Page 47 of 85

Posted: Sat May 25, 2013 6:24 am
by nguyenvsau
Khi ta không chồng

1- Khi ta không chồng, ta sẽ thoát khỏi mẹ chồng, nỗi ám ảnh của mọi cô gái trước giờ kết hôn.

2- Khi ta không chồng, ta sẽ chẳng phải hỏi ai: “Sao giờ này mới về?” Ta cũng không phải gào lên với ai: “Anh đi với con nào?”. Ta cũng không phải đay nghiến ai: “còn vác xác về được à, sao không ở ngoài đó luôn đi”.

3- Khi ta không chồng, ta khỏi phải hét lên: “Sao phòng tắm lại lênh láng nước thế này? Sao trên bàn lại đầy tàn thuốc lá thế này? Trời ơi, tôi có phải là con ở đâu!”.

4- Khi ta không chồng, ta khỏi hộc tốc chạy về nhà nấu cơm buổi trưa và buổi tối, khỏi phải nghe những tiếng rên rỉ: “lại thịt kho à? Cô không biết gì hơn thịt kho sao?” hoặc những tiếng gầm gừ: “thôi, cô nấu thì cô tự ăn đi, để tôi ra ngoài ăn cho nhiễm độc”.

5- Khi ta không chồng, ta thoát khỏi cảnh bất thình lình gặp một cái áo may ô trên ghế, một chiếc giầy đầy mốc trong gầm tủ và một bộ đồ chưa giặt nhét dưới gối. Ta cũng không phải bị cảnh đi làm về, mệt điên người lại thấy một đống bát đĩa chưa rửa đang chờ.

6- Khi ta không chồng, ta khỏi phải thức dậy giữa đêm vì tiếng ngáy khò khò. Khỏi phải nhăn mặt và nhăn mũi khi ngửi mùi thuốc lá, và chẳng cần làm ra vẻ thản nhiên khi ngửi mùi bia chua.

7- Khi không chồng, ta có thể mặc áo hai dây, mặc váy ngắn ra đường để khoe cặp chân dài bất tận, mà không sợ bị một lão vừa béo, vừa lôi thôi vừa ngái ngủ nhìn gườm gườm rồi hỏi: “Mặc thế để đi đâu?” hoặc “tưởng mình còn trẻ lắm đấy à?”.

8- Khi ta độc thân, ta tha hồ chê chồng con Tuyết già, chồng con Hồng béo, chồng con Đào gầy. Chúng nó chả có cách gì chê ta.

9- Khi ta tự do, ta ngủ tới mười một giờ trưa, ta tha hồ xem phim bộ. Những cảnh lâm ly ta tha hồ khoe mà không sợ kẻ nào bảo rằng ta sến.

10- Khi ta tự do, ta có thể mời một chàng đẹp trai, một chàng tài năng hoặc một chàng ga lăng về nhà chơi. Cũng chả ai cấm ta mời cả ba chàng.

11- Khi ta chưa có gia đình, ta không cần phải đi siêu thị và ghé qua quầy “Dụng cụ gia đình”, nơi phần lớn chỉ bán các dụng cụ khổ sai.

12- Khi ta chưa kết hôn, ta có thể ngồi trong tiệm cà phê, đọc báo và châm một điếu thuốc lá thơm, ngón tay út cong lên đầy kiêu hãnh.

13- Khi ta chưa có giấy hôn thú, ta có thể hét vào mặt một tên nào đó: “cút ngay ra khỏi nhà em”.

14- Khi ta chưa thành gia thất, ta đi đám cưới chỉ cần bỏ phong bì một suất tiền.

15- Khi ta sống một mình, ta có thể tắm bao lâu cũng được, vừa tắm vừa hát cũng được, và không bị đứa khác giành tắm trước, vừa khạc vừa nói vọng ra: “dao cạo râu của tôi cô quẳng đi đâu rồi?”.

16- Khi ta chẳng có chồng, ta khỏi phải mua một chiếc quần đùi rộng may sẵn và băn khoăn tự hỏi: chả hiểu cỡ này đã vừa chưa?

17- Khi ta chưa chồng, ta khỏi gọi ai là “ông xã”, một danh từ chả có chút gì lãng mạn và hấp dẫn.

18- Khi ta thoải mái tự do, ta không phải mua báo bóng đá, khỏi phải nhìn cái cảnh đàn ông mặc quần đùi chạy quanh tivi.

19- Khi ta chưa chồng, ta có thể đi nhà hàng và gọi một chai bia.

20- Cuối cùng, khi ta chưa chồng, ta lấy chồng lúc nào cũng được! Chị em nhà ta cố gắng học tập, ko còn nỗi ám ảnh ế chống nữa rùi..

Posted: Sun May 26, 2013 8:15 pm
by KýCóp
Image


KHI MỘT CON CHÓ SỦA TIẾNG NGƯỜI
Mới đây, nhà hoạt động cộng đồng Ngô Kỷ đã phổ biến trên diễn đàn điện tử bài“Việt Cộng đội quần vì Nguyễn Phương Hùng dâm ô, đồi trụy” đã đăng lại nguyên con bài viết của một người tên Nguyễn Văn Thanh tố cáo Nguyễn Phương Hùng (NPH) đã “chat” khiêu dâm và làm tình với cô có nick là “Dấu Tình Sầu”. Mặt thật của một người đuôi chó đã hiện nguyên hình.

Xin nhắc lại từ năm ngoái, Nguyễn Phương Hùng và một số nhà báo “rác” ở Nam California đã được VC cho phép về nước để “tác nghiệp”, để được bắt tay, ăn nhậu với Tướng CAViệt Cộng Hữu Ước. NPH đã được báo chí trong nước xưng tụng là “đứa con năn năn của dân tộc”. NPH đã khóc lóc và tuyên bố tại phi trường Nội Bài: "Cái tình quê hương bỏ qua tất cả chính kiến chính trị, tôi thấy rằng cái tình quê hương đất nước lúc nào cũng là những cái tình mà chúng ta không bao giờ quên được. Mình là con ngườiVN, mình có tổ quốc VN, mình có một đất nước VN. Ngày hôm nay tôi đã trở về trong sự xúc động…”

Nay, qua việc làm đốn mạt như trên, NPH hiện nguyên hình chỉ là một con chó biết sủa tiếng người, không hơn, không kém!
Xin mời bạn đọc đọc lại một bài viết tiên đoán về số phận của nững kẻ người đuôi chó này.

*
Năm ngoái, trên một trang báo điện tử tại hải ngoại có đăng lại bài “37 năm bị ‘bịt miệng’ trên xứ sở tự do” của tác giả Trọng Linh đăng trên tờ báo Công An Nhân Dân ở trong nước.

Mở đầu bài báo, tác giả viết:

“Trong nhiều năm liên tiếp, bà dân biểu Loretta Sanchez và Tổ chức Phóng viên không biên giới (Reporters Without Borders – RWB) cùng những thế lực cực đoan cứ hùng hổ ca tụng mãi điệp khúc “Đấu tranh cho sự tự do báo chí ở Việt Nam”. Nhưng trớ trêu thay, ngay trên đất Mỹ, báo chí Việt ngữ - một bộ phận của báo chí Mỹ bị “bịt miệng”, khủng bố, đàn áp man rợ suốt 37 năm qua lại không thấy nhắc tới. Sau hàng loạt nhà báo, chủ báo, bị sát hại, thủ tiêu, đến nay nhiều nhà báo, cơ quan báo chí vẫn bị bọn “côn đồ” chính trị quậy phá triền miên, chủ báo bị hăm doạ, xúc phạm nhân phẩm”.
… Nhà báo, chủ báo bị chụp mũ, vu khống, sỉ nhục, bị đánh đập dã man hoặc thủ tiêu ám sát. Tòa soạn báo bị côn đồ khủng bố, đốt cháy, bao vây gây rối loạn cả năm trời. Nhiều người bị ngăn cấm đọc báo, nghe đài… Đây là thực trạng nhức nhối, kéo dài suốt 37 năm qua, là khổ nạn của báo chí Việt trên đất Mỹ. Phan Nhật Nam - một cây bút chống Cộng khét tiếng từ trước và sau năm 1975, phải cay đắng thốt lên: "Những người làm văn, làm báo ở đây (Mỹ) đang phải chịu đựng một áp lực tồi tệ” (PNN trả lời LệHằng - đã đăng trên nhiều trang web). Nhà văn Nhật Tiến thì than thở: "Không có đủ tự do cho những người cầm bút ở hải ngoại” (Trích từ “Sống và viết trên đất Mỹ” - Thế Uyên tháng 4-1998, đã đăng trên “Tiền Vệ”).

Tại sao trên xứ sở tự do như Hoa Kỳ lại có chuyện đàn áp báo chí khốc liệt như vậy?”
(Trích Bài đã dẫn).

Đọc qua trích đoạn trên, một người bình thường nào sinh sống ở Mỹ cũng thấy là ông nhà báo Trọng Linh của báo Công An Nhân Dân VC làm báo theo kiểu “Con ma vú dài”, “Con khỉ Cà Mau” của báo chí miền Nam thập niên 50. Nghĩa là độc giả chỉ cần đọc qua cho vui rồi bỏ. Nhưng, chuyện vậy mà không phải vậy! Bởi vì đây là một bài báo dài được đăng nhiều kỳ với mục đích rõ ràng là tuyên truyền, đầu độc dư luận đồng bào ở trong nước - như trước đây mấy ông bà nhà văn VC được Trung tâm William Joiner (WJC) “mời” sang Hoa Kỳ viết “tờ căn cước đỏ” cho 3 triệu người Việt tị nạn cộng sản tại hải ngoại qua chương trình nghiên cứu “Tái Xây Dựng Diện Mạo Và Quê Hương Người Việt Tị Nạn Ở Nước Ngoài” (Re constructing Identity and Place in the Vietnamese Diapora).

Ông thì về nước viết báo chê bai “tự do ở Mỹ như miếng bíp-tết thối”. Ông thì khoe có người năn nỉ mua nhà cho ông ta ở Mỹ, cung phụng cho ông ta để ông ta… viết văn và ông ta được báo Washington Post “mời” ông ta làm chủ bút [sic!] (dù rằng tiếng Anh của ông ta thì ông ta không có khả năng để học một lớp ESL nào) nhưng ông ta không nhận. Có ông thì còn “ngầu” hơn đã kể lại rằng khi phái đoàn nhà văn đi “tham quan” thành phố Niu-Óc được một người Mỹ da đen thổi kèn saxophone chào mừng phái đoàn bằng bài “Tiến quân ca” để được thưởng một trận mưa xu! Đây mới là bậc nói dối thượng thừa vì ở New York làm chó gì có anh nhạc sĩ da đen nào biết cái bài “Tiến quân ca” - bài quốc chó chết của VC mà thổi?!.

Nhưng tại sao những kẻ đã là nhà văn, có ông là Trung úy QLVNCH, có ông là Đại Tá QĐNDCHXHCN Việt Nam, có cả ông nhà văn nghe nói từng là có vấn của Thủ Tướng VC… lại muối mặt viết những điều hoang tưởng như thế?

Xin thưa: Tất cả chỉ là những thủ đoạn để tuyên truyền, lừa bịp vốn là chủ trương, chính sách của đảng CSVN. Dân chúng ở VN làm sao biết đây là chuyện bịp của những ông bà nhà văn VC được WJC mời qua Hoa Kỳ?

Bài viết “37 năm bị “bịt miệng” “trên xứ sở tự do” của tên nhà báo Trọng Linh của báo Công An Nhân Dân cũng thế.

Dân chúng trong nước làm sao biết là “có ông nhà văn (Nhật Tiến) ở hải ngoại than thở: “Không có đủ tự do cho những người cầm bút ở hải ngoại” là vì ông ta bị dư luận phản đối về chuyện ông ta in sách “Trăm hoa vẫn nở trên quê hương” kêu gọi hòa hợp hòa giải với VC. Nhưng khi ông ta về trong nước quỳ lụy, xin xỏ chúng nó thì bị chúng nó đá đít và chê bai “hôi mùi thực dân, đế quốc”.

Dân chúng ở VN làm sao biết chuyện một ông chủ báo ở San José là ông Vũ Bình Nghi đã bị đồng bào biểu tình phản đối trước tòa soạn 87 lần vì ông ta đã phỏng vấn và đăng bài phỏng vấn tên Tổng Lãnh sự Nguyễn Xuân Phong để tên này mạt sát anh em HO là được VC cho qua Mỹ để có đời sống kinh tế khá hơn. Làm sao biết được ông chủ báo theo đạo Thiên chúa giáo nhưng lại viết bài mỉa mai linh mục NguyễnVăn Lý vì “ham xe 60 chỗ ngồi mà phải lụy Đoan Trang!” Chớ không phải tòa báo của ông ta bị biểu tình vì đăng bài của “tên đặc công truyền thông” vốn là một “thẩm phán” VNCH nhưng lại đi viết bài bênh vực VC còn hơn VC bênh vực chúng nó.

Dân chúng trong nước làm sao biết đồng bào liên tục biểu tình phản đối một tờ nhật báo Người Việt ở Nam California vì tờ báo này đăng mấy câu thơ ca tụng các lãnh đạo VC của một anh thầy bói trong một số báo Xuân. Tờ báo này cũng đã hạ nhục lá cờ vàng ba sọc đỏ khi đăng một bức tranh cái chậu rửa chân có hình lá cờ vàng ba sọc đỏ trong đáy chậu. Và nhiều việc làm cọng khai hạ nhục chế độ VNCH và QLVNCH. Quan trọng hơn cả là bức ảnh ông (cố) chủ nhiệm của tờ báo họp với (Phó) Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng và Tổng Lãnh sự VC Nguyễn Xuân Phong được phổ biến sau khi ông chủ báo này qua đời!

Dân chúng ở trong nước làm sao biết được có những thằng, những con đã từng là con cái của các anh em qua Mỹ theo diện HO sau khi bị cái chế độ VC chó chết nó bỏ tù hàng chục năm trời; nay, bọn con cái vì quyền lợi khi được làm tay sai cho VC, chúng nó đã làm nhục cha mẹ chúng nó, chúng nó đã lợi dụng quyền tự do báo chí ở Mỹ để tuyên truyền, làm lợi cho VC bất chấp sự can ngăn của cha mẹ chúng nó, bất kể những lời nguyền rủa của những người đồng cảnh.

Còn rất nhiều chuyện mà tên nhà báo VC Trọng Linh viết rất là “con ma vú dài”, “con khỉ Cà Mau”và rất “nhiều sáng tạo” như khi tên này viết như sau:

“Nhà báo, chủ báo bị chụp mũ, vu khống, sỉ nhục, bị đánh đập dã man hoặc bị thủ tiêu ám sát hoặc bị thủ tiêu ám sát. Tòa soạn báo bị côn đồ khủng bố, đốt cháy, bao vây gây náo loạn cả năm trời. Nhiều người bị ngăn cấm đọc báo, nghe đài… Đây là thực trạng nhức nhối, kéo dài 37 năm qua, là khổ nạn của báo chí Việt trên đất Mỹ…”

Sau bài báo dài lòng thòng 3 kỳ, ở đoạn kết tác giả viết:

“Hiện có rất nhiều “nhà dân chủ” người Việt trong, ngoài nước đang mù quáng hùa theo giọng điệu xuyên tạc, vu khống của những kẻ chống phá VN, để cao giọng dạy cho dân VN “thực thi dân chủ”, “tự do ngôn luận”, “đòi hỏi nhân quyền”… Sao quý vị đó không dành thời gian, tâm huyết và cả những mánh lới vu vạ đó đấu tranh cho tự do báo chí của 2 triệu Việt kiều ở Mỹ? Đây là cộng đồng bị những tổ chức phản động lưu vong đàn áp tự do ngôn luận suốt 37 năm qua và đang rất cần những trợ giúp để “đứng lên” đòi quyền sống, quyền được làm báo, được đọc báo Việt.”

Lão Móc nghĩ sẽ rất có nhiều độc giả người Việt ở Mỹ con mắt nổ đom đóm khi đọc tới đoạn “thằng nhà báo rác” ở trong nước còn dựa vào mấy “thằng nhà báo rến” ở Mỹ viết như sau:

“Trên tờ Việt Weekly (báo tiếng Việt tại Mỹ) ra ngày 23-11-2011, trong bài“Cảnh giác với bọn xấu tung tin phá hoại”, có đoạn viết: "Đã đến lúc toàn dân, thương gia, độc giả phải lên tiếng tự bảo vệ mình bằng cách báo cho cảnh sát, chính quyên sở tại để có thái độ với những hăm dọa vô cớ. Phải đòi cho được quyền đọc báo, quyền đi lại, quyền hội họp, quyền làm ăn theo hiến pháp Hoa Kỳ. Bọn độc tài phải chấm dứt gây rối bằng biểu tình. Chính bọn côn đồ chính trị cực đoan này tạo mầm mống cho bọn xấu đứng trong bóng tối phá hoại. Bọn côn đồ độc tài này xưa nay chuyên mang cờ vàng, lấy chiêu bài “chính nghĩa quốc gia” để hù dọa thương gia, o ép chủ chợ với nhiều hình thức man rợ, bẩn thỉu”.

Chắc chắn độc giả đọc trên trang mạng bài viết của tên” nhà báo rác” Trọng Linh đến đoạn này cũng phải phì cười; bởi vì ở xứ sở tự do như Hoa Kỳ, bố bảo cũng không có ai dám “làm chuyện mang cờ vàng, lấy chiêu bài “chính nghĩa quốc gia” để hù dọa thương gia, o ép chủ chợ với nhiều hình thức man rợ, bẩn thỉu”.

Trong thực tế, có chuyện Ủy Ban Chính Nghĩa Quốc Gia phát động cuộc biểu tình chống “tên cỏ đuôi chó” Trần Trường vì tên này đã treo ảnh của Hồ Chí Minhvà cờ đỏ sao vàng trong cửa tiệm cho thuê video Hitek của y. Những lá cờ vàng ba sọc đỏ đã tràn ngập mặt tiền cửa tiệm Hitek.Và sau 58 ngày đêm với hàng 5, 60 chục ngàn người biểu tình. Cuối cùng, ảnh Hồ tặc và lá cờ máu biến mất, Trần Trường bị police bắt thảy lên xe cây vì tội sang băng lậu. Sau đó, tên cỏ đuôi chó này đã phải bán sới tài sản về VN làm ăn, nhưng rồi lại bị bọn VC cướp hết tài sản , lại phải trồi đầu về Mỹ.
*
Theo báo Đại Đoàn Kết ở trong nước thì các phóng viên, ký giả của TV Phố Bolsa, báo VW(C), KBC… gì đó ở Quận Cam, Nam Cali đã về nước và “thi hành tác vụ” ở Trường Sa với các ký giả ở trong nước. [Trong khi đó thì trong bài báo “Nhà báo Việt Nam khổ như chó” cho biết 2 phóng viên của đài Tiếng Nói Việt Nam (VOV) cho biết hai nhà báo Nguyễn Ngọc Năm, Trưởng Phòng và Hán Phi Long, phóng viên Phòng Phóng viên Thời sự của đài VOV đã bị Công An VC đánh đập tàn nhẫn trong vụ cưỡng chế ở huyện Văn Giang (sic!)].

Có thân hữu gọi điện thoại hỏi Lão Móc: “Tại sao trên đời có những kẻ đã được tháo cũi sổ lồng, lại muốn quay về để làm thân phận “chim hót trong lồng”, lại muốn quay về để được rọ mõm - như Đảng và Nhà Nước “đã rọ mõm” văn nghệ sĩ, báo chí ở trong nước bấy lâu nay - như bọn báo chí, bọn nhà văn, nhà thơ ở Quận Cam đã và đang làm?”

Xin mượn góp ý của một “nick” trên một diễn đàn điện tử để trả lời vị thân hữu, như sau:
“Thời ông già gân Ronald Reagan của Hoa Kỳ chưa có thách thức đại đồng chí Tổng bí thư Eric Hoenecker của Đông Đức dẹp bỏ “bức tường Bá Linh”. Lúc đó có một con chó Đông Đức “vượt biên” sang Tây Đức.

Sau đây là màn đối thoại giữa hai con chó Đông Đức và chó Tây Đức:

-Chó TĐ: Bên đó có bơ ăn, sữa uống không?
-Chó ĐĐ: Ê hề!
-Chó TĐ: Có TV coi không?
-Chó ĐĐ: 24/7.
-Chó TĐ: Thế chạy qua đây làm gì?
-Chó ĐĐ: Chúng nó cấm sủa! Nhớ quá, chạy qua đây gâu gâu vài tiếng.

Tác giả góp ý trên viết tiếp:

“Còn đây là chuyện “chó Việt Cộng, chó Việt kiều” do tôi phịa lấy ý từ “đại hội chó mèo gì” đó do VC tổ chức dụ “mấy con chó Việt kiều nằm vùng ở hải ngoại” về nước.
-Chó VC: Nghe nói bên đó văn minh, dân chủ, tự do nhất thế giới xin đằng ấy kể cho nghe vài chuyện…
-Chó Việt kiều: ID được cấy dưới da, có đi lạc cũng chả sợ. Bên ấy, mình là “chủ”, còn bọn “người” làm tôi tớ hầu hạ phục vụ cho mình ngày đêm. Tha hồ sủa, tha hồ cắn, mà chẳng sợ thằng Tây, con Mỹ nào bắt tội.
-Chó Việt Cộng: Thế về đây làm gì?
-Chó Việt kiều: Ô… cái giống “người” bên ấy ăn ở vệ sinh sạch sẽ quá mức, đôi khi tìm mờ mắt không ra cái món… khoái khẩu của bọn mình. Bạn hiểu chứ?

*
Nay, thêm chuyện về những việc đốn mạt của Nguyễn Phương Hùng qua bài viết tố cáo của ông Ngô Kỷ, người ta thấy rõ bọn người đuôi chó này chỉ là những con chó biết sủa tiếng người!

LÃO MÓC

Posted: Fri May 31, 2013 12:04 am
by KýCóp
Bia rượu và lòng yêu nước
Tạp ghi Huy Phương

Mối thù giữa Trung Hoa và Triều Tiên là mối thù khó quên.

Image
Bia Tsingtao, do Trung Quốc sản xuất, có bán tại nhiều nhà hàng Việt Nam.
(Hình minh họa: GOH CHAI HIN/AFP/Getty Images)

Sau chiến tranh Trung-Nhật giữa nhà Thanh và Ðế quốc Nhật Bản diễn ra từ 1 tháng 8 năm 1894 đến 17 tháng 4 năm 1895, và chiến tranh Nga-Nhật từ vào tháng 2 năm 1904-5 tháng 9 năm 1905 khi đế quốc Nga và Nhật Bản tranh giành quyền kiểm soát Mãn Châu và Triều Tiên, cuối cùng Nhật Bản giành được ưu thế tại Triều Tiên.

Năm 1910, Nhật Bản cưỡng bức Triều Tiên ký hiệp ước sát nhập Hàn-Nhật. Sự cai trị của Nhật rất tàn bạo và nhân dân Triều Tiên đã nổi dậy dẫn đến phong trào đòi độc lập, nhưng phong trào này đã bị Nhật đàn áp dã man và hàng ngàn người đã bị Nhật sát hại.

Trong Ðệ II Thế Chiến, hàng vạn thanh niên Triều Tiên đã bị cưỡng bức gia nhập quân đội Nhật, làm lính đánh thuê cho nỗ lực mở rộng chiến tranh của Nhật, trong khi đó theo nhiều ước tính khác nhau, có từ 20 ngàn đến 400 ngàn phụ nữ đã bị cưỡng bức lao động hay làm nô lệ tình dục, được gọi là “úy an phụ” (phụ nữ giải sầu).

