Page 40 of 156

Posted: Thu Apr 08, 2010 5:03 am
by thienthanh

Image

THỜI ĐIỂM CHỜ ĐÓN MÙA HOA
"Hope For the Flowers" tạm dịch là Chờ Đón Mùa Hoa. Đó là tên một cuốn sách tâm linh khá nổi tiếng, bán chạy nhất trong nhiều năm liền của tác giả Trina Paulus. Cái đặc biệt của cuốn sách này là rất ít chữ mà chỉ có hình vẽ thôi. Mà lại toàn là hình sâu róm, sợ quá!

Con sâu róm sinh ra trên một cành cây trong một ”gia đình êm ấm”. Một hôm nó nhận ra mình đã trưởng thành, cần ”đi xuống cuộc đời”. Và nó đã bò xuống. Nó lấy làm lạ là tại sao nó toàn gặp những con sâu đang đi hối hả về phía trước. Nó hỏi đi đâu, thì những chú sâu không có giờ trả lời, chỉ ngoắc đầu thật nghiêm trọng. Nó cũng sinh tò mò đi theo. Một lúc lâu thì nó thấy một cái cột thật cao, ngọn chạm tới trời. Nhìn kỹ hơn, nó nhận ra đó là một cái cột toàn sâu lúc nhúc đang chen nhau bò lên. Nó hỏi trên đó có gì thì không đứa nào trả lời. Thấy đông đứa hăm hở như thế chắc là phải có gì hồ hởi lắm. Vậy là nó cũng hòa mình vào đám đông ”ai sao tôi dzậy” mà cố sức leo lên, đạp văng nhiều thằng khác mà đạt mục tiêu. Lên đến lưng chừng thì nó ”thấm mệt cuộc đời”, ”ngựa nản chân bon”, bèn nghĩ chuyện bỏ cuộc. Chắc là chả có gì đâu. Và nó bò được xuống đất. Hú hồn.

Nhưng rồi nó đâm hồ nghi chính nó. Hay là mình chẳng giống ai. Nó quan sát thấy ”người ta” miệt mài tranh nhau bò lên thế kia, ắt là phải có cái gì chứ. Thế là nó lại ra sức trèo lên một lần nữa. Lần này nó hung hãn hơn trước. Đấm đá kỹ hơn. La hét kỹ hơn. Tỏ ra ta đây lắm. Và cuối cùng nó đã leo lên được đỉnh cao chót vót. Nhưng cũng chính là lúc nó thất vọng nhất. Chẳng có gì cả. Thì ra cái cột giầu sang cuộc đời này chỉ là một ảo tưởng được tạo bằng chính những con sâu bon chen đặt ra tiêu chuẩn giá trị. Nhìn sang rừng cây bên cạnh, nó thấy một đàn bướm đủ màu tung tăng vỗ cánh thảnh thơi. Nó có dịp lắng đọng nhìn kỹ để phát giác một điều lạ là ở cành cây đang đeo lủng lẳng những cái tổ kén. Đó là những cái mồ chôn để sâu có thể chui vào mà lột xác thành bướm. Con đường thật là kham khổ đầu tắt mặt tối "chân lấm tay bùn", ai mà chẳng sợ! Nhưng có con đường nào khác nữa đâu?!

TIN VUI TÌM ĐỘNG HOA VÀNG

Mặc dù đang thấy hiện trạng là con sâu, nhưng con sâu biết bản chất của nó là có thể mọc cánh thành bướm bay lên được. Này nhé: Sâu có thể trở thành bướm, những mô đất đá cằn cỗi hai bên đường bỗng bật lên những mầm nụ mới vào buổi sang xuân, chẳng phải là sửng sốt lắm sao?!

Cao điểm của năm phụng vụ trong Đạo Chúa là Lễ Phục Sinh. Kể cũng lạ đấy, Tuần Thánh bao giờ cũng trùng vào đầu mùa xuân hoa nở. Hằng ngày đi đến nhà thờ, tôi thật may mắn được lái xe qua con đường quê thật đẹp vùng Avondale ngoại ô thành phố New Orleans, bang Louisiana. Nhưng đẹp nhất phải kể là những ngày đầu xuân. Bãi cỏ xơ xác hai bên đường mùa đông nay bỗng trải dài một thảm hoa vàng mênh mông. "Động hoa vàng" là đây rồi chứ sao phải mất công mơ tưởng mãi đâu đâu để phải hát nghêu ngao theo kiểu Phạm Thiên Thư với nhạc Phạm Duy:

Rằng xưa có gã từ quan,
lên non tìm động hoa vàng ngủ say.


Mình như đang đi giữa vùng đất thần tiên thơ mộng quá chừng, mà cũng thật gần tầm tay với. Con đường này chắc cũng nhiều người qua lại mỗi ngày. Không biết được mấy người lái xe chậm lại một chút để chiêm ngưỡng vẻ hút hồn của đất trời hòa nhập, nhất là vào những lúc mặt trời đang lăm le đòi đi ngủ, nhoẻn miệng cười toát ra một sắc đẹp quyến rũ vô cùng. Mình bỗng bật lên lời thơ của Tô Thùy Yên:

Ta về cúi mái đầu sương điểm
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời.
Cảm ơn hoa đã vì ta nở,
Thế giới vui từ mỗi lẻ loi.


Tim mình bỗng đánh nhịp bản hoan ca mùa xuân sau những ngày lạnh thu mình lại ẩn dưới những cành trơ trụi tiêu sơ. Mình đọc tiếp lời thơ trên:

Ta về một bóng trên đường lớn
Thơ chẳng ai đề vạt áo phai
Sao bỗng nghe đâu mềm phế phủ
Mười năm đá cũng ngậm ngùi thay.

Vĩnh biệt ta mười năm chết dấp
Chốn rừng thiêng im tiếng nghìn thu
Mười năm mặt sạm soi khe nước
Ta hóa thân thành vượn cổ sơ.


NHỊP ĐIỆU LUÂN VŨ

Chắc là Tô Thùy Yên đã bị đầy đọa vùi dập mười năm chứ gì. Đời như đã bỏ. Lỡ vận. Lỡ thời. Nỗi buồn dài dệt bằng những tiếng thở dài, mênh mang, mênh mang. U uất thâm gan tím mật. Mười năm coi như mình đã chết dấp.

Vậy mà mình bỗng bắt lại được nhịp đời bật nụ non khi nhìn hoa nở. Nó nở thì nở chứ có mắc mớ gì mà dám bảo là đã vì ta nở? Nhưng mình thấy rõ là nó vì mình mà nở. Ai muốn nói sao, kệ. Nó nở để cho hoa mình nở. Mọi phiền muộn bỗng dưng thành hòa khúc dịu êm. Mặt trời đang rạng lên trong tâm ta. Một bình minh mới như bình minh đầu tiên thuở hoang sơ nổ ra từ tiếng “big bang”.

Thiên nhiên quả là người mẹ hiền có phép mầu hóa giải những oan khiên, những phiền muộn. Mẹ có điệu ru của mẹ, qua bốn mùa đong đưa nhịp đời trong nôi đại dương dòng sinh lực vẫn tuôn chảy. Nhìn nụ hoa vừa nở, mọi tàn lụi đời mình bỗng mở lối thênh thang. Một nhịp mới bắt đầu. Tự nhiên lắm. Tự nhiên như dòng nước chảy, như tia nắng vừa lên, như dòng hơi thở bơm sinh khí mỗi khoảnh khắc. Thì ra vạn vật đều đi theo một vũ khúc bao la đất trời, gồm ba giai đoạn, tức là nhịp ba, nhịp luân vũ. Đây cũng là tiến trình chết đi và phục sinh, niềm tin gốc của đạo Chúa, nơi Đức Giêsu, và nơi mỗi người.

Nhận ra hiện trạng mình là một hạt cây hay con sâu với hướng vọng thành lá hoa với đàn bướm tung tăng.

Dám chấp nhận bị vùi giập thối rữa hay chui vào tổ kén, chấp nhận được những trở ngại, những khổ đau. Mình đâu có dễ tự mình lột xác được. Thì đây mình được gửi đến những thập giá giúp mình lột xác biến thể. Hạt lúa nếu không rơi xuống đất và chịu thối mục, sẽ vẫn trơ trọi một mình (Gioan 12:24). Ai cố giữ mạng sống mình thì sẽ mất, ai vui chết đi sẽ được sống tròn đầy (Gioan 12:25).

Mọc cánh thành bướm vươn lên một cuộc sống mới thênh thang thảnh thơi, không còn gì có thể chế ngự kềm tỏa ràng buộc được nữa.

PHÚT TỊNH TÂM

Nhưng con người nhiều khi lại không khôn ngoan được như thế, mà cứ cố bám lấy lớp vỏ dầy cứng khiến đời sống mỗi ngày mỗi tàn tạ?! Nhà thơ Luân Hoán thấy cảnh đáng thương như vậy liền cất lời tự tình:

Cảm ơn đất đá trổ thơ
Lòng ta hạt bụi vu vơ bám hoài.


Ta không tự mình buông xả dễ dàng đâu. Thì đây thập tự như “ỷ thiên kiếm” được gửi đến để chém chặt khai quang cho lòng ta phải trống trơn. Cảm ơn những khổ đau đã làm ta nên người. Cảm ơn hạt cây chịu thối mục để hoa bỗng nở tràn. Ngày lễ Phục sinh thể hiện đúng tiết nhịp hoa nở. Hoa trong vườn. Hoa trong tâm ta.


Mồ Trống và Phục Sinh: sức đột biến từ cơn giẫy giụa.

Một hôm tôi chợt thấy một con ve sầu đang đong đưa trên một cành cây ở vườn sau nhà, nhưng đến gần thì nhận ra đó chỉ là một cái xác, có một kẽ nứt phía sau lưng. Đúng là mồ trống rồi. “Nó” đi đâu mất? Bên cạnh là một nụ hoa chớm nở đầy sức sống. Không thấy “nó”, nhưng trông thấy biểu hiện của “nó” nơi một nụ hoa mới thì chẳng phải mất công tìm ở đâu nữa. Nó đã lột xác và đã phục sinh mang một dạng hình khác đầy hoạt lực tươi trẻ. Với cảm hứng này, tôi đã lấy máy chụp ra mà chộp được cái nét hồn của chính mình đang chuyển biến qua biểu tượng đời sống, và đặt tên là "Xác Ve Sầu và Nụ Hoa Mới: Mồ trống và Phục Sinh."

Hạt cây không phục sinh trở lại hạt cây, nhưng đã là hoa lá mới. Con sâu không rụng lông sống lại với kiếp sâu róm, nhưng đã lột xác thành con bướm bay. Đó mới là cảm nghiệm phục sinh cho tôi lúc này như thánh Phaolô tuyên sấm một cuộc tạo dựng mới:

“Ai ở trong Đức Ki-tô đều là tạo vật mới. Cái cũ đã qua, và cái mới đã có đây rồi.” (2Cor 5:17)

Liệu tôi đã bắt đầu dám lột xác vươn mình lên hay vẫn tiếp tục bám vào lớp bụi bặm phù du, tự đầy đọa mình và làm khổ nhiều người? Những gì tôi đang cần xả bỏ để bắt đầu sống thảnh thơi hơn? Và lời thơ vang vọng trở thành lời phản tỉnh:

Cảm ơn đất đá trổ hoa
U mê hạt bụi lòng ta bám hoài.


Trần Cao Tường, Lm.

Posted: Fri Apr 09, 2010 6:08 am
by dailien
Nhiều Trai Trung Cộng Mơ Lấy Vợ Việt
Cộng đồng mạng ở Trung Quốc từ lâu lưu truyền lời đồn rằng phụ nữ Việt Nam luôn mong ngóng lấy chồng Trung Quốc. Các hãng môi giới quảng cáo rằng các cô dâu Việt Nam "ngoan ngoãn và hiền dịu", và các chàng không tốn quá nhiều tiền cũng như thời gian để lấy vợ. Báo China Daily viết bài về hiện tượng nhiều đàn ông nước này bắt đầu theo xu hướng đi tour tìm vợ ở Việt Nam.
Image
Dai và vợ - Ngân - trong ngày cưới. Ảnh: China Daily.
Sau 100 cuộc hẹn hò thất bại với các cô gái Trung Quốc, Dai Wensheng quyết định đi Việt Nam để tìm người vợ lý tưởng.

Anh chàng 43 tuổi người Nam Kinh tìm được ý trung nhân - Ngân, người Việt Nam - hồi tháng 8 năm ngoái. "Tôi biết nàng không giống những phụ nữ khác. Khi tôi giương ô che cho nàng khỏi nắng gắt, nàng giành lấy và che cho tôi", Dai kể lại.

Họ cưới nhau chỉ hai tháng sau và Ngân giờ đây đã mang bầu 1 tháng. Cô hòa nhập khá nhanh, đã biết một chút tiếng Trung và thậm chí đã quen với cái lạnh ở Nam Kinh.

Từ tháng 9 năm ngoái, Dai bắt đầu tổ chức các tour hôn nhân cho những người như anh. Hơn một nửa những chàng này xuất thân từ Bắc Kinh hoặc Thượng Hải. Các chàng đều có ít nhất một tấm bằng cử nhân, tuổi từ 35 tới 45. Một phần ba trong số đó nắm chức vụ khá lớn trong các công ty đa quốc gia.

Những chàng rể tiềm năng nói trên được đưa đến Việt Nam và tham gia các cuộc hẹn hò chóng vánh với 10 cô gái từ 18 tới 25 tuổi mỗi ngày. Đối tác ở Việt Nam của Dai chọn các cô có ít nhất trình độ trung học trở lên. Kết quả là, họ đã kết duyên cho gần 50 cặp mà họ mô tả là "trời sinh".

Trào lưu này vẫn còn khá mới ở đại lục dù ở Đài Loan chuyện này đã cũ. Có tới 87.000 phụ nữ Việt lấy chồng Đài Loan trong khoảng thời gian từ tháng 1/1987 tới tháng 3/2008, theo kết quả khảo sát trên mạng của Mạng lưới hôn nhân xuyên biên giới châu Á. China Daily nhận định khó có thể xác định số cô dâu Việt ở đại lục vì họ có thể đăng ký kết hôn với chính quyền một trong hai nước.

Chuyên gia về hôn nhân xuyên quốc gia ở Đại học Thượng Hải Deng Weizhi cho rằng nguyên nhân của hiện tượng trên một phần là do vị thế của phụ nữ Trung Quốc trong xã hội đã tăng lên. Ngoài ra, tỷ lệ mất cân bằng nam nữ cũng là một yếu tố đáng kể. Trung Quốc, theo ông, cũng là một nơi khá hấp dẫn với phụ nữ Việt vì văn hóa hai nước có nhiều điểm tương đồng. "Chính tính cách nhu mì và việc luôn tôn trọng chồng khiến phụ nữ Việt Nam có giá", Deng nói thêm.

Zhou, quản lý trang web Vietnam Blind Dating, đồng tình. Anh nói một trong những động cơ khiến đàn ông Trung Quốc tìm tới Việt Nam là vì họ "chán ngấy thái độ cao ngạo" của con gái trong nước. Zhou, 40 tuổi, cũng tổ chức các tour hôn nhân tới Việt Nam. Mỗi tháng anh đưa 3 người tới Việt Nam và từ chối những anh nào mới ngoài 20 tuổi vì cho rằng họ chưa nghiêm túc về hôn nhân.
Image
Đám cưới của Đông - người Trung Quốc - và cô dâu Việt Nam - Tiến. Ảnh: China Daily.
Dai Wensheng nảy ra ý định tìm kiếm vợ Việt khi anh đọc một bài báo nói về hiện tượng này năm 2008. Hai năm hẹn hò thất bại cũng là nguyên nhân khiến anh tìm tới phương nam. "Tôi có cảm giác những phụ nữ tôi gặp trước đó chỉ muốn kết hôn vì tiền và địa vị", Dai nói.

Sau 3 tháng chuẩn bị, Dai lên đường tới Việt Nam vào tháng 8 năm ngoái. Anh tường thuật trực tiếp 1 tháng kiếm vợ trên blog và thu hút được nhiều sự quan tâm. Phần lớn những người đọc blog bày tỏ ý muốn theo chân anh. Một người trong số họ là Zhao, người Bắc Kinh, đã tìm được vợ nhờ sự giúp đỡ của Dai. Anh chàng quản lý trang web 39 tuổi này vốn rất ngượng ngùng khi đứng cạnh phụ nữ. Viễn cảnh yêu đương của chàng cũng không mấy sáng sủa khi anh nghĩ cần thăng tiến trong sự nghiệp và kiếm nhiều tiền hơn.

Zhao tham gia tour hôn nhân lần đầu vào tháng 2 để trải nghiệm văn hóa Việt Nam. Tháng này, anh trở lại và tìm được một cô gái ưng ý. Họ đang chờ sự đồng ý của cha mẹ cô. "Phụ nữ Việt Nam có những tiêu chuẩn hoàn toàn khác", Zhao nói. "Tất cả những gì họ cần là một người chồng biết yêu thương, chân thành và một gia đình hạnh phúc", Zhao nói.

Những anh muốn kiếm vợ sẽ phải trả khoảng 5.100 USD để tham gia các tour này. Một số người còn trả thêm để đi tour tìm hiểu đất nước Việt Nam. Dai chọn khoảng 10 chàng trong số 100 ứng viên mỗi tháng.

Do 50% những chàng rể tương lai đều đã ly hôn, Dai phỏng vấn để bỏ những người có ý định không tốt. Dai thường chọn những người có lương trên trung bình bởi vì phụ nữ khi tới Trung Quốc thường phải sống nhờ chồng do rào cản ngôn ngữ khiến họ khó kiếm việc. Họ cũng không được hưởng phúc lợi xã hội trong 5 năm đầu tiên.

Dù nhiều cặp yêu từ cái nhìn đầu tiên, việc giành được tình cảm của cha mẹ nàng không dễ dàng. Nhiều anh phải trở lại Việt Nam tới hai, ba lần để cưới vợ. May mắn cho Dai, vợ anh rất muốn lấy chồng Trung Quốc vì anh rể của cô là người Hong Kong và Đài Loan và họ đều là những anh chồng tốt.

Dai - cũng sở hữu một công ty truyền thông - thường tổ chức các cuộc gặp gỡ cho những cô dâu Việt ở Thượng Hải. Anh cũng mở một diễn đàn trên mạng cho các anh chồng để bàn luận về chuyện gia đình, ví dụ như quốc tịch cho con.

Dai đã đăng thông tin cho tour tháng sau tới Việt Nam. "Tôi rất hài lòng khi giúp nhiều người gặp được nhau", anh nói, song cũng cảnh báo các ứng viên nhớ rằng những thứ như rào cản ngôn ngữ, khác biệt văn hóa có thể gây cản trở cho cuộc sống của họ sau này.

Mai Trang

Posted: Sat Apr 10, 2010 3:57 am
by caolynh
Truy tố nhân viên nhà dưỡng lão về tội tra tấn người già

CALABASAS (LA Times) - Một cựu nhân viên nhà dưỡng lão ở khu sang trọng tại thành phố Calabasas, tiểu bang California, hay cười ha hả khi tấn công người già sống nơi đây, theo lời các nhân chứng. Một số nạn nhân trong tình trạng trí óc lú lẫn nên không thể nào cầu cứu ai, theo công tố viện.

Một cựu nhân viên nhà dưỡng lão loại sang bị cáo buộc tội hành hung bốn cư dân nơi đây đã bị kết án hôm Thứ Năm tội tra tấn và hành hạ người già cả.

