Góc Phố Cà Phê

Tin trong và ngoài nước, tin Cộng Đồng ...
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »


Image

Bolsa ngày ấy – bây giờ


Không một người Việt Nam tị nạn, di dân nào ở Hoa Kỳ lại không biết đến địa danh Bolsa-Little Saigon ở miền Nam California. Đến Bolsa hôm nay, 35 năm sau khi những người Việt Nam đầu tiên đặt chân đến mảnh đất này, không ai có thể hình dung được một Little Saigon “thủ đô của người Việt tị nạn,” sầm uất, tấp nập người xe và cửa tiệm hàng quán,
đã từng là một thành phố nông nghiệp với những cánh đồng dâu tây, những khu đất bỏ hoang và cả những căn nhà được xây dựng tạm bợ từ sau thế chiến thứ hai.

Ngày ấy

Theo một số tài liệu ghi ghép lại thì trước thập niên 1970, thành phố Garden Grove và Westminster, nơi được định vị là Little Saigon, vốn là những thành phố nông nghiệp, lại nằm ở những vị trí trung gian của những thành phố và quận hạt lớn như Orange County, Los Angeles, Long Beach,… nên hai thành phố này chưa bao giờ có đủ sức hấp dẫn để người dân bản xứ về sinh sống.

Lúc đầu con đường Bolsa chỉ có một đoạn là khu mini Bolsa. Sự phát triển chậm lắm, nếu không có người Việt Nam thì ruộng dâu chắc vẫn là ruộng dâu.

Nhà thơ Du Tử Lê

Được xem là một trong những người Việt Nam tị nạn đầu tiên có mặt tại vùng Bolsa-Little Saigon từ năm 1975, nhà thơ Du Tử Lê, tác giả của “Khúc Thụy Du,” kể lại: “Lúc đầu con đường Bolsa chỉ có một đoạn là khu mini Bolsa. Đối diện khu mini Bolsa, giờ là chợ ABC, cả một dãy đó là một ruộng dâu, chảy dài từ Magnolia tới đường Eucild. Sự phát triển chậm lắm, nếu không có người Việt Nam thì ruộng dâu chắc vẫn là ruộng dâu.”

Sự thay đổi bắt đầu vào thời điểm cuối tháng 4 năm 1975, khi hàng trăm ngàn người người Việt Nam, đa phần là quân dân cán chính, di tản đến Mỹ và đổ dồn về các trại tị nạn ở Hoa Kỳ, đặc biệt là trại Pendleton, ở San Diego, nằm cách Bolsa 50 dặm về hướng Nam. Với sự bảo trợ của một số người quen biết, những người tị nạn Việt Nam đầu tiên xuất hiện ở Bolsa, Wesminster, mà theo nhà thơ Du Tử Lê là “xuất hiện một cách rất tình cờ.”

Đến vùng đất lạ khi còn đang nặng nề những nỗi hoang mang đối với những gì vừa xảy ra trên mảnh đất quê hương, người Việt Nam khi ấy chưa hề chuẩn bị tâm thế gì cho cuộc sống của một người tị nạn. Xa lạ với hệ thống hành chính Hoa Kỳ, lại thêm rào cản ngôn ngữ càng khiến người Việt Nam dường như co mình, tìm sự che chở và đùm bọc lẫn nhau ngay chính trên con đường Bolsa, nơi mà một vài cửa tiệm do người Việt làm chủ được dựng lên, họ buôn bán ngay trong lòng cộng đồng tị nạn mới.

Sau đó khoảng năm 77- 78 thì có một cái chợ gọi là chợ Hòa Bình của một người Tàu gốc Việt tên Ngô Khuông Hán. Trong khu mini Bolsa hồi đó có một tiệm gửi đồ về Việt Nam, hồi đó phong trào gửi đồ về VN là một như cầu. Khoảng năm 78-79 thì có nhà sách Tú Quỳnh, nhà hàng đầu tiên có tại mini Bolsa là Thành Mỹ, có một tiệm thuốc bắc Thúc Sinh. Đó là những tiệm đầu tiên của Bolsa.”

Theo gia đình từ tiểu bang Michigan dọn về Bolsa vào năm 1980, dân biểu Trần Thái Văn, một người Mỹ gốc Việt đầu tiên có mặt trong quốc hội tiểu bang California, cho rằng Bolsa-Little Saigon khi ấy cũng không có gì nhiều:

“Từ đầu thập niên 80, những cơ sở thương mại VN rất thưa thớt chứ không sầm uất như hôm nay.”

Người Việt tụ về Bolsa không chỉ do miền Nam California thời tiết khí hậu ôn hòa, mà còn do đặc tính đậm chất Á Đông thích sống theo kiểu cộng đồng, chòm xóm, gần gũi với gia đình, bạn bè, người quen, nên người đi trước gọi người đi sau, cứ thế Bolsa ngày càng trở thành tên gọi quen thuộc của nhiều người Việt Nam tị nạn đến Hoa Kỳ trong những thập niên 80, 90 và đến tận bây giờ.

Nếu năm 1977, Bolsa chỉ xuất hiện vài ba cửa tiệm như đã kể trên thì đến năm 1982, nghĩa là khoảng 5 năm sau đó, con số này đã lên đến 100. Cứ thế chẳng bao người Việt tị nạn từ khắp nơi kéo đến ngày một đông, làm sống lại thành phố nông nghiệp này bằng việc mở mang thêm những cửa tiệm, mua lại những cửa hiệu cũ do người bản xứ làm chủ trước đây. Các cơ sở kinh doanh lan dần sang các thành phố lân cận như Garden Grove, Stanton, Fountain Valley, Anaheim và Santa Ana .

Theo dân biểu Trần Thái Văn, sự thay đổi rõ ràng nhất là từ năm 1986, khi thương xá Phước Lộc Thọ được dựng lên, khu thương mại Asian Village hình thành.

Với sự phát triển nhanh chóng đó, cũng năm 1986, Ủy ban phát triển Little Saigon gồm 46 thành viên, đã được các dân biểu và nghị sĩ tiểu bang giúp đỡ để đưa đề nghị thành lập đặc khu Little Saigon lên thống đốc tiểu bang. Đầu tháng 6 năm 1986, trước quốc hội tiểu ban, thống đốc George Deukmejian đã chấp thuận đề nghị này.

Dân biểu Trần Thái Văn phát biểu: “Mình thấy hãnh diện khi thấy cộng đồng người Mỹ gốc Việt có một địa điểm tập trung mà nó nói lên được sức mạnh và sự phồn thịnh về mặt văn hóa, chính trị, xã hội, kinh tế của cộng đồng Việt Nam mình, ngay tại miền Nam California.”

Kể từ đó, qua gần một phần tư thế kỷ, tên gọi Little Saigon đã trở thành niềm tự hào của người tị nạn Việt Nam không chỉ ở Hoa Kỳ mà còn là của người Việt khắp nơi trên thế giới.

Bây giờ

Bolsa, Little Saigon sau 35 năm in dấu chân người tị nạn Việt Nam, đã từ những ruộng dâu nối tiếp ruộng dâu biến thành một trong những thành phố sầm uất của Orange County, miền Nam Hoa Kỳ, với trên 4,000 cơ sở thương mại của người Việt Nam.


Thấy vui và hãnh diện là trong 35 năm cộng đồng Việt Nam có mặt, cũng như 33 năm cơ sở thương mại đầu tiên có sự hiện diện tại Westminster.
DB Trần Thái Văn



Nếu hơn 30 năm trước, những người Việt Nam đến Bolsa chỉ biết được một mini Bolsa, một chợ Hòa Bình, một tiệm thuốc bắc, một tiệm thuốc tây, một tiệm sách,… thì giờ đây, người ta cứ ngỡ như mình đang thực sự đứng giữa thành phố Sài Gòn khi bao quanh con đường Bolsa và những con đường lân cận là hàng hàng cửa tiệm chen cùng cửa tiệm. Nào là Phở 79, Phở Nguyễn Huệ, Phở Nam Định, Phở Kimmy, nào là cơm tấm Thuận Kiều, cơm tấm Trần Quý Cáp, nào là bún Ban Mai, là bánh cuốn Tây Hồ, nào là chợ ABC, chợ Á Đông, chợ Bến Thành, nào là nhà hàng Hương Giang, Thăng Long, Song Long, nào là bò bảy món Ánh Hồng, là nước mía, hột vịt lộn Long An, là bánh mì Chợ Cũ, là chè Hiển Khánh,… Người Sài Gòn tị nạn, người Việt Nam di dân, mang theo cả quốc hồn quốc túy, những gì gần gũi và thân thương nhất, dồn lại, trên con phố Bolsa này, trong lòng Little Saigon này.

Sự biến đổi đó khiến người ta phải nghĩ đến câu thơ của Trần Tế Xương:

Sông kia giờ đã lên đồng
Chỗ làm nhà cửa chỗ trồng ngô khoai.

Nhà thơ Du Tử Lê, người chứng chứng kiến từ đầu những đổi thay của Little Saigon cũng thừa nhận rằng ông “Thấy rất rõ sự biến thiên của thiên nhiên của nhu cầu phát triển của con người.”

“Lúc đầu chú vẫn nghĩ là sức sống của người Việt Nam mình, nhất là về phương diện business là không bằng người Tàu. Nhưng xuyên qua đoạn đường Bolsa chú thấy người Việt Nam có sức sống mạnh mẽ, khủng khiếp.”

Gắn bó với mảnh đất Bolsa – Little Saigon từ những ngày nó còn phôi thai, nhà thơ vẫn còn nặng nợ với ngòi bút tâm sự: “Chú nhìn nơi đang ở này, nó là một quê hương thứ hai của chú…Khi người ta sống quá lâu với nó, thì người ta trở thành một phần của nó, tức một phần thịt da, một phần máu huyết của nó. Cho nên cái buồn vui, với riêng chú, là cái buồn vui tự nhiên lắm.”

Trong khi đó, Tiffany Lê, 25 tuổi, sinh ra và lớn lên tại thành phố Riverside, cách Little Saigon khoảng 45 phút lái xe, lại cảm nhận Little Saigon theo cách của riêng mình:

“Lúc còn nhỏ xíu mỗi cuối tuần mẹ dẫn đi Little Saigon chơi để mua sắm hoặc đi chợ ở Little Saigon. Cứ đi theo với mẹ thôi nhưng mà thấy nó xa rồi ngồi trong xe thấy tại sao phải vô trong Little Saigon hơi đông, rồi cứ chờ hoài, cứ đi mua sắm hoài, cứ phải chờ đợi nhưng mà thấy nó vui tại vì thấy đó như một ngày đi chơi rồi được ăn đồ ăn Việt Nam, đi ăn phở chỗ mấy nhà hàng, được đi Phước Lộc Thọ mua đồ chơi.”

Hiện tại, Tiffany đã chính thức trở thành cư dân Little Saigon được một năm. Tiffany cho rằng cô thích Little Saigon vì có nhiều bạn Việt Nam, vì cô có thể nói được tiếng Việt, hiểu biết kỹ thêm về phong tục Việt Nam:


Lái xe ngoài đường Bolsa, thấy cờ Việt Nam, thấy chợ Việt Nam, toàn là tiệm Việt Nam, thấy Phúc Lộc Thọ, em rất là xúc động, tự hào đây là thành phố của mình..
Cô Tiffany


“Mỗi buổi sáng đi làm lái xe ngoài đường Bolsa, thấy đường có mấy lá cờ Việt Nam, thấy mấy chợ Việt Nam, toàn là tiệm Việt Nam, thấy Phúc Lộc Thọ, em rất là xúc động, tự hào đây là thành phố của mình.. Mình không có cái gì hết, 35 năm trước, 35 năm sau đây là thành phố lớn nhất mà người nước ngoài cũng muốn vô du lịch để coi nó làm sao…. Khi lái xe ngoài đường thấy mấy người Việt Nam, mấy ông già uống cà phê cà pháo ngoài đường, thấy mấy bà già đi xe đạp ngoài đường đội nón lá ở bên Mỹ cũng thấy rất là đẹp và dễ thương.”

Đến Hoa Kỳ từ năm 10 tuổi, Tyler Diệp, nghị viên người Mỹ gốc Việt trẻ nhất của thành phố Westminster, nơi miền đất Little Saigon tọa lạc, nhớ những kỷ niệm đầu với Little Saigon: “Trước khi định cư ở khu vực Little Saigon này, tôi biết được vùng đất ở đây khi được ba mẹ đưa lên đây để đi ăn, đi mua sắm, bởi tại khu vực Little Saigon này đồ ăn Việt Nam rất là ngon hơn những nơi khác. Khi đi chợ thì rau cải, thịt ở đây luôn rẻ hơn, ngon hơn những chỗ khác.”

Sau 5 năm làm cư dân của thủ đô người Việt tị nạn, nghị viên Tyler Diệp đã cảm thấy trở nên gắn bó với mảnh đất này với cùng lý do thật đơn giản: “Tôi thấy rất là ấm cúng khi sinh sống và đi lại trong khu vực Little Saigon vì đi đâu cũng là những bản hiệu tiếng mẹ đẻ, đi đâu mình cũng gặp những người đồng hương. Mình sinh sống ở đây mình không có bị lạc loài.”

Trong vai trò của một nhà lập pháp, dân biểu tiểu bang California Trần Thái Văn chia sẻ: “Thấy vui và hãnh diện là trong 35 năm cộng đồng Việt Nam có mặt, cũng như 33 năm cơ sở thương mại đầu tiên có sự hiện diện tại Westminster. Vui là trong một thời gian tương đối là ngắn trong lịch sử con người, của một cộng đồng, tập thể người Việt Nam mình có thể lập ra được một sự hiện diện khá vững chắc, vững mạnh tại California cũng như tại Hoa Kỳ.”

35 năm thời gian không là dài trong tiến trình phát triển của một dân tộc, một cộng đồng, nhưng 35 năm qua, Little Saigon đã tự tin vượt qua được những thử thách ban đầu. Có điều, như một người Việt trẻ ở thế hệ thứ hai suy nghĩ:“Chúng ta phải làm như thế nào để thu hút giới trẻ đừng bỏ đi những nơi khác mà họ cho là tân tiến hơn, mới hơn. Chúng ta phải làm cách nào để giữ và thu hút giới trẻ người Mỹ gốc Việt tiếp tục sinh sống ở đây, sinh hoạt ở đây và trở về lại đây tại vì chúng ta không thể nào biến Little Saigon biến thành một China Town thứ hai như tại thành phố Los Angeles.”

35 năm, Bolsa ngày đầu và Little Saigon hôm nay đã cùng cộng đồng tị nạn Việt Nam bước một cách vững vàng qua những dâu bể, đổi thay.

Little Saigon hôm nay vẫn luôn níu chân những kẻ xa xứ ít nhất một lần trong đời được đến để nhìn, để ngắm, để nghe, để cảm nhận và để thấy Sài Gòn gần gũi biết bao nhiêu.

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/ ... 03549.html
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Image

Gương Anh Hùng:
Ông Bộ trưởng Trần Chánh Thành tuẫn tiết


Nhân kỉ niệm ngày quốc hận 30 tháng Tư lần thứ 35, chúng tôi xin đúc kết một số tài liệu để vẽ phác chân dung cựu Bộ trưởng Trần Chánh Thành và cái chết lẫm liệt của ông như một nén hương tỏ lòng thành kính, ngưỡng mộ ông. Mỗi năm, vào dịp kỉ niệm ngày quốc hận 30 tháng Tư, lại thấy xuất hiện trên các phương tiện truyền thông khắp nơi hình ảnh các vị tướng tá đã coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, quyết hi sinh mạng sống để bảo vệ danh dự, tiết tháo của một cấp chỉ huy. Các vị ấy xứng đáng được tôn vinh là những anh hùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, xứng đáng được lưu danh muôn thuở.

Cuộc chiến đấu bảo vệ miền Nam tự do suốt 20 năm là cuộc chiến đấu chống Cộng sản của toàn dân, mà trọng trách giao vào tay quân, cán, chánh. Khi nước mất, thành đổ, nếu đã có những vị tướng tá quyết tự chọn lấy cái chết oai hùng để đền nợ nước thì đồng thời cũng ghi nhận có những viên chức bên phía chính quyền dám tuẫn tiết, không chịu để bị lọt vào tay bọn Cộng sản. Trong số các vị ấy, nổi bật lên sáng chói là cái chết bi dũng của cựu Bộ trưởng Trần Chánh Thành. Ông đã an nhiên chọn lựa một cách chết trước quân thù, để gióng lên một lời tố cáo trước dư luận trong và ngoài nước về những hiểm họa sẽ giáng xuống dân tộc VN, một khi đất nước bị đảng Cộng Sản nắm trọn quyền thống trị.

Nhân kỉ niệm ngày quốc hận 30 tháng Tư lần thứ 35,chúng tôi xin đúc kết một số tài liệu để vẽ phác chân dung vị cựu Bộ trưởng này và cái chết lẫm liệt của ông như một nén hương tỏ lòng thành kính, ngưỡng mộ ông.

Những bước đầu tiên

Ông Bộ trưởng Trần Chánh Thành gốc miền Bắc, do cha tùng sự tại Huế cho nên ông học và tốt nghiệp Trung học tại đây; sau đó, trở ra Hà Nội học lấy Cử nhân Luật. Ông học rất giỏi, đã đậu đầu kì thi ngạch Tri huyện Tư pháp cho toàn cõi Bắc và Trung kì, rồi được cử làm Chưởng lí các tòa án Trung kì. Khi chính phủ Trần Trọng Kim ra đời, ông được bổ làm Chánh văn phòng Bộ Tư pháp cho Tổng trưởng Trịnh Đình Thảo. Không bao lâu sau, nổ ra cuộc ‘Cách Mạng Tháng Tám’ đưa ông Hồ Chí Minh lên nắm chính quyền. Dưới bình phong mặt trận Việt Minh (tên tắt của Mặt trận Việt Nam Độc Lập Đồng Minh, ngày 19.5.1941), đảng Cộng Sản đã thu hút được các thành phần ái quốc với khẩu hiệu đánh Pháp đuổi Nhật. Ông Trần Chánh Thành đã được mời ra Hà Nội trong thời kì này và được trọng dụng trong chức vụ Giám đốc Tư pháp Liên khu 3 (trong 3 năm), rồi Giám đốc Kinh tế Liên khu 3 (trong 2 năm sau đó). Song, cũng như trường hợp nhiều trí thức trẻ khác vào thời đó, sau khi đi theo Việt Minh tham gia kháng chiến một thời gian, ông Thành đã hiểu ra bộ mặt thật của Việt - Minh - Cộng - Sản cho nên ông khéo léo cáo bệnh từ chức, để trở về Diễn Châu, Nghệ An (Liên khu 4), trú tại nhà ông Cao Xuân Vỹ. Từ Nghệ An, cùng người em con ông chú là nhà báo Mạc Kinh, ông vượt biển ra vùng quốc gia. Sau vài tháng ở Hà Nội, ông vào Sài Gòn làm nghề luật sư trong văn phòng của Luật sư Trương Đình Du. Vào tháng 10. 1952, ông Ngô Đình Nhu chủ trương tạp chí Xã Hội, anh em ông Trần Chánh Thành và Mạc Kinh đã cộng tác với tờ tạp chí và trở thành chỗ thân tình với ông Ngô Đình Nhu. Mối giao tình này đánh dấu một khúc rẽ quan trọng trong cuộc đời chính trị của ông.

