Page 43 of 124

Posted: Wed Nov 14, 2012 6:48 am
by caubennoc

Image

Bột Nấm MUSHROOM SEASONING còn ĐỘC HẠI hơn MSG (Bột ngọt)
vì có chứa HAI CHẤT "sodium 5 va guanylate" (I&G)


BS Trần văn Ký.


Ngại bột ngọt chứa nhiều hoá chất gây cứng cổ, nhức đầu…nhiều người đã chuyển sang dùng các loại bột nêm từ thịt, cá, một số loại nấm… để tốt hơn cho sức khoẻ. Cách lựa chọn này liệu có thật sự an toàn cho người tiêu dùng? Trong bữa ăn hàng ngày, cần hạn chế việc sử dụng bột nêm.

Trên thị trường hiện xuất hiện nhan nhản hàng chục loại gia vị bột nêm với đủ nhãn hiệu khác nhau và những lời quảng cáo thoạt nghe dễ có cảm giác ngon, tiện lợi và an toàn tuyệt đối. Mà quả thật, các loại bột nêm này có thể thay thế cho tất cả các loại thịt, cá, tôm, cua… cần thiết cho một món xúp, hay một món xào. Chỉ cần một thìa bột nêm, bạn sẽ có ngay một nồi canh rau ngon ngọt như đã được hầm từ xương.

Rất ít người biết rằng, chính sự thay cá, thịt bằng bột nêm đó tạo ra nguy cơ sức khoẻ của họ ngày càng hao mòn, xuống dốc. Bột nêm không thể thay thế thịt, cá… Cần nói ngay rằng, bột nêm chính là chất phụ gia siêu bột ngọt. Tính ngọt của loại gia vị này gấp 200 lần các loại bột ngọt khác. Đặc biệt, trong bột nêm chứa chủ yếu một loại chất tên gọi I & G, kết hợp từ hai chất Disodium 5’ – Guanylate và Disodium 5’ – Inosinate.

Theo nghiên cứu của các chuyên gia thuộc cơ quan Quản lý thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ, hai chất trên nếu kết hợp với nhau sẽ tạo ra một số độc chất, mà nếu tích trữ chúng trong cơ thể người quá nhiều, có thể gây quái thai và rối loạn chuyển hoá. Hơn nữa, khi đã cho các loại bột nêm này vào nồi lẩu hoặc món xào, chúng sẽ tạo cho người ăn cảm giác như nếm được món xúp ngon lành từ thịt hầm.

Nguy hiểm hơn, chất I & G còn khiến người ăn luôn cảm thấy ngon miệng, ăn rồi lại muốn ăn nữa. Chính sự ngon miệng này đã đánh lừa cảm giác mọi người và giúp các loại gia vị bột nêm ngày càng được nhiều người tin dùng. Ngoại trừ những nhà sản xuất và các nhà nghiên cứu, ít người tiêu dùng biết rằng bột nêm chỉ là một chất phụ gia. Chúng hoàn toàn không thể thay thế các nguyên liệu thực phẩm thịt, cá. Vì vậy, nếu bạn lạm dụng quá nhiều bột nêm trong nấu ăn, thì có nghĩa bạn đang đưa nhiều hoá chất vào cơ thể mình và những người thân trong gia đình. Mà đã là hoá chất, thì ít nhất chúng cũng gây nhiều tác hại về tim mạch, gan, thận, hoặc gây dị ứng, tê môi, tê lưỡi, mệt mỏi cho người sử dụng.

Không nên lạm dụng bột nêm Xử trí khi ngộ độc bột nêm Một số trường hợp dùng quá nhiều chất phụ gia như bột nêm có thể đưa đến các biểu hiện bị ngộ độc hoá chất như cứng cổ, nhức đầu, xây xẩm mặt mày hay dị ứng, ngứa ngáy cơ thể…Nếu gặp tình huống đó, hãy cho nạn nhân uống thật nhiều nước, hoặc các loại nước chanh, nước chè đường sẽ giúp tuần hoàn máu, giải độc cơ thể.

Một số quốc gia phương Tây, các nước phát triển… hiện không cho phép sử dụng các chất phụ gia như bột nêm trong nấu ăn. Ngay ở Việt Nam, loại chất I & G chứa trong bột nêm cũng không có mặt trong danh sách các chất phụ gia được phép sử dụng của bộ Y tế. Tuy nhiên, vì lợi nhuận cao ngất ngưởng, một số nhà sản xuất vẫn ngang nhiên sử dụng chất này trong sản phẩm, phủ lấp chúng bằng những lời quảng cáo thái quá. Người tiêu dùng thì lại cứ vô tư tin vào những hình ảnh đẹp, những lời ngọt ngào trên quảng cáo mà mua đem về sử dụng. Hiện vẫn chưa có nghiên cứu nào xác định liều lượng bột nêm dùng trong ngày bao nhiêu là hợp lý. Việc chọn hay không chọn bột nêm cho bữa ăn hàng ngày chỉ có thể phụ thuộc vào một người tiêu dùng thông minh, tỉnh táo.

Trong bữa ăn hàng ngày, bạn cần hạn chế việc sử dụng bột nêm. Thay vì phải dùng chất phụ gia, các bà nội trợ hãy làm siêng chạy ra chợ mua cá, thịt tươi để đủ chất cho gia đình. Một nồi canh có đầy đủ thịt, rau… thì bạn không cần phải thêm bất cứ gia vị bột ngọt, bột nêm nào khác.

Posted: Thu Nov 15, 2012 1:09 am
by quangminh
Image

Y học cổ truyền
Cải bẹ xanh chữa bệnh gout

Từ xưa đến nay cải bẹ xanh là loại rau rất phổ biến trong các bữa ăn gia đình. Thế nhưng không mấy ai biết được những tác dụng chữa bệnh thần kỳ từ loại rau này.

Cải bẹ xanh có vị cay, đăng đắng (thường được gọi là cải đắng), lá có màu xanh đậm hoặc xanh nõn chuối. Cải bẹ xanh thường dùng để nấu canh, hay cuốn bánh xèo với rau xà lách.
Theo Đông y cải bẹ xanh có vị cay, tính ôn, có tác dụng giải cảm hàn, thông đàm, lợi khí... Trong cải bẹ xanh có chứa rất nhiều các loại vitamin A, B, C, K, axit nicotic, catoten, abumin...

Cải bẹ xanh được các chuyên gia dinh dưỡng khuyên dùng vì có nhiều lợi ích đối với sức khỏe cũng như có tác dụng phòng chống bệnh tật. Dưới đây là một số công dụng từ lá cải bẹ xanh:

Chống lão hóa da

Với những thực phẩm rau có màu xanh đậm như cải bẹ xanh thì hàm lượng vitamin càng cao, giàu chất chống oxy hóa và axit folic cần thiết cho tế bào máu, giúp da dẻ hồng hào, tươi tắn. Vì vậy mỗi ngày dùng từ 200 – 300 gr rau cải bẹ xanh trong khẩu phần ăn sẽ giữ được sự tươi trẻ.
Ngoài ra, cải bẹ xanh còn dùng để chữa “phạm phòng” cho quý ông.

Chữa bệnh gout bằng cải bẹ xanh

Bệnh gout hình thành do một chế độ dinh dưỡng nhiều thực phẩm giàu năng lượng nhất là ăn các loại thịt, tim, gan, lòng hay các loại hải sản.
Nam giới ở độ tuổi trưởng thành dễ mắc phải bệnh gout, tuổi càng cao tỉ lệ mắc bệnh này càng nhiều hơn (trên 65 tuổi). Ngoài chế độ dinh dưỡng tránh những thực phẩm giàu purin có trong nội tạng động vật và hải sản, bệnh nhân mắc bệnh gout còn được khuyên dùng nhiều rau xanh, những loại có tác dụng thải ra ngoài chất axit uric gây bệnh.

Các bà nội trợ có thể lưu ý cách chế biến sau: dùng cải bẹ xanh nấu và uống mỗi ngày thay nước. Nhờ uống loại nước này đều đặn có tác dụng giúp thải ra ngoài chất axit uric, phòng trừ bệnh gout rất hiệu quả.

Trị viêm họng với cải bẹ xanh

Phần thân và lá của cải bẹ xanh dùng làm rau ăn, bên cạnh đó phần hạt có tác dụng tích cực trong việc chữa bệnh: viêm họng, ho hen, mụn nhọt, trĩ, các chứng phong hàn…

Có thể sử dụng hạt cải bẹ xanh để chữa bệnh bằng cách tán nhuyễn sau đó cho vào một ít nước, khuấy cho đến khi thấy sền sệt, dùng đắp vào phần hầu, băng lại sẽ thấy hiệu quả và giảm đau họng ngay. Ngoài ra, hạt cải bẹ xanh còn dùng để chữa trị các chứng đau lưng, đau xương sống, bệnh tiêu chảy...
Với cải bẹ xanh khi luộc nên cho nước nhiều .

Posted: Thu Nov 15, 2012 6:42 am
by khieulong
Image

Lá rụng nơi thiên đường!
- Này ông,
- Gì, để tôi ngủ thêm tí nào
- Dậy đi, chở tôi ra chợ hoa bằng xe đạp đi
- Sao hôm nay bà lại giở giời thế này. Ra mua cái vé tàu điện ngầm mà đi chợ... Bà lão thân yêu ơi, cho tôi ngủ thêm tí nữa thôi mà...?
Lèm bèm, năn nỉ đủ cách mà chả được, ông cũng đành dậy.

2 ông già bà cả đèo nhau trên cái xe đạp của thằng cháu. Thời buổi động 1 tí là người ta đi tàu ngầm, ô tô, 2 ông bà trên cái xe đạp làm bao nhiêu người đi bộ phải ngoái nhìn.
- Lát ông phải mua hoa tặng tôi nhé.
- Ừ, mua cho bà 1 củ khoai ngay đây.
- Ơ, tôi bảo mua hoa cho tôi mà.
- Mua cho bà củ khoai để bà ngồi ăn, đỡ ngồi réo sau lưng tôi nữa.
Gió thổi dìu dịu theo những bánh xe quay. Tia nắng vàng chảy tràn những con phố thân thuộc. Bà dựa vào lưng ông, tận hưởng cảm giác bình yên thư thái. Những kỉ niệm xưa ùa về trong tâm trí, mờ ảo nhưng vẫn thật lung linh ấm áp. Những lần đưa đón, hẹn hò, giận dỗi... Ông im lặng, có lẽ ông cũng đang nhớ lại thuở đẹp đẽ xưa kia.

2 ông bà ra chợ hoa, xong cũng chả mua gì. Ông thì không có hứng thú với hoa hoét, bà thì xem xem ngắm ngắm xong rồi cũng chả chọn hoa nào. Chợt ông bật cười:
- Cứ y như cách đây bốn chục năm ý nhỉ. Bà vẫn là cái đồ kiết xu như trước.
- Còn ông gạch ngói bốn mươi năm vẫn chẳng mòn.
Bà cười thật lớn. Nhưng thật sự bà đang cảm thấy rất mệt. Gần đây bà thường xuyên bị lả người và gầy đi rất nhiều. Chiếc lá vàng, chỉ chờ một cơn gió nhẹ để trở về với lòng đất...

Hôm nay là sinh nhật ông vì thế mà bà "giở giời" như vậy. Ở cái tuổi răng đã lung lay cả hàm thế này nói đến chữ “sinh nhật” có vẻ không hợp, và ở tuổi này thì còn ai mà nhớ đến ngày sinh nữa đâu. Nhưng bà có một linh cảm, có lẽ đây là lần sinh nhật cuối cùng của ông mà còn có bà ở bên...
- Cho ông hôm nay qua nhà mấy ông hàng xóm chơi điện tử đấy
- Thật á, bà lão hôm nay được ăn củ khoai xong nên tử tế hẳn

Bà dọn dẹp nhà cửa, nấu nướng những món ăn ông thích nhất. Bà cũng ra hiệu bánh đặt một chiếc bánh gateau nho nhỏ. Cuối tuần, cả nhà đi vắng hết. Thế lại hay, bà muốn dành khoảng thời gian đặc biệt này với riêng mình ông. Đang chuẩn bị nốt nến để thắp bánh thì bà bỗng thấy tối sầm lại. Bà cố đi vào phòng, ra chiếc giường và nằm xuống nghỉ.
- Bà nó ơi, hôm nay tôi đánh thắng to nhé, các lão ấy bị tôi cho ăn hành tơi tả.

Không có tiếng trả lời, dự cảm chẳng lành, ông chạy ngay vào phòng của 2 người và thấy bà đang nằm đó. Trông bà rất yếu.
- Bà nó ơi, bà sao thế?
- Ông... tôi mệt lắm... Ông ra chỗ bếp mang bánh sinh nhật và nến vào đây.
Lúc này ông mới nhớ ra hôm nay là sinh nhật mình. Ông cảm thấy điều gì đó không ổn, nhưng ông không hỏi nữa và ra bếp lấy bánh vào.
- Giờ tôi mới nhớ ra hôm nay là sinh nhật tôi đấy. Bà cầu kỳ thế này. Bà nó ơi, bà nó thấy mệt lắm à, để tôi gọi bác sỹ đến xem nhé.
Bà mỉm cười.
- Ông ơi... Tôi thấy mình đã đến lúc lên thiên đường rồi.
- Bà nói gì thế, đừng nói nữa! Chỉ vớ vẩn.
Ông thấy sợ hãi khi nghe bà nói thế

- Ông để tôi nói... Tôi làm những món ông thích nhất... và có cả bánh gateau nữa... Sinh nhật của ông lần cuối cùng mà tôi có thể ở bên... Tôi cảm thấy thật hạnh phúc khi có ông bầu bạn từng ấy năm...... Ông ở lại mạnh khỏe và chăm lo cho con cháu nhé...
Nước mắt lăn dài. Ông biết là ngày này sẽ đến nhưng ông vẫn cảm thấy không trụ vững nổi khi đối mặt với giây phút đó. Ông cầm tay bà, run rẩy, và ông nói trong nước mắt.
- Bà lão ơi, làm sao tôi có thể ở lại mà không có bà...
- Tôi muốn... nghe... điều ước... trong sinh nhật... của ông...
Ông nghẹn ngào và tưởng chừng trái tim mình cũng đang rời khỏi cơ thể để đi theo người vợ thân thương.
- Gặp bà và chung sống với bà là mọi điều ước của tôi đã thành hiện thực rồi. Nếu có ước tôi chỉ ước được gặp bà sớm hơn, bà lão ạ.

Bà nở nụ cười cuối cùng và nhắm mắt...
Bà đã có một thiên đường ở trần thế này. Giờ chỉ là đi đến 1 thiên đường khác, và chờ ông ở đó...

Phan Kim Thanh

Posted: Fri Nov 16, 2012 6:51 pm
by MatVit
Ít người biết chỉ tơ nha khoa ngừa sâu răng

Dùng chỉ tơ nha khoa để làm sạch kẽ răng ít nhất một lần mỗi ngày có thể ngăn ngừa sâu răng và các bệnh về răng miệng.

Tại một số phòng khám nha khoa và Bệnh viện Răng Hàm Mặt cho thấy, rất ít người có thói quen sử dụng chỉ nha khoa,
thậm chí không biết chỉ tơ nha khoa là gì, kể cả người bị sâu răng và các vấn đề về răng miệng.

Phương pháp làm sạch răng mà đa số mọi người vẫn áp dụng là dùng tăm xỉa răng sau bữa ăn và sử dụng bàn chải đánh răng trước khi đi ngủ,
sau khi thức dậy. Trên thực tế, việc dùng tăm để loại bỏ thức ăn bám ở kẽ răng rất dễ làm tổn thương lợi,
dẫn đến viêm nhiễm chân răng. Về lâu dài, tăm có thể tạo ra lỗ hổng ngày càng lớn giữa các răng và gây nên các bệnh lý nướu răng,
dẫn đến viêm nha chu, gây mất xương và cấu trúc nâng đỡ răng, làm răng lung lay rồi rụng.

Image
Xỉa răng bằng tăm tre có thể khiến kẽ răng rộng ra, vi khuẩn có cơ hội tấn công gây bệnh răng miệng. Ảnh: L.P.

Theo Thạc sĩ, Bác sĩ Nguyễn Đức Minh, , những phương pháp chải răng thông thường chỉ có thể làm sạch các mặt ngoài, mặt trong và mặt nhai của răng. Mặt tiếp cận giữa 2 răng, bàn chải không thể với tới để làm sạch được. Do đó để làm sạch những mảnh vụn thức ăn bám vào vùng kẽ răng, ngay sau khi chải răng cần dùng chỉ nha khoa để làm sạch kẽ. Ở một vùng kẻ răng, chỉ nha khoa có thể làm sạch được 2 mặt của 2 chiếc răng kế cận nhau.

"Chỉ tơ nha khoa có thể loại bỏ các mảng bám nha khoa trên răng, xung quanh nướu răng và giữa các kẽ răng, giúp ngăn ngừa sâu răng, bệnh nướu răng, chứng hôi miệng và sự hình thành cao răng", bác sĩ Minh khuyên.

Chỉ tơ nha khoa có thể gây chảy một ít máu ở vùng nướu dùng chỉ nếu lợi yếu. Đây chỉ là hiện tượng bình thường. Khi đã dùng thường xuyên, hiện tượng chảy máu sẽ giảm dần và biến mất sau một thời gian.

Lê Phương

Posted: Sun Nov 18, 2012 3:56 am
by quangminh
Image

Già ơi-Chào Mi!

Tất cả chúng ta người trước kẻ sau ai rồi cũng phải già. Làm sao tránh được! Đã có “sinh” là có “lão”. Một giai đoạn tất yếu của cuộc sống. Nếu ngày đầu tiên mình sinh ra mà đã biết nghe, biết nói, nếu có ai bảo rằng mỗi ngày mình lớn lên là một ngày mình sẽ già đi, và tiến dần về cõi chết, chắc chắn là mình đã không tin."……

Thật sự mà nói cũng có người tuy tuổi đời còn thấp, nhưng trong cách suy nghĩ hay ứng xử xem ra đã có những phản ảnh của người già như phản ứng chậm chạp, nói năng lẩm cẩm, xoay trở vụng về, để đâu quên đó, còn đi lại như là người chỉ còn nửa bầu sinh khí. Lại cũng có người tuy tuổi tác đã cao nhưng lúc nào cũng mau mắn, nhanh nhẹn, nói năng mạch lạc, lớp lang, đầu óc minh mẫn, sáng suốt, ưa thích những sinh hoạt ngoài trời như tắm biển, chơi thể thao, sẵn sàng tham gia các buổi họp mặt với bạn bè, không quá ngần ngại, bao giờ cũng sốt sắng, vui vẻ, lạc quan, biết sống trọn vẹn với thời gian hiện tại thay vì bận bịu, lo toan cho việc tương lai, chưa tới.
Tục ngữ Anh có câu “A man is as old as he feels, and a woman as old as she looks”, nghĩa là cái già của đàn ông tùy thuộc vào cảm nghĩ của chính anh ta. Còn đối với người đàn bà, nếu dung nhan vẫn tươi tắn, mặn mà thì già trẻ cũng thế thôi, nhắc đến làm chi. Tựu trung già hay không là tùy ở cái đầu của mình.

