Góc Phố Cà Phê

Tin trong và ngoài nước, tin Cộng Đồng ...
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Dân biểu Sanchez: "Chính quyền Việt Nam sợ tôi"



Nữ dân biểu liên bang Hoa Kỳ Loretta Sanchez thông báo chính phủ Hà Nội một lần nữa phớt lờ đơn xin thị thực nhập cảnh của bà vào Việt Nam. Bà Sanchez dự định ghé Việt Nam trong chuyến công du mới đây tới Đông Nam Á thảo luận về an ninh và tệ nạn buôn người. Đây là lần thứ tư vị nữ dân biểu đại diện cho cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ được nhiều người biết đến
nhất kiêm đồng Chủ tịch Nhóm Vietnam Caucus ở Hạ Viện Mỹ bị giới chức trách Việt Nam từ chối cấp visa nhập cảnh. Trong cuộc trao đổi với Trà Mi VOA Việt Ngữ, dân biểu liên bang Loretta Sanchez cho biết như sau.

Trà Mi - VOA | Washington D.C Thứ Ba, 20 tháng 4 2010
Image
Nữ dân biểu Hoa Kỳ Loretta Sanchez
Bà Loretta Sanchez: Đáng tiếc là ngay khi một giới chức hàng đầu của Việt Nam được chính phủ Hoa Kỳ đón tiếp tại thủ đô Washington để tham dự cuộc họp thượng đỉnh về an ninh hạt nhân và hội kiến với Tổng thống Mỹ thì giới chức Việt Nam lại từ chối cấp visa cho tôi đến Việt Nam để thảo luận với họ về tình trạng buôn người và vấn đề tự do internet. Tôi rất buồn nhìn vào thực tế này.

VOA: Thưa bà, báo chí trích lời các giới chức tòa đại sứ Việt Nam nói rằng họ không hề chính thức từ chối đơn xin visa của bà, mà chỉ muốn biết thêm thông tin về việc bà muốn gặp những ai khi đến Việt Nam và lý do thực sự của chuyến đi là gì. Họ có báo cho bà biết về các thắc mắc đó không và bà có đáp ứng yêu cầu của họ không?

Bà Loretta Sanchez: Khi tôi nộp đơn xin visa ngay từ đầu tôi đã cho họ biết mục đích chuyến đi của tôi và những người mà tôi muốn gặp trong chuyến đi này. Bây giờ họ nói rằng họ không có đủ thông tin thì hoàn toàn không đúng.

VOA: Mục đích của ý định ghé Việt Nam có thật sự liên quan chặt chẽ đến chuyến công du của bà tới Đông Nam Á về vấn đề an ninh và tệ nạn buôn người không?

Bà Loretta Sanchez: Đương nhiên rồi. Tôi muốn thảo luận với chính quyền Việt Nam về vấn đề buôn người đang diễn ra mà cụ thể là có liên quan tới Đài Loan và một số khu vực nóng khác, nơi đang diễn ra các tệ nạn mà những phụ nữ Việt Nam bị đưa sang làm nô lệ. Đồng thời tôi cũng muốn gặp một số tù nhân chính trị tại Việt Nam vì những gì đang diễn ra liên quan đến hoạt động viết blog tại đây. Tôi đã làm việc hết mình trong tư cách là Chủ tịch của tiểu ban đặc trách về An ninh mạng tại Quốc hội Hoa Kỳ và tôi muốn thảo luận với giới chức Việt Nam về vấn đề tự do internet.

VOA: Vì sao bà vẫn tiếp tục cố gắng xin visa vào Việt Nam sau khi đã bị từ chối 3 lần trong quá khứ?

Bà Loretta Sanchez: Bởi vì tôi nghĩ rằng họ cần phải lắng nghe một giới chức Hoa Kỳ đang làm việc về các vấn đề này nhân danh người dân Mỹ trong những gì chúng tôi muốn nhìn thấy và tìm ra các phương thức có thể cùng làm việc chung hầu loại trừ các hình thức nô lệ đang diễn ra cũng như cố gắng mở rộng tự do internet.

VOA: Bà là một trong số ít các chính trị gia nước ngoài bị từ chối visa vào Việt Nam. Bà diễn giải điều này như thế nào?

Bà Loretta Sanchez: Tôi cho là họ sợ tôi.

VOA: Vì sao thưa bà?

Bà Loretta Sanchez: Tôi cũng chẳng hiểu lý do vì sao.

VOA: Nếu có người tin là bà bị cấm vào Việt Nam vì Hà Nội cho rằng chuyến thăm của bà không mang lại điều gì tốt đẹp cho mối quan hệ song phương Việt-Mỹ bởi họ xem bà như “một vị khách thiếu thiện chí”. Bà sẽ hồi đáp ra sao?

Bà Loretta Sanchez: Đơn giản tôi chưa hề làm một điều gì bất hợp pháp tại Việt Nam. Tôi luôn thông báo rõ ràng về các chuyến đi của tôi và những lý do tôi muốn đến Việt Nam. Tôi luôn báo cho họ biết tất cả mọi vấn đề mà tôi muốn đề cập trước chuyến đi. Mọi việc luôn thông qua sự hỗ trợ của đại sứ quán Hoa Kỳ của chúng tôi. Vì vậy, đây là một nỗ lực ngoại giao và tôi thật sự không hiểu nổi họ sợ điều gì đến như thế.

VOA: Bà cho rằng họ sợ bà. Điều gì khiến bà nghĩ như thế? Bà đã làm gì khiến họ sợ?

Bà Loretta Sanchez: Theo tôi, đó là vì họ sợ sự thật, đôi khi khó nói lắm.

VOA: Khi tới Đài Loan trong chuyến công du Đông Nam Á vừa rồi, bà đã gặp một số thành viên trong Văn phòng trợ giúp các cô dâu và công nhân Việt Nam tại Đài Loan. Có điều gì bà muốn chia sẻ thêm về việc này không?

Bà Loretta Sanchez: Tôi muốn quý thính giả biết rằng có nhiều phụ nữ bị lừa gạt ký vào các văn kiện đi lao động tại Đài Loan nhưng cơ bản là những giấy tờ đó là do một nhóm người mà thậm chí có thể là do chính quyền Việt Nam ngụy tạo, và rằng hình thức nô lệ không nên được chấp nhận tại bất kỳ nơi nào trên thế giới. Tôi hy vọng là mọi người sẽ bắt đầu nhận thức rõ điều gì đang diễn ra và giúp chúng tôi ngăn chặn việc này.

VOA: Theo bà, cần phải làm gì hơn nữa để giúp giải quyết vấn đề này?

Bà Loretta Sanchez: Theo tôi có một nhóm người làm môi giới tại Việt Nam đang đe dọa các phụ nữ nhẹ dạ. Họ biết rõ là các phụ nữ này không thể nào có đủ khả năng trả lại các khoản tiền vay mượn để sang Đài Loan. Vì vậy, tôi thiết nghĩ nhà nước Việt Nam phải có thêm luật lệ kiểm soát việc này và bảo đảm rằng những người ấy không được phép hành nghề.

VOA: Về phương diện cá nhân, bà có thể làm gì giúp cải thiện tình trạng phụ nữ Việt Nam bị buôn bán ra nước ngoài không?

Bà Loretta Sanchez: Dĩ nhiên rồi. Hiện Đài Loan đã tạm ngưng bất cứ hợp đồng mới nào thuê mướn lao động nữ từ Việt Nam cho tới khi nào cùng với chính phủ Việt Nam đạt được một giải pháp đảm bảo rằng tệ trạng này không diễn ra. Thứ nhất là nữ công nhân Việt Nam không bị đưa sang Đài Loan nữa và thứ hai là chúng tôi đã có thể giúp chính quyền Đài Loan nhận thức rõ những gì đang diễn ra. Đài Loan sẽ tiến hành thêm một cuộc điều tra nữa để truy ra các cảnh sát cấp địa phương không tuân thủ những luật lệ mà chính phủ nước này đặt ra hầu đáp ứng vấn đề quan tâm của Quốc hội Hoa Kỳ.

VOA: Xin chân thành cảm ơn dân biểu Loretta Sanchez đã dành cho Ban Việt Ngữ đài VOA cuộc trao đổi này.
caolynh
Posts: 317
Joined: Wed Dec 17, 2008 7:21 pm
Contact:

Post by caolynh »

Đỉnh Cao Văn Hoá Xã Hội Chủ Nghĩa
Chữ Việt của mình mà viết cũng không xong !

Image

Image
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »


Image

Vĩnh biệt Sài Gòn
L' Adieu A Saigon.


Jean Lartéguy
LTS: L’Adieu À Saigon – Vĩnh Biệt Sài Gòn – của Jean Lartéguy có lẽ là cuốn sách đầu tiên được viết bằng ngoại ngữ, nói về cái chết của nam Việt Nam sau ngày 30/04/1975. Ông là một nhà văn-nhà báo nổi tiếng của Pháp, tác giả của gần 20 tác phẩm, hầu hết đều nói về chiến tranh, khi thì tại Á châu, khi thì thuộc khu vực Trung Đông.( Les Centurions)
Từ căn phòng quen thuộc của khách sạn Continental, Lartéguy ghi lại từng giờ, từng phút hấp hối của Sài Gòn.
Theo Phạm Kim Vinh, “Vĩnh Biệt Saigon là lời đoạn tuyệt của Jean Lartéguy cựu sĩ quan thuộc địa, của Lartéguy thực dân, của nhà văn Lartéguy bị nhiễm độc vì làn sóng khuynh tả lãng mạn của một thế giới hèn nhát trốn tránh sự thật với một Lartéguy phản tỉnh của mùa hạ 1975.
Hơn thế nữa, Vĩnh biệt Saigon chính là lời thú tội và chuộc tội của Jean Lartéguy.

Tháo chạy khỏi Sàigòn trên nóc cao ốc USAID đường Gia Long.AFP
Sau hết, Vĩnh biệt Saigon là lời sám hối của Lartéguy trước cái chết của hàng trăm ngàn người VN trong chiến tranh VN mà Lartéguy đã gián tiếp gây ra trong một thời kỳ đen tối của một kẻ cầm bút lâu năm, quá nửa đời người còn ngu dại để trở thành con mồi chính trị cho một chủ nghĩa man rợ.”
Ta hãy đọc “lá thư tình” của Jean Lartéguy qua các trích đoạn từ bản dịch của Phạm Kim Vinh ấn hành năm 1979 tại California._

27/05/1975
Màn đêm vừa buông xuống Saigon và khép kín luôn cả 25 năm của đời tôi tại đó. Tôi đặt chân đến Saigon lần đầu tiên vào năm 1950. Tôi bị đuổi khỏi thiên đường ấy vào ngày 28 tháng Năm, 1975. Cái thành phố từ đó tôi bị xua đuổi không còn cái tên Saigon nữa. bây giờ tên nó là Hồ Chí Minh. Mỗi ngày thành phố ấy lại càng thêm xa lạ với tôi. Tôi thấy không còn gì để làm ở đó nữa.
Còn thành phố kia, thành phố mà tôi hằng yêu dấu thì đã chết khi các xe tăng Nga chở các toán lính Bắc Việt phá tung cánh cửa sắt của Dinh Tổng thống. Ba người hoả tinh từ Hanoi tới, dáng nhỏ bé, mặc đồng phục xanh, nón lá trên đầu, hông mang súng. Họ làm như vẻ đọc bản án trục xuất tôi vì những “bài báo” của tôi. Họ không biết rằng tôi đã quyết định sẽ đáp chuyến bay ngày mai và tôi không muốn dùng dằng hơn nữa bên giường một người chết. Tôi đã bắt tay họ như bắt tay những người làm xe đòn sau khi họ đã làm xong bổn phận.
Đây không phải là một cuốn sách. Có lẽ một ngày nào đó, tôi sẽ viết cuốn sách ấy. Đây chỉ là lời vĩnh biệt Saigon.

Ngày 26/04/1975
Đêm nay, dường như Tổng thống Thiệu đã bay đi Đài Loan….. Tờ Courier D’ Extrême Orient chạy dài 8 cột trang nhất: “Tổng thống Pháp Giscard D’Estaing nói chuyện điện thoại với đại sứ Pháp tại Saigon.”
Ngoại trưởng Pháp tuyên bố: “Hy vọng một giải pháp chính trị vẫn còn có thể có được.”
Chỉ còn một mình tướng Dương văn Minh chạy ở cuộc đua chính trị tại Saigon. Nhưng vì Tổng thống Trần Văn Hương mới cầm quyền được 5 ngày, do đó ông ta muốn ngồi ở ngôi cho đủ một tuần đã. Ngài tổng thống đề nghị cho Minh Cồ giữ chức Thủ tướng có toàn quyền, nhưng Minh Cồ từ chối.
Tướng Kỳ, đối thủ bất hạnh của Thiệu, viên phi công mặc bộ đồ phi hành huy hoàng tái xuất hiện. Ông ta ở đâu ra vậy? Kỳ tuyên bố ủng hộ tướng Minh. Theo ông ta thì cần có một chính phủ mới để lấy lại lòng tin của dân và đề ra một kế hoạch để đạt cuộc ngưng bắn. Ông ta sẽ cùng với một số tướng lãnh, “những viên tướng giỏi nhất của miền nam”, tìm cách ổn định tình hình quân sự.
Đệ nhất phó thủ tướng (chắc đó là tướng Trần văn Đôn), kiêm tổng trưởng quốc phòng đã ra những biện pháp cương quyết để trừng phạt những công dân nào tìm cách trốn ra khỏi nước.
Biện pháp nào bây giờ? Ai sẽ thi hành? Chẳng còn gì nữa. Quân sự thì rối loạn và chính trị thì trống rỗng. Tướng Đôn thì chẳng có gì để mất mát nhiều. Sanh tại tỉnh Bordeaux, ông ta là dân Tây. Và mặc dầu ông ta đã đốt giấy thông hành và đốt cặp lon quân đội Pháp để làm đẹp lòng ông Diệm và bà Nhu, nhưng ông ta biết là không thể mất cái quốc tịch Pháp. Những trò hề!
Tình hình quân sự tuyệt vọng. Người Mỹ di tản nhân viên và những người Việt thân tín của họ một cách thanh thản như thể họ có rộng rãi ngày giờ.
Cảm thấy bị người Mỹ bỏ rơi, người dân nam Việt Nam và nhất là người dân Saigon, theo linh tính, hướng về người Pháp…. Ở khắp nơi cờ Pháp bắt đầu bay. Người ta sơn mầu cờ Pháp trên mái nhà, trước cửa tiệm. Đối với các tờ báo còn phát hành, người ta gọi cộng sản là phiá bên kia và người ta đành hy vọng một cuộc ngưng bắn.
Tôi nhậu với một đại tá VN, trước phục vụ tại một đơn vị nhảy dù, bây giờ phụ trách báo chí tại bộ Tổng tham mưu. Tôi hỏi:
“Ngày mai, ông làm gì? Chúng ta có thể gặp nhau được không?”
“Tôi bận lắm, không thể gặp ông. Tôi phải lo để đưá con tôi đi ngoại quốc.”
Chính ra là ông lo chuyến đi của ông.
Đồng thời với chuyện nhậu whisky để nói chuyện lập chiến khu, ông ta chuẩn bị chuồn.
.......
Ngày 27/04/1975
3 giờ 30 sáng. Tôi thức giấc vì những trái hoả tiễn nổ làm rung chuyển thành phố. Một trái nổ quá gần. Tôi không thể ngủ lại được. ….
Trong buổi sáng ngày 27 tháng Tư này, tin tức đưa về càng ngày càng tồi tệ. Sư đoàn 18 giữ Xuân Lộc đã phải rút và bị tan rã. Sư đoàn 5 cũng vậy. Để bảo vệ Saigon, chỉ còn có một sư đoàn, vài đơn vị Dù… và một số lính tự vệ chiến đấu Hố Nai. Quốc hội nhóm từ sáng nay. Thảo luận 10 giờ, nhì nhằng để rồi xác nhận tín nhiệm Tổng Thống Trần Văn Hương, mời ông ta nếu cần, chỉ định một nhân vật để thay thế ông đạt tới “một nhiệm vụ hoà bình trong danh dự và trong phẩm cách và với sự chấp thuận của Quốc Hội”…. Nhân vật ấy chỉ có thể là Dương văn Minh. Danh dự và phẩm cách đáng kể gì khi cộng quân đã ở cửa ngỏ Saigon.
Các tướng trình bày tình hình. Có mặt tướng Cao Văn Viên, tổng tham mưu trưởng, Trần Văn Đôn, tổng trưởng quốc phòng, ông tổng trấn Saigon và ông tư lệnh cảnh sát. Tất cả đều nói rằng đã hết cả rồi, rằng những đơn vị cuối cùng đã bị bao vây và chạy tan nát, rằng cần phải thương thuyết với bất cứ giá nào và thật sớm. Nhưng Quốc hội lại không chịu nhận Minh Cồ vì ông ta không phải là người của bọn họ. Trần Văn Đôn lại can thiệp lần nữa. Anh chàng dân Tây ở xứ Bordeaux ấy giữ vai trò phát ngôn cho nước Pháp và bênh vực chính sách của đại sứ Pháp Mérillon. Đôn rất gắn bó với viên đại sứ ấy.
Đôn thắng. Toàn quyền được trao cho tướng Minh. TT Hương chống cây gậy rời ghế. Đã gần như mù, ông vấp phải một bậc thềm.
Minh cùng với Vũ Văn Mẫu trở về nhà để sửa soạn lập chính phủ. Sau cùng, giờ của Minh đã điểm, nhưng đã trễ quá rồi. Trễ cho Việt Nam, trễ cho nước Pháp và nước Pháp đã ngây thơ hy vọng rằng có thể đóng vai trò trung gian qua Minh.
Trước khi đi ngủ, tôi đọc mục điểm báo Việt Nam bằng Pháp ngữ. Có lúc, tôi thấy cần phải dụi mắt. Tờ Tiền Tuyến chạy dài tám cột: “VN Cộng Hoà sẽ không bao giờ đầu hàng cộng sản chừng nào quân đội vẫn còn đó và vẫn còn sự ủng hộ của nhân dân… Tướng Nguyễn Cao Kỳ đã tuyên bố trong một cuộc mít tinh quy tụ 10,000 người rằng các lực lương của VNCH vẫn còn mạnh và sẽ mang lại hoà bình trong danh dự cho xứ sở.”
Tờ Chính Luận: “Không có chuyện thương thuyết đầu hàng.”
Đêm sẽ còn dài.