Bồi thẩm đoàn chỉ tranh luận khoảng 5 giờ đồng hồ trước khi đi kết án Cesar Ulloa về tất cả tám tội trong cáo trạng. Khi quyết định của bồi thẩm đoàn được tuyên đọc trước tòa, bị cáo 21 tuổi, cư trú tại thành phố Reseda nhìn thẳng về phía trước mà không để lộ sự xúc cảm nào.
Image
Hình minh họa. (Hình:Getty Images)

Ulloa, người bị một vết bầm ở mắt phải mà anh ta nói rằng do các phạm nhân khác đánh ở trong nhà giam hồi cuối tuần, có thể lãnh án tù chung thân khi bị tuyên án vào Tháng Năm tới đây.

Theo một nhân chứng, cũng là người cùng làm việc với Ulloa, cho hay bà thấy anh ta nhảy lên ngực một bà cụ 78 tuổi bị câm, xô bà ta xuống giường khi khi bà vùng vẫy. Một nhân viên khác nói rằng bà nhìn thấy Ulloa đứng trên một tủ áo nhảy xuống và đập hai đầu gối vào bụng một cụ ông. Anh ta cũng bị tố cáo là lấy tay của một cư dân phải ngồi xe lăn để đánh một cư dân khác bị bệnh lú lẫn, khiến cả hai bên đánh nhau.

Người vợ góa của một trong số các nạn nhân khóc nức nở trong suốt phiên xử.

“Chồng tôi nay có thể được an nghỉ,” bà Rita Kittower, 86 tuổi, cho hay. “Và cá nhân tôi cũng có sự yên bình.”

Nghi ngờ về Ulloa khởi sự sau khi bà Kittower nhận được cú điện thoại vô danh một ngày sau đám tang của chồng, ông Elmore, nói với bà rằng ông từng bị bạo hành và cái chết của ông có thể không vì tuổi già sức yếu như gia đình đã nghĩ.

Sở Cảnh Sát Los Angeles ra lệnh khai quật tử thi của người cựu kỹ sư này ít ngày sau đó. Họ tìm thấy các dấu vết có sự đánh đập, với nhiều chỗ xương bị gãy. Kết quả cuộc giảo nghiệm nói rằng chấn thương cũng góp phần đưa đến cái chết của ông ta.

Có hơn 20 chỗ nứt được tìm thấy nơi xương sườn của ông Elmore Kittower. Một bác sĩ quang tuyến cho hay trước tòa rằng các vết thương này cũng giống như một người bị xe lửa đụng.

Cuộc điều tra về cá nhân Ulloa cũng dẫn đến một số người khác tình nghi là nạn nhân của anh ta.

Lời khai trước tòa của bà Rita Kittower về người chồng có gần 50 năm chung sống đã khiến bồi thẩm đoàn chảy nước mắt. Sau khi bản án được công bố, bà nghẹn ngào ôm lấy thân nhân của các nạn nhân khác. Ngay cả người thư ký tòa cũng khóc khi bà ngỏ lời từ biệt bà Rita Kittower.

Vụ án bạo hành này làm nhiều người bàng hoàng vì nơi xảy ra tình trạng tệ hại này, nhà dưỡng lão Silverado Senior Living ở Calabasas được coi là một địa điểm sang trọng, nơi gia đình của các cư dân phải trả tới $70,000 mỗi năm để có người chăm nom thân nhân của họ. (V.Giang)

Posted: Sun Apr 11, 2010 4:31 pm
by caubennoc
Nữ hoàng trượt băng Hàn Quốc muốn giải nghệ sớm vì áp lực
Mới 19 tuổi và vẫn còn cả tương lai đầy hứa hẹn phía trước, nhưng Kim Yu-na đang cân nhắc nghiêm túc ý định sớm kết thúc sự nghiệp.

“Tôi không nghĩ giai đoạn sau Thế vận hội lại khắc nghiệt đến thế. Tôi thấy sợ cái cảnh phải thi đấu trở lại và chịu áp lực, căng thẳng cạnh tranh. Tôi đã không sẵn sàng, cả về thể lực lẫn tâm lý, để dự giải Vô địch thế giới vừa rồi. Tôi thậm chí còn nghĩ sẽ ra sao nếu mình không tiếp tục thi đấu tốt sau khi đoạt HC vàng Olympic, sau nhiều năm liền tập luyện chăm chỉ”, Kim chia sẻ trên tờ Chosun Ilbo sau khi trở về từ giải Vô địch thế giới ở Torino, Italy, nơi cô chỉ đoạt HC bạc cuối tháng 3 vừa qua.
Image
Kim Yu-na (trái) đã biết đến cảm giác nặng nề của việc bảo vệ ngôi vị nữ hoàng, khi thất bại trước đối thủ lớn nhất Mao Asada (giữa) ở Torino. Ảnh: AFP.
Tại Thế vận hội Mùa đông ở Vancouver hồi tháng 2, Kim đem về một trong sáu chiếc HC vàng giúp đoàn Hàn Quốc đứng thứ 5 chung cuộc. Chiến công chói lọi ấy cộng với những thắng lợi ấn tượng trước đó biến vận động viên trượt băng nghệ thuật này trở thành một thần tượng ở xứ sở Kim chi. Nhưng mặt trái của vinh quang là sức ép từ sự kỳ vọng và áp lực phải giữ vững ngôi vị số một trước sự cạnh tranh khốc liệt. Tất cả đẩy Kim vào trạng thái mệt mỏi vì căng thẳng.

Đến giải Vô địch thế giới tại Torino mới đây, vận động viên 19 tuổi này chỉ về thứ nhì với tổng điểm 190,79, và đoạt HC bạc. Cô nhất ở phần thi tự chọn, đạt 130,49 điểm, nhưng không thể bảo vệ ngôi số một vì chỉ đứng thứ bảy ở phần thi bắt buộc với 60,30 điểm. Vận động viên người Nhật Mao Asada, đối thủ cạnh tranh lớn nhất của Kim, đoạt HC vàng với tổng điểm 197,58 điểm. Ở Olympic Mùa đông Canada, Mao Asada chỉ giành HC bạc.

Sau thất bại này, nữ hoàng trượt băng Hàn Quốc đã nghĩ về việc kết thúc sự nghiệp: “Tôi đang phân vân, hoặc giải nghệ tìm một nghề khác, hoặc tiếp tục thi đấu. Nếu tôi tiếp tục thi đấu thì đó là vì tôi tin mình có thể giữ vị trí hiện tại. Còn nếu giải nghệ, lý do chỉ đơn giản là tôi đã quá mệt mỏi trước áp lực, căng thẳng vì phải cạnh tranh liên tục. Khi không là một vận động viên chuyên nghiệp, có lẽ tôi sẽ đi học đại học và thỉnh thoảng chơi trượt băng nếu muốn”.
Image
Nghiệp thể thao đỉnh cao đã buộc Kim phải hy sinh nhiều. Ảnh: AFP.
Kim cũng nói thêm về những mất mát kể từ khi trở thành một vận động viên chuyên nghiệp: “Nhờ môn thể thao này, tôi đã bước lên tột đỉnh vinh quang ở tầm thế giới khi còn rất trẻ. Nhưng để được như thế, tôi phải đánh đổi quá nhiều, từ tuổi thơ đến những năm tháng học đường. Thi đấu chuyên nghiệp cũng khiến tôi không có thời gian để kết bạn. Tôi cũng không thể đi chơi đây đó và được ăn uống tự do như bao bạn bè đồng lứa khác”.

Ngôi sao đang còn hợp đồng tài trợ với Nike, Kookmin Bank, Samsung và Huyndai Motor này có rất nhiều dự định cho cuộc sống sau này, một khi cô không còn thi đấu chuyên nghiệp: "Tôi muốn ăn đồ ngon. Bình thường, tôi không thể ăn nhiều vì nếu lên cân, mặt tôi trông buồn cười đến nỗi tôi chẳng dám nhìn vào các bức ảnh của mình trên mạng. Tôi cũng muốn trở lại trường và nếu có cơ hội, tôi sẽ ghi danh theo học khoa tâm lý học thể thao".

Phương Minh

Posted: Tue Apr 13, 2010 4:28 am
by khieulong

Image

Nếu Loài Ong Bị Tuyệt Chủng

Nhà bác học Albert Einstein từng nói rằng: "Nếu loài ong bị tuyệt chủng, con người chỉ sống được 4 năm nữa mà thôi-SOS "
Chuyện gì đang xảy ra với loài ong?Hàng tỷ con ong biến mất bí ẩn
Một hiện tượng diễn ra trên diện rộng, với mức độ nghiêm trọng không thể tưởng tượng được, đang lan dần từ nước này sang nước khác trên khắp hành tinh : nhiều đàn ong bị biến mất không lý do.
Xuất phát từ một trại nuôi ong thuộc tiểu bang Florida (Mỹ) mùa thu năm qua, trận dịch lan dần ra khắp nước Mỹ, tràn sang Canada và châu Âu, rồi “lây” sang tận Đài Loan kể từ tháng tư vừa qua.
Ở bất cứ đâu cũng xảy ra cùng một hiện tượng: hàng triệu chú ong rời tổ rồi không trở về nữa.
Có một điều lạ lùng là gần nơi chúng ở, người ta không hề tìm thấy xác ong, cũng như không thấy sự xuất hiện của một loài động vật ăn thịt ong nào khác.
Một đi không trở lại
Trong vòng vài tháng, chỉ tính riêng ở nước Mỹ, từ 60% đến 90% lượng ong đã biến mất, tức là khoảng 1,5 triệu đàn ong trên tổng số 2,4 triệu đàn thuộc 27 tiểu bang.
Ở Québec (Canada), con số này là 40% trên tổng số các đàn ong.
Ở châu Âu, theo hiệp hội quốc gia những người nuôi ong của nước Đức, nhiều đàn ong đã bị biến mất.
Ở Thụy Sĩ, Italia, Bồ Đào Nha, Hy Lạp, Áo, Anh, Ba Lan cũng xảy ra tình trạng tương tự.
Ở Pháp, nơi những người nuôi ong từng bị thiệt hại nặng nề kể từ năm 1995 - cho tới khi nước này ban hành luật cấm sử dụng thuốc trừ sâu trên các ruộng ngô và ruộng trồng hoa hướng dương – nay dịch cũng đang phát triển trở lại.
Hiện tượng này được đặt tên là “Marie-Céleste” - tên của con tàu mà thủy thủ đoàn đã biến mất một cách bí ẩn vào năm 1872.
Việc hàng đàn ong biến mất khiến cho các nhà khoa học hết sức lo lắng : 80% số loài thực vật trên trái đất phải cần tới các chú ong để được thụ phấn sinh sản
. Không có ong nghĩa là sẽ chẳng có rau hay trái.
Người phụ thuộc vào việc này. Ong xuất hiện trên trái đất trước loài người 60 triệu năm, có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế cũng như sự sống còn của con người.
Ở Mỹ, 90 loại cây lương thực cần ong để thụ phấn, tạo nên lượng lương thực được ước tính vào khoảng 14 tỷ USD.
AP.

Posted: Wed Apr 14, 2010 12:41 am
by dailien
Dư luận quanh vụ biểu tình Hồng Y Mẫn:
Vắng người vì 'nhiễu thông tin'?

Monday, April 12, 2010

Nguyên Huy/Người Việt
LONG BEACH (NV) - Với trên 5,000 giáo dân tham dự Thánh lễ Lòng Chúa Thương Xót tại Long Beach do Hồng Y Phạm Minh Mẫn chủ tế hôm Chủ Nhật, và một con số rất nhỏ người biểu tình bên ngoài sân, dư luận đưa ra nhiều câu giải thích khác nhau cho việc biểu tình ít oi.

Hồng Y Phạm Minh Mẫn gặp sự chống đối do một bức thư ông viết năm 2008 trong đó ông khuyên thanh niên đi dự Ðại Hội Giới Trẻ Công Giáo ở Sydney, Úc, đừng mang cờ vàng ba sọc đỏ.
Image
Quang cảnh buổi Thánh Lễ tại Long Beach.
Trước ngày Ðại Hội Suy Tôn Lòng Chúa Thương Xót diễn ra, một Ủy Ban Phản Kháng đã hình thành và ra lời kêu gọi chống lại sự hiện diện của Hồng Y tại Nam California. Ngoài ra, một bức thư kêu gọi biểu tình ký tên ông Trần Thế Cung và ông Rambo Phạm được loan truyền rộng rãi.

Tuy nhiên, trong ngày lễ, con số biểu tình chỉ có một ít người. Ông Rambo Phạm nói số người tham gia biểu tình, theo ông, là “trên hai chục người.” Nói với Người Việt, ông Rambo Phạm cho rằng số người không đông là vì người ta không biết có lời kêu gọi biểu tình:

“Ở Nam California này có hàng chục tổ chức đấu tranh chống cộng sản, bảo vệ lá cờ Vàng, nhưng sở dĩ người đến biểu tình ít là vì lời kêu gọi biểu tình không được các cơ quan truyền thông báo chí hỗ trợ ngoài việc chúng tôi cho lên Net. Ða số giới cao niên thì có mấy ai đọc Net nên tin tức không được phổ biến rộng. Vả lại nhiều người đã tin rằng Hồng Y Phạm Minh Mẫn sẽ không có mặt vì biết có sự phản đối trong cộng đồng người Việt. Với chúng tôi thì chúng tôi coi là đã chiến thắng oanh liệt chứ không hề thất bại.”

Một thành viên Ủy Ban Phản Kháng, không tham gia biểu tình hôm Chủ Nhật, là ông Trần Trọng An Sơn. Ông cho rằng người biểu tình không đông là vì người ta không biết sẽ có sự hiện diện của Hồng Y Mẫn.

Trong những tuần trước Ðại Hội Lòng Chúa Thương Xót, đài phát thanh Mẹ Hằng Cứu Giúp do dòng Chúa Cứu Thế phụ trách đọc chương trình chi tiết đại hội. Chương trình này, vẫn còn lưu trữ trên trang web Mehangcuugiup.org, chỉ liệt kê “Thánh Lễ Ðại Trào do Ðức Cha Oscar Solis, Giám mục phụ tá Tổng giáo phận Los Angeles với Ðức Cha Alexander Salazar.” Bản thông báo không nhắc đến Hồng Y Phạm Minh Mẫn.

Ông Trần Trọng An Sơn nói với Người Việt:

“Mặc dù chúng tôi qua nhiều cuộc tiếp xúc thăm dò trong và ngoài nước để tìm hiểu xem Hồng Y có đến Hoa Kỳ dự lễ không nhưng kết quả không nhận được tin gì chính xác. Một thân hữu công giáo thân cận với các cha ở trong nước cho biết là nếu ngài đi thì đi trong chính thức chứ ngài đâu có đi trong lén lút. Thêm nữa qua các thông cáo cho đến giờ phút chót của các đoàn thể Công Giáo thay mặt Ban Tổ Chức cũng không nhắc nhở gì tới sự có mặt của Hồng Y nên anh em trong Ủy Ban Phản Kháng đã tạm tin lời trong các thông cáo nên không có phản ứng gì thêm ngoài một Thư Phản Kháng trong Thông Báo số 1 của chúng tôi.”

Một luồng dư luận thứ ba, tuy không đồng ý về sự có mặt của Hồng Y Phạm Minh Mẫn, cũng không phản đối. Ông Ngô Chí Thiềng, một nhân vật hoạt động nhiều trong cộng đồng, cho rằng ít ai còn quan tâm đến lời tuyên bố của Hồng Y trước đây. Ông nói:

“Cuộc biểu tình chống Hồng Y Mẫn không đông, theo tôi là vì không có mấy người quan tâm đến lời nói của Hồng Y trước đây. Ông là một người chân tu nên phải khéo léo và làm bất cứ việc gì để có thể cho một nhà tu làm việc của mình trong chế độ cộng sản. Phân tích kỹ lời phát biểu của ông thì thấy Hồng Y cũng chẳng thù ghét gì người Việt hải ngoại, cũng không cố tâm gây chiến nên vì thế mà nhiều người bỏ qua không lý tới nữa. Nhưng, giả thử ông mà tới Orange Caounty, Little Saigon xem, vấn đề sẽ lại khác ạ.”

Riêng ông Rambo Phạm, người đã kêu gọi biểu tình, thì so sánh việc làm của ông với chiến tranh chống cộng sản thời trước 1975:

“Dù chỉ với vài chục người chưa đủ quân số cho một trung đội chúng tôi giống như quân lực VNCH trước đây đã đánh thắng được cả đoàn quân đông đúc có mặt trong buổi lễ có thể từ 8 đến 10 ngàn người. Hồng Y Phạm Minh Mẫn đã phải đi vào nơi hành lễ bằng cửa sau và phải nhìn thấy lá cờ Vàng mà chúng tôi luôn giương cao trước nơi hành lễ.”

Ðại Hội Lòng Thương Xót Chúa năm nay là kỳ thứ 10, do Dòng Chúa Cứu Thế Hải Ngoại tổ chức. Trong các năm trước, đại hội này thu hút khoảng trên 3,000 người đến dự. Năm nay, số người tham dự đứng chật tòa nhà Walter Pyramid, một sân vận động có sức chứa 5,000 người chưa kể ghế đặt trên sân đấu.

Vào năm 2008, trước khi lên đường dự Ðại Hội Giới Trẻ Công Giáo Thế Giới tại Sydney, Hồng Y Phạm Minh Mẫn viết một bức thư gởi một số giám mục Việt Nam, trong đó Hồng Y viết về cờ vàng, cờ đỏ, có đoạn: “Một lá cờ biểu tượng cho điều gì? Có lúc lá cờ được coi là biểu tượng cho một đất nước, lúc khác được coi là biểu trưng một chủ nghĩa, chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa quốc gia... Có lúc chỉ biểu trưng một thói đời mang tính đối kháng. Giám mục của tôi, cách đây hơn 30 năm, lúc còn sinh thời, đã để lại cho các tín hữu và cho bản thân tôi bài học lịch sử này: người mẹ Việt Nam, lúc mặc áo vàng (cờ vàng), lúc mặc áo đỏ (cờ đỏ), lúc mặc áo lành, lúc áo rách, vẫn là người mẹ đã dầy công sinh thành dưỡng dục con dân Việt Nam, vẫn là người mẹ đã để lại cho dân tộc Việt Nam một di sản vô giá.”

Cũng bức thư trên gọi việc “lá cờ vàng ba sọc đỏ đã được dương lên” là một “sự cố làm tắc nghẽn con đường hiệp thông của các bạn trẻ Việt Nam.”

Posted: Wed Apr 14, 2010 5:00 am
by hoanghoa
Image


Hình ảnh Việt Nam thời xa xưa.


Rất nhiều hình ảnh Việt Nam thời xa xưa , đến mấy trăm hình giữ để xem lại cho biết về quê hương ta.

http://www.flickr.com/photos/13476480@N ... 4514239546

Posted: Wed Apr 14, 2010 3:00 pm
by thienthanh
Em-xi tiệc cưới ơi ! Nhờ quý vị tí !

