Page 44 of 180

Posted: Tue Jul 20, 2010 1:43 am
by quaichao
'Không thể bưng bít thông tin'
Image
Vụ 'mua dâm nữ sinh' thu hút sự chú ý của dư luận
Vụ án 'mua dâm nữ sinh' ở tỉnh Hà Giang đang thu hút sự chú ý của dư luận, nhất là sau khi có các tình tiết mới liên quan các quan chức hàng đầu của tỉnh này.

Hồi đầu tháng, Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng Cộng sản đề nghị cách chức Chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang Nguyễn Trường Tô vì "thiếu gương mẫu trong sinh hoạt".

Ông Nguyễn Trường Tô hồi tháng Hai đã bị cáo buộc mua dâm vị thành niên thông qua môi giới của cựu hiệu trưởng Sầm Đức Xương.

Khi kết luận của Ủy ban Kiểm tra TW được đưa ra, các báo trong nước đồng loạt đưa tin.

Thế nhưng theo luật sư đại diện cho một trong các nữ sinh, đã có chỉ thị từ người đứng đầu Ban Tuyên giáo TW Tô Huy Rứa yêu cầu báo chí ngừng đưa tin về vụ này.

Luật sư Trần Đình Triển với tư cách Trưởng Văn phòng Luật Vì dân đã ký văn bản ngày 11/07/2010 gửi ông Tô Huy Rứa yêu cầu trả lời về việc mà ông gọi là "vi phạm điều lệ của Đảng và pháp luật của Nhà nước" này; đồng thời nói sẽ khởi kiện ông Rứa "nếu sự việc trên là có thật".

Đài BBC đã nói chuyện với luật sư Triển về văn bản này:

LS Trần Đình Triển: Thông tin chúng tôi có được là lệnh đó đã được đưa ra tại cuộc họp giao ban báo chí của Ban Tuyên giáo TW vào thứ Ba tuần trước, và trong một tuần nay, không có báo chí nào nhắc đến vụ này nữa cả.

Tôi cho rằng những vụ án như thế này phải được giải quyết tận gốc, triệt để, phải quét bằng sạch thì mới có hiệu quả.

Thêm nữa, ông Tô Huy Rứa là người Triết học Mác Lê-nin, chuyên chính vô sản, thì khi giải quyết mọi việc cũng phải chuyên chính, giải quyết đến cùng.

Khi sự việc đang lên, đang được giải quyết tốt đẹp, có sự đóng góp của Đảng là quyết định của Ủy ban Kiểm tra TW, thì tự nhiên ông Tô Huy Rứa lại dội cả khối nước đá vào khí thế đó.

Chúng ta không thể làm như vậy được. Trước dân, trước Đảng thì phải thành thật, không thể chỉ nói hay mà làm ngược. Tôi cũng là đảng viên, và với tư cách người đảng viên vì dân, tôi sẽ đấu tranh đến cùng.

BBC: Thưa ông đã nhận được phản hồi nào từ ông Tô Huy Rứa chưa ạ?

LS Trần Đình Triển: Cả bản thân tôi và văn phòng chưa nhận được bất cứ phản hồi nào từ ông Tô Huy Rứa hay văn phòng Ban Tuyên giáo TW.

BBC: Nếu quả thật các báo ngừng tiếng về vụ này thì công việc bảo vệ công lý chắc sẽ gặp khó khăn, thưa luật sư?

LS Trần Đình Triển: Nói lại quá trình, thì vụ này xảy ra từ hồi khai giảng năm ngoái 2009. Khi đó báo chí cũng rộ lên đưa tin được vài ba số, ba-bốn ngày.

Khi đó báo chí cũng chỉ nói về sự bê tha c̉a một thầy hiệu trưởng thôi, chứ chưa biết được các chi tiết khác phía sau vụ án. Thế nhưng cũng ngay lập tức họ đã bị ngăn cấm.

Chính cái ngăn cấm đó đã dẫn tới việc báo chí không vào cuộc được, luật sư cũng bị khống chế tiếp cận vụ án.

Cuối cùng là các nạn nhân chỉ được nhận bản cung do công an làm và ký vào, tới khi có cáo trạng thì Viện Kiểm sát vào buộc các cháu đọc thuộc cáo trạng và ra tòa nói theo cáo trạng.

Bưng bít thông tin khiến cơ quan tố tụng gây ra hàng loạt sai phạm, họ nói dối với Đảng, với pháp luật, coi thường pháp luật.

Tới phiên phúc thẩm, tôi là luật sư, cùng với các cơ quan ngôn luận đã đưa ra ánh sáng được vụ án này.

Đã thành tính quy luật: báo chí là quyền lực xã hội. Nếu phản ánh trung thực khách quan sự thật, thì đó là điều tích cực. Còn nếu bóp méo sự thật, hay che dấu nó thì đó là điều xấu.

BBC: Văn bản của Văn phòng Luật Vì dân hết sức mạnh mẽ, và đã viết sẽ khởi kiện ông Tô Huy Rứa. Ông sẽ thực hiện theo quy trình nào ạ?

LS Trần Đình Triển: Theo luật, ông Tô Huy Rứa phải trả lời văn bản của chúng tôi. Nếu ông không trả lời, thì chúng tôi cũng có quyền khởi kiện. Đã nói thì phải làm.

Chúng tôi có các chứng cứ cho thấy ông Rứa đã chỉ thị báo chí như vậy.

Tất nhiên tôi biết, trong hoàn cảnh này, làm công việc trên không dễ.

Có những người đồng tình, nhưng cũng có người nói tôi bất bình thường. Họ bảo đáng ra tôi nên im lặng.

Thế nhưng tôi nghĩ rằng nếu ai cũng im lặng, thì đó thực sự là một nguy cơ.

Posted: Wed Jul 21, 2010 2:36 am
by tiendung
Trẻ em Việt Nam phải đóng học phí: Nghịch lý và nỗi đau


Lê Diễn Ðức
(Nguồn: Blog Lê Diễn Ðức)


Tôi đọc tin và một số bài bình luận về “đề án” tăng học phí trong các trường mẫu giáo và phổ thông trung học công của thành phố Hà Nội.

Gây ấn tượng nhất là bài của nhà văn Phạm Viết Ðào với tựa đề: “Hà Nội nên bán trụ sở thành phố thay cho tăng học phí”.

Không biết có phải lãnh đạo thành phố Hà Nội làm ăn quá lôm côm, chụp giật, hay là những ý tưởng “lớn” chợt đến bên bàn nhậu hay không, mà suốt mấy tháng nay, đề án nào đưa ra cũng đầy trắc ẩn, bị bà con la lối om sòm.

Từ bắn pháo hoa, bóc vỉa hè, sơn phết nhà mặt tiền, đào Thành Cổ, xây cổng chào, đến chuyện biếu không 25 tỷ đồng cho mấy tờ báo đảng đưa tin về lễ hội Ngàn năm Thăng Long... - cái nào cũng bị dư luận chỉ trích mạnh mẽ và cuối cùng phải đình hoãn hoặc chấm dứt.

Rồi sáng 13/07, vào phút cuối cùng trước phiên khai mạc Hội đồng Nhân dân (HÐND), thành phố Hà Nội lại quyết định rút “đề án” tăng học phí.

Rút lại nhưng là hoãn binh, vì sẽ được đưa ra tại kỳ họp thứ 21 HÐND tới đây và nếu được thông qua sẽ bắt đầu thực hiện từ năm học 2010-2011.

Có thể có nhiều nguyên nhân cho quyết định “dừng” của Hà Nội, nhưng chắc không thể bỏ ra ngoài áp lực của công luận.


Chất lượng giáo dục


Lãnh đạo Việt Nam ưa đại ngôn, chém gió khi nói đến thế hệ trẻ, tương lai của dân tộc.

Từ hồi còn nhỏ cắp sách tới trường lứa tuổi tôi đã thuộc lòng câu nói của ông Hồ Chí Minh: “Dân tộc Việt Nam có sánh vai được với các cường quốc năm châu hay không, chính là nhờ một phần công học tập của các cháu”.

Mấy chục năm sau, năm 2009, trong bài diễn văn trong phiên họp Ðại hội đồng lần thứ 35 của UNESCO tại thủ đô Paris, Nguyễn Thiện Nhân Bộ trưởng Giáo dục và Ðào tạo hùng hồn khẳng định Việt Nam “coi đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia”.

Trong đại hội Việt Kiều tháng 11/2009, sau khi huênh hoang chuyện góp ý với Tổng Thống Hoa Kỳ Barack Obama là làm “phân hóa nội bộ Mỹ”, ông Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết nói rằng, Việt Nam bây giờ cũng “đàng hoàng lắm”, “cũng ngang hàng với người ta”, v.v.

Những mẩu chuyện đầy hài hước này của các vị lãnh đạo nhà nước Việt Nam kể hoài không hết!

Trong bài viết “Ðừng để bất ngờ cá chép hóa rồng!” trên tờ “Tuổi Trẻ” ngày 28/04/2004 có đoạn:

“Một hội thảo khoa học mới đây ở Hà Nội bàn về chất lượng giáo dục đại học đi đến một nhận định “thống nhất” đáng buồn: chất lượng đào tạo đại học của Việt Nam đang tụt hậu quá xa so với thế giới! Một kết luận đủ làm giật mình những ai quan tâm đến giáo dục, trước nay vẫn tin giữ niềm tự hào về truyền thống hiếu học của dân tộc...”

Ông Phạm Quốc Trung, nghiên cứu sinh Kinh tế của đại học Kyoto (Nhật Bản), trong bài “Ðầu tư vào giáo dục để nâng cao năng lực cạnh tranh Việt Nam” ngày 26/04/2010 đưa ra biểu đồ so sánh thứ hạng của các yếu tố trong Năng lực cạnh tranh của Việt Nam từ năm 1980 đến nay, viết:

“Dựa vào biểu đồ này, ta nhận thấy, Năng lực cạnh tranh chung của Việt Nam không thay đổi từ 1980 đến nay không phải do các yếu tố không thay đổi, mà bởi có những yếu tố phát triển đi lên, nhưng đồng thời cũng có những yếu tố tụt hậu đi xuống, khiến cho chỉ số chung không thể tăng như mong muốn.

Vậy yếu tố nào đã kéo Năng lực cạnh tranh của Việt Nam tụt lại? Dễ dàng thấy ngay đó chính là yếu tố Giáo dục. Từ thứ hạng 24 năm 1980 đã tụt xuống thứ hạng 46 năm 2008. Ngoài ra, khoa học kỹ thuật của Việt Nam chưa bao giờ được đánh giá mạnh so với các nước, luôn đứng cuối bảng từ 1990 tới nay”.

Trong kỳ họp Quốc Hội vừa qua, ông Ðào Trọng Thi chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng đã phát biểu với chí:

“Từ 1998-2009, đã có 312 trường đại học, cao đẳng được thành lập, trong đó có 64 trường được thành lập mới hoàn toàn, còn lại là nâng cấp từ bậc học thấp hơn. Nhờ đó, 35/63 tỉnh, thành phố có thêm trường đại học, cao đẳng mới”.

Theo ông Thi, sự dễ dãi này là “do quy hoạch chỉ mang tính định hướng, chưa cụ thể. Do vậy, mới xuất hiện phong trào, địa phương nào, bộ ngành nào cũng đăng ký thành lập một trường. Rồi vì những lý do này hay lý do khác, rất ít đề án thành lập trường bị từ chối... Ðây cũng là nguyên nhân dẫn đến bất cập là quy mô đào tạo vượt xa năng lực đào tạo và suất đầu tư cho sinh viên cũng rất thấp, trong khi đó là một trong những tiêu chí rất quan trọng”.

Hãy khoan bàn đến chuyện bằng cấp giấy, rởm phổ biến, từ các nhận định nêu trên, đưa ra đề án đào tạo và cấp hơn 20 ngàn bằng tiến sĩ (cho nhau) từ các trường đại học này trong mươi năm tới, quả thực ngành giáo dục XHCN Việt Nam chẳng hề biết hổ thẹn. Mang bằng tiến sĩ loại này ra nước ngoài làm việc hay thi thố chắc chỉ dám chui đầu vào cát.

Người ta bàn đến nhiều nguyên nhân, nhưng theo tôi, chất lượng sinh viên đại học không thể nào tốt được khi thế hệ mầm non trên ghế nhà trường phổ thông không được nhà nước ưu đãi, đầu tư đúng mức và lương thiện.

Cũng tờ “Tuổi Trẻ” đã dẫn, viết:

“Một cán bộ ở trường đại học nọ sau mấy năm tỉ mẩn giở học bạ phổ thông của những sinh viên trúng tuyển đã rút ra kết luận giật mình: không ít học sinh học rất kém thời phổ thông, thậm chí điểm những môn sẽ thi tuyển đầu vào đại học còn chưa đạt mức trung bình. Vậy mà bất ngờ ‘cá chép hóa rồng’, họ vẫn xênh xang vào được cổng trường đại học! Vẫn những môn học ấy, vẫn những sĩ tử đội sổ ấy, mà ‘cơ trời’ (hay ‘cơ chế’) nào đã giúp họ lội ngược dòng ngoạn mục đến như vậy?”

Học phí? Nghe như chuyện lạ!

Nhiều người Việt trong nước, một mặt không chịu tiếp cận thông tin đa chiều, mặt khác từ lúc còn thơ tới tuổi trường thành, có khi cả cuộc đời, bị bộ máy tuyên truyền của nhà nước nhồi nhét liên tục nên bị bệnh tự kỷ ám thị.

Ðội quân của hội chứng tự kỷ ám thị này rất đông, cả trên diễn đàn này cũng thường xuất hiện, mang màu sắc và cường độ bệnh hoạn khác nhau. Kẻ may mắn thì nói như vẹt, tệ hơn thì đã trở thành những “con chó của Pavlov”.

Thấy được tự do nhậu nhẹt, ăn chơi sa đọa, thả sức đua nhau kiếm tiền (bất chấp mọi tiêu chuẩn đạo đức, vì có tiền là có thể giải quyết được mọi chuyện êm xuôi, dù bất chính), được đi du lịch vài nước Châu Á, xe gắn máy thay cho xe đạp, nhà cao tầng ở các thành phố mọc lên, dân chúng có vẻ yên phận (mà thực tế chỉ là tấm áo choàng giả tạo)... - họ cho rằng đất nước Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản (CS) Việt Nam đang hòa bình, ổn định, phát triển, v.v. Làm như Việt Nam là rốn của nhân loại!

Bất kể ai nói khác với đảng, nếu là ở nước ngoài thì ngay lập tức bị chụp mũ phản động, được Mỹ tài trợ, cho tiền, làm tay sai; còn nếu ở trong nước thì thuộc thành phần bất mãn, già cả, vô tích sự... Cái gì đụng đến Mỹ là tệ hại, xấu xa. Bài ca hay nhất là gợi lại tội ác của Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam đã kết thúc cách đây hơn 35 năm, mặc dù hai bên đã bình thường hóa quan hệ và Mỹ đang đi thẳng vào Việt Nam làm ăn bằng cửa chính.

Ðôi khi nghe họ nói tôi vừa thương hại, vừa buồn cười. Giá như nói ra cái xấu của Ðảng CS Việt Nam mà được Mỹ cho tiền (như họ nghĩ), giờ này chắc nhiều người giàu to, trong đó có tôi. Thử hỏi xem người nào biết FBI, CIA hay cơ quan nào của Mỹ cho tiền và chỉ dẫn giúp làm sao có thể xin được thì tôi sẵn sàng mua mấy cuốn tập học trò, tôn người đó làm thầy để theo học!

Những gì không được ưa chuộng trong xã hội Mỹ, tùy quan điểm và trải nghiệm mà mỗi người tự đánh giá - Tất nhiên! Tôi chẳng bao giờ quá tự ty, mặc cảm để chỉ nghĩ về sự thua kém của Việt Nam, cũng không ngợp trước đời sống thịnh vượng của các nước tư bản phát triển. Biết người biết ta, tôi khiêm nhường và trung thực nói với người ngoài về những cái hay, cái đẹp của dân tộc mình. Tôi rất ghét những ai đã không biết nhưng lại thích phán gàn, phàm cái gì thuộc Mỹ, thuộc xã hội tư bản là xấu, trong khi cố tình nhắm mắt trước hiện tượng con cái của quan chức cộng sản và lớp trọc phú mới nổi gửi con đi học nhiều nhất tại Hoa Kỳ và Anh...

Hồi Việt Nam còn chiến tranh, nghèo khổ, tôi nhớ mình không phải đóng học phí. Hòa bình, mấy đứa con tôi không “được” học hành trên đất CHXHCN Việt Nam của “Ðảng CS Việt Nam quang vinh”, nên khi nghe chuyện học sinh phổ thông ở Việt Nam phải nộp tiền học phí và thành phố Hà Nội sẽ tăng lên gấp hai, ba lần mức hiện tại, tôi thấy làm lạ.

Trong các trường tiểu học, trung học công ở Ba Lan hay ở Mỹ nơi các con tôi theo học không có khái niệm học phí. Các em ở đây đến tuổi mà không tới trường, cha mẹ còn bị pháp luật trừng phạt. Khoản duy nhất phụ huynh chi cho con cái ở trường là tiền ăn trưa với giá bèo, vì được nhà nước trợ cấp. Nếu bố mẹ có khó khăn kinh tế, chỉ cần điền vào mẫu đơn in sẵn, tiền ăn được miễn luôn mà không bị đòi hỏi bất cứ giấy tờ gì chứng minh thu nhập. Ngoài ra tất cả trường công của Mỹ cung cấp phương tiện đón học sinh phổ thông tới trường và đưa về nhà rất chu đáo, an toàn và hoàn toàn miễn phí.

Trong bài “Nước Mỹ 20 năm qua, những cái hay và cái dở” (trên Weblog này) nhận xét “Hoa Kỳ là quốc gia của trẻ em”, nhà báo Ba Lan viết: “Trường học, thậm chí cả những trường không thuộc loại tốt, rất thân thiện. Số lượng thời gian mà cha mẹ bỏ ra cho các hoạt động sau giờ học của trẻ em là không thể tưởng tượng nổi”.

Những ai có con nhỏ đi học ở Mỹ mới cảm nhận hết được sự gần gũi và thân thiện giữa trẻ em và mái trường. Tựa như tác giả Lê Minh Quân viết trên tờ “Tiền Phong”:

“Tôi đã được nghe kể một câu chuyện vui về chất lượng giáo dục như sau: “Trong một cuộc họp báo cáo quốc tế về chất lượng giáo dục, có rất nhiều nước - trong đó có Việt Nam - rất tự tin kể về thành tích trong giáo dục của mình là đạt loại Tốt bao nhiêu %, Khá bao nhiêu %, Ðạt yêu cầu bao nhiêu %...