Khoảng 60,000 người Triều Tiên làm việc trong hầm mỏ đã bị thiệt mạng giữa thời gian từ năm 1939 đến 1945, và vô số khác bị dùng làm thí nghiệm cho đơn vị 731, một đơn vị được thành lập bởi Hiến binh Nhật Bản, nghiên cứu và phát triển vũ khí hóa-sinh, đã tiến hành dùng người cho các cuộc thí nghiệm, được coi là một trong những tội ác chiến tranh ghê tởm của Nhật Bản.

Ngày nay, thái độ bài Nhật vẫn còn mạnh mẽ tại Triều Tiên, đặc biệt là trong thế hệ già, vì họ tin rằng Nhật Bản không tỏ ra hối hận về những tội ác trong chiến tranh.

Mối quan hệ giữa Nam Triều Tiên (Ðại Hàn) và Nhật Bản vẫn còn gay cấn, nhiều người Ðại Hàn vẫn chưa thể quên nổi ký ức tồi tệ về những gì đã xảy ra trong thời kỳ bị nô lệ Nhật. Vào mỗi ngày Thứ Tư trong suốt 20 năm qua, những người từng là nô lệ tình dục của lính Nhật từ thời bị cai trị đã tổ chức biểu tình ở bên ngoài đại sứ quán Nhật.

Gần đây một lần nữa Ðại Hàn lại nổi giận về phát biểu của thị trưởng Osaka về việc sử dụng “phụ nữ giải khuây trong thời Ðệ II thế chiến là cần thiết.”

Câu hỏi của tôi là đố bạn tìm được một chai bia Nhật trong các nhà hàng Ðại Hàn tại quanh vùng Little Saigon!

Không chỉ bán bia Hàn, thậm chí các nhà hàng này còn không bán cả bia các nước khác kể cả Mỹ. Mỗi lần hỏi về bia Nhật trong các nhà hàng này, người viết đều bị người phục vụ Ðại Hàn trả lời một cách khó chịu.

Có thể chúng ta cho thái độ của họ là ái quốc cực đoan, bài ngoại vì còn căm thù Nhật đến tận xương tủy. Chắc chắn các nhà hàng này sẽ mất một khoản thu nhập nào đó vì chỉ giới hạn bán bia Hàn như OB, Hite hay các loại rượu Hàn như Soju hay Yakju.

Tôi xin phép được nhắc lại một câu nói để gọi một người Việt Nam làm tour du lịch mà không khai thác những chuyến đi Trung Cộng là “một người làm thương mãi biết hổ thẹn”.
Trái với những nhà hàng Ðại Hàn, bạn có thể tìm thấy khá nhiều loại bia ở nhà hàng Việt trong vùng. Từ bia Mỹ, Mễ, Ðức, và kể cả Trung Cộng, “Tsingtao” (Thanh Ðảo), mặc dù có cổ phần các công ty nước ngoài như Asahi Breweries (19.9%) cổ phần chính vẫn là các công ty và cá nhân Trung Cộng.

Bạn có bao giờ “trông người lại ngẫm đến ta” khi thấy nhà hàng Hàn không bán bia Nhật và nhà hàng Việt vẫn bán bia Trung Cộng? Phải chăng khách Việt vẫn thường hỏi đến “Tsingtao” nên nhà hàng này mới mua về để bán.

Người Việt chọn bia Thanh Ðảo chỉ có thể nói đến một số lý do. Nếu nói vì ngon thì ở Hoa Kỳ, chúng ta có thể mua và uống hàng trăm loại bia khác ngon hơn. Bia loại Pilsner (bia Lager nhạt) tương tự như Thanh Ðảo sản xuất tại các nước khác có thể kể đến Heineken, Amstel, Beck's, Urquell. Ngay các chợ thông thường như Ralphs cũng đã có hàng chục loại bia từ nhiều nước khác nhau không kể đến các chợ cao cấp như Whole Food, Bristol Farms hay tiệm chuyên rượu như BevMo.

Nếu cho là thói quen, thì quốc sỉ lâu ngày cũng trở thành thói quen. Không biết xấu hổ lâu cũng thành thói quen!

Một số người sẽ viện cớ là họ không cực đoan, chống Tàu rồi chống luôn cả bia Tàu, tẩy chay luôn hàng hóa của Tàu. Thử xét lại khái niệm “cực đoan”. Có nhiều người sợ bị gán cho là cực đoan. Thậm chí có một số vị trong phong trào dân chủ còn ra tuyên ngôn đấu tranh “ôn hòa” với CS chỉ vì sợ tiếng cực đoan. Hồi giáo cực đoan đã bị cho là xấu mà “Chống Cộng Cực Ðoan” cũng bị xếp chung một giỏ. Cần phải tách bạch rõ ràng hơn.

Nếu đối với cái ác thì cực đoan không phải là xấu. Về sự bạo tàn thì cộng sản cũng không thua, thậm chí còn hơn phát xít. Thử thay “Chống Cộng Cực Ðoan” bằng chống “Phát Xít Cực Ðoan” thì bạn thấy thế nào? Chắc chắn phải là cực đoan rồi!

Ngoài ra Cộng Sản là bậc thầy của việc tráo trở ngữ nghĩa. Gọi đến đồn công an thẩm vấn thì gọi là “làm việc,” biểu tình thì gọi là “tụ tập đông người,” độc tài thì gọi là “dân chủ tập trung”. Tùy theo muốn nhẹ để làm đẹp chế độ hay làm nặng để tấn công kẻ thù đều được. Và thái độ “cương quyết,” “quyết liệt” hay “triệt để” chống Cộng, thường bị lên án là cực đoan.

Nhật đã xâm lược Hàn Quốc hơn nửa thế kỷ trước đây nhưng Trung Cộng thì đang xâm lược nước ta. Chúng ta kêu gọi tẩy chay hàng Trung Cộng nhưng không tự chế được chính mình, phải gọi một chai Thanh Ðảo khi đi nhà hàng thì quả là “thương nữ bất tri vong quốc hận!” Và các chủ nhà hàng muốn lời thêm vài trăm bạc mà bán bia Thanh Ðảo cũng đúng là “vô cảm”.

Phải chăng dân Nam Hàn phát triển hơn chúng ta là vì họ “cực đoan” bởi lòng ái quốc! Cực đoan không có nghĩa xấu. Cực đoan trong danh từ Hán Việt là “Thái độ kịch liệt, làm gì phải triệt để, đi một đường lối nào phải đi cho trọn!” Không nửa vời, không dở dở ương ương.

Muốn yêu nước chân thật phải có biện pháp “tẩy chay”, “cấm vận”. Chống Cộng mà truyền hình chiếu phim Cộng, báo chí bưng nguyên bản tin Cộng, đón tiếp, ăn sang mặc đẹp xếp hàng đi xem ca sĩ Cộng! Việc các hãng phim trong nước có người tỵ nạn ở Mỹ ký hợp đồng thuê mướn, băng nhạc, phim truyện bán đầy phố ở hải ngoại, ca sĩ trong nước được ra ngoài ca hát tự do là một thắng lợi, “xâm thực” của chế độ trong nước.

Không nhịn nổi một chai bia, thì đừng nói chuyện yêu nước và chê người khác “cực đoan”.

Posted: Sat Jun 01, 2013 6:17 am
by trinhham
Ông Cụ chết oan,

Châu Thổ

Bạn tôi gọi điện, giọng nghiêm trọng: Kiếm gấp giùm một người giúp việc nữ đứng tuổi, có năng khiếu săn sóc người già. Cho ai? Cho ông bà già, ông già bị ung thư tiền liệt tuyến giai đoạn cuối, đau đớn lắm, bao nhiêu người giúp việc thuê làm chỉ vài tuần là hoặc ông già đuổi, hoặc người ta bỏ việc vì tính khí cáu bẳn của ông già.

Giới thiệu đến người thứ 41 bạn tôi mới ưng ý. Vâng, siêu sao ôsin mà tôi giới thiệu là một người phụ nữ đẫy đà, có đủ các tiêu chuẩn đặt ra. Nàng khoảng 40 xuân xanh, chưa từng lấy chồng.

Một tuần sau khi đưa nàng vào chăm sóc ông già bạn tôi, tôi nhận được điện thoại của bạn gọi đến, giọng vui như chim sáo. Này nhé, tuyệt vời! Cả mấy tháng nay đêm nào ông già cũng đau đớn không ngủ được, các loại thuốc giảm đau gần như không còn tác dụng.

Vậy mà từ khi có nàng, ông già vừa rên lên khe khẽ, lập tức nàng đến đỡ đầu ông già lên, áp sát vào lòng mình, nơi có đôi gò bồng đảo phốp pháp mềm hơn gối lông ngỗng, ấm áp hơn nắng ban mai, lại thêm những tiếng đập thổn thức đều đặn của trái tim tràn nhựa sống, bàn tay nàng mềm mại vừa xoa nhẹ hai bên thái dương ông vừa hỏi giọng du dương:

- Ông ơi, ông nhìn lên bức tranh kia kìa, có đẹp không ông? Con hát ru cho ông dễ ngủ nghe!

- Ừ! Khẽ thôi!

Và thế là nàng hát, hát thật khẽ, thật nhẹ, thật hay. Và ông già ngủ thiếp đi một mạch cho đến sáng.

Này nhé, bấy lâu nay, lúc nào ông cũng gắt gỏng chuyện người ta cứ ép ông ăn ăn uống uống. Cuộc sống đối với ông như vậy là đã quá đủ rồi. Vậy mà nàng cứ bưng chén xúp đến, nhoẻn một nụ cười thật mộc mạc dễ thương với ông, lấy cái khăn ướt lau khắp mặt cho ông, đưa bàn tay mềm mại xoa nhẹ lên khắp bụng ông nói thì thầm:

- Ông ơi, bụng lại xẹp hết cả rồi, cho vào tí xúp ông nhá!

Ông lại nhìn nàng như muốn bật cười vì tính hay dụ dỗ ông của nàng:

- Ừ!

- Tí thôi í mà, con nấu cho ông đấy, ngon lắm!

Và cứ thế, đút cho ông một muỗng, nàng lại nói một câu, vuốt lên bụng ông mấy cái. Ăn xong nàng lại còn nghiêng tai áp sát xuống bụng ông, nói thì thầm:

- Bụng ơi, đủ chưa? Cố mà nghiền kỹ cho ông nha! Cố mà đánh nhau với mấy thằng ma cô cho nó chết hết đi cho ông mau hết bệnh nha!

Thế là ông lại cười, cười to nữa là đằng khác.

Này nhé! Mỗi lần lau rửa chỗ vết mổ, lau rửa cái của quí của ông, bàn tay nàng cứ như diễn viên múa chèo ấy, nâng nhẹ lên, lấy bông gòn nhúng nước ấm, lau cẩn thận như sợ chạm phải kíp mìn nổ, vừa lau vừa nhìn ông cười duyên hỏi:

- Ông ơi, con lau cho ông, ông có thấy dễ chịu không? Lau cho nó sạch sẽ, thoáng mát ông nha!

Ông lại nhìn nàng, ánh nhìn đầy vẻ biết ơn, ánh nhìn tràn ngập niềm vui sướng, thích thú. Trong đáy mắt ông có điều gì đó mới mẻ.

Phải nói, nghe chuyện của nàng, mũi tôi phình to hết cỡ.

Không đầy một tháng sau, bạn tôi lại gọi điện thoại lúc nửa đêm, giọng hốt hoảng, cầu cứu, hỏi địa chỉ và điện thoại liên lạc với nàng. Tôi ngơ ngác: nàng đang chăm sóc ông bà già mà? Không! Bà già đuổi nàng đi cả tuần nay rồi. Tại sao? Bà già ghen! Này nhé, không ghen sao được! Lúc đầu tìm được người chăm ông tuyệt vời thế bà mừng lắm, giao khoán trắng cho nàng chăm ông, bà lên lầu ngủ thẳng giấc.

Sau vài ngày, bà mới để ý thấy ông dạo này là lạ thế nào ấy. Này nhé, lâu lắm rồi không thấy ông cười, vậy mà mấy tuần nay cứ thấy ông cười nói vui vẻ! Này nhé, da dẻ ông cứ như là có sắc hồng ấy! Này nhé, chẳng thấy ông rên la đau đớn vật vã nữa!

Bà giành chén xúp trên tay nàng để ngồi xuống cạnh giường ông, cũng nhẹ nhàng đưa muỗng xúp vào miệng ông. Khó nhọc lắm ông mới há miệng ra, thức ăn chưa kịp đụng lưỡi ông đã nhăn mặt, nhè ra cả gối, mắng bà là cho cả ký muối vô chén xúp hả? Này nhé, tối đến, bà bảo nàng lên gác vào giường bà mà ngủ cho ngon giấc, để bà ngủ trong phòng nàng. Nàng tròn xoe mắt ngạc nhiên thưa cả tuần nay nàng có ngủ trong cái phòng dành riêng cho nàng đâu! Thế mày ngủ ở đâu? Dạ con ngủ luôn bên cạnh ông cho tiện, để ông trở mình là con xoa cho ông ngay. Thế là ba máu sáu cơn, bà đuổi nàng cuốn xéo khỏi nhà ngay lập tức.

Khổ nỗi, suốt một tuần rồi, không có nàng, ông cứ nằm yên, mắt mở trừng trừng nhìn lên trần nhà, thực hiện khẩu hiệu ba không: không nói! không ăn! không ngủ!

Cuộc họp đại gia đình ngay lập tức được tổ chức để biểu quyết áp đảo bà già là phải chiều lòng ông già trong những ngày cuối cùng sống trên cõi đời này. Bà già ấm ức lắm, nhưng đành gọi các con lại để nói rằng mẹ nghĩ kỹ rồi. Thôi thì cứ gọi cái con đó lại đi, để ba con được nhẹ nhàng sung sướng trước khi ra đi!

Tôi đã phải vất vả mới truy tìm lại được nàng. Tôi tất tả, háo hức, đưa nàng trở lại nhà ông bà già bạn tôi. Tôi có cảm giác như mình đang thay Tiên đưa thuốc thánh diệu kỳ đến ban cho một người đàn ông đang đau đớn vì bệnh tật trong những ngày cuối cùng, bớt đau đớn vật vã.

Nhưng không, muộn rồi, ông già vừa ra đi. Người ta phải vuốt mắt ông mãi ông mới chịu thôi không nhìn trân trân lên trần nhà để tìm kiếm phép lạ nữa...

Posted: Mon Jun 10, 2013 3:27 am
by khieulong
Image

SÒNG BÀI THẾ GIỚI


Hôm nay kết thúc Hội nghị thượng đỉnh Sunnylands 2013, với tuyên bố quan trọng nhất là sự đồng thuận giữa 2 nước Hoa Kỳ và Trung Hoa là, Mỹ Trung đồng ý phi hạt nhân hóa Bắc Triều Tiên. Những vấn đề khác như an ninh năng lượng, an ninh mạng internet, biến đổi khí hậu, thách thức nhân khẩu học, ổn định kinh tế và tiến bộ khoa học kỹ thuật chỉ là những vấn đề rất nhỏ làm rối việc chính về bán đảo Triều Tiên.

Có người cho rằng, Triều Tiên tuy nhỏ, nhưng họ chủ động muốn gì được nấy bằng trò Chí phèo với vũ khí hạt nhân. Họ đã nhầm, vận mệnh các nước nhỏ do các nước lớn quyết định. Nó cũng giống như, vận mệnh của dân tộc do lãnh đạo nước đó là những minh quân hay hôn quân. Người dân hay các nước nhỏ chỉ là đám đông vô thức, họ bị các chính khách định hướng và lôi kéo vào chỗ chết theo nhiều cách khác nhau, chết đói, chết bom đạn, hay chết chẳng ra chết, mà sống cũng chẳng ra sống trong nghèo đói và khổ đau.

Câu chuyện Triều Tiên mở đầu cho một cái gọi là "Kịch bản Nixon Mao thế hệ thứ hai" làm tôi nhớ lại bản gốc này năm 1972. Nó cũng bắt đầu sự gặp nhau giữa Mỹ và Trung Hoa để đưa ra quyết định Hoa Kỳ bán lại sự cai trị Đông Dương cho Trung Hoa, để được cả một thị trường nội địa Trung Hoa một tỷ dân, và cô lập Liên Xô đến bước đường cùng, để tự tan rả vào năm 1989.

Nếu ngày xưa, bản gốc của "Thông cáo Thượng Hải" 1972 cũng lắm vấn đề, nhưng cơ bản chỉ là vấn đề Hiệp định Paris, để Mỹ rút quân khỏi Việt Nam, và sau đó là chuổi domino cho thế giới cộng sản sụp đổ ngay cái nôi của nó sinh ra. Hôm nay, Bắc Hàn chỉ có một vũ khí để làm Chí phèo rạch mặt kiếm ăn, thì vĩ tuyến 38 phân chia ranh giới Nam Bắc Hàn xem như sẽ xóa chỉ trong một vài thập niên tới, và sau đó, điều gì sẽ xảy ra?

Thế giới như một sòng bài, chủ sòng là Hoa Kỳ như một bài viết của tôi cách đây 2 năm, quân bài đã chia - vấn đề còn lại là ta. Tất cả các quốc gia còn lại là những con bạc khát nước trong cơn điên cuồng thua lỗ. Nhưng không vì thế mà, Hoa Kỳ dễ dàng thao túng mọi vấn đề nhanh chóng, mà họ phải có chiến lược toàn cầu được tính bằng thế kỷ. Thế kỷ XX để giải áp chiến tranh lạnh bằng bản gốc Nixon Mao bắt đầu từ chiến tranh Việt Nam. Thế kỷ XXI, để giải áp căng thẳng Mỹ Trung bằng bán đảo Triều Tiên còn chia cắt.

Hầu hết mọi người Việt chỉ nhìn việc Mỹ đổ quân vào miền Nam Việt Nam ở tầm nhìn ngắn hạn cho rằng, hoặc là Mỹ xâm lược Việt Nam, hoặc là Mỹ vì nhiệm vụ quốc tế của thế giới tư bản là, chặn đứng làn sóng cộng sản tràn ngập xuống toàn Á châu và Úc châu.

Nhưng có một điều khác vô cùng quan trọng ẩn đằng sau hành động Mỹ đổ quân vào miền Nam Việt Nam - 1965 - ít ai thấu hiểu là, chuẩn bị cho một cuộc tràn quân sang chiếm lấy một nửa Trung Hoa, nếu Liên Xô thôn tính Trung Hoa như đã từng thôn tính một nửa phía Đông nước Đức. Khi Hoa Kỳ lấy cả thị trường Trung Hoa thì Hoa Kỳ bỏ cái thị trường chỉ khoảng 50 triệu dân ở Đông Dương. Nhưng trước khi ra đi, Hoa Kỳ để lại cái xương Hoàng Sa và Trường Sa hóc trong họng anh em các nước cộng sản châu Á.

Bây giờ, Hoa Kỳ trở lại chia bài cho khu vực châu Á Thái Bình Dương, sau khi chia bài ở Trung Đông với Do Thái. Lý do chính buộc Hoa Kỳ trở lại Thái Bình Dương không phải vì Nhật Bản, vì Nam Bắc Hàn, vì Asean, mà là vì một Trung Hoa đang ngày một hùng cường muốn chia sẻ quyền lực tối thượng với Hoa Kỳ.

Cái gì dùng để đổi chát với Trung Hoa, khi Trung Hoa đồng thuận phi hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên sẽ làm cho biển Nhật Bản - còn gọi là biển Hoa Đông - trở nên yên ắng giữa tranh chấp Nhật Trung, nếu không là, biển Đông như một bài viết gần đây của tôi, Ao làng biển Đông?

Thông cáo Thượng Hải nước Việt là vật tế thần để được cả một thị trường 1 tỷ dân của Trung Hoa và làm sụp đổ cái nôi cộng sản thế giới sau 17 năm. Thế thì, "Thông cáo California" chỉ mới bắt đầu bằng vấn đề Nam Bắc Hàn để được gì cho Hoa Kỳ, nếu không là một sự sụp đổ những nền móng cộng sản còn lại trên thế giới? Và để được gì cho Trung Hoa, nếu không là vị trí siêu cường số một toàn cầu?

Thánh thư Trung Hoa là chiến lược của Tôn Tử - chiến thắng trí tuệ của người cầm quân trong chiến tranh là không đánh mà thắng. Điều này cả hai nước Hoa Kỳ và Trung Hoa đều là những kẻ chiến thắng trong "Thông cáo Thượng Hải" 1972. Liệu ai sẽ thắng sau "Thông cáo California" 2013 dù nó chỉ mới bắt đầu.

Bài học xương máu và nhục nhả cho các nước nhỏ quanh Trung Hoa sau "Thông cáo Thượng Hải" còn đó. Dù bất kỳ quốc gia nào, hoặc Hoa Kỳ hoặc Trung Hoa chiến bại, hoặc cả hai cùng thắng, thì có một điều kiên định cho ta thấy rằng, Hoa Kỳ dù xem Trung Hoa là đối trọng, nhưng để đặt lên bàn cân chiến lược của Hoa Kỳ một sự chọn lựa giữa Trung Hoa và các quốc gia quanh khu vực Thái Bình Dương, thì Hoa Kỳ luôn chọn Trung Hoa và bỏ rơi bất kỳ quốc gia nào dù đó là đồng minh của Hoa Kỳ.

Nhưng, Hoa Kỳ có muốn Trung Hoa sụp đổ và tan rả như Liên Xô năm 1989 không? Không bao giờ, vì trạng chết thì trẫm cũng băng hà. Và vì ngày nay Trung Hoa và Hoa Kỳ đã bện chân rếch vào nhau quá nhiều quyền lợi không thể tách rời. Hãy cứ nhìn những gì Hoa Kỳ đã đầu tư vào Trung Hoa sẽ rõ. Và hãy cứ tưởng tượng xem, mỗi ngày chỉ cần 25% dân Trung Hoa bước vào Walmart hay uống mỗi người một lon Cocacola sẽ rõ mọi điều.

Nhưng có một điều chắc chắn rằng, Trung Hoa sẽ dần suy yếu về kinh tế trong chiến lược bao vây của Hoa Kỳ theo kiểu cờ vây.

Hỏi rằng có tin Hoa Kỳ không? Thưa rằng có, nếu lòng tin ấy phục vụ cho quyền lợi Hoa Kỳ.

Hỏi rằng có tin Trung Hoa không? Thưa rằng có, nếu lòng tin ấy dùng để chết vì Trung Hoa.

Chỉ có các nước nhỏ quanh Trung Hoa thiếu tầm nhìn để liệu cơm gắp mắm, để không phải lấy dân mình làm bia đỡ đạn cho các nước lớn, để không phải cúi đầu làm tay sai nước lớn như trong quá khứ tủi nhục. Đó là vấn đề mà các tinh hoa phải đủ tầm nhìn cho vận nước của mình.

Asia Clinic, 14h12' Chúa nhựt, 09/6/2013

BS Hồ Hải

Posted: Sat Jun 15, 2013 1:12 am
by KýCóp
Người Việt tị nạn cs
và bệnh “Stockholm”


“… nhưng sao đi mà không bảo gì nhau
để anh gọi, tiếng thơ buồn vọng lại…”
("Áo Lụa Hà Đông” - Nguyên Sa)

Lời mở đầu:

Mặc dù đã có mơ ước, nhưng tôi không (thể) trở thành một bác sĩ y khoa; và cũng không thể là một nhà tâm lý học… Tôi đành an phận với danh vị của một phó thường dân Nam bộ. Thành thực mà nói, về “Trí” thì có chỉ số thông minh (IQ) của tôi có lẽ cao hơn nhiệt độ trong nhà một chút đỉnh; về “Tài” thì chỉ tạm đủ kiếm cơm nuôi vợ con sống qua ngày qua tháng; về “Sức” thì cũng đã đuối, may ra còn đủ để đẩy mấy cái thùng rác ra trước cửa cho xe rác lấy rác đi mỗi tuần một lần là cùng… Riêng nhãn quan thì dường như vẫn mạnh giỏi, với tuổi 64 mà chưa phải đeo kiếng lão, có thể nhận ra không khó khăn lắm đồng 25 xu ai lỡ làm rớt trên mặt đường… Với cái nhãn quan này, tôi đã nhìn thấy, càng ngày có càng nhiều, người chung quanh trong số đông “đồng bào người Việt tị nạn cộng sản,” dưới nhiều hình thức và cường độ khác nhau, mắc phải bệnh tâm lý thời đại mà các khoa học gia gọi là “Stockholm Syndrome” (tạm dịch là “Bệnh Stockholm”).

