Page 40 of 187

Posted: Mon Jun 28, 2010 1:38 am
by khieulong

Image

CÂU CHUYỆN TRONG THÁNG 6
TỪ QUÂN LỰC ÐẾN RA MẮT SÁCH...


GIAO CHỈ
Hãy bắt đầu
từ ngày Quân Lực


Cách đây 30 năm, những cựu quân nhân Bắc Cali họp mặt ngày quân lực lần đầu tiên. Lúc đó chưa có truyền thông Việt ngữ. Chỉ có thơ mời để ở các quán ăn và điện thoại Anh em đến với nhau chưa có cờ quạt đông đảo. Chẳng anh nào có được bộ quân phục toàn vẹn. Ðịa điểm là một nhà thờ Tin Lành trên đường Saratoga. Chúng tôi không hát quốc ca Hoa Kỳ. Quốc ca Việt Nam Cộng Hòa hát bằng mồm.

Lá cờ vàng buộc giây kéo lên trần nhà. Nước mắt nhà binh chảy xuống. Ðó là ngày Quân Lực tháng 6 đầu thập niên 80. Anh Nguyễn Hữu Lục nhắc tôi. Hình như đây là ngày Quân Lực tổ chức lần đầu trên thế giới. Lúc đó IRCC gọi là Hội quán Việt Nam đứng ra tổ chức. Ðúng như vậy. Mất nước mới có 5 năm. Tù tập trung không thấy ngày về. Thuyền nhân bắt đầu ra đi. Không khí Quân Lực có phần buồn thảm và thiếu hùng khí. Có anh yêu thơ Cao Tần than rằng: “Chứng chỉ tại ngũ giờ gia hạn nơi đâu?

“Còng lưng gánh nốt đời luân lạc.
Nặng chĩu ngàn cân nhớ nước non.”


Rồi kết luận:

“Ta biết làm gì cho hết nửa đời sau”.

Ấy thế mà ngày nay chúng ta cũng đã tiêu dao hơn phần ba thế kỷ...

Bây giờ trên thế giới người Việt hải ngoại đâu đâu cũng tổ chức ngày Quân Lực. Tất cả các quân binh chủng đều quân phục chỉnh tề, mũ nón xum xuê, cờ quạt huy hoàng, khí thế quân lực của thế kỷ 21 mạnh mẽ hơn 30 năm trước nhiều lắm.

Quân lực tại San Jose

Tại một địa phương như San Jose, Orange County, Texas, vv... hai nơi cùng tổ chức ngày quân lực là chuyện thường. Nhưng năm nay, San Jose chiếm thành tích. Tất cả hai ba lần quân lực. Bên Tập thể chiến sĩ ra thông cáo tổ chức. Thiên hạ gọi tắt là quân lực của ông Ngọ. Hiện ông là người đứng đầu tổ chức Tập thể quân đội tại Bắc Cali. Trước đây cấp trên có đại tá không quân Nguyễn Xuân Vinh làm chủ tịch. Chợt một hôm có con chim xanh hậu duệ từ bên Úc bay qua đã xin bàn tay của giáo sư chủ tịch để đưa chàng về dinh miền Nam Cali. Dù giáo sư chủ tịch đã sang sông, ông Ngọ vẫn đơn phương độc mã làm ngày quân lực giữ tiếng cho tập thể. Phía liên hội cựu quân nhân tổ chức liên tiếp hai kỳ quân lực tại tiền đình quận hạt. Chiều thứ bảy là lễ truy điệu. Qua đến ngày chủ nhật tổ chức ngày quân lực chính thức tại quận Santa Clara.

Mỗi tổ chức mang một tâm tư, một ý nghĩa riêng biệt. Dù kém phần đoàn kết, dù có chút không khí kèn cựa đua tranh, nhưng chỗ nào cũng đầy màu sắc huy hoàng.

Ngày nay không còn không khí cay đắng buồn bã như ngày quân lực thời kỳ 80. Thời xưa cựu quân nhân các quân binh chủng đều mặc đồ dân sự. Chẳng ai biết anh là chiến sĩ đơn vị nào và cấp bậc ra sao. La ve Mỹ uống trôi sầu vạn cổ, để rồi chập chờn ngủ gục bên nhau. Gió lạnh về khuya, chợt tỉnh giấc hỏi rằng:

“Hỡi thằng chiến binh một đời anh dũng,
mày lang thang đất lạ đến bao giờ.”


Thời đó hạ chữ Thằng chiến binh, Mày lang thang, là tác giả tự hỏi mình. Văn chương ai oán và hào sảng biết chừng nào. Bởi vì phần lớn anh em họp mặt đều là dân di tản 75. Dù chạy trước 30 tháng tư vài ngày hay sau 30 tháng tư vài giờ thì cũng là một lũ tan hàng, bỏ chạy. Anh em mang mặc cảm tội lỗi đầy mình. Buổi kỷ niệm quân lực đầu tiên khai mạc nhẹ nhàng và chấm dứt như tan hàng sau khi họp trại. Không có chủ tọa, không có giới thiệu quan khách, không có diễn văn và không kính thưa niên trưởng. Và hình như cũng chưa có niên trưởng nào hiện diện. Bây giờ dường như mọi chuyện đã khác xưa nhiều lắm.

Nhưng sao tôi vẫn nhớ thương cái ngày quân lực nghẹn ngào năm xưa, cách đây 30 năm.

Bây giờ là mùa ra mắt sách

Chuyện Bôxít, sáng thứ bẩy 26-6-10: Cuối tuần này, và cũng là dịp cuối tháng 6-2010 San Jose có quá nhiều sinh hoạt cộng đồng. Và chúng ta sẽ thấy có rất nhiều khoa bảng nói về những đề tài khác nhau.

Nếu quý vị dậy sớm lúc 10 am đến Quốc Tổ Vọng Từ đường số 1 San Jose sẽ có dịp nghe hai nhà trí thức thuộc hai lứa tuổi nói về Bôxít Việt Nam. Kỹ sư môi trường Nguyễn-Trọng-Khoa mới từ Việt Nam qua và giáo sư Hoàng Cơ Ðịnh của San Jose. Ông Hoàng Cơ Ðịnh là tiến sĩ về hóa học nên biết nhiều về Bôxít. Tuy nhiên rõ ràng đây là đề tài thời sự nhưng rất kén khách. Câu chuyện sẽ dành cho giới quan tâm và trông cậy vào quan khách thân hữu.

Nhìn lại Sử Việt

Qua đến buổi chiều thứ bẩy tại VIVO lại có buổi ra mắt sách mà đề tài cũng kén khách. Tiến sĩ Lê Mạnh Hùng với cuốn Nhìn lại Sử Việt tập II. Tập này viết từ thời Ngô Quyền đến thuộc Minh. Ông Lê Mạnh Hùng ở Luân Ðôn, khác với ông Nguyễn Mạnh Hùng ở DC. Lần đầu tiên ông Hùng London đến với San Jose bằng cuốn Sử số II, nhưng chắc cũng là dịp giới thiệu cả cuốn I và II. Tuy sách kén độc giả nhưng thân hữu của ông là dàn khoa bảng một thời xuất thân từ các đại học Hoa Kỳ trước 75 và tham chính đệ nhị Cộng Hòa. Quý ông nguyên là hàng bộ trưởng trong nội các của tổng thống Thiệu gồm có Khương Hữu Ðiểu, Hoàng Ðức Nhã, Nguyễn đức Cường là những người giới thiệu và chào mừng.

Nữ ký giả Lê Phan, phu nhân của tác giả làm MC. Các trường Trung Nam Bắc, Chu Văn An, Quốc Học Ðồng Khánh và Petruský bảo trợ. Xem ra chỉ riêng tình thân hữu cũng đã đủ đông đảo, nói chi đến tác phẩm. Quan khách có thể được dịp đến nghe các nhà khoa bảng một thời sẽ hùng biện ra sao để đưa khối độc giả đang bận tâm về hiện đại trở về với thời kỳ xa xưa. Phải chi mà tác giả hay các sử gia sớm cho ra mắt cuốn Việt Sử hiện đại từ thời nhà Nguyễn (Gia Long) đến thời nhà Nông (Ðức Mạnh) với những chương sau cùng từ 1954 đến 1975 và từ 1975 đến 2010 sẽ hấp dẫn biết đến chừng nào. Nếu không sớm phát hành sợ rằng độc giả San Jose chúng ta khó mà chờ đợi được.

Ngày chủ nhật tất bật

Hôm nay các nhân sĩ San Jose rất vất vã. Hội chợ tài nguyên của ông thị trưởng mời quý vị đến khai mạc lúc 11 giờ tại Kelly Park, trong đó có Việt Museum. Ðó là ngày chủ nhật 27-06-2010. Toàn gia ăn chơi, picnic với nhiều quà tặng, văn nghệ có ca sĩ thứ thiệt đến từ quận Cam. Có thể vui chơi đến 4 giờ chiều.

Nhưng xin đừng quên giáo sư Nguyễn Tiến Hưng với Tâm tư của tổng thống Thiệu ngồi chờ lúc 12 giờ trưa tại quận hạt Santa Clara. Sách của ông Hưng sẽ còn tranh cải triền miên, những bài viết khen chê tràn đầy trên Internet. Không có cách nào quảng cáo hữu hiệu hơn là có tranh cãi. Tác giả sẽ đơn thương độc mã trả lời thắc mắc và cũng tiếp tục ký tên bán sách, Tướng Nguyễn khắc Bình sẽ là người giới thiệu tác phẩm.

Kỳ ra mắt sách ở Nam Cali đã có con số tham dự và bán sách kỷ lục. Dường như 600 hay 700 người tham dự.

Nhưng văn nhân nghệ sĩ và giới chức San Jose vẫn còn phải nhớ đến một cuốn sách khác cũng ra mắt tại học khu đường Capitol Ave lúc 1 giờ chiều chủ nhật. Cuốn Hương Hồng Quế của tác giả Vũ Lưu Xuân. Chưa hết, nếu bạn nào có vé Văn nghệ nhạc trẻ Fairgrounds thì xin lưu ý là các danh ca thượng hạng đang chờ quý vị từ 4 giờ chiều. Từ Như Quỳnh, Hồng Nhung, Bằng Kiều, Hoài Linh v v......