Ngày 28/04/1975
Thế là rốt cuộc Minh Vồ cũng lập được chính phủ của ông ta. Thực ra thì cái chính phủ ấy chỉ có hai người: Ông Nguyễn Văn Huyền, một người Công giáo ôn hoà, sẽ là Phó Tổng thống và ông Vũ Văn Mẫu, nghị sĩ theo đạo Phật, sáng lập viên của Mặt Trận Hoà Giải, sẽ là Thủ tướng.
Trễ quá rồi. MTGP vừa từ Paris cho biết (dường như cái Mặt Trận ấy chỉ có ở Paris) sẽ không nói chuyện với chính phủ của tướng Minh.
Sáng nay Saigon sao yên tĩnh lạ!
Nhiều chiến sĩ của một Lữ đoàn Dù đang bố trí trong thành phố, sau các bức tường. Những người lính này không chán nản, không tuyệt vọng. Họ bình thản điều động như lúc thao dượt. Đôi khi họ cười vui vẻ và chuyền cho nhau những chai coca. Nhưng họ không nuôi một ảo tưởng nào về số phận của họ hoặc về kết quả của trận đánh cuối cùng này. Tôi có cảm tưởng họ quyết định đánh đến cùng và quyết định sẽ tự chôn dưới những đống đổ nát của Saigon. Và họ vẫn còn giữ được các cấp chỉ huy của họ. Một trong những cấp chỉ huy ấy là một đại tá, trông dáng mệt mỏi và tuyệt vọng. Tôi đã từng cùng ông ta và vài người bạn ăn Tết năm 1971. Lúc đó ông biết là sắp tham dự cuộc hành quân vượt biên giới Lào để cắt đường mòn Hồ Chí Minh và ngay tối hôm đó, ông ta đã không nuôi ảo tưởng về kết quả trận đánh.
Ông đưa cho tôi một hộp la-de. Tôi hỏi:
« Tình thế ra sao? »
« Chúng tôi sẽ chiến đấu và có lẽ, chúng tôi là những người cuối cùng còn chiến đấu. Nên nói rõ là chúng tôi chết không phải vì Thiệu, vì Hương hay vì Minh. Thiệu là đồ bỏ, Hương là bù nhìn, còn Minh là kẻ quá mềm yếu, cứ đứng một chỗ mà phụng phịu, thay vì dùng sức mạnh để lật đổ Thiệu…. Những kẻ sắp tới sẽ không để cho chúng tôi suy nghĩ theo ý riêng….Những con cá bự đã chuồn rồi. Chúng tôi là cá nhỏ nên kẹt trong rọ… »
Tân Sơn Nhất cháy. Biên Hoà thất thủ. Lửa cháy lớn, sánh rực ban đêm.
Cuối cùng vào lúc 22 giờ 51, lệnh di tản bằng trực thăng được ban ra. Ám hiệu là Option 4.
Tại Mỹ bộ trưởng quốc phòng Schlesinger nhân dịp này ca ngợi quân lực Mỹ: « Ở chiến trường, các bạn là những người chiến thắng, các bạn đã rời sa trường trong danh dự. Viêt Nam sụp đổ vì những áp lực nặng từ bên ngoài, nhưng các lực lượng Mỹ đã cho VN một cơ hội phải chăng để sống sót. » Kissinger thì nói: « Chúng tôi hy vọng người Bắc Việt sẽ không tìm một giải pháp tuyệt đối bằng phương tiện quân sự. Họ đã đổi thái độ, và chúng tôi vẫn không hiểu tại sao. »
Cơn hấp hối của Saigon bắt đầu. Sau bao nhiêu, bao nhiêu ngày nữa nó mới chết?

Ngày 29/04/1975
Giới nghiêm trong 24 giờ để người Mỹ di tản số người Mỹ sau chót (chừng một ngàn người) và hàng chục ngàn người VN được người Mỹ hứa hẹn cho đi theo.
Cuộc bàn giao quyền hành ngày hôm qua: lại một màn hát bội vụng về....
Trực thăng không ngừng đáp xuống và cất cánh tại sứ quán Mỹ. Trước cửa sứ quán, người Mỹ và một số người Việt được họ chọn lựa vứt bỏ xe hơi của họ cho những người bất lương xâu xé. Có cả trăm cả ngàn đang xô nhau trước tấm cửa sắt có lính Thuỷ quân Lục chiến canh giữ. Một người đàn bà khóc trong khi nhiều người mổ xẻ chiếc Mercedes của bà. Bà ta cứ nói đi nói lại: “Thế mà tụi nó hứa sẽ cho chúng tôi đi.”...
11 giờ chúng tôi lái xe tới Tân Cảng.
Thời tiết càng lúc càng nóng. Đàn ông, đàn bà, trẻ con mình đầy bùn, chui qua những rào gỗ có mắc kẽm gai… Họ lội bùn để chui vào những kho hàng Mỹ. Các bà già răng đen bắt đầu ngồi xổm, dạm bán những món hàng vừa mới vồ được, bán để lấy những tờ giấy bạc từ nay trở thành vô dụng!...
Một phái đoàn chính phủ do phó TT Nguyễn Văn Huyền hướng dẫn (ông được Minh Cồ ủy thác thương thuyết) đã tới trước hàng rào kẽm gai căn cứ Tân Sơn Nhất. Bọn cộng sản không tiếp. Chúng không muốn bàn cãi nữa: chúng chỉ nhận sự đầu hàng vô điều kiện.
Graham Martin đến thăm xã giao đại sứ Pháp. Lý do chính là để từ biệt. Và để tặng đại sứ Pháp món quà Mỹ: chiếc xe Cadillac lộng lẫy màu đen. Đại sứ Pháp có lẽ chẳng cần đến món quà ấy nữa. Nhưng Martin mãi tới 3 giờ 30 sáng hôm sau mới ra đi, sau khi bất lực chứng kiến tai hoạ: tai hoạ vì chính sách của ông ta, tai hoạ cho VN.
Nguyễn Cao Kỳ, con người chủ trương “đánh tới cùng” cũng ra đi trên chiếc trực thăng riêng của ông ta. Ông ta nguyền rũa Thiệu vì ít ra, khi chuồn, Thiệu cũng còn có thời gian mang theo nhiều hành lý.
Súng bắn ở khắp nơi.
Đêm chót ở Saigon là đêm điên loạn. Chung quanh thành phố những cây xăng bốc cháy, khi đạn nổ tung. Lúc đáp xuống các mái nhà, trực thăng mở đèn chiếu trông như đôi mắt của những quái vật gớm ghiếc đang tìm mồi.
Tù nhân chính trị đã được trả tự do. Tù thường phạm cũng nhân dịp này trốn luôn. Họ chỉ cần cúi xuống thì sẽ lượm được ngay một vài cây súng. Và những phần tử ghê gớm ấy đã tự võ trang cùng mình….
Saigon không hấp hối. Sau khi đã trút hết chất liệu, Sai gon đang rẫy chết trong thối nát, giữa các đám cháy và cướp bóc. Những kẻ may mắn đã chuồn nhờ các trực thăng của Mỹ. Những người khác thì lo trốn. Có những người thiểu não từ Tân Sơn Nhất trở về. Đó là nơi lại bị hoả tiễn rót vào….
Và chúng tôi, những nhân chứng bị bó tay, phẫn uất. Chúng tôi là những người đã từng yêu dấu thành phố này mà chẳng làm được gì để giúp nó. Saigon bắt đầu sám hối vì những sự mất trật tự, vì sự ưa kiếm chác, vì những quán rượu, những ổ điếm, vì những sòng bạc, vì những đêm điên loạn, vì những cơn mê. Và cũng vì những lúc say mê của trìu mến và của nhiệt tình. Và cái tinh thần độc lập đã từng đôi khi biến cái thành phố này thành một nữ chúa của tự do.
Vì Saigon đã bị kết án tử hình.
Chúng tôi vừa được biết tin ấy. Đài phát thanh của MTGP nghe được ở Tân Gia Ba tuyên bố rằng tên của Saigon từ nay là Hồ Chí Minh. Tên của một người chết. Cái tên ấy không thích hợp với thành phố này.
Tôi trở về phòng. Đại bác 130 ly đã im tiếng. Và hoả tiễn không nổ nữa. Nhưng còn em nhỏ kia đang làm gì? Em đang tắm trong vũng nước lầy ở lề đường, em nhập bọn với những trẻ em trần truồng khác, giỡn chơi dọc theo những bức tường của khách sạn, giống như những con mèo hoang.

Ngày 30/04/1975
Graham Martin và những cộng sự viên cuối cùng đã dùng trực thăng tới mẫu hạm Blue Ridge đang ở ngoài khơi, cách Vũng Tầu 30 cây số.
Mệt mỏi và sầu thảm, ông ta từ chối mọi lời tuyên bố và chui vào phòng riêng. Ông ta còn không mang theo nổi được lá cờ Mỹ như đại sứ Mỹ tại Nam Vang đã làm. Martin bỏ lại cả tấm hình chụp của gia đình Nixon có chữ ký của Nixon tặng.
TT Ford: “Cuộc di tản đã chấm dứt… Cuộc hành quân này đã khép kín một chương trong lịch sử Mỹ.” Henry Kissinger thì cho rằng đây là “một thành công”: di tản được 950 người Mỹ và đưa đi 5,800 người Việt.
Lúc này là 10 giờ 15 sáng. Tướng Minh đọc lời kêu gọi đầu hàng vô điều kiện trên đài Saigon….
11 giờ 30, Long, một đại tá cảnh sát tự bắn vỡ sọ trước bức tượng Thuỷ Quân Lục Chiến đối diện trụ sở Hạ viện. Ông nằm sóng sượt, chiếc nón kết có hoa lá bạc đặt trên ngực. Máu và óc chảy từ bên tai trái ra. Ông vẫn còn thở. Lúc ấy có tiếng sè sè của máy quay phim và máy chụp hình. Một lát sau, ông tắt thở tại bệnh viện Grall.
12 giờ 5 phút, một xe jeep chạy tới đường Catinat, trên xe cắm lá cờ VC lớn, trong khi nhiều xe tăng tới chiếm Dinh Độc Lập. Cờ VC được trưng lên trước tiền đình. Một chiếc T-54 húc tung cánh cửa sắt vì người ta chậm mở cửa, rồi bắn một phát đại bác và vài tràng súng đại liên để thị oai. 14 xe tăng khác theo sau, pháo tháp mở , cành cây cắm đầy xe. Binh lính đội mũ lợp lá theo kiểu mũ thuộc địa, quân phục xanh và đi dép HCM chế tạo bằng võ xe hơi, võ trang bằng tiểu liên AK-47 của Trung quốc, nhẩy ra khỏi xe tăng, chạy vào Dinh.
Trên bao lơn, cờ của chính phủ cách mạng lâm thời được kéo lên. Saigon bị chiếm và không cháy. Chỉ thiếu chút nữa thôi.
Phó tổng thống Nguyễn Văn Huyền, thủ tướng Vũ Văn Mẫu và tướng Minh là những diễn viên và cũng là những nhân chứng của những giờ chót của Saigon. Họ kể cho tôi nghe những giờ chót ấy.
Và số phận của Saigon đã được định đoạt trong vài phút của ngày 30 tháng Tư, trong khoảng từ 10 giờ 30 đến 11 giờ sáng….
Không còn chút hy vọng nào để thương thuyết nữa. Hỗn loạn ngự trị ở đường phố và những đơn vị đầu tiên của cộng sản đã vào Saigon. Nhưng ở khắp nơi đều có những ổ kháng chiến, những đơn vị ưu tú bám lấy lãnh thổ.
Gần Lăng Cha Cả, các chiến sĩ Dù đã đánh trận chót. Họ chiến đấu tới 11 giờ rưỡi, cho tới khi các cấp chỉ huy của họ từ cuộc gặp gỡ đau thương với tướng hoa lan Dương Văn Minh trở về thuyết phục họ từ bỏ cuộc chiến. Họ đã dùng bazooka làm nổ tung 5 xe tăng Nga T-54 nặng 54 tấn. Một chiếc nổ tung cùng với đạn dược trong xe….

Ngày 1/5/1975
Cô gái ngồi ngoan ngoản gần một toà nhà của bệnh viện Grall. Kế bên cô là một chiếc vali còn mới bằng plastic và một chiếc giỏ mây mà ta thấy người Thượng quen dùng. Cô ta mặc áo dài màu đen kiểu của người Thượng nhưng tóc của cô màu hung và nước da trắng: một cô gái Thượng lai Pháp.
Cô ta bao nhiêu tuổi? 18? 20? Làn sóng tị nạn ghê gớm đã cuốn cô ta đi, nhưng cô ta vẫn còn giữ mình nguyên vẹn tới được nhà thương dùng làm nơi tạm trú này, nhà thương có treo một lá cờ Pháp.
Tôi phải đến gần mới nhìn thấy được những giọt nước mắt trên má cô ta. Trong khi đám người tị nạn bên cô ồn ào như đàn ong vỡ tổ quanh những gói đồ ngổn ngang, cô gái im lặng. Những đứa trẻ ngủ gục giữa những người tị nạn. Người ta vừa cho họ biết rằng họ phải trở về nhà. Saigon không bốc cháy. Saigon chỉ đổi chủ thôi…. Cô gái ấy là kết quả của một mối tình giữa một người Pháp và một thiếu nữ người Rhadé. Người cha đã trở về Pháp. Cô làm viêc tại một phòng thí nghiệm của một y viện Mỹ vùng cao nguyên. Người ta đã di tản cô ta cùng với số nhân viên của nhà thương và hứa sẽ đưa cô đi Mỹ. Từ Mỹ, cô sẽ tìm được cách tới Pháp và sẽ tìm được Chalons-sur- Marne là nơi ở của người cha. Nhưng người Mỹ đã ra đi một cách hỗn loạn. Họ đã bỏ rơi cô ta. Cô đã chạy tới bệnh viện Grall vì cô nghe nói đó là nơi trú ẩn của những người có quốc tịch Pháp. Cô gái tưởng mình là người Pháp.
Có hai xác chết nằm bên nhau trong nhà thương Grall. Đó là hai viên tướng nam VN, tự tử bằng thuốc Nivaquine: tướng Phạm Văn Phú, tư lệnh vùng cao nguyên, và tướng Nguyễn Khoa Nam tư lệnh vùng 4 và quân khu 4….
Tôi vẫn không tin là Saigon vừa mới rơi vào tay những người cộng sản. Đó chỉ là một cơn ác mộng. Ngày mai tôi sẽ tỉnh dậy và nó chẳng có gì xảy ra hết.
6 giờ sáng tôi giật mình thức giấc vì những tiếng hú trong loa phóng thanh truyền đi một thứ nhạc quân hành, xen kẻ là những khẩu hiệu…
Mọi tờ báo đều bị đóng cửa, kể cả tờ Courrier D’Extrême-Orient của người Pháp. Chỉ có một tờ Saigon Giải Phóng in chữ đỏ và hình HCM chiếm hết nửa trang nhất.
Tôi tới nhà MinhCồ. Ông ta chưa được về nhà. Người tài xế của ông cho biết đã nhận được tin của bà Minh, nói rằng ông ta được đối xử tử tế và chắc sẽ được về sớm.

Ngày 3/5/1975
Chúng tôi tới Hố Nai, chiến luỹ của người Công giáo chống Cộng di cư. Một gác chuông nhà thờ chịu hư hại nặng vì đạn đại bác. Vậy là đã có giao tranh ở đây. Tôi ngừng xe và xin gặp Cha sở. Một người đàn bà chừng 40 tuổi đề nghị hướng dẫn chúng tôi tới gặp Cha sở. Tôi hỏi bà ta: “Thưa bà, tình hình ra sao?”
Bà ta cúi đầu: “Con trai tôi và 17 người bạn của nó vừa bị xử bắn. Tôi mới đi chôn chúng nó xong.”
“Câu chuyện xảy ra như thế nào?”
“Chúng nó là tự vệ và chúng nó đánh đến cùng. Chúng nó đứng cả trên gác chuông bắn xuống. Thế là rồi chúng nó bị bắn chết hết.”
Cha sở ngồi yên lặng trên chiếc ghế gỗ, hai tay để trong chiếc áo dòng. Phòng rất rộng, chắc được dùng làm nơi hội họp hàng ngày. Cha sở chừng 60 tuổi. Cha từ Phát Diệm di cư cùng các con chiên. Khi tôi hỏi Cha thì Cha bảo người thông ngôn rằng Cha không biết tiếng Pháp. Ở một góc phòng có một người cầm súng ngồi. Chắc hắn không phải là lính chính quy vì hắn mặc bọ đồ bà ba đen.
“Thưa Cha mọi sự tốt đẹp chứ?”
“Phải.”
Tôi nhấn mạnh: “Thưa Cha, mọi việc bình thường?”
“Phải.”
“Có thể phỏng vấn Cha trước máy thu hình?”
“Không, không được.”
Không hiểu vì sao lúc ấy tên lính gác lại ra ngoài xem có chuyện gì không. Lúc ấy thì Cha sở nói với tôi bằng thứ tiếng Pháp rất giỏi.
“Tình thế của chúng tôi rất ngặt nghèo. Tai hoạ đã giáng xuống đầu chúng tôi. Xin hãy nói với các bạn người Pháp của chúng tôi để họ cầu nguyện cho chúng tôi. Chúng tôi cần có những lời cầu nguyện ấy. Xin vĩnh biệt.”