TVG

*
Để giúp quý vị nhận diện được những con “bệnh” của “Bệnh Stockholm” này dễ hơn, tôi xin phép trình bày một chút chi tiết nguồn gốc và bệnh lý học rất đại cương mà tôi còn nhớ lại từ môn “Psychology 101” mà tôi đã lấy tại UCLA năm 1980 trước đây cho đủ tình trạng “sinh viên toàn thời gian (full time student).”

Tên “Bệnh Stockholm” lần đầu tiên được Bác sĩ Tâm lý học Nils Bejerot dùng để đặt cho một căn bệnh tâm lý phát hiện từ những người bị bắt làm con tin, bị giam giữ trong các hầm chứa tiền của nhà băng “Kreditbanken” ở Stockholm, thủ đô của Thụy điển, bởi một nhóm cướp nhà băng từ ngày 23 đến 28 tháng 8 năm 1973. Sau 6 ngày bị giam giữ, các con tin đã tỏ ra có cảm tình một cách rất bệnh hoạn (“Traumatic bonding”) với những tên cướp mặc dù họ bị các tên cướp đối xử rất dã man… Các con tin còn lên tiếng bênh vực mục đích cướp bóc và sự đối xử, hành hạ các con tin của các tên cướp. Sau đó, họ từ chối hợp tác với chính quyền để truy tố các tên cướp khi các tên cướp bị bắt và con tin được giải thoát an toàn. Tệ hơn nữa, có 2 trong 4 con tin (đều là nữ nhân viên của nhà băng) sau đó đã đính hôn với 2 tên cướp (?) Chữ “Bệnh Stockholm” cũng được dùng lần đầu tiên trong các buổi phát hình tin tức về vụ cướp náy vào năm 1973. (Theo Wikipedia).

Như vậy, trước khi bị “Bệnh Stockholm” lúc nào không hay, người đang ở trong tình trạng tâm lý khỏe mạnh bỗng nhiên trở bệnh; bệnh nhân đã trải qua tuần tự 3 giai đoạn như sau:

1- Bị áp lực tâm lý (tinh thần) khá nặng và lâu dài (có thể là sự lo âu, sợ hãi, hoang mang, quẫn trí…)

2- Bị một người, một nhóm người, hay một cơ chế độc ác nào đó trực tiếp hành hạ tinh thần và thể xác; hay đối xử một cách mất nhân phẩm; bị gán cho những tội tày trời mà người bệnh chưa bao giờ dám nghĩ đến, chưa nói đến chuyện đã phạm phải.

3- Quan trọng hơn hết, có một giờ phút, một ngày đẹp trời nào đó, vì bận rộn, vì quên, hoặc vì hoàn cảnh thay đổi bất chợt, bỗng nhiên nhóm người ác độc có thể tạm thời ngừng sự đối đối xử tàn tệ trong một giai đoạn ngắn, hay có thể ngừng hẳn vì không còn khả năng hay quyền hạn để tiếp tục hành hạ nữa…

Nạn (bệnh) nhân, trong giây phút hoang mang này, chợt cảm thấy hình như mình được kẻ ác độc thương tình, tha thứ; rồi tự nhiên có một loại tình cảm, một loại suy nghĩ rất quái gở nẩy nở trong tâm trí của nạn nhân: Thấy người hành hạ mình (hay chế độ gây ra cái cảnh khổ của mình) là một người, một cơ chế đáng yêu, đáng mến, đáng phục… Việc mình bị hành hạ, bị đối xử mất nhân phẩm là chuyện mà nhưng người ác độc phải làm; mình có lẽ xứng đáng bị đối xử tàn tệ để chuộc lại tội (mà mình không bao giờ phạm tội? Cái tâm lý bệnh hoạn mâu thuẫn nhau ở chỗ này!)….

Các nhà Tâm lý học cũng giải thích, ngày qua ngày, dần dà nạn nhân bị bệnh tâm lý trầm trọng hơn vì sự đối xử dã man liên tục, dài hạn triền miên mà không hề dám tỏ ra một thái độ hay một hành động gì để chống đối lại. Họ sợ. Sợ rằng nếu ra mặt chống đối có thể bị giết mất mạng ngay; hay ít nhất cũng sẽ bị hành hạ dã man hơn… Tâm lý thụ động này phát xuất từ sự tuyệt vọng. Họ đã không thể nào tìm ra, hay không thấy được sự giúp đỡ từ bên ngoài; hoặc đôi khi có sự giúp đỡ nhưng chỉ là sự lường gạt để rồi họ không còn tin cẩn vào sự giúp đỡ nữa; dù là sự giúp đỡ kế tiếp là thực tâm thực tình… Sự thụ động dẫn đến cái tâm lý “tự ti,” có nghĩa là nạn nhân nghĩ chuyện mình bị hành hạ, bị đày đọa, gặp những cái bất hạnh là vì lỗi của chính mình… mình có lỗi, mình phải chịu đựng để đền lại cái lỗi đó (?), người hành hạ mình không có lỗi gì cả, họ chỉ làm công việc của họ phải làm. Chung quanh chúng ta, nhiều hoàn cảnh gia đình có người chồng vũ phu, rượu chè say sưa đánh đập vợ con tàn nhẫn hết ngày này qua tháng nọ mà người vợ vẫn chịu đựng, không tố cáo chống với chính quyền; hay bỏ chồng… Nhiều hoàn cảnh tù nhân “cải tạo” bị cs bỏ đói, hành hạ thể xác chết đi sống lại bây giờ vẫn muốn “hòa hợp hòa giải,” “thi hành sự đại đoàn kết” với vc; Dân vượt biên vượt biển tìm tự do bị mất hết tài sản của cải vì bị đánh cướp trên bộ hay gặp hải tặc trên biển; có nhiều trường vợ con bị hãm hiếp, bị giết, bị chết ngay trước mặt; nhưng họ vẫn muốn trở về Việt Nam hợp tác với cs để “quên quá khứ hướng đến tương lai…”

Tóm lại, loại người này là bệnh nhân của cái bệnh tâm thần thời đại gọi là “Bệnh Stockholm.”

Ở hải ngoại, số người lâm phải bệnh tâm thần “Stockholm” rất đông đảo. Họ thuộc đủ loại, hạng người trong cộng đồng tị nạn cs. Từ dân ngu khu đen (như Trần trường, Nguyễn Phương Hùng) cho đến lãnh đạo cao cấp của quân đội, chính phủ (Nguyễn Cao Kỳ, Đỗ Mậu, Trần Thiện Khiêm), lãnh đạo tôn giáo (Thích Giác Nhiên, Thích Mãn Giác (chết), Thích Nguyên Hạnh….), văn thi nhạc ca sĩ (Phạm duy, Từ Công Phụng, Thanh Tuyền, Elvis Phương, Chế Linh, Hoài Linh) cho đến trí thức khoa bảng (Luật sư Nguyễn Hữu Liêm, LS Phùng Tuệ Châu, GS Vũ Đức Vượng)… Có thể nói rằng bệnh (“Stockholm”) là bệnh truyền nhiễm, lan tràn qua mọi tầng lớp của cộng đồng tị nạn cs. Qua truyền thông tiếng Việt toàn cầu, bệnh này được nhìn thấy dưới nhiều hình thức và nhiều tên khác nhau gọi nghe quen thuộc hơn. Phe ta thì gọi là “Trở cờ,” “Đổi màu, “Phản thùng,” “Phản bội,” “Đâm sau lưng chiến sĩ…” Riêng vc với bản chất cố hữu gian manh thì bọn chúng giảo quyệt hơn. Chúng dùng những danh từ hoa mỹ mồi chài rất hấp dẫn như “Quê hương là chùm khế ngọt,” “Khúc ruột ngàn dậm,” “Quên quá khứ hướng đến tương lai,” “Đại đoàn kết dân tộc,” “Hòa hợp hòa giải xây dựng đất nước…” Nhưng mặt khác vc vẫn gọi người của “bên thua cuộc” với các tên với ẩn ý khinh thị như “Mỹ ngụy,” “Ngụy quân, ngụy quyền”, “phản động.” “Thế lực thù địch…”

Thử nhìn vào một vài bệnh nhân điển hình xem bệnh trạng diễn tiến nặng nhẹ như thế nào qua các lời nói, cử chỉ, hành động của họ… Tất cả các chi tiết đã được ghi lại sống động qua Video clips, hình ảnh và trên điện báo cũng như báo in để tự mình có thể chẩn bệnh của chính mình xem sao!

Trần Trường

Thật ra, tên tâm thần ngu xuẩn này không đáng được nêu lên ở đây. Nhưng vì hành động điên khùng muốn nổi bật lấy tiếng ngu của hắn đã làm hàng ngàn người Việt tị nạn cs phản ứng biểu tình chống đối ở Little Saigon, thủ đô của dân Việt tị nạn cs… Hắn trờ thành một bệnh nhân tâm thần “Stockholm” tiêu biểu của thời đại.

Trần Trường cùng gia đình vượt biên năm 1980 và được chính phủ Mỹ cho phép định cư tị nạn cs tại California. Hắn sống bằng nghề sang Băng đĩa Video lậu đem cho dân tị nạn cs thuê. Năm 1999 (sau gần 20 năm sống nghề sang bang đĩa lậu), bệnh tâm thần “Stockholm” bỗng bùng phát chỉ qua một vài đêm (overnight).

Lợi dụng sự tự do ở Hoa kỳ, hắn đã can đảm (hay ngu xuẩn?) treo cờ đỏ sao vàng và đặt bàn thờ vái lạy hình ảnh hcm ngay trong tiệm cho thuê băng đĩa lậu HiTek của hắn tại khu thương mại Little Saigon. Kết quả đưa đến một cuộc biểu tình đông đảo chưa từng có của cộng đồng tị nạn cs ở hải ngoại sau 30/4/1975. Hắn bị bắt và bị 100 ngày tù ở nhà tù Orange County vì tội sang đĩa lậu. Sau án tù ở, bệnh khùng “Stockholm” trở nên trầm trọng hơn. Năm 2005 hắn đâm ra mê sảng, bán hết tài sản lấy đô la tiền mặt mà hắn ki cóp qua bao năm cho thuê đĩa lậu độ 200 ngàn đô la; theo tiếng gọi bịp bợm “đại đoàn kết dân tộc (?)” của vi-xi, đem tất cả số đô la này về Việt Nam để mua đất đào ao nuôi cá “góp phần xây dựng đất nước.”

Chỉ được khoảng 2 năm - Năm 2007 - chương trình ao cá đang tiến triển ngon lành thì Trần Trường bị cán bộ cs cưỡng chiếm mất toi. Chuyện bị cưỡng chiếm này đâu có gì lạ dưới chế độ cs ngày nay (cứ xem số rất đông dân oan trường kỳ phản đối việc cs cưỡng chiếm đất đai thì biết!). Đã mất hết của, Trần Trường còn nợ tiền ngân hàng và các nhà thầu cung cấp thực phẩm nuôi cá. Ngân hàng và các nhà thầu lên tiếng sẽ đưa ra Trần Trường ra tòa nếu không thanh toán xong tiền nợ đúng hạn… Trần Trường phải vội vàng bỏ hết của chạy lấy người sang… Mỹ (không phải Mỹ tho!). Bây giờ hắn có vẻ hơi tỉnh táo lại, nhưng túi không còn một xu.

Kể ra, Trần Trường vẫn còn may mắn. Hắn mất hết của nhưng chưa mất mạng. Hắn còn sống để họp báo ở San Jose nam 2012 để xin lỗi cộng đồng tị nạn về chuyện hắn đã làm (Hay thật! Cứ như xem phim hài hước); và xin cộng đồng quyên góp giúp hắn ít tiền để hắn trở lại Việt Nam kiện củ khoai cs. Tên điên này thiệt tình ngu hết biết; lại tưởng dân tị nạn cs ai cũng ngu như hắn. Tôi không phải là thầy tướng số, nhưng có thể thấy tương lai của tên hèn hạ này ra thế nào rồi. May mắn lắm thì có lẽ không bao lâu nữa thì hắn sẽ phải đi ăn mày. “Góp phần xây dựng đất nước” kiểu này đồng nghĩa với “đi ăn mày,” “đang từ mạnh giỏi biến sang từ trần…”

Trần Trường học bài học đầu tiên và cũng là cuối cùng về cs. Trần Trường dù sao cũng là một bằng chứng còn sống, vẫn còn đang thoi thóp thở, nhưng còn đủ sức tuyên bố tuyên mẹ chửi cs… Hy vọng rằng, trong những ngày còn lại của cuộc đời trên đất Mỹ, hắn có thể làm vài bịnh nhân “Stockholm” ở hải ngoại vừa mới manh nha nhuốm bệnh có cơ hội tỉnh táo người ra mà không (chưa) cần phải chữa trị gì cả.

Biết rồi, khổ lắm… nhưng ai mà biết được rằng họ có muốn tỉnh táo hay không là chuyện khác!


Nguyễn Phương Hùng (NPH)

Tuy chỉ là một cù lũ nhí (“small fries”) nhưng qua thời gian, con cắc kè NPH này đổi màu khá ngoạn mục, có thể nói là ngoạn mục nhất trong các con cắc kè tị nạn cs. Hắn có “trình độ” tài nghệ của một tên danh hề trước mắt cộng đồng tị nạn cs. Là một anh lính VNCH đã giải ngũ từ khuya (?), cựu nhân viên sở Mỹ ở Việt Nam (?)… may mắn chạy qua Mỹ tị nạn cs từ năm 1975. Hắn tự xưng, tự đổi nhiều mầu áo mà bàn dân thiên hạ không ai có thời giờ kiểm chứng là hắn không có “credits” thật hay không: nhà báo (?), cựu sĩ quan Biệt Động Quân (?), đại diện cựu chiến sĩ VNCH (?)…

Nhìn hình ảnh hắn quỳ lạy, khóc lóc với nước mắt nước mũi dàn dụa lau không kịp, mặc quân phục BĐQ trước tượng đài chiến sĩ Việt Mỹ ở Westminster, California. Rồi cũng lại khóc lóc nước mũi nước dãi lòng thòng, cái miệng khóc méo xệch ở phi trường Nội bài Hà nội, mếu máo “Ối giời đất ơi! Đáng lẽ tôi phải về nước từ lâu rồi” thì dù không phải là thầy thuốc, tôi cũng có thể quả quyết là hắn bị bệnh tâm thần “Stockholm” rất loại nặng (hardcore).

Sống trong một nước tự do, về cá nhân hắn, hắn tha hồ muốn làm gì trò thì làm: lúc thì mặc quân phục rằn ri cài huy hiệu BĐQ QLVNCH quỳ lạy khóc lóc tri ân chiến sĩ Việt Mỹ tại tượng đài Chiến sĩ Việt Mỹ ở Weatminster Little Saigon; lúc thì tham dự lễ tiếp tân của tổng lãnh sự vc ở San Franciso; lúc về Việt Nam 2-3 lần tuyên bố với truyền thông lề phải vi-xi các lời lẽ phỉ báng cộng đồng và sự chiến đấu chống cộng của Miền Nam; lúc bắt tay các sĩ quan công an và viên chức chính phủ vc một cách hãnh diện… Nhưng chỉ xin hắn đừng có tự tiện xưng là đại diện cho đồng bào, chiến sĩ VNCH tị nạn cs ở hải ngoại. Mẹ kiếp! Trò chướng mắt nhất của hắn, ngang nhiên khiêu khích cộng đồng tị nạn cs, là đăng hình cờ máu cs trên trang mạng “kbchn.net” (viết tắt của KBC Hà Nội) của hắn. Nên biết , trước đây hắn vẫn dùng trang mạng này mục đích “khuyến mãi” cho con cắc kè cái vợ hắn cũng thích mặc áo rằn ri BĐQ lên truyền hình tị nạn cũng khóc lóc rất mùi mẫn tỏ vẻ thương lính trận VNCH với y chang bài bản tréo cẳng ngỗng của hắn. Nghề tay trái của cắc kè cái này là “ca sĩ” tên tuổi (“tên” chưa ai biết mà “tuổi” thì ai cũng biết hết ráo!) Hai vợ chồng đổi màu từ chống cộng cực đoan thành lập trường chuối luộc phải “hòa giải với vi-xi” để xây dựng… cái XHCN củ cải.

Báo lề phải của cs được dịp tuyên truyền nhân dịp cắc kè NPH được phép đi thăm hải đảo ở biển Đông, vùng đanh có tranh chấp với Trung cộng, viết về con cò mồi không phải tốn kém bao nhiêu cho công tác “địch vận” như sau:

(nguyên văn)

“… Ông cảm thấy ân hận vì đã gần 36 năm mới đặt chân lên nơi mình đã sinh ra. “Tôi là một người Việt Nam bỏ đất nước ra đi dù là trong hoàn cảnh đặc biệt nhưng sao đất nước thống nhất lâu rồi tôi lại không về?” - ông Hùng tự hỏi. Từng tham gia quân đội Sài Gòn, ông Hùng đã rời bỏ quê hương và không muốn quay lại bởi những thông tin mù quáng và bị bưng bít. Thế nhưng, sau 9 ngày về với đất mẹ, ông đã hiểu mình bị lừa dối. Ông tâm sự: “Ai cũng sung sướng được đặt chân lên hải đảo thiêng liêng nhưng với tôi còn thêm cảm giác ăn năn của một người con từng bỏ đất nước đang quay về tạ tội”.

(hết trích)

Tình trạng bệnh lý của bệnh nhân “kbchanoi” này đang đi vào cấp 4 - thời kỳ chót, xem như đã hết thuốc chữa. Cộng đồng tị nạn cứ việc ngồi thong thả gãi… trán để nhìn hắn “cash” thêm độ vài check SSI nữa là sẽ hắn hết mầu để đổi, hết hơi để khóc… Nếu thật tình muốn ăn năn quay về tạ tội với “tổ quốc” thì nhân tiện tôi đề nghị hắn nên chơi cho ngon, lên tiếng “chống Mỹ kí nước” bằng cách cụ thể từ bỏ luôn mấy cái checks SSI cuối cùng của đế quốc Mỹ gởi mỗi tháng; về sống vĩnh viễn ở Việt Nam (Mà nè! Nhớ đừng có đào ao nuôi cá nhe cha nội!) để mà bắt tay với cs đóng góp xây dựng đất nước cs (“Đảng và tổ quốc là một,” “Yêu tổ quốc là yêu XHCN!”) Đi về Việt Nam 3 lần rồi, suy nghĩ sao mà trở về Mỹ để làm chi những chuyện oan trái vậy hà?

Nguyễn Cao Kỳ (NCK)

“.. Chúng ta (VNCH) thua là phải rồi… Họ (VC) có công thống nhất đất nước. Họ làm được cái mà chúng ta không làm được. Tôi phải thán phục họ…”

Qua bất cứ một cơ hội được phỏng vấn nào ở trong cũng như ngoài nước, NCK, nhân vật đứng thứ hai của chính thể Cộng hòa Nam Việt Nam, không bao giờ quên ca đi ca lại cái lời ca rất “hữu nghị” này.

Nhìn lại những lời lẽ mị dân rất đanh thép nặng ký ngày trước như “Phải Bắc tiến để tiêu diệt cộng sản (trước năm 1975),” “Quyết ở lại (miền Nam) đành cộng sản đến người lính cuối cùng, đến giọt máu cuối cùng (vào tháng 4/1975),” bây giờ lại lột lưỡi tuyên bố ngon ơ:

“… Nhiều người cùng lứa già với tôi nay không còn phản đối chế độ trong nước nữa. Khi biết tôi có ý định về Việt Nam ở hẳn, có người bảo tôi rằng “Khi nào ông về thì tôi về theo.” Rồi chim lại bay về tổ mà. Bây giờ tôi đã 75, chắc là cũng chỉ có thể cố gắng được trong khoảng 3 năm nữa để góp phần xây dựng những nhịp cầu của sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc. Nhưng tôi tin là cùng lắm 5 năm nữa là sẽ không còn vấn đề trong nước và ngoài nước.” (Thứ bảy, 27 Tháng 11 năm 2004)
Tôi đã viết khá nhiều về me xừ “Bú đà chai” NCK trở cờ này rồi. Ở đây tôi chỉ xin phép vắn tắt thêm vài hàng:
Trong đám bệnh nhân “Stockholm,” NCK, với cương vị “cựu Phó Tổng thống, cựu thủ tướng VNCH” trước đây, là người gây đã thiệt hại lớn lao nhất cho chính nghĩa, cho các nỗ lực chống độc tài cs của các tổ chức, cộng đoàn người Việt tị nạn. Sau 7 năm về Việt Nam rồi hui nhị tì ở Mã lai ngày 23 tháng 7 năm 2011, NCK không có đến mảy may một hành động gì tạm gọi cho gần đúng nghĩa là của việc “đại đoàn kết dân tộc,” “hòa hợp hòa giải dân tộc…” Tóm lại , NCK chỉ thỉnh thoảng nói lên được vài tiếng ca ngợi sự chiến thắng của cs và còn lại thời giờ để… đánh Golf… thiệt bótay.cơm.

Trần Thiện Khiêm (TTK)

Một nhân vật chính, có tên công khai trong sổ lương của CIA Mỹ, đã khuynh loát, quậy nát chính trị miền Nam: đảo chính TT Ngô Đình Diệm nền Đệ nhất Cộng hòa, giữ rất dài hạn vai trò quan trọng thứ hai (Đại tướng Thủ tướng chính phủ VNCH / so sánh ngang hàng với NCK) của nền Đệ nhị Cộng hòa. Bao nhiêu năm TTK ngậm miệng như hến, thong thả ăn trên ngồi trốc một cách rất êm thắm từ sau năm 1963. Đến khi miền Nam lâm nguy vào tháng 4/1975, hắn là một trong những tẩu tướng nhanh chân nhất… Sau suốt 36 năm nín thở qua sông, tiếp tục ngậm miệng, âm thầm hưởng thụ tài sản đã vơ vét rất kỹ lưỡng từ miền Nam Việt Nam; bỗng nhiên bệnh “Stockholm” làm hắn đưa cái đầu rùa ra khỏi mu rùa và tuyên bố này nọ chỉ tổ khai thiệt cái trí thấp của một tên lính đánh thuê (cho CIA):
“… Dù ‘Cộng Sản’ hay ‘Không Cộng Sản’ thì họ cũng có tinh thần dân tộc yêu nước. Kết án (họ) bây giờ hẵn có sự sai lầm chăng?”

(TTK – Trong cuộc phỏng vấn của Việt Dzũng trên đài SBTN tháng 10/2010).

Tiếp theo, TTK hiến kế miễn phí cho dân Việt Nam trong nước cũng như ngoài nước:

“Đảng cs đang tổ chức họp đảng và lấy ý kiến của người dân đề thay đổi chế độ. Người dân cứ đưa ý kiến cho đàng csvn…”
(TTK – cùng trong cuộc phỏng vấn của Việt Dzũng trên đài SBTN tháng 10/2010).

Chỉ qua một hai câu trả lời đã thấy TTK chẳng hiểu cs cái “son-mother” gì ráo. Các hội đoàn tị nạn cs chớ có dại mời anh đại chướng óc tầu hũ tương chao (stinking tofu) này làm cố vấn… Nghe lời cố vấn của hắn thì lần này có thể cả lũ tị nạn phải chạy vượt biên sang đất Mễ mà sống. Tới đây, tính ra cũng hết đất dung thân rồi… Ở Mễ, chính phủ không nuôi nổi dân Mễ thì làm sao họ nuôi nổi dân tị nạn csvn…??? (No SSI checks please!)