“Age is mostly a matter of the mind! If you don’t mind, it doesn’t matter”
(Tuổi tác là chuyện cái tâm, nếu ta không thèm quan tâm, chả có vấn đề tuổi tác!)
Nếu mình ngồi lại với nhau và hỏi nhau “Bạn thấy mình già từ lúc nào?” thì chắc chắn là mỗi người sẽ trả lời một cách, không ai giống ai. …

Nếu bỏ qua các giai đoạn chuyển tiếp từ tuổi 20 đến tuổi 60 mà chỉ so sánh một người đã quá 60 với thời anh mới 20 tuổi, thì theo Curtis Pesman, tác giả cuốn “How a Man Ages,” ta có thể ghi nhận những thay đổi như sau:

• Da mỏng hơn và chùng xuống, độ co giản của da càng ngày càng giảm sút, và qua nhiều năm tháng biểu lộ vui, buồn, sướng, khổ, những nét nhăn trên mặt đã hằn sâu và lớn.
• Tóc bạc, thưa, và nhẹ hơn, đường kính của tóc chỉ còn 86 microns (1 phần triệu của 1m) so với 101 microns hồi 20 tuổi.
• Hai tròng mắt bị co lại, mức độ ánh sáng vào đến võng mạc giảm đi, khó phân biệt được sự vật trong tối, do đó mà khi đọc cần phải có ánh sáng đủ.
• Tai không còn nghe được tiếng động trên tầm 10,000 hertz, như tiếng hót của chim, vì chức năng chuyển thể độ rung từ tai ngoài vào tai trong đã suy thoái.
• Men răng càng ngày càng mòn dần vì quá trình nhai, nghiến, trong khi đó lợi răng co rút lại làm lộ rõ khoảng trống giữa các chân răng.
• Xương mất dần calcium, trở nên xốp, dòn, dễ gãy, lớp sụn ở các đầu khớp không còn nguyên vẹn, chất nhờn giữa các khớp khô đi, sinh ra di chuyển chậm, khó khăn.
• Tim không còn bơm đủ máu ra khắp châu thân, một phần do cholesterol đóng dày trên thành động mạch nên tim phải hoạt động nhiều hơn mới bơm được máu đi.
• Các cơ bắp làm cho phổi hoạt động bình thường suy yếu dần, độ co giản của lồng ngực yếu đi, làm cho lượng dưỡng khí hít vào chỉ còn bằng một nửa thời 20 tuổi.
• Trọng lượng của thận giảm từ 20% đến 30%, sức lọc chất thải của thận chỉ bằng nửa hồi trẻ, và sức chứa của bọng đái cũng chỉ còn chừng một nửa (8 fluid ounces, khoảng non 230cl).
• Với năm tháng qua đi, khối não cũng rút nhỏ lại và giảm trọng lượng, hàng tỷ tế bào não bị mất đi, trí nhớ bị giảm sút……

Gần đây trong bài viết “Tính Tuổi Theo Lối Mới” (Calculate Your Age in Neo-Years) trên trang nhà của Giáo sư Tiến sĩ Davis Demko có liên quan đến cách suy nghĩ về tuổi già. Theo ông, 75% tiến trình lão hóa của con người có thể điều chế được do tác động của sáu yếu tố sau đây:

1/ Khắc chế yếu tố di truyền. Dĩ nhiên yếu tố di truyền tạo cho mỗi con người một tình trạng có thể bị mắc những bệnh mà cha mẹ người đó đã từng bị, nhưng những phương pháp phòng ngừa và bảo vệ sức khỏe hiện đại, nếu áp dụng đúng mức, có thể làm giảm đi rất nhiều tính đe dọa của yếu tố này.

2/ Tập thể dục, thể thao. Rất nhiều các chứng đau nhức phát sinh do thiếu hoạt động. Nếu luyện tập thường xuyên thì hệ thống tim mạch sẽ được bảo toàn, xương và bắp thịt sẽ rắn chắc, khỏe, và sự phối hợp chân tay sẽ nhịp nhàng, hữu hiệu.

3/ Tinh thần luôn được kích thích. Những người tưổi cao mà vẫn có những sinh hoạt tinh thần đều đặn và đầu óc luôn luôn được kích thích, suy nghĩ, tìm tòi như đọc sách, học ngoại ngữ, chơi ô chữ, hay tham gia vào các cuộc thảo luận hứng thú sẽ giữ được tinh thần minh mẫn, tỉnh táo lâu dài.

4/ Có tập quán dinh dưỡng tốt. Cách tốt nhất để chống lại già trước tuổi hay bệnh tật. Thức ăn là năng lượng. Phải tìm hiểu những phương cách dinh dưỡng lành mạnh, cũng như những sinh tố hay khoáng chất mà cơ thể mình cần.

5/ Sống có ý nghĩa. Sống phải có những mục đích đáng đeo đuổi. Ý thức rõ mục đích công việc mình đang làm dễ gây cho mình cảm hứng, giúp mình tập trung, chú ý, tránh được buồn nản, bẳn gắt, và kết quả tích cực sẽ nâng cao giá trị của chính mình.

6/ Biết phòng ngừa bệnh tật. Đây là yếu tố quan trọng có giá trị điều chế tiến trình lão hóa. Cần khám tổng quát thường xuyên để kịp ngăn chận các bệnh hiểm nghèo. Đừng bao giờ nghĩ là các chứng đau nhức hành hạ mình chỉ là hậu quả của tuổi già.

Sau khi phân tích các yếu tố nói trên, Giáo sư Demko đề nghị một lối tính tuổi mới mà ông cho là chính xác hơn. Ông đặt tên cho công thức tính tuổi của ông là: DNA-Plus. DNA là viết tắt của Demko’s Neo Age, Plus ngụ ý là già với những đặc tính tích cực. Công thức DNA-Plus tính trung bình của 4 lọai tuổi:

• Tuổi thời gian, tính theo số năm đã sống.
• Tuổi thể chất, tính theo tình trạng sức khỏe.
• Tuổi xã hội, tính theo mức độ sinh hoạt hàng ngày trong việc làm, đời sống gia đình, giải trí, hay các công tác thiện nguyện.
• Tuổi tâm lý, tính theo khả năng đối phó với khủng hoảng, mâu thuẫn, sự căng thẳng trong đời sống, hay thích ứng với mọi sự thay đổi bất ngờ.
Nếu áp dụng công thức này cho một người đã sống đến 80 năm (tuổi thời gian), có tình trạng sức khỏe của một người sống 70 năm (tuổi thể chất), có mức độ hoạt động của một người sống 60 năm (tuổi xã hội), và có khả năng ứng phó của một người mới sống 50 năm (tuổi tâm lý), thì tuổi trung bình của người này sẽ là (80+70+60+50) : 4 = 65 tuổi (Neo Years), nghĩa là tuổi chính xác của người này chỉ mới 65 chứ không phải là 80 theo cách suy nghĩ thông thường.

Một số điều sau đây luôn ẩn chứa những hiểm họa bất ngờ mà người cao tuổi cần phải lưu tâm đề phòng:

1/ Không nên tập luyện vào lúc sáng sớm. Ta vẫn có quan niệm cho rằng tập luyện vào buổi sáng là tốt vì không khí trong lành. Điều đó không đúng. Vì từ 4-6 giờ sáng theo quy luật của đồng hồ sinh học (biological clock) của người già thân nhiệt đang cao, huyết áp tăng, thận thượng tuyến tố cũng cao gấp 4 lần buổi tối, nếu vận động mạnh, chạy hoặc đi bộ nhiều gặp gió lạnh, tim dễ ngừng đập. Đã có không ít cụ đi bộ buổi sáng sớm về ra mồ hôi, tắm xong huyết áp tăng đột ngột, đứt mạch máu não, đột quỵ luôn. Tốt nhất là nên tập vào chiều tối, tuy không khí không được thanh sạch như sáng sớm nhưng an toàn hơn nhiều.

2/ Đang ngủ không nên trở dậy vội vàng. Thần kinh người già thường chậm chạp. Lúc ngủ muốn dậy đi tiểu hoặc có ai gọi đang ở tư thế nằm mà trở dậy ngay, đi lại luôn dễ làm huyết áp tăng đột ngột, dễ dẫn đến đứt mạch máu não. Vì vậy, đang ngủ khi có việc cần dậy phải từ từ theo 3 bước, mỗi bước khoảng nửa phút. Bước 1 khi tỉnh giấc hãy nhắm mắt lại nằm thêm nửa phút. Bước 2, ngồi dậy tại giường nửa phút xoa tay, xoa chân. Bước 3, cho hai chân chạm đất hoặc chạm nền nhà nửa phút rồi mới đứng dậy đi.

3/ Không nên ngoái đầu một cách đột ngột. Người già mạch máu thường xơ cứng, thành mạch dày hẹp và đàn hồi kém. Nếu đột nhiên quay ngoắt đầu về phía sau, mạch máu ở cổ bị chèn ép, động mạch vốn đã hẹp bị chèn ép lại càng hẹp hơn cộng thêm thần kinh giao cảm bị kích thích mạnh làm mạch máu co lại, máu lưu thông chậm làm não thiếu máu cục bộ, thiếu ôxy nên bị choáng, hoa mắt, chóng mặt.

4/ Không nên quá ngửa cổ về phía sau. Có lần một ông cụ đã về hưu, sức khỏe tốt, khi ăn tối xong ngồi nghỉ trên ghế tựa có lẽ do mỏi cổ nên ông đã ngửa cổ về phía sau hơi quá nên bị xỉu luôn. Khi con cháu biết thì nửa người bên phải của ông đã bị liệt, nước mũi nước dãi chảy ròng ròng và không nói được nữa, phải đưa ngay vào bệnh viện. Trường hợp này là do gần mạch máu nơi cổ có nhiều đốt xương, bình thường giữa các đốt có chất nhờn bôi trơn nhưng về già chất bôi trơn kém đi, các đốt xương trở nên sắc cạnh. Khi ngửa cổ ra phía sau quá giới hạn cho phép, phần xương sắc cạnh đó làm tổn thương đến mạch máu, hạn chế lượng máu đưa lên não gây ra thiếu máu não làm ngất xỉu. Vì vậy, người già khi ngồi ghế tựa không nên ngửa cổ quá mức về phía sau.

5/ Không nên thắt dây lưng quá chặt. Vùng bụng quanh dây lưng là nơi gần dạ dày, ruột non, ruột già, trực tràng và hậu môn. Dây lưng mà thắt chặt quá sẽ chèn ép các mạch máu bụng, cản trở máu lưu thông, đoạn trực tràng gần hậu môn có thể dễ bị lòi ra ngoài khi đi đại tiện mà ta thường gọi là lòi dom. Dây lưng thắt chặt, dạ dày, ruột non luôn ở trạng thái chịu sức ép ảnh hưởng xấu đến tiêu hóa. Vì vậy, không nên thắt chặt dây lưng và tốt nhất là dùng dây đeo quần qua vai, tiếng Pháp gọi là Bretel. Bình thường ở nhà chỉ nên mặc quần ngủ lồng thun, không nên mặc quần Tây cứ phải thắt dây lưng làm bụng luôn bị gò bó.

6/ Khi đi đại tiện không nên rặn quá mức. Táo bón là hiện tượng thường gặp ở người già. Tâm lý khi đi đại tiện không ai muốn ở lâu trong nhà vệ sinh nên thường muốn rặn mạnh để đi cho nhanh nhưng nếu rặn quá sức, mặt mũi đỏ gay rất nguy hiểm. Các khảo nghiệm về y học đã cho biết khi rặn mạnh dễ giãn tĩnh-mạch ở hậu môn gây chảy máu nhưng điều quan trọng hơn là huyết áp sẽ tăng có thể dẫn tới tai biến mạch máu não và nhồi máu cơ tim. Để đỡ phải rặn khi đi ngoài, người già cần ăn nhiều rau quả, chuối, khoai, uống nhiều nước để chống táo bón.

7/ Không nên nói nhanh, nói nhiều. Một số nhà khoa học Mỹ phát hiện khi chúng ta nói chuyện bình thường dù chỉ là chuyện vui nhẹ nhàng, các tế bào trong cơ thể vẫn chịu tác động và ảnh hưởng tới huyết áp. Thử nghiệm khoa học với 100 người mỗi người đọc 2 trang tài liệu với tốc độ nhanh chậm khác nhau. Kết quả cho thấy người đọc tốc độ vừa phải thì huyết áp, nhịp tim bình thường. Người đọc nhanh quá, đọc liến thoắng thì lập tức huyết áp tăng, nhịp tim tăng nhưng khi đọc thong thả trở lại, huyết áp, nhịp tim lại giảm xuống. Qua đó chúng ta thấy người già nên nói ít, nói chậm thì có lợi cho sức khỏe. Những cụ nào bị bệnh tim mạch, bị huyết áp càng phải nói chậm, nói ít.

8/ Không nên xúc động. Đối với người già mạch máu đã lão hóa nếu xúc động mạnh, quá giận dữ hoặc quá vui dễ bị nhồi máu cơ tim và đứt mạch máu não. Do đó, người già không nên xúc động, tránh mọi sự tức giận, buồn phiền mà cần sống thanh thản, hòa nhã, vui vẻ, bỏ qua hết mọi chuyện, ảnh hưởng đến tâm lý, sức khỏe.

Bạn nghĩ thế nào khi có thể giảm rủi ro bị bệnh tim, tăng sức mạnh, giữ được vẻ trẻ trung lâu dài chỉ trong vòng một thời gian ngắn. Thực vậy, muốn có một sức khoẻ tốt thì cần có thời gian, nhưng không đến nỗi lâu như bạn tưởng. Bạn không cần phải làm những điều thường được khuyên như tập thể dục 30 phút mỗi ngày và ngủ đủ 7 tới 8 tiếng mỗi đêm.

1/ Chống ung thư (fight cancer): Ăn trái cây với cả vỏ (nhưng hãy coi chừng trái cây TQ thường ngâm tẩm formol đấy!). Vỏ trái táo đem lại nhiều lợi ích. Theo các thí nghiệm mới đây thì trong vỏ trái táo đỏ (Red Delicious Apple) có hơn 10 hoá chất ngăn chặn sự phát triển của ung thư vú, gan, và kết tràng. Giáo sư Rul Hai Liu thuộc Đại học Cornell cho rằng vỏ các loại táo khác cũng rất tốt. Để tránh nhiễm độc của thuốc trừ sâu, nên mua táo hữu cơ (nhất là tránh mua táo Tàu).

2/ Dùng những thuốc dinh dưõng bổ sung cho đúng. Uống đủ liều lượng vitamin D và calcium sẽ giảm rất nhiều rủi ro bị ung thư vì theo giáo sư Joan Lappe thuộc Đại học Creighton “Vitamin D tăng cường hệ miễn nhiễm trong cơ thể và chống ung thư rất tốt“. Da có thể sản xuất vitamin D nhờ ánh nắng mặt trời, nhưng các nhà khoa học cho biết là tốt nhất nên uống thuốc vitamin D bổ sung để bảo đảm có đủ vitamin này trong cơ thể (1,100 IU là đủ và an toàn).

3/ Làm chậm lão hoá (slow aging): Hít dầu thơm Lavender hay Rosemary. Mùi thơm của Lavender (oải hương) giúp bạn ngủ ngon giấc vào ban đêm. Lavender cũng rất tốt cho bạn vào ban ngày. Theo nghiên cứu mới đây, một số phụ nữ tình nguyện hít dầu thơm Lavender hoặc Rosemary (Oải hương hoặc Hương thảo) nguyên chất trong 5 phút. Kết quả cho thấy là mức hormone cortisol trong nước bọt giảm 24 %. Điều này rất tốt vì cortisol là hormone gây căng thẳng tâm thần, làm tăng huyết áp và hủy hoại hệ miễn nhiễm. Hơn nữa, những người hít nước dầu thơm Lavender (oải hương) có nồng độ thấp hoặc nước dầu thơm Rosemary (hương thảo) có nồng độ cao sẽ thải được dễ dàng hơn các gốc tự do tức là những phân tử làm tiến trình lão hoá và bệnh tật tăng nhanh.

4/ Cắt giảm cholesterol (cut cholesterol). Thí nghiệm tại Đại học Pennsylvania cho thấy là nếu ăn 1½ ounce (hoặc một nắm) pistachios mỗi ngày thì sau 4 tuần cholesterol toàn phần giảm trung bình 6,7 % và cholesterol xấu (LDL) giảm 11,6%. Lợi ích chính của sự suy giảm này là rủi ro bị bệnh tim sẽ giảm theo (nếu mức cholesterol toàn phần giảm đươc 7 % thì rủi ro bị bệnh tim giảm 14 % ). Theo giáo sư Penny Kris-Etherton trưởng nhóm nghiên cứu thì pistachios là nguồn cung cấp tốt nhất các sterol thực vật tức là những hợp chất có tác dụng hấp thụ cholesterol. Cũng nên biết là 1 ounce pistachios chứa 100 calori, vì vậy nên bớt dầu giấm (dressing) hoặc nên ít dùng bơ hay dầu và rắc thêm pistachios lên trên sà-lách. - Dùng mật lúa mạch thay vì dùng đường. Mật lúa mạch (buckwheat honey) cũng có những lợi ích khác, như làm chậm sự oxy- hoá của chất LDL (cholesterol xấu) bởi vì khi cholesterol xấu này bị oxy-hoá thì nó sẽ tạo những mảng (plaque) lắng đọng lên thành mạch máu.

5/ Làm dịu các cơn bừng nóng (cool hot flashes). Thở thật sâu. Theo 3 nghiên cứu mới nhất thì thở đằng bụng thật sâu và chậm, có thể giảm nhịp độ bị các cơn bừng nóng xuống phân nửa. Lý do bị các cơn bừng nóng, một phần là vì estrogen giảm, nhưng các nhà nghiên cứu cho rằng tinh trạng căng thẳng thần kinh có phần trách nhiệm trong đó vì nó khởi kích hệ thần kinh giao cảm. Cách giải quyết là thở thật sâu để thúc đẩy hệ thần kinh đối giao cảm tăng hoạt phản ứng thư giãn của cơ thể và nhờ thế mà nhịp tim sẽ chậm lai, cơ bắp sẽ thư giãn, và huyết áp sẽ giảm. Bạn hãy ngồi thoải mái trên một chiếc ghế, thở thật sâu, hít vào đằng mũi. Thở ra đằng miệng. Nhắm mắt lại để khỏi bị phân tâm… Giữ làm sao cho bụng ấn vào thấy mềm– như vậy bụng có thể lên xuống theo mỗi nhịp thở.

6/ Giữ cho mắt được tinh tường (keep your vision sharp). Ăn một quả trứng hoặc cà rốt cũng tốt. Nghiên cứu cho thấy “trứng” là nguồn tốt nhất để cung ứng chất chống oxy hoá carotenoid bổ cho mắt. Lutein và zeaxanthin là hai chất carotenoid chủ yếu đối với mắt vì chỉ có hai chất này là có bổ dưỡng cho phấn vàng của võng mô mắt. Trứng không chứa nhiều lutein và zaxanthin bằng các rau có lá xanh đậm, nhưng theo giáo sư Elizabeth Johnson thì cơ thể hấp thu các chất chống oxy hoá này từ “trứng” dễ dàng hơn. Bạn đừng e ngại là mức cholesterol sẽ tăng nếu ăn trứng bởi vì ăn một quả trứng mỗi ngày tăng lượng lutein trong máu lên 26% và zeaxanthine lên 38 %, mà không làm tăng mức cholesterol hay triglycetride.