Tổng cộng gần 30 ca sĩ có mặt với 4 ban nhạc.

Rõ ràng là San Jose quả thực có quá nhiều Sinh Hoạt Cộng Ðồng.
Image

NHẬN XÉT VỀ TÁC PHẨM “TÂM TƯ TỔNG THỐNG THIỆU”
Mặc dù có những ý kiến phê phán chê bai và nhiều câu hỏi được đặt ra nhưng đối với tôi, tác phẩm của ông Nguyễn Tiến Hưng vẫn là một món quà đặc biệt. Suốt bao năm, tôi vẫn cố tìm đọc các đề tài này và luôn luôn ghi lại được nhiều tin tức mới mẻ, dù nhiều hay ít. Tôi đã đọc Hồ so dinh Ðộc Lập bản Anh ngữ và Việt ngữ. Ðọc và bình luận cuốn Ðồng minh tháo chạy. Bây giờ đọc cuốn Tâm tư ông Thiệu, xin có nhận xét sơ khởi. Với nhiều tin tức quan trọng và lối trình bày hấp dẫn, tác giả dù không phải là một sử gia, cũng không phải quân nhân nhưng rõ ràng là một người kể chuyện rất lôi cuốn. Cuốn sách gồm những dữ kiện khô khan nhưng được chia cắt, sắp xếp với nhiều diễn biến và đối thoại của nhân vật nên đã đưa độc giả từ chuyện này qua chuyện khác. Có lúc tưởng gỡ ra được đầu mối nhưng rồi lại thấy mọi chuyện thắt lại. Khó tìm được kết luận rõ ràng. Nhiều nghi ngờ được giải tỏa và nhiều rắc rối buộc lại. Sau cùng chính độc giả phải tự đưa ra nhận định của riêng mình.

Từ quyền lợi giai đoạn của Hoa Kỳ, sự phản bội của đồng minh, sự tùy thuộc quá độ về viện trợ, sự kém cỏi của hàng ngũ lảnh đạo VNCH, sự quyết tâm của cộng sản và sau cùng có thể đổ cho sự nghiệt ngã của định mệnh. Lược qua những trang sách, với một chút hiểu biết cá nhân tôi đã tìm được nhiều tin tức mới mẻ mà chúng tôi, dù đã để ý sưu tầm lâu năm vẫn không rõ. Xin đơn cử vài thí dụ:

1) Chuyện ông tướng
... Sarong (Serong?)


Tác giả Nguyễn Tiến Hưng tham khảo tác phẫm của bà Anne Blair trong cuốn There to The Bitter End (Ở đó cho đến khi kết thúc đắng cay) Sách này đề cập đến chuyện ông chuẩn tướng Úc châu Ted Sarong đã cố vấn cho ông Thiệu và hội đồng an ninh quốc gia về kế hoạch rút quân, tái phối trí.

Vào cái thời kỳ đau thương hoảng loạn đầu năm 1975, cá nhân tôi là đại tá, nguyên giám đốc Pathfinder, đại diện bộ TTM-TCTV trong ủy ban nghiên cứu tái phối trí của thiếu tướng Lê Ngọc Triển, giám đốc trung tâm hành quân Tổng Tham Mưu. Chúng tôi không biết gì về kế hoạch của tướng Sarong. Có thể ông tướng Triển biết mà không tiết lộ? Cũng có thể chuyện này chỉ ở cấp tối cao và rất giới hạn trên phủ Tổng Thống.

Tuy nhiên ủy ban chúng tôi tuyệt đối không bao giờ bàn đến một con đường tái tổ chức và rút quân điên cuồng như vậy.

2) Chuyện 2 tuần lễ sinh tử

Sách của ông Hưng có đề cập đến một kế hoạch hành quân tối mật để giải cứu Nam Việt Nam. Mỹ sẽ trở lại bằng B52 hay đổ bộ TQLC từ biển Ðông. Tất cả đều cần phải có 2 tuần lễ chuyển động từ dinh Ðộc Lập qua tòa đại sứ, về Bạch Cung, qua quốc hội và khi được chấp thuận, Hoa Kỳ sẽ cho chuyển lệnh đến mặt trận Thái Bình Dương. Phía VN phải giữ được 1 đầu cầu. Ít nhất là Ðà Nẵng trong 2 tuần lễ. Kinh nghiệm cụ thể là 2 giờ sáng ngày 7 tháng 2-1965 khi cộng sản tấn công doanh trại cố vấn Mỹ tại Pleiku, 14 giờ sau, phản lực của hải quân Hoa Kỳ trả đũa dội bom tan nát doanh trại Bắc Việt tại Ðồng Hới. Tuy nhiên, năm 65 không phải là năm 75. Với sự ra đi của Tổng Thống Nixon, kế hoạch nầy không bao giờ được đưa ra thảo luận, còn nói gì đến thi hành.

3) Rút về miền Tây

Chúng ta cũng đã từng nghe nói đến kế hoạch rút về miền Tây, nhưng đây là lần đầu tôi đọc được chuyện tác giả Nguyễn tiến Hưng viết về dự trù của ông Thiệu. Chúng ta rất cần tìm hiểu thêm để biết rõ thực sự về đề tài này. Rất có thể đã có sự chuẩn bị của các tướng lãnh miền Tây đón phái đoàn chính phủ Sài Gòn, nhưng chuyện không thành đã đem đến những giờ phút tự sát của 3 vị tướng lãnh quân đoàn IV.

4) Những người còn lại

Ðể duyệt lại những bí ẩn lịch sử của những ngày đau thương cũ. Tại sao rút quân cùng với nhiều câu hỏi tại sao khác, hình như những câu trả lời ngày nay nhận được cũng đã muộn lắm rồi. Bây giờ vào giữa năm 2010, đã 35 năm sau khi miền Nam thất thủ chỉ còn lại một vài nhân chứng quan trọng mà sự hiểu biết cũng như mối liên hệ mang trách nhiệm với lương tâm và đất nước. Ðó là Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm, Trung tướng Ðặng văn Quang, Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên, thiếu tướng Nguyễn Khắc Bình và có cả bộ trưởng Hoàng đức Nhã. Còn ai là nhân chứng của những ngày oan nghiệt đó?

Trước sau chúng ta có tất cả 4 ông tổng thống đã qua đời. Tất cả các tư lệnh quân đoàn không còn nữa. Vị thủ tướng cuối cùng đã đi theo tổng thống. Nếu qúi vị còn lại không nói, ai nói? Nếu bây giờ không nói, bao giờ?

Mới đây, trong cuộc phỏng vấn thu hình với nữ ký giả Triều Giang, trung tướng Quang trả lời là ông không biết gì nhiều về quyết định của tổng thống Thiệu. Thậm chí ông nói không có mặt trong buổi quyết định rút quân Pleiku tại Cam Ranh. Trả lời như vậy thì trang sử cũ đối với tướng Quang coi như đã khép kín. Và đối với đại tướng Khiêm có thể cũng không hy vọng gì tìm được những câu trả lời. Riêng Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên, và quí vị còn lại, chúng tôi hy vọng sẽ sớm trả lời những vấn nạn cuối cùng của lịch sử. Trước khi cả người hỏi và người có thể trả lời đều đi ra khỏi cuộc đời.

Một chút kết luận sau cùng.

Ông Nguyễn Tiến Hưng là một nhà khoa bảng, không biết gì về quân sự, nhưng tình cờ lịch sử, ông đã ghi lại được những biến cố chiến trường xen kẽ với những dao động chính trị để dành làm tài liệu cho hậu thế. Tài liệu có thể không hoàn hảo và chính xác, nhưng rất quan trọng. Từ đó ta có thể phê phán và suy ra một kết luận. Suốt 21 năm xây dựng 2 nền Cộng Hòa, quân đội là cột trụ của miền Nam. Và sức mạnh của quân đội là kỷ luật. Quân đội không làm chính trị, nhưng tiếc thay, các tướng lãnh lại làm chính trị. Các tướng lãnh hoàn toàn nắm quyền. Binh đoàn và lính tráng cứ y lệnh thi hành. Thượng cấp còn đứng lại ra lệnh, là còn chiến đấu. Không phải là vấn đề thiếu súng đạn. Ðã có những tiền đồn với các sỹ quan cấp úy chỉ huy trung đội ở lại chiến đấu đến viên đạn cuối cùng vì họ biết rằng luôn luôn có đại đội phía sau. Ðó là kỷ luật quân đội. Ra lệnh rút quân vào những ngày giờ cuối cùng của cả miền Nam là phá bỏ cái tinh hoa của quân đội. Tinh hoa của quân đội là chỉ huy và kỷ luật. Tất cả các yếu tố cắt viện trợ, Mỹ bỏ rơi, đường lối rút quân, tham nhũng, cầu đường không đi được, lệnh lạc tiền hậu bất nhất chỉ là những yếu tố phụ. Những nhà lãnh đạo tối cao của chúng ta trong quân đội và chính phủ, trên đỉnh cao quyền lực đã tồn tại nhờ ở tinh thần kỷ luật quân đội.

Chúng ta hoàn toàn không xây dựng được tinh thần Võ sĩ Ðạo như quân đội Nhật Bản. Không xây dựng được tinh thần chiến tranh chính trị như đề nghị của Trung Hoa Dân Quốc. Vì tôn trọng kỷ luật nên cấp dưới sợ cấp trên và suốt 5 năm tàn lụi sau cùng của Việt Nam Cộng Hòa, chúng tôi những sĩ quan tuy cao cấp nhưng vẫn còn là cấp dưới. Chúng tôi không có một lời phê phán và đặt câu hỏi với cấp trên. Chúng tôi mở mắt nhìn thấy cơn hồng thủy dâng cao nhưng hèn nhát không hành động. Kỷ luật quân đội đã tôi luyện chúng tôi thành những người lính triệt để thi hành hầu giữ trọn vẹn sức mạnh quân đội. Nhưng kỷ luật quân đội cũng làm cho chúng tôi tê liêt khả năng vùng dậy làm cách mạng. Ðể cho cả một nội các hoàn toàn không có khả năng lãnh đạo đất nước. Cả một hội đồng an ninh quốc gia gọi dạ bảo vâng. Trước những quyết định sinh tử của toàn quân, toàn dân, cấp trên của chúng tôi hành động như những người mộng du. Trong khi chúng tôi cứ tưởng là các ngài đã có những kế hoạch cao siêu và cân nhắc hết sức cẩn thận. Té ra không phải vậy. Ðể rồi ngày nay đọc tâm tư của ông Tổng Thống vào đoạn cuối cuộc đời, nước mắt anh em cũng đã khô rồi.