Bậc lương đống của nền Cộng Hòa

Có thể nói ngay ông Trần Chánh Thành cùng với các ông Trần Trung Dung, Nguyễn Hữu Châu…là những bậc lương đống ‘khai quốc công thần’ của nền Đệ nhất Cộng hòa.

Trong bài báo nhan đề Ông Ngô Đình Diệm Lên Cầm Quyền Như Thế Nào (Thông Luận Số 191, ra ngày 04.4.2005), tác giả Nguyễn Gia Kiểng chứng minh chính ông Ngô Đình Nhu đã bí mật đạo diễn một vở kịch chính trị lớn để đưa ông Ngô Đình Diệm lên nắm chính quyền chứ không phải là người Mĩ hay Vatican. Trong vở kịch này, ông Trần Chánh Thành được giao cho thủ một vai và ông đã đóng xuất sắc. Duyên do bắt đầu từ mối liên hệ thân tình giữa ông Ngô Đình Nhu với ông Trần Chánh Thành.

Tác giả Nguyễn Gia Kiểng thuật lại, vào tháng 11.2004, ông được ông Trần Minh Châm trao cho 2 bức thư viết tay bằng tiếng Pháp: Một của ông Jacques Bénet, bạn của ông Trần Minh Châm, viết ngày 18.10.2004 gửi cho bà Ngô Đình Nhu và một của ông Ngô Đình Nhu viết ngày 20.4.1955 gửi cho ông J. Bénet. Ông J. Bénet và ông Ngô Đình Nhu là bạn học rất thân khi còn tại trường Ecole des Chartes.

Trong thư gửi cho bà Ngô Đình Nhu, ông J. Bénet xác nhận 2 điểm quan trọng: một là ông (J. Bénet) có đóng vai môi giới trong việc vận động các nhà lãnh đạo nước Pháp để đưa ông Ngô Đình Diệm lên nắm chính quyền; hai là ông ca ngợi ông Ngô Đình Nhu đã có một ý kiến ‘thiên tài’ vì đã nắm bắt đúng vào lúc (3.1954) chính quyền Pháp đang lúng túng do viễn ảnh thất trận tại Điện Biên Phủ để mở chiến dịch thuyết phục họ (Thủ tướng Laniel – Ngoại trưởng Bidault – Reynaud) nên mau chóng đưa ông Ngô Đình Diệm lên cầm quyền. Để thực hiện sáng kiến này, ‘Ông Nhu đã cử bạn ông là ông Trần Chánh Thành sang Paris và nhờ ông Jacques Bénet giúp đỡ để tiếp xúc và thuyết phục chính quyền Pháp về đề nghị này. Ông Bénet đã làm được việc này nhờ một người bạn tên là Antoine Ahond quen thân nhiều nhân vật quan trọng trong chính quyền Pháp, đặc biệt là các ông Germain Vidal, chánh văn phòng thủ tướng, ông Bourgenot, bộ trưởng tại phủ thủ tướng, và ngoại trưởng Bidault. Mặt khác, chính ông Trần Chánh Thành cũng tỏ ra xuất sắc. Nhờ thế mà ông Diệm đã được chính quyền Pháp chấp nhận và ép buộc ông Bảo Đại phải chấp nhận’.

Ông Trần Chánh Thành được giao nhiệm vụ vận động các yếu nhân trong chính quyền Pháp, tuy được khen là đã hoàn thành ‘xuất sắc’, nhưng có lẽ ông chỉ biết phần đầu của vở kịch chính trị lớn của ông Ngô Đình Nhu. Chính trong lá thư thứ hai của ông Ngô Đình Nhu viết gửi ông J. Bénet mới cho biết phần hai của vở kịch chính trị này.

Trong thư viết ngày 20.4.1954 gửi cho ông J. Bénet, ông Ngô Đình Nhu yêu cầu ông Bénet giúp đỡ trong việc ‘vận động để chính quyền Pháp thực hiện khẩn cấp một kế hoạch đã được dự trù. Ông Nhu viết : "Phải vận động để những chỉ thị theo chiều hướng này, mà tao(NGK: họ quá thân nhau) chắc chắn là đã chuẩn bị sẵn, được khẩn cấp gửi sang Sài Gòn". Theo tác giả Nguyễn Gia Kiểng, "chiều hướng này" được hiểu là một loạt các việc cấp bách yêu cầu chính phủ Pháp làm ngay. Đó là giúp cho ông Ngô Đình Diệm nắm được quân đội quốc gia từ tay Tướng Tham mưu trưởng Nguyễn Văn Hinh, dẹp các giáo phái vũ trang và sau đó tiến tới tổng tuyển cử. Tất cả đã diễn ra thành công mau chóng, suông sẻ, khiến cho các nhà quan sát quốc tế lúc ấy phải lấy làm ngạc nhiên và đánh giá ông Ngô Đình Diệm như là một lãnh tụ đầy tiềm năng mới ở Á châu. Chưa hết, ông Ngô Đình Nhu chỉ khéo léo than phiền nhẹ nhàng là tướng Ely, Tổng tư lệnh quân đội Pháp tại Việt Nam, ‘ là một con người tiêu cực và thiếu quả quyết’, cũng đủ làm cho chính phủ Pháp triệu hồi tướng Ely trong thời gian chưa đầy hai tháng!

Do thành tích trước đây, lại là chỗ thân tình với ông cố vấn Ngô Đình Nhu, cho nên ông Trần Chánh Thành rất được Thủ tướng Ngô Đình Diệm tin dùng trong nhiều chức vụ quan trọng:

Bộ trưởng tại Phủ Thủ tướng 06.7.1954

Tổng trưởng Thông tin ngày 10.5.1955


Chủ tịch Phong trào Cách mạng Quốc gia, đã đề ra kế hoạch Tố Cộng (Nguyễn Trân. Hồi Ký Công Và Tội. Xuân Thu, 1992. Trang 176). Khi kế hoạch được phát động, chính ông nắm vai trò Chỉ đạo Chiến dịch Tố Cộng Trung ương bao gồm liên bộ Thông tin, Tư pháp, Quốc phòng và Nội vụ. Chiến dịch này được phát động nhằm tiêu diệt các tổ chức cán bộ Cộng sản nằm vùng, đồng thời triệt hạ những lực lượng thực dân, phong kiến (bài phong, đả thực), trọng điểm là việc truất phế Quốc trưởng Bảo Đại.

Ngoài ra, ông còn là một Dân biểu Quốc hội và là một trong 14 vị thuộc Ủy ban soạn thảo Hiến Pháp.

Nhìn thoáng qua như thế đủ biết ông Bộ trưởng Trần Chánh Thành đã trở thành ngôi sao sáng vào thời khai mở nền Đệ nhất Cộng hòa.

Tuy nhiên có nghi vấn, đang khi ông được Sài gòn tin dùng thì, ngoài Huế, ông Ngô Đình Cẩn lại muốn tách ông Bộ trưởng Trần Chánh Thành và cả ông Cố vấn Ngô Đình Nhu (?) ra khỏi vòng quyền lực (Thomas L. Ahern Jr. Hai tài liệu của CIA về các tướng lãnh VN và gia đình họ Ngô. Nguyễn Kỳ Phong lược dịch. Nam Úc Tuần Báo, Số 718 ra ngày 30.10.2009).

Thêm vào đó, nếu chiến dịch Tố Cộng triển khai thắng lợi lúc ban đầu, khiến cho khoảng 200 ngàn cán binh Cộng Sản được cài lại ở miền Nam có nguy cơ bị tiêu diệt thì, tại các địa phương, phát sinh tệ nạn chụp mũ Cộng sản lên đầu những người từng có thành tích kháng chiến chống thực dân Pháp. Mà theo ông Nguyễn Trân, ‘…không phân biệt kháng chiến với Cộng sản là đi ngược lại lòng dân’ (Nguyễn Trân. Hồi ký Công Và Tội. Sđd. Trang 177).
Những lực đối kháng này một khi đã nuôi ý đồ, sẽ dễ dàng tạo ra được một mối nghi ngờ trong dư luận về lòng trung thành với phe quốc gia của ông Bộ trưởng Trần Chánh Thành, căn cứ vào việc ông đã nắm giữ những vị trí tư pháp quan trọng ở Liên khu 3, thời Việt Minh. Tuy nhiên Tổng thống Ngô Đình Diệm vẫn tiếp tục tin tưởng ông cho tới cuối tháng 10 năm 1960. Đó là thời điểm xẩy ra việc 4 ông bộ trưởng đồng loạt từ chức; gồm có các ông Trần Chánh Thành (Bộ Thông tin), Trần Trung Dung (Bộ Quốc phòng), Lâm Lễ Trinh (Bộ Nội vụ) và Nguyễn Văn Sĩ (Bộ Tư pháp). Có dư luận cho là vì các ông bất đồng về sự lạm quyền của đảng Cần Lao? Chỉ 2 tuần sau đó, ngày 11.11.1960, nổ ra cuộc phản loạn của Nguyễn Chánh Thi - Vương Văn Đông.

Năm 1962, Tổng thống cử ông Trần Chánh Thành đi làm đại sứ tại Tunisie (ở Bắc Phi châu).

Ngày 01.11.1963, Tướng Dương Văn Minh cầm đầu cuộc đảo chánh thành công, chính phủ Nguyễn Ngọc Thơ đã giao công tác cho ông Trần Chánh Thành đi Nam Vang tiếp xúc thiện chí với Quốc vương Shianouk (18.12.1963).

Trong những năm chính trường miền Nam hết sức rối ren sau đó, ông Trần Chánh Thành rút lui vào bóng tối sống ẩn dật.

Khi nền Đệ nhị Cộng hòa được thành lập, ngày 01.4.1967, một bản Hiến pháp mới được ban hành đưa đất nước trở lại trật tự, quy củ. Rồi ngày 03.9.1967, diễn ra cuộc bầu cử tổng thống và quốc hội. Ông Trần Chánh Thành ra ứng cử trong liên danh Đoàn Kết Để Tiến Bộ, dấu hiệu con voi trắng (Bạch Tượng) đứng chung với các ông Trần Văn Lắm (thụ ủy liên danh), Trần Trung Dung, Đào Đăng Vỹ, Bà Phan Nguyệt Minh (Nguyễn Văn Thơ), Nguyễn Văn Chức, Nguyễn Phượng Yêm, Phạm Như Phiên, Đoàn Văn Cừu, Trần Ngọc Oành. Liên danh ‘Bạch Tượng’ đã đắc cử với 550,157 phiếu (Nguyễn Văn Chức. Việt Nam Chính Sử. Tiền Phong, 1989. Trang 163).

Sau trận đánh Tết Mậu Thân 1968, ngày 28.5.1968, Cụ Trần Văn Hương lại được mời thành lập chính phủ mới thay cho chính phủ của Ls. Nguyễn Văn Lộc. Đây là thời điểm cuộc hòa đàm Paris khởi sự, sắp bước sang giai đoạn công khai, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã tín nhiệm Nghị sĩ Trần Chánh Thành vào chức vụ Tổng trưởng ngoại giao. Đây là chức vụ cao cấp cuối cùng trong sự nghiệp chính trị của ông. Sau khi Tướng Trần Thiện Khiêm trình diện nội các mới vào ngày 01.9.1969, chức vụ tổng trưởng ngoại giao được chuyển sang cho Nghị sĩ Trần Văn Lắm, cũng thuộc Liên danh Bạch Tượng. Ông Trần Chánh Thành trở về giảng dậy môn báo chí tại Trường Luật cho tới ngày ‘trời sập’ 30.4.1975.

Những dòng lược thuật trên đây cho thấy ông Trần Chánh Thành là nhân vật hiếm hoi được lãnh đạo tin dùng ở những vị trí cao cấp và rất quan trọng trong cả 3 giai đoạn chính trị của đất nước: thời toàn dân kháng chiến chống thực dân Pháp, thời Đệ nhất Cộng hoà và thời Đệ nhị Cộng hòa. Điều đó chứng tỏ ông là một người có thực tài, tận tụy phục vụ. Đặc biệt là ông đặt lợi ích và lí tưởng quốc gia lên trên quyền lợi cá nhân: khi biết rõ Đảng Cộng sản nắm trọn quyền lèo lái mặt trận Việt Minh, ông từ chức và tìm cách đào thoát; đang khi được TT Ngô Đình Diệm trọng dụng, ông sẵn sàng từ chức bộ trưởng để phản đối phe cánh Cần Lao lạm quyền; và khi nền Đệ nhị Cộng hòa thành lập, ông gạt bỏ mặc cảm là người của ‘chế độ cũ’, chấp nhận trọng trách được giao phó. Cuối cùng, theo gương các bậc tiền bối xưa, hết ‘làm quan’ ông vui vẻ về làm thầy truyền thụ sở học qúy báu cho môn sinh.

Chọn lựa một cách chết lẫm liệt

Từ khi chiến dịch Tây nguyên do Cộng quân mở ra đầu tháng 3.1975 cho tới ‘ngày sập trời’ 30.4.75 vỏn vẹn chỉ có 55 ngày đêm. VNCH đang đi những bước thụt lùi vội vã, tất tưởi cuối cùng tới bờ vực thẳm. Đương nhiên ông Trần Chánh Thành phải là người tiên đoán được tình hình bi đát và tuyệt vọng ấy và ông đã gửi vợ con đi Pháp trước. Theo nhà báo Đặng Văn Nhâm, ông và hai bạn thân là cựu Thủ tướng Phan Huy Quát và Nghị sĩ Trần Trung Dung được Tòa đại sứ Pháp hứa sẽ bốc đi vào lúc 10 giờ sáng ngày 29. Nhưng vừa khi Tướng Dương Văn Minh ra nhận chức tổng thống lúc 5 giờ 30 chiều 28.4 thì giờ phi trường Tân Sơn Nhất bị CS oanh tạc và chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu. Sài Gòn lên cơn sốt mạnh . Manh ai nấy chạy thoát thân. Sáng 29.4, tân Tổng thống Minh gửi thư cho Đại sứ Martin yêu cầu quân Mĩ triệt thoái trong vòng 24 giờ. Yêu cầu này cũng được tân Thủ tướng Vũ Văn Mẫu tuyên bố công khai. Trong tình hình ấy, kế hoạch người Pháp hứa giúp ông Trần Chánh Thành và các bạn ông di tản bằng phi cơ không còn có thể thực hiện được. Cả ba ông bị kẹt ở lại. Nhất thời, ngày 30.4, các ông tạm lánh mặt tại nhà thương Grall của Pháp. 24 giờ sau, bệnh viện yêu cầu các ông ra khỏi nơi này. Rời bệnh viện Grall, ông Trần Chánh Thành tạt vào một cao ốc trên đường Gia Long sát góc đường Tự Do. Khoảng 4 giờ chiều ngày 02.5, nhà báo Mạc Kinh, người em thúc bá rất thân thiết với ông đến đón ông về nhà trên đường Duy Tân. Nhà ông lúc này chỉ còn lại mẹ ông, bà chị tên Nhơn và ba bốn người làm.

Suốt buổi chiều hôm ấy, anh em ông bộ trưởng đã trút hết nỗi niềm tâm sự lần cuối cùng với nhau. Sắp tới 7 giờ chiều là giờ giới nghiêm, khi chi tay với ông Mạc Kinh, ông bộ trưởng nói lời cuối cùng: ‘Chúng ta đều đã hiểu CS quá rõ. Với anh, chỉ có một lựa chọn cuối cùng. Anh phải tự xử lấy anh thôi...Em về đi. Giờ giới nghiêm đã tới rồi. Sáng sớm mai em lên với anh nhé!’

Ông Mạc kinh nghe lời nói đó mà ngỡ như lời trối trăng. Ông chỉ có thể van vỉ ông anh: ‘Dù thế nào chăng nữa, xin anh cũng đừng quyết định gì vội. Hãy cố chờ đến sáng mai anh em ta gặp lại nhau’.

Tuy nói như thế, nhưng thâm tâm ông MK vẫn không tin vào hiệu quả của lời mình nói. Linh tính đã báo cho ông biết rằng kể từ giây phút này, ông đã mất hẳn, mất vĩnh viễn ông Thành ...

Hôm sau, khi trời vừa sáng, ông Mạc Kinh phóng xe lên nhà ông bộ trưởng.

Cho tới nay, duy nhất chỉ có nhà báo lão thành Đặng Văn Nhâm có thể thuật lại tỉ mỉ, sống động cái chết bi tráng của ông Bộ trưởng Trần Chánh Thành: ‘Vừa đặt chân vào phòng khách. Khác hẳn mọi khi, nơi đây bỗng trở nên vắng lặng như tờ, như không còn một hơi thở nào nữa. Không khí trong căn phòng này đã bao phủ một màu thê lương, ảm đạm. Bà Nhơn lẻ loi, đôi mắt đỏ hoe, đang ngồi thu mình nơi bực cầu thang, lối dẫn lên phòng ngủ của ông Thành . Bà Nhơn bảo ông MK:

"Em lên ngay đi. Thành an nghỉ rồi! Hồi hôm, Thành đã nói chuyện lâu với chị...dặn trao tập giấy màu vàng cho em đó... Thành nằm ở phòng ngủ nhỏ lầu hai... Em ở bên Thành đi. Chị phải tới sứ quán Pháp ngay bây giờ để làm sẵn thủ tục. Chị sẽ quay về thật gấp..."

Lập tức ông MK phải lo giải quyết ngay một số việc cần kíp. Trước hết, mời bà cụ thân mẫu của ông Thành đi theo bà Nhơn đến tạm trú tại nhà một thân nhân khác, và phải nói dối là cụ cứ đi trước, còn ông Thành sẽ được tòa đại sứ Pháp cho xe đến đón ra phi trường sau. Ông MK sợ bà cụ mà biết chuyện ông Thành tự tử thì sẽ lôi thôi to. Mọi việc lo cho ông Thành bây giờ phải thật kín đáo, không để lộ một chút tin tức hay nghi hoặc nào ra ngoài vòng ruột thịt. Mặt khác, ông MK dặn gia nhân hãy để cho ông Thành ngủ yên, đừng ai quấy rầy, không cần đem sữa sáng như thường lệ, vì đêm qua ông đã thức khuya...Sáng nay ông Thành cũng không muốn tiếp khách nữa!...

Khi còn lại chỉ có một mình trong ngôi nhà rộng thênh thang, ông MK mới đẩy nhẹ cửa phòng ngủ, tiếng máy lạnh vẫn sè sè nho nhỏ. Ông Thành đang nằm đó, bất động như người đang ngủ mê. Nét mặt bình thản. Nhưng hai bên cánh mũi có hai vệt thuốc nhỏ màu nâu nhạt lẫn chút máu đỏ đọng lại, dài bằng hai đốt ngón tay. Ông MK ôm nhẹ mặt ông Thành, thấy vẫn còn ấm, ngực và chân tay vẫn hãy còn ấm. Ông thầm nghĩ chắc ông Thành chỉ mới vừa từ giã cõi đời thôi. Nhì trên mặc chiếc bàn ngủ, một hộp thuốc ngủ 50 viên chẳng còn sót một viên nào. Nơi bàn giấy góc phòng, mọi thứ đều ngăn nắp. Có một tập giấy 18 trang. Ông MK liếc thoáng qua, biết ngay là những lời trăn trối cuối cùng của ông Thành. Ông Thành lên tiếng tố cáo hiểm họa CSVN trước thế giới tự do, sau khi chúng đã cưỡng chiếm miền Nam. Ông Thành cũng tiên liệu để kêu gọi thế giới dân chủ , nhân đạo phải có trách nhiệm tinh thần ngăn chận bàn tay máu trả thù trút lên mạng sống của toàn thể quân nhân và quần chúng miền Nam. Ngoài ra, ông Thành còn phác họa cho mọi người thấy trước thảm trạng của miền Nam, đồng thời phơi bày âm mưu gây chiến tranh loạn lạc đối với các nước láng giềng trong bán đảo Đông Dương và Thái Lan. Cuối cùng ông Thành minh xác, ông đã lấy cái chết để phản đối CSBV xâm chiếm miền Nam.…

Bên cạnh tập giấy đó, ông Thành còn viết sẵn vài dòng chữ trên một tấm danh thiếp, nhằm gửi thẳng cho cơ quan an ninh, xác định cái chết của ông là do chính ông tự chọn, đừng gây phiền nhiễu cho ai hết!

