thì các nước ráo riết trang bị võ khí - mua của Mỹ...

Về phía Hoa Kỳ, Hoa Thịnh Ðốn đang chứng minh sự khả tín - đáng tin - của mình với các quốc gia Ðông Nam Á vốn dĩ cứ e là gây hiềm khích bất lợi với Bắc Kinh trong khi Mỹ vẫn thờ ơ vì bận chuyện khác. Thực tế thì Hoa Kỳ chỉ quay lại củng cố quan hệ với các đồng minh cố hữu đã bị lãng quên từ sau Chiến Tranh Lạnh rồi gần chục năm đối phó với khủng bố. Lý luận của Mỹ là Hoa Kỳ chỉ tăng cường sự hợp tác bình thường với các đối tác Á Châu, siết chặt quan hệ song phương vốn dĩ đã có từ lâu và khẳng định quyền tự do di chuyển của các hạm đội Mỹ ở Tây Thái Bình Dương, như tại mọi vùng biển khác của địa cầu.

Hoa Kỳ càng có nhu cầu ấy khi thấy Bắc Kinh không hề có thiện chí giải quyết mối nguy Bắc Hàn sau vụ chiến hạm Nam Hàn bị bắn chìm hồi tháng 3 và cũng chẳng muốn can ngăn Iran chế tạo võ khí hạch tâm. Với nước Mỹ, Trung Quốc không là một cường quốc biết điều và có trách nhiệm về thiên hạ sự và vì vậy, nếu để Bắc Kinh tiếp tục lấn lướt tại Ðông Á thì mặc nhiên Hoa Kỳ khuyến khích sự bành trướng. Ðiều ấy sẽ ảnh hưởng đến đối sách của các nước trong vùng. Và cuối cùng thì sẽ xâm phạm vào an ninh của Hoa Kỳ.

Về phía Trung Quốc, Bắc Kinh coi đây là một khiêu khích quân sự vì lấn vào vùng trái độn ngoài biển của mình và còn là bước đầu của cả một chiến lược bao vây. Bắc Kinh cho rằng Mỹ phải ráo riết tiến hành việc ngang ngược đó trước khi Trung Quốc có thể khai thác khoảng trống thuận lợi hiện nay để hoàn toàn làm chủ tình hình ngoài Ðông Hải.

Vì vậy, dù súng chưa nổ, hai nước bắt đầu nhập trận, trước tưởng là giả mà hóa là thật. Và là một cái thật thiên biến vạn hóa từ một quốc gia dầy kinh nghiệm về chiến pháp là Trung Quốc với quốc gia siêu hạng về kỹ thuật và đã tích tụ đủ loại kinh nghiệm tinh ma của thế giới là Hoa Kỳ.

***

Ðoạn kết ở đây phải là chuyện Việt Nam.

Vào thế kỷ 19, khi nhà Ðại Thanh bắt đầu lụn bại vào đời Gia Khánh thì cuộc chiến Hoa-Pháp đã xảy ra - tại miền Bắc Việt Nam - với sự can dự của binh lính nhà Thanh và Lưu Vĩnh Phúc. Và với thành tích của quân Cờ đen hai lần giết chết tư lệnh Pháp tại chiến trường Hà Nội là Ðại Úy Francis Garnier năm 1873 rồi Ðại Tá Henri Rivière năm 1883. Khi ấy, dân ta có lẽ cũng chẳng biết gì về trận chiến Hoa-Pháp. Sau lần đó, Pháp thắng, Tàu thua, Việt Nam mất độc lập.

Gần trăm năm sau, sau chiến thắng của Mao Trạch Ðông năm 1949, và chiến tranh Cao Ly năm 1950-53, cuộc chiến Hoa-Pháp lại tái diễn dù chẳng có khai chiến - mà vẫn trên lãnh thổ Việt Nam. Việt Nam tưởng là đang làm cách mạng! Kết cuộc, Pháp thua tại Ðiện Biên Phủ và đảng Cộng Sản tưởng mình thắng nên còn đòi lấn tới, như một mũi xung kích của Trung Quốc.

Hoa Kỳ bước vào và xung đột Mỹ-Hoa lại bùng nổ như đã bùng nổ tại Triều Tiên - nhưng trên lãnh thổ Việt Nam - trong cuộc chiến ủy nhiệm lồng vào Chiến Tranh Lạnh giữa hai khối Cộng Sản và Tư Bản. Lần đó, Việt Nam Cộng Sản được tiếng thắng Mỹ nhờ những dàn xếp giữa Hoa Thịnh Ðốn và Bắc Kinh. Nhưng Hoa Kỳ thắng lớn vì đóng cái nêm vào liên minh Nga-Hoa và khiến Liên Xô hụt hơi mà tan rã vào năm 1991.

Rồi từ đấy, Việt Nam tuột dần vào quỹ đạo Trung Quốc và nay trở thành “vùng trái độn” trên đất liền, theo quan niệm của Bắc Kinh. Trong khi ấy đại đa số dân chúng và cả đảng viên đều thấy hợp tác với Hoa Kỳ mới giúp cho quốc gia phát triển. Một mâu thuẫn kỳ lạ!

Bây giờ, khi Trung Quốc đụng độ với Hoa Kỳ, làm sao Việt Nam có thể tránh được thắng lợi giả mà là tai họa thật cho dân tộc như đã từng thấy trong lịch sử? Ði dưới chân Trung Quốc thì được gì, mất gì? Mà ai được, ai mất? Ngả theo Hoa Kỳ thì bị rủi ro gì, nhiều người Việt không quên được, kể cả và nhất là những người Việt đang sống tại Mỹ. Còn giải pháp nào khác không?

Người Việt khó nhìn ra giải pháp nếu không thấy là hai cường quốc này đã thực tế lâm trận, theo kiểu thiên biến vạn hóa của họ... Và càng khó nhìn ra giải pháp nếu bị lãnh đạo ở Hà Nội bịt mắt.

Posted: Sat Dec 11, 2010 2:12 am
by thienthanh
Cớ Sao Phải Sợ?

Tuệ Vân
tamthucviet.com
Những thời gian gần đây trong nước đã có những phát biểu tạo sự chú ý cho dư luận. Một trong những phát biểu đó là lời tuyên bố của ông Lê Hiếu Đằng, Luật gia, nguyên Phó Tổng Thư ký UB TƯ Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình VN, nguyên Phó Chủ tịch MTTQVN TP. SÀIGÒN. Hiện là Phó Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn về Dân chủ và Pháp luật thuộc UBTƯMTTQVN. Ông Lê Hiếu Đằng cho rằng “Toàn dân không thể thụ động ngồi chờ chính quyền tự thay đổi. Trong đời hoạt động của mình tôi luôn được dạy rằng: không có người cai trị nào tự nguyện từ bỏ quyền lực, ghế ngồi của mình. Dân chủ chỉ có được qua đấu tranh. Đấu tranh mà không phá vỡ sự ổn định xã hội, đó là bài toán phải giải quyết, nhưng quyết không thể nhân danh ổn định mà kìm hãm cuộc đấu tranh để xây dựng nền dân chủ.”

Những phát biểu trên của ông Lê Hiếu Đằng đã nói lên điều gì? Liệu nhà nước độc tài cộng sản Việt Nam có thể nào gán ghép cho lời phát biểu của ông Lê Hiếu Đằng với tội hình sự 88, âm mưu lật đổ chính quyền hiện hữu?

Đi vào nội dung câu nói thì phát biểu của ông Lê Hiếu Đằng đã chỉ ra được thực trạng của chế độ độc tài là không chia xẻ quyền lực cai trị với bất cứ ai. “Dân chủ chỉ có được qua đấu tranh”.

Cũng theo ông Đằng, đường lối của chính quyền cộng sản Việt Nam ngày nay đã đi ngược lại với lợi ích của đại đa số dân tộc Việt Nam. Ông Đằng nói: “Cách làm ăn của chúng ta liệu có khác gì thời kỳ tư bản man rợ: xua đuổi nông dân để chiếm đất, bần củng hóa một bộ phận dân cư để công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Bàn tay lông lá của các tập đoàn lợi ích ngày càng thọc sâu vào các chính sách quốc gia. Thật hết sức đáng lo. Lòng dân đang rất bất an, dân không thể tiếp tục tin yêu chế độ nếu tình hình cứ tiếp tục thế này. Những vấn đề trên không thể nào giải quyết nếu không nhanh chóng thực hiện dân chủ thực sự.”

Lo ngại của ông Đằng là đúng, người dân Việt Nam không thể ngồi yên, chịu đựng mãi những cảnh tàn nhẫn bất công của chế độ biến thái đang liên kết với những nhóm lợi ích thẳng tay tướt đoạt tài sản, đất đai nhà cửa của người dân, biến dân thành những người vô gia cư, với những số tiền đền bù không đủ sống, gia đình phải phân ly, trong khi những quan chức đảng viên của chế độ thì cười hả hê qua những phần tiền được chia chát từ các nhóm quyền lợi.

Thấy được sự mĩa mai của sự ám ảnh của cái còng sắt trước tội hình sự 88, trước những đôi mắt cú vọ của đồng chí, ông Lê Hiếu Đằng đã lên tiếng trấn an ông và các đồng chí của ông: “Trong cuộc đấu tranh cho dân chủ, chúng ta không có gì phải sợ, tôi muốn nhắc lại điều tâm niệm này cho chính mình mà cũng là điều muốn nhắn gửi các đồng chí, đồng đội, bạn hữu của mình và tất cả những ai còn trăn trở với những vấn đề của đất nước, của dân tộc. Mà tại sao chúng ta phải sợ? Những người phải sợ là những người đi ngược lại lợi ích của đất nước, của nhân dân. Chắc chắn họ sẽ bị nhân dân chối bỏ, bị lịch sử phủ nhận.”

Có người cho rằng những lời nói trên của ông Đằng tuy đúng nhưng đến quá muộn. Ông Nguyễn Hộ vào thập niên 80s đã phát biểu: “Hơn 60 năm đi theo con đường cách mạng Cộng Sản, nhân dân Việt Nam đã chịu đựng vô vàn hy sinh và rồi cuối cùng chẳng được gì cả. Đất nước vẫn còn nghèo nàn, lạc hậu như thủa xưa, nhân dân không được no ấm và hạnh phúc, không được tự do và dân chủ. Đó là một sỉ nhục.”

Những người lạc quan tuy nhiên lại bảo rằng đấu tranh không lúc nào bị coi là muộn, miễn là có tấm lòng thành thật và có sự quyết tâm.

Đúng thế, chế độ cộng sản đang hủy diệt đất nước. Tương lai dân tộc đang trên bờ vực thẳm. Cha ông Việt Nam ngày xưa đã xả thân vì hạnh phúc cho những đời sau. Ông Lê Hiếu Đằng ít nhiều cũng đã có sự trăn trở của ông, còn những đồng chí cật ruột của ông nay đâu? Đấu tranh cho đất nước cớ sao phải sợ?

Tuệ Vân
Ngày 09 tháng 12 năm 2010

Posted: Sun Dec 12, 2010 2:07 am
by vuphong
Nhân Ngày Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền 10 tháng 12

ĐIẾU CÀY GIỮA THỜI THỔ TẢ
Nhạc sĩ Châu Kỳ là tác giả của nhiều bài ca (rất) sến. Không tin, xin nghe Tuấn Vũ chơi thử một bài – Bỏ Phố Lên Rừng:

Người xót xa buồn lắm phải không?
Không sao lại bỏ phố lên rừng
Đi làm mây cao trên đèo vắng.
Trời vào đông có chạnh lòng?

Ông Lữ Phương (nguyên) thứ trưởng Bộ Văn hoá của chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam thì không hề làm nhạc sến, cũng không ca nhạc sến bao giờ, chỉ trải qua một kinh nghiệm sống (hơi) hao hao sến. Năm 1967, không biết vì xót xa buồn lắm chuyện chi mà (khi khổng khi không) ổng … lại bỏ phố lên rừng!

Bốn mươi mốt năm sau, phóng viên Ánh Nguyệt đã có cuộc nói chuyện với ông Lữ Phương – nghe được qua RFI, vào ngày 22 tháng 08 năm 2008 – xoay quanh cuốn bút ký “Những Chuyến Ra Đi,” với lời giới thiệu (có phần hơi cường điệu, và không được mạch lạc gì cho lắm) về tác giả, như sau:

“Một thanh niên miền Nam lớn lên được hun đúc bằng lòng yêu nước và lý tưởng đã quyết định dấn thân vào cuộc phản kháng chống lại cuộc chiến tranh can thiệp của Mỹ vào Việt Nam. Vấn đề không bình yên về tinh thần mà anh nhận ra qua cuộc dấn thân ấy là sự sai biệt giữa lý tưởng và thực tế. Anh vẫn giữ nguyên ý nghĩa sự chọn lựa ban đầu của mình là không chấp nhận sự can thiệp tàn bạo của Mỹ vào đất nước và điều đó khiến anh vẫn còn là bạn đường của những người cộng sản, nhưng trong những năm tháng sống với họ qua cuộc chiến đấu chung ấy trong chiến khu, mặc dù đã vào Đảng rồi anh vẫn thấy lạc lõng trong cái không khí ý thức hệ và văn hoá do Đảng tạo ra, những điều đó là xa lạ với tính cách của anh, có phần đi ngược lại với cả cái lý tưởng mà anh ấp ủ. Sự rạn nứt đó đã giằng xé tâm thức và trở thành cái chủ đề của bút kí ‘Những chuyến ra đi.’ Một bút kí thể hiện sự khắc khoải của một con người đi vào máu lửa để tìm kiếm một thứ ý nghĩa chung cuộc cho đời sống. Các sự kiện lịch sử được kể ra ở đây chỉ là những chất liệu qua đó tác giả bộc lộ những suy nghiệm về bản thân trong quá trình dấn thân tìm hiểu đời sống trong cái hiện thực sần sùi khốc liệt của nó. Một sự bộc lộ tiêu biểu cho thái độ của một số trí thức ‘khuynh tả’ xuất hiện ở miền Nam sau 1954”.
Image
Điếu Cày tức Nguyễn Văn Hải
Sau 1975, sau khi “Mỹ cút,” ở Việt Nam xuất hiện “một lớp trí thức khuynh tả khác.” Họ cũng được “hun đúc bằng lòng yêu nước” và cũng “quyết định dấn thân.” Sự khác biệt chỉ ở điểm là thay vì “không chấp nhận sự can thiệp tàn bạo của Mỹ vào đất nước” (như lớp ông Lữ Phương, ngày trước) họ “không chấp nhận sự can thiệp tàn bạo” của người Tầu vào lãnh thổ và lãnh hải của Việt Nam. Ông Nguyễn Văn Hải, bút danh Điếu Cầy, là “một sự bộc lộ tiêu biểu” cho thái độ này.