Ông Thiệu cai trị đất nước một mình, ông tham khảo với mọi người nhưng ông biết chỉ là hình thức. Toàn thể hội đồng an ninh quốc gia không có ý kiến. Vị đứng đầu lập pháp thường ra phải ở vị trí đối lập nhưng lại hoàn toàn tuân phục tổng thống. Quốc hội không hề thắc mắc ngay cả khi nước đã đến chân, giặc đã vào đến cửa. Tổng thống ôm toàn bộ trách nhiệm chính trị, quốc phòng, ngoại giao trong tay như chuyện gia đình. Sau ông là cơn hồng thủy, toàn bộ miền Nam tan nát. 35 năm nhìn lại là 35 năm đoạn trường. Tù đầy, kinh tế mới, vượt biên, vượt biển. Bao nhiêu người chết, bao nhiêu gia đình tan nát. Thảm kịch xẩy ra như vậy là lỗi của ông tổng thống hay lỗi của chúng ta.

Giao Chỉ, San Jose

Posted: Tue Jun 29, 2010 2:54 am
by hoanghoa
Kinh tế Việt Nam và khủng hỏang


Ðoàn Hưng Quốc


Việt Nam là một nước dễ bị giới tài phiệt quốc tế tấn công vì nhiều lý do: dân chúng không tin tưởng nhà cầm quyền; nợ công tăng nhanh; trữ lượng ngoại tệ ít; thiếu chuyên gia quản lý kinh tế và kỹ thuật.

Thị trường nội địa đã nhiều lần bị lũng đoạn qua các cơn “sốt” giá gạo xăng tăng nhảy vọt bất ngờ, kế đó những tin đồn đổi tiền, phá giá đồng bạc khiến vàng và đô-la trở nên khan hiếm, một nguyên do chính vì dân chúng không tin tưởng nhà cầm quyền. Tâm lý quần chúng vẫn còn bị ám ảnh bởi quá khứ 30 năm trước với các lần đổi tiền “đánh tư sản” khiến cả nước bị sạt nghiệp. Gần đây hơn người ta vẫn còn nhớ khi thứ trưởng Kinh Tế vừa bảo đảm sẽ không tăng giá xăng dầu thì chỉ hai tuần sau đó giá cả lại nhảy vọt, nên những dân chúng chẳng những không tin và còn diễn giải ngược lại các lời tuyên bố công khai.

Khả năng lãnh đạo kinh tế cũng bị nghi ngờ vì nhiều cán bộ ở cấp tỉnh quận hay cả thành phố không được đào tạo chuyên môn về kinh tế, luật pháp và quản trị! Nhưng dù khả năng kém một số không ít quan chức lại trở nên giàu có nhờ tham nhũng, hối lộ; các tin tức xì-căng-đan nổi lên đều đều khiến dư luận không thể tin là giới chức chú tâm đến an sinh xã hội hơn là cho bản thân và gia đình, dẫn đến tình trạng mạnh ai nấy tự lo. Vì vậy thị trường nội địa trở nên mảnh đất mầu mỡ cho các tin đồn thiệt hay giả do các gian thương tung ra nhằm lũng đoạn giá cả.

Trên phương diện vĩ mô thì số nợ của Việt Nam nếu được chuẩn chi theo các đề nghị của nhà cầm quyền tiến nhanh lên con số khổng lồ. Theo vài con số mà người viết thu thập được: hệ thống cảng biển 5 tỷ USD, điện hạt nhân 10 tỷ USD, sân bay Long Thành 12 tỷ USD, đường sắt cao tốc 56 tỷ USD, xây dựng thủ đô Hà Nội 60 tỷ; tầu ngầm và máy bay Nga Xô gần 3 tỷ USD. Ngoài ra còn những khoảng nợ lớn không biết có được nhà nước bảo lãnh hay không, như chiếc máy bay chở hành khách Boeing 787 giá 2 tỷ USD, Airbus 380 2 tỷ USD.

Nếu tính sơ thì số nợ lớn này lên đến 150 tỷ USD. GDP của Việt Nam năm 2009 là 60 tỷ, nếu tăng trưởng đều ở 6% mỗi năm sẽ ở khoảng 75 tỷ năm 2013. Nói cách khác là nếu mất 3 năm để bàn bạc nghiên cứu rồi chuẩn chi các ngân khoản này thì nợ công tư sẽ vẫn là 200% GDP vào năm 2013 - chưa kể các công trình mới chưa được đề ra. Trữ lượng ngoại tệ của Việt Nam năm 2008 là khoảng 25 tỷ, theo đà nợ và thâm thủng ngoại thương (nhất là với Trung Quốc) thì dù có tăng nhưng trong 3 năm tới cũng không thể nhảy vọt lên con số đáng kể.

Kết luận là cho dù chỉ lạm chi phân nửa con số được đề nghị thì Việt Nam vẫn sẽ nợ rất nhiều và có thể trở thành mục tiêu để giới tài phiệt tấn công trong vài năm tới đây. Trường hợp của Việt Nam gần giống Thái Lan năm 1997 hơn là Hy Lạp năm 2010, vì cùng là hai nền kinh tế đang phát triển. Nhà nước, quan chức và tư nhân trong nước hồ hởi dẫn đến tình trạng bong bóng trong khi nợ nần tăng nhanh. Ðến khi bong bóng căng phồng thì giới đầu tư quốc tế sẽ e ngại rút ngân khoản hoặc tăng lãi suất cho vay. Việt Nam giống như Thái Lan kềm trị giá hối đoái và vay mượn theo đồng đô-la. Khi ngoại tệ bị thâm thụt đến mức nhà nước bắt buộc phải thả nổi hối đoái thì giá trị tiền Ðồng sẽ sụp, cả chính phủ lẫn tư nhân không còn khả năng trả nợ dẫn đến khủng hoảng nghặt nghèo. Những chuyên gia tài chánh nào đã đánh giá cao khả năng trả nợ của Việt Nam vẫn có thể thay đổi ý kiến trong khoảng khắc, như họ đã từng làm khiến Thái Lan, Nam Hàn, Indonesia, Phi Luật Tân điêu đứng năm 1997, và Hy Lạp, Bồ Ðào Nha, Tây Ban Nha, Ý Ðại Lợi chao đảo năm 2010.

Năm 1997 khối Ðông-Á được Hoa Kỳ và IMF trợ giúp kèm theo các điều kiện ngặt nghèo - nhưng trong cái rủi có điều hên. Nam Hàn học bài học đó nên quyết tâm thúc đẩy kinh tế trở thành cường quốc. Dân chúng Indonesia biểu tình chống nhà nước lại lật đổ được chế độ độc tài Suharto bắt đầu cho một thể chế dân chủ. Năm 2010 các nước Nam Âu được IMF và các nước Tây-Âu trợ giúp, cho dù tình hình đến giờ này vẫn còn ngặt nghèo chưa biết sẽ đi về đâu. Những điều kiện cắt giảm chi tiêu của Ðức-Pháp khiến dân Hy Lạp và Tây Ban Nha phẫn uất nhưng không có sự chọn lựa nào khác.

Nếu Việt Nam rơi vào khủng hoảng, tài phiệt quốc tế rút tiền ào ạt thì Trung Quốc gần kề trong khu vực lại lại giàu tiền mặt nên có điều kiện giúp đỡ, dĩ nhiên kèm theo các điều kiện thuận lợi cho họ về đất đai, an ninh, chính trị, kinh doanh và khai thác khoáng sản. Bắc Kinh đang muốn tạo một khu vực tiền tệ độc lập khỏi đồng đô-la nên trong hoàn cảnh này có thể áp đặt các điều kiện tài chánh như trữ lượng ngoại tệ của Việt Nam phải bằng Nhân Dân Tệ nhằm buộc chặt nền kinh tế hai nước.

(Nguồn: Doithoaionline.org)

Posted: Wed Jun 30, 2010 3:02 am
by caubennoc
Thư gửi Bộ Chính Trị: Lãnh đạo đầy khuyết điểm
Friday, June 25, 2010

LTS. Trong nhiều tuần qua, dư luận xôn xao về một bức thư do nhiều đảng viên cộng sản viết gửi Bộ Chính Trị. Tuy nội dung nói về nhân sự trong nội bộ đảng Cộng Sản, nhưng trên thực tế là đã chỉ ra rất nhiều vấn đề của đất nước. Chúng tôi xin đăng toàn văn dưới đây để rộng đường dư luận.

Hà Nội, ngày 22 tháng 4 năm 2010

Một trong những nhiệm vụ cơ bản nhất của Ðại Hội Ðại Biểu Toàn Quốc của Ðảng sắp đến (Ðại Hội 11) là bầu cử được Ban Chấp Hành T.W. gồm những đại biểu ưu tú nhất của Ðảng, những người gương mẫu về phẩm chất đạo đức cách mạng, có bản lĩnh chính trị vững vàng nhất, kiên định mục tiêu lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội, có ý chí đấu tranh kiên cường bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia, có tầm nhìn chiến lược và năng lực tổ chức chỉ đạo thực hiện thắng lợi nghị quyết đại hội. Tổng bí thư và các ủy viên Bộ Chính Trị phải là những người ưu tú nhất trong BCH.T.W. Dứt khoát không để những người có dính đến tham nhũng và những người Việt gốc nước ngoài vào BCH.T.W.