Trong vòng một tiếng đồng hồ sau, bà Nhơn đã trở về. Lúc này, toàn thân ông ông Thành mới bắt đầu trở lạnh, lạnh ngắt. Một mặt ông MK phải lo canh chừng đám gia nhân, vài người còn lại. Mặt khác bà Nhơn lo liên lạc báo tin cho vài người bà con trong thân tộc nội, ngoại (bên bà Thành). Nhưng không một ai lui tới. Dường như ai cũng lo ngại, muốn trốn tránh. Không khí thành phố Sài Gòn lúc ấy căng thẳng đến tột độ. Ai cũng có chuyện để phải lo và để sợ. Một tiếng động mạnh cũng đủ làm cho người ta giật mình kinh hoảng, nhớn nhác...

Trong hoàn cảnh đó, một mình ông MK phải lo hết mọi việc rửa ráy thi hài và tẩn liệm cho ông Thành.

Lúc ấy, khoảng ba giờ chiều , bỗng gia nhân báo tin có ban Quân Quản đến khám nhà. Gồm ba cán bộ đeo súng ngắn bên hông, băng đỏ trên cánh tay, và một tên bộ đội mang tiểu liên đi theo hộ vệ. Trong trường hợp này, dù muốn dù không, ông MK vẫn phải ra mặt tiếp đón. Ngay câu đầu tiên bọn cán bộ CS đã nói thẳng, chúng đến tiếp thu ngôi nhà, và ra lệnh đưa chúng đi xét nhà. Chúng đi thẳng một mạch lên lầu 4, rồi từ đó mới trở xuống, vào từng phòng một, quan sát soi mói và khám xét cẩn thận. Không bỏ sót một phòng nào. Vào đâu chúng cũng ngắm nhìn, để ý kiểm điểm từng ly từng tí, rồi xẵng giọng hạ lịnh: "Đồ đạc ở đâu để nguyên đấy. Cấm tuyệt không được di chuyển!"

Khi xuống đến lầu 2, nơi có phòng thi hài của ông Thành nằm đó, bỗng nhiên đầu óc ông MK trở nên căng thẳng tột độ. Tinh thần ông bấn loạn. Nếu bọn cán bộ CS bất chợt thấy thi hài ông Thành đang nằm trơ trơ ở đó, ông sẽ trả lời như thế nào? Một điều chắc chắn nhất, không thể nào tránh được là bọn cán bộ CS sẽ hạch hỏi mọi người hiện diện trong nhà. Rồi thì mọi sự sẽ phải khai trình tỉ mĩ, từ tên tuổi, chức phận cũ, rồi đến nguyên nhân cái chết... Nhưng liệu bọn CS ác ôn này có cho phép chôn cất ngay không, hay sẽ đem thi hài đi mổ xẻ, khán nghiệm...?

Lại còn vấn đề sấp giấy ông Thành đã viết di ngôn tố cáo CSVN nữa chứ. Ông MK bối rối vô cùng, không biết sẽ phải ăn nói ra sao, và rồi những gì sẽ xảy ra cho bản thân ông ngay sau đó, ông không thể lường được.

Trong tình cảnh nguy nan đó, ông MK chỉ còn kịp nghĩ đến việc cầu nguyện vong hồn ông Thành, sống khôn, thác thiêng, xin ông phù hộ cho gia đình thoát qua được cơn hiểm nghèo nghiệt ngã này, để còn có cơ hội chôn cất di hài ông êm thắm!

Không ngờ một chuyện lạ của đời người đã xảy đến, chẳng khác nào như lời khấn vái của ông MK linh ứng , như linh hồn ông Thành hãy còn lẩn khuất đâu đó, để lôi chân bọn cán bộ CSBV đi qua căn phòng đó. Chúng vừa đi vừa chuyện trò với nhau, và vẫn ra lệnh mở từng cửa phòng, nhưng không còn vẻ tích cực soi mói như vài giây đồng hồ trước đó. Khi chúng đến trước cửa phòng ông Thành nằm, lồng ngực MK tưởng chừng sắp nổ tung. Nhưng chẳng khác nào như một phép lạ, chúng cứ thế đi luôn, không dừng lại, cho đến phòng cuối của từng lầu 2, rồi chúng đi luôn xuống dưới nhà...

Nơi đây, chúng dừng lại, ghi vội biên bản, coi như ngôi nhà này vô chủ. Chủ nhân đã bỏ đi ngoại quốc! Thì ra bọn cán bộ này cũng ngờ ngệch lắm.Trong đầu chúng đã bị nhồi chặt cứng một mớ lý thuyết Mác Xít, với những giáo điều rẻ tiền, đâu còn chỗ nào để chứa thêm một thứ hiểu biết gì khác! Nhưng chúng đặc biệt quan tâm đến mọi thứ đồ đạc vật chất trong nhà. Cuối cùng, trước khi ra đi, chúng ra lệnh: Mọi người trong nhà chỉ được phép quây quần ở tầng trệt, không được bén mảng lên lầu. Đồ đạc trong nhà không được tơ hào suy suyển.

Sau đó bà Nhơn và ông MK phân công mỗi người một việc cần kíp. Bà Nhơn chạy vội ra phường khai tử cho ông Thành, với lý do bịnh tim. Còn ông MK phóng thẳng về nhà tìm giấy chủ quyền ngôi mộ của bà thân mẫu ở nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi [còn một tầng trên], đem trình ban Quân Quản Nghĩa Trang, để xin đóng dấu cho mai táng.

Đến lúc này xét ra cái chết của ông Thành chẳng còn gì cần phải che giấu nữa, nên gia nhân đều được biết hết. Tiếng khóc không còn bị đè nén ấm ức, nghẹn ngào nữa, mà được tự do vang lên, khiến các nhà hàng xóm không khỏi ngạc nhiên. Cách nhà ông Thành chừng hai, ba ngôi biệt thự là trụ sở của "Hội Trí Thức Yêu Nước" thành phố HCM của đám Ngô Bá Thành, ni sư Huỳnh Liên, Trương Đình Dzu, Trần Thúc Linh v.v...Vì thế nên tin ông Thành qua đời đã mau chóng đến tai những người trong hội ấy.

Ngày hôm sau, 2.5.1975, lèo tèo vài thân nhân đến viếng. Trong đám bạn bè, người ta chỉ thấy một mình ông Trần Trung Dung.

Ngày 4.5.75, khoảng vài mươi người đã đến tiễn đưa di thể ông Thành đến nơi an nghỉ cuối cùng. Không khí lo sợ, ngại ngùng lặng lẽ bao trùm hết cả vẻ "tử biệt sinh ly" của một đám tang’… (Đặng Văn Nhâm. Ls. Trần Chánh Thành Đã Coi Cái Chết Nhẹ Như Lông Hồng Để Phản Đối Hành Động Xâm Lăng Của CS Và Cảnh Giác Thế Giới Tự Do. Daichung.com).

Ông Bộ trưởng Trần Chánh Thành đã chọn cho mình một cái chết can trường để bảo vệ sĩ khí và tiết tháo của một nhân vật chính trị, của một viên chức cao cấp từng mang trọng trách. Khi biết tình thế không còn có thể cứu vãn được, bản thân không mong thấy được thành quả tốt đẹp của lý tưởng đời mình nữa thì ông an nhiên, thanh thản ra đi, quyết không chịu để bị lọt vào tay Cộng quân.

Trên chính trường nước ta thời cận đại, một nhân tài, một nhân cách như ông Trần Chánh Thành, rõ ràng là không có nhiều.

Ôi cám cảnh thay! Anh hùng mạt lộ!

Khi tàn cuộc chiến, nước mất thành đổ, mới rõ mặt anh hùng, bất kể vị anh hùng ấy là võ hay là văn.

Bạch Diện Thư Sinh
http://quanviahe.multiply.com/journal/item/6158
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »


Image

Ngày Hiền Mẫu 9 tháng 5

Thương Nguyên
Nhập gia tùy tục, người Việt Nam định cư tại Mỹ năm nay sẽ cùng toàn thể Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ mừng Ngày Hiền Mẫu (Mother's Day) vào ngày 9 tháng 5, tức là ngày Chủ Nhật thứ nhì của tháng 5, năm 2010. Nhân ngày truyền thống này của các bà mẹ trên quê hương mới và cũng nhân mùa tưởng niệm ngày 30 tháng 4 hằng năm, Trang Phụ Nữ hân hạnh giới thiệu đến chị em phụ nữ đoạn văn sau đây của Thương Nguyên viết về gương hy sinh không bờ bến của những bà mẹ Việt Nam sau khi miền Nam tự do rơi vào tay cộng sản hồi năm 1975. Ðoạn văn này được trích từ bài viết nhan đề “Ngày Hiền Mẫu” của tác giả đăng trên Mạch Sống Online.

Rồi biến cố ngày 30 tháng 4 năm 1975 đến, ngày miền Nam Việt Nam bị cưỡng chiếm. Mẹ chưa hết nỗi mừng vui chờ ngày đất nước hết cơn binh lửa thì đã cảm nhận thảm họa bao trùm xuống toàn cõi quê hương. Ðau khổ, đói lạnh, đè nén, áp bức khắp nơi. Các con của Mẹ cũng chịu cảnh lao tù như bao nhiêu bạn bè trong binh nghiệp. Mẹ mang nặng nỗi nhớ thương những đứa con bị lưu đày biệt xứ. Tuy tuổi đã già, nhưng Mẹ đã phải tiếp tục ngược xuôi trong cuộc đổi đời, tìm đường sinh kế để nuôi các con trong tù cải tạo. Mẹ lặn lội đường rừng đến trại tù thăm con.

Trong những phút giây ngắn ngủi ở khu thăm nuôi, mẹ khóc thương cho đời con lao đao và kể lể những nỗi nhớ thương mỏi mòn của mẹ.

Lòng mẹ ngàn năm vẫn dạt dào
Chua xót thân già đời lận đận
Ngậm ngùi phận trẻ kiếp lao đao

(Nguyễn Vô Cùng)

Nhìn thân thể các con bị đọa đầy, tim Mẹ nát tan. Mẹ cầm lấy tay con nghẹn ngào, như muốn ôm trọn những đau thương thay thế cho con. Rồi mỗi lần nghe tin có những tù nhân nào được tha về, Mẹ cũng đến để muốn hỏi thăm tin tức về các con của Mẹ.

Tay mẹ hiền cầm lấy tay con...
Như muốn chuyền hơi ấm tình thương

(Kha Lăng Ða)

Những khổ cực nghiệt ngã đã làm oằn lưng mẹ, làm khô héo đôi tay gầy guộc, tô đậm trên trán, trên đôi gò má của Mẹ nhiều vết nhăn nheo. Những tàn phai của thời gian được ghi dấu trên mái tóc bạc phơ.

Ngày Ðông mưa nhỏ hàng hiên
Mẹ mang thùng hứng cho quên nỗi sầu

(Hoàng Minh Hùng)

Khi các con được ra tù thì thể xác đã nên tiều tụy, tinh thần suy nhược, và đời sống bất ổn, Mẹ tiếp tục đỡ nâng bằng cách vay mượn tiền và bán hết đồ đạc trong nhà, gom góp cho các con bí mật vượt biên...

Hình ảnh người Mẹ ốm yếu đứng bất động ở một góc bến xe, nhìn theo chiếc xe đò cũ kỹ đưa các con đi mà bà rưng rưng nước mắt. Mẹ âm thầm nghẹn ngào chắp tay nguyện cầu cho các con của Mẹ được thành công đến bến bờ tự do.

Khi cảnh đời biển thẳm hóa nương dâu
Mẹ tiễn con đi, mắt chan chứa lệ sầu
Máu mùa Hạ còn vương đọng cành phượng vĩ

(Kha Lăng Ða)

Trời cao có mắt: Các con của Mẹ được đến bến bờ tự do an toàn. Mẹ mừng rỡ khi nhận được bức điện tín đầu tiên báo tin các con đã định cư an toàn trên xứ người. Lá thư hồi âm nào Mẹ cũng viết thật dài. Mẹ khuyến khích các con cố gắng làm lại cuộc đời và dạy dỗ cho con cái phải biết sống theo đạo lý, và đừng bao giờ quên quê hương, nguồn cội của mình.

Những buổi chiều khi hoàng hôn buông xuống, Mẹ nhớ đến các con, Mẹ gọi tên từng đứa. Mẹ nhớ những ngày khi các con còn nhỏ dại, một mình Mẹ thay Cha đơn côi nuôi con khôn lớn. Nhớ ngày nào đứa con út còn theo chân Mẹ đến trường, mà bây giờ tất cả đã khôn lớn, mỗi đứa một nơi. Giờ đây Mẹ vẫn tiếp tục hiu quạnh một mình trong căn nhà xưa. Có còn nỗi đau nào hơn nữa hay không?

Chắt chiu cùng năm tháng
Mẹ tần tảo ngược xuôi
Nuôi con ngày khôn lớn
Mỗi đứa một phương trời
Nay tuổi già vóc hạc
Thui thủi bóng vào ra
Muộn phiền vai mẹ gánh
Liêu xiêu buổi chiều tà

(Vương Ðức Lệ)

Các con của Mẹ giờ đây đã có một cuộc sống ổn định ở nước ngoài, và không ngừng gởi về cho Mẹ đủ loại thuốc bổ dưỡng. Nhưng căn bịnh do tuổi già của Mẹ bắt đầu nhen nhúm. Mấy thứ thuốc bổ dưỡng đó không làm Mẹ khỏe hơn. Thân thể Mẹ từ từ lụn xuống. Lưng Mẹ vì xương quá yếu nay oằn xuống, còng lại, Mẹ không còn sức lực để đứng thẳng người được nữa. Giờ Mẹ chỉ mong gặp lại mấy đứa con của Mẹ trước khi qui tiên.

Rồi một ngày những đứa con thân yêu của Mẹ bất chợt về quê thăm Mẹ. Mẹ hỏi “đứa nào đây,” con của Mẹ suýt hét lên vì mới biết là mắt Mẹ đã mù. Con nghẹn ngào khóc nức nở vì tấm lòng hy sinh trời biển của Mẹ. Mẹ sợ những đứa con của Mẹ làm lụng vất vả khổ sở nơi xứ người nên Mẹ không than van, không xin thuốc hay xin tiền con để chữa trị.

Mẹ đưa hai tay sờ lên đầu từng đứa con rồi mấy đứa cháu. Ôi, tình mẫu tử thiêng liêng...

Qua bao biến đổi của cuộc đời, tình mẫu tử vẫn là một hằng số cố định. Niềm vui của Mẹ vẫn là muốn được nhìn thấy con cái thành đạt trong cuộc sống. Ngày nay nhìn những thành công vượt bực của người Việt hải ngoại chỉ trong vòng hơn ba thập niên qua, những thành tích huy hoàng của giới trẻ Việt Nam tại các trường đại học, các ngành nghề cao cấp trong xã hội như Y, Nha, Dược, Bộ Trưởng Y Tế, các Luật Sư, Kỹ Sư, Giáo Sư, Dân Biểu Hoa Kỳ, Phi Hành Gia Hoa Kỳ, các nam nữ Sĩ Quan Không Quân, Hải Quân, Cảnh Sát Trưởng Hoa Kỳ, các Ðại Thương Gia, nam nữ Phóng Viên chiến trường, Nhạc Sĩ, Nghệ Sĩ, và còn nhiều nữa.... Tất cả những thành công này là hoa trái từ những công lao và hy sinh của người Mẹ Việt Nam, những tấm gương sáng cho muôn thế hệ Việt.

Xin được tôn vinh những tấm lòng quá nhân ái, cao đẹp của những người Mẹ Việt Nam, của những người phụ nữ đã phải trầm luân cùng thân phận của đất nước. Tất cả những công lao và hy sinh của những người Mẹ đều có giá trị, đều biểu hiệu một tình thương, đều mang ý nghĩa của một sự cho đi phần nào của chính mình. Thật không dễ tìm phụ nữ của một dân tộc nào trên thế giới có sức chịu đựng và nhẫn nhục như phụ nữ Việt Nam. Xin được ghi xuống đây lòng tri ân muôn đời đối với những người Mẹ Việt Nam.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Tranh của Picasso bán giá kỷ lục $106.5 triệu

NEW YORK (UPI) - Bức tranh của nhà danh họa Pablo Picasso mang tên “Nude, Green Leaves and Bust,” mô tả người tình của ông, Marie-Thérèse Walter,
vẽ năm 1932, đã được bán với giá kỷ lục $106.5 triệu vào tối 4 tháng 5, được coi là bức tranh đắt giá nhất trong một cuộc bán đấu giá.

Image
Một người hâm mộ tranh cố ghi lại hình bức tranh “Nude, Green Leaves and Bust” của Picasso, làm kỷ niệm,
trước khi bức tranh được bán với giá kỷ lục là $ 106.5 triệu. (Hình: Stan Honda/ Getty Images)



Cuộc bán đấu giá bức tranh diễn ra trong vòng có 9 phút, từ lúc khởi đầu cho đến lúc kết thúc, và người trả giá đầu tiên đã là $58 triệu. Có tất cả 8 người tham dự cuộc đấu giá này, một vài người có mặt và số còn lại tham dự cuộc đấu giá qua điện thoại.

Ðến khi giá bán đạt đến $88 triệu, thì có hai người xin rút lui, và số người còn lại đã nâng giá dần lên đến $106.5 triệu.

Với giá bán là $106.5 triệu, như vậy bức “Nude, Green Leaves and Bust” (Khỏa thân, lá xanh và tượng bán thân) đã vượt giá bán kỷ lục trước đây của tác phẩm điêu khắc của Alberto Giacometti, “L' homme qui marche” (Người đàn ông bước đi) được bán đấu giá hồi tháng 2, 2010 tại London, đạt giá là $104.3 triệu.

Bức “Nude, Green Leaves and Bust,” có kích thước 5 X 4 foot, thuộc bộ sưu tập của một trong những mạnh thường quân nổi tiếng của Los Angeles, nay đã qua đời. Ông Frances Lasker Brody, đã mua được bức tranh này hồi năm 1950 với giá $17,000. (L.T)
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Image

Người ngủ ít dễ chết sớm

Ngủ dưới 6 tiếng mỗi tối có thể là cách để về thế giới bên kia sớm hơn so với tuổi thọ mà lẽ ra người ta được hưởng.