Để thực hiện lý tưởng của mình ông Lữ Phương đã bỏ phố lên rừng, hay còn gọi (một cách ít lãng mạn, và đỡ sến hơn) là … nhẩy núi. Trong cuốn bút kí thượng dẫn, nơi trang 56 và 57, có mấy đoạn thế này:

“Vào mùa khô năm ấy, tôi xin cơ quan cho tôi đến vùng biên giới Bố Bà Tây, liên hệ với gia đình. Lần này ngoài vợ và đứa con gái lớn, còn có em gái tôi cùng với hai đứa con gái nhỏ của nó đi theo, lúc nhúc một đoàn, không tưởng tượng nổi!”

“Nhờ chuyến thăm này tôi mới rõ được chuyện nhà từ lúc tôi ra đi. Vợ tôi ngoài việc đi dạy học còn tìm được việc làm ở một tòa án tỉnh nữa. Những người quen biết đều biết vợ tôi có chồng là VC, bị cảnh sát Sài Gòn o ép, dụ dỗ nhiều cách, nhưng đều hết lòng giúp đỡ, che chở (ngay cả những viên chức cao cấp trong chính quyền Sài Gòn): chẳng phải vì lý do gì khác hơn là ở đây người ta chưa có thói quen ‘chính trị hoá’ mọi quan hệ xã hội.”
Quá trình chống Mỹ của ông Lữ Phương, ngó bộ, cũng không “sần sùi” hay “khốc liệt” gì cho lắm. Ông ra đi nơi này vẫn thế. Bà nhà “ngoài việc đi dạy học còn tìm được việc làm ở một tòa án tỉnh,” và “được mọi người quen biết (ngay cả những viên chức cao cấp trong chính quyền Sài Gòn) hết lòng giúp đỡ và che chở.” Và dù ông đã nhất định quên tình riêng “đi vào máu lửa để tìm kiếm một thứ ý nghĩa chung cuộc cho đời” nhưng vợ, con, em út, cháu chắt … vẫn vô (bưng) thăm hỏi tưng bừng – “lúc nhúc một đoàn” đông hết biết luôn! Nói dại, và nói đại, lỡ ông Lữ Phương có hai hay ba bà vợ và cũng xin cơ quan để được liên hệ với những gia đình còn lại thì bà Hai cũng như bà Ba – hổng chừng – cũng dám đã có mặt ở chiến khu, y như bà Cả vậy!

Chuyện chống Tầu của ông Nguyễn Văn Hải, xem ra, có phần vất vả hơn chút xíu. Ổng không vô bưng mà lại vô tù; đã thế, vợ con, dù đã làm giấy tờ ly dị, vẫn cứ bị vô số những chuyện lôi thôi và rắc rối với … Chính Quyền Cách Mạng! Bức thư của bà Dương Thị Tân, vợ (cũ) ông Điếu Cầy, viết ngày 2 tháng 12 năm 2010 mà chúng tôi xin ghi lại nguyên văn dưới đây nói lên (phần nào) những sự kiện vô cùng ti tiện, bẩn thỉu, và hạ cấp trong vụ việc này:
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA LẦM THAN
Đập Dập - Tự do - Hạnh phúc


ĐƠN TỐ CÁO
Kính gởi:

- Ông Nguyễn Chí Thành - Giám đốc Công an TP Hồ Chó Minh
- Ông Lê Hồng Anh - Bộ trưởng Bộ Công an
Ông Nguyễn Tấn Dũng - Thủ tướng nước CHXHCN Lầm Than
Ông Nguyễn Minh Triết - Chủ tịch nước CHXHCN Lầm Than

Đồng kính gởi:
- Các cơ quan truyền thông trong và ngoài nước, những bạn bè thân hữu quan tâm đến vụ việc.


Tôi tên: Dương Thị Tân, hiện ngụ tại số nhà 57/31 Phạm Ngọc Thạch, phường 6 quận 3, thành phố Hồ Chó Minh.

Tôi gửi thư này đến các ông tố cáo những sự việc mà trong thời gian qua chính quyền - cụ thể là Cơ quan ANĐT Công an TP Hồ Chó Minh đã gây ra cho gia đình tôi như sau:

Trong khoảng thời gian từ tháng 4/2006 đến tháng 12/2008, tôi và chồng cũ của tôi là ông Nguyễn Văn Hải (blogger Điếu Cày) có bị Tòa án nhân dân TP Hồ Chó Minh xử 2 năm 6 tháng tù giam về tội danh “trốn thuế” cộng với mức tiền phạt gần 900 triệu đồng + gần 40 triệu đồng tiền lãi.

Đau đớn vì bị oan ức, tôi tìm hiểu nguyên nhân và được biết, sở dĩ có vụ án oan này là do chồng cũ của tôi (ông Nguyễn Văn Hải) vào ngày 16/12/2007 và ngày 19/1/2008 có tham gia biểu tình phản đối Trung Quốc chiếm đất và chiếm 2 quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa của Việt Nam nên Công an TPHCM đã bắt giữ. Theo lời của Thiếu tá Nguyễn Văn Long (tên gọi khác là Hoàng, tự xưng là Đội trưởng Đội điều tra chống bạo động) thì không thể quy kết ông Nguyễn Văn Hải tội biểu tình nên mới phải dùng tội danh “trốn thuế” mặc dù tội danh này cũng không có bằng chứng. Và cũng theo lời một số cán bộ khác của Cơ quan An ninh điều tra thì “nếu không bắt ông Hải sẽ làm mích lòng Trung Quốc, vì Trung Quốc là nước lớn, nếu không được hài lòng thì sẽ có chiến tranh”.

Bớ các ông cộng phỉ!

Tôi chỉ là một người phụ nữ bình thường, một mình tôi phải nuôi dạy các con đang tuổi học hành điều đó với tôi cũng đã là quá sức. Tôi không quan tâm nhiều đến chuyện kẻ nào bán đất và kẻ nào bán đảo, nhưng để bắt giữ cho bằng được ông Nguyễn Văn Hải, cơ quan Công an và Tòa án đã quy chụp cho chúng tôi tội danh mà chúng tôi không hề phạm phải, tuyên phạt tôi 18 tháng tù treo, 18 tháng quản chế tại địa phương cộng với một số tiền quá lớn. Sau vụ đó, họ giải thích cho tôi rằng: “Vì lợi ích quốc gia nên mong chị cố gắng chịu đựng”.
Image
Điếu Cày cùng các thành viên Câu lạc bộ Nhà báo Tự do biểu tình chống TQ, 12/2007
Chuyện tưởng như đã xong, bình an sẽ trở lại với gia đình tôi thì bỗng dưng vào các ngày 13- 14- 15- 16 tháng 5/2009 Cơ quan an ninh điều tra lại liên tục cho gọi tôi lên thẩm vấn với nội dung: Bắt tôi cam kết không được cho 2 người quen ở nhờ trong căn nhà số 84D Trần Quốc Toản (phường 8, quận 3) mà tôi và ông Nguyễn Văn Hải là đồng sở hữu, đồng thời bắt tôi cam kết không được trả lời phỏng vấn hoặc nói chuyện với bạn bè khi họ hỏi thăm chuyện bị giam giữ, sức khỏe của ông Hải hay chuyện cuộc sống của mẹ con tôi. Quá ngạc nhiên vì những điều vô lý mà Công an đưa ra, tôi có hỏi lại họ rằng: “Tài sản của tôi, tôi có quyền quyết định hay không? Chuyện của gia đình tôi, tôi có được kể hay không? Tôi làm như vậy thì có vi phạm pháp luật không? Nếu có thì vi phạm điều khoản nào trong pháp luật nhà nước?”. Tôi hỏi nhiều lần với những người thẩm vấn tôi hôm đó, cụ thể là: Nguyễn Văn Long, Nguyễn Minh Mẫn, Nguyễn Văn Hưng…. Nhưng thay vì trả lời cho tôi rõ thì Nguyễn Văn Long (Hoàng) còn lớn tiếng nạt nộ: “Sẽ kiếm chuyện ép bằng được con mẹ này, cho tù thêm 5 năm nữa. Sẽ có đủ người, đủ thời gian để làm việc với nó nhiều lần”, v.v…
Image
Chị Dương Thị Tân, vợ cũ của blogger Điếu Cày
Sự việc vẫn không dừng tại đó. Vào ngày 20/10/2010 vừa qua, khi thời hạn tù giam của ông Hải kết thúc, tôi thuê một chiếc xe để đi đón ông Hải tại trại giam Xuân Lộc vào lúc 5 giờ sáng. Khi tôi bắt đầu lên xe thì có một tốp khoảng 20 người gồm cả Công an mặc sắc phục và mặc thường phục xông ra chặn đầu xe không cho xe chạy rồi yêu cầu tôi phải về Công an làm việc. Bất bình vì những người này không đưa ra được bất cứ lý do gì chính đáng biện minh cho hành vi cản trở quyền tự do đi lại của tôi nên tôi nói rõ cho họ biết rằng “Bây giờ mới 5 giờ sáng, không một cơ quan nào làm việc vào giờ này, hơn nữa tôi không vi phạm pháp luật, không ai có quyền cản trở hay bắt giữ tôi”. Một Công an tên Bình hô to: “Tôi đại diện cho pháp luật, đại diện cho tám mươi mấy triệu dân yêu cầu chị về Công an làm việc”. Tức cười cho kiểu “đại diện” ngô nghê, tôi quay trở lên nhà thì một số người mặc thường phục ra lệnh cho khoảng 8 người vừa Công an vừa dân phòng của phường 6 quận 3 chạy theo lôi kéo, bẻ quặt tay chân tôi quăng vào xe. Bất bình, đau đớn, tôi la lên thì lập tức những cùi chỏ thúc mạnh vào họng, vào ngực, thậm chí họ còn đánh đập, dùng sức nặng của họ đè cả lên người tôi khi ở trong xe Công an.

Tại Công an phường 6, từ sáng đến gần trưa Công an liên tục yêu cầu tôi phải giao tư trang cá nhân cho họ. Tôi từ chối thì Nguyễn Văn Long ra lệnh cho thuộc cấp xông vào bẻ giật cánh khủy tay tôi ra sau treo lên cho những tên khác thò tay vào lục soát trong người tôi lấy hết tư trang gồm tiền và điện thoại di động cá nhân (V9) mà không có lệnh khám xét, không lập biên bản khám xét cũng như thu giữ tài sản của tôi. Khi bọn chúng giở trò hành xử côn đồ với tôi, thì Nguyễn Minh Mẫn lấy điện thoại di động của Mẫn ra quay phim lại.

Trong khi tôi đang bị khống chế, bắt giữ trái phép tại Công an phường 6 quận 3, thì tại nhà tôi Công an cử nhiều người ngồi chặn hết các cửa ra vào không cho các con tôi được ra khỏi nhà đi học (ngày đó con gái tôi phải thi học kỳ 3 môn).

Đầu giờ chiều ngày 20/10/2010, từ Công an phường 6 lại diễn ra màn trấn áp tiếp theo áp giải tôi về nhà để bắt đầu một cuộc “càn quét” vô cùng khủng khiếp. Các con tôi từ sáng đã bị giam giữ trong nhà đến lúc này bắt đầu hoảng loạn, la khóc khi Công an đập phá khóa cửa để vào nhà. Không phá được khóa, bọn họ đập cửa kính, mảnh kính bắn tứ tung vào người mẹ con tôi khiến ai cũng bị đứt da chảy máu.

Khi phá được cửa họ lại “ào ào như sôi” tràn vào nhà lục xét mọi xó xỉnh, ngóc ngách, tìm kiếm, bươi moi. Tôi yêu cầu cho tôi biết lý do khám xét thì người mặc sắc phục đeo bảng tên Đại tá Trần Văn Cống mới đọc cho tôi nghe tờ giấy gọi là “lệnh khám xét nơi ở của ông Nguyễn Văn Hải” và ông Trần Văn Cống là người được ủy quyền chủ trì thi hành lệnh. Tôi phản đối lệnh khám xét trái pháp luật này vì nơi đây từ nhiều năm nay là nhà riêng của tôi, không phải “nơi ở của Nguyễn Văn Hải”, nhưng đã 2 lần họ viện lý do khám xét “nơi ở của Nguyễn Văn Hải” để khám xét nhà riêng của tôi. Đã 3 năm qua, ông Hải không qua đây thăm con vì bị giam giữ tại các trại giam của Công an, nên muốn khám xét các người phải đến trại giam mới đúng. Ông Cống nói: “Chúng tôi biết hết, biết tất cả, nhưng đây là lệnh chúng tôi phải thi hành”. Khi rút đi họ mang theo của con tôi 2 bộ máy vi tính để bàn, 1 máy tính xách tay, một số thiết bị nghe nhạc và một số đĩa ghi hình ảnh kỷ niệm gia đình.

Ngày 28/10/2010, Cơ quan ANĐT CATP Hồ Chó Minh triệu tập con tôi là Nguyễn Trí Dũng đến trụ sở (số 4 Phan Đăng Lưu) để kiểm tra đồ vật thu giữ. 3 giờ chiều cùng ngày, biên bản được lập với nội dung ghi rõ: “không tìm thấy tài liệu liên quan” nhưng đến hôm nay (02/12/2010) tài sản cá nhân và phương tiện học tập của các con tôi vẫn không được Công an trả lại.

Bớ các ông cộng phỉ!

Những điều tôi tóm tắt sơ lược trên đây chỉ là một số trong vô số các hành vi mà chính quyền và CA TPHCM đã hành xử bất công, thô bạo, vô đạo đức và coi thường pháp luật đối với bản thân tôi, với ông Nguyễn Văn Hải và các con của chúng tôi.

- Bất công là cột buộc cho chúng tôi tội chúng tôi không vi phạm rồi phạt tù, phạt tiền, công khai cướp tài sản (căn hộ số 9/3, chung cư 17 Nguyễn Thái Học, phường Cầu Ông Lãnh, quận 1) khi chúng tôi đang mua bán bằng giấy tay mà chưa kịp chuyển quyền sử dụng. Khi được hỏi về việc này, đại tá Trần Tiến Tùng có trả lời: “Ai bảo mua bán trái pháp luật”. Xin thưa, việc mua bán nhà giấy tay dù chứa đựng nhiều rủi ro cho người mua nhưng không có nghĩa là nhà nước cấm vì nó diễn ra công khai với đa phần nhà hóa giá.

- Vô đạo đức là hành xử dã man, đe dọa trực tiếp đến tính mạng của tôi, của ông Nguyễn Văn Hải và các con tôi. Con tôi đã 2 lần bị chận đánh ngoài đường, gây thương tích (có người chứng kiến). Bản thân tôi cũng bị chận đánh nhiều lần. Ông Nguyễn Văn Hải từng “được” Trung tá Hoàng Trọng Dũng (An ninh CA TP Hồ Chó Minh) nghênh ngang tuyên bố: “Đánh để bác sĩ nhìn không ra, luật sư tìm không thấy, đánh cho mất khả năng đàn ông, chích cho lây nhiễm AIDS, làm cho suy kiệt mà chết”. Nhà tôi từng bị cột cửa bên ngoài nhiều lần vào các ngày 8/3/2010, 11/3/2010, 13/3/2010 và 22/10/2010 khi các con tôi đang ở bên trong. (Ngày 13/3/2010 tôi có lên CAP8 quận 3 trình báo sự việc 4 lần nhưng CAP8 quận 3 không xuống xem xét và giải quyết).