Nước chủ nhà lên báo cáo cuối cùng. Họ báo cáo bằng cách kể câu chuyện: Buổi sáng khi cha mẹ đưa con cái đến trường, những đứa trẻ chạy ùa vào vòng tay chào đón của các cô giáo, còn buổi chiều các con lại rời vòng tay ấm áp của cô giáo để về với cha mẹ, đó chính là chất lượng giáo dục”.


Lời kết


Hơn ba thập kỷ sau chiến tranh, đã, đang và sẽ còn thực hiện hàng loạt siêu dự án hàng tỷ, hàng chục tỷ đô la với những ảo tưởng điên rồ, cùng với sự lãng phí, thất thoát kinh khủng, nhưng nhà nước CHXHCN Việt Nam vẫn không bao nổi chuyện học hành của trẻ em.

Trong bài “Chúng ta còn thua kém nhiều dân tộc khác trên thế giới” trên Blog “1nguoiviet”, trước khi kết luận bằng chữ “nếu...” tác giả phân tích:

“Tới năm 2007, trong hơn 30 năm qua, Việt kiều gởi về khoảng 70 đến 80 tỷ Mỹ kim, cộng thêm một số tiền đầu tư trực tiếp và gián tiếp của ngoại quốc 100 tỷ Mỹ kim (trong các công trình hợp doanh, phía đầu tư của Viện Nam chỉ chiếm khoảng 10% số này) và viện trợ ODA khoảng 20 tỷ. Với số tiền khổng lồ khoảng 200 tỷ đó chưa kể Tổng sản lượng quốc dân (GDP) khoảng 500 tỷ do người Việt làm ra trong thời gian này”.

Những con số không nói dối! Chỉ cần lấy một phần từ sự tổn thất tiền bạc (mà dư luận xác quyết từ 10-30% trên một dự án) của các công trình chuyển cho đầu tư giáo dục thế hệ mầm non, thì các em học sinh Việt Nam vốn đã khổ đủ điều, đâu còn phải gánh thêm tiền học phí!

Posted: Fri Jul 23, 2010 7:31 am
by thienthanh
Khi Giấc Mơ Bị Cấm
Trần Khải
Có ai vào được giấc ngủ của bạn để cấm những giấc mơ? Có ai ngăn cấm bạn kể về những gì bạn nằm mơ trong các giấc ngủ? Vậy đó, nhà nước CSVN đang ngăn cấm những giấc mơ về tự do dân chủ, và bịt miệng những người nói lên các giấc mơ này.

Đặc điểm của chế độ này là, giấc ngủ không còn là chuyện riêng tư, và do vậy công an vẫn săm soi những người kể về các giấc mơ của họ.
Luật sư Lê Thị Công Nhân tuần trước vừa phổ biến một bài thơ nhan đề “I Have a Dream – Tôi có một giấc mơ,” trong đó những dòng đầu tiên là:

“I have a dream !
Tôi có một giấc mơ,
đến một ngày
trên thế gian
sẽ không còn
cộng sản.
*
Khi ấy, người nông dân quê tôi
sẽ không còn lam lũ ngoài đồng nắng
chang chang
ướt đầm áo giọt mồ hôi
bão tố gió mưa
đơn côi
trên đồng quạnh vắng
cho lúa được vàng bông
trĩu hạt !
Nhưng,
phải cống nạp nuôi chính quyền độc tài cộng sản
hơn (một) nửa mất rồi,
Còn đâu...” (hết trích)

Trong những người có giấc mơ như thế -- một giấc mơ tại nhiều quốc gia được xem là rất bình thường, nhưng tại Việt Nam lại bị cấm – có anh Trần Huỳnh Duy Thức hiện đang bị nhà nước CSVN kêu án tù. Giấc mơ của anh thời thơ trẻ là muốn làm một nhà khoa học và rồi ước mơ khi về già sẽ làm một nghệ sĩ đi chụp hình ảnh quê hương mình. Nhưng vì quê nhà hữu sự, và anh phải đặt ưu tiên cho giấc mơ đấu tranh cho tự do dân chủ trước.

Một thiếu nữ viết blog ký tên là Nhi, trong bài viết ngày 17-7-2010 nhan đề “Đôi dòng gửi lại (viết về anh Trần Huỳnh Duy Thức)” – đăng ở trang http://nhiblog.multiply.com/journal/item/63 -- đã kể về những giấc mơ đơn giản của anh Trần Huỳnh Duy Thức:

“...Nhi nhớ anh từng kể nhi nghe về một người con trai lớn lên với ước mơ trở thành một nhà khoa học nhưng không thể nào được trong một xã hội VN khi trách nhiệm lo lắng cho gia đình của anh rất lớn....để rồi anh trở thành một nhà kinh tế và bảo ấy là duyên và là sứ mệnh. Anh còn mong thực hiện xong điều anh muốn cho VN, về già anh sẽ vác máy ảnh đi đó đây khắp quê hương của mình để ghi lại những hình ảnh đẹp...” (hết trích)

Từ khi biết tin anh Trần Huỳnh Duy Thức bị bắt giam vì các giấc mơ dân chủ, người viết ký tên Nhi, người đã hẹn đi chung đường xây đắp dân chủ tự do cho quê nhà, đã phải đi lang thang nhiều tỉnh, và ngay cả những giấc ngủ cũng thấy đầy bất an.
Trong bài dẫn trên, người viết ký tên Nhi nêu ý định rời bỏ việc viết blog, trích:

“Nhi – Trước khi post thư anh Thức, xin viết đôi dòng gửi lại Multi. Có lẽ cũng không có gì nhiều để nói, nhưng để bạn bè multi quan tâm chuyện anh Thức hiểu được ít nhiều. Coi như là chỉ để nói lên đôi điều sự thật trước khi nhi rời khỏi ngôi nhà Multi này của mình.Khoảng mùa hè năm 2008 nhi biết anh Thức qua mạng và đã hẹn đi chung con đường với anh. Cách đây hơn 1 năm, sau khi anh Thức bị bắt, nhi đã vào Sài Gòn, đúng như hẹn là gặp anh để nghe trực tiếp và chi tiết hơn về những chiến lược của anh…và để mong phụ được anh một điều gì đó. Dù hay tin anh bị bắt, nhi vẫn cứ về SG với hy vọng gặp một người bạn khác, nhưng liền sau đó là nghe tin anh Định bị bắt và rồi đến người bạn này. Những ngày này nằm ở SG nửa đêm rất sợ nghe tiếng chó sủa, ngủ chẳng ngon, thế là sau đó nhi lang thang về Bến Tre rồi ngược Phan Thiết, Mũi Né v.v… Việc cách đây hơn một năm rồi, hôm kia đọc bài viết về bạn Thiên Sầu thì cũng hiểu cái sự lang thang ấy nó như thế nào….

Đúng thật sau khi anh Thức bị bắt hy vọng về một con đường tươi mới cho Việt Nam của nhi nó như bị sụp đổ. Giờ ngồi đây viết những dòng này cũng muốn ứa nước mắt dù bao giờ cũng tự hào mình là một con người lạc quan...”(hết trích)

Thiên Sầu cũng là một người viết blog, từng xuống đường biểu tình chống Trung Quốc năm 2007, bị công an hạch sách và rồi truy bắt, nên phải lang thang nhiều tỉnh. Sau mấy năm biệt tích, bây giờ người ta mới có tin rằng anh đã về một ngôi làng hẻo lánh ven rừng để ngụ cư, khi người yêu bị công an truy bức tới phaỉ rời bỏ anh, khi văn bằng cử nhân học xong không được trường phát ra cho anh, và khi anh không thể tìm được bình an nào trong những thế giới cũ của Sài Gòn, nơi các dân mơ dân chủ của anh được ý thức và nuôi lớn.

Trang blog anhbasg hôm 14-6-2010, nơi điạ chỉ http://anhbasg.multiply.com/journal/item/2372 đã đăng bài nhan đề “Lái Gió viết về Thiên Sầu: Những người muôn năm cũ...” trong đó kể chuyện gặp lại chàng Thiên Sầu:
“Từ hồi mới có 360 , ở phía Nam có một chàng trai trẻ khôi ngô, tuấn tú, uyên bác đã lừng lẫy giang hồ. Chàng có tên là Thiên Sầu.

Thiên Sầu xưng trên blog mình là đảng trưởng đảng chủ dân, anh viết những bài sắc bén bằng giọng văn lúc dí dỏm, lúc trầm tư. Thiên Sầu từng xuống đường biểu tình chống Trung Cộng những ngày đầu tiên của năm 2007 cùng với CLB Nhà Báo Tự Do, với anh Điếu Cày và Nguyễn Tiến Trung… anh say mê hoạt động, đi lại, viết lách không ngừng nghỉ đấu tranh cho sự vẹn toàn lãnh thổ. Lúc nào anh cũng hừng hực lửa nhiệt huyết với quê hương.

Có lần anh nhờ Lái Gió mua hộ cuốn thơ Trần Dần. Lái Gió mua xong ra bưu điện gửi anh. Ba ngày sau Lái Gió lên đồn, công an chìa cái hóa đơn bưu điện, hỏi quan hệ với Thiên Sầu ra sao mà lại gửi sách.
Đến đây lại nhớ Lê Quốc Quyết, em của luật sư Lê Quốc Quân, từng nói khi bị công an triệu tập hỏi về quan hệ với Lái Gió - Quan hệ gì, quan hệ đồng tính à?

Hôm đó công an nói với Lái Gió không quan hệ với Thiên Sầu, vì hắn ở CLBNBTD, một tổ chức phản động.

Sau này mới biết lúc đó trong Nam, Thiên Sầu cũng bị gọi lên và nghe dặn, đừng quan hệ với Lái Gió, trùm giang hồ, ma phi a chuyên buôn thuốc lắc.

Thế rồi bẵng đi thời gian Thiên Sầu bị người ta săn đuổi, Thiên Sầu lang thang, lúc gặp anh ở vùng này, lúc thấy anh vùng khác. Nam , bắc, cao nguyên, miền Tây. Anh cứ thoắt ẩn, thoắt hiện. Không thấy anh viết lách gì nữa, giang hồ vắng bóng anh. Mỗi khi vào Nam hỏi về anh, bạn hữu ai cũng lắc đầu, tung tích anh mờ mịt.

Rồi một chiều lang thang, một chiều không phương hướng, đi đâu về đâu cũng được trừ nhà mình. Lái Gió theo chuyến xe ca mà cánh cửa bằng gỗ, leo qua những ngọn đồi đất đỏ, xóc tung người đến một thị trấn ven biên giới, bạt ngàn những cánh rừng cao su. Đang lơ ngơ thì nghe tiếng gọi, quay lại thấy trong một quán cóc ven đường, mái lá, cột tre. Người anh em thưở nào quần cộc, cởi trần tay bưng khay cà fê đứng đó, chàng trai trẻ Thiên Sầu với khuôn mặt tươi tắn năm nào giờ héo hắt với bụi đỏ, nắng lửa miệt vườn. Chỉ tay quanh chiếc quán lèo tèo mấy ông khách cởi trần đánh bài. Thiên Sầu nói
- Giờ cuộc sống em là đây.

Cái quán lá trông huếch hoác, hỏi cửa đâu. Thiên Sầu chỉ hai cái gióng tre hai bên. Hỏi ngủ ở đâu, chỉ cái miếng cót ngăn phía cuối quán. Sau bữa nhậu là một con vịt cỏ luộc. Đêm đã về khuya, bên chai bia và bao thuốc lá. Thiên Sầu trầm ngâm nhìn xa xăm về hướng thành phố. Nơi một thời anh đã vẫy vùng cùng với anh em, bè bạn, người yêu…

Giờ bạn hữu Thiên Sầu có kẻ trong tù, có kẻ trôi dạt, còn gia đình anh ở đâu, người yêu nữa…” (hết trích)

Có thời nào như thời này không? Thời nào mà những giấc mơ dân chủ bị truy bức như thế, để rồi những người thơ mộng nhất quê nhà phaỉ tìm những góc rừng, chân núi mà ẩn thân?

Có thời nào như thế này không? Thời nào mà giấc mơ trở thành nhà khoa học phảỉ gác laị, giấc mơ làm người chụp ảnh phải trôi xa, và những giấc mơ ban đêm cứ bị khủng bố vì bước chân công an và tiếng chó sủa?

Có thời nào như thế này không? Thời nào mà ước mơ lãnh thổ vẹn toàn lại bị xem là phản động, thời nào mà lời kêu gọi giữ biển, giữ đảo bị xem là chống chế độ, thời nào mà người biểu tình vì Hoàng Sa lại bị truy bắt khắp các nẻo đường quê nhà?
Hãy nhớ rằng có một thời như thế, một thời nhà Hồ như thế. Mà chúng ta đang nhìn thấy. Trước mắt.

TRẦN KHẢI

Posted: Sat Jul 24, 2010 4:26 am
by tankhoasinh
Ai đả bắn chim tàu Trung cộng
Nguồn tin mới vừa nhận được từ Quảng Ngãi tối Chủ Nhật 18 tháng Bảy- 12 tiếng đồng hồ trước giờ khai mạc hội nghị ARF- một chiếc ngư thuyền Việt Nam đánh bắt trong hải phận Hoàng Sa, hòn đảo đang bị Tầu chiếm đóng, và bị một chiếc tầu “ngư chính” của Tầu tiến lại với ý đồ bắt giữ.
Trong lúc nhiều ngư phủ lên boong thuyền, đưa tay lên ôm đầu tỏ dấu hiệu đầu hàng thì hai ngư phủ chui vào khoang lấy ra 2 khẩu SKZ 75 ly; họ đồng loạt bắn vào mạn tầu Trung Cộng.

Trúng hai viên đại bác, chiếc chiến hạm trá hình thành tầu ngư chính, nghiêng hẳn sang một bên, nhiều thủy thủ Trung Cộng văng xuống biển; hai anh ngư phủ Việt Nam bình tĩnh nạp thêm 2 quả đạn thứ nhì vào nòng súng còn bốc khói; họ lại nhả thêm 2 quả đạn này nữa vào xác chiếc tầu tội lỗi để tạo ra một va chạm quân sự nhỏ.

Ngày hôm sau, phút cử hành lễ khai mạc ARF vừa dứt, bà ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton bị một phóng viên Fox hỏi về việc chiếc tầu ngư chính Trung Cộng bị đánh chìm với 22 thủy thủ đoàn. Bà trả lời là bà không biết gì cả về diễn biến này, bà nói thật, trưởng phái đoàn Trung Cộng cũng nói thật là ông ta không biết; phái đoàn Việt Cộng cũng lắc đầu; họ không biết thật, nhưng không ai tin họ.

Hai khẩu SKZ được chùi xuống lòng biển, cả 4 quả đạn chưa sử dụng cũng được phi tang; và chiếc ngư thuyền bí mật lẩn vào bóng đêm trở về Quảng Ngãi trước khi mặt trời mọc.
Ngày hôm sau đại tá Việt Cộng Nguyễn Văn Tuyến, chỉ huy trưởng Vùng 2 Hải Quân, và đại tá Việt Cộng Mai Tiến Tuyên, chính ủy của Vùng này bị cất chức trong cùng một quyết định. Lý do: trong kho vũ khí của Vùng 2 Hải Quân thiếu 2 cây SKZ và 2 thùng đạn, mỗi thùng 4 quả.
Tuyên bảo Tuyến, “cất chức chỉ là cất quyền chỉ huy thôi, không bị giáng cấp, không bị sa thải là may lắm đó.”
“Mình có tội gì quá đáng đâu mà giáng cấp, mà sa thải?”
“Anh không biết là ngày hôm qua không một chiếc ghe Quảng Ngãi nào ra khơi à? Mọi người ở Quảng Ngãi đều biết mưu định gây ra va chạm quân sự nhỏ, chỉ có mình là không biết,” Tuyên bảo bạn. “Dân chúng tự động tạo ra va chạm; họ để mình đứng ngoài vì họ không tin lập trường của mình muốn bảo vệ biển, đảo.

Nguyễn Ðạt T.

Posted: Sat Jul 24, 2010 5:59 am
by nguyenvsau
AN NINH, FBI VÀ THUẾ VỤ IRS HOA KỲ BẮT ĐẦU ĐIỀU TRA VỤ TRỐN XÂU LẬU THUẾ CỦA ĐÀM VĨNH HƯNG VÀ CÁC TÊN TRÙM TỔ CHỨC SHOW CA NHẠC CHO VC TẠI MỸ.

California: Một nhân vật thân cận tại Hoa thịnh Đốn hôm nay tiết lộ rằng, các tin từ Việt Nam tung ra nói rằng Ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng đi về Việt Nam trong chuyến bay ngày 21-7-2010 là hoàn toàn không đúng và có ý tạo hỏa mù.

Theo tin nầy thì vì tình hình hiện nay Bà Ngoại Trưởng Hillary Clinton đi Hà Nội và đưa ra các lời chỉ trích mạnh mẽ về vấn đề nhân quyền khi bà đọc diễn văn hôm Thứ Năm tại Hà Nội nhằm đánh dấu 15 năm hợp tác kinh tế Mỹ-Việt. Bà phê bình mạnh mẽ các vụ bắt bớ cầm tù các nhà tranh đấu dân quyền, kiểm soát Internet và đàn áp các tôn giáo (Xem tường thuật của Báo New York Times tại Link:

http://www.nytimes. com/2010/ 07/23/world/ asia/23diplo. html ).

Phó Thủ Tướng Việt Nam Phạm Gia Khiêm chống chế rằng các quyền con người là đặc trưng căn bản trong văn hóa và lịch sử của Việt Nam và rằng TT Barack Obama từng cho rằng các quốc gia được phép lựa chọn lộ trình và các quyền căn bản con người mà không phải do bên ngoài áp đặt.


Trong buổi tiệc trưa tại Hà Nội, bà Ngoại Trưởng Hillary Clinton trở lại vấn đề nhân quyền tồi tệ tại Việt Nam và bà đòi hỏi CSVN phải mở rộng quyền tự do cá nhân.

Người tiết lộ tin nói rằng, việc bà Ngoại Trưởng Hoa Kỳ đặt vấn đề về nhân quyền với CSVN là chính sách của chính phủ Hoa Kỳ do TT Barack Oabama chủ trương; và cũng là gởi một tín hiệu của cộng đồng người Mỹ gốc Việt tỵ nạn Cộng Sản tại Hoa Kỳ chống lại việc đàn áp tôn giáo và nhân quyền trong nước; đồng thời chống lại việc CSVN gởi cán bộ CSVN qua Hoa Kỳ tạo xáo trộn cho Cộng Đồng người Mỹ gốc Việt.

Tin nầy nói rằng, vụ Ca Sĩ mang chức danh và trách nhiệm cán bộ đảng của Đàm Vĩnh Hưng đang gây cơn sốt chính trị tại Hoa Kỳ trong cộng đồng người Mỹ gốc Việt. Thế nên để bảo đảm an toàn cho chuyến đi của Ngoại Trưởng Hoa Kỳ đến Hà Nội, ngành Thuế Vụ, An Ninh và FBI của Hoa Kỳ đã được lệnh can dự vào trường hợp của Ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng.



