Page 42 of 187

Posted: Sat Jul 31, 2010 12:39 am
by tankhoasinh
Làn sóng Dân Chủ

Ngô Nhân Dụng

Số quốc gia mà người dân được tự do bầu cử đã tăng lên thành 122 nước, so với năm 2004 chỉ có 119 nước hồi 5 năm trước đây. Ba nước mới được lên bảng vàng đều ở Phi Châu, là Burundi, Liberia và Cộng Hòa Trung Phi. Nước sau cùng này thì nhiều người Việt mình đã biết, đó là quê hương của ông Bokassa, một cựu trung sĩ trong quân đội thuộc địa Pháp. Ông đã có một bà vợ Việt Nam, đã đảo chính, lên làm tổng thống năm 1965 rồi sau đó tự xưng là hoàng đế! Tuy Cộng Hòa Trung Phi đã trở lại với một hiến pháp dân chủ từ năm 1979, nhưng đến năm nay mới được vô bảng vàng, vì nước họ chứng tỏ đã có bầu cử tự do thật, chính quyền chấp nhận các hoạt động chính trị đối lập.

Bảng danh sách của Freedom House phân biệt ba loại chế độ: Tự do, Hơi Tự do, và Không Tự do. Có 89 quốc gia được coi là tự do thật, người dân trong các nước đó có đủ các quyền tự do dân sự, chính trị. Có 58 nước được xếp hạng hơi tự do. Việt Nam và Trung Quốc đều thuộc loại thứ ba, thiếu tự do, nhưng không đến nỗi đứng cuối sổ như Cuba, Bắc Hàn, Miến Ðiện.

Freedom House nâng điểm hai nước, Indonesia và Ukraina, từ “hơi tự do” lên “tự do” nhờ các cuộc bầu cử tự do và hoạt động của báo chí, đảng đối lập mạnh hơn trước.

Tổ chức Freedom House cũng khắt khe bầy tỏ sự quan ngại đối với các chế độ dân chủ ở Mỹ và Pháp. Nhược điểm được nêu lên ở Mỹ là chính sách cho phép các Quốc Hội tiểu bang chia khu vực, địa giới đơn vị bầu cử. Các đại biểu đã lợi dụng chính sách này mà cắt xén, xoay sở, bóp méo ranh giới, bảo vệ đủ số cử tri ủng hộ cho họ hoặc đảng của họ. Vì thế phần lớn các đại biểu Quốc Hội Mỹ tái tranh cử đều thắng. Freedom House phê bình là chính sách này, gọi là gerrymandering, làm giảm tính cách đại diện của người dân trong Quốc Hội, nhận xét đó rất đúng. Nước Pháp cũng bị phê bình là không hội nhập được những công dân gốc ngoại quốc, nhất từ là Phi Châu.

Nói chung, mỗi năm thế giới vẫn tiến thêm trên con đường dân chủ hóa. Từ những năm cuối thế kỷ 20 đến nay, có rất nhiều quốc gia đã chuyển từ chế độ độc tài sang lối sống dân chủ, giống như một cơn sóng tự do lan tràn trên mặt trái đất.

Có thể coi như phong trào này bắt đầu từ bán đảo Iberia, Âu Châu, từ 30 năm trước đây. Nước Bồ Ðào Nha, sau nhiều năm sống dưới chế độ độc tài của Antonio Salazar (1932-1968) và các tướng lãnh, đã thiết lập một bản hiến pháp mới theo chế độ dân chủ đại nghị vào năm 1976, và hai năm sau Tây Ban Nha cũng theo gót, nhờ nhà độc tài Franco đã chết từ năm 1975. Từ khi dân chủ hóa, đời sống kinh tế hai quốc gia này đã tiến triển để theo kịp các nước khác ở Tây Âu. Những năm sau đó, loài người đã chứng kiến luồng sóng dân chủ tự do tràn qua các nước Cộng Sản Ðông Âu, Châu Mỹ La tinh, và cơn sóng càng lên mạnh hơn trong số các nước phía Ðông Châu Á, nơi người dân đấu tranh cho dân chủ liên tục từ thập niên 1960. Trong ba chục năm qua, làn sóng dân chủ tự do đã lên, hiện nay 43% nhân loại đang được sống trong tự do dân chủ đầy đủ, và 30% hơi tự do dân chủ.

Theo nhiều nhà nghiên cứu, trong lịch sử thế giới có nhiều cơn sóng dân chủ tự do nổi lên rồi bị đẩy lùi, lần này là lần thứ ba đang lên và hy vọng sẽ không lùi nữa. Cơn sóng dân chủ đầu tiên diễn ra vào cuối thế kỷ 18 sang thế kỷ 19 ở Âu Châu và Mỹ Châu. Ðợt sóng này lan ra rất chậm, bắt đầu từ những cuộc cách mạng ở Hoa Kỳ, ở Pháp, dần dần tới những nước Âu Châu khác. Cơn sóng dân chủ đó đã gặp phải nhiều tảng đá ngầm cản trở, đôi lúc phải dội lại và thoái trào. Có những quốc gia trở thành dân chủ rồi lại thụt lùi trở lại chế độ quân chủ hoặc đế quốc, như ở Pháp, Ý, Ðức, vân vân. Ðiều này chứng tỏ việc thiết lập thể chế dân chủ hình thức, bằng cách thông qua một bản hiến pháp dân chủ, không đủ bảo đảm cho người dân được sống tự do thật sự và lâu bền. Trong một bài khác chúng ta sẽ coi những điều kiện nào cần thiết để chế độ dân chủ có thể bền vững.

Ðợt sóng dân chủ tự do thứ nhì lan ra trên thế giới sau cuộc đại chiến thứ nhất vào đầu thế kỷ trước, kéo dài cho tới một phần ba thế kỷ. Một khẩu hiệu đầu tiên được nêu lên là đòi hỏi quyền tự quyết dân tộc. Những nước mới giành được độc lập sau các cuộc đại chiến đã quyết định thiết lập thể chế dân chủ, tự do. Ðợt sóng dân chủ tự do thứ nhì cũng gặp những chướng ngại và thoái trào. Chúng ta đã thấy những quốc gia như Ðức, Ý, có lúc đã quay trở lại chế độ độc tài đảng trị, và ở Nga thì cuộc cách mạng dân chủ chưa được một năm đã rơi vào nội chiến để tiến tới một thể chế độc tài kéo dài hơn 70 năm, với một đảng duy nhất cai trị, trong thực tế là chỉ có một nhóm hay một người thao túng. Sau Thế Chiến Thứ Hai, nhiều nước cựu thuộc địa đã giành được cũng thiết lập các chế độ dân chủ. Tuy nhiên, sau đó thế giới bước ngay vào thời kỳ chiến tranh lạnh khiến cho trong cả hai khối tư bản và Cộng Sản người ta có khuynh hướng duy trì các chế độ độc tài để dễ đối phó với khối bên kia. Những nước đứng giáp đường giới tuyến của hai khối càng khó thay đổi vì bị gây nội chiến hoặc chia rẽ. Bên khối tư bản, các nước như Hàn Quốc, Ðài Loan, Singapore, Thái Lan, Phi Luật Tân, Indonesia vân vân, khó tiến nhanh trên đường dân chủ hóa vì họ bị họ đe dọa trực tiếp với những phong trào nổi dậy ngay ở trong nước họ. Các chính quyền độc đoán viện lý do an ninh mà kìm hãm sự phát triển của các quyền tự do chính trị và tự do dân sự. Các nước bên giới Cộng Sản thì không để cho các quyền tự do phát triển vì các đảng Cộng Sản chủ trương chuyên chính vô sản.

Cơn sóng dân chủ tự do thứ ba trong lịch sử chỉ khởi sự trào lên khi Chiến Tranh Lạnh bắt đầu bớt căng thẳng. Lúc đầu là Liên Xô và Mỹ thương thuyết chính sách hòa dịu, giảm bớt vũ khí hạt nhân. Rồi Mỹ với Trung Quốc gặp gỡ bắt tay nhau. Thế giới chung quanh dần dần cảm thấy bớt bị đe dọa nên nhu cầu thay đổi chính trị dâng lên trong hàng chục năm. Bồ Ðào Nha và Tây Ban Nha có thể xóa bỏ chế độ độc tài vì cả hai nước nằm trong khối tư bản nhưng không bị đe dọa bởi những phong trào nổi dậy theo chủ nghĩa Cộng Sản. Dân chúng ở những nước Ðài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, Phi Luật Tân, nhất là giới sinh viên, thanh niên đã từng đấu tranh quyết liệt đòi dân chủ từ thập niên 1970, nhưng họ cũng chỉ bắt đầu được hưởng tự do từ giữa thập niên 70, sau khi tình hình thế giới biến chuyển hòa dịu hơn và mối đe dọa của khối Cộng Sản giảm bớt. Nhiều quốc gia khác phải đợi cho tới khi gặp khủng hoảng kinh tế mới thật sự bước vào quá trình dân chủ hóa. Ở Trung Âu và Ðông Âu trong những năm 1980, đó là tình hình kinh tế trì trệ trong khối Xô Viết vì quản lý không hiệu quả. Phong trào Công Ðoàn Ðoàn Kết ở Ba Lan, các nhà trí thức đòi phát triển xã hội công dân ở Tiệp Khắc, người dân Ðông Ðức và Hungary cũng đứng dậy, đưa tới sự sụp đổ của bức tường Berlin. Ở Á Ðông, những cải thiện chính trị đã bắt đầu và cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1997 thúc đẩy thêm cho tiến trình dân chủ hóa những bước nhanh chóng và vững vàng. Sau năm 1997, các chế độ còn vết tích độc đoán ở Hàn Quốc, Ðài Loan, Indonesia bị lật đổ bằng lá phiếu. Các biến cố đó xẩy ra được cũng là nhờ lúc đó Chiến Tranh Lạnh giữa hai khối tư bản và Cộng Sản đã chấm dứt.

Làn sóng dân chủ hóa thứ ba này đi đôi với hiện tượng kinh tế toàn cầu hội nhập với nhau chặt chẽ hơn, đưa tới việc cải thiện mức sống và giảm bớt nạn nghèo đói trên thế giới. Một thước đo của sự cải thiện này là tỷ lệ những người còn sống với lợi tức dưới 2 đô la Mỹ một ngày, khoảng 30 ngàn đồng Việt Nam cho mỗi người, theo giá tiền năm 2005. Vào năm 1980 trên thế giới có 56% nhân loại còn sống trong cảnh nghèo như vậy, đến năm 2000 tỷ số đó chỉ còn 23%. Nếu nhớ rằng dân số trên trái đất luôn luôn gia tăng chúng ta càng thấy sự cải thiện trên là rất đáng kể. Vào năm 1980 thế giới có 1.9 tỷ người sống trong cảnh nghèo, năm 1990 chỉ còn 1 tỷ 7, đến năm 2000 chỉ còn một tỷ mốt. Một điều đáng chú ý nữa là trước năm 1980, trước khi làn sóng dân chủ lan tràn, số người sống trong cảnh nghèo theo định nghĩa trên chỉ tăng thêm chứ không giảm. Sự cải thiện trong đời sống kinh tế đi đôi với phong trào dân chủ hóa cho thấy khi người dân được tự do hơn, trong đó được hưởng những quyền tự do kinh tế, thì loài người cũng được no ấm nhiều hơn. Từ năm 1980, theo báo cáo của Ủy Hội Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc, có 81 quốc gia đã tiến bước trên đường dân chủ hóa đáng kể, trong đó có 33 nước đổi từ chế độ quân phiệt sang chế độ dân chủ. Theo Liên Hiệp Quốc, có 140 quốc gia trong số khoảng 200 nước trong thế giới hiện đã có bầu cử tương đối tự do, và 81 quốc gia trong số đó thực sự có tự do, tức là khoảng 60% nhân loại. Bản xếp loại này lạc quan, rộng rãi hơn Freedom House, cũng dễ hiểu vì các quốc gia trên đều nằm trong tổ chức Liên Hiệp Quốc.

Cơn sóng dân chủ hóa thứ ba cũng gặp những trở ngại, có lúc quay ngược chiều và không lan rộng đồng đều. Có những quốc gia đã thiết lập thể chế dân chủ sau đó lại rơi xuống, trở về sống dưới một chính quyền độc tài, như ở Peru, Pakistan. Ðiều này cho thấy những điều kiện thúc đẩy một quốc gia tiến tới chế độ dân chủ khác với những điều kiện để nôi dưỡng cho chế độ dân chủ được vững bền. Làn sống dân chủ cũng bị ngăn lại ở nhiều nơi không vào được. Trong số những nước thuộc Liên Bang Xô Viết cũ, nhiều nước vẫn còn giữ chế độ độc tài, như Ukraina và Georgia đến năm ngoái mới tự giải thoát; nhưng Kyrgyzstan vẫn là một nước độc tài hủ lậu hạng nhất. Ở Á Ðông thì Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Miến Ðiện vẫn chưa có tự do tuyển cử. Lại có những quốc gia thiết lập một chế độ dân chủ hình thức nhưng người dân vẫn chưa được tự do, như ở nhiều nước Trung Á khác. Chúng ta thấy dân chủ hình thức, tức là có hiến pháp, có tuyển cử không nhất thiết đưa tới có dân chủ tự do thật sự nếu người dân chưa được hưởng những quyền tự do chính trị và tự do dân sự. Mà điều người dân cần là được sống tự do, không phải chỉ là được đi bầu hay ứng cử. Chúng ta cần phân biệt tự do và dân chủ, không phải lúc nào cũng đi đôi.

Posted: Sun Aug 01, 2010 2:26 am
by nguyenvsau
BẮC GIANG DẬY SÓNG

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất
…. Lướt theo chiều gió, một con thuyền, theo trăng trong, trôi trên sông Thương, nước chảy đôi dòng. Biết đâu bờ bến, thuyền ơi thuyền trôi nơi đâu, trên con sông Thương, nào ai biết nông sâu? Nhớ khi chiều sương, cùng ai trắc ẩn tấm lòng. Biết bao buồn thương, thuyền mơ buông trôi xuôi dòng. Bến mơ dù thiết tha, thuyền ơi đừng chờ mong .........

Người viết muốn mượn nhạc phẩm lãng mạn tuyệt vời “Con Thuyền Không Bến” của nhạc sĩ tài danh Đặng Thế Phong để giới thiệu về một mảnh đất thân yêu của Tổ Quốc có tên là Bắc Giang đang dậy sóng.
Image

Đôi Nét Về Bắc Giang
Bắc Giang là một tỉnh miền trung du, cách Hànội khoảng 30 miles về phía Bắc Đông Bắc, gần tương đương với quận hạt Santa Clara, California cả về diên tích lẫn dân số. Có 20 sắc dân sống chung ở đó, nhưng rất hiền hòa và thuận thảo. Bắc Giang có con sông Thương. Sông Thương là một con sông chảy qua các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang, và Hải Dương. Bắt nguồn từ huyện Chi Lăng, Lạng Sơn, nó chảy qua Phủ Lạng Thương, tỉnh lỵ của Bắc Giang. Tại đây nó hợp lưu vớisông Lục Nam và sông Cầu tại ngã ba Lác để trở thành sông Thái Bình. Đến gần thị xã Bắc Giang, có thêm một dòng sông đào đổ nước vào sông Thương. Nước sông Thương vốn trong xanh nay có dòng nước đục chảy vào thành ra có hai dòng chảy bên trong, bên đục như trong bài hát chúng ta nghe:…trôi trên sông Thương nước chảy đôi dòng. Ngày xưa, khi quan, quân lên trấn ải biên thùy Lạng Sơn, gia quyến của họ được phép tiễn đưa đến sông Thương rồi chia tay. Những cuộc tiễn biệt đầy thương cảm đã khiến cho người đời đặt tên dòng nước này là “Sông Thương”.

Bắc Giang không phải chỉ là chỗ người hiền, cảnh đẹp, đất giầu khoáng, mà còn là nơi sản sinh ra vị anh hùng nổi tiếng trong lịch sử chống ngoại xâm của nước nhà: Đề Đốc Hoàng Hoa Thám. Ông tên thật là Trương Văn Nghĩa, quê ở Tiên Lữ, Hưng Yên. Hoàng Hoa Thám theo giúp lãnh binh Trần Quang Soạn ở Bắc Ninh, được phong chức Đốc binh hay Đề đốc nên thường gọi là Đề Thám. Trong số những nhân vật nổi lên chống thực dân Pháp thời đó như Mai Xuân Thưởng, Đinh Công Tráng, Nguyễn Thiện Thuật, Phan Đình Phùng v.v. có thể nói Đề Thám là người lỗi lạc nhất. Ông được xung tụng là “Con Hùm Xám Yên Thế”. Chiến khu Yên Thế của Đề Thám là nơi cực kỳ hiểm trở. Quân Pháp bao vây và tấn công rất nhiều phen nhưng đều thất bại. Sau cùng chúng mua chuộc được tên nghĩa binh Lương Tam Kỳ để giết chết ông. Chiến khu Yên Thế bị san bằng. Nghĩa quân tan rã. Cuộc kháng chiến của Đề Thám kéo dài được ba mươi năm.

Một điểm quan trọng xin lưu ý là tinh thần chống ngoại xâm của nhân dân VN thật tuyệt vời, nhưng thói tham tiền để bán rẻ chiến hữu, bán rẻ đồng bào mặc cho nước mất nhà tan xưa nay cũng nhiều vô số kể: Trương Quang Ngọc bán vua Hàm Nghi, Hồ Chí Minh bán cụ Phan Bội Châu, Lương Tam Kỳ bán Hoàng Hoa Thám. Dương văn Minh và đồng bọn nhận tiền của CIA bán TT Ngô Đình Diệm .v.v. Và hiện nay, bọn bầu show, cai thầu văn nghệ vì tham đồng tiền dơ bẩn rước VGCS xâm nhập đánh phá cộng đồng cũng là một hình thức bán nước vậy.
Tông tộc của tên việt-gian Hồ chí Minh:
Image
Hồ là con hoang của Hồ Sĩ Tạo, đẻ ra thằng con hoang Nông đức Mạnh. Trên là bản mặt thằng "Tày", Nông quốc Tuấn (cháu nội hoang của thằng việt gian Hồ chí Minh)
Nói về Bắc Giang mà bỏ qua một điểm tuy nhỏ nhưng có tính cách chính trị thời sự lớn trong tương lai thì đúng là một thiếu sót. Một mẩu tin lượm trên Net cho biết, Chủ Nhật 25-7-2010, trong khi dân chúng thành phố nổi loạn thì Nông Quốc Tuấn vẫn ung dung tiếp đãi bạn bè món thịt bò tót do 2 đầu bếp từ Hà Nội lên chế biến tại nhà hàng Tài Lộc trong thành phố Bắc Giang. Xin nói qua một chút về tên Vẹm con này, bỏ lỡ mất cơ hội, uổng. Lý lịch trích ngang nó khai: Đồng chí Nông Quốc Tuấn sanh ngày 12-7-1963, dân tộc Tày, vô tôn giáo, sinh quán xã Cường Lợi, Na Rì, Bắc Kạn, thạc sỹ kinh tế, cử nhân chính trị, chức vụ phó bí thư tỉnh uỷ Bắc Giang.

Nên biết tường tận hơn, Tuấn là con trai của tên TBT Nông Đức Mạnh, cháu nội của thằng Hồ Chí Minh. Tuấn học xong cấp ba. Thi rớt đại học, nó xin đi "xuất khẩu lao động" ở Đức một thời gian, trở về Thái Nguyên làm ở Đoàn Thanh niên phụ trách thiếu nhi. Sau đó nó được thằng bố nhét ngồi vào chiếc ghế Chủ tịch Liên hiệp Thanh niên CS. Sau một thời gian, tình hình êm xuôi, thằng bố mới đẩy con về Bắc Giang làm phó bí thư tỉnh ủy, dự tính sẽ đưa vào BCH Trung ương đảng ở đại hội kỳ tới. Trong đại hội X, Nông Đức Mạnh định đưa con vào BCH đảng, nhưng phải thôi vì vấp phải sự chống đối quyết liệt của nhiều người. Bắc Giang có lẽ là nơi đất lành chim đậu của cha con thằng Tuấn. Tỉnh Ủy Bắc Giang có 13 tên, đứa nào cũng thạc sĩ, tiến sĩ cả, bết nhất là cử nhân hoặc kỹ sư. Có đứa hai, ba bằng. Không biết thằng Tuấn học ở đâu và học bao giờ mà cũng đậu tới hai bằng cấp: cử nhân chính trị và thạc sĩ kinh tế. Giỏi thiệt. Trên trần gian này, có lẽ chỉ có Đại Học Máu của Hà Thúc Sinh mới dậy dỗ con người ta thành tài mau chóng cấp kỳ đến như thế được. Như vậy là Nông Đức Mạnh đã có ý định truyền ngôi lại cho thái tử Nông Quốc Tuấn. Chuyện thừa kế ngai vàng đã có nhiều tiền lệ ở các nước CS, chẳng hạn tại Cao Ly , Cuba , và ngay tại VN ta nữa. Chỉ lo các thầy Ấn Quang và các ông chánh khứa ễnh ương mơ thành bò lại phải một phen nữa hô hào dân ta xuống đường chống gia đình trị. Thằng Mạnh là con rơi, không cho nó là gia đình trị cũng chẳng sao. Nhưng sau này nếu thằng Tuấn con chính thức làm vua mà không chống nó gia đình trị coi kỳ lắm, các thầy, các cụ ạ.
Bắc Giang Dậy Sóng