BBC cho biết, giáo sư Francesco Cappuccio - một nhà khoa học thuộc Chương trình Giấc ngủ, Sức khỏe và Xã hội của Đại học Warwick, Anh cùng các đồng nghiệp phân tích dữ liệu của 1,5 triệu người tại Anh, Mỹ, châu Âu và Đông Á. Những người này là đối tượng nghiên cứu của 16 công trình trước đó.

Kết quả phân tích cho thấy, sau 25 năm, những người thường xuyên ngủ ít hơn 6 tiếng vào buổi tối có nguy cơ tử vong lớn hơn 12% so với những người ngủ từ 6 tới 8 tiếng.

Tình trạng thiếu ngủ triền miên là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới sự sa sút sức khỏe và nguy cơ chết sớm. Ngược lại, ngủ quá nhiều lại là dấu hiệu cho thấy sức khỏe đã xuống cấp từ trước.

“Thời gian ngủ trung bình của con người đang giảm dần trong xã hội hiện đại. Xu hướng này thể hiện rõ nét ở những người lao động làm việc toàn thời gian. Điều đó cho thấy các áp lực về mặt xã hội khiến một bộ phận người lao động làm việc nhiều hơn và giảm thời gian ngủ”, Cappuccio nói..

Minh Long
caubennoc
Posts: 553
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:43 pm
Contact:

Post by caubennoc »

Nữ ca sĩ Shakira và ca khúc Waka Waka cho World Cup 2010

Image
Nữ ca sĩ Shakira. (Hình: FIFA.com)

Liên đoàn Bóng Tròn Thế Giới FIFA và công ty Sony đã chọn bài hát có nhan đề Waka Waka (This Time for Africa) là ca khúc chính thức tại World Cup 2010 ở Nam Phi. Bài hát này do nữ danh ca gốc Châu Mỹ La Tinh nổi tiếng Shakira sáng tác và chính cô sẽ trình diễn cùng với ban nhạc Nam Phi Freshlyground vào ngày khai mạc World Cup 11 tháng 6 tới đây.

Như vậy, sau thời gian dài chờ đợi, lời tuyên bố về một ca khúc chính thức của ban tổ chức World Cup của FIFA đã được công bố. Waka Waka (This Time for Africa) là tên của bài hát chính thức mới tại World Cup Nam Phi với âm hưởng của nhạc điệu Châu Phi. Bài ca tiêu biểu cho sức sống và năng lực của lục địa nước chủ nhà World Cup. Những đàn guitars Nam Phi sẽ hậu thuẫn cho âm hưởng Afro-Colombia và nhịp điệu Soca, một loại âm nhạc khiêu vũ xuất phát và tồn tại trong vùng Caribbean.

Chủ Tịch FIFA Joseph S. Blatter vui mừng với ca khúc mới của FIFA World Cup: “Waka Waka (This Time for Africa) tiêu biểu những điều mà những người hâm mộ bóng tròn mong đợi tại Nam Phi: sức sống, sức mạnh và sự năng động. Waka Waka là bài hát chính thức cho suốt bốn tuần lễ của lễ hội bóng tròn thế giới mà chúng ta sẽ được chứng kiến tại Nam Phi. Không có gì biểu hiện niềm hân hoan vui sướng của bóng tròn tốt hơn là âm nhạc, đặc biệt khi đó là bài ca với âm điệu đầy sức sống và năng động như Waka Waka.”

Shakira sẽ trình diễn bài hát với ban nhạc Nam Phi nổi tiếng Freshlygroun. Cô tuyên bố, “Tôi rất vinh dự khi biết ca khúc Waka Waka (This Time for Africa) được chọn để trình diễn như là một phần của World Cup 2010. Giải đấu này mang ý nghĩa lớn lao cho toàn thế giới, nối kết mọi quốc gia, chủng tộc, tôn giáo... chung quanh một niềm đam mê duy nhất. Nó biểu hiện một biến cố mà có quyền lực hợp nhất tất cả lại với nhau và đó là điều mà ca khúc này nói đến.”

Nữ ca sĩ kiêm nhạc sĩ Shakira, người Colombia, nổi tiếng với tập album “Donde Estan Los Ladrones,” từng đoạt hai giải Grammy trong năm lần đề cử và bảy giải Latin Grammy, 4 giải MTV Video Music Awars...”

Ðược biết FIFA và Sony Music đã hợp tác thành công với nhau trong chương trình âm nhạc chính thức cho World Cup kể từ năm 1994. Theo truyền thống xuất phát từ World Cup 1966 ở Anh Quốc, bài ca chính thức dành cho biểu tượng World Cup đầu tiên, “World Cup Willie.” Kể từ đó, chương trình âm nhạc và biểu tượng chính thức cho World Cup đã trở nên ngày càng rõ rệt hơn, cung cấp cơ hội tốt cho không chỉ những người đam mê bóng tròn mà còn xác định tính danh của lễ hội thể thao bóng tròn lớn nhất hành tinh này.

Ca khúc Waka Waka (This Time for Africa) gây tranh luận

Tuy nhiên mới đây khi bài hát này được các đài phát thanh tại Nam Phi tung ra đã gặp ngay những phản ứng bất lợi cũng như nhiều tranh luận về bài hát và nữ ca sĩ Shakira.
Image
Nữ ca sĩ Shakira. (Hình: Getty Images)

Nhiều người dân Nam Phi nghe Shakira hát ca khúc này đã nhấn mạnh sự thất vọng là FIFA đã chọn một ca sĩ không phải người gốc Nam Phi để trình diễn, sẽ không diễn tả hết tinh thần của ca khúc trong khi một số người khác thì tỏ vẻ không quan tâm lắm.

Theo Jenny Crwys-Williams, người chủ trì chương trình talk show 702 trên đài truyền thanh Nam Phi cho biết mặc dù bài hát này là ca khúc chính thức cho World Cup lần này nhưng nhiều người dân đã gọi vào bày tỏ sự thất vọng hoặc không hài lòng của họ.

Trên các đường phố tại Johannesburg, nhiều phản ứng khác nhau lẫn lộn được đưa ra: Một số bác bỏ mạnh mẽ bài hát này, và hơn nữa còn chê nữ ca sĩ Shakira hát không có hồn trong khi một số khác cho biết World Cup không phải chỉ riêng cho Nam Phi mà Nam Phi chỉ là quốc gia tổ chức giải cho toàn thể thế giới.

Một cư dân tên Sechaba Sebusho xác định, “Tôi không có vấn đề gì với ca khúc được hát bởi một nữ ca sĩ không phải là gốc Nam Phi trong ý nghĩa là World Cup lần này là dành cho tất cả mọi người trên thế giới cùng thưởng thức.”

Ðược biết bên cạnh nữ ca sĩ Shakira còn có sự góp mặt của nữ ca sĩ Hoa Kỳ Alicia Keys và ban nhạc lừng danh Black Eyed Peas. Tuy nhiên nhiều người dân Nam Phi vẫn không hài lòng với ban nhạc này. Do đó, có thể ban tổ chức World Cup sẽ phải mời thêm nhiều ca sĩ và nhạc sĩ nổi tiếng khác của Nam Phi cũng như một số nơi khác trên thế giới tham gia vào chương trình âm nhạc dành cho World Cup lần này. (TD)
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

NHÂN NGÀY “LỄ MẸ”,
NGHĨ GÌ VỀ NHỮNG BÀ MẸ CÔ ĐƠN?


Chu Tất Tiến

Trong giờ lễ Chủ Nhật, nhằm ngày Lễ Mẹ, tại nhà thờ Saint Columban, linh mục T. đã làm nhiều người nghe phải nhỏ lệ khi ông kể một câu chuyện về một người Mẹ đã nuôi cả mười đứa con thành công về tài chánh, đứa Bác Sĩ, đứa Kỹ Sư, Dược Sĩ, nhưng rồi cả mười đứa con ấy, không nuôi nổi một bà Mẹ già. Đứa nào cũng có lý do để từ chối không muốn ở với Mẹ. Linh mục T. cũng kể lại lúc ông còn ở Chicago, có một lần trong thời tiết lạnh giá, đến thăm một bà Mẹ, thấy căn nhà rộng mông mênh, không có ai, vì hai vợ chồng đứa con đi làm cả. Điều ông quan tâm là thấy trong nhà rất lạnh, bà Mẹ phải mặc hai áo nhưng vẫn lạnh cóng. Ông có hỏi bà mẹ tại sao không mở máy sưởi, thì bà Mẹ cho biết là không dám mở vì sợ khi con đi làm về, sẽ càm ràm là “tốn tiền điện quá!” Những đứa con sang trọng kia, có thể chờ đến ngày Lễ Mẹ, thì đưa mẹ ra ăn tô phở, hoặc gọi điện thoại về nhà, nói: “I love you, mom!” Thế là đủ bổn phận của một đứa con thành công ở Mỹ đối với người mẹ yêu dấu của mình.

Những Bà Mẹ ở đây là hiện thân của Mẹ Việt Nam đau khổ, đã hy sinh cả cuộc đời cho con cái, nhưng khi con cái phụ rẫy, bỏ bê, cũng im lặng chấp nhận cho đến hết cuộc đời.

Có biết bao nhiêu trường hợp như thế trong cộng đồng Việt Nam hải ngoại? Biết bao nhiêu bà mẹ âm thầm, lặng lẽ chịu đựng tất cả những đau khổ từ khi lấy chồng, sinh con, rồi ráng nuôi dậy con nên người, sau đó lại chấp nhận những đứa con bất hiếu như một định mệnh mà không hề thốt lời than vãn?

Một bà mẹ đã dành dụm bao năm buôn gánh bán bưng để cho con vượt biên một mình, sau đó, khi qua đến Mỹ, thằng con sợ vợ quá, không dám để mẹ ngủ trong phòng, mà bảo mẹ phải ngủ dưới đất trong phòng khách. Một lần, con chó xù của hai vợ chồng đứng đái ngay vào đầu mẹ. Bà mẹ kêu lên, thì đứa con dâu cười ha hả trong khi thằng chồng đứng yên, chẳng dám nói gì.

Bà mẹ khác, không được ở chung với con trai, phải thuê một phòng của người bạn, vì sức khoẻ yếu, lúc nào cũng lo là chết không có ai chôn. Khi nghe nói về bảo hiểm nhân thọ, bà có năn nỉ thằng con trai đứng tên mua giùm, để bà bớt chút tiền già và đóng hàng tháng để mai sau, con có tiền lo hậu sự cho bà, nhưng đứa con dâu nhất định không chịu, cho rằng “tốn tiền vô ích, chết thì thiêu, liệng tro xuống biển là xong, chôn làm quái gì cho mất thời giờ đi chăm sóc.” Bà cụ uất quá, phát bệnh và qua đời. Không biết rồi bà có được chôn cất đàng hoàng theo ý muốn, hay lại bị cô con dâu vứt tro ra biển.

Không thiếu những bà mẹ khi đến thăm con trai, phải ngồi nhìn vợ chồng chúng nó ăn uống ríu rít với nhau, vì con dâu không chịu dọn thêm một chén cơm mời mẹ. Một bà mẹ nhớ con nhớ cháu quá, đến thăm con, nhưng sợ con dâu sẽ nhiếc móc thằng chồng, nên vừa vào tới cửa đã vội thanh minh: “Mẹ không ăn cơm đâu! Mẹ vừa ăn phở xong, còn no đầy bụng. Mẹ chỉ đến cho thằng cháu nội món quà thôi!”

Không thiếu những bà mẹ vì lỡ đánh đổ một chút nước trên thảm mà bị con nhiếc móc tơi bời. “Trời đất ơi! Cái thảm của người ta cả vài ngàn bạc mà đánh đổ đánh tháo ra thế thì có chết không?” Có bà mẹ bị bệnh ung thư, biết là sắp chết, mong được con gái đưa về Việt Nam, nhưng con đổ thừa cho chồng không cho phép về, rồi biến mất tăm, sợ trách nhiệm. Mẹ phải nhờ người đưa ra phi trường, nhờ người dưng đi cùng chuyến bay chăm sóc cho đến khi về tới nhà. Từ lúc đó đến lúc mẹ mất, cả con gái lẫn con rể, cháu chắt cũng chẳng hề gọi điện thoại hỏi thăm một lần.

Một bà mẹ già trên 70 tuổi rồi, có thằng con trai thành công lẫy lừng, bốn năm căn nhà cho thuê, nhưng bà mẹ phải lụm cụm đi giữ trẻ, nói đúng ra là đi ở đợ vì phải lau nhà, rửa chén, nấu cơm, để có tiền tiêu vặt và để gộp với tiền già, đưa cả cho.. con trai, một thanh niên ham vui, nhẩy nhót tung trời, hai, ba bà vợ. Mỗi khi gặp bà con, chưa cần hỏi, bà đã thanh minh: “Ấy, tôi ngồi không cũng chả biết làm gì, thôi thì đi làm cho nó qua ngày, kẻo ở nhà rộng quá, một mình buồn lắm!”

Trong một cuộc hội thoại, một bà mẹ đã khóc nức nở vì chỉ đứa con gái phụ rẫy, bỏ bà một mình cô đơn. Bà chỉ có một đứa con gái duy nhất, chổng chết trong trại cải tạo. Trong bao nhiêu năm, bà đã gồng gánh nuôi con, rồi cùng vượt biên với con, tưởng mang hạnh phúc cho hai mẹ con, ai ngờ cô con chờ đúng 18 tuổi là lẳng lặng sắp vali ra đi. Nước mắt bà đã chẩy cho chồng, nay lại chẩy hết cho con.

Tại những nhà dưỡng lão gần trung tâm Thủ Đô Tị Nạn, có biết bao nhiêu bà mẹ ngày đêm ngóng con đến thăm nhưng vẫn biệt vô âm tín. Một bà cụ suốt ba năm dài, không bao giờ chịu bước xuống giường, vì biết rằng chẳng bao giờ có đứa con nào đến thăm. Bà đã lẳng lặng nằm suốt ngày trên giường như một sự trừng phạt chính mình vì đã thương yêu con cái quá sức để đến tình trạng bị bỏ bê như hiện tại. Sau ba năm, bà mất vì các vết lở, vì nỗi u uất, mà những người chăm sóc bà vẫn không biết gia cảnh bà như thế nào, vì bà không hề nhắc đến. Có điều chắc chắn là khi bà còn là một thiếu nữ, bà phải là một mẫu người làm cho nhiều người theo đuổi, quyến luyến, tôn sùng. Chắc chắn bà đã trải qua bao năm tháng thật tươi đẹp, vì cho đến khi mất, khuôn mặt bà, những ngón tay bà, và dáng dấp bà vẫn khoan thai, dịu dàng, pha một chút quý phái. Nhưng tất cả những bí ẩn đó đã được bà mang xuống mồ một cách trầm lặng.

Một buổi chiều tháng 5, tại một tiệm phở Việt Nam, một mẹ già đứng tần ngần bên cánh cửa. Khi được mời vào, mẹ cho biết mẹ không đói, nhưng chỉ muốn đứng nhìn những khuôn mặt vui vẻ, để nhớ đến con mình, đứa con đã bỏ bà đi tiểu bang khác, để mẹ ở với đứa cháu là một tên nghiện rượu, đã hăm doạ đánh mẹ hoài. Hắn đã lấy hết tiền trợ cấp của mẹ, lại còn xua đuổi mẹ như cùi hủi. Hôm nay, hắn lái xe chở mẹ đến đầu chợ, đẩy mẹ xuống và bảo mẹ cút đi! Mẹ biết đi đâu bây giờ?

Trong một căn phòng điều trị tại bệnh viện Ung Thư, một bà cụ đã gào lên nức nở khi người bệnh nằm bên được chuyển đi nơi khác. “Bà ơi! Bà bỏ tôi sao? Bà ơi! Đừng đi! Đừng bỏ tôi nằm một mình! Tôi sợ lắm, bà ơi!” Những tiếng kêu, tiếng khóc nấc nghẹn đó lặp đi lặp lại làm người bệnh sắp chuyển đi cũng khóc theo. Người y tá cũng khóc lặng lẽ. Anh con trai của người sắp đi xa, không cầm được giọt lệ, cũng đứng nức nở. Cả căn phòng như ngập nước mắt. Mầu trắng của những tấm trải giường, mầu trắng của tấm áo cánh của bà cụ như những tấm khăn liệm, tự nhiên sáng lên, buồn bã. Bà cụ nằm lại đó đã không có đứa con nào ở gần đây. Chúng đã mỗi đứa mỗi nơi, như những cánh chim không bao giờ trở lại.

Trên đại lộ Bolsa, thỉnh thoảng người ta thấy một bà mẹ già, đẩy chiếc xe chợ trên chứa đầy đồ linh tinh. Mẹ chỉ có một cái nón lá để che nắng che mưa. Khuôn mặt khắc khổ của mẹ như những đường rãnh bùn lầy nước đọng, đâu đó ở chợ Cầu Ông Lãnh, Thủ Thiêm, gần bến Ninh Kiều, Bắc Mỹ Thuận hay ở gần cầu Tràng Tiền, Chợ Đông Ba? Mẹ đi về đâu, hỡi Mẹ? Những đứa con của mẹ giờ chắc đang vui vầy trong nhà hàng nào đó, đón mừng ngày Lễ Mẹ, “Happy Mother Day!”
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Một viên thuốc an thần cũng mang họa trục xuất

Hà Ngọc Cư

Chơi ma túy là chơi với lửa. Hai vụ án dưới đây là hai tấm gương tầy liếp cho những thường trú nhân thích mạo hiểm với ma túy.

Trường hợp thứ nhất là vụ án một cựu quân nhân tham chiến ở Việt Nam chưa có quôc tịch Mỹ ở Oklahoma, bị bắt vì buôn cần sa (marijuana). Luật sư của anh đã khuyên anh nhận tội để được giảm khinh và trấn an rằng cho dù nhận tội anh cũng không bị trục xuất vì anh sẽ chỉ bị một khinh tội (misdeamor). Kết quả là mặc dầu đã sống ở Mỹ trên 40 năm, anh vẫn nhận được lệnh trục xuất vì buôn bán ma túy là tội bị trục xuất (deportable crime) vô phương cứu chữa.
Image
Thuốc an thần Xanax. (Hình:thegooddrugsguide.com)

Vụ án thứ hai là một thường trú nhân gốc Mễ Tây Cơ, Carachuri-Rosendo, sinh tại Mexico, theo bố mẹ tới Texas khi mới 3 tuổi và sống ở Mỹ từ năm 1993. Rsendo hai lần phạm tội về ma túy. Lần thứ nhất anh bị bắt khi trong người có 2 ounces cần sa và bịt kết án 20 ngày tù. Lần thứ hai là mang trong người một viên thuốc an thần Xanax, một loại thuốc bị kiểm soát (controlled substance). Cả hai vụ đều là “misdeamor” nhưng hai misdeamor là bị tính thành trọng tội (felony) và felony là tội bị trục xuất.

Cả hai vụ được kháng cáo lên Tối Cao Pháp Viện. Tối Cao Pháp Viện với số phiếu 7-2 ra lệnh ngưng trục xuất cả hai đương sự vì cho rằng quyền hiến định của họ đã bị vi phạm nên phải được xử lại. Thẩm phán John Paul Steven nói rằng “Hiến pháp Hoa Kỳ quy định rằng số phận của bị cáo không thể đặt vào tay của một luật sư thiếu khả năng.” Trong khi đó hai thẩm phán Antonin Scala và Clarence Thomas bất đồng ý kiến với John Steven vì theo họ Hiến pháp không hề buộc một luật sư hình sự phải cố vấn cho thân chủ của mình về các vấn đề di trú.