Ðể có được một BCH T.W có đầy đủ các tiêu chí nói trên, công tác nhân sự đại hội cần được tiến hành công khai, dân chủ, khách quan, trong sáng và với trách nhiệm cao của mỗi đại biểu.

Nhận thức rõ, đầy đủ trách nhiệm và nghĩa vụ người đảng viên ghi trong điều lệ Ðảng, chúng tôi những cán bộ cao cấp đã nghỉ các chức danh công tác trong biên chế nhà nước, đã 80, 90 tuổi đời; 60-70 tuổi Ðảng, đã đem cả tâm trí và sức lực của đời mình cống hiến cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Ðảng, của dân tộc, xin được đóng góp một số ý kiến về công tác nhân sự đại hội:

1. Phải đảm bảo các đại biểu về dự đại hội có đầy đủ các tiêu chí cần thiết, phải là những người ưu tú nhất về phẩm chất, đạo đức, năng lực. Bộ Chính Trị, Ban Bí Thư T.W. khóa 10 và Ban thẩm tra tư cách đại biểu cần đề cao trách nhiệm, rà soát kỹ lưỡng, kể cả với những đại biểu là ủy viên T.W khóa 10 để phát hiện và trình đại hội xem xét tư cách những đại biểu vừa qua có vi phạm kỷ luật và những người có dấu hiệu vi phạm kỷ luật, những người có dính đến tham nhũng, những đại biểu là người Việt gốc nước ngoài.

2. Danh sách để bầu BCH T.W. phải tổng hợp từ 3 nguồn:

- Một phần cho BCH.T.W cũ đề cử (khoảng 60%).

- Một phần không nhỏ nên để các Ðảng bộ, các đảng viên, đoàn đại biểu đề cử.

- Một phần nên khuyến khích đại biểu tự ứng cử.

Danh sách để bầu (tính cả chính thức và dự khuyết) nên có số dư ít nhất 25% so với số cần bầu.

Danh sách bầu B.C.T, Ban Bí Thư, UBKTT.W cần có số dư ít nhất 25%.

Danh sách bầu chức danh cụ thể nên có từ 2 người trở lên.

- Nên để đại hội trực tiếp bầu Tổng bí thư. Vì lẽ đó việc thông qua điều lệ sửa đổi nên làm trước lúc bầu cử.

3. BCH T.W. khóa 11 không nên vượt số lượng 150, không nên cơ cấu rải đều bộ, ngành, tỉnh, thành nào cũng có ủy viên T.W., quan trọng là chất lượng.

Trẻ hóa là cần, nhưng không quá cứng nhắc về tuổi tác, mà cần một sự kế thừa, hài hòa giữa các độ tuổi. Cũng cần có ngoại lệ về tuổi tác với chức danh Tổng Bí Thư. Nếu có đồng chí ưu tú nổi trội hơn cả trong các đảng viên ưu tú, phẩm chất đạo đức gương mẫu, tuyệt đối trung thành với lý tưởng, với dân, với nước, có năng lực, có tầm nhìn xa, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có ý chí tự cường tự chủ, có tinh thần đấu tranh bảo vệ độc lập chủ quyền và lợi ích quốc gia, tác phong dân chủ, có uy tín trong Ðảng trong dân, có khả năng đoàn kết toàn Ðảng, toàn dân tộc thì vấn đề tuổi không đặt ra, miễn là còn đủ sức khỏe đảm đương trọng trách.

4. Ðại hội toàn quốc của Ðảng lần thứ 11, phải thực sự dân chủ, phải thể hiện tốt tinh thần phê bình, tự phê bình, phải có tính chiến đấu, phải tranh luận để tìm ra cái đúng cái sai, không nên phát biểu theo đơn đặt hàng. Bỏ lối tham luận tràng giang đại hải, nói vài câu “nhất trí với báo cáo” rồi kể lể thành tích của tỉnh mình, ngành mình một cách vô bổ.

Các vấn đề chung của đại hội cần được tiến hành trong các phiên họp công khai, hết sức hạn chế những cuộc họp riêng tại các đoàn đại biểu, không nên quá lạm dụng các phiên họp trù bị. Cần dành tối đa thời gian đại hội cho việc thảo luận tranh luận tại hội trường.

5. Hiện tại số đảng viên trong đội ngũ cán bộ hưu trí các chức danh trong biên chế nhà nước và theo luật lao động chiếm già một nửa trong tổng số trên 3,1 triệu đảng viên. Ðảng viên không hưu trí về Ðảng, họ vẫn có đầy đủ trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi trong Ðảng, họ phải được đối xử bình đẳng như những đảng viên đương chức, đương quyền. Vì lẽ đó trong đại hội Ðảng các cấp cho đến đại hội toàn quốc của Ðảng, họ cần có một tỷ lệ thích đáng trong thành phần đại biểu đại hội các cấp. Nếu đủ tiêu chuẩn và sức khỏe họ có quyền ứng cử vào các cấp ủy Ðảng từ cơ sở quận, huyện, tỉnh thành đến T.W.

6. Ðể giúp các đồng chí trong Bộ Chính Trị, Ban Bí Thư T.W Ðảng kiểm điểm trách nhiệm của mình trước BCH.T.W và trước đại hội, rút ra được những bài học cần thiết không những cho bản thân mà còn cho những đồng chí giữ các trọng trách trong Bộ Chính Trị - Ban Bí Thư T.W. khóa 11, chúng tôi sẽ lần lượt tham gia ý kiến, trước mắt trong phạm vi bức thư này, xin được góp ý với 4 đồng chí:

* Với Tổng Bí Thư Nông Ðức Mạnh, nói thực là cả bản thân chúng tôi cũng như dư luận đông đảo cán bộ, đảng viên thất vọng về những gì mình mong đợi và hy vọng ở 2 nhiệm kỳ Tổng Bí Thư của đồng chí. Dư luận chê nhiều hơn khen bản lĩnh chính trị của đồng chí trong ứng xử với nhiều sự kiện, nhiều công việc cả đối nội và đối ngoại. Người ta không lý giải được đó là do năng lực hay do sức ép nào đó? Dư luận nhiều cán bộ đảng viên cho rằng trong lúc đồng chí chưa thực hiện đầy đủ chức năng Tổng Bí Thư (việc chính của mình) trong xây dựng Ðảng lại lấn sân sang việc của Chủ Tịch nước và Thủ Tướng (thỏa thuận, ký kết với các chính phủ nước ngoài một số nội dung thuộc chức năng nhà nước). Có dư luận cho rằng đồng chí đã vi phạm nguyên tắc trong quan hệ với nước ngoài ở những vấn đề mà Bộ Chính Trị chưa bàn bạc.

Là tổng bí thư song ít thấy đồng chí chủ động phát hiện và đề xuất những vấn đề cần bàn, những vấn đề bức xúc của Ðảng, của đất nước để Bộ Chính Trị bàn bạc thảo luận. Chẳng hạn như phá bỏ hội trường Ba Ðình sau khi có phản ứng quyết liệt của lão thành cách mạng, của các nhà khoa học, của đa số nhân dân; cho nước ngoài đầu tư khai thác Bô-xít Tây nguyên; vấn đề chủ quyền trên biển đảo; vấn đề công nghiệp quốc phòng, hiện đại hóa quân đội; các vấn đề nổi cộm về sai phạm của Tổng Cục II, và Nguyễn Chí Vịnh. Nguyễn Chí Vịnh phẩm chất xấu xa, làm nhiều sai trái, Ðại Tướng Võ Nguyên Giáp gửi thư cho T.B.T không nên đề bạt trung tướng, đ/c Nông Ðức Mạnh trả lời đại tướng là “không thăng trung tướng, còn chưa biết đưa đi đâu để rèn... luyện,” nhưng rồi vẫn đề bạt trung tướng và thứ trưởng Quốc Phòng, còn tặng huân chương cao nữa (mà đ/c lại là bí thư đảng ủy quân sự), để một số nơi cấp ủy can thiệp sâu vào việc truy tố xét xử; các vụ án mà BCH T.W. khóa 8, bàn giao cho T.W khóa 9. Là người đứng đầu Bộ Chính Trị, với trách nhiệm chủ yếu trong việc xây dựng Ðảng, đã để những vấn đề cốt lõi trong Ðảng như dân chủ nội bộ không thực hiện, xây dựng đội ngũ cán bộ đảng viên làm quá ít. Tệ quan liêu chuyên quyền độc đoán phát triển ạnh; phê bình tự phê bình dần dần vắng bóng trong sinh hoạt của các tổ chức Ðảng, từ cơ sở đến T.W., đến Bộ Chính Trị. Hai nhiệm kỳ rồi mà cái gọi là một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên có chức có quyền tiêu cực chẳng những không được thu hẹp mà lại lớn dần lên. Mất dân chủ và cán bộ hư hỏng đã làm cho Ðảng mất tín nhiệm quá lớn. Nhiều dư luận cho rằng tổng bí thư đã lợi dụng chức quyền để gò ép nơi này nơi kia đưa con trai, con gái, con rể vào các chức danh mà năng lực, phẩm chất, đạo đức không tương xứng.

* Ðồng chí (đ/c)ủy viên B.C.T Nguyễn Phú Trọng: Qua hai nhiệm kỳ tham gia Bộ Chính Trị, với vai trò là bí thư thành ủy Hà Nội, chủ tịch Hội Ðồng Lý Luận T.W., chủ tịch Quốc Hội, tuy có làm được một số việc, nhưng so với trọng trách thì còn nhiều hạn chế. Cả một thời gian dài là bí thư Thành Ủy Hà Nội để thành phố quá trì trệ; để nhiều cán bộ dính đến tiêu cực về tài sản, tài chính, nhà đất, có cả chủ tịch và một số phó chủ tịch thành phố. Nghiêm trọng là để cho chủ tịch lợi dụng chức quyền làm giầu, dùng tiền công quỹ mua ô tô quá đắt, quá sang để dùng (người ta bảo rằng 3,000 con trâu của nông dân). Lên T.W. với cương vị chủ tịch Hội Ðồng Lý Luận chưa thấy phát hiện được vấn đề gì mới về lý luận, nhiều dư luận cho đồng chí giáo điều, sao chép.