Trong cuộc sống, gia đình tôi không gây thù chuốc oán, chính quyền địa phương chưa một lần phải xử lý về vấn đề gì, thì tại sao giờ này bản thân ông Hải, tôi (Dương Thị Tân, người luôn được Cơ quan Công an nói rằng “không có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến ông Hải”) và các con của chúng tôi luôn bị đe dọa đến mạng sống, các con tôi còn bị tước đi quyền được đi học, thi cử một cách tùy tiện, trái pháp luật (cả 2 cháu đều bị nhiều lần). Điều đáng nói là những việc làm vô nhân đó lại được một bộ phận người khi hành động luôn luôn nhấn mạnh rõ ràng: “Chúng tôi là CAND đang làm nhiệm vụ theo lệnh của cấp trên”, luôn luôn tự nhận họ “đại diện cho luật pháp”, “đại diện cho nhân dân”. Họ hành động và hò hét như thể họ được “miễn dịch” với luật pháp, hay họ là một thế lực được luật pháp bảo kê. Tất cả những việc xảy ra đó được một số cán bộ Công an lý giải một cách đơn giản khi tôi hỏi họ tại sao, họ trả lời: “Tại vì ông Hải. Tại vì ông Hải không biết lượng sức mình, tại vì ông Hải dám nói đến biển đảo, đất liền bị mất trong khi nhà nước chưa nói”, v.v… Tất cả cán bộ Công an mà tôi đã từng tiếp xúc không một người nào không nói như vậy (tôi còn nhớ rõ từng người).

Bớ các ông cộng phỉ!

Vậy thì đã rõ. Một người như ông Nguyễn Văn Hải đã vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì sự toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải, đã hy sinh một phần tuổi trẻ cho đất nước mà chưa một lần đòi hỏi, kể công. Một người có lương tri biết đau trước nỗi đau Tổ quốc bị xâm chiếm, trước quốc nạn tham nhũng mà nói lên tiếng nói của chính nghĩa thì không có lý do gì để phải bị cầm tù và bị đối xử tàn nhẫn bởi chính cái đất nước mà ông Nguyễn Văn Hải đã ra sức bảo vệ. Gia đình và người thân ông Hải cũng không có lý do gì phải chịu sự trả thù của một bộ phận người luôn lấy sức mạnh của chính quyền để khủng bố, đe dọa người dân lương thiện, luôn nhân danh công lý để che đậy sự nhỏ nhen hèn nhát của lương tâm mình.

Bớ các ông cộng phỉ!

Thư này gửi tới các ông với yêu cầu chính đáng trả lại tài sản cho gia đình tôi để các con tôi có phương tiện học tập, yêu cầu chấm dứt mọi sự đe dọa, khủng bố tinh thần đối với gia đình tôi. Đồng thời không đối xử thô bạo với ông Nguyễn Văn Hải hiện đang bị Công an giam giữ, vì cho đến thời điểm hiện tại (02/12/2010) gia đình tôi vẫn không được biết ông Hải đang bị giam ở đâu và không được gởi quà thăm nuôi. Cán bộ tiếp dân chỉ giải thích là “theo yêu cầu của Cơ quan điều tra không cho gởi đồ thăm nuôi” là một hình thức khủng bố tinh thần, làm suy kiệt sức khỏe ông Hải, trái với Nghị định 98/2002/NĐ-CP ngày 27/11/2002 của Chính phủ (khoản 1 Điều 26 của Quy chế về tạm giữ, tạm giam).

Với tinh thần cầu thị, mong rằng mọi yêu cầu của tôi không rơi vào im lặng, và luật pháp cần phải được tôn trọng để những người dân thấp cổ bé miệng như chúng tôi hiểu đúng về cụm từ “Tự do - Hạnh phúc” trong một đất nước có pháp quyền.

Thành phố Hồ Chó Minh, ngày 02/12/2010

Nay kính đơn!
(đã ký)
Dương Thị Tân


Sự việc, nghĩ cho cùng, chả qua chỉ là thời vận. Ông Lữ Phương may mắn vì chống Mỹ đúng nơi và đúng lúc. Cái lúc mà nửa phần đất nước vẫn còn có kỷ cương và hiến pháp. Cái hiến pháp của chế độ Đệ Nhị Cộng Hoà của miền Nam Việt Nam, tuy có vẻ ọp ẹp và yếu ớt, vẫn là đồ thật (chớ) không phải đồ sơn. Nó đã bảo vệ thân nhân, gia đình và vợ con của ông Lữ Phương thoát khỏi những đòn thù ti tiện, bẩn thỉu và hạ cấp của những kẻ tiểu nhân – nếu có – vào thời điểm đó!

Ông Điếu Cầy, tiếc thay, không được sự may mắn tương tự. Ông chống Tầu không đúng nơi và cũng chả đúng thời. Cái nơi mà ông vẫn ngỡ là quê hương xứ sở của mình thật ra đang bị âm mưu bán đứng, và cái thời của ông – như chúng tôi đã có dịp đề cập trong một bài viết trước – là Thời đại Bất Nhân, hay còn gọi một cách bỗ bã hơn, theo cách nói của những blogger ở Việt Nam, là Thời Đồ Đểu hay Thời Thổ Tả!

© Tưởng Năng Tiến

Posted: Mon Dec 13, 2010 5:28 pm
by nguyenvsau
“Bẩy chú lùn” trong BCT bí mật mặc cả với nhau,
cuối cùng cũng đã ngã ngũ.

Sunday, 12 December 2010



Người phát ngôn Bộ ngoại giao Nguyễn Thị Phương Nga, ngày 10/12 đã công bố : “Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng sẽ diễn ra vào nửa đầu tháng 1 tới” và “trong tuần tới, hội nghị ban chấp hành Trung ương đảng lần cuối sẽ họp tại Hà Nội”.

Như vậy là mọi việc coi như đã xong. Chuyện khó khăn nhất là chuyện nhân sự của Đại hội, cuối cùng đã được giải quyết. Ai sẽ là Tổng bí thư, ai là Chủ tịch nước, ai là Thủ tướng Chính phủ và ai là Chủ tịch Quốc Hội, vẫn như từ xưa đến nay, do “bẩy chú lùn” trong Bộ Chính trị bí mật mặc cả với nhau, cuối cùng cũng đã ngã ngũ.
Còn lại, việc đưa ra cho Hội nghị Trung ương và Đại hội đại biểu XI chỉ là việc hoàn tất thủ tục.

Khác nhiều lần trước, lần này có vẻ như “bí mật” đã được giữ tuyệt đối cho đến phút cuối. Người ta chỉ có thể mò mẫm phán đoán.

Ngày 20/11 có tin nhóm “bẩy người” họp kín quyết định chỉ danh Tổng bí thư. Không có tên Nguyễn Tấn Dũng, đương nhiên, vì Trung Nam Hải trừng phạt việc “đa phương hóa biển Đông” và sự “trở lại của người Mỹ”. Mặc dù vậy, cuộc mặc cả giữa bốn “người lùn” còn lại là Trương Tấn Sang, Nguyễn Phú Trọng, Hồ Đức Việt và Phùng Quang Thanh có vẻ không ít khó khăn.

Ngày 22/11 Bí thư Tỉnh ủy Vân Nam Bạch Ân Bồi thăm Việt Nam và chúc “Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam sẽ thành công tốt đẹp”.

Ngày 27/11 Phó Tổng tham mưu trưởng Trung Quốc Mã Hiểu Thiên đến Việt nam vì Hội nghị Đối thoại chiến lược quốc phòng. Nguyễn Chí Vịnh đại diện Bộ Quốc phòng. Trương Tấn Sang đại diện cao nhất của Đảng cộng sản Việt Nam. Ai cũng biết, quy chế Đảng cộng sản Việt Nam, cũng giống Trung quốc, Tổng Bí thư Đảng bao giờ cũng kiêm chức Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương.

Có tin cho rằng Trương Tấn Sang đã được chọn cho vị trí Tổng Bí thư và cũng đã được Trung Nam Hải chấp thuận.

Diễn biến tiếp, theo trật tự lôgic, “ông Tổng” tương lai sẽ bắt đầu dạo những khúc nhạc với tư cách “ông Trùm”, và người ta phải hiểu đó là tuyên ngôn của “triều đại mới”.

Có vẻ đúng vậy. Ngày 28/11, Trương Tấn Sang đọc tham luận tại Hội thảo lý luận nhân ngày sinh F. Ănghen, ông ta nói: “Ngày nay, sau sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Ðông Âu, các thế lực phản động, chống Ðảng Cộng sản, chống chủ nghĩa xã hội trên thế giới và một số phần tử cơ hội chính trị trong nước lại được dịp đẩy mạnh phê phán, xuyên tạc, vu cáo, phủ định chủ nghĩa Mác – Lê-nin; bác bỏ chủ nghĩa Mác – Lê-nin, bác bỏ vai trò lãnh đạo của Ðảng Cộng sản, bác bỏ con đường xã hội chủ nghĩa. Trong bối cảnh đó, Ðảng ta luôn khẳng định: Ðảng ta lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động…

Kiên định những nguyên lý cơ bản và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào điều kiện thực tế Việt Nam trong bối cảnh mới của thời đại, xây dựng Ðảng trong sạch, vững mạnh … sẽ là những nội dung lớn được Ðảng ta xem xét, quyết định trong Ðại hội XI sắp tới của Ðảng”.

Ngày 29/11, Tạp chí Đảng cộng sản, đăng lại nguyên văn bài tham luận này. Đó là tuyên bố không thay đổi nội dung cơ bản nhất của “Cương lĩnh bổ sung và phát triển” sẽ trình ra Đại hội XI.

Cùng ngày 29/11, Tạp chí cộng sản đăng tiếp bài viết của Trương Tấn Sang : “Nâng cao hiệu quả cuộc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”.

Nếu trong Tham luận, Trương Tấn Sang đã khẳng định “ nền tảng tư tưởng”, thì trong bài viết thứ hai này, ông ta chỉ đích danh kẻ thù của Đảng là ai, “chúng” đang làm gì, và phải tiêu diệt chúng như thế nào.

Ông ta viết : “các thế lực thù địch tiếp tục chống phá, tìm mọi cách xóa bỏ chủ nghĩa xã hội. Trong đó, chiến lược “diễn biến hòa bình” được coi là biện pháp hữu hiệu hàng đầu, đã từng góp phần trực tiếp làm sụp đổ Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu những năm trước đây và đang tìm mọi cách tiếp tục hòng làm lung lay dẫn tới sụp đổ các nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa hiện nay”.

Ý của ông muốn nói là : không phải “độc quyền” bóp nghẹt dân chủ và tư do tư tưởng, không phải tham nhũng, không phải sự thấp kém trong trình độ quản lý kinh tế xã hội đã tiêu hủy tiền của của nhân dân, không phải sự suy đồi, sa đọa về phẩm chất đạo đức của lãnh đạo và hàng ngũ đảng viên đã trở thành mọt dân v.v…là nguyên nhân đang dẫn đảng đến tiêu vong, mà là “diễn biến hòa bình”.

Có lẽ ông ta không hề nghe nguyên chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An nói : “Không kẻ thù nào có thể phá được Đảng ta trừ chính những người cộng sản chúng ta.”

“…những người cộng sản phá Đảng không phải chỉ là những người cộng sản phản bội Đảng, những người cộng sản bị kẻ thù mua chuộc, bị diễn biến hòa bình,… Mà phần nhiều lại chính là những người cộng sản chân chính, những người cộng sản không muốn bảo vệ Đảng của mình nữa, vì thực tế Đảng của mình đã thoái hóa biến chất mất rồi, nhất là vì Đảng của mình đã phạm sai lầm có tính hệ thống mà không nhận ra được và không khắc phục được. Đảng đã trở thành lực lượng cản trợ dân chủ, tự do, cản trợ sự phát triển của xã hội. Đảng đã trở thành ông Vua tập thể, đã trở thành Đảng trị mất rồi.”

Trương Tấn Sang đã không nhìn thấy sự tự đào thải từ chính những tư duy lạc hậu, cứng nhắc, giáo điều của hệ thống tư tưởng. Sự đổ vỡ của Đảng sẽ đến ngay từ những sai phạm có tính hệ thống. Đó là Đảng không còn khả năng đoán nhận được sự đúng đắn của một quy luật khách quan.

Một sự thật không cần phải chứng minh là sự tồn tại ngày càng hoàn thiện của xã hội dân chủ. Một xã hội được hình thành tự thân, theo một cơ chế mở, tự điều chỉnh và tự hòan thiện theo quy luật tăng dần của nhu cầu con người, trên cơ sở tối ưu hóa mọi lợi ích và tự do cá nhân. Mọi mâu thuẫn hình thành trong quá trình vận động đều có khả năng tự điều hòa theo quy tắc thắng thế của cái hợp lý. Lợi ích vĩ mô và sự tối ưu tổng thể tự nó là cơ sở của quy tắc tự điều chỉnh, tự hợp lý và tự thích ứng. Đó là sự bất diệt của quy tắc chọn lọc tự nhiên.

Trong khi đó chủ nghĩa xã hội là sản phẩm nhân tạo, sản phẩm tưởng tượng của chính con người. Nó có tác giả. Bản thân nó đã mang tính chủ quan, duy ý chí. Nếu không có sự cưỡng chế thường xuyên của ý thức hệ nhồi sọ, buông lỏng những cơ chế áp đặt nhân tạo, mô hình xã hội chủ nghĩa sẽ tự nó tan rữa, sụp đổ. Hãy giải tán toàn bộ hệ thống cưỡng chế khổng lồ và hết sức tốn kém hiện nay, Đảng sẽ thấy xã hội Việt Nam tự nó sẽ đi về đâu. Xã hội tốt nhất, ổn định nhất là xã hội tự điều chỉnh được dưới áp lực nhỏ nhất của quyền lực Nhà nước. “Nhà nước tốt nhất là nhà nước mà người kém nhất cũng điều khiển được”.

Một Đảng sinh ra từ ý thức hệ Nhân tạo, thì chỉ có thể tồn tại bằng một áp lực cưỡng bức nhân tạo. Chỉ cần buông những công cụ cưỡng chế, Đảng sẽ tự tan biến.

Chính vì vậy mà có lẽ toàn bộ trí khôn của một thâm niên tới bốn lần ủy viên Bộ chính trị, đã được vun vén trong cái bài viết sặc mùi chém giết để bảo vệ sự sống còn của Đảng này.