Chu Tất Tiến



Từ xưa, cái lễ nghĩa cuả nguời Việt Nam ta, rất đuợc coi trọng, nhất là trong đám cuới (hôn lễ) hay nghi lễ tiễn đưa nguời chết đến chỗ an nghỉ (tang lễ). Từng lời nói, từng việc làm đều đuợc tính toán kỹ lưỡng. Nguời nào trách nhiệm xướng ngôn, đọc diễn từ hay giới thiệu quan khách, giới thiệu chương trình... đều phải cẩn trọng, tìm chữ cho xứng đáng. Lạng quạng nói thứ tự sau thành truớc, nói trên thành duới là bị bà con chê cuời mệt... không nghỉ. Vậy mà thiên hạ vẫn cứ tỉnh bơ làm hư chuyện, nhất là các ông các bà Điều Khiển Chương Trình tiệc cưới, mà người ta hay tự mệnh danh là EM-XI, (MC) viết tắt của chữ Mát-tờ óp Xêrêmôni.

Ai cũng biết nhân vật Em-Xi trong tiệc cuới là nguời làm cho đám cuới thành tựu tốt đẹp. Người Em-xi này có thể là chú bác cuả cô dâu, chú rể, hay chỉ là nguời bạn cuả gia đình. Mở đầu bằng lúc đón dâu ở nhà, giới thiệu họ hàng hai bên, giới thiệu cô dâu cho chú rể, rồi phù dâu phù rể, rồi thắp nến, thắp nhang, khấn vái, trao quà... nguời MC đứng mũi chịu xào hết trơn. Bố mẹ hai bên chỉ đứng “nhìn” hay “phát ngôn” thì tuỳ theo nguời MC muốn sắp đặt sao cho hợp lý thì thôi. Giai đoạn này thì chỉ gồm những nguời thân nhất cuả hai bên, nên nghi lễ cũng nhanh, và có sơ hở chút chút cũng đuợc thông qua. Nhưng đến khi ăn tiệc cuới, tiệc tân hôn, thì lại có rất nhiều điều phải cẩn trọng vì có ít nhất là trên trăm cặp mắt ngồi duới nhìn lên, có nguời thân, có nguời không thân, có bạn mới quen, hay có vài nguời đồng sự Mỹ trắng, Mễ trắng, Mỹ ngăm ngăm... “Quan trên trông xuống, người ta trông vào”, nếu MC mà “lý lắc, làm lấy le, làm lếu láo” thì ô hô, ai tai! Con nguời ta lớn lên chỉ có một đám cuới là quan trọng nhất, kỷ niệm lâu bền nhất, hãnh diện nhất, sung sướng nhất, hồi hộp nhất, mệt mỏi nhất, gặp nhiều nguời quen nhất, mừng vui nhất, trang phục đẹp nhất, và... thua lỗ một cách êm ái nhất, vậy mà ông hay bà MC nổi hứng lên làm tầm bậy, hỏng luôn đám cuới nguời ta thì thật đáng đánh đòn!

Truớc hết là vấn đề ăn mặc của các cô Em-xi. Các ông thì khỏi cần nói vì ai cũng chỉ có mỗi bộ vét, còn các cô thì thay đổi “tếch ních cô lo”. Dĩ nhiên mặc đẹp thì đám cuới huy hoàng hơn, nhưng mặc dở thì làm cho cô dâu, chú rể mất mặt. Bởi có những cô Em-xi “cây nhà lá vườn”, ít có dịp xuất hiện le lói truớc công chúng nên khi gặp cơ hội là cô biểu diễn đủ kiểu quần áo. Kiểu thứ nhất: “Như cánh vạc bay” : “Vai em gầy guộc nhỏ, như cánh vạc về chốn xa xôi”. Vì muốn phô cặp vai “cánh vạc”, nên cô để hở nguyên cái lưng, tuốt tuột từ trên xuống dưới, không thấy gì hết ngoài hai cục xương sau vai nhô lên. Đôi khi gầy quá, nên “cánh vạc” của cô trông giống “cánh gà rô ti”, chưa kể những lấm tấm mụn đo đỏ chạy dài trên lưng, làm khách nhai món “gà chiên bơ” cứ thấy như có cái gì vướng vướng trong miệng! Kiểu thứ hai: “Thiên Thai, chúng em xin dâng cho các chàng trái đào tiên...”: cô có mặc áo đầy đủ nhưng lại mỏng te, có chi thì cô bầy ra hết khiến cho các chàng, các ông, các cụ cứ xì xào, suỵt suỵt, đút cả miếng tôm càng vào mũi mà không hay và làm cho các cô, các bà, các mợ cứ phải dấu tay duới gầm bàn để ngắt véo mấy ông chồng liên tục, dù ổng đã suýt soát bẩy mươi rồi. Kiểu thứ ba: “Áo em sứt chỉ đường tà”: Sứt tí chỉ thì đâu có sao, nhưng mà sứt chỉ đường tà giữa áo thì khác, áo của cô biến thành áo hai mảnh, mà hai mảnh lại cách xa nhau gần hai gang tay nên khán thính giả cứ nín thở, thắc mắc không biết em có xoa dầu cù là vào.. rốn không mà bóng quá! Một cô Em-xi khác lại mặc kiểu “Hồng Kông bên hông Chợ Lớn”, người Việt mà mặc áo xường xám, xẻ hai bên lên tuốt tới chỗ không lên được nữa thì ngừng, nên mỗi khi cô nhún nhẩy đi qua đi lại thì thính giả lại hít hà “lạy trời, gió nữa lên, lạy trời, gió mạnh nữa lên...”

Sau nữa là màn nói. Có những MC nói như cái máy, nói không kịp thở, nói nhiều chưa đã, lại pha trò diễu dở, ngâm thơ hay tự giới thiệu mình hát nữa. Hát chuyên nghiệp như những nguời vừa là MC ban nhạc vừa chơi luôn tiệc cuới thì không nói chi, nhưng MC “cây nhà lá vuờn” hát dở ẹt mà lợi dụng cơ hội biến đám cuới thành chỗ tập hát truớc đám đông, bắt mọi nguời tham dự phải giuơng tai lên mà nghe âm điệu rèn rẹt cuả mình, nghe những câu hát trật nhịp, vừa hát vừa đọc bài nhạc trên giá, thì khổ cho cô dâu chú rể lắm! Nói chung thì quan khách rất ớn cái màn “Kính thưa quý vị, để tiếp tục chuơng trình, tôi xin đuợc giới thiệu.. tôi hát một bài để tặng cô dâu, chú rể..” rồi trịnh trọng mở bài nhạc ra, nhìn vào máy Karaôkê, chân giật giật bắt vô nhịp y như bị Páckinsôn... Nhất là khi trong đám cuới nguời ta đang vui vẻ, mà vì ông hay bà có mỗi cái bài tủ hát Karaôkê ở nhà với cái tựa không lấy gì làm “dzui” lắm, ông bà mang ra xài luôn, chẳng khác nào trù ẻo cho cuộc hôn nhân mà họ đang làm MC đó. Nào là “Anh đưa em sang sông, bằng xe tang hay con thuyền...”, nào là “đời một nguời con gái, uớc mơ đã nhiều, trời không cho đuợc mấy, đến khi lấy chồng, chỉ còn “cái bầu” mang theo!” Một ông MC hát bài “Lệ đá” rất khoái chí đến nỗi xuýt rơi nước mắt. Một cô MC chưa đi lính bao giờ lại lên oang oang ca bài “đi quân dịch là thương nòi giống!”

Cách đây không lâu, một ông không phải MC chính, chỉ là MC phụ, nghiã là đuợc mời lên ngâm thơ truớc khi hôn lễ bắt đầu, đã lợi dụng sự nghiêm trang theo dõi cuả quan khách mà chơi luôn một hơi bốn bài thơ! Bài thứ nhất tặng cho toàn gia, bài thứ hai cho quan khách, bài thứ ba cho cô dâu, bài thứ tư cho chú rể. Bà con hãi hùng qúa, nghe tới bài thứ hai đã sợ, ông lại bình tĩnh gíơi thiệu bài thứ ba, rồi bài cuối cùng. Mỗi một bài là có một đoạn diễn văn ngắn, giải thích ý nghiã bài thơ và lý do làm bài thơ, ngại khán thính giả không hiểu nổi văn chuơng ông! Hình như bốn bài vàng ngọc cuả ông mất gần hai muơi phút! Mấy thính giả bất đắc dĩ rầu rĩ hết nhìn đồng hồ đeo tay cuả mình lại nhìn đồng hồ nguời khác, làm như không tin nổi cái đồng hồ mình chạy bậy. Khi ông vừa ngâm dứt câu, là bà con sợ quá, chắp tay vái lia lại: “Lạy giời, xin cấm ông đừng tặng tôi thơ nữa...”

Một ông MC khác thì biến bài “Mộng duới hoa” thành “Hoạ dưới mông” vì ông sửa lời lung tung. Cuối bài, để chấm dứt, ông dịch luôn một câu thành tiếng Mẽo: “Ai lô vờ du!” May là tác giả đã không còn hiện diện để nghe ông hát loạn bài hát của mình mà không xin phép! Chắc đứt cả ruột!

Ngoài việc tự hát, tự ngâm thơ, nhiều ông bà EmXi còn trổ tài đóng kịch, hay làm xiếc chọc cuời bà con chơi. Bắt cô dâu chú rể hôn nhau rồi bắt gõ đũa thì cũng tạm tha tào, tuy chẳng hay ho gì, nhưng còn mấy trò nham nhở thì ôi thôi ai tai! Trong một đám cưới ở San Jose, ông Em-xi bắt chú rể đứng lên một chiếc ghế cao trên sân khấu, rồi ông bỏ một quả “trứng chim cu”, theo lời ông dẫn giải, vào trong ống quần chú rể. Đoạn ông bắt cô dâu lấy tay đẩy quả trứng lên cao rồi hỏi xem có mấy “trứng” ở “ngã ba” ấy? Chưa hết, ông hỏi xem khi “trứng chim cu đã nở ra rồi, có vòi không?” Khi chú rể khui ruợu, ông còn làm thêm một cú nữa bằng câu nói oang oang: “thử xem công lực cuả chú rể có xịt ra mạnh không?” Trời đất thiên địa ơi! Đám cuới nguời ta là một thể hiện phong tục, tập quán cuả dân tộc, mà ông lại đem ra làm trò diễu dở, phàm phu tục tử như vậy, thì có đáng trách không? Các bà thì cúi mặt xuống, các ông thì quay đi. Ai cũng xấu hổ lây cho cô dâu chú rể vừa phải thi hành mà mặt mày tái ngắt. Cả phòng tiệc đều thở dài... dài...

Nghĩ ra thật tức cuời, không biết tại sao và từ đâu có mục Em-xi đưa cô dâu chú rể ra làm trò cuời cho thiên hạ? Một cô Em-xi tuyên bố tỉnh bơ: “Không dễ mấy khi, chúng ta đuợc dịp hành hạ cô dâu, chú rể, nên hôm nay, chúng tôi đã nghĩ ra đuợc mấy trò này, mong làm cho quý vị cuời chơi!” Tại sao lại phải hành hạ cô dâu, chú rể? Để làm chi dzậy hả, cô? Có thể là vì cô không gặp may mắn trong tình truờng nên trả thù nguời ta cho hả cơn buồn? Những nguời đưa nhau ra trình diện truớc hai họ, chỉ hồi hộp mong chờ giây phút nghi lễ ra mắt mọi nguời, mời mọi nguời chứng kiến, xong rồi thì nhậu cho dzui dzui, kỷ niệm, chứ có ai mong lên làm trò xiếc đâu mà bắt cô dâu đi tìm chiếc đuã trong quần chú rể, bắt chú rể mò quả cam trong ngực cô dâu, bắt hai nguời cọ chung quả cam đặt trên ngực, rồi uống nuớc... Sao không bắt chước Mẽo (không phải Mỹ) cho cô dâu không mặc áo, ở trần luôn, chú rể chỉ mặc cái quần boxer, khoác áo vét... để họ vỗ tay hố hố há há với nhau? Nguời Việt ta, có phong tục đàng hoàng, cũng như những nguời Mỹ đứng đắn, đều làm lễ cuới một cách trang nghiêm, không mấy ai thích mấy trò xiếc dỏm ấy và mấy câu tuyên bố nhảm nhí kia đâu.

Con nguời ta, sau giai đoạn đuợc sinh ra, có hai giai đoạn đuợc mọi nguời chăm lo đến nhất, đó là lúc làm chú rể, hay cô dâu và lúc “ra đi không mang vali”. Tất cả mọi niềm thương mến, mọi xôn xao, bình phẩm, hay tâng bốc... đều phủ lên con nguời “chú rể” hay “cô dâu”, hay “nguời nằm xuống” kia. Vì thế, những ai có trách nhiệm lo toan cho những con nguời đặc biệt ấy nên lưu ý, đã không nhận lời thì thôi, mà nếu nhận trách nhiệm, xin làm cho đứng đắn, đừng mượn chỗ mà “làm lấy le, lý lắc, làm lếu láo” như thế chả hay ho gì, chả đuợc ai khen ngợi gì, mà chỉ hổ ngươi cái miệng “ăn mắm, húp giòi” nói tầm bậy tầm bạ, làm hỏng một cơ hội gặp gỡ tốt đẹp, một kỷ niệm huy hoàng, một dịp thể hiện phong tục tốt đẹp cuả dân tộc mà thôi.

Chu Tất Tiến

Posted: Thu Apr 15, 2010 12:32 am
by vuphong
‘BÀI HỌC NẶNG KÝ’ TỪ VIỆT NAM

Anderson Thai Quang
Tác giả là một trí thức Việt kiều Mỹ từng mang bạc triệu về Việt Nam đầu tư và... chào thua. Việt Báo trân trọng giới thiệu những "bài học nặng ký" của ông.

Saigon những ngày cận Tết mát lạnh và mang chút không khí của những ngày Giáng Sinh nơi Âu Mỹ. Mọi người chuẩn bị mua sắm cho nhà cửa và quà cáp cho người quen. Đường Nguyễn Huệ và quanh khu du lịch của trung tâm thành phố, hoa đèn rộn rịp trang điểm cho mùa xuân, luôn luôn là biểu tượng của niềm hy vọng mới và vào một thay đổi nào đó tốt đẹp hơn, tươi sáng hơn cho năm tới. Nhưng nếu du khách rẽ vào ngõ hẻm từ một con đường lớn, những con chuột to bằng con mèo, những con dán biết bay cùng ruồi muỗi, những ổ rác lộ thiên, những vũng nước ao tù… cho thấy một bộ mặt khác của Saigon. Bộ mặt của nghèo khó, bất hạnh và tù túng đã không hề thay đổi suốt 70 năm qua, mặc cho bao nhiêu mùa xuân của hy vọng trong quá khứ.

CÁI TÔI ĐÁNG GHÉT

Một chút ít về cái "tôi" để người đọc cảm thông thêm về chủ quan của lá thư này. Tôi đến Mỹ năm 1975 cùng làn sóng người tỵ nạn Cộng Sản sau khi miền Nam sụp đổ. Cha tôi là một đại úy của quân đội miền Nam (ở đây, nay gọi là Mỹ Ngụy), và tôi chỉ mới 5 tuổi, chưa hiểu biết chút gì về lịch sử hay chính trị. Cha mẹ tôi làm đủ mọi nghề, vất vả ngược xuôi, từ lao động chân tay đến mua bán tiểu thương, để nuôi gia đình. Sau 30 năm, ông bà đã lo xong cho con cái, đã về hưu với căn nhà nhỏ và cuộc sống ổn định. Tôi lớn lên như một trẻ Mỹ, đi học, chơi đùa và coi xứ Mỹ như một quê hương chính thức, dù vẫn biết nói tiếng Việt theo thói quen của cha mẹ. Tốt nghiệp Thạc Sĩ về điện tử, tôi có công việc tốt, lấy vợ và sống đời trung lưu như trăm ngàn người khác. Cha tôi và các bạn ông thường tụ họp và bàn luận nhiều về tình hình Việt Nam, về những thù ghét của họ với nhà cầm quyền Cộng Sản, nhưng tất cả đều rất xa lạ với tôi. Khi học lịch sử ở trung học, tôi chỉ thấy có chút hãnh diện về Việt Nam, một quốc gia nhỏ bé đã đánh bại được hai cường quốc là Pháp và Mỹ. Hai ông Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp là hai anh hùng trong ký ức của tôi.
Cuộc sống bình lặng đó thay đổi hoàn toàn khi vợ tôi qua đời vì tai nạn xe cộ ba năm về trước. Không có con, thừa hưởng một số tiền bảo hiểm hơn 1 triệu đô la, cộng với giá nhà đang tăng cao vụt và một khoản tiền tiết kiệm lớn, tôi không còn thấy nhu cầu phải kéo cầy 11 tiếng mỗi ngày trước máy vi tính. Tôi quyết định trở về lại Việt Nam để làm ăn và tạo dựng một sự nghiệp mới. Tất cả những gì tôi đọc cho thấy một Việt Nam đổi mới với những con số ấn tượng về đầu tư của nước ngoài, về xuất khẩu, về cơ hội đầy tiềm năng của một "con rồng mới". Cha tôi không phản đối, ông chỉ cho một lời khuyên," Đừng nghe những gì Cộng Sản nói, mà coi những gì Cộng Sản làm."

HƯNG PHẤN VÀ THẤT VỌNG

Tôi dọn về lại Saigon vào tháng Mười năm 2007. Chỉ số VNI của chứng khoán Việt khoảng 1,000 và đề tài thời thượng khắp nơi là cơn sốt địa ốc và số thu nhập của các đại gia. Số tiền 2.5 triệu đô la của tôi thật nhỏ bé khiêm tốn khi bàn chuyện đầu tư. Dường như ai cũng đầy tiền mặt và dự án, nhiều gấp mười lần khả năng của tôi. Dù vậy, tôi cũng rất hưng phấn cảm nhận niềm lạc quan vô bờ bến về sự thịnh vượng của nền kinh tế quốc gia.

Trong khi đó, dựa theo truyền thống khoa học từ đại học Mỹ, tôi nghiên cứu kỹ hơn các con số từ các doanh nhân cũng như từ chánh phủ. Có rất nhiều điều sai trái và nghịch lý từ các con số, cũng như sự kiện thực tế về kết quả hoạt động. Sự nghi ngờ của tôi được xác nhận khi so sánh và định chuẩn theo mức sống thực sự của người dân, giàu cũng như nghèo. Chung đụng với mọi thành phần xã hội giúp tôi nhìn rõ hơn về thực trạng của quê hương. Những lời nói hoa mỹ, cũng như những biểu ngữ dăng kín thành phố, là một lớp son phấn rẻ tiền, che dấu một bộ mặt điêu tàn và thê thảm.

Tôi nhận ra rằng cái cơ chế "kinh tế thị trường" mà nhà cầm quyền hứa hẹn khi ký văn bản gia nhập WTO chỉ là hình thức. Tất cả những miếng mồi béo bở đều nằm trong tay quan chức và cán bộ Đảng Cộng Sản, cũng như bà con thân thuộc trong gia đình. Bộ Chánh Trị trung ương thì nắm chặt các công ty quốc doanh và bán quốc doanh, quan chức địa phương thì có những đặc lợi về ruộng đất, giấy phép, dịch vụ nhu yếu. Lãnh vực tư nhân chỉ được phép làm trong địa bàn nhỏ, nhiều rủi ro và những ai có lời đều phải chia xẻ lại cho các quan chức bằng nhiều phong bì lớn nhỏ. Tầng lớp quan chức và gia đình họ, qua hệ thống tham nhũng tinh vi, đã thâu tóm phần lớn lợi tức quốc gia và có quyền hành không kém các quan lại của triều đại phong kiến.