Phạm Duy (PD)

Bệnh nhân Phạm Duy cũng là con cắc kè loại độc đáo; có “102” (một không hai). Tất cả các con cắc kè tên tuổi khác như (Nguyễn Cao Kỳ, Đỗ mậu, Trần thiện Khiêm…) chỉ đổi mầu một lần; riêng con cắc kè PD đổi màu tới lui 2-3 bận lựng! Trước năm 1951 theo Việt Minh (tiền thân của đảng csvn) kháng chiến chống Pháp, PD đã viết một số bài nhạc hùng ca ngợi kháng chiến (Đường ra biên ải, Gươm tráng sĩ, Chinh phụ ca, Thu chiến trường, Chiến sĩ vô danh, Nợ xương máu) , những bài nói lên sự bi sự khổ của người dân nghèo theo kháng chiến chống Pháp (Bao giờ anh lấy được đồn tây (sau đổi thành Quê nghèo), Bà mẹ Gio Linh); các bài dân ca kháng chiến (Nhớ người Thương binh, Ru con, và Nương chiều), PD có sáng tác cả bài chỉ để riêng ca ngợi HCM (Bên ni bên tê) loại nhạc “Suy tôn Ngô Tổng Thống” ở miền Nam.

Rồi năm 1951, PD bỗng đổi mầu mà không (dám) thông báo trước. “Dinh tê” về Hà nội, làm việc cho Pháp. Năm 1954 theo làn song di cư vào Nam chạy trốn cs. Từ 1954-1975 viết, sáng tác rất dồi dào nhờ sự tự do của miền Nam. PD làm nhiều bài tình cà, trường ca và một số bài ca ngợi sự chiến đấu chống cộng sản của quân dân miền Nam,

Năm 1975 di tản sang Mỹ tị nạn cs. Trong những năm đầu tị nạn, PD viết nhiều bài lên án cs với những chữ rất gay gắt: như gọi csvn là “bạo cường,” “loài quỷ dữ,” gọi thủ đô Sài gòn là thành phố “phải mang tên xác người,” người ở lại không chạy kịp phải mang “vạn tủi oán…”

Vừa đặt chân tị nạn cs trên đất Mỹ, về hai lần phải bỏ quê hương ra đi, PD ghi lại trong ca khúc: “54 cha bỏ quê, 75 con bỏ nước” như sau:

Một ngày 54, cha lìa quê hương
Lánh Bắc vô Nam, cha muốn xa bạo cường
Một ngày 75, đứng ở cuối đường
Loài quỷ dữ xua con ra đại dương!...

Một ngày 75, con bỏ hết giang sơn
Hai mươi năm tình, yêu người yêu cuộc sống
Giờ nơi nước mình niềm đau thay nỗi vui
Sài Gòn đã chết rồi, phải mang tên xác người

Đôi hai lần ta bỏ quê bỏ nước
Phải nuôi ngày về ôm Tổ quốc.…
(“54 cha bỏ quê, 75 con bỏ nước”)


Năm 1978, PD viết về tâm trạng của người dân Việt tị nạn cs tạm dung ở nước ngoài, và được nhiều người chia sẻ:

Ở bên nhà đôi tay ngà em vục bùn đen
Ở bên nhà đôi môi mềm thu vạn tủi oán
Ở bên này sống với ác mộng
Từng đêm ngày anh ra biển rộng khóc thương em.
(“Ở bên nhà em không còn đứng chờ đợi anh”)


Một số bài có nội dung chống cộng khác được PD phóng tác phản ảnh đời sống dân miền Nam sau 30/4/1975 như “Học Tập cải tạo,” “Phụ nữ Sài gòn” và bài đặc biệt lời bài hát “Độc Lập Tự Do” đã trực tiếp mỉa mai cá nhân HCM, chửi cái khẩu hiệu long trọng của chính quyền csvn (qua câu nói của HCM) trên các văn bàn có tính cách quốc gia:

Độc lập là mất Cam Ranh,
Tự do là bán dân mình cho Nga,
No là cơm độn bo bo,
Ấm là quần rách để thò Bác ra…
(“Độc Lập Tự Do”)


Từ năm 1999, cắc kè PD đã có dấu hiệu bắt đầu dọn sân sửa soạn cho việc đổi mầu lần thứ hai. Năm 2004, khi được hỏi về nội dung lời nhạc của bài “54 cha bỏ quê, 75 con bỏ nước” thì PD đã trả lời rất lập lờ, mơ hồ, gần như vô nghĩa chứng tỏ sự “phản tỉnh,” “hối hận” muốn “về cội!” (một cách nói khác của “đổi mầu…”).

Khi được hỏi về một số lời hát có nội dung chống cộng viết sau 1975 thì PD nói là:

“Tôi làm bài này trong lúc hoang mang”

Gặp những trường hợp câu hỏi khó trả lời quá thì lấp liếm:

“Tôi quên rồi… thôi nói lại làm gì”

“Tôi chỉ chống gậy chứ không chống cộng”

Mặc dù là một nhạc sĩ có tài; sáng tác rất phong phú cả ngàn bài ca được mọi giới quần chúng ưa chuộng; nhưng vì lập trường chính trị nồi chõ, cộng thêm đức hạnh lem nhem, đạo đức quá kém cỏi, ăn nói tiền hậu bất nhất như (giả) điên:

“Làm văn hóa cái con mẹ gì?”
“Chỉ hát những bài tôi viết lúc đi ỉa…”
“Cho tôi 10 ngàn đô la để viết bài ca ngợi HCM thì tôi làm ngay!”
…

Thành ra, ở trong nước cũng như hải ngoại, PD chưa hề bao giờ được chính thức vinh danh là nhạc sĩ lớn của nền âm nhạc Việt Nam.

PD chính thức trở về định cư tại Việt Nam ngày 17 tháng 5 năm 2005. Con cắc kè này dù đã có cố gắng lấy lòng cs bằng cách hết lòng ca ngợi chính sách “hòa giải hòa hợp” của chính quyền cs, PD vẫn bị văn nghệ sĩ, báo chí lề phải trong nước ganh tị, chỉ trích quá khứ chính trị của PD. Nói chung, dù đã được cấp “Chứng minh nhân dân,” được phép mua nhà nhưng chính quyền cs cũng như văn công cs trong nước đối xử lạnh nhạt với PD. Chỉ có độ 100 bài hát (10%) của PD được phép hát ở Việt Nam. Bệnh nhân PD không thể nào so sánh với bệnh nhân NCK – NCK được cs o bế đánh bóng kỹ lưỡng tốn kém hơn…

Đến khi chết ở Việt Nam ngày 27 tháng Giêng năm 2013, “cây cổ thụ âm nhạc Việt Nam” này không có được một lời phân ưu của các hội Văn hóa trong nước; chẳng có nhân vật văn nghệ sĩ cỡ “ưu tú nhân dân” nào đưa đám ma… Nói tóm lại, chính quyền cs đã ra lệnh ngầm là phải làm ngơ trước cái chết của PD. Chỉ thấy duy nhất một văn công cs là Phạm Tuyên (con trai Phạm quỳnh, - Nên biết thêm là anh chàng nhạc sĩ vô liêm sỉ này cố tình quên rằng bố mình bị cs thọc tiết thủ tiêu không tìm ra xác, đã giả ân giả nghĩa nuốt nhục sáng tác bài hát “bất hủ” “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng!”) viết bài phúng điếu kể công trạng đóng góp của PD trong nền âm nhạc Việt Nam cận đại.


Nguyễn Hữu Liêm (NHL)

NHL Tự truyện:

(Nguyên văn)

“… Trưa ngày 30 tháng 4, 1975, đeo đu đưa trên chân đáp của chiếc trực thăng cuối cùng rời phi trường Cần Thơ, trên vai vẫn đeo súng, và vai kia mang túi xách, tôi đã thoát đi trong tiếng la hét hoảng sợ và cuồng nộ, bắn giết của đoàn quân đang tan vỡ. Trong hai mươi năm qua, tôi đã bao nhiêu lần về lại Việt Nam. Lần nào bước vào phi trường Tân Sơn Nhất, tôi cũng vẫn luôn mang một nỗi sợ hãi thầm kín. Không biết là lần này mình có bị trục xuất hay không? Những ngày còn ở trong nước thì vẫn nghĩ đến chuyện công an “mời lên làm việc”. Tôi đã như là một đứa con ghẻ trên chính quê hương mình. Nhưng lần này, tôi về lại quê nhà với một tâm trạng khác. Tôi được chính thức mời trở lại Việt Nam.

...Ngày thứ ba của Đại hội, ở cuối phần bế mạc, tôi cùng đứng dậy chào cờ. Bài “Tiến quân ca” được vang cao trong cả hội trường. Lạ thật. Tôi chưa hề từng nghe Quốc ca Việt Nam (này) trong khung cảnh thể thức như thế. Từ ấu thơ đến bây giờ, tôi từng hát Quốc ca của miền Nam, trước năm 1963 thì cùng với bài hát buồn cười “Suy tôn Ngô Tổng thống.” Ba mươi bốn năm qua là Quốc ca Hoa Kỳ xa lạ, Star Spangled Banner. Nay thì tôi lại nghe và chào Quốc ca Việt Nam và lá cờ đỏ sao vàng. Con người là con vật của biểu tượng. Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước. Tôi cảm nhận được một dòng điện chạy từ đáy lưng theo xương sống lên trên cổ trên đầu như là khoảnh khắc thức dậy và chuyển mình của năng lực Kundalini. Tôi nhìn lên phía trước, khi vừa hết bài Quốc ca, mấy chục cô và bà đại biểu từ Pháp đang chạy ùa lên sân khấu, vỗ tay đồng ca bài “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng”. Tôi nhìn qua các thân hữu Việt kiều từ Mỹ, và ngạc nhiên khi thấy hầu hết – kể cả những người mà tôi không ngờ – đang vỗ tay hào hứng la to, Việt Nam! Hồ Chí Minh! Cả hội trường, và tôi, cùng hân hoan trong tất cả (vẫn là) cái hồn nhiên mà dân tộc ta đã bước vào từ hồi thế kỷ trước.

...Xin chân thành cảm ơn tất cả. Ôi hỡi quê hương Việt Nam. Lần này, tôi đã thực sự trở về!

(“Nơi giữa Đại hội Việt kiều: Một nỗi bình an” của Nguyễn Hữu Liêm - Ngày 27/11/2009)

(hết trích)

(Nguồn: talawas.org)

Bệnh nhân gốc lính VNCH liều mạng đeo càng trực thăng chạy trốn cs năm 1975, rồi trở thành khoa bảng (Gíao sư, luật sư) trên đất Mỹ này tự mình khai bệnh trạng “Stockholm” khá đầy đủ. Không cần thiết phải để chuyên gia chẩn bệnh.

Oái oăm là cái “Nỗi Bình an” mà NHL nêu ra ở đây, ngày trước TT Nguyễn Văn Thiệu đã gọi là “Bình an của nhà mồ (Peace of grave!!)” sau khi VNCH thỏa thuận ký Hiệp ước Ba-lê với vc năm 1973…

Thiệt tình… Sao cha nội NHL không “thực sự” trở về VN luôn tìm cách đào ao nuôi cá cho nó biết rõ trắng đen?! Khoa bảng chi chi mà trình độ chính trị còn kém cỏi quá. CS nó xỏ mũi, giựt dây chiều nào cũng xong… hết biết.

Kết luận

Để kết thúc, tôi xin mượn một câu nói của Bác học Albert Einstein gói bài nhận định về “bệnh Stockholm” này:

“Chỉ có hai thứ vô tận: Đó là vũ trụ và sự ngu xuẩn của con người…”
“Two things are infinite: the universe and human stupidity; and I'm not sure about the universe.”
― Albert Einstein

Trần Văn Giang
14 tháng 6 năm 2013

_______
Phụ chú:

Trái nghịch với “Bệnh Stockholm” là “Bệnh Lima (Lima syndrome).”

“Bệnh Lima” là bệnh tâm lý của người độc ác bỗng nhiên yêu, thương, có cảm tình với nạn nhân của mình… Trường hợp tâm lý này rất hi hữu và nếu có thực sự xẩy ra đi nữa thì câu chuyện cũng khó lòng thuyết phục người nghe, người đọc (là chuyện có thật!) Chỉ thấy lác đác một vài trường hợp của “Bệnh Lima” trên các mạng tiếng Việt. Chẳng hạn Đại úy quản giáo cs Nguyễn Văn Thà đã có cảm tình lén lút giúp đỡ tù nhân VNCH trong trại cải tạo cs trong câu chuyện “Ở cuối hai con đường” của ông bạn Phạm Tín An Ninh. TVG

Posted: Wed Jun 19, 2013 4:41 am
by tankhoasinh
BẮT TRƯƠNG DUY NHẤT, PHẠM VIẾT ĐÀO, NHÀ NƯỚC ĐƯỢC LỢI GÌ?
Dư âm vụ bắt chủ trang blog Trương Duy Nhất-Một góc nhìn khác còn chưa kịp lắng xuống, công an lại tiếp tục khám xét bắt khẩn cấp đối với blogger, nhà văn Phạm Viết Đào.

Quả thật, hai vụ bắt người liên tiếp là những blogger nổi tiếng đã gây ra cơn bão dư luận trên khắp các trang mạng và là câu chuyện thời sự chủ yếu trong quán cà phê ở các thành phố lớn.

Không chỉ dư luận trong nước mà dư luận quốc tế cũng rất quan tâm theo dõi, phân tích tình hình chính trị ở Viêt nam. Giáo sư Carl Thayer-một chuyên gia có uy tín nói về làn sóng bắt bớ này rằng: “Chỉ trong năm qua đã có 46 người bị bắt, bất chấp kêu gọi từ Hoa Kỳ và EU là Hà Nội cần cải thiện tình hình“.

Bắt các Blogger này để làm gì, Bắt họ giải quyết được cái gì và chiều hướng nhà nước xử trí với hàng nghìn blog đang hoạt động trên các trang mạng ra sao, sẽ gây ra hiệu ứng tốt, xấu như thế nào cho chính trường Việt nam trong con mắt dân chúng và thế giới?

Nhớ lại, khi biết tin Blogger Trương Duy Nhất bị công an bắt theo điều 258, cảm giác đầu tiên của nhiều bạn đọc là ngỡ ngàng.

Được biết ông Nhất là người có quan hệ thân thiết với một số nhân vật quan trọng trong bộ máy nhà nước,từng làm việc cho báo công an Quảng nam. Ông từng tháp tùng nguyên thủ quốc gia,ông Nguyễn Minh Triêt-hồi đó là chủ tịch nước, đi thăm chính thức Hoa Kỳ-một quốc gia cựu thù của chính phủ Việt nam.

Người như thế, ai cũng nghĩ phải an toàn. Rất an toàn là khác.

Và có lẽ một phần như vậy mà các bài viêt trên blog của Trương Duy Nhất dám đụng chạm tới những vấn đề gai góc, nhạy cảm, không né tránh tên tuổi một số vị lãnh đạo đảng nhà nước.

Bạn đọc có chung nhận định rằng Trương Duy Nhất có cách nhìn độc lập, vô tư, can đảm trước bất cứ vấn đề nào. Dĩ nhiên không phải bất cứ điều gì bạn đọc cũng đồng nhất quan điểm với ông. Nhưng người ta phải thừa nhận, đó là người viết thật theo cách nghĩ của mình không uốn éo,bẻ cong sự việc. Đó là điều đáng trân trọng của một người viêt blog hay là viết báo nói chung.

Lục lại các bài viết của ông, những thông tin đưa ra có vẻ cũng không phải hoàn toàn là những khám phá mới, hoặc phanh phui một vụ án tày đình nào đó. Các bài viết cũng không có dấu hiệu của sự cay cú, thù hằn thường là động cơ dẫn đến bôi xấu cá nhân, xuyên tạc chủ trương nào đấy của chế độ.

Tất cả sự kiện có đầy trên mạng, trên báo giấy. Trương Duy Nhất chỉ xâu chuỗi các sự việc liên quan, sắp xếp chúng lại để bạn đọc dễ nhìn, dễ cảm nhận, cô đặc thông tin và dán lên đó những cái tít thoạt nghe cũng giật mình. Bạn đọc thấy ở Trương Duy Nhất một blogger sắc sảo, tài năng và can đảm.

Cũng vậy, theo truyền thông nhà nước đưa tin, blogger, nhà văn Phạm Viết Đào cũng là đối tượng bị bắt bởi vi phạm điều 258 Bộ Luật Hình sự. Nhưng trong khi ông Nhất bị dư luận cho rằng ít nhiều liên quan trực tiếp với ai đó, khi viết về ông Nguyễn Bá Thanh và ông Vương Đình Huệ thất cử trong kỳ bầu vào Bộ Chính Trị và cho thăm dò dư luân trên mạng về mức độ tín nhiệm của các thành viên chính phủ thì ông Phạm Viết Đào được coi là không hề dính líu trực tiếp về nhân vật cấp cao nào.

Cũng như Trương Duy Nhất, trang blog của ông Phạm Viết Đào thu hút đông đảo độc giả vì các bài viết phê phán gay gắt các chính sách của nhà nước, nạn tham nhũng của các quan chức. Nhưng khác với blog của ông Nhất, blog Phạm Viết Đào đề cập khá nhiều đến cuộc chiến Việt-Trung thời kỳ 1979-1988 và vấn tranh chấp Biển Đông với thái độ lên án Bắc kinh gay gắt.

Ở các nước tự do dân chủ, những bài viết của blogger Trương Duy Nhất, Phạm Viết Đào là những hoạt động được coi là rất bình thường và dĩ nhiên được luật pháp luật bảo hộ quyền tự do bày tỏ ý kiến trên các phương tiện truyền thông. Tuy nhiên, ở Việt nam, khi các quyền tự do dân chủ trong đó quyền tự do ngôn luận trong Hiến định lại được áp dụng theo các điều luật được thể hiện bằng một thứ ngôn ngữ mơ hồ, thiếu cụ thể nên các cơ quan luật pháp dễ dàng suy diễn theo bất kỳ cách thức nào họ muốn.

Điều 258 bộ luật Hình sự là một ví dụ. Từ “Lợi dụng” quyền tự do dân chủ rất khó định nghĩa chuẩn xác là gì. Cũng vậy cụm từ “xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân” cũng rất mông lung trong việc giải thích thế nào là “lợi ích” hợp pháp của tổ chức, công dân.

Khi điều luật át Hiến định như trên, bất kỳ công dân Việt nam nào cũng có thể bị tống giam bởi điều 258. Chính vì vậy nếu các blogger nói trên có bị đưa vào nhà tù bởi những bài viết có nội dung phê phán, động chạm như vậy cũng thật là dễ hiểu, đó là chưa muốn nói rằng các bài viết đó cũng có thể chỉ là cái cớ để che dấu một “tội danh” khác mà những người cầm quyền không muốn đưa ra.

Tuy nhiên vấn đề đặt ra là cung cách thực hiện việc bắt giữ các công dân có uy tín như vậy có đem lại cho những người chủ trương vô hiệu hóa các trang blog nói trên những điều tốt đẹp hay không là một chuyện đáng bàn.

– Có thể ra lệnh bắt giữ khá tùy tiện như vậy, nhà nước muốn đưa ra một thông điệp mạnh mẽ với tất cả các blogger rằng: Quyền lực hiện hữu là vô giới hạn?

- Tuân thủ hiến định là việc của nhân dân chứ không phải là nghĩa vụ của thiểu số cầm quyền?

Nếu giả thiết trên là có lý thì các quyết định như vậy sẽ đem lại cho thể chế sự bất lợi vô cũng lớn. Mất lòng tin và mất đi sự tôn trọng tối thiểu đối với các thiết chế đang vận hành đất nước sẽ là những mất mát không thể bù đắp nổi.

Để có thể dễ hiểu hơn khi đặt vấn đề như vậy, có thể lấy một ví dụ nhỏ về cung cách hành xử của một tổng thống Mỹ-chức vị được cho là có quyền lực rất lớn như sau:

Ồng Andrew Jackson Tổng thống Mỹ (1829-1837) từng có mâu thuẫn cá nhân với một công dân của mình vì người nọ đã công kích vợ của Tổng thống. Thời đó việc đấu súng để giải quyết danh dự vì mâu thuẫn cá nhân là một việc bình thường. Cuộc đấu súng đã diễn ra giữa một Tổng thống và một công dân. Người đàn ông bắn một phát trúng phía trên trái tim của Tổng thống Jackson. Tuy nhiên, Tổng thống vẫn giữ bình tĩnh, ngắm mục tiêu và bắn chết đối thủ. Do việc gắp viên đạn ra quá nguy hiểm cho tính mạng nên Tổng thống Jackson đành phải sống chung với nó cho đến cuối đời.

Như vậy luật pháp được triệt để tôn trọng. Mọi công dân hoàn toàn bình đẳng trước pháp luật mà không cần sử dụng-lạm dụng quyền lực.

Khi bắt giữ những người bất đồng chính kiến có uy tín, công khai danh tính như đã nói chỉ đẩy nhà nước càng xa hơn nền văn minh tự do dân chủ, một xu thế tất yếu của thời đại và làm cho Việt nam ngày càng cô đơn hơn trong thế giới văn minh và nhem nhuốc hơn trong con mắt của nhân dân.

Nếu nước Việt nam là một nước dân chủ “vạn lần hơn” các nước tư bản thì các nhà lãnh đạo trước hết hãy tỏ ra là mình tôn trọng luật pháp, tôn trọng quyền tự do dân chủ của công dân để xứng đáng là những nhà lãnh đạo đất nước trong con mắt của nhân dân hơn là những chức vị do “cơ cấu” hoặc chia nhau quyền lực trong phe cánh mà có.

Nguồn: Mai Xuân Dũng

Posted: Mon Jun 24, 2013 3:58 am
by dailien
Xin các mợ Bắc Kỳ chớ có buồn vì :
không thể vơ đũa cả nắm, chỉ có phần nào thôi.

Khi ngồi viết những giòng chữ này thì vợ cháu đang ngủ say sưa trên giường. Nhìn đôi chân dài thườn thượt của bà thò ra khỏi chăn, tự nhiên cháu bật cười.

Thì ra vợ cháu cũng thuộc loại…chân dài ra phết, cao xấp xỉ 1,70 mét chứ chẳng phải chơi. Năm ngoái gặp lại đám bạn cũ cùng binh chủng, trong lúc chụp ảnh chung bỗng có thằng la lớn : “Chúng mày ơi ! đứng bên cạnh bà này chắc ông phải kiễng chân lên mời xứng!“, làm vợ cháu ngượng chín người.

Nghe nói bên Việt Nam bây giờ người ta tung hô tán tụng “những cô gái chân dài“ dữ lắm, làm phim, lên ảnh, quảng cáo rùm beng, làm các cô cứ tưởng mình là cái rốn của vũ trụ không bằng.

Có điều lạ là hầu như các mợ toàn là gốc miền Bắc, nói năng giọng Bắc, nhìn đời với con mắt người Bắc và cư xử thì cứ “tự nhiên như người Hà Nội“.(Bật mí cho các cụ nhé: bây giờ thì đa số các mợ Hà Nội chính gốc đã thi nhau làm “con chim đa đa“ bay qua xứ khác lấy chồng xa hay đi kiếm cơm hết ráo, còn lại toàn là gốc Hà-Nam-Ninh hay Thanh-Nghệ-Tĩnh lên Hà Nội lập nghiệp).

Hay là ông Trời sinh ra người càng ở vùng phương Bắc thì da càng trắng, mũi càng cao và chân càng dài, cứ nhìn mấy ông Tây bà Đầm là biết ngay.