Hai bị cáo trên sẽ được đưa trở lại tòa án địa phương để xử lại. Nếu tòa án ở các nơi này kết luận rằng tội của họ là felony thì họ sẽ bị trục xuất.

Can tội gì sẽ bị trục xuất? Dĩ nhiên người có quốc tịch thì có can tội tày trời cũng không bị trục xuất vì đã là công dân Hoa Kỳ thì làm sao mà bị trục xuất khỏi đất nước mình được.

Điều khoản 237(a) của luật Di Trú quy định 5 loại tội phạm sau là tội có thể bị trục xuất (deportable crime)

1. TỘI LIÊN QUAN ĐẾN BẠI HOẠI ĐẠO ĐỨC (Crimes involving moral turpitude, viết tắt là CIMT)

Đó là các tội về sử dụng bạo lực tấn công người khác, gian lận, trộm cắp , đồi phong bại tục. Đấy mới chỉ là các khái niệm chung chung còn muốn tìm một định nghĩa chính xác về CIMT thì chỉ còn nước “bắc thang lên hỏi ông trời” hoặc tùy theo tư kiến của mỗi ông tòa di trú. Khi can phạm bị kêu án thì chẳng có ông tòa nào bảo bị can là anh “đã tội phạm CIMT” mà chỉ ghi vào cáo trạng là tội gì, felony hay misdeamor.

2. TỘI LIÊN QUAN ĐẾN CÁC CHẤT BỊ KIỂM SOÁT (Controlled substances)

Vi phạm luật lệ về các dược liệu bị kiểm soát ban hành bởi tiểu bang, liên bang hay nước ngoài đều có thể bị trục xuất (trừ trường hợp sở hữu 30 gram hoặc ít hơn 30 gram cần sa để sử dụng ) cho dù bị kết án là misdeamor hay felony. Buôn bán hay tàng trữ các dược liệu bị kiểm soát thì bất kể nhiều ít cũng có thể bị trục xuất. Riêng tại Texas dù chỉ bị bắt trong người có dược liệu bị kiểm soát , bất kể nhiều ít, để xài hay buôn bán cũng can tội felony.

3. TỘI LIÊN QUAN ĐẾN SÚNG ĐẠN

Can tội mua bán trao đổi, sử dụng, sở hữu, bất kể vũ khí hay bộ phận rời của vũ khí là có thể bị trục xuất.

4. TỘI BẠO HÀNH TRONG GIA ĐÌNH (domestic violence)

Dùng bạo lực đối với người trong gia đình là tội có thể bị trục xuất.

5.TỘI HÌNH NGHIÊM TRỌNG (Aggravated Felonies)

Can tội hình nghiêm trọng là bị trục xuất. Quan niệm về Aggravated Felonies rất bao quát. Càng ngày danh sách “aggravated felony” càng được kéo dài thêm. Sau khi luật cải tổ di trú ban hành năm 1996 thì can tội aggravated felony bất kể ở thời gian xa xôi nào cũng có thể bị lôi ra tòa di trú và có thể bị trục xuất.

Có người can tội “quan hệ tình dục” với một vị thành niên trước năm 1996, vào lúc đó tội này không bị xếp vào loại “aggravated felony” nên không bị trục xuất. Hai mươi năm sau anh ta bị lôi ra tòa di trú và bị trục xuất vì bây giờ tội này là tội bị trục xuất.

Xin nhớ tòa di trú không có nhiệm vụ tái thẩm các bản án của tòa hình sự mà chỉ phán xét tội đó có thuộc loại bị trục xuất không cho dù bản án của tòa hình sự đúng hay sai.

Đừng bao giờ nghĩ rằng không bị ngồi tù là sẽ không bị trục xuất. Có án (conviction) là có thể bị trục xuất, kể cả DAG (deferred adjudication guilt). Một khi đã bị hầu tòa về tội có thể bị trục xuất thì hy vọng thoát trục xuất rất mong manh. Có hai trường hợp tòa di trú hoãn hoặc tha trục xuất. Trường hợp thứ nhất là nếu bị trục xuất thì đương sự sẽ bị chính quyền bản xứ hành quyết hoặc trả thù. Ngày nay đối người Việt thì đặc ân này rất khó được tòa di trú cứu xét vì Việt Nam và Hoa Kỳ đã “thân thiện” với nhau và nhất là đã có nhiều người có “nợ máu” với CSVN về nước làm ăn vui vẻ với kẻ “cựu thù”

Tốt nhất là đừng vi phạm luật pháp. Nếu tay chót nhúng chàm thì hãy “chạy thầy chạy thuốc” để được trắng án (dismissed)

Nếu bị tòa di trú tống trát hầu tòa thì hãy tìm luật sư chuyên về trục xuất (deportation attorney). Muốn có danh sách các luật sư này thì lên Internet.

Trước đây thường trú nhân gốc Việt không bị trả về Việt Nam vì VN không nhận. Nay Hoa Kỳ và Việt Nam đã có thỏa ước về hồi hương người Việt bị trục xuất nên hàng ngàn người Việt Nam đang đối diện với “thảm kịch hồi hương”. Tuy vậy Việt Nam chỉ nhận những người bị trục xuất nếu định cư tại Mỹ sau ngày 12/7/1995, ngày Việt Nam và Hoa Kỳ tái lập bang giao..

Hiện có rất nhiều người Việt nhận được lệnh trục xuất nhưng không bị trả về VN vì định cư ở Mỹ trước ngày 12/7/1995. Ta chưa có con số chính thức về số người Việt bị trả về Việt Nam.

Xin nhắc nhở mấy điều sau:

- Nếu chưa có quốc tịch Mỹ mà đã có án, bất kể nặng nhẹ, thì chớ ra khỏi nước Mỹ vì khi trở lại Mỹ có thể bị nhân viên của CBP (Customs and Border Protection) giải giao cho Sở Di Trú điều tra để đưa ra tòa di trú.

- Hễ có án, kể cả tội rất nhẹ, cũng phải chờ 5 năm sau mới được nộp đơn vào quốc tịch. Trong trường hợp này nên nhờ một luật sư di trú giúp đỡ.

- Hãy nộp đơn nhập tịch ngay khi đủ điều kiện, trước là an toàn cho bản thân mình, sau là bảo đảm an toàn cho con vì ngay sau khi bố/mẹ tuyên thệ nhập tịch Mỹ là các con dưới 18 tuổi “tự động” thành công dân Hoa Kỳ mặc dù chưa có bằng quốc tịch hay passport Mỹ.


(*) Về tác giả: GS.Hà Ngọc Cư, Giám đốc điều hành cơ quan CIS chuyên về di dân và tị nạn, văn phòng tại Houston, Texas
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Image

Ý kiến của Người Việt Hải Ngoại
về bức thư của Bộ Ngoại Giao Việt Cộng gửi Dân biểu Hoa Kỳ CAO QUANG ÁNH.


TIẾP THEO DÂN BIỂU CAO QUANG ÁNH,
GỬI THƯ TRẢ LỜI Thứ trưởng ngoại giaoVC Nguyễn Thanh Sơn,
là MỘT BÀI VIẾT ĐANH THÉP sau đây:


Đối Thoại

Mỹ Linh
35 năm qua, đến mãi hôm nay, chúng ta mới nhận được lá thư của Thứ trưởng Ngoại giao VC Nguyễn Thanh Sơn, thư được gởi trực tiếp đến dân biểu Hoa Kỳ Cao Quang Ánh, nhưng coi như một cách gián tiếp đã gởi đến với Cộng đồng người Việt hải ngoại, gọi là mong muốn "đối thoại".
35 năm qua, các ông đại diện nhà cầm quyền CHXHCNVN đi ra nước ngoài, bị chính đồng bào của mình rượt chạy như những con chuột cống, để luôn luôn phải đi vào cửa hậu.

Đây là tình trạng của 35 năm trống đánh xuôi, kèn thổi ngược. Thử hỏi, chính đồng bào của các ông mà ghét các ông như thế, làm sao các ông gặt hái những thành qủa tốt đẹp về ngoại giao ? Chắc các ông chỉ nhận được cái nhìn khinh bỉ từ các chính quyền sở tại mà thôi. 35 năm qua, các ông đã không đủ can đảm nhìn nhận đây là một vấn nạn của đất nước. Không một ông cầm quyền nào dám mở một hội trường để đối thoại với chính đồng bào của mình. Bản chất của các ông chỉ là những tên hèn, sợ chính đồng bào ruột thịt của mình, hay sợ chính nước Mỹ này không bảo đảm được sinh mạng của mấy ông ư ?

35 năm, câu chuyện này đáng lý ra phải được giải quyết từ lâu lắm rồi, không phải đợi đến giờ này, các ông mới bắt đầu lên tiếng, tuy rằng có muộn đấy, nhưng có vẫn còn hơn không. Đọc xong lá thư của quý ông, người Việt hải ngoại chắc không tránh khỏi sự ngậm ngùi suy nghĩ. Một người làm tới chức thứ trưởng bộ ngoại giao lại còn mơ màng thốt lên: "Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài dự kiến tiến hành chuyến đi tới Mỹ và Canada với mục đích gặp gỡ và tiếp xúc với Cộng đồng người Việt Nam, trong đó có cả những cá nhân tổ chức còn thiếu thông tin đúng đắn về Việt Nam và vẫn còn mang tư tưởng hận thù cùng những lời nói, việc làm chống lại Nhà nước Việt Nam." Chẳng lẽ ông không biết việc trong nước có 700 cơ sở truyền thông, phải đi theo lề bên phải như Bộ Trưởng Bộ Thông Tin Lê Doãn Hợp đã từng lên tiếng. "Thông tin đúng đắn" là thông tin của sự thật, thông tin đi theo lề bên phải, không phải là "đúng đắn", nó không phải là sự thật. Người dân đã ví 700 cơ sở này, chỉ có duy nhất một tổng biên tập là Đảng Cộng Sản Việt Nam, ông có biết điều đó không ?

Mấy ông kiểm soát thông tin, bắt phải đi theo lề phải, đó là loại tin tức một chiều, viết theo đơn đặt hàng của Đảng CSVN. Đây là điều mà toàn dân Việt Nam đau khổ nhất, bị các ông lừa bịp trong suốt cuộc đời của họ vì đã đọc và đã nghe những cơ quan truyền thông của các ông. Nó khổ đến nỗi, lúc Đảng đã cho phép cứ nói thẳng "tàu Trung Quốc", nhưng cái tinh thần sợ sệt của một số nhà báo vẫn còn dùng chữ "tàu lạ", hay "tàu nước ngoài". Bấy nhiêu đó thôi, cũng đủ chứng minh tại Việt Nam hoàn toàn không có tự do báo chí. Lẽ ra làm thứ trưởng như ông, phải biết điều đó chứ !? Không có tự do báo chí làm sao có những tin tức đúng đắn về VN được. Người thiếu tin tức đúng đắn là toàn dân Việt Nam, chứ không phải người Việt hải ngoại. Ở hải ngoại, chúng tôi hoàn toàn có tự do báo chí, nhưng không phải muốn viết gì thì viết. Tác giả viết bậy bạ sẽ bị chế tài bởi những vụ thưa kiện, hoặc sẽ không còn uy tín nữa nếu ngụy tạo, hoặc dối trá. Chủ nhiệm tờ báo hay cơ sở truyền thông cũng phải chịu trách nhiệm liên đới, chứ không phải muốn đăng gì thì đăng. Người Việt hải ngoại, muốn có thông tin trong nước, cứ vào các báo online như Vietnamnet, Quân Đội Nhân Dân, Công An, Nhân Dân, Người Lao Động... thiếu gì, hàng mấy chục tờ, nằm trong www.saigonbao. com đấy, trang này rất phổ thông, có từ trên chục năm, ai cũng biết.

"...và vẫn còn mang tư tưởng hận thù cùng những lời nói, việc làm chống lại Nhà nước Việt Nam.", thì trước hết phải xét, toàn dân có bầu ra cái gọi là Nhà nước Việt Nam ? Có ai bầu ra Nguyễn Tấn Dũng làm thủ tướng ? Có ai bầu ra Nguyễn Minh Triết làm chủ tịch nước ? Chẳng một người dân nào đã bầu Dũng và Triết, chỉ biết 2 người này Đảng cử ra, rồi Quốc Hội bù nhìn bỏ phiếu. Gọi QH bù nhìn cũng đúng thôi, vì 99% là người của Đảng được đề cử ra, qua Mặt Trận Tổ Quốc, chỉ vài người ngoài Đảng cho có vẻ màu mè dân chủ, làm kiểng. Người dân chỉ biết bỏ phiếu, còn có vụ bỏ phiếu giùm nữa, mà chẳng thấy mặt, hay biết mặt người đại diện cho mình, vì chẳng có tranh cử. Đây đúng là một cuộc bầu cử bịp bợm mà linh mục Nguyễn Văn Lý đã kêu gọi tẩy chay vào năm 2007. Một Nhà nước không đại diện cho dân, lẽ dĩ nhiên bị toàn dân chống đối là đúng rồi !

Trong nước, người dân sợ họng súng AK, dùi cui, roi điện, ...của các ông, nên không dám biểu tình phản đối các ông. Còn hải ngoại, chẳng ai sợ các ông, người ta khinh các ông, vì các ông chẳng phải là người đại diện cho đất nước Việt Nam. Mấy ông phải hiểu rằng, ở hải ngoại, cái gì cũng rộng lớn, nhất là ở Mỹ, đường phố xa xôi, muốn đi đến địa điểm biểu tình chống các ông, đâu phải là chuyện dễ dàng. Người nào cũng phải lo công ăn việc làm, muốn xin phép nghỉ làm cũng không dễ, nhưng với tấm lòng quyết tâm, son sắc, với quê hương đất nước VN yêu dấu, họ phải biểu tình chống các ông cho bằng được, mới không thẹn lòng với núi sông.
Kế đến nói về "tư tưởng hận thù", 35 năm rồi, còn hận thù cái gì nữa, nói đến hận thù, phải nói đến trả thù.

Chúng ta trả thù ai bây giờ ? Nói đơn giản, là hận thù chung một chế độ, vì chế độ này không đại diện cho dân. Nếu các ông tổ chức bầu cử tự do, chấp nhận chính trị đa đảng, bảo đảm không người Việt hải ngoại nào dám biểu tình chống đối các ông. Vì làm như thế chính là chống lại đất nước Việt Nam, được xem như phản bội tổ quốc. Bảo đảm không ai ngu si, dại khờ chống lại quê hương của mình. Hiện tại, người ta chống, là chống ĐCSVN độc tài, chống một Nhà nước không do dân bầu ra, thế thôi. Người ta thường nói "Tôi có thể tha thứ tội ác của anh, nhưng tôi không thể quên", tiếng Mỹ có câu: "I can forgive, but I cannot forget". Có thể số đông người Việt hải ngoại mang tâm trạng này. Chính vì tha thứ, nên hàng trăm ngàn, có thể trên triệu người Việt đã về thăm lại quê hương, nhưng bảo đảm họ không quên những tội ác của CSVN đã gây ra đối với gia đình họ. Hàng triệu người tù cải tạo, với trên 500 ngàn người chết trên biển đông, làm sao quên được ! Bởi vậy, khi xảy ra vụ Trần Trường treo cờ máu và hình Hồ Chí Minh, 53 ngày đêm đồng bào biểu tình chống đối, có lúc con số lên đến kỷ lục, 50 ngàn người !

Nếu nói về cá nhân, Linh chỉ hận thù bè lũ đang cầm quyền Dũng - Mạnh - Triết - Trọng mà thôi. Nếu cho Linh có điều kiện gặp mặt bọn này, chắc chắn Linh sẽ dạy cho chúng một bài học, về những tội ác mà chúng đã và đang gây ra đối với dân tộc Việt Nam. Có thù có hận chăng , là những tên đầu sỏ VC như nằm trong Bộ Chính Trị, tỉnh ủy, huyện ủy, nói chung là các cấp chỉ huy CSVN. Còn lại nhân dân, gần như tất cả chỉ là những nạn nhân của chủ nghĩa cộng sản. Có người cho rằng, 3 triệu đảng viên ĐCSVN đều có tội, thằng làm lớn tội lớn, thằng làm nhỏ tội nhỏ. Sự suy nghĩ này rất chủ quan, sống trong một xã hội bưng bít thông tin, sống chung đụng với một lũ bịp bợm, trong môi trường bị đầu độc, nhồi sọ từ nhỏ tới lớn, chẳng mấy ai thoát khỏi ảnh hưởng của VC. Nên việc gia nhập đảng viên ĐCSVN xét trở nên bình thường trong đời sống. Tội lỗi này không thuộc về họ, mà thuộc về xã hội. Có ai bảo đảm rằng, con mình sinh ra trong nước CHXHCNVN, sẽ không bao giờ trở thành đảng viên của ĐCSVN ? và nếu chẳng may, cha mẹ của đứa con đó, không có thời giờ để dạy dỗ con cái. Và nói ngay, nhiều khi chẳng dám dạy nó chống lại chủ nghĩa CS, vì có thể bị tù tội như chơi. Nhiều khi lỡ bị sinh ra trong một gia đình cộng sản, người con phải làm sao đây ? Biết gì mà chống lại cha mẹ của mình ?

Còn đối với những tên cộng sản như các ông thì sao ? Các ông có "hận thù" đồng bào hải ngoại hay người miền Nam ? Nếu nói không hận thù, tại sao tên Trần Đức Lương đã dùng ngoại giao để ép buộc chính quyền Mã Lai và Indonesia phải đập 2 Bia Tưởng Niệm đồng bào vượt biển ? Không hận thù, thì tại sao về Việt Nam phải xin Visa (chếu khán nập cảnh), trong khi đó bọn Tàu Cộng qua biên giới chẳng cần phải xin Visa ? Không hận thù nguời Nam, tại sao ngay tại phi trường Tân Sơn Nhất, chỉ thấy toàn là dân người miền Bắc ? Không hận thù, tại sao đến giờ phút này, còn tổ chức trọng thể cái gọi là Ngày Chiến Thắng 30 Tháng 4? Chỉ bằng đó câu hỏi, các ông đã cứng miệng rồi.

35 năm qua, sự thật đã được phơi bày, đồng bào miền Bắc cần được giải phóng khỏi ách cộng sản nghèo đói, chứ không phải đồng bào miền Nam vốn đã sung túc. 35 năm qua, chiến thắng gì mà hàng triệu người phải vào tù cải tạo (không án, không biết ngày về); chiến thắng gì, mà có trên 2 triệu người phải vượt biển Đông tìm tự do ; chiến thắng gì khi có 500 ngàn người dân Việt phải chết ở biển Đông; chiến thắng gì khi cha xa con, vợ xa chồng, anh em xa nhau; chiến thắng gì, sau 35 năm đã để lại một nước Việt Nam phân hóa, một xã hội suy đồi về đạo đức, con dân Việt bị đem đi bán trên toàn thế giới !