Image

Image
Dân chúng đập bảng hiệu của UBND
Bắc Giang hiền hòa thế mà bỗng tự nhiên ba đào nổi lên dữ dội. Nguyên nhân chỉ vì một vụ công an vô cớ giết người xẩy ra. Bản tin của đài RFA tóm tắt việc này như sau: hằng ngàn người dân xã Hồng Thái kéo chiếc xe tang của một thanh niên lên tỉnh, đòi vào trụ sở UBND tỉnh Bắc Giang, công an ngăn cản và giải tán, gây bạo động. Sự việc xảy ra hồi chiều Chủ Nhật 25 tháng 7 năm 2010.
Image
Bàn thờ nạn nhân Nguyễn Văn Khương tại gia đình ở xã Hồng Thái, huyện Việt Yên, Bắc Giang.
Theo tường thuật đầy đủ trên báo chí thì hôm Thứ Sáu 23-7, thanh niên Nguyễn Văn Khương, 22 tuổi, chạy xe máy, chở bạn gái đi mua đồ quên đội mũ bảo hiểm. Hai cảnh sát giao thông chặn anh lại, bắt giải về đồn trên chính chiếc xe của anh. Chỉ vài tiếng đồng hồ sau, gia đình được công an huyện mời ra xã và thông báo anh Khương đã chết. Gia đình hỏi thông tin về cái chết của thân nhân thì không ai trả lời. Bệnh viện mổ tử thi khám nghiệm nhưng lại làm biên bản láo nên gia đình không ký. Đến trưa chủ nhật, quá căm phẫn vì cái chết đầy bí ẩn của người thân nên gia đình quyết định đẩy xác nạn nhân lên cơ quan tỉnh để đòi công lý. Chiếc quan tài được thân nhân đẩy trên đường lên tỉnh bằng chiếc xe loại “cải tiến” mà các ông HO đi cải tại ai ai cũng đều biết. Dọc đường dân chúng đổ đi theo ủng hộ quá đông kể có hàng vạn người. Công an giàn hàng ngăn chặn. Thế là bạo động xẩy ra. Cuộc chiến nổ ra trên đường phố ngay trước cổng Ủy Ban Nhân Dân tỉnh. Công an nổ súng, thẩy lựu đạn cay, sử dụng matraque. Dân chúng trả đũa bằng gạch đá, gậy gộc. Cổng sắt tòa nhà ủy ban bị dân kéo sập. Xe công an bị đốt. Nhiều thanh thiếu niên bị công an bắt kéo lê trên đường phố và bị đánh đập tàn nhẫn.
Image
Cổng sắt tòa nhà ủy ban bị dân kéo sập
Người ta không cần đi tìm nguyên nhân của cuộc bạo động ở đâu xa là vì ở đâu có bất công, ở đó có đấu tranh. Chân lý này không phải Chúa, Phật, hay thần linh nào dậy, mà là do Karl Marx, ông tổ CS khám phá ra và đem dậy cho đệ tử. Nếu Marx còn sống, chắc ông ta phải tự tử vì ngón đòn gậy ông đập lưng ông này. Không phải bây giờ nhân dân VN mới bị đám đệ tử của Marx đàn áp, mà từ hơn 60 năm nay rồi. Bao nhiêu con dân VN vào tù không có án, cũng chẳng biết ngày nào ra. Bao nhiêu gia đình tan nát, con mất cha, vợ mất chồng, nhà cửa mất sạch. Với em Nguyễn Văn Khương, đồng bào chẳng ai quen biết, cũng chẳng phải thân thuộc, làm thế nào, không vận động, không kêu mời, mà người dân Bắc Giang tự động xuống đường đông như thế để đòi công lý cho em, nếu không phải oan hồn của hàng triệu đồng bào chết oan dưới bàn tay bọn Việt gian khát máu đã hiển linh trở về thúc dục người sống đòi giúp món nợ máu của mình trên trần gian ngày trước chưa được đền trả. Cha ông ta nói không sai: gieo gió thì gặt bão. Đàng khác, phải kể đến yếu tố tinh thần yêu nước của người dân. Trước kia, người dân Bắc Giang hăng hái gia nhập nghĩa quân của Đề Thám để chống thực dân Pháp và bọn quan lại triều đình thối nát thế nào, thì bây giờ khi có có cơ hội, họ đứng lên quyết tâm đập tan bạo quyền của bọn Việt gian bán nước, giết hại đồng bào cũng trong tinh thần đó.
Image
Bầy Chó Săn Của Đảng
Trên thế giới, việc cảnh sát đánh người thôi đã là chuyện khó xẩy ra. Nếu xẩy ra thì công lý nhất định phải được làm sáng tỏ. Thế nhưng tại VN thì trái lại, công an giết người không cần có lý do đã trở thành chuyện hầu như cơm bữa. Nó bình thường đến độ bọn cầm quyền ở trên không cần xem đó là việc quan trọng cần phải giái quyết. Đây là sự thực chứ không phải là thêu dệt. Chuyện xẩy ra tại giáo xứ Cồn Dầu Đà Nẵng hãy còn nóng hổi. Hồi đầu tháng 7 vừa qua, anh Nguyễn Thành Năm chỉ vì tham gia đẩy xe tang bà cụ Hồ Nhu tới khu nghĩa địa mà bọn cầm quyền địa phương không cho chôn ở đó cũng bị công an đánh hộc máu chết. Bọn đầu đảng lấp liếm bảo là anh bị đột quỵ hoặc nhịn ăn mà chết. Gia đình anh và giáo dân Cồn Dầu biết rất rỏ lý do tại sao anh chết, nhưng không ai dám nói ra vì tai vạ đang chờ đón bất cứ ai nói lên sự thật, khi công an đã ra lệnh phải tuyệt đối bảo mật cái chết đau đớn này. Không phải chỉ có hai cái chết oan ức của các anh Nguyễn Văn Khương và Nguyễn Thành Năm, chắc chắn còn hàng trăm, hàng ngàn cái chết tức tưởi khác mà báo chí và dư luận không biết tới, chỉ vì thông tin bị bưng bít, và nhất là gia đình nạn nhân sợ trả thù nên không dám lên tiếng. Thử hỏi hàng trăm người bị bắt đi mất tích trong vụ nhân dân Thái Bình, quê hương của người viết, đứng lên đòi quyền sống năm 1997 hiện giờ ở đâu? Nếu giam giữ thì toà án nào đã xét xử họ, vì tội gì, thời hạn tù bao lâu, và ít nữa gia đình cũng phải được biết tin và thăm nuôi chứ.

Tình trạng nghiêm trọng và nguy hiểm nhất cho xã hội VN ngày nay là công an có quyền tự do tra tấn, hành hạ, đánh đập, và thậm chí giết chết người dân mà không bị trị tội. Ngược lại, người dân cũng không có quyền kêu nài, khiếu nại, hay thưa kiện gì cả. Thật ra thì đôi khi gia đình nạn nhân cũng có khiếu nại nhưng chẳng cơ quan nào, chẳng tòa án nào chấp đơn và giải quyết. Sự thực hiển nhiên là hai cái chết của anh Nguyễn Thành Năm tại giáo xứ Cồn Dầu, và anh Nguyễn Văn Khương ở Bắc Giang có được cơ quan hay tòa án nào thụ lý đâu, mặc dầu gia đình có làm đơn thưa gởi. Những tên công an vô cớ đánh chết người cũng không hề bị luật pháp hỏi thăm tới. Đáng sợ nhất đây lại là chính sách của cái gọi là nhà nước VGCS. Chính sách này như một tôn chỉ của ngành công an nhân dân VGCS được thể hiện rất rõ ràng qua khẩu hiệu: Công an nhân dân chỉ biết còn đảng còn mình. Câu này có nghĩa là nếu đảng chết, công an cũng sẽ chết. Đảng còn sống, công an mới sống được. Nguyên lý này đưa đến những kết luận sau:

- Thứ nhất, công an là công cụ chuyên chính của đảng VGCS, chứ không phải là lực lượng bảo vệ sự an toàn cho đời sống của dân chúng.

- Thứ hai, đảng CS và công an đã ở vào cái thế là kẻ thù của nhân dân, và ngược lại, người dân cũng là kẻ thù của đảng và công an. Hai thành phần này là hai thực thể đối kháng của nhau.

- Thứ ba, nếu công an để cho nhân dân tiêu diệt đảng thì bản thân người công an cũng không thể sống nổi. Do đó người công an nhân dân phải tuyệt đối chuyên chính với dân chúng. Muốn giết thì cứ giết, không cần biết có tội hay vô tội.

- Thứ tư, Chủ trương dã man, phi nhân tính và phi đạo đức này của VGCS dồn người công an đi vào con đường cùng, không còn lối thối lui nên phải tuyệt đối trung thành với đảng, phục vụ đảng hết mình dù phải chống lại nhân dân. Cái bảo đảm vững chắc nhất cho sự phục tùng tuyệt đối này là công an dù có phạm lỗi gì cũng được đảng miễn thứ.

Chủ trương vừa thâm độc, vừa tàn ác, nhưng hữu hiệu này là lý do giải thích tại sao công an đánh chết dân mà không bị pháp luật trừng trị như người dân VN đã thấy tận mắt. Tóm lại, lực lượng công an VGCS ngày nay thật sự đã trở thành một bầy chó được thuần hóa hoàn toàn, rất trung thành và rất dễ sai khiến, gọi là đảng khuyển có lẽ đúng nghĩa.

Lời Nhắn Gởi Để Lại

VGCS bán nước, gian tham, tàn ác nhân dân VN ai cũng biết, và thế giới đã thấy. Cũng với một câu đó thôi, Karl Marx nói: đâu có bất công, ở đó có đấu tranh. Nhân dân Thái Bình đã vùng lên đấu tranh. Thái Hà, Đồng Chiêm, giáo dân đã đứng dậy, và nhiều nơi khác nữa, nhưng tất cả chỉ như cơn bão tới rồi qua đi. Lý do tại sao? Trước hết phải kể người dân thiếu lãnh đạo. Từ sau ngày TT Ngô đình Diệm bị Dương Văn Minh và bọn tướng tá phản loạn giết chết, người dân chống cộng sản không còn lãnh đạo nữa. Trông vào ai đây? Các đảng phái cũ thì chia năm sẻ bẩy kình chống lẫn nhau nên hầu như rã đám hết. Các tổ chức mới mọc lên phần đông đều là loại dơi chuột làm cò mồi cho CS. Tôn giáo thì HT Thích Quảng Độ khuyên chỉ nên biểu tình tại gia. Ngài không chấp nhận xuống đường gây náo loạn. Lm Nguyễn Văn Lý còn chống bạo động hơn thế nữa. Ngài nói: nếu rối loạn thì thà để cho CS cai trị còn hơn. Như vậy, xuống đường như tại Bắc Giang không phải là chủ trương tranh đấu của cha Lý. Đức TGM Ngô Quang Kiệt cô đơn, một mình ngài không đủ sức trụ nổi. Như vậy, xem ra thì Bắc Giang vùng lên rồi cũng vậy thôi. Có phải nhạc sĩ Đặng Thế Phong linh cảm thấy trước sự kiện Bắc Giang nên đã để lại một lời nhắn gởi người dân tại đây trong nhạc phẩm “Con thuyền không bến” của ông: ….Bến mơ dù thiết tha, thuyền ơi đừng chờ mong …

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

Posted: Mon Aug 02, 2010 2:12 am
by vuphong
Image

Đô đốc Mike Mullen:
Quân đội Mỹ đã có kế hoạch tấn công quân sự với Iran


Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ, Đô đốc Mike Mullen, cho biết hiện tại quân đội Mỹ đã có kế hoạch tấn công quân sự với Iran để sử dụng nếu cần. Tuy vậy, vị tướng lĩnh cao cấp nhất trong quân đội Mỹ cho rằng tấn công quân sự vào Iran không phải là ý hay.Theo ông, nếu tấn công quân sự vào Iran thì sẽ có những sự vụ xảy ra không thể lường hết được đối với khu vực Trung Đông cũng như với các bên liên quan.
Tuy vậy, ông cũng khẳng định rằng tham vọng phát triển vũ khí hạt nhân của Iran là không thể chấp nhận được.

Và do vậy, mọi phương án vẫn phải sẵn sàng, trong đó có phương án tấn công quân sự vào Iran.

Mới vài ngày trước, một cựu quan chức cấp cao của Cục tình báo trung ương Mỹ (CIA) cũng vừa phát biểu cho hay khả năng Mỹ đánh Iran ngày càng rõ rệt hơn.

Cựu Giám đốc CIA dưới thời Tổng thống Bush, ông Michael Hayden, cho rằng phương án dùng quân lực chống lại Iran đang ngày càng khả thi, khi mà các biện pháp ngoại giao liên tiếp của Mỹ cũng như cộng đồng quốc tế tỏ ra không có tác dụng gì với Iran.

Cựu Giám đốc CIA dưới thời Tổng thống Bush cho rằng bất chấp tất cả, Iran đang tiến dần tới mục tiêu chế tạo vũ khí hạt nhân và Mỹ sẽ buộc phải sử dụng biện pháp phi ngoại giao với Iran.

Những quan điểm như trên đang được nhiều giới chức Mỹ chia sẻ, bởi lúc này Mỹ vẫn coi biện pháp quân sự là một khả năng phải tính đến, trong trường hợp biện pháp ngoại giao và cấm vận không ngăn được Iran chế tạo vũ khí hạt nhân.

(Theo AP, Reuters, CNN)

Posted: Tue Aug 03, 2010 5:30 am
by quangminh
Biển Ðông dậy sóng

Võ Long Triều

Mọi vật chuyển biến không ngừng. Qui luật tự nhiên trong trời đất là như vậy. Kinh tế chính trị xã hội đều phải thay đổi theo thời gian. Năm 1972, Mao Trạch Ðông tuyên bố: Kẻ thù ngày hôm trước cũng có thể biến thành bạn mình ngày hôm sau. Lập tức các bản tuyên truyền chống “con cọp giấy Mỹ quốc” đều phải bôi bỏ nội dung. Trung Quốc chuẩn bị tiếp đón long trọng Tổng Thống Hoa Kỳ Richard Nixon cùng với Ngoại Trưởng Henry Kissinger. Hậu quả, Trung Cộng tiếp sức Hà Nội đánh chiếm miền Nam Việt Nam bị Mỹ bỏ rơi.

Năm 2008 Tổng Thống Obama trong chuyến viếng thăm Trung Quốc đã nhiệt tình ca ngợi sự phát triển, tiến bộ của xứ này và thẳng thừng tuyên bố Hoa Kỳ không phản đối Trung Cộng trở thành một siêu cường quốc. Sự nhún nhường, thái độ hòa nhã, xã giao quá đáng của Tổng Thống Obama cho phép Trung Quốc hiểu ngầm con nợ Hoa Kỳ yếu thế, nên “thừa thắng xong lên” tuyên bố: “Biển Ðông là lợi ích cốt lõi của Trung Quốc cũng như Ðài Loan, Tân Cương và Tây Tạng.” Ðồng thời Trung Quốc nới rộng hải phận của mình bằng một “lưỡi bò” chiếm trọn các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam và các nước Philippines, Mã Lai Á, Brunei, Ðài Loan cũng giành quyền sở hữu một số đảo trong vùng.

Ngoài ra hải quân Trung Quốc còn quấy nhiễu, khiêu khích tàu Impecable của Mỹ di chuyển trong hải phận quốc tế. Hơn thế nữa Trung Quốc cấm công ty dầu hỏa của Mỹ không được phép khai thác trong hải phận Việt Nam.

Bất ngờ chính sách thay đổi. Ngày 27 tháng 7 năm 2010, ngoại trưởng Hoa Kỳ bà Hilary Clinton tuyên bố tại “Diễn Ðàn ASEAN-ARF” ở Hà Nôi: “Hoa Kỳ có lợi ích quốc gia trong việc tự do đi lại, tự do đi vào vùng biển chung của Châu Á, và tôn trọng luật pháp quốc tế ở biển Ðông.”

Bà còn nhấn mạnh thêm: “Chúng tôi chống dùng võ lực hay đe dọa bằng võ lực của bất cứ nước nào trong sự tranh chấp chủ quyền hải đảo và ranh giới hải phận.”

Cũng tại diễn đàn này bà ngoại trưởng còn bày tỏ quan điểm của Hoa Kỳ là khuyến khích cách giải quyết bất đồng về chủ quyền hải phận, đặc biệt quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa bằng đường lối ngoại giao đa phương. Ðiều mà Trung Quốc luôn chủ trương giải quyết bằng sự thương lượng song phương, để dễ bắt nạt, hăm dọa, mua chuộc đối phương, nhứt là với Việt Nam, nước láng giềng “hữu nghị” có thỏa thuận hợp tác toàn diện với người đồng chí “Tốt” là Trung Quốc. Tờ New York Times nhận định bà Hillary Clinton đã đặt Trung Quốc vào một tình thế “bối rối”.

Trước ngày khai mạc diễn đàn ASEAN, khi biết tin quân đội Hoa Kỳ sẽ tập trận qui mô, chung với quân Nam Hàn ngày 25 tháng 7 năm 2010 với sự tham gia của hàng không mẫu hạm và ba tàu ngầm lớn chuyên chở 154 hỏa tiễn Tomahawk, túc trực tại ba căn cứ Subic Bay Philippines, Busan Nam Hàn và Diego Garcia, có khả năng bắn chính xác vào mục tiêu cách xa 1,000 dặm. Còn có nhiều tàu chiến, phi cơ chiến đấu và trực thăng của hai nước đồng minh tham dự.

Trung Quốc lớn tiếng phản đối hành động này có tính cách đe dọa quốc gia họ và Bắc Triều Tiên. Ông Xu Guangquian, chiến lược gia quân sự Trung Quốc cảnh cáo: “Trung Quốc cương quyết bảo vệ không gian chiến lược của mình đối mặt với mọi đe dọa đến từ các nước khác.” Ngày 20 tháng 7 năm 2010 Trung Quốc diệu võ dương oai bằng một cuộc tập trận lớn phô trương sức mạnh hải quân của mình.

Sau lời phát biểu của ngoại trưởng Mỹ, Bắc Kinh lập tức phản ứng mạnh. Ngoại trưởng Trung Cộng, Dương Khiết Trì cho rằng bà Clinton nhắm vào Trung Quốc, tạo cho cộng đồng quốc tế một ấn tượng sai lầm rằng tình hình biển Ðông là do Trung Quốc gây xáo trộn, gieo lo ngại cho các nước trong khu vực. Bắc Kinh cáo buộc Hoa Kỳ âm mưu quốc tế hóa vấn đề biển Ðông.

Dương Thiết Trì còn tuyên bố ASEAN không phải là diễn đàn thích hợp để bàn thảo về biển Ðông. Cũng nên nhắc lại là tháng 4 vừa qua Trung Quốc đã thông báo cho hai viên chức cao cấp của Hoa Kỳ là ông Jeffrey A. Bader và James B. Steinberg rằng biển Ðông là lợi ích cốt lõi của Trung Quốc. Ðồng thời Trung Quốc cũng từng khẳng định huyện Tam Sa, nghĩa là quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, là hải phận của Trung Quốc không chối cãi được.

Cũng trong lúc đó báo quân đội Giải Phóng Nhân Dân Trung Quốc loan báo một cuộc thao diễn qui mô khác, đặt dưới sự giám sát của Tổng Tham Mưu Trưởng, Tướng Trần Bình Ðức. Tướng Ðức đưa ra lời kêu gọi quân đội giải phóng Trung Quốc, thẳng thừng nói: “Phải cảnh giác, có thể sẽ có những thay đổi trong nhiệm vụ và cần phải sẵn sàng chuẩn bị cụ thể ứng phó với những đụng độ quân sự”.

Cuộc thao diễn qui mô, kết hợp hai hạm đội Bắc-Nam nhằm mục đích chứng minh cho thế giới thấy Trung Quốc sẵn sàng và có khả năng đối đầu với mọi tình huống. Cách đây không lâu Tướng Tư Lệnh không quân Trung Quốc đã tuyên bố: Không Quân Trung Quốc chẳng những đủ khả năng bảo vệ quốc gia mà còn có thể chiến đấu ra ngoài biên giới Trung Quốc.

Báo chí Mỹ và ngoại quốc cho rằng bà Clinton tuyên bố: “Biển Ðông là lợi ích quốc gia của Mỹ” có nghĩa là Hoa Kỳ trực tiếp thách thức Trung Quốc.

Tình hình chính trị và quân sự trong vùng Á Châu và biển Ðông đột nhiên trở thành căng thẳng. Việc gì sẽ xảy ra trong tương lai gần và xa?

Sự kiện không thể chối cãi được là khoảng thời gian 2008 trở đi, Trung Quốc công khai bày tỏ chủ trương bành trướng với ý đồ cướp đất chiếm biển bằng cách dùng võ lực ác chiến với hải quân Việt Nam Cộng Hòa và cướp Hoàng Sa năm 1974, dùng hải quân triệt hạ tàu chiến của nước đồng chí “láng giềng hữu nghị” năm 1978 và chiếm thêm một số đảo khác thuộc quyền kiểm soát của người anh em “tốt” là Việt Nam.

Cũng trong thời gian dài đó tàu Trung Quốc đâm chìm, bắn hư ngư thuyền Việt Nam đang lưới bắt cá trong vùng biển thuộc hải phận Việt Nam, ngoài khơi các tỉnh Quảng Ngãi và Ðà Nẵng. Ngư dân Việt Nam thường xuyên gặp tàu lạ mang cờ Trung Quốc nhưng Hà Nội cấm báo chí nêu đích danh. Bọn cướp giết hoặc bắt ngư phủ Việt Nam buộc phải nạp tiền chuộc mạng mà Hà Nội không dám can thiệp phản đối.

Sự thay đổi lập trường của Mỹ làm yên lòng, vững tâm dân chúng thuộc các nước trong vùng Châu Á. Họ bất mãn đối với bá quyền Bắc Kinh nhưng đơn phương họ không dám công khai gây hấn. Ðặc biệt Việt Nam vui mừng vì tình hình biển Ðông biến chuyển theo chiều hướng thuận lợi, nhờ sự can dự trực tiếp và mạnh mẽ của Hoa Kỳ nên Trung Quốc sẽ giảm áp lực đè nặng trên đầu Bộ Chính Trị đảng đồng thời tạo sự bất mãn tận cùng trong quần chúng. Tình thế hiện tại cho phép Trung Tướng Nguyễn Chí Vịnh, thứ trưởng quốc phòng Việt Nam, khua môi múa mép một cách khôi hài nói rằng: Việt Nam có đủ khả năng chống trả mọi áp lực bất cứ từ đâu đến. Thực tế Việt Nam chưa quyết tiến thoái như thế nào? Bởi vì giới quan sát cho rằng nếu theo Mỹ thì mất đảng, nghĩa là mất tất cả, còn theo Trung Quốc thì mất nước, dân nổi loạn cũng mất đảng và mất tất cả.

Người ta phải công nhận: Dù Trung Quốc có thao diễn bao nhiêu lần, sức mạnh của hải, lục, không quân và hỏa tiễn tầm xa có bắn tới đâu đi nữa cũng không thể chứng minh được sức mạnh quân sự của Trung Quốc có thể bằng lực lượng quân sự của Hoa Kỳ trong hiện tại. Chỉ cần xem Trung Quốc có bao nhiêu hàng không mẫu hạm? Bao nhiêu tàu ngầm, nguyên tử và không nguyên tử? Bao nhiêu hỏa tiễn tầm xa? Và nếu phải đặt vấn đề đầu đạn nguyên tử thì chắc chắn Trung Quốc còn thua kém Hoa Kỳ nhiều lắm.

Những sự biểu dương lực lượng ồ ạt của Trung Quốc chỉ để trấn an dư luận trong nước cũng như vài tuần trước đây, Bác Hàn hăm dọa sẽ dùng bom nguyên tử tiêu diệt Nam Hàn nếu cuộc tập trận chung với Mỹ đe dọa an ninh xứ này. Thực tế võ mồm không hù dọa được hai nước đồng minh diễn tập y như có giặc thật, nhắm vào mục tiêu nào Bắc Triều Tiên phải biết.