Thế nhưng ”bà già chân dài” vợ cháu lại là dân Nam kỳ tuốt luôn tận phương Nam, là thứ Nam kỳ chính hiệu con nai vàng, quê Cái Bè, nội Cái Răng, ngoại Cái Dồn. Hoá ra “mũi cao, chân dài“ đâu phải độc quyền của các mợ Bắc Kỳ 75, các mợ nhờ “tàn dư đế quốc“ nên chỉ mới xuất hiện sau này thôi, chứ ngay trong „thời kỳ chiến tranh“ cách đây mấy mươi năm thì “mũi cao, chân dài“ như Nam kỳ vợ cháu đã nhởn nhơ đầy đường. Đúng là một cọng giá “thời kỳ chiến tranh“ vẫn hơn một gánh rau muống “thời kỳ hoà bình đổi mới “!

Bố mẹ cháu sinh cháu ra tại miền Bắc, học hành và lớn lên cùng với gia đình trong miền Nam, để rồi trưởng thành tận ngoài miền Trung. Từ những tính chất của ba miền đã hợp lại tạo nên cháu thành một thứ “hẩu lốn“: “như canh chua nấu với...rau muống, giá sống ăn với...bún riêu, nhậu bia với ché mà lại chấm với ...xì dầu". Thế nhưng cái bản chất Bắc kỳ vẫn là cái cốt lõi trong con người cháu từ lúc sơ sinh, vẫn Bắc kỳ rau muống mắm tôm, Bắc kỳ truyền thống, Bắc kỳ muôn thuở...Nhưng ông Trời oái oăm lại sai ông Tơ bà Nguyệt xe duyên cháu làm thằng tù khổ sai chung thân cho một bà vợ Nam kỳ quốc. Lạ thật ! Duyên hay nợ đây Trời!

Hồi còn bé, thú thật cháu chẳng ưa gì Nam kỳ. Còn ghét, còn hận nữa là khác. Chuyện cũng dễ hiểu thôi : lần đầu cắp sách đến trường tiểu học Bàn Cờ ở quận 3, Sài Gòn, chỉ có cháu với một thằng nhô nữa là Bắc kỳ. Thằng này có hàm răng đưa hơi xa ra phía trước, mà văn chương Bắc kỳ gọi là “vẩu“, còn Nam kỳ gọi đơn giản và rất tượng hình là cái “bàn nạo dừa“. Bố nó (không vẩu tí nào) rất thân với bố cháu (cũng chẳng có bàn nạo dừa) vì cả hai gia đình cùng đi chung chuyến tàu “há mồm“ vào Nam năm 54.

Hai thằng Bắc kỳ con nhất định ngồi cạnh nhau tạo thế liên hoàn “dựa nhau mà sống“ trong cái lớp học 27 trự Nam kỳ con. Bọn chúng hè nhau trêu chọc, ăn hiếp hai đứa chúng cháu. Mỗi lần ra chơi hai thằng Bắc kỳ con luôn tìm chỗ ít người mà đứng để khỏi nghe bọn Nam kỳ đọc thơ chọc quê chửi bới. Thằng Vọng, đứa đầu xỏ và to con nhất đám (bây giờ đang ở Canada) leo lên cây vú sữa giữa sân, đọc thơ rang rảng:

"Bắc kỳ ăn cá rô cây
Ăn nhằm lựu đạn...chết cha Bắc kỳ "

Một thằng khác sẵn giọng phụ họa:

"Có cái thằng nhỏ nó đao làm sao
Lỗ đ. nó dính cái cọng rao,
Người ta ai mà kỳ như dzậy ?

Thế là cả bọn đồng loạt chỉ ngay vào bọn cháu rồi rống lên: "Thôi rồi ! Bắc kỳ, Bắc kỳ !”

Cháu tủi thân lắm ! Ôi thôi ! buồn da diết, buồn vô biên, buồn phát nghiền !

Về nhà hỏi mẹ tại sao gia đình mình lại vào đây làm quái gì để chúng nó trêu con suốt ngày. Mẹ cháu rướm nước mắt, xoa đầu cháu giải thích đơn giản:

- Tại vì người ta đánh nhau quá nên gia đình mình phải "ri cư" vào đây con ạ ! Thôi chịu khó đi con, mẹ biết làm sao bây giờ !

Nào đâu đã hết, chúng nó còn hè nhau tụ tập trước cửa nhà cháu. Mẹ cháu cầm chổi lông gà ra đuổi. Chẳng đứa nào sợ, trái lại còn tru tréo to hơn. Chợt thấy hàm răng của mẹ cháu nhuộm đen ngòm và bóng loáng, thế là chúng nó cứ thế mà gào:

Bắc kỳ ăn cá rô cây
Ăn nhằm cục c. , hàm răng đen thùi

Trong gia đình, chỉ có bố cháu là chẳng thằng Nam kỳ con nào dám giỡn mặt. Có lẽ nhờ khuôn mặt có oai hay nhờ đôi mắt nghiêm khắc của ông, mà chúng sợ một vành không dám trêu chọc một lời ?

Ngày tháng qua mau, cứ thế mà đám Bắc kỳ "ri cư”, trong đó có gia đình cháu, vẫn sống phây phây trên mảnh đất Nam bộ lạ hoắc nhưng trù phú này. Những cảnh chọc quê dần dần biến mất, bạn bè nhiều hơn, trong đó dĩ nhiên không ít đứa Nam kỳ. Đứa Sài Gòn chính tông, đứa Sa Đéc, đứa Vĩnh Long, đứa Mỹ Tho, Cần Giuộc...Nhưng đứa nào cũng chửi cháu là "thằng Bắc kỳ lắm mồm”. Không "lắm mồm” chứ để chúng mày ăn hiếp ông hả ?

Nghĩ cho cùng, không "lắm mồm” thì đâu còn là Bắc kỳ nữa ! Thứ "lắm mồm” được việc, "lắm mồm” nghe vẫn bùi tai, "lắm mồm” dễ mến, thiếu thì nhớ, vắng thì mong, "tay chơi” nhưng vẫn "chân tu”, gái Nam kỳ cứ thế mà..."lắc lư con tàu đi”. Càng lớn lên cháu càng khoái Miền Nam, khoái Sài Gòn, nơi dễ có nhiều bạn, mà bạn lại không tồi. Nơi đó có dừa xiêm dzú sữa, có chè đậu xanh bột báng nước dừa, có bánh bèo trét mỡ trắng phau phau, có nước mắm đường ngọt lịm, có cá bống trứng kho tiêu, có trái cóc ngâm đường cắm que cà rem chấm muối ớt, có quán cơm bà Cả Đọi, có cả những con đường hẻm ngoằng nghoèo dẫn đến nhà ...chị Tình.

Miền Nam và Sài Gòn thật trong veo khoáng đạt, không tự tôn như cái Bắc kỳ đã có sẵn từ bẩm sinh trong bụng cháu, không rườm rà "màu mè ba lá hẹ”, chân thành thật thà, thẳng ruột ngựa, không làm vẫn có ăn, chơi xả láng sáng về sớm, để rồi vẫn cứ yêu người, yêu đời.

Có lẽ cũng cùng một cảm nhận như thế nên đám Bắc kỳ "ri cư” chúng cháu mới vào Nam chỉ có cái quần xà loỏng trên "tàu há mồm” đã lợi dụng thời cơ hè nhau tung ra dành dân chiếm đất khắp cõi Nam bộ, mà lại ăn nên làm ra trên mọi lãnh vực, trong đủ tầng lớp xã hội, nhất là vùng Sài Gòn Gia Định và các vùng phụ cận, chỗ nào làm ăn ngon lành thuận lợi là mấy mợ Bắc kỳ rau muống sang tay hàng loạt, ngoại trừ phía bên trong chợ Bến Thành và vùng Chợ Lớn, vì chẳng thèm "kèn cựa” với các chú Ba. Đã bảo rồi mà...: " Bà đã nàm thì nàm thật chứ không thèm nàm nấy ne, nàm nấy nệ !”

Từ sau năm 75 thì Bắc kỳ lại càng ăn trên ngồi trốc, các cụ không tin cứ mở cái máy "dzô tuyến chuyền hình” hay cái "ra dzô” ra thì thấy liền, các "xướng ngôn dziêng” hầu như "chăm phần chăm” đều là Bắc kỳ, không cậu thì mợ. Còn các mợ tiếp dziêng "E Việt Nam”, mợ nào mợ nấy đều khoe "em người Hà Lội” hết ráo ! Chẳng biết tại "dziêng dzáng” hay ”phe đảng” ?

Bố cháu trái lại, cái chất Bắc kỳ đã ăn vào máu, thấm vào cốt lõi xương tủy của ông từ bao đời, nhất quyết bắt anh em cháu phải thi vào trường Chu Văn An (CVA), con em gái phải thi bằng được vào trường Trưng Vương, toàn là những trường nổi tiếng từ miền Bắc, kéo theo các thày cô "ri cư” vào Nam. Phần vì bố cháu là cựu học sinh trường Bưởi, phần vì ông cũng có chút thiên kiến và ít tin tưởng vào các trường miền Nam như Petrus Ký hay Gia Long. "Mình dân Bắc thì phải học trường của người Bắc, chúng mày đừng có bàn với bạc lôi thôi !”, bố cháu phán cứ như đinh đóng cột.

Mà lạ thật ! Vào học Chu Văn An mới thấy toàn đám học sinh Bắc kỳ, le que vài trự Nam kỳ lạc lõng vô duyên, đếm chưa đủ mười đầu ngón tay đã hết đứa Trung kỳ. Cho đến các thày đa số cũng lại Bắc kỳ nốt, từ thày hiệu trưởng Dương Minh Kính đến thày thi sĩ Vũ Hoàng Chương.

Còn bên Petrus Ký thì ngược lại, hầu hết Nam kỳ. Hóa ra vung nào thì vẫn cứ đi tìm nồi nấy, hay hoặc giả có chính sách của chính quyền thời đó hay không ? Chẳng thành vấn đề, chỉ biết bọn Nam kỳ Petrus Ký châm biếm đổi tên Chu Văn An thành ...Chết Vì Ăn ! Cháu tức máu trả đũa, rằng chúng mày ghen ông vì chúng mày chiêm ngưỡng các em Bắc kỳ Trưng Vương mà thèm nhỏ dãi, nhưng sờ vào thì chúng mày sẽ thành con dế mèn để các em Bắc kỳ thọc cọng nhang sau gáy thổi quay vòng vòng ! Tức quá, mấy trự Petrus Ký chỉ biết "ngậm ngùi” đồng ca bản ”Khúc nhạc đồng quê” rằng thì là:


"Quê hương tui Bắc kỳ nhào dzô quá trời
Bên bờ sông bên bờ ao...trồng rau muống !”

Hay cũng là: "Quê hương tui cái mùng mà kêu cái màn !....”

Thôi thì cũng đúng thôi ! Mấy trự Nam kỳ hay Trung kỳ chỉ cần nghe một mợ Bắc kỳ uốn éo ra chiêu vài đường lưỡi thì đã nhũn như chi chi, mắt trợn ngược, mồm há hốc, quên luôn cả tên họ mình. Chỉ có trai Bắc kỳ mới trị nổi các mợ Bắc kỳ thôi ! Này nhé, các cụ cứ chịu khó nhìn chung quanh đi, cứ một trăm trự Nam kỳ chưa chắc có được một trự vớ được một mợ Bắc kỳ.

Tìm mỏi con mắt mới có một trự "diễm phúc” bế được một mợ mang về nhà thì bảo đảm suốt cuộc đời còn lại chỉ biết bốn chữ "gọi dạ bảo vâng”, răm rắp tuân lệnh bà, chẳng bao giờ còn nhìn thấy mặt trời, mặc dù suốt ngày ngửa mặt than Trời ! Đấy mới chỉ là các mợ Bắc kỳ 54 thôi nhé ! Gặp cỡ các mợ 75 hay các mợ quê quán Hà Đông hay Bắc Ninh "...cầm roi dạy chồng” thì ôi thôi ! cái te tua nó kéo luôn theo cả tông ti họ hàng, suốt đời hưởng "cái thú đau thương”, nghe chửi cứ tưởng nghe...hát. Hỡi các chú Nam kỳ hậu sanh: chớ chơi dại!

Đừng nghe ông Phạm Duy hát bài "Cô Bắc kỳ nho nhỏ” mà ham, lừa đấy ! Gặp Nam kỳ thì cái "nho nhỏ” kia sẽ phình to hơn cái vại, mà cái vại có nanh ! Ngược lại, một cậu Bắc kỳ rau muống quơ được một cọng giá Nam kỳ "đem về dinh” –vụ này nhiều lắm- thì cứ như "rồng thêm cánh”, như "diều gặp bão”, như lái ô tô không cần Navigation.. . cả đời có người "nâng khăn sửa túi” không công. Hóa ra hôn nhân cũng có quy luật đấy chứ:

Chồng Bắc kỳ + vợ Bắc kỳ = Vợ chồng đề huề, nếu biết cách
Chồng Bắc kỳ + vợ Nam kỳ = Chồng phây phả, phè cánh nhạn.
Chồng Nam kỳ + vợ Bắc kỳ = Chồng te tua, lưng còng.

Nhưng đã là "luật” thì bao giờ cũng có "luật trừ”, nghĩa là cháu không dám vơ đũa cả nắm đâu, với lại cháu chỉ lợi dụng cái "tự do ngôn luận” trên xứ người, xin bàn bậy vài chữ ngu ngơ để các cụ trong lúc "trà dư tửu hậu” đem ra trước là mua vui, sau là cho bớt chút căng thẳng trong cái cuộc đời ... đen như mõm chó này. Xin lỗi các cụ, nẫy giờ nói loanh quanh mãi, bây giờ cháu xin trở lại chuyện của cháu.

Bố cháu nghiêm khắc lắm và dĩ nhiên giáo dục con cái theo truyền thống Bắc kỳ. Đã có gốc có ngạnh, có cả sự nghiệp bề thế trong Nam nhưng vẫn...thờ cơm Bắc kỳ, vẫn lễ phép Bắc kỳ, vẫn giữ giọng nói Bắc kỳ và thậm chí còn ra lệnh, dâu rể cũng phải...Bắc kỳ ! Mỗi lần cháu dẫn bạn gái về nhà, bố cháu liếc mắt một cái là biết ngay cô nàng Bắc hay Nam.

Có một ông bố tinh đời như thế đôi khi lại...phiền. Với một mợ Bắc kỳ, bố cháu thân mật tươi cười "Cháu vào nhà chơi ! bố mẹ cháu khỏe mạnh không ?”, cứ làm như quen biết từ lâu vậy. Gặp cô ả Nam kỳ thì lạnh nhạt khinh khỉnh "Không dám, chào cô !” Cô bạn gái Nam kỳ mặt nghệt ra thưởng thức văn chương Bắc kỳ, còn cháu nghe qua mà thốn từ dạ dầy đến ruột non.

Nghe Bắc kỳ chê, nghe Bắc kỳ chửi, mà cứ tưởng mình đang nghe thơ phú hay nghe nhạc êm dịu mới chết chứ ! Nếu quen cô nào Trời sinh có mấy cái vòng hơi...sexy một tí, Bắc cũng như Nam, cháu phải dấu biệt vì sợ lựu đạn nổ tung trong nhà. Điệu này coi bộ hơi khó sống. Thôi thì Bắc Trung Nam cũng một nhà, hạnh phúc lứa đôi đâu phải do thằng hàng xóm, mà là do chính mình. Thế rồi cháu đã từng hạ quyết tâm với bố: lấy vợ Bắc kỳ, cho phải đạo làm con. Em nào Bắc kỳ, rước về nhà cho bố xem mặt mà bắt hình dong (cứ như đi mua gà chọi). Em nào Nam kỳ, điểm hẹn sẽ là mấy ống cống dưới gầm cầu xa lộ Đại Hàn.

Thiên bất dung gian! cháu lại phải lòng một ả Nam kỳ, Nam kỳ không lai giống, cái thứ Nam kỳ Gia Long kên kên xí xọn. Hồi đó cháu đi lính Không Quân của miền Nam, thấy đám phi công trời đánh đa số cũng đều là Bắc kỳ, chẳng hiểu tại sao? Dân Nam kỳ cũng có, Trung kỳ lại càng ít hơn, nhưng đứa nào cũng có ..."cái mồm Bắc kỳ”.

Cháu còn nhớ khi thi gia nhập Không Quân, phải đủ ký lô, đủ kích thước, lục phủ ngũ tạng bị khám tuốt luốt, phải trần trùng trục như con nhộng rồi nhẩy lên nhẩy xuống cho mấy ông bác sĩ ..."vạch lá tìm sâu”, chứ đâu có thi tuyển đứa nào "lắm mồm”! Thế mà thằng nào thằng nấy đều có cái "chứng chỉ lắm mồm” cao hạng dấu kỹ trong túi áo bay.

Một hôm đang trực phòng hành quân thì ông xếp (ông này Nam kỳ quốc) hỏi có thằng nào rảnh ra phi đạo chở con cháu gái vợ của xếp theo tàu từ Sài Gòn ra Nha Trang đem về nhà bà vợ đang có bầu sắp đẻ. Tưởng đi biệt phái hành quân chứ cái màn này cháu khoái lắm: "Chuyện nhỏ mà xếp, có tui ngay”. Ông xếp của cháu cũng chẳng vừa, nhìn thấu tim gan thằng đàn em : "Lẹ lẹ lên coi, tàu sắp đáp rồi đó, sách tao mày học hết còn dư có cái bìa, nhưng mà từ từ thôi nghe cha nội, lạng quạng con mẻ chửi tao thấy bà !” Lúc đó cháu đâu có ngờ rằng, cái chuyện nhỏ như mắt muỗi này lại thành chuyện lớn, lớn khủng khiếp, ảnh hưởng đến hết cả cuộc đời cháu !

Cô cháu gái ông xếp không có cái dạng "ngực tấn công, mông phòng thủ” như trong "xi la ma”, thế mà ngay từ phút ban đầu cháu đã bị dáng ngay tim một cái búa tạ chình ình chứ chẳng phải tiếng sét tầm thường.

- "Cô đi máy bay có mệt lắm không ?”
– "Dạ !”.
-"Ra thăm cô dượng hả ?”
– "Dạ !”.
-"Cô lên xe đi, tôi đèo cô về”
--"Dạ !”...

Chèng đéch ơi ! sao mà cụt ngủn cộc lốc thế bà nội ? Cái gì cũng ”dạ” hết ráo thì cháu biết đâu mà rờ ! Đúng gái Nam kỳ ! Chợt nghĩ, không biết bà dzợ xếp tới giờ này có còn ”ngây thơ”, ”dạ dạ” với xếp như dzậy nữa hay không ? Xếp cháu đang ở San José, nếu xếp có đọc những giòng chữ này thì xếp cũng bỏ qua dùm vì thằng em đã thuộc lòng trọn bộ sách của xếp từ khuya rùi !

Từ đó cháu với nàng rủ rỉ rù rì cùng nhau đánh vần mấy chữ ”hình như là tình yêu”. Cuộc tình của cháu với nàng êm ả như quả lắc đồng hồ treo trên tường phòng khách nhà cháu, nhưng mỗi khi nghĩ đến bố cháu thì quả lắc đồng hồ bỗng ngất ngư như bị đứt dây thiều. Thương quá, cháu đánh liều, ”mấy sông anh cũng lội, mấy đèo anh cũng qua”, chuyến này nhất quyết không chui ông cống gầm cầu xa lộ, mà dắt nàng về nhà trình diện bố. Bố vẫn khinh khỉnh: ”Không dám ! chào cô”. Nàng vui tính: ”Ba anh coi ngầu quá hén!”, cháu tỉnh bơ: ”Không ngầu sao làm bố anh được !”.

Thật ra thì bố cháu đâu có ghét Nam kỳ, ông chỉ phàn nàn rằng dân Nam kỳ được trời đãi, cho sống trên mảnh đất mầu mỡ phong phú, không làm vẫn có ăn, mà lại ăn ngon nữa, nên có tính lè phè, hoang phí, không chăm chỉ hạt bột, không cần cù tiết kiệm như Bắc kỳ. Ông chỉ vì thương con, lo cháu lấy nhằm cô vợ Nam kỳ cả ngày chỉ biết...phè cánh nhạn, ăn no lại nằm, thì con cưng của ông sẽ thành thân trâu ngựa suốt đời. Còn mẹ cháu, vốn dĩ nhà quê răng đen mã tấu bảo rằng, nghe Nam kỳ nói chuyện cứ tưởng nghe tiếng nước ngoài, chỉ hiểu một nửa ! Cháu cãi lại, Bắc kỳ cũng có khối đứa lười, lười như..cháu đây là hết mức rồi !

Một hôm cháu đưa nàng về nhà, gặp lúc bố mẹ cháu sửa soạn mở tiệc đãi ông bác từ Hố Nai lên thăm. Ông bác vui tính bảo tiện bữa ngồi ăn luôn, cháu đang chần chừ thì nàng vén áo hạ ngay cái bàn tọa tròn lẳng xuống ghế, cháu kéo lên không kịp. Cháu thủ thỉ giải thích cho nàng rằng, đi đâu gặp khách Bắc kỳ mời ăn thì chớ có ăn liền, cứ để người ta mời dăm lần bẩy lượt, ăn liền người ta chửi mình...chết đói !

Nam kỳ thì thẳng ruột ngựa, mời là cháp lẹ, không cháp dọn xuống bếp, đói ráng chịu, không mời lần thứ hai, ai biểu mời không ăn ! Bỗng mấy đứa em cháu thay phiên nhau : ”Mời bác xơi cơm, mời bố xơi cơm, mời mẹ xơi cơm, mời anh xơi cơm, mời chị xơi cơm”, mời... mời... mời tùm lum!. Thằng em út cháu mời dài nhất, mời lâu nhất, mời từ trên xuống dưới , trong nhà chỉ có con Tô Tô đang nằm chực dưới gầm bàn là nó không mời. Nó lại chẳng được ai mời để xơi, út mà ! nhưng rồi vẫn xực ào ào !

Cô bạn Nam kỳ của cháu trố mắt nhìn cháu chẳng hiểu chuyện gì xảy ra. Cháu vội ghé tai thì thầm:

- Em mời gia đình ăn cơm đi !
- Ủa ! gia đình anh mời em ”ăng” mà ? Bộ ”ăng” cũng phải mời...mời...xơi ...xơi sao?

Nàng ấp a ấp úng cũng ráng mời:

- Dạ mời bác, mời bác, dạ mời... à... à... mời anh, mời em...

Chợt bố cháu lên tiếng:

- Thôi đủ rồi, cháu mời người trên thôi, còn mấy em cháu không phải mời...Mà hay thật ! Con bé này vui vẻ, ngoan ngoãn lắm ! Sao con cứ ăn hiếp nó mãi !

Nghe bố cháu nói mà bụng cháu cứ như mở cờ, ông còn cao hứng bảo khi nào nàng nấu cơm Nam kỳ cho gia đình cùng ăn. Cô nàng hí ha hí hửng nói liền:

- Dạ ! (lại dạ!), để bữa nào cháu nấu bún(g) mắm dzới thịt heo ba rọi cho bác ăn(g), bún(g) mắm thịt ba rọi Trà Dinh ngoong nhức miền Nam nghe bác !
- Sao ? cô muốn búng hả ? Lỗ tai tôi đây này, muốn búng bao nhiêu thì cứ búng đi !

Thế là cả nhà cháu được một trận cười nắc nẻ. Nào đã hết đâu, mẹ cháu chợt bảo:

- Cháu xuống bếp lấy cho bác mấy cái ”cùi dìa” với cái ”muôi” để trong ngăn kéo đấy !

