Bình Luận , Quan Điểm

thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Việt Nam - Những Điều Trông Thấy...

Tháng Năm vừa qua, có việc gia đình, tôi đã về Việt Nam trong hơn ba tuần.

Tôi ghi lại đây những gì mà tôi tạm gọi là “Thiên Hạ Sự” mắt thấy, tai nghe trong thời gian thăm quê. Tuy cùng là người Việt sống ở nước ngoài, ngoại trừ những người chưa về quê lần nào, có người về Việt Nam thường xuyên, có người về chỉ vài lần, và mỗi người về một ngả, mỗi người có một mục đích riêng, có cái nhìn riêng… nên những gì tôi trình bày có thể không giống quan điểm, nhận xét của người khác. Đây chỉ là sự quan sát, nhận định cá nhân, viết ra để bà con đọc cho... đỡ buồn, và nếu cần, để rút kinh nghiệm khi về Việt Nam.


Bước ra khỏi máy bay, điều khắc nghiệt mà tôi gặp phải đầu tiên là sự oi bức của khí hậu. Trong khi sắp hàng trình giấy tờ Nhập Cảnh, mồ hôi đã đổ ra ướt cả áo, điều không hề xẩy ra trên đất Mỹ (ở Mỹ, nếu làm việc nặng ngoài trời lâu dưới nắng nóng mới đổ mồ hôi). Trong Phi Trường cũng có máy lạnh nhưng có lẽ vì tiết kiệm điện nên hơi mát không Đủ Đô cho một người “Ngoại Quốc” xứ lạnh như tôi. Trong suốt thời gian tại Việt Nam, tôi ở Khách Sạn, đi đâu thì đi taxi vì có máy lạnh. Nhà tôi ở vùng quê, nghèo khổ, điện đóm thất thường (thường hay cúp điện), lại không có máy lạnh nên dù đã bao năm xa cách muốn ở lại với mẹ già vài đêm cũng không thể được. Thăm bà xong là tôi vọt lên Thành Phố, vào Khách Sạn trốn nóng. Nóng khắp Miền Nam, kể cả Vũng Tàu. Nóng đến nỗi ngồi bên bãi biển cũng nóng. Chỉ lúc xuống tắm mới hết nóng.


Có lẽ, điều cốt lõi mà bà con muốn biết là giây phút đối diện với Công An Hải Quan Phi Trường Tân Sơn Nhất? Thì cũng thế, khi đến lượt mình trình Passport Mỹ có Visa Nhập Cảnh của Việt Nam cũng phải làm “Thủ Tục Đầu Tiên” chút đỉnh. Người Công An lanh tay giấu kín Tờ Bạc Xanh trước khi làm thủ tục cho chúng tôi Nhập Nội. Tuy đã nghe nói có lệnh cấm Việt Kiều không được đưa tiền cho Công An, nhưng lệnh cấm ở đâu chúng tôi không thấy mà chỉ thấy anh Công An ngồi đó, người có thể gây khó khăn cho chúng tôi! Thôi thì “Trộm Lệnh” chi chút đỉnh trước để mua sự mau mắn, sau coi như một món quà mọn cho người “Đồng Hương” gặp gỡ đầu tiên nơi Quê Nhà. Không biết có phải nhờ uy lực của “Bác Washington” hay không mà Công An đối xử với chúng tôi Lịch Sự, Tử Tế. Khi chúng tôi ra Phi Trường trở lại Mỹ, không có “Thủ Tục Đầu Tiên” nữa, Công An vẫn không gây rắc rối gì cho chúng tôi cả, họ vẫn làm việc Tử Tế, và đặc biệt họ không còn ánh mắt biểu lộ lập trường Bạn-Thù hằn học như trước. Chỉ có thế, suốt thời gian ở Việt Nam, tôi không gặp thêm một người Công An nào, không tiếp xúc với một cơ quan chính quyền nào, đi đâu cũng không bị ai hỏi giấy tờ hay làm khó dễ cả. Theo tôi biết (từ giới chức Khách Sạn), nếu mình về lưu trú ở Địa Phương (bất cứ Địa Phương nào) mình phải trình diện, nạp hộ chiếu tại Công An Địa Phương. Nhưng nếu mình ở Khách Sạn, nạp hộ chiếu cho Khách Sạn thì nhân viên Khách Sạn sẽ lo chuyện đó, họ sẽ báo cáo sự có mặt của mình lên Công An Thành Phố, xong muốn đi đâu thì đi (nhưng nhớ mang theo Visa mà Toà Đại Sứ hay Tổng Lãnh Sự VC cấp cho mình về).

Việt Nam Đã Thay Đổi Như Thế Nào?

Theo tôi nghĩ, về cơ sở vật chất, Việt Nam đã có thay đổi. Đây là một sự thay đổi đương nhiên, vì với thời gian 35 năm, nếu không thay da đổi thịt thì mới là điều lạ. Những nơi tôi đến đều đã thay đổi, nhưng sự thay đổi không đồng đều. Có nơi thay đổi tốt, có quy cách, có kế hoạch; có nơi sự thay đổi chỉ là một mớ tạp nham, rất ồn ào, hỗn tạp, có thể ví như cỏ dại chen sống với vườn rau. Trong số những nơi phát triển có kế hoạch, “Ấn Tượng” nhất là Phi Trường. Tuy phi đạo chưa được cải tạo nhưng Nhà Ga Tân Sơn Nhất (Terminal) đã được xây lại khá hiện đại, khang trang, có thể so sánh với những Phi Trường bậc trung trên thế giới. So với Thành Phố ồn ào và nhốn nháo ngoài kia, Sân Ga Tân Sơn Nhất nổi lên như một thế giới riêng, có vẻ sạch sẽ, văn minh và tươm tất hơn nhiều. Thứ đến là Thành Phố Đà Nẵng.

Tôi đã từng làm việc tại Thành Phố nầy 4-5 năm trước 1975, nhưng nay về lại khó mà nhận ra được, nếu không đi taxi thì có lẽ chẳng tìm ra đường. Xong việc gia đình, tôi thuê bao xe vào Đà Nẵng. Xe không phải leo đèo như trước mà đi đường hầm Hải Vân, một công trình đáng kể, rất tiện lợi cho việc giao thông, vừa tiết kiệm thời gian, vừa an toàn hơn nhiều. Qua khỏi đèo Hải Vân, tài xế chở chúng tôi dọc bãi biển từ Nam Ô (cũng lạ hoắc), qua cầu Thuận Phước (có dáng dấp như cầu treo Golden Gate tại San Francisco nhưng ngắn và nhỏ hơn nhiều), đến thẳng núi Sơn Trà, nơi có chùa Linh Ứng với tượng Quán Thế Âm cao ngất. Trong thời kỳ chiến tranh không có con đường rộng rãi, có dáng dấp của một “Free Way” nầy. Từ núi Sơn Trà, chúng tôi chạy dọc, sát bờ biển Mỹ Khê, cũng trên con đường khá rộng và tốt như đường dọc bờ biển Nam Ô, đến Non Nước. Trong vài ngày sau đó, chúng tôi đi thăm trung tâm Mỹ Sơn tại Quảng Nam của người Chàm cũng dùng con đường nầy. Quay về sông Hàn, trước đây chỉ có cầu Trịnh Minh Thế, nay đã có thêm hai cầu nữa (cầu quay sông Hàn và cầu Thuận Phước, nghe đâu đang dự định xây thêm một cầu nữa).

Hai bên bờ sông Hàn được đúc xi măng rộng, lát gạch hoa, sạch sẽ và thoải mái cho người muốn dạo chơi, hưởng gió ban đêm. Nhìn chung, Đà Nẵng đã thay đổi có kế hoạch, nó có thể trở một Thành Phố cỡ Hồng Kông trong tương lai.

Nơi thứ ba có thay đổi tốt là Vũng Tàu. Thành Phố du lịch này đã có những đường sá rộng, sạch, trồng nhiều cây, hoa đẹp rất công phu. Sự thay đổi của Sài Gòn, Huế tuy có phát triển bề ngang và chiều cao, ngoài những vùng tân lập ngó được, những nơi cũ đường hẹp mà nhà cửa xây thêm, xây lên quá nhiều, xe cộ vô số kể (nhất là xe gắn máy hai bánh) nên trông rất hỗn tạp và nhốn nháo. Ngoài ra, sự thay đổi hổ lốn nầy làm Huế không còn là Huế nữa. Đường phố không còn đất để bát phố, người ta để xe cộ chật ních cả. Có thể nói, Việt Nam bây giờ bị “Bê Tông Hoá” và bị xe hai bánh tràn ngập, đường lúc nào cũng kẹt xe nên thời tiết đã nóng lại càng nóng thêm, đã nhớp càng nhớp thêm, đã bụi càng bụi thêm.


Trong điều kiện đường sá và xe cộ như thế, Việt Nam khó mà có được một một sự giao thông trật tự, văn minh, sạch sẽ và rõ ràng như ở Mỹ được. Ở Mỹ lái xe không cần còi. Tại Việt Nam suốt ngày nghe còi inh ỏi. Xe lớn còi xe nhỏ cũng còi, không còi là không đi được, họ nói như thế. Đường cũng có luồng (lanes) đàng hoàng nhưng chẳng ma nào giữ luồng cả, xe hai bánh cũng như xe bốn bánh cứ chạy tràn với nhau, ai nhanh nấy được. Thật khó tưởng tượng nổi, xe hơi có thể quay đầu (U Turn) ngay chính giữa lòng đường trong khối lượng giao thông nêm chặt như thế, không cần phải đợi đến ngã tư, ngã ba, chuyện không thể thấy ở các nước văn minh.


Về sinh hoạt xã hội, có thể nói người Việt Nam quá tất bật. Nhà buôn lớn, kẻ buôn nhỏ, các dịch vụ di chuyển hàng hoá, vật liệu… hoạt động suốt ngày, có khi qua đêm. Nhìn chung, sự sinh hoạt kinh tế của người dân nhộn nhịp hơn xưa nhiều. Ngày xưa, ở Huế chỉ có đường Trần Hưng Đạo, Gia Long (Phan Bội Châu) là hai đường phố thương mãi chính, kế đó là Gia Hội, Hàng Bè. Nhưng ngày nay đường nào cũng có cửa hàng buôn bán, dù lớn hay nhỏ. Đặc biệt đường Mai Thúc Loan trong nội thành, ngày trước chỉ toàn là nhà ở kiểu xưa, thấp lè tè, im lìm buồn tẻ. Ngày nay đường nầy buôn bán còn sầm uất nhộn nhịp hơn cả Trần Hưng Đạo, nhà lầu mọc lên san sát. Nói thế không có nghĩa là dân Việt Nam bây giờ đã giàu. Cuộc sống tuy có khá hơn xưa, nhưng hố cách biệt về giàu nghèo còn quá sức lớn. Có người thu nhập một tháng cả một trăm ngàn đô (tôi đã gặp trực tiếp người này và được ông ta xác nhận) nhưng đại đa số quần chúng còn trong sự nghèo nàn. Không những dân quê chỉ bám vào ruộng vườn để kiếm ăn, may ra đủ sống; tại các Thành Phố vẫn còn rất nhiều người bán vé số, nhiều người buôn thúng bán bưng, nào thức ăn các loại, nào báo, nào sách v.v… được bà con đem bán dạo. Thu nhập của những người nầy chừng 5-7 chục ngàn Việt Nam là cùng. Mua một tờ báo (bốn ngàn đồng Việt Nam) mà cho thêm họ một ngàn đồng (khoảng vài cents của Mỹ) là họ đã mừng ra mặt rồi.


Dân Việt Nam thật cũng lạ, cứ khoảng 4 giờ chiều, gần như đa số đàn ông cả nước “Xuống Đường” ăn nhậu. Kẻ giàu lên trên các nhà hàng cao tầng với cao lương mỹ vị và rượu ngoại bia cao cấp, có em út phục vụ đến nơi đến chốn; người trung lưu vào các quán nhậu bình dân trên khắp mọi đường phố; thứ dân nghèo nàn thì nhậu trên lề đường, trong hẻm sâu với mực khô, khô thiều, hay đạm bạc với vài trái xoài, ổi chắm muối ớt… cùng bia rẻ tiền hay ba xi đế cũng có thể “Dzô, Dzô” để vui đời như ai. Đi qua các nơi, tôi thấy không có nơi nào nhậu “Đại Trà” như Đà Nẵng. Từ bên này cầu Sông Hàn qua bên Mỹ Khê, dọc con đường mới ấy, bên cạnh các Khách Sạn, nhà hàng sang trọng, các quán nhậu bình dân mọc lên san sát, người ăn nhậu dày đặc nhung nhúc (đa số là giới trẻ), xe gắn máy dựng la liệt, chẳng biết tiền đâu mà họ Hưởng Thụ đời đến thế. Điều đáng để ý là hình như họ không biết, hoặc không quan tâm gì về chính trị, về tình hình đất nước cả. Hỏi thử họ có biết VC cắt đất nhường biển cho Tàu không, có biết Trung Cộng chiếm Hoàng Sa, Trường Sa, đánh đập những Ngư Phủ Việt Nam không, thì hoặc họ trợn mắt như người từ hành tinh khác tới, hoặc họ khoát tay xin miễn bàn! Tìm hiểu chuyện này ngoài xã hội, một số trí thức, kể cả đảng viên CS biết nhưng chẳng ai dám hé môi. Với chính sách tàn độc của VC, người Việt Nam bây giờ trông có vẻ đang sống như những kẻ “Hiện Sinh” (!), vô cảm trước tình hình đất nước, và đặc biệt có vẻ bạc nhược hơn ngày xưa nhiều! Để bảo vệ quyền lực của mình, VC đã tiêu diệt hào khí, triệt tiêu lòng yêu nước của người Việt Nam rồi chăng? Có người nói, VC đã ngầm khuyến khích, tạo điều kiện cho dân vui chơi, ăn nhậu để đừng để ý đến những gì họ làm. “Một ngày như mọi ngày”, ngoài công việc kiếm sống, cứ mỗi sáng thức dậy, mở cửa phóng xe ra đường ăn sáng, uống cà phê, hoà nhập cùng biển người và xe cộ, dưới một rừng cờ và biểu ngữ đỏ chói tuyên truyền cho chế độ, giăng mắc trên khắp các nẽo đường; tối đến, cùng nhau lố nhố ngất ngây “xị xô” dưới ánh đèn màu là đã lên đến “đỉnh điểm” của cuộc đời rồi, chẳng cần làm gì thêm, chẳng cần nghĩ gì thêm. Tất cả đã có Đảng lo. Tuân phục Đảng thì sẽ có tự do, chống Đảng sẽ phải nằm co trong tù! Phải nói là, ngoại trừ một thiểu số hiểm hoi can đảm ra mặt chống chế độ độc tài đòi dân chủ mà chúng ta đã biết, đa số dân Việt Nam ở Thành Phố, kể cả thành phần trí thức và một số đảng viên Cộng Sản cũng đều bất mãn chế độ, nhưng họ không dám làm gì để chống lại vì “sợ nằm co trong tù”! Họ muốn có “Tự Do” để giữ Nồi Cơm và xa hơn nữa là để Hưởng Thụ.


Mỹ Hay Tàu?

Quan sát sinh hoạt chính trị của những Chóp Bu VC, ai cũng nghĩ rằng Việt Nam không sớm thì muộn cũng bị lệ thuộc Trung Cộng. Nhưng nếu để mắt vào sinh hoạt của người dân trong xã hội, người ta không thấy bóng dáng nào của Chú Chệt cả. Các bảng hiệu lớn nhỏ một phần bằng bằng tiếng Việt, một số bằng tiếng Anh, phần khác Anh-Việt Đề Huề, chẳng có cái nào bằng tiếng Tàu (trong Chợ Lớn có thể khác). Nói chuyện qua lại hằng ngày cũng thế, ngoài giới lao động bình dân dùng tiếng Việt hoàn toàn, những tầng lớp trên dùng cả tiếng Việt lẫn tiếng Mỹ. Từ “OK” đã quá thông dụng. Những người bồi phòng Khách Sạn cũng “OK” tía lia. Đồng Dollar của Mỹ rất có giá trị và được ưa chuộng tại Việt Nam. Ngoại trừ những chi tiêu lặt vặt phải trả bằng tiền Việt, những chi tiêu lớn chúng ta có thể dùng Dollar song song với tiền Việt, hoặc thay tiền Việt. Cách phục sức, ngoài giới lao động, buôn thúng bán bưng, sinh viên - học sinh, công chức… đều ăn mặc theo lối Tây Phương, theo kiểu Mỹ, không ai mặc đồ kiểu Tàu cả.


Khi còn ở Đà Nẵng, tôi có dịp nói chuyện với một người cháu trí thức, Bác Sĩ mới ra trường được mấy năm. Tôi hỏi nó: “Cháu có thấy nguy cơ Việt Nam mất nước không? Cháu có biết lãnh đạo của Việt Nam quá yếu hèn quá quỵ lụy trước sự lấn lướt của Tàu không? Cháu có biết trí thức, sinh viên - học sinh mình biểu tình chống Tàu chiếm Hoàng Sa, Trường Sa mà bị nhà nước bắt bỏ tù không? Người dân yêu nước chống ngoại xâm mà bị chính quyền trừng trị thì chính quyền đó không phải là tay sai ngoại bang thì còn là gì? Một Dân Tộc có chính quyền là tay sai ngoại bang thì chuyện mất nước rất dễ xẩy ra”.

Cháu tôi trả lời: “Tụi con biết những chuyện đó nhưng bị guồng máy xã hội cuốn hút chẳng biết làm gì để chống lại họ, bác ơi. Nhưng bác thấy đó, lãnh đạo theo Tàu nhưng dân theo Mỹ. Bác cứ nhìn sinh hoạt của người dân, kể cả cán bộ đảng viên thì sẽ thấy”!

Tôi xin thuật lại những gì tôi đã nói chuyện với cháu tôi hôm ấy để tạm kết luận bài này: “Bác thấy, về hình thức, Việt Nam đã thay đổi nhiều. Nhưng sự thay đổi ấy chưa phải là sự phát triển toàn diện và đồng đều so với thời gian 35 năm không có chiến tranh. Đặc biệt sự thay đổi ấy không phải là một bằng chứng chứng tỏ được tính độc lập của Dân Tộc. Bác đồng ý với cháu sinh hoạt xã hội và lối sống Việt Nam hiện nay “Tư Bản” hơn cả trước 1975 tại Miền Nam. Đó chỉ là chuyện bình thường sau khi nhà nước Việt Nam mở cửa, tiếp xúc với Tây Phương. Người Việt Nam bây giờ đi nước ngoài như đi chợ, họ bắt chước theo lối sống, theo cách làm ăn của người nước ngoài là chuyện không có gì lạ. Nhưng đó không phải là dấu hiệu của lòng yêu nước, đó chỉ là lối sống, cách hoạt động “Kinh Doanh” mà thôi. Người dân tại Trung Cộng cũng sinh hoạt như thế. Việt Nam nếu lệ thuộc Trung Cộng, dân chúng cũng sẽ được sinh hoạt như thế.


Giữ được nước hay không là do ý thức chống ngoại xâm, do lòng yêu nước bảo vệ quê hương, không phải sống theo kiểu nào. Bác rất bi quan trước thế nước lòng dân. Thế nước đang chênh vênh trên bờ lệ thuộc. Đảng CSVN, đối với dân thì cai trị bằng thủ đoạn và sự tàn độc nhưng đối với đàn anh Trung Cộng thì ươn hèn, nhượng bộ quá đáng cốt để giữ quyền lực. Còn lòng dân thì sao? Bác rất ngạc nhiên trước sự thờ ơ đối với vận mệnh đất nước của đại khối người Việt Nam, kể cả trí thức. Tại Hải Ngoại, tinh Thần Chống Cộng, Chống Ngoại Xâm rất cao nhưng phần lớn đã già cả rồi, lại ồn ào mất đoàn kết, hơn nữa ở quá xa, cách cả nửa vòng trái đất nên chẳng làm gì được. Tương lai Dân Tộc đặt trong bàn tay của các cháu. Nếu thế hệ trẻ các cháu cũng “Vô Tư” với vận mệnh Tổ Quốc như người lớn hiện nay, mất nước là điều khó tránh khỏi”.


Định Nguyên
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

Cộng Sản lấy khủng bố làm hành động

Ðại Nghĩa sưu tầm
(Nguồn: doithoaionline.org)

Image
Luật Sư Lê Thị Công Nhân.
(Hình: Frank Zellar/AFP/Getty Images)

Ngay từ khi phong trào cộng sản ra đời là họ dùng chiến thuật khủng bố làm phương tiện để tiến đến mục đích. Từ lúc còn sơ khai họ đã giết người không gớm tay, và hành động tàn ác này họ quy tội nạn nhân là “gián điệp”, là “Việt gian”. Thường thì họ hoạt động lúc về đêm, hành động ban đêm lúc bấy giờ là để tránh né “địch”, và “làm việc ban đêm” còn gây tâm lý hoang mang, sợ hãi, mệt mỏi, để khủng bố tinh thần “nạn nhân” nhứt là như đối với những người đang đấu tranh đòi dân chủ. Bây giờ chính quyền cộng sản Việt nam bày thêm cái trò ném đá dấu tay dùng bọn “côn đồ”, bọn hình sự gây án bằng cách đụng xe hay gây gổ để có dịp hãm hại những đối tượng mà đảng, nhà nước muốn triệt hạ qua những thủ đoạn bẩn thỉu chưa từng có ở bất cứ một quốc gia văn minh nào.

Trong phúc trình của tòa Ðại sứ Mỹ ở Hà nội gởi cho bộ Ngoại giao về việc CSVN hành hung Gs Hoàng Minh Chính một lão thành cách mạng sau khi ông đi chữa bệnh ở bên Mỹ về, bản phúc trình có đoạn viết như sau:

“Ông Hoàng MChính nhà đấu tranh dân chủ 83 tuổi đi từ nhà con gái ở Sài gòn về nhà ở Hà nội ngày thứ năm 1, tháng 12, 2005 thì bị khoảng 100 người lạ mặt chửi bới, nhục mạ, hành hung... Ông bà Chính bị đám đông ném cà chua, trứng thối, mắm tôm, đánh vào người, đập vào cửa kính căn nhà. Cuộc hành hung kiểu tổ chức đấu tố thời trước sau năm 1954 ở miền Bắc VN nay lại thấy đảng CSVN đem ra xài lại để trả thù cho những lời phát biểu của Ông Chính tại Mỹ về chủ nghĩa cộng sản, về tự do dân chủ”. (Người Việt ngày 4-12- 2005)

Hiện nay đảng CSVN cũng rất kiên quyết với các đồng chí nào của họ lên tiếng phê bình những xấu xa bẩn thỉu của đảng thì họ cũng thẳng tay trù dập để bảo vệ đảng. Ông Vi Ðức Hồi, một đảng viên phản tỉnh cũng không là ngoại lệ:

“Ông Vi Ðức Hồi một nhà đấu tranh dân chủ cư ngụ ở thị trấn Hữu lũng tỉnh Lạng sơn, bị lôi ra đấu tố ở địa phương và có dấu hiệu sắp bị chế độ Hà nội bỏ tù... Từ đó đến nay ông bị mất chức và bị khủng bố liên tục dưới nhiều hình thức. Cuối tháng 10 năm ngoái, một số người hoạt động dân chủ ở Hà Nội đến Hữu lũng thăm ông nên bị một lực lượng đông đảo công an CSVN và đầu gấu đánh hội chợ ngay ở nhà ông. Ông Nguyễn phương Anh bị đánh thương tích đầy người. Không run sợ trước áp lực và khủng bố của hệ thống công an CSVN, Ông vẫn tham gia các cuộc vận động dân chủ hóa Việt nam”. (Người Việt ngày 13-6-2008)

Một Phong trào đấu tranh đòi Dân chủ gồm cả những lão thành cách mạng, những nhà trí thức trẻ có lòng với đất nước đang vùng lên và là mục tiêu trừ khử của đảng CSVN. Bức xúc trước những hành động đàn áp, khủng bố của nhà cầm quyền Việt Nam, nhà văn Trần Mạnh Hảo trong một bức thư gửi cho cơ quan an ninh với những lời đanh thép như sau:

“Ðơn cử vụ anh em an ninh ta đang khủng bố dã man năm nhà dân chủ ở Hà Nội chuẩn bị ra tờ báo Tự Do Dân Chủ là các vị: Hoàng Tiến, Nguyễn Khắc Toàn, Nguyễn Văn Ðài, Dương Thị Xuân, Bạch Ngọc Dương... vì họ có tội làm đúng hiến pháp là thực thi quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do thông tin...” (Ðàn Chim Việt online ngày 31-82006)

Giáo sư tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang quá phẫn uất trước một chính quyền man rợ mà trước đây ông đã tham gia gầy dựng nay đã phản lại dân tộc nên ông đã can đảm lập ra tờ bán nguyệt san “chui” mang tên Tổ Quốc, sở dĩ chui là vì Nguyễn Tấn Dũng cấm ra báo tư nhân. Vì tờ báo này mà tiến sĩ bị làm khó dễ đủ điều, và quá bực tức ông nói:

“Ðã một lần bị bỏ tù 1999, gần chục lần bị lục soát khám xét nhà cửa tanh bành và bắt đi thẩm vấn. Ngắn là vài buổi, dài là mươi ngày. Rồi bị đem ra phường đấu tố, rồi bị người ta thuê côn đồ mang danh thương binh xông vào nhà chửi bới và đe dọa hành hung...

Vậy mà họ vẫn nhục mạ, vẫn đày dọa, khủng bố tinh thần tôi đằng đẵng.” (www.nguyenthanhgiang.com, online ngày 4-2-2010)

Tiếp bước cha, anh, những người trẻ trí thức Việt Nam hôm nay cũng từng đấu tranh, từng vào tù ra khám, từng bị bao vây, trù dập, khám xét nhà một cách vô luật lệ, một nước chỉ áp dụng cường quyền chứ không có pháp quyền. Bác sĩ Phạm Hồng Sơn, một gương đấu tranh bị nhiều bức bách lên tiếng:

“Tôi không phải là người đầu tiên và duy nhất bị khủng bố tinh thần bằng lực lượng ‘cựu chiến binh’ đến tận nhà. Tôi chỉ là người tiếp bước và tiếp tục phải chịu đựng một phần những gì mà những vị đấu tranh tiền bối cho cái đúng, cái thiện phải trải qua. Những vị đó trước đây còn ở trong những bối cảnh khắc nghiệt và ghê rợn hơn nhiều ngày nay.” (Hưng Việt online ngày 24-3-2010)

Luật sư Lê Thị Công Nhân, một nữ anh thư xứng đáng là con cháu Bà Trưng, Bà Triệu đã đấu tranh kiên cường bất khuất, thà ngồi tù chứ không chịu đi nước ngoài. Mãn hạn tù vẫn còn khí khái tiếp tục đấu tranh. Thế thì khi ra khỏi nhà tù nhỏ cô còn phải sống trong cại địa ngục chung với 85 triệu đồng bào khốn khổ, cô chưa có được quyền công dân nên mọi hành động đều bị theo dõi, bị rào đón, hăm dọa, khủng bố đủ điều. Cô bị ngăn chận và bắt lôi đi không cho gặp hai người bạn ở quán cà phê quá bức xúc cô nói:

“Họ bảo mình đi theo họ, mình không chịu đi. Thế là nói một lúc, cả 5-6 người đồng thanh lao vào túm chặt mình lôi đi. Mình gào khóc ầm ĩ uất ức không chịu được, mình giãy giụa khiến bàn ghế lật tung...”

“Họ kéo mình ra xe, lôi dốc đầu xuống đất xềnh xệch như một con vật vậy đó! Lúc tống vào xe còn đè mình xuống để không ai nhìn...”

“Bây giờ hai bả vai đau nhức lắm, nhất là bên trái, về nhà cầm chén cơm cũng mỏi dừ luôn! Mình ráng ăn một chén cơm nhưng đau vai và mệt quá nên cũng chẳng muốn ăn nữa.” (Ðàn chim Việt online ngày 30-5-2010)

Chẳng những đối xử tàn bạo với những nhà đấu tranh vì dân chủ, bọn cầm quyền còn hung tợn, tác oai cướp đất, cướp của dân lành.