Tóm lại, phải nghĩ rằng trong thế yếu ngày nay, Trung Quốc phải đành nuốt hận nhịn thua, không phải giả dại qua ải mà ngược lại phải tuyên bố hung hăng, một thứ cường điệu để qua ải chờ thời mà không mất mặt.

Vấn đề còn lại là trong tương lai gần và tương lai xa Trung Quốc sẽ làm gì? Xin phép được trình bày ở kỳ sau.

Võ Long Triều
31 tháng 7, 2010

Posted: Wed Aug 04, 2010 12:30 am
by quaichao
Di cư, tầng lớp tinh hoa mới của Trung Quốc rời bỏ đất nước.

Hệ thống pháp luật và xã hội đối với họ không đảm bảo: tầng lớp trung lưu có trình độ của Trung Quốc đã ra đi. Họ nhắm đến Hoa Kỳ và Canada.
“Đã thế thì đi ngay ra nước ngoài sống” – mới một vài năm trước đây, có thể bà He Bing (tên đã được thay đổi), một người làm nghề quản lý văn phòng ở Bắc Kinh, đã cười khi nghe câu nói như vậy. Mặc dù bà ta khi đó cũng đã có những lo lắng cho kết quả học tập của đứa con trai hiếu động của mình vì sợ rằng nó sẽ không kham nổi hệ thống thi cử cứng nhắc. Nhưng bà He đã có một công việc mà bà ưa thích, chồng của bà cũng đang bận rộn lập công ty e-learning riêng của anh ta cơ mà. Tại sao sau đó lại nghĩ đến chuyện di cư, và đặc biệt là, đi như thế nào?

Tuy nhiên gần đây bà ta ngày càng nghe thấy từ nhiều người quen luôn chỉ có một điều giống nhau: Chúng tôi muốn đầu tư vào Mỹ hoặc Canada, muốn có được một giấy phép cư trú dài hạn tại các quốc gia này và sau đó đem các cháu sang học phổ thông hoặc đại học tại đó. “Bạn bè, quảng cáo, truyền thông dường như đột nhiên tất cả đều xoay quanh chuyện di cư”, người đàn bà 44 tuổi nói, “và bây giờ chúng tôi cũng muốn bỏ thời gian để tìm hiểu chuyện này.”

Có nhiều ngưòi có bằng cấp, có đời sống phong lưu ở nước Cộng hòa Nhân dân này cũng đã nghĩ như bà He. Theo thống kê chính thức, năm ngoái đã có tới 650000 người Trung Quốc được phép thường trú tại Hoa Kỳ – bằng cỡ khoảng một phần năm số người Trung Quốc đang sống tại Hoa Kỳ. Tình hình cũng tương tự như vậy ở Canada: năm ngoái đã có thêm 250000 người Trung Quốc mới nhập cư nhập vào con số 1300000 người Canada gốc Trung quốc đang sống ở đây. Phần đông trong số đó thuộc vào tầng lớp ưu tú nhất của Trung Quốc trong lĩnh vực kinh tế và văn hóa. Các phương tiện truyền thông của Trung Quốc đã lên tiếng cảnh báo hiện tượng “chảy máu chất xám” và “tiền chảy ra nước ngoài”. “Liệu có phải đó là dấu hiệu về sự khủng hoảng của một quốc gia bị phá sản?”, thậm chí tờ báo của Chính phủ Guoji Xianqu Daobao (International Herald Leader) cũng đã phải đặt ra một câu hỏi như vậy.
Image
Joe Dong (tên đã được thay đổi), người tư vấn của bà Bing thuộc văn phòng Henry Global Consulting Group của Canada tại Bắc Kinh không nhận thấy tình hình ở mức độ trầm trọng như vậy. Cho dù ông ta không phải là không nhận ra được động cơ của những người di cư tiềm năng như là một cảm giác khủng hoảng. “Nỗi lo lắng của các bậc cha mẹ đó là hệ thống giáo dục ở đây quá cứng nhắc và những lợi ích xã hội họ nhận được quá thấp”, ông Ding nói, “Những nhà kinh doanh đang lo lắng cho tính bất ổn của pháp lý và giá bất động sản cao.” Chỉ riêng viêc được cấp một giấy phép thường trú để có thể dễ dàng đi du lịch qua Mỹ, Canada hay Úc theo Dong cũng đã có một vai trò rất lớn.

Đặc biệt những ai được đào tạo tốt và có trình độ nhưng không có cơ hội thì họ thử tìm vận may trong cái gọi là “nhập cư kiểu đầu tư”. Năm ngoái, số lượng đơn xin đầu tư vào Mỹ đã tăng lên 1000, gấp đôi so với năm 2008. Để làm như vậy họ phải chi $500,000 vào một dự án được chỉ định hoặc vào một công ty mới thành lập. Canada năm qua đã có kế hoạch tạo 2055 địa điểm nhập cư đầu tư. Một nửa trong số đó theo số liệu thống kê của Canada do người Trung Quốc tham gia. Cuối tháng sáu, chính phủ ở Ottawa đã nâng giới hạn tổng tài sản và giới hạn đầu tư lên thêm 50% nghĩa là lên đến 1.200.000USD hay 600.000 đô la Canada.

Mặc dù có làn sóng di cư nhưng hiện nay việc quyết định ra đi vẫn phải xem xét kỹ càng, ông Dong nói. Ngày xưa phần đông những người nhập cư có tay nghề thấp, chủ yếu là trong thập niên tám mươi và chín mươi, do sự kỳ vọng quá cao vào “miền đất hứa”, họ đã leo lên một con tàu hoặc một xe tải nào đó để thực hiện một cuộc hành trình gian khổ đến Mỹ hoặc châu Âu. Ngày nay bên cạnh thông tin trên Internet nhiều khách hàng của ông ta cũng đã từng ra nước ngoài và có người thân hay có các mối liên hệ kinh doanh. Trong khi tư vấn Đong cũng chỉ ra cho khách hàng của mình thấy những khó khăn về mặt ngôn ngữ hay văn hóa. “Không phải đối với ai việc di cư cũng là một sự lựa chọn đúng”, ông nói.

Tuy nhiên, đặc biệt là nhiều thành viên của tầng lớp trung lưu họ cảm thấy, họ không có sự lựa chọn nào khác, nhà triết học Xu Youyu đã nói như vậy. Hệ thống luật pháp lỏng lẻo của Trung Quốc không thể đảm bảo cho tài sản của họ, không thể tạo cho họ một cuộc sống bình yên, Xu viết trong một bài tiểu luận gần đây, “một xã hội công bằng có thể đảo ngược dòng chảy của sự di cư”. Ở Trung Quốc người ta quá bị phụ thuộc vào việc hối lộ và các mối quan hệ. “Công lý là cội nguồn của niềm tin”, nhà tư tưởng cảnh báo, “chỉ có một xã hội công bằng, người ta mới có cảm giác gắn bó.”

Nhà xã hội học Yu Jianrong, cùng làm việc với Xu tại Học viện Khoa học Xã hội Trung Quốc cũng có cái nhìn tương tự. Ông cũng cho rằng việc tìm kiếm thẻ xanh gần đây (Green Card)là lối thoát hiểm khi cần thiết đối rất nhiều người. “Xã hội Trung Quốc không có luật pháp”, ông Yu nói, “và vì vậy nhiều người cảm thấy không an toàn, họ lo sợ cho tương lai”. Người ta không thể nào biết được cái gì sẽ xảy ra trong tương lai.

Điều này, mỉa mai thay cũng đúng cho tầng lớp quyền lực của Trung Quốc. Những cán bộ đã vơ vét tích lũy được một đống tài sản thông qua việc lạm dụng quyền lực, họ lo lắng rằng một ngày nào đó họ sẽ phải bị quy trách nhiệm. “Do đó, tốt nhất họ chuyển tiền của họ ra nước ngoài và cho con cái của họ ra nước ngoài định cư”, ông Yu nói.

Chính ngay cả ông Dong cũng đã không bác bỏ nhận xét này. Nhưng đó chỉ là một số ít, ông ta nói. Số đông hầu hết vẫn còn tiếp tục quan tâm đến việc gìn giữ hoặc gia tăng các nguồn thu nhập hợp pháp của họ. Ý nghĩa của thẻ xanh, vì vậy về trung hạn sẽ không còn lớn đối với nhiều người. Trung Quốc sẽ tiếp tục mở cửa và do đó hệ thống giáo dục và pháp luật sẽ tiếp tục được cải tạo về cơ bản, Dong quả quyết. Kiểu gì thì di cư cũng không bao giờ là con đường một chiều: “Ngay cả khi ở nước ngoài, người Trung Quốc vẫn luôn luôn gắn bó với Trung Quốc lục địa, và như vậy kiến thức và vốn sẽ chảy quay trở lại.”

Bums, X-Cafe chuyển ngữ
Nguồn: Kristin Kupfer, Zeit Online

Posted: Thu Aug 05, 2010 1:38 am
by thienthanh
Bịt miệng nạn nhân


Một trong những phương pháp hữu hiệu để kẻ ác che giấu tội phạm họ là bịt miệng nạn nhân. Khi không thể bịt miệng nạn nhân được thì kẻ ác sẽ dùng biện pháp tâm lý để trấn áp tinh thần, làm cho nạn nhân có cảm giác mình nhúng tay một phần trong tội ác. Sau đó, nạn nhân vì nhục nhã mà không dám lên tiếng tố cáo. Nếu cả hai biện pháp trên không có tác dụng thì kẻ ác sẽ sử dụng mọi phương tiện, dùng địa vị, quyền lực, tiền bạc để một mặt bao biện và đánh bóng nhân thân và chối bỏ tội ác, còn mặt kia thì bôi nhọ nạn nhân là người vu khống xấu xa.

Khi việc bịt miệng đã xảy ra thì nào có ai biết được tội ác và nạn nhân trở thành những bóng ma vất vưởng ở trần gian. Các nạn nhận bị cưỡng bức tình dục trong gia đình thường sống vất vưởng với ám ảnh mình là tội phạm nhiều năm, có khi suốt cuộc đời. Chỉ khi họ có thể nào nói ra hết, nhận diện kẻ tội phạm, và từ bi với cả kẻ tội phạm lẫn với mình thì họ mới có thể bắt đầu tẩy rửa vết thương lòng và hồi phục lại.

Mấy ai biết được có một Trương Văn Sương đã ở trong lao tù, biệt giam của cộng sản Việt Nam hơn 33 năm. Khi ông được tại ngoại tạm thời vì lý do sức khỏe, có cơ hội lên tiếng thì người ta mới ngỡ ngàng biết rằng ông đã sống/chết trong địa ngục lao tù cộng sản như thế nào. Ông đã chịu sự đày đọa này không vì việc gì khác hơn là không nhận tội, và làm đúng phận sự của một công dân bảo vệ tự do trước kẻ gây tội ác với đồng bào ông.

Những nạn nhân của tội ác cộng sản thường luôn luôn bị bịt miệng. Những nạn nhân cộng sản người Nga thời Liên bang Xô-viết đã bị bịt miệng gần 100 năm (1918-2010) đến nay mới được Tổng thống Nga lên tiếng xác nhận là tội ác của Stalin. Khoảng 22.000 sĩ quan ưu tú Ba Lan đã bị tàn sát tập thể tại rừng Katyn bởi mật vụ Nga và bị bịt miệng đúng 70 năm. Chỉ mới đây, trong năm nay, chính phủ Nga mới thừa nhận tội ác này.

Tương tự, gần 50.000 người dân Việt vô tội bị giết và khoảng 500.000 chết lần mòn trong các trại cải tạo lao động hoặc vì đói trong cuộc Cải cách Ruộng đất năm 1953-1956. Sau 30-4-1975, 65.000 công dân miền Nam bị xử tử. Một triệu quân nhân, nhân viên bị bắt giam cầm trong các trại lao động cải tạo và 165.000 người chết trong tù. Rồi kế đó thì lại gần một triệu người vượt biên tìm được bến bờ tự do và 250.000 bỏ mình trên đường tìm tự do và trên biển cả. Một tập thể người Việt Nam tỵ nạn, nạn nhân cộng sản, đã bị bịt miệng đúng 35 năm. Cho đến nay chính quyền cộng sản Việt Nam chưa nhận tội. Và ký ức tập thể về tội ác đó đã dần dà bị tẩy xoá bởi những hoạt động trong và ngoài nước Việt Nam qua Nghị quyết 36.

Nạn nhân càng bị bịt miệng thì họ tự nhiên càng muốn được nói ra hết những uẩn ức trong lòng. Bằng cách này hay cách khác họ muốn kẻ phạm tội thú nhận tội. Khi không được bày tỏ bằng ngôn từ thì họ mong được lên tiếng qua cử chỉ hoặc dùng “ngôn ngữ” chợ búa. Một phóng viên người Iraq ném giày vào Tổng thống Bush để phản đối Hoa Kỳ đóng quân trên đất nước ông. Một bà dân oan đi kiện tụt quần tại văn phòng tiếp dân của Trung ương Đảng CSVN để phản kháng sự hiếp áp của công an nơi thưa kiện và việc chiếm đất ở địa phương. Bà thách thức bạo quyền thà cứ “hiếp” bà trước mặt công chúng còn hơn là bản thân và gia đình bị công an địa phương hà hiếp lén lút ở góc tối. Một gia đình ở Bắc Giang có con chết oan ức vì bị công an đánh, buộc phải đem quan tài diễu hành trên phố để đòi lại “công bằng cho con trai tôi”. Còn thêm bao nạn nhân chết tương tự dưới tay công an cộng sản như ông Nguyễn Năm (3-7-10), anh Nguyễn Phú Trung (8-6-10), Nguyễn Quốc Bảo (22-1-10), nhưng đa số tất cả đã bị bịt miệng.

Ông Lý Tống xịt hơi cay vào mặt ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng mà ông cho là một cán bộ văn hoá đang ru ngủ và tẩy xoá tội ác CSVN trong cộng đồng nạn nhân (tỵ nạn) cộng sản. Những hành vi trên được xem là “tục tằn”, “thô bạo”, “thiếu văn hóa”. Cách ứng xử có văn hoá giữa hai đối tượng chỉ có thể xảy ra khi hai bên có quyền lực tương xứng và cơ chế đối thoại phân minh. Một khi “miệng nhà quan có gang có thép” thì những kẻ bị hiếp đáp chỉ biết dùng “đồ nhà khó vừa nhọ vừa thâm” để đáp lại. Nếu một bên có quyền lực tuyệt đối, có quyền sinh sát, nắm tất cả các cơ chế hành pháp, lập pháp, tư pháp – như nhà nước Việt Nam đang nằm trong tay Đảng CSVN – để áp đảo tiếng nói của đối tượng thì mọi việc cũng như “con kiến mà kiện củ khoai”. Các luật sư còn bị họ vu khống, bỏ tù, cưỡng chế, quấy nhiễu chỉ vì dám lên tiếng bảo vệ công lý thì nhằm nhò gì đám dân đen bé cổ thấp họng. Kẻ bị đàn áp không có một cách thức nào khác hơn để lên tiếng. Những hình thức ngôn ngữ dung tục này là phản xạ hoàn toàn hợp lý cho những người nạn nhân bị ức hiếp, đàn áp.

Thế nào là có văn hoá? Ai định đoạt tiêu chuẩn văn hoá? Văn hóa “xin-cho” chăng? Nạn nhân lại phải đi xin công lý ư và chờ cường quyền cho lại nhân phẩm à? Những phê phán trên vị trí đặc ân, quyền lực và những so sánh khập khiễng của một số cá nhân trong sự kiện Lý Tống – Đàm Vĩnh Hưng này đã cho thấy chứng mất trí nhớ tập thể trong tâm thức của cộng đồng nạn nhân (tỵ nạn) cộng sản ở nhiều tầng lớp và thế hệ.

Kẻ thống trị và người hiếp áp luôn sử dụng và áp đặt những cơ chế để nạn nhân mất trí nhớ/quên đi tội ác mà kẻ bạo quyền đã và sẽ gây ra. Một thí dụ điển hình là có nhiều người từng là nạn nhân lạm dụng tình dục lại trở thành người hiếp áp trong chu kỳ kế. Một trong những nhân tố gây ra điều đó là vì họ không có cơ hội lên tiếng tố cáo kẻ phạm tội và tự mình hay bị ảnh hưởng một cách vô thức trạng thái đồng hoá cá nhân mình với bản thân tội phạm. Khi một nạn nhân bị mất trí nhớ về tội phạm thì họ sẽ tự chối mình là nạn nhân và có lúc quay trở lại tấn công những ai vẫn tiếp tục cố gắng lên tiếng NẾU còn nhớ bản thân họ chính là nạn nhân.

Ta đã thấy dàn đồng xướng khởi từ ngoài vào trong, từ xa đến gần, từ sơ đến thân bắt đầu bôi nhọ nạn nhân. Lý Tống (một trong tất cả người tỵ nạn cộng sản hải ngoại) là nạn nhân cộng sản đã bị gài khung là “bất lương”, “khủng bố”, “côn đồ”, “ngớ ngẩn, tai hại”[ii], “kiếm tiền”, và “phi văn hoá Mỹ”[iii] … Gài khung (framing[iv]) là một phương pháp rất hiệu quả để hướng dẫn dư luận, định hướng kết cuộc. Khi đã được cho vào khung thì mọi đối thoại đều lẩn quẩn trong khung với sức thuyết phục hấp dẫn, hầu dẫn đến một kết quả có chủ ý. Để có một nhận định tỉnh táo trước vô số tin tức tràn lan nhiễu động thì việc xem xét người viết định khung vấn đề như thế nào rất quan trọng. Nếu không chúng ta sẽ bị dẫn dắt vào ngụy biện và đưa ra một kết luận phán đoán sai lầm.

Ngay sau sự việc xảy ra, lập tức có một cuộc họp báo được thực hiện chóng vánh để ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng có cơ hội lên tiếng và so sánh: “Đàm Vĩnh Hưng đặt vấn đề là có rất nhiều ca sĩ hải ngọai từng hát những bài ca ngợi vinh quang, những chiến công hào hùng của những người ‘trước đây’ (Việt Nam Cộng hòa), ‘nhưng những ca sĩ đó về Việt Nam hát thì bên đó đâu có ai chống đối’”. Rõ ràng một sự so sánh khập khiễng trong tương quan quyền lực. Các ca sĩ hải ngoại về Việt Nam hát với tư cách cá nhân. Mọi bài hát đều phải được “duyệt” dưới quyền kiểm soát của Ban Văn hoá Tư tưởng. Vui thì cho hát, cho visa ngắn hạn, còn không vui thì tống cổ ra khỏi nước một cách “nhẹ nhàng”[v]. Muốn được “vui vẻ” thì phải nhắm mắt và ngậm miệng, chớ mà “phát biểu lung tung”. Đàm Vĩnh Hưng đi lưu diễn ở hải ngoại với tư cách cá nhân ca sĩ hay là cán bộ văn hoá? Cái nhập nhằng (và cái gian manh) ở đây là thế. Chẳng lẽ ở Việt Nam thì Đàm Vĩnh Hưng tham gia Thành đoàn TP HCM, khi nhót lên máy bay sang nước ngoài trình diễn thì bỏ lại căn cước đó ở nhà? Tóm lại, Đàm Vĩnh Hưng được cả bộ máy quyền lực (ủy ban nước ngoài và các cơ quan truyền thông) đứng phía sau/trước “tiền hô, hậu ủng”, nào ai đả động được. Những anh chạy màn và những kẻ cầm cờ đã phát biểu trước dọn đường cho cuộc gài khung bôi nhọ. Những người chân chưa sạch mùi phèn đã dùng luận điệu che bôi, dè bỉu “phi văn hoá Mỹ”. Đáng thương thay cho họ là kẻ “mất trí nhớ”.

Lại có người phát biểu quan điểm là “Giờ là lúc ngưng đánh đấm cuộc chiến đã hạ hồi từ lâu”. Cuộc chiến đã chấm dứt vào ngày 30 tháng 4 năm 1975. Phe chiến thắng, phía bại trận đã rõ ràng. Tuy nhiên, anh ta đã không (muốn) hiểu rằng cái diễn ngôn “tị nạn cộng sản” và diễn ngôn “chống cộng” là diễn ngôn thuộc về nạn nhân. Chống cộng ở đây nằm trong nội hàm lên tiếng tố cáo tội ác gây ra bởi Đảng CSVN đối với các nạn nhân ấy và cho cả dân tộc đang phải tiếp tục cam chịu. Nạn nhân sẽ lên tiếng cho đến khi nào kẻ gây ra tội ác nhận tội. Chừng nào nào kẻ gây ra tội ác vẫn chối và còn tiếp tục bịt miệng nạn nhân, gây thêm tội ác thì chừng đó nạn nhân vẫn tìm mọi cách mọi phương tiện kêu gào đòi lại công lý và nhân phẩm cho họ. Họ không thể để cho ký ức tập thể bị xóa nhòa và biến dạng để trở thành chứng lãng quên. Ba mươi lăm năm không phải là ngắn nhưng cũng chưa phải là dài để cho thế hệ thứ nhất bị chứng mất trí nhớ tập thể. Thế nhưng thế hệ 1.5 và thứ 2 đã và đang bị điều kiện môi trường dòng chính và tuyên vận cộng sản tìm chỗ yếu, kẽ hở, để xoá nhoà ký ức tị nạn của họ.

Hoa Kỳ tất nhiên có mặc cảm nhục nhã với cuộc chiến Việt Nam. Vì thế, họ muốn quên và cố gắng vượt qua mối nhục đó: Hoa Kỳ đã gỡ gạc phần nào, bắt đầu từ khi có sự kiện bức tường Bá Linh bị sụp đổ và khối cộng sản Đông Âu, Liên Xô tan rã. Họ không muốn nhắc, nhớ đến vết nhơ đó. Họ muốn xoá nhoà lịch sử thua trận và không muốn bị nhắc nhở bởi những người “đồng minh” cũ đang tỵ nạn trên đất nước này. Hoa Kỳ bình thường hoá quan hệ ngoại giao và khuyến khích trao đổi thương mại giữa hai quốc gia. Cộng vào đó là những giao lưu văn hoá, hoạt động thiện nguyện, và du lịch giúp Hoa Kỳ viết lại trang sử chiến bại thành chiến thắng trong tư thế tư bản thống lĩnh thị trường Việt Nam. Thông điệp từ cuộc sống dòng chính của Hoa Kỳ là “Hãy quên đi cuộc chiến Việt Nam”. Thế hệ trẻ người Mỹ gốc Việt học hỏi trong nhà trường và giao tiếp thường xuyên với người bản địa nên nhập tâm câu “thần chú” này. Một ông bác sĩ tâm thần người Do Thái nói với người Việt đồng nghiệp là “chiến tranh đã qua 35 năm rồi mà sao tụi bay vẫn còn nói tới nói lui hoài.” Chị bạn tôi trả lời “chừng nào người Do Thái các ông không còn nhắc nhở đến Holocaust thì chúng tôi sẽ ngừng nói về cuộc chiến Việt Nam” (when the Jews no longer talk about the Holocaust then we’ll stop talking about the Vietnam War). Một người Mễ đồng nghiệp khác cũng nói tương tự với chị và chị đã trả lời “khi nào ông nói với thân chủ là nạn nhân lạm dụng tình dục hãy câm lặng và sống cuộc đời phía trước thì lúc đó chúng tôi sẽ không nói đến cộng sản đã đối xử với đồng bào chúng tôi như thế nào” (until you tell your patient, a victim of sexual abuse, shut up, move on, then we will not talk about what they have done to our people.)