Tin nầy nói rằng, trong khi Việt nam tung tin rằng Đàm Vĩnh Hưng trước khi lên máy bay về Việt nam đã tuyên bố gần như thách thức Cộng Đồng người Mỹ gốc Việt, thì thực sự Đàm Vĩnh Hưng hiện đang ở tại Nam California và đã chuyển khách sạn đến một nơi khác, có phần chắc là tại vùng Newport Beach.

Theo tiết lộ thì FBI đã yêu cầu Đàm Vĩnh Hưng phải khai báo nơi tạm trú để được bảo vệ nhưng ban đầu thì Đàm Vĩnh Hưng cho biết là đã đến một nơi mà chỉ có 2 người thân nhất trong gia đình được biết. Tuy nhiên người tiết lộ nói rằng hiện Đàm Vĩnh Hưng rất muốn rời Hoa Kỳ, nhưng chỉ thị từ Tổng lãnh Sự CSVN và Hà Nội bắt buộc Đàm Vĩnh Hưng phải ở lại để trình diễn tại nam California để xem xét sức đấu tranh của khối Cộng Đồng người Mỹ gốc Việt làm được những gì.

Tuy nhiên, theo tiết lộ thì hiện nay ông Lý Tống đang trong giai đoạn xem xét của Tòa An về vấn đề Hình Sự, nhưng phía Việt Nam đang toan tính sẽ thuê một số tập đoàn Luật Sư lớn của Hoa Kỳ để đưa vụ Lý Tống ra tòa Dân Sự nữa để đòi bồi thường thiệt hại nhằm làm cho các tổ chức Cộng Đồng người Mỹ gốc Việt từ rày về sau sẽ phải dè chừng.

Theo các sắp xếp nầy nên người cho tin nói rằng vấn đề Ca Sĩ Đàm Vĩnh Hưng có thể đi vào một giai đoạn rắc rối hơn. Theo lời tuyên bố của Ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng là anh đã qua Hoa Kỳ trình diễn nhiều lần trong nhiều năm qua, nhưng trong hồ sơ về thuế vụ của Hoa Kỳ không có Record nào để giúp cho các quyết định của điều tra và Tòa Án. Thế nên tin nói rằng, hiện Cơ quan IRS, FBI đang bắt tay vào một cuộc điều tra sâu rộng và đòi hỏi Ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng sẽ phải khai báo các hợp đồng đã đến Hoa Kỳ trình diễn trong thời gian qua, các hóa đơn nhận tiền, chi phí và bản kê khai lợi tức, các biên lai Thuế Vụ đã trả cho những đợt trình diễn trước đây trong suốt nhiều năm qua. Liên quan đến vấn đề nầy, các Bầu Show ca nhạc đã đưa các ca sĩ Việt nam đến trình diễn, cũng sẽ lần lượt kê khai các lần tổ chức và số thu nhập, biên lai đã đóng thuế liên quan đến các đợt đó. Các cơ quan thanh tra liên ngành của Hoa Kỳ sẽ nhập cuộc vì thấy rằng các bầu Show thường khai báo rằng bị thua lỗ nên không đóng thuế một cách thật thà, trong khi thua lỗ thì làm sao mà đưa hết đợt nầy qua đợt khác những Ca Sĩ từ VN qua trình diễn tại Hoa Kỳ. Nhân vật cho tin nói rằng, nếu như các Bầu Show khai lỗ mà vẫn tiếp tục thì họ buộc phải khai báo tình trạng nhận tài trợ từ bên ngoài hay sẽ bị truy thu số thuế mà họ gian lận trong nhiều năm qua. Tòa án cũng sẽ đề cập đến các vấn đề nầy theo các hồ sơ điều tra Liên ngành của Hoa Kỳ.

Nên chăng các tổ chức cộng đồng người Việt tỵ nạn tại Hoa Kỳ tập trung hỗ trợ chính quyền Hoa Kỳ trong việc cung cấp các thông tin cần thiết cho FBI, IRS và Tòa Án về hoạt động của các Bầu Show trốn thuế và đưa các ca sĩ VC qua gây xáo trộn cộng đồng người Mỹ gốc Việt. Vụ Lý Tống chỉ là giọt nước tràn ly mà thôi.

(E.M.)

Posted: Mon Jul 26, 2010 4:13 am
by dailien
Chống văn công?

Huy Phương
Việt Cộng xem những người trình diễn văn nghệ như những người thợ không hơn không kém. Thợ hát, thợ đàn, thợ múa tập họp thành những toán văn công, được điều động làm việc theo chỉ thị và đường lối của đảng, để hoặc là tuyên vận, hoặc để giải trí cho đám đông. Vì vậy chúng ta cũng quen gọi những người này là văn công. Văn công phải được huấn luyện tư tưởng chính trị, có lý lịch, có lập trường, được nuôi dưỡng và nhận công tác theo nhu cầu của từng chiến dịch. Ngày nay văn công được đưa ra nước ngoài trình diễn dưới visa du lịch, dù là dưới hình thức kiếm ăn riêng của cá nhân, do nhu cầu hay được sự cho phép của các cơ quan trách nhiệm trong nước, do đường lối của đảng đều có lợi cho chế độ. Dù những ca sĩ này không hát những bài ca tụng bác hay đảng như hồi chiến tranh “chống Mỹ” hay lúc mới vào Saigon, nhưng những khuôn mặt này vẫn tượng trưng một đám ca hát đang được trọng dụng của chế độ hiện nay ở Saigon.

Chúng ta cũng không thể xem những khuôn mặt này chỉ là cá nhân, “đồng bào” ruột thịt không liên quan gì với chế độ Cộng Sản, nên sẵn sàng giang tay đón nhận. Việc cấm cửa những thể thao gia, nghệ sĩ của một quốc gia khác đến trình diễn là một sự cấm vận, trừng phạt kinh tế đối với một quốc gia thù nghịch. Ca sĩ trong nước không sang Mỹ, Úc hay Canada để trình diễn cho dân bản xứ các nước này xem, mà là cho những người Việt Nam di dân, trong nước “dốt chữ” gọi là Việt kiều, đa số là những người tỵ nạn Cộng Sản đã bỏ nước ra đi vì chế độ Cộng Sản. Vậy chuyện “trừng phạt” này không phải là không hợp lý. Chúng ta không có chính phủ hay đường lối để đối phó, mặc nhiên chấp nhận sự tự do hỗn tạp, tùy tiện, mở cửa cho những “văn công” được gởi đi từ trong nước.

Câu hỏi của chúng ta là có phải tất cả ca nhạc sĩ hiện nay của chúng ta tại hải ngoại đều có cơ hội đồng đều để về trình diễn ở Việt Nam không, hay phải qua những giai đoạn sát hạch về đường lối chính trị, và mỉa mai thay, cả tài năng trước một ban giám khảo như theo tiết lộ của một vài ca sĩ đã xin về nước trình diễn trước đây? Những nghệ sĩ này trước đây đã được cộng đồng hải ngoại nuôi sống từ khi đặt chân đến Mỹ, nay về nước gặp gỡ giới báo chí, trở thành những kẻ cơ hội, ca tụng chế độ đương thời, nói xấu hải ngoại coi mình như “con không cha”, nay về nhận bố đẻ Cộng Sản ở Saigon, khi trở lại đây vẫn được khán giả đồng bào chấp nhận. Bây giờ chúng lại đứng trên sân khấu hải ngoại, cười khẩy vào mặt chúng ta.

Nghệ sĩ trong nước ra trình diễn trước hết là cạnh tranh với ca sĩ hải ngoại, vì mỗi nghệ sĩ đều có sân chơi riêng của mình. Xin dành cho những ca sĩ đã cùng hoàn cảnh sống chết với chúng ta chứ không phải tất cả đều “cá mè một lứa”. Cách đây vài năm những ca sĩ trong nước ra hải ngoại trình diễn đều gặp nhiều sự phản đối, dai dẳng nhất là trường hợp Bằng Kiều, cho đến lúc Bằng Kiều “xin nhận nơi này làm quê hương”. Không phải những giới chức trách nhiệm về vấn để đưa ca sĩ ra nước ngoài lưu diễn không biết đến việc này, nên họ dùng kế hoạch “tằm ăn dâu” hay “vết dầu loang”. Trước tiên “những ông bầu” cho thử nghiệm bằng cách chỉ để các ca sĩ này chỉ hát thuần túy ở những sòng bài, xen lẫn với những ca sĩ hải ngoại. Khi thấy không có sự phản đối của người nước ngoài, trái lại còn được báo chí, truyền thông quảng cáo, phỏng vấn, các ca sĩ này bắt đầu hiện diện trong những show hát tại các thành phố lớn có nhiều người Việt, bước tiếp theo là tổ chức những buổi trình diễn toàn là những ca sĩ từ trong nước ra. Vì hải ngoại vẫn mua vé đi xem, một số người muốn đổi món ăn, thiếu ý thức chính trị, nên có lúc báo chí trong nước đã loan tin con số thù lao của một hai ca sĩ ra hải ngoại đã lên đến con số $10,000.00 đô la, số tiền mà ca sĩ hạng nhất ở đây cũng không bao giờ với đến.

Trong chủ trương đem văn hóa thâm nhập cộng đồng người Việt ở hải ngoại, trước đây, Cộng Sản đã tổ chức những chuyến lưu diễn “Duyên Dáng Việt Nam” quy mô và tốn kém, nhưng không có kết quả vì sự chống đối của đồng bào hải ngoại, Cộng Sản xoay qua chiến thuật đánh du kích bằng cách gởi đi những ca sĩ được nuôi dưỡng và ưu đãi từ trong nước, với tính cách cá nhân đi du lịch ra nước ngoài để tránh danh nghĩa là do các cơ quan trong nước tổ chức. Một nguồn tin từ cơ quan thuế vụ Hoa Kỳ cho biết các nghệ sĩ ngoại quốc đến trình diễn tại Hoa Kỳ phải thông báo cho cơ quan IRS ít nhất là 30 ngày trước khi lưu diễn và ký thỏa thuận CWA (Central Withholding Agreement) để tránh lỗi lầm không đóng thuế. Sở thuế Hoa Kỳ hiện nay để ý rất kỹ về các cuộc lưu diễn của các nghệ sĩ ngoại quốc, nhất là ở đây lại dưới visa du lịch, vì nhiều năm qua Hoa Kỳ đã thất thu trong các trường hợp này. Các ca sĩ Việt Nam ra kiếm ăn ở ngoại quốc rồi đây sẽ sợ sự thăm hỏi của sở thuế hơn là sợ bị biểu tình phản đối.

Hiện nay có nhiều tổ chức chính trị tại hải ngoại đã hô hào biểu tình “chống văn công”, nghĩa là chống những ca sĩ “con cưng” của chế độ trong nước ra trình diễn. Những cuộc biểu tình này nhiều lúc cũng khiến cho buổi trình diễn phải dẹp bỏ, nhưng cũng đôi lúc, “trong vỗ tay, ngoài la hét”, ai mua vé đi xem thì cứ việc đi xem, ai biểu tình phản đối thì cứ biểu tình, vì người biểu tình không được vào rạp để bị kết tội phá rối và ông bà bầu, ca nhạc sĩ thì được nhân viên an ninh hoặc cảnh sát bảo vệ chặt chẽ.

Cũng có những cuộc biểu tình nhắm sai mục đích hay thiếu cơ sở không được nhiều người hưởng ứng như cuộc biểu tình chỉ vì một cái khuy nịt có hình ngôi sao trắng chỉ thấy in trên poster, cuộc biểu tình chống một trung tâm ca nhạc chỉ vì ngày trình diễn có xa gần với ngày sinh của Hồ Chí Minh (thì đã sao?) Chúng ta đã từng phung phí, tiêu hao quá nhiều năng lực không đúng chỗ, đúng lúc.

Chúng ta buồn vì cứ nghĩ có khi con trẻ ngồi xem trong rạp mà cha mẹ già đứng ở ngoài biểu tình. Các bậc cha mẹ đã giáo dục được con trẻ chưa? Các đoàn thể đã giáo dục được quần chúng chưa? Cộng đồng hải ngoại đã đoàn kết chưa? Lại còn những con cái của những cựu tù nhân chính trị, quên quá khứ của cha ông, chấp nhận ca hát bên các ca sĩ do Cộng Sản đưa ra nước ngoài, chỉ vì mùi thơm của đồng đô la, thật đáng xấu hổ. Nhiều ca sĩ hải ngoại đã có lập trường trước đây, không muốn hay không được về Việt Nam trình diễn, nay trước luật đào thải và thị hiếu của quần chúng cũng đành đứng chung sân khấu với những “văn công”, mà không hề thấy hổ thẹn.

Ba mươi lăm năm rồi, Cộng Sản chưa thao túng hay chưa có khả năng khống chế sân chơi hải ngoại vì chúng ta tuy không có chính phủ, không có quân đội, không có công an trấn áp, không có một tổ chức đại diện duy nhất, nhưng còn giữ vững được tinh thần của những người đã bỏ đất nước ra đi vì chế độ Cộng Sản đương thời. Nhờ tinh thần đó, mà hôm nay, Cộng Sản Việt Nam mặc dầu có tòa đại sứ, lãnh sự trên đất Mỹ nhưng chưa treo nổi một lá cờ trong khu phố của cộng đồng người Việt hải ngoại. Tuy vậy trên mặt trận văn hóa, sản phẩm băng nhạc, báo chí, phim ảnh và nhất là ca sĩ trong nước ồ ạt tuôn ra nước ngoài, đến những địa điểm từng hãnh diện mang danh là thủ đô chính trị, thủ đô tỵ nạn... Lý do là vì cộng đồng người Việt của chúng ta chưa đoàn kết đúng mức, chưa một lòng, chưa nhìn rõ lại mình, nên mãi vẫn còn có cảnh “trống đánh xuôi kèn thổi ngược.”

Muốn loại bỏ ảnh hưởng nghị quyết 36 của Cộng Sản trong công tác văn hóa tư tưởng, hải ngoại có một kho vũ khí tuyệt đối, khá lớn mà không chịu sử dụng. Vũ khí đó là đồng đô la. Trong nước đang cần đô la, chúng ta lại tiếp tế đô la cho trong nước. Các ca sĩ trong nước ra hải ngoại cần đô la chúng ta lại xếp hàng mua vé đi xem. Hải ngoại phải biết nói không và quyết định “không”: đó là không mua vé các buổi trình diễn có văn công, đại lý nhà buôn không nhận bán vé, báo chí truyền hình không chạy quảng cáo thì ca sĩ trong nước không còn đất dụng võ.

Khi hải ngoại chúng ta đồng tình nói được chữ “không”, trong rạp hát vắng người xem thì ngoài rạp không cần phải giăng cờ treo biểu ngữ, hay chịu mưa, dang nắng đi biểu tình nữa.

Posted: Tue Jul 27, 2010 6:24 am
by vuphong
Hoa Kỳ phục kích ở sân sau Trung Quốc như thế nào và điều gì sẽ xảy ra?

Greg Torode

Washington cầm đầu việc phục kích Trung Quốc về tranh chấp Biển Đông ở diễn đàn an ninh hàng đầu trong khu vực hôm thứ Sáu đánh dấu một bước ngoặt thay đổi trong quan hệ Trung-Mỹ và đưa ra các sự thiếu sót chiến lược sâu sắc ở châu Á.

Ngay cả khi Ngoại trưởng Hoa Kỳ, bà Hillary Clinton tấn công vào Biển Đông tại Hà Nội, Hoa Kỳ và các tàu hải quân Nam Hàn chuẩn bị cho giai đoạn tập trận với quy mô lớn ở biển Nhật Bản, hay Biển Hoa Đông, gần phía Đông Bắc Trung Quốc – tăng thêm căng thẳng cho bức tranh toàn cảnh.

Những gì đã xảy ra ở Hà Nội thì đặc biệt quan trọng. Khi bà Clinton tuyên bố rằng giải quyết việc đòi chủ quyền lãnh thổ ở Biển Đông hiện nay là “lợi ích quốc gia” và là “ưu tiên ngoại giao” của Hoa Kỳ, bà không chỉ phản ánh mối quan tâm ngày càng tăng của Hoa Kỳ về khả năng thống trị hàng hải Trung Quốc. Điều đó cũng cho thấy Washington đã nắm vững một cơ hội lịch sử.

Hàng tháng qua, liên tục có sự gia tăng các mối quan ngại ở Đông Á về sự quyết đoán của Trung Quốc đã được lên tiếng tại Washington, cũng giống như chính quyền non trẻ Tổng thống Mỹ Barack Obama đã đưa ra các cách để trở lại tham gia vào khu vực bị bỏ quên. Hoảng sợ về việc lặp đi lặp lại rằng, Hoa Kỳ là cường quốc suy yếu, các viên chức Mỹ đã nói chuyện riêng về việc cần xác nhận lại tính ưu chiến lược của Hoa Kỳ ở châu Á.

Sự khẳng định ồn ào ngày càng gia tăng của Trung Quốc về lịch sử của nó, và bây giờ là luật pháp, đòi hầu như toàn bộ vùng biển – ví dụ qua việc giam giữ hàng trăm ngư dân Việt Nam, việc quấy rối các tàu của Hoa Kỳ và các lực lượng hải quân và việc đe dọa thực hiện đối với các công ty dầu hỏa quốc tế khổng lồ nhằm kết thúc các thỏa thuận khai thác với Hà Nội – cung cấp cơ hội đó.

Hành động của Hoa Kỳ không chỉ làm hài lòng những nước đòi chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, những nước là đối thủ của Trung Quốc như: Việt Nam, Malaysia, Philippines và Brunei, mà còn làm yên tâm các nước lớn hơn như Hàn Quốc, Nhật Bản và Indonesia bằng cách gửi thông điệp ảm đạm tới Trung Quốc.

Trong gần 15 năm qua, Washington đã giữ bên lề các căng thẳng trên Biển Đông, trên đường thuỷ chiến lược và giàu khoáng sản nối Đông Á với Trung Đông và châu Âu. Đại diện ngoại giao của họ thỉnh thoảng quan tâm về sự cần thiết cho một giải quyết hòa bình các tranh chấp lãnh thổ, nhưng không đứng bên nào trong việc tranh chấp.

Lời bình luận của bà Clinton đã thay đổi tất cả. Họ đã đưa Hoa Kỳ đứng đầu trong vấn đề chủ quyền Trung Quốc, vấn đề mà gần đâyTrung Quốc đã nói là "lợi ích cốt lõi", quy tắc ngoại giao đặt ngang với Đài Loan và Tây Tạng về sự nhạy cảm.

Đầu năm nay, Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ, Tiến sĩ Robert Gates đã nói tại một diễn đàn an ninh ở Singapore rằng, Washington phản đối bất kỳ nỗ lực nào nhằm đe dọa các công ty dầu khí của Hoa Kỳ tham gia hợp các đồng hợp pháp trong khu vực.