Chúng đã ngang nhiên lấy đất của dân bán cho bọn tư bản đền bù với giá rẻ mạt, nhân dân không đồng ý thì chúng dùng công an, dùng bọn côn đồ xã hội đen trấn áp dân chúng:

“Sau khi cảnh đàn áp thương vong có liên quan vấn đề cưỡng chiếm đất đai diễn ra ở Nghi Sơn, Thanh Hóa gần đây, thì không khí khủng bố tiếp tục bao trùm người dân địa phương ấy, nhất là thân nhân của các nạn nhân.” (RFA online ngày 10-6-2010)

Ngoài ra CSVN còn khủng bố các tín đồ tôn giáo như:

- Mục sư Nguyễn công Chính trả lời cuộc phỏng vấn của Pv Việt Hùng đài RFA ngày 17-9-2006. Công an tỉnh liên tục tra vấn, hành hung và thậm chí lột truồng mục sư Chính trước mặt nhiều người, nam có nữ có, ông nói như sau:

“Ðến 12 giờ trưa thì các ông Nguyễn Hữu Chẩn và bà Võ Thị Hiền (thiếu tá công an) kêu 4 người xã hội đen vô, rồi dữ dằn lắm, ra lệnh ‘lột truồng’ tôi và những người xã hội đen này bóp vô ‘chỗ kín’ của tôi... Lúc đó tôi la lên, tôi nói sao các anh lại bóp vô ‘chỗ kín’ của tôi thì họ cười cợt, tỏ vẻ thích thú.” (RFA online ngày 28-92006)

Cùng một hành động mất phẩm giá của con người, những tăng sinh Làng Mai bị bôn cường quyền đuổi ra khỏi chùa Bát Nhã, cũng bị hành hung một cách tàn bạo, cũng bị “bóp” theo lời kể của thầy Pháp Tụ trả lời Pv Mặc Lâm đài RFA:

- Họ nắm đầu, nắm cổ (mấy thầy) kéo giựt ra ngoài sân rồi họ kêu là mình phải đi, chớ không đi là bây giờ xe đã tới rồi. Họ chửi bới, họ dọa nạt, họ hăm dọa, rồi mình thấy được là các anh an ninh đứng quay phim trước mặt mình. Họ cũng cố tình họ bắt các vị lớn để ra đi. Họ xúc lên xe...

- Tôi thấy là những anh côn đồ được sự hướng dẫn của các anh bên công an vô bắt chúng tôi ra. Và trong lúc các anh dằn xé thì tôi thấy được là có một anh công an đạp vô ngực tôi. Họ kêu luôn cả những người phụ nữ vô bóp những phần chính của chúng tôi, và họ xúc chúng tôi lên xe.

“Liên quan Công Giáo, người ta vẫn còn nhớ rõ công an dùng võ lực giải tán các cuộc cầu nguyện quy mô tại giáo xứ Thái Hà ở Hà nội hồi tháng 9-2008, mở đường cho đông đảo phần tử côn đồ, xã hội đen đến đập phá khu linh địa Ðức Bà đền Thánh Giê-Ra-Ðô sát bên nhà thờ Thái Hà, bao vây tu viện dòng Chúa Cứu thế trước sự chứng kiến thản nhiên của lực lượng hùng hậu công an, cảnh sát cơ động”. (RFA online ngày 28-9-2009)

Những hành động khủng bố kể trên chỉ nhằm mục đích dọa nạt, trấn áp, bỏ tù những ai mà đảng cộng sản thấy là bất lợi cho sự tồn vong của họ. Nhưng việc gì đến cũng sẽ đến.
caubennoc
Posts: 553
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:43 pm
Contact:

Post by caubennoc »

Image

Mỹ điều tàu ngầm để thị uy
Hiện diện chưa từng chứng kiến của loạt tàu ngầm Mỹ

Tin cho hay, trong một diễn biến ít ai biết tới, ngay trước khi Trung Quốc loan báo tập trận tại Đông Hải (30/06-05/07) , Mỹ đã điều ba tàu ngầm tới các cảng ở châu Á-Thái Bình Dương.

Tờ Bưu điện Hoa Nam Buổi sáng (South China Morning Post) xuất bản tại Hong Kong nói hôm thứ Hai 28/06, ba tàu ngầm thuộc loại lớn nhất trong Hạm đội 7 của Mỹ được điều động trong màn thị uy "chưa từng thấy kể từ cuối Chiến tranh lạnh".

Đó là các tàu USS Michigan, được điều tới Pusan, Hàn Quốc; tàu USS Ohio tới Vịnh Subic của Philippines; và tàu USS Florida tới Diego Garcia trong Ấn Độ Dương.

Việc điều động này được nhận xét là chỉ dấu cho thấy sự leo thang trong hoạt động dưới đáy biển ở Đông Á.

Báo Hong Kong cho hay ba tàu ngầm hạng Ohio này vừa được nâng cấp từ sử dụng hỏa tiễn mang đầu đạn hạt nhân chuyển sang dùng các vũ khí tối tân hơn như thiết bị do thám hiện đại và số lượng lớn tên lửa Tomahawk chuyên tấn công các mục tiêu trên mặt đất.

Tổng số tên lửa mà ba tàu này mang trên mình lên tới 462 chiếc Tomahawk.

Một quan chức quốc phòng hoạt động lâu năm ở Á châu được trích lời nói đây là lượng hỏa lực vô cùng lớn.

Quan chức giấu tên này nói: "Đây là dấu hiệu nữa cho thấy Hoa Kỳ đang kiên quyết duy trì vị thế thống lĩnh về quân sự ở châu Á. Làm động tác này lộ liễu như vậy, Mỹ muốn chuyển thông điệp cho Bắc Kinh và các nước khác, kể cả đồng minh lẫn không đồng minh."

Bắn đạn thật

Trung Quốc đã tiến hành tập trận bắn đạn thật tại khu vực Đông Hải trong sáu ngày, bắt đầu từ thứ Tư 30/6.

Có đồn đoán nước này đem vào thử nghiệm loại tên lửa đạn đạo chống tàu chiến tối tân nhất mà chưa quốc gia nào sử dụng.

Báo Bưu điện Hoa Nam nhận định rằng quyết định của Mỹ, đưa ra chỉ trước đó hai ngày, có thể là phản ứng của Washington trước quan ngại của các nước láng giềng trong khu vực, vốn đã "kín đáo yêu cầu Mỹ có hành động trước thái độ ngày càng mạnh bạo của hải quân Trung Quốc tại Đông Á".

Một quan chức ngoại giao được dẫn lời nói: "Nhật Bản, Nam Hàn, Indonesia, Việt Nam, Malaysia, Singapore và Australia - tất cả các nước này đều đã nhiều lần phản ánh quan ngại của mình đằng sau hậu trường."

"Không có chủ đề nào "nóng" hơn câu chuyện về tham vọng hải quân của Trung Quốc."

Tại Washington thì đang xuất hiện quan ngại về lượng hỏa tiễn ngày càng lớn ở Đông Á.

Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ ước tính rằng Trung Quốc đã tăng con số tên lửa đạn đạo tầm ngắn và tên lửa hành trình chuẩn xác.

Báo cáo mới nhất của bộ này về quá trình hiện đại hóa quân đội Trung Quốc cho hay con số tên lửa tầm ngắn ghi được vào cuối tháng 9/2008 là từ 1.050 tới 1.150, nay tăng 100 chiếc/năm, tập trung vào Đài Loan.

Trong cuộc tập trận mới kết thúc, giới quan sát nói có thể Bắc Kinh mang ra thử nghiệm loại tên lửa đạn đạo có tên gọi là "sát thủ của hàng không mẫu hạm" (aircraft carrier killer).

Được bắn đi từ bệ phóng lưu động, loại hỏa tiễn này có sức công phá rất lớn và sẽ khiến Hoa Kỳ phải cân nhắc lại hoạt động của các hàng không mẫu hạm, nhất là số tàu mà nước này duy trì ở Hạm đội 7 tại Nhật Bản.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Cuộc trao đổi 'gián điệp' chớp nhoáng

Ngô Nhân Dụng

Tuần trước, bà con mình bận coi World Cup, chẳng mấy ai để ý đến vụ Mỹ và Nga trao đổi gián điệp, một vụ “đổi người” lớn nhất kể từ sau năm 1985 khi Mỹ trả 4 tay gián điệp Nga để đổi lấy tự do cho 25 tù nhân bị giam giữ ở Ba Lan và Ðông Ðức. Lần này, chính phủ Nga trả tự do cho 4 người Nga đang bị giam ở nước Nga để đón về 10 tay gián điệp bị bắt ở Mỹ (một tay khác đã trốn sau khi bị bắt ở Cypres), chỉ trong ba ngày sau khi đám điệp viên này bị bắt.

Gián điệp là nghề của Cộng Sản. Cơ quan mật vụ Cộng Hòa Nga bây giờ, viết tắt là SVR, là hậu duệ của KGB thời cộng sản. Gián điệp là nghề chính của cả đám lãnh tụ ở điện Kremlin, hồi xưa và bây giờ. Ông Vladimir Putin vốn là một sĩ quan KGB. Ông Larry Berman, tác giả cuốn sách về Phạm Xuân Ẩn có lần hỏi riêng: “Tại sao miền Nam Việt Nam không đặt được một tay gián điệp chiến lược nào cỡ như ông Ẩn tại miền Bắc?” Lý do chính vẫn là: Vì gián điệp là nghề của cộng sản, những người quốc gia chưa học được nghề đó trước khi thực sự đánh nhau. Hồ Chí Minh vốn là một tay gián điệp của Ðệ Tam Quốc Tế đưa sang Tầu hoạt động từ thời 1924. Sau đó Hồ Chí Minh còn tình nguyện làm gián điệp cho cả OSS, tiền thân của CIA Mỹ nữa. Mà các tổ chức tình báo, gián điệp của miền Nam thì đến sau năm 1955 mới ra đời, đâu có dịp nào gài người vào miền Bắc được?

Muốn biết có tay gián điệp chiến lược nào lọt vào guồng máy của Cộng Sản Việt Nam hay không thì phải hỏi Phòng Nhì của Pháp. Vì Phòng Nhì Pháp đã hoạt động trước khi Ðảng Cộng Sản Việt Nam ra đời. Phòng Nhì đã gài được Agent Pinot tức “đồng chí” Lâm Ðức Thụ vào các tổ chức cách mạng Việt Nam ở Tầu, Thụ làm việc với Hồ Chí Minh trong nhiều năm. Nhưng chính Hồ đã lợi dụng, tiết lộ cho Lâm Ðức Thụ tên họ và hình ảnh những thanh niên cách mạng Việt Nam được huấn luyện ở Hoàng Phố, nếu họ thuộc các đảng phái Quốc Gia và không chịu theo Hồ vào đảng cộng sản. Khi những người này vượt biên về nước thì công an Pháp cứ thế mà tóm từng người một. Lâm được trả tiền cũng chia cho, Hồ được lợi cả hai đường! Sau năm 1954, Pháp bất mãn phải rút khỏi Việt Nam, đâu có chia sẻ tin tức tình báo nào với Việt Nam Cộng Hòa? Ngay ông Phạm Xuân Ẩn, đã bị cảnh sát Pháp bắt giam ở Sài Gòn trước năm 1954 nhưng sau đó cảnh sát Sài Gòn không thấy hồ sơ nào về vụ đó cả! Cho nên muốn biết có tay gián điệp chiến lược nào đã được gài trong đảng Cộng Sản Việt Nam hay không, phải hỏi Phòng Nhì Pháp. Có thể những tay gián điệp đó hiện nay vẫn còn sống và đang ngồi trên một trong những chiếc ghế cao đâu đó!

Mười một tay gián điệp Nga, nam và nữ, bị FBI theo dõi từ nhiều năm, đến nay mới bị bắt. Họ đã được gài vào nước Mỹ để sinh sống như những người bình thường. Họ đi học, làm việc, mua nhà ở ngoại ô, mở công ty buôn bán, sống giả như vợ chồng, có con cái sinh ra ở Mỹ, họ là những gián điệp trường kỳ, có người lấy quốc tịch Mỹ (bà Anna Chapman, tức Anya Kushchenko, 28 tuổi từng lấy chồng người Anh năm 2002, mới bị tước bỏ quốc tịch Anh). Những gián điệp này đã làm quen với nhiều nhân vật trong chính giới Mỹ, các doanh nhân, và thiết lập các cơ sở kinh doanh bình thường. Cơ quan Ðiều Tra Liên Bang Mỹ (FBI) đã nghe trộm được những “chỉ thị” của trung tâm tình báo Nga gửi cho họ: Hãy lặn vào xã hội Mỹ thật sâu, tìm cách nghe ngóng tin tức về các chính sách lâu dài của nước Mỹ trong các vấn đề tài giảm vũ khí, bom nguyên tử, Iran, thay đổi trong CIA, bầu cử tổng thống, quốc hội, các đảng chính trị, cho tới thị trường chứng khoán, v.v... Có bà gián điệp Nga đã khai thuế cho chính phủ Mỹ với số lợi tức 135,000 đô la một năm. Bà Chapman làm chủ một công ty địa ốc quốc tế trị giá trên 2 triệu đô la. Chắc chắn chính phủ Mỹ không thể nào gài người vào làm gián điệp lâu dài ở Nga như vậy. Vì có người Mỹ nào muốn phí bỏ 20, 30 năm của cuộc đời mình, đi sống ở một nước xa xôi và nghèo như vậy hay không? Trong khi đó, sau khi chế độ cộng sản sụp đổ ở Tiệp Khắc, nhiều điệp viên xứ này đã từ chối không về nước mà xin ở lại Mỹ!

Trước khi các gián điệp Nga được trả về nước, báo chí ở Mát Cơ va không coi vụ trao đổi này là tin quan trọng; nhưng sau đó họ ồn lên những lời chỉ trích cơ quan mật vụ. Chỉ trích không phải vì việc đã gửi gián điệp viên sang Mỹ mà vì các gián điệp tồi quá, tài tử quá. Những gián điệp này bị đưa ra tòa ở Mỹ vì 2 tội: “làm việc cho một chính phủ ngoại quốc mà không khai báo” và tội “rửa tiền.” Nhưng không ai bị buộc tội làm gián điệp cả, bởi vì họ không bị bắt khi gửi một tin tức mật nào về Nga hết. Phần lớn các tin tức mà họ gửi về Nga, như tương lai giá vàng, dư luận sau cuộc bầu cử, có thể thu lượm được dù ngồi ở Mát Cơ Va vào Internet mà tìm!

Một công ty Mỹ báo cho FBI biết một điệp viên Nga (đang bị FBI theo dõi) đã gạ bán cho nhân viên của công ty một nhu liệu và trao cho để đem thử vào máy, nhưng nhân viên này từ chối. Té ra, nhiều công ty cũng đã báo cáo cho cảnh sát Mỹ rồi. Nếu đem thử nhu liệu này trong computer, máy này chắc sẽ bị “nghe trộm” mãi mãi. Một gián điệp Nga đã phải đem một máy lap top từ Mỹ, bay qua Roma, đổi passport giả khác, bay về Nga, để máy được trang bị lại, vừa đi vừa về mất 2 tháng. Một điệp viên khác đưa cái lap top cho bạn đồng sự và dặn dò: Nếu máy không chạy, sẽ gặp lại trong 6 tháng!

Một bà gián điệp điệp Nga mỗi Thứ Tư ra quán cà phê dùng lap top vào Internet gửi email về Nga qua các mạng thông thường, trong khi nhân viên FBI đứng ngoài đường đọc email mà bà ta đang viết! Bà đã nhờ một người bạn Mỹ sửa hộ máy lap top của mình, vì dùng nó để liên lạc về Nga trục trặc không gửi được! Bà từ chối không nghe theo đề nghị khi người này nói bà hãy đưa cho tòa lãnh sự Nga ở New York sửa, hoặc gửi về Nga sửa. Bà nói: Tôi cứ đưa cho anh sửa giúp là tiện nhất. Anh bạn này là một nhân viên chìm của FBI có nhiệm vụ theo dõi bà! Khi cảnh sát Mỹ đến khám ngôi nhà của một gián điệp, đã bắt được miếng giấy ghi mật mã (pass word) để mở được máy computer ra coi, nhờ thế kiếm được hàng trăm hồ sơ quan trọng, kể cả địa chỉ các web sites mà các gián điệp này dùng để gửi mật thư về Nga. Mật mã này dài đến 27 chữ, cho nên phải ghi lại trên giấy, rồi để miếng giấy tênh hênh trên bàn!

Trả lại cho chính phủ Nga những điệp viên như vậy là một cách “nhục mạ” giới lãnh đạo Nga, vì hầu hết các cộng sự viên của ông Putin đều xuất thân từ trường KGB! Nhưng nhiều người vẫn chỉ trích chính phủ Obama đã hành động quá vội vàng. Tổng Thống Obama được báo cáo về vụ này 2 tuần trước khi FBI chụp lưới bắt 10 điệp viên, ba ngày sau khi ông Obama tiếp Tổng Thống Nga Dmitry Medvedev. Sau đó chính phủ Mỹ đã đề nghị ngay việc trao đổi. Chính phủ Nga cũng đồng ý ngay. Trong lúc trao đổi vội vàng, một người bị oan ức là ông Igor Sutyagin. Ông bị cảnh sát Nga bắt năm 2004 vì cung cấp cho một công ty Anh Quốc một tài liệu mà ông cho là tin tức công khai, ai cũng có thể tìm ra. Nhưng Sutyagin vẫn bị gán tội làm gián điệp, bán tin tức quốc phòng, vân vân. Từ 6 năm nay ông vẫn tuyên bố mình vô tội. Nhưng nay ông bị ép buộc phải ký giấy nhận tội gián điệp trước khi được trả cho chính phủ Mỹ!

Ðiều ngạc nhiên trong vụ này là cả 11 “gián điệp” Nga không ai bị truy tố về tội làm gián điệp, mà tại sao chính phủ Nga vẫn vội vàng chấp việc nhận trao đổi? Ðiều này chứng tỏ họ không muốn bị mất mặt. Vì nếu 10 điệp viên này bị đưa ra tòa, báo chí tới nghe các lời chứng của nhân viên cảnh sát Mỹ thì cảnh tượng đó sẽ bêu riếu cả nghề tình báo của các cựu sĩ quan KGB! Thà rằng đón bọn này về trong lúc cả thế giới đang mãi coi World Cup, không ai chú ý tới, thì đỡ xấu hổ hơn!
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

Chuẩn bị nhân sự Đại hội Đảng lần thứ 11 trong căng thẳng


Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 11, còn gọi là Đại hội đại biểu toàn quốc, dự trù sẽ được tổ chức vào đầu xuân 2011. Từ đây đến đó còn hơn một năm nhưng cuộc vận động tìm nhân sự để đưa vào ban chấp hành trung ương đảng, tiếp theo là bộ chính trị, đã diễn ra khá rộn rịp từ năm 2009 đến nay vẫn chưa ngã ngũ. Tất cả những nhân vật có tên tuổi trong đảng, nhất là trong bộ chính trị và ban chấp hành trung ương đảng, đều để lộ dấu hiệu muốn được đề cử vào những chức vụ cao hơn.
Cao hơn là những chức nào? Đó là được hiện diện trong bộ chính trị, kế là trong ban chấp hành trung ương đảng, sau cùng là trong chính phủ và các ban ngành chủ yếu tại địa phương. Muốn đạt những chức vụ đó, phải là đại biểu hiện diện trong đại hội này.

Những đấu đá nội bộ

Sau hai năm vận động, tìm kiếm và sắp xếp nhân sự vào ban chấp hành trung ương đảng, 1.176 đại biểu đại diện cho 3,1 triệu đảng viên đã được mời tham dự Đại hội đảng cộng sản lần thứ 10 năm 2006 để bầu 160 uỷ viên chính thức và 21 uỷ viên dự khuyết vào ban chấp hành trung ương, 15 thành viên trong bộ chính trị và 8 thành viên vào ban bí thư bộ chính trị. Số lượng đại biểu tham dự đại hội và số uỷ viên trong ban chấp hành trung ương và bộ chính trị năm 2011 chắc chắn sẽ được giữ nguyên như năm 2006.

Cũng nên biết dưới các chế độ cộng sản, đảng cộng sản độc quyền lãnh đạo đất nước, do đó các chức vị cao nhất đều nằm trong tay những người lãnh đạo đảng cộng sản. Trong thời chiến, đây là những chức vụ đầy quyền năng, những người lãnh đạo có quyền sinh sát đối với mọi người, kể cả những người trong đảng và trong quân đội, do đó rất được nể sợ. Trong thời bình, đây là những chức vu béo bở nhất, những người lãnh đạo có toàn quyền ban phát chức tước và bổng lộc cho thuộc cấp và thân tín, bù lại họ được đền đáp xứng đáng. Hiện nay Việt Nam không có chiến tranh nên chức vụ càng cao bổng lộc càng nhiều.

Nhìn lại những cấp lãnh đạo cao cấp nhất trong đảng cộng sản Việt Nam hiện nay, không ai về hưu trong sự thanh bạch. Tất cả đều có những cơ ngơi đồ sộ mà với đồng lương chính thức khi còn tại chức không thể nào gầy dựng nổi. Đó là chưa kể những tài sản đã được chuyển ra nước ngoài hay những dễ dãi và bổng lộc mà họ hàng thân thuộc được hưởng theo.

Chính vì thế, cứ mỗi 5 năm, được đề cử làm Đại hội đại biểu toàn quốc, cơ quan quyền lực cao nhất của đảng cộng sản, là một dịp may hiếm có. Chỉ những bí thư thành uỷ, tỉnh uỷ lớn, các cấp chỉ huy quân đội và công an cao cấp hoặc là những đảng viên có nhiều thành tích trong đảng và nhà nước mới được tham dự. Vì sau khi đại hội bế mạc, những người này hoặc được đề cử để nắm những chúc vụ cao cấp trung ương hoặc về lại địa phương, cơ quan hay đơn vị đảm nhiệm với những quyền hành và quyền hạn lớn hơn, nguồn thu nhập nhờ đó cũng lớn theo chức vụ và bổng lộc mang lại.

Một thói quen bất thành văn, một thông lệ thì đúng hơn, là trong cuộc chạy đua được mời tham dự đại hội đại biểu toàn quốc này, mọi đòn phép đều được tung ra để hạ đối phương trước ngày khai mạc. Trái với suy tưởng của nhiều người, nội bộ đảng cộng sản đã không đoàn kết và nhất trí như bề ngoài được sơn phết. Những cuộc đấu đá, đánh phá hay thanh toán lẫn nhau xảy ra thường xuyên, nhưng không được để cho dư luận bên ngoài hay biết. Ai vượt lằn ranh đỏ này, tương lai và sự nghiệp coi như mất trắng. Trong quá khứ đã có rất nhiều người chết đột ngột vì “trúng gió” hay bị “tai nạn” máy bay và xe hơi, một số phải về hưu non trong ngậm ngùi. Chính vì thế, mọi người đều đề phòng mọi người, không ai tin ai và cũng không ai nghe ai. Những phe cánh, nếu có, chỉ là những kết hợp giai đoạn để đối phó với một đe doạ chung, và phần lớn đều vì quyền lợi. Mà quyền lợi ở đây đôi khi rất nhỏ nhen, như một căn nhà, một căn phố ở một nơi có trị giá kinh tế cao, hay một chức vụ có thể mang lại nhiều bổng lộc riêng.

Trở về nhân sự đại hội, nếu quan sát kỹ, người ta thấy từ năm 2009 đến nay đã có những tiết lộ về đời tư hay thành tích của một số nhân vật lãnh đạo được phổ biến rộng rãi trên các phương tiện truyền thông trong và ngoài nước. Cụ thể hơn, đó là những tin tức liên quan đến những nhân vật cao cấp nhất trong bộ chính trị, đặc biệt là những người đã hoặc sẽ nắm các chức vụ tổng bí thư đảng, thường trực bộ chính trị, chủ tịch nước, thủ tướng, chủ tịch quốc hội, tổng tư lệnh quân đội, bộ trưởng công an và các chức vụ quan trọng khác.

Không phải tình cờ dư luận trong và ngoài nước được dịp trầm trồ hay ganh tị với sự xa hoa của những cấp lãnh đạo cao nhất nước. Chỉ những người làm việc trong nội bộ đảng mới có cơ hội chụp ảnh, quay phim và biết rõ về đời tư của từng cán bộ cao cấp nhất trong đảng và nhà nước. Chẳng hạn như hình ảnh nhà thờ họ của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trên đường Nguyễn Trung Trục tại thị xã Rạch Giá (Kiên Giang), nhà nghỉ mát của con gái thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ở Hòn Chồng (Nha Trang), tin tức về con trai của ông du học bên Mỹ, v.v. Nhưng sững sờ nhất khi xem những băng video Youtube về trình độ kém cỏi của chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết trên các diễn đàn quốc tế được phổ biến rộng rãi trên mạng internet, ai cũng lắc đầu tặc lưỡi chán ngán cho trình độ của người đại diện quốc gia. Cũng may là trong đại hội đảng lần thứ 11 sắp tới, đương kim tổng bí thư Nông Đức Mạnh muốn ngưng cộng tác nên những đối thủ của ông đã không khai thác và làm rùm beng lý lịch, tài sản và những hoạt động phi chính trị của ông tại nơi sinh quán.

Qua những tiết lộ trên, từ giữa năm 2009, uy tín và uy thế của hai ông Nguyễn Minh Triết và Nguyễn Tấn Dũng trong đảng xuống rất thấp. Người ta cho rằng hai ông được đỡ đầu nên mới mau thăng quan tiến chức và nắm giữ những địa vị cao nhất trong đảng và nhà nước. Người đỡ đầu là ai? Cả nước đều biết đó là cựu chủ tịch nước Lê Đức Anh, cụu tổng bí thư Đỗ Mười và cố thủ tướng Võ Văn Kiệt. Có người còn nói hai ông là con ruột chứ không phải con đỡ đầu của đại tướng Lê Đức Anh, v.v. Nhắc đến Lê Đức Anh, mọi đảng viên đều kính nể vì ông là một vị tướng xông pha trên các chiến trường, đã từng đứng trước lằn tên mũi đạn. Tiếng nói của ông do đó rất có trọng lượng.

Thật ra nếu không có bộ ba Lê Đức Anh, Đỗ Mười và Võ Văn Kiệt, không biết tình trạng đấu đá giữa những đảng viên miền Nam và miền Bắc trong nhiệm kỳ đảng lần thứ 10 vừa qua đã như thế nào. Nhưng qua sự đỡ đầu này, tất cả những chức vụ cao nhất và quan trọng nhất đều nằm trong tay người miền Nam: chủ tịch nước, thủ tướng, thường trực bộ chính trị, bộ trưởng công an, phó thủ tướng đặc trách nội chính, một số tướng lãnh trong quân uỷ, v.v.

Nhưng Lê Đức Anh năm nay đã 90 tuổi, quỹ thời gian không còn nhiều. Đồng minh của ông là cựu tổng bí thư Đỗ Mười tuổi đã cao và cũng gần đất xa trời. Ông Võ Văn Kiệt thì đã ra đi vĩnh viễn từ giữa năm 2008. Trước những ngôi sao đang lu mờ này, nhiều thành phần đảng viên cao cấp miền Bắc công khai ngắm nghé những chức vụ cao nhất trong đảng và trong chính quyền. Nhưng đây là một trận tuyến mà mọi đối thủ sẵn sàng sát phạt nhau không thương tiếc, ai mất kiên nhẫn và để lộ tham vọng trước giờ G gần như đều bị loại. Nhiều người khôn ngoan hơn, cố gắng dàn xếp âm thầm trong nội bộ, nghĩa là thương lượng với những đối thủ khác về các chức vụ sẽ được bổ nhiệm trong nhiệm kỳ tới.