7/ Tránh đừng để bị viêm (reduce dangerous inflammation) Ăn một tô ngũ cốc nguyên hạt. Nhóm Iowa Women’s Research Group đã quan sát khoảng 42 ngàn phụ nữ ở thời kỳ mãn kinh trong vòng 15 năm đã báo cáo là những phụ nữ ăn từ 11 khẩu phần ngũ cốc nguyên hạt trở lên mổi tuần sẽ có ít nguy cơ bị chết vì những xáo trộn do viêm gây ra so với những người ăn ít hơn (xáo trộn do viêm gây ra là những bệnh có liên hệ tới chứng viêm mãn tính kể cả tiểu đường, hen suyễn và bệnh tim).
Theo giáo sư David R. Jacobs thuộc Đại học Minnesota thì “ngũ cốc nguyên hạt chứa những thành phần có hoạt tính sinh học của cây. Những gì giúp cho cây sống được thì cũng giúp cho người ăn cây đó sống được”. Các ngũ cốc nguyên hạt nên dùng, là oatmeal (bột yến mạch), brown rice (gạo lức), dark bread, whole grain breakfast cereal, bulgur, và popcorn (bắp rang)

8/ Rèn luyện sức mạnh cơ bắp (build muscle strength). Duỗi thẳng chân. Nếu bắp thịt chân bị cứng thì bạn hãy duỗi thẳng chân ra. Làm như vậy bạn sẽ không những cải thiện tính chất mềm dẻo mà con tăng cường sức mạnh của cơ bắp. Thí nghiệm thực hiện trong 6 tuần lễ với 30 ngụời lớn bị cứng gân hố khoeo (hamstrings) chứng tỏ là nếu luyện tập co duỗi chân 5 ngày một tuần thì sẽ làm bắp thịt bớt cứng và gia tăng tầm hoạt động.

9/ Tăng chất chống oxy hoá (boost antioxidants). Thêm trái bơ (avovado) vào sà-lách. Rau (vegetable) đều không có chất béo, nhưng chúng ta lại cần chất béo trong bữa ăn để hấp thu các chất carotenoid chống ung thư. Trong môt thí nghiệm tại Đại Học Ohio , một số người tình nguyện đã ăn salade có avocado lát mỏng hoặc không có avocado. Thử máu cho thấy là những người ăn avocado có một lượng lutein cao gấp 5 lần, alpha carotene gấp 7 lần và beta carotene gấp 15 lần. Ăn trái sung (figs, figues) phơi khô. Các trái cây sấy khô chứa nhiều chất chống oxy hoá — đặc biệt là trái sung và trái mận (plums). Một nhúm trái sung khô (lối 1 ½ ounce, lối 42 gr) tăng khả năng chống oxy hoá lên 9 % gần như gấp đôi so với một tách trà xanh. Ăn sà-lách trái cây. Một hỗn hợp cam, táo, nho, và blueberries có sức mạnh chống oxy hoá gấp 5 lần so với khi chỉ ăn có một trong những thứ trái cây ấy mà thôi. Các thành phần dùng để trộn sa-lách trái cây sắp theo thứ tự độ chứa phenol là việt quất (cranberries), táo, nho đỏ, dâu, dứa, chuối, đào, cam và lê. (Phenol là một loại hoá chất thực vật có thể giảm rủi ro bị bệnh mãn tính).

10/ Giữ nụ cười lành mạnh (keep your smile healthy). Hãy hôn thắm thiết người bạn tình. Theo bác sĩ nha khoa Anne Murray thuộc Viện Academey of General Dentistry, nụ hôn làm tiết nước bọt trong miệng và như vậy các vi khuẩn làm sâu răng sẽ bị tiêu diệt. Nếu chẳng may bạn chẳng có ai … để mà hôn thì hãy chịu khó dùng loại kẹo “gơm” (gum) không đường có chứa xilytol.

11/ Bảo vệ da dày chống vi khuẩn ( protect your stomach from bugs). Vặn thấp nhiệt độ tủ lạnh. Nếu nhiệt độ trong tủ lạnh cao hơn 40 độ F (lối 3,5 °C) thì thức ăn trong tủ lạnh sẽ bị hư vì các vi khuẩn bắt đầu nhân bội. Tại Hoa Kỳ mỗi năm có trên 75 triệu người bị đau vì thức ăn nhiễm khuẩn và số người chết lên tới 5000. Vì vậy tủ lạnh phải có bộ phận điều nhiệt để giữ cho nhiệt độ đủ thấp.

12/ Ngăn ngừa chứng đau đầu (prevent headache). Hãy ngẩng đầu lên. Bác sĩ Roger Cady, phó chủ tịch hội National Hedache Foundation, nhận định “tư thế của đầu là một trong những yếu tố có liên quan tới đau đầu được ít người biết tới nhất”. Một trong những tư thế có hại là “chúi đầu về phía trước” ( forward head posture, FHP). Nếu cổ bạn cúi về phiá trước, bạn sẽ phải ngước đầu lên để nhìn, điều này có thể làm các dây thần kinh và cơ bắp ở phiá dưới sọ đầu bị đè ép. Tư thế FHP này thông thường xẩy ra khi làm việc với máy điện toán. Bác sĩ Colleen Baker thuộc Headache Care Center, Springfield, MO, đưa ra những khuyến cáo
sau đây nhằm giúp bạn giữ cho đầu thẳng mỗi khi sử dụng máy điện toán:
- Tưởng tượng có một sợi dây buộc vào đỉnh đầu và kéo lên trên.
- Kiểm điểm định kỳ xem tai của bạn có ở ngay phía trên vai hay không.
- Sắp đặt để máy điện toán nhắc nhở bạn lặp lại hai điều trên đây sau mỗi nửa tiếng đồng hồ.

13/ Giữ cho trí óc minh mẫn. Uống 2 tách trà xanh mỗi ngày. Nghiên cứu cho thấy trà xanh điều hoà mức cholesterol và có thể giảm rủi ro bị ung thư. Các nhà khoa học còn nhận định trà xanh bảo vệ chức năng nhận thức. Và càng uống nhiều trà xanh thì càng tốt. Một nghiên cứu tại Nhật trên 1000 người ở tuổi trên 70 cho thấy những người uống 2 tách trà xanh mỗi ngày đạt đươc thành quả tốt khi làm một số trắc nghiệm về khả năng trí óc (kể cả trí nhớ). Có thể còn có ảnh hưởng lên sự minh mẩn tinh thần, chẳng hạn như sự giao tiếp với bạn bè trong khi nhâm nhi tách trà. Phải chăng chính nhờ vào điều này mà tỷ lệ sa sút trí tuệ (dementia) kể cả Alzheimer tại Nhật thấp hơn so với Hoa Kỳ, vì người Nhật thường hay uống trà xanh.

Có người đã nói: "Đừng để chết vì thiếu hiểu biết". Thực ra đã có rất nhiều người chết vì thiếu hiểu biết kể cả những người còn trẻ.
Qua kinh nghiệm cuộc sống và qua tham khảo các tài liệu y học mới nhất, ước mong sẽ giúp các bậc cao niên sống lâu, sống khỏe, sống vui, … và tăng thêm nhiều tuổi thọ.

Posted: Mon Nov 19, 2012 6:12 am
by MatVit
Chưa Đi, Chưa Biết

Tác giả : Kông Li
Kông Li là bút hiệu vui vẻ của Phạm Công Lý, tác giả từng nhận giải danh dự Viết Về Nước Mỹ 2011. Là một cựu sĩ quan VNCH, cựu tù, ông cùng gia đình đến Mỹ từ tháng 11/1994 theo diện HO, định cư tại Boston. Công việc từng làm: thông dịch cho Welfare, social worker, phụ giáo, tutor toán ở Middle School của Boston Public Schools. Bài mới nhất của ông là một du ký vui về chuyến đi Âu châu.


Châu Âu nguyên là quê cha đất tổ, cội nguồn của những người Mỹ hiện nay. Trong những thế kỷ qua, ngoài những người đi chinh phục vùng đất mới, những cố đạo đi truyền giáo, phần đông họ đều tức tưởi bỏ quê hương, đi tha phương, cầu thực vì nhiều lý do: chính trị, tôn giáo, kinh tế, văn hoá… Nhưng khi có điều kiện, các thế hệ của họ đều muốn thực hiện một cuộc hành trình về quê hương, thăm mồ mả ông bà, họ hàng thân thích.

Đối với hắn ta, được sinh ra ở nơi cuối cùng của mảnh đất hình chữ S, vùng đất có “muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lền như bánh canh”, nên hắn ta chả có dính líu, dù chỉ 1 miligram nào với lục địa này cả, mà hắn vẫn muốn đi một lần cho biết với thiên hạ. Chả là trong lúc họp bạn bè, họ thường kể nhau nghe các cuộc du ngoạn ở cõi trời Tây, mà chẳng thấy hắn góp chuyện, họ bảo hắn nên thử một lần để biết đá, biết vàng với anh em.

Phải đợi đến 5, 7 năm sau khi vợ chồng hắn chấm dứt sự nghiệp “hắn ta hừng đông đi cày bừa, vợ hắn ta hừng đông đi cày bừa” sau 25 năm định cư ở đất nước này.
Image
Cửa hàng Louis Vuitton trên đại lộ Champs Élysées, Paris.

Sáu tháng sau ngày về hưu, hắn tập họp và so sánh một số công ty du lịch. Cuối cùng hắn chọn một tour 15 ngày đi 8 nước từ Anh Quốc của Ritz Tour, vì giá rẻ hơn các công ty khác gần 1/3. Nói là rẻ, nhưng chi phí cho 2 người ngốn hơn 8 tháng lương của hắn. Hắn chặc lưỡi:

- Hưu rồi thì hưởng, kẻo có gì thì xuống âm phủ, biết có hay không?

Hắn bật ngửa, khi nhận được giấy thông báo bằng tiếng Tàu và tiếng Anh. Thì ra đây là một công ty Tàu núp bóng Tây. Thôi lỡ rồi. Ván đã đóng thuyền. gỡ ra sứt mẻ hết!

Đến phi trường Heathrow vào lúc 6:30 sáng sau chuyến bay đêm. Vừa mệt, vừa đói, mà không thấy ai đón. Vừa bực mình vừa lo, vì không có phone, lại ở xứ lạ, quê người.

Mãi đến gần 4 giờ chiều, trưởng đoàn mới xuất hiện đẫn theo một đám con trời, đang xí xô xí xào. Tour guide xin lỗi đến trễ, vì phải đi khắp phi trường để gom người lại, đến từ nhiều nơi ở Mỹ, Đài Loan và Trung Hoa. Hắn nhìn đám khách trú mà chán chường: ở Việt Nam thì chúng cướp đảo, lấn biển, hà hiếp ngư dân, coi như chỗ không người. Qua đến đây, đi chơi thì bị chúng vây tứ bề thọ địch. Hắn than thầm:
“Ta đã lạc vào rừng Hoa...Kiều”.

May mắn là trong đám ấy, có hai vợ chồng Tàu gốc Chợ Lớn, nên hai cặp Hoa-Việt này không cần khẩu hiệu “14 chữ vàng, 8 việc tốt”, cũng trở thành đồng minh bất đắc dĩ trong chuyến du lịch này. Cả đoàn kéo nhau ra Chinatown London ăn cơm chiều, về khách sạn, nhận phòng, tắm rửa xong là hơn 11 giờ khuya, phải đi ngủ sớm, vì ngày mai phải lên đường lúc 7:30 giờ.

Image
Thành phố nước Venice, chỗ nào cũng... (người) Tầu.

Đường xá Luân Đôn nhỏ hẹp, nên thường chỉ một chiều. Đường hơi lớn thì có 3 làn xe, hai xuôi và một ngược, đầy nghẹt các loại xe nhà, bus, camion và xe đạp, mô tô chen nhau ở giữa. Lề đường là chỗ đậu xe, nên đi bộ phải len lỏi qua lại.

Các tour thăm nuớc Anh, Pháp, Ý thường tập trung vào các lâu đài nguy nga, cung điện xa hoa của vua chúa ngày xưa, các bảo tàng, các nhà thờ đồ sộ, đi rất mỏi cẳng, nên hắn không thích thú lắm, vậy mà hàng vạn du khách chầu chực quanh điện Buckingham hàng giờ, không phải để diện kiến dung nhan của Nữ Hoàng Elizabeth II, mà chỉ để xem toán lính Hoàng Gia đổi phiên gác, và chụp ảnh với các vệ binh mang hia đội mão màu mè gác ớ tháp Luân Đôn, thường gọi là BeefEaters.

Sau buổi ăn tối tự túc ở Chinatown, cả đoàn lên xe về khách sạn, thì một hành khách phốp pháp, có lẽ dân Hoa Lục, kêu khó chịu. Cả xe lo lắng, người đưa thuốc cảm, kẻ lấy thuốc tiêu chảy cho bà ta, nhưng bà ta không chịu lấy. Gần đến khách sạn thì bà ta ôm bụng rên rỉ, lảm nhảm lung tung. Hắn quay lại hỏi ông bạn mình, bà ta nói gì vậy.
- À, cái này nó đang kêu đau quá và chưởi cha thằng chồng nó.
Tài xế, trưởng đoàn và cả xe đều hết hồn, vì bà ta có triệu chứng sắp sanh. Gặng hỏi thêm, bà ta mới thú thật là có thai đã 8 tháng, nhưng có lẽ vì đi nhiều và bị xì trét nên có thể sanh sớm.
Trưởng đoàn vò tai, bứt tóc kêu trời:
- Youd kill me. Ngộ xẩy lá! Ngộ xẩy là cái chắc !
Cả xe nhớn nháo, lo lắng cho cuộc hành trình có nhiều sóng gió. Một mặt vỗ về, bảo bà bầu ráng chịu đau và bớt chưởi, trưởng đoàn hối tài xế gọi ambulance và cảnh sát giúp đỡ.

Một cảnh hiếm có xảy ra ở Luân Đôn: xe cảnh sát chớp đèn hú còi tò tí te chạy trước, xe bus đầy khách chạy bạt mạng theo sau, ồn ào lẫn tiếng rên, tiếng chưởi, và lời bàn tán hươu, vượn của khách:
- Bà này tính toán hay quá. Thay vì phải vào xuởng đẻ ở Hoa Lục. Bà ta chọn xứ này có những phương tiện y khoa tốt nhất để sinh con, có quốc tịch ngay, không cần thủ tục nhiêu khê!
Tour guide chạy ra chạy vào bệnh viện như gà mắc đẻ, thông báo với đoàn là bác sĩ giữ anh ta lại với sản phụ chờ sanh xong, đề phòng trường hợp bất trắc, vì bà ta sanh sớm và không nói được tiếng Anh.
Tài xế trở thành trưởng đoàn bất đắc dĩ, đành chở khách về khách sạn để wait and see. Đến nơi thì hơn 11 giờ đêm, nhà hàng đã đóng cửa. May là nhớ lời bạn bè đi trước, hắn có thủ sẵn vài tô mì ăn liền. Ăn vội vàng, tắm rửa xong là đi ngủ để chờ ngày mai que sera, sera….

Hôm sau, ăn sáng xong mà chẳng thấy tăm hơi ông trưởng đoàn đâu cả. Cả đám tụ tập tại lobby khách sạn bàn ra, tán vào om tỏi như cái chợ trời. Thật là không sai tí nào, vì có câu “một anh /chị Ba là một cái chợ Nhỏ (Ở Thủ Đức), hai anh/chị Ba là cái Chợ Lớn và ba anh Ba/Chị Ba là một Chinatown. Khách đi ngang, ai cũng nhìn vào.
Vì không có điện thoại tay, nên tin tức đều thông qua bác tài, nhận từ bệnh viện gọi về. Khách đoàn gần 50 người, không có khả năng hiểu tiếng Anh giọng Scottish nặng như cối đá của bác tài, hắn đành nhảy ra làm phát ngôn viên của đoàn, chuyển tin tức từ bác tài sang ông bạn Chợlớn của hắn, ông này lại dịch sang tiếng Quảng, tiếng Quan Thoại gì đó cho đồng hương. Không biết họ có hiểu gì không, nhưng thấy họ gật đầu và đồng loạt:
- Hầy, hẩu, hẩu la!
Đến trưa thì trưởng đoàn báo cho biết là bà Hoa Lục đã sinh được một đứa con vuông và bà mẹ thì vẫn tròn vo. Hắn đang làm thủ tục hành chính, mua vé phi cơ cho mẹ con về nước. Tổn phí rất cao, nhưng bà ta quẹt thẻ là xong ngay.
Trưởng đoàn về đến khách sạn lúc gần 1 giờ, mặt mày bơ phờ, nhưng vui vẻ thông báo:
- Ăn trưa tự túc, một giờ nữa sẽ đi xem thành phố Lông Đông.
Định vào nhà hàng ăn, nhưng toàn thứ không hạp khẩu vị, giá lại ở trên trời. Vì chưa kịp đổi tiền Anh, nếu trả bằng đô, họ sẽ tính tỷ giá 1=1.94 đô. Đành vớt thêm 2 tô ramen nữa.

Cả buổi chiều lang thang hết lâu đài Windsor, nơi nghỉ mát mùa Đông của Hoàng Gia Anh trên bờ sông Thames, qua chụp ảnh đồng hồ Big Ben, London Tower, quảng trường Trafalgar… đến hơn 6 giờ chiều là mõi nhừ chân cẳng, thở không ra hơi, nên chẳng ai buồn nói chuyện nữa.
Lại vô cao lâu ăn nữa. Tiệm khá chật, bàn 12 người, dọn từng món, ra món nào xào món đó. Ăn sạch sành sanh không chừa một hột cơm!
Bổn cũ soạn lại. Ngày mai phải lên xe lúc 7:30 để đi qua Pháp bằng đường hầm Chunnel (Channel+Tunnel) dưới đáy biển. Ai trễ sẽ tự túc sang Pháp.
Ngồi trên xe lửa, nghĩ bậy bạ: rủi đường hầm rò rỉ, nước biển tràn vô thì thấy ông bà, ông vãi ngay. Để bớt lo, hắn cùng ông bạn đi kiếm cà phê thử: cà phê trên xe lửa có màu đen đen, đậm hơn nước lã một tí, bán 2 euro một ly nhỏ.

Vừa xuống ga Paris Nord, trưởng đoàn nhắc luôn miệng:
- Coi chừng móc túi, giữ chặt túi, giỏ, mắt phải láo liêng, kẻo không còn tiền và passport về Mỹ đó.
Trước khi vào thăm bảo tàng Louvres, đoàn được dẫn vào khu ăn uống, giống như các Food Court ở Mỹ, để ăn tự túc. Thức ăn phần lớn là của dân Bắc Phi. Giá cũng trời ơi. Bốn người đành gặm McDonald, chỉ lối 40 Euro thôi. Xong thì phải sắp hàng, trả 80 xu để giải quyết việc “thoát nước”. Nếu đưa 1 euro thì miễn thối lại.

Lại lục tục rồng rắn để vào trong bảo tàng. Người đâu mà đông vô kể. Sơ ý là lạc đoàn ngay, không thể tìm được. Đâu cũng thấy treo bảng: “Coi chừng móc túi!” Trèo lên, tuột xuống, qua, lại những phòng trưng bày rộng mênh mông, xem những bức tranh nổi tiếng, các tượng của các vị thần La mã và Hy lạp. các cổ vật của nền văn minh xưa…

Chiều tối ra Quận 13, tức là Chinatown Made in France để xực phàn, về khách sạn thì đã khuya.

Như cái đồng hồ, ăn sáng xong là lên xe để đi thăm Kinh Đô Ánh Sáng. Chỉ đứng nhìn các cột sắt đen xì của tháp Eiffel, chớ không có thì giờ để lên trên. Đi ngang Khải Hoàn Môn, điện Invalides và bách bộ, đi mua sắm trên đại lộ Champs Élysées. Lề của đại lộ này rộng mênh mông, nhưng người qua lại như nêm, phải chen nhau mà đi. Các cửa hàng bán đồ hiệu thường nhỏ, chỉ trừ Louis Vuitton và cửa hàng bán mỹ phẩm, nước hoa là đồ sộ. Không kể bảo vệ đi lòng vòng trong tiệm, cửa hàng nào cũng có hai tên mặc đồ complet đứng canh ngay cửa ra vào. Đặc biệt, muốn vào tiệm LV phải sắp hàng, chỉ được vào một lần 4 người, và hàng không đề giá (có lẽ sợ khách yếu bóng vía, yếu tim khi nhìn thấy giá). Muốn mua thì đem đến quầy trả tiền. Thế mà cũng đắt như tôm càng tươi, người mua phần đông là dân Hoa Lục, có người mua vài cái.