Là chủ tịch Quốc Hội chưa phát huy dân chủ, trí tuệ của các đại biểu và quyền lực cao nhất của quốc hội chỉ xin nêu một vài việc điển hình:

Việc phá bỏ hội trường Ba Ðình, một di tích lịch sử cách mạng tiêu biểu của thời kỳ đầu xây dựng CNXH ở miền Bắc, gắn với nhiều hoạt động của Bác Hồ; gắn với 10 nhiệm kỳ Quốc Hội với nhiều đại hội Ðảng toàn quốc vậy mà bất chấp các kiến nghị tâm huyết của đông đảo các nhà lão thành cách mạng, các nhân sĩ tri thức, các nhà khoa học, nhà quản lý và tuyệt đại đa số nhân dân, đồng chí đã thuyết phục bằng được Quốc hội biểu quyết thông qua.

Việc mở rộng thủ đô Hà Nội, xóa đi hẳn một tỉnh để nhập vào một đơn vị khác vậy mà chủ tịch Quốc Hội không chủ động đưa vấn đề trọng đại đó ra Quốc hội bàn bạc thấu đáo, đưa Quốc Hội vào tình thế “việc đã rồi,” chẳng làm thế nào khác được!

Vấn đề đầu tư khai thác Bô-xít ở Tây Nguyên, một việc liên quan đến an ninh-quốc phòng không những ở Tây Nguyên mà với cả nước; liên quan đến môi trường không những ở Tây Nguyên mà với nhiều tỉnh thành Nam bộ; liên quan đến lợi ích đồng bào thiểu số Tây Nguyên; liên quan đến vấn đề dự trữ tài nguyên lâu dài của đất nước, vậy mà khi đi thăm Tiệp Khắc, kiều bào hỏi, đ/c nói là vấn đề nhỏ Quốc Hội không cần bàn.

Khi họp Quốc Hội, Phó Thủ Tướng Nguyễn Sinh Hùng nói đây là chủ trương lớn của Ðảng và Nhà nước. Khi một số đại biểu Quốc Hội đề nghị bàn thảo, thì chủ tịch Quốc Hội cắt không cho bàn, nói rằng vấn đề đã được quyết định.

“Cả 4 đồng chí đều đã tham gia 2 đến 3 nhiệm kỳ BCH T.W. và những bất cập và khuyết nhược điểm của các đồng chí, tín nhiệm của các đ/c trong đảng viên và nhân dân giảm sút, mong rằng nhiệm kỳ tới đây (Ðại hội 11) các đồng chí nên thôi ứng cử, nhường chỗ cho các đồng chí khác ...”

* Ðồng chí Nguyễn Tấn Dũng

Qua một nhiệm kỳ làm phó thủ tướng thường trực và một nhiệm kỳ làm thủ tướng, đ/c đã làm được một số việc như xây dựng cơ sở vật chất, mở mang đường sá, xây nhiều cầu, có những cầu hiện đại, sân bay, bến cảng, phát triển du lịch, thu hút đầu tư, kinh tế có phát triển (nhưng không vững chắc) có góp phần nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế v.v...

Nhưng có nhiều việc yếu kém, không tốt:

-Không làm tròn trách nhiệm quản lý tài sản Nhà nước.

-Ðể lâm tặc phá rừng rất nhiều, rừng cháy nhiều, lại bán rừng mất rừng nhiều quá, chứng tỏ thủ tướng không quản lý được rừng.

-Nhiều nơi, than, khoáng sản các loại “bị thổ phỉ” và khai thác bừa bãi.

-Tài chính thất thoát nhiều, do tham nhũng, lãng phí. Ban đầu thủ tướng nói rất hăng, nhưng không ngăn chặn được, cứ phát triển, tiền đầu tư vào chính phủ điện tử coi như mất không, không được việc gì, do Văn phòng Chính phủ phải chịu trách nhiệm nhưng rồi cũng trôi.

-Thiên về thu hút đầu tư địa ốc, nước nhỏ mà để phát triển hơn trăm sân gôn, để cho bán đất trái phép nhiều nên mất ruộng, đất rất nhiều nhất, nông dân thất nghiệp.

-Hàng hóa nước ngoài tràn ngập thị trường, nhập siêu liên miên, số tiền lớn.

-Lạm phát không hạn chế được, tiền mất giá, mọi thứ nhu cầu của dân giá cả tăng vọt, có thứ 100%.

-Vay nợ nước ngoài nhiều nhất, cho cả dự án không cần gấp.

-Ngoài ra khá nhiều dư luận các tỉnh miền Nam, kể cả ở Kiên Giang cho rằng đồng chí và gia đình có những biểu hiện về tài sản không minh bạch, xây nhà thờ họ quá lớn, quá qui mô hoành tráng tốn đến 40 tỷ (trong khi đó thì Hội trường Ba Ðình lịch sử quan trọng bậc nhất lại phá đi).

* Ðồng chí Tô Huy Rứa UV BCT Trưởng ban Tư tưởng Văn hóa T.W., có khá nhiều dư luận từ Ðồ Sơn, từ Hải Phòng cho rằng thời kỳ ở Thành ủy Hải Phòng đồng chí đã để xảy ra nhiều vụ việc tiêu cực về nhà đất, kéo dài không được xử lý nghiêm minh. Lên T.W. với vai trò chủ tịch Hội Ðồng Lý Luận, đồng chí làm được quá ít, nhược điểm lớn là thiếu thực tế do vậy không phát hiện được vấn đề nào mang tính sáng tạo, dễ giáo điều, sao chép. Với chức danh trưởng ban Tư Tưởng Văn Hóa T.W., dư luận cho rằng cả về mặt lý luận, tư duy quá nghèo nàn, mà năng lực hoạt động thực tiễn cũng rất hạn chế, để quá nhiều tiêu cực phát sinh trên mặt trận tư tưởng-văn hóa tới cấp độ báo động, dẫn đến bị động, đối phó lúng túng, đi tới sử dụng nhiều các biện pháp hành chính, mệnh lệnh, cấm đoán làm cho tình hình đã rối càng rối rắm thêm. Phát động học tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, tưởng rằng để chỉnh đốn tư tưởng, nhưng những người nắm quyền ở các cấp là đối tượng cần học là chính thì không mấy ai học, những cán bộ tham nhũng, quan liêu, hách dịch thì không có biểu hiện gì chuyển biến thành ra tốn tiền vô ích. Tuyên truyền chỉ một chiêu tô hồng, ai nói lên sự thật thì phạm cấm, coi là kẻ xấu.

Cả 4 đồng chí đều đã tham gia 2 đến 3 nhiệm kỳ BCH T.W. và những bất cập và khuyết nhược điểm của các đồng chí, tín nhiệm của các đ/c trong đảng viên và nhân dân giảm sút, mong rằng nhiệm kỳ tới đây (Ðại Hội 11) các đồng chí nên thôi ứng cử, nhường chỗ cho các đồng chí khác để cho lòng tin đối với Ðảng được nâng lên, Tổ quốc, dân tộc phát triển nhanh và các đ/c cũng không mang tiếng tham quyền, cố vị.

Xin gửi đến Bộ Chính Trị - Ban Bí Thư T.W. lời chào kính trọng và chúc các đồng chí cùng với BCH T.W. chuẩn bị tốt nhất cho Ðại Hội Ðại Biểu Toàn Quốc của Ðảng cả về văn kiện và nhân sự đại hội.

Danh sách đồng ký tên

Lê Hữu Ðức - Trung tướng F.650, 87 tuổi đời, 64 tuổi Ðảng tham gia mặt trận Việt Minh từ tháng 10 năm 1943: Tôi nhất trí hoàn toàn, xin cho bổ sung 2 điểm:

1. Với đồng chí Nông Ðức Mạnh - Khuyết điểm trầm trọng nhất là ngả hẳn vào bọn Trung Quốc, không thấy được âm mưu muôn đời của Trung Quốc là muốn nuốt chửng nước ta, không thấy qua 4000 năm dựng nước và giữ nước, chỉ Vương triều nào nhu nhược chạy theo bọn Trung Quốc là mất nước hay sao? Cần kiểm điểm nghiêm khắc trước khi nghỉ việc để làm gương cho những đồng chí khác tránh vết xe đổ nát của đồng chí Nông Ðức Mạnh.

2. Với đồng chí Nguyễn Tấn Dũng tôi cũng nhất trí như bản trình bày. Tôi thấy gần đây đồng chí Dũng có một chủ động đáng hoan nghênh là đã nhất trí với Bộ Quốc Phòng qua Nga mua tàu ngầm và máy bay Mic 29 về trang bị. Vũ khí tối tân mới giữ được Trường Sa và chống lại được mọi kẻ xâm lược từ phía Ðông tổ quốc. Ðề nghị đồng chí Dũng tiếp tục ủng hộ Bộ Quốc Phòng nên để Nga vào lại căn cứ Cam Ranh, có như vậy thì mới đập tan mọi âm mưu bành trướng muốn chiếm nước ta trước hết là bọn “Ác bá-Trung Quốc”

Nguyễn Trọng Vĩnh - Nguyên UVTW Ðảng - Lão thành cách mạng.

Huỳnh Ðắc Hương - Thiếu Tướng, Chính ủy Quân khu, Tư lệnh kiêm Chính Ủy quân tình nguyện và chuyên gia quân sự tại Lào, Thứ Trưởng Bộ Lao Ðộng-Thương Binh Xã Hội.

Nguyễn Huy Văn (Kim Sơn) - Lão thành cách mạng, 50 tuổi Ðảng.

Nguyễn Thị Cương - Cán bộ tiền khởi nghĩa, 64 tuổi Ðảng, Huân chương Ðộc lập hạng 3.

Trần Ðức Quế - Lão thành cách mạng, chuyên viên đã nghỉ hưu.

Hữu Anh - Thiếu Tướng, Lão thành cách mạng, nguyên cục trưởng Bộ Quốc Phòng.

Trần Bá - Cựu chiến binh Nam tiến, 85 tuổi đời, 46 tuổi quân, 64 tuổi đảng.