Ngày 15/5/1975
Có diễn binh kỷ niệm sinh nhật HCM. Dự trù có ba ngày liên hoan mừng chiến thắng. Biểu diễn các khí giới tối tân của Nga. Lần này có thêm vài đơn vị mặc đồ đen của bưng biền. Một phần trong số đó là người Nam, nhưng tỷ lệ này không bao giờ quá 30 phần trăm. Rốt cuộc tôi tìm thấy cái huyền thoại MTGP trên khán đài danh dự. Bác Thọ, bác Phát và bà Bình “thân mến” những nhân vật quan trọng tại Paris, nhưng ở đây họ đã tụt xuống hàng thứ 11….. Rồi tới vụ đàn áp các ký giả ngoại quốc ở nhà hàng Continental. Vô tuyến viễn ấn và những liên lạc với nước ngoài đều bị cắt đứt. Những hộp phim và những cuộn phim nằm chờ và chất đống ở đó, vô dụng… sau khi đã cấm chúng tôi đi ra ngoài Saigon, kể từ sáng nay, người ta lại cấm chúng tôi cả chụp hình nữa. Hai chuyên viên thu hình của Nhật bị còng tay giải đi vì họ quay phim cảnh đường Catinat. Các ký giả của các nước “anh em” như Nga, Hung Gia Lợi, Đông Đức, Ba Lan và đặc phái viên của AFP từ Hà Nội được gửi tới để chứng kiến vụ diễn hành chiến thắng….

Ngày 29/5/1975
Vĩnh biệt Saigon.
Tôi tới Saigon lần đầu tiên vào năm 1950. Tôi đã yêu dấu Saigon và đã ghét thành phố ấy hai mươi lăm năm. Đó là một cô gái làng chơi tồi tệ, tham lam, ưa khoái cảm, ưa đồ gia vị và ưa những hương thơm ngát, nghe theo người này ngã theo người kia, nhưng không bán mình cho ai. Một thành phố tự do, và bây giờ không còn được tự do nữa.
Màn đêm đã buông xuống thành phố ấy, và buông xuống quãng đời 25 năm lính, ký giả và nhà văn của tôi.
Tôi đã bay trên thành phố ấy lần chót, trong chuyến bay Aeroflot của cộng sản để tới Vạn Tượng….
Saigon ơi vĩnh biệt
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Image

Học đại học nào ra, lương cao nhất?
Có bao giờ bạn thắc mắc rằng liệu một sinh viên tốt nghiệp từ một trường nổi tiếng có tiêu chuẩn học tập cao như Stanford sẽ chắc chắn lãnh lương cao, hay là xuất thân từ một trường nổi tiếng về mục ăn chơi (party school) như University of Florida vẫn có thể kiếm được việc làm tốt, trả lương hậu?

Một công ty online chuyên về vấn đề lương bổng, PayScale.com, vừa đưa ra một bản báo cáo về lương của các sinh viên tốt nghiệp, mang tên “2009 College Salary Report” liệt kê các mức lương cao nhất và thấp nhất của sinh viên vừa ra trường và sự thay đổi trong mức lương 10 năm sau đó.

Trong khi bản báo cáo có những chi tiết mà hầu như chúng ta ai cũng biết là những ngành nghề như xã hội (social work) ở vào mức lương thấp nhất, nhiều người sẽ ngạc nhiên khi biết rằng sinh viên tốt nghiệp trường đại học Darthmouth khấm khá về mặt tài chánh 10 năm sau khi ra trường, hơn là sinh viên từ trường Harvard.

Cho dù bạn xuất thân từ trường nhỏ, ít ai nghe nói đến hay trường lớn, ở trong số thành phần “Ivy League”, hãy xem danh sách dưới đây để biết là trường cũ của bạn có ở trong danh sách 10 trường có sinh viên lãnh lương cao nhất khi vừa ra trường và 10 năm sau đó hay không.

1. Dartmouth College: $58,200/$129,000.

2. Massachusetts Institute of Technology (MIT): $71,100/$126,000.

3. Harvard University: $60,000/$126,000.

4. Harvey Mudd College: $71,000/$125,000.

5. Stanford University: $67,500/$124,000.

6. Princeton University: $65,000/$124,000.

7. Colgate University: $51,900/$122,000.

8. University of Notre Dame: $55,300/$121,000.

9. Yale University: $56,000/$120,000.

10. University of Pennsylvania: $60,400/$118,000.


Có thể bạn không đi học ở những trường trong danh sách này, nhưng còn một yếu tố khác cũng đóng góp vào việc được lãnh lương cao: đó là ngành học của bạn.

Theo giám đốc phân tích của PayScale, ông Al Lee, thì điều còn quan trọng hơn cả trường theo học trong việc ảnh hưởng mức lương có được, là ngành học. Lấy thí dụ, một sinh viên tốt nghiệp ngành Anh văn từ đại học Harvard, có thể sẽ lãnh lương đến cả $100,000 nhưng người đó sẽ là ngoại lệ trong giới những người chọn ngành này.

Vậy thì ngành học nào giúp người ta kiếm tiền cao nhất?

Ðó là những ngành có liên hệ đến con số, theo ông Al Lee. Bảy trong số 10 sinh viên tốt nghiệp cử nhân có mức lương cao nhất là những người trong ngành kỹ sư, kinh tế, vật lý và điện toán.

Bạn hãy xem bảng danh sách dưới đây:

1. Aerospace Engineering: $59,600/$109,000 (mười năm sau).

2. Chemical Engineering: $65,700/$107,000.

3. Computer Engineering: $61,700/$105,000.

4. Electrical Engineering: $60,200/$102,000.

5. Economics: $50,200/$101,000.

6. Physics: $51,100/$98,800.

7. Mechanical Engineering: $58,900/$98,300.

8. Computer Science: $56,400/$97,400.

9. Industrial Engineering: $57,100/$95,000.

10. Environmental Engineering: $53,400/$94,500.

Một số chi tiết lý thú khác trong bảng phân tích của PayScale:

* Người học ngành triết (philosophy major) lãnh lương cao hơn người học ngành quản trị xí nghiệp hay điều dưỡng (nursing), mười năm sau khi tốt nghiệp.

* Hai trong số 10 công việc mà các sinh viên tốt nghiệp Harvard thường làm nhất là giám đốc cơ quan thiện nguyện và giáo sư trung học.

* Sinh viên tốt nghiệp trường Loma Linda University có mức lương khởi sự trung bình vào khoảng $71,400 một năm. Hơn mức lương khởi sự trung bình của một sinh viên tốt nghiệp từ Princeton khoảng $6,000.

* Người học ngành Anh văn lãnh lương cao nhất là những người làm việc viết lách về kỹ thuật (technical writers), như những người soạn các tập hướng dẫn sử dụng sản phẩm của các công ty.

* Những người học ngành Khoa Học Chính Trị (Political Science) có mức lương cao nhất là các chuyên gia phân tích tình báo (Intelligence Analysts).

(N.X.)
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Ngọc Lan, con đường tôi về

Phạm Kim
Ngày 26-3-2010, đánh dấu sau 9 năm Ngọc Lan trở về quê hương thiên quốc (nơi cô hằng tin) với đôi cánh thiên thần, Asia và Mây's Productions vừa phát hành một cuốn DVD về cố ca sĩ Ngọc Lan, với 23 ca khúc, hình ảnh những phóng sự đặc biệt 'Như Là Kỷ Niệm' ...'Cho Em Quên Tuổi Ngọc' của nhạc sĩ Lam Phương cũng có trong DVD này , bài hát này do nhạc sĩ 'mới'soạn. Một bài hát với tâm tình rất mới trong dòng nhạc Việt lưu vong tị nạn tìm tự do, từng được biết tới qua cuốn video'10 Năm Áo Tím..'. Lý do nào Ngọc Lan lại chọn hát bài này trong '10 Năm Áo Tím'? Có phải cô đã hát để ghi dấu kỷ niệm năm tháng bước lên ánh sáng sân khấu rực rỡ thành công tại Hoa Kỳ? Kỷ niệm tươi đẹp của người ca sĩ xinh tươi, xuất hiện trong tà áo mầu tím than, đã từng được giới thưởng ngoạn yêu mến?..
Image
Cố nữ Ca sĩ Ngọc Lan (Hình ilovengoclan.com)

Nhà sản xuất và thực hiện các chương trình cho Ngọc Lan, hai cá nhân này họ đã từng có dịp rong chơi với nhau, họ đã từng mơ mộng bên cạnh những con thuyền bên bãi cát chờ căng buồm, hẹn ra khơi... và một bầu trời thiên nhiên trong xanh ở Tacoma- Washington. Khung cảnh ấy có khác gì Ngọc Lan cũng đã có một thời gian còn ở lại Việt Nam(1975-1982) căng đầy xuân xanh, cùng hòa mình với những con thuyền bên bãi cát trắng và trời xanh. Họ là những người cùng một lứa tuổi khi làm việc chung. Và họ đã trọn vẹn giữ tình bạn đẹp, trong sáng và lòng nhiệt thành cống hiến những năm tháng vàng son của họ cho ca nhạc hải ngoại, 1989-2000.

Ca khúc đầu tiên trong 'Con Đường Tôi Về' mang được không gian và khung cảnh thiên nhiên kia, và mở màn sân khấu tưng bừng là: 'Mưa Trên Biển Vắng', lần đầu qua tiếng hát Ngọc Lan/ May's Productions. Sau đó là bài: 'Hạnh Phúc Nơi Nào 'do nhà sản xuất công phu mời nhạc sĩ Nhật Ngân viết lời Việt riêng cho Ngọc Lan trình diễn.

Bài hát 'Tiếng Mưa Buồn' được Ngọc Lan trình bầy qua chương trình Asia số 6- đánh dấu lần trình diễn đầu tiên của Ngọc Lan góp mặt với Trung Tâm Asia. Ca khúc này cũng được tuyển chọn trong DVD 'Kỷ Niệm Về Ngọc Lan” phát hành lần này.
Image
Hình bìa DVD nhạc 'an everlasting for love Ngọc Lan - Con đường tôi về'
Trung tâm Asia phát hành 2010

Có nhiều khán thính giả ái mộ Ngọc Lan vẫn chờ đợi, vì yêu mến gắn bó với tiếng hát Ngọc Lan qua 'Mặt Trời Bên Kia Mùa Hạ'.Rồi ca khúc 'Người Tình Mùa Hạ'.. Vậy Mùa Hạ của Ngọc Lan mang một ấn tượng nào? Qua tiếng haut Ngọc Lan, mùa hạ mênh mông cảm nhận, ta nhìn thấy hình ảnh sống động, và nay chất thu hút sống động, lại rất đỗi dịu dàng..

Một chọn lựa khác nữa, ca khúc mang tên 'Con Đường Nào Ta Về' trước đây từng xuất hiện ở ASIA số 12. Phải chăng đây là chủ đề được chọn, theo tiêu chuẩn 'Mỗi tác phẩm nghệ thuật của Asia, là một hãnh diện của người Việt Nam, và Asia luôn là người bạn tâm giao và đồng hành của người Việt Nam yêu chuộng tự do, dân chủ trên toàn thế giới'. Ca khúc này ẩn dấu ước muốn trở về của người ca sĩ quê quán Nha Trang, phảng phất ý nghĩa nội dung tích cực như bài 'Chút Quà Cho Quê Hương' của Việt Dzũng. Cả hai ca khúc chọn lọc mang nhiều ý nghĩa và qua tiếng hát Ngọc Lan đã trở thành trân trọng.

Nhiều người vẫn nói rằng tiếng hát Ngọc Lan, cho đến giờ vẫn là một hiện tượng, một gắn bó với dòng âm nhạc của người Việt trong và ngoài nước. Đúng vậy, trong các quán café Sài Gòn bây giờ cho thấy Nhạc Vàng vẫn gắn liền với Ngọc Lan. Ngọc Lan từng ca hát ở Nha Trang, trước khi đến định cư tại Minnesota. Rồi cũng từ yêu thích ca hát, và được người chị là Lê Thao Chuyên rất hỗ trợ, Ngọc Lan cũng đã rung cảm, phơi phới theo dòng nhạc ngoại quốc lời Việt mỗi khi hát. Ví dụ như ca khúc 'Hư Ảo' là ca khúc cuối cùng được Ngọc Lan hát cho Mây's Productions: 'Hư Ảo' (mà Khúc Lan được Trần Thăng nhờ soạn lời Việt từ bài hát 'Mourir Sur Scene), truyền cảm, cô hát giống như Dalida, Sylvie Vartan, Nancy Sinatra, Julio Ignesias, là những giọng ca được phổ biến yêu mến thời Việt Nam Cộng Hòa trước 75. Ca khúc Nostalgie qua lời Việt của Nam Lộc, đã được Ngọc Lan cùng với Trần Thăng, Mây's Productions, chuyển thành những dòng nhạc lôi cuốn giới thưởng ngoạn Việt khắp năm châu.

... Như một kỷ lục vượt bực, Ngọc Lan đã hát khoảng gần 700 ca khúc trong thiết tha trông đợi trong niềm tin cứu rỗi của một tín đồ, dù rằng cùng thời gian ấy, cô đã mất đi người chị thân mến đầy tài năng sáng tạo, nhà văn Lê Thao Chuyên, Ngọc Lan vẫn đắm mình thiết tha cuộc sống, điển hình là khi Ngọc Lan haut moat cách đầy sắc mầu 'tươi thắm' ca khúc 'Con Đường Nào Ta Về'...

Trần Thăng bước vào thế giới văn nghệ tại Cali từ năm 1983 và mạnh mẽ tiếp tay Ngọc Lan từ năm 1989 với những Hollywood Night, những May's Productions Nhưng dần dà chuyển bước sau năm 2000, anh chậm chân, khi cảm thấy những khó khăn xảy đến trong làng ca nhạc DVD. Chúng ta có thể cảm thông tình cảnh lẻ bạn, khi Mây's Productions thiếu Ngọc Lan, thiếu Trầm Tử Thiêng cùng góp tài năng, tâm huyết trên đường phục vụ sân khấu nghệ thuật. Cũng như bao nhiêu khó khăn cho giới sản xuất DVD/ CD ca nhạc… Nhưng hơn hết, nguyên nhân mở đầu có lẽ là vì tình trạng sức khoẻ sa sút của Ngọc Lan?

Và sau đó, nhờ chân tình gắn bó giữa Asia và May's Productions, đáp ứng lại tiếng la hò cổ võ của khán thính giả trong đêm trực tiếp thu hình của Asia tại Majestic Theater- Dallas 2005: 'Đừng bỏ cuộc- Đừng thất vọng. Don't give-up! ' Những lời cổ võ và khen ngợi, trong nụ cười lẫn nước mắt, như là những vòng Nguyệt Tuế để vinh danh sự hợp tác và thực hiện DVD cho Ngọc Lan phát hành vào ngày 26-3-2010.Và trong tương lai không xa, có thể những ca khúc khác cũng do Ngọc Lan trình diễn như: 'Khóc Một Dòng Sông' (bài hát cuối của Ngọc Lan với Asia 18, 'Nhớ Sài Gòn' 'Liên Khúc Mẹ' trong Asia 7, 'Tình Lầm Lỡ' trong Asia 8, 'Lại Gần Hôn Em' (Asia 9), 'Mắt Lệ Cho Người' trong Asia số 11, '20 Năm Tình Cũ' (Asia 14), …sẽ phát hành thành những DVD: 'Như Em Mãi Yêu Anh', 'Mặt Trời Bên Kia Mùa Hạ', do nhà sản xuất /đạo diễn Trần Thăng thực hiện, trong những nhãn hiệu mới của Asia...

Ngay bây giờ đây, 'Con Đường Tôi Về' đang là một DVD, như kỷ niệm của Ngọc Lan, để trân quí gửi tới khán thính giả đã từng yêu thích tiếng hát Ngọc Lan, cùng những quí vị nào chưa có dịp thưởng thức giọng ca độc đáo và tài năng diễn xuất của nữ nghệ sĩ đa tài mà tận tuỵ cống hiến này. Đây cũng là một món quà đặc biệt, một vòng hoa trao tặng đến một trong những người từng cống hiến đời mình cho giá trị nghệ thuật ca nhạc Việt hải ngoại.
tiendung
Posts: 884
Joined: Tue Jun 19, 2007 7:47 am
Location: Paris
Contact:

Post by tiendung »

THÁNG TƯ NHỚ VỀ SÀIGON

Image
Hình ảnh di tản
Tháng Tư về, gợi lên bao điều để suy nghĩ và để nhớ.