Chiều đến, lại tự túc, tự cường kiếm ăn. Trưởng đoàn đề nghị ăn cơm Tây cho sang trọng. Mỗi phần gồm có beefsteak bò Kobé, sò, tôm nướng và rượu chát chỉ có 60 euro thôi, chưa kể típ và thuế. Chỉ có 7,8 người tham dự, còn lại thì tay cầm hay mì gói tiếp tục.

Tối đến, hắn gặp một bà đi ăn cơm Tây về. Bà này nói nhỏ với hắn:
- Ngộ phải trả 130 euro cho buổi ăn tối nay. Chỉ có 4 con sò, 4 con tôm nhỏ, một miếng thịt bít tết vừa đủ ăn và một ly rượu chát. Bánh mì không có bơ, và xà lách không có dressing như ở Mỹ.
May mắn là hắn không nghe lời dụ dỗ của tour guide, đỡ mất 260 euro cho hai vợ chồng.

Lại y chang: hấp tấp đi ngủ, lật đật thức dậy, vội vàng ăn sáng để qua Thụy Sĩ.
Xe đi qua nhiều đường hầm xuyên núi trong 6 tiếng để vào thành phố Lucerne. Một thành phố nhỏ. đẹp, điễn hình cho các thành phố ở Thụy Sỹ. Đây là thành phố đồng hồ. Nơi nào, phố nào cũng là tiệm đồng hồ. Cũng loại, đủ hiệu: Rolex, Omega, Philip Patek, Tissot …đủ kiểu từ vài trăm đến vài ngàn Euro, giá còn mắc hơn ở Mỹ. Vậy mà các anh Ba, chị Ba, có lẽ là họ Mao, vẫn mua thoái mái.
Đoàn đi du ngoạn và ăn trưa trên tàu chạy trên hồ Lucern, bằng tiền túi, có một dĩa nui vớì gà nướng và nước lọc. kem giá 35 E. Đi thăm thành phố, có vẻ sang trọng, đường sá sạch sẽ, ít xe hơi, Đến 4 giờ là tiếp tục qua Ý.

Trên đường đi Venice, xe ngừng ở thành phố nhỏ Verona. Nếu Shakespear không dựng lại thiên tình sử bi thảm của Roméo và Juliet, thì chẳng ai biết đến Verona. Thành phố có một con đường lớn mang tên Julietta, nhưng không thấy có đường Roméo.
Thành phố nào ở Ý cũng có nhiều nhà thờ đồ sộ, các quảng trường mênh mông và các con đường lót đá. Đi ngoằn ngoèo trong các đường nhỏ hẹp, hai bên là cửa hàng, tiệm, quán ăn, đoàn đến một ngõ hẹp, qua một hành lang ngắn, hai bên tường trét đầy chewing gum technicolor, chi chít những câu “I love you” bằng hàng trăm thứ ngôn ngữ. Xem kỹ, không thấy “tiếng nước ta”, hắn lấy cây Bic ra, tìm chỗ trống, nắn nót câu “N iêu M” để tạo “thương hiệu Việt Nam” tại đế quốc La mã!

Qua hành lang là một sân nhỏ, trước nhà của Juliet nổi danh thế giới: một căn nhà hẹp, tầng trên có một lan can nhỏ. Căn nhà cổ xưa, tường tróc vôi gần hết, dán đầy thơ tình của du khách gởi cho nàng Juliet bất hạnh. Trước nhà là bức tượng của nàng, nhỏ nhắn, xinh đẹp, trong bộ váy giản dị. Du khách đứng xếp hàng để chụp ảnh với nàng.

Khác với Đại Học Harvard (Mỹ), khi đứng bên tượng của ông để chụp ảnh kỷ niệm, khách phương xa đều cố nhón chân lên để sờ chiếc giày của ông, mong sau này con cháu họ sẽ được nhận làm môn đệ ở đây. Ở Verona, khách cũng chờ đến lượt để chụp ảnh bên tượng nàng Juliet, nhưng không biết có nghe lời xúi bậy của tour guide để có một tình yêu tuyệt vời, vĩnh cửu (sic), mà ông nào, chàng nào cũng đưa bàn tay nhám nhúa, để rờ cho được trái lê của nàng Juliet đáng thương. Báo hại một bên của nàng, bị hàng triệu, hàng triệu bàn tay sờ mó liên tục, trong nhiều năm, nên nó bóng nhẩy và mòn hẳn một bên!

Nhìn căn nhà của Juliet, hắn thấy không giống tí nào so với nhà của nàng trong phim Roméo và Juliet chiếu năm 1968: một căn biệt thự sang trọng, đẹp của dòng họ Capulet, trên là một lan can chạy dài đến bên một cây cao, để hàng đêm, chàng Roméo, từ cây này, trèo sang lan can để tò tí với nàng Juliet, do tài tử Olivia Hussey đóng. Cô nàng tài tử này, không thể hiện được tính cách của nàng Juliet: y phục quá cầu kỳ, rườm rà, và nhất là vòng số 1 của nàng, quá cỡ thợ mộc, như cặp dừa xiêm so với Juliet thật, chỉ là hai trái cam sành thôi!
Trưởng đoàn bảo hắn mua vé vào xem nhà và ngôi mộ của Juliet. Hắn từ chối vì không đáng phải tốn để xem một căn nhà xưa và một ”nắm đất sè sè bên đàng”. Nghĩa Trang Arlington đẹp đẽ, hào hùng và trang nghiêm biết bao, là nơi đáng xem hơn!

Sáng lại đi sớm để đến thành phố nước Venice. Đường xa nên cứ hai tiếng, xe lại ngừng cho hành khách mua quà vặt, thư giãn tay chân và xã nước. Có nơi thu tiền vào toilet, có nơi không, nhưng hầu hết đều giống nhau: các bàn ngồi thì trơ trọi, không có tấm lót ngồi, có lẽ để tiết kiệm hay sợ du khách chôm?

Xe vào bãi đậu rộng lớn, có gần 20,30 chiếc bus đang thả khách xuống. Khách lần lượt xuống tàu. Tàu nhỏ lối 50 người, tàu lớn thì 100, 150 khách, thi nhau đưa khách ra thành phố nổi.
Bước chân lên bờ, hắn tưởng đã đến Hồng Kông hay Thượng Hải, chớ không phải Venice. Chỗ nào cũng Tàu, cũng nghe tiếng Tàu. Tàu trên cầu, Tàu trong quán, trong tiệm, nhà hàng, nhà thờ. Thứ gì họ cũng mua, sắm, món gì họ cũng ăn. Cửa hàng bán đồ cao cấp cũng có Tàu thu ngân. Thợ may cũng Tàu, bán hàng lưu niệm cũng anh Ba, thậm chí người thu tiền ở toilet cũng là a Xẫm. Có thể nói trong số 10 du khách ở đây, chỉ có một Tây, một Nhật, một Đại Hàn, còn 7 phần là Tàu: ”Dưới kinh tàu chạy, trên bờ Tàu đi ”

Có một nhà hàng Tàu nho nhỏ trong hẽm. Nhìn giá thực đơn hơi ớn. Chỉ dám gọi hai diã cơm chiên trứng, cở bằng một chén cơm nhỏ, cũng giá 6E/dĩa và một bình trà. Ăn xong, nhìn bill thấy bình trà tính 3E (ở Mỹ uống thoải mái) định nói là mắc, nhưng nhìn kỹ lại là con số 8, hết nói luôn. Trả gần 30 E cho buổi ăn đủ tráng bao tử, mà đoạn trường từng khúc!
Ai cũng ghi tên đi thuyền gondola cho biết mùi. Mổi chiếc chở được 4 hay 6 người, chèo quanh co trong các kinh chật hẹp,tôi tối trong thành phố, lối hơn 30 phút là xong. Hắn không thấy thi vị hay thơ mộng gì theo như bạn bè kể.
Nhớ lần đi du lịch xanh ở miền Tây trên chiếc thuyền nhỏ. Cô lái đò ; tóc bới cao đưa cái ót trắng ngần, thân hình chắc nịch trong chiếc bà ba trắng; ngồi sau thuyền, đưa mái chèo nhịp nhàng trên con lạch nhỏ, đầy lục bình, dưới sông là cá đớp mồi, đàn bướm lượn trên tàng dừa nước. Phong cảnh thật hữu tình và thanh bình vô tả. Xuồng ghé vào vườn cây, khách vừa uống dừa xiêm vừa thưởng thức trái cây từng mùa: ổi, xoài, mận, sa bô chê,mít… và đi thăm xưởng kẹo dừa, kẹo đậu phộng, kẹo chuối..
Buổi ăn trưa được dọn ra ở giũa vườn, dưới những tàng cây ăn trái. Khách được đãi những đặc sãn miền sông nước: cá tai tượng chiên xù, canh chua mẽ nấu cá lóc trứng, tôm thẻ hấp nước dừa, chuột đồng nướng, đùi ếch chiên bơ, rau đồng nội, mỗi người một xị nước mắt quê hương. Vừa ăn vừa nghe đờn ca tài tữ. Nếu có các cô đầu tham gia, thì khách sẽ được thưởng thức “ Tom tom ,chát chát. Thiên đàng Cực Lạc là đâu tá ? Cực Lạc là đây chín rõ mười”.Vậy mà phí tổn chẳng mắc hơn chuyến ngồi gondola nhạt phèo hôm nay.

Nghe đồn café espresso Ý là số 1, uống rất phê, nên hắn vào tiệm gọi một ly.
- Đứng hay ngồi?- anh chàng Ý hỏi hắn.
Hắn ớ người ra:
- Đứng, ngồi là thế nào ?
Anh bồi đáp tỉnh bơ:
- Đứng đây uống thì 2E, ngồi bàn đằng kia thì 15E.
Lạ nghe! Đúng là càng đi càng học được nhiều điều mới mẻ. Hắn đã từng uống nhiều kiểu, nhiều loại hình cà phê: cà phê tù bằng cơm cháy, cà phê bít tất bằng bắp xay ở lề đường, cà phê cái nồi ngồi trên cái cốc ở Givral, cà phê võng, cà phê đèn mờ, cà phê không đèn, cà phê ôm trong vườn, cà phê nằm trong chòi, và bây giờ được biết thêm 2 loại cà phê. Không cần suy nghĩ hắn gọi:
- Cho cái espresso to stand!
Rời Venice, xe trực chỉ Florence. Đây là trung tâm văn hoá, nghệ thuật, khoa học… của thời kỳ Phục Hưng ở Ý, nên có nhiều nhà thờ, lâu đài, tượng đài, bảo tàng... ở khắp nơi. Nhưng cái đinh của Florence là tháp nghiêng Pisa, có 6 tầng, cao 55m, cất bằng đá cẫm thạch trắng. Tháp được xây vào năm 1173, mới được vài tầng thì méo xẹo, phải tạm ngưng. Mãi đến gần 200 năm sau, khi gia cố một bên, mới xây tiếp, nhưng tháp vẫn nghiêng từ từ, đến nay thì ẹo 1 góc lối 4 độ.
Nhiều năm trước, sau khi thăm và khảo sát tháp, một đoàn chuyên gia địa chất và kiến trúc Nhật đề nghị với Florence là họ sẽ kéo tháp thẳng lại, hoàn toàn miễn phí, nhưng thành phố từ chối. Hỏi lý do thì họ trả lời rằng:
- Cả trăm năm nay, thành phố sống nhờ cái tháp nghiên chiềng này. Để các ông dựng đứng lại, thì ma nào đến đây xem cái tháp thẳng. Chúng tôi sẽ thất nghiệp cả lũ à? Vì thế cái tháp vẫn tiếp tục nghiêng như dáng đứng cà ẹo của người mẫu Victoria Secret và thành phố cứ thế mà thu tiền.
Ông bạn hắn rũ lên xem tháp, hắn từ chối và nói:
- Lên trên đó, nó sập, làm sao chạy kịp!
Ông bạn lắc đầu, hết ý.
Florence là thành phố hơi vọng cổ (tồn cổ). Toilet trả tiền nhưng vẫn xài bàn cầu ngồi xổm, giật nước bằng dây xích. Ngoài đường có người còn chạy xe Mobylette và Vélosolex. Khách sạn đưa cho khách chìa khóa phòng cổ điển, cột vào một miếng thép nặng cở 300 gram ghi số phòng, với lời dặn đáng giá 200 euro:
- Đừng làm mất!
Lên xe tiến về thủ đô của Đế Quốc La mã. Dọc đường một trường hợp hi hữu xảy ra tại trạm nghỉ trên xa lộ. Guide dặn hành khách trở lại xe sau 30 phút vì đường còn xa. Quá 15 phút rồi mà vẫn thiếu một người, đó là ông bạn của hắn. Trưởng đoàn và hắn đi khắp các khu chợ, cây xăng, nhà hàng, kêu ơi ới mà chẳng thấy tăm hơi hắn đâu cả. Định vào toilet kiếm, thì thấy ông ta vừa ra, mặt hơi tẽn tò.
Lên xe, truởng đoàn và cả xe cự nự, trách anh ta không đúng giờ. Bị cằn nhằn hoài, anh ta mới lên tiếng:
- Các bạn thông cảm cho tôi. Chuyện này ngoài ý muốn mà!
Ngừng một chút, anh ta tiếp:
- Khi xong rồi thì không thấy cuộn giấy đâu cả. Lại không có nước. Trong 36 kế, không có kế nào giải quyết cas này. Tôi phải sử dụng kế thứ 37: “tuột xà lỏn”, thay cho giấy.
Nghe tả oán, cả đoàn thông cảm và cười muốn vỡ xe luôn. Rút kinh nghiệm, từ đó về sau, đi đâu ai cũng thủ sẵn vài tờ giấy trong túi, phòng khi emergency, không mất “nội y”.

Trước khi vào thành phố, xe ngừng ở một nhà hàng ngoại ô để khách tự túc ăn tối. Xong về khách sạn là đã tối, chẳng thấy mặt mũi Rome by night ra thế nào.
Vẫn vũ như cẩn, ăn sáng xong là lên xe ngay, đi thăm bảo tàng Vatican.
Đến nơi, đứng xếp hàng bốn vào cái đuôi dài cả trăm thước. Hơn 9 giờ mà chưa thấy nhúc nhích gì cả. Guide thông báo phải mua vé vào cửa,không rẽ đâu. Nếu ai không đi, thì theo anh ta đi ngắm thành phố !Tiều Châu có nói “Đâu lứng tăng kể “ (Đứng lâu tê cẳng), nên hai cặp theo chàng guide đi lòng vòng xem con cháu của César và Nero qua lại!

Đến trưa, đang đi thì bỗng nhiên hai chân hắn biểu tình, từ chối không hoạt động nữa. Hắn ngồi đại bên đường, thở dốc, mồ hôi ra ướt cả áo. Hắn biết bộ máy của hắn, sản xuất từ Thế Chiến thứ 2, đang cần đại tu ngay, sau nhiều ngày chạy hết công suất, nếu tiếp tục, sẽ banh ta lông ngay.

Thấy tình hình không mấy khả quan, cả bốn người đều đồng ý, không đi tiếp đến Đức và Hòa Lan nữa. Ngày mai sẽ về sớm.
Ra phi trường để đổi vé. Hảng phi cơ mau mắn đổi vé cho hai cặp để làm vui lòng khách đến, nhưng không hài lòng khách đi, vì charge penalty cho cái tội đi không đúng ngày và không đúng phi trường. Thẻ của hắn bị lủng một lỗ khá lớn.
Đang đứng xếp hàng để đi taxi từ phi trường, một tài xế đến khều hắn, chỉ ra ngoài xe van và nói đi ngay. Vừa đóng cửa xe, tên tài xế nói ngay:
- Mỗi người 15E, và đừng quên tiền tip nhé. Nhìn mặt tên tài xế, hắn thấy giống các tên trong phim The Godfather, nên im lặng, cho an toàn.
Trả 65E cho chuyến xe 15 phút về khách sạn, hắn thấy tiếc ơi là tiếc.

Ra đến phi trường, anh chàng guide cười với hắn:
- Khi nào các ông sẽ đi với công ty chúng tôi nữa?.
Không trả lời, hắn kéo vali vào trong.
Phi trường Rome to lớn, nhưng hơi lộn xộn và không được sạch sẽ cho lắm. Hắn và ông bạn suýt trể chuyến bay vì có thay đổi về gate, mà chẳng thông báo trên loa cho khách biết như ở Mỹ. Tình cờ nhìn lên bảng điện tử mới hú hồn!.

Tuần sau gặp lại bạn bè trong quán cà phê Dunkin, họ hỏi thăm chuyến ngao du thế nào. Hắn trả lời lơ lửng, không hào hứng lắm:
- Cũng được.
- Vậy tao muốn đi một lần cho biết, mầy có ý kiến gì không ? Một tên bạn hỏi
Suy nghĩ một lát hắn chậm rãi trả lời:
- Nếu mầy là Công Giáo, muốn đi hành hương ở các thánh địa như Lourdes, Fatima hay Vatican thì tốt thôi. Nếu không, phải có bạn bè, thân nhân bên đó thì mới thích. Ngoài hai trường hợp đó, mày muốn đi thì trước hết mày phải có khá nhiều tiền, để xài cho đã. Phải có một sức khỏe tốt để thức khuya, dậy sớm, có bộ giò cứng để lê lết khắp hang cùng, ngõ hẻm, lên thang, xuống hầm, có bộ mông to để ngồi 5.7 tiếng trên xe, chọn hãng du lịch nào kha khá chút. Đi đâu nhớ bỏ túi tiền xu để đóng góp vào kỹ nghệ nước thải của Châu Âu, và nhớ thủ vài tờ giấy phòng trường hợp...

Tao có bài thơ này tặng mày trước khi đi:

Chưa đi chưa biết Châu Âu
Đi rồi mới biết đứng sau Hoa Kỳ
Thích đi thì cứ việc đi
Đi rồi mới thấy Hoa Kỳ ngon hơn.


Kông Li

Posted: Tue Nov 20, 2012 4:30 am
by vuphong
Lời tạ ơn không bao giờ cũ
“Nước Mỹ sẽ không còn như xưa nữa”...

Người ta vẫn nói như thế kể từ sau khi có các vụ tấn công khủng bố. Ðiều đó cũng có phần nào đúng trong một số trường hợp. Ví dụ như tôi, sẽ chẳng bao giờ còn được lái xe một mạch đến phi trường, đậu ở parking, tà tà thả bộ vào sân bay, đứng ngắm một số tranh ảnh trên tường, rồi tìm một cái ghế nào trống mà ngồi nhìn ra phi đạo qua khung cửa kính, những khi bất chợt muốn đi tìm “linh cảm cho những bài thơ”... như ngày nào xưa ở quê hương tôi vẫn thường đến các sân ga để nghe tiếng còi tàu, để nhìn ánh đèn vàng vọt heo hút của một nhà ga xép tỉnh lẻ nào đó khi đoàn tàu đã rời ga.