Tôi nhận ra rằng cuộc chiến tranh dành độc lập với bao nhiêu xương máu của người dân chỉ là một cái cớ để Đảng Cộng Sản cướp chánh quyền. Những quốc gia láng giềng như Singapore, Mã Lai, Indonesia, đã dành độc lập không cần hy sinh và giờ đây, dân họ (nhờ một nền dân chủ minh bạch) đã trở nên giàu có. Họ đang cấu kết với nhà nước Việt để trở thành những chủ nhân lớn của nhiều đơn vị kinh tế bằng cách dùng đồng tiền để mua lao động rẻ và tài nguyên định giá qua gầm bàn.

Tôi nhận ra rằng chế độ to mồm này thực sự sống nhờ phần lớn vào những khoản viện trợ nhân đạo của các nước tư bản (mà họ từng lên án và đánh duổi); vào khoản tiền kiều hối của các cựu thuyền nhân (mà họ đã từng giam giữ tù đày khi kết tội phản quốc); vào mồ hôi nước mắt của những nô lệ mới qua danh từ xuất khẩu lao động hay qua các cuộc hôn nhân mua bán áp đặt; vào những khoản lệ phí va sưu thuế đầy phi nghĩa, cũng như một con số khổng lồ về hối lộ, đối với những người dân còn kẹt lại trong nước.

Tôi nhận ra rằng hai vị anh hùng thời còn đi học của tôi có rất nhiều bí mật xấu xa mà chế độ đã dùng mọi thủ đoạn để biến họ thành thần thánh, giúp cho chúng giữ vững địa vị và quyền hành. Đọc kỹ tiểu sử của ông Hồ Chí Minh sẽ tìm thấy một chính trị gia quỷ quyệt, nhiều mờ ám, hoàn toàn không có một chút chân thật gì, dù nhìn ở bất cứ góc cạnh nào. Con người của ông có rất nhiều tên gọi; ông tự viết cả tiểu sử để ca tụng mình (Trần Dân Tiên); ông không nhìn nhận cha mẹ cũng như không ngó ngàng gì đến ít nhứt là 12 đứa con sinh rơi rớt từ các cuộc tình khắp thế giới; ông viết đơn cầu xin thực dân Pháp với những lời tâng bốc trơ trẽn (lá thư gởi Quan Toàn Quyền Pháp năm 1912); ông làm mật vụ cho Nga khi Pháp không đáp ứng lời khẩn cầu (chuyện của cựu Giám Đốc KGB Nga Vladimir Kryuchkov ); ông bỏ Nga theo Tàu khi có lợi (hồi ký của Li Zhi Sui); ông khoe là trọn đời độc thân để phục vụ tổ quốc trong khi có ít nhứt ba người vợ và bao nhiêu người tình, kể cả một tình nhân là vợ của một thuộc cấp (bà Nguyễn Thị Minh Khai, vợ ông Lê Hồng Phong). Gần đây, nhiều tài liệu lịch sử kết tội ông ra lệnh giết bà Nông thị Xuân và cô em, vì hai người này muốn tạo xì căng đan về mối tình khi chung sống với ông (cuốn sách 'Ho Chi Minh: A Life' bởi William Duiker và cuốn 'Đỉnh Cao Chói Lọi' của Dương Thu Hương). Chuyện ông thủ tiêu không biết bao nhiêu là đối thủ chánh trị có thể hiểu được vì ông làm chánh trị kiểu Cộng Sản, chỉ biết theo gương bậc thầy như Mao hay Stalin. Nhưng tôi thật khó chịu khi phải đi khắp Việt Nam và nhìn những biểu ngữ ca tụng "tấm gương đạo đức của Bác Hồ".

Còn đại tướng Võ Nguyên Giáp thì tôi không biết nghĩ sao khi đọc cuốn sách 'China and the Vietnam wars' của Qiang Zhai. Ông cho biết là một tướng Tàu, Wei Gouqing, nguyên cố vấn quân sự của tướng Giáp, khẳng định là chiến thắng Điện Biên thực sự là do ông cố vấn đặt chiến lược và điều khiển; ông Giáp và ông Hồ đã định đánh Pháp tại khu vực sông Hồng. Tướng Wei cũng tiết lộ là năm 1953, Hồ Chí Minh muốn thỏa hiệp với Pháp để đình chiến, nhưng Mao Trạch Đông ra lệnh cho Hồ là phải đánh đến cùng. Cuối cùng, Giáp và Hồ được nhận lãnh công lao vì chuyện xảy ra trên đất Việt, tướng Tàu không thể công khai xuất hiện. Một câu hỏi khác gây bàn tán là tài sản của con rể ông Giáp (Trương Quang Bình, người giàu nhứt nước) có bao phần là của ông tướng?

Sau 1 năm ở Việt Nam, tôi hiểu được một sự thât căn bản của xã hội: tất cả mọi con người, mọi con số đều là giả dối. Quan chức nói dối để giữ quyền hành bổng lộc; doanh nhân nói dối vì quan chức đòi hỏi; người dân nói dối vì nói sự thực sẽ làm mình đau khổ rồi còn bị công an bắt. Nói dối trở thành một hiện tượng tự nhiên, như ăn uống; và không ai suy nghĩ thêm về khía cạnh đạo đức của hiện tượng này.

Trong môi trường đó, tôi đã không làm ăn gì được như dự tính. Suốt 14 tháng chạy theo các dự án đầu tư, các cơ hội dài và ngắn hạn, tôi đành chịu thua. Thêm vào đó, những thủ tục hành chánh rươm rà, bất cập và luôn thay đổi, tạo cơ hội cho tham nhũng, đã làm tôi nản lòng. Cũng may, tôi chỉ mất hơn 200 ngàn đô la; một giá quá rẻ cho bài học nặng ký. Tôi không tiếc than gì cho cá nhân; chỉ thấy chua xót và thương hại cho những người kẹt lại.

Anderson Thai Quang

Posted: Fri Apr 16, 2010 3:26 am
by vuphong
Tự thú của một người tù “cải tạo”
Chiều 30 tháng 4 năm 1975, tôi và T. đứng trên lầu 9 cao ốc ở đường Nguyễn Huệ nhìn xuống đường Tự Do. Bộ đội miền Bắc - những người vừa chiến thắng trong cuộc nội chiến, ngoại khiển, đang diễn hành trên đường phố Sàigòn với chiến xa bọc thép của Liên Sô dẫn đầu. Những người lính miền Bắc ốm yếu, xanh xao, ngụy trang sơ sài cho có lệ. Bánh xích xe tăng Liên Sô và dép râu bộ đội miền Bắc đang cán và giẫm lên đường Tự Do.

Phía dãy nhà đối diện, dân chúng túa ra xem mỗi lúc một đông. Những người Việt gốc Hoa cầm cờ Trung Cộng và cờ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam vẫy vẫy chào mừng đoàn quân chiến thắng.

Tôi bỗng ứa nước mắt!

T. cầm tay tôi, nói:

“Thôi mình đi xuống, anh.”

Tôi và T. đi xuống.

Tôi biết mình đang bước xuống tầng đầu địa ngục.

*

Tôi và T. trở về Vĩnh Long trên một chiếc xe cam-nhông trước kia dùng để chở heo, vì mùi phân heo còn nồng nặc. Mụ chủ xe tham tiền đã rước khách không còn có chỗ để ngồi. Ai cũng muốn trở về quê quán sau cuộc binh đao để xem gia đình còn mất ra sao. Trước đó mấy ngày, tôi đã thờ ơ nhìn những người tất tưởi, lũ lượt đi về phía bến Bạch Đằng. Sau này tôi mới biết, ở đó, có một chuyến tàu cuối cùng đưa hàng ngàn người rời khỏi Việt Nam, đó là chiếc tàu Trường Xuân do thuyền trưởng Phạm Ngọc Lũy điều khiển.

Những ngày ở Vĩnh Long tôi như người bị ốm đứng. Buổi trưa, có tiếng lựu đạn nổ ở Cầu Lầu: một nghĩa quân đã rút chốt lựu đạn tự sát. Buổi tối, có tiếng những bước chân chạy đuổi sau nhà: “cách mạng” đang truy đuổi bọn phản động.

Tin từ Khám Lớn: một Đại tá của quân lực Việt Nam Cộng Hòa tự sát vì bị bạc đãi.

Một tháng để tất cả các quân nhân, công chức “ngụy” trình diện học tập đã hết.

Tôi trở lên Sàigòn, về Biên Hòa để gặp lại ông nội tôi trước khi đi trình diện học tập cải tạo 10 ngày theo lệnh của Ủy Ban Quân Quản thành phố Hồ Chí Minh là tên mới của Sàigòn.( Sàigòn ơi! Ta mất người như người đã mất tên!) Ông nội tôi đã nhìn tôi, rồi thở dài: “Vậy mà nội tưởng vợ chồng con đã đi…” Đó là câu nói cuối cùng của ông nội tôi - người đàn ông vợ chết từ năm 40 tuổi vẫn ở vậy nuôi con, nuôi cháu cho nên người.

*

Trại cải tạo đầu tiên trên đường bước xuống tầng đầu địa ngục là thành Ông Năm ở Hốc Môn. Cùng với những người tù khác, tôi đã phải học những bài học: “Đế quốc Mỹ, tên sen-đầm quốc tế - Ngụy quân, ngụy quyền, tay sai của đế quốc Mỹ.” Và nhiều bài học khác mà tôi đã quên tên. Tôi đã cặm cụi chép vào quyển tập học trò những câu khẩu hiệu: “Sống, chiến đấu, học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại - Học, học nữa, học mãi – Lao động là vinh quang…” Và còn nhiều câu khẩu hiệu mà tôi không còn nhớ, cũng như không dám nhớ!

Như đa số các tù binh, tôi thuộc loại “ngậm miệng qua sông.” Để chứng tỏ mình đã có tiến bộ về mặt tư tưởng, vào những ngày 19 tháng 5, ngày 2 tháng 9, ngày Tết Âm lịch, tôi đã sáng tác thơ ca tụng “cách mạng” gửi đăng “báo tường”.

Chính ở nơi đây, tôi đã cay đắng nghe viên thiếu úy bộ đội miền Bắc mà các “cải tạo viên” thường gọi là “anh hai thơ” (vì lúc nào anh ta cũng ngâm nga thơ của Tố Hữu), đọc cho nghe câu thơ mà anh ta bảo là của một chị phụ nữ miền Nam . Câu thơ như sau:

“Có chồng bộ đội là tiên

Có chồng quân ngụy đảo điên cửa nhà!”

Cũng chính nơi đây, chúng tôi đã dở khóc, dở cười khi được các “đỉnh cao trí tuệ” dạy dỗ. Chuyện mới nghe tưởng chừng như chuyện tiếu lâm mà lại là sự thật, tôi xin được kể lại như sau:

Sau một thời gian học tập, chúng tôi được phát giấy để làm bản tự kiểm. Thôi thì đủ thứ tội tình phải cố nhớ ra để mà “tự kiểm”: Trong thời gian phục vụ trong hàng ngũ ngụy quân đã đốt bao nhiêu cái nhà? Đã hãm hiếp bao nhiêu phụ nữ? Đã giết bao nhiêu “cách mạng”?

Viết xong phải thông qua tổ, đội rồi nộp lên Ban Chỉ huy trại.

Sau đó, tất cả các tù binh được lệnh xếp hàng ngồi dưới đất để nghe Ban Chỉ huy trại gọi vào hạch sách về những điều mình đã tự khai.

Chỉ huy trại là một người miền Nam tập kết, cấp bậc Đại úy mà các tù binh vẫn quen gọi là “ông Răng Vàng” vì nguyên hàm răng trên của ông là “kim loại màu vàng” – nói theo cách nói của “cách mạng”.

Một tù binh khai: “Cấp bậc: Đại úy, chức vụ: Quyền Tiểu Đoàn Trưởng” bị “ông Răng Vàng” đập bàn, hét:

“Me bố, quân ngụy các anh là láo lếu: ai chẳng biết các anh là Đại úy, là có quyền, còn bày đặt khoe khoang.”

Nói xong, ông ta lấy viết gạch bỏ chữ “Quyền” trước ba chữ “Tiểu Đoàn Trưởng”.

Một tù binh khác khai: “Cấp bậc: Đại úy. Binh chủng: Biệt Cách Nhảy Dù” bị “ông Răng Vàng” chỉnh:

“Mẹ bố, ngụy các anh là ưa khoe khoang: ai chẳng biết các anh “biết cách” nhảy dù.

Nói xong, “ông Răng Vàng” lấy viết sổ toẹt hai chữ “Biệt Cách”.

Một tù binh khác khai địa chỉ: “… đường Huỳnh Tịnh Của - Đa Kao”, đã phải dở khóc, dở cười khi bị một ông sĩ quan bộ đội người miền Trung “dạy dỗ” như sau:

“Ngụy các anh là ưa rắc rối: “Huỳnh Tịnh - Đa Kao” là người ta hiểu rồi. Còn bày đặt là “Huỳnh Tịnh của Đa Kao” làm gì cho rắc rối.”

Nói xong, ông ta bèn gạch bỏ chữ “Của” một cách ngon ơ!

Cùng với những tù binh khác, sau đó chúng tôi được đưa đến Long Giao, rồi về trại cải tạo Suối Máu ở Biên Hòa. Tôi vẫn tiếp tục “ngậm miệng qua sông” và làm thơ ca tụng “cách mạng” vào những ngày lễ lạc của những người thắng trận , với hy vọng là được “cách mạng” biết là mình đã “học tập, lao động tốt và đã có tiến bộ về mặt tư tưởng!”

Năm 1977, cùng với những người tù khác, tôi đã lênh đênh trên tàu Sông Hương lưu đày ra miền Bắc.

Tầng địa ngục thứ tư mà tôi phải đi qua là trại Nghĩa Lộ nằm trong một thung lũng là trại cải tạo đầu tiên tôi đặt bước chân lưu đày ra miền Bắc. Đêm đầu tiên mặc bộ đồ tù màu xanh có sọc trắng, các tù nhân trông giống như những đạo tì đi khiêng quan tài người chết.

Chính nơi đây, những người tù miền Nam mới thực sự biết đến cái đói. Mỗi bữa ăn chỉ được một miếng bột mì đen khuấy chín để đặc lại với vài cọng rau muống luộc chấm mắm tôm khuấy lỏng.

Mỗi ngày tù nhân phải leo lên núi chặt giang, đốn củi.

Ở đây, tôi cũng lại tiếp tục “ngậm miệng qua sông” để mà sống. Có ai đó đã vô cùng có lý khi nói rằng: “Thà làm con chó sống hơn là làm con sư tử chết!”

Cái đói là đòn cân não tàn phá nhân phẩm của những người tù. Người ta giành nhau từng phần chia lớn, nhỏ. Tù nhân đã phải tìm bắt tất cả những con vật động đậy có thể ăn được. Bỏ cấp bậc, lon lá xuống, mặc vào bộ quần áo tù, rất dễ nhận ra nhân cách của mỗi người. Có những người để lập công chuộc tội đã lén lút báo cáo người này có tư tưởng phản động, kẻ kia có âm mưu chống đối.

Ở trại Nghĩa Lộ, người nằm cạnh tôi là anh Trương Văn Tuyên (hiện định cư tại Canada ), là người bị cấm thăm nuôi ở trại Suối Máu. Theo lời anh ta thì anh ta tốt nghiệp Quốc Gia Hành Chánh,cấp bậc Trung úy, cựu Quận trưởng quận Hoài Nhơn, Bình Định.

Chuyện anh ta bị cấm thăm nuôi thì có nhiều chuyện lắm. Như chuyện anh ta “khoe” là “có quen với cán bộ quản giáo, nhưng chỉ quen cái lưng vì lúc đánh nhau anh ta đã rượt mấy ông bộ đội chạy có cờ.” Chuyện anh ta kể với tôi nguyên nhân chính là do lần anh ta kể chuyện chính quyền Việt Cộng gửi công hàm đòi chính phủ Thái Lan phải trao trả các phi cơ mà các phi công của miền Nam lấy và bay qua Thái Lan. Chính phủ Thái Lan đã gửi công hàm trả lời và trong công hàm chỉ vỏn vẹn có ba chữ viết tắt “B.C.T.”. Anh ta đố mọi người có biết ba chữ viết tắt này nghĩa gì không. Người thì cắt nghĩa ba chữ “B.C.T.” là “Bộ Chính Trị”, kẻ thì bảo là “Ban Cải Tạo”. Cuối cùng, khi mọi người chịu thua, Tuyên cười khì khì bảo ba chữ B.C.T. là viết tắt của ba chữ “Bú C. Trừ.” Sau đó, có người đi báo cáo để lập công nên anh ta bị cấm thăm nuôi.

Ở đây, anh ta lại tiếp tục chống đối. Khi viên Trại phó tên Điền, cấp bậc Đại úy ra lệnh tập họp các tù nhân ở hội trường và phổ biến quy định các trại viên khi gặp các cán bộ phải nói: “Kính thưa Ngài Trại Trưởng, Kính thưa Ngài Trại phó, Kính thưa Ngài cán bộ quản giáo…” Khi trại phó Điền ra lệnh giải tán lớp học, gặp tôi trên đường về lán trại, Tuyên khoanh tay, cúi đầu, nói lớn:

“Kính thưa Ngài trại viên”

rồi cười lớn làm tôi hoảng quá.

Buổi chiều, nhân lúc rửa chén ở dưới suối, tôi có nói với anh ta không nên chống đối ra mặt chỉ thiệt cho thân mình. Tôi nói xa, nói gần với anh ta về chuyện Hàn Tín lòn trôn giữa chợ, về chuyện “mang thiên quá hải”. Từ đó, anh ta thân với tôi hơn và anh ta thay đổi rõ rệt.

Trong thời gian này, trại phát động làm báo tường. Những trại viên có bài vở đóng góp sẽ được nghỉ lao động một ngày. Mỗi ngày lên rừng chặt, cột, vác về trại 15 cây giang rất là nặng nhọc đối với một người ốm yếu như tôi; do đó, tôi đã làm bài thơ “Đại dương trong lòng con sóng nhỏ” ca tụng công đức của ông Hồ Chí Minh để được nghỉ lao động một ngày

Bài thơ như sau:

“Con chưa khóc Bác một lần

Để nghe biển lớn vỗ nâng tâm hồn

Con chưa hát bản Kết Đoàn

Bác đưa tay bắt nhịp tràn yêu thương

Kiếp xưa đã lỡ cung đường

Nên con sóng nhỏ đau thương lạc loài

Trên cao Bác vẫn vẫy tay

Gọi con sóng nhỏ về đây nhập nguồn

Xa rồi thung lũng đau thương

Hạt mưa sa đã về nguồn yêu thương

Muôn vàn cảm tạ công ơn

Tấm lòng biển lớn bao dung ngất trời

(quên mất 2 câu)

Bác ơi! Ơn Bác tái sinh

Trên đường sống lại, trăm năm ghi lòng!”

Trương Văn Tuyên là người biết về âm nhạc, anh ta đã đem bài thơ phổ nhạc và đem hát trong buổi lễ sinh nhật của ông Hồ Chí Minh.