Đã đến lúc nạn nhân được lên tiếng và kẻ tội phạm thú tội.

© 2010 Vi Nhân

Posted: Fri Aug 06, 2010 5:41 am
by thienthanh
Hoa Kỳ Nhìn Từ Bên Ngoài

Nguyễn Xuân Nghĩa

Tình báo ISI của Pakistan và sở trường của Hoa Kỳ

Lâu lắm rồi, trong một bữa tiệc có vẻ thanh lịch, người viết được nghe gia chủ yêu cầu một dương cầm thủ trình bày... bản giao hưởng số bảy của Beethoven. Mọi người chết lặng. Nếu có một cỗ đàn điện keyboard thì may ra còn gõ lên vài giai điệu. Chứ một cây đàn piano không thể trình tấu một bản giao hưởng được viết cho mấy chục nhạc cụ.

Cây chuyện vui ấy lại trở về khi theo dõi tin tức về việc WikiLeaks tiết lộ hơn 91,000 tài liệu mật về cuộc chiến tại A Phú Hãn.

Thành lập và chủ trương trang điện tử là Julian Assange, một người Úc 39 tuổi. Nghi can đang bị điều tra vì có thể đã cung cấp tin mật cho Wikileaks là một binh nhất người Mỹ, 22 tuổi. Cậu Bradley Manning bị truy tố từ tháng 5 vì chuyển tài liệu mật vào máy điện toán riêng và có thể tiết lộ nhiều bí mật cho báo chí khi phục vụ ngành quân báo tại Iraq.

Sở dĩ ta nghĩ đến chuyện đòi dương cầm đánh một bản giao hưởng vì anh lính này và cả Julian Assange chỉ thuộc loại “one man band”, nhạc trưởng kiêm nhạc công trong một dàn nhạc điện tử... cá thể. Một loại “vạn lý độc hành” đầy bất mãn và khật khùng như chú Bradley Manning hay kỹ sư điện toán cực tả và phản chiến như Julian Assange thì chỉ là diễn viên thôi.

Họ không thể là đạo diễn của vụ tiết lộ quân sự được coi là nghiêm trọng nhất lịch sử nước Mỹ. Còn hơn Daniel Ellsberg và vụ Pentagon Papers thời chiến tranh Việt Nam rất xa, ít ra về số lượng tài liệu mật đã bị công khai hóa.

Xin hãy ngẫm lại mà xem: Dù có là phân tách viên về quân báo, làm sao một binh nhất có thể sao chép và chuyển tải một khối lượng tài liệu lớn lao như vậy của nhiều phần vụ khác nhau từ một hệ thống điện toán cũng tuyệt mật, rồi phóng ra cho WikiLeaks tung lên không gian điện toán?

Những ai là đạo diễn của vụ tiết lộ và làm như vậy cho mục tiêu gì? Câu hỏi này có thể không có giải đáp sau rất nhiều cuộc điều tra điều trần của các cơ quan liên hệ. Hoặc sự thật sẽ không thể được trình bày cho trung thực vì nhiều lý do bí hiểm khác. Mà cũng chẳng sao!

Nhìn từ bên ngoài, vụ WikiLeaks này đáng chú ý ở nhiều khía cạnh khác. Ðôi khi những khía cạnh ấy sẽ gián tiếp trả lời cho câu hỏi.

Thứ nhất, WiliLeaks chẳng tiết lộ chuyện gì ghê gớm ngoài vài chi tiết ghê tởm về chiến tranh và mặc nhiên trình bày tính chất phi chính nghĩa của cuộc chiến. Mọi cuộc chiến đều có điều ghê tởm cùng vơi một số lầm lẫn chiến thuật của những người trong cuộc. Nhưng cách tiết lộ có chọn lọc rất dễ đưa tới kết luận đó - là phần vụ còn lại của truyền thông báo chí.

Thứ hai, khi phanh phui mặt trái của chiến tranh, nó cung cấp tên tuổi và hình ảnh phương hại cho sự an toàn của dân A Phú Hãn và các binh lính phải phục vụ trong chiến trường này. Ðấy là điều đáng kết án về luân lý. Người ta có thể phản chiến mà vẫn can tội giết người được. Chuyện ấy cũng hợp lý như những kẻ điên trong phong trào bảo vệ súc vật mà gài bom vào một xưởng thuộc da, khiến nhân viên tử nạn! Những chuyện kỳ lạ như vậy quả thật là đáng chú ý.

Nhưng đáng chú ý hơn cả không thuộc về nội dung chẳng có gì là bí mật của vụ tiết lộ. Ðáng chú ý là cách báo chí Hoa Kỳ khai thác tin này.

Trước hết, WikiLeaks khéo dùng ba nhật báo đều thiên tả, là tờ The New York Times của Mỹ, The Guardian của Anh và Der Spiegel của Ðức, để trình bày có chọn lọc rồi diễn giải một cách mạch lạc sự phi lý của cuộc chiến. Sau khi tin tức được tiết lộ, trong mấy ngày liền, các bình luận gia thuộc cánh tả của Hoa Kỳ đều nhấn mạnh đến một sự thật khác là chính quyền Barack Obama không liên hệ gì tới những tội ác của chiến tranh A Phú Hãn. Rồi bắt đầu lý luận thêm về mục tiêu đích thực của cuộc chiến: vấn đề không nằm tại A Phú Hãn mà tại Pakistan. Kết luận hàm chứa ở dưới là Hoa Kỳ nên rút khỏi A Phú Hãn và quan niệm lại đối sách với Pakistan.

Nếu hiểu không lầm thì sau khi rút khỏi Iraq, Hoa Kỳ nên sớm rút khỏi A Phú Hãn. Quả là phù hợp với chủ trương của ông Obama!

Nhưng sau đó Hoa Kỳ sẽ phải chuẩn bị rọi đèn vào Pakistan!... Vì sao như vậy?

Vì xuyên qua tin tức và cách bình luận về vụ WikiLeaks, một sự thật mà ai cũng biết nay được xác nhận. Ðó là vai trò của cơ quan Tình báo Liên quân ISI Pakistan (Inter-Service Intelligence). Lần mò vào ngôi rừng bí hiểm đó, người ta bỗng lại thấy... “bàn tay lông lá” của Mỹ.

Cơ quan ISI được một thiếu tướng... Anh thành lập trong quân đội Pakistan từ năm 1948 - khi quốc gia vừa độc lập này còn nằm trong Khối Thịnh Vượng Chung của Ðế quốc Anh - nhằm khắc phục nhược điểm của Cục Quân Báo trong cuộc chiến giữa Pakistan và Ấn Ðộ vào năm đó. Trong 10 năm liền, ISI được bình yên và vô tích sự cho tới vụ đảo chánh năm 1958 của Tướng Ayhub Khan. Trong 10 năm sau đó, ông ta dùng cơ quan này củng cố chế độ của mình, ISI trở thành mật vụ về nội chính, và rất kém khả năng về tình báo đối ngoại.

Sau khi Ayhub Khan bị truất phế năm 1969, Tướng Yahya Khan lên cầm quyền thì ISI bị trôi vào tranh chấp nội bộ. Nhưng khi nội chiến bùng nổ giữa hai phe Ðông Hồi (Liên minh Awami) và Tây Hồi, và Ðông Hồi tách riêng thành xứ Bangladesh năm 1971 thì ISI trở thành công cụ đàn áp dân Bengali đòi ly khai. Sự can thiệp của Ấn Ðộ vào cuộc nội chiến giữa hai phần Ðông và Tây của Pakistan khiến vai trò của ISI bắt đầu được quan niệm lại, nhưng phải mất cả chục năm mới trở thành cơ quan tình báo đối ngoại, và chuyên trị về các lực lượng Hồi Giáo.

Ðấy là lúc Hoa Kỳ nhảy vào giúp sức. Lý do là sự can thiệp của Liên Xô vào A Phú Hãn năm 1979. Cơ quan ISI được tình báo Hoa Kỳ và Saudi Arabia yểm trợ để tiếp tế và huấn luyện các lực lượng kháng chiến Hồi Giáo chống lại chính quyền của đảng Cộng Sản Á Phú Hãn do Liên Xô dựng lên tại Kabul.

Và hiện tượng thẩm thấu đã xảy ra: ISI hỗ trợ kháng chiến Hồi Giáo A Phú Hãn nhưng kháng chiến Hồi Giáo đã thành “Thánh chiến” khủng bố và xâm nhập ngược vào bộ máy ISI. Hai bên sống chung và nhờ cậy lẫn nhau!

Ðộng lực của các tướng lãnh chỉ huy tổ chức này là dùng Thánh chiến Hồi Giáo tấn công các nhóm ky khai của sắc tộc Pashtun, nằm tại vùng biên giới giữa hai nước. Kết quả là phe Pashtun thiên tả bị đánh bại, và Thánh chiến Hồi Giáo thắng lớn! Khi chuyện ấy xảy ra, Hoa Kỳ không thể không biết: ISI được cơ quan CIA và tình báo Saudi Arabia giúp sức để yểm trợ hạt nhân đầu tiên của lực lượng Al-Qaeda - và lãnh tụ Osama bin Laden!

Nhưng mục tiêu của ISI và các tướng lãnh Pakistan lại hơi khác với những tính toán của Hoa Kỳ. Lãnh đạo Pakistan muốn đánh bại phe tả tại A Phú Hãn và lập ra một chính quyền thân Pakistan tại Kabul. Chưa mấy thành công trong mục tiêu đó, ISI lại lâm vào một cuộc chiến giấu tên khác: phong trào nổi dậy của dân Hồi giáo trong khu vực do Ấn Ðộ kiểm soát tại Kashmir vào năm 1989 khiến ISI nhìn từ hướng Tây qua hướng Ðông. Họ yểm trợ các lực lượng Hồi Giáo quá khích tại Kashmir để gây khó cho Ấn Ðộ.

Mà chuyện này cũng không qua mắt được Hoa Kỳ. Năm 1992, bộ Ngoại Giao Mỹ quyết định đưa Pakistan vào danh sách các quốc gia xuất cảng khủng bố và ISI bèn lột xác để khỏi bị trừng phạt.

Lột xác là thay đổi cái vỏ bên ngoài. Thực chất bên trong vẫn còn mục tiêu xây dựng lực lượng Hồi Giáo thân Pakistan tại Kabul. Vì mục tiêu đó, ISI giúp một nhóm Hồi Giáo của dân Pashtun lớn mạnh thành phong trào. Ðó là lực lượng Taliban - theo tiếng Pashtun là “sinh viên.” Sau khi giúp Taliban cướp chính quyền tại Kabul năm 1996, nhiều viên chức ISI còn đưa Osama bin Laden và các lãnh tụ Al-Qaeda từ Sudan về lập hậu cứ tại A Phú Hãn. Chuyện này, Hoa Kỳ thời Tổng Thống Bill Clinton cũng không thể không biết. Chính ông Clinton ra lệnh tấn công một cơ sở Al-Qaeda tại Sudan sau khi bin Laden tổ chức việc tấn công hai sứ quán Mỹ tại Phi Châu!

Nhớ lại vậy, người ta phải thấy bàn tay ISI trong các nhóm khủng bố Hồi Giáo tại cả A Phú Hãn ở hướng Tây lẫn Kashmir ở hướng Ðông. Một viên tướng phụ trách hồ sơ Kashmir này chinh là Pervez Musharraf, người sẽ đảo chánh và nắm chính quyền tại Pakistan vào cuối năm 1999.

Vụ khủng bố 9-11 tại Hoa Kỳ đảo lộn trò chơi kỳ lạ ấy.

Tướng Musharraf khi đó vừa lên làm tổng thống được tối hậu thư của Thứ Trưởng Ngoại giao Richard Armitage: Pakistan sẽ trở về thời đồ đá nếu không sát cánh tấn công Al-Qaeda và lực lượng Taliban. Mối quan hệ được xây dựng mấy chục năm giữa ISI và Taliban bị tạm gián đoạn. Tạm thôi, chứ không đảo ngược. Lãnh đạo ISI chọn giải pháp nước đôi: giúp Hoa Kỳ truy lùng đặc công khủng bố của Al-Qaeda nhưng tiếp tục yểm trợ để kiểm soát lực lượng Taliban lẫn các nhóm Hồi Giáo cực đoan khác, kể cả khủng bố Hồi Giáo tại Kashmir, thủ phạm vụ tấn công trụ sở Quốc Hội Ấn Ðộ vào cuối năm 2001.

Hoa Kỳ không thể không biết chuyện này vì gây áp lực rất mạnh với Islamabad. Musharraf chỉ thực sự thay đổi lãnh đạo của ISI khi chính ông bị ám sát hụt vào cuối năm 2003. Nhưng rồi đâu vẫn vào đấy. Ðầu lãnh của ISI có thay đổi, các sĩ quan cấp dưới vẫn giữ liên lạc và yểm trợ Taliban.

Lần thứ ba mà Hoa Kỳ gây sức ép nữa là đầu năm 2004, khi Pakistan phải xua quân vào vùng cấm địa Waziristan tại biên giới để truy lùng các tộc trưởng đang yểm trợ Al-Qaeda. Cơ quan ISI bị nhiều lãnh tụ Taliban nghi ngờ. Nhưng, hậu quả bất lường cho mọi người trong cuộc là sự hình thành của một phong trào Taliban tại Pakistan. Lãnh đạo Pakistan bỗng có hai lực lượng Taliban. Tại A Phú Hãn là loại Taliban “tốt” và tại Pakistan là bọn “xấu”... Trong khi ấy, Hoa Kỳ khỏi cần phân biệt và tiếp tục không tập khu vực tự trị của các sắc tộc tại biên giới giữa hai nước để tiêu diệt bộ phận đầu não của Al-Qaeda đang lẩn trốn ở nơi đó và gặp ác cảm không che giấu của ISI....

Chuyện chưa đủ nhức đầu! Quốc Hội Hoa Kỳ không hài lòng với chế độ độc tài của Musharraf và gây áp lực để ông ta phải rút lui. Chính quyền dân sự được bầu lên thay thế vào đầu năm 2008 là một chính quyền yếu. Và không thể kiểm soát được cơ quan ISI. Bên trong ISI, nhiều sĩ quan tiếp tục liên lạc và đỡ đầu cho Taliban tại A Phú Hãn. Họ là ai thì không ai biết rõ.

Cơ quan này do một sĩ quan cấp trung tướng là chỉ huy trưởng. Bên dưới là sáu viên tướng ở cấp thiếu tướng, rồi vài chục chuẩn tướng và cả trăm đại tá... Họ có nhiệm vụ rất rộng lớn, từ tình báo đến phản gián, an ninh nội chính lẫn “Hồi Giáo Vụ” và là thế lực mà lãnh đạo chính trị không thể coi thường, và phải thỏa hiệp để cầm quyền. Thực tế thì cơ quan này là một quân đội trong quân đội và lấy những quyết định có khi đi ngược với quyền lợi của Pakistan, gây ra nhiều vụ khủng hoảng chính trị trong một xứ Hồi Giáo duy nhất có võ khí hạch tâm.

Vì vậy, việc ISI yểm trợ Taliban và cản trở nỗ lực của Hoa Kỳ không là sự lạ, hoặc một bí mật vừa mới được WikiLeaks phanh phui. Khi điều trần trước Ủy Ban Ngoại Giao của Thượng Viện, một chuyên gia về chiến tranh chống nổi dậy và cố vấn của Ðại Tướng David Petraeus đã cho biết như vậy và khuyên các nghị sĩ nên tham khảo một phúc trình của Giáo Sư Matt Waldman thuộc Ðại Học Harvard đã soạn thảo cho trường London School of Economics. Chẳng thể nào công khai và quốc tế hơn!

Quan hệ giữa ISI và Taliban đã có từ lâu rồi. Nó manh nha ít ra đã ba chục năm nay khi chính quyền Jimmy Carter cho can thiệp vào A Phú Hãn để cản trở Liên Xô.

Kết quả ngày nay không phải là nước Mỹ đang sa lầy tại A Phú Hãn. Kết quả ngày nay là Pakistan đang lâm khủng hoảng vì có cái vỏ dân chủ ở trên, bên dưới là một ổ rắn độc. Lãnh đạo xứ này thường xuyên bị ám ảnh bởi mối nguy Ấn Ðộ nên ISI càng yểm trợ Taliban mạnh mẽ hơn vì e ngại Ấn Ðộ sẽ can thiệp vào Kabul và gây thêm sức ép cho Pakistan từ hướng Tây.

Hậu quả? Không phải ngẫu nhiên mà sau vụ WikiLeaks, các khuynh hướng phản chiến đều lên tiếng khuyên chính quyền Obama nên xét lại ưu tiên và sớm rút khỏi A Phú Hãn. Ðấy là mục tiêu của các đạo diễn giấu mặt sau vụ WikiLeaks chăng? Làm sao biết được! Nhưng hậu quả bất lường - như rất nhiều hậu quả bất lường người ta vừa thấy ở trên - là Pakistan sẽ thành ưu tiên! Xứ này mà lâm đại họa thì quân khủng bố sẽ tiến gần tới võ khí tuyệt đối.

Vì những mục tiêu nhất thời, nhiều khi Hoa Kỳ đã nuôi ong tay áo. Nhưng yên tâm là trong tay áo người khác. Lần này, có khi đàn ong sẽ vỡ tổ và bay tứ tung từ Trung Á qua Nam Á, hay Trung Ðông và xuống tới Phi Châu. Sở trường của nước Mỹ chăng?

Posted: Sat Aug 07, 2010 6:20 am
by thienthanh
Không Tham Nhũng Lấy Gì, Lấy Ai Làm Việc

Vi Anh
Ở trong chế độ CSVN, tham nhũng là một quốc nạn, ai cũng biết, ai cũng hô hào chống. Trong một chế độ tham nhũng đã trở thành quốc nạn đó, ai cũng biết nhưng ít ai nói ra một thực thể ngược đời, một nghịch lý thành thuận lý vì quá bình thường, quá phổ biến, quá quen thuộc không sửa chữa được. Hơn ai hết chính những người CS biết cái nghịch mà thuận lý đó. ấy là diệt hết tham nhũng lấy ai đâu mà làm việc, không tham nhũng lấy gì làm việc. Chính Đảng CS độc tài toàn trị trong thời kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã biền thái thành mẹ đẻ của tham nhũng, nhiều khi Đảng dùng tham nhũng để phát huy đảng viên và trừng trị đảng viên nữa.

Một, chống tham nhũng lấy ai, lấy gì làm việc. Nghiên cứu điển hình. Tuần san Le Courrier Internationnal của Pháp có một bài nói về nhà cầm quyền của một xã nghèo ở Trung Cộng, là xã Bạch Miêu đã thử công khai tài chánh một cách trung thực trên Internet, kể cả những chi phí tiệc tùng “bồi dưỡng” cho cán bộ ở “trên”. Thế thì chẳng bao lâu sau, xã kẹt cứng vì cán bộ “ở trên” sợ lộ tên mình, tránh né chẳng trợ cấp gì cho cái xã nghèo mà làm sang dám công khai tài chánh, làm trong sạch công quỹ này.
Những cục đá sạn làm kẹt cứng hệ thống trợ cấp cho cái xã nghèo Bạch Miêu này là những khoảng chi mua rượu thịt, trà lá để tiếp đãi, “bổi dưỡng” cán bộ “trên” xuống xã. May là có tửu mà không có sắc, chớ có sắc thì chuyện còn nổ lớn nữa.

Ăn nhậu cho cá nhân cán bộ chưa đủ. Cái tật lớn của cán bộ CS Á châu là sau khi tiệc tùng còn phải chiếu cố gởi quà cho họ mang về nữa. Lợi quả là một cỗ lễ mà CS “bảo lưu” vì đại lợi. Số tiền xã tốn nhiểu nhứt không phải là công tác cho dân mà “bồi dưỡng” cho cán bộ ở “trên” xuống với đủ thứ lý do. “So sánh số tiền chi tiêu lớn nhứt là tiền tiếp khách.Tổng chi của tháng là 8.240,50 nhân dân tệ (980,60 euro), chi phí cao nhứt, nhiều nhứt là khi tiếp đoàn cán bộ đến dự một cuộc họp về ngân sách của xã. Xã đã phải đặt và trả 3 bàn tiệc khách sạn với giá là 1.269 nhân dân tệ.” theo điểm báo của RFI dựa vào bài báo của Le Courrier Internationnal.