Lê Hữu Hà - Lão thành cách mạng, Trưởng ban tổ chức liên khu ủy IV, chuyên viên tư vấn của các ông Huỳnh Tấn Phát, Ðỗ Mười.

Lê Mai Anh - Lão thành cách mạng, cựu chiến binh, gần 50 tuổi đảng.

Nguyễn Nam - Lão thành cách mạng, cựu cán bộ các Ban TW Ðảng, cựu cán bộ TW Ðoàn TNLÐ.

Phạm Văn Hiện - Ðại tá, Lão thành cách mạng.

Trần Nguyên - Lão thành cách mạng, 86 tuổi đời, 60 tuổi đảng, 40 tuổi quân.

Nguyễn Bá Bảo - Cán bộ viện nghiên cứu Bộ Công Nghiệp, 75 tuổi đời, 45 tuổi đảng.

Nguyễn Văn Tuyên - Ðại tá QÐND Việt Nam, Lão thành cách mạng, 85 tuổi đời, 63 tuổi đảng.

Vũ Thuận - Lão thành cách mạng, 85 tuổi đời, 60 tuổi đảng, Huân chương độc lập.

Lê Minh Châu - Lão thành cách mạng, 50 tuổi đảng.

Nguyễn Văn Bé - Lão thành cách mạng tiền khởi nghĩa, 86 tuổi đời.

Nguyễn Văn Mậu - Trung Tướng, Lão thành cách mạng, 90 tuổi đời, gần 70 tuổi đảng.

Posted: Thu Jul 01, 2010 6:37 am
by quaichao
Tình Báo Anh Nói về Gián Điệp Nga
Hoa Kỳ vừa tuyên bố bắt giữ một nhóm 11 người bị tình nghi là gián điệp của Nga tại nước này. Vụ việc đã gây sốc dư luận Mỹ, song Cục Tình báo Nội địa Anh (MI5) không ngạc nhiên trước thông tin này, bởi theo họ số lượng tình báo Nga đang hoạt động tại Anh nhiều vô kể, được cho là ngang với thời kỳ Chiến tranh Lạnh, khi mà gián điệp Nga ở Anh nhiều như châu chấu.
Image
Tòa nhà trụ sở MI5.
Tờ Guardian của Anh dẫn lời trên trang web của MI5: “Hoạt động gián điệp với nước Anh tiếp tục trên nhiều mặt trận. Số lượng sĩ quan tình báo của Nga ở London tương đương với thời kỳ Xô Viết. Anh là một mục tiêu gián điệp được ưu tiên và một số quốc gia đang chủ động tìm kiếm thông tin và hàng hóa nhằm hỗ trợ cho các chương trình về công nghệ, quân sự, chính trị và kinh tế của họ”.

Theo MI5, trong số những gián điệp nước ngoài đang hoạt động ở Anh, gây nguy hại tới các quyền lợi của nước này ở nhiều mức độ khác nhau, đáng lo ngại nhất là các gián điệp của Nga và Trung Quốc.

Cũng theo MI5, có một điểm khác so với trước đây là gián điệp Nga ngày nay tập trung tìm kiếm các chính sách về năng lượng và công nghệ mới, thay vì các mục tiêu chính trị và quân sự. Các mục tiêu công nghệ bao gồm công nghệ viễn thông, thông tin, di truyền, hàng không, lazer, quang học, điện tử... Vì vậy, đối tượng nhắm đến của hoạt động gián điệp nước ngoài thường là các doanh nghiệp.

Một số quan chức tình báo Anh cho biết trong những năm gần đây, lần đầu tiên kể từ thời kỳ Chiến tranh Lạnh MI5 đã xây dựng một lực lượng phản gián chống lại các mạng lưới tình báo của Nga và các nước khác. Mặc dù ưu tiên chính của MI5 vẫn là điều tra và ngăn ngừa các đối tượng khủng bố Hồi giáo cực đoan và Al-Qaeda, song các nhân viên tình báo và phản gián MI5 đã được huấn luyện để chống lại các âm mưu của những nước được cho là có ý đồ với Anh.

Do có trữ lượng về dầu khí lớn, Nga đặc biệt quan tâm tới các chính sách năng lượng không chỉ của Anh mà của các nước phương Tây nói chung. Chính phủ Nga thường sử dụng năng lượng như một quân bài trong chính sách đối ngoại; và Tổng thống Nga Dmitry Medvedev từng giữ chức Chủ tịch tập đoàn năng lượng Gazprom của nước này.

Image
Cựu điệp viên Nga Alexander Litvinenko đã bị đầu độc chết tại London.
Mặc dù Anh không phụ thuộc vào nguồn dầu khí nhập khẩu như một số quốc gia Tây Âu khác, nhưng cả Công đảng trước đây và chính phủ liên minh hiện nay đều đề cao vấn đề phản gián trong chiến lược an ninh quốc gia của Anh. Các đảng này đều nhấn mạnh tới việc Nga và Trung Quốc coi việc kiểm soát nguồn năng lượng là một ưu tiên trong chính sách đối ngoại.

Theo các quan chức phản gián nói trên, trong khi nguy cơ đến từ Trung Quốc là những cuộc tấn công qua mạng, thì Nga tìm kiếm thông tin bằng nhiều cách khác nhau, từ phân tích chính trường tới các hệ thống quân sự công nghệ cao của Anh.

Cựu Giám đốc MI5, Stella Rimington, cho biết chiến thuật cài đặt gián điệp dưới vỏ bọc kín kẽ và lâu dài là một chiến thuật Nga đã sử dụng lâu nay. “Đó là chiến thuật giấu mình lâu dài để thu phục lòng tin”, bà Stella nói.

Mới đây Nga đã tỏ ý muốn cải thiện quan hệ song phương với Anh sau vụ cựu điệp viên Nga là Alexander Litvinenko tị nạn ở London và bị đầu độc tại đây vào năm 2006. Ngay sau cái chết của Litvinenko, các nguồn tin an ninh Anh cho rằng thủ phạm của vụ này có một mối liên hệ với chính phủ Nga.

Theo Minh Tâm

Posted: Fri Jul 02, 2010 5:23 pm
by vuphong
Nhân lọai sẽ gặp đại hoạ không xa chờ đón nhận
NASA: ‘Năm đại họa’ là có thật?

Trong khi nhiều người còn đang lo lắng về “năm đại họa 2012” thì mới đây NASA đưa ra cảnh báo về trận bão từ sẽ làm thay đổi toàn bộ cuộc sống trên Trái đất vào năm 2013.

Image
Vào năm 2013, Mặt trời sẽ bước vào thời kỳ hoạt động mạnh mẽ. Ảnh: Ifeng.com.

Các nhà khoa học có thâm niên của NASA cảnh báo, vào khoảng năm 2013, sau một "giấc ngủ say", Mặt trời sẽ “thức tỉnh”, bước vào giai đoạn hoạt động mạnh, tạo nên những cơn bão từ cực mạnh tấn công Trái đất. Sức mạnh của trận bão từ này có thể tương đương với sức công phá của 100 quả bom Hydro.

Các chuyên gia cho rằng, khi Mặt trời bước vào thời kỳ hoạt động mạnh, hoạt động phun trào của các điểm đen Mặt trời cũng sẽ trở nên kịch liệt, giải phóng một lượng lớn các hạt mang điện và gây ra các cơn bão mặt trời.

Sự ảnh hưởng của bão mặt trời, theo các nhà khoa học là vượt qua sự tưởng tượng của con người. Chúng có thể khiến toàn bộ Trái đất bước vào những ngày đen tối nhất.

Không chỉ tầng ô-zôn bị phá hủy, hệ thống điện cũng như mạng thông tin điện tử có thể bị tê liệt. Từ đó, những cơ quan như bệnh viện, ngân hàng và sân bay,… cũng sẽ không thể hoạt động được chứ đừng nói đến điện thoại, máy tính hay GPS.

Nếu như tất cả những điều kể trên xảy ra, chúng sẽ mang lại những tổn thất về kinh tế cực kỳ khủng khiếp, mà nhiều người dự tính là nhiều gấp 20 lần so với trận bão Katrina (Tổng thiệt hại do cơn bão này gây ra ước tính lên đến 125 tỷ USD). Đồng thời, nó cũng sẽ tạo nên một bước lùi lịch sử trong tiến trình phát triển của toàn nhân loại.
Image
Và một trận bão Mặt trời cực mạnh có thể sẽ tấn công Trái đất. Ảnh: Internet.

Các chuyên gia về thiên văn chỉ ra rằng, hoạt động của điểm đen mặt trời có chu kỳ là 11 năm. Vào năm 1859, tức là 151 năm trước đây, Trái đất của chúng ta từng bị một cơn bão mặt trời cực mạnh tấn công. Tuy nhiên, khi đó hệ thống điện và thông tin vẫn chưa phát triển, do vậy hậu quả mà cơn bão này gây ra vẫn chưa đến mức nghiêm trọng.

Lo lắng về sự nguy hại mà các cơn bão từ Mặt trời mang đến cho Trái đất, các nhà khoa học đã bắt đầu theo dõi sát sao Mặt trời. Vào ngày 11/2 vừa qua, một vệ tinh quan trắc các hoạt động của Mặt trời đã được phóng lên quỹ đạo.

Các nhà khoa học hy vọng rằng việc theo dõi Mặt trời 24/24 sẽ giúp các nhà khoa học hiểu rõ kết cấu cũng như các hoạt động từ trường của Mặt trời, từ đó đưa ra được những dự báo chuẩn xác giảm thiểu nguy hại từ các cơn bão Mặt trời.

Posted: Sat Jul 03, 2010 6:05 am
by vuphong
Lật thuyền

Ngô Nhân Dụng

Một đảng viên Cộng Sản lớn tuổi, đã từng giữ chức quan trọng trong guồng máy chính trị, tháng trước mới cảnh cáo các lãnh tụ đảng, nói rằng: “Chế độ ta do các vị nắm quyền, rồi không sớm thì chày họ cũng lật thuyền các vị thôi...”