Trước đây, tôi vẫn thường hay làm như thế, ngồi nhìn ra phi đạo với những đôi cánh bạc phi cơ bay lên, đáp xuống phi trường, rồi quan sát những người ra đi, những người đưa đón, có khi tôi suy nghiệm ra được nhiều lẽ hợp tan của đời người, có khi chẳng nghĩ suy gì cả, chỉ thích làm một điều như thế. Và nay thì, điều ấy đã không thể được tự do để làm nữa. Sẽ chẳng ai để yên cho tôi bước vào khu vực kiểm soát an ninh một cách thoải mái như xưa, một loạt câu hỏi sẽ được đưa ra để tôi không thể trả lời kịp.

Có ai lại không thắc mắc đến một phụ nữ (phụ nữ ôm bom tự sát thiếu gì...) lơ ngơ đi lang thang ở phi trường mà không đáp máy bay, không đưa, không đón ai cả. An ninh nổi chìm của phi trường sẽ đến vỗ vai tôi rất nhẹ nhàng và nói thẳng rằng hành tung của tôi rất đáng ngờ, giấy tờ tùy thân của tôi có cái họ nào liên quan tới Muhamed, Abdul, Osama, v.v... hay chăng? Mặt mày hiền lành như tôi, trông đâu có hung thần sắt máu như những tay cuồng tín, nhưng ai biết được chuyện gì sẽ xảy ra... có cái gì không ngờ tới lại chẳng đã xảy ra trên cõi đời đang nhiễu nhương này? Tốt hơn hết là đừng nên giỡn mặt với chính quyền, nhất là trong những lúc tình hình đang căng thẳng.

Ấy thế, nhưng mà sao tôi vẫn nhớ những phút giây nổi hứng bất tử như thế, những phút giây ngồi lặng lẽ ở một góc sân bay để trốn tránh những tiếng ồn ào bon chen ngoài đường phố. Ngày xưa ấy chắc sẽ chẳng bao giờ còn trở lại như cũ nữa... Nước Mỹ không còn như cũ, thế giới cũng không còn như cũ. Nói gì cho xa xôi... “người ấy” của ta hẳn cũng đã không còn như xưa nữa. Nhưng có một điều tôi tin là sẽ chẳng bao giờ cũ, đó là những lời cám ơn nhau, tạ ơn nhau. V. A. Sukhomlinski kể rằng:

“Có hai người bộ hành đi trong một khu rừng rậm rạp. Ðó là hai ông cháu. Trời nóng và oi bức. Họ đã khát nước. Cuối cùng họ đến một con suối nhỏ. Dòng nước mát lạnh chảy rì rào. Họ cúi xuống uống nước. Người ông bảo “Cám ơn dòng suối nhỏ.” Nói đoạn ông rút trong túi một cái muỗng và múc một ít bùn từ dưới lòng suối đổ đi. Ðứa cháu cười “Vì sao cháu lại cười?” Người ông hỏi. “Có gì mà ông phải cám ơn dòng suối? Dòng suối có phải là người đâu? Nó không nghe được lời ông nói, nó không hiểu được lời cám ơn của ông.”

Người ông ngẫm nghĩ. Dòng suối vẫn chảy róc rách. Chim hót vang trong rừng. Sau một lúc lâu im lặng, ông bảo “Thế đó... Dòng suối không nghe thấy gì đâu. Nếu như một con chó sói uống nước, có thể nó không cám ơn dòng suối. Nhưng chúng ta không là chó sói mà là con người. Ðừng quên điều đó, cháu ạ. Và cháu có biết con người nói hai tiếng cám ơn để làm gì không?” Ðứa cháu trầm ngâm. Nó chưa bao giờ suy nghĩ về điều đó. “Chúng ta nói lên hai tiếng ‘cám ơn’ là để không trở thành chó sói.”

Mười năm đã qua rồi, mười năm tôi không còn được đến phi trường nhìn máy bay lên, xuống để... làm thơ. Dù đã không còn nữa... vẫn có thể biết ơn hệ thống an ninh phi cảng đã tận tâm bảo đảm an ninh cho chúng ta được an tâm đi lại bằng phương tiện hàng không. Chúng ta có thể nhìn thấy rõ lòng biết ơn của con người kể từ sau cái ngày 11-9 đáng nhớ kia, đáng nhớ không phải vì những hành động điên cuồng của “chó sói” mà đáng nhớ vì sự đùm bọc quan tâm lẫn nhau của “con người” khi hoạn nạn. Hãy nhìn nước Mỹ những khi hoạn nạn chứ đừng nên đánh giá đất nước này lúc thanh bình, yên ấm. Trong cuốn “Generosity from the heart” có kể về một câu chuyện của lòng nhân ái thật sự:

“Một cơn bão vừa tàn phá thị trấn nhỏ gần thành phố của chúng tôi làm nhiều gia đình phải sống trong cảnh khốn khó. Tất cả các tờ báo địa phương đều đăng hình ảnh và những câu chuyện thương tâm về một số gia đình mất mát nhiều nhất. Có một bức ảnh làm tôi xúc động. Một phụ nữ trẻ đứng trước ngôi nhà đổ nát của mình, gương mặt hằn sâu nỗi đau đớn. Ðứng cạnh bà là một cậu bé chừng 7 hay 8 tuổi, mắt nhìn xuống. Ðứa con gái nhỏ bám chặt mẹ, nhìn chằm chặp vào máy ảnh, mắt mở to vẻ bối rối và sợ hãi. Bài báo đi kèm cũng kêu gọi mọi người giúp đỡ những người trong gia đình đó. Tôi nhận thấy đây sẽ là một cơ hội tốt để dạy các con mình giúp đỡ những người kém may mắn hơn.

Tôi đưa tấm ảnh gia đình đó cho các con tôi xem, giải thích nỗi khổ của họ cho hai con trai sinh đôi 7 tuổi và con gái 3 tuổi. Tôi bảo chúng “Chúng ta có quá nhiều trong khi những người này bây giờ không còn gì cả. Chúng ta hãy chia sẻ với họ những gì mình có.” Tôi và hai con trai chất vào thùng cứu trợ nào đồ hộp và xà bông, mì gói... Tôi cũng khuyến khích chúng chọn ra một số đồ chơi mà chúng không chơi nữa. Ðứng nhìn hai anh sắp xếp mọi thứ, con gái tôi có vẻ nghĩ ngợi. Tôi nói với con “Mẹ sẽ giúp con tìm một thứ gì đó cho em bé trong ảnh.”

Trong lúc hai anh mình đặt những món đồ chơi cũ đã chọn vào thùng, con gái tôi đi vào, tay ôm chặt con búp-bê cũ kỹ nhạt màu, tóc rối bù, nhưng là món đồ chơi nó yêu thích nhất. Nó ôm hôn con búp-bê lần chót trước khi bỏ vào thùng. Tôi nói “Con không cần phải cho nó, con thương nó lắm mà.” Con gái tôi gật đầu nghiêm trang “Nó đem lại niềm vui cho con mẹ ạ, có lẽ nó cũng sẽ đem lại niềm vui cho bạn kia.” Tôi nhìn sững con, chợt nhận ra rằng bất cứ ai cũng có thể đem cho những thứ mình bỏ đi, nhưng lòng nhân ái thực sự là đem cho những gì mình yêu quí nhất...”

Và lòng nhân ái cũng là một cách bày tỏ lòng biết ơn của ta đối với tha nhân.

“Nous savons tous deux nos mains à donner. Prenez ma main je vous conduirai loin”... Cả hai chúng ta đều có bàn tay để trao tặng. Em hãy nắm bàn tay tôi, tôi sẽ đưa em đi thật xa... Thi sĩ Paul Eluard đã nói với người yêu như thế trong bài thơ “Vivre” của ông vào năm 1940. Và “Anh cám ơn em những ngày vui...” là những ca từ trong một bài hát của nhạc sĩ VTA. Cám ơn những ngày vui bên nhau, những ngày còn được nắm bàn tay nhau, thật ân cần, ấm áp...

Có nhiều người không đồng ý với cách chúng ta bày tỏ lòng biết ơn với người yêu, với người bạn đời, với những người thân trong gia đình, hay với thầy cô, bạn bè, ân nhân... trong đời sống. Vì cho rằng đó chỉ là những sáo ngữ, không cần phải thốt lời cám ơn những gì tốt đẹp họ đã dành cho chúng ta hoặc ta dành cho họ trong khoảng đời nào đó, làm như đó là những chuyện đương nhiên hay bổn phận phải làm... Nhưng hãy nghĩ xem... hành trình nhỏ nhoi của sự biết ơn đã đưa chúng ta đi đến những chân trời xa vạn dặm đầy những điều kỳ diệu ra sao...

Tôi không có gia đình ở một tiểu bang nào xa xôi để phải đáp máy bay về quây quần dự lễ Tạ Ơn, nhưng nếu có thì nhất định cũng sẽ đi, và tin rằng những người có thân nhân xa cách cũng sẽ làm như thế, bởi vì tất cả đều có thể qua đi và không còn như xưa nữa, nhưng sự biết ơn và lòng nhân ái sẽ chẳng bao giờ lỗi thời.

Cầu mong và chúc tất cả mọi người được an bình hạnh phúc bên nhau trong mùa lễ Tạ Ơn này. (N.T.Y)

Tác giả : Ngô Tịnh Yên/Sống Magazine

Posted: Thu Nov 22, 2012 6:13 am
by hoanghoa
Mẹo chữa hóc xương cá bằng vỏ cam

Khi bị hóc xương cá, hãy ngậm một viên vitamin C hoặc một miếng vỏ cam rồi nuốt đi. Xương cá sẽ tan ra và trôi xuống dạ dày.

Image
Bị hóc xương cá hãy ngậm một miếng vỏ cam vài phút rồi nuốt đi sẽ khỏi. Ảnh: vnhow.

Một số mẹo chữa hóc xương cá trong dân gian như sau:

- Dùng viên vitamin C ngậm vài phút sẽ làm trôi xương cá mắc trong họng.

- Ngậm một miếng vỏ cam vài phút rồi nuốt đi cũng làm xương cá ra và trôi xuống dạ dày.

- Lấy một tép tỏi cắt làm đôi bịt vào hai lỗ mũi. Đồng thời lấy một muỗng đường cát trắng bỏ vào miệng nuốt (không dùng nước). Nếu chưa khỏi thì làm thêm một lần như thế nữa, xương cá sẽ tự trôi xuống dạ dày.

Nếu áp dụng các phương pháp trên không khỏi nên nhờ đến sự can thiệp của bác sĩ ngay nhé các bạn.

Thiên Lý

Posted: Fri Nov 23, 2012 1:12 am
by vuphong
Image

Tri Ân Người Bảo Trợ
Nguyễn Duy-An

Tôi rời nông trại của người bảo trợ mấy ngày trước Lễ Tạ Ơn (Thanksgiving) năm 1984 vì không muốn một mình ngồi nhìn cảnh gia đình 9 người con và gần 20 đứa cháu nội ngoại của họ sum họp quây quần vào dịp lễ. Sau khi chở tôi đến trạm xe "bus" ở thành phố Pittsburgh, trước khi quay về, ông William McCarthy (người bảo trợ) đã trao cho tôi một bao thơ khá dày rồi ôm tôi vào lòng nói nhỏ:

- John... Con đi bình an. Đây là món quà nho nhỏ của anh chị em trong gia đình đóng góp để giúp con trong bước đầu. Con cứ đi, nhưng nếu có gì bất trắc, hãy trở về nghe con. Trở về bất cứ lúc nào... Mãi mãi con là đứa con thứ mười của gia đình ta.

Tôi siết chặt vòng tay, nghẹn ngào thốt lên trong tiếng nấc: "Daddy!"
Đây là lần đầu tiên trong đời tôi cảm nhận được tình phụ tử qua giọng nói, vòng tay và nhịp đập từ trái tim của một người không phải là cha tôi. Tôi bồn chồn xúc động, bịn rịn không muốn lên xe... Có lẽ tôi đã sai khi quyết định ra đi.
Biết tôi bị giao động, ông William McCarthy từ từ nới rộng vòng tay ôm, đặt hai tay lên vai tôi, rồi ôn tồn nói:

- Con cứ đi đi... Con đã liều mình xuống tầu vượt biển để đi tìm một ước mơ, chẳng lẽ con quên rồi sao? Chúng ta sẽ còn gặp lại, phải không? Hoặc giả như con không đạt được ước mơ của mình, cứ trở về, không sao hết. Chúc con thượng lộ bình an.

Nói rồi ông vội vàng quay gót ra xe. Nếu lúc đó ông William McCarthy nói "ở lại" chắc chắn tôi sẽ không còn đủ can đảm ra đi. Bần thần! Hụt hẫng! Băn khoăn! Tôi đứng lặng người như một kẻ mất hồn! Ngay khi vừa chợt tỉnh cơn mê, tôi chỉ muốn quay trở về với gia đình người bảo trợ rồi mọi sự tính sau nhưng ông William McCarthy đã lái xe đi mất tự lúc nào.

Cuối tháng 7, 1984 tôi rời trại tỵ nạn lên đường đi định cư tại nông trại của người bảo trợ với hai bộ quần áo và một mớ sách vở, giấy tờ vặt vãnh... Hôm nay tôi rời nông trại ra đi với hai "valise" xếp đầy quần áo mới và một túi xách đựng bao nhiêu thứ nhu yếu phẩm, từ dao cạo râu, xà bông tắm, giầy dép... Ngay cả quần áo lót, bà Mary McCarthy cũng sắm thêm cho tôi 18 bộ vì "cuộc sống ở thành phố lớn rất bận rộn, có khi cuối tuần cũng không có giờ để giặt nên con cần phải có cái mà thay đổi!" Gần 4 tháng trời sống chung với ông bà bảo trợ, ăn ở không mất tiền, mỗi ngày lại còn được trả lương 20 Dollars mặc dầu tôi chỉ làm "thợ vịn" cho ông bà chứ không tự mình làm được việc gì nên hồn trong nông trại. Ngay cả việc lái máy cày tôi cũng phải học cả tháng nhưng chưa bao giờ điều khiển cho nó chạy ngay hàng thẳng lối được.

Tối hôm trước ông bà đã cho tôi thêm một ngàn, bây giờ lại còn trao cho tôi một bao thơ do anh chị em trong gia đình đóng góp... Ân tình này làm sao tôi quên được. Tôi là một người xa lạ, khác chủng tộc, không cùng mầu da ngôn ngữ, nhưng được gia đình người bảo trợ đón nhận như một đứa con trong gia đình.
Tạ ơn. Tôi xin tạ ơn và khắc ghi vào tâm khảm tấm lòng cao trọng của đại gia đình ông bà McCarthy. Tôi biết mình sẽ không bao giờ có thể đền đáp được những ân tình gia đình người bảo trợ đã dành cho tôi trong những ngày đầu sống kiếp tha hương nơi xứ lạ quê người. Chính lúc tôi cất bước ra đi cũng là lúc tôi nhận thức được rằng ngoài gia đình cha mẹ ở Bình Giả, Việt Nam tôi còn có thêm một gia đình mới ở một nông trại cách xa thành phố Pittsburgh, tiểu bang Pennsylvania khoảng 100 cây số về hướng Tây Bắc. Tôi tự hứa với lòng mình rằng tôi sẽ trở về, dù thành công hay thất bại tôi cũng phải trở về! Tôi phải trở về để được một lần chính thức nói lời TRI ÂN với "cha mẹ" và anh chị em trong gia đình mới của tôi.

Ngày tháng lặng lẽ qua mau... Tôi hòa nhập vào cuộc sống mới, vừa làm vừa học nên mãi đến 3 năm sau tôi mới có dịp trở về nông trại. Tôi trở về lúc xế chiều vào đúng ngày Lễ Tạ Ơn năm 1987 để "sum họp gia đình" lần cuối ở nông trại vì "cha mẹ" tôi đã quyết định bán nông trại và sẽ về hưu tại thành phố Youngstown, tiểu bang Ohio để ở gần với gia đình người con trưởng. Ngày đón tôi về nông trại lần đầu tiên chỉ có ông bà và người con trai út tên Michael đang nghỉ hè ở nhà. Ngày tôi ra đi, chỉ còn hai ông bà ở lại nông trại; và hôm nay tôi trở lại, đại gia đình tổng cộng 40 người, gồm con cái, dâu rể, và các cháu quây quần chào đón "đứa con lạc loài" là tôi.

Michael liến thoắng kể lại chuyện hiểu lầm ngôn ngữ ngày đón tôi ở phi trường Pittsburgh cho cả nhà nghe... Hôm đó, sau khi máy bay hạ cánh, tôi chờ những hành khách khác ra hết rồi mới lững thững mang túi xách ra sau cùng. Vừa ra khỏi cửa máy bay, Michael tới hỏi tôi "Are you Duy?" nhưng tôi nghe không rõ, cứ tưởng anh ta hỏi "How are you doing?" nên trả lời ngắn gọn "Fine, thank you" rồi chạy vội vào nhà vệ sinh.

Sau khi trở ra, tôi kiếm cái ghế trống bình tĩnh ngồi chờ vì hôm trước tôi bị lỡ chuyến bay ở Seattle nên tới trễ mất một ngày, và có thể hãng máy bay và hội USCC không kịp thông báo giờ giấc và chuyến bay mới cho người bảo trợ tới đón... Mãi gần một tiếng sau, Michael chạy đến nói gì đó với mấy người làm việc cho hãng máy bay United Airlines, rồi có tiếng loa phóng thanh gọi tên tôi mấy lần nhưng tôi chỉ nghe được mấy tiếng "refugee" (người tỵ nạn) và "sponsor" (người bảo trợ) nên tôi bước đển quầy bán vé đưa hồ sơ Cao Uỷ cho họ xem. Vừa nhìn thấy túi hồ sơ có tên tôi viết bên ngoài, Michael nắm chặt tay tôi rồi gọi cha mẹ đến nhận người. Michael cứ thắc mắc sao lúc nãy anh ta hỏi tôi lại không nhận mà chỉ nói "thank you" rồi bỏ đi. Hóa ra khi đọc tên Nguyễn Duy-An trong giấy tờ bảo lãnh, Michael không biết gọi làm sao nên đoán là "đu hay đoai" gì đó và giọng nói của những người Mỹ ở vùng Pittsburgh cũng rất khó nghe nên tôi hiểu lầm. Sau đó Michael lại kể thêm chuyện tôi phải "năn nỉ" xin miếng bánh mì đầu tiên khi mới được đón về nông trại vì tôi không thể nào nuốt nổi tô cơm nấu bằng gạo "Uncle Ben" trộn lẫn với bơ, đậu xanh, và nhiều thứ khác nữa, trông như một tô cám heo con!

Cả nhà ân cần thăm hỏi tôi đủ chuyện, từ nơi ăn chốn ở tới việc học hành, việc đi làm thêm vào ban đêm... và cũng hỏi xem tôi đã có người yêu Việt Nam hay chưa, mặc dầu thỉnh thoảng chúng tôi vẫn viết thơ, gọi điện thoại thăm hỏi và kể cho nhau nghe đủ chuyện. Vào cuối bữa tiệc "Tạ Ơn", sau khi mỗi người chúng tôi đã nói lên tâm tình biết ơn "cha mẹ" và anh chị em trong gia đình, "cha tôi" trịnh trọng đứng lên, với tay lấy một tập hồ sơ lớn để lên bàn rồi dõng dạc tuyên bố:

- Như các con biết, nông trại này đã sang tên cho người khác, và tuần sau cha mẹ sẽ dọn vào nhà mới ở Youngstown để an dưỡng tuổi già. Số tiền bán cái nông trại này, tuy không lớn lắm nhưng cũng không phải là nhỏ. Cha mẹ đã sắp xếp đầy đủ tiền sinh hoạt cho tới ngày nhắm mắt xuôi tay, phần còn lại, cha mẹ chia đều ra 10 phần cho các con, kể cả John. Bây giờ cha mẹ trao lại cho các con.
Tôi bật khóc nức nở không nói nên lời. Người anh lớn trong gia đình đại diện anh chị em xin ông bà giữ lại vì tương đối ai cũng "an cư lạc nghiệp" và khi nào có ai trong gia đình gặp khó khăn thì giúp cho người đó, nhưng ông bà không chịu, cứ bắt mọi người phải nhận. Chị Peggy, người con thứ hai trong gia đình, một nữ tu thuộc dòng Thừa Sai Bác Ái của Mẹ Têrêsa xin được dâng cúng phần của chị vào quỹ của nhà dòng để giúp người nghèo. Tôi cũng xin được đóng góp theo chị...