Hôm sau, lúc xuống suối rửa chén, gặp đại úy Hồ Bác Ái là người làm việc chung Phòng với tôi ở Bộ Tổng Tham Mưu, anh ta đã hỏi tôi một cách mỉa mai:

“Ông anh đổi họ hồi nào vậy, ông anh?”

làm tôi ngượng chín người. Từ lúc đó, tôi cố ý tránh gặp mặt anh ta. Tôi là người tham sống, sợ chết. Tôi là kẻ ngậm miệng qua sông. Tôi đã muối mặt ca tụng Bác, Đảng với mục đích duy nhất là chứng tỏ mình đã có tiến bộ về mặt tư tưởng để được Đảng và Nhà Nước khoan hồng, để được sớm đoàn tụ với gia đình, theo như lời phủ dụ của các cán bộ quản giáo. Có điều tôi đã không bước trên xác đồng đội mà đi, tôi chưa làm cái việc đốn mạt là làm “ăng-ten” báo cáo người này, người nọ để lập công.

Cuối năm 1977, trong đêm, chúng tôi, những tù nhân thuộc các diện Chiến Tranh Chính Trị, Cảnh Sát, Tình Báo tức các loại được Việt Cộng gọi là ác ôn được chất lên những chiếc molotova có mui che bằng lá gồi chuyển trại.

Tầng địa ngục thứ năm của chúng tôi là trại cải tạo Tân Lập ở Lào Kai. Ở đây tôi ở đội 4 rồi sau đó được đưa qua đội 5 của phân trại K.4 phụ trách việc làm gạch.

Mỗi ngày chỉ tiêu được giao cho 3 tù nhân là đạp nhuyển đất để làm thành một cối đất để đóng thành 200 viên gạch.

Cái đói ở đây thật khủng khiếp. Ăn ít như tôi mà đêm nào tôi cũng phải uống thêm nửa “gô” nước cho đầy bụng để cố dỗ giấc ngủ.

Mỗi ngày ra hiện trường lao động, tôi được hai anh em cùng cối đất giao công tác là lén bứt rau tàu bay rửa sạch, bỏ vào ống vầu (một loại giống như tre ở miền Nam), lén đặt vào đống lửa, sau đó lấy ra chia nhau ăn cho đầy bụng để mà đạp đất giữa trời.

Dù đã được các cảnh vệ cảnh cáo là ăn rau tàu bay sẽ bị mất máu, các tù nhân vẫn lén lút ăn rau tàu bay để có đủ sức mà hoàn tất chỉ tiêu, để khỏi bị phê bình là chây lười lao động.

Ở đây có một số anh em tù ở trại K.1 chuyển vào. Có người đã dè bĩu chuyện một ông Tướng, khi anh em chia thức ăn làm rớt một cọng rau muống xuống đất, ông này đã nhặt lên, không cần phủi bụi, đưa vào miệng ăn. Tôi thì tôi chỉ thấy chua xót.

Ở đây tới Tết, tôi có làm bài thơ để tặng T. Bài thơ có cái tựa dài thoòng như sau:

Thơ cổ đề tranh bốn mùa
trong phòng người vợ cô đơn

Mai:

Gió đông nói với mai vàng

Xuân này thiếp đã vắng chàng ba xuân.

Lan:

Mùa hè hoa lựu đỏ cành

Như lan vương giả thiếp đành cô đơn.

Cúc:

Mây mùa thu biếc tủi hờn

Cúc hiu quạnh nở trong vườn nhà ai.

Trúc:

Mùa đông xám vẫn còn đây

Ngựa qua rừng trúc lưu đày mù sương.

Viên trung sĩ công an phụ trách đội nhà bếp là một tay sính thơ văn. Không biết ai giới thiệu với anh ta là tôi biết làm thơ, anh ta cho gọi tôi lên văn phòng, chỉ mấy bức tranh mai, lan, cúc trúc và ra lệnh cho tôi làm mấy câu thơ và hứa sẽ “bồi dưỡng” cho tôi một ký mật. Đúng là buồn ngủ lại gặp chiếu manh. Tôi lại cố chứng tỏ mình đã được:

“Đảng cho sáng mắt, sáng lòng

Xin làm một giọt máu hồng về tim!”

bằng cách sửa bốn câu lục bát viết cho T. thành những vần thơ ca tụng công ơn trời biển của Bác, Đảng và nhân dân, như sau:

“Mai:

Mai vàng nở khắp muôn phương

Đảng đưa ta tới một vườn đầy Xuân

Lan:

Nhờ ơn Bác với nhân dân

Mùa Hè thơm nức hương lan đại đồng.

Cúc:

Mùa Thu cách mạng thành công

Cúc vàng khoe sắc, muôn lòng nở hoa.

Trúc:

Đông về, Bác bận đi xa

Trúc rừng Pắc Bó thiết tha ơn Người!”

Dù đã tìm mọi cách để chứng tỏ mình đã “sáng mắt, sáng lòng” tới như vậy, nhưng lúc Trung Cộng và Việt Cộng đánh nhau, tôi cũng như những người tù khác bị còng chung chiếc còng “made in Vietnam xã hội chủ nghĩa” làm bằng kẽm gai, leo lên xe molotova của Liên Sô, giã từ Phố Lu:

“Đoạn đường ta đã kinh qua

Mùa Đông buốt giá thịt da ngỡ ngàng.”

về trại cải tạo Cây Dừa ở Hạ Hòa thuộc tỉnh Vĩnh Phú. Hạ Hòa nổi tiếng với câu ca dao:

“Thương nhau cho thịt, cho xôi

Ghét nhau đem đến Mai Côi, Hạ Hòa.”

Ở đây, may mắn tôi được biên chế vào đội nhà bếp. Ngày ngày “đốt lửa lên em” để nấu bo bo, bắp xay, sắn duôi, sắn khúc. Chứng bệnh hiểm ác: tràn dịch màn tinh hoàn bắt đầu hành hạ tôi. Ngày nào, tôi cũng xách cái bìu dái sưng đỏ lên phòng y tế xin thuốc, mà thuốc ở phòng y tế thì có gì đâu ngoài thuốc xuyên tâm liên.

Tôi càng khủng hoảng hơn khi mượn quyển Tự Điển về y học của anh Lê Đình Ái mà người nhà đã đem vào cho anh khi còn ở trại Suối Máu ở trong miền Nam . Quyển sách ghi rõ về bịnh tình của tôi như sau: “Tràn dịch màn tinh hoàn: do bị thương ở hòn tinh lúc nhỏ, bị phát ra khi cơ thể suy nhược. Đông y không có cách chữa. Chỉ có thể chữa bằng cách giải phẩu. Nếu để lâu sẽ tuyệt tự.” Cái kiểu này là “chết ngộ dồi!” Tôi mới cưới vợ có sáu tháng, chưa có con cái là phải khăn gói gió đưa lên đường… cải tạo. Bây giờ lại bị cái bệnh có nguy cơ tuyệt tự thì còn biết nói thế nào.

Ở phân trại K.4 còn gọi là trại Cây Dừa có thằng tù hình sự tên Hùng-lợn vì bị tội ăn cắp một con lợn mà bị tù đã 7 năm, từ trại tù thiếu nhi đến trại tù người lớn, tối ngày vừa vác củi, gánh rau vừa ư ử ngâm nga câu thơ của ông Thiếu tá công an Bùi Văn Chiếu. Sở dỉ tôi biết được tên họ của ông giám thị trại giam này vì thấy có đóng dấu, ký tên trong “Giấy Ra Trại” mà tôi được cấp vào tháng 4 năm 1980:

K 4 đó rộn ràng biết mấy…”

Một bữa, nó vừa đặt gánh rau muống xuống bếp trại, ngồi bệch xuống đất, vê một “bi” thuốc lào vừa ư ử: “K.4 đó rộn ràng biết mấy…”. Tôi, lúc đó, mặt mày đầy mồ hôi, mồ kê vì đang chụm lửa để nấu nước, bèn thêm vào:

“Chỉ thấy người vào, chẳng thấy người ra.”

Hùng-lợn trố mắt nhìn tôi:

“Ông anh này… kinh nhỉ! Chỉ thấy người vào chẳng thấy người ra!”

Thực tình lúc đó tôi chỉ muốn chết. Đêm mùa Đông bệnh nó lại hành hạ tôi không sao ngủ được. Cả trại đặt cho tôi cái tên tục tĩu chịu không nỗi: Thằng Dái Bò!

Lúc Trung Cộng đánh nhau với Việt Cộng, anh đội trưởng đội nhà bếp là anh Trần Hòa Bình và các anh Lâm Đại Tòng (hiện định cư tại Canada), Đỗ Tài (hiện định cư tại San Jose) là những người Việt gốc Hoa bị đưa ra khỏi đội nhà bếp. Tôi được chỉ định làm đội trưởng đội nhà bếp.

Tháng 4 năm 1980, tôi có tên trong danh sách được xét tha theo diện “quan tha, ma bắt.” Trong số 120 người tù được tha, tôi lại là người mạnh khoẻ nhất, chỉ có kẹt một nỗi là cái bìu dái sưng đỏ, đau nhức chịu không nỗi. Những người khác, kẻ thì bị bệnh teo cơ, kẻ thì bại xuội, người thì bị ho lao, phải chống những cây gậy “tự biên, tự diễn” tức là tự mình “sáng chế” ra mà lếch trở về với đời.

May mắn khi tôi trở về, T., vợ tôi, vẫn còn:

“Ngày anh xa vắng, em không trang điểm đợi chờ

Nửa đêm đốt ngọn đèn mờ

Khuê phòng thổn thức cô liêu…”

Chúng tôi lại cùng nhau nhắc chuyện ngày xưa:

“… Giữa Sàigòn bỗng tình cờ gặp em

Lầu cao mỉm nụ cười duyên

Nhìn lên anh bỗng nghe thèm yêu đương

Anh - đời dạn gió phong sương

Em – hoa khuê các dậy hương xuân thì…”

(trích trong “Tiếng hát từ hố thẳm nhân gian” thơ Nguyễn Thiếu Nhẫn)

để cùng ngâm lại những câu thơ cổ nói về hôn lễ của nhà thơ Viên Linh:

“Hôm nay ngày của hai người

Có khung cửa nhỏ khép đời chung quanh

Có ơn cha mẹ sinh thành

Có anh em đến chúc mình bền lâu

Tim hồng, ý biếc ơn nhau

Ngón tay ơn nhẫn, đêm thâu ơn đèn…”

Bệnh tôi được chữa khỏi nhờ người anh bà con bên vợ là bác sĩ Dương Minh Trí, chủ nhiệm khoa Niệu của bệnh viện Bình Dân. Tôi có hai đứa con trai. Khi vợ tôi mang thai đứa thứ hai thì tôi bị tiếp tục đi tù vì tội “hoạt động tình báo kinh tế, móc ngoặc cán bộ, lũng đoạn tài sản xã hội chủ nghĩa” chỉ vì tôi mua xà phòng bán đi, bán lại kiếm lời để nuôi sống gia đình. Ở phòng hỏi cung, viên công an điều tra lật qua, lật lại tờ khai lý lịch mà tôi đã nộp theo lệnh khi xin về địa phương cư trú, vỗ bàn hét lớn:

“Mày là Đại úy Tổng Tham Mưu Trưởng?”

Tôi đã nhỏ nhẹ trả lời:

“Thưa tôi chỉ là đại úy làm ở Bộ Tổng Tham Mưu. Còn Tổng Tham Mưu Trưởng là đại tướng Cao Văn Viên.”

Viên công an hỏi cung đập bàn, đứng dậy và trong lúc bất ngờ nhất y tống vào mặt tôi một cú đấm. Tôi đưa hai tay bị còng chùi máu ứa ra ở khoé miệng. Viên công an gầm gừ:

“Tao không cần biết mày là cái gì. Tao sẽ đưa mày trở lại mấy cái chỗ mà mày đã cải tạo để cho mày biết thân.”

Viên công an đã không thực hiện được lời nói là đưa tôi trở lại sáu tầng địa ngục mà tôi đã đi qua. Tôi được đưa tới hai tầng địa ngục khác còn cay đắng hơn nhiều là trung tâm tạm giam huyện Long Hồ và sau đó là trung tâm tạm giam tỉnh Cửu Long, tức Khám lớn của tỉnh Vĩnh Long ngày trước.

Tôi lại phải đánh những sợi lát thành dây bính, nghe nói là để xuất khẩu qua Liên Sô, vẹo cả hai ngón tay trỏ trong hai năm. Sau đó, được thả ra vì “xét thấy là không cần thiết phải truy tố.”

Lúc tôi được ra tù, đứa con thứ hai đang bị sốt xuất huyết đang nằm ở nhà thương. Rời nhà giam, tôi lại tới nhà thương để nuôi con.

Sau đó, tôi tìm mọi cách để ra đi, vì biết mình không thể nào sống cùng những người cộng sản. Họ có chịu cho mình “hòa hợp, hòa giải” với họ đâu. Trăm thứ tội tình cứ đổ trên đầu thằng “ngụy.”

May mắn mà tôi và đứa con trai 5 tuổi được tới đảo Bidong sau khi chiếc tàu vượt biển bị cướp hai lần.

Tháng 3 năm 1987, tôi và đứa con tới định cư ở Des Moines , thủ phủ của tiểu bang Iowa thuộc miền Trung Tây nước Mỹ.

Ở đảo tỵ nạn tôi bắt đầu viết quyển hồi ký “Những Trại Biến Hình” với những câu lục bát mở đầu như sau:

“Hốc Môn nhát cuốc bắt đầu

Long Giao đất đỏ lệ trào chứa chan

Đường về Suối Máu gian truân

Đường ra Nghĩa Lộ muôn phần đắng cay

Lạnh lùng sương trắng Lào Kai

Đường về Vĩnh Phú tương lai mịt mù

Ra tù rồi lại vào tù

Long Hồ, Khám Lớn mịt mờ tương lai.”

với ý định “tố cáo chế độ Hà Nội giết người chậm nhưng hữu hiệu.”

Phần đầu quyển hồi ký đã đăng tải trên tạp chí Sóng ở Canda và tuần báo Sáng ở Nam California.

Quyển hồi ký, sau đó, đã được đăng tải trên bán tuần báo Quê Hương ở San Jose với cái tựa “Hồi Ký Tù, Viết Ngoài Đời”.

Quyển hồi ký đã hoàn tất, nhưng tôi không có ý định xuất bản vì tôi nghĩ rằng những người Mỹ có thẩm quyền đều biết những điều đó - nhưng những đau thương đó không phải là của họ! Những người Việt tỵ nạn đi trước thì đang lo gầy dựng lại tương lai ở xứ người.

Sau này, tôi có tìm đọc những quyển hồi ký về tù cải tạo thì thấy những người này không viết về chính mình mà lại viết về những người khác mà lại nghe qua những lời kể lại.

Anh em tù cải tạo qua Mỹ theo diện H.O. ngày một nhiều. Cảnh đời của mỗi người còn bi đát hơn tôi nhiều. Thôi hãy để đau thương được lắng im!

Tôi viết “tự thú của một người tù cải tạo” chỉ có mục đích trình bày những yếu đuối của bản thân trong thời gian cải tạo. Với tôi, sống bình thường trong các trại cải tạo đã là … “anh hùng” lắm rồi! Phần khác, cũng để trình bày vì sao đã không thể có sự hòa hợp hòa giải giữa những người miền Nam bại trận và những người miền Bắc thắng trận; Bởi, những người thắng trận có bao giờ chịu đưa bàn tay ra bắt với những người miền Nam như những người anh em, đồng bào của họ. Lúc nào, đối với họ, những người bại trận miền Nam cũng là những “thằng nguỵ”!

San Jose, cuối Đông 1992
NGUYỄN THIẾU NHẪN

Posted: Sun Apr 18, 2010 3:22 pm
by hoanghoa
Image

Mời các bạn cùng nghe dòng nhạc Từ Công Phụng


http://www.saigonocean.com/nghenhacTuCo ... gphung.htm

Posted: Sun Apr 18, 2010 4:03 pm
by thienthanh
MỘT LẦN NỮA HÃY TRẢ LỜI TÔI

Hồ Thị Bích Khương
Lại một lần nữa nhà nước Cộng Sản Việt Nam tưng bừng phát động cả nước kỷ niệm 30-4-1975 ngày “Giải phóng miền Nam”

Tôi muốn lấy đầu đề bài hát “Hãy trả lời tôi” để làm chủ đề của bài viết này. Đây là bài hát tôi thường nghe và mở cho người dân quanh tôi cùng nghe trên trang đối thoại. Bởi cho đến nay chiến tranh kết thúc đã 35 năm mà người dân Việt Nam vẫn mò mẫm mãi chẳng thấy ấm no, hạnh phúc và tự do dân chủ đâu cả, mà chỉ thấy sự bất công và độc tài cai trị.
Image
Bà Hồ Thị Bích Khương sau khi ra tù ngày 26 Tháng Tư 2009
Người dân Việt Nam nhìn nhận thế nào về cuộc chiến tranh đã chấm dứt 35 năm qua. Một cuộc chiến tranh như nhiều người đã nhận xét là: “Cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn, nồi da xáo thịt”. Đây là cuộc chiến gây thảm họa đau thương cho nhân dân cả hai miền Nam Bắc. Dù ai phân tích cuộc chiến theo bất kỳ cứ hướng nào thì thực chất cuộc chiến từ 1954 đến năm 1975 tại Việt Nam là cuộc chiến xẩy ra giữa người Việt của hai miền Nam Bắc.
Image
Dân chúng Thừa Thiên Quảng Trị đi bộ lên đèo Hải Vân để di tản vào Đà Nẵng

Đối với người dân miền Nam thì đây là cuộc chiến đấu bảo vệ tổ quốc khỏi sự xâm lược của Cộng Sản mà đứng đầu trong cuộc xâm lăng và gây thảm họa cho nhân loại trên toàn thế giới này là Liên-Xô và Trung cộng. Đối với người dân miền Bắc chúng tôi thì do bởi chính sách nhồi sọ và tuyên truyền một chiều của đảng cộng sản rằng chế độc XHCN là một chế độ chính trị ưu việt nhất của loài người, là thiên đường nơi trần thế, là nơi mọi người đều được bình đẳng, được thực sự dân chủ tự do, ấm no hạnh phúc, và là nơi tuyệt nhiên không có cảnh người bóc lột người, rằng đồng bào miền nam ruột thịt đang đói rách lầm than và đang rên xiết dưới ách thống trị bạo tàn của chế độ thực dân kiểu mới, rằng nhân dân miền nam đang vô cùng thống khổ dưới chín tầng địa ngục bởi ngày đêm phải sống trong cảnh “Ngụy kềm, Mỹ hãm”. Tất cả vì miền nam thân yêu! Vì đồng bào miền Nam ruột thịt mỗi người làm việc bằng hai! Vì miền Nam thân yêu, vì lý tưởng thống nhất nước nhà của bác Hồ vĩ đại, thanh niên hăng hái lên đường đánh Mỹ cứu nước, giải phóng quê hương! Và thế là hàng triệu thanh niên miền Bắc đã theo tiếng gọi thiêng liêng của bác đảng, rời bỏ gia đình, quê hương vào Nam xâm lược! Và đã có hàng triệu, hàng triệu người con của mẹ Việt Nam mới tuổi trăng tròn đã sinh Bắc tử Nam!