Bà Clinton bình luận chính thức ở Diễn đàn Khu vực Asean, trong các cuộc họp song phương và trong các tuyên bố công khai. Trong khi đó, các viên chức của bà thông báo ngắn gọn với nhóm báo chí đi cùng với phái đoàn Washington để họ không bỏ qua điểm chính.

Trong khi bà bị mắc kẹt vào kịch bản cũ về việc không đứng về bên nào, bà đã nói rõ ràng là Washington muốn thúc đẩy các cuộc thảo luận và các giải pháp trong khu vực - một thách thức trực tiếp tới Bắc Kinh, đã cố gắng, kín đáo nhưng mạnh mẽ, để chặn đứng Asean thảo luận vấn đề này và các viên chức ngoại giao đã nhấn mạnh nó phải được xử lý song phương - nói cách khác, từng nước tranh chấp xếp hàng để giải quyết riêng với Trung Quốc.

Bà Clinton nói: “Hoa Kỳ hỗ trợ quá trình cộng tác ngoại giao của tất cả các bên tranh chấp để giải quyết các tranh chấp lãnh thổ khác nhau mà không cần cưỡng chế. Chúng tôi phản đối việc sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực của bất kỳ nước tranh chấp nào”.

Những lời nói của bà là một thắng lợi ngoại giao quan trọng cho Việt Nam, một món quà từ Washington khi hai nước đánh dấu 15 năm kể từ khi chính thức khôi phục các quan hệ ngoại giao sau cuộc chiến Việt Nam và gần 20 năm bị cấm vận kinh tế.

Trong nhiều tháng, Việt Nam đã tìm cách khai thác vai trò Chủ tịch Hiệp hội mười nước Đông Nam Á để giữ vấn đề Biển Đông nóng bỏng. Các nước tranh chấp vùng biển giàu có đã tuyệt vọng để đạt tiến bộ về một ràng buộc pháp lý của quy tắc ứng xử - một cam kết trong tuyên bố năm 2002 đã ký kết giữa ASEAN và Trung Quốc trên Biển Đông kêu gọi tự kềm chế. Tuyên bố ban đầu này được coi là một bước tiến quan trọng, nhưng ngày càng nó hiện ra như một tờ giấy lộn trong việc chống đối các hành động của Trung Quốc.

Bà Clinton nhiều lần nhắc đến các nguyên tắc của tuyên bố đó, như âm nhạc vang bên tai các quan chức Việt Nam.

Chỉ một năm trước, Trung Quốc đã được nhiều người xem như là đang chia rẽ Asean, với mỗi thành viên có quan hệ riêng với Bắc Kinh trước khi ASEAN thống nhất. Có rất ít động lực về vấn đề [Biển Đông] trong các cuộc họp chính thức. Và trong bối cảnh, áp lực Trung Quốc là không đổi, theo một số nhà ngoại giao Asean. Ngay cả Campuchia, chế độ đã từng là liên minh chặt chẽ với Hà Nội, đang bác bỏ các nỗ lực của Việt Nam, nhân danh Bắc Kinh.

Sự thận trọng đó vẫn còn nhìn thấy vài giờ trước khi bà Clinton đến. Vào một ngày trước khi Diễn đàn Khu vực ASEAN tổ chức, các ngoại trưởng của khối đã có cuộc họp chính thức hàng năm với Bộ trưởng Ngoại giao Dương Khiết Trì. Chỉ có Philippines nêu ra vấn đề Biển Đông. Sự dè dặt như thế phản ánh cách truyền thống của Asean. Các cuộc họp và các tuyên bố chính thức nói chung là nhạt nhẽo nhất.

Ngay cả Việt Nam hiếm khi đổ lỗi cho Trung Quốc trước công chúng, khuynh hướng duy trì vẻ bề ngoài của tình anh em. Hôm qua, tràn ngập một chiến thắng hiếm hoi, báo chí nhà nước bao giờ cũng thận trọng đã không không có tiếng nói chính thức nào về các cuộc họp.

Một quan sát viên ngoại giao cho biết: “Đó là điều đáng chú ý. Không ai muốn dẫn đầu. Tất cả mọi người đều chờ đợi để cùng nhau được an toàn”.

Clinton đến hôm thứ Năm cho thấy cung cấp sự an toàn đó, khi lời lẽ truyền đi về sự cứng rắn mới của bà.

Vào lúc diễn đàn bắt đầu hôm thứ Sáu, 11 thành viên khác đã sẵn sàng với các báo cáo, bao gồm Brunei, Malaysia, Philippines và Việt Nam - những nước có phần được hoặc mất nhiều nhất - cũng như Indonesia, EU, Úc và Nhật Bản. Tiếp theo là từng nước thay phiên đọc các báo cáo.

Trong khi ông Dương bày tỏ sự bực tức sau đó, những gì xảy ra không có gì bất ngờ đối với Bắc Kinh. Trong hơn một năm, quân sự, diễn tập chính trị và ngoại giao đã cho thấy các mối quan ngại ngày càng tăng trong khu vực.

Các viên chức quân sự Việt Nam kín đáo đã bay ra tàu sân bay Hoa Kỳ ở Biển Đông và đã được mời lên trên chiếc tàu ngầm của Hoa Kỳ ở Hawaii. Và Việt Nam đã cho phép các tàu chiến Hoa Kỳ sửa chữa tại cảng địa phương.

Hà Nội cũng đã thực hiện một thỏa thuận với Moscow, đồng minh chiến tranh lạnh trước đây để mua sáu tàu ngầm hiện đại loại Kilo.

Trong khi đó, Lầu Năm Góc và các quan chức Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ngày càng nói thẳng lời điều trần trước Quốc hội Hoa Kỳ về sự cần thiết để khẳng định quyền hàng hải trong vùng biển quốc tế bất chấp sự quan tâm của Trung Quốc. Trong khi Trung Quốc tuyên bố nhiều [phần] Biển Đông là vùng đặc quyền kinh tế, Hoa Kỳ và các quốc gia khác nhấn mạnh rằng nó vẫn thuộc vùng biển quốc tế và vì thế các hoạt động quân sự thường xuyên, gồm cả giám sát, đều được phép.

Những căng thẳng này đã hiện ra khi ở Singapore, ông Gates nói với các cử tọa gồm các sĩ quan cao cấp của Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc.

một viên chức PLA đã nổi giận sau đó: “Chúng tôi không xem nó như là một ‘cái hồ của Trung Quốc’, chúng tôi cho phép [những tàu] vô sự đi qua. Nhưng tôi xin lỗi, sự giám sát của Hoa Kỳ không phải là vô hại. Sự quan tâm của Trung Quốc không phải được đánh giá thấp”.

Có hay không việc Washington đánh giá thấp các mối quan ngại kia vẫn được nhìn thấy. Chắc chắn Bắc Kinh sẽ xem những sự kiện ở Hà Nội như là một sự khiêu khích đáng kể. Cũng có một cảm giác ngày càng tăng trong khu vực, rằng biển là quan trọng đối với tham vọng của Trung Quốc cho hải quân trên “đại dương” có thể hoạt động xa bờ, vì chỉ có nó cung cấp lối vào vùng nước sâu đến Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương.

Điều rõ ràng là Hoa Kỳ hiện đang chuẩn bị để giải quyết một trong những vấn đề khó khăn nhất trong khu vực - một sự thay đổi chính sách mà sẽ không dễ dàng quay ngược trở lại. Và với Trung Quốc, tuần trăng mật với bất kỳ nước Asean nào thì đã đi qua.

Đối với tất cả những rủi ro, Washington nhận biết cơ hội.

Ngọc Thu dịch

Posted: Thu Jul 29, 2010 12:05 am
by caubennoc
Hoa Kỳ tham gia giải quyết tranh chấp Biển Ðông
là thông điệp hết sức tích cực


Phỏng vấn Tiến Sĩ Nguyễn Quang A ở Hà Nội

Image
Tiến Sĩ Nguyễn Quang A.
QUẬN CAM (NV) - Tiến Sĩ Nguyễn Quang A, 64 tuổi, nguyên viện trưởng Viện Nghiên Cứu Phát Triển Việt Nam IDS. Ông đạt học vị tiến sĩ khoa học năm 1982 (Hungary) về ngành điện tử viễn thông và được coi là một trong những người có công nhất, ảnh hưởng nhiều nhất đến sự phát triển của Internet tại Việt Nam những năm đầu.

Năm 2007 ông và một số trí thức nổi tiếng trong nước thành lập IDS, một viện nghiên cứu độc lập đầu tiên tại Việt Nam. Tuy nhiên, ngày 14 tháng 9, 2009, 16 thành viên của IDS đã ra bản tuyên bố tự giải thể với lý do nhà cầm quyền Trung Ương Hà Nội ra quyết định 97/2009/QÐ/TTg cấm các tổ chức nghiên cứu công bố công khai các kết quả, công trình nghiên cứu, bài viết phản biện của họ. Bản tuyên bố dài 6 trang giấy lên án quyết định đó là “phản tiến bộ, phản dân chủ,” phản Hiến Pháp và luật pháp hiện hành của Việt Nam.

Nhân những lời tuyên bố của bà ngoại trưởng Hoa Kỳ liên quan đến tranh chấp chủ quyền biển Ðông khi bà dự Diễn Ðàn An Ninh Khu Vực ASEAN ở Hà Nội ngày 23 tháng 7, 2010, nhật báo Người Việt đã phỏng vấn một số người trong và ngoài nước, trong đó có Tiến Sĩ Nguyễn Quang A. Dưới đây là phần phỏng vấn của nhật báo Người Việt với ông Nguyễn Quang A.


Người Việt (NV): Thưa ông, cách đây ít ngày vào tuần trước, bà Ngoại Trưởng Mỹ Hillary Clinton tham dự cuộc họp Diễn Ðàn An Ninh Khu Vực ASEAN ở Hà Nội, chắc ông có theo dõi tin tức hội nghị. Trong hội nghị đó bà Clinton có cho hay rằng là Hoa Kỳ sẵn sàng đứng ra dàn xếp cho một cơ chế để các nước trong khu vực thảo luận và giải quyết bằng đường lối ngoại giao cuộc tranh chấp về biển Ðông, ông thấy thế nào?

TS Nguyễn Quang A: Tôi nghĩ vấn đề biển Ðông rất quan trọng đối với Việt Nam và đối với cả khu vực này. Việc tham gia của Hoa Kỳ trong việc dàn xếp, giải quyết những vấn đề biển Ðông tôi nghĩ là một thông điệp hết sức tích cực từ phía chính phủ Hoa Kỳ và rất quan trọng đối với tình hình an ninh khu vực Ðông Nam Á.

NV: Thưa ông, bà ấy nói như vậy không biết có phải là vì ít lâu nay, thời gian vừa qua, phía Việt Nam đã từng vận động để quốc tế hóa vấn đề nhưng dường như kết quả không được như phía Việt Nam mong muốn tức là đạt được một sự đồng thuận ở ASEAN, theo ông có phải vì vấn đề như vậy không mà Hoa Kỳ đã tích cực hơn?

TS Nguyễn Quang A: Thực sự ở đây vấn đề phức tạp hơn như vậy nhiều. Thứ nhất là vùng biển Ðông là đụng đến vấn đề tự do hàng hải, một con đường rất là huyết mạch đối với nhiều nước từ Nhật Bản đến Hàn Quốc, Nga, Mỹ cho đến các nước ở Ðông Nam Á này, đấy là một chuyện. Chuyện thứ hai là tranh chấp đảo, lãnh thổ và thực sự là tranh chấp tài nguyên của một số nước trong khu vực. Hai chuyện này dính với nhau.

Chuyện thứ nhất là tự do hàng hải hầu như tương đối dễ thống nhất mà theo luật biển quốc tế phải đảm bảo tự do hàng hải như thế này, thế kia; nhưng mà chuyện đó nó lại dính vào việc tranh chấp chủ quyền biển Ðông. Tranh chấp chủ quyền biển Ðông như thế có thể cản trở đến chuyện tự do hàng hải. Trong tranh chấp chủ quyền này chủ yếu xảy ra là giữa Trung Quốc, Ðài Loan, Phillipines, Malaysia, Việt Nam, Brunei và một phần không phải toàn bộ 10 nước trong hiệp hội ASEAN cho nên việc có một tiếng nói chung ở trong ASEAN về chuyện này không phải là dễ. Một mặt là Trung Quốc họ cương quyết không giải quyết vấn đề này trên bình diện quốc tế đa phương mà chỉ giải quyết đơn phương từng cặp nước một mà trụ cột là họ, tức là Trung Quốc cứ song phương với Việt Nam, song phương với Phillipines, v.v... Tức là chiến thuật của Trung Quốc tách bó đũa ra từng chiếc đũa một. Ðó là kế đàm phán của họ luôn luôn mạnh mẽ với sức mạnh quân sự của họ nữa.

Không những sức mạnh quân sự với số tiền bạc mà họ có thể dùng lấy danh nghĩa viện trợ đầu tư thì họ có thể có ảnh hưởng đến nhiều nước khác. Nếu một nước họ dùng chiến thuật riêng để làm sao tách riêng các quốc gia này ra để không có tiếng nói chung, đấy là chiến thuật của Trung Quốc. Cho nên là quốc tế hóa, đa phương hóa việc giải quyết vấn đề biển Ðông mà Việt Nam muốn làm thì không phải dễ.

Chừng nào không có những tiếng nói dứt khoát từ những cường quốc thí dụ như Hoa Kỳ, không có tiếng nói mạnh như Hoa Kỳ thì lúc đó Nhật Bản cũng e ngại, Hàn Quốc cũng e ngại, các nước khác cũng e ngại, khi bà Clinton nêu chính kiến của Hoa Kỳ một cách rất dứt khoát thì đã có một sự biến chuyển rất tốt về vấn đề này, tức nhiên là Trung Quốc họ cực lực phản đối.

NV: Ngày hôm Thứ Hai, Bộ Ngoại Giao Trung Quốc họ đã lên tiếng phản ứng một cách chính thức qua một bài viết trên website của họ nói rằng họ không chấp nhận quan điểm của chính phủ Hoa Kỳ đồng thời họ chỉ muốn giải quyết song phương với từng nước một mà thôi. Chúng ta nhìn rõ quan điểm của họ như ông đã nói: họ muốn chia bó đũa ra từng đôi một, từng chiếc một để họ bẻ cho dễ nhưng có một tín hiệu có vẻ làm cho nhiều người khó hiểu là trong rất nhiều dịp khác nhau, các lãnh tụ Việt Nam và Trung Quốc khi gặp nhau thì đều luôn luôn nói đến chuyện thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước lên tầm cao mới, cho nên không biết đó chỉ là những lời tuyên truyền bề ngoài và bên trong có che giấu một điều gì khác không khi nhìn vào thực tế những gì đã xảy ra trong thời gian qua trên biển Ðông, hai cái đó nó không có đi đôi với nhau?

TS Nguyễn Quang A: Tôi nghĩ rằng các nhà lãnh đạo Việt Nam ở trong một tình thế rất khó xử và rất tế nhị và tôi đồng cảm với những khó khăn của họ. Thứ nhất, Trung Quốc là một láng giềng lớn của Việt Nam và đối với một láng giềng lớn thì Việt Nam phải có quan hệ tốt với láng giềng đó, không thể đổi láng giềng được. Ðấy là một điều kiện mà trời đã bắt chúng ta như vậy thì chúng ta phải có một cách ứng xử tốt nhất làm sao cho sự tồn tại và phát triển của đất nước cho nên điểm thứ nhất là không bao giờ và không nên chống Trung Quốc, đấy là một điều mà tôi nghĩ là rất quan trọng. Phải cố làm sao cho quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc càng lành mạnh bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Một mặt Việt Nam là một nước độc lập, Việt Nam không thể vì lệ thuộc hay là làm tay sai cho bất kỳ một nước nào và luôn luôn có một sự giằng co trong mối quan hệ, một mặt phải giữ quan hệ tốt về mặt kinh tế, về mặt quân sự, v.v... đủ các thứ khác để giữ cái hòa bình ổn định, mặt khác phải giữ độc lập của mình và sự phát triển chung của mình. Trong một mối quan hệ như thế thì không đơn giản, còn đối với các nhà chính trị thì tôi không dám nhận xét họ nói thế này họ hành động thế kia, có lẽ đấy cũng gắn đến nghề làm chính trị hay chăng, tôi không rõ nhưng thực sự cần phải rất là uyển chuyển, mềm dẻo và những lúc cần thiết thì phải rất là cương quyết, cứng rắn.

NV: Chúng tôi hiểu là ông và một số vị sĩ phu trí thức Việt Nam luôn luôn bận tâm về tương lai của đất nước thì theo ông, ông nghĩ rằng trong hoàn cảnh của nước Việt Nam hiện thời thì chúng ta làm được gì và phải làm gì để bảo toàn lãnh thổ cũng như là để phát triển kinh tế xã hội một cách hài hòa và thật sự công bằng cho tất cả mọi người?

TS Nguyễn Quang A: Có lẽ cách tốt nhất là phải cởi mở với tất cả các nước, nhà nước Việt Nam nói là muốn làm bạn với tất cả các nước. Nhưng tôi nghĩ tôi không phải chỉ “làm bạn” mà phải gọi là cởi mở tức là lợi ích của các nước được đảm bảo và những vùng lân cận của Việt Nam và chỉ trong một mạng lưới rất là phức tạp ấy đó nó đan chéo lẫn nhau, nó kềm chế lẫn nhau và cũng có khi nó thúc đẩy lẫn nhau. Một nước với diện tích nhỏ như Việt Nam nhưng dân số cũng không đến nỗi nhỏ lắm. Một nước đang còn nghèo nhưng có một cơ hội để phát triển để trở thành một nước vừa phải trong khu vực tôi nghĩ đấy là chính sách cởi mở đối với quốc tế.

Muốn cởi mở với quốc tế thì phải theo những giá trị những chuẩn mực của quốc tế mà thực sự những giá trị và những chuẩn mực ấy người Việt Nam từ xa xưa đến nay đều coi trọng cả chứ không phải là gì xa lạ. Ðó là tự do, đó là dân chủ, v.v... đó là vấn đề về quyền con người nếu mà Việt Nam làm được như thế thì Việt Nam sẽ mạnh từ bên trong, nước sẽ thực sự mạnh, nhân dân sẽ thực sự giàu lên, có hiểu biết thêm, có mối quan hệ tốt với những nước lớn, với tất cả những nước xung quanh, mà muốn làm được như thế tôi nghĩ việc giữ được độc lập, tự chủ, tạo điều kiện cho việc phát triển không phải là điều khó khăn cho lắm.

NV: Cảm ơn ông về cuộc phỏng vấn.