Nhớ Sài Gòn, chẳng hạn. Ờ, tại sao lại nhớ Sài Gòn mà không nhớ Huế, nhớ Đà Nẵng, nhớ Nha Trang? Hay nhớ Đà Lạt? Có thể nhiều người nhớ những thành phố này, còn với Nguyễn thì Sài Gòn là đóa quỳ vàng của một thời. Có lẽ tại vì Nguyễn đã sống ở đó những năm thanh xuân của đời mình, và ra đi từ đó. Lại nữa, Sài Gòn chính là Việt Nam trong tim của Nguyễn và của nhiều người. Ôi Việt Nam / từng là nỗi đau xé trong tôi / sao tôi khóc lúc ra đi / phượng đỏ một lời yêu dấu cũ / là lúc chia xa… Vâng, qua bên này nghe ca khúc Đêm Nhớ Về Sài Gòn của Trầm Tử Thiêng lại càng nhớ da diết. Đêm nhớ về Sài Gòn / Tiếng nhạc vàng gọi từng âm xưa / Ánh đèn vàng nhạt nhòa đêm mưa / Ai sầu trong quán úa…

Ôi Tháng Tư. Tháng Tư mở ra những cơn mưa đầu tháng Năm ở Sài Gòn ngày ấy. Mưa. Mưa trái mùa trên rừng cao su An Lộc. Những chiến sĩ Biệt Kích Dù, hàng hàng lớp lớp, đứng nghiêm trong mưa, chào quốc kỳ lần cuối. Rồi chia tay... Vì đâu... Xin hãy nhớ lại kể từ 30 Tháng Tư 1975, không còn tiếng súng xối xả vào kẻ thù, mà đây đó có những tiếng súng lẻ tẻ, tiếng nổ lựu đạn, của các tướng quân, sĩ quan, binh sĩ chấp nhận cái chết chứ nhất định không để rơi vào tay kẻ thù. Những người lính Dù ở Lăng Cha Cả chẳng hạn, hay những người lính Thủy Quân Lục Chiến trong Biển Xưa của Nguyễn Mộng Giác.

Và như vậy, Tháng Tư gợi lại bao nhiêu kỷ niệm cho nhiều thế hệ người Việt Nam, trong cũng như ngoài nước. Nó là một dấu mốc rất lớn, kể từ năm 1975 trở đi tới nay, và chắc chắn nó cũng nói lên bao điều với những thế hệ sau này. Thật vậy, tháng 4 vẫn luôn là những kỷ niệm thật đau khổ và lớn lao, một vết cháy trong tâm hồn bạn tâm hồn tôi - những người một thời bước đi trên sạn đạo lửa đỏ quê hương - và cho cả lớp người theo cha mẹ vượt biên hồi còn bé dại rồi lớn lên ở những xứ sở xa lạ - như cô bé Phạm Quỳnh Anh người hôm nào đã hát ca khúc Bonjour Vietnam tuyệt vời, hay như cô bé Dao Strom với tiếng đàn thùng, tác giả những bài ca buồn trong tuyển tập Send Me Home - lớp người trẻ hôm nay vẫn chưa quên những năm hãi hùng "tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên xã hội xã hội chủ nghĩa," với những ông chủ mới "y trang xúng xính. giọng hét phàm phu" (chữ của Tô Thùy Yên) chĩa mũi súng đẩy hàng trăm ngàn người vào trại cải tạo, đẩy cả triệu dân ra biển Đông sóng dữ hay đi vùng kinh tế mới ma hoang nước độc...

Đúng vậy. Nhà báo Trần Khải viết: Những hình ảnh kinh hoàng, bây giờ nhìn lại vẫn thấy y hệt như là truyện tiểu thuyết Liên Xô. Có vẻ gì rất là siêu thực, như không thể là thực, nhưng lại rất là bi thảm, và đã làm chết biết bao nhiêu người, trên rừng, ngoài phố và sau này là trên biển. Bao giờ thì tháng 4 có thể hàn gắn, không còn là một vết thương, ít nhất là với nhiều triệu người? Với Sơn Ca, có bao giờ cô quên được những hình ảnh hãi hùng đau đớn của Tháng Tư 1975: hôm 28 tháng tư em vào Tân Sơn Nhất / đêm địch pháo phi trường. em ôm hai con / trời tối đen. tắt rồi ánh lửa / không tiếng người. anh ờ nơi đâu... Ôi, cô ca sĩ mắt xếch, tóc màu auburn, em còn nhớ đã cùng chàng chỉ ít hôm sau khi Việt Cộng chiếm Sài Gòn, đã đi mua ngay chiếc xe đạp, đèo nhau đi, để gọi là từ đài các bước xuống bụi đời… Và em nữa, cùng hai con, lúc ấy còn bé xíu, chiều chiều đứng trên ban công nhìn ra sông Thanh Đa, cầu nguyện... Tháng Tư quả như vết dao chém xuống Sài Gòn, chém xuống Việt Nam, cắt đứt những mảnh đời. Kể từ đây xanh thành đỏ, phải thành trái, đúng thành sai, con người lộn ngược đầu kiểu như trong tranh Upsidedown của Nguyễn Đại Giang. Còn gã nhạc sĩ mù ôm đàn gào trong cơn mưa trước rạng đông mặt trời bị cắt cổ (soleil / cou coupé –Apollinaire), bây giờ đi đâu về đâu?

Cuối cùng, Tháng Tư vọng lên câu chửi thề nổi tiếng của thi sĩ Sơn Núi: Đ. cây bông hồng / Mày không lao động / Sao mày trổ bông... [NXT]

Nguyễn Xuân Hoàng
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Ở ĐÂU TRONG TRẬN ĐỘNG ĐẤT?
Hãy đọc và chuyển thông tin này cho các thành viên trong gia đ́ình bạn; nó có thể cứu sống họ một ngày nào đó!


ĐOẠN TRÍCH TỪ BÀI BÁO CỦA DOUG COPP: "TAM GIÁC CỦA SỰ SỐNG"


Tôi tên là Doug Copp. Tôi là Đội trưởng đội cứu hộ (Rescue Chief and Disaster Manager) thuộc tổ chức American Rescue Team International (ARTI), đội cấp cứu giàu kinh nghiệm nhất thế giới. Thông tin trong bài báo này sẽ cứu nhiều sinh mệnh trong một trận động đất.

Tôi đã trườn, bò trong 875 toà nhà đã bị đổ sập, làm việc với các đội cấp cứu từ 60 nước, thành lập các đội cấp cứu tại một số nước, và tôi là thành viên của nhiều đội cấp cứu của nhiều nước.

Tôi đã là một chuyên gia Liên Hợp Quốc về khắc phục thảm hoạ (Disaster Mitigation) trong 2 năm. Tôi đã làm việc tại tất cả các thảm hoạ chủ yếu trên thế giới từ năm 1985, trừ những thảm hoạ xảy ra đồng thời.

Toà nhà đầu tiên tôi đã từng trườn ḅò trong đó là nơi đã là một trường học ở Thủ độ Mexico trong trận động đất năm 1985. Mỗi đứa trẻ đều đang ở dưới bàn của nó. Mỗi đứa trẻ đã bị nghiền nát tận xương. Lũ trẻ có thể đã sống sót bằng cách nằm dài bên cạnh bàn học của chúng trên các lối đi. Điều đó thật là bẩn thỉu, vô lương và tôi đã băn khoăn tại sao lũ trẻ đã không ở trên các lối đi. Lúc đó tôi đã không biết là lũ trẻ được nói cần ẩn náu dưới cái ǵì đó.

Đơn giản mà nói, khi các toà nhà sụp đổ, sức nặng của trần rơi trên các đồ đạc bên trong nghiền nát các vật này, để lại một khoảng trống ngay cạnh chúng. Khoảng trống này là cái mà tôi gọi là "tam giác của sự sống". Vật càng lớn, nó sẽ kết khối càng rắn chắc và nhỏ. Vật kết khối càng nhỏ thì khoảng trống càng lớn, khả năng càng lớn là người sử dụng khoảng trống để an toàn sẽ không bị thương. Lần tới khi bạn xem một toà nhà sụp đổ, trên tivi, hãy đếm "các tam giác" được hình thành mà bạn thấy. Chúng có ở mọi nơi. Nó có hình dạng chung nhất, bạn sẽ thấy trong các toà nhà bị đổ sập.

CÁC LỜI KHUYÊN ĐỂ AN TOÀN KHI XẢY RA ĐỘNG ĐẤT

1) Hầu hết những người chỉ đơn giản "cúi đầu xuống và ẩn náu" KHI CÁC TOÀ NHÀ SỤP ĐỔ bị nghiền nát đến chết. Những người chui xuống các vật như bàn làm việc hay ô tô, bị nghiền nát.

2) Các con mèo, chó và trẻ nhỏ thường cuộn tṛòn một cách tự nhiên trong tư thế bào thai.

Bạn cũng nên như vậy trong một trận động đất. Nó là một bản năng sống sót/ an toàn tự nhiên.

Bạn có thể sống sót trong một khoảng trống nhỏ hơn. Hãy đến cạnh một vật, cạnh một cái tràng kỷ, cạnh một vật to lớn đồ sộ mà sẽ bị bẹp nhẹ nhưng để lại một khoảng trống cạnh nó.

3) Các toà nhà gỗ là những loại nhà an toàn nhất để ẩn náu trong một trận động đất. Gỗ linh hoạt và di động theo các sức mạnh của trận động đất. Nếu toà nhà gỗ sụp đổ, các khoảng trống an toàn lớn sẽ được tạo ra. Cũng vậy, các toà nhà gỗ có sức nặng tập trung, phá huỷ ít hơn. Các toà nhà gạch sẽ đổ đến từng viên gạch. Các viên gạch sẽ gây ra nhiều vết thương nhưng các cơ thể bị đè nén ít hơn là các tấm bê tông.

4) Nếu bạn đang trong giường trong đêm và một trận động đất xảy ra, đơn giản là lăn khỏi giường.

Một khoảng trống an toàn sẽ tồn tại gần giường. Các khách sạn có thể có được tỷ lệ sống sót cao hơn trong động đất, đơn giản bằng việc dán một dấu hiệu phía sau cửa của mỗi pḥòng báo cho những người thuê phòng nằm xuống sàn, ngay cạnh giường trong một trận động đất.

5) Nếu một trận động đất xảy ra và bạn không thể trốn thoát dễ dàng bằng cách qua cửa lớn hoặc cửa sổ, hãy nằm xuống và cuộn tṛòn trong tư thế bào thai ngay cạnh một ghế tràng kỷ hay một ghế lớn.

6) Hầu hết những người đứng dưới ô cửa khi các toà nhà sụp đổ sẽ bị chết. Như thế nào? Nếu bạn đứng dưới ô cửa và rầm cửa rơi xuống phía trước hay phía sau bạn sẽ bị nghiền nát bởi trần nhà phía trên. Nếu rầm cửa rơi xuống bên cạnh, bạn sẽ bị cắt làm đôi bởi ô cửa. Trong cả hai trường hợp, bạn sẽ bị chết!

7) Không bao giờ được đi vào cầu thang.

Các cầu thang có một "mô men tần số" khác nhau (chúng dao động riêng rẽ với các phần chính của toà nhà). Các cầu thang và phần cọ̀n lại của toà nhà tiếp tục va đập vào nhau cho đến khi cấu trúc cầu thang gãy. Những người đi vào cầu thang trước khi chúng găy bị băm nhỏ bởi các mặt cầu thang – kinh khủng gấp bội. Thậm chí nếu toà nhà không sụp đổ, hãy tránh xa cầu thang. Các cầu thang là phần của toà nhà có thể bị hư hại nhiều nhất. Thậm chí nếu các cầu thang không bị sụp đổ bởi động đất, chúng có thể sụp đổ sau đó khi bị quá tải bởi những người bỏ chạy. Luôn luôn nên kiểm tra cầu thang xem có an toàn không, thậm chí khi phần còn loại của toà nhà không bị thiệt hại.

8 ) Hãy ra gần tường ngoài của toà nhà hay là bên ngoài toà nhà nếu có thể - Tốt hơn nhiều là ở gần bên cạnh của tòa nhà hơn là ở bên trong. Bạn càng ở xa bên trong tòa nhà thì đường thoát chạy của bạn sẽ bị chặn lại càng có khả năng xảy ra.

9) Những người ở bên trong các phương tiện giao thông của họ cũng bị nghiến nát khi con đường ở bên trên rơi xuống trong một trận động đất và nghiền nát xe cộ của họ; đó chính xác là điều đã xảy ra với các tấm bê tông giữa các tấm sàn của xa lộ Nimitz. Các nạn nhân của trận động đất San Francisco đều ở bên trong xe cộ của họ. Tất cả họ đều bị chết. Họ có thể đã sống sót dễ dàng bằng việc thoát ra và ngồi gần (nhưng không chạm vào) xe cộ của họ. Mỗi người bị chết có thể đã sống nếu họ có thể thoát ra khỏi xe và ngồi hoặc nằm gần xe. Tất cả các xe bị nghiến nát đều có khoảng trống cao 3 foot ngay cạnh chúng, trừ các ô tô có các cột rơi trực tiếp vắt chép ngay cạnh.

10) Tôi đã phát hiện ra, trong khi trườn bò bên trong các toà báo và các cơ quan có nhiều giấy tờ khác bị sập, rằng giấy tờ không bị bẹp. Những khoảng trống lớn được thiết lập quanh những đống giấy.

Hãy lan truyền những thông tin này để có thể cứu sống ai đó… Toàn bộ thế giới đang trải qua những thảm hoạ tự nhiên v́ì vậy hãy chuẩn bị đương đầu!

Năm 1996 chúng tôi làm một bộ phim, chứng minh phương pháp luận sống sót của tôi là đúng đắn. Chính phủ liên bang Thổ Nhĩ Kỳ, Thủ đô Istanbul, Đại học Istanbul Case Productions và ARTI đã hợp tác để làm cuốn phim thử nghiệm thực tế, khoa học này. Chúng tôi đã làm sập một trường học và một ngôi nhà với 20 người nộm bên trong. Mười người nộm đã "cúi đầu và ẩn náu", và mười người nộm tôi đã sử dụng trong phương pháp sống sót "tam giác của sự sống" của tôi. Sau trận động đất tự tạo toà nhà đổ sập chúng tôi trườn ḅò qua gạch vụn và vào toà nhà để quay phim và dẫn chứng kết quả. Cuốn phim, trong đó tôi thực hành kỹ thuật sống sót của tôi trong các điều kiện dễ thấy trực tiếp, khoa học, liên quan tới việc sập toà nhà, đã chỉ ra sẽ không có cơ hội sống sót cho những người làm theo "cúi xuống và ẩn náu"

Có thể có 100 % khả năng sống sót cho những người sử dụng phương pháp "tam giác của sự sống" của tôi. Cuốn phim này đã được hàng triệu người xem trên tivi ở Thổ Nhĩ Kỳ và phần còn lại của châu Âu, và nó đã được trình chiếu ở Mỹ, Canada và châu Mỹ Latin trên chương trình truyền hình Real TV.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Người ngoài hành tinh đã có mặt trên Trái đất?
Trái đất là một hành tinh trong số hàng tỉ tỉ hành tinh đang tồn tại trong vũ trụ. Trái đất có sự sống, vậy trong vũ trụ bao la liệu có tồn tại sự sống? Một số nhà khoa học cho rằng, sự sống không những tồn tại trong vũ trụ mà còn phát triển vượt bậc so với sự sống trên trái đất?

Con người không đơn độc trong vũ trụ?

Năm 1963, ba nhà du hành vũ trụ Mỹ là Neil Armstrong, Buzz Aldrin và Michael Collins đã cùng với con tàu “Apollo - 11” đổ bộ thành công lên mặt trăng, hành tinh được xem là gần với trái đất nhất, với khoảng cách 384.403km. Khi Michael Collins ở lại trên tàu, Neil Armstrong và Buzz Aldrin đã đi dạo trên bề mặt mặt trăng và phát hiện có một vật thể lạ cùng xuất hiện trong thời gian họ đổ bộ. Buzz Aldrin kể lại: “Chúng tôi nhìn thấy một vật thể lớn ở cách chúng tôi một khoảng không xa lắm. Hình dạng giống với chiếc nôi và chuyển động theo quỹ đạo hình ê-líp. Quan sát qua kính viễn vọng, đó không phải là con tàu của trái đất”.
Image
Hình ảnh người ngoài hành tinh được mô phỏng theo lời kể của các nhân chứng.
Ngày 5/9/2005, 10 nông dân làng Huay Nam Rak, Thái Lan khẳng định họ đã nhìn thấy trên cánh đồng làng một sinh vật kỳ lạ cao chừng 70cm, thân hình nhỏ bé giống người nhưng cái đầu thì to quá khổ. Anh Sawaeng Boonyalak, 35 tuổi, phát biểu trên tờ The Nation: “Trong lúc đang làm đồng thì đột nhiên tôi nhìn thấy một sinh vật lạ xuất hiện rất gần, đầu không có tóc, da màu vàng sậm, cằm dẹt, miệng rất nhỏ, nhưng mắt và tai thì rất to, không thấy các ngón tay và ngón chân của sinh vật lạ”.