Ông ta viết : (“mục đích cuối cùng của chiến lược “diễn biến hòa bình” là xóa bỏ các nước xã hội chủ nghĩa. Để đạt được điều đó, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch xác định các mục tiêu cơ bản sau:

Một là, xóa bỏ chủ nghĩa Mác – Lê-nin để thay thế bằng hệ tư tưởng tư sản trong các nước xã hội chủ nghĩa. Các nhà lý luận của chiến lược “diễn biến hòa bình” cho rằng, tư tưởng là lĩnh vực có tầm quan trọng hàng đầu, vì vậy, mục tiêu phải đạt tới là tước bỏ vũ khí tư tưởng của đối phương và coi đó là khâu đột phá của chiến lược “diễn biến hòa bình”.

Hai là, xóa bỏ sự lãnh đạo của đảng cộng sản, thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập trong các nước xã hội chủ nghĩa. Luận điệu được sử dụng thường xuyên là đảng cộng sản độc quyền lãnh đạo là “độc tài”, là “bóp nghẹt dân chủ”, vì thế phải thay thế bằng chế độ chính trị đa đảng! Từ đó, tìm mọi cách nhen nhóm các lực lượng phản động chống đối, cơ hội chính trị trong các nước xã hội chủ nghĩa.

Ba là, gây mất ổn định về chính trị trong các nước xã hội chủ nghĩa. Thủ đoạn thường xuyên được sử dụng là lợi dụng, kích động những vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo” để gây mâu thuẫn nội bộ, phá vỡ sự đồng thuận xã hội và khi có thời cơ lôi kéo một bộ phận quần chúng vào các cuộc bạo loạn chính trị. Các thế lực thù địch bỏ ra nhiều công sức và cả tiền bạc để lôi kéo, tập hợp “những người bất đồng chính kiến”, thực chất là những phần tử chống chủ nghĩa xã hội, phủ nhận sự lãnh đạo của đảng cộng sản, dùng họ làm “cơ sở”, “nội ứng” cho việc thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”.

Bốn là, làm suy yếu, chệch hướng phát triển của nền kinh tế, tiến tới chi phối, lũng đoạn, khống chế kinh tế.

Năm là, chuyển hóa văn hóa, đạo đức, lối sống xã hội chủ nghĩa theo quỹ đạo và các giá trị phương Tây, từ đó làm biến đổi theo chiều hướng tiêu cực và tha hóa con người, dẫn tới biến chất cả một xã hội.

Sáu là, “phi chính trị hóa” để vô hiệu hóa quân đội và công an”.)

Hoàn toàn đúng như vậy. Có điều, trong khi những cái đầu bình thường, không bệnh tật thấy nếu Đảng làm đúng những điều đó, Đảng sẽ được lòng dân, Đảng sẽ sống mãi và Dân sẽ thật may mắn, thì vị tân “Tổng Bí thư có thể” này lại gào thét với giọng hằn học:

Chiến đấu chống lại “diễn biến” (“…là cuộc đấu tranh không có chiến tuyến, không có khói lửa, súng đạn, song rất quyết liệt, tinh vi và ngày càng phức tạp. Kẻ thù âm mưu chống phá ngầm từ bên trong, từ bên trên, kết hợp tạo sự chuyển hóa cả bên trong và bên trên với bạo loạn, lật đổ khi có thời cơ để xóa bỏ Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa”.

“Để thực hiện tư tưởng chỉ đạo trên, trong hoạt động thực tiễn, cần quán triệt các phương châm cơ bản sau:

Một là, kết hợp chặt chẽ giữa chủ động ngăn chặn, phòng ngừa với chủ động tiến công. Ngăn chặn, phòng ngừa từ xa, từ trước, đồng thời phải chủ động tiến công từ trong “trứng nước”, từ nơi xuất phát của các âm mưu, ý đồ, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, là phương châm đúng đắn, đã được thực tiễn kiểm nghiệm thời gian qua.

Hai là, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy xây vững mạnh là chính, đồng thời coi việc chủ động, kiên quyết chống là quan trọng. Đó là hai mặt quan hệ chặt chẽ với nhau bảo đảm cho thắng lợi của cuộc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”. Kinh nghiệm thực tiễn chỉ ra rằng, thời gian qua, nơi nào, tổ chức nào, đơn vị nào làm được điều đó sẽ tạo nên sức mạnh vững chắc, các thế lực thù địch không tìm được “kẽ hở”, điểm yếu để thực hiện âm mưu đen tối “diễn biến hòa bình”, để tạo ra sự “tự diễn biến, tự chuyển hóa”.

Ba là, kiên trì và tỉnh táo giữ vững bên trong, làm thất bại tác động chuyển hóa từ bên ngoài, coi giữ vững bên trong, có ý nghĩa quyết định, đồng thời làm thất bại tác động chuyển hóa từ bên ngoài là thường xuyên và quan trọng. Làm được điều này, những âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch tác động từ bên ngoài sẽ không có kết quả, sẽ bị vô hiệu hóa. Đó là một bài học thực tiễn sâu sắc được đúc kết trong thời gian qua.” ).

Như vậy là ông ta ưu tiên hàng đầu cho phương châm: “ngăn chặn phòng ngừa từ xa, từ trước” và “tiến công ngay từ trong trứng nước , từ nơi xuất phát” và đây là những biện pháp vẫn đang áp dụng là “ phương châm đúng đắn, đã được thực tế kiểm nghiệm”.

Nghĩa là ông ta sẽ đánh “dân chủ” ngay từ khi mới chỉ nằm trong suy nghĩ, đánh dân chủ ngay từ chữ viết, đánh dân chủ ngay trong Quốc hội, đánh dân chủ từ ngay đảng viên, ngay trong lãnh đạo đảng, đánh ngay trong bộ Chính trị, đánh từ người dân thường trong nước, đánh “dân chủ” từ ngoài biên giới, trong các quốc gia bất kỳ nào có người nói đến dân chủ. Nghĩa là sắp tới sẽ có rất nhiều người bị “đánh”, bị bắt nữa. Sẽ có đàn áp khốc liệt. Điều mà cũng đã có nhiều người dự cảm.

Thứ hai là “xây” và “chống”. Trương Tấn Sang đã cố tình sử dụng thuật ngữ ghê gớm này. Ai đã từng là nạn nhân của “ba xây, ba chống” mà không thấy lạnh sống lưng. Sự tàn khốc của “xây” và “chống” này làm người ta khi ngủ giật mình, vã mồ hội hột. Đây sẽ là một chiến dịch thanh lọc của “luật 10/59″. Những ai “lỡ miệng” chân thành góp ý với đảng vừa rồi, sẽ “lĩnh đủ”. Lại một lần nữa, Đảng kêu gọi góp ý, để tìm ra ai là người “chống đảng”. Những “lão thành”, những “đại biểu ưu tú”, cả những “nhân sĩ”…có ai sẽ vĩnh viễn “lặn không sủi tăm”, có ai sẽ “đột ngột” biến mất?

Thứ ba là phương châm : mũ ni che tai. Ai nói mặc ai. Nói mãi mỏi mồm. Ai nói người ấy nghe. Vô hiệu hóa mọi tác động từ bên ngoài, kiểu nước đổ đầu vịt . Đó là “dĩ bất biến ứng vạn biến” của những anh chàng “lùn”. Đây là biện pháp hữu hiệu truyền thống.

Thế đấy. Có ai nằm tới ba kỳ ủy viên Bộ chính trị mà vô quyền vô chức? Có ai ngồi đấy hai chục năm, mà nhìn xung quanh lên hết nhà lầu, mộ tổ, cổ phần công ty ? Cờ nếu đến tay, trí khôn của ta , mấy ai bằng ?!

Vẫn “định hướng xã hội chủ nghĩa”, thì nghĩa là vẫn “kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”, nghĩa là vẫn tiếp tục rút tiền ngân sách cho đầu tư quốc doanh, nghĩa là tiếp tục biến tiền công thành tiền tư, nghĩa là càng có thêm đảng viên lãnh đạo trở thành tỷ phú.

Còn “chủ nghĩa Mác làm nền tảng”, thì còn chuyên chính vô sản, còn “đấu tranh giai cấp”, còn độc tài độc chiếm, còn cưỡng chế áp bức.

Và sẽ như vậy, tiếp tục tiêu tốn tiền dân, chặn hầu chặn họng người dân thêm một kỳ năm năm nữa ?! Và nếu vẫn thế này, sẽ bao nhiêu kỳ đại hội nữa ?

Và trước một nguy cơ khủng bố trắng đang hiện hình, những gì có được đến hôm nay, vừa có được hôm qua, chẳng lẽ khoanh tay ngồi nhìn?

Không thể được. Đó là một sự vô lý hoang dại. Ai trong chúng ta có thể chấp nhận được ?

Bùi Quang Vơm
Theo: X-cafevn

Posted: Wed Dec 15, 2010 6:48 am
by vuphong
DÂN CHỦ ĐA NGUYÊN LÀ MỆNH LỆNH CỦA THỜI ĐẠI
Trần Bảo Việt


Như thế là sau thời gian tranh luận và chất vấn của các đại biểu QH đối với các bộ trưởng và cá nhân thủ tướng Nguyễn tấn Dũng về hiện tình đất nước đã đi qua, những tiếng nói thẳng thắn đầy tinh thần trách nhiệm với dân, với nước của các đại biểu Nguyễn Minh Thuyết, Lê Văn Cuông, Phạm Thị Loan, Dương Trung Quốc, Nguyễn Lân Dũng…v.v… chất vấn chính phủ về con tàu Vinashine làm nghèo đất nước, về khai thác Bô xít (một “chủ trương lớn” của đảng và cũng là đại họa cho dân tộc trong tương lai), một nhà máy lọc dầu Dung Quất đang trên đà phá sản….v.v…., đã không đủ mạnh để cho thủ tướng Dũng cùng nội các của ông phải chùn bước bởi vì, trên 2/3 đại biểu đảng viên còn lại là bệ phóng để cho thủ tướng Dũng cùng các nhà lãnh đạo CSVN tiếp tục thực hiện “chủ trương lớn” của đảng mặc dù, còn lại không ít các vấn nạn nhạy cảm cho an ninh đất nước và sự an nguy của dân tộc không được QH đưa vào nghị trình làm việc như: Việc cho Trung Quốc thuê 300 hecta rừng chiến lược đầu nguồn trong thời gian dài 50 năm, việc gần hết các công trình trọng điểm quốc gia được các công ty Trung Quốc trúng thầu vẫn còn ngổn ngang chưa hoàn thành đúng với hợp đồng, việc số đông các công nhân Trung Quốc hiện diện trên các công trình và các dự án lớn mà VN không thể nào kiểm soát được. Đặc biệt, bức thư của trung tá Vũ minh Trí tố cáo tướng tổng cục 2 Nguyễn Chí Vịnh cấu kết với tình báo Hoa Nam Trung Quốc vẫn chìm vào quên lãng và trung tá Minh Trí thì bị kỷ luật và mất chức. Nhưng dù sao thì đây cũng là một tín hiệu đáng mừng.

Lần đầu tiên trong lịch sử ĐCSVN, một phần những việc làm sai trái của chính phủ được đem ra mổ xẻ trước cuộc họp QH đảng cử dân bầu, lần đầu tiên một đại biểu trong QH đảng cử dân bầu dám phê bình và đặt vấn đề tín nhiệm đối với thủ tướng, cũng lần đầu tiên các nhà cách mạng lão thành của đảng, các tướng lãnh và các cán bộ lãnh đạo cấp cao hưu trí trong guồng máy chính quyền đã cùng với gần 3000 nhà trí thức, khoa học chuyên môn những tinh hoa ưu tú nhất của dân tộc VN trong và ngoài nước cùng ký tên chung trong bảng kiến nghị dừng khai thác Bô xít ở Tây nguyên, và cũng lần đầu tiên một TS luật Cù Huy Hà Vũ, tốt nghiệp tại một trường đại học danh tiếng của Pháp can đảm đứng đơn kiện thủ tướng về những hành vi sai trái và vi phạm luật pháp của ông ta, từng đoàn người dân oan trong những năm tháng dài khiếu kiện vì đất đai tài sản của mình bị các quan tham trong guồng máy lãnh đạo chiếm dụng bằng nhiều hình thức tinh vi, từng đảng viên trí thức phản tỉnh đã biết chủ nghĩa cộng sản là không tưởng và định hướng XHCN là mơ hồ cho nên, đã mạnh dạn nói lên tiếng nói của lương tâm, hoặc từ bỏ đảng hoặc đứng vào hàng ngũ các phong trào đấu tranh cho một nền dân chủ, nhân quyền phù hợp với trào lưu tiến bộ của nhân loại bằng phương pháp bất bạo động. Tất cả là những mệnh lệnh được ban truyền từ bầu nhiệt huyết của toàn dân, từ tiếng gọi của hồn thiêng sông núi. Tuy hiện nay mặc dù, không được sự đồng tình của các nhà lãnh đạo CSVN và lực lượng công an, an ninh mật vụ chỉ biết “còn đảng còn mình” đang ngày đêm trung thành với cái sai để đàn áp và tìm cách tiêu diệt lẽ phải, những người vì đấu tranh cho dân chủ nhân quyền, vì can đảm nói lên cái sai của các thành phần lãnh đạo CSVN mà phải bị tù đầy, chịu nhiều cực hình trong lao lý kể cả bệnh tật và tính mạng, quyết không khuất phục trước bạo quyền, họ rất xứng đáng là những viên ngọc quý của nhân dân, là đứa con yêu của Tổ quốc, là hậu duệ đầy sáng suốt và can trường của tiền nhân trên con đường giữ nước và dựng nước. Kể từ khi các nước theo CNCS ở Đông âu và Liên sô tan rã cho đến nay, đã có rất nhiều những bí mật đau thương mà các lãnh tụ cộng sản gây ra cho nhân loại và cho chính nhân dân của họ nữa đã được mã hóa công khai trước bàn dân thiên hạ. Từ bức tường ô nhục Berlin của đông Đức ngăn đôi 2 miền nước Đức đã chôn vùi hàng vạn người dân vô tội, cho đến cái chết của vợ chồng tên đao phủ độc tài cộng sản Rumani Nicolae Ceaucescu. Trong buổi lễ kỹ niệm chiến thắng phát xít Hitler (người gây ra thế chiến thứ II) có sự tham dự của chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, tổng thống Nga Medvevdev đã lên án CNCS và tố cáo lãnh tụ Staline là tội đồ của nhân loại bởi vì, chẳng những Staline tàn ác đối với dân tộc các nước, ông ta còn giết và thanh trừng hàng chục triệu người dân Nga mà ông cho là không cùng quan điểm với mình trong suốt thời gian ông lãnh đạo đất nước Liên Xô cũ. Đặc biệt, ngày 25/11/2010 QH Nga đã thừa nhận sự tàn ác của Staline khi ông ra lệnh tàn sát 22 ngàn binh lính sĩ quan và công dân Balan tại khu rừng Katyn năm 1940 rồi đổ tội cho Hitler, được báo điện tử tuổi trẻ lề phải đăng ngày 28/11/2010. Sự thừa nhận của QH Nga đã giải oan cho tên tội đồ Hitler sau thời gian dài chịu oan, cũng như cựu tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu đã bị chính quyền CSVN vu khống là đem 16 tấn vàng tài sản của miền Nam ra nước ngoài hưởng thụ, nhưng sự thật số vàng này đã được nhân viên của ngân hàng quốc gia miền Nam VN bàn giao cho Ủy ban quân quản CSVN tháng 6/1975, được báo tuổi trẻ lề phải xác nhận trong loạt bài vàng đổi chủ đăng từ ngày 25/4/2006 đến 2/5/2006.