Posted: Fri Jul 30, 2010 2:37 am
by vuphong
Tin vào Tương lai Dân chủ
Tuesday, July 27, 2010

Ngô Nhân Dụng


Gần đây cựu Trung Úy Trương Văn Sương được ra khỏi tù đưa về nhà. Trả lời một phóng viên Người Việt phỏng vấn, anh nói: “Tôi vẫn muốn dân tộc Việt Nam bây giờ nên hướng về tương lai. Nên đối xử với nhau trong tinh thần nhân đạo. Hãy để quá khứ về quá khứ.” Thái độ thản nhiên bình tĩnh của anh có thể làm nhiều người ngạc nhiên.

Sau 1975, Trương Văn Sương đã bị cộng sản tù đầy 6 năm. Năm 1981 anh vượt biên rồi lập tức tham gia phong trào tranh đấu với các anh Trần Văn Bá, Lê Quốc Túy, Hồ Thái Bạch, tổ chức của họ bí mật mang vũ khí về nước, tính khởi nghĩa lật đổ chính quyền cộng sản. Bị bắt và bị kết án chung thân, anh Sương lúc nào cũng giữ vững tinh thần bất khuất. Nay anh nói hãy quên đi quá khứ để hướng về tương lai, hãy đối xử với nhau trong tình nhân đạo. Anh Sương đã thay đổi ra sao?

Những lời anh nói không có nghĩa là việc chấm dứt guồng máy độc tài cộng sản không còn cần thiết nữa; như trước đây hơn 30 năm anh đã đấu tranh cho mục đích đó. Ðọc những lời trong bản “tự khai” (mà anh đã viết đi viết lại nhiều lần, không bao giờ thay đổi), chúng ta hiểu rõ ý anh. Trước mặt các cán bộ cộng sản, lúc nào anh cũng khẳng định điều anh vẫn tin tưởng và muốn nhắn nhủ họ: Chủ nghĩa cộng sản sai lầm, chế độ của họ làm hại dân tộc, cần phải chấm dứt.

Dù đã bị cô lập nhiều năm, nhưng ngay khi ở trong tù anh Sương đã biết nhiều tin tức nhờ có dịp tiếp xúc với những tù nhân mới bị bắt vào trại, trong đó có những người tù chính trị như Nguyễn Khắc Toàn. Những lời Trương Văn Sương mới nói cho thấy một cách nhìn mới và một thái độ mới trong cuộc tranh đấu. Người Việt Nam vẫn phải đứng lên giành lấy các quyền tự do dân chủ; nhưng cuộc đấu tranh đã bước sang một giai đoạn mới, với các phương pháp mới.

Trước khi ra khỏi cửa nhà giam anh Trương Văn Sương hẳn biết rằng thế giới bên ngoài đã thay đổi, và mặc dù chế độ độc tài vẫn còn đó nhưng cả đất nước ta, đồng nào ta đang thay đổi rất nhanh. Với thời cơ mới, phương tiện mới, những người tranh đấu phải quên quá khứ và hướng về tương lai.

Khi anh Sương bị bắt lần thứ hai, loài người chưa sử dụng Internet khắp nơi như bây giờ. Ở Việt Nam lúc đó chưa có ai “lên mạng” trao đổi thông tin và ý kiến như bây giờ. Ba mươi năm trước, bạo lực và dối trá đang có năng suất cao nhất trong chế độ cộng sản. Người dân không biết tin tức, và họ sợ cường quyền. Khi đó, trông từ bên ngoài Liên Xô vẫn là “tổ quốc vững chãi của khối vô sản” như ông Lê Duẩn hay ca tụng. Nga vẫn đang bành trướng, mang quân sang “giải phóng” Afghanistan. Cộng sản đã đặt đầu cầu ở Angola, ở Nicaragua. Ai cũng nghĩ Ðế quốc Ðỏ sẽ tồn tại hàng thế kỷ nữa.

Ðến nay thì khác hẳn. Guồng máy bạo lực và dối trá tan rã từ bên trong. Từ năm 1985 đến nay, trên thế giới chỉ còn Bắc Hàn và Cuba là vẫn trung thành theo đuổi chủ nghĩa Stalin. Nước Tầu và nước ta, tuy bên ngoài vẫn đeo nhãn hiệu, bao bì với tên Cộng Sản nhưng bên trong thực chất đã trở thành những chế độ tư bản quả đầu thời hoang dã, bọn nắm quyền bóc lột người bị trị.

Nhưng điều thay đổi lớn nhất trong xã hội ta, so với lúc anh Trương Văn Sương bị bắt năm 1981, là bây giờ người dân Việt không còn sợ sệt nữa. Ðiều này chắc chắn anh Sương phải biết trước khi ra khỏi tù; vì những người bạn tù chính trị của anh chính là những người đã chữa lành bệnh sợ!

Chế độ công an vẫn bao trùm trên nước Việt Nam, nhưng người dân không còn khúm núm trước cường quyền như những năm xưa nữa. Hàng đoàn dân từ Lục tỉnh, từ Hải Phòng, từ Ðồng Nai, đã nhiều lần kéo nhau về Sài Gòn, đi ra tận Hà Nội, đến thẳng trụ sở trung ương đảng Cộng Sản, đòi phải bồi thường đất đai bị trưng thu. Dân Thanh Hóa, dân Thái Bình nổi giận đã biểu tình đốt xe công an, bắt giam các quan chức nhà nuớc. Ngay Chủ Nhật vừa qua hàng vạn người ở Bắc Giang đã biểu tình, ném đá đánh lại công an.

Bước đầu tiên để lật độ chế độ độc tài là phải chấm dứt căn bệnh sợ, bước đó đã vượt qua. Nhưng muốn tiến tới một phong trào lớn đủ sức mạnh đẩy cho cỗ xe độc tài sụp đổ thì cần phải có rất nhiều người, ở rất nhiều nơi, chia sẻ với nhau những khát vọng chung, diễn tả qua những quyền lợi cụ thể, thông báo cho nhau các tin tức, để tới lúc họ cùng đứng dậy đòi các quyền lợi của người dân. Ðiều này chỉ xẩy ra nếu mọi người có thể thông tin, giải thích, thuyết phục, liên lạc và cam kết với nhau. So với lúc anh Trương Văn Sương chưa vào tù, thì bây giờ chính là thời cơ để tiến tới sử dụng những phương tiện thông tin liên lạc tân tiến.

Mặc dù các cơ quan báo chí vẫn bị chính quyền kiềm thúc, đe dọa, và bịt miệng, nhưng mạng lưới điện toán đã thành hình và truyền tin nhanh chóng. Như trong vụ đồng bào ở Bắc Giang biểu tình vừa qua, chưa đầy 24 giờ sau, người Việt ở khắp nước và ở hải ngoại đã được đọc những tin tức chi tiết, thấy cả các hình ảnh cuộc biểu tình trên.

Việc cần thiết bây giờ là phải giải thích cho đồng bào hiểu rằng vụ công an đánh chết người ở Bắc Giang không phải là một biến cố lẻ tẻ có tính chất địa phương, mà là một hành động tiêu biểu của cả một chế độ tàn bạo. Phải giải thích để người dân Việt thấy có quyền, có bổn phận và có khả năng đứng lên đòi phải chấm dứt tình trạng đó.

Trong mươi năm qua, dân Việt Nam đã biết đủ tin tức hơn, và dân Việt Nam không còn sợ hãi nữa. Nhưng nhìn vào hành vi của các cán bộ cộng sản thì thấy họ vẫn quen nếp cũ, không thay đổi. Hình như một đám người cầm quyền trong tay vẫn tự bưng tai, bịt mắt, vì vậy càng ngày họ càng hung bạo và trâng tráo hơn.

Công an vẫn tàn nhẫn như thế từ lâu rồi; nhưng bây giờ thì cảnh tàn bạo đó liên tiếp xẩy ra, hiện rõ, vì hai nguyên nhân. Thứ nhất, nhiều người dân bây giờ dám đứng ra tố cáo tội ác của các quan chức hơn trước, bị lãnh đòn thù cũng không sợ. Thứ nhì, các phương tiện thông tin mới giúp mọi người chia sẻ tin tức nhanh chóng cho nên cùng tỉnh thức một lúc, dám đứng lên tố giác cảnh bạo tàn. Dân Bắc Giang vì quá uất ức nên phải xuống đường, khi một thanh niên bị công an đánh chết. Ðánh chết một thanh niên 21 tuổi, lứa tuổi đang bước vào đời, chỉ người đó vi phạm luật giao thông! Trên thế giới có xứ nào như vậy hay không? Trước đây đã có cả làng đi biểu tình vì công an đánh vào đầu một tài xế, khi anh ta chậm trễ không ngừng xe ngay khi “quan” ra lệnh. Người dân đã lên tiếng: Cái đầu người ta không phải là chỗ để các anh muốn đánh bậy lên lúc nào cũng được! Bây giờ ở Bắc Giang, người dân lại lên tiếng: Mạng sống của con người, thân xác của con người, không phải công an muốn làm gì cũng được!

Tại sao công an lại khinh thường nhân phẩm, khinh thường mạng sống của dân như vậy? Họ chỉ là hình ảnh tiêu biểu cho cả chế độ.

Chính vì khinh thường dân chúng, coi rẻ dư luận, cho nên bọn quan chức từ trên xuống dưới coi tiền công quỹ như tiền nhà mình, thò tay vào lấy đem tiêu lúc nào, tiêu phí cách nào cũng được. Nhóm lãnh tụ Ðảng tự coi họ như những kẻ đã “trúng thầu” lãnh tất cả các công tác xây dựng kinh tế Việt Nam . Ðất đai, rừng, biển, mỏ dầu khí, mọi tài nguyên đều là của chung, nhưng nay Ðảng độc quyền phân phối, sử dụng. Tiền vay của các nhà tư bản bỏ vốn hay các quốc gia cho vay trực tiếp cho họ cơ hội rút ruột. Những món tiền đầu tư là của công, nhưng các quan chức coi đó là món lời chung do việc “Ðảng lãnh đạo,” tha hồ chia chác với nhau. Họ coi hành động rút ruột, chấm mút đó là quyền tự nhiên của giai cấp lãnh đạo từ trên xuống dưới. Cho nên mới có những cán bộ đánh bạc thua hàng triệu đô la, có anh nhận hoa hồng hàng triệu đô la tiền mặt của nhà thầu Nhật Bản. Họ ăn tiền, tiêu tiền một cách trâng tráo như thế, vì họ coi khinh dư luận, vì họ coi cả nước Việt Nam là tài sản riêng của họ. Một công ty Vinashin sử dụng công quỹ làm vốn, đi vay bốn tỷ đô la sắp vỡ nợ, không trả được thì Ðảng điều tra trước. Khi Ðảng cho phép, thì mới đưa sang cho cảnh sát điều tra coi ai có lỗi. Hành động ngang ngược đó bắt nguồn từ thái độ khinh thường dân, coi tiền công quỹ là tiền cho đảng toàn quyền sử dụng, không phải tiền của dân chúng.

Thái độ khinh thường dân đến độ trâng tráo đã biểu lộ một cách nhơ nhuốc qua đám quan chức dâm ô tại tỉnh Hà Giang. Chưa bao giờ ở nước Việt Nam lại có một nhóm quan chức cầm đầu một tỉnh sử dụng một hiệu trưởng đóng vai ma cô, dụ dỗ, ép buộc các nữ sinh phải phục vụ tình dục cho họ! Tất cả đám quan viên đó chia hưởng trò nhơ bẩn với nhau, hoặc im lặng đồng lõa với nhau dù ngứa mắt, kéo dài suốt bao nhiêu năm, trong một chế độ mà nhất cử nhất động không lọt khỏi mắt công an! Thái độ hưởng thụ trâng tráo, không liêm sỉ, không e dè, của những viên quan chức tỉnh Hà Giang là hình ảnh tiêu biểu cho thái độ coi rẻ dân, khinh thường dư luận, của cả đảng Cộng Sản. Phải đợi tới khi một nữ sinh đưa các hình ảnh lên mạng Internet thì đảng mới can thiệp để tránh tiếng!

Một nữ sinh dùng máy điện thoại di động chụp hình đã giúp cho cả nước biết rõ hơn các hành vi thô bỉ của đám cán bộ cao cấp đầu tỉnh này. Chính một phương tiện truyền thông tân tiến đã là đầu mối gây ra sự vỡ lở của cả guồng máy khai thác nữ sinh Hà Giang của các quan chức cộng sản. Và sẽ là đầu mối đưa tới sự sụp đổ của chế độ cộng sản trong tương lai. Chế độ cộng sản đã sập ở Nga, ở Ðông Âu vì chính các đảng viên cộng sản cũng chán ngán, không muốn tham dự vào guồng máy đàn áp và gian dối nữa. Tháng Bẩy năm 1980, Công Ðoàn Ðoàn Kết ở cơ xưởng Gdansk, Ba Lan, đình công, rồi khắp nước Ba Lan đình công. Trong những tháng cuối năm đó, một phần ba đảng viên Ðảng Ðoàn Kết Công Nhân (tức đảng Cộng Sản) rút ra khỏi đảng. Một phần ba khác tham dự vào các hoạt động của Công Ðoàn Ðoàn Kết. Chín năm sau, chế độ cộng sản ở Ba Lan chấm dứt.

Có hai hiện tượng mà anh Trương Văn Sương chứng kiến khi ra khỏi nhà tù. Một là: Người dân không còn sợ nữa. Hai là: Các phương tiện thông tin mới sẽ phơi bày mọi điều dối trá, mọi cảnh bạo tàn, dân Việt ngày càng biết nhiều tin tức, nhiều ý kiến hơn. Anh Sương phải tin tưởng, là với những phương pháp đấu tranh bất bạo động, thế nào rồi nước Việt Nam cũng sẽ chuyển mình. Cuộc chuyển mình sẽ diễn ra từ từ, khi mỗi ngày lại có một nhóm người dân can đảm đứng lên đòi nhân phẩm và quyền lợi của họ phải được tôn trọng. Trước cảnh đó, người tù Trương Văn Sương dũng cảm, bất khuất suốt 33 năm, có thể khẳng định rằng: “Bây giờ là lúc phải hướng về việc xây dựng tương lai.” Tương lai, chắc chắn là một nước Việt Nam sẽ sống trong tự do dân chủ. Khi niềm tin đó tự trong lòng đã thật sự mãnh liệt, thật vững chắc, thì chúng ta có thể thản nhiên nói rằng hãy bỏ qua quá khứ, hướng tới tương lai, như anh Trương Văn Sương khuyến cáo.

Posted: Sat Jul 31, 2010 12:45 am
by dailien
Vì sao cán bộ... mặt dày?
Hà Sĩ Phu
Sáng nay đọc trang Boxitvn tôi được gợi cảm sâu sắc, bởi thấy hai bài Hội chứng "ghét cán bộ"... và Văn hóa “Mặt dày” liên quan với nhau mật thiết, bài nọ cắt nghĩa cho bài kia.

- Tại sao ghét cán bộ?

- Vì đến nay số đông cán bộ đã bị chứng... mặt dày! (không dám vơ đũa cả nắm, nhưng có là số đông mới hình thành nên một thứ “văn hóa mặt dày” chứ?). Tự nhiên một câu hỏi cứ bật ra: Tại sao “cán bộ” của ta lại gắn với “mặt dày” đến nỗi dân cứ thấy cán bộ là ghét? Sao lại có điều vô lý thế, sao lại có thể ăn nói với nhau khó nghe thế?

Xin hãy bình tâm, không vô lý chút nào. Vì đằng sau những cán bộ ấy là một chữ QUYỀN to tướng để dựa lưng. Tôi dám chắc khi chưa dính đến chữ Quyền thì những người này cũng có bộ mặt nếu không mảnh mai dễ thương, thì ít ra cũng biết xấu hổ như mọi người.

Có quyền thì sướng lắm, trong bầu không khí độc quyền thì “có quyền mua tiên cũng được” chứ mua dâm đã ăn nhằm gì? Vì thế muốn mua được cả “tiên” thì trước hết phải mua được chức quyền đã! (bây giờ nhiều chức phải mua tiền tỷ, nhiều tỷ nữa). Mua Quyền còn lãi hơn mua đất, một vốn bốn... mươi lời. Kinh doanh Quyền mới là bọn lái buôn thượng thặng. Vì đất không biết tự đẻ chứ Quyền thì “tự đẻ” mãnh liệt: xu hướng tự nhiên của quyền lực là lạm quyền, nó cứ bành trướng đến khi nào gặp một trở ngại không thể vượt qua. Montesquieu đã có phát hiện rất quý báu này.

Vì thế một xã hội văn minh khi tạo lập quyền lực bao giờ cũng phải có ngay một “cơ chế hãm quyền lực” đi kèm theo. Cách tự hãm của hệ quyền lực là tạo ra nhiều trung tâm quyền lực độc lập với nhau, đến mức đủ để kiềm chế nhau (chứ không vào hùa với nhau) và người trọng tài phán quyết cuối cùng là Nhân dân, trọng tài thật chứ không phải trọng tài danh nghĩa.

Sàng lọc mãi, xã hội đã thấy cần ba trung tâm quyền lực là đủ: phải tam quyền phân lập. Công thức tổng quát đó có thể cải biến ít nhiều tùy từng nước, nhưng điều cấm kỵ là 3 quyền đó không được nhập vào một nơi, không được sinh từ cùng một chỗ. Ta thay chữ “phân lập” bằng “phân công” là cách đánh tráo ngôn từ nguy hiểm. Phân công thì phải có một chủ thể phân công, như ba đứa con cùng một MẸ sinh ra lại được Mẹ phân công để thâu tóm toàn bộ quyền lực thì đấy chẳng phải một kiểu “gia đình trị” là gì?

Tính chất tự sinh của quyền lực, ngoài bản tính lạm quyền, còn nằm ở quan hệ tương sinh giữa Quyền và Tiền, còn nằm ở nạn ô dù, cái dù che cho cái cán, dù mẹ đẻ dù con, công ty mẹ đẻ công ty con..., còn nằm ở tính chất mafia: đã sa vào đường dây này thì không dễ tỉnh ngộ mà rút ra được nữa, cuối cùng tội phạm nào cũng đồng thời là nạn nhân.

Vì thế, một hệ quyền lực đã có gốc độc quyền thì quyền lực cứ tự sinh sôi, tự kích thích, tự gia tăng... Sự thoái hóa, là đặc điểm đính kèm của quyền lực, cũng theo đó mà gia tăng không thể kìm hãm.

Làm bậy thì sướng, sướng bậy mà không ai làm gì được thì tội gì mà không làm tới? Điều này giải thích tại sao cũng con người ấy, cũng bộ máy ấy, lúc đầu có thể tốt mà càng về sau càng xấu đi, uy tín hao mòn đến mức chỉ còn cách “ăn mày quá khứ”, suốt ngày phải nhấm nháp từng mẩu quá khứ, có khi đã mốc, để sinh tồn. Muốn nêu cao những gương tốt của quá khứ để học tập nhưng số gương tốt mới xuất hiện không kịp với số gương xấu thoái hóa cứ mọc ra như nấm sau mưa, không thể “chặt chém” cách nào cho xuể! (Cảm ơn PTT Nguyễn Sinh Hùng đã diễn đạt sự bất cập này rất tuyệt). Nếu đã biết và có trách nhiệm với cái nền xã hội như thế thì phải thương, rất thương các cháu gái nhỏ đang thành những nạn nhân khốn khổ do “lũ” người “lớn” tạo ra, và thả các cháu Hằng cháu Thúy ra ngay mới phải, thưa ông Phó Thủ tướng! Nhẹ tay với thủ phạm nhưng nặng tay với nạn nhân là nghĩa làm sao?