Lấy trường hợp của bí thư thành uỷ Hà Nội, Phạm Quang Nghị làm thí dụ. Từ hai năm trở lại đây, ông Nghị đã có những lời nói và hành động mà mọi người cho là muốn thay thế ông Nông Đức Mạnh để nắm chức vụ tổng bí thư trong đại hội đảng lần thứ 11 sắp tới. Thế là một mặt trận không tên được thành lập để đánh phá ông. Vì là bí thư thành uỷ Hà Nội, tất cả những gì xảy ra tại Hà Nội đều liên can đến uy tín của ông, chẳng hạn như vụ đập phá nhà thờ Thái Hà cuối năm 2008, và gần đây hơn là vụ phá sập thánh giá tại Đồng Chiêm đầu năm 2010. Hai vụ việc này, nếu có sai phạm, có thể giải quyết trong ôn hoà và trật tự, nhưng công an chống biểu tình và dân quân du kích đã được gởi tới đập phá để gây tiếng xấu cho thành uỷ Hà Nội là đàn áp tôn giáo, mà ông Phạm Quang Nghị là bí thư. Thế là ông Nghị hết hy vọng được đại hội bầu vào chức vụ tổng bí thư đảng khoá 11 sắp tới.

Tại những nơi khác cũng thế, tất cả những đảng viên có tiếng ở địa phương đều ngắm nghé các chức vụ tỉnh uỷ hay thành uỷ, vì đằng sau là những quyền lợi to lớn do mua quan bán chức hay do hoạt động kinh tế quốc doanh và tư doanh mang lại. Tại những vùng nghèo khó hơn, như Tam Toà tỉnh Quảng Bình, Dambri tỉnh Lâm Đồng, các cấp lãnh đạo địa phương cố tình chiếm giữ những mảnh đất mà họ cho rằng có thể phát triển du lịch trong tương lai, do đó đã bằng mọi cách ngăn cản không cho tu sửa nhà thờ Tam Toà và phát triển tu viện Bát Nhã. Những bí thư tỉnh uỷ hay thành uỷ địa phương này tha hồ làm mưa làm gió vì biết chắc rằng trung ương sẽ không làm gì được người ta vì đang cần họ để được ủng hộ vào các chức vụ cao hơn trong đại hội.

Cứng rắn với dân chúng để che giấu sự yếu đuối

Những chế độc tài đảng trị có một tật xấu chung là phải tỏ ra cứng rắn đối với dân chúng khi lo sợ hay yếu đuối.

Cứng rắn với những ai? Đó là những người biết suy nghĩ, dám nói lên những ưu tư của mình về hiện tình đất nước, dám phê bình sự sai trái của các cấp chính quyền. Nói chung, đó là những người tay yếu chân mềm, chỉ lấy trí óc làm sức mạnh, dùng ngòi bút làm vũ khí. Đàn áp những người này rất dễ vì họ không che giấu địa chỉ nơi cư trú và sẵn sàng bị còng tay để vào tù.

Từ năm 2008 đến nay, chính quyền cộng sản đã bắt giữ, giam cầm và xét xử hầu như tất cả những người bất đồng chính kiến với chế độ, bất kể là phụ nữ hay người già, sinh viên học sinh hay cựu quân nhân, cựu đảng viên hay thành phần trí thức. Tội của những người này chỉ là dám lên tiếng đòi tự do, dân chủ và nhân quyền, yêu cầu chính quyền bảo vệ lãnh hải và lãnh thổ, xác nhận chủ quyền của Việt Nam trên các hải đảo và quần đảo trên Biển Đông. Thật ra những đòi hỏi này cũng là lập trường của chính quyền cộng sản Việt Nam trên các diễn đàn quốc tế. Vấn đề của đảng cộng sản hiện nay là những gì họ nói trước dư luận quốc tế là giả còn những gì dân chúng trong nước đòi là thật, cho nên phải đàn áp. Tội danh mà chính quyền dùng để bắt bớ, giam cầm những người này là “tuyên truyền chống nhà nước, hoạt động lật đổ chính quyền nhân dân” để sau đó phạt tù theo bộ luật hình sự.

Những vụ đàn áp tôn giáo còn tệ hại hơn. Những tín đồ tôn giáo không hề chống chính quyền, họ chỉ phản đối khi bị chiếm đoạt hay phá hoại nơi thờ phượng, họ không muốn bị tước đoạt niềm tin. Nhưng các chính quyền địa phương bất chấp, trước khi đại hội đảng khai mạc vào đầu năm 2011 đây là cơ hội để họ tự tung tự tác để chiếm hữu tài sản và đất đai của nhà chùa và nhà thờ. Họ còn đem công an đến bao vây và quay phim. Để tránh bị mang tiếng đàn áp tôn giáo, họ còn đem xe đến chở những thành phần bất hảo, những tệ đoan xã hội bị công an khống chế để được tự do sinh hoạt bất hợp pháp, đến dẹp. Tình trạng này tương tự những vụ đấu tố thời kỳ Cải cách ruộng đất những năm 1953-1956, chính quyền vận động những thành phần bất hảo đến tố cáo, chửi bới, đánh đập và kết án những thường dân vô tội. Một hành động ném đá giấu tay mà chỉ những kẻ gian manh hay nhát gan mới làm.

Rất nhiều cán bộ và đảng viên đã rất muốn ra tay ngăn cản hay bênh vực những nạn nhân xấu số kia, nhưng đa số đều bỏ cuộc vì sợ mất đặc quyền đặc lợi. Những hành động này có thể thấy qua những góp ý trên mạng internet sau những bài phóng sự hay tường thuật về các vụ giải tán biểu tình và xử án trong các phiên toà được phổ biến trên các đài phát thanh Việt ngữ ở hải ngoại.

Một hiện tượng trấn áp khác là gần đây các trang nhà (homepage) trên mạng (website) của những tổ chức đối lập hay văn hoá đều bị đánh phá. Có trang nhà còn bị cướp luôn tên miền (domain) như Danchimviet, Osin, Bauxite. Nhiều trang nhà khác bị phá hoại thường xuyên. Chính quyền cộng sản Việt Nam, qua Tổng cục an ninh nội địa và Cục kỹ thuật nghiệp vụ ngoại tuyến của Bộ công an, đã ráo riết sử dụng những phương tiện hiện đại dò tìm mã số để xâm nhập và xoá những bài viết bất lợi cho chính quyền, hay chép nội dung của chính quyền vào trang nhà như trường hợp của Saigonbao.com để bôi nhọ. Mỗi ngày, bộ phận dò tìm mã số tự động của bộ công an tấn công liên tục những trang nhà đối lập với chế độ.

Thế cờ đang đảo ngược

Trong cuộc tranh giành quyền lực nội bộ này, trung ương đảng cộng sản Việt Nam không muốn người ngoài can thiệp vào, kể cả những thế lực nước ngoài. Những ai tin rằng có sự nhúng tay của Bắc Kinh vào việc chọn lọc người vào những chức vụ cao trong đảng cộng sản Việt Nam là không đúng. Khuynh hướng chống Trung Quốc rất mạnh và Bắc Kinh biết rất rõ điều này vì gián điệp của họ có mặt khắp nơi trong guồng máy đảng và nhà nước. Điều mà Bắc Kinh có thể áp dụng được là ve vãn những cấp lãnh đạo đảng cộng sản về sự hợp tác song phương và gác lại những tranh chấp trên Biển Đông, ít nhất cho đến ngày danh sách nhân sự mới của ban chấp hành trung ương đảng cộng sản Việt Nam được công bố. Đây là giai đoạn mà những ứng cử viên vào các chức vụ cao, không còn bị ràng buộc vào những quan hệ với Trung Quốc, tha hồ vận động.

Trong cuộc vận động này, có hai nhóm tích cực nhất. Đó là nhóm của đương kim thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và nhóm của đại tướng Phùng Quang Thanh trong quân đội. Trên các trang nhà do chính quyền cộng sản phát đi, hình ảnh và các bài viết về thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng xuất hiện khắp nơi. Hôm nay ông có mặt ở hội nghị thượng đỉnh này, ngày mai ở hội nghị quốc tế kia, ngày nọ đến vùng này, ngày kia họp báo ở thủ đô, v.v. Sự hiện diện thường trực của ông che lấp sinh hoạt của những nhân vật khác. Không ai biết những ông Nông Đức Mạnh, Nguyễn Minh Triết ở đâu và đang làm gì. Ông Trương Tấn Sang một thời được dư luận dự đoán sẽ giữ chức tổng bí thư thay ông Nông Đức Mạnh biến mất trong hậu trường. Những mầm non đang lên như Nguyễn Văn Chi, Tô Huy Rứa cũng im bặt. Báo Công An cũng chỉ đăng tin về thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Nhiều tin đồn đảng cộng sản Việt Nam, bắt chước đảng cộng sản Trung Quốc, sẽ kết hợp chức vụ tổng bí thư đảng và chủ tịch nước thành một để có tiếng nói mạnh hơn, mà Nguyễn Tấn Dũng là người có nhiều triển vọng nhất.

Cái mới của đại hội sắp tới là sự hiện diện đông đảo của quân đội trong các chức vụ cao nhất. Ngay từ bây giờ, trên trang nhà của báo quân đội điện tử, người ta thấy hôm nay ông tướng này đi thăm vùng biên giới này, ngày mai ông tướng nọ đi thăm hải đảo kia, v.v. Đó là chưa kể những tin tức và hình ảnh đại tướng Phùng Quang Thanh, bộ trưởng quốc phòng, đi khắp nơi trên thế giới để vận động hợp tác quân sự. Điều này cho thấy phe quân đội trở nên tích cực hơn trong nội bộ đảng cộng sản, nhất là sau khi thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố đặt mua một số lượng vũ khí chiến lược hiện đại lớn nhất từ Nga.

Trong những ngày sắp tới, dư luận có thể tiên đoán một liên minh giữa thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong chính phủ và đại tướng Phùng Quang Thanh trong quân đội để nắm quyền lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam trong đại hội đại biểu toàn quốc sắp tới.

Nguyễn Văn Huy
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Trương Văn Sương là một anh hùng
Thursday, July 15, 2010


Ngô Nhân Dụng


Người tù chính trị Trương Văn Sương là một anh hùng. Lịch sử Việt Nam sẽ ghi tên anh như kiểu mẫu một người tranh đấu cho dân tộc được tự do từ thế kỷ 20 sang tới thế kỷ 21. Cho tới hôm nay, ở tuổi 67, anh đã sống trong tù một nửa đời người vì lý tưởng tự do dân chủ. Chúng ta phải gọi anh Trương Văn Sương là anh hùng, vì trong suốt những năm tháng đó, anh chứng tỏ một tinh thần bất khuất, không khác gì những nhà cách mạng như Tiểu La Nguyễn Thành, Ngô Ðức Kế, Ðặng Thái Thân, Phan Bội Châu, trong thập niên đầu thế kỷ trước. Tuy nhiên, anh Sương bị tù đầy lâu hơn nhiều so với các vị tiền bối kể trên.

Ngày hôm qua Trương Văn Sương đã về đến thị xã Sóc Trăng, sau một cuộc hành trình gần 2000 cây số kéo dài hơn 80 tiếng đồ hồ, được nghỉ hai đêm ở Ðà Nẵng và Sài Gòn, từ bệnh viện Phủ Lý miền Bắc vào tới một thị xã ở gần mảnh đất cuối cùng ở miền Nam. Nhiều người Việt Nam, ở trong nước và hải ngoại đã khóc khi nghe tin, và nhất là khi được nghe giọng nói bình thản của anh trên các làn sóng. Phương tiện truyền thông hiện đại đã nối liền trái tim, khối óc, cũng như tiếng thổn thức của hàng triệu người Việt trên khắp thế giới. Trước đó cũng nhờ kỹ thuật thông tin hiện đại mà hàng triệu người đã được đọc câu chuyện đời anh, nhất là thái độ bất khuất và những cuộc tranh đấu không ngừng nghỉ của anh trong lao tù, do các bạn tù cũ kể lại, như Linh Mục Nguyễn Văn Lý, nhà báo Nguyễn Khắc Toàn, vân vân.

Theo lời anh Trương Văn Sương kể với báo Người Việt: “Cứ sáu tháng thì tôi phải bị cùm, bị biệt giam kỷ luật một lần. Mỗi năm tôi bị bắt đi hai lần như vậy. Lý do là vì họ bắt tôi phải viết lại bản kiểm điểm vì bản kiểm điểm của tôi họ không vừa lòng.

“Họ không vừa lòng ở điểm nào, thưa ông?”

“Trương Văn Sương: Bản kiểm điểm của tôi viết như vầy: ‘Chúng tôi khẳng định rằng chúng tôi vô tội và chúng tôi là những người có công với đất nước. Chúng tôi đã đem mồ hôi xương máu xây dựng và đấu tranh cho nhân quyền, tự do dân chủ cho Việt Nam. Còn với những người có tội thì chính đảng Cộng Sản Việt Nam mới là người có tội. Bằng chứng là các cuộc cải cách ruộng đất đã giết chết bao nhiêu người vô tội tại miền Bắc. Sau đó năm 1975, một lần nữa sau khi chiếm được miền Nam họ đã làm kiệt quệ kinh tế bằng các cuộc cải tạo tư sản. đánh tư bản, đẩy dân đi kinh tế mới, gây cho hàng triệu người vượt biên trong đó hàng trăm ngàn người đã chết. Họ đã buộc hàng trăm ngàn sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đi cải tạo và có biết bao người chết mà không biết thân xác bị vùi dập nơi đâu. Cán bộ thì tham nhũng, thối nát, hiếp đáp dân chúng trong hàng chục năm qua nhưng lại hèn nhát cúi đầu trước các vụ lấn đất, lấn biển của ngoại bang. Hoàng Sa, Trường Sa không được bảo vệ khiến đất nước cha ông đã và đang rơi vào tay quân giặc.’”

Có thể coi những lời trên là một bản tuyên ngôn của tất cả các chiến sĩ người Việt đang tiếp tục đấu tranh cho tự do dân chủ, ở khắp thế giới, nhất là những người còn đang bị tù đầy.Trương Văn Sương có thể đọc lại nguyên văn “bản kiểm điểm” qua điện thoại cho cho phóng viên Người Việt ghi, vì anh đã thuộc lòng những “lời khai thành khẩn” đó, sau bao nhiêu lần viết đi viết lại.

Các cựu tù nhân chính trị cùng sống với Trương Văn Sương trong trại giam cho biết bốn ngàn người trong nhà tù Nam Hà đều công nhận Trương Văn Sương là một anh hùng. Vì “anh ta có một khí phách đấu tranh rất can đảm rất dũng cảm, bất khuất,” như lời Nguyễn Khắc Toàn nói. Nhưng khi trả lời cuộc phỏng vấn của báo Người Việt, Trương Văn Sương đã từ chối danh hiệu đó, “anh em đều cho tôi là người anh hùng, nhưng tôi không dám nhận danh từ này,” Trương Văn Sương khiêm tốn nói.

Trong cuộc đối thoại trên với Nguyễn Nam Phong trên Diễn Ðàn Dân Chủ, Trương Văn Sương nói ông vẫn “chưa thoát khỏi vòng kim cô” vì ông chỉ được tạm tha, đình hoãn không ở tù để về nhà chữa bệnh; mà theo ông nghĩ thì chắc Việt Cộng sợ ông chết trong tù chúng mang tiếng. Linh Mục Nguyễn Văn Lý khi được đưa về Tổng giáo phận Huế vào tháng 3 năm 2010 cũng với lý do tạm hoãn thi hành án để chữa bệnh. Theo lệnh của Tổng Cục An Ninh, Bộ Công An tại Hà Nội thì ông Trương Văn Sương chỉ được trả tự do “tạm.” Khi được Việt Cộng đưa về tận nhà, có bác sĩ đi theo dọc đường, tới nhà mình ông mới biết cái lệnh quái gở đó.

Nhà báo tự do ở Hà Nội, ông Nguyễn Khắc Toàn đã nhiều lần gọi ông Trương Văn Sương là Nelson Mandela của Việt Nam! Tính thời gian ở tù tổng cộng hơn 33 năm thì Trương Văn Sương bị mất tự do lâu hơn vị tổng thống đầu tiên của Cộng Hòa Nam Phi; tuy nhiên ông không phải là người lãnh đạo một phong trào chính trị lớn như ông Mandela. Trong 6 năm đi “tù cải tạo” và hơn 24 năm bị cầm tù sau cùng vừa qua, có thể coi Trương Văn Sương là một trong những “anh hùng vô danh,” một trong muôn ngàn chiến sĩ đã và còn đang tranh đấu cho quyền tự do dân chủ của dân tộc Việt Nam.

Theo một nguồn tin thì thân phụ Trương Văn Sương là người gốc Hoa, thân mẫu gốc Khmer, sinh ra, lớn lên Sóc Trăng. Nhà báo Hà Nội Nguyễn Khắc Toàn kể ông đã “làm bổn phận của một công dân với đất nước thời trai trẻ khi ông còn là một sĩ quan của quân lực Việt Nam Cộng hòa trong chiến tranh khi thể chế dân chủ này còn tồn tại trước ngày 30 tháng 4 năm 1975.”

Khi về đến nhà Trương Văn Sương mới biết người vợ thân yêu quý là bà Lê Thị Lệ đã qua đời vào năm 2007, và người con gái thứ 2, Trương Thị Diễm cũng đã mất vì bị bệnh. Nhìn vào những bức hình do cựu tù nhân chính trị Nguyễn Bắc Truyển chụp, chúng ta thấy hình ảnh Trương Văn Sương đang cúi đầu lễ trước bàn thờ người vợ quá cố, mà lần cuối cùng ra thăm chồng đã từ gần 10 năm trước. Cũng ta cũng nhìn thấy ngôi nhà tiều tụy mà các con anh đang sống, ai cũng phải mủi lòng trước hoàn cảnh nghèo nàn, giống như hàng triệu người Việt Nam khác đang sống ở những vùng như Sóc Trăng. Chúng ta phải cảm phục và kính trọng sự hy sinh lớn lao của Trương Văn Sương, vì dân tộc, vì lý tưởng hy sinh cả gia đình mình. Phải liên tưởng tới những vị anh hùng, các nhà cách mạng chống Pháp thế kỷ trước, như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh. Anh nói với báo Người Việt: “Tôi có ba con, hai trai một gái. Bảy cháu nội và hai cháu ngoại. Nhưng không có đứa nào đi học đàng hoàng cả. Ðó là nỗi đau nhất của tôi từ xưa tới nay. Nghèo quá mà làm sao đi học cho được. Hơn nữa, cha của tụi nó ở tù vì ‘tội phản cách mạng’ nên tụi nó đâu dám chường ra với người ta mà học hành đàng hoàng! Vừa nghèo vừa dốt nát! Kết quả sau bao nhiêu năm trong tù còn lại với gia đình tôi như thế.”

Có thể nói suốt cuộc đời của Trương Văn Sương là tranh đấu. Năm 1975, ông mang cấp bậc trung úy, làm chi khu trưởng trong tỉnh Ba Xuyên. Sau đó, ông bị đưa đi tù cải tạo sáu năm tại Quảng Bình. Ra khỏi trại, ông tìm đường vượt biên sang Thái Lan rồi tham gia tổ chức kháng chiến của ông Trần Văn Bá, Lê Quốc Túy và Hồ Thái Bạch, xâm nhập vào Việt Nam nhằm xây dựng những cơ sở đấu tranh vũ trang chống cộng sản; nhưng thất bại. Hơn 200 người trong tổ chức này bị bắt và bị giam trong nhiều nhà tù, nhiều người đã chết vì bệnh hoặc vượt ngục bị giết. Hai trăm vị anh hùng vô danh. Các ông Trần Văn Bá, Lê Quốc Túy và Hồ Thái Bạch đều bị cộng sản sát hại.

Khi Trương Văn Sương về tới nhà thì bao nhiêu bạn cũ và mới đã đến thăm, các nhà báo ở hải ngoại đã gọi điện thoại về. Những nhân vật đối kháng chế độ như cựu tù nhân chính trị Nguyễn Bắc Truyển thuộc Ðảng Dân Chủ Nhân Dân Việt Nam từ Sài Gòn; Nguyễn Ngọc Quang từ Ðồng Nai; Nguyễn Thu Trâm thuộc khối 8406 từ Sài Gòn đã tìm được địa chỉ về tận căn lều tồi tàn ở Sóc Trăng để chào đón, mừng ông trở về. Ðây có lẽ là một điều bất ngờ đối với một người tù trở về. Những cú điện thoại từ nước ngoài phỏng vấn cũng là một hiện tượng mới. Nhưng hầu như Trương Văn Sương không tỏ vẻ ngạc nhiên.

Cuộc đời Trương Văn Sương đang bước vào một giai đoạn mới. Các bạn tù cũ và các người đấu tranh cho dân chủ đã trình bày cho anh biết rõ trong 24 năm qua thế giới và đồng bào sống ngoài nhà tù đã thay đổi ra sao. Ðể anh biết công cuộc đấu tranh công khai được phát động từ hơn mười năm qua đã tiến triển như thế nào. Cả hệ thống xã hội chủ nghĩa tại Liên Xô đã tan rã nhanh chóng. Ðồng bào Việt Nam không sợ cộng sản nữa, đã đứng lên đình công, biểu tình đòi quyền lợi đất đai, đòi tự do tôn giáo, đòi bảo vệ tổ quốc, và đòi dân chủ. Giới trí thức văn nghệ sĩ ở khắp nước can đảm lên tiếng trên các mạng lưới, về những vấn đề lớn của dân tộc. Trong cuộc đấu tranh mới, vũ khí là các phương tiện kỹ thuật, như điện thoại di động, máy tính, Internet, ngòi bút, tiếng nói, báo chí tự do... vân vân. Trong cuộc điện đàm với Nguyễn Khắc Toàn, Trương Văn Sương tỏ ra ông đã biết và hiểu rõ ý nghĩa của tất cả các tin tức mới đó; cho thấy dù ở tuổi gần 70 và sau 33 năm tù, ông vẫn đầy phong độ của một cựu sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hòa.

“Và cuối cùng thì ước nguyện của ông đối với đồng bào, dân tộc như thế nào? Nhật báo Người Việt hỏi. “Tôi vẫn muốn dân tộc Việt Nam bây giờ nên hướng về tương lai. Nên đối xử với nhau trong tinh thần nhân đạo. Hãy để quá khứ về quá khứ.”

Chúng ta không được phép quên những người chiến sĩ khác còn đang trong tù ngục cộng sản, những chiến sĩ sau cùng vẫn tiếp tục cuộc chiến đấu. Theo lời cựu tù nhân Nguyễn Ngọc Quang thì còn một đại úy Việt Nam Cộng Hòa là Nguyễn Hữu Cầu, quê Kiên Giang, đang trở thành người tù chính trị lâu năm nhất sau khi Trương Văn Sương về nhà. Năm 1975 anh Cầu bị bắt đi “tù cải tạo” hơn 6 năm, đến cuối năm 1981 được về. Sống ở bên ngoài được đúng 1 năm thì bị bắt giam trở lại vì anh đã viết thư tố cáo những tội ác tày đình của các quan chức tỉnh Kiên Giang, quê hương anh. Bản tố cáo nêu rõ các tên này “phạm tội giết người diệt khẩu, buôn bán xì-ke, ma túy, lợi dụng chức quyền tham ô tham nhũng, hãm hiếp, giết người,” vân vân. Trong thời gian đó, Nguyễn Tấn Dũng là một quan chức công an cấp tỉnh, từng nổi tiếng làm giàu nhanh chóng qua việc bán bãi cho dân vượt biên, nay đang giữ chức thủ tướng. Một quan chức tỉnh Kiên Giang khác lúc đó là Lê Hồng Anh, đã leo lên đến chức bộ trưởng Bộ Công An, ủy viên Bộ Chính Trị. Hiện cựu Ðại Úy Nguyễn Hữu Cầu bị giữ trong khu tù chính trị Biệt Giam Riêng, phân trại K2, Z30A, Xuân Lộc, Ðồng Nai.

Tất cả chúng ta hãnh diện về những chiến hữu, Ðại Úy Nguyễn Hữu Cầu và Trung Úy Trương Văn Sương. Mong anh Cầu sớm được tự do và anh Sương sẽ được nghỉ ngơi dưỡng bệnh, các anh sẽ sống thêm vài chục năm nữa như anh Sương mới nói. Chắc chắn nước Việt Nam sẽ được sống trong dân chủ tự do. Các anh có lẽ không mong sẽ lên làm tổng thống như Nelson Mandela nhưng ít nhất các anh cũng sẽ được như những Andrei Sakharov hay Alexander Solzhenitsyn, họ đã từng bị chế độ Xô Viết bỏ tù, họ đã sống đủ lâu để chứng kiến cảnh dân tộc Nga thoát khỏi gông cùm cộng sản.
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Biển Đông và Tây Nguyên

Trần Khải
Có phải Hoa Kỳ đang dựng một vòng đai thép quanh Biển Đông để ngăn chận Trung Quốc, khi Ngoại Trưởng Hillary Clinton tới thăm nhiều nước Châu Á trong tuần tới, dự các hội nghị song phương và khối ASEAN, và gần như cùng lúc trong tháng này là cuộc tập trận hùng hậu của hải lục không quân Mỹ và Nam Hàn ở cả hai bờ bán đảo Triều Tiên, nghĩa là cả ở Biển Vàng (Yellow Sea) và Biển Nhật Bản (Sea of Japan)?

Nghĩa là, trong khi bà Hillary Clinton nói chuyện nhỏ nhẹ trong các bàn hội nghị để trấn an các nước nhỏ đang lo sợ thế lực Trung Quốc, thì bên ngoaì sẽ vang dội tiếng phi cơ siêu thanh gầm rú và tiếng bom dội ở các vùng biển gần Trung Quốc?

Và rồi Trung Quốc phản ứng ra sao? Chỉ một ngày sau khi Mỹ hiển lộ các kế hoạch diễn võ các vùng biển Châu Á Thái Bình Dương, thì rạng sáng Thứ Năm 15-7-2010 một taù lạ đã đâm chìm một taù cá của ngư dân Việt ở Biển Đông, và phải chăng đây là cú khều bực bội của chính phủ Bắc Kinh đối với kẻ đàn em Hà Nội đầy khả nghi?

Báo New York Times hôm 14-7-2010 loan tin rằng Mỹ và Nam Hàn sẽ tập trận chung ở Biển Vàng, như một đáp ứng với việc một tàu chiến Nam Hàn bị đánh chìm hồi tháng 3-2010, theo lời Pentagon. Bắc Hàn bị quy lỗi bắn chìm taù Nam Hàn, làm chết 46 lính thủy. Phát ngôn nhân Bộ Quốc Phòng Mỹ Geoff Morrell nói Mỹ vẫn tập trận bất chấp TQ bày tỏ quan ngại, “Đây là chuyện của khả năng chúng tôi tập trận ở vùng biển quốc tế. Quyết tâm tập trận naỳ do chúng tôi quyết định, và chỉ do chúng tôi thôi.” Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ Robert M. Gates và Ngoại Trưởng Hillary Rodham Clinton sẽ hoàn tất kế hoạch tập trận trong buổi họp với các vị tương nhiệm của họ ở Seoul tuần tới.

Ngôn ngữ như thế là ngang lắm, phảỉ không? Chúng tôi tập trận, bất kể quan ngại của ai, có phảỉ không?
Tạp chí Eurasia Review trong bài nhan đề “U.S. Risks Military Clash With China In Yellow Sea” (Mỹ Chấp Nhận Cơ Nguy Xung Đột Quân Sự với TQ ở Biển Vàng) đăng hôm Thứ Sáu 16-7-2010, trong đó nêu lên thực sự đây là cuộc biểu diễn sức mạnh quân sự đầy sóng gió.

Tập trận chung giữa Mỹ với Nam Hàn lần này “là ở cả 2 bờ của bán đảo Triều Tiên, không chỉ ở Biển Vàng như dự tính trước đây mà còn ở Biển Nhật Bản nữa.” Lại có nhập trận thêm của siêu hàng không mẫu hạm nguyên tử USS George Washington, nặng hơn 100,000 tấn với hơn 6,250 lính thủy và hơn 80 chiến đấu cơ...