Nàng ngớ ra cứ như được nghe tiếng...Tây, nhìn cháu cầu cứu. Cháu cười hì hì khoái tỉ, ra cái điều thông thái giải thích ngay:

- Cái ”cùi dìa” Nam kỳ kêu là cái ”muỗng”, tại Bắc kỳ sống lâu với bọn Tây, chúng nó gọi là ”la cuiller” thì Bắc kỳ gọi luôn là cái ”cùi dìa” cho tiện. Còn cái ”muôi” Nam kỳ kêu là cái ”vá”, chữ ”vê” thì đọc là ”dê” cho nên gọi là cái ”dzá”, phải không ?

Nàng đỏ mặt, bĩu môi ”Cái đồ dzô dziêng, tui đi dzìa à nghen !”

Sau bữa cơm hôm ấy, hình như bố cháu bắt đầu ”chuyển hệ”, có vẻ gần gũi thân mật với nàng hơn vì thấy nàng thật thà, có sao nói dzậy, không bãi bôi, không vòng vo tam quốc, nhất là...không lười như ông nghĩ. Thừa thắng xông lên, cháu thủ thỉ với mẹ cháu là cháu muốn lấy nàng làm vợ. Mẹ bàn với bố, bố vẫn ngần ngừ.

Tại bố cháu không biết đấy chứ, cháu đọc lóm từ một quển sách nào đó người ta viết rằng, trong lịch sử nước ta hầu hết các vua chúa miền Trung đều có nhiều bà vợ bé, mà hầu như bà nào là Chánh Cung Hoàng Hậu cũng đều là Nam kỳ: vua Minh Mạng có rất nhiều vợ, đa số là các bà Nam kỳ, Chánh Cung là bà Hồ Thị Hoa, người Biên Hòa; Chánh Cung của vua Thiệu Trị là bà Từ Dũ, người Gia Định; Vợ chánh của vua Bảo Đại là bà Nguyễn Hữu Thị Lan (tức Nam Phương Hoàng Hậu), là người Gò Công. Mấy ông vua cũng tinh đời đáo để ! Nhưng cháu ”không phải là vua, nên mộng ước thật bình thường ”, chỉ xin ”...quỳ lậy Chúa trên Trời, sao cho lấy được ...con nhỏ Cái Bè con thương !”

Thật là oái oăm: cá đã cắn câu mà bố cháu vẫn chưa cho giựt cần! Tuy thế, thỉnh thoảng bố cháu cũng dò hỏi về gia đình nàng. Thì cháu đã nói rồi mà, ”quê Cái Bè, nội Cái Răng, ngoại Cái Dồn”, ruộng đất mênh mông, sông nước dập dình, ăn nói ”ngắn gọn và dễ hiểu” chứ không ”dài dòng nhưng khó hiểu”... kiểu Bắc kỳ ! Chấm hết!

Ngày vui nhất đời cháu là ngày bố cháu ra lệnh sửa soạn ”lên đồ dzía” đến thăm gia đình nàng. Sao bố cháu không nói thẳng thừng ra là đi ”hỏi vợ”, đi ”chạm ngõ” cho xong. Nhưng mà cần gì phải ”chạm ngõ” với lại ”chạm cổng” cho rườm rà rắc rối, nhà của nàng cháu biết từng phòng, quen từng góc, rõ từng cột.

Mỗi lần cháu từ đơn vị ”dù” về đều có chút quà biếu ba má nàng, cho mấy đứa em nàng và cho cả cô Ba giúp việc trong nhà (học theo sách dụ khị của xếp cháu đấy !). Lần nào gặp ba nàng là lần đó có...nhậu. Đồ nhắm lúc nào cũng có sẵn, lúc củ kiệu tôm khô, khi ra sau hè ngắt mấy trái xoài tượng chấm mắm nêm ngào ớt, kẹt quá cột sợi ny-lông dzô ngón chân cái, đầu kia cặm mấy con trùng liệng xuống sông, cũng câu được mấy con cá lên nướng làm mồi. Nam kỳ trù phú mà ! Ổng không nhậu bia nhậu rượu, mà nhậu đế; không nhậu bằng cốc hay ly mà nhậu bằng tô, tô nào tô nấy bằng cái bát ăn cơm nhà cháu. Thế mà ổng lúc nào gặp cháu thì cứ nói rằng: ”Dô dzới tao dăm ba sợi nghe mày !” Chưa tới nửa sợi cháu đã guắch cần cẩu ! ”Lính tráng như mày chi mà yếu xìu sao oánh giặc nổi ? Dzô cái coi !” Ổng thương, ổng coi như con như cháu, ổng mới kêu cháu bằng ”mày”. Tiếng ”mày” của Nam kỳ biểu lộ cái chân tình, sự gần gũi thân thương, không như Bắc kỳ khi đã xổ ra tiếng ”mày” rồi thì ... ô hô ! ô hô ! thiện tai ! thiện tai ! chạy cho lẹ !

Một hôm đang nướng con mực khô nhậu lai rai với ổng, bỗng có khách gõ cửa bước vào, mặt ổng sáng lên như sao băng, vừa cười vừa nói:

- Chèng đéc ơi anh Sáu Lèo ! hôm qua tui chờ qua qua mút chỉ cà tha, hôm qua qua nói qua qua mà qua hổng qua, hôm nay qua nói qua hổng qua mà qua lại qua, nay qua rồi có thằng rể tương lai tới thăm, nhào dzô chơi vài xị, hôm nay có ớt nè qua !

Nói chi mà cứ qua đi qua lại, qua tới qua lui, nói cũng như thơ phú đấy chứ, thế mà mẹ cháu cứ nói tiếng Nam kỳ nghe sao như tiếng...nước ngoài !

Bắc kỳ vẫn có câu ”dâu là con, rể là khách”, nhưng Nam kỳ thì ”dâu là con, rể cũng là...con luôn”. Bố dzợ chịu chơi lại gặp thằng rể cũng chịu chơi luôn, dzô ba xị rồi thì coi như...bạn, chơi xả láng sáng dzề sớm, còn má dzợ bỗng nhiên thành... chơi chịu ! Nàng kể cho cháu nghe, nhiều lần ổng đi nhậu quá giờ giới nghiêm chưa chịu về, cả nhà trông đứng trông ngồi. Chợt nghe tiếng xe Vespa quen thuộc chạy ngang nhà, cứ thế nghe cái ”dzù” rồi lại chạy mất tiêu, lại nghe cái ”dzù” rồi đi tuốt luốt ! Sinh nghi, nàng chạy ra cổng đón đường chặn xe : ”Ba ui ! Ba ui ! Tới nhà rồi nè !”. Ổng chợt tỉnh, quẹo dzô thắng cái ”két”, xe đổ cái rầm, ổng té cái đụi, miệng lèng nhèng ” Ủa, nhà mình đây rồi sao? Dzậy mà tao chạy dzòng dzòng kiếm hoài hổng ra !”

Ngày cưới, cháu chọn nhà hàng Đại La Thiên của chú Ba tuốt bên Chợ Lớn cho có vẻ trung dung, không Nam cũng không Bắc mà là cơm Tàu. Không xài Karaoke nhưng chơi nhạc sống. Có ông chú dzợ tên là Ba Phoóng làm nhạc trưởng cho mấy bà xồn xồn Nam kỳ lên sân khấu ca cải lương hà rầm. Hình như 7 thứ nghệ thuật của nhân loại đối với Nam kỳ đều tóm gọn trong mấy câu dzọng cổ thiệt mùi.

Đám cưới cháu người ta chụp nhiều hình lắm. Ông bố vợ coi hình gục gặc cái đầu: ”Chèng đéch ơi ! thằng rể tao chụp hình coi phông độ dzữ hén ! Ráng nghe mày !” Cháu chẳng hiểu ổng nói cháu phải ráng cái gì ? Nhưng có một cái cháu phải ráng là cái chắc, ai biểu ham dzợ Nam kỳ...mũi cao chân dài !
Còn bố cháu xem ảnh thì lại phán một câu xanh rờn: ”Con dâu bố chụp với bố ảnh này đẹp quá, giá mà đứng cạnh bố con khoanh tay lại thì còn đẹp hơn biết bao !”. Ông xếp cháu, khơi khơi tự nhiên thành ông dượng, sẵn có dăm ba ly nhưng mắt vẫn láo liên ngó bà cô, rồi len lén kể lể làm oai: ”Thấy chưa mày! Hồi đó tao xách máy bay xuống Vĩnh Long rồi lạng qua Cái Bè, mới lạng chơi dzài ba dzòng là dzớt luôn bà cô mày, ngon chưa !” Cám ơn ”ông xếp dượng” đã có công ”nối giáo cho giặc” rồi rước luôn giặc vào nhà. Còn mấy thằng bạn Không Quân quỷ sứ thì xúm nhau ca bản ”Mùa thu chết ”... đã chết rồi, cho mày...chết luôn!

Ngày qua ngày, cháu không chết mà vẫn sống nhăn răng với bà vợ ”quý phái bình dân”, bây giờ đã có 4 con với 3 đứa cháu ngoại để nựng. Nam kỳ cũng chăm chỉ đấy chứ ! Thế là xong một đời phiêu bạt giang hồ, bay bướm, quậy phá ! Được cái vợ cháu cưng cháu lắm (Nam kỳ mà!), bao nhiêu công việc trong nhà từ lau nhà, rửa chén, hút bụi, trồng cây, giặt đồ...vợ cháu dành làm hết ráo.

Bả nói ”tay chân ông như thằng cùi, làm đâu hư đó, để tui làm luôn cho lẹ !”. Cháu đi làm mang tiền về, bả cũng không thèm động tới, bảo rằng ”tui hỏng cần anh nuôi tui !” Thế nhưng vợ cháu ghen khỏi nói, trong vườn trồng nhiều ớt hơn trồng hoa, ghen có đẳng có cấp, ghen có kế hoạch, có phương án đàng hoàng. Ghen thì ghen, lâu lâu cháu cũng theo bạn bè...nhảy dù vài sô, về nhà im thin thít, thế mà bả cũng ”nghe” được mùi, lườm lườm, nguýt nguýt, rồi cũng huề tiền.

Sau này cháu mới khám phá ra vợ cháu rất sòng phẳng, đâu ra đó, nếu ”ăn bánh trả tiền” là...cho qua cầu gió bay, không thèm chấp. Một hôm vô tình đọc báo thấy tin cô Quờn, người Sóc Trăng, ghen chồng lăng nhăng, lẳng lặng lựa lúc chồng đang say túy lúy, xách con dao bếp cắt luôn...của quý của chồng đem quăng sau vườn. Cô Quờn ra tòa ngồi chơi 4 năm tù. Trời đất Thiên địa ơi! Nam kỳ mà ghen kiểu này chắc cháu chết sớm, cháu dấu luôn tờ báo, ai dè vợ cháu chu môi oỏng ẻng : ”Cái đó còn đỡ à nghen ! gặp tui là tui cho luôn dzô cái máy xay thịt rồi quăng cho bầy gà ăn, chớ giờ người ta dzăng minh lắm, khâu nối lại mấy hồi !” Má ơi là má ! Cháu nghe mà ớn lạnh xương sống! Chơi kiểu này thì hơn xa các mợ Bắc kỳ rồi ! Nhưng cháu lại được phép kéo bạn bè về nhậu...xả láng, nhậu ”vô tư”. Xỉn quá thì : “Anh mệt rồi nghen, uống ly nước đá chanh nè, rồi dzô đây em cạo gió hết liền !”. Bạn bè ói mửa tùm lum thì : ”Hổng sao đâu, anh ngồi tiếp mấy ảnh đi, em dọn cho !” Mấy thằng bạn có vợ Bắc kỳ ngó phát thèm !

Chắc khí thiêng sông núi Bắc kỳ linh thiêng hùng vĩ , hay nói theo khoa học hiện đại là cái ”dzen” Bắc kỳ quá mạnh, nên vợ cháu nửa dưới vẫn còn là Nam kỳ, nhưng nửa trên đã hóa thành Bắc kỳ: không nói ”bự bành ky” mà nói ”to vật vã”; không gọi ”trái bom” mà gọi ”quả táo”; thích ăn canh rau muống hơn nấu canh chua; nhưng đặc biệt nhất là ăn nói không còn ”ngắn gọn và dễ hiểu” như xưa, mà bây giờ thì.. ôi thôi ! ”dài dòng, ào ào như thác đổ”, nghe riết muốn khùng !
Bố cháu ăn ”bún(g) mắm thịt ba rọi” của vợ cháu nấu, đến phát nghiền, nghiền luôn cả chén nước mắn pha đường. Nhà cháu có bốn anh em trai thì bố cháu có tới ba ả dâu Nam kỳ, nhưng cả đám hợp lại vẫn thua xa một mợ dâu Bắc kỳ, ăn nói ngọt như đường phèn, dịu dàng khoan thai như thiên nga, thêm cái tài...chửi như hát di truyền. Thế là cái mộng ”dâu rể phải là Bắc kỳ” của bố cháu bị nước sông Cửu Long vùng Nam bộ cuốn trôi tiêu tùng. Bố cháu bây giờ cũng rành ”sáu câu” về Nam kỳ lắm, ông bảo người ta nói rằng:

- ”Tính tình gái Nam kỳ giống như mưa Sài Gòn: đỏng đảnh nhưng mau quên; tính tình gái Bắc kỳ giống như mưa Hà Nội: âm ỉ và dai dẳng”.

Lợi dụng lúc ông đang vui vẻ, cháu bèn phụ họa :

- Bố biết không, người ta cũng bảo : ”Ở Sài Gòn nhiều em sinh viên giống như ca ve; Ở Hà Nội nhiều em ca ve giống như sinh viên”, đúng không bố ?

Bố cháu quắc mắt : ” Sao dám ăn nói lăng nhăng thế hả ?”.

Cháu chuồn nhanh kẻo ông nổi giận. Thôi thì đến nước này rồi, cúi xin các cụ cũng rộng lòng bỏ qua cho cháu nếu có gì gọi là thiên vị, bởi vì con gái Nam kỳ bây giờ đã là ”cây nhà lá vườn” của cháu, nên cháu đành phải ”ta về ta tắm ao ta”, ôm lấy cái ao Nam kỳ, ôm cứng cái cây sầu riêng Nam bộ cho phải đạo ”tình Bắc duyên Nam”, nếu không cháu phải ôm thùng mì gói suốt đời. Mong sao các cụ đọc xong rồi bỏ qua, cứ coi như một chuyện tầm phào, bởi vì cháu đã liều mình như mấy mợ Hà Nội làm con chim đa đa, không lấy vợ gần mà lấy vợ xa, xa tuốt luốt tận cái xứ Nam kỳ với giòng sông 9 cửa.

Nguyễn Hữu Huấn

Posted: Tue Jun 25, 2013 3:15 am
by lengoi
Tư Sang Ngang, Sang Nhượng
Tác giả : Vi Anh
Người dân Việt trong nước nhứt là dân Miền Nam thường dùng thứ, tên và thói quen đặc biệt để gọi một người. Thí dụ như “Tám Đồng Thời” vì người tên Tám này có cái tật hay dùng chữ đồng thời khi nói chuyện là liên tục chêm chữ này vào. Blogger Người Xe Ôm gọi Chủ Tích Nước là Tư Sang Nham Hiểm. Nhưng nếu xét về lâu về dài người Miền Nam có lý khi gọi Tư Sang là Tư Sang Ngang, Sang Nhượng. Điều này có thể thấy khi Tư Sang sang ngang, bỏ con đường của Phe Đối Mới của cán bộ đảng viên gốc Miền Nam bắc tiến cứu nguy kinh tế VN, bước qua theo phe thủ cựu gốc CS Bắc Việt. Và sang ngang khi Tư Sang nói ngược lại những lời tuyên bố trước đây cứng rắn đối với TC để lấy lòng dân, khác với bây giờ đang có thái độ cúc cung tận tuỵ thần phục TC trong chuyến đi Bắc Kinh diện kiến Thiên Triều, do Chủ Tịch Nước và Đảng TC Tập cận Bình triệu hồi qua Tàu nhận lịnh. Và cũng có thể thấy Tư Sang sang nhượng biển đảo VN cho quân Tàu Cộng qua thái độ, hành động ký, tên đề dấu đóng trên cả chục hiệp ước do Tập cận Bình đưa ra như sắc lịnh của thiên tử. Sau dây là sự kiện.

Một là sang ngang, rẽ bước với phe Đổi Mới kinh tế xuất phát từ Miền Nam. Người Việt thường có câu, ăn quen mà nhịn không quen. Còn người Tàu có câu nhứt bất tín, vạn bất tín. Tư Sang là một trong vài người CS từng đứng đầu thành uỷ và uỷ ban của Saigon Gia Định, hậu thân của Nam kỳ Cộng sản Đảng thời Ông Hồ chưa gom bị 3 đảng CS của ba kỳ (Bắc kỳ Cộng sản Đảng, Trung kỳ Cộng sản Đảng và Nam kỳ CS Đảng) thành Đảng CSVN.

Tư Sang người ở Đức Hoà xứ khóm Bến Lức nổi tiếng, lên học Saigon, theo sinh viên đấu tranh bị bể trốn ra bưng biền, theo CS đến khi ra thành, Saigon Gia định đổi tên thành phố Hồ chí Minh.

Tư Sang được Ông Võ văn Kiệt từng là bí thư thành uỷ Saigon Gia Định cất nhắc và kéo theo ra Bắc, vào Hà nội nắm đảng quyền với chức vu 5 Trưởng Ban Kinh tế rồi Trưởng Ban Bí Thư Trung Ương Đảng, trước Ba Dũng rất lâu. Nhưng khi thấy Ba Dũng dân Cà mau lên làm thủ tướng rất ngon ăn, khoái làm thủ tưởng muốn chết nên bẻ chỉa sang ngang chạy theo CS Bắc Việt, ăn công ký kết bè với Nguyễn Phú Trọng để cưa cẳng ghế của Ba Dũng. Nhưng Trọng và Sang thua nặng. Gần đây Tư Sang được Quốc Hội đảng cử dân bầu cho điểm tín nhiệm cao hơn Ba Dũng thủ tướng, trước khi được Tập cận Bình triệu dụng sang Bắc Kinh.

Hai là sang ngang từ lập trường cứng rắn với TC sang thần phục TC trong chuyến triều kiến Thiên Triều. Trong vai trò chủ tịch nước để lấy lòng dân, Sang có những lời lẽ cứng rắn với TC trong vấn đề Biển Đông bị TC liếm mất 80% với đường lưỡi bò và hai đảo Hoàng sa và Trường sa của VN,.

Sau khi Thủ Tướng Dũng được đánh giá cao khi có lời lẽ cứng rắn đối với TC tại hội nghị quốc tế Sangri-la, và sau khi Chủ Tịch Tâp cận Bình có cuộc họp thượng đĩnh với TT Obama ở Sunnyland thuộc Nam California, nơi có cộng đồng người Việt tỵ nạn đông nhứt nước Mỹ, thì có lịnh của Thiên Triều triệu Sang sang gặp Tập cận Bình, Chủ Tich Đảng Nhà Nước của TC.

Ba là sang nhượng biển đảo của VN cho TC. Tin thông tấn Xã AFP của Pháp trích dẩn nguồn tin của thông tấn xã của TC là Tân Hoa Xã, cho biết ngày 19/06/2013, Chủ Tịch Nước VNCS là Trương tấn Sang đã thỏa thuận với Tập cận Bình (1) giải quyết mọi tranh chấp về lãnh thổ giữa hai nước phải được thông qua đàm phán song phương, không áp dụng bất cứ hành động nào có thể làm phức tạp hóa và mở rộng tranh chấp, đề phòng quốc tế hóa vấn đề Nam Hải (Biển Đông); (2) lập đường dây điện thoại nóng giữa Bắc Kinh và Hà nội về hoạt động ngư nghiệp, mỗi bên có thể thông báo cho bên kia trong vòng 48 tiếng đồng hồ các vấn đề liên quan đến ngư dân và tàu cá; (3) Hai bên ký nhiều văn bản hợp tác trong lĩnh vực quốc phòng, kinh tế, chính sách ngoại giao.

Những thoả hiệp mà Tư Sang thò tay mặt đặt tay trái chấp bút là những văn kiện làm cho biển đảo của VN, thế đứng của VN từ chết tới bị thương, lom khom trước TC.

Giải quyết biển đảo song phương tay đôi với TC là thiệt hại và thiệt thòi vì lý kẻ mạnh của con sói bao giờ cũng thắng lý của con trừu con mà La Fontaine nhà thơ ngụ ngôn Pháp đã sáng tác mô tả thành bài thơ ngụ ngôn.

Giải quyết biển đảo song phương tay đôi với TC là bó tay VN, biến VN thành một nước tận cùng cô đơn trước làn sóng bành trướng của TC quậy đục nước trên biển Á châu Thái Bình Dương. Các nước khác Mỹ, Nhựt kề cả ASEAN có muốn giúp VN cũng không làm được vì VN phủ nhận sự can thiệp của các nước qua hiệp ước song phương giữa Hà nội và Bắc Kinh.

Giải quyết biển đảo song phương với TC là thừa nhận, hợp thức hoá hành động cướp cạn của TC đối với biển đảo của VN. Cũng như nhà bị cướp. chủ nhà đồng ý bàn bạc chia phần, sống chung với kẻ cướp. Đó rõ ràng là sang nhượng cho kẻ cướp mà không được tiền bạc gì, hoàn toàn mất trắng.

Tư Sang giải quyết song phương biển đảo của VN cho TC qua tay Tập cận Bình là tạo hố sâu chia rẽ nội bộ Đảng giữa phe thủ cựu thân Tàu thêm sâu sắc với phe Đổi Mới thiên theo Mỹ.

Và hố sâu ngăn cách chia rẽ thêm trầm trọng giữa đảng quyền do Trọng Sang cầm đầu và nhà nước do Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng nắm. Đó là mưu sâu kế độc, vòng vo tam quốc của Tập cận Bình của TC./.(Vi Anh)

Posted: Fri Jun 28, 2013 7:01 am
by KýCóp
Image

Phải biết hổ thẹn vì... Tư Sâu

Nguyễn Bá Chổi
(Danlambao) - Ai cũng biết Tư Sâu đây là Tư Sang, bắt tình tang là đương kim Chủ tịch nước CHXHCNCC do đảng CSCC (đảng CS Chấm Chấm) lãnh đạo. Tư Sâu nói một đàng và làm một nẻo, khiến người ta phải xấu hổ vì... Tư Sâu.

Tư Sâu trong vai trò “làm cha mẹ thiên hạ” (chi dân phụ mẫu), người vừa được Cuốc Hội “bỏ phiếu tín nhiệm cao” hơn đồng chí Ba Ếch, từng dạy “phải biết hổ thẹn với tiền nhân, với những bậc tiên liệt về những yếu kém, khuyết điểm của mình đã cản trở bước đi lên của dân tộc”.

“Phải biết hổ thẹn với tiền nhân, với những bậc tiên liệt về những yếu kém, khuyết điểm của mình đã cản trở bước đi lên của dân tộc”. Tư Sâu phán “phải biết...” mới cách đây chưa đầy mươi tháng (2/9/2012), nhưng “thần dân” của Tư Sâu đã “biết hổ thẹn...” từ khuya lắm rồi, tức là từ ngày khám phá ra bồ đoàn đảng nhà Sâu toàn nói một đàng làm một nẻo - nói chính xác hơn, làm ngược lại với nói (“cán bộ là đầy tớ nhân dân”; “vô sản chuyên chính”; “tự do báo chí; tự do ngôn luận: tự do tụ họp; tự do bày tỏ chính kiến; tự do tôn giáo; tự do đủ thứ gấp vạn lần tư bản giãy chết”.)