Các ông đã và vẫn hận thù đến thế, ấy vậy mà đòi đối thoại, thì đối thoại cái gì ? Miệng thì nói hòa hợp hòa giải dân tộc, trong khi đó lại đi tổ chức Ngày Chiến Thắng 30 Tháng 4. Nhục nhã thay, một chế độ tiếp tục phỉnh gạt người dân !
Muốn đối thoại, các ông nên đối thoại với đồng bào của các ông trong nước trước tiên nhất,
hãy đối thoại với linh mục Nguyễn Văn Lý, hãy đối thoại với chị Lê Thị Công Nhân, hoặc anh Lê Công Định, anh Nguyễn Tiến Trung, anh Trần Huỳnh Duy Thức, anh Lê Thăng Long, anh Trần Anh Kim, anh Nguyễn Vân Đài, chị Trần Khải Thanh Thủy, chị Nguyễn Thu Trâm, chị Phạm Thanh Nghiên... đấy, vì tất cả những nhà dân chủ này là đồng bào hải ngoại đều qúy mến. Họ có thể xem như đại diện cho đồng bào hải ngoại vậy.

Thật là nhục nhã thay, một chế độ tiếp tục lừa gạt toàn dân qua những chiêu bài gọi là hòa hợp hòa giải dân tộc, trong khi vẫn tổ chức cái gọi là ăn mừng chiến thắng 30 tháng 4. Các ông nên suy nghĩ lại, từ bỏ cái lễ quá trơ trẽn này ! Đấy cũng là một bước tiến trong tiến trình gọi là "hòa giải" nếu có. Ngày nào các ông còn tổ chức ăn mừng cái gọi là 30 tháng 4, thì đừng bao giờ nói đến hòa hợp hòa giải, các ông chỉ là đồ giả nhân giả nghĩa mà thôi !

Chỉ mới hôm qua thôi, theo tin chính thức được truyền đi từ một giáo dân ở Giáo Xứ Cồn Dầu trong nước, được nghe qua Paltalk, Diễn Đàn Chính Trị Tranh Luận Dân Chủ, hơn 100 giáo dân bị thương, vài chục người bị thương nặng, như chấn thương sọ não, 67 người bị bắt. Lệnh của bí thư thành ủy Đà Nẳng, Nguyễn Bá Thanh ban ra, không cho nhà thương nào được nhận chứa những nạn nhân bị đánh, nhiều bàn thờ Đức Mẹ đều bị phá hủy. Ngoài ra, tên VC Thanh còn tuyên bố, nếu nó bắt được ai truyền tin ra ngoài, nó sẽ tìm cách thủ tiêu. (http://www.ustream. tv/recorded/ 6672014). Chỉ có chuyện cỏn con giành đất nghĩa trang của đồng bào, mà các ông đã kéo vài trăm tên công an, cảnh sát 113, bọn xã hội đen, chó nghiệp vụ, roi điện, dùi cui... Thử hỏi, các ông đối xử với dân như thế này, làm sao hòa hợp hòa giải với người Việt hải ngoại được ?

Ngày 5 tháng 5 năm 2010
Mỹ Linh
Mylinhng@aol. com
http://mylinhng. multiply. com
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

BỨC HÌNH: TÂM SỰ CỦA MỘT CỰU SINH VIÊN DU HỌC Ở TÂN TÂY LAN

Image
Sinh Viên VNCH du học tại Paris Biểu tình 27/4/1975

Bức hình ! Chỉ là một bức hình đen trắng ! Do người bạn bên Âu châu gởi qua cho xem. Nhưng nó đã đeo đuổi trong đầu óc tôi từ sáng đến giờ.

Bức hình chụp cách đây đã lâu lắm rồi. Ba mươi lăm năm về trước. Mà lại không phải là nguyên bản, chỉ “ …được một anh bạn tốt nghiệp KTS tại Pháp trước 75 scan lại từ một tờ báo Pháp mà anh đã cất giữ từ ngày đó, mãi đến hôm nay P.. mới tìm thấy lại xin chia sẻ cùng các ACE …. xa gần.”

Nhưng anh bạn ắt hẳn đã vô cùng trân quý tấm ảnh vì trông vẫn còn rất rõ. Rõ từng hàng chữ trắng và to trên biểu ngữ màu đen “HONNEUR À NOS SOLDATS MORTS POUR LA LIBERTE’”, hay “ GRANDE JOURNÉE DE DEUIL” đã đành. Mà còn rõ nét mặt của từng thanh niên, nam nữ trong đoàn biểu tình hôm đó.

U buồn ! Hoang mang ! Uất hận ! Nhưng không kém phần cương quyết. Nói lên cho người dân Ba Lê, và cho cả thế giới, biết lập trường chính trị của các bạn không hề suy xuyển.

Nhìn những khuôn mặt của các bạn sinh viên Quốc gia trên dưới đôi mươi ở Pháp thời bấy giờ, bỗng dưng tôi trông thấy lại chính mình và những người bạn của mình 35 năm về trước ở Christchurch, Tân Tây Lan. Ừ phải rồi ! BST cũng với cặp kính cận như anh ôm bình nhang đi đầu. TĐN cũng có dáng cao ròm như anh đi phía bên trái. Chị BC cũng có mái tóc dài và thường mặc quần jeans như cô bạn mang lá Đại kỳ VNCH.

Chúng tôi cũng đã trãi qua những ngày đêm khắc khoải của tháng Tư năm đó. Bỏ học. Bỏ giảng đường. Ngày thì ôm cái radio đón nghe tin tức. Tối đến, xem trên TiVi hình ảnh của đồng bào lánh nạn từ Cao nguyên xuống miền Trung, rồi dần dần phải di tản về Xuân Lộc, Long Khánh.

Trong phòng khách của BST có 1 bản đồ Việt Nam thật lớn treo trên vách. Trên đó anh em cắm những cây kim gút có đầu màu vàng lên những địa danh bên ta còn giữ được, và những cây kim màu đỏ đánh dấu những nơi đã rơi vào tay giặc.

Để từ giữa tháng Ba, tim mỗi ngày một thắt lại, lòng mỗi ngày một chùn xuống. Vì kim màu đỏ càng lúc càng lấn át những cây kim màu vàng.

Một tuần lễ của Xuân Lộc kiên cường là một tuần lễ của niềm hy vọng cuối cùng đối với chúng tôi, như một cái phao cho người rơi xuống biển giữa sóng trùng vây bủa

Cái khổ là nguy hiểm cận kề nhưng không làm gì được. Ai cũng cố gắng gọi điện thoại về bên nhà để hỏi thăm tin tức của gia đình. Nhưng thời đó đã làm gì có direct link như bây giờ. Muốn gọi ra nước ngoài phải qua 2 Tổng Đài, một ở NZ và một ở VN, đó là chưa kể đến chuyện phải làm cái hẹn trước.

Bất lực ! Tuyệt vọng ! Đến mức nảy sinh những ý định ngông cuồng. Không phải chỉ từ chúng tôi. Ngay cả một anh bạn Tân Tây Lan, vốn đã từng sang dạy Anh văn ở đại học Văn Khoa Sàigòn vào năm 73 và có 1 cô bạn gái bên đó. Một đêm, anh nói với chúng tôi “Tao sẽ sang Thái Lan, hijack một chiếc máy bay, hẹn với L. ra Tân Sơn Nhất ngồi chờ, ngày đó, giờ đó, tao sẽ đáp xuống và bốc cô nàng đi!”.

Nghe sao giống kiểu người hùng Lý Tống quá, phải không ?

Nhưng bực bội nhứt là mỗi đêm phải nghe những tiếng rè rè từ máy phát thanh của đám “phản thùng” ở căn flat kế bên. Chúng cố gắng bắt các đài Hà Nội, đài Bắc Kinh trên các làn sóng ngắn để nghe “những bản tin chiến thắng” (sic !) và cố tình vặn âm thanh thật lớn để lọt vào tai chúng tôi. Hơn một lần, đã suýt có ẩu đả xảy ra cũng vì chuyện này.

Thật sự, tôi cũng không ngờ đám “30 tháng 4” đó trở cờ một cách nhanh chóng như vậy. Mới 1, 2 tháng trước, chúng còn khúm núm trước các vị làm việc trong Tòa Đại sứ VNCH để xin được gia hạn ở lại học tiếp. Thế mà bây giờ, Sàigòn chưa mất mà chúng đã vuốt mặt, in ra những tờ báo bằng roneo để phỉ báng những người này bằng những ngôn từ xảo trá, hạ tiện nhứt. Trí thức gì lạ vậy ? Tự trọng của chúng ở đâu ? Sĩ diện của chúng có còn hay không ? Không cần phải nói thêm là chúng tôi tuyệt giao với bọn đó kể từ ngày lằn ranh đã rõ rệt phân chia.

… Hôm nay, nhận được tấm hình, tự dưng nhìn thấy lại mình, nhìn thấy lại bạn bè của mình 35 năm về trước. Ai nấy tóc cũng đã hai màu muối tiêu. Có người đã có cháu nội, ngoại.

Nhưng các bạn vẫn chưa ngừng nghỉ. Các anh LQL, NH, NVB vẫn tiếp tục lên tiếng về Hoàng Sa, Trường Sa với sự tiếp tay của ĐGT. Anh PPL là tiếng nói hàng đầu về các vấn đề thuộc khu vực sông Cửu Long. Và xin đừng chọc giận chị DVT với mấy chuyện “hòa hợp, hòa giải".

Tôi cảm ơn các anh, các chị, các bạn. Nhưng tôi nghĩ các bạn tôi, cũng như tôi, với tấm hình mang đến những ký ức năm xưa, tất cả đều thầm cảm tạ hồn thiêng sông núi đã hướng dẫn chúng tôi đi đúng theo con đường của chính nghĩa Quốc gia. Đi theo anh Trần văn Bá. Đi cùng anh Phan văn Hưng, chị Nam Dao. Và nhiều anh chị em khác nữa !

Hôm trước. Hôm nay. Và mãi mãi !!!

HƯNG VIỆT (Brisbane)
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Chuyện Một Chiếc Cầu

Trần Việt Trình

Năm nay, để đánh dấu 35 năm “Ngày cưỡng chiếm miền Nam” sáng ngày 1 tháng 5, lần đầu tiên “Lễ hội thống nhất non sông” đã được nguỵ quyền CSVN tổ chức trọng thể với quy mô quốc gia ở cầu Hiền Lương, sông Bến Hải, nơi chứng kiến nỗi đau chia cắt của đất nước và cũng là nơi chịu hậu quả nặng nề và tàn khốc trong chiến tranh.

Cầu Hiền Lương bắt qua sông Bến Hải, tại Hiền Lương, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị. Hiệp định Genève ngày 20 tháng 7 năm 1954 quy định đây là Giới tuyến quân sự tạm thời, là đường biên chia cắt trong thời gian hai năm chờ cuộc Tổng tuyển cử để thống nhất nước Việt Nam được quy định vào tháng 7 năm 1956. Trong chiến tranh, nó được chọn làm ranh giới chia cắt đất nước. Còn ngày nay nó đã trở thành biểu tượng của nỗi đau chia cắt trong suốt 21 năm, từ năm 1954 đến năm 1975. Cầu Hiền Lương ở cây số 735 trên Quốc lộ 1, nơi có vĩ tuyến 17 đi qua. Lúc được chọn làm ranh giới chia cắt đất nước, cầu Hiền Lương được sơn hai màu khác nhau để phân biệt hai miền Nam Bắc. Màu vàng cho miền Bắc và màu đỏ cho miền Nam. Đường ranh phân chia Nam Bắc trên cầu là một vạch sơn trắng 10cm.

Con sông Bến Hải dọc vĩ tuyến 17 này có chiều dài chừng 100 m, nơi rộng nhất khoảng 200m, nơi hẹp nhất khoảng 20 đến 30m. Ngày xưa, đoạn sông cầu Hiền Lương rộng 100m này chỉ có bến phà. Năm 1928, dân Vĩnh Linh được huy động để làm cầu bằng gỗ rộng 2m dùng cho khách bộ hành. Năm 1931, người Pháp sửa chữa lại nhưng xe cộ muốn qua sông vẫn phải đi bằng phà. Năm 1943, cầu được xây lại để xe cơ giới loại nhỏ có thể qua được. Năm 1950, do nhu cầu quân sự, Pháp cho xây thành cầu bê tông cốt thép dài 162m, rộng 3.6m, và có trọng tải 10 tấn. Năm 1952 Pháp lại cho sửa chữa để nâng cấp cầu lên trọng tải 18 tấn. Cầu này tồn tại được 15 năm, từ năm 1952 đến năm 1967 thì bị chiến tranh tàn phá hư hỏng hoàn toàn. Từ năm 1972 đến 1974, công binh VNCH cho bắt và sử dụng cầu phao dã chiến cách cầu cũ 20m về phía tây. Đến năm 1974, cầu được xây dựng lại.

Cũng tại nơi đây, chiếc cầu vừa HIỀN vừa LƯƠNG thiện này đã chứng kiến những trận “chiến tranh chính trị” quyết liệt về nội dung cũng như về hình thức tuyên truyền giữa 2 chính quyền Nam Bắc.

Ngày ấy để tuyên truyền, CS Bắc Việt đã cho xây dựng một hệ thống loa phóng thanh gồm 5 dàn loa với chiều dài 1,500m ở bờ Bắc. Mỗi lần chính quyền miền Nam cho phát những bài tâm lý chiến qua bờ Bắc thì bờ Bắc lại lớn tiếng phát lại át tiếng nói của miền Nam. Vào đầu năm 1960, chính quyền TT Ngô Đình Diệm cho tăng cường những loại loa tối tân, công suất mỗi loa hàng trăm watt, vang xa hàng chục cây số. Dưới chế độ CS, tuyên truyền là chiến lược hàng đầu nên chính quyền bờ Bắc quyết không chịu thua. Chính quyền miền Bắc liền dùng chiến thuật “biển người” cố hữu áp đảo với một “biển loa” 20 cái ồn ào to họng cộng với 1 cái loa cơ động chủ lực có công suất 500W có đường kính vành loa rộng đến 1.7m và có tổng công suất là 7000W có thể vang xa hơn 10km qua bờ Nam. Đó là công suất âm thanh riêng tại khu vực cầu Hiền Lương. Tổng công suất giàn loa trên bờ Bắc Hiền Lương là 180,000W.

Hệ thống loa phóng thanh tuyên truyền của miền Bắc
Đó là cuộc chiến về âm thanh, cũng tại nơi đây, đã diễn ra những ngày tháng chọi nhau về cờ. Tính từ năm 1956 đến năm 1967, lực lượng giới tuyến của miền Bắc đã sử dụng đến 267 lá cờ lớn nhỏ đủ cỡ. Lá cờ to cao lớn nhất vĩ tuyến 17 của miền Bắc rộng đến 134m2, nặng 15kg, và cao 38,6m. Với bản chất gian xảo cố hữu, hàng ngày giới hữu trách miền Bắc cho kéo cờ lên sớm hơn và hạ cờ trễ hơn giờ quy định là từ 6 giờ 30 sáng đến 6 giờ 30 hầu mong dân bờ Nam chiếu cố đến lá cờ đỏ sao vàng. Cột cờ bị bom miền Nam đốn ngã nằm 1967. Để cột cờ và lá cờ đứng vững dưới bom đạn của miền Nam, miền Bắc đã phải “sinh Bắc tử Bắc” 13 mạng và hơn 50 bị thương.

Vẫn biết không có cuộc chiến tranh nào là không có kẻ thắng người thua! Vẫn biết không có cuộc chiến tranh nào là không có hy sinh mất mát và hận thù dai dẳng! Nhưng cuộc chiến hơn 20 năm của dân tộc VN không phải là cuộc chiến tranh giải phóng chống giặc ngoại xâm như CSVN vẫn thường lấp liếm, nguỵ biện và xảo quyệt tuyên truyền. Nếu nói đó là chiến thắng chung của dân tộc, nếu nói “Không có kẻ thắng người thua mà chỉ có dân tộc VN chiến thắng xâm lược Mỹ” thì tại sao vào được Sài Gòn chưa đầy một tháng những người cộng sản đã lừa đưa mấy trăm ngàn người thất trận nói là đi học tập, chỉ mang theo 10 đến 20 ngày lương thực rồi nhốt họ, rồi đày đoạ họ năm này qua năm khác, có người đến mười mấy năm và lắm người bỏ xác nơi rừng sâu nước độc.

Hơn thế nữa, cái mà CSVN gọi là “Một cuộc chiến tranh xâm lược phi lý và tàn bạo nhất” đó do ai khởi xướng? Nếu những người cộng sản không cương quyết “Xâm lăng miền Nam ” bằng mọi giá, không nhất định qui thiên hạ về một mối dưới quyền của họ thì có lẽ VN ngày nay vẫn còn hai miền Nam Bắc và như vậy đã không có hàng triệu người bỏ xác trên chiến trường. Nói Hoa Kỳ muốn tham chiến ở Việt Nam là không đúng. Miền Nam VN không bao giờ tính chuyện tham chiến với miền Bắc. Như vậy thì cuộc chiến xảy ra chỉ vì miền Bắc muốn thôn tính miền Nam. Cuộc chiến mà CSVN đã đổ xương máu và tinh hoa của hơn hai thế hệ người Việt, thực chất là một cuộc "nội chiến". Không có chuyện giải phóng ở đây, bởi miền Nam nào có muốn ai giải phóng! Cuộc chiến do miền Bắc khởi xướng đã trở thành một cuộc chiến tương tàn, một cuộc "cưỡng chiếm miền Nam" đúng nghĩa của nó, và thực tế Miền Nam là vựa lúa, thực phẩm tràn lan, do công lao cần cù của dân và chính phủ VNCH xây dựng. Miền Bắc CS chỉ biết đâm chém, đấu tố, dân sắp chết đói, nên phải tìm đủ mọi lý do xâm chiếm miền Nam, đây là phản ứng bình thường của loài súc vật. Dầu chế độ ngày nay hay đảng cộng sản có muốn khoác cho nó cái mặt nạ nào đi chăng nữa thì đó cũng vẫn là một cuộc chiến xâm lược. Sự hiện diện và đóng góp của quân đội Hoa Kỳ, cũng như sự hỗ trợ của Trung Cộng, Liên Xô, Cu Ba và Bắc Hàn ... đã chỉ làm cho cuộc xâm lăng của miền Bắc thêm nhiều cay đắng và chết chóc!

Truyền thông và báo chí trong nước những ngày gần đây rêu rao “Đoàn kết xây dựng đất nước, không phân biệt quá khứ”. Vẫn biết vết thương chiến tranh trong lòng người không thể ngày một ngày hai mà lành lặn được. Vẫn biết những khó khăn còn chồng chất do sự khác biệt ý thức hệ rất nặng nề giữa những người CS lãnh đạo trong nước cùng người Việt tỵ nạn ở hải ngoại. Vẫn biết những khó khăn còn chồng chất do sự khác biệt ý thức hệ rất nặng nề giữa những người CS lãnh đạo trong nước cùng người Việt tỵ nạn ở hải ngoại. NHƯNG, dù cho CSVN có thú nhận sự trã thù hèn hạ của họ đối với những người thất trận hầu mong được giải oan để đi đến “Xoá bỏ hận thù”, việc hòa giải cũng khó mà xảy ra bởi vết thương vẫn còn đó, lịch sử đã ghi, và 30 tháng 4 sẽ mãi mãi là ngày Quốc Hận cho toàn dân tộc.