Dân chúng hoan hô nhiệt liệt việc Ủy Ban xã công khai hoá tài chánh, nhưng “cán bộ trên” thì e ngại bỏ xó cho xã Bạch Miêu chết luôn để im cái mồm như nấm mộ. Dân thì 30,000 lượt người truy cập mạng này 3 ngày. Nhưng quan chức cán bộ đảng viên ngán và tránh xa. Theo báo Le Courrier Internationnal, “Xã Bạch Miêu là một xã nông thôn nghèo thuộc tỉnh Tứ Xuyên. Hoạt động của xã chủ yếu nhờ vào tiền trợ cấp. Thế nhưng, từ hơn 2 tháng nay, bí thư xã này phải chạy vạy khắp nơi mà vẫn không xin được khoản tài trợ nào. Chủ tịch xã này cho biết kể từ khi cho đăng thông tin về ngân sách xã trên mạng, thì lượng khách cấp trên đến xã giảm đi phân nửa. Ông tâm sự : «Khi các cán bộ cấp trên đến đây công tác, hơn 70% trong số họ luôn tỏ ra vội vã. Khi làm việc vừa xong, họ lập tức đi ngay chứ không ở lại dùng bữa, dù đã 11-12 giờ trưa». “Theo ông, sự công khai này khiến nhiều vị khách cấp trên lo sợ chi phí tiếp đãi họ bi đưa lên mạng. Tình hình này gây bối rối cho chính quyền xã và cả những cơ quan có khả năng trợ cấp cho xã. Từ ngày 28 tháng 4, những kêu gọi của xã không hề nhận được câu trả lời nào từ phía các nhà tài trợ.”
Hai, còn nhà nước lớn là CS Bắc Kinh thì chống tham nhũng theo kiểu phong trào, hô hào bằng khẩu hiệu, làm chiếu lệ vì đảng CS là mẹ đẻ của tham nhũng, diệt tham nhũng thì lấy gì, lấy ai dể làm việc cho Đảng. Theo báo China Daily bằng tiếng Anh của TC CS Bắc Kinh ra lịnh cho cán bộ từ cấp huyện trở lên từ 11-7-2010 phải kê khai tài sản. Nhưng tin AFP, quy định nói trên không bắt buộc Nhà nước phải công bố và phổ biến thông tin liên quan đến tài sản của giới lãnh đạo. Một biên tập viên của BBC Tiếng Trung tại London cũng xác nhận, giải thích rằng việc kê khai này sẽ chỉ được áp dụng nội bộ, và chỉ có cơ quan của Đảng Cộng sản kiểm soát các thông tin đó. Phóng viên BBC, Damian Grammaticas, tại Bắc Kinh nói rằng cho dù có chiến dịch mạnh của chính phủ, tình trạng tham nhũng trong các quan chức vẫn lan tràn.

Sở dĩ Đảng ra lịnh như thế là để xì bất mãn của dân chúng vì người dân hết chịu nổi tham nhũng rồi. Dân chúng là những nạn nhân lãnh đủ, lãnh hết, lãnh trọn hậu quả tai hại của tham nhũng mà cán bộ đảng viên là thủ phạm vì có quyền mới tham nhũng được. Quá nhiều những vụ dân chúng tố tham nhũng, tố cán bộ đảng viên và gia đình làm giàu, làm ăn. làm tiền bất chính, chiêm công vi tư, hối mại quyền thế. Từ Tổng Bí Thư CS Bắc kinh, Hà nội đều tuyên bố tham nhũng là quốc nạn. Tình trạng tham nhũng của cán bộ đảng viên CS quá hoành hành.

Có một nghịch lý mà thiên hạ đều ngạc nhiên. Trong hàng ngũ cán bộ đảng viên và công nhân viên chức làm việc cho CS, lương tháng chết đi không đủ ăn sáng một tuần mà ai cũng cơm no ngày ba bữa tăm rửa ngày hai lần. Của nổi của chìm của những đảng viên cán bộ CS đơn vị tính là ngàn, triệu, tỷ Mỹ kim. Con đi học 1 tháng tốn ở Mỹ bằng tiền kiếm được mấy ngàn người dân trong một năm.

Nếu xét về quyền lực cứng, thì CS có lực công an, cảnh sát, mật vụ và bộ đội đông như kiến cỏ, trang bị tận răng thừa sức diệt chủng. Nếu CS Hà nội muốn diệt tham nhũng, thì thừa sức “diệt tận gốc bốc tận rễ’; đâu có nhằm nhò gì ba thứ tham nhũng. Nhưng nếu CS diệt hết tham nhũng là tận diệt Đảng CS vì đảng CS độc tài đảng trị toàn diện là mẹ đẻ của tham nhũng. Đảng CS dùng tham nhũng để câu móc và nuổi dưỡng cán bộ đảng viên. Bây giờ đa số vào Đảng là vì quyền lợi, chớ không phải vì lý tưởng. Đảng CS dùng tham nhũng như mặc cảm tội lỗi, như án treo, làm dây thòng lọng trói buộc, trừng trị đảng viên. Nên không ít người mạnh miệng gọi Đảng CS là Mafia, là băng đảng gây tội phạm có tổ chức theo định nghĩa hình tội học của Mỹ./. ( Vi Anh)

VI ANH

Posted: Sun Aug 08, 2010 4:48 pm
by vuphong
Cuộc cách mạng của Sự Thật


Ngô Nhân Dụng

Hơn 30 năm sau khi qua đời, Tướng John D. Lavelle mới được tổng thống Mỹ phục hồi danh dự. Năm 1972, Tướng Lavelle đang chỉ huy Không Quân trong chiến trường Việt Nam đã bị trừng phạt vì tội làm sai lệnh thượng cấp, cho thả bom những nơi ngoài các mục tiêu được chỉ định, trong một cuộc oanh tạc tại miền Bắc Việt Nam, cộng với tội sửa đổi chứng cớ trong mệnh lệnh để trốn trách nhiệm. Năm đó, ra trước ủy ban điều tra của Quốc Hội Mỹ, Tướng Lavelle đã quả quyết nói mình không hề làm sai mà cũng không hề sửa đổi mệnh lệnh. Nhưng ông vẫn bị phạt, giáng xuống hai cấp, buộc phải ra khỏi quân đội với cấp bậc trung tướng. Ông qua đời năm 1979.

Năm 2007, một vị tướng Không Quân khác, ông Aloysius Casey cùng với con trai đã viết một bài trong tạp chí của quân chủng Không Quân minh oan cho Tướng Lavelle. Ông tìm trong các cuốn băng đã thâu trong Tòa Bạch Ốc thời Tổng Thống Nixon được ghi chép lại, cho thấy rằng chính ông tổng thống Mỹ thời đó đã ra lệnh thả bom mở rộng vào các mục tiêu trên, và các cấp chỉ huy từ tổng tham mưu trưởng trở xuống đều đồng ý, chuyển lệnh xuống qua các đường dây mật. Những tài liệu mật này mới được công khai hóa theo luật định. Bà vợ Tướng Lavelle (năm nay 91 tuổi) và các con đã khiếu nại. Không Quân Mỹ lập tức mở cuộc điều tra, năm 2008 đã xác nhận Tướng Lavelle không hề sửa đổi mệnh lệnh hành quân; và nếu các chứng cớ được Bộ Quốc Phòng tiết lộ đầy đủ thì đã chứng tỏ Tướng Lavelle vô tội.

Không Quân Mỹ đề nghị phục hồi danh dự và cấp bậc đại tướng cho ông Lavelle, Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert Gates ủng hộ, và Tổng Thống Obama đã đề nghị Thượng Viện Mỹ chuẩn y.

Câu chuyện Tướng Lavelle phục hội cấp bậc cho thấy trong một xã hội tự do dân chủ guồng máy nhà nước phải tôn trọng và bảo vệ sự thật. Chính phủ Mỹ đã làm đúng bổn phận đối với các công dân của họ là gia đình Lavelle, và với một quân nhân đã phục vụ cho đất nước.

Trong một chế độ độc tài thì trái lại, guồng máy nhà nước chỉ lo bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị mà thôi, bất chấp mọi luật pháp, bất chấp mọi quy tắc đạo đức. Do đó, họ có thể nói dối một cách trắng trợn, đến mức mất liêm sỉ.

Nếu sống ở Việt Nam, chắc hẳn qúy vị đã biết vụ anh Nguyễn Văn Khương, 21 tuổi, bị công an bắt về đồn ngày 23 tháng 7 vừa qua vì lái xe gắn máy không đội mũ an toàn, rồi tại bót công an, họ đã đánh anh đến chết. Hàng vạn đồng bào tỉnh Bắc Giang đã biểu tình phản đối hành động dã man này. Nhưng bây giờ, theo bản tin của nhà nước Cộng Sản, ông phó chủ tịch tỉnh Bắc Giang đã trâng tráo giải thích bằng những lời hoàn toàn bịa đặt.

Ông phó chủ tịch tỉnh nói rằng cảnh sát giao thông công an huyện Tân Yên “phát hiện anh Nguyễn Văn Khương có lỗi vi phạm an toàn giao thông trên đường 398 thuộc địa phận huyện Tân Yên.” Ông cho biết công an đó đưa xe và người vi phạm “vào trụ sở để lập biên bản xử lý. Khi ngồi trên ghế, anh Khương có biểu hiện sức khỏe không bình thường và công an đó đưa anh đi cấp cứu ở bệnh viện huyện Tân Yên. Ðến bệnh viện thì anh Khương chết...”

Một thanh niên đang khỏe mạnh, đang lái xe gắn máy chở bạn đi chơi, chỉ “ngồi trên ghế” trong đồn công an thôi là đã phải đưa vào bệnh viện cấp cứu, và chết ngay. Ðưa ra những lời gian dối đó để bắt dân phải tin như sự thật, phải nói guồng máy cai trị Cộng Sản đã coi thường trí phán đoán của tất cả nhân dân tỉnh Bắc Giang, khinh rẻ tất cả mọi người dân Việt Nam. Có ai giảo nghiệm tử thi để cho biết vì sao anh Khương qua đời hay không? Có y sĩ độc lập đáng tin cậy nào đưa ra chứng cớ về nguyên nhân cái chết của anh Nguyễn Văn Khương hay không? Có thể nào một cái chết bình thường như công an mô tả lại khiến cho cả gia đình anh phẫn uất và hàng vạn người dân bỏ công việc làm ăn đi biểu tình phản đối hay không?

Guồng máy nói dối của đảng Cộng Sản không những bắt dân nghe các lời gian trá, tìm cách che lập các tội lỗi của đảng như trong câu chuyện trên, mà suốt nửa thế kỷ qua họ còn bắt toàn dân phải tập nói dối theo đảng, từ những trẻ em đi học cho đến các nhà văn, nhà báo nữa. Ðây là một tai họa lớn nhất do đảng Cộng Sản gây ra, ở khắp thế giới nơi Cộng Sản cai trị, trong đó có nước ta.

Cho nên ông Hà Sĩ Phu, một nhà trí thức tranh đấu cho dân chủ mới gửi ra một bài tâm sự, cho biết, “...Tôi đó định viết một bài... mô tả một dân tộc lâu ngày nói dối đã quen, sắp bị diệt vong vì tật nói dối, bỗng hoảng hồn bừng tỉnh bên bờ vực thẳm, vội bảo nhau học lại ngôn ngữ núi thật của cha ông để tự cứu, nhưng vất vả mãi cũng chỉ mới bập bẹ phát ra được mấy câu núi thật vỡ lòng thôi.

Ông Hà Sĩ Phu kêu gọi: “Phải làm một cuộc cách mạng của sự thật mới mong giải thoát cho nhân dân khỏi ngục tù.”

Một người đang tham dự vào cuộc cách mạng của sự thật này là nhà văn Trần Mạnh Hảo, 64 tuổi. Ngày 26 tháng 7 vừa qua ông mới viết một bài gửi cho các bạn trong nghề văn chương, nhan đề “Chỉ có sự thật mới giải phóng con người, giải phóng văn học và đất nước.” Ông viết thẳng tuột: “Liên Xô đó bỏ ra 74 năm để tìm mà không thấy chủ nghĩa xã hội đâu, chỉ thấy trại tập trung, thấy nhà tù nhiều hơn trường học... Hồi chúng tôi theo học tại Học viện Gorky bên Liên Xô năm 1988, thường nghe dân Liên Xô định nghĩa về chủ nghĩa xã hội theo mô hình Lenin-Stalin như sau: “Chủ nghĩa xã hội là con đường vòng vèo nhất, đầy máu và nước mắt nhất, khốn nạn nhất để đi lên tư bản chủ nghĩa”. Liên Xô đó phải mất 74 năm đi vòng vèo trong máu xương, ngục tù, trong đày đọa của những quần đảo Gulag hắc ám, man rợ... để năm 1991 mới tới được nền kinh tế tự do tư bản chủ nghĩa.”

Trần Mạnh Hảo mô tả các đảng viên Cộng Sản như “một nhóm người không ai khiến, tự nhiên nhảy phóc ra đấu trường xã hội ngót trăm năm nay, hung hãn cầm mác cầm lê cầm búa cầm liềm cấm cản những nhóm người khác...” Và ông kết án: “Lenin, Stalin, Mao... đã biến nhân nhân các nước Nga, Tàu, Cuba, Bắc Triều Tiên, Việt Nam, Campuchia, hàng chục nước Ðông Âu... thành hàng tỉ con chuột bạch cho cuộc thí nghiệm máu Cộng Sản chủ nghĩa bằng bạo lực, bằng cải tạo áp đặt, bằng thuyết đấu tranh giai cấp tàn bạo nhưng đó thất bại hoàn toàn.” Trong lời kết án này tác giả kể tội Lenin, Stalin, Mao mà không nhắc đến tên Hồ Chí Minh, có lẽ vì ông Hồ là cán bộ cấp dưới, chỉ biết thừa hành đường lối, chính sách của các lãnh tụ đỏ Sít và Mao thụi.

Có thể coi lá thư này là những lời “vỡ lòng” để tập “nói thật” của một trong những nhà văn từ chối không tham dự vào guồng máy dối trá mà đảng Cộng Sản đang bao trùm lên cả nước. Ông Trần Mạnh Hảo nhắn với các đồng nghiệp: “...khẩu hiệu ‘Vì Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội” in trên đầu tờ Văn Nghệ của Hội Nhà Văn Việt Nam... phải đặt tên lại cho đúng với thực chất là: “Vì Tổ quốc, vì chủ nghĩa không có thật” mới đúng.

Tìm sự thật, bảo vệ sự thật, là những hành động cách mạng cần thiết để cứu dân tộc Việt Nam, như Hà Sĩ Phu thiết tha kêu gọi. Tìm tòi và bảo vệ sự thật không phải để trả thù ai mà là để phục hồi danh dự cho dân tộc. Trong đó có danh dự của bao nhiêu người đă bị đảng Cộng Sản hành hạ, giết tróc, tù đày. Công việc này có thể thực hiện ngay từ bây giờ, ngay khi còn chế độ Cộng Sản. Mọi công dân Việt Nam đều có thể bắt đầu tìm và lưu trữ các tài liệu, chứng cớ về những “nghi án” trong chế độ Cộng Sản hiện nay. Ðặc biệt là các nhà văn, nhà báo, họ đều mang nợ với Sự Thật. Giữ các tài liệu, chứng cớ đó, chờ đến ngày đất nước ta được tự do thì nhiều thứ đã có sẵn chỉ cần được phơi bày ra trước ánh sáng, mọi người sẽ khỏi mất quá nhiều công tìm kiếm.

Tại các quốc gia như Chile, Nam Phi, vân vân, sau khi đã xóa bỏ được chế độ độc tài để xây dựng dân chủ, người ta đã thành lập các Ủy ban Hòa giải và Tìm Sự Thật. Nhưng người Việt Nam không cần phải chờ đến khi chế độ Cộng Sản được xóa sổ thì mới bắt đầu công việc đó. Những ai biết sự thật nào về tất cả những nghi án, các hồ sơ “nóng hổi” đều nên lưu trữ các tài liệu, bằng chứng, giữ lại chờ ngày được tự do trưng ra. Những nghi án và hồ sơ nóng đó có thể thuộc mọi lănh vực, liên hệ đến các cá nhân hay tất cả tập thể. Những anh chị công an huyện Việt Yên nào có chứng cớ về vụ tra khảo, hành hùng anh Nguyễn Văn Khương hãy cất giấu các bằng chứng, những sự thật đó ngay bây giờ. Sẽ có ngày gia đình anh được sống trong một chế độ tự do dân chủ và họ sẽ đòi tìm ra sự thật. Anh chị công an nào theo tiếng gọi của lương tâm, của công lý, hãy giúp gia đình anh Nguyễn Văn Khương ngay từ bây giờ. Khi chúng ta được sống tự do, mọi người sẽ ghi ơn “bảo vệ sự thật” của qúy vị; đó là con đường hòa giải vững chắc nhất.

Còn rất nhiều sự thật khác đang bị che giấu mà trong tương lai sẽ được điều tra lại. Các viên chức trong tỉnh Hà Giang, nhiều người biết rõ sự thật về những vụ buôn bán, lạm dụng thân xác của các nữ sinh. Những người được lương tâm thúc đẩy hãy thu thập các bằng chứng, ghi lại các sự kiện, các hành vi, tên tuổi của những kẻ vô lương tâm. Ðến ngày đất nước ta có công lý, dân Hà Giang sẽ được quyền truy tố các tên mặt người dạ thú đó, quý vị sẽ cung cấp cho guồng máy tư pháp các bằng chứng. Bao nhiêu vụ tham ô nhũng lạm khác, từ vụ PMU 18 đến xa lộ Sài Gòn; từ các cột xi măng lõi tre đến vụ sập cầu Cần Thơ chết người sẽ không để bị “chìm xuồng.” Những người có liên quan đến guồng máy tham nhũng Cộng Sản, hoặc đang phải ngồi trong đó, đều có thể thu thập các bằng chứng và sự kiện, sau này chúng ta sẽ viết lịch sử với đầy đủ tài liệu chính xác hơn.

Cho nên cuộc cách mạng của sự thật mà Hà Sĩ Phu đề nghị có thể bắt đầu bằng việc tìm tòi và bảo vệ các sự thật về chế độ Cộng Sản ngay từ bây giờ. Trong hệ thống công chức, cán bộ Cộng Sản, ngay tại trung tâm của các ổ tham nhũng, lạm quyền, vẫn còn rất nhiều người có lương tâm mà hiện nay họ phải im lặng đồng lõa vì không đủ sức kháng cự lại cả guồng máy. Nhưng những vị có lòng nhân, có đạo đức đều có thể bắt đầu cuộc cách mạng của sự thật ngay với bản thân mình. Hãy thu thập và gìn giữ các bằng chứng về sự thật, để mai sau quý vị sẽ đóng góp vào công việc phục hồi danh dự cho bao nhiêu đồng bào. Và sau cùng, chúng ta sẽ phục hồi danh dự cho dân tộc Việt Nam.

Posted: Mon Aug 09, 2010 2:28 am
by nguyenvsau
Hợp tác hạt nhân: Biến động tam giác Mỹ - Việt - Hoa
Dư luận quanh vụ Hoa Kỳ hợp tác hạt nhân với Việt Nam
Hà Giang/Người Việt


WASHINGTON, DC (NV) - “Chỉ trong vòng hai tuần lễ mà Hoa Kỳ đã 'chọc vào mắt' Trung Quốc hai lần, thì e rằng sẽ tạo ra những khó khăn ngoại giao giữa hai quốc gia trong tương lai.”

Trong cuộc gặp gỡ vừa qua giữa đại diện Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ và Quốc Hội vào tuần qua, một đại diện văn phòng Chủ Tịch Hạ Viện Nancy Pelosi đã nêu nỗi ưu tư như vậy về hợp tác hạt nhân Mỹ-Việt, theo một nguồn trong giới thạo tin Washington cho báo Người Việt biết.
Image
Từ lâu, Việt Nam đã theo đuổi ước vọng xây nhà máy điện nguyên tử. Trong hình, gian hàng của hãng Mitsubishi, Nhật,
thu hút người đi xem Triển lãm Quốc tế Ðiện Hạt nhân tại Hà Nội vào tháng 5, 2010. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)

Nguồn tin này tiết lộ, đại diện văn phòng Dân Biểu Pelosi hỏi Bộ Ngoại Giao là đã thảo luận với Trung Quốc về việc đàm phán hợp tác hạt nhân với Việt Nam hay chưa, thì Bộ Ngoại Giao khẳng định: “Việc này không dính dáng gì tới Trung Quốc.”

Cũng theo nguồn tin trên thì đại diện Bộ Ngoại Giao Hoa kỳ nói thêm: “Chúng tôi thấy là không cần thiết phải thông báo với Trung Quốc, vì đây là một hợp tác chỉ liên quan đến hai quốc gia Hoa Kỳ và Việt Nam.”

Tuy nhiên, phản ứng ở nhiều nơi cho thấy dư luận không cho việc Hoa Kỳ hợp tác hạt nhân với Việt Nam mà một vấn đề thuần túy song phương, mà luôn có bóng dáng Trung Quốc chập chờn chung quanh.


Trung Quốc phản ứng


Tin Hoa Kỳ bắt tay với Việt Nam được báo Wall Street Journal tung lên trang nhất báo này trong ấn bản ngày 5 tháng 8. Tin này được đưa ra khi Trung Quốc còn chưa nguôi ngoai về việc Ngoại Trưởng Hillary Clinton tuyên bố “Hoa Kỳ sẽ không đứng ngoài những tranh chấp tại Biển Ðông,” tại buổi hội nghị Diễn Ðàn Khu Vực ASEAN ở Hà Nội cách đây hai tuần.

Tại Bắc Kinh, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Trung Quốc, bà Mei Li cho biết Trung Quốc “chưa nắm rõ chi tiết” của bản ký kết. Tuy nhiên, bà nhắc lại quan điểm Trung Quốc là “các nước trên thế giới có quyền sử dụng công nghệ hạt nhân vào mục đích hòa bình,” nhưng “các nước cũng cần phải tự có trách nhiệm ngăn chận sự phổ biến hạt nhân.”

Báo chí Trung Quốc, cùng nhiều trang mạng tại Trung Hoa, đăng một loạt bài mô tả nhận định của các chuyên gia là hợp tác giữa Việt Nam và Mỹ trong lĩnh vực hạt nhân “gây bất ổn” cho Trung Quốc.

Ngay giữa những phản ứng hàng loạt từ phương Bắc, qua lời phát ngôn nhân Bộ Ngoại Giao Nguyễn Phương Nga, Hà Nội chính thức bác bỏ là giữa hai nước chưa bàn thảo gì về chuyện đó.

Bản tin AFP hôm Thứ Sáu trích lời bà Nguyễn Phương Nga tuyên bố:

“Việt Nam và Hoa Kỳ chưa tiến hành các cuộc thương thuyết cho một hiệp ước về việc sử dụng năng lượng nguyên tử một cách hòa bình.”

Tờ China Daily trích lời một số chuyên gia Trung Quốc nói rằng việc Hoa Kỳ và Việt Nam chia sẻ nhiên liệu và công nghệ hạt nhân có thể làm “tan vỡ” ổn định thế giới.

Ông Teng Jianqun, phó chủ tịch Hiệp Hội Kiểm Soát và Giải Trừ Vũ Khí, một hiệp hội phi chính phủ tại Trung Quốc, cho rằng việc Hoa Kỳ không ép Việt Nam phải từ bỏ việc làm giàu chất uranium là áp dụng “tiêu chuẩn kép (double standards) cho các nước.”

Hoa Kỳ trấn an nội bộ

Tờ Wall Street Journal tường thuật rằng một số nghị sĩ tại Quốc Hội Mỹ chỉ trích rằng thỏa thuận sẽ bỏ qua những yêu cầu nghiêm ngặt đang áp đặt cho các nước Ả Rập đang cộng tác hạt nhân với Hoa Kỳ, là bị buộc phải từ bỏ quyền được làm giàu uranium.