Vì sao người ta sẽ lật thuyền? Ông đảng viên già, vẫn chưa quên bài tuyên truyền cũ thời ông còn làm trưởng ban Tuyên Giáo trung ương, đặt câu hỏi: “Ðảng Cộng Sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân ư...?” Và ông nhận xét: “Ðây là sự lừa dối to lớn.”

Nói như người dân ngoài phố: Một quả lừa vĩ đại của đảng ta!

Ông cựu trưởng ban tuyên giáo không chửi đảng ông, mà đổ tội cho nhóm đang ngồi trên đầu cả đảng: “...Tình hình đảng ta do Bộ Chính Trị hiện nay lãnh đạo đã xuống cấp trầm trọng.” Tức là ông chỉ nhắm đánh bọn đang nắm quyền và kiếm rất nhiều tiền, những Nông Ðức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Phú Trọng, Trương Tấn Sang và đồng bọn.

Ðể cho họ lo sợ, để năm tới phải nhường chỗ cho người “phe ta” lên, ông cựu phó bí thư thành ủy báo động: “...Hai giai cấp công nhân, nông dân hiện nay họ rất căm phẫn các anh vì họ bị tước hết mọi quyền lợi chính đáng của mình rồi. Nếu tình hình này kéo dài thì sự căm phẫn của hai giai cấp này và có sự đồng tình cao độ của trí thức có văn hóa và nhân dân lao động khác sẽ đứng lên lật đổ cái đảng, cái chế độ của các anh.”

“Nói đến giai cấp công nhân hiện nay,” ông nói thẳng một điều người Việt Nam ai cũng biết: “Rõ ràng là họ đi làm đầy tớ, họ bị bóc lột, đầy đọa hết sức tàn nhẫn.” Còn các nông dân? Ngày xưa đảng đánh lừa được bần cố nông với khẩu hiệu “trả ruộng đất cho dân cày làm chủ.” Ngày nay, không ai được làm chủ một mảnh đất nào cả; đất đai hoàn toàn do “nhà nước quản lý,” nông dân chỉ được quyền sử dụng có giới hạn, nhà nước cướp lại không bồi thường thỏa đáng. Nói nhà nước quản lý, tức là đám cán bộ nắm toàn quyền. Ðảng Cộng Sản giống như một ông đại địa chủ, cả nước làm tá điền, cấy rẽ và nộp tô tức cho đảng.

Cho nên, các “đảng viên lão thành” 60, 70 tuổi đảng mới họp nhau than thở, buông lời oán trách các lãnh tụ đang nắm đầu đảng của họ. Các ông nói, nhưng chắc không gây được ảnh hưởng, “không có ký lô nào cả.” Bởi vì tất cả các “tội lỗi” mà ông đổ lên đầu các lãnh tụ đương nắm quyền, thực ra họ chỉ thừa hưởng di sản từ đời trước! Các chính sách đã được “thực hiện nghiêm chỉnh” từ khi đảng Cộng Sản cướp được chính quyền từ hơn 60 năm nay! Thí dụ, số phận của giai cấp công nhân: “Họ không làm chủ phương tiện sản xuất... họ không làm chủ các xí nghiệp, công ty, quốc doanh.” Hãy coi lại, thời Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn cầm quyền, có bao giờ giới công nhân ở Việt Nam được làm chủ xí nghiệp quốc doanh nào đâu? Tất cả nằm trong tay đảng, tức là trong tay cán bộ, do mấy lãnh tụ chóp bu “bố trí” cho làm! Tại sao các hồi còn trẻ các “đảng viên lão thành” này không phản đối chính sách đó mà bây giờ mới nói? Ðến nông dân cũng vậy. Sau khi đảng “cải cách ruộng đất” giết hàng trăm ngàn người để cướp ruộng, đảng lập tức tập thể hóa, biến hàng triệu nông dân thành nông nô trong các “hợp tác xã,” do các đảng viên toàn quyền điều khiển mà hưởng lợi. Bây giờ nông dân còn được trồng trọt lấy, hoa màu được mua bán bán ngoài chợ. Tình cảnh nông dân thời trước còn tệ hơn rất nhiều. Tại sao trước đây 50, 60 năm các “đảng viên lão thành” không nhìn thấy, không nói câu nào cả?

Các đảng viên già này cũng than với nhau là trong đảng thiếu dân chủ: “Sự độc đoán, chuyên quyền của lãnh đạo từ trung ương đến các tỉnh, thành, huyện, thị càng nghiêm trọng hơn nữa. Trong đảng không có dân chủ, không có công bằng làm sao ngoài xã hội có dân chủ, công bằng xã hội được?” Một thí dụ mà họ nêu lên, là Bộ Chính Trị sửa đổi thủ tục bầu cử, cho bầu trực tiếp các chức bí thư, từ cấp xã lên đến đại hội đảng, mà họ không hay biết gì cả!

Nhưng trước đây 60 năm, trong đảng Cộng Sản, ở Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam có bao giờ dân chủ hay chưa? Ai cũng biết rằng nó còn độc đoán, bưng bít, kìm kẹp đảng viên hơn bây giờ. Ngày nay các ông còn gặp nhau buông lời chỉ trích, phê bình, chứ ngày xưa có ai dám nói một câu nào đụng tới Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Lê Ðức Thọ hay không? Vậy thì tại sao không ai kết tội những lãnh tụ đầu tiên đem chủ nghĩa Cộng Sản và chế độ Cộng Sản vào bắt dân Việt Nam phải theo, mà lại chỉ hạch tội những anh bây giờ đang ngồi trên đầu mình là đám Nông Ðức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Minh Triết?

Khi đọc những lời lẽ nói năng của các cụ “lão thành,” cũng cảm thấy tội nghiệp. Vào cuối đời, lương tâm cắn rứt, họ muốn tự minh oan với hậu thế, nên kể tội bọn cầm quyền. Nhưng không dám nhìn thẳng vào nguyên nhân đầu tiên gây ra tội lỗi. Chính những người đang chửi bọn lãnh tụ phản dân chủ, họ cũng không hiểu thế nào là cách sống dân chủ, không biết thế nào là lối sống minh bạch công khai của con người tự do dân chủ.

Một điều đáng buồn cười là khi đưa ra những ý kiến chống đối lãnh tụ, những đảng viên già nua này vẫn sử dụng ngón nghề là ném đá giấu tay!

Ông cựu trưởng ban tuyên giáo không dám đứng ra phê bình, không nói thẳng các ý kiến của mình trước công chúng, mà lại mượn tay một đảng viên già 86 tuổi nhờ tung ý kiến ra dưới hình thức tường thuật một cuộc gặp gỡ giữa mấy người tại tư gia. Sau này, nếu cần thì vẫn chối bỏ được! Ðầu óc họ vẫn chưa rửa sạch tác phong mập mờ, giấu giếm, che đậy, lẩn trốn trách nhiệm mà Stalin đã tạo ra cho đám thuộc hạ trong đảng, sau khi ông ta thanh trừng gần hết các đồng chí ngang vai vế với mình.

Ngay ý kiến của ông cựu trưởng ban tuyên giáo trung ương cũng cho thấy ông ta không biết gì về lối sống dân chủ, áp dụng trong một quốc gia cũng như trong các tổ chức tư. Chỉ trích chỉ thị số 37 của Bộ Chính Trị về việc bầu trực tiếp (ông than rằng các đảng viên khác không được thông tin, kể cả tôi cũng không biết) ông hỏi: “Các anh cho bầu trực tiếp bí thư, phó bí thư thì sau này các vị này vi phạm pháp luật, vi phạm hình sự, vi phạm đạo đức cách mạng thì ai, tổ chức nào đứng ra tổ chức kiểm điểm, kỷ luật họ đây?” Căn bản của câu hỏi này là một sự hiểu lầm về thủ tục dân chủ. Ông ta sợ rằng nếu điều lệ đảng cho bầu trực tiếp các chức vụ lãnh đạo thì, khi muốn hạch tội hay muốn cách chức ai lại phải họp đại hội đảng: “Như vậy, các anh phải tổ chức lại đại hội bất thường mới kiểm điểm kỷ luật tổng bí thư, vì trung ương và Bộ Chính Trị không bầu tổng bí thư!” Nói điều này với một cụ già 86 tuổi thì thuyết phục được, nhưng ai khác nghe cũng phải bật cười.

Tại sao cười? Vì thiếu hiểu biết. Ở các nước tự do dân chủ người dân vẫn trực tiếp bầu tổng thống, bầu đại biểu Quốc Hội. Nhưng không ai phải đợi tổ chức cho toàn dân bỏ phiếu mới có thể đàn hặc những người đã được dân bầu trực tiếp. Hiến pháp và luật pháp nước nào cũng đặt ra những cơ chế với quyền đàn hặc các vị dân cử phạm luật. Ở các hội đoàn tư, các công ty thương mại cũng vậy. Dù người ta bỏ phiếu trực tiếp bầu hội trưởng hay chủ tịch công ty, nhưng trong điều lệ lúc nào cũng ấn định những cơ chế có quyền phê bình và truất phế những người đã được bầu. Họ không cần phải họp tất cả các hội viên hoặc cổ đông công ty để hạch tội người chủ tịch hay thủ quỹ. Luôn luôn có những cơ chế được đặt ra để làm công việc đó, trong một nước cũng như trong một công ty thương mại.

Một người từng giữ chức trưởng ban tuyên giáo trung ương nhưng không biết chút gì về các thủ tục dân chủ rất thô sơ, những điều mà ở một nơi sống dân chủ thì các học sinh 10 tuổi cũng biết. Tại sao đến nỗi như thế? Vì suốt đời, ông ta không bao giờ được sống trong tự do dân chủ. Mà cũng không bao giờ chịu học hỏi, vì đã yên trí đảng mình là đỉnh cao trí tuệ rồi, cứ theo nếp cũ mà đi tuyên truyền giáo dục mà thôi!