Kẻ cần danh để dựa vào lòng tin phải sống bằng uy tín, nhưng uy tín là loại thực phẩm rất mau hết hạn sử dụng, đòi hỏi phải được chính chủ nhân làm mới hàng năm, hàng tháng, hàng ngày.

Tóm lại Quyền lực làm phát sinh thoái hóa, quyền lực tuyệt đối thì thoái hóa tuyệt đối, vực thẳm này loài người đã trông thấy từ lâu mà việc tránh xa nó thực không phải dễ vì nó thơm ngon hơn mọi thứ trên đời.

Câu chuyện lại dẫn ta bàn về hai chữ TỰ DO.
Khi nói trong chế độ Hitler hay chế độ Stalinist xã hội không có tự do thì chưa chính xác. Bởi chính Hitler , chính Stalin và bộ máy khổng lồ của họ được tự do hết cỡ, chỉ phần còn lại của xã hội là không có tự do. Tổng số Tự do như một hằng số, chia hết cho cực Thống trị thì cực Bị trị còn số không, nên phải có tỷ lệ thích hợp. chế độ Tam quyền phân lập giúp xác định và vận hành tỷ lệ thích hợp ấy, khi ấy ta bảo trạng thái của xã hội là có dân chủ.

Khi tỷ lệ Tự do được phân phối thích hợp, xã hội sẽ vận hành trơn tru, linh hoạt và bền vững. Trong sinh giới (trong đó có loài người) sự bền vững không bao giờ là sự ổn định chết cứng, trái lại là sự sống thường xuyên biến động, linh hoạt để đạt đến một giá trị cân bằng, mà chính giá trị cân bằng này cũng giao động linh hoạt nên gọi là “cân bằng động”. Chỉ có sự cân bằng chính trị (tức là có dân chủ) mới đem lại sự cân bằng tâm lý, cân bằng đạo đức và văn hóa. Kẻ quá thừa Tự do sẽ sinh hư, kẻ quá thiếu Tự do cũng rất dễ sinh hư theo một nghĩa nào đó, khi ấy xã hội chẳng những không yên mà còn dần dần sa đọa.

Con người thoát thai từ “con”(qua hàng triệu năm thời cổ sơ) nên sự Tự do của con người cũng có hai loại: Tự do của NGƯỜI là yếu tố thuộc về Nhân tính (gắn liền với dân chủ), và Tự do của CON là yếu tố thuộc về thú tính (gắn liền với vô chính phủ). Hai yếu tố của Tự do này chi phối lẫn nhau. Khi quyền Tự do nhân tính bị co lại thì Tự do thú tính sẽ phình ra.

Tất cả những chế độ Chính trị độc tài tuy đề cao quyền lực chính phủ, nhưng là chính phủ của riêng họ áp đặt lên nhân dân, nên bản chất lại là “phi chính phủ/anarchist”, di chứng của Tự do thú tính, cùng loại với những Tự do thú tính khác, như bạo lực, dâm loạn..., nên nó khó chống những tệ nạn này, trái lại nó rất xung khắc với Tự do nhân tính là nền Tự do hướng thượng đã được thuần hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa, trong đó “sự tự do của mỗi cá nhân là điều kiện cho tự do của toàn xã hội” như Mác mong muốn, nhưng muốn vậy thì quyền lực lại không được tập trung vào một nguồn duy nhất như ở các nước Xã hội chủ nghĩa hiện thực! Sai lầm cơ bản đáng tiếc của chủ nghĩa Mác-Lê là đã dùng phương tiện chống lại mục đích.

Những hiện tượng Nguyễn Trường Tô, Hoàng Thùy Linh, hiện tượng bạo lực học đường, bạo lực xã hội, nữ sinh lõa lồ đánh nhau đưa clip lên mạng... mà các tác giả trên đề cập chì là những ví dụ nhỏ trong hệ thống thiếu Tự do nhân tinh của một nền dân chủ, dẫn đến phát triển Tự do thú tính hoang dã. Một cách tự nhiên, con “thú” lớn vạch đường cho những con “thú” nhỏ, noi gương nhau cả thôi.

Họ phạm tội lỗi nhưng cũng là nạn nhân, bởi trong thực tiễn xã hội và trong hệ nghe - nhìn (của lề phải đấy!) hàng ngày đầy dẫy những yếu tố khuyếch trương và nuôi dưỡng cái gọi là sự “tự khẳng định mình” một cách hình thức, của thứ Tự do sống sượng, của kẻ thừa QUYỀN thừa TIỀN, của thứ văn hóa hiện đại phù phiếm lai căng, đang chiếm lĩnh quyền làm chủ đất nước. Thứ “Văn hóa mặt dày” sở dĩ vênh váo được vì có một hệ thống công khai nuôi dưỡng nó, (lúc chịu đòn cũng chỉ là đòn giơ cao đánh khẽ), trong khi “đối thủ” của nó là một nền Văn hóa biết xấu hổ, biết đau khổ về tình trạng thua kém, về tình trạng lệ thuộc, đáng tủi nhục của nhân dân mình, của đất nước mình... lại đang ở vào thế bị bị lép vế, bị áp chế, càng yêu nước càng bị người đại diện cho nước đánh đòn.

Trong “Văn hóa mặt dày” có vô số kiểu mặt dày khác nhau, chẳng dâm thì gian, chẳng gian thì nịnh, chẳng nịnh thì lẳng lặng tòng phạm bằng cách quay lưng trước những vấn nạn của xã hội, ngậm miệng ăn tiền và ra vẻ đạo đức ung dung... Có hội chứng “ghét cán bộ” là vì thế.

Trên đời chẳng ai dại gì tuyên bố ủng hộ cái Ác, nhưng cái Ác vốn là yếu tố thường trực, đã phục sẵn trong bản thể sâu xa thầm kín của con người, có mặc cảm bị văn minh kiềm chế nên nó nhạy lắm. Chỉ cần nghe ngóng thấy yếu tố Tự do nhân tính trong xã hội bị lép vế là cái Tự do thú tính lập tức vùng lên chiếm thế thượng phong, và coi chừng, chính nó lại nhân danh cái Thiện (khôn thế)! Vì thế, tôi cảm ơn hai tác giả Nguyễn Thế Thịnh và Nguyễn Trung đã đánh tín hiệu lật tẩy sự nhân danh đánh tráo ấy.

Những tiếng nói Văn hóa bao giờ cũng đáng trân trọng, nhưng Văn hóa và Chính trị là cặp bài trùng. Tạo hóa hóm hỉnh bày ra cuộc chơi Game rất trí tuệ giữa Văn hóa và Chính trị: trong trường kỳ thì Văn hóa quyết định Chính trị, trong đoản kỳ thì Chính trị lại quyết định Văn hóa, nên tránh Chính trị thì cũng khó lòng chấn hưng Văn hóa. Hai thứ ấy có lúc tôn nhau lên, có lúc lại dìm nhau xuống, có anh thắng keo đầu nhưng keo cuối lại thua... Bực mình quá, “Con người” bèn gọi Trời là “Con Tạo” , một thứ “Con” đa đoan như mình cũng phải.

Hà Sĩ Phu
(Trưa 27-7-2010)

Posted: Sun Aug 01, 2010 2:49 am
by khieulong
Người giàu TQ di cư sang phương Tây

Chris Hogg
BBC News

Image
Một mẫu xe hơi mới nhắm vào tầng lớp có thu nhập trung cao ở đô thị Trung Quốc.
Ngày càng có nhiều người giàu ở Trung Quốc nộp đơn xin cơ chế thường trú nhân ở các nước phương Tây trong khuôn khổ các chương trình cho phép các nhà đầu tư với tài lực kinh tế cao được "mua" quyền công dân.
Con số các nhà đầu tư Trung Quốc được cấp quy chế thường trú tại Canada đã tăng gấp đôi trong hai năm.
Ottawa hiện dừng tất cả các đơn gửi tới chương trình nhập cư liên bang dành cho nhà đầu tư trong khi đang tham vấn các kế hoạch tăng gấp đôi mức tài chính cần thiết để có được một thị thực.
Tuy nhiên, người nộp đơn vẫn được phép đệ đơn cho một chương trình cùng loại ở tỉnh Quebec.
Và tại các cuộc hội thảo do công ty tư vấn xin thị thực tại Trung Quốc, các chuyên gia tư vấn đang tiếp tục khuyến khích mọi người nạp đơn cho chương trình này trước khi Quebec cũng tăng gấp đôi yêu cầu tối thiểu của tỉnh cho phù hợp với các đề xuất của chính phủ liên bang.

Tiền mặt và kinh nghiệm


Image
Ông Vincent Chen cho biết độ tuổi di cư trung bình là từ 40-45, đang có chiều hướng trẻ hơn nữa.
Vào một chiều mưa thứ Bảy, trong một phòng họp tại một khách sạn năm sao ở Thượng Hải, hơn 30 "nhà đầu tư" di dân tiềm năng đến để nghe xem làm thế nào họ có thể 'đổi tiền mặt' để lấy được một hộ chiếu nước ngoài.
Nhiều người đang trong độ tuổi 30. Có nhiều cặp vợ chồng trẻ. Phần lớn là những người làm ăn chuyên nghiệp. Một số trong đó mặc quần áo rất sang trọng. Họ có vẻ là đại diện của tầng lớp trung lưu lắm tiền nhiều của ở Thượng Hải.
Họ được cho xem một đoạn video mà công ty làm visa thực hiện để quảng bá cho việc nhập cư vào Canada cũng như cho dịch vụ xin cấp thị thực của nước này.
"Bạn không phải lo lắng về việc hội nhập," lời bình trong video nói. "Bạn thậm chí không cần phải nói được tiếng Anh."
Sau đó, các nhà tư vấn đi vào các chi tiết.
Quy định của Quebec yêu cầu các ứng viên chứng tỏ họ có một tài lực thực sự ở mức 800.000 dollar Canada (hay 776.000USD hoặc 502.000 bảng) và họ phải bỏ ra khoản đầu tư tới 400.000 dollar Canada.
Họ cũng cần chứng minh đã có hai năm kinh nghiệm trong quản lý.
Yêu cầu khác nhau

Image
TQ vừa là quốc gia phát triển ở mặt này, nhưng lại là đang phát triển ở mặt khác.
Mức quy định này rẻ hơn đáng kể, như họ chỉ ra, so với yêu cầu ở Anh, là nơi người ta yêu cầu các nhà đầu tư phải bỏ ra 1 triệu bảng Anh (1,5 triệu USD) trong 5 năm.

Có những mặt ưu điểm và nhược điểm của từng quy định ở mỗi quốc gia.

Nộp và xét đơn vào Canada phải mất khoảng hai năm rưỡi, nhưng các yêu cầu tài chính là thấp nhất trên thế giới.
Hoa Kỳ đòi hỏi ứng viên phải đầu tư lên đến 1 triệu USD trong một doanh nghiệp tạo ra ít nhất 10 việc làm mới. Thời gian từ khi nộp đơn mất một năm rưỡi.
Thủ tục xét đơn của Anh là nhanh nhất. Nó có thể được hoàn thành chỉ trong ba tháng, vẫn theo các chuyên gia tư vấn tại hội thảo về thị thực, và không có phỏng vấn.
Nhưng Anh là nước yêu cầu tốn kém nhất.
"Thông thường, người nộp đơn là chủ sở hữu doanh nghiệp hoặc nhà quản lý cao cấp", theo giải thích của Vincent Chen, chuyên gia tư vấn cao cấp cho công ty Visa Consulting Group.
"Độ tuổi trung bình là 40-45, nhưng người nộp đơn ngày càng trẻ hơn."

Dễ dàng đạt được

Image
Canada đang điều chỉnh chính sách nhập cư với người có nhiều tiền từ TQ theo hướng chặt chẽ hơn.
Canada không thay đổi các yêu cầu của chương trình "nhập cư để đầu tư" từ năm 1991.
"Lúc đó, 800.000 dollar Canada là một số tiền rất lớn," ông Chen nói.

"Nhưng bây giờ, với sự tăng giá bất động sản ở các thành phố như Thượng Hải, người ta không nghĩ rằng mức đó quá khó để đạt được.
"Đó là lý do vì sao bạn thấy con số những người được cấp cơ chế thường trú nhân tăng gấp đôi."
Các yếu tố khác cũng có vai trò ở đây.
Và có một xu thế là nhiều người đến hội thảo là những người đã có bạn bè di cư xong.
Lý do di cư

Image
Cuộc sống ở các đô thị phát triển phương Tây có sức hút với một số người giàu TQ
David Lu, 38 tuổi, nhà quản trị tại một công ty viễn thông, đến hội thảo để tìm hiểu thêm về cách nộp đơn để di cư tới Canada.
Vào cuối hội thảo, ông lập tức hăm hở điền đơn.
Ông Lu có các lý do tích cực để di cư. Một số thân nhân của ông hiện sinh sống ở Canada. Và trong những kỳ nghỉ tại đó, ông đã thích thú khi được hưởng thụ cuộc sống với các mức độ ô nhiễm thấp hơn.
Ngoài ra, ông còn nói người Canada "thoải mái hơn rất nhiều" so với Trung Quốc.
Mặc dầu vậy, có nhiều lý do khác lý giải tại sao ông muốn rời khỏi Trung Quốc.
"Mọi người [ở đây] ghét anh nếu anh có tiền, và người giàu hay bắt nạt người nghèo," ông nói.
"Một vấn đề khác đối với tôi là chăm sóc y tế, sức khỏe," ông Lu nói thêm.
"Tôi không nghĩ bất cứ ai quan tâm tới việc di cư ra nước ngoài phải lo lắng về chi phí. Chúng tôi muốn có được chất lượng chăm sóc y tế tốt hơn của họ."
Chảy máu chất xám

Image
Người di cư TQ muốn sang phương Tây còn do nghĩ tới tương lai của con cháu họ.
Fabio Xu, 30 tuổi, đang điều hành một công ty sơn ở Thượng Hải.

Ông nói ông muốn tới Mỹ định cư "vì chăm sóc y tế ở đó tốt hơn, và cơ hội học hành ở đó cũng tốt hơn cho con tôi".
"Ở Trung Quốc, tất cả tiền bạc của tôi đều đổ vào tiền nhà, chi phí cho thực phẩm, quần áo và đi lại", ông nói, "nhưng ở Hoa Kỳ nhìn chung có nhiều tự do hơn. Tôi có thể phát triển bản thân một cách sáng tạo hơn và thu được nhiều điều có ý nghĩa hơn cho cuộc sống của tôi."
Một số học giả Trung Quốc lo lắng rằng Trung Quốc đang mất dần các công dân ưu tú của mình cũng như những khoản tiền khổng lồ.
Năm ngoái, 1.823 nhà đầu tư đã được cấp quyền công dân tại Canada theo chương trình nhập cư dành cho nhà đầu tư.
Ngay cả khi họ chỉ đầu tư với mức vốn tối thiểu theo yêu cầu, cũng có nghĩa là gần 700 triệu USD đã được đưa ra khỏi đất nước.
"Trung Quốc đang mất dần nhân tài thực sự mà nó cần", tiến sĩ Wang Huiyao,Tổng giám đốc Trung tâm Trung Quốc và Toàn cầu hoá nói.
"Trong lúc Trung Quốc đang cố gắng phát triển nền kinh tế và thay đổi từ 'made in China' (sản xuất tại Trung Quốc) sang 'sáng tạo tại Trung Quốc', cần có những con người này để xây dựng đất nước."

Liên lạc với Trung Quốc

Image
Nhiều người TQ muốn có hộ chiếu nước ngoài là để đi lại quốc tế dễ dàng hơn
Tiến sĩ Wang tin rằng nhiều người muốn có một hộ chiếu nước ngoài vì rất khó đi lại tự do trên khắp thế giới bằng các giấy tờ, hộ chiếu của Trung Quốc.
Thật vậy, một phụ nữ tại hội thảo chỉ muốn biết làm thế nào cô có thể nhanh chóng nhận được hộ chiếu Canada, để cô có thể sớm trở về nhà ở Trung Quốc.
Đối với cô, có vẻ động cơ không phải là để có được một ngôi nhà mới ở nước ngoài, mà là để có được một hộ chiếu làm cho cuộc sống thuận tiện hơn.
Một nhà ngoại giao phương Tây tại Thượng Hải đưa ra lời giải thích về xu hướng gia tăng của việc nhiều người xin thị thực theo dạng này.
Ông nói Internet ngày nay có nghĩa là bạn có thể sống ở nước ngoài, nhưng không bao giờ rời khỏi Trung Quốc.
"Bạn có thể thức dậy vào buổi sáng và đọc tin của tờ Nhân dân Nhật báo hàng ngày trong bữa ăn sáng. Bạn cũng có thể giao dịch cổ phiếu của bạn trên thị trường chứng khoán Thượng Hải bằng một cú nhấp chuột", ông nói.
"Bạn cũng có thể trò chuyện cả ngày với người thân miễn phí trên Skype, hoặc điều hành việc kinh doanh của bạn từ xa."
Lập luận của ông là việc di cư nay không nhất thiết gây ra những đau buồn như đã từng xảy ra đối với mọi người.
Nhu cầu hòa nhập người nhập cư tại đất nước tiếp nhận họ vì những lý do cơ bản giờ không còn cao như trước đây - mà điều này lại đang đặt ra những thách thức cho chính các xã hội phương Tây tiếp nhận họ.

Posted: Sun Aug 01, 2010 5:11 am
by thienthanh
Vatican đã bác bỏ nhiều đòi hỏi phi lý từ phía Việt Nam như thế nào
trong Phiên họp hỗn hợp vòng 2 tại Vatican


VietCatholic News (30 Jul 2010 09:34)

Phiên họp hỗn hợp giữa Vatican và Việt Nam đã kết thúc hơn 1 tháng nay. Cả hai bên đều ra thông cáo gần giống nhau, đều coi đây là bước phát triển trong quan hệ song phương và đã có một thoả thuận là Toà thánh được cử một đại diện không thường trực đến Việt Nam. Thế nhưng còn rất nhiều chi tiết của phiên họp đến nay vẫn chưa được tiết lộ. Mới đây VietCatholic nhận được một số tin tức từ những nguồn tin đáng tin cậy cho biết về phiên họp này và một số những chi tiết "nhậy cảm" xin được ghi lại như sau:

Khác hẳn với phiên họp vòng 1 tại Hà Nội, Tòa Thánh đã chấp nhận một số những đề nghị từ phía Việt Nam liên quan tới Giáo hội Việt Nam thì trong phiên họp lần 2 Tòa Thánh chẳng những có thái độ không khoan nhượng với những lập luận phê bình Giáo hội từ phía Việt Nam, nhưng còn thẳng thắn bác bỏ hầu hết các đòi hỏi do đoàn Việt Nam đưa ra ở phiên họp vòng 2 tại Vatican.