Hoa Kỳ nhấn mạnh là bất kỳ thỏa thuận nào với Việt Nam cũng sẽ đòi hỏi Việt Nam phải chịu sự thanh sát của IAEA, cơ quan kiểm soát nguyên tử Liên Hiệp Quốc, để bảo đảm là Việt Nam không có mục tiêu quân sự trong việc phát triển năng lượng nguyên tử.

Nhưng cũng theo tờ Wall Street Journal, phụ tá Ngoại Trưởng Philip J. Crowley, kiêm phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao, từ chối không tiết lộ chi tiết cụ thể về đàm phán với Víệt Nam, và cũng không cho biết là Hoa Kỳ có cho phép Hà Nội được làm giàu uranium hay không.

Cả bác bỏ của Bộ Ngoại Giao Việt Nam lẫn khẳng định của Hoa Kỳ là sẽ đòi hỏi Việt Nam phải chịu sự thanh sát của IAEA, đều dường như không làm dịu đi được nhưng thông tin và bình luận sôi nổi của các hãng truyền thông quốc tế về đề tài này.

Ðài VOA tường thuật là: “Ðàm phán về hạt nhân dân sự giữa Hoa Kỳ và Việt Nam, có thể dẫn đến chuyện Việt Nam sẽ làm giàu chất uranium, điều gây lo ngại cho một số nhà làm luật Hoa Kỳ, vì họ xem đây là một bước lùi trong việc ngăn chận sự lan tràn của các chất liệu hạt nhân có thể sử dụng để chế vũ khí.”

Phụ tá Ngoại Trưởng Crowley nói rằng đó chính là điều mà Hoa Kỳ đang đàm phán với Việt Nam, và Hoa Kỳ hy vọng rằng, Việt Nam, cũng giống như Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất, sẽ không sử dụng kỹ nghệ này để tự chế nhiên liệu hạt nhân.

Theo tin của hãng AP thì ông Vương Hữu Tấn, giám đốc Viện Năng Lượng Nguyên Tử Việt Nam, khẳng định rằng: “Việt Nam không có ý định làm giàu Uranium, mà chỉ dùng chương trình này cho mục đích dân sự mà thôi, vì thế các nước không nên quá lo lắng về vấn đề này.”

Trả lời phỏng vấn của đài VOA, ông Andrew Davies, thuộc Viện Chính Sách Chiến Lược của Úc, phát biểu:

“Không phải là tôi không tin tưởng Việt Nam sẽ giữ lời hứa, nhưng vấn đề là khả năng. Khi một quốc gia có khả năng phát triển hạt nhân thì sẽ dễ bị cám dỗ tiến sang con đường muốn sản xuất những chất liệu hạt nhân để chế vũ khí.”

Theo tin AP, ông Henry Sokolski, giám đốc của Trung Tâm Giáo Dục Chính Sách Kiềm Chế Phát Triển Năng Lượng Nguyên Tử (Nonproliferation Policy Education Center), và là cựu nhân viên của Ngũ Giác Ðài kêu gọi tòa Bạch Ốc “từ tốn lại.” Ông nói:

“Thỏa thuận này sẽ làm chúng ta mang tiếng là có tiêu chuẩn kép. Nếu chúng ta định hợp tác với Việt Nam, thì đừng hạ tiêu chuẩn của mình xuống. Ðiều này chỉ tạo ra phiền nhiễu.”

Giáo Sư Carl Thayer, nhà nghiên cứu về Á Châu Thái Bình Dương thì việc đạt được thỏa thuận hạt nhân với Hoa kỳ, mở đường cho việc phát triển hạt nhân dân sự, sẽ giúp Việt Nam đảm bảo được an ninh năng lượng cho mình, và không còn phải cạnh tranh với Trung Quốc hay phụ thuộc vào nguồn năng lượng dầu khí từ Trung Ðông.

Mỹ lấn sân Bắc Kinh

Tuy phần lớn những tranh cãi xoay quanh việc Hoa Kỳ có để cho Việt Nam quyền tự làm giàu uranium hay không, giới phân tích cho là quan tâm chính của Bắc Kinh không phải là việc Việt Nam có sử dụng năng lượng hạt nhân cho mục đích quân sự hay không, mà là việc Hoa Kỳ mang banh vào sân chơi của Trung Quốc.

Nhắc lại lời tuyên bố của Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton trong chuyến viếng thăm Hà Nội mới đây là chính phủ Obama sẵn sàng đưa quan hệ Việt-Mỹ “lên cấp độ mới,” tờ China Daily, trích lời ông Li Qinggong, phó tổng thư ký Hội Ðồng Trung Quốc Nghiên Cứu Chính Sách An Ninh Quốc Gia nói rằng: “Chúng ta không thể làm ngơ trước tình hình.”

Ông Fan Jishe, một nhà nghiên cứu thuộc Viện Khoa Học Xã Hội Trung Quốc còn phản ứng mạnh mẽ hơn, lên án rằng: “Mỹ tăng cường hợp tác hạt nhân với Việt Nam là để nhằm đối phó với Trung Quốc.”

Tờ Foreign Policy trích lời ông Ernie Bower, giám đốc của Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược Viễn Ðông và Quốc Tế, nói rằng:

“Bắc Kinh đã bước lùi rất nhiều năm khi có những phản ứng thái quá như vậy. Họ càng phản ứng như thế thì càng cho thế giới, nhất là những quốc gia trong vùng Ðông Nam Á thấy rõ là ngoài mặt Trung Quốc tỏ ra là bạn tốt của họ, nhưng thật ra trong bụng đầy mưu toan.”

Trên blog riêng của mình có tên “The Washington Note,” ông Steve Clemons một người thông thạo về chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ viết rằng một người bạn lão thành của ông khuyên là “đừng bị lạc vào những chi tiết nhỏ” của những thương thuyết giữa Hoa Kỳ với Việt Nam, với Nhật Bản, hay với Nam Hàn, mà phải nhớ lời tuyên bố “Hoa Kỳ trở lại Á Ðông” của Ngoại Trưởng Hillary Clinton khi đi tham dự những hội nghị Á Châu tại Thái Lan cách đây hơn một năm.

“Hãy nhớ là tất cả những động thái của Hoa Kỳ bây giờ là để tạo thế đứng vững vàng và phát huy ảnh hưởng của Mỹ tại Á Châu Thái Bình Dương, và ngăn chặn sự bành trướng của Trung Quốc.”

Posted: Tue Aug 10, 2010 5:43 am
by tankhoasinh
Nếu thế giới bất động, 30 năm nữa Trung cộng sẽ thống trị châu Á

Giáo sư John Mearsheimer của ÐH Chicago vừa cảnh báo trong 30 năm tới, Trung Quốc sẽ mưu cầu địa vị thống trị châu Á và rằng sự trỗi dậy đó sẽ không hòa bình.

Nhà nghiên cứu chiến lược hàng đầu nước Mỹ này nhận định: "Nếu Trung cộng tiếp tục phát triển 30 năm tới như trong 30 năm qua thì họ sẽ tìm cách thống trị châu Á ". Sức mạnh kinh tế khổng lồ sẽ được Bắc Kinh chuyển thành sức mạnh quân sự tương xứng.
Image
Trung cộng sẽ mưu cầu địa vị thống trị châu Á và rằng sự trỗi dậy đó sẽ không hòa bình, Giáo sư John Mearsheimer cảnh báo.
Ngoài triển vọng trên, theo ông Mearsheimer, "nếu Trung cộng phát triển theo kiểu Hong Kong, họ sẽ đẩy Mỹ ra khỏi châu Á và phát triển học thuyết riêng của mình ".
Cơ sở cho nhận định này thì có nhiều và gần đây, chúng xuất hiện ngày càng dày đặc. Theo RFA, hồi tháng 4 vừa qua, Trung cộng thông báo với Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ James B. Steinberg rằng, biển Ðông VN là "lợi ích cốt lõi" của Trung cộng, tức là Bắc Kinh xem biển Ðông VN là vùng biển của riêng họ và sẽ không chấp nhận bất kỳ sự can thiệp nào của Mỹ hay bất kỳ nước nào vào biển Ðông.
Báo giới nước ngoài nhận định rằng, đây là lần đầu tiên Trung cộng sử dụng cụm từ này đối với biển Ðông VN, nâng tầm quan trọng của khu vực này lên ngang hàng với Ðài Loan và Tây Tạng. Nó cho thấy, Trung cộng thể hiện, hành động "mạnh mẽ" hơn trước nhiều với thái độ xem thường Hoa Kỳ- một cường quốc đã từ lâu nắm giữ vai trò cảnh sát quốc tế giữ gìn an ninh trật tự khu vực Á Châu Thái Bình Dương.
Và gần đây nhất, Trung cộng cực lực phản đối Mỹ, Hàn Quốc tập trận ở Hoàng Hải, gần Trung cộng với lý do là đe dọa an ninh, bất kể cuộc tập trận này diễn ra ở vùng biển quốc tế ngoài phạm vi chủ quyền 12 hải lý. Ðây rõ ràng là áp lực đẩy Mỹ ra xa bờ biển Ðại lục và nếu sức mạnh kinh tế, quân sự, chính trị Trung cộng mạnh hơn nữa, chắc chắn họ sẽ đẩy Mỹ còn xa hơn nữa.
Image
Trung Quốc phản đối Mỹ, Hàn tập trận tại Hoàng Hải.
Nhưng dù Trung cộng tiến triển theo phương hướng nào, theo vị giáo sư này, đó không phải sự trỗi dậy hòa bình. Ông nhất mạnh: "Trung cộng không trỗi dậy hòa bình và điều đó gần như chắc chắn sẽ xảy ra, và đã xảy ra với Việt Nam và Philippine".
Tuy nhiên, khả năng xảy ra chiến tranh Mỹ-Trung là không cao bởi cả hai nước đều hùng mạnh nhất thế giới và có vũ khí hạt nhân. Giống như thời chiến tranh Lạnh, dù nhiều lúc đối đầu Liên Xô-Mỹ trở nên gay gắt (điển hình là sự kiện vịnh hỏa tiễn ở Cuba năm 1962) nhưng hai bên đều chỉ đứng bên miệng hố chiến tranh mà không đi xa hơn bởi họ biết rằng phía trước là hố sâu, đã vào là không thể ra được.
Ðể đối phó với sự lớn mạnh của Trung cộng, ông Mearsheimer cho rằng Mỹ và các đồng minh châu Á cần triển khai chính sách liên kết để "kiềm chế và cân bằng" với Trung cộng. Cụ thể thì tại châu Á-Thái Bình Dương: Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam, Philippine, Mã Lai, Ấn Ðộ, Singapore, Thái Lan và Australia... cần lập liên minh dưới sự dẫn dắt của Mỹ. Khi đó, khối này sẽ đủ sức mạnh kiềm chế tham vọng bá quyền Trung cộng.
Image
Mỹ, Ấn Ðộ tăng cường hợp tác kềm chế tham vọng bá quyền Trung cộng
Giống với ông Mearsheimer, các nhà nghiên cứu chiến lược chính trị quốc tế của Quốc gia Australia cho rằng, nhận định 30 năm nữa Trung Quốc sẽ thống trị châu Á (nếu thế giới thụ động bất động) là đúng đắn.
Họ cho rằng: "Thời mà ông Mearsheimer nói tới là 30 năm tới và cách nhìn về Trung cộng là tích cực. Trung cộng là đề tài tranh cãi gần 30 năm qua và giới lãnh đạo nước này có tham vọng bá chủ trong hầu hết mọi vấn đề. Họ tính toán rất kỹ sẽ phải làm gì trong tương lai để triệt hạ vai trò cảnh sát quốc tế của Hoa Kỳ ".
Các nhà nghiên cứu chiến lược khẳng định: "Không có gì phải nghi ngờ việc Trung cộng sẽ trở nên hung hăng hơn và một phần nào đó đã thống trị Ðông Nam Á rồi, nhưng Trung cộng sẽ không thể đánh bật Mỹ khỏi châu Á Thái Bình Dương trong khoảng thời gian 30 năm bởi Mỹ chẳng để bị làm mất mặt cường quốc số 1 của mình".
Image
Hải quân Trung Quốc lớn mạnh rất nhanh.
Giải thích cho nhận định trên, họ tin rằng Trung cộng đang vấp phải nhiều khó khăn trong nước như gần 1 tỉ người vẫn sống dưới mức nghèo khổ dù kinh tế phát triển thần tốc trong 30 năm qua; hay như xã hội, chính trị có nhiều khúc mắc khi phải chuyển đổi sang nền kinh tế mở cửa hơn, hay như vấn nạn tham nhũng, ô nhiễm môi trường, khoảng cách giàu nghèo gia tăng, thiên tai lũ lụt liên miên, thiếu hụt lương thực nặng nề... Trung cộng không thể chịu đựng nổi gánh nặng chiến tranh kéo dài với siêu cường Mỹ
Do đó, dù quân đội Trung cộng có thể vươn tới vị thế thống trị châu Á thì giới lãnh đạo nước này cũng không dám thật sự để xảy ra chiến tranh với Mỹ. Trung cộng sẽ kiệt quệ kinh tế, tan vỡ thành nhiều nước nhỏ sau cuộc chiến". Nhiều người Trung Hoa bị bộ máy tuyên truyền nhà nước kích động, muốn sức mạnh quân sự nước họ mạnh ngang hàng siêu cường Nga - Mỳ để bá chủ Á Châu Thái Bình Dương, nhưng ngoài 300 triệu người giầu sang có liên hệ với đảng cộng sản, 1 tỉ dân Trung Hoa còn lại quá nghèo đói còn phải lo toan cho đủ lương thực thực phẩm hàng ngày trước đã. Do đó, giới lãnh đạo nước này sẽ chỉ cực lực phản đối suông đối với địch thủ Mỹ, giống như trường hợp 15 Vietcong bộ chính trị đối với chính họ.
Image
Ông Harris khẳng định, không dễ để đẩy Mỹ ra khỏi châu Á.
Trong tương lai, chắc chắc Trung cộng sẻ bớt lộng hành hung hăng hiếu chiến khi đụng phải thái độ quyết tâm cứng rắn của Mỹ. Tham vọng thống trị châu Á vĩnh viễn là giấc mộng không thành. Dễ thấy nhất là những trung tâm kinh tế Trung Quốc nằm dọc bờ biển Thái Bình Dương, là "mồi ngon" cho các cuộc tấn công quân sự. Do đó, Trung cộng sẽ không dám khiêu khích Mỹ, và do hai nước đều có vũ khí hạt nhân, sẽ không có chiến tranh nóng Trung-Mỹ.
Trong khi toàn bộ Á Châu tỏ ý lo ngại, Trung Quốc luôn coi thiên hạ là ngu khi khẳng định sự tăng cường sức mạnh quân sự của mình là hòa bình, không tạo nên bất ổn hay thay đổi nào. Ở biển Ðông, theo RFA, Trung cộng từ lâu không muốn quốc tế hóa tranh chấp biển Ðông mà chỉ nên giải quyết song phương với từng nước, giúp Trung Quốc có cơ hội sử dụng quyền lực của một nước lớn, gây áp lực lên từng nước nhỏ dễ dàng hơn.
Việc Mỹ nêu ra quan điểm các nước nên sử dụng luật pháp quốc tế để giải quyết tranh chấp là trực tiếp tấn công vào chiến lược của Bắc Kinh ở biển Ðông VN.

ntt (tổng hợp)

Posted: Wed Aug 11, 2010 5:25 am
by vuphong
Ðại Học Phan Châu Trinh, bài học về kỷ cương
Ngô Nhân Dụng

Muốn biết tình trạng đảng và chính quyền Cộng Sản đang cai trị nước ta nó lủng củng lỉnh kỉnh như thế nào, chỉ cần đọc một bản tin ngắn viết về Ðại Học Phan Châu Trinh, Hội An mới đăng trên mạng Bô Xít Việt Nam. Bài báo kể câu chuyện một phái đoàn cao cấp Bộ Giáo Dục và Ðào Tạo bay từ Hà Nội xuống, do một vị thứ trưởng cầm đầu với mươi người gồm đủ các ban, ngành trong bộ, vào Hội An để công bố lệnh cách chức ông hiệu trưởng trường này, và cấm nhà trường không được tổ chức thi tuyển sinh viên năm 2010 nữa.

Cả phái đoàn bị ông bí thư thành ủy Hội An mắng cho một trận và dọa sẽ cho “sinh viên kéo đến hỏi chuyện.” Ông chủ tịch hội đồng quản trị đại học tuyên bố trả lại văn thư cho ông bộ trưởng giáo dục, không thèm nhận. Ông tố cáo những quyết định này chỉ rập theo một “kịch bản” của mấy tay tham nhũng trong Bộ Giáo Dục mà nhà trường đang tố giác mấy người đó! Sau cùng phái đoàn Bộ Giáo Dục đành bẽn lẽn ra về. Các mệnh lệnh trên vẫn được truyền đi qua báo chí, dù biết sẽ không được thi hành.

Câu chuyện nóng ngay từ màn đầu: Phái đoàn Bộ Giáo Dục và Ðào Tạo do bà Thứ Trưởng Nguyễn Thị Nghĩa cầm đầu từ Hà Nội bay vô Hội An, trong phòng họp có các nhà báo chuẩn bị ghi chép, chụp ảnh và quay phim; lúc 8 giờ 15 phút ban giám đốc Ðại Học Phan Châu Trinh mới chào mừng xong bà Nghĩa đã nói ngay rằng bà bận cái hẹn khác lúc 9 giờ rưỡi cho nên chỉ có thời giờ “trao đổi” với họ về 4 đề tài trong vòng một giờ thôi. Vì vậy bà chỉ cho họ nghe các quyết định của bộ, tuyệt nhiên “không đối thoại!” Tức là chỉ “trao mà không đổi!” Bản tin không nói rõ, nhưng chắc ông Hiệu Trưởng Phan Ngọc Thu phải có mặt tại phòng họp, chuẩn bị nghe tin mình bị cất chức mà ai cũng biết trước. Việc cất chức một vị hiệu trưởng đại học (trong Nam ngày xưa kính trọng gọi là viện trưởng), có thể diễn ra trong vòng mấy chục phút! Mà lại chỉ được nghe mà không được hỏi, trong khi chưa biết ai sẽ thay thế ông ta lo cho 1,500 sinh viên.

Tôi nhớ hồi dậy học trong phân khoa quản trị (faculty of management) Ðại Học McGill ở Montréal, Canada, đã thấy việc thay thế ông khoa trưởng sắp mãn nhiệm. Viện đại học thông báo việc tuyển chọn người mới từ hàng năm trước. Thông báo này được gửi đi tất cả các đại học lớn ở Bắc Mỹ và Âu Châu để chiêu mộ người. Tiểu sử (CV) những vị ứng tuyển được công bố cho mọi người biết, gửi cho cả các giáo sư thuộc hàng rất thấp như tôi, là người mới được bổ nhiệm năm đó; để ai muốn khiếu nại về ứng viên nào thì cho biết. Việc phỏng vấn các ứng viên diễn ra trong nhiều tháng trời, sau đó mới công bố tên vị khoa trưởng mới, mấy tháng trước khi ông cũ hết nhiệm kỳ. Người ta tiến hành việc chọn lựa rất cẩn mật vì kính trọng vai trò một vị khoa trưởng. Cũng vì kính trọng công việc giáo dục, kính trọng các giáo sư và các sinh viên cũng như dân chúng Montreal, vì đại học là một cơ sở công ích được trợ cấp bằng tiền của dân đóng thuế. Vì niềm kính trọng đó, việc tuyển chọn và bổ nhiệm được tổ chức từng bước theo đúng các quy tắc minh bạch và công khai. Không thể làm bừa được.

Trước phong cách trịch thượng, quan quyền của bà Thứ Trưởng Nguyễn Thị Nghĩa, nhà văn Nguyên Ngọc, chủ tịch hội đồng quản trị tỏ ư ngạc nhiên. Ông nói, đây là một vấn đề “nổi cộm” đã lôi thôi từ mấy năm rồi, không phải chuyện nhỏ. Mà Bộ Giáo Dục đã cử cả phái đoàn 10 người vào Hội An làm việc, sao lại chỉ nói một giờ đồng hồ mà không cho đối thoại? Ông nhà văn nghèo hỏi: “Làm (vội vàng cẩu thả) như vậy thì làm làm gì cho tốn thời gian tiền bạc của dân? Bà không biết xót những đồng tiền này à?” Người ngoài cuộc cũng thấy, quả thật, thay vì cả 10 người bay từ Hà Nội vào Hội An, tại sao người ta không gửi một cái email cho đỡ tốn tiền và đỡ mất thời giờ của các quan chức, thời giờ đó đáng lẽ được dùng để phục vụ nhân dân?

Việc cất chức hiệu trưởng một trường đại học là một quyết định lớn. Ra lệnh trường phải ngưng việc tuyển sinh viên cũng không phải chuyện nhỏ. Thường ở các nước văn minh, những việc đó là việc nội bộ, thuộc thẩm quyền của đại học chứ không phải của các công chức trong Bộ Giáo Dục. Dù trường đại học là trường công lập thì chính quyền cũng phải tham khảo ít nhất là hội đồng quản trị nhà trường, nếu không phải là các hội đồng giáo sư, trước khi quyết định thay đổi chức hiệu trưởng. Chỉ có thể cất chức hiệu trưởng một đại học nếu ông hay bà ta đã phạm lỗi nặng nề, mà lỗi đó phải được điều tra kỹ lưỡng, phải do một cơ quan tư pháp độc lập phán quyết sau khi người bị buộc tội đã thi hành quyền sử dụng các cơ chế khiếu nại, phúc thẩm, để tự bênh vực mình. Bãi chức người theo lối tùy tiện, cẩu thả, không những khinh thường người đó mà còn coi thường cả chức vị hiệu trưởng nữa. Mà như vậy là coi rẻ luôn cả một đại học, tất cả các giáo sư, nhân viên, các sinh viên, và tất cả những người dân đóng thuế ở Hội An và cả tỉnh Quảng Nam.