35 năm đã trôi qua kể từ ngày non sông “thống nhất” và đất nước “hoà bình” !!!. Trong 35 năm qua, đất nước đã trải qua biết bao thăng trầm nhưng hệ lụy của chiến tranh vẫn còn đó. 35 năm, thời gian đủ dài để làm dịu những hận thù và xóa đi những vết thương lòng. Mùa xuân năm 1975, cầu Hiền Lương nối lại hai bờ Nam Bắc sông Bến Hải, đất nước đã nối liền một dải, nhưng buồn thay, lòng người với những vết thương hằn sâu rớm máu vẫn còn ly tán. Người Việt do sự trớ trêu của lịch sử bị chia thành hai chiến tuyến ngày xưa, ngày nay vẫn chưa tụ về một mối. Vẫn chưa thể tay trong tay, mắt nhìn mắt, lòng nối lòng cùng chung dựng xây Tổ Quốc!

Cầu Hiền Lương, sông Bến Hải, đã phơi mình đón nhận định mệnh oan nghiệt, để trở thành giới tuyến chia đôi 2 miền. Đường ranh phân chia trên cầu là một vạch sơn trắng rộng 10cm. Chỉ 10cm thôi vậy mà hơn 20 năm máu lửa chiến chinh, thịt nát xương tan, nồi da nấu thịt, và huynh đệ tương tàn. Dân tộc Việt nam đã phải vượt qua biết bao gian khó hy sinh mới có ngày non sông nối liền một dải. Phải mất đến 21 năm để hai miền Nam Bắc vượt qua lằn ranh 10 cm ấy! Giới tuyến không còn nữa, nhưng con sông ấy, cây cầu ấy, mãi mãi là chứng tích của một giai đoạn lịch sử đầy máu và nước mắt khi đất nước bị chia đôi, và những hệ luỵ oán thù còn kéo dài cho mãi đến ngày hôm nay!

Thời gian 35 năm đủ để mỗi người Việt, ngoài nước cũng như trong nước, lắng lòng, sáng suốt ngẫm lại những điều hay dở và đúng sai của chính mình! Thời gian 35 năm qua với biết bao thăng trầm người Việt ta đã trải qua. Không ít những bài học phải trả giá bằng máu xương, và tiền bạc, mất dân, mất đất, mất tài nguyên. Lẽ nào những bài học đắt giá đó chưa đủ để người cộng sản cầm quyền ở trong nước tỉnh ngộ mà nghiệm ra một chân lý: Không có quyền lợi nào thiêng liêng và cao cả hơn quyền lợi của dân tộc. Tổ Quốc là của mọi con dân nước Việt. Tổ Quốc không phải, không thể và không bao giờ là của riêng một giai cấp thống trị hay của riêng một đảng phái nào.

Trần Việt Trình
10 tháng 5 năm 2010
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Cái roi....

Gió Heo May
LTS: Là người đang sinh sống trong nước, tác giả đưa ra suy nghĩ của mình trước hiện tượng khá phổ biến trong sinh hoạt học đường bây giờ, ở đó.

Tháng tư gần qua …thấp thoáng đâu đó trên những con đường tôi qua mỗi ngày là cái nhìn tinh khôi của những chùm phượng đỏ đầu mùa . Mùa hè đến , mùa thi về …bắt đầu những ngày chạy nước rút …. Một số cô giáo trẻ trường tôi than vãn : “Gần thi rồi mà mấy đứa nhỏ nó lười quá cô ơi …lười mà còn lì nữa, nói riết không nghe … mà chẳng dám la mắng hay đánh roi nào ”. Tôi cười nói đùa …“Cứ đánh đi rồi …mai thành người nổi tiếng”. Dạo này cứ giở tờ báo nào ra là cũng ngán ngẩm vì những hiện tượng không vui của ngành .Có hôm mẹ tôi bảo: “Ðọc báo thấy học trò bây giờ sợ quá.Con nói với con út, đứa nào học thì học không học thì thôi, đừng la mắng, khẻ tay nó mà mang họa đấy…” .

Bạo lực bây giờ xảy ra khắp nơi : sân cỏ cũng có bạo lực , bến xe cũng có bạo lực, hội hè cũng có bạo lực , đường phố cũng có bạo lực …Nhưng bạo lực trong nhà trường lại là hiện tượng bất thường , một hiện tượng đau long, một nỗi nhức nhối của xã hội .Hiện tượng thầy đánh trò ,trò đánh trò …rồi đến cả trò đánh thầy, nghe cứ rát cả tai …nghe cứ đau cả lòng . Bao nhiêu năm hành nghề, chưa bao giờ tôi có cảm giác xót xa về nghề của mình như thế …

Có hôm vào một trang blog của một bạn trong friend list , thấy một bài viết có hình một cô giáo đang nhéo tai một học sinh , bên cạnh là những học sinh khác có lẽ đang chờ đến phiên mình … Một hình ảnh đúng là phản cảm, được chính các em chụp lại để làm bằng chứng tố giác cô giáo mình .Tim tôi cứ nghẹn lại . Tôi nhìn bức ảnh … Cô giáo chắc phải giận lắm , hành động của cô bây giờ là hành động của sự tức giận không kềm nén được thế kia mà… Tôi tự hỏi : Các em đã làm gì để đến nỗi cô giáo mình phải nổi cơn như thế …Chắc chắn không là chuyện bình thường … Ngay cả việc dám chụp lại hành động xử phạt của cô cũng cho thấy học sinh bây giờ khác hẳn cái thời những người cùng lứa với tôi đi học .

Vâng , mọi cái bây giờ đã quá khác …Những đổi khác không thể không có nhưng những đổi khác xấu đi là vấn đề ta cần suy nghĩ . Tôi chợt nhớ những cái roi thời mình đi học .

Ngày học lớp mẫu giáo ở ngôi trường của các soeur , tôi đã nhìn thấy những cái roi mây dài đánh thẳng xuống tay những đứa trẻ không tập trung trong giờ học là tôi và bạn bè tôi thời ấy .Các soeur cũng không ngại ngần nhéo những cái tai non nớt mong manh của chúng tôi để lại những vết đỏ như son hay tím bầm rướm máu . Tôi nhớ những cái khẻ tay của người thầy dạy tôi năm tiểu học , những cái quất nện xuống mông đám con trai làm tôi xanh cả mặt . Tôi nhớ thầy Chu Ngọc Thủy _ giáo sư nổi tiếng môn Sinh vật của Saigon ngày ấy và những cái khẻ tay không nhân nhượng của thầy với cả những tu sĩ học cùng lớp với tôi năm thi Tú Tài II. Nhưng chưa bao giờ tôi bắt gặp sự phản kháng của bọn trẻ chúng tôi với những cái roi của thầy cô , chưa bao giờ tôi thấy một sự phản kháng nào của một phụ huynh học sinh với giáo viên đã xử phạt con mình thời ấy. Và tôi chắc rằng, không có đứa học trò nào ngày ấy, bây giờ nhớ lại những “cái roi” mà để giữ lòng thù hằn với thầy cô của mình; chưa kể, không ít người mang ơn những cái roi một thời như những lời nhắc nhở , như cái dắt tay giúp họ thành người .

Cái roi … tôi cho rằng thời nào cũng thế…Nhưng những cái đánh xuống thì hình như không còn mang cái giá trị của sự bảo ban , nhắc nhở như ngày xưa nữa…Nó được thay bằng một cụm từ giống một “cái roi” khác, chua chát hơn, đánh vào cái tâm người thầy :“vi phạm nhân cách học sinh” . Ðôi khi tôi cứ tự hỏi : Thật ra thì vị trí người thầy bây giờ là ở đâu ? Nếu chỉ ở trên bục giảng thì người thầy chỉ là “người thợ _ thợ dạy”_. Nếu ở dưới bục giảng thì người thầy chỉ là người bán chữ …mà xem chừng món hàng bán ra sòng phẳng đến đau lòng . Người đi dạy chỉ là “người thầy” khi bản thân họ đúng là thầy, và khi họ thực sự được tôn trọng như một người thầy.

Nói thế không hẳn là tôi ủng hộ việc giáo dục bằng đòn roi .Nói thế không phải tôi bào chữa cho một số thầy cô dùng cái roi như một phương pháp giáo dục, như một cứu cánh cho sự bất lực của mình. Nói thế chỉ là tôi muốn nhắc lại rằng đã từng có nhiều thế hệ trưởng thành từ những “cái roi” ấm áp tình yêu thương, những cái roi mà xã hội chấp nhận như một lời giáo huấn : “thương cho roi cho vọt” hay “đòn đau nhớ đời” .Nói thế để thấy rằng khi người thầy giơ cái roi lên không bởi những áp lực , không bởi cơn giận quá độ và khi nện cái roi xuống nó trở thành cái đánh từ lòng yêu thương, tôi tin rằng đó là những “cái roi” nhân bản và đầy tính giáo dục ; mặc dù nếu không phải dùng đến cái roi vẫn là tốt biết bao .

Không biết có phải là quá không khi tôi cho rằng hình như chưa bao giờ lại có một thế hệ học trò “phát huy cái quyền” của mình cao độ đến … đáng lo như bây giờ . Và cũng chưa bao giờ lại có một thế hệ người thầy ngơ ngác vì bị tổn thương như hiện nay .Khi người ta nói đến cái quyền quá nhiều với lũ trẻ , khi người ta gán cho những cái roi , những lời la mắng là “vi phạm nhân cách” với những con người đang được học “thế nào là nhân cách” mà quên dạy chúng biết thế nào là trách nhiệm của mình đối với bản thân, đối với thầy cô ,với cha mẹ ,với cộng đồng thì quả là sai lầm.Và cái hậu quả chính xã hội này sẽ phải gánh chịu.

Có lẽ nên có một cái nhìn khác trong cách giáo dục bọn trẻ . Có le õnên có một cái nhìn khác về vai trò người thầy trong mối quan hệ với học trò,với xãhội hiện nay …

Hãy trả lại người thầy cái chỗ đứng của họ trong ánh mắt tôn kính của học trò , trong sự tôn vinh thật sự của xã hội; chứ không chỉ là những mỹ từ nổ như pháo hoa trong ngày20 tháng 11 hàng năm. Hãy trả cho “cái roi” giátrị thực sự của no,ù cái giá trị khởi đi từ cái bắt đầu giơ lên của chính người thầy.

Và người làm công việc giáo dục chỉ thực sự xứng đáng đứng vị trí của mình khi chính mình hiểu hơn ai hết cái giá trị thật sự của “người thầy” trong ánh mắt của đám trẻ nhỏ kia.

Trong số những học sinh từng chụp lại những bức ảnh nhằm tố cáo hành vi của cô giáo mình , những học sinh đã từng vung tay đánh lại thầy mình để phản kháng những cái roi…có thể sẽ có những em rồi sẽ làm thầy sau này..Mong rằng khi ấy các em sẽ hiểu hơn tấm lòng của những người thầy đã từng bị quất lại bằng những“cái roi”còn đau gấp ngàn lần cái roi ho ïtừng cho các em với ý định tốt đẹp.

“Lương sư hưng quốc” _ Tôi nhớ cái tấm biển đỏ khắc chữ vàng nằm trang nghiêm trong phòng giáo viên ở ngôi trường cũ … Có lẽ bây giờ ngay cả những “lương sư ” cũng chừng như chỉ biết thở dài…

Tháng tư sắp qua …mùa hè đầy nắng ….

( trích: gioheomay.multiply.com/journal)
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Image

Ba ru con ngủ

Ầu ơ, con ngủ cho ngon
Để ba lên Net ghẹo con ghệ già
Ghệ già tội lắm con nha
Không ai đưa đón thật là buồn ghê

Nhiều em, nhìn cũng “phê phê”
Nhưng vì “tửng” quá khó mê quá chừng
Nhiều em "được ghẹo" rất mừng
Chưa chi em đã muốn trưng "độc hàng"

Không nhìn, em nói "làm tàng"
Nhìn rồi lỡ xấu biết đàng nào BYE

Ầu ơ con ngủ cho dai
Ghệ già trên Net nói hoài không xong
Nhiều em không ngực, không mông
Độn vào một cục chỉ mong "show hàng"

Có em hay thích thở than:
"Đường tình em thiệt trái ngang anh à !!
Mặc dù em rất mặn mà
Công, dung, ngôn, hạnh, thật thà, lại duyên

Trai gặp cũng nói dịu hiền
Hôm nào anh rãnh kiếm tiền ... thăm em"

Ầu ơ con ngủ ngon thêm
Để ba lên Net trông, xem em này
Em này nhìn cũng hay hay
Mà sao ba thấy hơi gầy đó con

Khuôn mặt nhìn cũng còn son
Mà sao đôi mắt mõi mòn làm sao
"Hello" - ba gởi lời chào
Em ơi có rãnh, “tầm phào” chút không?

"Chào anh, em cũng đang trông:
Anh nào lịch sự, cua xong làm chồng"
Ba nghe mà ngứa cái ... mông
Thời nay gái dạn ... chứ không như là:

Cái thời mẹ đến "cua ba"
Tuy nhiều mắc cỡ như mà, thiết tha

Ầu ơ con ngủ đi nha
Hổm rày trên Net ghệ già tìm ba
Nghĩ hoài ba nghĩ không ra
Ghệ nào cũng nói: "thịt, da nõn nà

Thân em tơ liễu thướt tha
Vậy mà ráng kiếm chẳng ra thằng chồng
Đêm về phải ngủ “phòng không”
Ba đây cũng thấy mũi lòng con ơi!

Đôi khi ba nghĩ xa xôi
Phải chi má chịu thì thôi ba liều
Rước em tuổi đã ngả chiều
Coi như làm phước để chìu lòng em

Nhưng ba đốt đuốc đêm đêm
Cũng chẳng kiếm được một em cho vừa
Thời nay trai thiếu gái thừa
Tính sao con hả để vừa “ghệ ba”??

Ầu ơ con ngủ thêm nha
Ba ra pha sữa xong là vô ngay
Uống xong con ngủ cho say
Để ba ghẹo tiếp ghệ này nha con

Ghệ này mặt mũi hơi tròn
Mắt thì sâu thẳm mõi mòn… đợi ai??
Tóc dài em cắt ngang vai
Môi thì đỏ chét ... muốn gài độ ba

"Hello em gái phương xa
Nếu em có rãnh hai ta CHAT cùng"
"Chào anh em cũng đang lùng
Anh nào đang rãnh để cùng với em

Tâm sự tình cảm thâu đêm
Lâu rồi em cũng RẤT THÈM Chat khuya
Bạn em nhiều đứa đã dzìa
Vì trai ít quá phải chia nhau lùng"

Ba nghe mà thấy hãi hùng
Tứ chi bủn rủn, lùng bùng hai tai
Bỗng nhiên ba lại thở dài:
"Đâu rồi những nét trang đài ngày xưa

Tan trường dưới nắng hanh vừa
Hay là những buổi đội mưa đến trường?
Trinh nguyên áo trắng dễ thương
Tóc thề trong gió vấn vương bao chàng"

Ầu ơ con ngủ cho ngoan
Ghệ già trên Net sắp hàng đợi ba
Có em vừa gặp hôm qua
Nay em "nhã ý" về nhà em chơi

Ngỡ rằng em chỉ mời lơi
Nào ngờ em thiệt hết lời thiết tha:
"Nếu anh dối được "chị nhà"
Em đây yểu điệu, mượt mà tiếp anh"

Nghe xong ba nghĩ "thật nhanh"
Cơm nhà của mẹ để "dành" ăn sau
Phở FREE phải dzớt cho mau
Nếu không dzớt sớm thằng nào nhào vô

Coi như mấy tiếng đồng hồ
Ba đây "gượng ép" trầm trồ, ngợi ca:
Nào là: em đẹp, nết na
Ba vòng rõ nét, đúng là GIAI NHÂN

Nếu không dzớt, uổng "trăm phần"
Chuyến này ba phải dấn thân qua nhà
Ai ngờ vòng MỘT tới BA
Toàn là đồ giả, thiệt là tức ghê

Vừa rờ, em nói "nhẹ nhen"
Em vừa TUNE UP, đừng chê ... em mà
Anh biết không: đã hàng ba
Vậy mà chẳng có được CHA nào rờ

Nên đêm nằm ngủ ... phải MƠ
Trai đâu sao lại hững hờ với em
Ngồi năm phút, ba rút êm
"Anh đây bận việc, mong em đừng buồn"

Tự nhiên nước mắt em tuôn
"Anh thiệt mang lại nỗi buồn trong em
Ngỡ rằng anh ở qua đêm
Nào ngờ anh cũng để em ... một mình

Đêm nay cũng "bóng với hình"
Như bao Cô khác "chỉ mình với ta"
Anh về nói với chị nhà
Chỉ thiệt hạnh phúc, nhớ mà "GIỮ NHA"


Siu Tầm
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Đã Từng Ngậm Ngùi Ngay Trên Quê Hương Mình

THANH TÙNG/Việt Tribune

Image
Ca sĩ Giang Tử-Hình do nghệ sĩ cung cấp.
GẶP GỠ CA SĨ GIANG TỬ

Sau ba mươi lăm năm kẹt lại Việt Nam và vài chuyến vượt biên bất thành, ca sĩ Giang Tử cuối cùng cũng đã định cư tại vùng đất tự do theo diện bảo lãnh gia đình. Nam ca sĩ từng chiếm cảm tình khán thính giả từ trước 1975 qua những giai điệu quê hương và ca ngợi người lính VNCH ghi dấu ấn một thời binh lửa đã dành cho Thanh Tùng- Việt Tribune cuộc phỏng vấn sau đây.

THANH TÙNG: Hiện giờ, ca sĩ Giang Tử đang sinh sống tại thành phố và tiểu bang nào?

GIANG TỬ: Giang Tử mới được con gái bảo lãnh sang định cư tại Mỹ vào tháng 1/2010, chỉ được khoảng 3 tháng nay. Hiện bây giờ, vợ chồng Giang Tử đang đoàn tụ với con gái tại thành phố Houston, tiểu bang Texas.

Chào mừng ca sĩ Giang Tử cuối cùng rồi cũng đã được định cư tại vùng đất tự do. Có lẽ nhờ vậy mà anh sẽ có nhiều cơ hội hơn để được gặp gỡ và hát cho khán giả hải ngoại, cũng là những khán giả thân thương của anh từ trước 1975?

GIANG TỬ: Cảm ơn Thanh Tùng và cảm ơn quý khán giả kính mến đã dành rất nhiều tình cảm cho Giang Tử. Trong thời gian hơn 3 tháng nay khi Giang Tử qua Mỹ đã nhận được sự thương mến của nhiều khán giả trước 1975 và kể cả những khán giả trẻ sau này. Trong đó có những em còn rất trẻ nhưng nhờ được nghe các đĩa nhạc xưa mà cha mẹ mang theo từ Việt Nam cho nên đã dành nhiều cảm tình cho mình. Giang Tử rất hạnh phúc và không nghĩ rằng khi sang bên này lại được khán giả và các nhà tổ chức thương mến đến như vậy.

Trong một số lần cùng đi show chung với ca sĩ Giang Tử tại Mỹ, Thanh Tùng nhận ra sự ủng hộ rất nồng nhiệt của khán giả dành cho Giang Tử, đặc biệt trong một show văn nghệ tại San Jose cách đây khoảng 2 năm. Lúc đó, khi Giang Tử chỉ mới cất lên câu hát đầu tiên trong bài“Xin anh giữ trọn tình quê”, cả rạp hát như vỡ òa tiếng vỗ tay của khán giả. Sau đó, hàng đoàn người xếp hàng nối đuôi nhau tiến về phía sân khấu để lì xì Giang Tử. Nhiều khán giả buột miệng: “Nghe Giang Tử hát mà nhớ Duy Khánh quá chừng”. Anh có chạnh lòng không?