Theo nhiều nguồn tin chúng tôi nhận được thì đoàn Việt Nam đã đề nghị Toà thánh cấm không cho Đức TGM Ngô Quang Kiệt về nước kể cả dịp đại hội các GMVN vào tháng 10-2010 và không bổ nhiệm vào bất cứ chức vụ nào ở Toà thánh. Vatican cho rằng, Đức TGM Ngô Quang Kiệt chưa bị tước quyền công dân Việt Nam nên Toà thánh không thể làm cái việc vi phạm nhân quyền và cả pháp luật Việt Nam nữa. Còn việc bổ nhiệm nhân sự ở Vatican, đó là công việc nội bộ mà Việt Nam không nên can thiệp vào giống như Vatican không thể đề nghị ông A làm Thủ tướng hay bà B không được làm Bộ trưởng ở Việt Nam.

Việt Nam cũng đề nghị Toà thánh cấm không cho dòng Chúa Cứu Thế hoạt động tại Việt Nam hay ít nhất không cho hoạt động tại Hà Nội giống như trước đây trong lịch sử Toà thánh đã rút dòng Tên khỏi Việt Nam, không cho hoạt động mục vụ ở Việt Nam vào cuối thế kỷ XVII. Vatican trả lời các dòng tu hoạt động theo tôn chỉ của Dòng và luật pháp ở từng quốc gia. Nếu họ sai pháp luật, xin các ngài hãy xử theo luật pháp, chúng tôi chỉ có thể nhắc nhở họ khi họ làm sai với tôn chỉ đã được Toà thánh phê chuẩn.

Về đề nghị của Việt Nam là Toà Thánh ra thông báo cấm các cuộc tập trung cầu nguyện đòi đất đai, tài sản như thời gian vừa qua và can thiệp kịp thời như vụ cầu nguyện ở Toà Khâm sứ, phái đoàn Vatican trả lời rằng: đất đai, tài sản của Giáo hội sở hữu một cách hợp pháp, Toà thánh kiên quyết bảo vệ và vẫn dứt khoát nêu lại đòi hỏi của các Giám mục Việt Nam là đòi lại quyền sử dụng hợp pháp Toà Khâm sứ ở Hà Nội và Giáo hoàng học viện Đà Lạt.

Toà thánh nhận định rằng nếu như Toà thánh có đại diện ở Việt Nam thì việc nắm bắt thông tin sẽ kịp thời và chính xác hơn thì sẽ sẽ đễ dàng có chỉ dẫn cụ thể cho từng vụ việc.
Lập trường của Toà thánh là luôn ủng hộ việc đòi hỏi chính đáng: việc đòi lại tài sản hợp pháp của Giáo hội Việt Nam trong tình thần ôn hoà, bất bạo động.


Việt Nam cũng đề nghị Toà thánh dừng tiến trình phong thánh cho Hồng y Nguyễn Văn Thuận vì “không có lợi cho đại đoàn kết dân tộc”, Vatican đã bác bỏ thẳng thừng và cho đó là vi phạm các thoả thuận giữa Vatican và Việt Nam ở vòng 1 vì chỉ có phong giám mục ở Việt Nam mới cần có sự đồng thuận của Nhà nước Việt Nam mà thôi.

Không khí họp căng thẳng tới mức phái đoàn Việt Nam đã xin tạm ngừng họp để xin ý kiến ở Hà Nội. Không biết Hà Nội chỉ đạo thế nào nhưng kết thúc đã thống nhất đề nghị Vatican được cử một đại diện không thường trực đến Việt Nam.

Tuy nhiên vị đại diện này có được tự do vào Việt Nam gặp gỡ các giám mục, linh mục giáo dân hay không? Có phải xin phép và báo trước lịch trình cho phía Việt Nam và được ở lại Việt Nam bao lâu hay bao lâu mới được đến Việt Nam một lần vẫn chưa thống nhất được mà phải chờ đến vòng ba họp tại Hà Nội vào năm sau.

Còn một số thông tin nữa chúng tôi đang kiểm chứng, đối chiếu nhưng với những gì biết được và khi nào thuận tiện sẽ trình bầy sau. Một số giáo sĩ Việt Nam ở Roma và một vài Giáo chức Giáo hội có ảnh hưởng ở Việt Nam rất nhiệt liệt hoan hô tinh thần làm việc thẳng thắn của phái đoàn Vatican tại phiên họp vòng 2 vừa qua.

Đồng Nhân

Posted: Mon Aug 02, 2010 2:04 am
by vuphong
Vũ Phương Anh - sao vẫn nặng những niềm riêng

Ngọc Lan/Người Việt
WESTMINSTER (NV) - “Cảm nghĩ của em cũng như của những người đã vượt thoát khỏi Việt Nam. Ðó là một cảm giác rất khó tả, vừa vui mừng, vừa hồi hộp, vừa lo lắng.”

Ðó là cảm nhận của cô Vũ Phương Anh khi đặt những bước chân tị nạn đầu tiên đến Hoa Kỳ dưới sự giúp đỡ của Ủy Ban Cứu Người Vượt Biển (BP.SOS).
Image
Cô Vũ Phương Anh, hình chụp trong những ngày còn tị nạn tại Thái Lan. (Hình: Vũ Phương Anh cung cấp)
Những suy nghĩ đầu tiên

Khoảng 10 ngày sau khi làm quen với cuộc sống ở Mỹ, Phương Anh, nạn nhân của chương trình “xuất khẩu lao động” vẫn còn cảm thấy “ngỡ ngàng, ngỡ ngàng vô cùng” với những tình cảm mà cô nhận được trên mảnh đất tự do này.

“Ðầu tiên em chỉ nghĩ Hoa Kỳ là một nơi cho mình tự do, chứ không nghĩ chính phủ Hoa Kỳ, những người Việt hải ngoại, những tổ chức đã bảo trợ, giúp đỡ cho em rất tận tình, đến em không ngờ nổi luôn. Họ lo cho đủ mọi thứ.”

Phương Anh kể, sau một chặng đường bay dài hơn 30 tiếng, khi xuống sân bay Mỹ, các anh chị ở tổ chức SOS và tổ chức IOM ra đón cô, và cho cô cảm giác “cứ như bước chân về nhà, vừa đến nhà đã có hàng xóm nghe thấy có người Việt đã ra đón ngoài cổng.”

Tình cảm của những người xa xứ dành cho đồng hương mới đến đã khiến Phương Anh “không nói được câu nào hết, em nhớ em chỉ nói được câu ‘cám ơn’ và khóc không thôi.”

Theo Phương Anh, phần đông hàng xóm nơi Phương Anh ở là “các bác H.O.”

“Lúc đầu họ không biết em là ai, nhưng khi thấy các anh chị bên tổ chức SOS quay phim, nên họ hỏi. Ðến lúc biết em là nạn nhân Cộng Sản, các bác H.O. ở đó coi em như con gái luôn.”

Những điều đó đã khiến Phương Anh nghĩ rằng có lẽ cô sẽ chẳng còn mong muốn dọn đi đâu nữa, bởi “bước chân đầu tiên của em đến đất nước Hoa Kỳ mà em đã nhận được những tình cảm như vậy thì làm sao mà quên được. Em chỉ biết nói cám ơn và sẽ cố gắng sống sao cho tốt với những tình cảm mà mọi người đã dành cho em.”


Hành trình “lao động xuất khẩu”


Phương Anh cho biết, cô xuất thân trong gia đình “không có được may mắn như mọi người.”

Nhà ở Lào Cai, bố mất sớm, mẹ bị tim, chị gái sang Trung Quốc tìm việc rồi mất tích, bản thân Phương Anh cũng chỉ được học hết lớp 5, và bắt đầu lao vào cuộc bươn chải mưu sinh kiếm tiền phụ mẹ từ năm 12 tuổi.

“Do nhà ở mạn Lào Cai nên em theo chủ hàng đi lấy bia, vải rồi xách hàng thuê cho người ta bỏ xuống thuyền và đẩy qua sông cho họ. Xong, họ cho tiền, khi 10 ngàn, khi 15 ngàn, nhiều nhất là 20 ngàn.” Phương Anh nhớ lại những năm tháng tuổi thơ lăn lộn kiếm tiền.

Theo người ta buôn gỗ, buôn gạo, buôn hàng may, rồi đi may giày, rồi đi bán quần áo... “Bao nhiêu các tỉnh miền Bắc em đã đi qua gần hết rồi, đi làm hết để kiếm thêm tiền thuốc trị bệnh tim cho mẹ.” Cô kể tiếp.

Ðến năm 2008, ở xã cho biết có chương trình đi “xuất khẩu lao động” sang may giày ở Jordan dành cho người thuộc diện “xóa đói giảm nghèo,” Phương Anh cũng như nhiều cô gái khác ở quê mình cũng cầm cố nhà cửa, ruộng vườn để vay ngân hàng số tiền gần 30 triệu đồng đóng thế chân để mong kiếm được một công việc sáng sủa hơn.

Lời hứa hẹn “mức lương $220/tháng, nếu không nghỉ ngày nào thì sẽ nhận thêm $20 tiền chuyên cần, $20 tiền trợ cấp xa nhà, thêm tiền này tiền kia cũng sẽ vào khoảng $280 đến $300/tháng, với thời gian 8 tiếng/ngày” quả là một số tiền mơ ước cho những người nghèo như Phương Anh.

Thế nhưng khi đặt chân lên xứ người, thì mọi việc đã trở nên tồi tệ hơn rất nhiều so với tất cả những gì được vẽ lên trong đầu cô, từ chuyện tiếp đón đến nơi ăn chốn ở, thiếu thốn tất cả mọi thứ. “Họ thu hết tất cả hộ chiếu, giấy tờ, và yêu cầu mọi người bắt tay vào làm việc ngay.”

Có điều, Phương Anh cũng như tất cả những công nhân khác không phải làm 8 tiếng mỗi ngày như lời nói lúc còn ở Việt Nam, mà mọi người phải làm việc mười mấy tiếng. Tuy nhiên, ai cũng cảm thấy rất vui, vì nghĩ rằng mình sẽ kiếm thêm nhiều tiền.

Cô kể, “Không ngờ sau 10 làm việc, em chỉ lãnh được $10 với lý do em mới sang, và trong thời gian thử việc. Ðiều này, trước đó không ai nói cả.”

Hỏi ra, những bạn bè khác cũng đều lãnh những mức lương vô lý như Phương Anh.

Cô nhớ lại, “Sau buổi tối hôm đó, tụi em cảm thấy bực tức, buồn bã, chán nản, và thất vọng vô cùng.”

Sau khi gọi về Việt Nam hỏi cơ quan chủ quản đưa người đi lao động và nhận được những lời giải thích không thỏa đáng, “tụi em, hơn 270 công nhân, quyết định đình công yêu cầu điều chỉnh mức lương.”

Ðỉnh điểm của cuộc đình công đó, các nữ công nhân Việt Nam đã bị cảnh sát Jordan đàn áp một cách dã man bằng dùi cui, Phương Anh đã dùng điện thoại di động của mình để quay lại hình ảnh đẫm máu đó.

Phương Anh lại gọi về Việt Nam cầu cứu với nơi đã đưa những người như Phương Anh đi lao động, những họ chỉ bảo “hãy cứ đi làm và tắt máy.”

Thế nhưng khi phái đoàn đại diện phía Việt Nam sang Jordan, các công nhân cũng không nhận được bất kỳ sự trợ giúp gì.

Cuối cùng, theo yêu cầu, các nữ công nhân trở về nước.

Riêng Phương Anh đã trốn ở lại với sự giúp đỡ của tổ chức SOS bởi những lời hăm dọa: “Phương Anh sẽ bị bắt khi đặt chân xuống sân bay Việt Nam vì Phương Anh đã đứng lên vận động cuộc đình công này; tiếp tay cho bọn phi chính phủ, phá hoại tài sản công ty, đình công bất hợp pháp...”


Hành trình đến bến tự do


Trong thời gian ở lại Thái Lan, từ ngày 28 tháng 3 năm 1008, Phương Anh đã nhiều lần nhận được những cú điện thoại hăm dọa của những người xưng là đại diện cho phía nhà nước Việt Nam. “Họ mang cả gia đình, nhất là mẹ Phương Anh ra làm áp lực buộc Phương Anh trở về.”

Phương Anh tâm sự, “Khi sang đến đây em cảm thấy mình rất may mắn, và cảm thấy đau lòng khi nghĩ đến cảnh mẹ và những người thân còn kẹt lại. Em ước gì có phép màu nào để cả gia đình em được đoàn tụ ở đây thì em không còn ước mong gì hơn. Nhưng đó chỉ là ước mơ.”

Có lẽ, nhiều người Việt hải ngoại biết đến Phương Anh là biết đến một cô gái, nạn nhân của cái gọi là “xuất khẩu lao động” của nhà nước Việt Nam, người đã mạnh dạn lên tiếng tố cáo sự vô trách nhiệm của nhà nước đối với công dân của mình, như một kiểu “mang con bỏ chợ.” Nhưng, ít ai biết đến những nỗi riêng tư mà cô gái ấy phải đánh đổi cho sự lên tiếng của mình.

Ngày Phương Anh đi “xuất khẩu lao động,” cô để lại nhà người mẹ mang bệnh tim, đứa con gái lên 3 và 2 đứa con nuôi do chị cô mất tích, để lại.

Trong thời gian trốn lại ở Thái Lan chờ tổ chức BPSOS giúp sang Mỹ định cư, Phương Anh nhận được tin con gái 3 tuổi của mình “bị điện giật chết.”

“Ðó là ngày 1 tháng 8 năm 2008.” Người mẹ trẻ nghẹn ngào.

“Khi nghe tin, em không còn biết gì nữa hết. Em đã định chạy đường bộ trở về, nhưng bị mọi người chặn lại, sợ nguy hiểm cho chính em.”

Trong cơn tuyệt vọng, Phương Anh đã dùng đến thuốc ngủ để mong tìm cái chết. Tuy nhiên, người hàng xóm đã kịp thời cứu cô.

“Cảm xúc Phương Anh như thế nào trong khoảng thời gian đó?” Tôi hỏi.

Cô nhỏ giọng, “Là người theo đạo Công Giáo, em chỉ tin vào Chúa. Khi đó em chỉ biết cầu nguyện và nghĩ Chúa cho điều gì thì mình nhận, Chúa lấy đi cái gì mình cũng xin vâng. Chỉ biết như vậy thôi.”

Sau hơn một tuần vật vã, lúc tỉnh lại, cô lại nghĩ đến mẹ, đến hai đứa con nuôi, “nếu bây giờ mình chết đi thì mẹ mình sao đây, rồi 2 đứa con còn lại sao đây, mà mình chết đi thì coi như mình đầu hàng bọn Cộng Sản rồi. Do đó em lại nghĩ mình cần phải sống để cất lên tiếng nói tố cáo.”

Nghĩ vậy, và Phương Anh gắng gượng khuyên mình cần phải sống.

“Ðau lắm chị, điều đó sẽ ray rứt em cả cuộc đời. Chuyện tình cảm đã gãy đổ. Mình chỉ còn lại có đứa con. Nhưng vì cái khó, cái nghèo, mình mới phải để con lại đi làm kiếm tiền, để rồi con phải chết tức tưởi như vậy. Cả đời em sẽ không quên.” Người mẹ mất con thổn thức.

Tôi hỏi tiếp, “Biết Phương Anh sang Mỹ, mẹ có vui không?”

Giọng cô gái chùng xuống, “Mẹ em là người dân tộc, nên chẳng vui gì khi em xa quê. Suy nghĩ của một người phụ nữ dân tộc không giống đa số người Kinh đâu. Lại thêm mẹ em được người ta nói cho biết rằng, ‘Con bà là người theo bọn phi chính phủ, phản động’ thì sao mà vui được hả chị?”

Ôm ấp nỗi niềm làm “đứa con bất hiếu, mẹ ốm đau bệnh tật mà con không có bên cạnh để chăm sóc, lại để lại tất cả mọi công việc nhà cho mẹ gánh vác,” Phương Anh, sau giọng nói mạnh mẽ tố cáo những gì mà “bọn Cộng Sản đã gây ra” đã bật khóc khi nói về gia đình.

Có điều, cô gái đang được nhiều người biết đến trên các diễn đàn đấu tranh vì quyền lợi của người công nhân làm việc trên xứ người đó, lại đang mang nặng thêm nỗi đau của người mẹ không được con cái cảm thông.

“Em còn hai đứa con nuôi, một đứa 18 tuổi, một đứa 16 tuổi. Có người nói với nó là mẹ nó là ‘phản động,’ nên nó rất giận em. Em nói mãi nhưng nó vẫn không chịu hiểu, nó chuyển vào trường ở vùng sâu vùng xa đi học. Nó giận em nhiều lắm. Nó nói, “Con không muốn nói chuyện với mẹ nữa, mẹ đừng gọi cho con. Mẹ đã làm cho con xấu hổ, con thất vọng về mẹ.”

Phương Anh nói bằng giọng thảng thốt: “Em có tội gì để con mình nói với mình như thế chứ?”

Sau những khoảnh khắc bộc bạch nỗi lòng, Phương Anh cho biết, “Ai cũng bảo em đang ở thiên đường, nhưng thực lòng em vẫn chưa bao giờ vui, khi nghĩ về cảnh nhà của mình. Với Phương Anh, khi nào mẹ mình còn bên đó, khi nào con mình còn bên đó, và bao nhiêu bạn bè mình còn bên đó, sống dưới sự kềm kẹp đó thì lòng Phương Anh vẫn mãi không thanh thản.”

Posted: Wed Aug 04, 2010 12:34 am
by quaichao
80 năm tuyên giáo, 80 năm dối gian


Phạm Trần

Kinh nghiệm sống chung với người Cộng Sản Việt Nam cho thấy nếu muốn được yên thân thì không nên có thái độ với nhà nước; khi cán bộ tuyên truyền thì cứ banh tai ra mà nghe, chớ có cãi mà mang họa vào thân, mặc dù Hiến Pháp năm 1992 đã nói rõ trong Ðiều 2: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức.”
Image
Một phụ nữ buôn ruột xe gắn máy trên đường phố Hà Nội năm 2003, 17 năm sau khi chính sách “Ðổi Mới” ra đời tại CS Việt Nam. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)
Quyền này còn được tái khẳng định ở Ðiều 3: “Nhà nước bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân, nghiêm trị mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân; xây dựng đất nước giàu mạnh, thực hiện công bằng xã hội, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện.”