Hạ sĩ Mark Proctor, đóng quân tại Tern Hill (Anh), trong lúc đi tuần tra đêm đã phát hiện một loạt các vật thể lạ chuyển động theo hình ê-líp trên bầu trời, anh này dùng điện thoại để quay lại và sau đó báo cáo lên cấp trên.
Hai giờ sau, một chiếc trực thăng chở các quan chức quân đội Anh đã bị một vật thể lạ khổng lồ đe dọa khi máy bay của họ đang cố gắng hạ cánh tại căn cứ gần Cardiff, thuộc xứ Wales. Một nhân chứng cho biết: “Chúng không có âm thanh nhưng có các đốm sáng bên trong”. Phát ngôn viên của Bộ Quốc phòng Anh nói: “Chúng tôi đang nghiên cứu video về UFO xem liệu có mối đe dọa quân sự nào hay không”...

Ngoài ra, đã có rất nhiều người nhìn thấy các hiện tượng gần giống với các sự kiện trên: các UFO có hình dạng tròn, bay theo quỹ đạo ê-líp, xuất hiện trên bầu trời kèm theo một luồng sáng, chúng hiện diện và biến mất rất nhanh... Tuy nhiên, các bằng chứng về sự hiện diện này chỉ ở mức “nhìn thấy”, “chứng kiến” mà thôi.

Người Mỹ đã liên lạc được với người ngoài hành tinh?
Vừa qua, TSKH Mỹ, Edgar Mitchell, người có cuộc đổ bộ cùng với con tàu Apollo 14 lên mặt trăng 37 năm trước đã khẳng định trước công luận rằng sự sống ngoài trái đất có tồn tại. Phát biểu trên của Edgar Mitchell đã dấy lên một làn sóng cho rằng người ngoài hành tinh đã có mặt trên trái đất.
“Người ngoài hành tinh có thật và đã tới trái đất nhưng đã bị chính phủ Mỹ che giấu” - TS. Edgar Mitchell đã trả lời trong cuộc phỏng vấn trên đài phát thanh Kerrang (Anh).

Edgar Mitchell là phi hành gia đầu tiên của NASA (Cơ quan Hàng không vũ trụ của Mỹ) và là người đàn ông thứ 6 đặt chân lên mặt trăng cho hay, sở dĩ ông biết được các thông tin trên là do ông là một sĩ quan tình báo quân đội đã có nhiều năm làm việc tại NASA. TS. Mitchell còn khẳng định Trung tâm NASA không những biết về UFO mà còn liên lạc được với những sinh vật đang điều khiển các UFO.

“Người ngoài hành tinh có dáng dấp đúng như hình ảnh mà chúng ta xem trên màn ảnh: thân hình bé nhỏ, mắt và đầu rất to. Với những gì để lại khi tới thăm trái đất, thì có thể nói người ngoài hành tinh có trí óc siêu việt hơn hẳn chúng ta”.

“Tôi muốn công khai sự việc trước công luận và đây mới là sự khởi đầu trong quá trình công khai sự việc. Chúng ta cần phải mở tấm rèm bí mật và một số tổ chức nghiên cứu về UFO cũng đang hướng tới điều này”.
Nghi vấn cần được làm sáng tỏ

Đến nay, khoa học về vũ trụ của loài người chỉ cho phép chúng ta thăm dò và thám hiểm mặt trăng, sao hỏa... những hành tinh gần với trái đất và được các nhà khoa học xác định là không hề tồn tại sự sống. Để làm sáng tỏ nghi vấn liệu có tồn tại sự sống ngoài trái đất, 3 tổ chức nghiên cứu UFO và MUFON, KUFOS và FUFOR đã ra lời kêu gọi chính phủ của nước phát triển, đặc biệt là Mỹ, Anh, nơi đang sở hữu các bằng chứng về sự tồn tại người ngoài hành tinh mở các tài liệu mật mà họ đang giữ kín để cho nhân loại biết rằng, chúng ta không đơn độc trong vũ trụ.
caubennoc
Posts: 553
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:43 pm
Contact:

Post by caubennoc »

Lễ ra mắt sơ khởi Ban Ðại Diện Cộng Ðồng Nam California
Sunday, April 25, 2010

Nguyên Huy/Người Việt
Chiều hôm qua Chủ Nhật 25 tháng 4, Hội Ðồng Liên Tôn và ban tổ chức bầu cử đã làm lễ trình diện sơ khởi Ban Ðại Diện Cộng Ðồng người Việt ở Nam California tại nhà thờ Reformation Lutheran Church trên đường Magnolia thuộc thành phố Westminster sau cuộc bầu cử vào ngày 18 tháng 4. Ban đại diện gồm bảy người được nhiều phiếu nhất trong số 16 ứng cử viên là Luật Sư Nguyễn Xuân Nghĩa, bà Ðào Bích Ty, ông Khanh Nguyễn, ông Bruce Trần, ông Trần Trọng An Sơn, ông Dương Ðại Hải và ông Trần Văn Minh.

Trên 400 quan khách gồm các dân cử tại địa phương và đồng hương đã đến tham dự buổi lễ này.
Image
Hội Ðồng Liên Tôn và Ủy Ban Bầu Cử giới thiệu các ứng cử viên đã đắc cử vào Ban Ðại Diện Cộng Ðồng.
Mục Sư Trần Thanh Vân, chủ tịch Hội Ðồng Liên Tôn trong sắc phục tôn giáo Tin Lành đã trịnh trọng ngỏ lời khai mạc sau khi Mục Sư Rusell Lackey của nhà thờ Reformation Lutheran Church chào mừng cộng đồng Việt Nam và cầu nguyện các Ðấng Thiêng Liêng. Ông nói: “Hôm nay thật là một ngày đặc biệt 35 năm qua mới có được”.

Tiếp sau đó Mục Sư Trần Thanh Vân đã lần lượt giới thiệu bảy vị đã đắc cử trong cuộc bầu cử của cộng đồng người Việt ở Nam California trong tiếng vỗ tay rền vang của mọi người tham dự.

Chánh Án Nguyễn Trọng Nho đã lên tuyên đọc những lời Tuyên Thệ để bảy ứng cử viên vừa đắc cử nhắc lại. Nội dung của những lời Tuyên Thệ của Ban Ðại Diện Cộng Ðồng người Việt ở Nam California là tuyệt đối trung thành với cộng đồng dưới lá cờ Vàng Ba Sọc Ðỏ, luôn nêu cao sự đoàn kết, để phát triển cộng đồng, quyết tâm ngăn chặn Cộng Sản trong cộng đồng người Việt trong khuôn khổ Hiến Pháp và luật pháp Hoa Kỳ, hỗ trợ các cuộc tranh đấu cho tự do nhân quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ của đồng bào Việt Nam. Bẩy vị đã đồng thanh nhắc lại: “Tôi xin nhận hết trách nhiệm này”.

Trong khi Chánh Án Nguyễn Trọng Nho đọc lời tuyên thệ đến đoạn “quyết tâm ngăn chặn Cộng Sản trong cộng đồng” thì toàn thể người tham dự đã nồng nhiệt vỗ tay tán trợ lời tuyên thệ này.

Sau khi ban đại diện đã tuyên thệ và được Chánh Án Nguyễn Trọng Nho đại diện luật pháp chấp nhận, Linh Mục Nguyễn Uy Sỹ đã đại diện Hội Ðồng Liên Tôn có những lời nhắn rằng nay các vị đã là những người đại diện, là tiếng nói của hơn 300 ngàn người Việt ở Nam California, mong quí vị sẽ làm việc trong tinh thần hy sinh, bác ái, hiệp nhất đoàn kết, hãy gạt bỏ riêng tư, đoàn thể của mình mà cùng chung gánh vác phục vụ lợi ích chung của cộng đồng.

Luật Sư Nguyễn Xuân Nghĩa sau đó đã đại diện cho các ứng cử viên đắc cử vào Ban Ðại Diện Cộng Ðồng, phát biểu rằng “Chúng tôi đã tuyên thệ trong ngôi Thánh Ðường này và chúng ta là những người có tín ngưỡng khác với Cộng Sản nên lời Tuyên Thệ đó rất thiêng liêng”. Luật Sư Nghĩa cũng đề cập đến lập trường chống cộng của Ban Ðại Diện và sẽ đoàn kết để phục vụ lợi ích chung của cộng đồng. Sau đó Luật Sư Nghĩa đã chào mừng tất cả các vị dân cử từ Thượng Nghị Sĩ Tiểu Bang Lou Correa đến những đại diện của các dân cử khác có mặt để thể hiện tinh thần thân thiện của Ban Ðại Diện vừa đắc cử với các chính quyền địa phương.

Vào buổi sáng cùng ngày 25 tháng 4, ủy ban bầu cử đã thông báo kết quả sơ khởi cuộc bầu cử sau khi đã hoàn tất đếm xong 17,230 phiếu hợp lệ và 468 phiếu bất hợp lệ theo qui định của Ủy Ban Bầu Cử.

Số phiếu được loan báo cho từng ứng cử viên được chọn vào bảy người trong Ban Ðại Diện Cộng Ðồng là:

- Luật Sư Nguyễn Xuân Nghĩa với 13,050 phiếu, đạt tỷ lệ 75.7%.

- Bà Ðào Bích Ty với 9,881 phiếu đạt tỷ lệ 57%.

- Ông Nguyễn Khanh với 9,699 phiếu đạt tỷ lệ 56%.

- Ông Bruce Trần với 8,342 phiếu đạt tỷ lệ 48.4%.

- Ông Trần Trọng An Sơn với 7,707 phiếu đạt tỷ lệ 44.7%.

- Ông Dương Ðại hải với 7,021 phiếu đạt tỷ lệ 40.7%.

- Ông Trần Văn Minh với 6,313 phiếu đạt tỷ lệ 36.6%.

Tuy nhiên theo ông Nguyễn Mạnh Chí, trưởng ban bầu cử cho biết thì đây chỉ là kết quả sơ khởi, tạm thời vì tuy cuộc đếm phiếu đã xong nhưng ủy ban đã nhận được một số khiếu nại của ứng cử viên và cử tri nên ủy ban đang xem xét lại chiếu theo những luật lệ bầu cử mà ủy ban đã qui định hoặc khía cạnh pháp lý mà Luật Sư Nguyễn Quốc Lân là cố vấn cho ủy ban sẽ diễn giải. Kết quả chính thức, theo ông Nguyễn Mạnh Chí cho biết, sẽ được loan báo sau 2 tuần nữa.
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Thuốc lá khó cai hơn ma túy

Image
Ảnh: corbis.
Cai nghiện thuốc lá khó hơn cả cai nghiện heroin, một nhà nghiên cứu hàng đầu Australia vừa khẳng định.

Raymond Seidler, từ Sydney cho biết rất nhiều người hút thuốc lá đơn giản không nhận ra trở ngại mà mình mắc phải.

"Điều mà người hút thuốc không nhận ra là nghiện nicotine rất mạnh mẽ, thậm chí còn mạnh hơn cả nghiện heroin. Vì thế, nhiều người sẽ sốc khi biết rằng cai thuốc lá là một thử thách nặng nề với hầu hết trong số họ", ông nói.

Tiến sĩ Seidler - một chuyên gia về cai nghiện với hơn 30 năm kinh nghiệm - cho biết mọi người sẽ dễ bỏ thuốc hơn nếu họ tìm kiếm sự giúp đỡ từ chuyên gia.

Theo AAP, hãng dược phẩm Pfizer của Australia cũng vừa thực hiện khảo sát trên 2.000 người hút thuốc lá. Kết quả cho thấy, 27% cho biết họ ghét phải chi tiền để nhờ chuyên gia giúp đỡ cai thuốc, trong khi 17% lo lắng về việc sẽ bị đánh giá. 16% không thừa nhận rằng họ đã cố gắng bỏ thuốc song thất bại.

Khảo sát cũng cho thấy 12% không có thời gian để tìm đến chuyên gia.

T. An
caolynh
Posts: 317
Joined: Wed Dec 17, 2008 7:21 pm
Contact:

Post by caolynh »

Image

Đừng Yêu Phụ Nữ Quá Quyến Rũ
Nhân vật bạn mới quen sẽ là cô gái hoàn toàn bình thường nếu chỉ có chút ít tính cách của những cô nàng dưới đây. Nhưng nếu có quá nhiều thì bạn nên tránh xa cô ấy.

Cô nàng đầu gấu

Nàng thực sự là một cơn ác mộng, không những trong lời nói mà còn trong cả việc làm. Nàng ta uống rượu và thậm chí còn đánh nhau. Lúc đầu hẹn hò với nàng sẽ là những phút giây nhẹ nhàng và ngọt ngào nhưng khi kết thúc sẽ kinh khủng với những rắc rối. Nàng ta có thể la hét với mọi người, nôn mửa và cả chửi thề nữa.

Và thậm chí dù có phát ốm vì nàng ta mà muốn “vĩnh biệt”, bạn vẫn còn “nhừ đòn” với nàng một thời gian dài sau đó đấy.

Cô nàng ghen tuông điên cuồng

Bản tính của cô nàng này ẩn sau hàng mi rợp bóng nhưng sẽ hiện nguyên hình nếu có đối thủ bước vào vùng lãnh địa. Nàng ta sẽ liên tục khóc lóc, giận dữ quy chụp cho người tình những tội lỗi tày đình hoặc đau khổ, vật vã để cho chàng biết thế nào là "lễ độ" mà chừa đi ý định tơ hào "một sư tử khác”. Rồi bạn sẽ khổ sở vì cái “vòng kim cô” ghen tuông điên cuồng chụp lên đầu bạn.

Nhưng không dễ từ bỏ nàng đâu nhé. Sau cơn giận của "sư tử Hà Đông", những lời nói thỏ thẻ xin lỗi dễ nghe, những cái chớp chớp mắt đầy e lệ cùng chiêu quyến rũ vô cùng tinh tế của nàng sẽ lại khiến bạn tặc lưỡi cho qua.

Cô nàng thích sưu tập trái tim

Những cô nàng này có khả năng quyến rũ đặc biệt. Cô ta từng tích lũy rất nhiều kinh nghiệm “chinh chiến” và hiểu rõ tâm lý các chàng như lòng bàn tay. Nàng ta như con tắc kè hoa, biết biến hóa để bao vây con mồi tội nghiệp. Khi bạn đã chết mê và muốn mời nàng đi ăn tối thì nàng từ chối với lý do rất ngoan hiền rằng “em còn phải ở nhà với mẹ”, hay “em phải ở nhà làm việc”.

Nhưng nếu bạn có nhớ quá mà gọi cho nàng thì chẳng có ai ở nhà. Nàng đang ra ngoài để bắt thêm nhiều con cá nữa đấy. Nếu bạn yêu nàng, bạn sẽ biết thế nào là đau khổ trong tình yêu.

Cô nàng chỉ huy

Nàng sẽ “nhảy “ vào mọi lĩnh vực trong cuộc sống của bạn để cho bạn biết bạn đã làm sai cái gì. Thế thì cũng tốt thôi, nhưng có điều là theo nàng, tất cả những vấn đề ấy chỉ có nàng mới giải quyết được. Với cô nàng như vậy, dần bạn sẽ trở thành người đàn ông "mặc váy" vì không thể tự quyết được điều gì.

Cô nàng “trói buộc”

Cô nàng này quả thật "khó đỡ". Nàng sẵn sàng dâng hiến cho bạn, và rồi khi nàng thông báo có thai thì bạn có chạy đằng trời.

Cô nàng đào mỏ

Trong khi các cô gái chạy theo bạn vì sự ga lăng, vẻ đẹp trai quyến rũ và những nét đẹp trong tâm hồn bạn thì nàng này chỉ quan tâm đến túi tiền. Chắc chắn cô ấy trông rất quyến rũ và dễ thương. Nàng ta sẽ dùng mọi chiêu để khơi dậy phần nhục cảm trong bạn. Và lúc ấy bạn đâu có tiếc tiền mua cho nàng cái quần cái áo, rồi đến điện thoại xe máy, rồi xe hơi, nhà cửa.

Nhưng khi cháy túi, ban mới chợt nhận ra rằng mình đang đứng ngoài đường lúc nào không hay. Còn trong kia, trong nhà nàng là một con mồi béo bở khác mà nàng vừa mới “chăn”.

Cô nàng ghét bố

Lúc nào nàng ta cũng hằn học với bố. Lý do có thể là ông bố chỉnh nàng về lối sống hay đôi lúc ông không thể hiện đủ tình cảm với con gái. Và khi nhìn bạn, nàng ta lại nhớ đến ông bố đáng ghét của mình.

Cô nàng quá quyến rũ

Nàng ta là “sinh vật” đáng yêu nhất mà bạn từng thấy trên đời. Sự gợi cảm của nàng khiến bạn chết đứ đừ. Vẻ nóng bỏng, gợi tình của nàng hấp dẫn bạn mọi lúc mọi nơi. Và bạn quên hết mọi thứ trên đời chỉ để ngập chìm vào vòng tay tình ái. Khi ấy bạn sẽ không còn tỉnh táo để nhận ra rằng ngoài nàng ra, trên đời ban còn nhiều thứ khác nữa cũng cần phải làm.



Mai Khuê (theo Askmen.com)
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Nguồn Gốc Dân Tộc Việt

Linh Vũ
- Ðọc qua một số ý kiến của đọc gỉa trên web Calitoday.com về bài viết của bà TS Sử Ðỗ Ngọc Bích với những lời chỉ trích năng nhẹ, tôi xin góp một số ý kiến sau đây : Sở dĩ họ nói nặng lời với bà là vị học vị của bà khá cao trong ngành sử học. Ðiều thứ hai là bà đã kết luận một cách quá hàm hồ, sai lạc về sử liệu mà hiện nay chưa có một chứng minh hay bằng chứng nào rỏ ràng về nguồn gốc dân tôc Việt. Ðiều này nếu bà là người không có học vị cao, hay không phải là người trong ngành nghề sử học thì chẳng ai quan tâm đến làm gì. Và nhất là chủ trương Hán hóa hiện nay của Trung Cộng trên toàn vùng Ðông Nam Á.