Quảng Nam là nơi người dân đã nổi lên chống thuế hồi đầu thế kỷ 20. Người dân biết sợ lẽ phải, dù chết không sợ cường quyền. Năm 1908, sau khi cuộc “dân biến” chống sưu cao thuế nặng bị đàn áp, nhiều nhà Nho bị bắt, bị kết tội xúi giục nông dân. Trong sách Thi Tù Tùng Thoại, Mính Viên Huỳnh Thúc Kháng kể chuyện cụ Châu Thượng Văn, tên tự là Thư Ðồng, nhà ở thành phố Faifo (Hội An) là nơi hào kiệt Bắc Nam lai vãng. Khi bị bắt, cụ khai, “Tôi là người chủ mưu” việc dân chống thuế và việc đưa người sang Nhật học; “không ai khác tham dự vào cả.” Cụ tuyệt thực luôn 20 ngày, từ khi bị bỏ tù đến khi thụ án chung thân; “suốt ngày không ăn một hạt cơm, chỉ uống vài chén nước trà loãng người nhà đem vào.” Một bữa, lính đưa một người tù vào ở cùng phòng với Huỳnh Thúc Kháng: “Người bệnh kia mặt đen như than, tay chưn như ống quyển (cái ống nhỏ để đựng giấy, bút), hai mắt nhắm khít, không còn là hình dạng người, hơi thở (mong manh) như sợi tơ,” giống người sắp chết. Nhìn lâu mới nhận ra, chính là Châu Thượng Văn. Sau khi nghe gọi tên nhiều lần, cụ Thư Ðồng mở mắt nhìn một lúc lâu rồi nói nhỏ nhỏ: “Mính Viên Quân. Tôi làm cái dễ. Còn anh em gắng lấy làm việc khó.” Chiều hôm đó cụ Châu Thượng Văn được khiêng đưa ra xe lửa để lên đường đi Lao Bảo. Ðến Huế thì cụ qua đời. Châu Thư Ðồng là một người Minh Hương (người Việt gốc Hoa).

Tuyệt thực đến chết là việc dễ. Tranh đấu đòi tự do, chống lại cường quyền tham nhũng mới là việc khó. Người dân Quảng Nam không quên những tấm gương Châu Thượng Văn. Ðem một cái lệnh cách chức từ Hà Nội vào, đọc cho nghe mà không được hỏi lại, việc không dễ dàng.

Sau khi phản đối phái đoàn quan chức Hà Nội, ông Nguyên Ngọc nói thẳng rằng: “Bà Thứ Trưởng Nguyễn Thị Nghĩa và mười thành viên của đoàn công tác Bộ Giáo Dục và Ðào Tạo đang... chăm chỉ, cặm cụi làm theo kịch bản của Trần Văn Chính, một cán bộ lãnh đạo của bộ đang bị nhà trường tố cáo tham nhũng và hối lộ.

Nhân vật Trần Văn Chính đã nổi danh trong vụ Ðại Học Phan Châu Trinh trong mấy năm nay, con gái ông ngồi trong hội đồng quản trị. Trường được lập ra năm 2006. Trong số sáng lập viên có các nhà khoa học, nhà văn hóa có uy tín như các giáo sư Hoàng Tụy, Phan Ðình Diệu, nhà văn Nguyên Ngọc, vân vân, và các giáo sư ở ngoại quốc như tại CNRS Paris, Ðại Học Harvard, Mỹ. Trường đã có quan hệ với các đại học Nam Hàn, Thái Lan, trong năm qua đã tổ chức chiến dịch tình nguyện Hè cho sinh viên về làm việc tại nông thôn Quảng Nam.

Những người sáng lập muốn xây dựng một cơ sở giáo dục vô vị lợi. Nhưng ngay khi thành lập, Ðại Học Phan Châu Trinh mang tính cách tư thục, đã gọi người góp cổ phần. Trong số những người rất nhiều tiền để góp vốn và có thần thế để chạy giấy phép có hai anh em. Một người là ông Trần Văn Chính, giám đốc Trung Tâm Hợp Tác Chuyên Gia và Kỹ Thuật với Nước Ngoài thuộc Bộ GDÐT; và người kia từng làm vụ phó Vụ Tổ Chức Cán Bộ của Bộ Giục Dục & Ðào Tạo đã về hưu. Làm sao hai nhân viên Bộ Giáo Dục có nhiều tiền như vậy, là điều không ai thắc mắc. Nhưng “nhà đầu tư” và các nhà giáo dục có quyền lợi xung khắc.

Theo ông Hiệu Trưởng Phan Ngọc Thu, một đảng viên 40 năm tuổi đảng, thì nhóm ông Chính “muốn dùng ngôi trường này làm một cuộc buôn bán”. “Trong các cuộc họp Hội Ðồng Quản Trị họ chỉ bàn chuyện làm thế nào để có thể lời nhanh nhất và nhiều nhất, chứ không hề bàn về giáo dục của trường, vì vậy, nhiều cuộc họp tan vỡ. Không thể triệu tập các cuộc họp theo đúng quy định vì sự khống chế của một nhóm cổ đông.” Những mâu thuẫn không giải quyết được đưa tới việc những người có tiền và có thế phá đám những người đang điều khiển trường. Bộ Giáo Dục cử đoàn thanh tra vào xem, theo lối “không đối thoại.” Và sau cùng đưa tới chuyến đi của bà Thứ Trưởng Nguyễn Thị Nghĩa tuần trước.

Bà Nghĩa bị ông Nguyên Ngọc mắng chưa đủ, bà đến họp với các quan chức của thành phố Hội An để công bố lệnh cách chức ông Phan Ngọc Thu. Ở đó, bí thư thành ủy Hội An đã chỉ thẳng vào mặt bà thứ trưởng: Chúng tôi đến đây không phải để ngồi nghe chị lệnh! Ông Thu là bí thư chi bộ nhà trường, là đảng viên do địa phương tôi quản lý, tại sao không ai bàn bạc trước với tôi chuyện này? Ban cán sự đảng của Bộ Giáo Dục là cái gì mà can thiệp vào tổ chức trực thuộc của tôi, vào đảng viên của tôi...? Cái trường này là niềm tự hào của nhân dân Quảng Nam, của nhân dân Hội An chúng tôi, tôi phải bảo vệ đến cùng, hiệu trưởng là đảng viên của tôi, tôi cũng bảo vệ đến cùng.”

Ðại Học Phan Châu Trinh khi thành lập đã được cung cấp đất công để làm cơ sở, tức là lấy của công dùng cho một tư thục. Ông bí thư Hội An báo tin: “Nếu ngày mai bà thứ trưởng công bố quyết định miễn nhiệm ông Thu, tôi sẽ lập tức cho thu hồi ngay miếng đất này. Thu hồi ngay lập tức còn 1,500 sinh viên kia thì bà thứ trưởng tự đi mà giải quyết!” Ông còn dọa cả phái đoàn Bộ Giáo Dục rằng “các anh có thể sẽ bị khóa trái cổng lại không cho về. Nhà trường sẽ nhốt thứ trưởng lại để sinh viên kéo đến hỏi chuyện. Tôi không dọa đâu vì chuyện này nó đó xảy ra ở Ðiện Bàn mấy tháng trước rồi. Tôi cẩn thận dặn các anh vậy để các anh tính.” Ðọc tới đây thì quý vị độc giả cũng thấy là... hết ý! Trước cảnh bị đối xử bất công, một vị quan chức đang sử dụng luật rừng đối với các quan chức khác. Không thấy có luật pháp nào để dùng cả! Nhân dân Thái Bình, Vinh, Bắc Giang, Thái Hà, đều đã từng bị đẩy vào đường cùng như vậy cả! Những Lỗ Trí Thâm, Dương Chí trong chuyện Thủy Hử cũng chỉ nuôi giấc mộng làm quan, nhưng bị ép bức quá cuối cùng đành phải nổi loạn!

Sau khi đọc những chi tiết trong câu chuyện này, chúng ta phải nhìn thấy có mấy vấn đề lớn: Bộ máy quản lý quốc gia không chạy; không biết đâu là giới hạn uy quyền của đảng, còn đâu là quyền hành của cơ quan nhà nước. Nhà nước can thiệp vào nội bộ một cơ sở giáo dục đại học, nhưng thua lý khi bị đảng ủy địa phương chống lại. Ðảng ủy cấp địa phương trong thực tế mạnh hơn quan chức nhà nước cấp trung ương, ít nhất họ có thể ban phát “quyền sử dụng đất” theo ý muốn. Nhà nước cấp đất cho một đại học tư, nhưng nếu nó trái ý mình thì sẵn sàng thu hồi lại. Bí thư một thành phố bảo vệ quyền lợi đảng viên trong khu vực của mình giống như các anh hùng Lương Sơn Bạc bao bọc các thủ túc. Ðọc tất cả những lời đối đáp trong bản tin, chỉ thấy các nhân vật chính tranh cãi về quyền hành của họ mà không thấy nhắc đến quyền lợi của các sinh viên - trừ lúc dùng sinh viên để de dọa. Các bạn trẻ này có thể sẽ là nạn nhân nếu cuộc tranh chấp dẫn tới bề tắc hoặc khủng hoảng. Người ở xa đọc câu chuyện này qua mạng lưới Bô Xít thì có cảm tình với ông bí thư thành phố Hội An, cũng như độc giả ai cũng có cảm tình với các nhân vật Lâm Xung, Lư Quỳ trong Thủy Hử vậy. Ông có vẻ đang bảo vệ những người yếu thế, chống lại cường quyền tham nhũng. Nhưng người ta cũng tự hỏi, nếu đây không phải là chuyện về Ðại Học Phan Châu Trinh mà là một vụ khác, thì sao? Một ông bí thư quyền hành như vậy, nếu ông thuộc loại chủ tịch tỉnh Hà Giang chẳng hạn, thì ông sẽ thi thố quyền năng của mình như thế nào khi bị hỏi về việc lạm dụng tình dục các nữ sinh?

Tóm lại, một bộ máy cai trị đặt trên quyền hành cá nhân các cán bộ, không dựa trên luật pháp đầy đủ, minh bạch và công khai, thì làm sao nó cải tổ được để giảm bớt tham nhũng, lạm quyền?

Trong câu chuyện này cũng có những vấn đề quan trọng khác, thí dụ như nạn tham nhũng lạm quyền ở Bộ Giáo Dục. Câu chuyện cũng cho thấy cơ cấu tổ chức nền giáo dục rất luộm thuộm vì luật lệ không rõ ràng: Không phân biệt quyền hạn và trách nhiệm rõ ràng giữa đại học và Bộ Giáo Dục trong việc quản trị. Tính chất nhập nhằng giữa công và tư khiến các cán bộ rất dễ lạm quyền. Tình trạng xung khắc quyền lợi chung và riêng, không được giải quyết dứt khoát từ đầu, sẽ dễ tạo cơ hội nhũng lạm. Những rắc rối này là nguyên nhân gây ra cuộc tranh chấp ở Ðại Học Phan Châu Trinh. Nhưng cả hai vấn đề đó, nạn tham nhũng lạm quyền và tổ chức giáo dục lủng củng, là những chuyện cũ ai cũng biết cả rồi.

Chúng ta còn nhìn thấy một vấn đề căn bản hơn và lâu dài hơn, là một quốc gia không có thể thống, không có kỷ cương. Trong một nước có hai cơ cấu quyền lực song hành, đảng và nhà nước trồng tréo lẫn nhau, không tạo được kỷ cương và thể thống. Nhiều lúc không ai biết đâu là quyền hạn, đâu là trách nhiệm của ai nữa. Ðó là đầu mối tạo cơ hội lạm dụng quyền hành. Nói là Loạn cũng không ngoa! Phải chấm dứt tình trạng này.

Trước đây gần 30 năm nhà giáo Hồ Ngọc Ðại bàn về guồng máy giáo dục đã chủ trương phải “giở ra làm lại từ đầu”. Ðến nay, món thuốc đó có vẻ quá hiền, khó trị được bệnh trầm kha. Có người ở Việt Nam đã đề nghị bây giờ điều hợp lý nhất là “vứt đi làm lại từ đầu”, thay thế bằng một guồng máy giáo dục khác, hoàn toàn khác. Ðiều này đúng đối với cơ cấu, hệ thống giáo dục quốc gia. Nhưng càng đúng khi nói về tất cả chế độ chính trị ở nước ta. Nát quá. Phải xóa đi làm lại từ đầu mới được.

Posted: Thu Aug 12, 2010 4:57 am
by tankhoasinh
Ý nghĩa sự trở về đột ngột của tổng giám mục Ngô Quang Kiệt

Trần Xuân Ninh
Có người đã loan tin tin tổng giám mục Ngô Quang Kiệt trở về Việt nam với hai câu: Đức TGM Ngô Quang Kiệt về Việt Nam sống với giáo hội mẹ và sống giữa lòng dân tộc. Và Giáo dân Công giáo quốc nội và hải ngoại đồng hướng về ngài và cầu nguyện cho ngài.

Ngược lại, một “trí thức Việt kiều yêu nước” cũng đã phóng đi rộng rãi ý kiến của mình, với những lời lẽ nếu nhắc lại ở đây sẽ làm dơ tai độc giả. Nhưng để độc giả có một khái niệm về hạng ngưòi này, chỉ xin nêu ra mấy chữ đã được dùng để gọi TGM Kiệt, như “chó thua cuộc”, “tên du đãng công giáo”, “tên phản bội tổ quốc”. Một người kể là trí thức mà dùng những chữ như vậy thì hẳn phải là kẻ bực bội khó chịu lắm đối với TGM Ngô Quang Kiệt, nghĩa là cuồng tín như một tên bần cố nông thời toàn trị. Bỏ ra ngoài những lời xưng tụng TGM, nêu nhìn vào sự việc diễn tiến, thì TGM Ngô Quang Kiệt đã được nhiều giáo dân trong nước cũng như hải ngoại coi như một chủ chăn xứng đáng, khác hẳn với những giới chức giáo quyền cao cấp khác được kể là quốc doanh. Điều này đã tạo nhiều khó khăn phiền hà cho lãnh đạo CS Hà nội cho tới khi TGM Ngô Quang Kiệt bị bãi nhiệm bán chính thức và ra đi đêm 12 tháng 5/2010 gọi là dưỡng bệnh, với sự mặc nhiên đồng ý của Vatican. Sau gần 3 tháng sống ở Boston, đức cha Kiệt đã đột ngột trở về ngày 5 tháng 8/2010 để sống tại tu viện Châu Sơn, thuộc Nho Quan Ninh Bình. Ông Ngô Quang Tín, em ruột đức cha Kiệt sống ở Houston trong một cuộc phỏng vấn với ký giả Đinh quang Anh Thái ngày 6 tháng 8/2010 đã xác nhận ông có liên lạc điện thoại với TGM Ngô Quang Kiệt và được biết TGM qua Vatican ngày chủ nhật 1 tháng 8, rồi nghe ngài nói rằng “báo cho chú biết là tôi đã về tới và hiện đang trên đường trở về Châu Sơn.” Ông Tín còn cho biết rằng TGM không chia xẻ với gia đình về nội dung những cuộc họp với lãnh đạo giáo hội, và lý do tại sao đột ngột về VN, nhưng nói rằng ngài “muốn sống ở một nơi im lặng trong một tu viện là tu viện Châu Sơn, để cầu nguyện cho quê hương Việt Nam”. Ông Tín còn tiết lộ thêm là “Ngài có nói rằng ngài chỉ là một tu sĩ ở nhờ trong tu viện Châu Sơn chứ cũng không phải là người gia nhập vào tu viện Châu Sơn.” Về phương diện an ninh, ông Tín cho biết TGM “có lưu tâm” “nhưng một cách tổng quát thì không lo ngại lắm”. Chiều ngày 9 tháng 8 thông tấn xã Công giáo VN Vietcatholic Newsloan tin và hình ảnh giới chức giáo quyền gồm TGM Nguyễn văn Nhơn và phụ tá và tuỳ tùng đã đến Châu sơn thăm cha Kiệt trong “bầu khí cảm động và đầy tràn tình cảm gia đình”.

Bề ngoài là như thế. Bề trong thực chất là sao?

Trước hết, dòng Châu Sơn theo nguyên tắc là một dòng tu kín, và kể là khổ tu. Người vào dòng tu có nhiều lý do. TGM Ngô Quang Kiệt là một giới chức lãnh đạo cao cấp, xuất ngoại đột ngột gọi là chữa bệnh, đi về đột ngột sau khi ghé qua Vatican, với lý do nói ra là muốn sống ở một nơi im lặng là Châu sơn để cầu nguyện cho quê hương Việt nam. Không mơ tưởng suy diễn thì phải nói đây là quyết định độc nhất mà TGM có thể lấy. Sau khi ở Boston hơn hai tháng, đức cha NQK phải biết lập trường của giáo phận Boston và của Vatican. Là không có chỗ nào cho ông cả ở ngoại quốc. Ông không thể tách ra một mình để làm một giáo hội kiểu Tin Lành cho người Việt ở Mỹ. Người Công giáo Việt nam dù chống Cộng chưa đủ cương quyết để mà không tuân lời giáo quyền Công giáo. Ông cũng không thể từ chức Tổng giám mục để làm người thường. Cho nên ông phải trở về. Chấp nhận yên sống ở dòng Châu sơn, như một hình thức bị phạt hay nếu không thì cũng là để tránh những phiền hà cho giáo quyền và chính quyền, khi ông không còn có những tiếp xúc với giáo dân nữa. Ông sẽ không sao cả, vì nhà nước sẽ không giết ông làm gì, và sẽ dùng ông tùy trường hợp, khi cần. Mà mới đây nhất là hình ảnh giáo quyền Hà nội đến chụp hình với ông ở Châu sơn. Tóm lại, Nhà nước và Vatican đã vô hiệu hoá ảnh hưởng của ông lên quần chúng.

Qua việc này thì người ta có thể kết luận một cách không nghi ngờ gì nữa là hai bên Hà nội và Vatican đã thoả thuận mặc nhiên hay bí mật, chia nhau vùng ảnh hưởng. Nhà thờ lo việc đời sau, gom chung là việc Nước Trời. Nhà nước lo việc đời này. Nhà thờ giúp nhà nước ở đời này trong các việc từ thiện xoa dịu các khổ nạn xã hội do nhà nước gây ra hay không muốn mất công sức và thì giờ để lo. Chia ra như thế thì cả hai bên đều cùng có lợi. Nhà thờ sẽ có những nghi lễ nói theo ngôn từ VC là hoành tráng. Cán bộ VC có làm linh mục cũng chẳng sao vì vẫn sẽ áo chùng thâm làm lễ ca tụng Thiên chúa trong nhà thờ và giữ yên cho con chiên “không làm chính trị”

Vắn tắt thì người Công giáo phải thấy rõ rằng nếu muốn chống Cộng hay đấu tranh cho đất nuớc thì cứ tự nhiên mà làm, chứ không thể trông chờ gì ở giáo quyền hay giáo hội La Mã, nghĩa là phải bỏ cái định kiến sai lầm từ thời chiến tranh lạnh rằng Công giáo chống Cộng

Bác sĩ Trần Xuân Ninh
(ngày 10 tháng 8/2010)

Posted: Fri Aug 13, 2010 2:06 am
by thienthanh
NGƯỜI CẦM BÚT VÀ...
ÐẠO ÐỨC NGHỀ LÀM BÁO


NGUYỄN CHÂU
Trong những ngày vừa qua, ca sĩ Ðàm Vĩnh Hưng từ Việt Nam sang trình diễn tại Mỹ, cộng đồng Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản đã biểu tình rầm rộ và đông đảo để bầy tỏ sự chống đối chiến dịch tuyên vận của cộng sản Việt Nam qua văn nghệ. Trong lúc đại bộ phận người Việt Tỵ Nạn không chấp nhận việc một ca sĩ bản thân là cán bộ cộng sản, lại có thái độ ngang ngược, thách thức cộng đồng tỵ nạn, thì có một số người làm báo, tự xưng là ký giả, đã tiếp tay cho ca sĩ này bằng cách tổ chức các cuộc họp báo để Ðàm Vĩnh Hưng có cơ hội tuyên truyền, thậm chí có người đã vượt đã khỏi chức năng nhà báo, khi trả lời phỏng vấn của phóng viên đài BBC về việc Ðàm Vĩnh Hưng bị Lý Tống xịt hơi cay vào mặt, với một luận điệu đầy thiên kiến, có lợi cho cộng sản. Do đó, Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản đã họp, hội thảo và ra quyết định tẩy chay ba ký giả đã đi ngược lại nguyện vọng và quyền lợi của Cộng Đồng Tỵ Nạn.

Trong buổi hội thảo ngày 04-8-2010, sau khi thông qua Bản Lên Tiếng, ký giả Ðoàn Trọng đã lập tức bị mời ra khỏi phòng họp của Cộng Ðồng Người Việt Tỵ Nạn Nam California. Vì trước đó đã được mời bởi trưởng ban tổ chức, nên ông Ðoàn Trọng chưa chịu rời hội trường, chờ hỏi ý kiến ông Hội Trưởng Phan Kỳ Nhơn. Trước khi ông Phan Kỳ Nhơn trả lời là ký giả Ðoàn Trọng nên về, thì đã có một vài người lớn tiếng xua đuổi.

Chuyện “trục xuất ông Ðoàn Trọng ra khỏi phòng họp” đã trở thành đề tài đánh phá Ủy Ban Ðặc Nhiệm Chống Văn Hóa Vận.

Phía chống phá nhân danh quyền ký giả là “Đệ Tứ Quyền” không ai được phép đụng đến. Phía cộng đồng thì cho rằng những nhà báo không có lương tâm chức nghiệp, không có ý thức quốc gia, làm lợi cho cộng sản Việt Nam, thì không xứng đáng để được tôn trọng.

Vậy thì đâu là Lương Tâm của người cầm bút và đâu là Đạo Đức của nghề làm báo?

Tại sao ngành báo chí truyền thông được các quốc gia dân chủ tự do công nhận là “Đệ Tứ Quyền”? Những người được hưởng Ðệ Tứ Quyền này phải hành động như thế nào? Ðệ Tứ Quyền có tuyệt đối không?

Trên nguyên tắc, khi có quyền lợi thì luôn luôn phải có bổn phận và trách nhiệm, vậy bổn phận và trách nhiệm của ngành truyền thông gồm những gì?

A. - ÐỆ TỨ QUYỀN

Trong một nước theo thể chế Dân Chủ Tây Phương, chính phủ gồm có ba Ngành biệt lập: Lập Pháp, Hành Pháp và Tư Pháp, đó là “tam quyền”.

Báo chí là cơ quan thông tin cho quần chúng, công dân biết những biến cố quan trọng, những dự án, chính sách của chính phủ, của thế giới, và còn có chức năng theo dõi các hoạt động của chính phủ (journalistic function of acting as watchdog on government) đối với phúc lợi của đất nước và nguyện vọng của nhân dân. Vai trò xã hội của báo chí, truyền thông rất quan trọng trong một quốc gia dân chủ, cho nên nhiều nước Tây phương đã ban cho ngành báo chí một quyền tự do hiến định gọi là Đệ Tứ Quyền.

Hiến Pháp bảo vệ quyền tự do báo chí nhằm mục đích nâng cao phúc lợi của xã hội, chẳng hạn như sự đa dạng của các quan điểm và những phân tích toàn diện của các biến cố. Báo chí là “con mắt của công chúng” - (public eye) - cho nên có vai trò rất đặc biệt trong xã hội.