Mấy ngày sau chúng tôi lại lần lượt ra đi, kẻ trước người sau giơ tay vẫy chào "vĩnh biệt" nông trại, cái nôi đầu tiên của đại gia đình chúng tôi. Trước khi tôi lái xe trở về Virginia, ông bà bảo trợ cứ dặn đi dặn lại là phải báo tin cho ông bà biết khi tôi ra trường, lập gia đình... để ông bà sắp xếp tới tham dự và chúc mừng. Sau khi tôi đề máy xe chuẩn bị sang số, ông lại "dúi" vào tay tôi một bao thơ: "Con cầm lấy đi đường đổ xăng, ăn uống và mua quà gởi về giúp cha mẹ con bên nhà. Phần ta chia cho con, con đã dâng cúng cho nhà dòng hết rồi còn đâu... Thôi, con đi bình an!"

Mấy tháng sau tôi nhận được hung tin ông qua đời vì tai nạn xe hơi trong một cơn bão tuyết ở Youngstown. Sau khi ông mất, bà "mất trí" nên anh chị em chúng tôi phải gởi bà vào dưỡng trí viện!

Ông bà bảo trợ của tôi không còn nữa! Tôi từ giã nông trại ra đi vào dịp Lễ Tạ Ơn và cũng đã trở về gặp lại "cha mẹ" và anh chị em lần cuối ở nông trại vào dịp Lễ Tạ Ơn. Tôi đã một thân một mình rời bỏ quê cha đất tổ ra đi sống đời tỵ nạn nơi xứ lạ quê người, nhưng tôi may mắn được gia đình ông bà McCarthy đón nhận như một người con trong gia đình. Khi tôi đến với hai bàn tay trắng, ông bà đã "cho" tôi tất cả, từ vật chất tới tinh thần như một đứa con ruột thịt của ông bà. Ngày tôi ra đi, ông bà đã lo toan sắm sửa đầy đủ mọi thứ cho tôi đi "ở riêng" và lúc nào cũng quan tâm lo lắng, an ủi, khích lệ và nhất là cho tôi một chỗ dựa tinh thần rất vững chắc để tôi có đủ can đảm dấn thân hội nhập vào xã hội Hoa Kỳ, và nếu thất bại "cứ trở về" vì lúc nào ông bà cũng dang rộng vòng tay chờ đón tôi trở về như một đứa con trong gia đình.

Mỗi lần Lễ Tạ Ơn trở về tôi lại nhớ "cha mẹ" và những ngày sống ở nông trại thật nhiều. Tôi chưa làm được một chút gì để gọi là đền đáp hay trả ơn người bảo trợ của mình. Niềm mơ ước của ông bà là được đến chung vui với tôi ngày ra trường hay lập gia đình cũng không được toại nguyện! Tạ ơn. Tôi xin tạ ơn và khắc ghi vào tâm khảm hai chữ "TRI ÂN" người bảo trợ của tôi cho đến trọn đời.

Nguyễn Duy-An

Posted: Sat Nov 24, 2012 6:25 am
by buikiem

Image

Nỗi buồn mùa Tạ Ơn

Phạm Hồng Ân
Năm nào cũng vậy, cứ đến ngày lễ Tạ Ơn, sau khi đi nhà thờ, tôi liền phóng xe một hơi đến đường 50, ở tận East-San Diego. Tới căn nhà nhỏ cổ kính, có đám bìm bịp xác xơ thả ngọn phủ kín mái sau, tôi mới tấp vào lề, tắt máy xe, rồi buồn bã ngó vào căn nhà mà trầm ngâm nhớ đến những người ơn, bây giờ đã biệt tăm, không biết chừng nào mới gặp lại.

Tháng Chín năm 1993, gia đình tôi qua Mỹ theo diện HO. Những ngày đầu tiên ở San Diego, trong căn apartment rộng rãi đầy đủ tiện nghi, gia đình tôi có cảm giác như vừa đến một xứ sở thần tiên nào đó. Vài ngày sau, một bà Mỹ già đến gõ cửa. Bà tự nhiên tiến đến bắt tay chúng tôi và ôm từng người một vào lòng.

- Sao? Các con thế nào? Có khỏe không?

Tôi ngơ ngáo như người từ cung trăng vừa rớt xuống. Bà già Mỹ nào đây? Bà đi lộn nhà? Bà nhìn lầm người chăng? Tại sao bà tự nhiên quá cỡ thợ mộc, và thân thiết với mình quá đột ngột như đã từng quen biết với nhau từ lúc nào? Vợ tôi cũng hoảng lên, chạy vội đến bên tôi, nói nhỏ:

- Ông ơi! Ông phải cảnh giác nha! Không chừng ở đây cũng giống như ở Sài Gòn. Người ta lường gạt nhau ghê lắm!

Bà Mỹ già vẫn nhoẻn miệng cười với chúng tôi. Bà âu yếm xoa đầu thằng con tôi, và chầm chậm nói:

- Sao? Các con thế nào? Các con không biết nói tiếng Anh à? Good or no good?

Tôi lạnh nhạt nhìn Bà:

- Bà có lầm ai với chúng tôi không? Chúng tôi vừa mới đến đây, từ Việt Nam.

- Đúng rồi. Các con gồm ba người. Có phải các con tên này không?

Bà móc trong túi ra tờ giấy, lật lên, đưa tôi coi:

- Tên các con này! Đây, đúng không?

Tên của chúng tôi thật rồi. Trong giấy, người ta còn ghi rõ địa chỉ và số phòng apartment của chúng tôi nữa. Tôi chưa kịp rõ nguồn cơn, bà già Mỹ đã tiếp lời:

- Mẹ ở cơ quan thiện nguyện, có nhiệm vụ giúp đỡ các con . Mẹ tên là Maurice. Còn con, tên là “en” phải không?

Mẹ Maurice tự nhiên quá, thân mật quá, khiến tôi gọi trả lại bà la “mom” chẳng chút ngượng ngùng.

- Con xin lỗi Mẹ. Mẹ tới thăm chúng con, vậy mà chúng con vô tình không biết. Tên con là AN, không phải đọc là EN, Mẹ ạ!

Bà xuýt xoa quay qua vợ và thằng con tôi:

- Còn cô này và thằng này? Cái tên cũng khó kêu quá!

- Vợ con tên là T…U…Y…E…T…Còn thằng con tên là C…U…O…N…G…

Mẹ Maurice vừa cười vừa lắc đầu. Bà đọc tới đọc lui, vẫn lọng cọng, vẫn không thể gọi tên vợ và thằng con tôi một cách chính xác. Cuối cùng, Mẹ dắt tôi ra xe, mang vào nhà lỉnh kĩnh những túi xách. Mẹ vui vẻ bày từng món lên chiếc thảm màu vàng rực.

- Đây là bình trà và sáu cái tách dễ thương. Đây là lô dĩa chén cho các con dùng bữa. đây là chậu rửa rau, bình pha cà phê, máy xay sinh tố, máy xay thịt. Còn cái này là nồi nấu cơm, nồi hầm thịt, chảo chiên trứng…

Vợ tôi trố mắt nhìn từng cái. Nàng rất đỗi vui mừng vì được làm chủ những vật dụng mà từ trước tới giờ nàng chưa bao giờ chạm tay tới.

- Con rất cám ơn Mẹ. Mẹ đã tặng các con những vật dụng quí giá. Khi xài chúng, chắc con sẽ luôn nhớ đến Mẹ.

- Mẹ không cần cần các con nhớ Mẹ đâu. Mẹ muốn phần nào hàn gắn lại vết thương mà thời gian qua chính phủ Mỹ đã bạc đãi các con trong chiến tranh Việt Nam.

Tôi cảm động đến rưng rưng nước mắt. Mẹ Maurice đã làm tôi nhớ lại chiến trường, nhớ đến đồng đội. Tội nghiệp cho tuổi trẻ chúng tôi, vừa lớn lên, xếp bỏ bút nghiên để hiến thân bảo vệ đất nước. Và đau đớn thay, chúng tôi bị bức tử, bị lùa vào ngục tù một cách tức tưởi.

- Bây giờ Mẹ có việc phải đi ngay. Ngày mai hai đứa con của Mẹ: thằng David và con Ann sẽ đến đây dẫn các con đi chợ. Chào các con nha! Chúc các con một ngày tốt đẹp.

Tôi đưa Mẹ Maurice ra cổng. Nhìn dáng Mẹ tất bật, vội vã – tôi chợt nhớ đến Mẹ tôi ở Việt Nam. Ôi! Những bà Mẹ, dù khác giống nòi, khác màu da…đều có chung một tấm lòng giống nhau – một tấm lòng bao dung, độ lượng… cao như núi non, rộng như biển cả.

Đúng như lời Mẹ Maurice hứa, trưa hôm sau, có hai vợ chồng trẻ người Mỹ đến gõ cửa phòng tôi.

- Chào ông bà. Xin giới thiệu tôi là David, còn vợ tôi là Ann. Chúng tôi đến đây để đưa ông bà đi chợ. Mời ông bà ra xe.

Ann đưa vợ tôi vào một ngôi chợ Mỹ. Còn David chở tôi đi lòng vòng. Hắn tắp xe vào những khu có cộng đồng người Việt sinh hoạt, giới thiệu với tôi từng chi tiết. Trò chuyện một lát, hắn và tôi thân thiện nhau ngay.

- Mày có thích ra biên giới Mễ nhìn cho biết không?

Tôi ngập ngừng, ngần ngại:

- Ở gần đây không? Xa thì thôi. Sợ làm phiền mày.

- Gần đây. San Diego sát với biên giới Mễ mà. Mày chưa coi bản đồ sao?

David chạy một hơi đến biên giới. Hắn lái xe giỏi thật! Hắn xàng qua lách lại điêu luyện như tên nài chơi ngựa trong trường đua. Cuối cùng, hắn dừng lại trên một đỉnh cao.

- Nhìn kìa! Mày có thấy border/biên giới phía tay phải không? Bên kia là Mễ. Mày sẽ có dịp qua đó du lịch, khi mày cầm thẻ xanh trong tay.

Tôi nhìn border phía trước. Border chỉ là một cánh cổng rộng cho sự ra vào hợp pháp giữa hai bên. Mù mờ tít xa là nước Mễ bao la. Cũng những cụm mây xám xà xuống với hàng loạt dãy núi kéo dài.

David đưa tôi về Apartment cũng vừa lúc Ann và vợ tôi xách lỉnh kỉnh những túi thức ăn vào nhà. Vợ tôi không giấu được nỗi vui mừng, cứ cười toe toét:

- Gần năm chục đồng thức ăn đó anh ạ! Mình không dám mua nhiều, nhưng chị Ann cứ bảo: lấy đi, lấy đi! Chị sẽ trả tiền cho. Mình ngại quá anh à!

Từ đấy, gia đình tôi và gia đình Mẹ Maurice gắn liền với nhau như bóng với hình. Cuối tuần, David lái chiếc truck đến nhà gọi tôi đi làm công tác thiện nguyện. Công tác chỉ vỏn vẹn vài tiếng đồng hồ.Chúng tôi thường đến giúp đỡ những người già neo đơn. đôi khi giúp họ ăn uống. Đôi khi dọn dẹp rác rến trong garage. đôi khi cắt cỏ xung quanh nhà. đôi khi di chuyển một món đồ nào đó qua nơi khác. Lần đi nào, Mẹ Maurice cũng dành cho tôi một phần ăn to tổ bố. Và sau chuyến công tác, Mẹ luôn thân thiện đặt vào túi tôi những tờ giấy bạc mười đồng.

Một hôm, David lù lù tới, trao tận tay tôi một chiếc xe đạp mới toanh, và một tấm giấy của Mẹ Maurice:

“Certificate chứng nhận
chiếc xe đạp này của AN
do Mẹ Maurice thân tặng.”

Trước khi về, David còn nhấn mạnh:

- Mẹ có dặn, mày nhớ đạp xe đến thăm Mẹ vào mỗi ngày cuối tuần.

Nghe lời Mẹ, cứ mỗi cuối tuần, tôi đạp xe từ đường 43 đến đường 50 thăm Mẹ. Mẹ ở với vợ chồng David trong một ngôi nhà nhỏ nhắn, nhưng rất xinh xắn. Tôi thích những hàng cây xung quanh nhà, David trồng đủ loại, từ cam, quít, chanh... đến nho, lê, táo.

Buổi sáng, Mẹ Maurice thường ngồi uống cà phê với Ann nơi chiếc bàn bằng đá, dưới bóng mát của tàng cam xum xuê trái. Lúc nào Mẹ cũng để dành cho tôi một phần hot dog với tách cà phê sóng sánh hương vị. Mẹ luôn xem tôi như một người con trong gia đình. Tôi cũng vậy. Tôi tự nhiên như anh em với David từ lâu, tôi cần cù bầu từng nhánh cam, chiết từ cành quít cho David trồng thêm trên phần đất trống xung quanh nhà. Nhìn những nhánh cây mọc rễ trắng xóa trong bầu, Mẹ Maurice thích chí cười ha hả:

- Thằng này giỏi thật! Vậy mà thằng David không biết cứ xách tiền đi mua từng cây về trồng. Nhờ con, bây giờ Mẹ chỉ cần chiết nhánh, rồi chờ ngày bén rễ đem xuống đất vun phân tưới nước. Vừa tiết kiệm tiền, vừa tiết kiệm công. Hay quá!

Ngày qua ngày, tám tháng trợ cấp của chính phủ Mỹ vùn vụt trôi qua. Tôi chưa kịp có ý định tìm việc làm thì Mẹ Maurice đã nhắc David:

- Thằng An sắp hết trợ cấp. Ngày mai con dắt nó xin việc làm đi!

David nheo mắt, ngó tôi từ đầu tới chân:

- Ê, ở Việt Nam mày làm nghề gì?

Tôi cười hề hề, rồi đưa ngón tay trỏ lên, cong lại:

- Bóp cò.

- Trời đất! Mày đùa hay nói thật, thằng quỷ?

Mẹ Maurice chêm vào :

- Thì nó đi lính, ngày xưa…

David nhảy chồm lên, hớn hở :

- Vậy, tao có job cho mày rồi.

- Job gì?

- Security.

Ngày mai, sáng sớm, chưa kịp nhâm nhi ly cà phê đầu ngày, tôi đã thấy chiếc truck của David xà ngay cổng apartment. Hắn tức tốc bốc tôi lên xe, chạy một mạch đến các hãng security nằm trong vùng San Diego. Đi tới đâu, khi nhìn bộ vó chưa đầy 48kg của tôi, ai ai cũng lắc đầu từ chối. Tức quá, David nổi khí xung thiên, vừa chỉ vào người tôi, vừa lớn tiếng với ông Mỹ, chỉ huy toán security:

- Ê! Mấy ông đừng coi thường thằng này nha! Nó chuyên môn bóp cò ở xứ nó đó. Ê! Nó là sĩ quan chỉ huy, thâm niên công vụ… Mấy ông biết không?

Toán security lao nhao, tên chỉ huy phải chạy đến gần David, xuống nước nhỏ :

- Khi nào opening job, tôi hứa, tôi sẽ gọi điện thoại cho ông.

David lôi tôi phóng lên xe, trước khi rồ máy chạy, hắn còn nói vói theo tên chỉ huy :

- Ê! Hứa giữ lời nha! Tao chờ điện thoại tụi bây đó.

Mẹ Maurice buồn rầu khi nghe David kể lại chuyện tìm job của tôi. Mẹ cũng rưng rưng nước mắt khi nhìn lại thân thể gầy gò ốm nhách ốm nhom của tôi.

- Con phải uống sữa, ăn thịt bò hàng ngày… để có da có thịt một chút. Có sức khoẻ, con mới làm việc được.

Nghe lời Mẹ dặn, sau vài tuần tẩm bổ, tôi đã lên cân vù vù. Và kế đó, tôi cũng đã tìm được việc làm ở một hãng golf. Mặc dù đồng lương giới hạn, nhưng công việc bận rộn liên miên. Tôi làm overtime lu bù. Có khi làm luôn cả ngày chủ nhật.

Lần đầu tiên là nhân viên một hãng xưởng, nên tôi rất thích thú và đam mê công việc, cho nên một thời gian dài tôi đã không đến viếng thăm Mẹ Maurice. Có lẽ vì bặt tin tôi, nên ngày chủ nhật hôm đó, Mẹ Maurice lọ mọ đến tìm tôi. Trời ơi! Mẹ Maurice đây sao? Một bà già Mỹ yếu ớt, chống gậy liêu xiêu gõ cửa apartment.

- Mẹ ơi! Làm sao Mẹ ra nông nỗi này hỡi Mẹ?

- Mẹ bị stroke con ạ! Mẹ đến thăm con lần này, rồi Mẹ sẽ về New York, gần gũi với đứa con gái của Mẹ.

- Chuyện gì đã xảy ra cho Mẹ?

- Không. Chẳng có chuyện gì hết. Mẹ muốn đi thăm con gái.

Tôi ôm Mẹ Maurice vào lòng, và chợt nghĩ đến những nỗi đau âm thầm mà những người Mẹ đã một mình gánh chịu. Sự hy sinh vô bờ bến đó chỉ có trong trái tim, trong tấm lòng người Mẹ. Mẹ Maurice và Mẹ ruột của tôi giống nhau ở điểm này.

Thời gian dài sau nữa, tôi hoàn toàn mất liên lạc với Mẹ Maurice, David và cả Ann. Rồi một hôm, trong lòng tôi bỗng xốn xang bức rức, như có linh tính báo về điềm xấu nào đó, tôi vội xách xe chạy lên đường 50. Căn nhà xinh xắn vẫn còn đây. Những hàng cây xum xuê trái vẫn dày đặc bóng mát. Cái bàn đá vẫn ở chỗ cũ, Những nhánh cây do bàn tay tôi chiết cho David giờ đã mơn mởn xanh, phơi phới đón gió chiều. Chỉ có căn nhà là đổi chủ.

Người ra tiếp tôi là một ông Mễ bụng phệ. Ông ta cho tôi biết David và Ann đã ly dị nhau, và họ đồng ý bán căn nhà này lại cho ông. Còn bà Maurice mất rồi, hình như bà mất lúc đang ở New York thăm con gái. Tôi xin phép hỏi thêm vài câu nữa, nhưng ông ta lắc đầu và khép cánh cửa lại.

Như có ai cầm dao đâm thấu tim gan mình, tôi lảo đảo ra xe, gục mặt vào tay lái, thổn thức từng cơn. Trời ơi! Tôi đã vô ơn với Mẹ Maurice. Tôi đã bội nghĩa với David và Ann. Niềm hối hận này, không biết bao giờ mới xoa dịu được.

Thưa Mẹ Maurice,

Hôm nay, con viết bài này như nén nhang kính dâng lên Mẹ, như ngàn lời tạ lỗi cùng Mẹ, và rất mong Mẹ rộng lượng thứ tha cho đứa con nuôi vô ơn và bạc nghĩa này.