Điều chúng ta cũng cần quan tâm là bản tin hôm Thứ Ba của AFP cho biết Ngoại Trưởng Hillary Clinton đã đón tiếp Ngoại Trưởng Lào Thongloun Sisoulith tại thủ đô Washington DC. Sisoulith là cán bộ Lào cao cấp nhất tới thăm Washington kể từ khi cộng sản Lào chiến thắng ở Laò năm 1975. Mỹ và Lào cam kết hợp tác nhiều phương diện.
Và rồi đaì VOA loan tin hôm Thứ Tư 14-7-2010, rằng hôm thứ tư Bộ Ngoại giao Mỹ phổ biến một thông cáo cho biết Ngoại trưởng Hillary Clinton sẽ đến thăm Việt Nam vào tuần tới.

Bản tin VOA viết, “Theo thông cáo, trong chuyến đi này bà Clinton sẽ hội kiến các nhà lãnh đạo cao cấp của Việt Nam để bàn về những vấn đề song phương và khu vực. Bà cũng sẽ tham dự một bữa tiệc đánh dấu kỷ niệm 15 năm bình thường hóa quan hệ ngoại giao Việt-Mỹ, và tham dự các cuộc họp của khối ASEAN và Sáng kiến Tiểu vùng sông Mekong, qui tụ 4 nước Việt Nam, Lào, Campuchia và Thái Lan. Bà Clinton cũng sẽ hướng dẫn phái đoàn Hoa Kỳ tham dự hội nghị cấp bộ trưởng của Diễn đàn Khu vực Asean tại Hà Nội.” (hết trích)

Chưa hết, vòng đai thép chiến lược của Mỹ giăng ở các Biển Nhật Bản, Biển Vàng (Triều Tiên), Biển Đông (VN), khối các nước Đông Nam Á, và cũng sẽ trùm cả Nam Á, cụ thể là Pakistan.
Hôm Thứ Tư, Đặc sứ Mỹ phụ trách vấn đề Afghanistan và Pakistan là ông Richard Holbrooke nói rằng Ngoại Trưởng Clinton sẽ dự cuộc đối thoại chiến lược Hoa Kỳ-Pakistan tại Islamabad trước khi lên đường sang Kabul để tham gia hội nghị các nước viện trợ cho Afghanistan vào ngày 20 tháng 7.

Thế là vài tiếng đồng hồ sau khi có các bản tin Mỹ-Hàn tập trận, Biển Đông dậy sóng ngay: Thuyền đánh cá của ngư dân Việt bị tàu lạ đâm chìm rồi bỏ trốn. Có thể hiểu “tàu lạ” chính là “tàu Trung Quốc.” Bởi vì không thể là bị đụng bởi hàng không mẫu hạm Mỹ.

Bản tin Dân Trí viết:
“Khoảng 3h30 sáng nay (15/7), một chiếc thuyền đánh cá của tỉnh Thừa Thiên – Huế đang đánh cá ngoài khơi biển Thuận An đã bị một tàu lạ đâm chìm rồi bỏ chạy. 1 ngư phủ chết, 1 mất tích và 3 người bị thương nặng.
Chiếc thuyền đánh cá công suất nhỏ mang số hiệu TTH-33501 thuộc xã Phú Hải, huyện Phú Vang ra khơi vào ngày 12/7. Trên thuyền chở 5 người gồm: Phan Văn Manh (SN 1950 – thuyền trưởng), Nguyễn Đại Ngữ (SN 1952), Huỳnh Chiến (SN 1959), Phan Văn Cư (SN 1983) và Phan Văn Hùng (SN 1974), đều trú tại thôn Cự Lại Nam, xã Phú Hải.
Vào thời điểm trên, có một tàu lạ đã đâm mạnh vào giữa thuyền đánh cá làm thuyền gãy đôi và chìm hẳn xuống biển.

Đến sáng nay (15/7), xác ông Nguyễn Đại Ngữ đã trôi vào bờ. 3 người gồm anh Phan Văn Manh, Huỳnh Chiến và Phan Văn Hùng may mắn được một tàu cá của Quảng Nam cứu vớt và hiện đang được cấp cứu tại bệnh viện. Riêng anh Phan Văn Cư hiện vẫn còn mất tích.
Theo lời kể của những nạn nhân may mắn sống sót sau tai nạn, tàu lạ nói trên là tàu chở hàng đang chạy từ Đà Nẵng ra Bắc. Sau khi đụng thuyền cá xong đã bỏ chạy.
Hiện Hải đội 2, Bộ đội Biên phòng tỉnh Thừa Thiên - Huế đang huy động lực lượng phối hợp với gần 20 tàu cá ngư dân tìm kiếm nạn nhân Phan Văn Cư cũng như xác minh thông tin tàu lạ trên.” (hết trích)
Chính xác, nhà nước VN vốn dè dặt, chưa chịu nói tàu lạ là tàu Trung Quốc hay là tàu Mỹ.

Một điều chúng ta suy nghĩ nữa là: trong khi dưới biển taù Trung Quốc đụng chìm tàu ngư dân Việt, vậy còn trên đất liền thì TQ có những độc chiêu nào?
Không thể nói trên bờ không có gì hết. Bởi vì xa tới ngàn dặm như Hoa Kỳ, mà các chính phủ Nga, Trung Quốc còn gài gián điệp nằm vùng lâu dài, thì Việt Nam nằm nơi giáp giới không lẽ lạị thoát các âm mưu của TQ.
Mới đây, Mỹ khui mạng lưới gián điệp 11 người Nga nằm lâu dàì ở Mỹ. Cũng đầu tháng 7-2010, báo Toronto Sun của Canada ghi rằng trùm Sở Tình Baó Canada là Richard Fadden nói lên nỗ quan ngại của ông là gián điệp Trung Quốc đang do thám công dân Canada, theo dõi các hội nhân quyền và tìm cách ảnh hưởng các chính khách Canada.

Như thế, không lẽ Trung Quốc không thò tay quậy ở Hà Nội?
Trên trang web http://www.boxitvn. net/ hôm 16-7-2010 có một băng hình dàì hơn 8 phút đồng hồ, do phóng viên Quang Tâm thu hình hồi tháng 6-2010, nhan đề “Phim phóng sự về khu Bôxít Nhân Cơ (phần I)” trong đó trực tiếp quay khu đất đã giảỉ tỏa nhà dân này, đang xây một số khu nhà nơi sẽ làm xưởng khai thác mỏ bôxit, ghi lời dân địa phương cho biết là vào tháng 10-2010 vùng Tây Nguyên này sẽ đón 10,000 người từ Trung Quốc sang, trong đó 9,000 người là dân Đại Hán và 1,000 là công nhân Việt được huấn luyện kỹ thuật để sẽ làm ở nhà máy này.

Nếu chúng ta sực nhớ lại chuyện nhiều tỉnh VN đã cho các công ty TQ và Đàì Loan thuê 300,000 hecta rừng đầu nguồn, thì chuyện này dễ dàng làm chúng ta hiểu được nỗi lo của khối ASEAN khi thấy VN ngày càng lệ thuộc vào Trung Quốc, và dễ dàng hiểu vì sao Mỹ phải giăng dây xích Biển Đông để trấn an các nước đồng minh truyền thống như Thái Lan, Indonesia, Nhật Bản, Nam Hàn, Singapore...

Nỗi lo đó không riêng của người ngoài VN, mà còn sinh khởi từ gan ruột của nhiều cán bộ một đời hy sinh cho Đảng CSVN. Đặc biệt, là khi gần tới Đạị Hội Đảng, nhiều người lo sợ là Đảng CSVN sẽ bán đứng đất nước cho TQ để bảo đảm an toàn cho CSVN. Nghĩa là, VN sẽ là một chư hầu. Nhưng khi nhiều ngàn người TQ lặng lẽ vào các vùng núí rừng VN như thế, sẽ tới một lúc dân Hán tộc đông hơn cả đồng bào Thượng ở các vùng Tây Nguyên và rừng núi đó. Có phaỉ đó sẽ là một kịch bản mới kiểu Tây Tạng, nhưng êm thắm hơn?

Cũng trên mạng Bôxit mấy tuần trước, trong bản văn nhan đề “Thư gửi: Bộ Chính trị - Ban Bí thư Trung Ương và các Uỷ viên BCHTƯ Khoá 10” gửi từ Hà Nội, ngày 22 tháng 4 năm 2010, hàng chục vị tướng và cán bộ lão thành, trong đó có người đã 70 tuổi đảng, đã nói rất thẳng rằng xin đừng đưa “người Việt gốc nước ngoài vào” Ban Chấp Hành Trung Ương.

Tại sao thỉnh nguyện như thế? Có phải ĐCSVN dự tính đưa một người Mỹ da trắng vào Ban Chấp Hành Trung Ương?
Lá thư viết, trích:
“Một trong những nhiệm vụ cơ bản nhất của Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng sắp đến (Đại hội 11) là bầu cử được Ban chấp hành T.W. gồm những đại biểu ưu tú nhất của Đảng, những người gương mẫu về phẩm chất đạo đức cách mạng, có bản lĩnh chính trị vững vàng nhất, kiên định mục tiêu lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội, có ý chí đấu tranh kiên cường bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia, có tầm nhìn chiến lược và năng lực tổ chức chỉ đạo thực hiện thắng lợi nghị quyết đại hội. Tổng bí thư và các uỷ viên Bộ chính trị phải là những người ưu tú nhất trong BCH.T.W. Dứt khoát không để những người có dính đến tham nhũng và những người Việt gốc nước ngoài vào BCH.T.W.

Để có được một BCH T.W có đầy đủ các tiêu chí nói trên, công tác nhân sự đại hội cần được tiến hành công khai, dân chủ, khách quan, trong sáng và với trách nhiệm cao của mỗi đại biểu.
Nhận thức rõ, đầy đủ trách nhiệm và nghĩa vụ người đảng viên ghi trong điều lệ Đảng, chúng tôi những cán bộ cao cấp đã nghỉ các chức danh công tác trong biên chế nhà nước, đã 80, 90 tuổi đời; 60-70 tuổi Đảng, đã đem cả tâm trí và sức lực của đời mình cống hiến cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, của dân tộc, xin được đóng góp một số ý kiến về công tác nhân sự đại hội:

1.Phải đảm bảo các đại biểu về dự đại hội có đầy đủ các tiêu chí cần thiết, phải là những người ưu tú nhất về phẩm chất, đạo đức, năng lực. Bộ chính trị, Ban Bí thư T.W. khoá 10 và Ban thẩm tra tư cách đại biểu cần đề cao trách nhiệm, rà soát kỹ lưỡng, kể cả với những đại biểu là uỷ viên T.W khoá 10 để phát hiện và trình đại hội xem xét tư cách những đại biểu vừa qua có vi phạm kỷ luật và những và có dấu hiệu vi phạm kỷ luật, những người có dính đến tham nhũng, những đại biểu là người Việt gốc nước ngoài...” (hết trích)

Chỉ trong mấy đoạn văn, đã ghi rõ là xin đừng đề cử “người Việt gốc nước ngoài.” Có ai là dòng Hán tộc nơi đây chăng? Có phải Tô Huy Rứa là cháu nhiều đời của Tô Định, một tướng Tàu thời Hai Bà Trưng khởi nghĩa? Có phải Trương Tấn Sang là cháu nhiều đời của Trương Phụ, một tướng Tàu đã bắt sống nhiều tướng Việt, trong đó có Đặng Dung, đưa về Yên Kinh (Bắc Kinh hiện nay) và chính Trương Phụ đã trói Nguyễn Biểu vào chân cầu để nước triều lên thì Nguyễn Biểu phải chết ngộp? Hay Hồ Đức Việt có gốc gác gì với Hồ Cẩm Đào không?

Cũng cần suy nghĩ nữa: có phải Mỹ đã thấy vua quan CSVN sắp bó thân ra hàng tướng Tàu, nên phải tập trận ầm ĩ ở các biển Châu Á để trấn an?
Than ôi, dân mình trong nước đâu có bao nhiêu người biết là nhiều sư đoàn thợ TQ đang đổ bộ vào Tây Nguyên đâu... Bị ông Tô Huy Rứa bưng tai, bịt mắt cả rồi. Mà dân mình có nói gì bất bình, thì cũng sẽ bị công an trấn áp y hệt như thời các tướng Tàu trấn áp ông bà mình nhiều thế kỷ trước.
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »

ÔNG OBAMA ĐỨNG TRƯỚC 3 THỬ THÁCH LỚN
SAU 18 THÁNG LÀM TỔNG THỐNG



* Trong thời gian vận động tranh cử ông Barack Obama hứa hẹn nhiều, nhưng 18 tháng qua chưa thấy có dấu hiệu Kinh Tế tăng trưởng, nạn thất nghiệp gia tăng và thời hạn rút quân 2011 khó thực hiện được...

NGUYỄN HƯƠNG NHÂN
Ngày 8 tháng 7 vừa qua nói chuyện trước một số đông công nhân tại một xưởng sản xuất phụ tùng xe Ford, Tổng Thống Barack Obama hứa hẹn rằng chánh phủ sẽ hạ thấp tỷ lệ thất nghiệp hiện nay (9.8%) Liên bang. Riêng tại California, tỷ lệ là 10.8%. Ông Obama không nói rõ hạ thấp tỷ lệ thất nghiệp bằng cách nào khi mà một số công ty kinh doanh của Mỹ dời cơ xưởng đến một số Quốc Gia khác như Mexico, Trung Quốc để làm ăn vì những nơi này lương công nhân rẻ mạt, chỉ bằng 1/4 lương trả cho công nhân tại Mỹ. Tại Tiểu Bang California năm 2009 có nhiều hãng xưởng chuyển đến Mexico làm ăn. Trước khi dời hãng xưởng đến Mexico, các công ty này cử một số chuyên viên kỹ thuật đến Mexico huấn luyện cho công nhân sở tại, thời gian huấn luyện ngắn hạn từ 2 đến 3 tháng. Sau khi về lại Công Ty thì những Chuyên Viên Kỹ Thuật này bị chủ cho nghỉ việc với lý do là Hãng Xưởng chuyển đến Mexico. Các công ty này không chuyển sâu vào nội địa Mexico mà đặt Hãng xưởng sát biên giới hai nước tại các Tiểu Bang Texas, Arizona, New Mexico.

Tình trạng thất nghiệp tại Tiểu Bang California nặng nề so với các Tiểu Bang khác. Trong cộng đồng người Việt chịu ảnh hưởng của nạn thất nghiệp nghiêm trọng. Một gia đình HO có 3 người thất nghiệp. Đó cũng là lý do mải lực tại Nam Cali xuống thấp nhất trong ba năm liên tiếp 2008, 2009 và giữa năm 2010. Tháng trước nhóm nghiên cứu và phát triển Tiểu Bang California do cựu Thượng Nghị sĩ Tiểu Bang Bruce Mc Pherson hướng dẫn gặp gỡ báo chí Quận Cam và trả lời câu hỏi của Đại diện Báo Việt Ngữ: Nguyên do nạn thất nghiệp hiện nay tại Tiểu Bang California? Ông Bruce McPherson cho biết: Liên Bang và Tiểu Bang Cali không có biện pháp ngăn ngừa một số công ty chuyển đến Mexico hoặc một số nước Á Châu khác như Trung Quốc, Thái Lan, Ấn Độ, vì giá công nhân những nơi này quá rẻ so với tại Hoa Kỳ. Chủ tịch tổ chức: "CaliForward" (Tương Lai California) cho biết rằng: Tổ chức của ông đã gởi đến Quốc Hội Tiểu Bang bản đề nghị soạn thảo một dự Luật: Ngăn cấm các Công ty Mỹ chuyển ra nước ngoài làm ăn.

Nạn thất nghiệp gia tăng đang là mối đe dọa đối với Tổng Thống Barack Obama và đó cũng là một trong 3 thử thách lớn đối với ông. Quốc Hội tháng trước đã bác bỏ Dự luật gia tăng trợ cấp thất nghiệp đối với những người bị nghỉ việc dài hạn. Quốc Hội do phe Dân chủ nắm đa số và họ đã không cần quan tâm đến tình trạng thất nghiệp dài hạn của nhiều người. Tại buổi gặp gỡ báo chí vừa qua (Meet the Press) Phát ngôn viên Tòa Bạch Ốc Robert Gibb xác nhận rằng: Đảng Cộng Hòa đang vận động và có thể sẽ chiếm lại quyền kiểm soát Quốc Hội trong cuộc bầu cử bán phần Quốc Hội vào tháng 11 tới đây. Ông Robert Gibb cũng nói thêm rằng Kinh tế suy thoái, thất nghiệp gia tăng đó là mối bận tâm của Tổng Thống, nhưng vực nền kinh tế lên và giảm tỷ lệ thất nghiệp không phải năm ba tháng là làm được mà phải mất một vài năm mới ổn định nền kinh tế, giảm tỷ lệ thất nghiệp với điều kiện tạo thêm công việc làm.

Tổng Thống Barack Obama hứa hẹn sẽ giảm tỷ lệ thất nghiệp, nhưng bằng cách nào? Nếu không mở thêm hãng xưởng sản xuất hàng hóa, không có chính sách ngăn cấm các Công ty Mỹ chuyển ra nước ngoài thì làm sao giảm tỷ lệ thất nghiệp được? Nền kinh tế Mỹ dựa trên sản xuất công nghiệp nặng (các loại vũ khí, chiến cụ phục vụ chiến tranh) sau khi chiến tranh Việt Nam chấm dứt từ năm 1975 đến năm 1985 nền Kinh tế Mỹ suy yếu và nạn thất nghiệp ở mức cao nhất (11%) nhưng chỉ 3 năm sau (1988) Tổng Thống Ronald Reagan đã giảm tỷ lệ thất nghiệp xuống còn 8.6% với kế hoạch sản xuất công nghiệp nặng lôi kéo Liên Bang Sô Viết vào cuộc chạy đua vũ trang dẫn đến tình trạng suy yếu mất quân bình trong cán cân chi phó đưa chế Độ Xã Hội Chủ Nghĩa vào con đường sụp đổ năm 1990. Tổng Thống Reagan lý luận rằng: chỉ có nền kinh tế công nghiệp lớn mới làm cho nước Mỹ trở nên giàu mạnh mà dẫn dắt cả thế giới. Nhưng, đối với Tổng Thống Barack Obama (Đảng Dân Chủ) thì: tránh mọi sự đối đấu với bất cứ Quốc gia nào mà chỉ đối thoại mà thôi. Ông Obama không chủ trương phát triển Công nghiệp nặng, chỉ sản xuất công nghiệp nhẹ mà thôi.

Nền kinh tế Quốc gia chỉ sản xuất công nghiệp nhẹ hàng gia dụng hằng ngày thì không thể nào đưa nền Kinh tế Quốc Gia lên với tổng sản lượng cao, không thu hút số lượng công nhân cao như sản xuất hàng Công nghiệp nặng (Máy bay, các loại xe tăng, tàu chiến, súng hạng nặng...). Nền kinh tế suy yếu không thể vực lên được đi đôi với nạn thất nghiệp như hiện nay đó là thử thách thứ nhì đối với Tổng Thống Barack Obama nhiệm kỳ thứ nhất của ông (2008-2012). Nếu từ nay đến tháng 11 nạn thất nghiệp tiếp tục gia tăng, không phát triển Công Nghiệp hạng nặng, nền kinh tế tiếp tục suy thoái, thì uy tín của Tổng Thống Barack Obama sẽ tiếp tục xuống thấp như hiện nay 46% thay vì 54% như các tháng trước.

Thử thách thư ba đối với ông Obama là thời hạn rút quân khỏi A Phú Hãn như ông Obama loan báo 2011 sẽ khó thực hiện vì hiện nay Quân Taliban phối hợp với Al-Qaida mở nhiều cuộc đánh phá trên nhiều khu vực tại A Phú Hãn. Đại tướng David Petraeus Tổng Tư Lệnh Quân Đội Mỹ và khối Nato đã xác nhận rằng: khoảng trống 3 tuần lễ thay Đại Tướng Stanley Mc Christal là khoảng thời gian quân Taliban và Al-Qaida phối trí mở các cuộc tấn công vào Quân Đội Mỹ và Khối Nato. Đại tướng David PeTraeus hiện phải chỉ huy 160,000 Quân Mỹ và Nato tại chiến trường A Phú Hãn và ông cũng nói thêm rằng: Thời hạn rút quân khỏi A Phú Hãn vào năm 2011 khó thực hiện. Nếu Tổng Thống Barack Obama không tăng viện thêm 15,000(45,000) như ông đề nghị trước đây thì khó thực hiện đúng thời hạn ông đưa ra năm 2011. Đó là 3 thử thách lớn đối với Tổng Thống Barack Obama trong nhiệm kỳ đầu của ông tại Tòa Bạch Ốc. Vượt qua 3 thử thách này mới có thể hy vọng ngồi thêm 4 năm nữa.
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Thư bà Trần Khải Thanh Thủy gửi con gái
Trần Khải Thanh Thủy



Image

Thanh Hóa, 5-6-2010

Thủy Tiên thương yêu,

Vào tù mẹ nhớ con nhiều lắm, dõi theo từng bước chân con, lòng đầy tự hào vì con gái mẹ đã trưởng thành vượt bực, đã hoàn toàn thoát khỏi bóng râm của mẹ và vươn lên phô sắc, khoe hương, tự khẳng định mình và còn lo lắng quan tâm sâu sắc đến mẹ nữa. Hy vọng những việc con đang làm cho mẹ sẽ được toại nguyện, thành công mỹ mãn vì số con vốn đã gặp may, lại thêm tấm lòng và ý chí của con luôn hướng về mẹ nữa.

Mẹ mừng vì không đơn độc, sau lưng mẹ là con, là cả gia đình thân thương gồm bà, bố, em An Khuê, cậu mợ và hai em Khải Nam, và Hiên Nhi cùng bao nhiêu tấm lòng bạn bè của bà con cô bác khác.

Thành thật mẹ ấm lòng vì con đang ở trong vòng tay yêu thương của mọi người. Bi kịch tạo nên thiên tài… Vì nỗi đau của mẹ mà con được nhiều người biết tới, nâng đỡ, chở che để con phấn đấu và trưởng thành, lớn hơn tầm kích của mình.

Phần mẹ về trại từ 29-4. Một mình một xe, hai tay bị còng - đúng chân dung của một con tù, khác hẳn với chân dung ngoài đời mà con đã từng biết (Làm nghề gì, có chân dung của người đó). Hy vọng nhờ những việc làm thiết thực của con, thông qua tấm lòng của bạn bè, bà con cô bác mà mẹ sớm được giải thoát.

Khí hậu Lam Sơn vô cùng khắc nghiệt con ạ. Ở nhà quanh mẹ là cả một trạm y tế thu nhỏ. Nào bình thở Ô Xy, nào giường massage, nào bác sỹ chăm sóc riêng (Bác Sỹ Nguyễn Thị Nga – Giám đốc bệnh viện Nội Tiết) rồi bác Hòa thường xuyên đến cứu huyệt cho mẹ 1 ngày 1 lần 1 tiếng rưỡi đồng hồ… còn ở đây, mẹ đã kiệt quệ sau 6 tháng 21 ngày bị giam cứu tại Hỏa Lò, giờ về trại thêm cái nắng nóng nung người của Vùng Chướng Khí Lam Sơn (thường xuyên 37-39, 40 độ C) cùng qui định quá khắc nghiệt của trại tù. Sáng 5 giờ đã trở dậy, điểm danh, ăn sáng, 6 giờ ra sân chung chờ đợi, xuất trại để 6h30 có mặt tại xưởng, cho đến 11giờ mới được về, sau một lần chờ đợi khám xét, vào buồng và lại điểm danh.

Tắm giữa giếng sâu hun hút và chật chội kinh người (200-250 người) trên đầu là nắng nóng kinh hoàng. Nhìn xuống lòng giếng đã chóng mặt, huống hồ múc nước tắm giặt, thở ra cả mang tai… Tất cả tồng ngồng trong bộ cánh Eva, chung quanh là cả thế giới phụ nữ. Thật không khác gì cảnh bầy đàn ăn lông ở lổ từ thời đại hồng hoang nguyên thủy con ạ. Mất hết khái niệm về phái đẹp, về sự kín đáo duyên dáng của phụ nữ - Có lẽ không nơi nào trên thế giới này còn nền văn mình rừng rú, lõa lồ, thô thiển đến vậy. Hoàn toàn chỉ còn là phần con không còn phần người. Nhìn đã đủ rùng mình gai lạnh, huống hồ phải hội nhập, trãi nghiệm.

11 giờ 30 phút ăn trưa, 12 giờ đi nghỉ đến 12 giờ 30 lại trở dậy, ra sân chung xuất trại đến 5 giờ mới về. Xưởng bạc không được dùng quạt, còn phải che chắn bao tải, ni long, chăn cũ để bạc không bay… nóng không khác gì lò hấp thịt người khổng lồ (thường xuyên ở mức 40-42 độ C) hút kiệt cả sức lực của người tù… Không dưới chục lần mẹ nghe bạn tù kể lại: Suốt 3 tháng mùa hè, cả bầu trời xứ Thanh như một quả cầu lửa, những cơn gió lào vô tình tạt sang từ bên kia biên giới. Ai nấy ngộp thở như bị rang trong chảo nóng. Bụng dạ, ruột rà cứ bỏng rát lên từng đoạn như thể bị ai thò tay vào kéo căng ra phơi dưới nắng. Vạn vật hổn hển vì thiếu Ô Xy, ngực nhói lên từng cơn sau mỗi nhịp thở, cảm giác nóng bỏng len vào từng làn da, thớ thịt, máu cạn dần sau 3 tháng trời nắng quần, đất hun… Khăn trùm, đầu mặt tay chân kín mít chỉ để hở hai con mắt, ngồi thở mà mặt mũi tay chân đen thủi đen thui, hệt như cột nhà cháy.

Chiều 6 giờ đóng khu, tắm rửa, ăn uống để 6 giờ 30 điểm danh, khóa buồng chờ điện bật sáng. Có lẽ không ở đâu như Việt Nam mình con ạ, mất điện đã trở thành điều bình thường như cơm bữa. Thoạt đầu mới vào hè thì một ngày có, một ngày mất, càng nóng nhiều thì 2 ngày mất, một ngày có. Quả là phú quý giật lùi. Trong khi các nước tiến bộ được khuyến khích dùng điện thì Việt Nam phụ thuộc vào độ chảy của các dòng sông, nước cạn, điện cũng cạn theo. Nghèo nàn, dốt nát, lạc hậu, không biết hội nhập toàn cầu, xa lộ thông tin theo kiểu gì nữa, ngoài kiểu bótay.com.

Ồn ào, căng thẳng đến 12 giờ đêm, tất cả mới chìm vào giấc ngủ. Mẹ bị suy nhược thần kinh nặng, chỉ cần người bên cạnh ho lắng, khịt mũi, cựa chân, lật tay,… thế là lại tỉnh. Đến 5 giờ sáng nhịp điệu lại bắt đầu, căng thẳng mệt nhoài như những ngày trước và sau đó.

Thiếu ngủ trầm trọng, nắng nóng kinh hoàng, mẹ gần như dở điên dở dại vì những cơn đau đầu tra tấn, lại thêm nhiễm khuẩn đường ruột, ngày ôm bụng “xổ ruột” cả chục lần, khiến sức khỏe vốn kiệt quệ càng kiệt quệ hơn, trong vòng nữa tháng, sút mất 3 kg thịt. Ai nhìn cũng chán.

Cũng may mẹ được giám thị Hai cho nghỉ dưỡng bệnh 1 tháng, vì thế vừa kịp hồi sức, vội viết thư cho con ngay đây.

Thủy Tiên con, sang Pháp chưa đầy 10 tháng, mẹ biết con đã sang Mỹ, Bỉ, Thụy Điển nhiều lần so với tuổi 20 của con quả là điều hạnh phúc lớn lao. Song dù thế nào cũng không được ảnh hưởng tới việc học tập con nhé.