Image

Hai mươi năm nội chiến từng ngày, máu của người Việt Nam đã đổ ra trên quê hương tổ quốc mình một cách oan uổng, đau thương, chỉ vì cái thiên đường mù XHCN, chỉ vì khát vọng quyền lực cuồng điên của bác và đảng. Cho đến nay, dần dà đã có nhiều người dân Việt hiểu được rằng, cuộc nội chiến kéo dài suốt 20 năm qua hoàn toàn không phải một cuộc chiến tranh thần thánh như bác và đảng vẫn tuyên truyền, cũng không phải ước vọng của dân tộc Việt Nam, mà thực chất là cuộc chiến tranh bành trướng của Quốc Tế cộng sản với tham vọng nhuộm đỏ toàn thế giới mà Việt nam là tiền đồn của cộng sản ở khu vực Đông Nam Á.
Image

Những người Cộng Sản Việt Nam đứng đầu là Hồ Chí Minh đã từng tuyên bố: “Tôi theo Đảng Cộng Sản khi hầu như chưa biết gì về chủ nghĩa Cộng Sản”. Họ ra sức tuyên truyền cho nhân dân về chủ nghĩa Tư Bản chỉ toàn là sự xấu xa, độc ác và bóc lột nhân dân, xấu xa, thối nát, tệ hại hơn cả chế độ Phong Kiến, “Chủ Nghĩa Tư Bản đang tự đào hố chôn mình; Chủ Nghĩa Cộng Sản sẽ đưa người dân tới một Thiên Đàng nơi trần thế, với chue nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mà bác và đảng đang xây dựng trên quê hương Việt nam, rồi đây con người sẽ có được cuộc sống an lạc nhất trần gian, mọi người sẽ làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu; sẽ không còn người bóc lột người, không còn giai cấp thống trị và tầng lớp bị trị, mọi người từ anh dân cày đến chủ tịch nước hay tổng bí thư đều là bình đẳng, bình quyền! ”.
Image
Với chính sách bưng bít thông tin, với chính sách tuyên truyền một chiều bên lề phải, và với sự nhồi sọ từng giờ từng ngày trong đời sống, nên gần như cả miền Bắc XHCN lúc bấy giờ mọi người dân ai cũng mong muốn sớm xây dựng thành công thiên đường XHCN nơi trần thế trên đất nước của mình để “toàn dân ai cũng có cơm no, áo ấm, ai cũng được học hành” nên chẵng ai tiếc xương tiếc máu của mình cũng chỉ mong sơm cứu được đồng bào miền Nam sớm thoát cảnh đói rách lầm than trong cảnh “Mỹ hãm, ngụy kềm” không tự do, không dân chủ, không nhân quyền.


Kết quả là hàng triệu người Việt Nam của cả hai miền phải chết oan uổng trong cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn để cho ngư ông Cộng Sản Quốc Tế đắc lợi! Một nước Việt Nam điêu tàn, đổ nát, một quê hương Việt nam tang thương, tiêu điều và xơ xác và tụt hậu đến hang thế kỷ so với các quốc gia trong khu vực, một dân tộc Việt nam ly loạn, mà tôi dám đoan chắc rằng lòng hận thù giữa đồng bào Nam Bắc cho đến nay sau 35 năm thống nhất vẫn chưa thể hoàn toàn hàn gắn được! Bởi trong tâm thức của đa số đồng bào miền Nam thì chính dân “Bắc Kỳ” đã xâm lăng, đã cưỡng chiếm miền nam, để gieo họa đau thương, tang tóc, loạn lạc, đói nghèo và tù tội cho người miền Nam. Trong tư duy của nhiều người miền Nam cho đến tận bây giờ vẫn nghĩ rằng chính dân “Bắc Kỳ” đã cướp nước, đã cướp đi quyền sống, quyền làm người và các quyền tự do căn bản của người miền Nam kể từ ngày 30 tháng 4 năm 1975 đó, mà họ không hiểu rằng, ngay cả chúng tôi những người “Bắc Kỳ” cũng là nạn nhân của bác và đảng, chúng tôi đã bị đảng và bác lừa phỉnh, bịp bợm và cướp mất quyền làm người của cả miền Bắc chúng tôi 21 năm trước khi bác và đảng cướp đi những quyền đó của đồng bào miền nam!


Tôi vẫn chưa thể nào quên được ngày 30-4-1975, khi miền nam được “giải phóng”. Tất cả mọi người, mọi nơi trên miền Bắc đều say sưa trong men chiến thắng, háo hức ăn mừng chiến công trong những hy sinh mất mát, nước mắt và niềm vui. Tôi, một đứa trẻ ngây thơ, khờ dại đã từng thắc mắc với mẹ và cô giáo: “Chừ đánh hết giặc rồi lớn lên con không được đi bộ đội để được trở thành anh hùng, được hy sinh cho nước Việt thân yêu”. Bởi tất cả các trường học ở miền Bác thời bấy giờ đều rao giảng giải đến những tấm gương anh dũng dám xả thân vì đất nước, mỗi người dân Việt Nam phải biết hy sinh cho công cuộc giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước.

Trước thắc mắc ngây ngô của tôi, mẹ tôi đã ôm hôn tôi trong nước mắt và giải thích rằng: “Chiến tranh chấm dứt rồi không ai còn phải chết vì chiến tranh, giờ hy sinh cho đất nước là học giỏi làm việc giỏi. Sau này con cũng sẽ trở thành anh hùng nhưng mà là anh hùng trong lao động để đem đất nước tiến lên giàu đẹp mọi người được vui vẻ sum vầy hạnh phúc vì có cơm no áo đẹp, chứ không phải là anh hùng để giết hại nhau giữa người với người”.

Tôi đâu biết được ngày mà tôi và nhiều người dân khác tại miền Bắc đang vui mừng chiến thắng, thì tại miền Nam thân yêu của tôi có bao nhiêu người phải chết oan uổng, có bao nhiêu gia đình phải chia ly, tan nát, bao nhiêu cô gái trẻ miền Nam bị các “Anh hùng Cộng Sản” hãm hiếp… Và còn nữa, có không biết bao nhiêu người con của đất Việt chỉ vì kiên cường bảo vệ nền tự do dân chủ cho miền nam thân yêu khỏi họa hại xâm lăng của cộng sản mà phải bị giam cầm tận chốn rừng thiên nước độc trong các trại lao cải do bác và đảng lập ra, mà không dưới 165,000 người đã vĩnh viễn gửi lại nắm xương tàn nơi chốn núi rừng hoang vu đó, bởi chế độ hà khắc của chốn lao tù và sự bạo tàn của những tên quỷ đỏ trong lốp “cán bộ quản giáo” hung tàn, và cũng dễ có đến hang triệu đồng bào tôi phải làm mồi cho cá cá mập trên đường vượt biển đi tìm tự do…

Tôi vẫn còn nhớ, không lâu sau cái ngày định mệnh 30 tháng tư năm 1975 của dân tộc đó, mỗi ngày có đến hàng trăm lượt xe ca Nam-Bắc chở “sự nghèo đói, sự đau thương” của đồng bào miền nam ra để tạo sự thịnh vượng cho miền Bắc thiên đường XHCN, mà mỗi ngày dễ có đến hàng chục ngàn chiếc xe đạp miền nam được chất đầy trên mui xe ca để xuôi về miền Bắc, bởi trong suốt nhưng năm dài quá độc lên chủ nghĩa xã hội, thì một chiếc xe đạp là cả một mơ ước ngàn đời của người dân Bắc chúng tôi, nó là cả một gia tài, mà chỉ có những cán bộ cao cấp của đảng mới được chiếu cố cấp cho một chiếc. Và cũng không lâu sau đó, những chiếc xe “bình bịch” lạ lùng cũng từ miền nam bắt đầu “xâm lược” các đường phố của miền Bắc XHCN. Đến lúc này, nhiều người “Bắc kỳ” chúng tôi mới ngộ ra một điều, có phải chúng ta đã giải phóng được miền nam hay không? Giải phóng khỏi cái gì? Hay giải phóng đồng bào miền nam khỏi sự thịnh vượng, sự phồn vinh và sự ấm no hạnh phúc?
Image
Những chàng trai quý gái yêu của miền Bắc XHCN đã bỏ mình trên đường đi xâm lược miền Nam (Hình chụp tại Quảng Trị mùa hè đỏ lửa năm 1972)
Cũng vào những tháng ngày cả miền Bắc chúng tôi đang vui say trong men chiến thắng đó, không biết có bao nhiêu người vợ, người mẹ, người con ở miền Bắc hiện trông ngóng mà chẳng thấy người thân trở về từ cuộc chiến trong nỗi đau thương và mất mát vô bờ! Cũng vào những ngày tháng đó, không ít người “Bắc kỳ” chúng tôi từ một người vô sản, bỗng chốc được hóa thân thành một đại phú ông với tài sản lên đến 16 tấn vàng với niềm vui bất tận, thì cũng không ít đồng bào tôi ngộ ra được một điều họ đã bị lừa! họ đã hy sinh máu xương một cách uổng oan cho một nhóm người ăn trên ngồi trốc, mà sự mất mác của họ suốt cả cuộc đời còn lại, không thể gì bù đắp được!


Cho đến bây giờ đất nước Việt Nam đã thống nhất được 35 năm, đảng cộng sản đã đoạt được mọi quyền lực theo ý muốn thì nhân dân Việt Nam đã đạt được gì? Đảng cộng sản độc tôn cai trị đất nước, thống trị nhân dân. Người dân Việt tôi chúng đã được gì khi đất nước thống nhất? Độc lập thống nhất, nhưng tự do, ấm no, hạnh phúc ở đâu? Những điều này chỉ thể hiện trên lời nói, sách vở và trên các phương tiện truyền thông của cộng sản.

Phải chăng chế độ cộng sản vẫn còn lừa dối người dân Việt Nam hôm nay rằng sẽ có một Thiên Đàng trên trần thế này thông qua chủ nghĩa Cộng Sản? Những nhà cầm quyền cộng sản Việt nam phải trả lời thế nào khi mức độ giàu nghèo giữa nhà cầm quyền với nhân dân, giữa nông thôn thành thị càng ngày vẫn càng ngày càng lớn? Bộ sậu Nông Đức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng và Nguyễn Minh Triết cùng Bộ chính trị phải trả lời sao đây khi những khối tài sản khổng lồ đang nằm trong tay những lãnh đạo cộng sản? Đảng cộng sản sẽ trả lời thế nào trước nhân dân Việt Nam và toàn thế giới về Hoàng Sa, Trường Sa, Biển Đông, Tây Nguyên và biên giới phía Bắc đang lần lược trở thành chủ quyền của Trung cộng? Các lãnh tụ của cộng sản sẽ trả lời thế nào về những sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng bắt bớ, bị cấm đoán, những nhà hoạt độngtôn giáo bị giam cầm, các cơ sở tôn giáo bị cướp phá bị cưỡng chiếm? Có phải chăng cộng sản vì muốn xây dựng một Thiên đàng trên trần thế này nên bắt buộc phải tìm mọi cách để triệt tiêu tất cả các tôn giáo đang có mặt tại Việt Nam (chưa bị quốc doanh hóa) để độc quyền làm những chuyện xấu xa? Biết bao nhiêu người dân mất nhà mất đất, mất người thân, mất quyền căn bản vốn có của con người phải vác đơn khắp nơi kêu cứu? Cộng Sản đã làm được những gì.


Cho đến bây giờ tôi hiểu tại sao mỗi lần các anh chị tôi được giới thiệu vào đảng đều bị mẹ tôi cản trở không cho vào. Phải chăng kiếp làm vợ của một cựu cán bộ đảng viên cộng sản, mẹ đã chứng kiến nỗi đau đớn, nhục tủi dày xéo trong lòng chồng mình, một người sinh ra trong một gia đình trí thức, giàu có bị cộng sản đấu tố và hạ phóng theo chủ trương: “ Trí, phú, địa, hào đào tận gốc trốc tận rẽ” gia đình họ tộc phải cho vào hoạt động trong hàng ngũ đảng cộng sản để thoát chết nhằm duy trì nòi giống. Cả bố và anh trai của bố chồng của mẹ tôi đều là cán bộ cộng sản, đã hoạt động từ những năm 1930-1931, ngay từ ngày đảng mới khai sinh.


Nhưng chính anh của bố chồng bà là Hồ Duy Vinh bị những người cộng sản giết hại năm 1954. Bố của chồng bà là Hồ Duy Định cùng người cháu trai con ông Vinh là Hồ Duy Hợi phải bỏ trốn vì chế độ Cộng Sản. Khi có chủ trương "minh oan" thì Ông Định mới trở về. Cho đến nay thì ông Hồ Duy Hợi (con ông Vinh, người bị cộng sản giết hại) vẫn bị mất tích sống chết thế nào đến nay không ai hay, cả họ tộc tôi gắng công tìm kiếm vẫn không có chút tung tích nào. Trong thời gian làm việc cho cộng sản tại Hà Nội chồng bà (bố tôi) nhìn thấy anh trai nhưng chỉ kịp gọi được mấy tiếng “ Anh Hợi ơi!.. ” hình như bác tôi sợ nên không trả lời mà lẩn trốn cả em mình rồi bỏ đi biệt tích, cũng từ đó tới nay bác tôi biệt vô âm tín. Có lẽ bác tôi lúc đó chắc sợ bố tôi là một thằng “cộng sản” sẽ bắt nộp ông cho cộng sản giết hại. Nên không dám trả lời mà phải tìm đường lẩn trốn.


Tôi còn nhớ khi giảng bài tại một lớp học kinh thánh, mục sư Nguyễn Trung Tôn có trích một câu kinh thánh để mọi người suy ngẫm và lúc này tôi muốn trích câu kinh thánh này làm lời nhắn nhủ người dân Việt Nam, đặc biệt là những người cộng sản:


“Có một con đường mới trông tưởng chính đạo, nhưng cuối nẻo của nó là sự chết” Kinh thánh Châm ngôn 14:12.

Có phải chăng tôi cũng như nhiều người dân khác đã lầm tưởng khi nghĩ rằng chủ nghĩa cộng sản là chính đạo? Có chắc chắn rằng kết cục của chủ nghĩa cộng sản là diệt vong? Không cần giải thích nhiều, chúng ta cứ nhìn vào sự phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa này vào đầu thế kỷ 20 và sự tan vỡ của nó tại Đông Âu vào cuối thế kỷ đó thì chúng ta có ngay câu trả lời! Đảng Cộng Sản Việt Nam phải trả lời dân tộc Việt Nam ngay lập tức, mà hành động nên làm nhất để chuộc những sai lầm trong quá khứ là ngay lúc này, hãy trả lại quyền lãnh đạo đất nước Việt Nam cho người dân Việt Nam để mọi người cùng nhau đưa đất nước thoát khỏi nguy cơ trở thành thuộc địa của Trung Cộng, một lũ “Sa Tan trá hình Cộng sản”. Hãy trả lại ngay lập tức cho người dân Việt Nam những quyền vốn có của họ! Thả ngay những người yêu nước đang bị tù đầy để họ góp sức vào công cuộc cứu nguy dân tộc!

Đức Chúa Trời sẽ cho quý vị có cơ hội ăn năn nên hãy ăn năn khi còn cơ hội.

Để kết thúc cho bài viết này, tôi xin mượn lời bài hát “Hãy Trả Lời Tôi” để mong được sẻ chia cùng đồng bào tôi về những đau thương mất mác và những ly loạn tang thương mà chế độ cộng sản đã mang đến cho cả dân tộc này:

Này lũ cướp nước người giải phóng cho ai
người nói tự do sao ta bị tù đầy
Người nói ấm no sao ta bị đói rét
Người nói hạnh phúc sao ta bị khổ đau

Là kẻ nói dối sao lại bắt ta đi
Đoàn kết toàn dân sao ngươi gây hận thù
Độc đảng độc tôn sao ngươi gọi dân chủ
Người nói công lý nhưng lại chơi luật rừng

Một lần không tin, trăm lần không tin
Vạn lần không tin người ơi
Một lần nói dối, trăm lần nói dối
Vạn lần cũng thế mà thôi

Làm sao ta quên được, làm sao ta quên được
Những lời tráo trở trơn tru, những lời trót lưỡi đầu môi
Đỉnh cao trí tuệ sản sinh ra người
Này kẻ lóc lếu người đổi trắng thay đen

Người muốn loài giun chết hết hay làm người
và bắt toàn dân trở thành người câm điếc
Vì mất tự do nên liều chết ra đi
Vì mất tự do nên liều chết ra đi.


Ngày 25 Tháng 4 Năm 2010
Hồ Thị Bích KhươngĐiện thoại : 0984 - 980 - 597
Thành viên Khối đấu tranh dân chủ - 8406
Địa chỉ hiện nay : Xóm 2, xã Nam Anh,huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An

Posted: Mon Apr 19, 2010 1:58 am
by dailien
Thể thao châu Âu chịu ảnh hưởng vì khói bụi núi lửa

Trận derby thành Manchester ở giải Ngoại hạng hôm qua chỉ là một trong nhiều sự kiện thể thao chịu tác động từ khói bụi núi lửa ở Iceland.

Những lớp khói bụi từ núi lửa Eyjafjallajokull của Iceland đang làm hàng không trên khắp châu Âu tê liệt khi nhiều quốc gia trong đó có Anh phải đóng cửa không phận của họ.
Đây là lý do khiến trọng tài Steve Bennett bị mắc kẹt ở Romania, nơi ông này dự một khóa đào tạo trọng tài của FIFA
và không thể về Anh làm nhiệm vụ tại vòng 35 giải Ngoại hạng Anh hôm qua.

Image
Trọng tài Martin Atkinson lẽ ra không bắt trận derby giữa Man City với MU hôm qua. Ảnh: AFP.
Theo phân công ban đầu, Steve Bennett được giao bắt chính trận Man City - MU hôm qua. Nhưng vì trục trặc đường hàng không kể trên, Hội đồng trọng tài Anh đã quyết định thay Bennett bằng Martin Atkinson, người lẽ ra bắt chính trận Stoke City - Bolton. Dù thông cảm sự cố ngoài mong muốn về trọng tài Bennett, Man City vẫn không khỏi ái ngại khi biết Atkinson cầm còi trận derby.

Atkinson chính là người bắt chính trận derby Manchester ở lượt đi trên sân Old Trafford. Đó là trận đấu mà ông này cho MU được hưởng thời gian bù giờ tới 7 phút, nhiều hơn 3 phút so với thời gian được hiển thị trên biển thông báo của trọng tài bàn. MU nhờ đó có bàn ấn định thắng lợi 4-3 của Owen ở phút 95 cộng 26 giây. Và hôm qua, dường như với cái duyên từ Atkinson, MU một lần nữa đánh bại Man City, với bàn duy nhất của Paul Scholes ở phút bù giờ thứ ba.

Hàng không tê liệt vì khói bụi núi lửa còn khiến giải Vô địch thế giới Snooker khai mạc ở Shefffield (Anh) hôm qua bị tác động. Các trọng tài người Hà Lan, Jan Verhaas và người Malta, Terry Camilleri không thể có mặt đúng hẹn để làm nhiệm vụ trong ngày khai mạc hôm qua. Ban tổ chức vì thế phải mời một trọng tài khác từ Glasgow, Scotland đến hỗ trợ, trong khi chờ đợi Verhaas và Camilleri di chuyển sang Anh bằng đường bộ.