Cho tới bây giờ, tôi vẫn chưa gặp lại David và Ann. Chẳng biết họ đã nối lại tình xưa hay mỗi người mỗi nơi với cảnh ngộ khác nhau?

Và mùa lễ Tạ Ơn nào cũng vậy, tôi luôn phóng xe đến đây với chai rượu trong tay, cố gắng xóa đi nỗi buồn khi tưởng nhớ.

Posted: Mon Nov 26, 2012 6:06 am
by KýCóp
Image

Xem Ảo Thuật David Coperfield bay như thiên thần


Posted: Mon Nov 26, 2012 8:24 am
by khieulong
Mùa đông Quý Châu lạnh quá! Ngoại ơi!
đoàn xuân thu

Hàng năm khi những ngón tay giá lạnh của mùa đông về, chạm lại vào thân thể những người vô gia cư, rét buốt! Những mảnh đời càng bất hạnh hơn trong nỗi cơ hàn. Cơ là đói. Hàn là lạnh, rét. Cơ hàn là đói lạnh. Khi bao tử rổng không, thì cái lạnh càng thêm khắc nghiệt!

Mùa đông năm nay có thể đến rất sớm ở Quý Châu, Trung Quốc, khi người viết đọc cái tin chua xót: 5 trẻ em vô gia cư Trung Quốc chết ngạt trong thùng rác đặt trên đường phố, làm gợi nhớ đến truyện ngắn xuất bản lần đầu năm 1845, Cô bé bán diêm (The Little Match Girl) của nhà văn Đan Mạch Hans Christian Andersen.

Câu chuyện về niềm hy vọng và ước mơ đã chết của em bé bán diêm trong đêm Thiên Chúa sắp chào đời!:
Image

…Que thứ nhất bật lên, hơ tay trên ngọn lửa ấm áp sáng bừng như cây nến nhỏ, em tưởng mình đang ngồi trước chiếc lò sưởi sắt to với chân đế và tháp trang trí bằng đồng. Lửa vụt tắt, lò sưởi biến mất, chỉ còn lại trong tay em là nửa que diêm cháy dở.

Cô bé bật que diêm thứ hai, bức tường trước mặt bỗng trở nên trong suốt, bé nhìn thấy trong nhà là một bàn ăn phủ khăn trắng như tuyết với con ngỗng quay nhồi táo và mận khô đang bốc hơi nghi ngút. Và lạ kỳ chưa! con ngỗng bỗng từ trên đĩa nhảy xuống, lạch bạch tiến về phía em với dĩa và dao cắm ở ngực. Bỗng que diêm phụt tắt, chẳng còn gì ngoài bức tường dày tối tăm, ẩm ướt và lạnh lẽo ngay trước mặt.

Bé bật một que diêm nữa, và thấy mình đang ngồi dưới cây thông Noel trang hoàng dây nến và tranh rực rỡ. Với tay về phía cây thông, que diêm tắt lịm, em thấy ánh nến bay lên cao, cao mãi trông như những vì sao. Rồi một vì sao rơi xuống, "Ai đó đang từ giã cõi đời.", em bé nghĩ vì nhớ đến lời bà, người duy nhất yêu quý mình trên cõi đời này.

Cô bé bật que diêm thứ tư, ánh sáng bỗng bao trùm, giữa vầng sáng, bà đang đứng đó, mỉm cười hiền hậu và âu yếm. "Bà ơi!", em khóc nấc lên, "Bà mang cháu đi cùng nhé! Cháu biết bà sẽ rời bỏ cháu khi que diêm cháy hết, bà sẽ biến mất như chiếc lò sưởi ấm áp kia, như chú ngỗng quay và cây thông rực rỡ".

Em vội vàng cho cả gói diêm vào ngọn lửa, ánh sáng bừng lên còn hơn cả vầng dương và bà trông như chưa đẹp lão, cao lớn đến thế bao giờ. Bà ôm em trong vòng tay rồi cả hai cùng bay lên, trong ánh sáng và niềm hân hoan, xa dần mãi mặt đất, đến với Chúa, đến nơi không còn đói khát và nỗi khổ đau.

Rạng sáng hôm sau, người ta thấy cô bé đáng thương đang ngồi tựa vào tường, má ửng hồng, nụ cười nở trên môi. Em đã chết cóng, tay vẫn nắm chặt những que diêm, một nhúm đã cháy tàn…

ImageImage
Hơn 150 năm sau, câu chuyện thương tâm ở xứ Đan Mạch xa xôi đã trở thành một sự kiện bi thảm ở Trung Quốc. Sáng thứ sáu, ngày 16, tháng 11, thành phố Bijie, tây nam tỉnh Quý Châu, nhiệt độ xuống tới 6 độ C, một người nhặt rác tình cờ phát hiện thi thể của 5 em nhỏ chết ngạt, vì thán khí, bên cạnh một đống than đang cháy dở trong thùng rác.

Các em đã chui vào cái thùng rác ngang 1.3m, dài 1.6m, trốn cái lạnh cắt da bằng cách đốt than lên để sưởi. Các em đóng cửa thùng rác lại, để tránh cơn gió Đông và các em đã đóng lại cuộc đời mình vĩnh viễn khi tuổi mới lên mười…

Cái chết bi thảm của 5 đứa trẻ làm bùng lên nỗi niềm căm giận từ dư luận; nên chính quyền tỉnh Quý Châu trước sự phẫn nộ của nhân dân đã ‘chỉ’ lung tung.

Một chính quyền của Bí thơ tỉnh ủy ‘Đổ Thừa!’. Tám quan chức ‘cắc ké, cò con’ bị sa thải hoặc đình chỉ chức vụ tối 19/11. Phải có ‘thằng’ nào chịu tội chớ với điều kiện không phải là ‘tao’. Vậy thôi!

Còn chính quyền Trung Ương của Ôn Thừa Tướng sao không thấy động tĩnh gì hết, chỉ im re?!

Mấy lần trước, khi đất nước Trung Quốc gặp thiên tai như động đất hay lũ lụt thì Ôn Thừa Tướng đều vội vã đi thăm nhưng không quên lận lưng theo chai dầu ‘Nhị Thiên Đường’ để nếu cần, thì xức vào mắt, mà khóc thương cho những cảnh đời bi thảm của quần chúng ‘nhân dân’ đang ‘nhăn răng’ ra vì đói khổ.

Ôn Thừa Tướng đã chia sẻ bữa cơm đạm bạc với những kẻ khốn cùng nên truyền thông Trung Quốc ‘đè’ Thừa Tướng ra, mà gắn cho cái tiếng thân thương ‘Ông Ngoại Ôn’ (Grandpa Wen)


Vậy mà mới đây cái ‘thằng’ nhà báo phản động ‘Thời Báo Nữu Ước’ (The New York Times) dám chạy tin rằng: tài sản chìm nổi của gia đình Ôn Thủ Tướng không thể nào đếm nổi. Vì mỏi miệng lắm, xéo quai hàm, mà chưa chắc đã đếm xong?!

Ôn Thừa Tướng tục danh là Ôn Gia Bảo, bảo vật của gia đình nên Ông Ngoại lên ngôi Thừa Tướng năm 2003 cho tới nay mà Gia Bảo của Ôn Thừa Tướng đã lên tới 2.7 tỉ đô la. Và tháng 11 năm 2012 là Ngoại xuống rồi, nếu không, chắc Gia Bảo còn nhiều…nhiều tỉ nữa.

Chắc tay Bạc Hy Lai, vì mất chức Bí Thơ Trùng Khánh, nên thù Ngoại, chơi xỏ bằng cách ‘xì’ thông tin tối mật này cho bọn phản động nước ngoài nhằm ‘bôi tro, trét trấu’ lên mặt Ngoại.

Nó nói rằng: má Ngoại tức bà “Cố’, 93 tuổi rồi, mà còn đầu tư vào công ty Bảo Hiểm Ping An 120 triệu đô Mỹ.

Còn phu nhân của ‘Ngoại’, tức Bà Ngoại, lợi dụng uy quyền của chồng mình để nhận hoa hồng ‘khủng’ trong việc mua bán kim cương.

Còn con trai của Ngoại, gọi là ‘Cậu’, là Xếp của công ty Unihub. Con gái của ‘Ngoại’, gọi là ‘Dì’, thì có cổ phần trong công ty vàng bạc đá quý Gallop.

Ôn Thừa Tướng đòi thưa ‘thằng’ báo New York Times, của con cọp giấy Mỹ, ra tòa về tội đặt điều, bêu xấu lãnh đạo!

Và có lẽ Ngoại bận ‘thưa’ mấy thằng phản động ‘Bạch Quỷ’ ra ba tòa quan lớn cho nó biết thân vì đặt điều láo khoét, nên ‘Ngoại’ quên bẳng đi lời kêu than thống thiết, không những của 5 em nhỏ chết thảm ở Quý Châu mà còn cả chừng 1.5 triệu em bé Trung Quốc đang lang thang trên nẻo đời cơ nhở khi mùa đông đã tới sát bên khung cửa.

Mùa đông Quý Châu, Mùa đông Trung Quốc năm nay lạnh quá! Ngoại ơi!

đoàn xuân thu

Posted: Mon Nov 26, 2012 8:48 am
by khieulong
Ông Xếp Mỹ
Nguyễn Duy An
Được sự đồng ý của ông Bernard Callahan, tôi viết lại những dòng này để bày tỏ lòng quý mến và ngưỡng mộ của tôi dành cho ông nhân dịp ông chính thức về hưu vào mùa hè năm nay.
Ông Bernard Callahan là người Vice President đã nhận tôi vào làm việc tại National Geographic vào đầu tháng 8 năm 1998;
hơn 2 năm sau, khi tôi được chọn làm Vice President, chúng tôi đã trở thành “peers” rất tương đắc;
và từ đầu năm 2006 ông trở thành nhân viên rất đắc lực của tôi sau khi Hội Đồng Quản Trị bổ nhiệm tôi làm Senior Vice President tại National Geographic.
Image
Hình tác giả Nguyễn Duy An đang phát biểu với sự trân trọng, ngưỡng mộ của những người bạn chung sở làm.

Hơn 13 năm trước…

Sau hai vòng phỏng vấn với một vài vị phó chủ tịch và bốn năm giám đốc ở National Geographic, ông Bernard Callahan nói với tôi trước khi chia tay:

- Với kinh nghiệm của anh và những gì National Geographic đang cần để vượt qua những trở ngại kỹ thuật của năm 2000 (Y2K), tôi sẵn sàng nhận anh về làm giám đốc kỹ thuật; tuy nhiên, anh phải trở lại để gặp bà Sandy Gill là Senior Vice President. Bà ta xuất thân là một “nhà báo” nên anh phải tuỳ cơ ứng biến. Tôi đã cố gắng hết sức nhưng không làm sao giải thích cho bà ta hiểu được là chúng ta phải thay đổi lại toàn bộ máy móc từ “mainframe” tới “client-server”, từ “Token Ring” qua “CAT-5”… Bà ta đã từ chối hai ba ứng viên cũng rất khá, tuy không bằng anh, chỉ vì họ lúng túng không làm sao giải thích cho bà ta hiểu được tầm quan trọng của vấn nạn Y2K.

Chính nhờ những lời dặn dò của ông Callahan nên trong lúc chờ ngày hẹn để gặp bà Sandy Gill, tôi ngồi suy đi nghĩ lại nhiều lần tìm cách giải quyết vấn đề một cách “rất bình thường” thay vì lập luận theo “khoa học kỹ thuật!” Qua kinh nghiệm mấy năm dạy những lớp sử dụng máy điện toán dành cho người lớn tuổi vào ban đêm ở trường đại học cộng đồng gần nhà, tôi hiểu được phần nào nỗi khó khăn của một người “bình thường” khi phải đương đầu với những từ ngữ chuyên môn trong ngành điện toán… vì đối với họ, học mấy thứ đó còn khó hơn học tiếng La-Tinh! Đã hơn một lần tôi phải sử dụng những danh từ đơn giản, tìm những thí dụ thiết thực với đời sống hằng ngày để giúp “học sinh” hiểu rõ hơn những định nghĩa mông lung trong ngành điện toán. Tôi đọc lại “sổ tay dạy học” gom góp những câu hỏi “vớ vấn” của học trò và những câu trả lời phần lớn do những học sinh lớn tuổi khác đã dùng để giúp bạn học dễ dàng hiểu được “ngôn ngữ thời @” để làm hành trang đi phỏng vấn.

Những hình ảnh “cực độc” của National Geography Magazine (NGM). Số đầu tiên phát hành vào năm 1888, phát hành hàng tháng với 34 thứ tiếng khác nhau, và số lượng 8.1 triệu độc giả trên thế giới, riêng ở Hoa Kỳ mỗi tháng có tới khoảng 5 triệu người đọc.
Image

Image

Image

Image

Tới ngày hẹn, sau vài câu chào hỏi xã giao, bà Sandy Gill bảo thư ký gọi ông Bernard Callahan tới văn phòng cùng ngồi “dự thính” và làm “thông dịch viên” khi cần thiết vì bà tự nhận ngay từ đầu là mặc dầu làm “xếp lớn” nhưng bà không biết gì về điện toán cả!

Ông Bernard Callahan vào văn phòng, vừa bắt tay vừa nói nhỏ với tôi: “Cố lên nhé. Nhớ đừng sử dụng từ ngữ chuyên môn. Anh phải nói làm sao để bà ta không cần hỏi lại tôi là anh thắng, bằng không thì…!”

Bà Sandy Gill bắt đầu cuộc phỏng vấn với một câu “nhập đề lung khởi” nhưng rất thực tế:

- Anh nhìn phía sau bàn giấy của tôi đi… Một cái TV, hai cái màn hình điện toán, một cái để xem hồ sơ tài chánh, một cái nữa để xem Email nhưng tôi vẫn cứ phải dùng bút đỏ để sửa bài rồi giao cho thư ký đánh máy lại. Thế cũng chưa đủ vì Bernard và mấy người giám đốc dưới quyền của ông ta còn xin thêm mấy triệu để thay đổi “infrastructure”, nào là “server, switches and routers” rồi “client-server” và “database” gì đó… Tôi biết cái giới hạn trong máy điện toán về việc chỉ dùng 2 con số để ghi năm nên phải thay đổi để có thể ghi cả 4 số, nhưng cái đó là chuyện nhỏ, phải không? Tại sao phải thay đổi toàn bộ như vậy? Tôi biết dùng mấy cái máy mới này tốt hơn dùng máy đánh chữ và như thế cũng được rồi, cần gì phải tiêu nhiều tiền như vậy? Tôi thấy mấy sợi dây cáp nối máy vào bờ tường vẫn còn rất tốt và chẳng bao giờ bị đứt cả, tại sao lại phải thay dây mới? Bernard cũng đã nhiều lần phân tích nhưng tôi cũng chỉ hiểu mù mờ vì đối với tôi dây cáp là dây cáp chứ việc gì phải đổi từ “Token Ring” sang “CAT-5” làm gì cho tốn tiền. Anh nghĩ sao?

Tôi vừa nghe vừa cố nhớ những câu hỏi của bà Sandy Gill và tính nhẩm trong đầu là để thấu hiểu những vấn đề bà ta vừa nêu lên, sinh viên phải theo học ba bốn lớp chuyên môn ở đại học thì làm sao tôi giải thích cho bà ta hiểu được trong cuộc phỏng vấn chỉ giới hạn khoảng một hai giờ đồng hồ! Tuy nhiên, nhờ ông Bernard Callahan đã “gà” trước nên tôi đã chuẩn bị sẵn sàng và từ từ giải thích:

- Trước hết, tôi xin cám ơn bà đã cho tôi cơ hội này. Tôi xin đan cử một vài hình ảnh cụ thể làm thí dụ để giải thích những thắc mắc của bà. Thế này nhé… Theo như tôi được biết thì ở đây ai cũng được trang bị máy điện toán cá nhân (personal computer) nhưng có lẽ chưa tận dụng hết khả năng của máy vì nhiều lý do khác nhau. Bây giờ chúng ta cứ tưởng tượng rằng National Geographic vừa trang bị cho hơn 2 ngàn nhân viên ở đây mỗi người một chiếc xe hơi mới để đi làm, nhưng khổ nỗi chúng ta chỉ có khoảng 6 trăm chỗ đậu xe. Thêm vào đó, hai con đường L và M đều là đường một chiều, và trong giờ cao điểm thì con đường 17 cũng trở thành một chiều nên mọi người cứ phải chạy lòng vòng mấy lần mới quẹo vào được con đường nhỏ Desales xếp hàng đậu xe! Nhưng rồi làm sao chúng ta có thể chèn nhét hơn 2 ngàn chiếc xe vào 6 trăm chỗ đậu được, đúng không? Do đó, để giải quyết vấn đề, có lẽ chúng ta phải nới rộng bãi đậu xe, xin chính phủ mở lớn những con đường chung quanh sở để không bị tắc nghẽn, nhất là trong giờ cao điểm. Bà vẫn hiểu những gì tôi nói chứ?

- Tốt… nhưng cái đó có dính dáng gì tới việc Bernard muốn tiêu mấy triệu để mua máy móc gì không vậy?

- Vâng, có đấy. Bây giờ bà hãy so sánh chiếc máy điện toán cá nhân trên bàn của bà và các nhân viên trong sở như những chiếc xe tôi vừa nêu trên. Chúng ta có máy rồi nhưng chưa có “server”, chưa có “database” thì cũng như có xe nhưng không lái lên sở được vì không có chỗ đậu. Và rồi, nếu chúng ta có chỗ đậu rồi cũng chưa đủ nếu không mở rộng con đường nhỏ Desales và xin phép mở thêm lối khác để vào “garage” thì mỗi sáng nhân viên cứ phải xếp hàng dài dài chờ đợi… Những sợi dây cáp bà thấy vẫn còn tốt như còn đường Desales nhưng cần phải “mở rộng”, đó chính là sự khác biệt giữa “Token Ring” và “CAT-5”. Thêm vào đó, sau khi mở rộng mấy con đường chung quanh sở và số lượng xe cộ ra vào tăng lên gấp ba bốn lần, chúng ta phải làm thêm bảng “stop”, đèn xanh, đèn đỏ… nếu không sẽ xảy ra nhiều tai nạn giao thông, đúng không? Trong chuyên môn, đó chính là việc làm của mấy cái “switches and routers” mà ông Bernard Callahan đề nghị phải mua đó, thưa bà.

Bà Sandy Gill cười lớn rồi quay sang ông Bernard Callhan:

- Hay quá! Sao mấy tháng nay ông không nghĩ ra cách này để giải thích cho tôi và Hội Đồng Quản Trị?

- Thật tình tôi cũng rất ngạc nhiên và thích thú với kiểu so sánh của anh John… Đó chính là lý do tại sao hôm trước tôi trình với bà anh John là “the right person for the job!”

Sau đó, chúng tôi chỉ ngồi nói chuyện trời trăng mây nước, rồi tập cách phát âm họ “Nguyễn” bằng tiếng Việt, chuyện tôi đi vượt biên, chuyện làm thiện nguyện ở đảo rồi làm sao tôi được định cư ở Mỹ… cho tới hết giờ hẹn và bắt tay ra về. Bà Sandy Gill bảo ông Bernard Callahan tiễn tôi xuống nhà rồi trở lại gặp bà để thảo luận. Lúc đi thang máy xuống nhà, ông Bernard Callhan bảo tôi: “Anh thắng lớn rồi đó!”