Dầu sao cũng “phải biết” cám ơn anh Tư (Sâu) đã nhắc nhở cho bà con phấn đấu khắc phục những “yếu kém, khuyết điểm của mình”, để trong tương lai khỏi còn “hổ thẹn với tiền nhân, với những bậc tiên liệt..,”

Nhưng, chú Tư Sâu ơi, làm sao mà “bước đi lên của dân tộc” cất được, khi hai cái chân “chết đứng như Từ Hải”, cái đầu thì gục xuống tựa muông chim, cái lưng thì cong khòm, như ngài chủ tịch nước CHXHCNCC khi đứng trước cờ đỏ năm sao vàng, một bên người đồng chức “vừa là đồng chí vừa là anh em” như thế này:
Image
Những ai còn là người Việt Nam lại không phải hổ thẹn vì... Tư Sâu

Posted: Wed Jul 03, 2013 4:16 am
by thienthanh
Snowden, Tội Lỗi
Vi Anh


Những điều Snowden đã làm là những điều sai về lương tâm, trái với pháp luật, có lỗi với đất nước và nhân dân đã nuôi dưỡng anh – là những tội lỗi không thể nhân danh bất cứ cái gì để biện minh được.
Một nhân viên dầu làm cho công ty tư cung ứng dịch vụ phục vụ cho an ninh, quốc phòng của đất nước mình, cũng phải theo những qui điều của nghề nghiệp, của khế ước, của luật pháp của chánh quyền. Đó là nội qui của việc làm, là lương tâm chức nghiệp, người làm đã minh thị và mặc thị chấp nhận khi xin và được nhận vào làm. Làm ngược lại là sai trái phải bị chế tài về đức nghiệp và trừng phạt về luật pháp.

Nếu Sowden không chấp nhận những qui điều bảo mật, qui tắc hành nghề này thì đừng làm, xin nghỉ việc, không ai có thể bó buộc được.

Đằng này Snowden chấp nhận làm việc với số lương trên 200.000 Đô la mỗi năm, bằng nửa lương cả năm của tổng thống Mỹ. Đó là chưa nói công ơn của đất nước và nhân dân Mỹ này đã cung ứng cho anh giáo dục phổ thông, chuyên môn, đào tạo anh thành một chuyên viên với mức sống trên trung lưu ở Mỹ.

Thế mà không trả ơn đất nước và nhân dân, Snowden lại nỡ đành phản bội Tổ Quốc là đất nước, nhân dân, chánh quyền Mỹ. Anh đành đoạn lợi dụng công việc của mình, thâm nhập vào hệ thống, sao chép tài liệu bí mật quốc phòng, tình báo, ăn cắp nhu liệu rồi tố cáo chánh quyền Mỹ. Đó quả làm hành động phản bội Tổ Quốc và gián điệp cho đối phương từ hình thức đến nội dung, vi phạm rõ rệt Đạo Luật Tình Báo của Hoa Kỳ.

Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ đã tiến hành thủ tục truy tố trước toà. Bộ Ngoại Giao và chánh quyền Mỹ nói chung đang tiến hành thủ tục truy tầm, truy nã đưa anh về Mỹ ra trước ánh sáng công lý.

Anh là một người Mỹ phản bội, làm gián điệp từ hình thức đến nội dung. Đây là một vụ án từ Quốc Hội đến Hành Pháp, từ Đảng Cộng Hoà đến Dân Chủ dĩ chí truyền thông đại chúng Mỹ đều lên án.

Những người giúp anh như Wikileaks, những nước anh lựa chọn để lánh nạn, Trung Cộng, Cuba, Ecuador là những nước có chế độ chánh trị đi ngược lại với tuyên bố của anh, rằng anh hành động vì sự minh bạch, tự do báo chí và quyền riêng tư.

Snowden tạo cơ hội cho TC và Nga khai thác tình báo chiến lược của Mỹ. Không phải không có lý do khi Snowden đi Hồng Kông để đào tỵ. Hồng Kông với TC tuy một quốc gia hai chế độ, tuy Hồng Kông có hiệp ước dẩn độ với Mỹ nhưng TC nắm quyền tối thượng phủ quyết đối với Hồng Kông. Nhưng ngày Snowden đến Hồng Kông ẩn mặt, ai bảo đảm tình báo TC không khai thác tình báo chiến lược của Mỹ từ Snowden.

Nhưng TC ăn cháo rồi đá bát, không chứa Snowden, TC vuốt mặt Mỹ cũng phải nể mũi Mỹ. TC chỉ cần lợi dụng vụ Snowden tố ngược Mỹ là “đại côn đồ” tin tặc, một mạ lỵ nặng nề nhứt của TC đối với Mỹ từ trước đến giờ. TC có cớ để hoá giải lời trách móc của TT Obama nói với Chủ Tich Nước Tập cận Bình, rằng tin tặc TC liên tiếp tấn công Mỹ.

Snowden cũng tạo điều kiện cho TT Putin của Nga cơ hội bằng vàng để tình báo Nga khai thác Snowden ở khu quá cảnh của phi trường Moscow. Không phải không lý do để Nga “ém” Snowden hai ba ngày sau mới cho biết Snowden còn ở phi trường Nga, chưa đi đâu cả.

Nhiều nhà phân tích cho rằng TT Putin nhận đồ của TC vứt đi, nhưng “cải tạo” lại để TT Putin có thể biến thành điều kiện hoà dịu với Mỹ. Tuy Nga Mỹ không có hiệp ước dẩn độ, nhưng hai nước đã từng trao đổi tội phạm, giúp nhau trong việc chia xẻ tin tức và giúp nhau điều tra về khủng bố như vụ Boston.

Nga không cần trục xuất Snowden về Mỹ mà chỉ cần báo tin Snowden đi chuyến bay nào, qua vùng trời của Mỹ xuống Nam Mỹ, sân sau của Mỹ thì Mỹ có nhiều cách bắt tội phạm, hộ chiếu Mỹ không còn hiệu lực và đang truy nã.

Nhơn danh cái gì mà Snowden cố ý gây tai tiếng cho chánh quyền Mỹ, cho Cục Tình Báo Quốc Gia Mỹ, tố cáo Mỹ gọi là kiểm soát điện đàm, điện thư xâm phạm quyền tự do cá nhân và quyền riêng tư của người Mỹ. Đến Hồng Kông y còn tố cáo Mỹ tin tặc Trung Cộng để TC phản công lời cáo buộc của TT Obama khi hai người gặp nhau ở Cali.

Chánh quyền Mỹ không giấu diếm, nói không bao giờ chánh quyền làm điều ấy với công dân Mỹ, mà chỉ làm điều ấy đối với những người ngoại quốc có dính líu với quân khủng bố; nhờ thế mà ngành an ninh đã phá vỡ nhiều âm mưu khủng bố trong trứng nước, từ sau cuộc khủng bố 911 tới giờ Mỹ bốn phương phẳng lặng hai kinh vững vàng. Và chánh quyền Mỹ làm điều ấy có căn bản pháp lý, luật Patriot được Quốc Hội thông qua sau cuộc khủng bố 911.

Thủ tục tố tụng của của chánh quyền Mỹ đối với Snowden hoàn toàn dựa vào luật pháp và tập tục ngoại giao. Bộ Tư Pháp truy tố Snowden hoạt động gián điệp và đánh cắp tài sản của chính phủ - cụ thể là Snowden đã cung cấp trái phép thông tin quốc phòng, và cố ý cung cấp các thông tin tình báo mật.. Tòa án liên bang ở Alexandria, tiểu bang Virginia, đã thụ lý.

Mỹ là nước tự do, dân chủ, pháp quyền. Snowden có thể đồng ý hay không đồng ý lập trường của tổng thống này hay tổng thống kia của Mỹ, nhưng nghĩa vụ bảo quốc an dân là nghĩa vụ chung của đất nước và nhân dân Mỹ. Snowden có thể phản chiến hay không phản chiến, thiên tả hay thiên hữu nhưng lực lượng quân đội, an ninh ngày đêm chiến đấu âm thầm, sanh tử với kẻ thù của Mỹ để người Mỹ ở trong nước được an cư lạc nghiệp, thì không có lý do gì để anh chống những người xả thân ra bảo quốc an dân do lịnh của chánh quyền dân cử hợp hiến, hợp pháp.

Cá nhân Snowden, một bộ óc của Snowden không thể, không bao giờ có thể hiểu biết, khôn ngoan hơn chánh quyền Mỹ nói chung do dân bầu ra được uỷ nhiệm làm nghĩa vụ bảo quốc an dân.

Là một người vào được hệ thông tình báo quốc gia mật trên mạng, chắc chắn Snowden phải biết ngành quân sự và an ninh không thể làm tròn nghĩa vụ bảo quốc an dân nếu không có tai mắt, không có tin báo. Tình báo hiện đại bây giờ ít dựa vào những điệp viên như James Bond dã tưởng nữa mà dựa vào khối lượng tin báo thu thập qua nhiều cách trong đó qua các phương tiện tin học, như Internet, phone, emails, v.v... với hàng tỷ tỷ thông tin để từ đó giải mật, sàng lọc, đánh giá. Nếu không tin báo thí bó tay.

Vã lại khi làm việc này, chánh quyền Mỹ nói chung, ngành tình báo Mỹ nói riêng có căn bản pháp luật, là đạo luật Patriot chớ không phải làm vô luật.

Snowden có thể bất đồng ý kiến với đường lối ngoại giao của chánh quyền Dân Chủ hay Cộng Hoà, nhưng không có quyền tạo xì căn đan tai hại nghiêm trọng cho đất nước, nhân dân và chánh quyền Mỹ. Đó là phản quốc.

Luật nhân quả chỉ rõ, Thiện ác đáo đầu chung hữu báo, Cao phi viễn tẫu giả nan tàng. Sớm muộn gì Snowden cũng phải ra trước ánh sáng công lý của Mỹ. Và cuộc đời còn lại của Snowden sẽ dành dể nhổ từng sợi tóc suy tư về tội lỗi phản quốc, làm gián điệp, gây thiệt hại cho đất nước và nhân dân đã nuôi dưỡng mình trưởng thành./.

Posted: Thu Jul 18, 2013 5:13 am
by khieulong
Lời ai điếu cho một bài thơ dở

Nguyễn Thị Thảo An
Xin nói ngay tôi không có ý định chê bai hay châm biếm ai. Bài thơ và người làm thơ đó đã mất tích từ lâu lắm. Bây giờ, chính tôi cũng không còn nhớ nữa.

Tôi vốn mê thơ từ hồi nhỏ.
Bắt đầu là mê những lời mẹ ru, rồi lớn lên, ê a những bài vỡ lòng lớp Một.

“Quả cau nho nhỏ
Cái vỏ vân vân
Nay anh học gần
Mai anh học xa
Tiền bạc là của mẹ cha
Cái nghiên, cái bút mới là của anh.”


Tôi lẩm nhẩm đọc theo đến thuộc làu, nhưng lúc đó không khỏi thắc mắc, cái “Quả cau nho nhỏ. Cái vỏ vân vân” thì có mắc mớ chi tới “Cái nghiên, cái bút”?

Hồi nhỏ, trí óc thô thiển, không hiểu được cái thâm thúy của bài thơ. Không hiểu, nhưng vì mê thơ, mê chữ, tôi cứ đọc bừa, bất kể thượng vàng hạ cám, thơ hay thơ dở.

Đọc hết những bài thơ trong sách giáo khoa, tôi quay ra mê đọc những truyện thơ.

Thời đó, các cơ sở kinh doanh tư nhân sản xuất các loại tập giấy học trò 50,100 trang, bìa trước in hình ba cô gái Bắc Trung Nam, bìa sau in nhiều truyện tranh thơ. Từ những truyện cổ tích lịch sử, truyện dân gian như Truyện Trầu Cau, Sự Tích Quả Dưa Hấu, truyện Bánh Dày Bánh Chưng, Sơn Tinh Thủy Tinh,... cho tới những truyện hoang đường, ma quái như truyện Mục Kiền Liên, truyện Thanh xà Bạch xà. Mỗi truyện dài ngắn đều được tác giả tóm gọn trong 16 câu thơ và 8 ô tranh minh họa.

“-Bạch Xà cùng với Thanh Xà
Hai con tinh rắn tu đã lâu năm
-Hóa thành cô gái đẹp xinh
Gặp nhau ở một tòa đình cổ xưa
-Hớn Văn lại bị rắn lừa
Mắc oan trộm bạc bị vô huyện đường
-Mồng Năm thấy rắn giữa giường
Hớn Văn kinh khiếp ngất luôn bên màn
-Gặp sư Pháp Hải tỏ tường
Hớn Văn mới biết hai con rắn tà
-Rồng vàng còn bị sư thâu
Hai con rắn bị giam vào tháp kia...”


“Chuyện nhảm.”
“Thơ dở như quỷ.”

Lần nào cũng vậy, chưa đợi tôi đọc hết bài, thể nào mẹ cũng phán những câu đại loại.

Ờ, mà dở thật, ngay cả một đứa con nít như tôi cũng nhận ra điều này. Nó dở, vì những câu thơ thế này thì lúc đó tôi cũng có thể... viết được.

Lật đi lật lại, bìa trước bìa sau cũng không thấy đề tên tác giả.

Thật kỳ lạ! Ai làm thơ mà không ký tên thế này?

Một vài năm sau, khi chuyển qua trường công lập, thầy cô cấm không được dùng những loại tập có in truyện ở bìa sau. Lý do: trẻ con không được đọc những truyện nhảm. Lệnh cấm đã muộn. Con nít trong xóm, đứa nào cũng thuộc.

Mãi về sau, hình ảnh hai con rắn xoắn khúc vẫn ngáng trong lòng tôi nhiều mối hoài nghi. Không lẽ người ta không làm được cho con nít một bài thơ khá hơn, không tìm một câu truyện nào hay hơn? Bài thơ dở đi theo tôi qua những chặng đường dài. Thỉnh thoảng tôi cứ nghĩ vể nó như một lẽ bất toàn, như một vệt lem quẹt ngang trên tờ giấy trắng.

So sánh với thơ Con Cóc, bài Con Cóc vẫn hay hơn. Hay ở chỗ thơ Con Cóc mang được tính đặc trưng cho một bài thơ dở nhất.
Dở nhưng không nhảm.

“Con cóc trong hang
Con cóc nhảy ra
Con cóc nhảy ra
Con cóc ngồi đó
Con cóc ngồi đó
Con cóc nhảy đi.”


Chuyện cóc ngồi, cóc nhảy là chuyện bình thường, không đáng nói. Nhưng Thanh xà Bạch xà thì khác, đó là một câu chuyện nhảm. Mặc dù nó là một trong tứ truyện truyền thuyết dân gian phổ biến nhất của Trung Quốc. Không một người Tàu nào không biết truyện này.Thanh xà, Bạch xà là hai con rắn tu luyện ngàn năm nên có phép thuật biến hóa thành người. Một hôm, tình cờ gặp Hớn Văn trong một ngôi miếu cổ, Bạch xà đem lòng yêu thương. Rồi họ kết duyên và chung sống. Vì mưu sinh, Bạch xà đành phải trộm bạc cho chồng. Hớn Văn vô tình tiêu bạc trộm nên bị kiện ra công đường. Có lần nhân tiệc Tân Xuân, Bạch xà Thanh xà quá chén, bị hiện nguyên hình là hai con rắn lớn. Hớn Văn quá đỗi kinh sợ, nhờ sư Pháp Hải bắt nhốt rắn vào tháp Lôi Phong. Sau mười năm kinh kệ sám hối, cuối cùng Hớn Văn và Bạch xà mới được tái hợp, đoàn viên.

Hồi nhỏ, coi truyện này, đầu óc trẻ con không khỏi thắc mắc. Đây là một câu truyện tình giữa rắn và người. Mà điều kinh ngạc là người yêu rắn nhiều hơn rắn yêu người. Hớn Văn, sau khi thấy vợ bị nhốt, đã thành tâm sám hối, kinh kệ mười năm để được tái hợp với người yêu. Trong truyện tình, người là nạn nhân, là kẻ bị rắn lừa, thế mà người phải ăn năn sám hối, đọc kinh liên tục để chuộc tội cho rắn suốt mười năm?
Rắn yêu người hay người yêu rắn, có phải là một thứ tội lỗi? Và thứ tội lỗi này có thể được giảm khinh nếu chịu khó đọc kinh kệ nhiều lần? Kiểu hình phạt này làm lũ con nít liên tưởng đến mấy vụ chép phạt trong lớp. Có trời mới biết chép bao nhiêu lần thì đủ để trời cao thấy được lòng thành sám hối?

Sau này, đọc thêm nhiều truyện Tàu, tôi không còn ngạc nhiên như trước. Thường, những nhân vật anh hùng dân tộc của họ như Nhạc Phi, Tiết Đinh Quý, Tiết Đinh San, Phàn Lê Huê... trong dã sử đều có tướng tinh xuất thân từ những “động vật hoang dã” như ngựa, chim, hổ, báo. Một sử gia Anh nhận xét, người Tàu viết lịch sử giống như người ta viết cổ tích.

Rồi thời gian trôi như mây. Bọn trẻ con lớn lên. Bài thơ dở chìm dần vào quên lãng.

Tôi vốn mê thơ từ hồi nhỏ. Thế mà giờ lại khổ vì... thơ. Đúng ra là khổ vì những người làm thơ, nhất là những nhà thơ quen quen, những tác giả người nhà. Bà chị họ mới về hưu năm ngoái, năm nay đã trình làng một tập thơ. Anh bạn thời trung học xa xưa cũng vừa khoe mới được bầu vào chức chủ tịch Hội Thơ Phường. Nghe nói gần đây, thơ đã được “triển khai” xuống từng cấp quận huyện, phường xã. Giải thơ cho người khuyết tật, giải cho trẻ mồ côi...

Thơ làm tôi... chóng mặt.

Chưa hết.

Nơi tôi ở, thành phố của Cuốn Theo Chiều Gió[1]. Hình ảnh của Margaret Mitchel như ẩn hiện trong từng chiếc lá vàng rơi. Người Việt ở đây yêu thơ hơn người Việt ở nơi khác. Người Việt ở đây làm thơ nhiều hơn người Việt ở những nơi khác. Ừ, thì cũng tốt. Làm thơ hay hơn làm thinh. Khi làm thơ, tâm người ta hướng thiện.

Gặp thơ hay, tôi mừng như bắt được vàng. Cả tháng trong đầu lảng vảng những câu thơ không rứt được. Bước đi như hẫng trong mây. Mừng không tả được. Nhưng gặp thơ dở thì sao? Tự nhiên, miệng mồm tôi bị... nghẹn. Nói dối thì mất chính mình. Nói thật thì mất bạn.

Vì một bài thơ, tôi có nên mất bạn?

Khen một bài thơ dở khó như người ta tập luyện võ công, một tay vẽ hình tròn, một tay vẽ hình vuông[2]. Đạt được mức ấy họa chăng chỉ có hàng cao thủ. Tôi không phải là cao thủ.Tôi cũng không thể khi “Tim nghĩ một đàng, lưỡi nói một nẻo.”[3] Tôi lừa tôi, tội một. Tôi lừa độc giả, tội nhân trăm, nhân ngàn. Khen một bài thơ dở khó như đi chứng nhận một cục đá là vàng. Là biến bạn thành kẻ xài vàng giả, là đẩy bạn sống trong thế giới lơ mơ, ảo tưởng.

Có nên không?

Thế nào là một bài thơ hay? Sẽ khó mà định nghĩa đây.
Nhưng một bài thơ dở thì ai cũng thấy. Vậy vì cớ gì tác giả lại không ký tên?
Tôi chợt nhớ ra bài Thanh xà Bạch xà thuở nhỏ. Cái hay của nó chính là chỗ tác giả không ký tên. Viết một lời bạt, nhận xét một bài thơ, giới thiệu một cuốn sách sẽ không có giá trị nếu không nói lên sự thật.

Nói thật về một bài thơ thôi còn khó như vậy thì người Việt chúng ta sao dám phê bình những chuyện to tát hơn. Một chính sách, một đường lối hay một chiến lược sai lầm của Đảng. Chúng ta đã không dám nói thật với một người bạn thì làm sao dám phê bình, chỉ trích thẳng thừng với các cán bộ cao cấp, những lãnh đạo quốc gia?

Gần một thế kỷ trôi qua chúng ta sống trong lừa dối.

Cả một dân tộc “giả vờ như không giả vờ gì cả”.[4]


Người Việt chúng ta phải nên học cách nói thật.

Bắt đầu từ một bài thơ.

July, 12, 2013
Ntta

Chú thích:

1/Thành phố Atlanta, tiểu bang Georgia, Hoa Kỳ.
2/Một tay vẽ hình tròn, một tay vẽ hình vuông là cách tập sơ đẳng khi mới bắt đầu tập môn võ công Song Thủ Hổ Bác. Môn võ này do một nhân vật tên Châu Bá Thông sáng chế bằng cách phân thân, dùng tay phải đánh tay trái để giải khuây trong tác phẩm nổi tiếng Anh Hùng Xạ Điêu của Kim Dung.
3/ Đây là ý tưởng của nhà thơ Václav Havel cha đẻ của phong trào Cách mạng Nhung của Tiệp Khắc. Nguyên văn “Khi trái tim nghĩ thì lưỡi nói.” Trích trong cuốn tiều luận “Quyền Lực Từ Không Quyền Lực”. Nhà thơ Václav Havel kêu gọi phong trào người Tiệp đối diện với Sự Thật, nói lên những suy nghĩ Thật, từ bỏ những khẩu hiệu dối trá, hệ thống dối trá của CNCS trên nước Tiệp. Năm 1989, Cách Mạng Nhung đã lật đổ được chế độ Cộng sản mà không tốn một giọt máu.
4/Đây là câu trích trong chương 4, của tiểu luận nói trên.

Posted: Fri Jul 19, 2013 2:55 am
by tramthaiha
RỒI HẾT CHIẾN TRANH
Tuỏng Năng Tiến

"Khi đất nuớc tôi không còn chiến tranh, trẻ thơ đi hát đồng dao ngoài đuờng."
T.C. S


Hơn bốn mươi năm trước, khi cuộc chiến ở Việt Nam còn đang ở giai đoạn khốc liệt, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mường tượng ra một viễn ảnh thanh bình làm say đắm lòng nguời: "Khi đất nuớc tôi không còn chiến tranh, trẻ thơ đi hát đồng dao ngoài đuờng."
Sau cuộc chiến, quả nhiên, trẻ con có la cà và tụm năm tụm ba hơi nhiều trên đường phố. Chỉ có điều là tuyệt nhiên không nghe một đứa nào hát đồng dao; đã thế, phần lớn tụi nhỏ đều tham dự tích cực vào nhiều sinh hoạt không thích hợp cho lắm với tuổi thơ: bới rác, móc túi, ăn mày, bán cần sa, và nài nỉ mời khách mua... dâm – với một thứ ngôn ngữ sỗ sàng và sống sượng đến độ có thể làm đỏ mặt một người da đen hay da đỏ: “Chú ơi, chú chơi cháu đi…” (Hoàng Hữu Quýnh– Tôi Bỏ Đảng, Tập I: Bản Cáo Trạng Chế Độ Hà Nội, trang 140, 1989, trích từ Phản Tỉnh Phản Kháng Thực Hay Hư của Minh Võ, Thông Vũ xuất bản năm 1999).

Đó là những chuyện chỉ có tính cách “hiện tượng,’’ xẩy ra mấy thập niên về trước, khi hòa bình mới đuợc vãn hồi, và xã hội còn nhiều tệ đoan do tàn tích của chiến tranh và xã hội cũ để lại. Với thời gian, bản chất của chế độ cộng sản Việt Nam mỗi lúc được nhận biết rõ ràng hơn.

Từ Hà Nội, ký giả Huw Watkin tường thuật rằng “cứ năm đứa bé đang lê trên vỉa hè của ba mươi sáu phố phuờng là có một đứa... ăn xin. Bốn đứa còn lại, xem chừng, cũng bận: đánh giầy, năn nỉ người đi đường mua vé số, dắt mối, bán ma túy...”(“VIETNAM: CHILDREN SOLD INTO BEGGING, PIMPING AND DRUG DEALING”).