Hôm nay, tôi xin muốn góp ý với bà một bài viết gọi là chia xẻ về nguồn gốc dân tôc Việt để chúng ta có cái nhìn rộng hơn. Tôi nêu vấn đề này không phải vì tự ái dân tôc, hay vì một lý do nào khác của cá nhân, mà vì chúng ta đang sống trong thế kỷ 21th với đà văn minh của nhân loại, khoa học đã tiến bộ, nhiều tài liệu đã được bạch hoá, nhiều công trình nghiên cứu đã được chứng minh, cho nên những gì là sự thật hãy trả lại cho sự thật một cách công bằng. Trung Cộng đã sửa đổi sử liệu nhiều lần, giấu diếm những sai trái của lịch sử, phá hủy di tích lịch sử và xoá bỏ nền văn hoá Việt Nam và một số các quốc gia khác trong nhiều ngàn năm qua, rổi sau đó tự sửa đổi và tự nhận là của mình và cho mình là rốn của vũ trụ. Nhất là chủ trương ‘Thiên Triều chủ nghĩa’ của Trung Cộng hiện nay. Bây giờ tôi xin tóm gọn một số chi tiết vế nguồn gốc dân tôc Việt qua nhiều tài liệu mà tôi đọc được và tôi tin rằng đủ tính thuyết phục.

Lãnh vực lịch sử là một phạm trù qúa rộng lớn và khó khăn không thể một sớm một chiều có thể kết luận được mà nó phải có nhiều yếu tố kết hợp lại mới khả dĩ đáng tin cậy. Nếu muốn nghiên cứu về lịch sử chúng ta cần phải phối hợp nhiều cách khoa học như sau đây :

Khảo cổ học, Nhân chủng học, Huyền thoại học (mythology) huyền sử, huyền thoại), Lịch sử/ngôn ngữ/văn hóa/tập tục. Ðịa chất học/ Ðịa lý học, Thiên Văn/Khí Tượng học, Di truyền học.v.v. Bởi vậy các nhà khào cổ nghiên cứu về lịch sử của ta như Ðào Duy Anh trong Việt Nam Văn Hóa Sử Cương, Trần Trọng Kim trong Việt Nam Sử Luợc hay Bình Nguyên Lộc đều là những người có tài cả nhưng kết luận của họ đều không được chính xác thiếu yếu tố chứng minh. Ngay cả nhà nghiên cứu người Pháp ông L’Arousseau, Maspéro cũng đều không có những dự kiện đủ để thuyết phục, cũng giống như Tư Mã Thiên và Hoài Nam Tử đứng trên diện kẻ chiến thắng để viết sử. Và tệ hơn nữa gần đây ở Việt Nam một số người tự cho là làm chính trị là hiểu biết nhiều như ông Nguyễn Gia Kiểng đã viết trong ‘Tổ Quốc Ăn Năn’ cho là nước Văn Lang là do người Trung Quốc sáng lập thật buồn cười. Sở dĩ có những nhận định như thế là vì sự nghiên cứu chưa đến tận gốc rễ, không có dữ kiện khoa học chứng minh và nhất là trong đầu của mỗi người Việt Nam khi hỏi đến nguồn gốc dân tôc VN, câu trả lời sẽ là từ Trung Quốc. Có lẽ cái quan niệm đó đã ăn sâu trong tâm trí người Việt chúng ta, cho nên nền văn minh dân tộc Việt cũng bị nghiễm nhiên trở thành của người Trung Quốc. Chính những sai lạc này người Trung Quốc rất mong muốn trong chính sách của họ ngày hôm nay.

Vì những lý do chúng ta im tiếng, không ai dám đưa ra những chứng minh cụ thể vì sợ rằng người ta sẽ cho mình là người ngu dốt, hay những ý kiến sai lạc như bà Ðỗ Ngọc Bích trên BBC sẽ tạo thêm lý do để người Tầu khinh miệt, trịch thượng, kỳ thị. Như trước đây họ đã xem dân tôc chúng ta như một loài cầm thú.

Các nhà trí thức Việt Nam rất dễ giải chấp nhận những sử liệu ngoại bang cho nên đã vô tình gieo vào đầu của những tầng lớp trẻ sau này một tâm lý tự ti.

Mỗi lần so sánh các nền văn hóa khác như của Tây, Mỹ, Tầu, Anh.v.v thì lúc nào của họ cũng là số một, mặc dù có rất nhiều điểm sai.

Chúng ta hãy xem lối nhận định của các nhà học giả Tây Phương đối với nền văn minh Ðông Nam Á ra sao, họ cho rằng tất cả đều xuất phát từ hai nước lớn nhất là Ấn Ðộ và Trung Hoa, nhưng hôm nay có nhiều khám phá mới về khảo cổ đã chứng minh được nền văn minh qua các thời cổ đại không như họ suy nghĩ. Cho nên những nhận định của các học giả Tây Phương về văn minh Ðông Nam Á không còn đứng vững.

Hiện nay có 04 gỉa thiết nói về nguồn gốc dân tộc Việt như sau :

1- H. Maspéro, O. Jansé, Lê văn Siêu,... cho rằng:”Người Việt Nam có nguồn gốc bản điạ.”

2- Theo L. Arousseau, Đào Duy Anh, ... cho rằng: ”Người Lạc Việt từ đường biển, và người Thái từ Quảng Tây và Vân Nam di cư đến Bắc Việt, và vì có văn hóa cao hơn nên đồng hóa thổ dân Indonésien.”

3- Theo G. Coedès, H. Kahlke, Bình Nguyên Lộc,... thì người Việt Nam gốc từ vùng Tây Tạng.

4- L, Finot lại cho “Người Việt có liên quan với cư dân các quần đảo Thái Bình Dương.”

Thuyết chủ trương cho rằng người Việt có nguồn từ phương Bắc đi xuống như một học giả người Pháp ông Edouard Chavannes, Leonard Aurousseau và một số học giả Việt Nam đó là thuyết về nhân chủng dựa trên nền văn minh dân tôc Hán có trước dân tôc Việt. Chúng ta không hiểu họ đã căn cứ vào những yếu tố và bằng chứng nào để kết luận rằng người Trung Hoa có trước người Việt Nam như là một chân lý bất biến. Hiện nay những gỉả thuyết đó sai sự thực, nhiều điều trái ngược cho nên không còn đứng vững.

Căn cứ vào kết quả của Hội nghị Berkeley 1978 nghiên cứu về nguồn gốc văn minh Trung Hoa, căn cứ vào những phát minh khoa học mới nhất về khảo cổ học, nhân chủng học, di truyền học (DNA), ngôn ngữ học, cả những sưu tầm về phong tục tập quán ở phần đất nay thuộc hai quốc gia khác nhau.

Nếu xét trên phương diện : Khảo cổ học, nhân chủng học, ngôn ngữ học, huyết thống di truyền học, cả về phong tục tập quán, đều chứng tỏ Ðại Tộc Bách Việt đã có trước, cũng đã cư ngụ tại phần đất nay là đất nước Trung Hoa, ít nhất từ phía nam sông Hoàng, trước Hán tộc. Và văn minh Bách Việt, căn bản là văn minh định cư trồng lúa nước, cũng đã có trước văn minh Hoa Hán, thuộc văn minh săn bắn và trồng lúa tắc, lúa khô. Tộc Hoa Hán khởi thủy lập quốc từ đời Thương, khoảng 1600 năm trước Công Nguyên, chỉ là một tộc ít người, chiếm một vị trí nhỏ tương ứng với các tỉnh Sơn Tây, Thiểm Tây và một phần Hoa Nam ngày nay, nhưng nhờ có tài thiện chiến, tâm lý thực dụng và văn minh vật chất, học được do tiếp xúc với văn minh Lưỡng Hà đã nhanh chóng bành trướng ra khắp đại lục và đã đồng hóa được đa số tộc Bách Việt, thâu hóa được văn minh của họ, hòa đồng với nhiều văn minh khác xây dựng nên một nước Trung Hoa vĩ đại và đa tạp như ngày nay (TL Cung Ðình Thanh)

Câu hỏi được đặt ra là từ Bắc xuống Nam hay từ Nam lên Bắc :

Trong ‘ Eden in the East’ một tác phẩm độc đáo của Oppenheimer, ông cho rằng người Trung Hoa và Ấn Ðộ ngày nay có gốc gác từ Ðông Nam Á chứ không phải là nguồn gốc của người Ðông Nam Á là Trung Quốc hay Ấn Ðộ. Chính thuyết này đã làm đảo lộn suy nghĩ của nhièu người Việt và lịch sử Việt từ bao lâu nay. Không phải chỉ có học gỉa Oppenheimer chứng minh điều đó mà con nhiều học giả nỗi tiếng và uy tín khác như Madelaine Colani, J Hornell, P.V Van Stein, Heine Geldern, Bernard Karlgren, N J Krom cũng đồng ý rằng làn sóng người từ Bắc Việt tràn xuống phía Nam và vào Ấn Ðộ trước khi vùng này bị giống dân Aryan xâm chiếm.

Theo tạp chí của Hàn Lâm Viện Quốc Gia Hoa Kỳ với nhóm nghiên cứu và viện nghiên cứu di truyền học trường Ðại Học Texas về Trung Hoa cho thấy nguồn gốc của người Trung Hoa và kể cả người Ðông Nam Á rất có thề là do người Ðông Nam Á di dân lên chứ không phài từ Bắc xuống. Chính vì thế thuyết cho rằng dân tôc Việt có nguồn gốc từ người Trung Quốc là không hợp lý mà phải nghĩ ngược lại.

*Tóm lại nhóm viết sử Trung Hoa trước đây họ không thật sự công bằng có thái độ kỳ thị Hoa- Man, đứng trên cương vị một kẻ thắng như Tư Mã Thiên, Ban Cố, Lịch Ðại Nguyên, Thẩm Hoài Viên cho nên đã bóp méo sự thật

*Còn các sử gia Việt chúng ta đa số đã dựa trên những tài liệu thư tịch mệnh danh là Hán thư Ðường Thư của Hán Tộc viết về Giao Châu, hoặc là thiếu chứng tích khảo cổ, hay nặng phần lý luận cho nên tạo nên nhiều sai lầm ảnh hưởng đến chính sử.

*Nhóm sử gia Pháp trong thời Pháp thuộc như: Henri Maspéro, Léonard Aurousseau, Henri Mensuy, Madeleine Colami,....Cô ng việc khảo-cứu của nhóm này mới nhìn ta thấy có tính cách khoa-học, vì dựa vào các sách sử Trung Hoa hay trên những di-tích khảo-cổ đã đào được do trường Viễn Đông Bác Cổ (L’école Francaise d’Extrême-Orient) có tính cách khoa học hơn.

Về Di Truyền Học: Theo định-nghĩa chuyên-môn về di-truyền học: “Những tế-bào (cell) của động-vật cũng như thực-vật đều chứa yếu-tố DNA. DNA (Deoxyribo Nucleic Acid) tạo nên gene, và chính các gene đã làm cho muôn loài có sắc-thái đặc-biệt. Do đó, tương quan giữa ngôn ngữ và di-truyền học thì “Trong hai (hay nhiều hơn) sắc dân đã phân tán, bao giờ cũng phân chia cả gene lẫn ngôn ngữ.” (In two or more population that have separated, there begins a process of differentations of both gene and language.”

* Theo giáo sư J.Y. Chu và đồng nghiệp của ông cho rằng: “ Cư dân ở miền Đông Trung Hoa ngày nay là hậu-duệ của dân Đông Nam Á đi lên.” (The phylogeny also suggested that it is more likely that ancestor of the population currently residing in East China entered from Southeast Asia - J.Y Chu - The National Academy of Sciences, USA, Vol. 95, issue 29 July 1998). Căn-cứ vào các dữ kiện nêu trên, ta có thể xác quyết dân Hoa (Tàu) và dân Việt là hai sắc dân khác biệt. Giả thuyết cho rằng người Việt có nguồn gốc từ Trung Hoa là giả thuyết nằm trong manh tâm muốn xóa nhòa nguồn gốc Việt để dễ dàng Tầu hóa! Sau biến cố “Đốt sách chôn nho sinh” (Phần thư khanh Nho) vào thời Tần. Các nhà nghiên cứu về Trung Hoa đã có nhận định như Caroline Blunder và giáo sư Mark Elkin thuộc đại học Oxford: “ Liệu ngay cả chính người Trung Hoa có được bao nhiêu ý niệm về Trung Quốc xưa kia thực sự ra sao? Đây là một nền văn minh cổ xưa của thế-giới còn lại. Xét theo sự liên-tục về văn-hóa, ấy vậy mà quá khứ của nó đã bị tái hiệu đính liên-miên, thay vì thực sự được bảo tồn. Chẳng những vậy, ngày nay đã chẳng còn được bao nhiêu tài liệu nguyên bản. Hầu hết chỉ là những bản sao...Đôi lúc kể cả những họa phẩm...” Quả đúng như lời Mạnh Tử khi đọc các sách sử của Trung Hoa. ta đừng vội tin, vì “Tận tín ư thư, bất như vô thư ” (Tận tin vào sách thà đừng có sách).(tài liệu Bản Sắc Việt GS. ÐKH)

Về ngôn ngữ. Một số nhà ngôn ngữ học hiện nay họ chia ngôn ngữ Đông Nam Á ra làm 4 nhóm chính :

1) Austronesian
2) Austro-Asiatic
3) Tai-Kadai
4) Sino Tibetan
Tiếng Hán thuộc nhóm Sino Tibetan

Tiếng Việt lúc xưa được xếp vào nhóm Tai-Kadai, bây giờ người ta lại xếp vào nhóm Austro-Asiatic. Chưa bao giờ tiếng Việt được xếp vào nhóm Sino Tibetan cả.

Kết luận, chúng tôi phát biểu vài điều về vấn đề nguồn gốc dân tộc Việt. Phải nói ngay rằng đây là một vấn đề phức tạp, một phạm trù to lớn không thể nào nói trong vài trang giấy được, hơn nữa chúng ta vẫn còn thiếu thốn dữ kiện khoa học liên quan đến người Việt để phát biểu một cách khẳng định. Vì thế, người ta vẫn còn suy đoán, và có khi suy đoán thiếu cơ sở. Với tất cà những tài liệu và những chứng minh trên đây chúng tôi muốn nêu lên vì nó có tính thuyết phục, có bằng cớ và chứng minh bằng khoa học, để mọi người còn vọng ngọai (Tầu) có thể thoát ra khỏi ý nghĩ cố hữu là nguồn gốc dân tộc Việt từ Trung Quốc. Và tránh thảm họa bản đồ VN sẽ thành một tỉnh thành của Tầu Cộng.

Tài liệu: Sử ký Tư Mã Thiên, Chiến Quốc, VN sử lược TTK, Khâm Ðịnh Việt Sử, VN Suối Nguồn Văn Minh Phương Ðông của LTH, Lịch Sử Văn Minh Thế Giới, VN Văn Hóa Sử Cương ÐDA, Eden in the east của Oppenheimer, The History Geography of Human Gen, J.Y Chu- The National, Academy of Sciences USA, VN Quốc Sử, Nguồn gốc Mã Lai…của BNL và một số web.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Đêm Mưa Tháng Mười

Nguyên Nhung


Đêm ấy là một đêm mưa tháng mười, trời chưa cười đã tối. Đáng lẽ thì Huân chưa định lái xe đi vào buổi trưa hôm ấy, khi từ biệt anh bạn cũ nhà ở vùng East New Orleans ra đi. Bầu trời xám xịt, những tảng mây đen nặng nề và hơi gió buốt người thổi thốc vào cái " patio" phía sau nhà, phần phật gần như muốn tốc luôn cái mái tôn cũ kỹ. Bầu trời như trĩu xuống , đe dọa sẽ đổ xuống vùng đất thấp hơn mặt biển này một biển nước. An nhìn bạn ái ngại:

" Cậu ở lại vài hôm đã, vội gì, đường nào chả về La Mã. . ."

Huân bật cười. Đường nào chẳng về La Mã, thế nhưng đường về quê hương xa vời vợi. Từ ngày sang đây bạn bè tan tác mỗi người mỗi nơi mỗi ngả như chim lạc bầy, những lúc gặp gỡ tương phùng hiếm hoi, khi chia tay nghe như trong mắt đã vương ngàn hạt bụi. Bụi làm cay mắt cay lòng, nỗi buồn tha phương , nỗi buồn mất nước, nhìn bạn vừa thương vừa tủi, muốn ở mà ở không được, muốn đi mà đi không đành. . .