Mẹ biết con sáng dạ vì quá khứ có sức mạnh di truyền, con được thừa hưởng từ ông ngoại, từ mẹ hệ DNA rất quý, hơn nữa, quá trình nhận thức gắn liền với hứng thú. Giỏi ngoại ngữ, con lại vào trường ngôn ngữ nên càng có điều kiện khẳng định năng lực của mình. Biết thêm một ngoại ngữ là sống thêm một cuộc đời, con biết 4 ngoại ngữ, sống phong phú hơn cuộc đời bố mẹ, ông bà 4 lần đấy con ạ. Con cố tận dụng cơ hội để bật lên nhé. Đừng vì được đi đó đi đây mà sao lãng việc học tập. Hơn bao giờ hết, mẹ đặt hy vọng vào con nhiều lắm. Từ khi con tròn 1 tuổi, ru con ngủ, con thuộc làu bài ru của mẹ, rồi 3 tuổi, nét vẻ mềm mại, tinh tế của con đã làm mẹ giật mình và kỳ vọng vào con rất nhiều. Từ khi con lên 6 học hệ chuyên Pháp, thi đổ thủ khoa 9,75 điểm, mẹ đã biết con chính là sự bù đắp cho số phận mẹ, khi trước đó, vì phải đi thực tập sư phạm thực tế, sản xuất ở những vùng quê hẻo lánh nước đọng, ao tù mà mẹ bị viên tắt ống dẫn trứng, chửa ngoài dạ con, chết đi sống lại. Suốt 12 năm học của con, đặc biệt những năm con thi vào cấp III, thi hệ nào đổ vào hệ ấy, thi trường nào đổ vào trường ấy, vào học tại Amtecdam, mẹ lại càng tin tưởng và kỳ vọng ở con hơn. Thực tế con đã không làm mẹ thất vọng, ngược lại con là niềm tự hào của cả đại gia đình mình, đặc biệt là bên nội,… Bây giờ được sang Pháp, điều kiện, môi trường thuận lợi, con càng phải phát huy thế mạnh của bản thân con nhé.

Nhớ viết thư thăm mẹ - cho mẹ gửi lời chào quý trọng và đầy biết ơn tới các cô, dì chú bác bên Pháp, Mỹ, Thụy Điển và Bỉ. Mẹ mong từng ngày được ra tù để có điều kiện đền đáp tấm lòng thương yêu chăm sóc, lo lắng quan tâm của tất cả tới mẹ. Con đang sống thay cả phần mẹ. Phải hết sức khiêm nhường lễ độ con nhé. Càng hiểu biết càng phải nhu mì, lễ phép con ạ. Thế mới là con gái của mẹ, mới xứng đáng với tấm lòng của bạn bè, cô dì chú bác giành cho mẹ, thông qua con.

Ký tên

Trần Khải Thanh Thủy

Địa chỉ của mẹ:
Đội 21-K4-Trại 5- Lam Sơn - Thanh Hoá
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Ðảng Cộng Sản là thủ phạm vụ Vinashin

Ngô Nhân Dụng

Ở một nước bình thường, trong một nền kinh tế thị trường thật sự, một cơ sở kinh doanh như Tập đoàn Vinashin sẽ phải tuyên bố phá sản, đem tổ chức lại theo pháp luật, hoặc cho chết luôn. Vinashin có số công nhân 60,000 người, con số lớn nhưng không thể so sánh với những đại công ty như General Motors với 243,000 nhân viên hay nhóm cửa hàng bán lẻ Kmart với 244,000 nhân viên. Cả hai công ty Mỹ đó đã được tuyên bố phá sản. Những công ty lớn như Enron với tổng cộng tài sản 62 tỷ Mỹ kim, WorldCom trị giá 107 tỷ Mỹ kim, đã được xóa sổ không thương tiếc, các quản đốc bị đưa ra tòa xử tù.

Vinashin chỉ trị giá 90,000 tỷ đồng Việt Nam, tương đương 4.7 tỷ đô la Mỹ. Nhưng tổng số nợ đã lên tới 80,000 tỷ đồng, bằng 4.2 tỷ Mỹ kim, mà trước mắt là gần 4,000 tỷ đồng nợ quá hạn không trả được; bằng 91% tổng số nợ quá hạn của cả 7 tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Trước mối nguy khánh kiệt, giữa Tháng Bảy đảng Cộng Sản Việt Nam đã phải “thanh toán” Vinashin bằng cách xé lẻ, trao một số “công ty con” cho các tập đoàn khác gánh nợ. Gánh “nợ” thật, bởi vì các “chủ nhân mới,” cũng là những tập đoàn của đảng và nhà nước, sẽ phải lo trả nợ cho các đứa con nuôi này - trong khi chính họ cũng nợ đùm đìa. Ðó là một cách đánh bùn sang ao, xí xóa vết tích và trách nhiệm trong sự thất bại, từ trên xuống dưới.

Trong khi đó, đảng Cộng Sản sử dụng guồng máy tuyên truyền của họ trút hết tội lỗi lên đầu một nhóm, tiêu biểu là Phạm Thanh Bình, người đứng đầu cả đảng ủy và ban quản đốc. Tất cả các báo, đài trong nước bị bắt buộc đồng lõa với chiến dịch tuyên truyền trút tội này. Vì họ không được phép điều tra, không thể tìm tòi tin tức nào khác, ngoài những gì mà bộ máy tuyên truyền của đảng tiết lộ. Trong tương lai, Phạm Thanh Bình sẽ đưa đầu chịu tội thay cho đảng, và có thể vài người trong gia đình ông ta. Sau mấy năm tù, sẽ trở về như các đảng viên kinh tài khác.

Sau khi đổ tội cho Phạm Thanh Bình, đảng Cộng Sản hy vọng người dân sẽ quên trách nhiệm của toàn thể Bộ Chính Trị, trung ương đảng và tất cả những người đang ăn trên ngồi chốc trong chính phủ và Quốc Hội! Nhưng làm sao một cá nhân như Phạm Thanh Bình, 57 tuổi, có khả năng đi vay hơn 4 tỷ đô la trong vòng hơn ba năm, từ khi Vinashin được thành lập cho tới năm nay? Phạm Thanh Bình là người của đảng, được đảng chọn, đưa ra cai quản, sử dụng gần 5 tỷ đô la tài sản. Tiền nợ hơn 4 tỷ sẽ do công quỹ cả nước Việt Nam phải trả, làm sao một cá nhân như Phạm Thanh Bình có thể đè cổ 85 triệu người dân bắt gánh lấy thứ của nợ đó?

Cho nên phải công khai vạch rõ trách nhiệm của nhóm lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam về vụ phá sản này. Các nhà quan sát độc lập, như các ông Hà Trí Anh, Nguyễn Quang A trên mạng lưới Bauxite, ông Nguyễn Sỹ Phương ở Ðức hay ông Lê Diễn Ðức ở Ba Lan, đều kết luận rằng đầu mối của cuộc khủng hoảng Vianshin là do phương thức và mô hình quản trị kinh tế của đảng Cộng Sản. Ðảng còn cai trị dân theo đường lối cố hữu của họ, thì đất nước sẽ đi vào khủng hoảng liên tiếp, không khác gì vụ tập đoàn Vinashin.

Lầm lẫn lớn nhất của đảng Cộng Sản là họ vẫn theo “chủ thuyết kinh tế Ðỗ Mười,” lấy kinh tế quốc doanh làm chủ đạo. Khẩu hiệu này được ông ta nêu ra trong một bài viết trước Ðại hội 9, cho tới nay vẫn là kim chỉ nam của đảng. Ông ta còn nhấn mạnh tấm gương Liên Xô đã thành công trong quá trình công nghiệp hóa, để chứng tỏ kinh tế xã hội chủ nghĩa cũng có hiệu quả, còn xài được.

Phan Văn Khải, rồi Nguyễn Tấn Dũng đã thi hành chủ trương đó. Họ không dám theo kiểu Liên Xô thời 1930-40, mà muốn bắt chước Ðại Hàn Dân Quốc trong những thập niên 1960-70. Những tổng công ty, rồi đến các tập đoàn được đảng Cộng Sản lập ra, cho giống những “chaebol” kiểu Hyundai, Samsung, Deawoo, LG, Posco ở Hàn Quốc. Ngay sau vụ Vinashin, có nhà trí thức trong nước đã đặt câu hỏi: “Tại sao Hàn Quốc lại thành công lớn như vậy trong việc ‘sinh thành dưỡng dục’ những tập đoàn kinh tế của họ, còn chúng ta lại không thành công?”

Có phải vì quan chức Việt Nam ai cũng ngu dốt, tham lam, gian trá hơn người Cao Ly hay không? Chắc không hoàn toàn như vậy, tuy có đúng một phần. Tổng Thống Phác Chánh Hi (Park Chung-hee) nắm quyền từ năm 1961 là một người trong sạch, sống khắc khổ, tận tụy hy sinh, suốt đời chỉ với mục đích xây dựng đất nước ngăn chặn làn sóng Cộng Sản. Với người lãnh đạo như vậy, những người được ông mời cộng tác cũng hết lòng vì công việc phát triển đất nước. Sau khi ông bị ám sát năm 1979, đến nay người dân Hàn Quốc dần dần mới bày tỏ lòng biết ơn đối với cá nhân ông, mặc dù vẫn trách ông quá độc tài.

Khi ông Park Chung-hee mời ông Chung Ju-yung phát triển công ty Hyundai thành một công ty đóng tàu thủy vào năm 1962, ông Chung Ju-yung phải chinh phục các ngân hàng quốc tế về khả năng đóng tàu của người Cao Ly để vay tiền; phải đi tuyển dụng người có khả năng; phải lo nhập cảng các kỹ thuật mà nước ông chưa biết; rồi tìm cách “bán hàng.” Một số ngân hàng Anh Quốc đã cho vay; năm nước Âu Châu chịu cung cấp máy móc thiết bị, và một công ty hàng hải Hy Lạp đặt mua 3 chiếc tàu thủy đầu tiên, vì giá hạ so với tàu Nhật Bản. Sau ba năm, Hyundai đã làm song chiếc tàu thủy đầu tiên, chứng tỏ được khả năng kỹ thuật không thua Nhật Bản. Ðể đào tạo nhân lực, chính phủ Nam Hàn khuyến khích sinh viên học ngành này, mỗi năm có 600 sinh viên vào học kỹ thuật hàng hải và đóng tàu. Tiếp theo đó, Phác Chánh Hy mời một doanh nhân khác, Park Tae-joon thành lập một công ty luyện thép, năm 1968 công ty POSCO ra đời. Park Tae-joon và 39 người cộng sự thề không để phí phạm một đồng nào của dân Hàn Quốc. Họ sống trong những căn nhà lụp xụp trên bãi cát như tất cả các công nhân khác; đêm ngủ cuốn trong chăn, bát cơm ăn cũng đầy những cát vì không mua thứ gạo đắt tiền. Năm năm sau, POSCO sản xuất hơn một triệu tấn thép một năm. Năm 2006, số thương vụ lên tới trên 10 tỷ đô la Mỹ, với 124,000 nhân viên.

Người Hàn Quốc quả nhiên là giỏi thật. Nhưng cũng không thể coi mọi người Việt Nam là thua kém. Nếu các tổng công ty và tập đoàn của nước ta thất bại, phần lớn là vì họ không được cơ hội làm đúng sức, phải nằm trong một cơ chế phản thị trường, quen dùng chính trị lấn áp kinh tế. Và nhất là họ không thấy những tấm gương hy sinh vì quyền lợi dân tộc như Park Chung-hee, Park Tae-joon. Ngay trong các tổng công ty, các tập đoàn đang hoạt động hiện nay, chắc cũng có những người có tài, biết công việc, có những người muốn tận tụy vì công ích. Cái hỏng là do cơ chế Cộng Sản. Nằm trong cơ chế đó, người tốt, người giỏi cũng không làm gì được.

Lý do đầu tiên ai cũng thấy là các chaebol của Nam Hàn làm ăn dựa trên căn bản tư nhân, trong khi các tổng công ty, các tập đoàn ở Việt Nam thuộc quyền đảng Cộng Sản, làm ăn theo chủ thuyết Ðỗ Mười, các quyết định được đánh giá theo tiêu chuẩn chính trị, phe phái, chứ không phải là lợi nhuận. Mỗi phe nhóm lên nắm quyền trong đảng Cộng Sản sẽ đưa các người của phe mình vào điều khiển các doanh nghiệp của nhà nước. Những người này không biết bao giờ phe mình sẽ bị xuống, tự nhiên, họ phải kiếm chác gấp. Thì bày ra càng nhiều dự án càng tốt và càng thu lợi cho cá nhân nhiều hơn. Ông Phạm Thanh Bình giữ ba chức, bí thư đảng ủy, chủ tịch và tổng giám đốc; rồi bổ nhiệm con trai và em ruột làm nhiều chức vụ quan trọng. Trong ba năm, tập đoàn Vinashin đẻ ra đến 200 công ty và tổng công ty tùy thuộc. Mỗi một công ty con đó là một cơ hội để gia tăng quyền hành và kiếm thêm tiền cho chính mình.

Sau khi đưa các quan chức quản lý bất tài ra nắm các tập đoàn và công ty, nhóm lãnh đạo đảng lại thúc đẩy đám đàn em này “phát triển nhanh, phát triển mạnh,” bất chấp ý kiến ngược lại của các chuyên gia kinh tế. Trước khi bỏ vốn đầu tư, ai cũng phải nghiên cứu đủ mọi mặt. Vinashin đã bỏ gần trăm triệu Mỹ kim để mua một chiếc tàu về, sơn lại coi như của mình, chạy được một năm thì bị bỏ nằm trong bến vì đáy tàu bị nứt từ trước khi mua mà không biết! Họ chưa đóng được chiếc tàu nào của mình thì đã đẻ ra 200 công ty con, tổ chức khách sạn, mua bán chứng khoán, để làm gì?

Các công ty lớn, chaebol ở Nam Hàn đến năm 1998, khi gặp cơn khủng hoảng kinh tế, đã chứng tỏ là cơ cấu làm ăn của họ không thực sự ích lợi; từ đó họ đều phải giải tư bớt nhiều công ty con, chú trọng đến công việc kinh doanh chính. Nhưng đảng Cộng Sản Việt Nam không biết rút lấy bài học đó, vẫn cho các tập đoàn phát triển ra bốn phía, mười phương, không cần nghiên cứu, suy xét gì cả. Cho nên công ty dầu khí PetroVietnam đã chuyển sang làm cả ngành ngân hàng và du lịch, công ty Ðiện Lực Việt Nam thì đầu tư vào bưu chính viễn thông, vân vân. Vinashin đã bước vào mấy chục lĩnh vực đầu tư từ xuất nhập cảng, khu nghỉ mát, mua bán chứng khoán, đến sản xuất bia. Ðọc bản danh sách 200 công ty con của Vinashin người ta có cảm tưởng chỉ những người điên mới trong ba năm trời mà đi lập bấy nhiêu công ty mới ra, để chơi vui!

Vinashin không phải là tập đoàn duy nhất được điều khiển bấp chấp quy luật kinh tế. Ðảng Cộng Sản đã lập những tập đoàn kinh tế trong những ngành Than - Khoáng sản, Ðiện lực, Cao su, Dầu khí, Xăng dầu, Ðường sắt, Hàng hải, Hàng không, Xi măng, Mía đường, Thép. Tài nguyên đất nước, do tổ tiên để lại hoặc do các nông dân, người lao động chân tay và trí óc tạo ra, có khoảng 60-70% nguồn lực của nước ta hiện nằm trong tay các doanh nghiệp nhà nước, mà nhóm lãnh đạo đảng Cộng Sản dùng làm chỗ dung túng các cán bộ trong phe cánh của họ. Những nguồn vốn của nhà nước được cung cấp cho những tập đoàn này, hoặc do các ngân hàng nhà nước cho họ vay với điều kiện ưu đãi thuận lợi nhất. Doanh nghiệp tư nhân đóng nhiều nhất vào việc phát triển sản xuất cũng như trong việc sử dụng người để giảm bớt nạn thất nghiệp, nhưng đã bị đẩy ra ngoài vòng để các xí nghiệp của đảng được ưu tiên sử dụng tài nguyên. Ðó là căn bản chính sách kinh tế của đảng Cộng Sản. Những tập đoàn và tổng công ty đóng vai độc quyền trong nhiều lãnh vực, khiến tư nhân muốn bước vào cũng không thể chen chân được. Mà ai cũng biết tư nhân làm kinh doanh có hiệu quả gấp trăm lần nhà nước. Ngay trong lãnh vực sản xuất điện, tập đoàn EVN của nhà nước chỉ chiếm dưới 70% số điện sản xuất nhưng vẫn chiếm độc quyền mua điện của các công ty nhỏ khác, và độc quyền phân phối điện cho người tiêu thụ. Khi một công ty chiếm độc quyền, hiệu quả đã thấp vì thiếu cạnh tranh, công ty đó lại là cha chung không ai khóc nữa, thì làm sao khá được?

Mặt khác, khi tài nguyên quốc gia được đem dùng vào những doanh vụ không có lợi và còn bị ăn cắp, lãng phí, thì tất nhiên nhiều hoạt động khác của quốc gia sẽ thiếu tiền. Có nhà kinh tế đã phân tích thấy số nợ 80,000 tỷ đồng Việt Nam của Vinashin lớn gấp bốn lần tổng số vốn dùng để kích thích kinh tế trong đợt suy thoái năm qua. Con số đó cũng lớn gấp 2 tới 3 lần tổng số vốn đầu tư cho chương trình xóa đói giảm nghèo trong cả nước.

Vụ Vinashin cho thấy chủ trương và chính sách kinh tế của cả đảng Cộng Sản là sai lầm từ lý thuyết đến thực hành. Họ vẫn còn bám lấy “chủ thuyết Ðỗ Mười,” bảo vệ khu vực quốc doanh chỉ vì cần dùng tài nguyên quốc gia nuôi các lãnh tụ lớn, nhỏ. Suốt 20 năm qua, đảng Cộng Sản Việt Nam không chịu đổi mới toàn diện như các nước Cộng Sản cũ Tiệp, Hung, Ba Lan, cho nên đã làm phí thời gian 20 năm của cả dân tộc đang cần chạy nhanh theo chân các nước lân bang. Ðảng Cộng Sản không thể tiếp tục đem cả tương lai dân tộc làm thí nghiệm trong 20, 30 năm năm nữa!

Năm 2001, sau vụ Eron, Quốc Hội Mỹ đã mở nhiều cuộc điều tra; các nhà kinh tế, báo chí cả nước Mỹ đua nhau tìm các thông tin, tìm hiểu và giải thích lý do; bao nhiêu bộ óc cùng suy nghĩ xem trong hệ thống luật lệ về kế toán, về kiểm tra, điều lệ các công ty có gì trục trặc hay không mà để đến nỗi có những hành vi gian trá lọt con mắt kiểm tra lâu như vậy. Sau đó, Quốc Hội đã làm ra những đạo luật mới để phòng ngừa cho tương lai. Nhưng ở Việt Nam thì khác. Các báo, các đài không ai được phép đi tìm tin tức hay thảo luận trên trang giấy về vụ Vinashin. Các chuyên gia có được nhà báo ngoại quốc hỏi cũng chỉ nêu lên những khuyết điểm trong lề lối quản trị chứ không ai dám nói thẳng chính đảng Cộng Sản là nguyên nhân của cuộc khủng hoảng Vinashin.

Việc che giấu, ém nhẹm tin tức và cấm đoán thảo luận về vụ Vinashin này cũng không khác gì chuyện ông Tô Huy Rứa ra lệnh các báo đài không được điều tra, loan tin về vụ tập đoàn cán bộ lãnh đạo tỉnh Hà Giang dụ dỗ, ép các nữ sinh vị thành niên phục vụ tình dục các quan chức. Tô Huy Rứa coi hành động dâm ô của mấy cán bộ đảng cũng lớn lao quan trọng không kém những bí mật quốc gia! Báo Le Monde bên Pháp nhận xét ông Rứa có rất nhiều triển vọng sang năm sẽ lên thay Nông Ðức Mạnh làm tổng bí thư đảng Cộng Sản. Nếu chuyện đó thành sự thật thì, kể từ thế kỷ thứ nhất, từ năm 39 đến giờ, một người họ Tô mới lại cầm vận mệnh dân Việt ta.
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Việt Nam có nhân quyền hay không?

Phạm Trần

Ðảng Cộng Sản Việt Nam lại giở chiêu chống đỡ những hành động không thể chối cãi được về quyền con người để hy vọng thay đổi hình ảnh bộ mặt cho chế độ.
Việc làm này mới xảy ra vào ngày 14 tháng 7, 2010 khi Văn phòng Thường trực Ban Chỉ đạo về Nhân quyền của Chính phủ tổ chức linh đình lễ ra mắt Tạp chí Nhân Quyền Việt Nam tại Hà Nội.

Phát biểu tại buổi lễ, Phạm Gia Khiêm, ủy viên Bộ Chính Trị, phó thủ tướng chính phủ kiêm bộ trưởng Ngoại Giao, trưởng ban chỉ đạo về nhân quyền của chính phủ nói: “Ðảng và nhà nước luôn coi con người và quyền con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực, là nhân tố quan trọng cho sự phát triển bền vững của đất nước. Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Ðảng, toàn quân, toàn dân Việt Nam đã bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa, thực hiện thành công công cuộc đổi mới và đã thu được nhiều thành tựu to lớn. Ðó là nền tảng cơ bản để thực hiện tốt hơn quyền con người trong thời kỳ phát triển mới.” (Thông Tấn Xã Việt Nam-TTXVN, 14 tháng 7, 2010)

Nói câu này, không biết ông Khiêm có biết điều được gọi là “đã bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa, thực hiện thành công công cuộc đổi mới và đã thu được nhiều thành tựu to lớn” chỉ đúng nửa bé của sự thật?

Nửa to còn lại là những mảng đen tham nhũng, lãng phí, ăn cướp đất đai và tài sản của dân, đàn áp dân của những cán bộ mất phẩm chất, coi dân như tôm tép, công bằng trong xã hội và dân chủ, tự do là những thứ “xa xỉ phẩm” chỉ dành riêng cho đảng viên đảng CSVN, nhất là những kẻ có chức có quyền trong guồng máy cai trị.


Như vậy thì quyền con người là của đảng hay của dân?

Còn chuyện “đã bảo vệ vững chắc Tổ quốc” ư? Ông Khiêm hãy nhìn ra Biển Ðông để thấy Hải Quân của Trung Quốc đang làm gì với ngư dân Việt Nam từ ba năm qua? Nếu đã bảo vệ được thì tại sao quân Tàu vẫn còn chiếm quần đảo Hoàng Sa từ 1974 và 8 hòn đảo của Trường Sa từ năm 1989; ngư dân Tỉnh Quảng Ngãi, đặc biệt tại đảo Lý Sơn vẫn còn bị Hải Quân Tàu bắt, bị đánh đập tàn nhẫn, bắt giam, tịch thu tài sản, đánh chìm thuyền trong đêm tối và đòi tiền chuộc mạng khiến nhiều ngư dân bị phá sản, mang nợ cả đời?
Vậy vấn đề của đất liền thì sao? Ông Khiêm có biết tổ quốc Việt Nam đã mất bao nhiêu đất về tay Tàu sau khi nhà nước CSVN đơn phương ký Hiệp Ước Biên Giới vào ngày 30 tháng 12, 1999 mà không bàn bạc gì với Quốc Hội hay hỏi ý dân? Chỉ sau khi mọi chuyện đã xong xuôi để được lòng các “đồng chí Phương Bắc” thì hiệp ước này mới được đem ra cho Quốc Hội biểu quyết giả vờ cho qua mà không ai có tài liệu và bản đồ mới để đối chiếu với ranh giới cũ. Thậm chí Quốc Hội không có lấy một cuộc chất vấn nào với chính phủ về việc làm có liên quan đến xương máu của tổ tiên và của bao nhiêu thế hệ đã hy sinh bảo vệ lãnh thổ từng tấc đất?
Nhưng nếu cuộc đổi mới đã thành công rồi và đã “thu được nhiều thành tựu to lớn” thì ra Tạp chí Nhân Quyền Việt Nam để làm gì?
Ông Khiêm nói: “Tuy nhiên, các thế lực thù địch vẫn không ngừng lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc để vu cáo, xuyên tạc, can thiệp vào sự phát triển của đất nước Việt Nam. Vì vậy, ngoài việc bảo vệ ngày càng tốt hơn quyền con người, chúng ta phải kiên quyết đấu tranh với các luận điệu, âm mưu thù địch đó.
Tạp chí Nhân Quyền Việt Nam được xuất bản là việc làm cần thiết, tạo thêm một kênh thông tin chủ lực nhằm phổ biến các quan điểm, chủ trương của đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước trên lĩnh vực quyền con người; giúp cho đồng bào ở trong nước cũng như ở nước ngoài và cộng đồng quốc tế hiểu rõ việc đảm bảo quyền con người là bản chất của chế độ Việt Nam; đồng thời góp phần phê phán những nhận thức lệch lạc và đấu tranh với những luận điệu sai trái, thù địch.”
Ngoài ra, vẫn theo lời ông Khiêm thì tạp chí này còn “thông tin về tình hình nhân quyền thế giới; quan điểm của các nước về quyền con người; hoạt động của Hội Ðồng Nhân Quyền Liên Hợp Quốc, các tổ chức nhân quyền quốc tế, khu vực.”
Nếu nói như ông Khiêm thì không có vấn đề quyền con người bị xâm phạm ở Việt Nam và cũng chẳng có ai bị bắt bỏ tù vì tranh đấu đòi nhân quyền và các quyền tự do cơ bản của con người đã được ghi trong Hiến Pháp của CSVN.

Vậy những người như Linh Mục Nguyễn Văn Lý, Linh Mục Phan Văn Lợi, Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ, Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Giang, Hà Sĩ Phu, Nguyễn Khắc Toàn, Bác Sĩ Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ Bình, Ðỗ Nam Hải, Nguyễn Tiến Trung, Nguyễn Văn Ðài, Lê Công Ðịnh, Lê Thị Công Nhân, Bác Sĩ Nguyễn Ðan Quế, nhà báo Ðiếu Cày Nguyễn Văn Hải, nhà văn Trần Khải Thanh Thủy v.v... đã bị bắt giam hay bị ra tù vào khám nhiều lần là những người đã làm gì nên tội?
Nếu bảo họ đã vi phạm luật pháp quốc gia, có những họat động xâm phạm đến an ninh của tổ quốc hay có âm mưu chống lại chế độ thì tại sao không tranh luận với họ để giáo dục họ mà lại sử dụng võ lực để áp chế họ?
Ngoài hai bàn tay trắng, tiếng nói và các bài viết đòi quyền sống và đòi nhà nước trả lại các quyển tự do cho họ như Hiến Pháp đã quy thì những người này đã làm những gì để bị liên tiếp khủng bố, xét hỏi vô cớ bất kể ngày đêm, không cho họ được có công ăn việc làm và bỏ tù để khóa miệng họ?
Một nhà nước như thế mà vẫn còn huênh hoang tự nhận là “Nhà nước pháp quyền” thì thứ pháp quyền này áp dụng cho ai và những ai đã được hưởng thứ pháp quyền nguỵ biện này?
Còn quyền tự quyết định lấy vận mạng của đất nước, quyền quyết định cho tương lai chính trị, quyền ứng cử, bầu cử, quyền phát biểu, hội họp, lập hội, ra báo, lập đài phát thanh, truyền hình có được nhà nước tôn trọng không?
Các cuộc được gọi là bầu cử từ xã lên Quốc Hội chẳng qua cũng chỉ là trò “đảng cử dân bầu” phản dân chủ, mị dân vì các ứng cử viên phải là người của đảng hay của các tổ chức do đảng lập ra và phải được Mặt Trận Tổ Quốc tuyển chọn trước.

Và nếu ông Khiêm bảo ở Việt Nam người dân đã được hưởng mọi thứ quyền tự do, nhất là tự do báo chí thì tại sao lại có Chỉ thị số 37/2006/CT-TTg ngày 29 tháng 11, 2006 của thủ tướng chính phủ thực hiện kết luận của Bộ Chính Trị đã khẳng định: “Kiên quyết không để tư nhân hóa báo chí dưới mọi hình thức và không để bất cứ tổ chức hoặc cá nhân nào lợi dụng, chi phối báo chí để phục vụ lợi ích riêng, gây tổn hại lợi ích đất nước”?