Chắc chắn rằng trong tương lai, những gì mà ĐCSVN gây ra cho đất nước và nhân dân sẽ được phơi bày ra ánh sáng cho toàn dân biết. Nếu trong quá khứ các nhà lãnh đạo ĐCSVN đã thu phục được lòng yêu nước của người dân đi theo đảng, thì ngày nay với sự ươn hèn trước kẻ thù truyền kiếp TQ, với tư tưởng hẹp hòi chỉ biết có quyền lợi riêng tư, với tài năng quá hạn chế để điều hành đất nước, với tinh thần và ý chí chỉ biết có CNCS, CNXH là trên hết, mà CNCS đã bị loài người ruồng bỏ rồi vì nó có quá nhiều sai lầm và không tưởng, còn định hướng XHCN là những mơ hồ không ai biết điểm đến của nó như thế nào, trong khi đó thì cuộc sống của các quan lãnh đạo từ trung ương xuống tận địa phương là tư bản đỏ, còn các thành phần công nhân và nông dân là thành phần nồng cốt của đảng lại là những thành phần bần hàn nhất trong xã hội, sự chênh lệch giàu nghèo của xã hội VN bây giờ đã đi đến cực điểm mà thành phần giàu có bậc nhất lại là đảng viên cán bộ có chức có quyền. Tất cả những vấn nạn trên đây sẽ là kết quả suy vong cho ĐCSVN trong một ngày không xa, sự công bằng của luật nhân quả là hiện thực không ai tránh khỏi. Có ai hiểu CNCS bằng GSTS Hoàng Minh Chính đã từng là viện trưởng viện triết học Marx-Lenin, nhưng trong một lần trả lời phỏng vấn của đài RFA ông thẳng thắn nói rằng “cái đảng này nó đi theo chủ nghĩa Marx-Lenin, mà bản thân CN Marx-lenin đã sai từ gốc rễ và cái đảng này nó đang xây dựng một chế độ độc tài, độc quyền toàn trị thì làm sao cải tổ và tự đổi mới được”, còn ông Trần Xuân Bách là ủy viên BCT ĐCSVN trước khi bị thành phần bảo thủ thanh trừng ông có nói “dân chủ không phải là ban ơn, không phải là mở rộng dân chủ hay dân chủ mở rộng. Dân chủ phải là quyền của dân với tư cách là người làm nên lịch sử, không phải là ban phát do tấm lòng của người lãnh đạo này hay người lãnh đạo kia, phải có dân chủ thực sự mới khai thông trí tuệ của toàn dân tộc để đưa đất nước đi lên ngang hàng với nhân loại”. Trung tướng Trần Độ suốt đời binh nghiệp hy sinh cho đảng, cuối cùng thì ông cũng hiểu ra và gởi tâm tư, nguyện vọng vào cuốn nhật ký Rồng Rắn của ông để lại cho hậu thế, ông cũng có những câu thơ nói lên nỗi lòng của mình

Những mơ xóa ác ở trên đời
Ta phó thân ta với đất trời
Ngỡ ác xóa rồi, thay cực thiện
Ai hay biến đổi ác luân hồi

Còn rất nhiều những nhà trí thức đi theo đảng, từng giữ những chức vụ cao trong guồng máy của đảng, từng là tướng lãnh trong quân đội nhưng cuối cùng vẫn phải quay lưng với đảng như: thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, trung tướng Đồng Sỹ Nguyên, thiếu tướng Nguyễn Hộ, nhà nghiên cứu lịch sữ Lê Hồng Hà, đại tá Bùi Tín, trung tá Trần Anh Kim, đại tá Vũ Cao Quận…v.v… Nhìn qua chủ trương và hành động của các nhà lãnh đạo CSVN hiện nay, quá rõ ràng cho một sự lệ thuộc và cam tâm tình nguyện làm chư hầu cho kẻ thù TQ, khiến cho cựu thứ trưởng ngoại giao Trần Quang Cơ phải than thở trong cuốn hồi ức và suy nghĩ của ông về việc bình thường hóa quan hệ với kẻ thù TQ như sau: “Trong quá trình đàm phán, VN luôn xin ý kiến của đối phương và hướng giải quyết vấn đề trước khi đàm phán. Thật là chuyện có một không hai trong lịch sử đối ngoại….”, các nhà lãnh đạo CSVN đã tự động đứng trên luật pháp, xem thường quyền lợi của quốc gia dân tộc để dâng từng vùng biển, từng hòn đảo, từng phần đất của đất nước cho kẻ thù TQ để nhận được sự hậu thuẫn của kẽ thù cho cái uy quyền và địa vị của mình. Các nhà lãnh đạo CSVN thường lên án Trần Ích Tắc, vua Lê Chiêu Thống, Nguyễn Ánh (vua Gia Long) vì cho rằng hèn nhát, theo giặc cổng rắn cắn gà nhà, thậm chí vua Gia Long đã có công bình định trong cuộc Nam tiến để đất nước VN ngày nay được trọn vẹn hình chữ S từ Ải Nam Quan đến tận mũi Cà Mau, nhưng bây giờ tên đường Gia Long còn không có. Trong khi đó, dưới triều đại của ĐCSVN thì cái giả dối hàng ngày vẫn được tôn vinh, chẳng hạn như nhân vật không có thật Lê Văn Tám do ông Trần Huy Liệu tự nghĩ ra, còn hình hài của đất nước ra sao chắc mọi người cũng đều biết rồi.

Nhìn ra thế giới những nước có nền dân chủ đa nguyên, cuộc sống và quyền tự do dân chủ, nhân quyền của người dân đã vượt quá xa nhân dân VN, tầm hiểu biết của người lãnh đạo và tinh thần trách nhiệm của họ thật đáng được tôn kính. Một thủ tướng Nhật tự động từ chức vì không thực hiện được lời hứa đối với dân, một tổng thống Đức tự động từ chức vì lỡ lời khi phát biểu không đúng gây phản cảm trong dư luận, một bộ trưởng quốc phòng Nam Hàn tự động từ chức khi phản ứng quá chậm trong thời gian Bắc hàn nã đại pháo qua lãnh thổ Nam Hàn…v.v…. Ngược lại tại VN thì sao?, quyền hạn của các đảng viên lãnh đạo từ hàng tỉnh sắp lên hầu như là bất khả xâm phạm, 15 UVBCT là 15 ông vua phong kiến, còn thủ tướng điều hành nội các và dành toàn quyền quản lý hầu hết các tập đoàn quốc doanh đã làm te tua nền kinh tế của đất nước, vụ Vinashine nợ trên 100 ngàn tỷ là một trường hợp điển hình, còn các tập đoàn quốc doanh khác chưa bị lộ thì không biết là bao nhiêu bởi vì, với chính quyền độc đảng và độc tài thì họ có đầy đủ uy quyền và mánh khóe để vô hiệu quá sự việc.

Nếu VN không theo CNCS thì đất nước sẽ không bao giờ bị mất vào tay kẻ thù TQ: quần đảo Hoàng sa, các hòn đảo chiến lược của Trường sa cũng như vùng đất địa đầu Ải Nam Quan, các danh thắng của bãi Tục Lãm, 2/3 thác Bãn Giốc và trên 800km2 vùng đất biên giới cùng với trên 8000km2 vùng biển vịnh Bắc bộ; Không bao giờ có một bộ máy chính quyền mà các thành phần lãnh đạo chỉ toàn là những đảng viên không đủ tầm nhìn và khả năng nhận thức vì đa số mặt bằng kiến thức là giả tạo, không bao giờ có cảnh chết oan của hơn 170 ngàn sinh mạng người dân trong đợt cải cách ruộng đất, không bao giờ có nạn tham nhũng tràn lan và bất trị như hiện nay, cũng không bao giờ có chuyện một công ty hoặc tập đoàn quốc doanh lấy tiền ngân sách nhà nước kinh doanh, nhưng khi làm ăn thua lỗ thì nhân dân phải gánh chịu trả nợ thế, còn các quan thì cơ ngơi càng ngày càng giàu them. Cũng không có chuyện người dân chỉ được quyền bầu những người mà đảng đã lựa chọn trước, cũng không có chuyện quân đội và lực lượng công an chỉ phục vụ riêng cho quyền lợi của đảng lãnh đạo, cũng không có chuyện một đại lễ kỹ niệm ngàn năm Thăng Long lại chọn đúng vào ngày lễ quốc khánh của kẻ thù TQ 1/10 trong khi theo dòng lịch sử là trung tuần tháng 7 âm lịch, cũng không có chuyện một bộ phim Lý Công Uẩn-Đường Về Thành Thăng Long tốn 100 tỷ lại quay bên đất nước TQ với ê kíp từ hóa trang, đạo diễn chính và nội dung cốt truyện lại na ná của triều đại Tần thủy Hoàng TQ để rồi vì phản ứng của dư luận đành phải đưa vào sọ rác không dám chiếu trước công luận, cũng không có chuyện một thủ tướng làm nghèo đất nước nhưng chỉ biết có xin lỗi rồi thôi. Đặc biệt, sẽ không bao giờ có chuyện một guồng máy chính quyền mà dám chống lại cả một tập thể trí thức, khoa học ưu tú nhất của đất nước....v.v….

Điều tối quan trọng hôm nay là làm sao trong tương lai đất nước khỏi phải mất vào tay kẻ thù TQ bởi vì, tất cả những chủ trương của các nhà lãnh đạo CSVN hiện nay đều nằm trong kế hoạch xâm lăng mềm của TQ, nếu các dự án lớn của ĐCSVN cứ tiếp tục được thi hành như: cho TQ khai thác Bô xít ở Tây nguyên, cho TQ làm chủ các khu rừng chiến lược thời gian 50 năm, cho người của TQ được tự do ra vào VN như nhà của chúng, không minh bạch chuyện đi đêm giữa tướng tổng cục 2 Nguyễn chí Vịnh với cục tình báo Hoa nam TQ theo lời đề nghị của trung tá Vũ Minh Trí, …v.v, thì con đường bắc thuộc lần thứ 5 mà toàn dân VN phải gánh chịu là không còn xa, chậm nhất là đến năm 2020 theo như một số tin tức đã được loan truyền trên mạng trong thời gian qua. Các chiến sĩ quân đội và công an nên bình tâm suy xét việc làm của mình để sau này khỏi phải mang trọng tội với lịch sử, với tiền nhân và dân tộc.

Con đường dân chủ đa nguyên là hướng đi đúng, là mệnh lệnh của thời đại để tạo sự đoàn kết một lòng một dạ trong cộng đồng dân tộc trước họa xâm lăng của kẻ thù TQ, con đường đó cũng đưa đất nước đi lên ngang tầm với nền văn minh của nhân loại mà đại đa số các nước trên thế giới đang theo và đang thành công. Dù muốn dù không thì quá khứ cũng đã đi qua rồi, nhưng tương lai là những gì sắp đến để cho mọi người suy nghĩ. Xin những ai còn mang trên mình dòng máu VN, xin các nhà trí thức và khoa học ưu tú của đất nước VN hãy hành động và nêu cao thêm nữa để sau này khỏi phải ân hận. Bằng tất cả lương tâm không hận thù, người viết hy vọng rằng các nhà bảo thủ trong hàng lãnh đạo CSVN nên đặt quyền lợi của quê hương đất nước, cuộc sống an lành của nhân dân lên trên quyền lợi cá nhân trong đó, có thân nhân và con cháu của mình sau này, để lịch sử VN tiếp tục sáng ngời trong niềm tin yêu của dân tộc.

Sài Gòn ngày 12/12/2010
Trần Bảo Việt

Posted: Fri Dec 17, 2010 2:48 am
by vuphong
Nguyễn Văn An công nhận: Sai lầm hệ thống từ gốc đến ngọn

Ngô Nhân Dụng
Ông Nguyễn Văn An, cựu ủy viên Bộ Chính Trị Cộng Sản Việt Nam, mới lên tiếng phê bình đảng của ông đã sai lầm từ hệ thống, sai từ gốc đến ngọn, trong một bài phỏng vấn mới xuất hiện trên mạng lưới Tuần Việt Nam ở trong nước.

Góp ý kiến với đại hội đảng năm 2011 sắp tới, ông đề nghị đảng của ông phải “đáp ứng yêu cầu của Cách Mạng Việt Nam trong giai đoạn mới, giai đoạn đổi mới toàn diện, triệt để, cả kinh tế và chính trị, tức là hoàn thiện ở mức độ cao hơn, mức độ SỬA LỖI HỆ THỐNG.”

Ðọc những lời lẽ trên, phải ghi nhận lòng can đảm, óc tỉnh táo của ông Nguyễn Văn An. Những sai lầm căn bản của đảng Cộng Sản mà ông gọi là “lỗi hệ thống” được phân tích bằng những lý luận rất vững vàng, mạch lạc. Giống như ông đã vẽ ra một bức tranh lớn, lừng lững như một con voi, ai cũng phải nhìn thấy, phải đồng ý, không thể nào bác bỏ được.

Ông Nguyễn Văn An từng làm trưởng Ban Tổ Chức Trung Ương Ðảng, làm chủ tịch Quốc Hội từ 2001 đến 2006, có lúc đã hy vọng lên làm tổng bí thư. Năm nay, ông là người đầu tiên trong hàng ngũ lãnh đạo đảng dám nói thẳng với các đồng chí là đảng đã sai lầm ngay từ nền tảng. Ông giải thích: “Lỗi hệ thống là lỗi từ gốc đến ngọn, từ lý thuyết đến mô hình.”

Từ gốc đến ngọn, từ lý thuyết đến mô hình nghĩa là gì? Hãy nói về mô hình, có thể hiểu là phương cách quản trị việc nước, mà ông Nguyễn Văn An nhấn mạnh về kinh tế. Ông An vạch ra, lỗi lầm trong mô hình kinh tế của đảng ông là chủ trương lấy “chế độ công hữu làm chủ yếu.”