An có tính khôi hài, dù trước cái chết trong "đường tơ kẽ tóc" hắn vẫn cứ xem như đùa, Huân thích bạn ở điểm đó. Một thời bay bổng bên nhau trong khu cư xá độc thân đã trôi vèo như mây trôi gió cuốn, may là ngày cuối cùng ấy, cả hai cùng chạy kịp ra chiếc máy bay của phi đoàn đang sửa soạn cất cánh. Cả hai cùng bỏ lại một quê hương tơi bời khói lửa, bỏ lại gia đình, bỏ lại người tình nhỏ bé không một lời giã biệt. Khi qua Mỹ, lúc ở trại tỵ nạn An tìm được một đối tượng tương đối, rồi vội vã kết hôn ngay. Thực ra, với viễn ảnh không ngày về, không còn chọn lựa nào hơn là tìm ngay cho mình một đời sống gia đình để bù đắp nỗi mất mát đó, nhưng thực ra chẳng làm sao có thể thay thế được. Riêng Huân kém may mắn hơn bạn, hay là chàng khó tính hơn để chấp nhận thà sống một mình, chứ không thích sau niềm vui của một ngày, sẽ là những nỗi phiền muộn suốt đời khi thực tình lấy một người vợ mà chưa yêu được bao nhiêu.

Một thời trẻ tuổi của đời thanh niên đã qua, thuở độc thân " tiền lính tính liền", những ngày cuối tháng chưa đến kỳ lương mà tiền đã hết, mì gói nước lạnh làm chuẩn. Mấy hôm ghé vào thăm bạn, hai thằng bạn nối khố thuở nào kề cà bên những chai bia lạnh, kể chuyện cũ. Huân cảm nhận mơ hồ rằng sinh hoạt gia đình bạn có xáo trộn đôi chút, lại thêm thằng bạn thất nghiệp thì mặt vợ An đã không được tươi tỉnh như độ trước. Huân có trực giác rất mạnh, chỉ cần nhìn vào đôi mắt ai là chàng đã cảm nhận ra được ít nhiều điều gì họ đang nghĩ trong lòng, ở lại đây lâu ngày, chàng sẽ trở thành thứ " oan gia nghiệp chướng" cho bạn mà thôi. . .

Thực ra, khi nhận cú phôn của người chị họ, cho biết có một công việc tạm thời rất thích hợp ở thành phố Charlotte yên tĩnh, thuộc tiểu bang North Carolina, Huân nhân tiện chuyến đi ghé vào thăm bạn. Miền Đông New Orleans thuở ấy gồm một khu phố buồn lèo tèo vài tiệm buôn, chợ Chồm Hổm nhóm vào cuối tuần, ì xèo kẻ mua người bán khi trời chưa sáng tỏ, rồi tan ngay khi mặt trời lên. Đấy là những cuối tuần người ta tụ tập vào ngôi nhà thờ địa phương, cầu nguyện và gặp gỡ nhau cho ấm áp chút buồn xa xứ. Những căn phố đủ kiểu buồn hiu trên thềm xi măng khô khốc, cơn gió cuốn những tờ giấy bẩn cuộn theo lớp bụi mù. Vẫn có một nét gì rất Việt Nam trên xứ người, trước sân nhà là bức tượng Thánh, bên hè là một bụi chuối rậm rạp, giàn mướp hương bò quanh bờ rào. Nhìn qua, Huân nhớ mênh mang cái không khí của khu gia binh ở miền Nam ngày xưa, một quận lỵ đìu hiu nào đó thời chinh chiến. Suốt những nẻo đường quê hương, từ trên phi cơ nhìn xuống, chiếc đồn nhỏ nằm lẻ loi ven quốc lộ, xung quanh là trảng cỏ tranh đầy những bất trắc rình rập.


Sau vuông rào khu nhà thờ là mấy dãy chung cư cây cối đã cao tầm tầm mái nhà, đêm đêm người ta nghe lác đác tiếng súng nổ. Chiều chiều từng tốp trẻ em da màu chơi đùa dưới bóng cây, toát ra một sự nghèo nàn, nhếch nhác. Nếu không có dãy tiệm tùng của người Việt bên kia cầu, khu này mang dáng vẻ một khung cảnh chết, cỏ cây dường như mới xanh lên từ lúc có đám di dân người Việt kéo đến định cư lập nghiệp. Không biết sao An lại chui về đây rồi bằng lòng với số phận, hắn vẫn nhậu say bí tỉ quên trời quên đất, quên luôn một thuở thân nam nhi bồng bềnh với mây trời, gió cuốn.

Phải đi thôi, hành lý đồ đạc đã gói ghém vào hai chiếc va ly nằm sau cái cốp xe để lên đường, khởi hành từ thành phố Houston khi trời vừa hừng sáng. Đó là những ngày thê thảm nhất cuối thập niên 80, thành phố dãy chết sau đợt kinh tế xuống, so với nơi này cũng chẳng hơn gì nhau. Nước Mỹ buồn rầu những khu chung cư chồng lên nhau như hộp diêm, bao nhiêu hãng xưởng đồng loạt đóng cửa, kéo theo hằng chục ngàn người thất nghiệp, ngành cơ khí , công nghiệp xuống dốc thê thảm, Huân cũng nằm trong số những người không may đó.

Huân sang Mỹ có một mình, đi làm thì lương bổng rẻ mạt, chỉ đủ gói ghém gửi về giúp cho gia đình ở Việt Nam. Tất cả bên nhà đều trông vào một mình chàng, ông anh kẹt lại trong tù, bố mẹ nay đau mai yếu, mấy cô em gái lúc nào cũng xa gần nhắc anh chuyện đi xa, bởi vậy tự nhiên chàng gánh lên hai vai một gánh nợ lớn. Vừa tạm ổn định đời sống, đang nghĩ đến việc xây dựng gia đình thì tai ương đổ xuống, lại mất việc. Đúng ra thì cô bạn gái vừa quen không tệ đến nỗi hắt hủi chàng, nhưng tự Huân đã biết dừng lại để không bước vào sự bế tắc của tình cảm. Huân đã chứng kiến nhiều cảnh đổ vỡ của bạn bè sau khi bị thất nghiệp, nó kéo theo nhiều tai ương khác nữa. Mất nhà, mất xe, mất vợ, có đầm ấm lắm cũng chịu đựng được thời gian đầu, sau đến thời kỳ tối tăm hơn, quanh quẩn mãi trong nhà cũng sinh tội, rồi cãi nhau liên tu bất tận, thấy mặt nhau là cơn chán nó ứ lên tận cổ. Chuyện chia tay xảy ra như cơm bữa, qua xứ này đàn bà khôn ra nhiều, thực tế gấp nghìn lần hồi còn ở quê nhà, vì thế chỉ hơi nặng lời một lần là nó đã đủ sức làm rã luôn một mái ấm gia đình.

* * *

Chiếc xe tàng của Huân rời khu East New Orleans, con đường liên tỉnh 90 vắng hoe, người ta trốn hết ở trong nhà những ngày mưa gió. Huân cho xe chạy ngược lại nhịp cầu dài theo xa lộ để về hướng Florida. Từ đây, chàng phải vượt qua mấy tiểu bang nữa như Missisippi, Alabama, qua nhiều thành phố nhỏ thưa thớt dọc theo đường đi, và hy vọng nếu thời tiết khá hơn, chàng sẽ tới được North Carolina càng sớm càng tốt, nơi gia đình bà chị họ đang cư ngụ ở đó.

Cũng không có gì để vội vã, chiếc xe tàng không cho phép Huân vội vã hơn vì nó có thể trở chứng nằm lại dọc đường. Đúng ra thì cũng đến thời kỳ vứt đi, nhưng thời gian đầu, không có nó thì chàng sẽ y như kẻ có chân mà vẫn như què. Con đường xuyên bang nhà cửa thưa thớt, thậm chí qua nhiều dặm đường dài vẫn không có nhà cửa, hai bên đường chỉ rừng và rừng, những tầng lá cao thấp đan nhau làm cho con đường càng thêm âm u, quạnh vắng. Vẫn mưa suốt, từ lúc rời nhà An với bầu trời xám xịt, cơn bão rớt tháng 10, kéo theo những trận mưa suốt đường dài, vài lần tấp vào khu vực " Rest Area" để cho xe nghỉ, Huân cũng ngả lưng chợp mắt được một giấc để lấy sức. Giữa cảnh đất trời u ám, cái rét mướt của tâm hồn khiến Huân đôi lần muốn chảy nước mắt khi nghĩ đến thân phận kẻ tha hương nơi đất khách quê người. Gió vẫn hú trên những rặng thông chập chùng chênh vênh trên sườn đồi thấp, bầu trời nặng trĩu những tảng mây xám báo hiệu cơn mưa sẽ dai dẳng không bao giờ dứt.

Dù sao thì cũng phải đi, ở lại một mình trên con đường liên tỉnh thâm u chỉ rừng với rừng, mưa và mưa, lạnh và gió rét Huân cảm thấy đôi chút bất an, nếu như những cơn mưa tiếp tục rơi và cơn lụt nhanh đổ xuống thì số phận của chàng với chiếc xe tàng sẽ vô cùng thê thảm. Lại lên đường, lúc ấy khoảng 9 giờ đêm, trước mặt mịt mờ một màn mưa trắng xóa, vài chiếc xe lướt qua, để lại hai vệt đèn đỏ như ma trơi trên quãng đường vắng. Thật ra có lúc Huân như không nhìn thấy gì ngoài khoảng đường mập mờ do ánh đèn xe chiếu ra phía trước, nhưng ảo giác lại đánh lừa mắt chàng, khiến Huân chập chờn thấy như có nhiều nhà cửa nằm lấp ló hai ven đường, và vì thế chàng cứ gắng cho xe chạy để đi vào một thị trấn nhỏ. Có nhiều khi mưa lớn quá, Huân phải dừng xe lại bên đường, tắt máy cho xe nghỉ, hé khung cửa để nhìn nhưng rõ ràng chỉ thấy hai ven đường là rừng cây đen thẫm. Mưa và lạnh ập đến làm chàng tỉnh hẳn người, lại vội vã nổ máy vì chỉ sợ chiếc xe cũng như chàng, nằm lịm đi giữa con đường xuyên bang đầy bóng tối và hoang vu . . .

Ngay lúc ấy có một chiếc xe Van vừa vặn lướt qua. Ánh đèn chập chờn khi tỏ, khi mờ để Huân chợt nhận ra dưới ánh đèn đỏ phía sau, hai lá cờ một Mỹ một Việt vẽ bắt chéo qua nhau, được chủ nhân gắn vào cái bửng xe phía sau bỗng đập vào mắt chàng . Tự nhiên Huân tỉnh ngủ, lá cờ vàng ba sọc đỏ như dội vào mắt chàng một điểm sáng lung linh, nằm vắt chéo với chiếc cờ hoa nước Mỹ, vẽ trên một tấm thiếc gắn phía sau chiếc xe Van. Lúc nãy Huân không để ý, nhưng vì chiếc xe Van cứ từ từ thong thả đi trước như dẫn đường, Huân lại tò mò muốn biết chủ nhân của chiếc xe Van, Mỹ hay Việt, tóc vàng hay tóc đen? Nhưng chàng không làm sao vượt lên được chiếc xe kềnh càng trước mặt, mà lạ lùng là hễ chàng chạy nhanh nó chạy nhanh, chàng chạy chậm nó chạy chậm. Trời mưa đường trơn ướt, đèn xe lại mờ mịt khiến Huân cũng không dám tăng tốc độ.

Lá cờ vàng lung linh ẩn hiện trước mặt gợi lại cho Huân nỗi nhớ đau thắt lòng, hình như lâu rồi Huân không muốn nghĩ đến lá cờ thân yêu ấy nữa, kể từ ngày bỏ nước ra đi. Mỗi lần có dịp nhìn thấy lá cờ, chàng lại ràn rụa nước mắt. Những cuộn phim cũ lần lượt trở về, sân trường năm xưa thuở còn là một chú bé con, với chúng bạn Huân đã từng ngồi tụm với nhau chuyện vãn trên sân cỏ, dưới chiếc cột cờ cao nghều nghệu. Những buổi sáng thứ hai quần xanh áo trắng, bao nhiêu con mắt trong veo mở to nhìn lên lá cờ bay phấp phới, bấy nhiêu cái miệng tròn vo đồng ca bài Quốc Ca Việt Nam. Nhưng có lẽ hình ảnh ghi đậm vào tâm khảm chàng vẫn là cái chết của những người bạn cùng khóa, cùng phi đoàn, cũng lá cờ ấy phủ trên cỗ áo quan của bạn bè, ba vệt đỏ như ba dòng máu chảy loang trên nền cờ vàng, lẫn với tiếng khóc rấm rứt của người vợ trẻ. Lẫn trong vòng hoa tang là những ngọn nến trắng bập bùng, chiếu lên tấm ảnh chân dung người lính trẻ vừa nằm xuống. . .

Bây giờ giữa đêm mưa đường dài, nơi đất khách quê người trên con đường thiên lý như đêm nay, lá cờ Việt Nam bỗng ở đâu lại chập chờn trên chiếc xe đằng trước như dẫn đường, bắt chàng hồi tưởng lại nỗi đau cũ khiến Huân rợn người. Mưa vẫn như trút nước, chiếc xe Van cũng chầm chậm dẫn đường, dường như Huân chẳng thấy gì hơn được hình ảnh hai lá cờ Việt, Mỹ bắt chéo đằng sau xe, như có một ma lực huyền bí bắt chàng đi theo không nghĩ ngợi. Dù sao Huân cũng yên tâm khi có bạn đồng hành trong một đêm mưa gió như đêm nay, khiến chàng hồi tưởng lại ngày xưa còn là một phi công, phi vụ của chàng rơi vào một buổi sáng mù sương, chiếc phi cơ như lạc loài, lẻ loi trong màn mây bao phủ, chàng vẫn nghe trong chiếc nón bay, tiếng người bạn đồng hành vẫn thỉnh thoảng gọi chàng trên tần số. ...

Nhờ có chiếc xe Van đi trước, Huân không cảm thấy nỗi cô đơn và rét mướt trong cơn mưa đường dài. Hai chiếc xe nối đuôi nhau chạy qua không biết bao nhiêu dặm đường, thỉnh thoảng lắm mới nhìn thấy một vài căn nhà miền quê nằm lẻ loi giữa khu đồng trống, xen vào những mảnh rừng nối tiếp. Có đi xa như vậy, mới thấy đất nước này rộng lớn, mênh mông, hết rừng dầy lại rừng thưa, hết cánh đồng này qua cánh đồng khác, có những thị trấn chỉ lèo tèo vài chục căn nhà, duy nhất một ngã tư đèn xanh , đèn đỏ. Huân cũng không biết là mình đã chạy theo chiếc xe Van bao nhiêu đoạn đường, rồi chàng bỗng buồn cười nhớ lại một câu chuyện vui cười đọc được trên báo. Đêm sương mù, chẳng thấy đường để chạy, xe này cứ theo xe kia , cuối cùng khi ngừng lại mới biết mình đang chạy theo xe người ta vào " garage".

Lúc nhìn lại đồng hồ, dù di chuyển rất chậm, Huân biết mình đã lái xe tù tì đến gần bốn tiếng đồng hồ, chiếc xe tàng như có phép lạ cứ bon bon đi theo chiếc xe Van, vượt được một đọan đường thiên lý đến hằng trăm dặm. Mãi đến khi Huân nhìn thấy ánh đèn của một trạm xăng phía xa, báo hiệu đã sắp tới khu dân cư và có cửa tiệm ăn uống, ngay khi ấy, chiếc xe Van có hai lá cờ Việt Mỹ bỗng biến nhanh khỏi tầm mắt chàng. Huân dụi mắt để nhìn theo hai vệt đèn đỏ đằng sau chiếc xe Van, hình ảnh hai lá cờ Việt Mỹ bắt chéo trong cái khung thiếc sơn màu bạc cũng chập chờn tan như sương. Và cũng đúng lúc ấy, chiếc xe của chàng khựng lại, kim đồng hồ không nhúc nhích, chiếc xe chắc không còn một giọt xăng nào nữa. . .

Trời rét thế mà Huân vã mồ hôi lạnh, may là chiếc xe hết xăng ở khu vực này, không có nhà cửa dân cư đông đúc nhưng còn đỡ hơn là nơi đường rừng hoang vắng. Huân thấm mệt, chàng tưởng mình đã kiệt sức khi đi theo chiếc xe có hai lá cờ suốt đoạn đường dài. Chàng nhắm mắt lại ngủ ngồi trên tay lái, vì giờ này cũng còn lâu trời mới sáng, trời tuy lạnh nhưng không mưa, cảnh vật như được bao phủ bằng một màn sương trắng đục như sữa.

Chàng cứ vương vấn hình ảnh hai lá cờ Mỹ Việt gắn trên chiếc xe Van , lòng bỗng dưng ấm áp. Biết đâu trên chiếc xe kia lại cũng là một anh chàng cựu chiến binh nào đó đã từng tham chiến ở Việt Nam, đã vấn vương hay để lại chút tình đồng đội trên mảnh đất cong cong hình chữ S. Và giờ đây, chàng cũng đang mang thân phận người lính thua cuộc, lang thang cuộc đời tỵ nạn trên quê người. Hai thứ tình ấy gắn bó với mảnh đất đầy những kỷ niệm vui, buồn, ngẫu nhiên lại đồng hành thành đôi bạn đường im lặng trên con đường xuyên bang mưa gió não nề.


Thiếp đi sau một giấc ngủ ngắn , trời đã hừng sáng, trời hết mưa, dần dần bớt tối hơn, tuy rằng vẫn lạnh và rất ảm đạm. Tuy thế, ở cái thị trấn nhỏ ven đường vẫn thưa thớt xe cộ, Huân tỉnh hẳn, thèm một ly cà phê và điếu thuốc thơm buổi sáng. Chút nữa Huân phải nhờ ai đó để đến cái trạm xăng gần nhất dằng kia, điều ấy không khó lắm vì những người cư dân ở thành phố nhỏ hay miền quê tính tình rất nhân hậu, họ sẵn sàng giúp kẻ lỡ đường.