Luật pháp nào đã cho phép nhà nước CSVN tác oai tác quái đến mức độ này? Và ai đã cho phép Bộ Thông Tin và Truyền Thông đề nghị với chính phủ cho “sửa Luật Báo Chí nhằm bảo đảm sự lãnh đạo của đảng, sự quản lý của nhà nước; không có báo chí tư nhân” và nhốt những người hành nghề báo chí vào cái chuồng khổng lồ để cho các cấp đảng từ trung ương về địa phương kiểm soát, siết họng?

Còn quyền tự do tín ngưỡng và thờ phượng có được Việt Nam tôn trọng không, hay chỉ có những tôn giáo nào chịu để cho đảng kiểm soát và chi phối mới được công nhận, được nâng đỡ theo tiêu chuẩn xin-cho của đảng?

Ông Khiêm hãy đến thăm Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ở Sài Gòn, hay đi “thăm dân cho biết sự tình” với các giáo phái đạo Tin Lành miền núi từ Bắc vào Nam xem họ có được tự do hành đạo không?


Trò dân chủ giả hiệu


Thực tế tồi tệ như thế mà Việt Nam vẫn có thể lươn lẹo viết trong báo cáo về Quyền Con Người với Liên Hiệp Quốc ngày 23 tháng 4, 2009:

1) “Nhà nước Việt Nam coi con người là mục tiêu và động lực của mọi chính sách phát triển kinh tế-xã hội và luôn nhất quán trong việc đảm bảo và thúc đẩy các quyền con người. Hiến Pháp 1992, văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất, đảm bảo mọi công dân có quyền bình đẳng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, bình đẳng trước pháp luật; quyền tham gia quản lý công việc của nhà nước và xã hội; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; quyền tự do đi lại và cư trú trên đất nước Việt Nam; quyền khiếu nại và tố cáo; quyền lao động, học tập, chăm sóc sức khỏe... không phân biệt giới tính, sắc tộc, tôn giáo. Trên cơ sở Hiến Pháp, pháp luật Việt Nam tiếp tục cụ thể hóa các quyền này, phù hợp với các chuẩn mực pháp lý quốc tế về nhân quyền.”
2) “Việt Nam luôn ủng hộ hoạt động của HÐNQ và hợp tác đầy đủ với các cơ chế nhân quyền LHQ. Việt Nam đã đón các Báo Cáo Viên Ðặc Biệt (BCVÐB) về Giam Giữ Ðộc Ðoán và về Tự Do Tôn Giáo hoặc Tín Ngưỡng (1998) và đang làm thủ tục mời 03 BCVÐB của LHQ về Quyền Giáo Dục, về Quyền được Chăm Sóc Sức Khỏe và về Ðói Nghèo Cùng Cực vào thăm Việt Nam. Hiện nay Việt Nam đang tích cực tham gia vào quá trình thảo luận nhằm thành lập cơ chế nhân quyền khu vực ASEAN, tham gia nhiều hội nghị nhân quyền quốc tế và khu vực khác.”

3) “Quyền được sống trong độc lập, tự do, quyền tự quyết định vận mệnh của mình, quyền bầu cử, ứng cử... là những quyền cơ bản nhất của con người, nhưng phải đến năm 1945, khi Chủ Tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập, tuyên bố với thế giới rằng nước Việt Nam “đã trở thành một nước độc lập,” người dân Việt Nam mới thực sự được hưởng các quyền cơ bản này. Và kể từ thời điểm đó đến nay, dù phải trải qua chiến tranh, mọi người dân Việt Nam luôn được bảo đảm việc thụ hưởng ngày càng toàn diện và đầy đủ các quyền con người, trong đó có các quyền dân sự, chính trị.”
4) “Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và thông tin của người dân Việt Nam được thể hiện rõ qua sự phát triển nhanh chóng, đa dạng về loại hình và phong phú về nội dung của các phương tiện thông tin đại chúng.”

Trong 4 điều “giả hiệu” này, liệu Việt Nam có đánh lừa được Liên Hiệp Quốc và các Tổ Chức Nhân Quyền trên thế giới không?

Chắc chắn là không, bởi vì đảng CSVN chưa giết hết được các nhân chứng, nạn nhân của các vụ đàn áp nhân quyền và các quyền dân chủ, tự do đang còn sống ngoài xã hội hay trong các nhà tù ở Việt Nam.

Như vậy thì việc ra Tạp chí Nhân Quyền Việt Nam của nhà nước CSVN vào lúc này có ích gì không, hay lại là việc lấy gậy ông đập lưng bà?

Phạm Trần
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Phái đoàn Quốc hội Canada thăm gặp 2 Linh mục
Tađêô Nguyễn Văn Lý và Phêrô Phan Văn Lợi tại Huế, ngày 12-07-2010


Image
Từ trái sang phải: bà Db Thái Thị Lạc, Lm Nguyễn Văn Lý, Lm Phan Văn Lợi
và ông Db Claude Guimond
(hình chụp tại phòng của Lm Nguyễn Văn Lý)
Theo thông báo của các chiến hữu dân chủ người Việt tại Canada từ cả tháng trước, một “phái đoàn” Quốc hội Canada gồm có hai người, Nữ Dân biểu Ève-Mary Thái Thị Lạc, Phát ngôn viên nhân quyền của đảng Bloc Québécois, và Thông dịch viên Phạm Huy Bách sẽ đến thăm hai nhà đấu tranh tôn giáo tại Huế là Linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý và Linh mục Phêrô Phan Văn Lợi. Thành ra hai vị đã chuẩn bị hai món quà kỷ niệm nho nhỏ. Không ngờ sáng ngày hẹn 12-07-2010, một phái đoàn đông hơn gồm Bà Dân biểu Thái Thị Lạc, Dân biểu Claude Guimond, chồng sắp cưới của bà, hai Phụ tá người Canada và Ông Thông dịch viên Phạm Huy Bách, tất cả 5 vị, đã từ Sài Gòn ra Huế và đến Nhà Hưu dưỡng thuộc Nhà Chung của Tổng Giáo phận Huế, ở 69 Phan Đình Phùng, lúc 8g30 để gặp hai Linh mục tại phòng Linh mục Lý đang tạm trú để điều trị bệnh tật (trong thời hạn một năm theo quyết định của Tòa án tỉnh Hà Nam).

Bà Dân biểu Thái Thị Lạc, 38 tuổi, là người gốc Việt, dân tộc Chăm. Trường hợp của Bà tương tự trường hợp của ông Philipp Roesler, 36 tuổi, một người gốc Việt khác được cử làm Bộ trưởng Y tế Cộng hòa Liên bang Đức cuối năm 2009. Nghĩa là cả hai đều mồ côi và được một gia đình ngoại quốc nhận làm con nuôi từ bé, đem về nước cho ăn học thành tài; họ lớn lên có địa vị cao trong chính giới, trở thành niềm tự hào cho dân Việt, đồng thời là người ủng hộ cuộc đấu tranh vì dân chủ nhân quyền của đồng bào tại quê nhà.

Quả thế, sau khi chụp vài tấm hình lưu niệm, gọi vui là để “bất tử hóa giây phút lịch sử này” và sau khi phân ngôi chủ khách, Bà Dân biểu cho biết chuyến đi Việt Nam lần này (kéo dài từ 10 đến 25-07-2010) có mục đích gặp gỡ một số vị tương nhiệm (Đại biểu Quốc hội Việt Nam) tại Hà Nội, theo như thỏa thuận với Nhà cầm quyền Cộng sản VN, ngoài ra cũng để gặp gỡ một số nhà đấu tranh dân chủ hay nhân vật có khuynh hướng dân chủ ở cả ba miền. Và hai người phái đoàn gặp đầu tiên là hai Linh mục ở Huế.

Trước hết, Bà Dân biểu và phái đoàn hỏi thăm về tình trạng sức khỏe và an ninh của hai Linh mục. Cha Lý cho biết là mình vẫn tiếp tục điều trị bệnh bại liệt tay phải, chân phải và đang điều trị một điểm tụ huyết trên bán cầu não trái và một túi nang ở bán cầu não phải sau gáy. Theo lời Bà Đại sứ Canada Deanna Horton tại Việt Nam đã hứa trong cuộc gặp gỡ trên điện thoại hôm 30-03-2010, cha Lý hy vọng trong tháng 7 này, nếu không có gì trở ngại, một toán y bác sĩ người Canada sẽ qua Việt Nam để thăm khám và điều trị cho cha. Về tình trạng an ninh bản thân thì Linh mục Lý vẫn ở trong dạng quản chế tại phường Vĩnh Ninh, thành phố Huế (khu vực trong đó có Tòa Tổng Giám mục và Nhà Hưu dưỡng Tổng Giáo phận Huế). Linh mục Phan Văn Lợi cho biết về tình trạng an ninh của mình là vẫn bị quản chế tại gia bằng khẩu lệnh, nghĩa là hầu như luôn có công an đóng chốt canh giữ gần nhà và bám theo khi ra khỏi nhà; ngoài ra còn bị ngăn cấm đi phục vụ (dâng lễ, dạy học, giảng tĩnh tâm…) tại các dòng tu, những việc mà Linh mục vẫn làm từ trước năm 2001.

Tiếp đến Bà Dân biểu hỏi về hoạt động của Khối 8406 mà hai Linh mục là những người đồng sáng lập. Linh mục Lý cho biết là Khối vẫn tiếp tục sinh hoạt, phát triển trong và ngoài nước với số thành viên ngày càng gia tăng và số văn phòng hải ngoại ngày càng thành lập nhiều chỗ, ngay tại Canada cũng có. Ngoài ra Khối vẫn tiếp tục thực hiện “Tiến trình dân chủ hóa 4 giai đoạn và 8 bước của mình” (công bố ngày 22-08-2006), mà nay đang tiến hành, củng cố giai đoạn một (Thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí) và đang xúc tiến giai đoạn hai (Phục hoạt, thành lập, phát triển các Chính đảng dân chủ phi Cộng sản).

Nghe nói đến báo chí, bà Dân biểu hỏi về tình hình tờ Tự do Ngôn luận. Sau khi biếu mọi thành viên phái đoàn các số TDNL mới nhất (100, 101, 102), kèm thêm vài tập trong Tủ sách Khối 8406 và vài CD tài liệu lịch sử về Giáo hội Công giáo VN, về CSVN, về CS quốc tế do Khối 8406 sưu tập và phát hành khắp cả nước, hai Linh mục cho biết hiện nay tổng số phát hành (kiểm soát được) của tờ báo do chính các thành viên Khối và thân hữu dân chủ trong nước, gồm cả một số viên chức nhà nước thực hiện, giao động từ 40 đến 60 ngàn số mỗi kỳ, chưa kể số lượng được đồng bào in ra và sao chụp thêm từ bản điện tử lưu hành trên mạng.

Ông Dân biểu Claude Guimond hỏi tiếp: “Mới đây chúng tôi có đọc được Thư Hiệp thông của nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền với Giáo xứ Cồn Dầu, Đà Nẵng. Xin vui lòng trình bày toàn bộ sự việc”. Cha Phan Văn Lợi trả lời: Tại Việt Nam chúng tôi có một nhóm Linh mục sống theo tinh thần của Đức Cố Tổng Giám mục Philipphê Nguyễn Kim Điền (cha Lý lúc ấy mời mọi người nhìn lên chân dung của Ngài trên vách tường) là vị mục tử đã bị Cộng sản đầu độc chết năm 1988 vì đã can đảm lên tiếng bênh vực cho sự thật và lẽ phải, cho tự do tôn giáo và dân chủ nhân quyền. Nhóm chúng tôi lấy tên Ngài và mới đây đã lên tiếng lần hai về vụ Cộng sản tước đoạt đất đai và hành hạ giáo dân (thậm chí đến chết) tại giáo xứ Cồn Dầu, Giáo phận Đà Nẵng. Quý vị biết rằng tại Việt Nam, người dân chỉ có quyền sử dụng chứ không có quyền sở hữu đất đai. Quyền sở hữu này nằm trong tay nhà nước và đảng Cộng sản (mà họ gọi cho nhẹ là “quyền quản lý”). Đây là một trong những nguyên tắc cai trị của Cộng sản, nó đẻ ra cơ chế xin-cho và gây ra biết bao điêu đứng cho cuộc sống người dân và sinh hoạt của các tập thể. Vụ việc ở Cồn Dầu cũng như tại tòa Khâm sứ, giáo xứ Thái Hà và giáo xứ Đồng Chiêm ở Hà Nội, giáo xứ Tam Tòa ở Quảng Bình, giáo xứ Loan Lý ở Huế, dòng Thánh Phaolô tại ở Vĩnh Long và hàng vạn vụ việc liên quan đến đất đai khắp cả Việt Nam không phải là vấn đề dân sự và hình sự (tranh chấp đất đai giữa cá nhân hay tập thể với người của chính quyền) mà là vấn đề chính trị, nghĩa là đảng Cộng sản tự coi mình là sở hữu chủ mọi tài nguyên thiên nhiên, nhất là đất đai, tại Việt Nam và khi cần thì tước đoạt ruộng vườn, cơ sở của các cá nhân hoặc tập thể, nhất là tập thể tôn giáo, để chia cho nhau trong đám đảng viên cán bộ hoặc để bán hay cho ngoại nhân thuê mướn lâu dài. Tất cả chỉ nhằm bảo vệ quyền lực và duy trì ách thống trị của đảng trên dân Việt.

Bà Dân biểu hỏi tiếp: “Vậy nhân cơ hội này, Quý vị có đề nghị gì mà chúng tôi có thể trình bày trước Nhà cầm quyền Việt Nam không?”. Linh mục Lý cất tiếng: “Chúng tôi yêu cầu hai điều. Một là nếu chưa thể để cho người dân, nhất là các nhà đối kháng dân chủ công khai ra những tờ báo độc lập và các tài liệu dân chủ nhân quyền, thì ít nhất Nhà cầm quyền, cụ thể là Công an, không được bắt bớ, sách nhiễu, hăm dọa những người dân đọc các tờ báo và tài liệu dân chủ đang được phổ biến của Khối 8406 và của các cá nhân, tổ chức dân chủ khác. So với thời Các Mác trong chế độ tư bản Anh ở Luân Đôn cách đây gần hai thế kỷ, so với thời nhóm Nguyễn Ái Quốc, cụ Huỳnh Thúc Kháng, cụ Nguyễn Thế Truyền trong chế độ Thực dân Pháp cách đây một thế kỷ, so với thời các báo cánh tả trong chế độ Việt Nam Cộng Hòa trước năm 1975, thì tự do ngôn luận trong xã hội Cộng sản Việt Nam còn thua rất xa, thậm chí chẳng có gì đáng kể. Nhà nước khống chế, kiểm soát mọi sinh hoạt báo chí, dù là báo viết, báo nói, báo hình hay báo điện tử…. Điều yêu cầu thứ hai là nếu nhà cầm quyền CSVN có đưa ra những chương trình phát triển kinh tế, quy hoạch đô thị, xây dựng khu chế xuất, thiếp lập khu sinh thái… thì hãy làm vì lợi ích của người dân, thỏa thuận với họ về chuyện lấy đất đai, bồi hoàn cho họ cách công bằng và tái định cư họ sao cho an cư lạc nghiệp. Yêu cầu nhà cầm quyền chấm dứt mọi kiểu di dời bằng cưỡng bách, bằng bạo lực, bằng dùi cui, bằng nhà tù…. Và quan trọng nhất, triệt để nhất, là phải trả lại quyền sở hữu đất đai cho người dân. Có như thế thì mới bớt bất công trong xã hội và tăng phát triển trong đất nước”

Dân biểu Claude Guimond tiếp lời: “Tôi trước đây cũng từng hoạt động trong vấn đề đất đai tại Canada. Tôi đã từng tham gia vào việc bảo vệ quyền tư hữu đất đai cho một số cư dân bản địa (ct: gốc da đỏ) bị nhiều tay tư bản, tài phiệt tranh giành chiếm đoạt. Nhưng ở nước tôi, chỉ có sự tranh chấp quyền lợi giữa hai nhóm người như thế, chứ không có chuyện Nhà cầm quyền dựa vào cái nguyên tắc lạ lùng như tại Việt Nam để cho cán bộ đảng viên tha hồ cướp đất của người dân đâu!”

Bà dân biểu hỏi: “Chúng tôi sắp ra Hà Nội. Hai cha muốn chúng tôi gặp những nhà dân chủ nào ngoài đó?”. Linh mục Lý đã giới thiệu Bác sĩ Phạm Hồng Sơn, Nữ Luật sư Lê Thị Công Nhân và một số thành viên tiêu biểu khác của Khối 8406 cũng như các linh mục Dòng Chúa Cứu Thế Thái Hà (nhưng rất tiếc sau đó phái đoàn đã không thể gặp được ai cả) - “Ngoài các nhà đối kháng đó ra, chúng tôi có nên gặp thêm ai nữa mà có tinh thần dân chủ không?” - “Chúng tôi thiết nghĩ phái đoàn có thể gặp Tiến sĩ Nguyễn Quang A. Ông này chưa phải là nhà đấu tranh dân chủ nhưng là một nhà trí thức có khuynh hướng muốn dân chủ hóa đất nước. Ông từng có nhiều lời nói, bài viết và hành động chứng tỏ sự mong muốn độc lập của giới trí thức Việt Nam, sự thao thức về các vấn đề gây bức xúc trong đất nước và xã hội do cơ chế độc tài đảng trị hiện giờ” - “Trong giới đại biểu Quốc hội Việt Nam, có vị nào là nhà dân chủ không?” - “Đại biểu Quốc hội Việt Nam thì đại đa số là đảng viên Cộng sản, số còn lại thì cũng do đảng chọn, nên hiện giờ chưa thể là nhà dân chủ được. Nhưng có vài Đại biểu nay đã dám nói thẳng với đảng và có khuynh hướng cổ vũ đa đảng đa nguyên, như ông Dương Trung Quốc chẳng hạn” - “Vâng, chúng tôi sẽ tìm cách gặp những người mà hai cha vừa giới thiệu đó. Dĩ nhiên chắc không phải là dễ dàng”.

Linh mục Lý đề xuất tiếp: “Vào lại Sài Gòn, Quý phái đoàn nên gặp cho được Hòa thượng Thích Quảng Độ, vị lãnh đạo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Ngài đang bị quản chế tại Thanh Minh thiền viện, Giáo hội của ngài chưa được nhà cầm quyền CS thừa nhận và đang gặp nhiều khó khăn trong sinh hoạt”. Linh mục Lợi thêm vào: “Đó là một Giáo hội bị đặt ra ngoài vòng pháp luật”. Lm Lý còn giải thích rõ hơn vì sao Phật giáo VN hiện có 2 Giáo hội. “Ngoài ra, cha Lý tiếp, Quý vị nên gặp kỹ sư Đỗ Nam Hải, thành viên Ban Điều hành Khối 8406 của chúng tôi. Và nếu cần, thì kỹ sư Hải sẽ giới thiệu thêm vài nhà đấu tranh dân chủ khác tại Sài Gòn….”

Cuộc gặp gỡ chấm dứt lúc 11g45 cùng ngày, trong những cái bắt tay nồng ấm thân mật. Hai linh mục nói với Bà Thái Thị Lạc và các bạn đồng hành: “Bà là niềm hãnh diện của dân tộc Việt Nam và toàn thể Quý vị là sự nâng đỡ hỗ trợ cho phong trào dân chủ Việt Nam chúng tôi. Xin hết lòng cảm ơn Quý vị”. Phái đoàn rất phấn khởi khi rời Nhà Chung Huế. Dù cuộc gặp kéo dài khá lâu, nhưng không thấy ai thoáng mệt nhọc. Hai Linh mục vui vẻ đứng đưa tiễn và cầu nguyện cho Phái đoàn các Dân biểu này có những ngày an bình tại Việt Nam, hoàn thành tốt công việc và… an toàn trở về miền đất Canada xa xôi lạnh giá. @@@

Nhóm Phóng viên FNA Khối 8406 tường trình từ Huế ngày 25-07-2010
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Luật Cải Tổ Tài Chánh làm cái gì?

Ngô Nhân Dụng

Năm 1930 kinh tế Mỹ bắt đầu một cuộc khủng hoảng lớn, khiến các nhà chính trị phải thay đổi hầu hết các luật lệ điều hành hệ thống ngân hàng. Năm 2007, một cuộc khủng hoảng khác cũng bắt đầu từ các ngân hàng lan sang các lãnh vực khác khiến cả thế giới bị ảnh hưởng. Cả hai vụ khủng hoảng đều đưa tới những đạo luật thay đổi cả hệ thống tài chánh Mỹ. Sau gần ba năm qua, các nhà chuyên môn nghiên cứu, thảo luận, các đại biểu bàn cãi, tham khảo, tuần qua Quốc Hội Mỹ đã biểu quyết một đạo luật Cải Tổ Tài Chánh và Tổng Thống Barack Obama mới ký ban hành. Ðây là một đạo luật có tầm quan trọng không kém những cải tổ trong thập niên 1930-40, sẽ ảnh hưởng tới hoạt động tài chánh và nền kinh tế, trong đó có đời sống của mọi người sống ở Mỹ trong nhiều năm sắp tới. Cho nên chúng ta nên biết nguyên ủy và nội dung của đạo luật mới này.

Những người thích nói chuyện đấu tranh giai cấp sẽ coi đạo luật mới này là một dụng cụ để bắt các nhà tư bản (như các ngân hàng) phải chịu kiểm soát chặt chẽ hơn, và bảo vệ những người thấp cổ bé miệng (người tiêu thụ) nhiều hơn. Ðiều này đúng, nhưng chưa cho biết làm như vậy thì ích lợi cho toàn thể nền kinh tế như thế nào, và ngăn ngừa được những tai hại nào.

Khủng hoảng tài chánh từ năm 2007 tóm tắt lại là vì vì quá nhiều đồng tiền chạy không đúng chỗ! Hệ thống tài chánh có vai trò chuyển tiền do người dân tiết kiệm để đưa tới cho những người sử dụng, tức là các nhà sản xuất; nhưng đã làm sai. Phải thay đổi luật để tránh không làm sai nữa.

Tự căn bản, vấn đề lớn của mọi hệ thống kinh tế là làm sao phân bố số tài nguyên trong xã hội theo cách ích lợi nhất, nghĩa là dùng vào các doanh vụ đưa ra các sản phẩm hay dịch vụ được nhiều người mua dùng nhất. Trong một hệ thống kinh tế theo lối tập trung, chỉ huy như ở Liên Xô đời xưa thì guồng máy nhà nước chiếm lấy công việc phân bố tài nguyên, mọi người chỉ làm theo kế hoạch của họ. Trong kinh tế thị trường thì việc phân bố tài nguyên do tư nhân quyết định. Ðộng cơ chính là mỗi người tìm cách sinh lợi cho mình nhiều nhất, nhưng nhờ thế cả xã hội được lợi vì tiền được dùng vào việc có hiệu năng cao nhất. Kinh nghiệm trong thế kỷ 20 cho thấy hệ thống tập trung đã thất bại vì không có hiệu quả, tài nguyên không được sử dụng đúng chỗ. Nhưng hệ thống kinh tế tư bản cũng có khi phân bố tài nguyên sai lầm, như cuộc khủng hoảng địa ốc từ mấy năm qua cho thấy.

Trong kinh tế thị trường, tiền do mọi người tiết kiệm được gửi vào các ngân hàng, chuyển tới các doanh nhân. Nhà đầu tư sử dụng tiền muốn đạt lợi nhuận tối đa, nhưng có một quy luật tự nhiên là càng muốn lời nhiều thì càng phải gánh chịu nhiều may rủi, tức là có thể được lớn mà cũng có thể mất nhiều. Một mối quan tâm là làm sao giảm bớt được mức may rủi trong khi kỳ vọng về lợi nhuận không bị giảm.

Từ mấy thế kỷ trước, người Hòa Lan, người Anh đã tìm được một cách phân tán rủi ro là lập ra những công ty cổ phần. Nhiều người góp phần vào một công ty thì nếu thất bại, mỗi người sẽ chỉ chịu một phần rủi ro nhỏ. Một người có thể hùn vốn vào nhiều công ty, trong đó có thành, có bại, tính ra trung bình sẽ không hoàn toàn mất hết, mà cuối cùng chỉ được hưởng mức lời trung bình thôi. Một hình thức phân tán may rủi khác là bảo hiểm, cũng là nơi người ta góp tiền để chia sẻ rủi ro với nhiều người, trong khi công ty bảo hiểm tích lũy tài nguyên để đầu tư.

Vào 30 năm cuối thế kỷ 20, nhiều “khí cụ” mới được sáng chế để phân tản rủi ro, gọi chung là đê ri va ti (derivatives) đã phát triển rầm rộ. Ý tưởng căn bản cũng giống như các nhà nông ký hợp đồng bán trước nông phẩm của mình, rồi giao hàng sau, khi đến mùa gặt hái. Ký một hợp đồng như vậy, nhà nông bảo đảm mình sẽ bán được với giá đồng ý trước; họ sẽ bị thiệt nếu sau này giá lên cao hơn, và được lợi nếu giá tụt xuống thấp hơn. Phía bên kia, người ký hợp đồng mua, thì ngược lại. Ðó cũng là một cách phân tán rủi ro có từ hàng thế kỷ trước.

Mua và bán đê ri va ti thực chất là những cuộc đánh cá trên giá cả tương lai. Nhưng nhờ các đê ri va ti này mà nhà nông có thể chia bớt rủi ro với những người muốn đánh cá. Nhưng từ ba bốn chục năm qua các chuyên gia tài chánh đã sáng chế ra những đê ri va ti mới và phức tạp, không dựa trên các nông phẩm hay khoáng sản, mà dựa trên ngay các chứng khoán tài chánh: cổ phần, trái phiếu, vân vân. Một thứ đê ri va ti đặc biệt là hợp đồng bảo hiểm cho các trái phiếu, tức giấy nợ; theo đó nếu người vay không trả được nợ thì sẽ có người bảo hiểm trả thay. Chính những loại sáng kiến tài chánh (đánh cá) như thế đã là một nguyên nhân chính gây nên cuộc khủng hoảng năm 2007. Luật lệ mới nhằm ngăn ngừa các mối nguy đó.

Cuộc khủng hoảng bắt đầu từ những vụ cho vay mua nhà mà không buộc người đi vay phải có tiêu chuẩn đủ cao để bảo đảm sẽ trả được nợ. Các ngân hàng nẩy ra sáng kiến đi vay tiền qua các trái khoán, đã đem gộp các món nợ mua nhà lại, dùng để bảo đảm các trái khoán đó. Nhiều nhà đầu tư Mỹ và khắp thế giới tin vào các ngân hàng, đi mua loại trái khoán này. Khi kinh tế bắt đầu suy yếu, nhiều người mua nhà không có tiền trả nợ, nhiều ngân hàng lớn thấy chính họ và các thân chủ của họ sắp mất tiền vì đi mua các trái phiếu dựa trên những món nợ thiếu tiêu chuẩn. Tình trạng nguy kịch, một ngân hàng lớn bị phá sản, các ngân hàng lớn khác lung lay. Khi đó chính các ngân hàng cũng không thể đi vay ngắn hạn trên thị trường được nữa, đẩy cuộc khủng hoảng vào chỗ trầm trọng hơn. Tiếp theo, một công ty quốc tế chuyên lãnh bảo hiểm cho các giấy nợ bị lâm nguy. Giống như bảo hiểm cháy nhà cho một làng mà cả làng đó cùng cháy một lúc, AIG rơi vào tình trạng sắp phá sản.