Vì Anh đóng cửa không phận, nhà 3 lần vô địch Thế vận hội Bradley Wiggins cũng lỡ cơ hội cạnh tranh huy chương ở Amstel Gold - một giải đua xe đạp truyền thống nổi tiếng - ở Hà Lan, diễn ra trong hôm nay. Trên trang blog Twitter hôm qua, cua-rơ người Anh từng về thứ tư ở giải Tour de France 2009 này than thở: "Không thể tới Amstel cuối tuần này".
Image
Wiggins mất cơ hội làm dày thêm bộ sưu tập huy chương vì khói bụi núi lửa. Ảnh: AFP.
Các trận đấu bóng bầu dục châu Âu thuộc giải Carnegie Challenge Cup 2010, quy mô gần tương tự UEFA Champions League ở môn bóng đá, cũng bị ảnh hưởng bởi khói bụi núi lửa. Trận đấu thuộc vòng bốn giải này giữa Widnes Vikings (Anh) với Lezignan (Pháp) hôm qua được dời lại đến đầu tuần sau vì chuyến bay từ Pháp sang Anh của Lezignan bị hủy. Trong khi đó, ban tổ chức đang tất bật liên hệ với các CLB khác, bàn thảo phương án di chuyển bằng đường bộ hoặc phà để đảm bảo không ảnh hưởng tới kế hoạch thi đấu.

Minh Kha

Posted: Tue Apr 20, 2010 12:12 am
by vuphong
Image

Sài Gòn tháng Tư 1975
Những trái pháo đầu tiên từ vùng ven đô nã vào thành phố rơi trúng ngay xóm nhà lá trong khu Mã Lạng nơi tôi và Quỳnh đã dọn về sống chung từ hơn hai năm nay. Cây kim dạ quang trên chiếc đồng hồ đeo tay của tôi chỉ ba giờ rưỡi sáng. Tôi quơ chân dưới gậm giường tìm đôi dép. Và ngay khi vừa đỡ Quỳnh đứng dậy tôi nghe thấy tiếng chân người chạy rầm rập, tiếng la khóc inh tai, tiếng gọi nhau thất thần ơi ới. Tôi bật công tắc đèn, nhưng điện đã mất. Đi qua phòng khách đến cửa lớn, tôi nhấc cây đà ngang mở ra, hơi nóng thổi ào vào cùng với luồng khói khét mùi cao su thốc tới làm Quỳnh ho sặc sụa. Con ngõ hẹp trước nhà tôi chật ních những người trong xóm tụ tập chỉ trỏ đám khói đang bốc lên trong xóm nhà tôn. Quỳnh ôm cánh tay tôi, nói mệt nhọc:

“Em sợ! Em sợ quá!”

Tôi nắm tay Quỳnh, trấn an:

“Không sao đâu! Không sao đâu!”

Thật ra tôi cũng đang lo sợ. Sợ lắm.

“Pháo trúng nhà Tư Chơi, cậu Thăng ơi!”, chị Sáu trong xóm tay xách nách mang đứng giữa sàn nhà mếu máo tiếp, “Nhà tôi cháy rồi!”

“Tư Chơi có sao không? Nhà chị cháy? Còn anh Sáu đâu? Bọn nhỏ đâu?”

“Trời ơi là trời!.” Chị Sáu khóc to lên.

“Chị Sáu!” Quỳnh nắm tay chị. Tôi nói:

“Em ở đây với chị Sáu, anh chạy vô trong xóm nghe.”

Tôi ra sau nhà xách cái xô nước chạy về phía đám cháy. Bác Tư và bác Tốt chạy theo tôi. Mỗi người xách một xô.

“Có ai bị gì không?”

“Không biết! Không biết ai sống ai chết!”

Cả xóm Mã Lạng bên trong nằm chen với mồ mã. Những mái nhà lợp tôn, vách cũng bằng tôn, trống thốc. Khói bốc ngụt lên, nhưng lửa chưa bén.Tôi nghe tiếng anh Sáu la to:

“Mền đâu? Chiếu đâu? Quần áo đâu?”

“Chi vậy?” Có người hỏi.

“Nước không đủ đâu. Lấy mền chụp lên đi. Quần áo chụp lên đi! Trời ơi! Đâu rồi? Đâu hết rồi?”

Tôi đổ xô nước xong chạy ngược lại nhà quơ đại mấy cái mền. Con nhỏ Tám giúp việc chạy theo tôi cầm tấm ra trải giường. May quá, chỉ còn khói bốc lên ở nhà Tư Chơi… Trái pháo đâm xuống ngôi mã bên hông nhà. Không ai bị gì. Nhưng căn nhà Tư Chơi cũng trống trơn. Tư Chơi đi suốt mấy ngày nay chưa về. Có thể nói xóm Mã Lạng là một trong những xóm nghèo nhất của Sài Gòn. Nghèo đến độ nếu cứ để nó cháy hết đi cũng chẳng sao, vì đâu có tài sản gì mà phải cứu ngoài những tấm tôn, tấm thiếc, đống giẻ rách và nền nhà là đám mồ mả không ai thừa nhận.

Sài Gòn hấp hối. Cả một thành phố hoảng hốt với dòng người ngược xuôi, quần áo xốc xếch, mặt mũi thất thần, di động trên đường phố như những hình nộm.

Ngày hôm qua khi đứng ở đầu hẻm tôi đã thấy những người chạy ngược trên đường Võ Tánh từ rạp chiếu bóng Khải Hoàn về phía rạp cải lương Quốc Thanh đổ xuống Chợ Lớn, những người lính đã cởi áo trận, vất bỏ nón sắt, thân thể bị băng bó vội vàng, người đầy máu và bùn, những đôi mắt không còn sinh khí trên những khuôn mặt hốc hác… Họ chạy nhưng rõ ràng là không biết mình đang chạy đi đâu, về đâu.…

Người ta chờ đợi “ông tướng hoa lan” Dương Văn Minh lên tình hình sẽ thay đổi hẳn. Bởi vì tin đồn Mặt Trận Giải Phóng chỉ muốn nói chuyện với Minh Cồ. Ngoài Minh ra họ không muốn nói với nhân vật nào khác. Và nếu đúng là tướng Minh lên thật, có lẽ Sài Gòn sẽ vẫn là Sài Gòn. Trận mưa bom sẽ không dội xuống đầu bốn triệu con người sống trong nỗi kinh hoàng đang bị ám ảnh trước một biển máu. Nhưng tại Dinh Độc Lập sau khi run rẩy đọc bài diễn văn bàn giao trách nhiệm cho tướng Dương Văn Minh, ông giáo Hương bước xuống đã vấp chân vào một bậc thềm như một điềm gỡ. Và sau những câu trong bài diễn văn dũng cảm của tướng Minh “Hỡi người anh em phía bên kia, tôi thành thật muốn hòa giải, và các bạn biết rõ điều ấy…” là những trái hỏa tiễn của “người anh em phía bên kia” đua nhau rớt xuống Saigon như một câu trả lời. Hà Nội không muốn nói chuyện với bất cứ một người nào, dù nhân vật đó là Minh Cồ.

Quỳnh suốt ngày đi ra đi vào, xem lại đống giấy tờ và hình ảnh của tôi, cái nào nghi ngờ có thể rắc rối là cô đốt bỏ vất hết vào xọt rác. Những tấm ảnh thời học quân sự chín tuần ở Quang Trung, với quần áo treillis, nón sắt, với khẩu M-79, chụp làm cảnh kỷ niệm cũng bị Quỳnh xé nát liệng vào cầu xí.

Tôi chịu không nổi cái cảnh bó gối ngồi trong rọ. Bao nhiêu gia đình đã tìm đường chạy khỏi Saigon và đã chạy được khỏi Việt Nam. Tại sao tôi không làm như họ?

Người đại diện hãng CAL hứa cho Quỳnh hai chỗ trên chuyến bay cuối. Nhưng chúng tôi đã không đến kịp đúng điểm hẹn. Tôi chở Quỳnh đến tòa đại sứ Hoa Kỳ, cả một rừng người chen chúc ngoài cổng sắt. Tại bến Bạch Đằng tôi không thấy chút dấu hiệu nào có chuyến tàu sắp nhổ neo. Quỳnh thì bụng mang dạ chửa, không biết sanh nở giờ nào. Tôi không thể nào đẩy Quỳnh vào cái giòng người cuồn cuộn chen lấn xô đẩy, dẫm lên nhau để tìm cái sống. Cái cảnh di tản ở miền Trung làm tôi hãi sợ quá. Tôi không muốn mình là nạn nhân của một cuộc vượt thoát lối đó. Tôi tìm những lý lẽ riêng để biện minh cho sự an toàn của bản thân nếu Hà Nội chiếm Saigon.

Tôi không biết mình sẽ làm gì trong những ngày tới. Tôi lo sợ. Rồi lại tự giam mình trong nhà, tự an ủi không nên ra đường vì phải canh cho Quỳnh chờ đưa cô đi nhà Bảo Sanh. Tôi quanh quẩn ra vào trong căn nhà hẹp. Quỳnh thì lo xa kiểu đàn bà: trữ sữa, gạo, đường, muối mắm cho cái gia đình ba người có thể sống vài tháng nếu chẳng may không còn chợ búa.

Giống như một người tử tội chờ đợi bản án thi hành, tôi lo sợ và hồi hộp. Tôi hình dung ra một tương lai đầy đe dọa và hồi tưởng một quá khứ không có đầu đuôi. Tôi rảnh rang một cách bận rộn. Tôi cố đọc sách để quên nỗi khắc khoải của một thứ thời gian không phải tâm lý mà cũng không phải vật lý, nhưng tôi hoàn toàn thất bại.

Tôi đến ở trong cái khu xóm Mã Lạng nghèo nàn này của Saigon ngay sau khi Quỳnh quyết định hủy bỏ chuyến đi Âu châu do hãng hàng không CAL đài thọ. Tôi nhớ lại buổi tối sinh nhật của Uyên ở nhà ông bà Phan. Cái ngã đầu của Quỳnh trên vai tôi ngay giữa đường phố Saigon trong đêm giới nghiêm sau cùng khi chúng tôi vừa bước qua cánh cổng sắt nặng nề của nhà ông Phan như bản hôn thú của tôi và Quỳnh. Ở căn nhà này chừng một tháng sau, tôi và Quỳnh đã có dịp đón bà Phan và Uyên đến thăm chơi, khi cả hai chuẩn bị lên đường đi Mỹ.

“Nhà cửa gì mà như cái lỗ mũi!” Tôi nhớ bà Phan đã kêu lên như vậy. “Tài xế phải đậu xe tuốt ngoài kia.”

Bà Phan và Uyên kêu cũng phải. Họ đến thăm tôi đúng vào hôm con hẻm ngập nước mưa. Ngồi trong chiếc ghế mây ở phòng khách nhìn mực nước đục ngầu ngấp nghé tận thềm cửa, bà Phan và Uyên ngó tôi ngao ngán. Hôm đó bà đã nói với tôi điều gì? Bà tiếc rẻ chuyện tôi từ chối cái học bổng bên Mỹ. Bà cười khi nhìn thấy Quỳnh đứng sau lưng tôi mặc chiếc áo bà ba màu nâu, tóc bím đuôi sam ngắn, có gắn một chiếc hoa tỉ muội màu trắng. Phần Uyên, cô không nói với tôi lấy một lời. Cô đứng bên Quỳnh, cười cười nói nói với Quỳnh như hai người bạn thân lâu năm và xem tôi như thể một người chưa hề quen biết bao giờ. Trước khi ra về bà Phan nói “rất tiếc nếu hôn nhân đối với cậu như một nhà tù thì cậu đang trốn từ nhà tù này tự trói tay chui vào nhà tù khác.”

Bà Phan và Uyên đã đi Mỹ đúng vào sáng thứ Bảy, Hăm bảy tháng Giêng, Bảy Ba. Tôi còn nhớ rõ số ngày tháng này bởi vì Hăm bảy tháng Giêng, Bảy Ba là ngày chấm dứt cuộc chiến tranh dài nhất thế kỷ. Chấm dứt trên lý thuyết thì đúng hơn. Bởi vì trong ngày đó – mà sau này đọc trên tờ Chính Luận tôi mới biết thêm rằng trong khi Tổng thống Nixon mở đầu bài diễn văn gửi nhân dân Mỹ bằng câu “một kỷ nguyên mới của hòa bình cho nhân loại bắt đầu …”; khi mà tại căn cứ Tân Sơn Nhất các phi công Mỹ xô nhau tung mũ phi hành lên trời, vỗ vào lưng nhau, chuyền cho nhau chai rượu Cognac để vừa tu vừa la lên: Chiến tranh hết rồi, chúng ta trở về nhà…; khi mà tại Saigon hàng chục ngàn tín đồ Phật giáo và Thiên Chúa giáo đến chùa chiền và thánh đường cầu nguyện cho hòa bình… thì con đường quốc lộ từ tỉnh về thủ đô Saigon bị cắt trên ba chục cây số, và cả chục xe vận tải đụng phải mìn,… tại Tây Ninh cuộc đụng độ kéo dài ba mươi tiếng đồng hồ đã khiến quân Bắc Việt để lại trên chiến trường ba trăm xác chết,… tại cửa bể Sa Huỳnh, tại vùng đồng bằng gần Đồng Tháp và rừng U Minh, tại đồn Ban Hét… nơi nào cũng có chạm súng. Chỉ hai ngày sau cuộc ngưng bắn chính thức được loan báo quân Cộng sản đã mở ba trăm ba mươi bốn cuộc tấn công.

Sau ngày bà Phan và Uyên bỏ Việt Nam ra đi hơn hai năm trời nay, tôi chỉ nhận được có hai lá thư viết từ tiểu bang Virginia thuộc thành phố có tên là McLean. Tôi không có dịp trả lời. Và sau đó tôi cũng không có dịp nhận thêm một dòng chữ nào khác.

Buổi sáng đầu tiên của một Saigon vừa chết, cái thói quen mở radio đã làm tôi giật thót. Một âm điệu hoàn toàn khác lạ chói tai buốt óc vang lên. Tôi có cảm tưởng như mình đang nghe một ca khúc Trung Hoa được người Tàu hát bằng tiếng “Việt chệt”. Nó lơ lớ ngọng ngọng. Nó là một bài ca của kẻ chiến thắng đòi người thua trận phải trả bằng máu, xương, và nước mắt.

Tất cả đều đã đổi khác.

Trích Bụi Và Rác, Chương Một A

Posted: Tue Apr 20, 2010 1:20 am
by tankhoasinh

Image

Tản Mạn Sài Gòn



Sài Gòn đối với đa số dân Sài Gòn gạo cội không phải là "thành phố 10 mùa hoa", "thành phố mang tên Bác", hay thành phố cay cú "tôi mất người như người đã mất tên", ... Sài Gòn hiền lành hơn thế nhiều. Dân Sài Gòn vốn vẫn thờ ơ với chính trị, nhất là thứ chính trị Salon vô bổ, nhiều lời lẽ, thiếu tính thực tế. Dân Sài Gòn chính hiệu "con nai vàng" chẳng bao giờ gọi Sài Gòn là thành phố Hồ Chí Minh.

Không nhất thiết là vì lý do chính trị. Thằng Tí thằng Tèo trong mắt bà ngoại trăm năm vẫn là thằng Tí thằng Tèo, bất kể địa vị xã hội của nó là gì. Tôi có nói chuyện với vài bạn trẻ ở miền Bắc mới sang Mỹ, nghe họ dùng "thành phố Hồ Chí Minh" để nói đến Sài Gòn, thấy quai quái thế nào ấy, dù tôi chẳng có lý do gì chính đáng.

Sài Gòn, dù trong thời buổi khó khăn nhất, vẫn như một cô tiểu thư đài các: đỏng đảnh đôi chút mà dễ thương thiệt nhiều.
Nhắc đến Sài Gòn người ta hay nhắc đến mưa, nhưng tôi lại nhớ daidẳng cái nắng gay gắt của nó.
Nhà tôi ở một con đường nhỏ. Trưa hè đặt cái "lưng dài vai rộng" xuống nền gạch bông mát lịm, ngắm bầu trời xanh ngắt, gió nhẹ hiu hiu, thì không có nơi nào trên quả đất này cho cảm giác thanh bình hơn.

"Một ngõ vắng xôn xao
Nằm trong lòng phố lớn ..."


Khác với Hà Nội, không gian Sài Gòn rất thoáng, chí ít là cách đây hơn 15 năm. Không gian của một buổi trưa hè hiu gió còn thoáng hơn vạn lần.Tôi luôn có cảm giác mình có thể bay bổng lên, thò tay với cụm mây bồng bềnh trêu ngươi.
Tuy thoáng, không gian Sài Gòn không bao giờ làm ta cảm thấy lạc lõng.Những tiếng rao thi thoảng của người bán dạo nghe nao nao, cuộn cả buổi trưa hè thành một miếng bột bánh bèo trắng phau với ít đậu xanh, mỡ hành, nước mắm đường ngọt lịm.
Từ ve chai, bánh bao chỉ, chè đậu xanh bột báng nước dừa, kẹo kéo, tàu hủ, đến mì gõ, ... đều có nguời mang đến tận cửa. Có rất nhiều tiếng rao mà đến bây giờ tôi vẫn không hiểu nghĩa, nhưng nghe cái cung nhạc ấy thì biết ngay là họ bán cái gì.
Người Sài Gòn cũng thoáng như không gian Sài Gòn vậy! Không đâu có thể dễ có nhiều bạn, và bạn không tồi, như ở Sài Gòn. Không chỗ nào trên đất Việt Nam người ta sống năng động và khoáng đạt hơn ở Sài Gòn.

***
Trước khi bàn chuyện "người lớn" này, xin mạn phép quay lại chuyện thằng Tí thằng Tèo.
Ðối với một thằng Tèo Sài Gòn chính gốc con nhà nòi thì Sài Gòn dĩ nhiên là "bự" hơn một buổi trưa hè.
Sài Gòn là những chiều tụ tập bấm chuông nhà người ta, cho đến khi nghe chửi "D.M. tụi bay con cái nhà ai mất dại bấm chuông wài dzậy" thì mới chịu vắt giò lên cổ chạy.
Sài Gòn là các hồ bơi Lao Ðộng, Chi Lăng, Nguyễn Bỉnh Khiêm, là mấy củ khoai mì nóng hổi với dừa nạo, là nước mía lạnh, là ốc dích ốc táng, là bắn bi ca-de với những câu đồng dao khó hiểu như thần chú: "lang cang báng dội ăn tiền". Nói sai hay nói thiếu một chữ là đánh nhau chí tử để rồi ngày mai lại càu nhàu chơi tiếp.
Sài Gòn là những buổi tối cúp điện, tụ họp ca hát hay vừa hồi hộp vừa thích thú nghe và kể chuyện ma như chính mắt mình thấy hôm qua.
Sài Gòn là những con diều làm đi làm lại, treo thêm cả vài cái lưỡi lam để cắt dây diều khác; là dế hộp quẹt thổi phù phù "đá bắt xác"; là chùm ruột chua ngọt, những cùi thơm, cóc ổi ngâm cắm que cà rem "đa năng" không biết đã được dùng lại bao nhiêu lần.

Lớn lên một tí, Sài Gòn là cô bé hồi hộp chờ thằng Tèo hái cho cả cành phượng về ép làm bướm; là hàng điệp trải thảm vàng rực ở trường phổ thông; là quán cà phê từng buổi đón em về.