Nhưng đảng và nhà nước đã chứng minh từ năm này qua năm khác chỉ giỏi nói mà không muốn làm hoặc không bao giờ làm nên trong dân gian mới có câu: “Nói vậy mà không phải vậy,” hoặc có người còn nhắc lại cả câu nói của cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu của miền Nam trước 1975 rằng: “Ðừng tin những gì Cộng Sản nói mà hãy nhìn kỹ những gì Cộng Sản làm.”

Hậu quả của sự sợ hãi không dám lên tiếng với nhà nước của người dân đã phơi ra mặt thật của một nhà nước độc tài nên giữa nhà nước và người dân không có sự đồng thuận trên nhiều phương diện, nhất là về mặt chính sách và đường lối. Hơn nữa Ðảng CSVN lại là tổ chức chính trị duy nhất cầm quyền không do dân bỏ phiếu bầu lên nhưng lại tự ý cho mình có quyền quyết định mọi việc rồi bắt dân phải làm theo nên nhiều khi dân đã bỏ mặc thây cho đảng muốn làm gì thì làm.

Ðến khi làm ăn thua lỗ, kế hoạch hỏng thì đảng và nhà nước mới chịu sửa sai, nhưng đồng tiền mồ hôi, nước mắt của dân đã tan theo mây khói. Những cán bộ trách nhiệm trong các vụ việc này đáng lẽ phải bị trừng phạt thì lại chỉ bị thay chỗ, đổi ngôi, ngoại trừ các vụ tày đình không còn che giấu được mắt dân.

Như vậy nếu lấy việc nhỏ suy ra việc lớn, cả thành công lẫn thất bại, thì mọi việc của đảng và nhà nước đều do đám cán bộ làm công tác tuyên truyền của đảng chủ động cả, nhất là những việc thay trắng, đổi đen và xuyên tạc lịch sử.

Công tác này đã diễn ra từ 80 năm qua, bắt đầu với Ban Cổ Ðộng và Tuyên Truyền ra đời ngày 1 tháng 8, 1930, với tập tài liệu “Ngày quốc tế đỏ 1/8” nhân dịp kỷ niệm ngày quốc tế đấu tranh chống chiến tranh đế quốc, bảo vệ hòa bình, bảo vệ Liên Bang Xô-Viết, ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc, kêu gọi binh lính đoàn kết với nhân dân, hưởng ứng cuộc đấu tranh chống chiến tranh đế quốc. Từ đó, ngày 1 tháng 8 trở thành một cái mốc lớn trong lịch sử đấu tranh cách mạng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của đảng, gắn liền với sự ra đời của một tài liệu lịch sử quý giá, đánh dấu một hoạt động rất có ý nghĩa trong công tác tuyên giáo của đảng.” (Theo: Minh Hải, Ban Tuyên Giáo Trung Ương)

Tổ chức này sau đổi thành Ban Tư Tưởng-Văn Hóa Trung Ương. Ðến năm 2007, ban này và Ban Khoa Giáo Trung Ương hợp nhất thành Ban Tuyên Giáo Trung Ương để tiếp tục làm công tác tuyên truyền và giáo dục chính trị trong đảng.

Sau quyết định này, Ban Bí Thư Trung Ương Ðảng (khóa X) ra quyết định lấy ngày 1 tháng 8 hằng năm làm Ngày Truyền Thống Công Tác Tuyên Giáo.

Năm nay (2010), việc tổ chức kỷ niệm được tập trung vào công tác kiểm điểm lại những việc đã làm được và còn thiếu sót của công tác tuyên giáo trong 80 năm qua, trong đó có điều được gọi là “Cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và “tổ chức hội thi “Kể chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.”

Tuyệt nhiên không thấy những người cầm đầu ngành tuyên truyền cũ và mới đả động gì đến những tội ác chiến tranh của cơ quan (tuyên giáo) này.

Nếu có thì giờ tính sổ từ cái ngày được gọi là Cuộc Cách Mạng Mùa Thu 1945 cho đến khi cuộc chiến huynh đệ tương tàn chấm dứt ngày 30 tháng 4 năm 1975 thì không biết ngành tuyên truyền đã mắc cơ man nào vụ “nợ máu” với nhân dân hai miền Nam-Bắc Việt Nam.

Lịch sử đau thương của dân tộc vẫn còn đó và vô số nạn nhân của người cộng sản vẫn còn sống ở trong và ngoài nước. Những người này đã viết lại lịch sử bằng chính máu và nước mắt của họ.

Xin kể ra đây một số chuyện đau thương nổi bật nhất:

1. Cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc từ 1953 đến 1956 đã có mấy chục ngàn dân chết oan và mất tích, kể cả những người đã cưu mang Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Phạm Văn Ðồng, Võ Nguyên Giáp v.v...

2. Cuộc chiến xâm lăng miền Nam Việt Nam của đảng CSVN từ 1960 đến 1975 đã thiêu đốt bao nhiêu triệu sinh linh con người Việt Nam ở cả hai miền đất nước, trong đó có hàng trăm ngàn thanh niên, thiếu nữ tuấn tú của miền Bắc đã bị tuyên truyền lừa bịp lao đầu vào cuộc chiến thiêu thân dưới danh nghĩa ngụy tạo “Giải phóng miền Nam”?

3. Liệu đảng CSVN có rửa được vết nhơ trong vụ tấn công Tết Mậu Thân 1968 ở miền Nam Việt Nam với vụ thảm sát trên 7,000 thường dân và viên chức vô tội mà bộ máy tuyên truyền của đảng CSVN đã vu oan cáo vạ cho họ là những “kẻ có nợ máu với nhân dân”?

4. Vụ ép buộc và đánh lừa hàng trăm ngàn quân-cán-chính Việt Nam Cộng Hòa đem tập trung vào các trại lao động dưới danh nghĩa ngụy danh cải tạo để đày đọa và hành hạ trả thù làm cho không biết bao nhiêu người chết mất xác nơi rừng thiêng, nước độc từ Nam ra Bắc sau 1975 có che giấu được tội ác của “những kẻ chiến thắng” không?

5. Chiến dịch tuyên truyền đánh tư sản mại bản sau khi người cộng sản chiếm được miền Nam năm 1975 và đẩy dân thành phố và vợ con binh lính và viên chức Việt Nam Cộng Hòa đi “vùng kinh tế mới” đã đưa đến phong trào người dân miền Nam liều chết vượt biển và vượt biên giới ra đi bằng đường bộ qua Cao Miên và Thái Lan. Mấy chục ngàn vong hồn những người dân Việt chết trên Biển Ðông và trong tay quân Khmer đỏ đâu biết rằng họ đã bị guồng máy tuyên truyền của CSVN xuyên tạc, mạ lỵ khi bỏ nước ra đi?

6. Bây giờ sau 24 năm gọi là “đổi mới” từ 1986, ngành tuyên truyền đã bôi son vẽ phấn cho chế độ đến mức nào để che giấu những thảm cảnh mà đảng đã gây ra cho người dân trong đời sống hàng ngày từ kinh tế, văn hóa đến giáo dục, chính trị và xã hội?

Nếu phải kể ra thì có hàng nghìn trang giấy cũng không ghi hết, vì ai cũng thấy công bằng xã hội chỉ có cho những ai biết xin-cho, các quyền tự do quy định trong Hiến Pháp cũng vậy. Bất công xã hội, hố ngăn cách giàu-nghèo giữa thành phố và nông thôn, giữa người ít học, không có cơ hội, không biết ra luồn vào cúi, không quen gọi dạ bảo vâng, làm đầy tớ ngoại bang càng ngày càng lan rộng, ăn sâu trong mọi góc cạnh của xã hội.

Tệ nạn tham nhũng, lãng phí, cường quyền, quan liêu, mất phẩm chất, vô đạo đức của vô số cán bộ, đảng viên nhất là những kẻ có chức, có quyền tiếp tục chồng lên như núi.

Nạn kỳ thị địa phương, phân hóa, chia rẽ dân tộc giữa kẻ chiến thắng và người bại trận vẫn còn sờ sờ ra đó mà ngành tuyên truyền thì luôn luôn phô trương cho những thành tích chỉ có giá trị trên giấy tờ trong khi trên thực tế lại đen thui như mõm chó mực!

Cán bộ ngành Tuyên Giáo hãy tự hỏi xem tiền bạc đâu mà trong xã hội ngày nay, có con cán bộ được đi nước ngoài học tốn vài chục ngàn dollars một năm trong khi hàng trăm ngàn trẻ em ở vùng đồng bằng Cửu Long và ở các vùng xa, vùng cao lại không được cắp sách đến trường?

Và do đâu có cán bộ không một ngày cắp sách đến trường mà vẫn có bằng Cử nhân, Tiến sĩ để thăng quan tiến chức? Có những bữa tiệc cán bộ phung phí 5 ngàn dollars trong khi nhiều người dân vẫn bữa đói, bữa no?

Tất cả những tỉ dụ nêu trên có phải là bằng chứng tốt đẹp của chế độ hiện nay không, hay đó là những chuyện bịa đặt của “các thế lực thù địch,” của “diễn biến hòa bình” và của “những kẻ nội thù” đang cấu kết với nhau để gây chia rẽ, xuyên tạc đảng và nhà nước và làm cho đảng “tự chuyển hóa,” “tự chuyển biến” đến nguy cơ tiêu tan?

Nhưng có lẽ cán bộ ngành Tuyên Giáo vẫn như bị quáng gà trước đồng tiền và danh vọng nên trong bài phát biểu tại đại hội Ðảng bộ cơ quan Ban Tuyên Giáo Trung Ương lần thứ II nhiệm kỳ 2010-2015 ngày 21 tháng 7 (2010) vừa qua, Tô Huy Rứa, ủy viên Bộ Chính Trị, trưởng Ban Tuyên Giáo Trung Ương đã chỉ thị cán bộ phải: “Không ngừng phấn đấu, rèn luyện, có bản lĩnh chính trị vững vàng, gương mẫu, đoàn kết, giữ vững kỷ cương, kỷ luật của đảng, có tinh thần trách nhiệm cao trong việc đấu tranh chống lại các quan điểm trái với đường lối, cương lĩnh, điều lệ đảng; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chính trị nội bộ, góp phần làm thất bại chiến lược ‘Diễn biến hòa bình’ của các thế lực phản động, cơ hội chính trị trong tình hình hiện nay.”

Cùng ngày tại cuộc hội thảo: “80 năm công tác tuyên giáo của Ðảng - Kinh nghiệm và đổi mới,” Tô Huy Rứa đã phô trương lập trường cố hữu bảo vệ Chủ nghĩa Cộng sản của ngành Tuyên Giáo: “Trong 80 năm chiến đấu, xây dựng, trưởng thành của Ðảng, của sự nghiệp cách mạng do đảng lãnh đạo, công tác tuyên giáo đã góp phần tích cực trong việc xây dựng, củng cố những luận cứ khoa học, góp phần hình thành và phát triển đường lối, quan điểm của đảng; tuyên truyền chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; cổ vũ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, động viên phong trào hành động cách mạng của các tầng lớp nhân dân; góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước; xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; phát triển lý luận về con người, khẳng định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của quá trình phát triển; phát triển nền báo chí, xuất bản, văn hóa, văn nghệ, khoa học, giáo dục ngày càng vững mạnh; đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, phản động, làm thất bại âm mưu ‘Diễn biến hòa bình’ của các thế lực thù địch.”

Nói bô bô như thế nhưng ông Rứa có biết rằng, ngày nào đảng CSVN còn chúi đầu xuống cát mê sảng với chủ nghĩa Cộng Sản thì ngày đó dân tộc còn lầm than và đất nước chưa hết lạc hậu, chậm tiến?

Posted: Thu Aug 05, 2010 1:33 am
by vuphong
Vụ án Hà Giang cần làm sáng tỏ

Bùi Tín


Vụ án Hà Giang đang được bàn luận sôi nổi ở trong nước. Dù cho Ban tuyên huấn đảng ra lệnh cho các báo chính thức không được bàn đến2 vụ bê bối động trời, là Vụ án Hà Giang và vụ đại công ty đóng tàu quốc doanh Vinashin vỡ nợ, số nợ lên đến 4 tỷ đôla. Nhưng nhiều báo như Tuổi Trẻ, Tuần Tin tức, các mạng và Blog tư nhân đều đưa nhiều tin và bình luận liên quan.

Đã có nhiều kiến nghị mang hàng 400 chữ ký đòi trả tự do ngay cho 2 em Hằng và Thúy, đòi sớm mở phiên tòa công khai xét xử Vụ án làm xôn xao, có thể nói là chấn động dư luận này.

Vẫn còn một số vấn đề mù mờ, cần làm sáng tỏ.

Vụ án Hà Giang hiện được gọi là vụ “mua dâm trẻ vị thành niên”, hay còn được coi là vụ “quan chức cấp cao sống sa đọa, buông thả”, hoặc “vụ vi phạm đạo đức trong sinh hoạt của cán bộ lãnh đạo cần nhắc nhở”…

Vậy nội dung thực chất của vụ án là gì? Những tên gọi của vụ án như trên đã chính xác chưa?

Luật sư Trần Đình Triển, người đứng ra biện hộ không nhận thù lao cho 2 em Hằng và Thúy , rất có lý khi đưa ra kết luận rằng theo những chứng cứ đầy đủ, phải gọi cho đúng đây là một vụ án “hiếp dâm gái vị thành niên”, hay nếu thật nghiêm minh phải gọi là “vụ án cưỡng dâm gái vị thành niên”.

Theo luật thì đây là tội rất nặng, có thể bị kết án từ 5 đến 10 năm tù giam, hoặc lên đến 20 năm tù giam, còn có thể tử hình, tùy theo những tình tiết tăng nặng hay giảm nhẹ. Trường hợp tăng nặng là vi phạm nhiều lần, lắp đi lắp lại trong thời gian dài, với nhiều nạn nhân khác nhau, gây hậu quả nghiêm trọng.

Theo dõi những vụ án mua dâm gái vị thành niên ở một số nước như ở Pháp, Anh, Úc, Đức … thì đây là một loại tội hình sự nặng, công luận xã hội đòi phải trừng phạt đích đáng. Đã có những công dân Úc, Anh, Mỹ sang Thái lan, Cambốt tìm mua dâm gái vị thành niên 15, 16 tuổi khi về nước đã phải ngồi tù 3 năm, 5 năm và phạt hàng vạn đôla.

Đây là chuyện mua dâm, nghĩa là có thỏa thuận với nhau, thuận mua vừa bán. Còn hiếp dâm, cưỡng dâm gái vị thành niên ở các nước trên đây thì bị gọi là tội ác nặng – grave crime - tội nặng gấp đôi, gấp ba tội mua dâm, tình tiết tăng nặng có thể bị đến án tử hình.

Vụ án Nguyễn Trường Tô có nhiều tình tiết tăng nặng. Trước hết hoàn toàn không phải là vụ mua bán dâm. 16 em nữ sinh đều là nạn nhân, không em nào là gái mãi dâm. Tất cả là nữ sinh trong trắng.

Chỉ khi nhóm quan chức cộng sản đầu tỉnh cậy quyền thế, ăn chơi sa đọa, dùng mưu kế và áp lực, buộc viên hiệu trưởng Sầm Đức Xương làm tên macô trùm sỏ, và viên hiệu trưởng gây áp lực với các em, dọa cho điểm xấu, đánh trượt thi, không cho lên lớp, để dồn các em còn ngây thơ, nhẹ dạ, dại dột vào đường cùng, đành phải chịu nuốt nhục để làm nô lệ tình dục cho chúng.Nô lệ tình dục là luôn sẵn sàng, có lệnh là đi ngay, ai gọi cũng phải đi, gần thi cử cũng phải đi, phải phục vụ chu đáo cấp trên, như bí thư đoàn thanh niên cộng sản huyện Vị Xuyên ra lệnh cho các em ngay tại khách sạn.

Do đó đây là vụ án lớn, rất lớn về hậu quả nghiêm trọng, làm mất thêm uy tín của chế độ, của đảng cộng sản vốn đã xuống thấp do để cho đạo đức suy đồi, thuần phong mỹ tục tụt dốc thê thảm.

Lãnh đạo đảng đến nay còn cố bênh che, giảm nhẹ tội trạngcủa nhóm tội phạm do Nguyễn Trường Tô cầm đầu, không đưa ra trước pháp luật khi bằng chứng đã quá đầy đủ, khi công luận đòi hỏi cấp bách, không trả ngay tự do cho 2 em Hằng và Thúy, thì bộ chính trị và chính phủ càng mất thêm uy tín, ngành tư pháp càng lộ rõ sự bất lực và bất công, khi Đại hội XI đang đến gần.

Tên của tội phạm trong vụ này cần phải được gọi chính xác là ‘Vụ án nhóm quan chức tỉnh Hà giang, do chủ tịch tỉnh Nguyễn Trường Tô cầm đầu , dùng 16 nữ sinh vị thành niên làm nô lệ tình dục trong thời gian dài”.

Trong bộ luật tố tụng hình sự hiện hành nên bổ sung một tội danh mới là : « dùng quyền lực tổ chức nhóm nô lệ tình dục ».

Đứng ra kiện bọn tội phạm trong vụ án này có thể và cần phải là: gia đình 2 em và chính 2 em Hằng và Thúy, Hội phụ huynh học sinh Hà Giang, Hội phụ nữ VN, Ủy ban bảo vệ phụ nữ và trẻ em… ; sẽ có luật sư cho cả bên đơn và bên bị, để tranh tụng trước toà được sôi nổi, công bằng, đúng luật, trong những phiên tòa công khai, cho công luận, báo chí trong nước và nước ngoài tham dự, đưa tin.

Đặc biệt là phụ huynh cả 16 em nạn nhân – ông bà cha mẹ, anh chị em của các em – có quyền phát đơn tập thể kiện Nguyễn Trường Tô và nhóm quan chức Hà giang, đòi chúng phải bị trị tội, phải bồi thường danh dự cho từng em, và đòi lãnh đạo đảng cộng sản và chính quyền trung ương cũng phải liên đới trách nhiệm vì đã lựa chọn và cử bọn vô lại ấy vào vị trí cao nhất tỉnh để chúng mang họa cho các gia đình công dân lương thiện, do đó đòi lãnh đạo đảng và chính quyền cũng phải xin lỗi, bồi thường danh dự cho các em.

Không sớm tổ chức phiên tòa công khai xử vụ án trên đây như công luận đòi hỏi một cách cấp bách, không trả ngay tự do cho 2 nạn nhân chính là 2 em Hằng và Thúy, lãnh đạo ngày càng rơi vào tình trạng bế tắc; những lời hứa long trọng thực hiện luật pháp nghiêm minh, không xử oan người ngay, không để lọt kẻ gian, chỉ là những lời hứa suông của kẻ cầm quyền đã mất hết ý thức trách nhiệm với nhân dân mình, với đất nước mình.

Paris, 3-8-2010