Ðó cũng không phải là một mô hình mới theo. Trong 70 năm qua đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn đề cao vai trò các xí nghiệp quốc doanh, theo mô hình “chế độ công hữu.” Chủ trương đó bắt đầu từ thời Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, kéo tới thời Ðỗ Mười, Nông Ðức Mạnh. Họ chỉ sao chép nguyên cách tổ chức kinh tế tại Nga Xô, Trung Cộng, đem áp dụng vào nước ta mà thôi. Mô hình “chế độ công hữu” này có từ thời Lê Nin, ông chủ trương dùng guồng máy nhà nước thực hiện cuộc cách mạng vô sản thế giới, cái đó gọi tên là “Chủ nghĩa Lê Nin.” Mô hình này sai lầm, 70 năm sau đã đưa Nga Xô đến chỗ sụp đổ. Cộng Sản Trung Quốc thấy thế phải đổi chiều, tự tư bản hóa để tồn tại. Mô hình này sai ra sao, bây giờ không ai cần giải thích nữa. Ðến giờ đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn cứ tiếp tục đề cao doanh nghiệp nhà nuớc, đó là lý do ông Nguyễn Văn An phải lên tiếng.

Nhưng “lỗi mô hình công hữu” này, ông Nguyễn Văn An nói, cũng chỉ là một sai lầm nằm ở tuốt trên ngọn. Phải tìm đến nguồn gốc của nó. Ông An nhắc lại rằng Cộng Sản Việt Nam hoàn toàn bắt chước Liên Bang Xô Viết, “Mà mô hình của Cộng Hòa Xô Viết thì lại bắt nguồn từ những lý thuyết của chủ nghĩa Marx-Lenin.” Ðó là gốc rễ. Ông nhận xét: “Mô hình (công hữu) lại xuất phát từ một lý thuyết cực đoan (chủ trương rằng): Tư hữu về tư liệu sản xuất là nguồn gốc của mọi sự bóc lột.”

Lời buộc tội thứ hai này chỉ ra mối sai lầm của đảng là đi theo một “lý thuyết cực đoan.” Ðó chính là chủ thuyết của Karl Marx; Marx nói khi các xí nghiệp, nhà máy, thiết bị, vân vân, đều thuộc quyền sở hữu của tư nhân thì giai cấp tư bản xuất hiện, họ bóc lột giới lao động. Vì thế cho nên Lê Nin chủ trương “công hữu,” tức là các phương tiện sản xuất phải thuộc quyền nhà nước.

Tại sao theo ý kiến bác bỏ quyền tư hữu của Karl Marx lại sai lầm? Ông Nguyễn Văn An giải thích: “Sở hữu tư nhân thực chất vẫn là vấn đề dân chủ tự do trên lĩnh vực kinh tế, trong mưu cầu hạnh phúc của mỗi người, nó là cội nguồn cảm hứng, là động lực to lớn cho sự phát triển. Kết quả của nó kỳ diệu như thế nào mọi người đã biết.” Nói cho dễ hiểu, ông An muốn giải thích rằng nếu không tôn trọng quyền sở hữu tư nhân thì người ta không có động lực tự nhiên để cố gắng làm việc. Do đó, kinh tế chung của cả xã hội sẽ không tiến lên được.

Nhưng không phải chỉ tai hại về hậu quả kinh tế; lý thuyết “cực đoan” này còn tước bỏ những quyền tự do quan trọng của con người, như tự do mưu cầu hạnh phúc. Như ông An nói rõ: Không tôn trọng quyền sở hữu tư nhân thì không ai có quyền tự do về kinh tế, tức là mỗi con người không còn được tự do mưu cầu hạnh phúc. Nói rộng hơn, không có tự do kinh tế thì cũng không có tự do, không có dân chủ gì cả. Ðó là ý nghĩa của câu ông An phát biểu: “Sở hữu tư nhân thực chất vẫn là vấn đề dân chủ tự do...”

Lời phát biểu trên không khác gì những ý kiến của Friedrich Hayek, một nhà kinh tế “tiên tri” đầu thế kỷ 20. Hayek từng viết: “Hệ thống tư hữu tài sản là bảo đảm mạnh nhất cho quyền tự do, không chỉ bảo đảm riêng cho những người có tài sản mà cho cả những người không tài sản.” Bởi vì, như Hayek giải thích: “Bị kiểm soát trong công việc kinh tế mưu sinh sẽ đưa tới bị kiểm soát trên tất cả mọi thứ khác” (To be controlled in our economic pursuits means to be controlled in everything).

Hayek có ảnh hưởng lâu dài hơn Karl Marx. Trong thế kỷ 19, Karl Marx tiên đoán chế độ kinh tế tư bản sẽ tự nó sụp đổ vì những mâu thuẫn từ bên trong. Marx phân tích rất hay về những mâu thuẫn đó; nhưng bài cáo phó của ông về kinh tế tư bản tới giờ vẫn chưa thành sự thật. Một trăm năm sau, Friedrich Hayek, (cũng là một người nói tiếng Ðức di cư sang sống ở London, Anh Quốc), lại tiên đoán rằng chế độ kinh tế kinh tế chỉ huy kiểu cộng sản chắc chắn sẽ đưa tới cảnh con người bị nô lệ hóa. Quả nhiên, nay nhìn lại, ai cũng thấy khi nhà nước nắm trọn quyền kiểm soát kinh tế, như trong các xã hội cộng sản, thì mọi người đã mất hết các quyền tự do, chẳng khác gì nô lệ. Cuốn “Con đường dẫn tới nô lệ” của Hayek, bên Trung Quốc đã dịch hết cho mọi người đọc.

Ông Nguyễn Văn An nói rõ ràng: Chủ nghĩa Lê Nin sai lầm, mà chủ nghĩa Mác cũng sai lầm nốt. Theo hai chủ nghĩa đó là sai từ gốc đến ngọn. Sau khi nghe ông An biện giải, ai cũng phải đồng ý. Phải đi tới kết luận: Người khôn ngoan thì không ai đi theo những con đường sai lầm như thế. Người tử tế thì khi biết mình đã sai là phải sửa đổi ngay, để khỏi tiếp tục làm hại đồng bào.

Nhờ đâu mà ông Nguyễn Văn An đã nhìn ra những sự thật trên đây? Nhờ ông đã “giác ngộ” được tính chất “kỳ diệu” của quyền sở hữu tư nhân. Sau khi đã chứng kiến suốt 20 năm “đổi mới” các đồng chí cộng sản hồ hởi làm giầu, khẩn trương tích lũy, năng nổ thu vét tài sản của toàn dân về trong tay mình và đồng đảng, thì đến người khiếm thị cũng phải nhìn ra là “quyền tư hữu” tạo ra những tác động tâm lý, kinh tế, chính trị rất kỳ diệu. Nó kỳ diệu như ma ấy. Nó có thể biến người thành ma, biến ma thành người. Khi vấp vào nó, không vỡ đầu cũng sứt trán; ở Liên Xô cả cái chủ nghĩa Lê Nin đứng khựng lại. Kinh tế nhà nước tại Nga bị chết cóng suốt mấy thế hệ vì họ không công nhận quyền tư hữu. Ngược lại, khi đã giác ngộ quyền tư hữu, dùng quyền tư hữu làm động cơ phát triển, các đồng chí cộng sản Trung Hoa đã quyết chí làm giầu, ào ào tư bản hóa, họ bỗng nhiên thành tỷ phú hết. Họ đã lãnh đạo giai cấp vô sản Trung Hoa biến hóa thành những bàn tay làm gia công cho các xí nghiệp Mỹ, Ðài Loan, sung sướng lãnh đồng lương “bóc lột” để cung cấp hàng hóa rẻ cho thế giới tư bản. Cái gọi là quyền tư hữu nó quả thật là một con ma kỳ diệu.

Giác ngộ sự thật này, nó quý hơn những người vẫn khoe đã giác ngộ chủ nghĩa Mác Lê Nin khi đi tìm đường cứu nước. Ông Nguyễn Văn An đã kết luận là phải dứt khoát, không do dự: “Do đó chúng ta phải dứt khoát từ bỏ lý thuyết và mô hình sai trái từ gốc này, vì hậu quả của nó gây ra như thế nào mọi người đều đã biết. Ðó là con đường trở về thời kỳ thiếu thốn và đói khổ.” Xin nhấn mạnh hai chữ: TRỞ VỀ. Ông Nguyễn Văn An đã xác nhận: Trước khi “đổi mới” theo kinh tế tư bản, Cộng Sản Việt Nam đã đưa đất nước đến cảnh thiếu thốn và đói khổ. Dân ta không ai muốn phải “trở về” cảnh đói khổ đó nữa.

Năm 1989 ông Trần Xuân Bách đã nhìn thấy cái sai của Ðảng Cộng Sản, ông viết: “Tư duy khoa học đang thay thế tư duy giáo điều... Ðổi mới là cái gương để ta soi. Nếu mặt bị nhơ chỉ rửa mặt chứ không phải là đập vỡ gương. ” Nhưng ông Trần Xuân Bách vẫn còn mơ mòng tin tưởng vào chủ nghĩa Mác, ông viết: “Ta phải nhận lỗi trước Mác vì đã làm méo mó chủ nghĩa Mác.” Năm nay, ông Nguyễn Văn An, trong phạm vi hiểu biết của mình, đã vạch ra một sai lầm lớn của Marx. Sai lầm từ gốc, chứ không phải đã bị ai làm méo mó cả. Phải công nhận thái độ của ông An can đảm và tiến bộ về mặt tri thức.

Ông An nhắc đi nhắc lại nhiều lần, rải rác trong bài phỏng vấn những câu này: “Ðảng (Cộng Sản) của mình đã phạm sai lầm có tính hệ thống mà không nhận ra được và không khắc phục được... Ðảng đã trở thành lực lượng cản trở dân chủ, tự do, cản trở sự phát triển của xã hội. Ðảng đã trở thành ông Vua tập thể, đã trở thành Ðảng trị... Ðảng đã trở thành lực lượng cản trở sự phát triển của xã hội, đã trở thành lực cản của sự phát triển tự do dân chủ của xã hội. Nói theo tinh thần của Marx thì cái gì cản trở sự phát triển là thối nát, là phản động.”

Nói đến như thế thật là đã nghĩ hết lẽ, nói hết lời. Ðọc những phân tích và nhận định của ông Nguyễn Văn An, bất cứ ai có trí khôn ở mức bình thường cũng sẽ phải đi tới một kết luận sáng suốt, tất yếu. Khi phân tích cảnh Liên Xô sụp đổ, ông Nguyễn Văn An công nhận: “Chính những người cộng sản chân chính cũng muốn giải tán đảng đã biến chất để xây dựng đảng mới, để sửa lỗi hệ thống, để làm lại từ đầu.” Có ai ở Việt Nam còn muốn làm “những người cộng sản chân chính” như vậy hay không? Hãy đứng lên xóa bỏ cái đảng “vua tập thể” “thối nát, phản động” này đi, làm lại từ đầu đi! Phải ngăn không cho nó nắm độc quyền chính trị tiếp tục làm vua nữa! Không nên để cho nó kéo dài việc “cản trở dân chủ, tự do, cản trở sự phát triển của xã hội” nữa!

Nhưng rất tiếc, tất cả công trình phân tích của ông Nguyễn Văn An lại dẫn ông tới những kết luận hoàn toàn “hụt hẫng!” Ðọc rồi không thể tin được là con người phân tích rành rọt ở trên cũng là con người đang nêu ra các đề nghị ở dưới. Hãy cử một thí dụ: Ông An bảo đảng Cộng Sản “phải giành quyền lãnh đạo thông qua tranh cử trong đảng và ngoài xã hội.” Nhưng ông lại không chấp nhận có thêm một đảng chính trị nào khác ngoài đảng Cộng Sản cả. Thế thì khi tranh cử là ai tranh cử với ai?

Ðề nghị của ông An, nghe xong phải bật cười: Ðảng Cộng Sản sẽ tranh cử với đảng Cộng sản! Ông đề nghị mỗi lần bầu cử mỗi chức vụ đảng Cộng Sản sẽ đưa ra nhiều ứng cử viên tranh cử với nhau, mỗi ứng cử viên có một chương trình, để cho dân chúng “tự do” bỏ phiếu chọn một trong mấy người đó! Cuối cùng, ai đắc cử cũng thế, đảng Cộng Sản vẫn tiếp tục cai trị! Ðọc tới đây, nếu không bật cười thì chắc ai cũng phải lắc đầu: Rõ chán! Thà rằng theo lối ở thành phố Athena ngày xưa, chỉ bốc thăm chọn người đắc cử theo lối xổ số, dân không cần đi bỏ phiếu, coi bộ còn thành thật và đỡ tốn kém hơn!

Trong phần phân tích, các lý luận của ông An sắc xảo, vững vàng, đồ sộ, lừng lững như một con voi, ai cũng bị thuyết phục. Khi ông nói cần “đổi mới toàn diện, triệt để, cả kinh tế và chính trị,” ai nghe cũng tưởng là thật! Vậy mà cuối cùng, đến những đề nghị thay đổi cụ thể, thì những ý kiến của ông vừa lúng túng vừa hời hợt, không còn sâu sắc và gắn bó chặt chẽ như phần đầu nữa. Như thể con voi của ông có cái đầu rất to nhưng không có được một cái đuôi tương xứng.

Có cái gì khúc mắc trong đầu khiến ông không gỡ ra được? Chúng tôi sẽ bàn thêm trong một bài sau.

Posted: Sat Dec 18, 2010 3:25 am
by KýCóp
Chiến tranh Afghanistan sẽ không kết thúc như Việt Nam
Thursday, December 16, 2010

Hà Tường Cát/Người Việt
Tháng 10 năm 1972, 38 năm trước, Henry Kissinger đã tuyên bố trong một buổi họp báo ở Washington: “Hòa bình trong tầm tay,” dù rằng sau đó do sự phản đối của chính quyền Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đòi hỏi phải sửa đổi một số điều khoản, ba tháng sau Hiệp Ðịnh Paris về Việt Nam mới được ký kết và rồi không bao giờ thực thi.
Image
Daniel Ellsberg, (bên phải) tác giả vụ “The Pentagon Papers” về chiến tranh Việt Nam 40 năm trước,
bị cảnh sát bắt trong cuộc biểu tình phản chiến Afghanistan trước tòa Bạch Ốc hôm Thứ Năm, 16 tháng 12, 2010. (Hình: Karen Bleier/AFP/Getty Images)



Sáng Thứ Năm, 16 tháng 12, 2010, Tổng Thống Barack Obama - đứng bên có Phó Tổng Thống Joe Biden, Ngoại Trưởng Hillary Clinton, Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert Gates, Tướng Phó Tổng Tham Mưu Trưởng James Cartwright - trình bày về tình hình chiến tranh Afghanistan, nhìn nhận là: “Những kết quả đã thu được hãy còn rất mong manh và có thể đảo ngược.” Tuy nhiên ông khẳng định Hoa Kỳ sẽ tiếp tục “đi theo con đường tới mục tiêu” trong khi giữ đúng cam kết khởi sự rút quân đội Hoa Kỳ khỏi Afghanistan từ tháng 7 năm tới.