Ở các quốc gia Dân Chủ như Hoa Kỳ, Pháp, quyền của báo chí, truyền thông gần như tối thượng, nhưng không hoàn toàn tuyệt đối, bởi vì tối thượng hơn hết là quyền lợi và an ninh của Tổ Quốc, do đó, báo chí có bổn phận dừng lại ở giới hạn này.

B. - BỔN PHẬN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA BÁO CHÍ, TRUYỀN THÔNG

Một nhà báo chuyên nghiệp được đào tạo để viết về các vấn đề thế giới, các biến cố quốc gia, các sinh hoạt địa phương, viết về nhân dân và các xu hướng xã hội cũng như chính trị. Người viết báo đối diện với một số trách nhiệm rất lớn lao khi trình bầy hoặc tường thuật các sự kiện hoặc biến cố cho quần chúng. Do đó, các nhà báo chuyên nghiệp phải tuân theo một số tiêu chuẩn về đạo đức khi làm việc trong truyền thông đại chúng như phát thanh, truyền hình, viết nhật báo, tạp chí và Internet.

1. Bổn phận và đạo đức tổng quát: giống như mọi công dân khác, những người viết báo phải tuân thủ những phạm trù đạo đức chung như tôn trọng sự thật, giữ lời hứa, tránh làm tổn hại người khác và phục vụ phúc lợi chung.

2. Vai trò Xã Hội của Báo Chí: giống như tất cả các ngành nghề khác, những người viết báo dùng năng khiếu của mình để làm tròn vai trò xã hội của mình và đáp ứng những ước vọng của quần chúng. Ðôi khi vai trò này được hiểu như là có một khế ước không thành văn giữa báo chí và xã hội, đó là công tác tường trình các sự việc một cách trung thực để quần chúng nhận định (we report, you decide)

3. Tác Động và Ảnh Hưởng của Báo Chí: dù cho ngành báo chí có thiếu sót vai trò đặc biệt đối với xã hội, thì các nhà báo cũng sẽ gánh chịu một số trách nhiệm do sự tác động của họ trên những cá nhân và các đoàn thể mà họ nói đến hoặc tường thuật, do ảnh hưởng trên xã hội mà họ đang sống và phục vụ. Bởi vì các bài báo thường tác động đến tâm tư, tình cảm của con người trong xã hội, trong quốc gia, chi phối dư luận quần chúng.

Chính vì tác động và ảnh hưởng lớn lao của báo chí, truyền thông trên dư luận quần chúng, cho nên Ðạo Ðức Của Người Viết Báo đại thể phân ra hai quy mô:

1. Quy mô nhỏ: đó là cá nhân nhà báo nên làm những gì trong một hoàn cảnh hoặc tình huống đặc biệt, hoặc trước những vấn đề chung quanh một loại biến cố chuyên biệt. Các vấn đề vi tế này bao gồm hành động dùng một máy quay phim lén lút trong một tình huống đặc biệt, hoặc không chứng kiến mà vẫn viết theo ý của người khác, đó là đạo văn (ăn cắp văn - plagiarism).

2. Quy mô lớn: đó là, một cách chung, giới truyền thông nên làm gì với vai trò đã được giao phó trong xã hội. Các vấn đề thuộc quy mô lớn này bao gồm sự đa dạng của nội dung truyền thông cùng quyền sở hữu và sự tự do báo chí.

Qua hai quy mô trên đây, người ta đã thảo luận và thâu thập các ý kiến để đúc kết thành một “khuôn mẫu đạo đức truyền thống” (traditional ethical model) cho ngành báo chí tại Bắc Mỹ, khuôn mẫu này đã có xuất hiện nền báo chí tân tiến với những nhà báo chuyên nghiệp vào thập niên 1800.

Khuôn mẫu đạo đức truyền thống quy định một số chức năng chính của báo chí như sau:

- Ðưa tin cho quần chúng biết về những biến cố quan trọng miễn là phải tự chủ, tức là sử dụng các phương pháp tương ứng và hữu hiệu để thu lượm tin tức vì lợi ích của một công dân tự trị.

- Hành động như một giám sát viên đối với các vụ lạm dụng quyền lực trong cả hai lãnh vực công và tư.

- Tạo ra những diễn dàn mở rộng cho việc thảo luận, phê bình các vấn đề chính trị, xã hội, các quan điểm, các giá trị và phát biểu ý kiến cá nhân.

Căn cứ vào quy tắc đạo đức của Hội Các Nhà Báo Chuyên Nghiệp (Code of the Society of Professional Journalists viết tắt CSPJ) thì nhà báo phải tuân giữ hai nguyên tắc hành động sau đây:

1 - Các Nguyên Tắc Năng Động (Pro-active principles): đây là những tiêu chuẩn chỉ đạo cho các nhà báo (hoặc truyền thông đại chúng) hăng hái tìm sự thật, điều tra nguyên cớ trong tư thế độc lập. Nhà báo chân chính có bổn phận theo dõi và điều tra những sự thật quan trọng trong phạm vi hạn chế của nhật báo. Tiêu chuẩn nằm dưới nguyên tắc này bao gồm: sự chính xác, cân bằng và đa dạng (accuracy, balance and diversity), sự toàn vẹn và đúng bối cảnh, cân đối, công bằng và khách quan. Nhà báo phải hành động độc lập, tìm kiếm và tường trình sự thật không sợ hãi hay thiên vị. Nhà báo phục vụ công chúng như một toàn khối, không bè phái hoặc theo đặc quyền đặc lợi. Theo nguyên tắc này, nhà báo có bổn phận tránh sự xung đột quyền lợi, phải giữ tư thế độc lập đối với mọi cơ chế khác và từ khước những ân huệ đặc biệt, có can đảm phê phán cường quyền.

2 - Các Nguyên Tắc Hạn Chế (Restraining principles): đây là các tiêu chuẩn chỉ đạo nhà báo trong việc hành xử quyền tự do báo chí này một cách có trách nhiệm bằng cách tránh những tổn hại tinh thần không cần thiết và luôn có ý thức trách nhiệm về việc làm của mình. Trong khi đi tìm sự thật, một cách độc lập, nhà báo nên tránh việc tạo ra những tổn thương không vô ích cho các đối tượng và các nguồn của những sự việc xẩy ra, chẳng hạn như trẻ em và các nạn nhân của bạo hành hay thảm kịch. Dĩ nhiên là rất khó tránh việc gây ra một vài tổn thương khi làm nhiệm vụ truyền thông, nhưng nhà báo chuyên nghiệp có bổn phận giảm thiểu sự tổn thương, chẳng hạn như không xâm phạm đến đời tư của một người nào đó một cách vô cớ. Nhà báo phải có ý thức trách nhiệm, tức là có bổn phận phải giải thích và biện minh cho các hành động của mình cũng như các bài tường thuật đã viết, nhất là khi các bài tường thuật gây tranh luận, hoặc có ảnh hưởng tiêu cực trên các cá nhân hoặc các đoàn thể.

Trong các quốc gia Dân Chủ Pháp Trị, quyền lợi, bổn phận và trách nhiệm luôn luôn song hành với nhau. Ngành báo chí truyền thông có quyền tự do rộng rãi, nên trách nhiệm và đạo đức cũng rất lớn lao. Thế nhưng trong xã hội người Việt nói chung và cộng đồng tỵ nạn nói riêng, đã có sự nhập nhằng giữa người cầm bút, nhà văn, nhà báo.

Có thể nói đại đa số những nhà văn, nhà báo Việt Nam đều tự học, học lóm hoặc nghề dạy nghề, do đó báo giới của cộng đồng tỵ nạn mới “loạn xà ngầu”. Nhiều người mang thẻ nhà báo mà thiếu kiến thức, non kém về nghiệp vụ, lại không có lương tâm, đã lợi dụng chức năng phóng viên đi “hăm dọa tống tiền”, hoặc dọa dẫm bêu xấu người khác trên báo để đạt mục đích đen tối. Nhiều người làm báo tự cho là mình có quyền đứng trên kẻ khác, tự phong là “nhà báo lớn”, rồi tự cho mình các quyền múa bút một cách bừa bãi, làm cho xã hội rối tung lên.

Do đó, đã đến lúc, Cộng Đồng Việt Nam Tỵ Nạn Cộng Sản phải có nhận định rõ ràng để phân biệt người cầm bút và nhà văn, nhà báo đích thực.

Không phải tất cả những người cầm bút đều là nhà văn, nhà báo đích thực, chính danh. Cũng như không phải bất cứ người cầm súng nào cũng là chiến sĩ. Chiến sĩ là người cầm súng để bảo vệ quê hương, giữ yên bờ cõi, đem lại an bình cho cuộc sống người dân.

Cầm bút viết bậy cũng như cầm súng bắn bậy, rất tai hại cho xã hội. Nhất là khi người cầm bút nhận làm công cụ cho những thế lực xấu xa để kiếm tiền, thì tai họa sẽ rất lớn đối với cộng đồng. Cầm bút để làm điều sai trái, tấn công, mạ lỵ cá nhân, tuyên truyền cho cộng sản trong cộng đồng tỵ nạn, không thể gọi là nhà văn, nhà báo được, bởi vì những kẻ cầm bút loại này giống hệt như bọn cầm súng đi ăn cướp, đi hiếp dâm, đi giết người mà thôi. Cần phải loại trừ ngay khỏi báo giới loại người cầm bút này, cần phải vạch mặt chỉ tên để công chúng biết mà lánh xa.

Người cầm bút chân chính luôn luôn có tấm lòng đối với con người và có đạo đức. Trên nguyên tắc, mọi nhà văn đều có nhiệm vụ “chở đạo đức vào đời”, có bổn phận làm cho điều thiện nẩy nở, điều ác tàn rụi, sự thật được xiển dương và vẻ đẹp được thăng hoa.

Làm người-ở đời, cái quan trọng nhất phải có đó là Lương Tâm hay Ý Thức Ðạo Ðức. Người viết văn, làm báo mà không có lương tâm, thiếu đạo đức, thì sẽ di hại nhiều thế hệ, chứ không chỉ trong hiện tại.

Do đó, nhu cầu thanh lọc hàng ngũ báo chí trong Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản tại hải ngoại là một việc đáng lẽ phải làm từ lâu. Bây giờ mới làm thì đã muộn. Nhưng muộn còn hơn không bao giờ làm! “Mieux vaut tard que jamais!” - “Better late than never!”

NGUYỄN CHÂU

Posted: Sat Aug 14, 2010 5:56 am
by vuphong
Gấp rút đánh bóng Nguyễn Chí Vịnh


Chuẩn bị cho đại hội đảng khóa XI sắp tới, các phe nhóm trong đảng Cộng Sản Việt Nam đang có nhiều nỗ lực đưa người của mình vào Trung ương khóa tới bằng đủ mọi đòn phép, hầu nắm những chức vụ then chốt trong đảng và nhà nước sau này. Tin tức cho biết, đã có những đơn kiến nghị, thư rơi tố cáo để loại trừ, tấn công uy tín của nhau.

Điển hình như những bức thư gửi cho các ông Nông Đức Mạnh, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Phú Trọng và Trương Tấn Sang tố cáo: Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ngoài miệng thì hô hào chống tham nhũng, nhưng thực tế rất tham lam, đang kéo thân nhân, tay chân bè đảng để kinh tài theo kiểu mafia để từng bước thâu tóm nền kinh tế VN. Đồng thời cũng có những màn tự đánh bóng mình hay đánh bóng các quan chức cao cấp “cùng phe”, trong đó nổi bật phải kể đến nỗ lực “đánh bóng“ cho Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, thứ trưởng bộ Quốc phòng.
Tướng Nguyễn Chí Vịnh là người đã bị nhiều đơn tố cáo là kẻ “tài hèn, đức kém“, nhưng lại được cất nhắc lên rất nhanh. Năm 2006, ông Nguyễn Chí Vịnh được đích thân Tổng bí thư Nông Đức Mạnh giới thiệu vào Ban Chấp hành trung ương đảng khóa X cùng với con của ông Mạnh là Nông Quốc Tuấn. Nhưng cả hai đều bị từ chối. Sau đó, do sức ép từ thiên triều phương Bắc, từ 2 Thái thượng hoàng Đỗ Mười, Lê Đức Anh, cũng như từ chính ông Mạnh, nên Nguyễn Chí Vịnh được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Quốc phòng, dù rằng còn có cả gần một tá những người mang quân hàm cao hơn ông Vịnh. Tuy nhiên, đối với ông Nguyễn Chí Vịnh thì điều đáng được đề cập đến nhiều hơn cả là vị trí cầm đầu Tổng cục 2, Tình Báo Quân Đội và thái độ phục tùng Trung Quốc tuyệt đối của ông ta.

Từ 2 thập niên qua, Tổng Cục 2, với những quyền hạn đặc biệt về an ninh, tình báo, phản gián, bảo vệ nội bộ nhà nước, đảng, quân đội,… cơ quan này có quyền theo dõi mọi người, kể cả những người ở vị trí cao nhất. Từ đó, cơ quan này đã dùng nhiều thủ đoạn thao túng, ngụy tạo tin tức để chụp mũ nhiều nhân vật chóp bu trong đảng. Đại tướng Võ nguyên Giáp, 3 ông cựu thủ tướng Phạm văn Đồng,Võ văn kiệt và Phan Văn Khải đều là những nạn nhân một thời của Tổng Cục 2. Chính vì vậy mà nhiều đảng viên lão thành đã kiến nghị đòi Trung ương phải điều tra và có biện pháp giảm bớt thế lực của Tổng Cục 2. Tuy nhiên, vì một lý do khó nói nào đó mà Bộ chính trị CSVN đã trì hoãn vấn đề này suốt mấy kỳ đại hội đảng liền trong lúc Tướng Vịnh vẫn thêm chức thêm quyền liên tục và càng lúc càng nhanh. Do đó đã có những đồn đoán rằng, chính 15 nhân sự thuộc bộ Chính Trị đảng CSVN hiện nay cũng đã bị Tổng Cục 2 khống chế. Vì với những quyền lực bao trùm kể trên, cơ quan này đã nắm đầy đủ hồ sơ hệ thống làm ăn riêng, các màn ăn chơi đời tư, các chứng cớ tháo bán quyền lợi quốc gia, và những đòn phép chơi xấu lẫn nhau, v.v. của tất cả những nhân vật lãnh đạo.

Thứ trưởng quốc phòng lẽ ra chỉ đóng các chức năng hướng vào nội bộ đúng như danh xưng của nó. Nhưng mấy tháng gần đây Thứ trưởng Nguyễn Chí Vịnh bỗng dưng trở thành một nhân vật tất bật, rôm rả nhất trong số các cán bộ cao cấp của quân đội CSVN. Trong đó có cả những lần xuất hiện được coi là vượt cấp và ngoài phạm vi trách nhiệm. Từ việc đại diện Bộ Quốc Phòng công bố Sách trắng Quốc phòng Việt Nam hồi tháng 12/2009, đến chủ tọa buổi gặp gỡ các tân đại sứ trước khi lên đường nhận nhiệm sở vào tháng 1/2010 để trình bày về đường lối an ninh quốc phòng của Việt Nam; chủ tọa một cuộc họp báo công bố chính sách đối ngoại quốc phòng của Việt Nam vào đầu tháng 2/2010; cầm đầu phái đoàn quân sự cao cấp của Việt Nam sang thăm Trung quốc vào cuối tháng 2/2010 để tiếp xúc đặc biệt với Bộ trưởng Bộ quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt; cầm đầu phái đoàn quân sự đi Úc để gặp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Úc ông John Faulkner vào tháng 3/2010. Về chuyến đi này nhiều người còn cho rằng ông Nguyễn Chí Vịnh cố tình tránh gặp mặt Bộ trưởng Quốc phòng Nga Anatoly Serdyukov đến Hà Nội vào thời điểm đó. Ông Vịnh không muốn bị xem là người thuộc nhóm “đi dây giữa Nga – Tàu” mà Bắc Kinh ghét cay ghét đắng trong quá khứ.

Với những hoạt động rộn ràng kể trên, ông Nguyễn Chí Vịnh hẳn nhiên đã được coi là người nổi bật nhất trong số các cán bộ quân sự cao cấp của CSVN. Tuy nhiên, như vậy vẫn chưa đủ. Ngày 30.7.2010, sau khi hội nghị Diễn Đàn Khu vực ASEAN chấm dứt, tờ South China Morning Post (Bưu điện Hoa Nam Buổi Sáng), xuất bản tại Hồng Kông đã đăng lời phát biểu của Nguyễn Chí Vịnh: “Việt Nam muốn gửi thông điệp cho cộng đồng quốc tế rằng sẽ không chấp nhận bất kỳ giải pháp nào có sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, đồng thời Việt Nam có đủ khả năng để đối phó”.

Khi được hỏi liệu tuyên bố này có thể được hiểu là gần đây đã có đe dọa sử dụng vũ lực từ Trung Quốc hướng tới Việt Nam hay không, ông Vịnh trả lời: “Nên dành câu hỏi này cho Trung Quốc chứ không phải Việt Nam”.

Từ miệng một người thần phục Tàu hết mức xưa nay, những phát biểu cứng rắn vừa kể của ông Nguyễn Chí Vịnh làm người ta ngạc nhiên không ít. Nhưng không lâu sau đó, các nhà quan sát đã thấy ngay đây chỉ là một thủ thuật của Bắc Kinh để trấn an các nước trong vùng, và hy vọng chính phủ các nước này bớt thấy việc nhảy vào biển Đông của Hoa Kỳ là cần thiết.

Trước hết, South China Morning Post là tờ báo được xem là “bán Đông bán Tây”, nghĩa là 1 tờ báo có đầy đủ đường nét và các hành xử Tây Phương nhưng nằm tại Hồng Kông là phần đất mà Trung quốc nắm trọn khả năng áp lực, điều khiển phía sau. Trong nhiều năm qua, Bắc Kinh khá khôn khéo trong việc tạo hình ảnh độc lập cho tờ báo này, kể cả việc để nó tung ra những tin không hay lắm cho Bắc Kinh, và chỉ xử dụng nó khi thật cần thiết mà thôi. Hiện tượng thay đổi chính sách của chính phủ Obama, cụ thể là lời tuyên bố của ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton trong Hội nghị Diễn đàn Khu vực ASEAN vào tháng 7 vừa qua rằng Hoa Kỳ sẵn sàng tham gia chống bá quyền tại Biển Đông, đã khiến Bắc Kinh phải xử dụng tới phương tiện báo chí đặc biệt này.

Cũng có người đồng ý đây phải là thủ thuật của Bắc Kinh vì khá rõ nó không thể là sáng kiến của các lãnh đạo Hà Nội. Họ dư biết ông Nguyễn Chí Vịnh đã bị chính các cựu quan chức cao cấp của chế độ, cũng như bị chính những người làm việc tại Tổng Cục II tố cáo với nhiều bằng chứng là đã cộng tác chặt chẽ với tình báo Trung quốc từ lâu. Vì vậy lời nói của ông Vịnh trong lãnh vực đối phó với Trung quốc bị mất trọng lượng ngay từ khi chưa thốt ra. Trong khi có rất nhiều nhân sự khác, kể cả các tướng lãnh quân đội, có tầm vóc hơn hẳn ông Vịnh, mà lại không tạo ra ngờ vực trong công luận người Việt, để làm việc này.

Bên cạnh đó, nếu đây là sáng kiến của lãnh đạo Hà Nội thì họ đã mở một cuộc họp báo với nhiều đại diện báo chí tại thủ đô để sự rầm rộ hơn hẳn chỉ có MỘT bài trên tờ South China Morning Post. Ngoài ra, nếu đây là sáng kiến của lãnh đạo đảng CSVN, thì bài báo trên tờ South China Morning Post hẳn đã được dịch lại và trịnh trọng đăng trên khắp các báo “lề phải“. Nhưng cho đến nay không một tờ báo nào tại Việt Nam loan tải tin tức này.

Vậy các lãnh đạo Bắc Kinh muốn gì qua miệng ông Vịnh?

Trước hết và trên hết, Bắc Kinh muốn trấn an các nước thuộc ASEAN rằng: Việt Nam đã có đủ khả năng và quyết tâm kháng cự lại Trung quốc. Các nước khác trong vùng có thể dựa vào Việt Nam ở vị trí đi đầu ngăn chận ý đồ bành trướng của Trung quốc. Không cần phải vận động Hoa Kỳ can dự quá sâu vào vùng này.

Dĩ nhiên, Bắc Kinh tin là những lời này từ một ông trung tướng kiêm thứ trưởng quốc phòng Việt Nam sẽ thuyết phục hơn lời lẽ trấn an của các quan chức Tàu xưa nay.

Và các mục tiêu phụ của Bắc Kinh là tô thêm nét “ái quốc” cho Nguyễn Chí Vịnh trong mắt dân chúng Việt Nam, cùng lúc tạo thêm hình ảnh oai quyền cho ông Vịnh trong hàng ngũ đảng viên CSVN cao cấp. Đó là việc ông Vịnh tuyên bố nẩy lửa, nói ngược lại cả lời của Bộ Trưởng Quốc Phòng Phùng Quang Thanh, mà chẳng cần phải thông qua hệ thống lãnh đạo Đảng, cụ thể là Bộ Chính Trị, Bộ Quốc Phòng, và Ban Văn Hóa – Tư Tưởng Trung Ương. Đây là ấn tượng cần thiết nhằm thu hút số đảng viên cao cấp đang tìm phe nhóm “mạnh” để “tòng quân” trước thềm đại hội XI.

***

Xem ra càng gần đến ngày Đại hội đảng CSVN, tướng Nguyễn Chí Vịnh càng leo lên cao hơn và nhanh hơn, mà dường như không còn ai có thể ngăn cản ông được nữa. Cứ theo chiều hướng này, có xác suất cao ông Vịnh sẽ không ngừng ở ghế Ủy Viên Trung Ương mà sẽ leo vào tận Bộ Chính Trị để nắm vị trí Bộ trưởng Quốc Phòng. Và nếu thành công ở bước này, thì việc ông trở thành Tổng bí thư Đảng CSVN vào đại hội XII là điều hiển nhiên.

Từ nhiều năm qua, Trung Quốc đã từng bước nam tiến, từ lấn đất tại biên giới phía Bắc, lấn biển ở phía Đông, đến đưa người qua khai thác tài nguyên tại phía Tây qua các dự án khai thác Bô-xít ở Tây Nguyên và các dự án thuê các rừng đầu nguồn tại 20 tỉnh dọc đường biên giới từ Bắc xuống Nam. Nay với sự xuất hiện của Nguyễn Chí Vịnh, từ từ tiến vào vai trò lãnh đạo công khai và chính thức, rõ ràng tiến trình xâm lược của Trung Quốc đã thành công gần như trọn vẹn ở mọi vòng – từ biên thùy đến cốt lõi lãnh đạo.