Chính phủ Mỹ, từ thời Tổng Thống Bush đã phải cứu cả AIG lẫn các ngân hàng lớn, chính phủ Obama tiếp tục, tốn của công quỹ hàng ngàn tỷ bạc. Họ phải cứu vì nếu các công ty và ngân hàng đó phá sản cùng một lúc thì cả hệ thống tài chánh suy sụp. Ðây là một điều mà các nhà làm luật muốn tránh: Tốt nhất là phải thấy báo hiệu trước khi một ngân hàng lớn sắp lâm nguy. Không để cho một ngân hàng quá lớn đến nỗi chính phủ bắt buộc phải cứu nó, chỉ vì nếu không cứu thì cả nước nguy to! Lúc đầu chính phủ Obama định lập ra một quỹ chung do các ngân hàng đóng góp, dùng để cứu cấp khi họ lâm nguy. Ðiều này bị các đại biểu Cộng Hòa phản đối mạnh; cho nên trong luật mới đã thay thế bằng những thủ tục để “làm đáng tang” cho những ngân hàng lớn lâm nguy. Chính phủ sẽ giải tán rồi bán các bộ phận của ngân hàng này. Nếu các tài sản của ngân hàng không đủ thì một quỹ do các chủ nhân, các trái chủ của ngân hàng đóng góp sẽ bù vào để trả nợ. Nếu vẫn thiếu thì sau cùng mới phải dùng đến công quỹ.

Quy trách nhiệm về cuộc khủng hoảng 2007 thì người ta phải thấy lỗi đầu tiên là trong hệ thống tài chánh cũ các ngân hàng và những công ty chuyên cho vay địa ốc đã làm liều khi cho vay mà không xét tiêu chuẩn một cách nghiêm mật. Vì vậy, phải làm thêm luật để kiểm soát các công ty và ngân hàng, buộc họ làm đứng đắn hơn. Mặt khác, chính những “người tiêu thụ” khi đi vay cũng không biết tự lượng sức mà vay nhiều quá, hoặc cố ý gian dối để đi vay tiền, họ cũng chia sẻ trách nhiệm. Tuy nhiên, đa số những “người tiêu thụ” này không đủ thông tin và thiếu hiểu biết về tài chánh, cho nên họ cũng là những nạn nhân bị các người môi giới dụ dỗ đi vay tiền mua nhà. Người môi giới được hưởng tiền hoa hồng, còn người vay thì đến khi không trả được nợ sẽ mất nhà, ngân hàng cũng mất tiền. Bởi vậy, trong đạo luật mới đã đặt ra một cơ quan bảo vệ người tiêu thụ trong thị trường tài chánh. Ðây là một điều luật gây nhiều chống đối từ phía đảng đối lập cũng như từ các ngân hàng, vì họ sẽ bị kiểm soát kỹ hơn.

Thực ra, trong nghề tài chánh người ta đã có những thủ tục, luật lệ tự đặt ra để bảo đảm sự an toàn cho chính họ, và cho nền kinh tế. Nhưng trong mấy năm trước khi xẩy ra khủng hoảng, chính các công ty cho vay và ngân hàng đã không theo đúng những điều luật mà họ tự đặt ra. Cho nên, phải tăng cường quyền hạn cho cơ quan phụ trách giám sát các ngân hàng là hệ thống Quỹ Dự Trữ Liên Bang (Federal Reserve System, viết tắt là Fed) để ngăn ngừa các sơ suất và lạm dụng.

Ngoài ra, trước đây Fed chỉ có quyền trên các ngân hàng thương mại, còn nhiều loại công ty tài chánh khác nằm dưới quyền của các cơ quan phức tạp, chính sự lỏng lẻo của hệ thống kiểm soát này đã để cho nhiều công ty cho vay mua nhà làm ẩu. Nay đạo luật mới sẽ tập trung việc kiểm soát, Sở Thanh Tra Tiền Tệ (OCC). Tuy nhiên trong luật mới vẫn để cho nhiều cơ sở tài chánh còn do các cơ quan khác trong chính phủ liên bang và tiểu bang kiểm soát.

Một điểm quan trọng trong đạo luật mới này là hạn chế hoạt động của các ngân hàng thương mại để những tránh rủi ro gây liên lụy tới người gửi tiền. Các ngân hàng thương mại sẽ chỉ có nhiệm vụ nhận tiền của người gửi rồi đem tiền cho vay. Họ không có quyền đóng vai trung gian cho các cuộc vay nợ, mua bán chứng khoán, công việc đó là của các “ngân hàng đầu tư” (investment bank), và loại hoạt động này sẽ không được chính phủ cứu khi lâm nguy. Cũng nhằm bảo vệ sự vững chắc của tiền do người ta ký thác, các ngân hàng thương mại không được góp vốn quá 3% vào các quỹ đầu tư đặc biệt như quỹ đối trọng (hedge fund) hoặc quỹ vốn tư nhân (private equity).

Một thay đổi lớn nhất trong đạo luật mới ra là hầu hết các đê ri va ti sẽ được đặt trong luật lệ kiểm soát, mà từ trước đến nay họ hoàn toàn tự do không ai ngó tới. Ðây là lần đầu tiên các đê ri va ti bị luật pháp ràng buộc.

Mọi việc mua bán đê ri va ti phải đi qua một “trung tâm thanh toán” (clearing house). Các người bán đê ri va ti phải đặt tiền vào trung tâm này để phòng khi cần thì trả cho người mua - chứ không thể chạy làng. Các ngân hàng thương mại sẽ bị cấm không được tham dự vào một số thị trường đê ri va ti, như đánh cá trên giá dầu lửa, trên kim khí kỹ nghệ, chỉ vì những thứ này giá cả thất thường rất nhiều rủi ro. Các công ty chuyên sáng chế ra những đê ri va ti phải đặt riêng ra một số tiền đề phòng rủi ro. Họ sẽ bị phạt nặng nếu sử dụng các đê ri va ti để che giấu tình trạng tài chánh xấu của thân chủ (như Goldman Sach mới bị tố giác là đã dùng đê ri va ti giúp chính phủ Hy Lạp che đậy tình hình không trả được nợ). Ðể đáp lại yêu cầu của bà Nghị Sĩ Blanche Lincoln tiểu bang Arkansas, chủ tịch Ủy Ban Nông Nghiệp Thượng Viện, các nhà nông hay công ty sản xuất không bị ràng buộc như những người bán đê ri va ti tài chánh, tuy họ vẫn phải báo cáo đầy đủ. Bởi vì họ có nhu cầu dùng đê ri va ti để phân tản rủi ro đích thực. Ðạo luật mới cũng chừa một lỗ hổng là những đê ri va ti do người ta thương lượng riêng với nhau, không mua bán trên thị trường sẽ được miễn.

Cuộc khủng hoảng vừa qua một phần cũng do lỗi của các công ty thẩm lượng tín dụng (credit rating) gây ra. Họ cho điểm cao những trái khoán dựa trên địa ốc, về sau hóa ra các trái khoán này không có giá trị. Theo luật hiện hành, nếu ai tin vào các công ty này mà đầu tư rồi bị mất tiền vì họ thẩm định sai thì không thể kiện cáo gì được, trừ khi chứng minh được là họ cố ý làm sai. Nhưng theo luật mới, các công ty thẩm lượng tín dụng chịu hoàn toàn trách nhiệm về sai lầm của họ, dù ngay tình không có ý lừa dối. Nước Mỹ chỉ có 3 công ty thẩm lượng tín dụng, và họ sẽ bị theo dõi kỹ hơn cũng như sẽ bị các cơ quan chính phủ cạnh tranh. Một điều chưa được giải quyết là các công ty này có quyền lợi xung khắc vì họ lãnh thù lao của chính các thân chủ mà họ sẽ thẩm lượng xem có đáng đầu tư hay không. Ðây là điều sẽ phải được các cơ quan thi hành luật giải quyết.

Ðạo luật cải tổ tài chánh cũng gia tăng quyền hành của cổ đông các công ty mua bán trên thị trường chứng khoán. Các cổ đông sẽ có thể cử đại diện vào hội đồng quản trị một cách dễ dàng hơn, do đó có quyền mạnh hơn trên ban giám đốc.

Những trung gian tài chánh như người môi giới chứng khoán, các quỹ đối trọng, sẽ bị ràng buộc nhiều hơn trong đạo luật mới, để buộc họ chịu trách nhiệm cao hơn với thân chủ.

Một điều được chính phủ Obama đề cao nhất là đạo luật mới lập ra cơ quan Bảo Vệ Người Tiêu Thụ. Cơ quan này sẽ kiểm soát tất cả các hoạt động tài chánh ngoài hệ thống ngân hàng. Những công ty cho vay nặng lãi, địa ốc, các nhà phát hành thẻ tín dụng, vân vân, sẽ được giám sát, như bắt họ phải giải thích rõ ràng các bản hợp đồng, không được dụ dỗ người ta ký vào các hợp đồng nhiều rủi ro mà người ta không hiểu, vân vân. Một lỗ hổng còn bỏ sót là loại nợ vay để mua xe, không được kiểm soát. Ngoài ra, nhiều người cũng thoát khỏi lưới của cơ quan mới này, như các kế toán viên, môi giới địa ốc, người bán nhà làm sẵn (mobile home), và các nhà bảo hiểm.

Tuy nhiên đối với các công ty và ngân hàng cho vay mua nhà, đạo luật mới nghiêm ngặt hơn nhiều. Các công ty cho vay địa ốc có bổn phận kiểm chứng khả năng trả nợ của người vay, nếu không tìm hiểu rõ lợi tức và quá trình vay nợ của người vay sẽ bị phạt nặng. Những công ty gom góp các món nợ lại để bán trái phiếu bị bắt buộc phải giữ 5% lại, nếu các trái phiếu này không trả được thì chính họ cũng bị thiệt hại; do đó hy vọng họ sẽ thận trọng hơn. Ðể tránh người tiêu thụ không bị dụ dỗ đi vay nợ mua nhà quá lớn, luật sẽ cấm tiền thưởng cho người môi giới vay nợ không được lên cao cùng với món nợ.

Ðạo luật dầy 2,300 trang này đưa ra nhiều điều khoản nhưng vẫn không nêu ra đủ chi tiết; các cơ quan chính phủ sau này sẽ bổ túc bằng các thủ tục luật lệ (regulation) khi đem thi hành. Nhiều người sẽ than phiền là đạo luật còn chưa đủ nghiêm để trừng phạt các ngân hàng đã gây ra cuộc khủng hoảng vừa qua. Ngược lại, có nhiều người cho là chính phủ đặt ra nhiều ràng buộc quá, có thể làm thui chột các sáng kiến tư nhân! Dù sao, đây quả thật là một đạo luật sẽ thay đổi cả cách điều hành hệ thống tài chánh nước Mỹ trong hàng thế kỷ tới.
caolynh
Posts: 317
Joined: Wed Dec 17, 2008 7:21 pm
Contact:

Post by caolynh »

Hội chứng "ghét cán bộ"...
Nguyễn Thế Thịnh
Không biết đã có công trình nghiên cứu nào về “hội chứng ghét cán bộ” của dân ta hay chưa, nếu có, bọ phải tìm hiểu cho bằng được để biết vì sao người ta ghét cán bộ đến mức phàm cán bộ tất nhiên là xấu; ghét đến độ, ai khen cán bộ cũng bị liệt vào hạng người xấu luôn! Nhiều khi nghĩ, như thế là không công bằng nên bọ cũng cố tìm cách để tự mình suy nghĩ cho công bằng.

Vì GDP tỉnh nào cũng tăng, thành tích tỉnh nào cũng đầy mình...Phải có cái chi đó chơ?
Ví dụ, ngồi đâu đó nghe người ta tính, làm chủ tịch mỗi nhiệm kỳ thu 200 tỷ, phó chủ tịch thì chỉ khoảng trăm tỷ...(Đó là tỉnh lẻ, không biết tỉnh chẵn thì thế nào). Những lúc như thế bọ coi như chấp nhận họ làm thì họ ăn nhưng hỏi lại: Vậy một nhiệm kỳ qua họ làm được cái chi, thử chỉ ra một việc coi? (Không kể việc đi lên truyền hình, dự hội nghị, cắt băng khánh thành, trao bằng khen, phát biểu dông dài nhưng không đúng cũng không sai). Ít người chỉ được vì không có chi mà chỉ.

Hồi mới vô Đà Nẵng, nghe người ta nói ông Thanh “ăn nồi ba mần ra nồi bảy”, bọ nghĩ, nếu có thế thật đi thì ông ta cũng hơn ối kẻ ăn nồi mười mà không làm ra cho nỗi cái niêu đất.

Ông Thanh cũng có nhiều người ghét, vì ông Thanh cũng là...cán bộ.

Ông Tô tai tiếng về vụ ngủ cởi truồng bị ả điếm chụp ảnh lưu lại bọ thấy không tởm bằng mấy thằng làm cuộc truyền hình trực tiếp trịnh trọng chia tay cô ả Vàng Anh, người phơi hết chỗ người ta che kín cho cả nhân loại biết. Không ghét ông Tô bằng thằng trương lên báo tít đậm “sự trở lại của Hoàng Thùy Linh”. Không ghét ông Tô bằng thằng chủ trương mời ả Linh làm đại sứ, nhân vật chi đó trong geame...Không ghét ông Tô bằng cái mặt nhơng nhơng không biết dị của ả ta.

Ông Tô trả tiền cho bướm còn đàng hoàng hơn mấy thằng lợi dụng bướm ả Linh mà khinh doanh!

Nhưng người ta ghét ông Tô hơn vì ông Tô là...cán bộ chính quyền. Mấy thằng khác mang danh là đạo diễn, nhà báo, doanh nhân...nên người ta không ghét bằng.

Nói có vẻ ba lơ ba láp thế đó, nhưng nghĩ lại đau chơ. Một đất nước mà dân ghét cán bộ, thấy cảnh sát thì bất an...thì đất nước đó nên nghiêm túc xem lại mình.

Biết mà làm như chẳng có chuyện gì thì thậm nguy!

Nguồn: blog Nguyễn Thế Thịnh
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Phong Trào Dân Chủ Việt Nam, Thử Thách và Triển Vọng

Trước hàng loạt các vụ bắt bớ các nhà đấu tranh dân chủ trẻ vừa xảy ra trong nước, tôi xin phép được tập trung nhiều hơn vào các sinh hoạt và vai trò của thế hệ trẻ. Điều đó không có nghĩa tôi đánh giá thấp vai trò, sự đóng góp và những hy sinh của quý vị lãnh đạo tinh thần các tôn giáo, quý vị thuộc thế hệ cao niên, các nhà trí thức, nhà văn, nhà thơ đang nỗ lực đấu tranh trong nhiều lãnh vực khác nhau.

Đối với phần lớn nhân loại ngày nay, dân chủ không còn là một khát vọng và một nỗ lực để đạt đến nhưng đã là một thực tế. Thế kỷ hai mươi là thế kỷ của nhiều biến cố với hơn một nửa nhân loại chìm đắm trong máu xương thảm họa độc tài, từ Thực Dân đến Quốc Xã, Phát Xít rồi Cộng Sản, nhưng đồng thời cũng là thế kỷ đánh dấu khả năng của con người có thể vượt qua thảm họa bằng con đường dân chủ. Bài hùng ca dân chủ đã được hát lên từ thảo nguyên Mông Cổ và vang vọng đến tận các hầm sâu của các thợ mỏ châu Phi.

Năm 1989, sự tan rã của khối Liên Xô đã tạo ra một không gian chính trị hoàn toàn mới tại châu Âu và đã ảnh hưởng trực tiếp đối với trên 400 triệu dân thuộc 27 quốc gia thuộc vùng này, trong đó có 15 nước vốn thuộc khối Liên Xô. Sau một giai đoạn chuyển tiếp khó khăn vì nạn thất nghiệp, suy thoái kinh tế, tình trạng xã hội mới còn nhiều bất an, các quốc gia Đông Âu đã phát triển vượt xa thời kỳ Cộng Sản qua các chính sách tư hữu hóa nền kinh tế và thực hiện hàng loạt các tiến bộ xã hội. Nhiều trong số họ như Ba Lan, Cộng Hòa Tiệp, Romania, Bulgaria v.v.. đã trở các hội viên quan trọng của Liên Hiệp Châu Âu. Ngày 1 tháng Chín vừa qua, thế giới đánh dấu 70 năm Thế Chiến Thứ Hai bùng nổ nhưng cũng là ngày khẳng định khả năng của con người có thể vượt qua được những mất mát, chịu đựng hy sinh vô bờ bến để vươn lên trong hòa bình, dân chủ và tiến bộ. Tương tự, tháng Mười Một năm nay, nhân dân Đức cũng lần nữa khẳng định lòng yêu nước, yêu dân chủ tự do đã cao hơn và rắn chắc hơn cả Bức Tường Bá Linh khi họ tổ chức mừng 20 năm bức tường ô nhục này sụp đổ.

Sau 2005, làn sóng dân chủ đã mở rộng sang các quốc gia Trung Đông như Lebanon và Hồi Giáo như Pakistan, Iraq và ngay cả Iran. Cách đây chỉ hai tuần lễ, nhân dân Afghanistan lần thứ hai thực thi quyền chọn lựa người lãnh đạo của mình trong một cuộc đầu phiếu phổ thông với sự quan sát của hàng chục tổ chức quốc tế. Ánh mắt đầy hãnh diện của một người phụ nữ Afghanistan khi khoe tấm thẻ cử tri vừa đóng dấu của chị trước ống kính truyền hình, đã làm chúng ta cảm động. Cuộc đấu tranh của phụ nữ Afghahistan từ thời hoàng hậu Soraya Tarzi đầu thế kỷ 20 đến khi có một nữ ứng cử viên tổng thống Masooda Jalal 2005 trải qua những giai đoạn vô cùng gian khổ. Trong nhiều thế kỷ và nhất là trong thời kỳ Taliban từ 1996 đến 2001, phụ nữ Afghanistan đã bị tước bỏ gần như mọi thứ quyền làm người. Họ bị ngăn cấm làm việc, không được rời nhà một mình, không được khám bịnh bởi một bác sĩ nam giới, bị buộc phải che người từ đầu đến chân kể cả mắt, và 87 phần trăm phụ nữ Afghanistan không biết đọc biết viết. Dù sao ngày 20 tháng Tám 2009 vừa qua những người phụ nữ Afghanistan đã một lần nữa thực thi quyền dân chủ để chọn người lãnh đạo của mình được quy định trong hiến pháp 2004.

Và hôm nay, tháng Chín 2009, phần lớn trong 192 quốc gia hội viên Liên Hiệp Quốc, tuy mức độ phát triển khác nhau và đang đi trên những chặng đường dân chủ hóa đất nước khác nhau, các quyền căn bản như quyền tự do ngôn luận, đi lại, các quyền chính trị như bầu cử, ứng cử, lập hội của người dân đã được tôn trọng. Tiếng nói của người dân thấp cổ bé miệng không còn bị giam hãm trong bốn bức tường của nhà tù tăm tối hay chìm vào quên lãng mà đã được lắng nghe.

Và Việt Nam?

Lẽ ra hôm nay, Việt Nam, một quốc gia bán đảo giàu có tài nguyên thiên nhiên và một khối dân 86 triệu trong đó 71% dân số dưới 40 tuổi và 60% dưới 30 tuổi, Việt Nam có tất cả các yếu tố cần thiết để phát triển thành một quốc gia thịnh vượng kinh tế, tiến bộ xã hội, nếu không hơn thì cũng bằng các nước khác trong khu vực. Nhưng không, Việt Nam sau 34 năm, trong mọi lãnh vực của đời sống con người vẫn còn thua kém rất xa các nước láng giềng.

Lẽ ra hôm nay, những người con ưu tú của đất nước như Lê Công Định, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Tiến Trung, Nguyễn Văn Đài, Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Quốc Quân, Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Khắc Toàn, Lê Chí Quang, Đỗ Nam Hải, Trần Khải Thanh Thủy và các bạn trung niên hay trẻ hơn khác đang lao động quên mình trong lãnh vực chuyên môn của họ để cùng 60 triệu tuổi trẻ đóng góp vào sự nghiệp xây dựng đất nước. Quá khứ dù có khó khăn vất vả nhưng tương lai tươi đẹp rồi sẽ đến. Dòng sông dù còn vẩn đục nhưng vì nước đang trôi nên sẽ có một ngày trong. Nhưng không, khi chúng ta đang ngồi đây, một số họ đang bị tù như Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài, vừa bị tù như Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, được trả tự do nhưng luôn bị công an theo dõi, dòm ngó theo từng bước chân đi như trường hợp Huỳnh Việt Lang, Phạm Hồng Sơn, Lê Chí Quang, Lê Quốc Quân, Trần Khải Thanh Thủy v.v.

Lẽ ra hôm nay, 300 ngàn chuyên viên kỹ thuật Việt Nam thuộc các ngành nghề, lớn lên và học hỏi trên xứ người đã có cơ hội cùng bạn bè cùng thế hệ trong nước xây dựng và phát triển Việt Nam. Dù các em mang quốc tịch Canada, Mỹ, Đức, Ý, Anh, Pháp, hai tiếng “quê cha đất tổ” vẫn được nhắc nhở trong mỗi bữa cơm chiều, trong những ngày giỗ kỵ, trong bản nhạc, trong bài văn, bài thơ. Dòng máu đang chảy trong con người các em vẫn là dòng máu Việt Nam. Tuổi trẻ Việt Nam đã trưởng thành về mọi mặt, từ chính trị đến xã hội, từ khoa học kỹ thuật đến khoa học nhân văn và là nguồn tài nguyên vô cùng cần thiết để đưa đất nược tiến kịp cùng đà tiến mỗi ngày một nhanh của nhân loại. Nhưng không, hôm nay, ngoài một số rất nhỏ, 300 ngàn chuyên viên kỹ thuật kia vẫn là một con số thống kê, một con số ước lượng trên báo chí chứ không phải là một thực tế đang tác động trực tiếp vào việc làm thay đổi đất nước.

Tại sao? Lý do đơn giản chỉ vì Việt Nam chưa có dân chủ, chiếc chìa khóa mở ra một xã hội Việt Nam thăng tiến. Ngày nay, Việt Nam vẫn còn là một trong số rất ít quốc gia trên thế giới, đang bị cai trị bởi một thiểu số độc tài, cực đoan, ngoan cố nắm tất cả mọi quyền lực trong tay.

Và do đó, theo thiển nghĩ của tôi, trước khi chúng ta bàn đến sự giàu mạnh về kinh tế, tiến bộ về kỹ thuật, khả năng giành lại Hoàng Sa, Trường Sa, giành lại các phân đất biên giới phía bắc từ tay Trung Quốc, nhân dân Việt Nam phải giành lại quyền làm chủ đất nước, phải giành được quyết định vận mệnh của chính mình, quyền sống của một con người như nhiều tỉ người khác trên trái đất nầy.

Cuộc vận động dân chủ Việt Nam, thật ra, không phải chỉ bắt đầu vài năm nay, không phải chỉ bắt đầu trong 34 năm qua nhưng mầm mống đã được gieo trồng trong cuộc đấu tranh chống Thực Dân giành độc lập. Giành độc lập dân tộc là một mục tiêu quan trọng nhưng chưa đủ. Ngày nào con người vẫn còn bị ràng buộc bằng những sợi xích bất công, bị tước đoạt các quyền công dân căn bản thì dù đất nước có độc lập đi nữa thì người dân vẫn còn sống trong nô lệ dưới hình thức khác và buộc phải làm tôi tớ cho chủ nhân khác. Độc lập dân tộc, do đó, phải gắn liền với tự do, dân chủ đất nước. Khi nào người dân ý thức được trách nhiệm của mình với đất nước, họ sẽ biết quý, biết giữ gìn và phát huy các giá trị của độc lập tự do. Người chủ xướng cuộc vận động vĩ đại đó không ai khác hơn là nhà cách mạng Phan Châu Trinh. Tư tưởng Duy Tân Phan Châu Trinh chính là ngọn đuốc soi đường cho các thế hệ Việt Nam ngày đó cũng như hôm nay mặc dù Hồ Chí Minh dưới tên Trần Dân Tiên trong cuốc sách viết về mình “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch” đã chê bai cụ Phan: “Cụ Phan Châu Trinh chỉ yêu cầu người Pháp thực hiện cải lương, đó là sai lầm chẳng khác gì đến xin giặc rủ lòng thương”.

Trong suốt 21 năm, nhân dân miền Nam vừa phải từng bước xây dựng các nền móng cần thiết của một xã hội dân chủ sau nhiều thế kỷ bị xâm lược, rẽ chia và phân hóa, vừa phải chiến đấu để bảo vệ cuộc sống tự do mà họ đã chọn lựa. Cuộc chiến bảo vệ miền Nam tự do từ 1954 đến 1975 là một cuộc chiến đầy chính nghĩa nhưng đã chịu đựng quá nhiều máu xương tang tóc.

Sau ngày Cộng Sản chiếm trọn miền Nam, 30 tháng Tư 1975, lực lượng người Việt yêu chuộng tự do tại miền Nam tuy đã bị tước đoạt vũ khí nhưng vẫn tiếp tục chiến đấu. Mặt trận mới không diễn ra bằng súng đạn nhưng bằng sự chịu đựng, bằng khí tiết. Mặt trận mới không diễn ra ở Dakto, Bình Long, Quảng Trị nhưng ở Hoàng Liên Sơn, Thanh Phong, Thanh Hóa, Hàm Tân, Tiên Lãnh, Suối Máu, An Điềm… và hàng trăm nhà tù dã man khác đã được chế độ dựng lên khắp nơi trên đất nước. Ngoại trừ một số rất nhỏ bị khuất phục, đại đa số, dù bị đày ải, vẫn giữ được nhân cách, khí tiết và niềm tin vào chân lý tự do dân chủ của dân tộc Việt Nam. Họ bước ra khỏi cổng trại tù không phải như những người sống sót mà là những người chiến thắng.

Căn nhà dân chủ mong manh trên mảnh đất miền Nam đã bị làn sóng đỏ xô ngã nhưng những nền móng được dựng xây dựng bằng bao xương máu của hàng triệu người Việt vẫn còn đó, niềm tin dân tộc vẫn còn sống trong ý thức mỗi người dân và vươn lên trong nước cũng như hải ngoại qua nhiều hình thức khác nhau. Nhìn từ góc độ tích cực của cuộc vận động dân chủ lịch sử, ngày 30 tháng Tư, ngoài là ngày đau thương, tang chế, cũng đã hàm chứa nhiều ý nghĩa khác. Trong con đường hầm đen tối của lịch sử dân tộc những ngọn đèn hy vọng đã sáng lên.

Ngày 30 tháng Tư là đánh dấu sự cáo chung của ý thức hệ Cộng Sản. Cuộc chiến bằng súng đạn vừa chấm dứt nhưng cuộc chiến khác vốn diễn ra trong âm thầm giữa Dân Tộc và Ý Thức Hệ Cộng Sản ngay từ ngày đảng Cộng Sản Việt Nam được thành lập. Những mâu thuẫn đó cháy âm ỉ trong suốt thời kỳ chiến tranh đã bộc phát thành lửa đỏ sau chiến tranh. Những cường hào ác bá đã chiếm các biệt thự nguy nga ở Hà Nội trước đây và Sài Gòn sau tháng Tư 1975, không phải là những người làm nên lịch sử mà chỉ là những kẻ làm công việc giải thích, ăn cắp, bóp méo lịch sử cho phù hợp với tham vọng xích hóa Việt Nam của Đệ Tam Quốc Tế, và hôm nay tiếp tục sống huy hoàng trên những thống khổ triền miên của dân tộc Việt Nam.

Ngày 30 tháng Tư là ngày dân tộc Việt Nam có cơ hội đưa cuộc vận động dân chủ lên phạm vi cả nước. Những người Việt yêu chuộng tự do dù đang sống trong âm thầm, câm nín, chịu đau nhưng đã biết mình đứng đâu trong cuộc đấu tranh đầy cam go sắp tới. Mười chín triệu năm trăm ngàn đồng bào miền Bắc đã phải sống trong xích xiềng Cộng Sản có cơ hội cùng đứng chung một giới tuyến với đồng bào miền Nam trong mẫu số chung dân tộc. Mẫu số chung thiêng liêng đó không chỉ giá trị đối với những người đã từng hy sinh, từng đổ máu để bảo vệ miền Nam mà còn cho cả nhiều triệu đồng bào đã bị khủng bố từng ngày, từng đêm suốt hơn 20 năm ở miền Bắc. Mẫu số chung thiêng liêng đó vượt lên trên mọi hiệp định, mọi vĩ tuyến, mọi chia cách, mọi tôn giáo, thế hệ, trong hay ngoài nước.