Trong lúc cuộc họp báo đang diễn ra, bên ngoài tòa Bạch Ốc dưới trời tuyết lạnh một nhóm hàng trăm người tập trung biểu tình kêu gọi chấm dứt chiến tranh Afghanistan. Tham gia cuộc biểu tình phản chiến có Daniel Ellsberg, cựu phân tích gia quân sự năm 1971 đã tiết lộ cho báo chí “The Pentagon Papers,” hồ sơ bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ về những bí mật trong cuộc chiến Việt Nam. Ellsberg lên tiếng bênh vực Julian Assange, giám đốc WikiLeaks, và Bradley Manning quân nhân bị tình nghi tiết lộ những tài liệu quân sự, cho rằng hai người đã rọi tia sáng vào chính sách của Hoa Kỳ và hành động chiến tranh ở Afghanistan và không thể coi họ như khủng bố. Cảnh sát sau đó đã bắt giữ còng tay hàng chục người trong đó có Ellsberg vì bất tuân lệnh giải tỏa lối đi trên vỉa hè trước tòa Bạch Ốc. Daniel Ellsberg, 79 tuổi, cho biết đã 80 lần bị bắt như thế.

Buổi họp báo của Tổng Thống Obama là tiếp theo việc tòa Bạch Ốc vừa công bố bản phúc trình hằng năm duyệt xét chiến lược tại Afghanistan. Bằng vẻ mặt đăm chiêu, ông nhìn nhận rằng sẽ còn rất nhiều khó khăn trước mặt. “Tình thế ở Afghanistan tiếp tục đòi hỏi phải có những nỗ lực rất khó khăn với một giá đắt cho quân đội và gia đình họ.” Nhưng ông nhấn mạnh là al-Qaeda đang bị triệt hạ dần và dù phải đòi hỏi có thời gian Hoa Kỳ sẽ quyết tâm theo đuổi mục tiêu ấy đến cùng. Tổng thống nhường việc trả lời câu hỏi của các phóng viên cho Ngoại Trưởng Hillary, Bộ Trưởng Quốc Phòng Gates và tướng Phó Tổng Tham Mưu Trưởng Cartwright.

Tổng Thống Obama đã có hướng giải quyết khác nhau đối với hai cuộc chiến tranh do vị Tổng Thống tiền nhiệm George W. Bush để lại. Ông cho triệt thoái quân đội và rút dần trách nhiệm của Hoa Kỳ ở Iraq nhưng tại Afghanistan ông tiếp tục và tăng gia nỗ lực chiến tranh chống khủng bố al-Qaeda và lực lượng nổi dậy Taliban.

Nhưng dư luận quần chúng Hoa Kỳ không tránh khỏi mỏi mệt chán nản về cuộc chiến Afghanistan đã kéo dài tới 9 năm. Theo một thăm dò dư luận của ABC News/Washington Post thì có tới 60% ý kiến cho rằng không đáng can dự ở Afghanistan. Tuy nhiên về đường lối tiến hành chiến tranh của Tổng Thống Obama, 45% tán thành và 46% phản đối.

Kết quả cuộc chiến tranh Afghanistan tùy thuộc vào 4 điểm then chốt:

(1) Tiềm lực của Taliban và những đám quân nổi dậy khác.

(2) Hiệu quả của chính quyền Kabul.

(3) Khả năng của lực lượng an ninh Afghanistan.

(4) Vai trò của Pakistan.

1. Triển vọng lạc quan nhất được nêu lên trong bản phúc trình 5 trang của tòa Bạch Ốc là giới lãnh đạo al-Qaeda ẩn náu ở Pakistan đang trong tình trạng suy yếu nhất kể từ năm 2001 và thế lực của Taliban nguồn gốc bất ổn thường trực ở Afghanistan đã bị chặn đứng và đẩy lùi trong vòng 12 tháng vừa qua. Theo bản phúc trình, việc tăng thêm 30,000 quân Mỹ năm ngoái cũng như việc mở rộng các chiến dịch hoạt động của lực lượng đặc biệt với sự hợp tác của dân chúng đã làm giảm ảnh hưởng của Taliban, tái lập an ninh tới cấp làng xã.

Quân số của lực lượng đồng minh tại Afghanistan hiện nay khoảng 100,000 và năm 2010 có gần 700 binh sĩ quốc tế trong đó 480 chiến sĩ Hoa Kỳ đã hy sinh.

Gần đây quân lực Hoa Kỳ đã gia tăng sử dụng hỏa lực đáng kể cùng với các cuộc hành quân lùng diệt nhằm làm suy yếu Taliban. Tướng Cartwright giải thích rằng với nhu cầu cắt đứt đường tiếp tế của loạn quân từ Pakistan, chiến lược được chuyển đổi về kiểu quy ước, chú trọng nhắm đánh các mục tiêu hơn là chống nổi dậy như một năm trước. Từ tháng 1 đến tháng 11 các máy bay đồng minh đã thi hành 30,000 phi xuất yểm trợ chiến trường, tăng 13% so với toàn năm 2009, và lực lượng đặc biệt mở 7,000 cuộc hành quân. Khoảng 2,000 chiến binh Taliban đã bị hạ sát và 600 thủ lãnh loạn quân bị giết hoặc bị bắt.

Trong năm nay, máy bay không người lái của CIA bay 108 phi xuất oanh kích, so với 51 phi xuất năm ngoái, phần lớn trong vùng lãnh thổ dân thiểu số ở gần biên giới nơi quân đội Pakistan đã không thành công trong việc mở các chiến dịch đánh al-Qeada và các lực lượng võ trang quá khích. Thủy quân lục chiến cũng sẽ sử dụng tới chiến xa M1A1 lần đầu tiên trong các cuộc hành quân ở Afghanistan.

Những hoạt động sử dụng hỏa lực mạnh như thế không tránh khỏi gây tổn thất cho thường dân, điều mà tổng tư lệnh cũ ở Afghanistan, Tướng Stanley McChristal, đã chủ trương giảm thiểu trong chiến lược chống nổi dậy. Nhưng sau khi Tướng McChristal bị giải nhiệm, người thay thế là Tướng David Petraeus cho áp dụng giải phá quân sự mạnh mẽ hơn.

Bộ Trưởng Quốc Phòng Gates nói rằng chiến lược ở Afghanistan là sự phối hợp giữa chống nổi dậy và chống khủng bố, đồng thời phải đáp ứng với tình thế ở từng khu vực chứ không phải chung toàn quốc.

2. Bản phúc trình của tòa Bạch Ốc không trực tiếp đề cập đến tình trạng tham nhũng tràn lan trong chính quyền Afghanistan và mối quan hệ có nhiều rạn nứt giữa Washington với Kabul. Có lẽ Hoa Kỳ đã nhận thấy đường lối công khai phê phán từ hồi đầu năm nay không có kết quả mà còn gây nhiều phản tác dụng.

Tổng Thống Obama đã nói chuyện qua điện thoại với Tổng Thống Hamid Karzai hôm Thứ Năm và một thông cáo của Văn phòng Tổng thống đưa ra tại Kabul nói rằng hai nhà lãnh đạo dồng ý về những tiến bộ về mặt an ninh ở một số vùng, ngoài ra muốn đạt kết quả lâu dài phải đòi hỏi tới sự chú trọng đến những an toàn khu của loạn quân trên đất Pakistan trong vùng gần biên giới. Karzai cũng trình bày với Obama về những nỗ lực chiêu hồi và hòa giải với các quân nổi dậy chịu buông vũ khí, tuân hành Hiến Pháp Afghanistan và dứt bỏ liên hệ với khủng bố.

Ngoại Trưởng Ðức Guido Westerwelle nói rằng nước ông “có những kỳ vọng thực tiễn hơn đối với Afghanistan,” không trông đợi một chính quyền hoàn hảo ở đây mà chỉ mong đợi một chính quyền “vừa đủ hữu hiệu.”

Kết quả của việc sử dụng viện trợ cho những chương trình tái thiết và phát triển kinh tế xã hội không dễ để có thể đánh giá trên mặt tâm lý và thực tế. Và chính thành công trong lãnh vực này mới là yếu tố quyết định đưa quốc gia Afghanistan ra khỏi tình trạng xung đột và bạo lực triền miên.

Một khó khăn của chính quyền Karzai là thu phục được sự ủng hộ của dân chúng khi còn phải dựa trên thế lực của nước ngoài. Những tổn thất chiến tranh mà quân đội đồng minh vô tình gây cho thường dân, nhất là khi phải dùng tới hỏa lực mạnh, là điều mà chính quyền Afghanistan đã từng nhiều lần phản đối nhưng không thể nào tránh khỏi và làm mất sự tin tưởng của người dân.

3. Khi chiến tranh đã được “Afghanistan hóa” theo kế hoạch vào năm 2014, sự tồn tại của chính quyền này sẽ tùy thuộc trước hết vào khả năng của lực lượng an ninh đã được tổ chức và huấn luyện từ nhiều năm nhưng đến nay chưa chứng tỏ đủ tin cậy. Ðây là điểm then chốt trong chiến lược của chính quyền Obama mà Ðặc Sứ Richard Holbrooke vừa đột ngột từ trần đã từng tích cực thúc đẩy.

Lực lượng an ninh Afghanistan gồm quân đội và cảnh sát dự trù sẽ có nhân số lên đến 300,000 trong vòng hai năm nữa. Họ sẽ phải đương đầu với khoảng từ 25,000 đến 30,000 chiến binh Taliban và những dân quân du kích loạn quân khác.

4. Từ lâu Hoa Kỳ đã không có cách nào để triệt tiêu những căn cứ địa của al-Qaeda và những tổ chức võ trang khủng bố quá khích trong vùng lãnh thổ của các sắc tộc thiểu số Pakistan nằm sát biên giới Afghanistan. Quân đội Pakistan không chứng tỏ có đủ khả năng thành công khi mở các chiến dịch hành quân vào vùng địa thế hiểm trở khó khăn này. Thêm nữa, theo tình báo Hoa Kỳ, có những yếu tố an ninh nội bộ và tâm lý hay tôn giáo khiến Pakistan không nhiệt thành với nỗ lực ấy.

Bản phúc trình của tòa Bạch ốc đưa ra nhận định là Pakistan cần phải có thêm trợ giúp tích cực để giải quyết vấn đề. Mặc dầu mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Pakistan đã được cải thiện nhiều trong một năm vừa qua nhưng tiến bộ chưa cụ thể và chính quyền Washington đã hứa hẹn sẽ tiếp tục nỗ lực ngoại giao hơn nữa năm 2011. Trong hai năm, Tổng Thống Obama đã viếng thăm nhiều nước Châu Á, và theo dự tính sẽ qua Pakistan năm tới.

Trở lại với hoàn cảnh chính trị tại Hoa Kỳ, dù nhiều người Cộng Hòa đã thúc đẩy Tổng Thống Obama không nên triệt thoái quân đội Hoa Kỳ theo một thời biểu định trước, nhưng tòa Bạch Ốc lại phải chuẩn bị việc tranh đấu với chính cơ sở bên Dân Chủ của mình có nhiều thành phần phản chiến đã kêu gọi mau chóng rút khỏi Afghanistan. Một số nhà lập pháp Dân Chủ đã tuyên bố sẽ chống lại việc tiếp tục cấp ngân khoản $100 tỷ một năm cho Afghanistan.

Tổng Thống Obama đã cam kết tới tháng 7 năm 2011, quân đội Hoa Kỳ sẽ bắt đầu triệt thoái. Tuy nhiên bao nhiêu binh lính sẽ trở về hãy còn là câu hỏi chưa được trả lời. Theo giới quân sự thì chỉ nên là một con số nhỏ và tòa Bạch Ốc giải thích mơ hồ là “tùy theo tình huống.”

Mặt khác trong một năm kể từ khi Tổng Thống Obama loan báo tăng cường quân lực ở Pakistan, bộ tham mưu chiến lược của ông về Pakistan và Afghanistan đã mất đi 4 nhân vật trọng yếu. Tướng Stanley McChrystal bị giải nhiệm chức vụ tổng tư lệnh chiến trường vì lời phát biểu không thích hợp trên tạp chí Rolling Stone. Ðổng lý Văn phòng tòa Bạch Ốc Rahm Emanuel từ chức để ứng cử thị trưởng Chicago. Tướng James Jones từ chức Cố vấn An ninh Quốc gia hồi tháng 11. Cuối cùng mất mát nặng nề nhất là đặc sứ Pakistan và Afghanistan, nhà ngoại giao kỳ cựu và nhiều kinh nghiệm Richard Holbrooke từ trần vì vỡ một động mạch tim ngày Thứ Hai tuần này. Với kinh nghiêm trực tiếp làm việc tại Việt Nam và ở trong toán chuyên viên cố vấn cho Tổng Thống Lyndon B. Johnson, ông đã từng khẳng định là chiến tranh Afghanistan hoàn toàn khác chiến tranh Việt Nam. (HC)

Posted: Sun Dec 19, 2010 1:50 am
by thienthanh
Ông Nguyễn Văn An chưa thấy Lỗi Hệ Thống

Ngô Nhân Dụng
Ðọc bài phỏng vấn trên mạng nghe ông Nguyễn Văn An nói rằng đảng Cộng Sản Việt Nam phải “thay đổi toàn diện và triệt để,” ai cũng mừng cho ông. Tới đoạn cuối, ai cũng phải ngạc nhiên về những đề nghị thay đổi của ông. Những đề nghị này không thể nào sửa chữa những Lỗi Hệ Thống ông đã vạch ra trước đó.

Ông Nguyễn Văn An nói ở đoạn đầu: “Tôi mong muốn Bộ Chính Trị và Ban Chấp Hành Trung Ương, mong muốn Ðại Hội XI chọn... khuynh hướng đổi mới tư duy toàn diện và triệt để, cả kinh tế và chính trị thì chúng ta mới khắc phục được lỗi hệ thống.” Chúng tôi đã tóm tắt những “lỗi hệ thống” mà ông An nêu lên. Một là đảng đã theo mô hình kinh tế lấy quốc doanh làm chủ đạo. Hai là mô hình này bắt nguồn từ chủ thuyết sai lầm của Karl Marx, coi quyền tư hữu là nguồn gốc mọi tội lỗi.

Nhưng sau khi đã phân tích rạch ròi như vậy, ông Cựu Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Văn An lại đi tới những kết luận, phải nói là rất nhạt nhẽo, vòng vo lẩn quẩn, và hoàn toàn vô ích. Ông nói: “Tôi đề nghị chúng ta vẫn giữ học thuyết Marx-Lenin.” Rồi ông lại nói tiếp: “Nhưng chúng ta không chỉ biết và vận dụng duy nhất học thuyết Marx-Lenin, mà cần phải biết và vận dụng những học thuyết tinh hoa của nhân loại như chúng ta bắt đầu làm từ khi đổi mới.” Ðã thế thì phải “giữ học thuyết Marx-Lenin” để làm cái gì? Tiếp theo đó, ông đề nghị “thay đổi chính trị,” đây mới là chuyện hấp dẫn, ai cũng muốn nghe. Nhưng sau khi đòi “thay đổi toàn diện và triệt để,” ông An lại vẫn muốn đảng Cộng Sản giữ độc quyền chính trị! Ông đề nghị mỗi lần bầu cử đảng Cộng Sản đưa ra nhiều người ra tranh cử với nhau, cho dân bỏ phiếu chọn lựa trong đám “ứng cử viên” đó! Nói những câu như thế mà không cười, người nghe cũng không bật cười, thật không thể nào hiểu nổi!