Lúc tôi về tới nhà đã có “message” trong điện thoại của phòng nhân sự nhắn tôi liên lạc với họ để thảo luận về vấn đề lương bổng và ngày nhận việc. Chính ông Bernard Callahan cũng gọi và để lời nhắn bảo tôi cứ việc “nêu giá” vì bà Sandy Gill đã nói với ông ta và phòng nhân sự là “bằng bất cứ giá nào cũng phải nhận anh vào làm việc với chức vụ Director, Infrastructure Planning & Management để giải quyết vấn nạn Y2K và chuẩn bị đưa National Geographic tiến xa hơn trên siêu xa lộ thông tin.”

Tôi đã nhận lời về làm cho National Geogaphic dưới quyền ông Bernard Callahan.

Mùa hè năm 2000, trước khi về hưu, bà Sandy Gill, qua sự gợi ý của ông Bernard Callahan, đã đề nghị với Hội Đồng Quản Trị thăng chức cho tôi làm Vice President phụ trách Information Technology để lo về những kỹ thuật mới trong khi ông Bernard Callahan phụ trách những vấn đề hành chánh và tiếp tục bảo trì những hệ thống máy móc do nhóm của tôi đã đưa vào hoạt động. Trong buổi họp và tiệc trà mừng tôi được thăng chức, ông Bernard Callahan đã mời tôi lên sân khấu đứng bên cạnh ông rồi phát biểu trước mặt toàn thể nhân viên và Hội Đồng Quản Trị:

- Có lẽ nhiều người trong hội trường này không thể phân biệt được trách nhiệm và bổn phận của tôi và anh John khác nhau hay giống nhau ra sao. Mấy năm trước, trong lúc bà Sandy Gill và tôi phỏng vấn anh John, tôi đã học được nơi anh một cách giải thích khoa học kỹ thuật rất ấn tượng và độc đáo… Hôm nay tôi sẽ dùng thử, và nếu quý vị không hiểu thì “ông thầy của tôi đây” sẽ tiếp lời và tôi bảo đảm quý vị sẽ hiểu ngay lập tức. Như quý vị biết, từ hôm nay anh John sẽ “ngồi ngang hàng” với tôi trong công việc, và cả hai chúng tôi đều lo về “khoa học kỹ thuật” cho National Geographic, nhưng nếu không khéo, chúng tôi sẽ dẫm chân lên nhau và công việc sẽ không tốt. Vậy thì vai trò của hai chúng tôi khác nhau ở chỗ nào? Xin thưa… Anh John và nhân viên của anh ta sẽ làm công việc của những kiến trúc sư, còn nhóm của tôi là những người thợ xây và trang trí nội thất. Cả hai nhóm chúng tôi sẽ tay trong tay xây lại “tòa nhà khoa học kỹ thuật” của National Geographic mỗi ngày một tốt đẹp hơn. Có ai không hiểu hay thắc mắc gì không?

Cả hội trường vỗ tay vang dội. Ông chủ tịch Hội Đồng Quản Trị cũng vui vẻ lên tiếng:

- Thật là may mắn cho chúng ta vì Sandy và Bernard kiếm được một người không những rất giỏi về kỹ thuật mà lại còn biết thông dịch những từ chuyên môn ra ngôn ngữ bình thường cho chúng ta dễ hiểu… Có lẽ vì John đã quen dịch qua dịch lại giữa tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Pháp, và hình như cả tiếng La-Tinh nữa thì phải nên anh ta dịch “ngôn ngữ điện toán” ra tiếng Anh rất dễ hiểu và lại còn dạy cho Bernard nữa mới là tuyệt vời chứ. Tôi bảo đảm với mọi người là nếu không có anh chàng gốc Việt này thì hôm nay Bernard sẽ nói là anh John sẽ lo về “Information Technology” còn ông ta phụ trách “Systems Administration”, và hầu hết chúng ta lại mù tịt vì không biết họ sẽ làm chuyện gì ở National Geographic!

Từ đó, chúng tôi chung vai sát cánh bên nhau ứng dụng khoa học kỹ thuật mới trong tất cả các lãnh vực chuyên môn của National Geographic, từ việc chụp hình, quay phim, in ấn sách báo cho tới việc trực tiếp truyền hình những cuộc thám hiểm ở sa mạc, ở bắc cực và nam cực hay trong các rừng già Phi Châu cho tới lòng đại dương sâu thẳm. Ông Bernard Callahan luôn luôn nhắc nhở nhân viên là họ phải trở thành “hậu phương vững mạnh” để nhóm của tôi an tâm “ngoài tiền tuyến” và chính nhờ sự hỗ trợ tích cực của ông mà nhóm của tôi có thêm nhiều thì giờ nghiên cứu để sử dụng những phương tiện máy móc tối tân trong những chương trình mới của National Geographic. Chúng tôi làm việc tương đắc tới nỗi có nhiều người nói về ông Bernard Callahan và tôi là “like father like son!”

Giữa tháng 12 năm 2005, ông chủ tịch Hội Đồng Quản Trị gọi tôi lên văn phòng chỉ mấy phút trước cuộc họp “all hands” tổng kết cuối năm. Tôi vừa bước vào cửa, ông Bernard Callahan và 3 vị phó chủ tịch khác cùng đứng lên nói lớn: “Chúc mừng xếp mới!” Ông chủ tịch hội Hội Đồng Quản Trị đứng lên bắt tay và mời tôi ngồi rồi thong thả nói:

- John. Chúc mừng anh. Tôi muốn cho anh biết tin vui trước khi thông báo với tất cả nhân viên là “Board of Trustees” đã đề bạt anh lên chức vụ Senior Vice President từ ngày 1 tháng 1 năm 2006, và đây là những “vice presidents” sẽ làm việc trực tiếp dưới quyền anh, kể cả Bernard. Từ nay, ngoài vấn đề khoa học kỹ thuật, anh phụ trách luôn mấy nhóm lo việc in ấn sách giáo khoa, đặc biệt là chương trình huấn luyện giáo viên dạy tiếng Anh cho người ngoại quốc ở Á Châu, những cuộc thám hiểm cho học sinh “the JASON project”, và cung cấp phương tiện cho những “vấn đề quốc tế (international projects)”… Chúng tôi tin chắc anh sẽ làm tốt và quý vị ngồi đây cũng rất vui khi được làm việc dưới quyền anh. Thôi, chúng ta đi ra hội trường kẻo trễ.

Tôi bàng hoàng xúc động không nói lên lời! Tất cả những vị phó chủ tịch dưới quyền tôi đều làm cho National Geographic lâu năm hơn tôi, nhiều kinh nghiệm hơn tôi, và tuổi đời cũng lớn hơn tôi. Ông Bernard Callahan nói nhỏ với tôi: “Anh rất xứng đáng. Đừng lo, cần gì cứ nói một tiếng!”

Trong lúc phát biểu cảm tưởng trong cuộc họp, ông Bernard Callahan đã khẳng định với tất cả nhân viên rằng ông và những phó chủ tịch khác rất vui khi được làm việc dưới quyền tôi, và điều này “không có nghĩa là chúng tôi đi xuống nhưng là anh John đi lên, và anh ta xứng đáng được như vậy!”

Và cũng từ đó, ông Bernard Callahan luôn luôn tôn trọng và hỗ trợ tôi trong công việc. Ông đã trở thành nhân viên đắc lực nhất của tôi. Chính ông đã lôi kéo và thuyết phục những người khác dẹp tan mọi nghi ngờ hoặc đố kỵ và còn hãnh diện vì xếp của mình xuất thân là một người tỵ nạn đã từng bước đi lên bằng đôi tay, trí óc và con tim của mình. Phần tôi, lúc nào tôi cũng quý mến và kính trọng ông như một người đi trước, một người hướng dẫn và giúp đỡ tôi vững bước trong công việc “quản trị” ở National Geographic. Ông chính là “Role Model” của tôi.

Trước ngày chính thức về hưu, ông Bernard Callahan đã xin với ông chủ tịch Hội Đồng Quản Trị rằng ông muốn tôi là người đại diện National Geographic đọc “diễn văn đưa tiễn” trong ngày trọng đại của ông vì hôm đó tất cả vợ con và cháu chắt của ông đều có mặt, và ông muốn họ được nghe một “ông xếp” nói bằng trái tim chứ không phải chỉ bằng miệng lưỡi. Và đó chính là lý do tôi “đặt tên” cho bài diễn văn hôm đó là “From the Heart… on Mr. Callahan’s Retirement” để đăng lên trang tin nội bộ. Tôi xin viết lên đây bài diễn văn hôm đó để một lần nữa bày tỏ lòng quý mến và ngưỡng mộ của tôi dành cho ông Bernard Callahan:


From the Heart… on Mr. Callahan’s Retirement

Ladies and gentlemen,
The Callahan Family and distinguished guests,

It’s indeed an honor and privilege for me to be here to speak on behalf of National Geographic Society in this special ceremony for Mr. Callahan’s retirement.

Fourteen years of service is not long in comparison with over 123 years of the National Geographic history. Working at National Geographic for 14 years is short if we compare it with those who have been here for more than thirty or forty years. However, within this period of time, Mr. Callahan has contributed a significant list of achievements as written in the testimonial.

Bernard,

You and I have shared many ups and downs in the thirteen years I have worked at National Geographic. In August 1998, you hired me as the director of Infrastructure Planning & Management. A few years later, when the Information Technology group was created, we became peers; and in 2006, when the Information Systems, Information Technology and other divisions were consolidated, I became your supervisor; however, I always look to you as my role model. I always respect you as my superior and my mentor. Together, we always try to do the best for the Society.

In conclusion, I would like to quote a statement from another Vice President about our working relationship: “The success of the Information Systems and Technology division through so many reorganizations and changes in its focus could never be achieved without the unyielding loyalty and respect that Bernard and John have always shared with each other.”

Bernard,

Today, you have reached a new milestone of your life. You are retired. I respectfully wish you the best, and may the Lord’s blessings rest upon you always.

Thank you very much.

Nguyễn Duy-An (John)

Posted: Tue Nov 27, 2012 1:32 am
by tankhoasinh
Vinh danh 100 nhà tư tưởng của thế giới

Tạp chí Foreign Policy của Mỹ vừa công bố danh sách 100 nhà tư tưởng thế giới năm nay, đứng đầu là một cặp kỳ lạ:
bà Aung San Suu Kyi, nhà hoạt động dân chủ, và tướng Thein Sein, người góp phần mở cửa quốc gia đầy bí hiểm, Myanmar.

Image
Đứng đầu 100 nhà tư tưởng của thế giới là nhà hoạt động dân chủ Aung San Suu Kyi. Đồ họa: FP

Trong bài giới thiệu về 100 nhà tư tưởng của thế giới, FP nói rằng, trong bối cảnh một thế giới đang đương đầu với những hệ quả của Mùa xuân Arab, cuộc nội chiến đẫm máu ở Syria và cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất ở châu Âu kể từ sau thế chiến II, đã nảy sinh nhiều tư tưởng lớn. Và điều đáng chú ý trong năm nay, chính là đa số các tư tưởng lớn đó lại không phải phát sinh từ các nhà lãnh đạo.

"Điều đặc biệt gây cảm hứng trong việc chọn lựa các nhà tư tưởng lớn của năm nay, đó là cặp đôi danh giá của Myanmar - Aung San Suu Kyi và Thein Sein", xã luận của FP viết. "Một người là nhà bất đồng chính kiến từng bị giam giữ nhiều năm; một người là vị tướng đã góp phần mở cửa một trong những quốc gia có chế độ độc tài quân sự hà khắc nhất thế giới".

Aung San Suu Kyi và Thein Sein được vinh danh vì họ cho thấy rằng "thay đổi có thể diễn ra ở mọi nơi trên thế giới", xã luận của FP đánh giá.

"Những nhà tư tưởng và các tư tưởng của họ thực sự thay đổi thế giới của chúng ta", FP nhận xét, và dẫn ra các bằng chứng từ Sebastian Thrun (thứ tư trong danh sách), nhà phát minh ra ô tô robot và từng được ví như Henry Ford của thời đại mới; đến Paul Ryan (đứng thứ 8) , chủ tịch ủy ban ngân sách hạ viện Mỹ, với kế hoạch thắt lưng buộc bụng ngược với thuyết kích thích kinh tế của Paul Krugman.

Đứng thứ ba trong danh sách 100 nhà tư tưởng toàn cầu năm nay là cặp vợ chồng lừng danh Bill và Hillary Clinton. Cùng đứng thứ năm là vợ chồng nhà Bill và Melinda Gates. Tổng thống Mỹ Baracsk Obama xếp hạng 7, sau cô học sinh dũng cảm người Pakistan đấu tranh đòi nữ quyền Malala Yousafzai.

Danh sách 100 nhà tư tưởng toàn cầu được FP lựa chọn hàng năm và công bố vào cuối tháng 11. Các chính trị gia, nhà từ thiện, các nhà công nghiệp, công nghệ, nhà kinh doanh, hoạt động xã hội, nhạc sĩ, nhà văn, nhà báo, blogger... góp phần tạo nên danh sách này. Chủ đề của năm nay, nếu coi là có chủ đề, thì đó là về khả năng tự do ngôn luận toàn cầu trong thời đại toàn cầu hóa.

"Trong thời đại mà các tư tưởng, dù tốt hay xấu, đều được lan truyền khắp thế giới với tốc độ siêu nhanh, chúng ta hân hoan chào đón tư duy dũng cảm của những người đang đi đầu cuộc đấu tranh vì tự do ngôn luận", FP kết luận.

Thanh Mai

Posted: Wed Nov 28, 2012 1:39 am
by khieulong
Giấy chứng nhận "Người"
Trên đoàn tàu, cô soát vé hết sức xinh đẹp cứ nhìn chằm chằm vào người đàn ông lớn tuổi áng chừng đi làm thuê, hạch sách:
- Vé tàu!
Người đàn ông lớn tuổi lục khắp người từ trên xuống dưới một thôi một hồi, cuối cùng tìm thấy vé, nhưng cứ cầm trong tay không muốn chìa ra.
Cô soát vé liếc nhìn vào tay anh, cười trách móc:
- Đây là vé trẻ em.
Người đàn ông đứng tuổi đỏ bừng mặt, nhỏ nhẹ đáp:
- Vé trẻ em chẳng phải ngang giá vé người tàn tật hay sao?
Giá vé trẻ em và người tàn tật đều bằng một nửa vé, đương nhiên cô soát vé biết. Cô nhìn kỹ người đàn ông một lúc rồi hỏi:
- Anh là người tàn tật?
- Vâng, tôi là người tàn tật.
- Vậy anh cho tôi xem giấy chứng nhận tàn tật.
Người đàn ông tỏ ra căng thẳng. Anh đáp:
- Tôi... không có giấy tờ. Khi mua vé cô bán vé bảo tôi đưa giấy chứng nhận tàn tật, không biết làm thế nào, tôi đã mua vé trẻ em.
Cô soát vé cười gằn:
- Không có giấy chứng nhận tàn tật, làm sao chứng minh được anh là người tàn tật?
Người đàn ông đứng tuổi im lặng, khe khẽ tháo giầy, rồi vén ống quần lên - Anh chỉ còn một nửa bàn chân.
Cô soát vé liếc nhìn, bảo:
- Tôi cần xem chứng từ, tức là quyển sổ có in mấy chữ "Giấy chứng nhận tàn tật,"có đóng con dấu của Hội người tàn tật!
Với khuôn mặt như quả dưa đắng, người đàn ông đứng tuổi cố giải thích:
- Tôi không có hộ khẩu của địa phương, người ta không cấp sổ tàn tật cho tôi. Hơn nữa, tôi làm việc trên công trường của tư nhân. Sau khi tai nạn xảy ra ông chủ bỏ chạy, tôi cũng không có tiền đến bệnh viện giám định...
Trưởng tàu nghe chuyện, đến hỏi tình hình.
Người đàn ông đứng tuổi một lần nữa trình bày với trưởng tàu, mình là người tàn tật, đã mua một chiếc vé có giá trị bằng vé của người tàn tật…
Trưởng tàu cũng hỏi:
- Giấy chứng nhận tàn tật của anh đâu?
Người đàn ông đứng tuổi trả lời là anh không có giấy chứng nhận tàn tật, sau đó anh cũng cho trưởng tàu xem nửa bàn chân của mình.
Trưởng tàu ngay đến nhìn cũng không thèm nhìn, cứ nhất quyết nói:
- Chúng tôi chỉ xem giấy chứng nhận, không xem người. Có giấy chứng nhận tàn tật chính là người tàn tật, có giấy chứng nhận tàn tật mới được hưởng chế độ ưu đãi vé người tàn tật. Anh mau mau mua vé bổ sung.
Người đứng tuổi bỗng thẫn thờ. Anh lục khắp lượt các túi trên người và hành lý, chỉ có hơn 50 ngàn đồng, hoàn toàn không đủ mua vé bổ sung. Anh nhăn nhó và nói với trưởng tàu như khóc:
- Sau khi bàn chân tôi bị máy cán đứt một nửa, không bao giờ còn đi làm được nữa. Không có tiền, ngay đến về quê cũng không về nổi. Nửa vé này cũng do bà con đồng hương góp mỗi người một ít để mua giùm, xin ông mở lượng hải hà, giơ cao đánh khẽ, nương bàn tay cao quý, tha cho tôi.
Trưởng tàu nói kiên quyết:
- Không được.
Thừa dịp, cô soát vé nói với Trưởng tàu:
- Bắt anh ta lên đầu tàu xúc than, coi như làm lao động nghĩa vụ.
Nghĩ một lát, trưởng tàu đồng ý:
- Cũng được.
Một đồng chí lão thành ngồi đối diện với người đàn ông đứng tuổi tỏ ra chướng tai gai mắt, đứng phắt lên nhìn chằm chằm vào mắt vị trưởng tàu, hỏi:
- Anh có phải đàn ông không?
Vị trưởng tàu không hiểu, hỏi lại:
- Chuyện này có liên quan gì đến tôi có là đàn ông hay không?
- Anh hãy trả lời tôi, anh có phải đàn ông hay không?
- Đương nhiên tôi là đàn ông!
- Anh dùng cái gì để chứng minh anh là đàn ông? Anh đưa giấy chứng nhận đàn ông của mình cho mọi người xem xem?
Mọi người chung quanh cười rộ lên.
Thừ người ra một lát, vị truởng tàu nói:
- Một người đàn ông to lớn như tôi đang đứng đây, lẽ nào lại là đàn ông giả?
Đồng chí lão thành lắc lắc đầu, nói:
- Tôi cũng giống anh chị, chỉ xem chứng từ, không xem người, có giấy chứng nhận đàn ông sẽ là đàn ông, không có giấy chứng nhận đàn ông không phải đàn ông.
Vị trưởng tàu tịt ngóp, ngay một lúc không biết ứng phó ra sao. Cô soát vé đứng ra giải vây cho Trưởng tàu. Cô nói với đồng chí lão thành:
- Tôi không phải đàn ông, có chuyện gì ông cứ nói với tôi.
Đồng chí lão thành chỉ vào mặt chị ta, nói thẳng thừng:
- Cô hoàn toàn không phải người!
Cô soát vé bỗng nổi cơn tam bành, nói the thé:
- Ông ăn nói sạch sẽ một chút. Tôi không là người thì là gì?
Đồng chí lão thành vẫn bình tĩnh, cười ranh mãnh, ông nói:
- Cô là người ư? Cô đưa giấy chứng nhận "người" của cô ra xem nào...
Mọi hành khách chung quanh lại cười ầm lên một lần nữa.
Chỉ có một người không cười. Đó là người đàn ông trung niên bị cụt chân. Anh cứ nhìn trân trân vào mọi thứ trước mặt. Không biết tự bao giờ, mắt anh đẫm lệ, không rõ anh tủi thân, xúc động, hay thù hận.

Trên Net