Xin trích đoạn một bài hát tôi viết đã lâu, đặt tên (rất tự nhiên) là "Lâu Lâu":

"Lâu lâu ngồi nhớ hồi xưa
Buổi trưa thường hái trộm me
Thằng leo, thằng đứng làm thang ...
...
Lâu lâu ngồi nhớ hồi xưa
Phượng cao mấy cũng trèo lên
Chỉ vì cô bé mắt tròn xoe, ... mắt tròn xoe"


Dĩ nhiên, cô bé mắt tròn xoe của tôi vẫn đang ở ... Sài Gòn.
Sài Gòn đáng yêu lắm! Nó đơn giản và khoáng đạt, không bao giờ cần cái văn vẻ "màu mè ba lá hẹ", không cần các suy nghĩ tự tôn ra vẻ triết gia hướng nội, để phải miệt thị kẻ khác quan điểm.
***
Sài Gòn còn là thành phố của sự đối lập: giữa những biệt thự kín cổng cao tường và đám nhà ổ chuột trên kênh hôi hám; giữa văn minh đô thị và những tiếng chửi thề; giữa sự ồn ào bụi bặm và không gian im lắng thanh tao. Nổi bật hơn tất cả là sự đa dạng vô cùng của con người Sài Gòn. Ðặc biệt là họ không sống "như đã từng được sống", mà luôn "sống như chưa được sống bao giờ".
***
Ân mình sau các hàng bông giấy, dây thủy tiên chói đỏ, là những ngôi biệt thự lúc nào cũng kín cổng. Không ai biết những người sống trong đó làm gì, là ai, và cũng chẳng ai thật sự quan tâm ... ngoại trừ bọn thằng Tí thằng Tèo.
Bọn nhóc chúng tôi thường có rất nhiều các truyền thuyết về những người sống trong mấy ngôi nhà ấy.
Ơ đầu ngõ nhà tôi cách đây khoảng 20 năm có một ngôi nhà như thế, chỉ hơi khác là hai cánh cửa sắt to đùng lại thấp lè tè. Mỗi chiều có một anh chàng vác ghế đẩu cao ngồi tì tay lên cửa trông ra đường. Gã chẳng bao giờ cạo râu cắt tóc. Mặc dù nắng chiều rạng rỡ xóa bớt phần nào sự ma quái, bọn tôi vẫn chẳng dám đến gần gã. Người ta có rất nhiều "lý thuyết" khác nhau về gã: nào là người yêu bỏ đi Mỹ, bị công an lấy mất gia tài, vân vân và vân vân. Cuối cùng hình như hắn chỉ giả điên để trốn nghĩa vụ quân sự . Ðến khi hết tuổi người ta thấy hắn cạo râu, cắt tóc ngắn chờ ngày xuất cảnh.

Dù gì thì gì, những ngôi biệt thự vẫn là nguồn cảm hứng vô tận cho hàng tỉ câu chuyện mê li rùng rợn bọn tôi truyền miệng mỗi tối cúp điện.
Chỉ cách những tòa lâu đài ấy vài trăm mét là một xóm lao động nghèo với những "truyền thuyết" kiểu khác hẳn: truyền thuyết về các "anh hùng" du đãng như trong tiểu thuyết Duyên Anh. Có lần một trong những anh hùng nổi tiếng nhất "xóm Chùa" mang dao đứng giữa ngã Năm thách đấu công an phường. Cuối cùng một anh công an nhảy vào đánh tay đôi với hắn và buộc phải dùng súng hạ gã.

Ði thêm khoảng trăm mét nữa là đến con rạch thúi hơn cầu tiêu công cộng ở Ðại Học Bách Khoa tỉ lần. Vậy mà tôi vẫn từng đi câu cá bống, vớt trùng chỉ với lũ bạn. Câu cả ngày được 2 con cá nhỏ hơn ngón tay út. Chỉ có trùng chỉ là lần nào cũng vớt được rất nhiều, làm mấy con cá Tàu nhà tôi ăn sình bụng bơi lặc lè kéo theo dây phân dài cả thước.
"Xóm" tôi có khá nhiều nhà có piano. Chiều chiều nghe lũ nhỏ tập từ Methode Rose, Hannon đến Classic 3, từ sòn đô sòn đến Tempest. Lẫn vào trong đó luôn là tiếng chửi thề của bà Tư nhà bên cạnh. Có lẽ chẳng có món "xí quách" nào ... xí quách hơn sự pha tạp của hai loại âm thanh ấy.

Buổi chiều ở Sài Gòn đối lập hẳn với buổi trưa yên tĩnh. Dường như cái dìu dịu của nắng ấm làm người ta có nhiều năng lượng hơn. Chí ít là bà Tư lúc nào cũng có thừa năng lượng vào buổi chiều. Bà chửi từ ông Tư tới thằng con mất dạy. Ỏng Tư thì chẳng nói lại nhiều lời trừ khi mới nhậu xong. Chai rượu đế gò đen (chứ hổng phải ổng) vác dao bửa củi gí vào cổ bà vợ to béo, gã con trai thì vừa can vừa ... đục luôn ông già, trong lúc đó tiếng Tempest vẫn vang vang ngắt quãng.
Ðiểm lạ (!?) nhất là tiếng Tempest vài năm sau biến mất, còn vợ chồng ông bà Tư vẫn sống "vui vẻ" với nhau như thế ...
***

Tính đối lập của Sài Gòn rõ nét nhất là vào buổi tối . Người ta đã viết rất nhiều về "Hòn Ngọc Viễn Ðông" và tính phân chia giai cấp khắc nghiệt của nó. Ðó là trước 75. Sau giải phóng cái danh hiệu Hòn Ngọc Viễn Ðông bị Bangkok cướp mất, nhưng tính đối lập của Sài Gòn chẳng ai cướp nổi.
Sài Gòn không bao giờ ngủ. Khoảng 9, 10 giờ đêm là các vũ trường bắt đầu hoạt động. Bọn con nhà giàu tí tởn hẹn hò dream, LA, su 100, quần xẻ, váy cao, phóng vù vù qua các đường Nguyễn Huệ, Ðồng Khởi, Hàm Nghị ... sau đó vọt đi mấy cái Discoteques vang bóng một thời như Thái Sơn, Cadillac, Queen Bees, ...
Phong trào đua xe thì Sài Gòn luôn đi đầu. Thủa chưa có nhiều xe gắn máy thì bọn choai choai đã biểu diễn đi xe đạp một bánh xoay mòng mòng hàng đêm trước nhà hát lớn. Ðến khi có xe gắn máy nhiều rồi thì cả đội "Bồ Câu Trắng" cũng chẳng bị ai ngán. Hơn nữa bị giam xe thì một bữa chân gà rút xương ở Hàm Nghi là lấy xe ra cái rụp.
Khuya hơn nữa thì gái "Ca Ve" tràn về các quán cơm tấm, mì xe để "đá đèn" (ăn đêm). Bọn "dân quậy" bao gồm lũ nhóc mới lớn lẫn dân giang hồ thứ thiệt cũng tham gia đá đèn la hét đến 3, 4 giờ sáng.
Cùng khi đó các em nhỏ bán vé số cũng hoạt động cật lực. May mà vớ phải dân chơi trúng quả nó mua cả cọc thì ngày mai không phải lo tiền ăn. Cựu chiến binh, thương phế binh thì vác đàn hát "Phố Ðêm", cay đắng xin từng đồng của lũ nhỏ mặt búng ra sữa chưa bao giờ hiểu hai chữ "mất mát" nghĩa là gì.
Ðến 3, 4 giờ sáng, khi lũ dân chơi đã hoàn toàn mệt lử lũ lượt ra về, thì dân lao động bắt đầu một ngày mới. Xích lô, ba gác chở rau thịt ra chợ bán. Các lò bánh mì bắt đầu xay bột trét bơ nướng bánh thơm lừng. Mấy chị bán cà phê vỉa hè cũng bắt đầu đun nước, pha cà phê vợt cho gã xích lô mới tỉnh ngủ mắt vừa nhắm vừa mở vừa tán tỉnh.
Mùi mồ hôi lẫn với mùi bơ, mùi men, mùi khói SU-100 dần biến, quyện với mùi không khí ẩm mát tinh sương tạo ra "mùi Sài Gòn" buổi sáng ở các khu phố chợ rất đặc trưng.
***
Dân Sài Gòn "quái chiêu" lắm, lúc nào cũng than thiếu tiền, nhưng không sống tằn tiện bao giờ! Họ hào hiệp với bản thân và bè bạn; và họ luôn tìm được cách kiếm tiền.
Nhiều người bảo tôi rằng dân Nam Bộ được thiên nhiên ưu đãi, sống hôm nay khỏi lo ngày mai, nên họ sống rộng rãi hơn dân miền Trung và miền Bắc.
Có lẽ đúng. Nhưng còn cái gì đó hơn thế nữa! Kiểu ăn xài "xả láng sáng dậy sớm", dù nghèo rớt mồng tơi, dường như ăn vào máu của dân Sài Gòn, ăn vào không khí họ thở hàng ngày, ăn cả vào cái văn hóa hổ lốn cẩu xực của họ. Dĩ nhiên để ăn xài thì đầu tiên phải kiếm ra tiền.
Kiếm tiền thì có lẽ không đâu có nhiều cách như Sài Gòn.
Trong thời còn ăn bo bo, gạo tổ đỏ lòm, thời dân Hà Nội còn ganh nhau từng cái khung Chiến Thắng, lốp Phượng Hoàng, hộp sữa cân đường tiêu chuẩn, thì dân Sài Gòn đã bắt đầu nuôi heo lậu, quấn thuốc lá Lạng Sơn pha lá dừa, làm pháo giả, bán thuốc Tây "bột năng" đầy ngoài chợ ... Hiển nhiên một phần là do ưu thế xa "trung ương", nhưng phần chính là do dân Sài Gòn sống rất "năng động".


Những năm 79, 80 mà thấy anh nào bị cối kẹp nách, mặt mũi lấm lét ở chợ Nguyễn Hữu Cầu thì biết ngay là hắn buôn thuốc Tâỵ Sau khi chợ thuốc Tây bị dẹp thì đường Nguyễn Hữu Cầu biến thành cái chợ trời đầu tiên của Sài Gòn sau 75. Ỏi thôi thì quần zin áo pun, đồ Mỹ lẫn đồ chợ Lớn, bếp điện Liên Xô dây Gò Vấp, ... Ơ Sài Gòn cái gì bán được là có người bán. Ðừng hòng mà mua được đồ xịn nếu mà không quen biết hay hiểu biết. Nhiều người tự thị là "rành" nhất bị lừa mà vẫn còn hí hửng.Ðó là chưa nói đến giá cả trời ơi. Tôi thường tự hỏi ai cũng bán hết thì lấy ai ra mà mua? Tiền đâu ra mà mua? Thế mà chợ lúc nào cũng đông.Ðúng là Sài Gòn!

Nếu không thích cảnh chợ búa "gần mực" thì người ta quấn thuốc lá, nuôi heo với cơm thừa canh cặn pha cám lậu ở ngay trong nhà. Chuồng heo phải lau rửa ít nhất hai lần một ngày, sợ hôi thì ít, mà sợ công an phát hiện thì nhiều . Lái heo bốn rưỡi sáng đã mang xe ba gác đến chở. Bọn lái heo lậu giết heo còn giỏi hơn công nhân chuyên giết-mổ heo ở xí nghiệp Cầu Tre sau nàỵ Chích điện con heo chỉ kêu cái "éc" là chết ngoẻo tò te, xẻ làm bốn mất độ mươi phút, sáng hôm sau bà con có thịt heo tươi bán ở chợ
Khi xí nghiệp nước đá Sài Gòn chưa ra đời thì nhà nhà làm đá, người người bán nước đá. "Cho con 2 cục đi dì ơi!" là câu cửa miệng trưa hè của dân Sài Gòn. Tiền điện thì vừa đắt cứa cổ vừa phải có tiêu chuẩn.Mua cả cái tủ lạnh chuyên làm đá bỏ mối tháng cho các quán cà phê vỉa hè cũng chỉ đủ tiền ăn trưa cho gia đình là giỏi.

Người ta còn buôn cả những thứ tưởng chừng như chẳng có người mua vào thời đó như pho mai Liên Xô thúi hoắc, bánh kẹo Vinabico, rượu XO pha rượu lúa, nước lã và cồn ...
Ðến giữa và cuối thập niên 80 thì cơ hội kiếm tiền còn nhiều gấp bội. Sinh viên học sinh nghèo thì đi dạy thêm, quen biết hơn tí nữa thì đánh hàng Viễn Dương, hàng Ðông Ảu, buôn thuốc lá Campuchia, mua bán xe gắn máy kiếm vài chỉ dẫn "ghệ" đi chơi dễ như bỡn. Bọn Tèo kinh doanh còn buôn cả đất đai, làm xây dựng kiến tiền tỉ khi còn chưa ra trường.Không nhất thiết phải chúi đầu vào học kiếm suất đi Tây. Sống cái đã, ngày mai là chuyện của tương lai!

Kể cả các thầy dạy luyện thi đại học cũng biết làm ăn ra trò: xây thêm nhà mở lớp học, có cả lớp học máy lạnh cho con nhà giàu học riêng một lớp năm bảy đứa. Các thầy nổi tiếng rất biết marketing, dạy cả lớp giỏi lấy tiền ít để bọn nó thi thủ khoa mang danh tiếng cho thầy, chia lớp ra làm cả chục tầng tùy trình độ.
Các chị các cô khéo tay thì làm bánh, làm hoa giả, pha nước hoa bán đầy đường Ðồng Khởi, làm kem dừa, kem chuối tăng thu nhập gia đình.
Ðừng tưởng dân Sài Gòn chỉ lo làm ăn không đọc sách. Sài Gòn có vài trăm tiệm sách cũ mà dân nghiền sách nhẵn mặt. Từ sách Giải Tích Hàm của Lê Hải Châu, sách Tuổi Hoa trước giải phóng, chưởng Kim Dung, đến hình ảnh sách báo khiêu dâm của Mỹ, HongKong hay báo Toán Học Tuổi Trẻ, Kvant, và mọi loại truyện ngắn, dài, tiểu thuyết nội ngoại, đều có cả.
Nhân chuyện buôn thuốc, tôi có thằng bạn đi Tây Ninh buôn hai cây thuốc Zet bị bắt tịch thu luôn cả cái xe dream. Rõ là ngu! Thằng cu phá phách kinh khủng, nhưng cũng vui tính ra phết. Có lần ngồi uống cà phê hắn bảo cô bán hàng: "Liên ơi cho anh mượn sợi dây thung." - "Chi dzậy anh?", Liên hỏị Nó bảo: "để anh thắt ống dẫn tinh". Cô bé mặt đỏ lừ không biết có bỏ cái gì vào ly cà phê của nó không.

***
Sài Gòn là thế đấy, muôn người muôn mặt, đa dạng vô cùng!
Dù phần nào bị cuộc sống sôi nổi cuốn trôi, Sài Gòn vẫn có nhiều thằng Tèo mộng mơ làm thơ viết truyện dễ thương khôn tả: làm ăn tay phải, văn nghệ tay trái. Hình ảnh con Thơm cái Thắm hàng me gốc điệp không bao giờ phai nhạt trong mắt bọn Tèo Sài Gòn.
Tôi vẫn còn nhớ Tèo Nguyễn Nhật A'nh với "cô gái đến từ hôm qua", "còn chút gì để nhớ", "truyện cổ tích dành cho người lớn" ...

"Lòng em như chiếc lá khoai
Ðổ bao nhiêu nước ra ngoài bấy nhiêu ..."


Hay Tèo Bùi Chí Vinh:

"Cô gái ơi anh nhớ em,
Như con nít nhớ cà rem vậy mà
Như con dế trống đi xa,
Lâu lâu lại nhớ quê nhà gáy chơi
Con dế thường gáy một hơi,
Còn anh gáy hết ... một thời con trai, ..."



Ðến đây tôi chợt nhận ra rằng viết về "một thời để nhớ", về những kỷ niệm êm đềm của tuổi thơ thì rất dễ, dễ đến mức cái thằng văn dốt chữ nát như tôi cũng "xổ nho" được vài dòng.
Khi viết cái gì ít vô thưởng vô phạt hơn một chút thì phải bắt đầu nhìn trước ngó sau, câu chữ trúc trắc, ý vẫn tràn nhưng sợ hiểu sai hiểu lệch, lại phải tránh chính trị chính em ...
Tôi đã định dừng ở đây vì câu chuyện đã nhạt dần đi, cái hào hứng ban đầu của bạn đọc, nếu có, chắc cũng không còn nồng nhiệt nữa. Thế nhưng chẳng thể để lại trong lòng bạn đọc ấn tượng về một Sài Gòn với hai cây thuốc Zet, tôi lại phải tìm cách khác để kết thúc. Chỉ sợ rằng cũng chẳng khá hơn 2 cây thuốc Zet là mấy.


Nếu phải so sánh Sài Gòn với Hà Nội chẳng hạn, thì ta có thể so sánh ngay hai loại ổi của hai xứ. Ôi đào Hà Nội thơm lừng, ngọt ngay, ruột đỏ tươi rất đẹp, nhưng cùi mỏng, hột to, vừa khó nhá vừa chỉ nhắm được tí là hết. Ôi Sài Gòn to hơn nắm tay, cùi dày, không ngọt và thơm như ổi đào nhưng giòn tan, cắn một miếng là mát lịm, lại có thể chia cho nhiều người ăn, chấm muối ớt nghe qua là chảy nước miếng.
Con gái Sài Gòn cũng vậy, nghe qua là … chảy nước miếng.
Con gái Sài Gòn dễ thương lắm! Họ có cái nhìn trong trẻo về cuộc sống, lại chẳng giận dai vùng vằng vô lý bao giờ . Ði đón trễ thì: "anh để em chờ nãy giờ đó coi có được hông? Ghét dễ sợ luôn hà!" Cộng với một cái lườm, hai cái nguýt thì bọn Tèo Sài Gòn hối hận quá cả 2 tháng sau mới ... trễ lần nữa.
Con gái Sài Gòn rất biết ăn mặc, đi đứng. Tiền có thể thiếu chứ phong cách tiểu thư thì chẳng thiếu bao giờ. Tiểu thư Sài Gòn không ưỡn ẹo mè nheo, mà phóng xe vèo vèo đứng tim Tèo.
Giọng gái Sài Gòn thì ngọt hơn mía lùi. Cái câu "hổng chịu đâu" mà nghe dân xứ khác nói thì ngứa lỗ nhĩ, nghe con gái Sài Gòn nói thì bọn Tèo Sài Gòn như bong bóng xì hơi, biểu cái gì cũng nghe ráo trọi. Con gái Sài Gòn lãng mạn chẳng kém ai, nhưng cũng rất thực tế. "Ðược thì được hổng được thì thôi, làm chi mà dzữ dzậy!"
Sài Gòn là vậy đó, ít nhất là từ cái nhìn của Tèo tôi . Còn ti tỉ nhiều đề tài thú vị về Sài Gòn mà tôi không muốn đề cập vì lười là chính: cuộc sống sinh viên học sinh Sài Gòn, các trò ma mãnh "cua ghệ" của bọn Tèo Sài Gòn, con trai Sài Gòn, bạn bè Sài Gòn, ...
Tôi đã nghe rất nhiều những lời nhận xét kiểu vơ đũa cả nắm: con trai Sài Gòn thế này, con gái Sài Gòn thế kia, dân Sài Gòn thế nọ ... Càng nghe càng thấy buồn cười vì đa số những người nói mấy câu đó chưa bao giờ thật sự sống ở Sài Gòn. Không hiểu có ai đó đọc bài này xong thì có thay đổi cái nọ cái kia trong nhận thức của họ không? Hy vọng nhỏ nhoi của tôi là những thay đổi, nếu có, là theo hướng tốt hơn.
Riêng tôi thì tôi vẫn nhớ day dứt cái ngõ nhỏ xôn xao ấy ...

Ngô Quang Hưng

Xem series ảnh về SÀI GÒN
http://www.flickr.com/photos/9854423@N08/page5/