Nếu ông Nguyễn Văn An đưa đề nghị này cho những người cầm đầu đảng Cộng Sản coi, chắc họ sẽ phê bình là ông nói chuyện “vớ vẩn!” Nếu không phải là “ngớ ngẩn!” Vì ông vẫn bảo vệ độc quyền chính trị cho một đảng. Ví thử năm tới đảng Cộng Sản chọn ba ứng cử viên vào chức tổng bí thư: Tô Huy Rứa, Nguyễn Sinh Hùng và Nguyễn Phú Trọng, rồi tổ chức cho dân chúng bỏ phiếu chọn. Nhưng chọn ông nào trong 3 ông đó đắc cử thì cũng vẫn vậy. Họ lại phải ngồi họp với các ông trong Bộ Chính Trị; và mọi điều vẫn do mấy cụ đó “quyết” hết. Thế thì ba người đó có khác gì nhau?

Bày vẽ thêm bầu bán làm gì cho nó rách việc? Từ trước tới giờ Ðảng Cộng Sản vẫn nắm độc quyền chọn người ứng cử. Họ giao cho đám Mặt Trận Tổ Quốc đóng trò giới thiệu, có khác gì đâu? Nắm độc quyền một nửa, nhưng nắm cái nửa đằng chuôi, để ai thắng thì cũng là phe mình, thì có khác gì nắm độc quyền từ đầu tới cuối? Bày vẽ thêm trò bỏ phiếu làm gì cho mất thời giờ, tốn tiền bạc?

Chúng ta phải thương ông mà tự hỏi: Tại sao khúc đầu ông thông minh thế, mà đến khúc cuối ông lại lú lẫn như vậy?

Suy nghĩ cho kỹ, thì thấy ngay từ đầu ông đã không tìm ra đúng căn bệnh. Thầy thuốc không tìm ra đúng bệnh thì không biết dùng thuốc nào để chữa bệnh.

Khi ông Nguyễn Văn An nói rằng “chế độ công hữu” làm cho kinh tế nước ta thụt lùi, ông đã nói đúng. Nhưng cái gì đưa tới kinh tế công hữu? Phải hỏi tại sao ông Lenin lại muốn quốc hữu hóa tất cả các phương tiện sản xuất? Tại sao khi biết phương pháp đó không chạy, ông đã “đổi mới” làm “Kinh Tế Mới NEP” rồi sau đó lại quay về với lối kinh tế quốc doanh? Tại sao ông Stalin đã củng cố cho hệ thống quốc doanh ngày càng mạnh càng cứng hơn? Tại sao các ông Mao, ông Hồ, ông Pol Pot, ông Kim Nhật Thành cũng rập khuôn mô hình kinh tế quốc doanh đó mà làm, không suy nghĩ gì hết?

Bởi vì các ông ấy biết rằng kinh tế quốc doanh chỉ là một khí cụ nhằm tới mục đích khác. Ai kiểm soát được cái bao tử của người dân thì sẽ nắm được vận mạng của cả nước. Kiểm soát phương tiện kiếm ăn chỉ là một trong nhiều khí cụ để kiểm soát tất cả đời sống dân chúng. Kinh tế Quốc Doanh chỉ là một khâu trong cả hệ thống kiểm soát; trong đó có chế độ hộ khẩu, chủ nghĩa lý lịch, guồng máy công an, ban văn hóa tư tưởng, các hội văn nghệ, đoàn văn công, vân vân.

Phải thấy từ phía sau chế độ kinh tế công hữu có một nguồn gốc, chính là hệ thống độc quyền toàn trị, để kiểm soát tất cả xã hội. Trong lịch sử chưa bao giờ có chế độ chính trị nào như thế, cho tới khi các ông Lenin và Stalin sáng chế ra, rồi được ông Mao Trạch Ðông hoàn thiện. Ông Bao Ðồng, một người thân tín của cố lãnh tụ cộng sản Trung Quốc Triệu Tử Dương, tuần trước mới viết một bài ca ngợi Lưu Hiểu Ba (bài này đăng trên mạng Asia News). Ông nói thẳng rằng ông đã sống dưới hai thể chế gọi là Cộng Hòa, mà nay nghĩ lại mới thấy chế độ Dân Quốc thời Tưởng Giới Thạch còn khá hơn chế độ Cộng Hòa Nhân Dân của Mao Trạch Ðông. Thời trước, chính quyền Quốc Dân Ðảng của ông Tưởng không bao biện tất cả mọi mặt. Thời ông Mao thì đảng Cộng Sản nắm tất cả: “Bất cứ ai, nhà khoa học hay nghệ sĩ, nhà văn, thương gia, nhà chính trị, quân sĩ cho tới thường dân, ai mà có một ý kiến độc lập hay là muốn tự do một chút là cảm thấy bị ngạt thở ngay.”

Ðó mới thật là một Lỗi Hệ Thống lớn: Ðộc quyền Chính trị. Kinh tế Quốc doanh chỉ là một phương tiện để đảng Cộng Sản củng cố độc quyền chính trị mà thôi.

Chính vì ông Nguyễn Văn An bắt mạch mà không thấy đúng bệnh, cho nên ông chỉ trích nền kinh tế quốc doanh nhưng lại vẫn muốn đảng Cộng Sản tiếp tục nắm độc quyền chính trị, đảng là nơi duy nhất chọn những người ra ứng cử mọi chức vụ! Theo đề nghị của ông thì đúng là “Vẫn Như Cũ!” Mười năm nữa, lại có một ông Nguyễn Văn An khác ra tay bắt mạch và tuyên bố: Phải thay đổi hệ thống! Ðổi từ gốc đến ngọn!

Nếu như ngay từ năm 1989 mà đảng Cộng Sản Việt Nam biết nghe ông Trần Xuân Bách, thay đổi toàn diện như ở Ðông Âu, thì không đất nước đã lâm vào cảnh lúng túng như bây giờ. Hãy ngó xem kinh tế các nước Ba Lan, Tiệp, Hung bây giờ họ tiến bộ ra sao! Cuối tuần rồi, một bài đăng trên nhật báo Phnom Penh Post (Nam Vang Bưu Báo) cảnh cáo rằng kinh tế Việt Nam đang trên đà suy sụp vì lạm phát lên cao, đồng bạc mất giá, ngoại tệ sở hữu chưa đủ hai tháng trả tiền nhập cảng, vân vân. Bài báo nói dân Việt Nam đang chờ vở tuồng “Ðổi Mới Hai!”

Bước thứ hai, là phải đổi mới chính trị. Không có đường nào khác. Mà đổi mới thật, chứ không thay đổi theo lối gà què ăn quẩn cối xay được!

Kinh tế chậm lụt cũng vì căn bệnh thứ hai mà ông Nguyễn Văn An mới “khám phá,” như đã bàn trong bài trước: Ðảng Cộng Sản đã không nhìn thấy tác dụng “kỳ diệu” của quyền tư hữu giúp cho kinh tế phát triển, vì tin theo lý thuyết của Karl Marx.

Nhưng ông Nguyễn Văn An chưa thấy hết: Tại sao quyền sở hữu tư có tác dụng kỳ diệu? Có phải là cứ cho phép các đảng viên làm giầu, rồi mời các nhà tư sản gia nhập đảng Cộng Sản thì phép lạ kinh tế kỳ diệu sẽ xảy ra hay không? Hãy coi các ông Batista, Mobutu, Marcos, họ đã cho các đảng viên của họ tha hồ làm giầu, giầu nứt đố đổ vách. Nhưng có nhờ thế mà nền kinh tế của xứ họ phát triển tốt hay không? Hãy coi các ông Lương Khưu Thìn, Năm Cam, Bùi Tiến Dũng, Nguyễn Việt Tiến. Bọn họ đều hăng hái tích lũy tài sản, giầu vứt tiền qua cửa sổ đánh cá độ hàng triệu đô la cũng không hết. Nhưng có nhờ họ làm giầu như thế mà dân Việt Nam cũng giầu có hơn không?

Ðây là một sự thật: Thả cho lòng tham nó được tự do tung hoành mà vẫn để cho nó nắm độc quyền quyết định về chính trị thì nó chỉ tác hại chứ không mang lại lợi ích nào cho dân cả.

Quyền sở hữu tư là một nền tảng giúp cho kinh tế các nước tư bản phát triển. Nhưng nó chỉ có tác dụng ở những nước có một hệ thống pháp lý khiến người ta chỉ có thể làm giầu nếu làm ăn chính đáng. Muốn thế, pháp luật phải bảo đảm ai cũng có cơ hội làm giầu như nhau, tự do cạnh tranh với nhau. Kinh tế phát triển là nhờ quyền tư hữu cộng với các quyền tự do và hệ thống pháp luật bình đẳng. Không có tự do, không có bình đẳng, sẽ trở về thời tư bản hoang dã!

Một bài trước trong mục này đã nhắc tới những phân tích của Giáo Sư Tôn Lập Bình về xã hội Trung Hoa bây giờ. Ông thấy có hai nhóm người với “ký đắc quyền lợi” đang bắt tay nhau thao túng xã hội: Những người nắm quyền và những người nắm tiền. Bọn người nắm quyền có thể làm ra luật lệ, ban chỉ thị để giúp bọn người nắm tiền lũng đoạn thị trường. Chúng sẽ điều khiển nền kinh tế sao cho vừa tiếp tục kiếm thêm tiền vừa tiếp tục nắm vững quyền hành. Cứ như vậy, chúng coi cả xã hội chung quanh là cái ao cá cho chúng độc quyền khai thác. Kinh tế tư bản phát triển được là nhờ tự do cạnh tranh trong một xã hội có luật lệ rõ ràng. Kinh tế phát triển khi mọi người làm ăn tin được vào hệ thống tư pháp. Khi một đảng chiếm độc quyền cai trị thì không thể nào xã hội có tự do và bình đẳng, kinh tế sẽ không tiến lên được.

Cho nên ông Nguyễn Văn An đã khám phá ra tính kỳ diệu của quyền sở hữu tư, nhưng ông không nhìn ra tính kỳ diệu của hệ thống pháp luật độc lập và chính trị tự do. Tức là ông vẫn chưa tìm ra cái lỗi hệ thống nặng nề nhất trong chế độ cộng sản: Ðộc quyền chính trị đẻ ra độc quyền kinh tế, đẻ ra tham nhũng, bất công và chậm tiến.

Cho nên, đúng như lời ông Nguyễn Văn An thiết tha kêu gọi từ đầu, nước ta phải thay đổi toàn diện và thay đổi triệt để! Nhưng hiện nay từ trên xuống dưới, những người trong Ban Chấp Hành Trung Ương Ðảng, các đảng viên ăn trên ngồi trốc sắp xênh xang mũ áo đi dự đại hội, họ biết không thể nào thay đổi được. Thay đổi là họ sẽ mất hết. Chính cái “quyền sở hữu tư nhân kỳ diệu” nó khiến những người đang nắm độc quyền chính trị không muốn thay đổi! Họ phải gắn bó với nhau để bảo vệ các quyền lợi đã thủ đắc. Như ông Nông Ðức Mạnh nói: Mất đảng là anh em ta mất tất cả!

Họ sẽ phải bám lấy mô hình kinh tế công hữu cũng như mô hình chính trị độc đảng. Nếu còn độc quyền chính trị, họ biết cách biến công hữu thành tư hữu! Cứ lập ra các tổng công ty, các tập đoàn kinh tế thật lớn. Cứ đi vay tiền khắp thế giới, đem về tẩu tán cho nhau. Anh nào nói khác đi, bắt bỏ tù. Bài phỏng vấn ông Nguyễn Văn An, lên mạng được ít ngày thì bị bóc. Không nắm quyền thì ai bóc nó đi được? Làm sao những đại biểu tham dự đại hội đảng sắp tới có thể tự xóa bỏ những đặc lợi, đặc quyền ngon lành như vậy?

Nhưng dù sao, chúng ta vẫn ghi công ông Nguyễn Văn An. Ông đã nói những điều tâm huyết làm nức lòng người. Những lời ông nói ra sẽ được các đảng viên cộng sản khác lắng nghe. Người dân và giới trí thức Việt Nam cũng sẽ lắng nghe. Ông đã nói nhiều sự thật xưa nay vẫn bị bưng bít, che giấu. Nghe xong, lòng người sẽ chuyển động. Người ta sẽ bất giác tỉnh ngộ; giống như khi cả triều đình nghe tiếng một đứa trẻ la lớn: “Ông vua không mặc quần!”

Cần phải có người như ông Nguyễn Văn An hô lớn lên như thế. Ðảng Cộng Sản không thể đánh lừa dân Việt Nam mãi được. Chúng ta không thể nào lừa dối nhau mãi mãi được. Hàng triệu người Việt Nam đang muốn chấm dứt những cảnh bất công, tham nhũng, trì trệ, muốn chấm dứt cảnh lệ thuộc ngoại bang, họ có thể căn cứ trên các phân tích và lý luận của ông Nguyễn Văn An, từ đó phát động những phong trào đòi thay đổi thật sự, thay đổi từ gốc đến ngọn.

Nước Việt Nam không thể chờ đợi các lãnh tụ cộng sản sẽ “giác ngộ” những sai lầm từ gốc đến ngọn của họ. Không thể chờ có một ngày đẹp trời chính họ sẽ thay đổi. Quán tính ù lì do các quyền lợi thủ đắc gây ra rất lớn. Hãy coi gương Nga, Ðông Ðức, Tiệp, Ba Lan, Rumani. Các chế độ Cộng Sản ở đó không thể nào thay đổi từ bên trong, nếu không có áp lực mạnh mẽ từ bên ngoài thúc đẩy, giúp họ một tay. Áp lực đến từ những người dân “chán ngấy,” “chịu hết nổi.” Các đảng Cộng Sản ở Ðông Âu và Nga chỉ thay đổi sau khi dân chúng quyết tâm muốn chấm dứt nạn độc tài, muốn chống bất công, tham nhũng, cùng nhau xuống đường đòi những quyền tự do dân chủ tối thiểu.

Phải bắt đầu ngay những phong trào như thế. Ðúng như ông Nguyễn Văn An gợi ý, phải đòi đảng Cộng Sản thay đổi từ hệ thống, thay đổi toàn diện và triệt để, từ gốc đến ngọn!