Cũng vẫn theo y như lời Huw Watkin thì lực lượng trẻ con đi ăn mày, làm ma cô và bán ma túy... ở Việt Nam đang dần được đưa vào tổ chức (“... recent media reports that children are being increasingly used by organized begging gangs, pimps and drug dealers”).
Chuyện này thì thằng chả nói hơi... thừa! Ở một xứ sở mà nhà nước bao biện mọi chuyện, và lãnh đạo khắp nơi – kể cả chùa chiền, giáo đuờng hay thánh thất... – làm sao để cho trẻ em (những mầm non tương lai của tổ quốc) sống vô tổ chức được, cha nội?
Trong tương lai gần, lũ trẻ thơ bụi đời ở Việt Nam (dám) sẽ được đoàn ngũ hoá – và cho thắt khăn quàng có màu sắc khác nhau – để dễ điều phối. Đại loại như, khăn quàng xanh: đánh giầy; khăn quàng tím: dắt mối; khăn quàng trắng: ma túy; khăn quàng hồng: mãi dâm; khăn quàng nâu: ăn mày; khăn quàng đỏ: thu thuế và theo dõi hoạt động, cũng như tư tưởng, của những loại khăn quàng khác!
Chiến tranh Việt Nam kết thúc cũng chấm dứt luôn sự chia cách giữa hai miền Nam - Bắc. Viễn tuợng thống nhất (cũng) đã đuợc hình dung bởi nhạc sĩ Trịnh Công Sơn truớc đó, và cũng là một hình ảnh khiến cho không ít kẻ phải ước mơ: “Một đoàn tầu đi tỏa khói trắng hai bên đường...’’

Một lần nữa nhạc sĩ Trịnh Công Sơn lại đúng, dù vẫn chưa đúng hết. Sau cuộc chiến, quả nhiên là có đoàn tầu Thống Nhất xuôi ngược Bắc - Nam. Điều đáng tiếc là hành khách lại luôn luôn ở tâm trạng bất an. Kẻ lo bị móc túi, nếu có tí tiền. Người lo bị công an xét hỏi và tịch thu hàng hoá, nếu là dân buôn lậu. Và tất cả đều lo sợ bị ném đá vỡ đầu. Những hòn đá xanh, to bằng nắm tay, được trẻ con dọc hai bên đuờng – đợi xe lửa đi qua – thi nhau ném vun vút vào cửa sổ!

Do vậy, tầu Thống Nhất đuợc “cải tiến” bằng cách rào kín mọi khung cửa bởi dây kẽm theo hình mắt cáo. Từ đó, nó trông y như những toa xe dùng để chở tù. Những đoàn tầu như thế mà đi phom phom, hớn hở hú còi, và hân hoan thơ thới, sung sướng ’’toả khói trắng hai bên đuờng’’ thì trông (e) hơi mỉa mai và (có phần) lố bịch!
Trịnh Công Sơn chỉ gần hoàn toàn đúng khi mô tả thảm cảnh sau đây: “Khi đất nuớc tôi không còn chiến tranh, mẹ già lên núi tìm xuơng con mình...’’ Nói là “chỉ gần hoàn toàn đúng” vì cuộc chiến đã tàn từ lâu. Thế hệ của những “mẹ già lên núi tìm xuơng’’ đã qua nhưng chuyện đào bới hài cốt vẫn được tiếp tục bởi anh chị em, hay bạn đồng đội của những người đã khuất – theo như tuờng thuật của Rajiv Chandrasekaran, trên The Washington Post:’’Vietnamese Families Seek Their MIAs.”

Bài báo mở đầu bằng một câu chuyện thương tâm. Ông Nguyễn Dinh Duy tử trận ngày 29 tháng 3 năm 1975. Suốt mấy muơi năm qua, chị của ông ta (Bà Thắm) vẫn không ngừng đi tìm kiếm xác em trong... vô vọng. Ông Duy chỉ là một trong 300.000 lính Bắc Việt chết trận mất xác – và kể như là mất luôn (Duy is one of about 300,000 North Vietnamese soldiers killed in the war whose remains have not been located - and likely never will be).

Tiếp theo là một câu chuyện cảm động về tình đồng đội: “Mỗi tuần một lần, ông Ban thức dậy lúc 5 giờ sáng, leo lên chiếc xe gắn máy màu xanh lá cây đã cũ, đi đến những nơi mà ông còn nhớ khi còn là một y tá trong quân đội. Trí nhớ của ông quả tốt; mười năm qua, ông tuyên bố, đã đào được 2.000 xác chết và đã nhận diện được một nửa trong số này...’’ Vẫn theo lời ông Ban: “Là kẻ sống sót, tôi tự thấy mình phải có bổn phận với những nguời đã chết (Being still alive, I feel responsible for the dead people).

Quan niệm sống của ông Ban, tiếc thay, không được chia sẻ bởi những người hiện đang nắm quyền bính ở Việt Nam – dù họ đều là những kẻ sống sót sau cuộc chiến vừa rồi. Khi bị chất vấn về thái độ vô trách nhiệm này, giới chức có thẩm quyền của Hà Nội, ông tướng Trần Bạch Đằng nào đó đã giải thích với phóng viên Rajiv Chandrasekaran như sau: ’’...tìm kiếm những binh sĩ quá tốn kém mà tiền thì phải dùng vào việc chăm lo cho cho những kẻ còn sống sót.’’ (Dang said the cost of searching for missing soldiers must be weighed against the need to care for the survivors of the war).

Vì đảng viên Cộng Sản Việt Nam là những nguời theo chủ thuyết duy vật nên không quan tâm đến những việc làm có tính cách duy tâm chăng? Nói vậy e không được ổn. Nhìn cái cách họ ’’thờ’’ ông Hồ Chí Minh thì biết. Họ có cả một Bộ Tư Lệnh để bảo vệ lăng ông ta mà. Họ đâu phải là những kẻ vô tâm và lo tốn kém.
Họ ướp xác ông Hồ và bảo trì cũng như bảo vệ nó tới cùng chỉ vì nó có giá trị như một thứ môn bài (patent) cho phép họ tiếp tục hành nghề cách mạng – hay ít nhất thì họ cũng tưởng hoặc mong như thế; còn 300.000 ngàn bộ xuơng của đám binh sĩ chết dấm chết dúi đâu đó, trong cuộc chiến vừa rồi, đâu còn một chút giá trị thực tiễn nào nữa khiến họ phải quan tâm.

Rõ ràng họ không phải là những người duy vật, cũng không phải là những kẻ duy tâm mà là những tên duy... lợi ! Hãy nhìn vào thực tế, xem cô nhi quả phụ hay bố mẹ của những kẻ đã hy sinh được “chăm lo’’ ra sao – từ nửa thế kỷ qua ?

‘’Lúc ấy nguời ta sợ nhất là nhìn thấy người phát thơ. Hàng ngày hàng trăm cái thơ báo tử để trong xắc cốt nguời cán bộ xã. Anh ta đi đến nhà nào là mang đau thương tang tóc đến nhà đó... họ sợ nhất là sau cái ’lễ truy điệu trọng thể để ’Tổ Quốc ghi công’ là họ bị đẩy ra lề xã hội, không ai nuôi dưỡng.’’ (sđd trang 136 -138).

“’Lúc ấy’’, qua đoạn văn vừa dẫn, là hình ảnh của xã hội miền Bắc vào thập niên 60 và đầu 70 - khi mà Đảng Cộng Sản Việt Nam còn cần động viên xương máu nguời dân cho chinh chiến. Cuộc chiến đã tàn. Bây giờ thì họ còn cần gì đến ai nữa? (Nói chi đến mộ phần của những tên “lính ngụy” ở Nghĩa Trang Quân Đội!)

Do đó, khi thấy một phế nhân lê la xin ăn trên hè phố Sài Gòn hôm nay đừng vội nghĩ đó là thương binh của quân đội miền Nam. Không nhất thiết như thế đâu. Bây giờ ăn mày là một cơ hội đồng đều (equal opportunity), không phân biệt tuổi tác, giới tính hay thành phần xã hội.

Ranh giới giữa kẻ thắng và người bại đã bị xoá nhòa từ lâu ở đất nước này. Nơi đây – trước đói rách, khủng bố và mọi bất công xã hội – tất cả đều bình đẳng. Việt Nam hôm nay chỉ còn một nhóm nguời thu tóm hết quyền bính, đất đai, cũng như sở hữu mọi tài sản xã hội, và cả một dân tộc bị trị vì đã bị lừa gạt trắng trợn - thế thôi.

Bài báo của Rajiv Chandrasekaran kết thúc bằng một tâm sự não lòng: “Tháng 4 năm nay khi cả nước đang chuẩn bị kỷ niệm 25 năm sau ngày ’giải phóng miền Nam’ và thống nhất đất nước nhiều gia đình đã đến nghĩa trang để thăm mộ thân nhân. Riêng bà Thắm thì có cảm tưởng mình bị bỏ rơi. Theo bà ta thì ’em tôi đáng lẽ phải nằm trong nghĩa trang liệt sĩ chứ đâu phải ở rừng sâu.’(My brother belongs in the Martyrs’ Cementery,’’ Tham said, ’’not out in the jungle’’).

Người ta có thể hiểu được tình thuơng yêu vô hạn của bà Thắm đối với người em vắn số nhưng thực khó mà chia sẻ với bà ta cái ảo tưởng rằng ông Nguyễn Dinh Duy là liệt sĩ. Cùng với hàng triệu nguời khác nữa, sự hy sinh của ông Duy – chung cuộc – chỉ đẩy cả một dân tộc vào cảnh lầm than và băng hoại.
Bà Thắm vẫn chưa nhận ra được rằng cái đuợc mệnh danh là cuộc chiến “chống xâm luợc’’ và “giải phóng miền Nam’’ vừa qua chỉ là những canh bạc bịp. Nhờ vào gian manh, thủ đoạn và tất cả những mánh khoé lường gạt cần thiết nên Đảng Cộng Sản Việt Nam đã thắng. Còn nhân dân thì thua trắng tay.


Họ mất ráo mọi thứ, kể cả xương cốt của người thân, để đổi lấy... những bảng ghi công: Liệt Sĩ, Gia Đình Có Công Với Cách Mạng, Mẹ Việt Nam Anh Hùng... Hoặc giản dị hơn nữa là một cái bãi đất mênh mông (chi chít bia mộ) với bốn chữ “Nghĩa Trang Liệt Sĩ" treo ở cổng vào, và chấm hết.


Chỉ có thế thôi mà bà Thắm vẫn bị đứng ngoài. Bà ta có lý do để buồn, dù đó một nỗi buồn “không lấy gì làm chính đáng.’’ Buồn hơn nữa là gần một phần hai thế kỷ sau khi chiến tranh chấm dứt, một số nguời Việt ở hải ngoại – những kẻ có nhiều cơ hội để nhìn vấn đề một cách khách quan hơn – vẫn tiếp tục tranh cãi và xỉ vả lẫn nhau về những chuyện rất không cần thiết và cũng chả chính đáng tí nào.

Họ giống như những nguời đàn bà nhà quê đi chợ bằng xe lam. Trên xe bị một thằng lưu manh dụ chơi bài ba lá, lột hết tiền, và đuổi xuống xe. Thay vì xúm nhau, túm cổ thằng khốn nạn, vả cho nó rụng hết răng rồi lấy lại tiền thì họ quay ra xa xả đổ thừa lỗi lầm cho kẻ này nguời nọ; sau đó, họ cãi vã và xỉa xói lẫn nhau – bằng những ngôn từ nặng nề và thô tục đến độ khó ngờ.

Posted: Tue Jul 30, 2013 6:03 pm
by nguyenvsau

Image

Mỹ cho những … 20 chữ lận !!!
Nhật Tuấn

Tối nay vừa mở tivi đã thấy ông Chủ tịch nước Trương Tấn Sang ngồi cạnh Tổng Thống Obama phát biểu với các nhà báo. Gã Ký Quèn có vẻ lắng nghe từng lời rồi vỗ tay đồm độp :

“Thắng lợi rồi…thắng lợi rồi…”

Cô Phượng cave tròn mắt :

“ Thắng lợi gì vậy anh Ký Quèn ?”

Gã Ký Quèn vui vẻ :

“ Ông Trương Tấn Sang phát biểu không cần nhìn vào giấy như ông Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Minh Triết vào nhà Trắng trước đây…”

Ông Tư Gà nướng càm ràm :

“ Sao không thấy Tổng thống Obama ra đón tại sân bay, không thấy duyệt đội danh dự, cũng không thấy chiêu đãi quốc yến là sao ?”

Gã Ký Quèn cười cười :

“ Thì đã có Bộ trưởng ngoại giao Hoa Kỳ thết tiệc rồi còn gì ?”

Thằng Bảy xe ôm trợn mắt :

“ Đề nghị chú Ba đại tá hưu nhắc Bộ ngoại giao ta ghi chép cẩn thận nghen. Nó tiếp ông Trương Tấn Sang sao, mai mốt Obama sang VN mình tiếp đón y vậy. Không bắn súng chào , không cờ đèn kèn trống, không chiêu đãi trọng thể, mặc kệ cho đại sứ nó sang Nội Bài đón tổng thống nhà nó…”

Cô Phượng cave cười ngỏn nghẻn :

“ Đón vậy nó không sang nữa thì chết bỏ bu…”

Ông đại tá hưu quát :

“ Con Phượng cave nói năng linh tinh. Obama không sang thì thôi , VN sao chết được ?”

Gã K‎ý Quèn cười cười :

“ Nó mà không sang sức mấy k‎ý được Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương. Lại không mong nó sang như mong mẹ về chợ ấy à ?”

Thằng Bảy xe ôm chợt la lên :

“ Í trời ơi…ông Obama vừa cất vào túi ngực cái gì nom như bao thư kìa…”

Cô Phượng cave cười ngỏn nghẻn :

“ Chắc không phải bao thư lót tay. Cái đó xài ở nhà thôi, sang Mỹ ai xài cái đó…”

Ông đại tá hưu lại quát :

“ Con cave này chuyên phao tin nhảm. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang sang Mỹ kỳ này là do Tổng Thống Obama mời đối thoại song phương , bình đẳng hai bên đều có lợi, làm gì có chuyện phải lót tay bao thư ?”

Gã Ký Quèn cao giọng :

“ Đúng rồi không phải bao thư lót tay đâu. Thư bác Hồ gửi cho Tổng Thống Mỹ Truman hồi năm 1945 đó…”

Thằng Bảy xe ôm thắc mắc :

“ Ủa , thư viết từ hồi đó sao giờ mói chuyển…”

Gã K‎y Quèn lắc đầu :

“ Chắc nó nằm đâu đó không tới tay Tổng thống Mỹ nên không thấy ổng hồi âm…”

Cô Phượng cave tò mò :

“ Thư viết gì vậy anh Ky Quèn ?”

Gã Ky Quèn lên giọng :

“ Đại khái viết là thay mặt chính phủ và nhân dân Việt Nam, tôi đưa ra lời yêu cầu tha thiết tôn trọng nhất tới Ngài và những người dân Mỹ để can thiệp khẩn cấp và hỗ trợ độc lập cho chúng tôi …”

Thằng Bảy xe ôm vỗ tay :

“ Tuyệt vời..bác Hồ kêu gọi Mỹ can thiệp khẩn cấp kẻo thằng Trung Quốc nó cướp mất nước…”

Ông đại tá hưu đập bàn quát :

“ Phản động…Trung Quốc với ta là anh em môi răng, đồng chí Hồ Cẩm Đào còn tặng ta 16 chữ vàng , làm gì có chuyện Trung Quốc sang cướp nước ta ?”

Gã K‎y Quèn cười khà khà :

“ Hồ Cẩm Đào tặng VN có 16 chữ , còn ông Obama tặng những…20 chữ lận…”

Chị Gái hủ tíu :

“ Những chữ gì vậy anh Ky Quèn ?”

Gã Ky Quèn đọc vanh vách :

“ đối tác toàn diện chính trị , ngoại giao, thương mại , kinh tế, công nghệ, giáo dục , môi trường, y tế.”

Cô Phượng cave cười rinh rích :

“ 20 chữ suông bõ bèn gì…giả tỷ Mỹ nó thay 20 chữ đó bằng 20 tỷ đô la có phải ngon không ?”

Gã Ký Quèn xua xua tay :

“ Dễ gì… như mấy cô tiếp viên phải “chịu” cho khách cái gì thì khách mới…”bo” chớ. Mỹ cũng vậy, khi không sức mấy nó “bo” cho Việt Nam những 20 tỉ đôla…”

Thằng Bảy xe ôm hít hà :

“ Í trời ơi…nếu nó “bo” 20 tỉ đôla thì kỳ này Obama sang thăm VN , chắc ông Trương Tấn Sang ra đón tại cầu thang máy bay quá …”

Cả quán cười ồ…

26-7-2013
Nguồn Blog Nhật Tuấn

Posted: Tue Aug 06, 2013 5:38 pm
by thienthanh
Vợ xấu chưa hẳn là... vợ mình

Thời còn đi học, thất tình một nữ sinh viên xinh đẹp, tôi “rút kinh nghiệm” và quyết định chọn vợ chỉ cần là một phụ nữ nhan sắc từ trung bình trở xuống, nhưng giỏi giang, có học. Tôi đã toại nguyện với một nhân viên cùng cơ quan. Tôi quen chớp nhoáng, cầu hôn cũng nhanh như điện xẹt.
Ngày tôi đưa thiệp cưới, cả cơ quan đều kinh ngạc, vì tôi vốn cao ráo, đẹp trai trong khi Hân, người đứng tên chung thiệp cưới với tôi có thân hình đẫy đà, lại hơi xấu… Ngoài quan niệm “vợ đẹp của người”, tôi “chấm” Hân ở tính nết dịu dàng, không ăn diện, vén khéo và nhất là nấu ăn ngon
Gia đình hai bên đều khá giả, chúng tôi được ở tầng thứ nhất căn nhà ba tầng của gia đình tôi. Yên tâm có vợ lo toan việc nhà, tôi thoải mái la cà cùng bạn bè độc thân hoặc những người chồng, cha vô trách nhiệm khác, sau giờ làm việc là nhậu nhẹt, cặp bồ đi qua đêm...


Hân không nói gì nhưng khi đứa con gái đầu lòng ra đời, Hân lên tiếng yêu cầu tôi phải có trách nhiệm với gia đình. Tôi cự cãi, lớn tiếng cho rằng “gánh vác giang sơn nhà chồng” là chuyện của Hân. Ba mẹ tôi vốn bảo thủ, thay vì bênh con dâu, lại lớn tiếng bênh vực tôi, mắng mỏ Hân thậm tệ. Một lần, trong lúc cự cãi, mẹ tôi đã nói: “Con tao không lấy mày thì có mà ma nó lấy mày. Thử mày ra đường xem có ai ngó tới không?”. Hân nhìn tôi, tôi đắc thắng xác nhận: “Tôi cưới cô về để có người đẻ con và chăm sóc ba mẹ tôi thôi”. Không ngờ, Hân vào phòng thu dọn đồ đạc, ra khỏi nhà tức thì. Ban đầu, ba mẹ tôi và tôi nghĩ Hân chỉ làm nư, thách thức. Hân có đi đâu thì đi, miễn là để đứa con lại nhà chồng. Chẳng ngờ Hân ra đi rất mạnh dạn, mặc cho con gái kêu khóc trong tiếng mắng chửi, chì chiết của ba mẹ, hai em gái tôi và cả tôi. Tôi nghĩ, nhớ con Hân sẽ về, chỉ là vấn đề thời gian.

Sáng hôm sau, gia đình tôi nháo nhào vì không còn ai lo cơm nước. Trước đây, chuyện cơm nước do mẹ tôi phụ trách, lau dọn nhà cửa do em gái đảm đương. Cưới Hân về, mọi việc đều dồn cho cô ấy. Mẹ tôi quen thong dong năm năm qua, nay phải lụm cụm xuống bếp, hai đứa em quen ngủ trưa đến gần giờ đi làm mới xuống ăn sáng, giờ phải dậy sớm để phụ mẹ tôi. Chiều về mọi người phải tự bỏ quần áo vào máy giặt, tự lau phòng mình. Đáng nói là không ai đưa đón con gái tôi, bé Hạnh quen hơi mẹ, dù đã ba tuổi vẫn khóc ngầy ngật đòi mẹ. Cả nhà rối tung lên! Tôi điện thoại cho Hân, cô ấy không bắt máy. Tôi điện thoại bàn gặp cô em vợ, bị cô ấy mắng té tát, sỉ nhục trăm bề. Tôi nhắn với cô ấy là tôi sẽ ly dị Hân, cô ấy hét vào máy: “Ly thì ly, xem ai hầu hạ đám thối tha biếng nhác nhà anh”.
Tôi vào cơ quan, không ngờ Hân đã làm việc với công đoàn, lãnh đạo cơ quan, thông báo sẽ ly hôn với tôi. Hân là một kỹ sư giỏi, mẫn cán và nhất là rất cương quyết trong mọi tình huống công việc, nên với hôn nhân cô ấy cũng vậy. Chuyện tôi trăng hoa, mèo mỡ đi suốt đêm, vô trách nhiệm với vợ con, kể cả chuyện Hân làm “đầy tớ không công” cho gia đình tôi mọi người đều biết. Chỉ đợi giọt nước tràn ly và tờ tường thuật của Hân với lãnh đạo trước khi đưa đơn ly hôn lên tòa án. Mọi người đều đứng về phía Hân.


Suốt ngày tôi tìm cách nói lời xin lỗi với Hân, không ngờ gương mặt Hân giá lạnh hơn cả băng đá. Đồng nghiệp có vài người khuyên nhưng Hân lạnh lùng: “Mỗi nhà mỗi cảnh, mong đừng ai chen vào chuyện gia đình tôi. Tôi đã 40 tuổi rồi.” Thế là tất cả tắt tịt! Hân đã nhờ người bạn luật sự đẩy nhanh tiến độ ly hôn. Ở tòa Hân dứt khoát nếu tôi muốn nuôi con Hân cũng không cản, bằng lòng nhường quyền nuôi con cho tôi. Thú thật, mấy tháng không có Hân gia đình tôi như địa ngục, con gái tôi như gánh nặng, bởi nó đã quen sự chăm sóc của mẹ. Tôi biết Hân nói thật. Kể từ ngày ôm quần áo ra khỏi nhà tôi, Hân không hề ghé lại thăm con một lần. Tôi lấy cớ mang con sang thăm mẹ, Hân không tiếp. Vì vậy, gia đình tôi đành giao con cho Hân. Tại tòa, Hân đồng ý nhận con, chỉ cần tôi bế con, mang va li, quần áo đồ dùng của con sang nhà Hân chứ Hân không về nhà tôi lấy đồ đạc của con.

Ly hôn và nhận nuôi con, Hân chuyển công tác. Mỗi lần tôi điện nói nhớ con, Hân lạnh lùng: “Vậy chiều nay ông ghé rước con đi, khi nào muốn thì mang sang nhà tôi trả lại!” Mất Hân rồi, tôi mới thấy một khoảng trống lớn trong cuộc sống của tôi và cả trong căn nhà rộng lớn của ba mẹ tôi. Cả tôi và gia đình tôi đều lầm khi nghĩ tôi đẹp trai mà lấy vợ xấu là cầm dao ở cán. Với một phụ nữ, dù không nhan sắc nhưng có học thức và bản lãnh, thì họ chẳng bao giờ để ai lăng mạ và xem thường mình, kể cả đó là chồng và gia đình chồng. Khi họ đã quyết định ly hôn có lẽ còn cương quyết hơn nhiều so với một người phụ nữ bình thường.

Tôi đã mất một người vợ tốt. Ba mẹ tôi mất người con dâu tốt. Có lẽ đã quá muộn để hiểu “Vợ xấu chưa hẳn là vợ mình nếu mình không biết trân trọng, yêu thương”.

(Theo Phunuonline)