GIANG TỬ: Thực sự Giang Tử quá hạnh phúc khi cách đây 2 năm được một ban tổ chức mời sang Mỹ trình diễn. Giang Tử đã muốn rơi nước mắt trên sân khấu trước sự thương mến nồng nhiệt của khán giả, trong đó có nhiều người đã lên sân khấu lì xì. Cũng có nhiều khán giả bảo Giang Tử hát giống Duy Khánh. Có lẽ vì trời sinh ra Giang Tử và anh Duy Khánh mỗi người một miền đất nhưng lại có sự trùng hợp là chất giọng. Khi cất tiếng hát lên thì tình cờ giống nhau vậy thôi (cười). Lúc sang Mỹ, Giang Tử cũng có chút ngậm ngùi thương nhớ khi mà những ca sĩ đàn anh như Duy Khánh, Nhật Trường hoặc các bạn bè đồng liêu, đồng ngũ, cùng đơn vị ngày xưa đã không còn nữa.

Lúc mới đi hát, anh thường thích hát nhạc tiền chiến. Sau này, anh lại chọn các ca khúc quê hương và người lính VNCH để trình diễn. Tại sao có sự chuyển hướng như vậy?

GIANG TỬ: Đó là do sự phát triễn của xã hội mà thôi. Thời gian Giang Tử sinh ra và lớn lên là giai đoạn chuyển tiếp. Hồi còn đi học, chiến tranh chưa ác liệt và những bài hát về quê hương, về người lính chưa nhiều. Giang Tử lúc đó chỉ có một dòng nhạc để hát, đó là dòng nhạc tiền chiến. Tuy nhiên, đến khoảng năm 1963, khi bước chân vào quân ngũ, Giang Tử đã có những suy nghĩ khác khi tiếp xúc với những người lính đồng đội của mình và với bầu không khí chiến tranh bao trùm cả miền Nam của chúng ta. Hơn nữa, các nhạc sĩ cũng bắt đầu chuyển qua viết những bài hát ca ngợi người lính Cộng Hòa, ca ngợi chiến công cũng như chia xẻ với những thân phận, tâm tư của người lính Việt Nam Cộng Hòa của chúng ta. Giang Tử chuyển sang dòng nhạc quê hương vì nó phù hợp với chất giọng của mình.

Dường như có khoảng thời gian anh Giang Tử phục vụ tại Cục Tâm lý chiến?

GIANG TỬ: Đúng rồi. Giang Tử gia nhập quân ngũ năm 1963 ở Cục Tâm lý chiến, lúc bấy giờ được gọi là Tổng cục chiến tranh chính trị.

Tên thật của anh là Giang. Tại sao lại có nghệ danh Giang Tử, thưa anh?

GIANG TỬ: (cười) Vâng đúng rồi. Cái tên Giang Tử cũng đã gây nhiều thắc mắc cho khán giả. Có người diễn giải một cách nôm na: “Giang” là sông, còn “Tử” là chết. “Giang Tử” là con sông chết. Nhưng sự thật không phải. Bản chất con người Giang Tử thích phiêu lưu tang bồng, giang hồ lãng tử. Tên thật của mình là Nguyễn Hoàng Giang. Bạn bè hay nói đùa mình có máu lãng tử. Khi đi hát cần phải có nghệ danh nên mình quyết định chọn tên thật là “Giang” kết hợp cùng với tính cách giang hồ lãng tử của mình. Từ đó mới có Giang Tử ngày nay.

Nghe đồn sau 1975, Giang Tử đã hơn một lần đi vượt biên nhưng đều không thành công?

GIANG TỬ: Đúng rồi! Lúc bấy giờ, ai cũng muốn tìm đường đến với tự do. Nhưng mỗi người một số phận. Do đó mà Giang Tử đã bị kẹt lại Việt Nam cho đến hôm nay.

Và có lẽ số phận của Giang Tử là được sang Mỹ bằng máy bay chứ không phải bằng tàu thuyền?

GIANG TỬ: (cười) Vâng! Số phận của mình là phải kiên trì chờ đợi cho đến 35 năm sau mới được đến thế giới tự do bằng máy bay.

Anh có cảm thấy hối tiếc vì đã sang Mỹ chậm hơn so với nhiều đồng nghiệp và bạn bè của anh không?

GIANG TỬ: (ngẫm nghĩ) Đương nhiên rồi! Cho đến bây giờ với tuổi đời và quãng thời gian quá dài, Giang Tử đã phải ngậm ngùi sống ngay tại quê hương, đất nước của mình dưới một chế độ như vậy. Giang Tử đã bị cấm đoán nhiều thứ trong lãnh vực nghệ thuật. Những gì thuộc về chính quyền thì mình không được tham gia vì mình là người lính của chế độ cũ. Vì phải nuôi sống gia đình, Giang Tử phải hợp tác với những tổ chức tư nhân đi lưu diễn lòng vòng trong đất nước của mình. Cho đến khoảng năm 1995, Việt Nam xuất hiện dòng nhạc mới, mà bên mình gọi là New Wave, bên Việt Nam gọi là dòng nhạc trẻ. Lúc bấy giờ, với chất giọng ảnh hưởng dân nhạc của mình, với tuổi tác không còn phù hợp, Giang Tử đã phải ngậm ngùi rút vào bóng tối.

Trước 1975, vì sao anh và ca sĩ Chế Linh khi đi hát song ca lại đặt tên là “Hai con lạc đà”, thưa anh?

GIANG TỬ: Trong sinh hoạt văn nghệ tại Sài Gòn, Chế Linh và Giang Tử đều là những ca sĩ hát đơn ca. Thời gian đó, bạn bè rất nhiều. Nào là Y Vũ, Nguyễn Ngọc Ngạn, Đỗ Lễ và những người trong giới đã ngồi lại với nhau. Chính nhạc sĩ Y Vũ (em ruột của nhạc sĩ Y Vân) là người bạn chí cốt học cùng thầy với Giang Tử đã gợi ý: “Hai đứa mày cứ hát đơn ca hoài, tao thấy nhàm quá! Sao hai đứa không ráp vô chung làm một cặp song ca? Tao sẽ viết một số bài.”

Từ đó, với tính yêu nghệ thuật, Giang Tử và Chế Linh OK liền. Chúng tôi đã ráp lại làm một cặp hát chung một số ca khúc dành cho song ca. Bài song ca đầu tiên mà Chế Linh và Giang Tử hát chung là một sáng tác của Chế Linh: “Nỗi buồn sa mạc”. Tựa của bài hát này đã gợi cho Chế Linh và Giang Tử một cái tên chung khi hát song ca để có kỷ niệm. Hai đứa ngồi bàn bạc và chọn tên “Hai con lạc đà” mang ý nghĩa của sự chịu đựng. Con lạc đà thường vượt qua sa mạc mênh mông cần phải có sự chịu đựng dẻo dai. Lúc đó, cũng có một chút tâm linh và dị đoan, mình nghĩ đặt tên như vậy sẽ có sự bền bĩ, nhờ vậy, sự kết hợp song ca của hai đứa sẽ được kéo dài.

Cho đến bây giờ qua thực tế trên 40 năm, Giang Tử nhận ra sự trùng hợp. Bạn bè đồng liêu kẻ mất người còn, nhưng “Hai con lạc đà” ngày nào thực sự đã vượt qua được sa mạc mênh mông nửa vòng trái đất để tìm đến với nhau. Sau 35 năm, “Hai con lạc đà” vẫn còn đủ sức chịu đựng những gian nan để được đến với nhau ngay tại đất nước tự do này.

Xin cảm ơn ca sĩ Giang Tử đã dành cho Việt Tribune cuộc phỏng vấn này và chúc anh thành công trong phần trình diễn của mình.
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Những scandal tai tiếng nhất lịch sử World Cup
Các vụ rắc rối luôn là một phần của bóng đá, nhưng cá biệt có những scandal đã đi vào huyền thoại. Dưới đây là những câu chuyện tâm điểm ở một số kỳ World Cup.

World Cup 1930: Cãi nhau vì bóng
Trong lần tổ chức đầu tiên, World Cup gặp không ít trở ngại. Khởi đầu là việc làng bóng đá châu Âu tẩy chay và chỉ 4 đội của lục địa này đăng ký tham dự.

Trận đấu có nhiều rắc rối là trận chung kết giữa chủ nhà Uruguay và Argentina. Hậu vệ Luis Monti của đội khách đã bị các CĐV chủ nhà dọa giết, còn trọng tài người Bỉ, John Lagenus, nằng nặc đòi ban tổ chức thu xếp phương án để ông an toàn về tàu sau trận đấu do lo ngại sự giận dữ của CĐV đội thua (thời đó máy bay chưa được thương mại hóa triệt để).

Câu chuyện gây bất ngờ nhất là cả Uruguay và Argentina đều không chịu dùng bóng của đối phương. Giải pháp được trọng tài Lagenus đưa ra là mỗi hiệp dùng bóng của một nước. Trong hiệp đầu, bóng của Argentina được sử dụng và đội này vươn lên dẫn 2-1. Sang hiệp hai, Uruguay ghi được ba bàn, lật ngược tình thế với trái bóng mang tên "Tiento".
Image
Trái bóng Tiento của Uruguay.
World Cup 1962: Trận đấu rùng rợn ở Santiago (Chile)

Trước giải vô địch thế giới lần thứ 7, giới truyền thông Italy chỉ trích công tác tổ chức của chủ nhà Chile, nên các CĐV nước này lên kế hoạch "trả đũa" khi hai đội gặp nhau ở vòng bảng.

Theo mô tả của các bình luận viên BBC, SVĐ quốc gia ở thủ đô Santiago tràn ngập bầu không khí thù địch và những tiếng la ó khi đội tuyển Italy xuất hiện. Một số cầu thủ Chile bắt đầu trận đấu bằng hành động nhổ nước bọt vào mặt đội bạn. Trọng tài người Anh, Ken Aston, vào hùa bằng cách thổi thiên vị đội chủ nhà. Hai cầu thủ Italy bị phạt thẻ đỏ trong khi họ mới là nạn nhân của những đòn bạo lực. Humberto Maschio, một cầu thủ Italy khác, kết thúc trận đấu với cái mũi bị vỡ. Kết quả là Chile giành chiến thắng 2-0. "Đoàn quân thiên thanh" bị hàng trăm CĐV chủ nhà theo sát cho đến khi về trại huấn luyện.

Trong buổi điểm tin tối của BBC hôm đó, phát thanh viên David Coleman nói: “Xin chào quý vị khán thính giả. Sau đây là trận đấu mà bạn có thể chứng kiến sự xuẩn ngốc, ghê tởm và ô nhục nhất trong lịch sử bóng đá thế giới”.

World Cup 1966: Bàn thắng gây tranh cãi của Geoff Hurst trong trận chung kết Anh - Đức (4-2)

Cựu danh thủ đội tuyển Anh là người lập hat-trick duy nhất trong lịch sử trận chung kết World Cup nhưng danh tiếng của ông bị hoen ố phần nào bởi bàn nâng tỷ số lên 3-2.

Trong tình huống gây tranh cãi, Hurst sút căng sau khi đón quả tạt của Alan Ball. Bóng đập xà ngang, dội xuống vạch vôi rồi nảy ra ngoài.

Bối rối trước tình huống đó, trọng tài Gottfried Dienst quyết định tham khảo ý kiến của trợ lý Tofik Bakhramov. Mặc dù vị trí đứng cách khung thành khá xa song vị trợ lý người Azerbajan vẫn quả quyết "bóng đã qua vạch vôi". Bàn thắng được công nhận cho đội tuyển Anh trong khi pha quay chậm cho thấy phán quyết trên là một sai lầm.

World Cup 1970: Sự ức chế của đội tuyển El Salvador

Trọng tài người Ai Cập, Ali Kandil, đã phạm một sai lầm khó hiểu trong trận đấu giữa chủ nhà Mexico và El Salvador. Đội khách cầm hòa 0-0 tới phút 44 thì được hưởng một quả phạt bên phần sân nhà. Tuy nhiên, khi nó chưa được thực hiện thì tiền đạo Padilla của Mexico cướp bóng, tạt dọn cỗ cho Valdivia mở tỷ số.

Các cầu thủ El Salvador đã tức giận, vây quanh trọng tài và trợ lý để phản đối, nhưng hai ông vua sân cỏ cho rằng họ đã chạm bóng rồi để đối thủ lấy mất. Trong bầu không khí căng thẳng, trọng tài liền thổi còi để kết thúc hiệp một rồi đi vào trong đường hầm, để lại sau lưng gương mặt phẫn nộ của các cầu thủ El Salvador.

Có thể do ức chế với cách xử lý của trọng tài nên trong hiệp hai, đội khách đều sút lên khán đài mỗi khi có bóng. Mexico giành chiến thắng 4-0 ở trận này.

World Cup 1974: Bí ẩn Haiti

Dưới chế độ độc tài của "Papa Doc Duvalier" (cố tổng thống Francois Duvalier), người ta cho rằng bất cứ chuyện gì đều có thể xảy ra tại Haiti. Ở vòng loại khu vực CONCACAF, đội tuyển nước này thắng Trinidad & Tobago trên sân nhà trong trận cuối để đoạt vé. Đội khách đã bị từ chối ít nhất 4 bàn và nguyên nhân được giới thạo tin đồn là là áp lực của Duvalier.

Mang theo mớ kinh nghiệm nghèo nàn tới vòng chung kết, Haiti để thua Italy với tỷ số 1-3 trong trận đầu tiên. Điều gây rắc rối là hậu vệ Ernst Jean Joseph bị phát hiện sử dụng chất kích thích, trở thành cầu thủ đầu tiên trong lịch sử bị trục xuất khỏi World Cup. Do lo sợ bị trừng phạt sau khi về nước, Jean Joseph đã nhờ hai thành viên của ban tổ chức đỡ lời, nhưng cả hai vị này đều bị cảnh cáo vì can thiệp "chuyện nội bộ của Haiti".

World Cup 1978: Sự nghi ngờ về suất chơi chung kết của Argentina

Thể thức đội dẫn đầu vòng bảng thứ hai được tranh chức vô địch đã gây ra tranh cãi nghiêm trọng tại vòng chung kết thứ 11.

Brazil kết thúc vòng bảng thứ hai với 2 trận thắng và 1 trận hòa, được 5 điểm (kiểu tính điểm cũ), có hiệu số là +5. Argentina có ít hơn 2 điểm và hiệu số +2 nhưng còn một trận chưa đấu với Peru (diễn ra muộn hơn trận của Brazil gần một giờ).

Người ta có cảm giác như Peru đã mở toang khung thành để đội tuyển chủ nhà ghi 6 bàn. Argentina qua mặt Brazil, lọt vào chung kết nhờ hiệu số cao hơn.

World Cup 1982: Scandal dàn xếp tỷ số

Trận Đức - Áo tại vòng bảng năm 1982 là một chương đen tối trong lịch sử các vòng chung kết World Cup.

Sau thất bại 1-2 trước Algeria và chiến thắng 4-1 trước Chile, Đức cần một chiến thắng nữa để đi tiếp trong khi Áo chỉ cần thua không quá chênh lệch hai bàn.

Hai đội tuyển láng giềng trên đã "bắt tay nhau" để loại Algeria. Sau khi Horst Hrubesch đánh đầu mở tỷ số cho Đức ở phút thứ 10, 22 cầu thủ chơi như đi bộ, chuyền bóng cho nhau theo kiểu "hữu nghị". Tỷ số 1-0 được duy trì cho tới hết trận và Algeria phải ra về trong nước mắt do kém hơn về hiệu số.

Sau sự cố trên, FIFA đưa ra quy định buộc các trận ở lượt cuối vòng bảng phải đá cùng giờ.

World Cup 1982: Sự cố của đội tuyển Kuwait

Trong trận đấu ở bảng D, Pháp thể hiện sự vượt trội nhưng Kuwait thì bất chấp quy định về fair-play để máu ăn thua đến cùng. Sau khi Alain Giresse nâng tỷ số lên 4-1, các cầu thủ của đội tuyển Trung Đông vây quanh trọng tài Stupar để phản đối với lý do tất cả họ đều dừng lại khi nghe thấy một tiếng còi trước đó (xuất phát từ khán đài, theo điều tra về sau). Chủ tịch liên đoàn bóng đá Kuwait khi đó - hoàng tử Fahid - cũng xuống sân để bày tỏ sự bất bình và vị trọng tài thiếu kiên quyết đành hủy pha lập công hợp lệ của Giresse.

Tỷ số cuối cùng vẫn là 4-1 nghiêng về Pháp sau khi Bossis lập công ở phút 89. Sau đó Kuwait bị phạt 8.000 bảng vì hành vi phản ứng lỗ mãng.

World Cup 1986: "Bàn tay của Chúa"

Bàn thắng nổi tiếng của thiên tài Diego Maradona là một trong những kỷ niệm khó quên của kỳ World Cup thứ 13.

Trong trận tứ kết giữa Anh và Argentina, "cậu bé vàng" Maradona chạy theo cú phá bóng của hậu vệ đối phương rồi dùng tay đẩy bóng qua đầu thủ môn lão luyện Peter Shilton để mở tỷ số cho Argentina.

Sau trận đấu, thiên tài bóng đá giải thích: "Bàn thắng đó được ghi bằng cái đầu của tôi và bàn tay của Chúa".
Image
Maradona dùng tay ghi bàn vào lưới đội tuyển Anh.
World Cup 2002: Trọng tài thiên vị Hàn Quốc

Mặc dù CĐV xứ sở kim chi có thể tự hào về thành tích Hàn Quốc là đội bóng đầu tiên của châu Á lọt vào bán kết World Cup thì sự thiên vị mà trọng tài dành cho họ tại giải đấu 8 năm trước là thực tế hiển nhiên.

Trong trận Hàn Quốc gặp Italy ở vòng hai, trọng tài người Ecuador, Byron Moreno, từ chối một bàn thắng hợp lệ của Vieri, tạo điều kiện cho đội đồng chủ nhà bất ngờ vùng lên giành chiến thắng 2-1.

Ở trận tứ kết tiếp theo, đối thủ của Hàn Quốc, Tây Ban Nha, cũng bị từ chối một bàn thắng hợp lệ. Trọng tài người Ai Cập, Gamal Ghandour, cho rằng bóng đi hết đường biên ngang trước khi Joaquin tạt bóng cho Morientes. Tuy nhiên, băng quay chậm lại cho thấy cả "ông vua sân cỏ" lẫn trợ lý đều có trí tưởng tượng phong phú.

World Cup 2006: Zidane dùng đầu húc ngã Materazzi ở trận chung kết

Vị thủ lĩnh hiền lành của đội tuyển Pháp đã làm người xem bị bất ngờ khi dùng đầu húc vào ngực trung vệ Marco Materazzi của Italy ở hiệp phụ, và nhận thẻ đỏ. Hậu quả của hành động nóng nảy là ưu thế tấn công cũng như tinh thần thi đấu của Pháp bị ảnh hưởng xấu.

Italy đã giành chức vô địch khi thắng với tỷ số 5-3 trong loạt sút luân lưu.

Nguyên nhân dẫn tới cú húc đầu của Zidane được xác định sau đó là những lời thóa mạ của Materazzi nhằm vào gia đình tiền vệ người Pháp.

Image
Đòn "Thiết đầu công" của Zidane.


Thúy An
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 11 guests