Huân mở cửa xe rồi bước xuống đường, vươn vai làm vài động tác thể dục cho đỡ mỏi. Ánh đèn đêm vẫn lung linh dưới những lùm cây tối, chàng nhìn thấy những con quạ đen lông ướt sũng, co ro với nhau dưới hàng cây trốn gió. Huân lại nhớ đến chú chim sẻ thơ thẩn đi kiếm ăn một mình trên sân nhà lúc hoàng hôn, thức ăn chỉ là những hột cỏ nhỏ hơn hạt kê, con chim sẻ đi tìm mồi trong buổi hoàng hôn, khiến chàng liên tưởng đến cảnh cô đơn của mình mà ngậm ngùi trong dạ. Một người cô đơn, một bóng chim lẻ loi, sao vẫn phải tìm nguồn sống để sinh tồn, chim còn vậy huống gì mình là người, nghĩ vậy mà Huân cảm thấy đời chưa đến nỗi tận cùng của sự đau khổ.

Huân ngó quanh quất cảnh vật hai bên đường. Chàng bỗng giựt mình khi nhận ra nơi mình đang đứng, chiếc cổng có vòm cao dẫn vào một Đài Tưởng Niệm, bức tượng người lính Vô Danh bằng đồng đen đứng im lìm vươn lên nền trời chưa sáng tỏ. Những bụi mưa còn đọng lại trên hai vai bức tượng đồng đen, ướt át, như hình ảnh những giọt mưa khuya còn vương trên tấm "poncho" của người lính vừa xong phiên gác đêm.

Huân nhớ lại những gì xảy ra khi chiếc xe của chàng hết xăng lúc hơn nửa đêm về sáng, bóng chiếc xe Van cũng mất hút ngay trước mắt chàng dù chỗ này không có một ngã ba hay ngã tư nào hết. Chiếc xe có hai lá cờ đi đâu? Có phải nó đã tới nơi rồi, và người lính ngã xuống năm xưa trên một chiến trường nào đó, đã leo lên chiếc bệ đá, đứng yên lặng chào chàng trong bóng tối của Đài Tưởng Niệm.

Nguyên Nhung

( Viết bằng cảm xúc một đêm mưa trên con đường dài)
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Người 'không ăn suốt 70 năm' vẫn sống

Các nhà khoa học Ấn Độ nghiên cứu một cụ ông 82 tuổi sau khi cụ tuyên bố không ăn hay uống bất kỳ thứ gì trong suốt 70 năm qua.

Image
Ảnh chụp cụ Prahlad Jani trong bệnh viện Sterling, thành phố Ahmedabad vào ngày 26/4. Ảnh: AFP.
Prahlad Jani, 82 tuổi, nói với Telegraph rằng cụ rời khỏi nhà khi mới lên 7 tuổi và lang thang khắp bang Rajasthan, Ấn Độ. Jani tin cụ được một nữ thần phù trợ nên không cần ăn hay uống mà vẫn sống bình thường. Nữ thần rót thuốc tiên qua một lỗ trong vòm miệng của cụ. Theo lời kể của Jani thì trong suốt 7 thập kỷ qua, cụ không ăn, uống và cũng chẳng thải thứ gì ra khỏi cơ thể.

Bác sĩ Sudhir Shah, một người chuyên nghiên cứu khả năng siêu nhiên, từng theo dõi cụ Janin vào năm 2003. Shah nói cụ không ăn và uống trong 10 ngày. Cơ thể cụ hấp thụ nước tiểu ngay sau khi nó hình thành trong bàng quang. Trọng lượng cơ thể của cụ giảm chút ít sau thử nghiệm.

Dù bác sĩ Shah công nhận khả năng của cụ Jani, nhiều người vẫn cho rằng câu chuyện đó chỉ là trò bịp bợm.

Giờ đây các nhà khoa học thuộc Tổ chức Nghiên cứu và Phát triển quân sự của Ấn Độ (DRDO) quyết định tìm hiểu khả năng của Prahlad Jani. Họ đưa cụ vào một phòng biệt lập trong bệnh viện Sterling tại thành phố Ahmedabad, bang Gurjarat. Tại đây người ta theo dõi chặt chẽ Jani. Từ ngày 22/4 tới nay cụ không ăn và uống bất kỳ thứ gì, song các bác sĩ chưa phát hiện bất kỳ tác động tiêu cực nào, như đói, mệt mỏi, mất nước, kiệt sức, hôn mê. Cũng trong khoảng thời gian đó cụ không hề tiểu tiện hay đại tiện.

Telegraph cho biết, các bác sĩ sẽ tiếp tục theo dõi cụ Jani trong 15 ngày nữa. Họ dự đoán trong khoảng thời gian đó cơ thể cụ sẽ có những triệu chứng tiêu cực như teo cơ, mất nước, giảm cân, mệt mỏi, các cơ quan nội tạng ngừng hoạt động.

DRDO cho rằng cụ Jani có thể dạy các binh sĩ cách kéo dài thời gian sống sót mà không cần thức ăn. Những bí mật của cụ cũng có thể giúp những nạn nhân của thảm họa tăng khả năng sống sót trong lúc chờ lực lượng cứu hộ.

“Nếu những lời khẳng định của cụ Jani được chứng minh thì đây sẽ là một bước đột phá trong y khoa. Chúng ta sẽ có thể cứu nhiều mạng người trong các thảm họa thiên nhiên, những cuộc hành trình trên biển và các điều kiện khắc nghiệt. Chúng ta có thể dạy người dân những kỹ thuật sinh tồn với rất ít thức ăn và nước trong các điều kiện bất lợi”, tiến sĩ G Ilavazhagan, giám đốc Viện Sinh lý học và Khoa học ứng dụng thuộc Bộ Quốc phòng Ấn Độ, phát biểu.

Nhiều tín đồ đạo Jain và Hindu tại Ấn Độ có thể nhịn ăn và uống tới 8 ngày mà cơ thể vẫn hoàn toàn bình thường. Trên thực tế nhịn ăn là một phần trong các nghi lễ tôn giáo của họ. Theo Telegraph, phần lớn loài người không thể sống nếu không ăn trong 50 ngày.

Minh Long
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »


Image

LON GUIGOZ HÀNH TRANG CỦA NGƯỜI TÙ CẢI TẠO
Không biết vô tình hay hữu ý mà trong hành trang lên đường của tôi có chiếc lon guigoz. Guigoz là lon sữa bột của nước Hòa Lan sản xuất. Hầu hết trước năm 1975, con cái của công chức, quân nhân và gia đình khá giả đều uống loại sữa này.

Vợ tôi để dành những cái lon không để đựng những đồ gia vị gồm bột ngọt, tiêu, đường, muối, mỡ… vì vừa nhẹ, vừa sạch và vừa kín. Khi đậy nắp lại không có con kiến nhỏ nào chui lọt.

Trong “ba – lô”(túi sách nhà binh) đi học tập cải tạo của tôi có đến hai chiếc lon guigoz. Một cái đựng bàn chải đánh răng và kem súc miệng. Còn cái kia đựng thuốc ngừa sốt rét, thuốc đau bụng và hai chai dầu gió. Đó là những việc mà vợ tôi lo xa..

Ngày 27 tháng 6 năm 1975 là ngày tôi đến trường nữ Trung Học Gia Long, đường Phan Thanh Giản, Quận 3, Sài Gòn, trình diện.Sau mấy tháng không làm việc gì nặng nhọc, khi mang ba – lô trên vai đi bộ độ mươi bước thì tôi cảm thấy người như chùng xuống.

Tôi thầm trách vợ tôi:”đã nói học tập có mười ngày, đem theo đồ gì gọn nhẹ mà sao không nghe”. Đến trường Gia Long ở hai ngày một đêm mà tôi không buồn soạn cái ba- lô, coi trong đó đựng những thứ gì. Tôi chỉ lấy chiếc lon guigoz đựng kem súc miệng và cái khăn mặt để sử dụng hàng ngày. Thật là tiện lợi khi dùng nó vì nó chứa được nhiều nước.

Ngày 29 thang 6 năm 1975,tôi đến trại tù ở Suối Máu Biên Hòa. Sau khi điểm danh và phân chia nhà ở xong, việc đầu tiên của tôi là xách chiếc lon guigoz đi tìm nước súc miệng. Đi một vòng xung quanh trại mà tôi chẳng thấy có cái lu, cái khạp, hay cái thùng phi nào chứa nước sẵn.

Chỉ có một cái giếng duy nhất để chứa nước nấu ăn. Có giếng nước mà trại lại không phát thùng múc nước. Làm sao lấy nước lên được khi độ sâu của giếng khoảng hơn mười thước. Tôi đành xách chiếc lon guigoz đi về nhà ở. Thấy ai nấy đều đem mùng ra kiếm chỗ treo lên, tôi cũng mở ba- lô lấy cái mùng “nhà binh” màu xám( loại mùng bằng vải nylon, phía trên nóc và xung quanh chân mùng có bốn sợi dây, mỗi sợi dài hơn ba thước.)

Một ý nghĩ bỗng thoáng qua trong đầu tôi là tại sao tôi không lấy bốn sợi dây này nối lại ( " một cây làm chẳng nên non”), xong buộc vào lon guigoz mà lấy nước từ dưới giếng lên. Tôi liền thực hành ngay. Quả thật tôi đã lấy nước một cách dễ dàng, không những cho tôi mà còn cho những bạn tù khác.

Đến 8 giờ 30 cùng ngày, cả nhà( gồm 44 người) ngồi lại bầu một nhà trưởng và một người phụ trách nấu ăn. Quái ác, một thằng bạn thấy tôi có sáng kiến lấy được nước từ giếng sâu lên, nó liền đề cử. Thế là cả bọn dơ tay tán thành.

Khởi sự đi nấu vào lúc 9 giờ sáng mà mãi đến 2 giờ chiều mới có cơm ăn. Độc nhất, chỉ có rau muống luộc bằng nước giếng. Nước dùng để vo gạo và rửa rau, kể cả nước để vô chảo để nấu cơm và luộc rau, cũng chỉ dùng chiếc lon guigoz lấy nước từ dưới giếng lên.

Còn củi để chụm là những khúc cây cao su bằng bắp chân cưa ngắn lại độ ba gang tay còn xanh. Làm sao nhúm lửa được mà nấu? Trại tù không phát dao cũng không phát búa, sợ tụi này dùng vật bén nhọn tấn công tụi nó.

Tôi lại một phen đi đào lấy cọc sắt” ấp chiến lược” loại ngắn độ hơn gang tay để chẻ củi. Sau đó, đi lấy bao cát nylon để đốt cho cây củi cao su khô đi mới bắt cháy được. Thật là nhiêu khê!

Sau khi làm bếp xong, tôi lấy một lon guigoz nước để” tắm búng”(thắm nước cho ướt mình mẩy rồi lấy tay se se cho đất tróc ra, xong búng nó đi)

Có một hôm trời mưa to. Cả bọn mừng rỡ chạy ra tắm mưa dưới những mái tôn nhà đang ở. Bỗng nhiên mưa đứt hột một cách đột ngột. Cả bọn nhìn nhau cười ngặt nghẽo vì đầu cổ mình mẩy đứa nào đứa nấy đều dính đầy bọt xà bông, trông rất thảm hại! Chiếc lon guigoz lại lần nữa giúp cho bọn tù chúng tôi rửa sạch bọt bèo xà bông.

Có nhiều đêm tôi muốn đi ngủ sớm vì quá mệt nhọc trong công việc nhà bếp nhưng mấy thằng ban đâu có tôi nằm yên, tụi nó thay phiên nhau tới chỗ tôi nằm để mượn chiếc lon guigoz. Đã mười giờ đêm mà tôi vẫn chưa ngủ được vì lấy lon guigoz đi, thì bốn sợi dây giăng mùng cũng đi theo.

Sau hơn một tháng, vào ngày 9 tháng 7 năm 1975, chúng tôi chuyển trại bằng đường bộ từ Suối Máu xuống An Dưỡng(Biên Hòa). Dọc đường, chiếc lon guigoz lại giúp tôi đỡ cơn khát. Ở trại mới, so với trại cũ có phần thoáng mát hơn. Cũng xử dụng nước giếng nhưng trại phát cho thùng xách nước. Còn củi thì trại có đưa búa cho chẻ củi. Cho nên chiếc lon guigoz lúc này dùng việc “ca cống”(là dùng ca và lon guigoz bằng nhôm nấu ăn hoặc nấu nước uống bằng than của nhà bếp)

Ở chung trại có anh bạn tù tên là Tuấn. Anh ta có một thân hình lực sĩ đẹp nhất trại nhưng vì anh ta hay bắt chuột làm thịt ăn nên cả bọn chúng tôi kêu anh ta bằng Tuấn chuột. Một đêm trăng, tôi nằm thao thức mãi không ngủ được, một phần thì nhớ nhà, một phần thì bụng đói cồn cào.

Tôi ngồi dậy, nhìn ra ngoài trời, dưới ánh sáng của vầng trăng tròn, tôi thấy hai con chuột đang tìm cách tha cái lon guigoz của Tuấn Chuột. Một con chuột nằm ngửa, bốn cẳng của nó ôm chặt chiếc lon guigoz, còn con kia cắn đuôi con chuột nằm ngửa mà kéo đi nhưng vì miệng hang quá nhỏ nên chúng không thể nào đem cái lon guigoz vào được.

Ngoài ra chiếc lon guigoz cũng giúp tôi khỏi bị bệnh tê liệt một thời gian ngắn. Số là ở trại tù An Dưỡng, bọn quản lý trại giam đã cho chúng tôi ăn gạo ẩm(gạo cũ bị bể nát). Chỉ trong một tuần lễ là tất cả chúng tôi đều đi đứng không được mà phải bò bằng tay và hai đầu gối. Tuấn Chuột là người khỏe mạnh mà cũng bị bò.

Riêng tôi, tôi vẫn đi đứng bình thường. Bởi trong khi đi lao động gần nhà bếp trại, tôi thấy bọn chúng vo gạo trắng,tôi liền lấy lon guigoz xin một lon đầy nước cơm vo. Mãn giờ lao dộng, tôi trở về ”lán”(chỗ ngủ của tù cải tạo) để bắt đầu giờ ca cống. Tôi xin chút than nhà bếp để nấu nước cơm vo này. Nhờ có nước cơm vo( có chất vitamin B1) mà tôi không phải bị bò.

Thấy tôi đi đứng bình thường, mấy thằng bạn nói tôi có nhiều thuốc vitamin B1 nên khám ba- lô của tôi. Đến khi lục soát xong, bọn chúng mới biết tôi chỉ có mấy viên thuốc ngừa sốt rét mà vợ tôi đã cẩn thận bỏ trong hành trang của tôi. Sau đó, Ban Quản Lý trại mới mua gạo lức về nấu cho chúng tôi ăn để khỏi bị bệnh tê liệt.

Ở trong trại, tôi có ăn chung với một thằng bạn tên Hoa. Nhân ngày lễ của bọn chúng, chúng tôi mỗi thằng được trại ”ưu ái” phát cho một cục thịt heo bằng ngón tay cái. Chúng tôi đâu dám ăn liền mà bỏ vào lon guigoz rồi lọc nước muối đổ đầy vào lon nấu thịt cho ra nước mỡ để hai đứa ăn một tuần lễ vì trại trừ phần ăn bảy ngày.

Ngày 17 tháng 6 năm 1977, chúng tôi chuyển trại từ An Dưỡng đến Căn Cứ 5 Rừng Lá,thuộc Hàm Tân, Phan Thiết(trại Z30D). Thời gian ở trại này có thêm đội nữ( gồm có các chi quân nhân và các chị ở Biệt Đội Thiên Nga Cảnh Sát). Tội nghiệp! Các chị đều bị bệnh vì chế độ ăn uống ở đây quá khắc nghiệt.

Trong lúc này, tôi ở Đội Nhà Bếp. Hàng ngày, ngoài việc nấu cơm và luộc rau muống, tôi còn phải nấu một chảo nước sôi để chia cho đội nữ. Lợi dụng việc đi lại với nhà bếp, các chị đã gởi cho tôi sáu cái lon guigoz để gởi tôi nấu dùm. Đố các bạn biết trong đó đựng những gì? Xin thưa: đó là đậu xanh hột. Số là trong khi các chị đi thu hoạch đậu xanh, các chị đã giấu lại không nộp hết rồi bỏ vô lon guigoz đem xuống nhà bếp nhờ tôi nấu chín.

Có lần tên cán bộ( lúc này Công An Quản Lý) nhà bếp hỏi tôi nấu cái gì trong đó. Tôi nói là nấu nước sôi cho đội nữ. Hắn ta thắc mắc hỏi. Tại sao anh nấu một chảo nước sôi màkhông đủ chia? Tôi giải thích rằng họ cần nước đun chín để uống thuốc. Thế là thoát nạn.

Trong thời gian cải tạo, người tù như chúng tôi đều trải qua những cơn đói khát kinh hoàng. Chiếc lon guigoz đã nuôi sống chúng tôi trong những cơn hoạn nạn. Chiếc lon guigoz là vật bất ly thân, đã đi theo chúng tôi từ trại tù này đến trại tù khác. Chiếc lon guigoz là người bạn đường thân thiết của tôi.
Chiếc lon guigoz cũng là hình ảnh, là báu vật mà suốt cuộc đời của người tù cải tạo không quên được.

Hoàng Chương.
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 6 guests