Sau 34 năm, cuộc vận động dân chủ đã đạt những thành quả khích lệ. Không giống như trong thập niên 80 và những năm đầu thập niên 90, các hoạt động phản kháng trong nước và chống Cộng từ ngoài nước đã diễn ra gần như hoàn toàn độc lập với nhau, các phong trào dân chủ ngày nay đã có nhiều điểm tương quan, gần gũi và yểm trợ nhau. Đồng thời, cũng khác với các phong trào chống đảng phản ảnh đặc tính địa phương hay đoàn thể như Câu Lạc Bộ Kháng Chiến hay “Sĩ phu Bắc Hà” trong nước và các đảng phái quốc gia ngoài nước tiếp nối truyền thống vốn có tại miền Nam trước đây, các phong trào chống độc tài Cộng Sản hiện nay mang có tầm vóc rộng hơn trên phạm vi cả nước.

Tuy nhiên, dù với nhiều hình thức đấu tranh, bạo động hay bất bạo động, công khai hay kín đáo, cuộc vận động dân chủ đất nước đã tiến rất chậm so với sự mong đợi của chúng ta. Mục tiêu tranh đấu cho một nước Việt Nam tự do, dân chủ và thăng tiến vẫn còn là một mục tiêu với tất cả khó khăn, thử thách đang chờ đợi. Và câu hỏi làm cách gì để đưa đất nước ra khỏi bế tắc độc tài hiện nay để trở nên một xã hội dân chủ văn minh là một câu hỏi lớn mà bất cứ ai quan tâm đến tương lai dân tộc đều phải đặt ra cho chính mình.

Có nhiều lý do khách quan và chủ quan đã làm cho cuộc vận động dân chủ tại Việt Nam tiến chậm.

Lý do khách quan trước hết vì chế độ đang thống trị Việt Nam ngày nay vẫn là chế độ độc tài tuyệt đối với tất cả phương tiện khủng bố con người về cả vật chất lẫn tinh thần không khác mấy với thời Stalin còn sống. Một trong những lý do giới lãnh đạo đảng đã không thay đổi tên đảng Cộng Sản thành một tên khác dễ nghe hơn, mặc dù họ biết phần lớn nhân loại đều khinh rẻ và xem đó như là một dấu tích của một giai đoạn suy thoái đầy tai họa trong quá trình phát triển của con người, bởi vì họ biết rằng chỉ bản thân hai chữ Cộng Sản thôi cũng đủ làm nhân dân Việt Nam mất ăn mất ngủ, một mối lo sợ ám ảnh thường trực trong tâm trí người dân Việt Nam.

Việc duy trì tên đảng Cộng Sản Việt Nam là một biện pháp đối nội, là cách để cảnh cáo nhân dân Việt Nam rằng nhà tù vẫn còn đó, súng đạn cũng còn đó, các biện pháp trừng phạt không thương xót, những cách trả thù ghê rợn vẫn còn đó, sẵn sàng áp dụng như họ đã và đang áp dụng. Trong nội bộ trung ương đảng, họ có thể tranh chấp nhau về quyền lợi cá nhân, về các chính sách ngắn hạn có tính chiến thuật của đảng trong mỗi thời kỳ nhưng về lâu dài các cấp lãnh đạo trung ương luôn trung thành tuyệt đối với mục tiêu toàn trị của đảng, các đặc tính kế thừa trong giới lãnh đạo vẫn được diễn ra theo một tiến trình chọn lọc kỹ càng và thận trọng như đã được thực hiện trong suốt gần 80 năm qua.

Một lý do khách quan khác, về mặt quốc tế, cuộc vận động dân chủ tại Việt Nam thiếu ủng hộ tích cực và đúng mức từ các cường quốc thuộc khối tự do. Chính sách của Mỹ đối với Á Châu nói chung và Việt Nam nói riêng, gây tác hại cho đảng Cộng Sản Việt Nam thì ít mà cho các phong trào vận động dân chủ thì nhiều. Việt Nam ngày nay không còn là điểm nóng như trong thời chiến tranh lạnh giữa hai khối Tư Bản và Cộng Sản. Việt Nam ngày nay cũng không phải là Việt Nam thời chiến tranh biên giới lần thứ nhất, 1979 với Trung Quốc, thời kỳ mà các hậu quả chính trị quân sự còn có thể tạo ra các ảnh hưởng chính trị quốc tế. Việt Nam ngày nay là một quốc gia nghèo nàn, cô đơn và cô thế.

Những buổi tiếp tân dành cho các nhà đối kháng Việt Nam tại tòa lãnh sự Mỹ tại Sài Gòn năm 2005, các buổi tiếp xúc với các lãnh đạo đảng phái quốc gia và cộng đồng Việt Nam trước khi tổng thống Bush lên đường thăm Việt Nam 2006 hay trước khi tiếp đón các lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam 2007 chỉ là hình thức để chứng tỏ Mỹ là nước lãnh đạo thế giới dân chủ tự do và cũng để vuốt ve tình cảm của cộng đồng người Mỹ gốc Việt nhiều hơn là một hình thức thu thập ý kiến, thăm dò quan điểm chuẩn bị cho một chính sách đối ngoại. Dưới chính quyền Barack Obama, ngoài chiến tranh tại Iraq va Afghanistan chưa dứt, nước Mỹ còn phải đương đầu với nạn đại khủng hoảng kinh tế, vấn đề nhân quyền và dân chủ tại Việt Nam gần như không được nhắc tới, ngoài hai chữ Khe Sanh trong diễn văn nhậm chức của ông.

Lý do thứ ba, các tổ chức cộng đồng Việt Nam hải ngoại hoạt động rất hữu hiệu trong việc ngăn chặn ảnh hưởng của đảng Cộng Sản Việt Nam tại hải ngoại nhưng chưa hữu hiệu trong việc phát động và phối hợp các chiến dịch chống đảng ngay trong nước. Đồng thời, mức độ yểm trợ của cộng đồng Việt Nam hải ngoại dành cho các phong trào dân chủ trong nước chưa đủ mạnh để tạo nên một thế đối lực với chế độ và củng cố niềm tin trong lòng những kẻ đang đứng đầu sóng ngọn gió vào một hậu phương vững mạnh ở bên ngoài.

Có nhiều lý do đã tạo ra sự ngăn cách nầy. Không giống như cộng đồng các sắc dân khác tại Mỹ, cộng đồng Việt Nam được hình thành sau một cuộc chiến tranh dài với quá nhiều đau thương và chịu đựng. Người Việt Nam ra đi mang trên vai cả quá khứ đầy u uất và một tương lai còn nhiều bất định. Nhiều trong số họ đến được bến bờ tự do khi chiếc áo chưa phai hết mùi súng đạn và những vết thương trên da thịt vẫn còn đang mưng mủ từ năm tháng lao tù. Đa số người Việt đến hải ngoại sau 1975, nhất là các anh chị chú bác trong chương trình HO lòng còn sôi sục hờn căm sau một thời gian dài đã bị đảng Cộng Sản Việt Nam lừa gạt, đày ải trong các trại tù khắp ba miền đất nước. Tiếng súng đã im nhưng sức chấn động vẫn còn nghe trong giấc ngủ xứ người. Những cựu tù nhân của chế độ không tin tưởng một chút nào nơi đảng Cộng Sản là chuyện đương nhiên mà còn nghi ngờ bất cứ thành phần, cá nhân nào có ít nhiều liên hệ đến chế độ Cộng Sản. Sự đón nhận các phong trào dân chủ trong nước trong nhiều trường hợp vẫn còn giới hạn và thận trọng. Thái độ đó, trong lúc không tránh khỏi, đã làm yếu đi sức mạnh đoàn kết dân tộc vô cùng cần thiết trong cuộc đấu tranh chống lại một đảng độc tài có đầy kinh nghiệm làm phân hóa đối phương.

Đối với các phong trào dân chủ trong nước, tác giả Lâm Yến, sinh viên chương trình tiến sĩ kinh tế tại một đại học ở Mỹ, trong một loạt tiểu luận về dân chủ đăng trên diễn đàn Talawas.org tháng Bảy 2005, đã khai triển nhận xét của giáo sư Zachary Abuza, giáo sư Khoa Chính Trị Học tại đại học Simmons College ở Boston và cũng là chuyên viên về Đông Nam Á, và đưa ra bảy điểm gọi là “hạn chế”, đúng ra là bảy thử thách mà những người đóng vai lãnh đạo các phong trào dân chủ trong nước phải vượt qua:

1. Đa dạng và do đó họ hầu như không tìm được tiếng nói chung.
2. Phần đông thuộc lớp người lớn tuổi.
3. Chưa bao giờ được dân chúng coi là biểu tượng cho đạo đức và lương tri dân tộc.
4. Không có hoặc có rất ít sáng kiến vận động xã hội, và do đó thường chỉ khẳng định lập trường bất đồng bằng một số bài viết và dừng lại ở đó.
5. Không được tiếp cận hoặc không chủ động tìm cách tiếp cận với các lý thuyết về chuyển đổi dân chủ, với thực tiễn sinh động và các kinh nghiệm đấu tranh của các phong trào dân chủ nhân quyền khắp nơi trên thế giới.
6. Thiếu sáng kiến vận động xã hội và vì thế, không hướng vào đấu tranh nhằm hình thành hoặc mở rộng các biểu hiện sinh động ấy.
7. Chỉ tập trung vào phê phán chính trị trực diện với hệ thống thượng tầng mà bỏ quên các biểu hiện sinh động của sinh hoạt dân chủ trong đời sống.

Điểm đầu tiên giáo sư Zachary Abuza phê bình thật ra là một hạn chế có tính khách quan chứ không phải chủ quan mà các nhà lãnh đạo các phong trào dân chủ mắc phải. Các nhà phản kháng, đại biểu cho các quyền lợi riêng của tập thể họ, đương nhiên phải đa dạng và phải phát xuất từ các môi trường khác nhau. Họ cần có thời gian để thay đổi cách nhìn. Cách mạng xã hội là một tiến trình luôn bắt đầu từ những cái riêng, rời rạc trước khi dẫn đến cái chung, từ cá thể dẫn đến tổng thể. Và các nhà phản kháng trong nước chứng tỏ họ đã vượt qua được thử thách đó.

Điểm thứ hai chỉ đúng với giai đoạn cuối thập niên 1980 hay đầu thập niên 1990 khi các nhà bất đồng chính kiến phát xuất từ chế độ hay đã từng phục vụ nhiều năm trong chế độ, nhưng không còn đúng với giai đoạn hiện nay khi các hoạt động gây tiếng vang lớn đều phát xuất từ lớp trung niên hay trẻ hơn. Thành phần đối kháng trẻ trung là điểm nổi bật của các phong trào dân chủ trong nước trong thời gian qua.

Những điểm hạn chế còn lại do Lâm Yến đưa ra đúng một phần nhưng đều là những điểm có thể sửa đổi được. Thời đại của những anh hùng biểu tượng cho lương tri dân tộc xuất hiện để lãnh đạo nhân dân đã qua rồi. Lãnh tụ sẽ được sản sinh từ các phong trào quần chúng. Một nhà phản kháng không nhất thiết phải trang bị cho mình tất cả các tiêu chuẩn về kiến thức, lý thuyết, sáng kiến vận động xã hội trước khi dấn thân vào đại cuộc. Không một trường đại học nào dạy làm cách mạng. Sáng kiến bao giờ cũng là kết quả của những tiếp cận, những va chạm thực tế, học hỏi từ những kiến thức mới, gạn lọc và áp dụng vào điều kiện Việt Nam.

Một số người quan tâm đến phong trào dân chủ trong nước cũng tỏ ra lo ngại cho sự đoàn kết trong nội bộ phong trào. Đó là mối lo chính đáng nhưng nghĩ cho cùng điều đó cũng không thể nào tránh khỏi. Điều quan trọng là các vị đó phải biết tự chế, nếu không họ sẽ bị đẩy lùi ra phía sau hay có thể rơi hẳn ra ngoài. Lý thuyết về dân chủ cũng thế. Lý thuyết có thể rất phức tạp nhưng luôn bắt đầu từ những điều đơn giản nhất. Khi ký giả báo New York Times phỏng vấn một cử tri Iran tại sao anh ta phải đi bỏ phiếu, anh trả lời “Đất nước tôi cần thay đổi”. Đúng như Karl Popper đã viết “Dân chủ là phương cách để thay đổi một chính quyền tệ hại mà không phải đổ máu”. Chỉ có thế. Việt Nam cũng có một chính phủ tệ hại cần phải thay đổi nhưng nhân dân Việt Nam lại không được quyền bỏ phiếu.

Ngoài tiểu luận số 1 bàn về Bảy hạn chế lớn của bất đồng chính kiến ở Việt Nam, tác giả Lâm Yến và nhóm Duy Tân Trẻ mà tôi đã có dịp gặp gỡ và trao đổi, cũng đã viết hàng loạt tiểu luận rất giá trị liên quan đến các phong trào dân chủ Việt Nam không chỉ hiện nay mà cả trước 1975, không chỉ Việt Nam mà nhiều quốc gia có hoàn cảnh tương tự. Họ là những người rất trẻ và đầy tâm huyết với đất nước. Ở một nơi xa xôi và cũng không bao nhiêu người biết đến họ nhưng qua khả năng dịch thuật, phân tích, tổng hợp, các bạn vẫn cống hiến một cách hữu hiệu vào dòng vận động dân chủ của đất nước.

Với tất cả các hạn chế, khó khăn, thử thách chủ quan và khách quan vừa nêu trên, phải chăng cuộc vận động dân chủ Việt Nam đã hoàn toàn bế tắc?

Với hàng loạt vụ bắt bớ các lãnh đạo trẻ như Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Tiến Trung mới đây, phải chăng các phong trào dân chủ tại Việt Nam sẽ bị dập tắt, ít nhất trong một thời gian khá dài?

Không. Dân chủ cho dân tộc Việt Nam có nhiều triển vọng tốt đẹp và chắc chắn sẽ trở thành hiện thực. Sự tin tưởng đó không phải là một giấc mơ ngày mà phát xuất từ nhiều lý do cụ thể.

Thứ nhất, tôi tin rằng những bước thoái bộ mà các bạn trẻ Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Tiến Trung đang gặp phải sẽ là những bài học, những vốn sống cho những nỗ lực khác của họ và các bạn trẻ khác trong tương lai chứ không phải là những thất bại của cuộc vận động dân chủ. Và dù cho Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Tiến Trung có bị loại ra khỏi cuộc tranh đấu này, hàng trăm, hàng ngàn Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Tiến Trung khác sẽ tiếp tục hành trình. Tôi không hô khẩu hiệu tuyền truyền đâu, đó là thực tế cách mạng sẽ diễn ra như đã từng diễn ra trong suốt dòng lịch sử. Tuổi trẻ là sức sống của dân tộc, tuổi của tìm tòi và khai phá. Những ưu tư về đất nước, những hổ thẹn xót xa khi nhìn sang thế giới hiện đại bên ngoài so sánh với một Việt Nam còn quá nhiều thua kém, đã buộc họ chọn cho mình một thái độ, một hướng đi cụ thể để gánh vác trách nhiệm lịch sử. Trong lúc hàng triệu người im lặng, họ đã cất lên tiếng nói. Trong lúc hàng triệu người ngồi yên, họ đã đứng dậy. Những việc họ làm có thể chưa hoàn toàn thích hợp với thời điểm này nhưng qua những chia sẻ dù ngắn ngủi với Trung, đọc bài Định viết, tôi tìm thấy trong các bạn trẻ đó một tình yêu nước vô cùng trong sáng. Ngọn lửa yêu nước thiêng liêng đó là máu, là tim, là hơi thở gắn liền với số phận của một đời người, và khi tắt đi thì đời người cũng tắt.

Ngồi xem các bạn “trả bài” trên các hệ thống truyền hình tôi thấy tội nghiệp, không phải cho Trung, cho Định, cho Thức mà cho Đảng, mấy mươi năm cũng không có một kỹ thuật khai thác nào mới, vẫn một bổn cũ từ thời Stalin đem ra dùng lại. Cho dù họ “thú tội” thật thì đã sao. Những anh hùng trong mặt trận đấu tranh vì tự do dân chủ ngày nay không nhất thiết là những người lúc nào cũng sẵn sàng vào tù ra khám, chịu đưa đầu cho giặc chém để bảo vệ danh dự, bảo vệ tên tuổi như các thời đại trước đây. Cuộc chiến còn dài. Tuổi đời còn trẻ. Họ xem việc thắng thua với nhà nước như một trò chơi mà giải thưởng dành cho các họ không phải là những huân chương, những bằng khen, những lời ca tụng mà là những niềm vui được đóng phần mình cho dòng thác cách mạng mà thế hệ họ đang theo đuổi và sẽ hoàn thành.

Thứ hai, tôi tin các bạn trẻ trong nước cũng như tại hải ngoại sẽ tiếp tục tận dụng sở trường và ưu thế đấu tranh của họ thay vì nối tiếp con đường thất bại mà các nhà phản kháng thuộc thế hệ trước đã đi. Mô thức đấu tranh ngày nay là bất cứ một mô thức nào thích hợp với từng cá nhân, từng nhóm, từng tập thể. Thay vì thành lập một tổ chức chính trị có cương lĩnh quá chặc chẻ để rồi tự giới hạn các chương trình hành động và thu hẹp không gian sinh hoạt, tại sao không tạo ra một vận hội lớn nơi mọi người đều có thể tham gia? Cuộc biểu tình của hàng trăm ngàn người dân Iran, trong đó đa số là tuổi trẻ với khẩu hiệu “lá phiếu của tôi đâu?” là một bằng chứng hùng hồn cho thấy sức mạnh như thác đổ của tuổi trẻ khi họ biết vận dụng kỹ thuật vào cuộc đấu tranh chung. Các cuộc biểu tình tại Iran đã được phát động và gần như được điều hành hoàn toàn bằng các phương tiện Internet. Các hãng tin lớn như CNN, BBC cũng đều nhận tin tức trực tiếp từ Internet. Cuộc biểu tình tại các tỉnh Tân Cương xa xôi của Trung Quốc cũng được phát động đầu tiên từ Internet.

Cách đây khá lâu, tôi có dịp tham dự một bữa cơm thân mật ở nhà một người quen để tiễn đưa một em du sinh vừa hoàn tất chương trình cao học và sắp trở lại Việt Nam. Sau bữa cơm chiều, hai anh em chúng tôi ra ngoài sân ngồi nói chuyện riêng. Người bạn trẻ, nhân vật chính trong bữa tiệc chia tay, buột miệng hỏi: “Theo anh, em nên làm gì khi trở về Việt Nam”. Tôi biết ý em muốn hỏi không phải làm nghề nghiệp gì để sống nhưng làm gì một cách cụ thể để đóng góp vào tiến trình dân chủ hóa đất nước. Tôi đáp “Làm việc gì em thấy thích hợp nhất với khả năng của mình, làm kỹ sư, làm bác sĩ, làm nhà giáo, làm luật, miễn là gieo trồng cho được hạt giống dân chủ vào môi trường mà em hoạt động và biết mình đứng đâu trong cuộc đấu tranh phức tạp và khó khăn này.”

Tôi nói thế bởi vì thực tế đất nước không dễ dàng như ở Mỹ, ở Pháp. Suốt năm năm ở Mỹ, người bạn nhỏ mà tôi tiễn đưa sống trong một xã hội tự do, không ai dòm ngó, đe dọa đừng nói chi là trấn áp, bắt bớ, giam cầm. Suốt năm năm em sinh hoạt trong một môi trường tự trị đại học, là thành viên của một khối quần chúng chiếm đại đa số, những khẩu hiệu nhân quyền, tự do, dân chủ em hô lên được mọi người vỗ tay tán thưởng. Suốt năm năm em sống trong xã hội nơi mọi giá trị đều có thước đo, đều có sự so sánh và cách duy nhất để em được trọng dụng là phải làm hay hơn, giỏi hơn, tốt hơn những người khác trong cùng một ngành nghề. Về lại Việt Nam là trở về từ chỗ em ra đi, nơi guồng máy cũ vẫn chạy trên những nếp mòn như ngày em còn ở đó, nơi nấc thang xã hội được tính bằng đường dây quen biết, bằng tiền hối lộ, nơi tiếng nói của em sẽ là tiếng nói của một thiểu số rất nhỏ, cô đơn, xa cách ngay cả với bạn bè và bà con thân thích, nơi những thao thức, khát khao một thời cháy bỏng trong tâm hồn em sẽ dễ dàng tan loãng trong những nhu cầu cụ thể của đời sống.

Do đó, cuộc vận động dân chủ ngày nay không phải là môi trường chỉ dành riêng cho những người ly khai khỏi mọi ràng buộc, dâng hiến trọn vẹn cuộc đời cho lý tưởng tự do dân tộc như cha ông chúng ta đã làm ngày trước mà diễn ra ở mọi nơi, mọi chỗ, mọi ngành nghề và mọi người đều có thể tham gia. Như một lần tôi đã viết đây, mặc dù khi các nhân tố cách mạng chín muồi và cần thiết, những người yêu nước có thể phải kết hợp thành một đảng chính trị tranh đấu trực diện và công khai thách thức quyền lãnh đạo đất nước, nhưng nếu chưa chín muồi họ sẽ hoạt động một cách thích hợp với hoàn cảnh cá nhân của họ. Cuộc tranh đấu ngày nay không bắt đầu từ những trận đánh lớn ngoài mặt trận như trong thời chiến mà bắt đầu từ công việc mỗi chúng ta đang làm; không bắt đầu từ cấp cao xuống cấp thấp, từ trung ương đến địa phương mà bắt đầu từ những việc làm nhỏ, trong phạm vi nhỏ của mỗi người, mỗi gia đình, thôn xóm, trường học, quận huyện, thành phố và tiến dần đến phạm vi toàn xã hội. Mỗi người Việt Nam yêu nước, trong hay ngoài nước, tùy theo hoàn cảnh và điều kiện thuận lợi của mình, chủ động tạo nên một mặt trận riêng nhưng nhằm theo đuổi mục tiêu chung là cô lập, bào mòn, tẩy chay và cuối cùng loại bỏ cơ chế chính trị độc tài, độc đảng, mở đường cho công cuộc phục hưng toàn diện Việt Nam, giành lại Hoàng Sa, Trường Sa từ tay Trung Quốc.

Nhắc đến đảng Cộng Sản Trung Quốc không thể không nghĩ đến tội ác của chúng đối với nhân Việt Nam như Nguyễn Trãi trong Bình Ngô Đại Cáo “Ðộc ác thay! Trúc rừng không ghi hết tội. Dơ bẩn thay! Nước bể không rửa sạch mùi. Lẽ nào trời đất tha cho. Ai bảo thần nhân nhịn được.” Lấy lại Hoàng Sa, Trường Sa và các vùng đất vùng biên giới phía bắc là một mục tiêu đầy khó khăn thử thách. Trung Quốc ngày nay không phải là Trung Quốc của thời mấy anh chàng bộ đội mới vào tiếp quản Bắc Kinh cứ đè mấy cái đèn nê-ông mà mồi thuốc lá. Trung Quốc ngày nay cũng không còn Trung Quốc thời bắt dân chúng cong lưng thổi chảy nồi niêu xong chảo cho đạt chỉ tiêu sắt thép. Trung Quốc ngày nay cũng không phải là Trung Quốc dùng ngựa, lừa để thồ vũ khí như trong thời chiến tranh biên giới lần thứ nhất 1979. Ngoại trừ năm nay, 2009, trong hai chục năm qua, mức phát triển kinh tế của Trung Quốc luôn đạt mức trên 10 phần trăm. Tổng sản lượng kinh tế của Trung Quốc cao gấp 9 lần hơn của thời Trung Quốc xua quân sang đánh Việt Nam.

Hoa Kỳ hẳn nhiên rất lo ngại ảnh hưởng bá quyền của Trung Quốc tại vùng Thái Bình Dương nhưng trong khi phải chiến đấu trên hai mặt trận lớn ở Trung Á, không thể đề ra một biện pháp cứng rắn cụ thể nào ngoài việc kêu gọi Trung Quốc hợp tác với các quốc gia Á Châu trên cơ sở các bên cùng có lợi. Đó là chưa kể 2500 tỉ dollar Mỹ đang nợ Trung Quốc dưới hình thức trái phiếu công khố (Treasury Bills & Treasury Bonds), kết quả của thặng dư xuất cảng hàng hóa giá rẻ từ Trung Quốc sang Mỹ.

Nhưng lịch sử nhân loại là một dòng sông không ngừng chảy. Dòng sông lịch sử mang đến những phù sa bồi đắp thành những nền văn minh rực rỡ nhưng đồng thời cũng tàn phá, soi mòn bao đồi núi. Không một đế quốc nào tồn tại mãi. Bản đồ thế giới hiện nay không phải là bản đồ thế giới trước thế chiến thứ hai và lại càng không phải là bản đồ của thời thực dân, phong kiến. Câu nói của nhà báo John Wilson “Mặt trời không bao giờ lặn trên đất Anh” ngày nay đã là một quá khứ xa xôi. Trung Quốc cũng không thoát khỏi cuộc vận hành của lịch sử. Sự lớn mạnh của đế quốc đỏ này đã mang trong bào thai nhiều mâu thuẩn về văn hóa, xã hội, chủng tộc và kinh tế, có tính đối kháng triệt tiêu. Nếu Việt Nam là một quốc gia dân chủ, hiện đại về kinh tế, tiên tiến về khoa học kỹ thuật, đoàn kết, biết nắm bắt cơ hội, mục đích giành lại Hoàng Sa và tái lập toàn bộ chủ quyền trên quần đảo Trường Sa là một khả năng.

Thứ ba, tôi có một niềm tin sâu xa vào sức mạnh tự chủ của dân tộc Việt Nam. Lịch sử đã chứng minh, thời đại nào người yêu nước cũng đông hơn những kẻ phản dân hại nước. Không ai sống thay và chết thế cho mình. Số phận Việt Nam phải do nhân dân Việt Nam quyết định. Gần bốn trăm năm từ thời anh em bôi mặt đá nhau lần đầu bên bờ sông Nhật Lệ tháng Tám 1626, mở đầu cho nội chiến được gọi là Trịnh Nguyễn phân tranh đến nay dân tộc Việt Nam chưa có một thời kỳ nào ổn định đủ dài để chấn hưng các giá trị truyền thống, cập nhật lại khả năng và phục hồi sức mạnh dân tộc. Căn bệnh hoài nghi, phân hóa qua các thời kỳ phong kiến, thực dân, cộng sản là những vi trùng độc hại, nhiễm sâu vào trong ý thức con người. Phục hưng Việt Nam, do đó, là một cuộc vận động cách mạng dân tộc chứ không đơn giản là một cuộc đấu tranh chính trị đoản kỳ. Điểm hẹn có thể còn xa, đường đi sẽ còn khó khăn, nhưng sẽ đến. Trên chuyến tàu xa, hẳn nhiên cũng có người mệt mỏi, không chịu đựng nổi gian lao, cạn nguồn nhiệt huyết, bỏ cuộc, bước xuống nhưng sẽ có những người khác mang theo những vốn liếng, hành trang và hy vọng mới bước lên.

Và cuối cùng, tôi tin cuộc vận động dân chủ sẽ thành công bởi vì có sự góp sức của quý vị, những người có mặt trong buổi tối hôm nay cũng như hơn hai triệu người Việt đang sống nhiều nơi trên thế giới. Ngày xưa chúng ta thường tranh luận nhau, trong nước hay ngoài nước sẽ đóng vai trò chủ lực, trong nước hay ngoài nước sẽ là nhân tố chính thúc đẩy chuyến tàu dân chủ. Hôm nay, những tranh luận đó không còn cần thiết nữa. Một vận hội mới đang mở ra, và chúng ta, dù ở đâu trên trái đất nầy cũng đều có thể đóng góp, có thể làm được hết phần mình mà không phải chen lấn nhau hay dẫm lên bước chân người khác. Con tàu phục hưng dân tộc Việt Nam còn rất rộng và đủ chỗ cho mọi người có tâm huyết.

Trần Trung Đạo
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 3 guests