Trong đảng và trong chế độ Cộng Sản ông đã quen sống, không đâu áp dụng quy tắc phân quyền để tạo ra những định chế cân bằng và kiểm soát lẫn nhau. Cái thảm kịch của đảng Cộng Sản Việt Nam là do những “đảng viên lão thành” được huấn luyện trong lò đào tạo kiểu Stalin đó suốt một thế kỷ. Ngay trong tháng 6 vừa qua, Nông Ðức Mạnh lại mạnh mẽ tuyên bố nước Việt Nam nhất định không theo cơ chế phân quyền, vì tất cả đều được đảng Cộng Sản lãnh đạo! Quyền nào cũng trong tay một đảng nắm, đảng do một nhúm người thao túng; phân quyền để làm gì? Chính cơ chế độc quyền độc đoán đó đã sinh ra những Stalin, Pot Pot, Ceausescu, Kim Chính Nhật, cũng như các lãnh tụ Cộng Sản nước ta.

Vậy thì ai sẽ lật thuyền cái chế độ này? Chắc sẽ không phải là các vị “lão thành cách mạng.” Nhiều ông vẫn còn suy nghĩ như thời 1910! Vẫn còn mơ tưởng giai cấp công nhân, nông dân sẽ theo họ lập một đảng nữa, vùng lên đánh đổ bạo quyền - một cường quyền do chính họ góp công dựng lên! Sau một thế kỷ bị đánh lừa, người Việt Nam không còn tin vào những lời hô cách mạng hão huyền nữa.

Nhưng chắc chắn thế nào rồi người Việt Nam sẽ lật thuyền. Như chúng ta biết, trong 20 năm sau cùng của thế kỷ 20, nhân dân các nước gần nước ta nhất như Ðài Loan, Phi Luật Tân, Nam Hàn, Indonesia đã lật đổ các chế độ độc tài. Thể chế tự do dân chủ được thiết lập dần dần, từng bước một, nước nọ theo nước kia, bây giờ vẫn còn đang tiếp tục. Dân chủ hóa, không cần một giai cấp tiên phong nào “lãnh đạo” cả. Không do một đảng, mà do rất nhiều đảng phái, nhiều phong trào quần chúng, các thành phần trong xã hội công dân, cùng đứng lên đòi được sống dân chủ tự do. Nhóm này bị đàn áp thì có nhóm khác đứng ra thay. Các chế độ độc tài quân phiệt ở Hàn Quốc hay Indonesia, của các nhà tư bản và địa chủ ở Phi Luật Tân, sau cùng đều chịu thua khi người dân đòi quyền sống xứng đáng làm người. Thanh niên, sinh viên, công nhân, trí thức, doanh gia, nhà báo, ở Ðài Loan hay Nam Hàn trước đây 30 năm và ở Việt Nam bây giờ, mọi người đều đang sôi lên với ý thức tự do dân chủ. Dân chưa xuống đường, nhưng đúng như các ông lão thành nhận xét, sớm muộn họ cũng sẵn sàng lật thuyền!

Nếu các vị “lão thành cách mạng” muốn đóng góp vào trào lưu dân chủ này, họ hãy can đảm đứng ra công khai nói thật. Rằng tất cả chủ nghĩa Cộng Sản chỉ là vô ích. Tất cả công việc dựng lên một chế độ chuyên chế độc quyền là sai lầm, là tai hại. Tư bản hóa mà độc tài cũng tai hại không khác gì Cộng Sản chuyên chế. Nhìn đến tương lai xa của thế giới và của đất nước, phải chọn trào lưu tự do dân chủ, không thể nào đi đường nào khác được. Cho nên các cụ lão thành có thể liều thân già mà đứng lên đòi dân chủ cùng với đám thanh niên, như cựu đảng viên Tô Hải trên 80 tuổi đã làm. Tuổi đã gần đất xa trời, không nên chỉ ngồi nói những chuyện lèm bèm như đánh cho thằng này xuống, cho thằng kia lên, làm gì nữa. Ðằng nào dân Việt Nam cũng sẽ lật thuyền. Ðất nước cần thay đổi lớn, chứ không phải chỉ có mấy chuyện anh được nào ăn cỗ to hơn anh nào!

Posted: Mon Jul 05, 2010 3:03 am
by dailien
Vận nước đã hết mạt?
Tại sao đảng không dám xin bỏ phiếu dự án bauxite?

Thursday, July 01, 2010

Phạm Trần
Lịch sử có lúc lập lại không ngờ nhưng lần này lại rơi đúng vào chu kỳ 45 năm của ngày 19 tháng 6.

Ngày này ở miền Nam Việt Nam năm 1965, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã đứng lên nhận trách nhiệm điều hành việc nước, chấm dứt cuộc khủng hoảng chính trị do phe dân sự không ngồi chung được với nhau trong lúc lượng Cộng Sản gia tăng áp lực ngoài chiến trường.

Bốn mươi lăm năm sau, cũng vào ngày 19 tháng 6, Quốc Hội Cộng Sản Việt Nam, đã bất chấp áp lực của đảng bác dự án xây đường sắt cao tốc nối liền Sài Gòn-Hà Nội với kinh phí dự trù 56 tỉ Mỹ Kim.

Kết quả bỏ phiếu cho thấy chỉ có 185 Ðại biểu Quốc Hội (chiếm 37.53%) trên tổng số 427 người hiện diện đồng ý với đề nghị của chính phủ; trong khi số phiếu chống là 208 (chiếm 42.19%) và 34 người không bỏ phiếu (chiếm 6.9%). Như vậy số phiếu của phe nhà nước muốn làm đường sắt không đủ quá bán tổng số Ðại biểu nên bị bác bỏ.

Ðây là lần đầu tiên trong lịch sử của cơ quan lập pháp vẫn bị coi là “bù nhìn” của nhà nước đã quay lưng lại với đảng.

Biến cố lịch sử có một không hai này đã kéo người dân Việt ở hai bờ đại dương xích lại gần nhau hơn. Khoảng cách mờ ảo nhưng cố định giữa người dân trong nước với báo chí, trí thức và Quốc Hội bỗng chốc tan biến vì lần này thắng lợi đã thuộc về toàn dân.

Kẻ thua trận ở đây là đảng, các viên chức chính phủ chủ trương xây đường cao tốc, đứng đầu là Nguyễn Sinh Hùng, phó thủ tướng thường trực và 185 Ðại biểu Quốc hội bỏ phiếu thuận.

Phản ứng của người dân thuộc đủ mọi lứa tuổi và thành phần trong xã hội bùng lên như hội Mùa Xuân, mở cờ trong bụng chưa bao giờ có.

Hãy đọc Giáo sư Nguyễn Huệ Chi, một trong số 3 người chủ biên báo điện tử Bauxite Việt Nam chống khai thác bauxite trên Tây Nguyên: “Trong cái nóng như nung của nhiệt độ ngoài trời Hà Nội lên đến 40 độ, phòng họp Quốc Hội cũng trở nên nóng bỏng vì lá phiếu chọn lựa của các đại biểu. Và tại các quán trà, quán cà phê, nơi hóng mát... không ai là không chờ đợi với tâm trạng nghẹt thở lo lắng. Nhưng cuối cùng thì tất cả đều vỡ òa lên sung sướng, nỗi lo đất nước gánh thêm những món nợ khổng lồ và biết đâu sẽ rơi vào vòng nô lệ nước ngoài vì cuồng vọng của những kẻ một tấc đến trời đè lên ngực trong một tháng nay thế là được cất hẳn.”

Giáo Sư Hà Văn Thịnh của Ðại học Huế lên tiếng: “Tôi theo dõi thường xuyên mọi diễn biến của các kỳ họp của Quốc Hội. Trong kỳ họp vừa rồi, sau khi có kết quả ‘bấm nút’ của các Ðại Biểu Quốc Hội (ÐBQH) ở phiên họp cuối cùng, tôi đã sung sướng đến mức gần như trào nước mắt. Chưa bao giờ tôi có cảm giác đó trong hàng chục lần theo dõi các kỳ họp Quốc Hội trước đây. Bởi, lần đầu tiên trong đời, tôi được chứng kiến ÐBQH đã nghe dân, đã vượt qua chính mình khi nghĩ suy về vận mệnh của giang sơn, Tổ quốc; đã bất chấp ai đó, bất chấp lợi ích nhóm của những người cho rằng ‘không thể không làm đường sắt cao tốc’” để trung thực, minh bạch trong cách nghĩ mới mẻ là thực sự vì dân, do dân và của dân...” (Bauxite Việt Nam, 22-6-2010)

Tiến sĩ Nguyễn Quang A phát biểu trên báo Tuần Việt Nam ngày 21-06-2010:

“Quốc hội đã có một quyết định sáng suốt khi không thông qua nghị quyết về đường sắt cao tốc. Nhiều người, trong đó có tôi, đã e ngại Quốc hội sẽ thông qua dự án với số phiếu cao như với mở rộng thủ đô. Ngỡ ngàng và vui mừng khôn xiết khi biết tin về quyết định lịch sử trên.

Quyết định này là quyết định chưa từng có trong lịch sử của Quốc hội Việt Nam. Khi thăm dò ý kiến 57% đại biểu tán thành thông qua nghị quyết, sau bốn ngày khi quyết định chính thức qua ba lần bấm nút số ý kiến tán thành chỉ trên dưới 40% một chút và không đạt quá bán.

Với quyết định này Quốc hội đã thực sự vượt lên chính mình, đã làm tròn trách nhiệm của mình liên quan đến vấn đề cụ thể này.”

Ðến phiên người dân thì họ đã bày tỏ nỗi vui mừng và biết ơn quyết định của Quốc hội: “Chưa năm nào mà thấy Quốc hội dân chủ và sáng suốt đến vậy. Không thông qua dự án ÐSCT trong giai đoạn này là hoàn toàn hợp lý.” (Trần Thị Hoa)

Nguyễn Hữu Ninh nói: “Vô cùng cảm ơn các đại biểu Quốc hội đã kiên quyết không thông qua siêu dự án.” (Thời báo Kinh tế Việt Nam, 22-06-2010)

Trên báo mạng VIT (Vietnam Information Treasure) ngày 19-6 (2010) cũng có hàng trăm độc giả phản ứng vui mừng, tiêu biểu như:

“Quốc hội sáng suốt, cảm ơn các đại biểu của dân. Nếu dự án bauxite tây nguyên cũng đưa ra quốc hội thì không bao giờ được thông qua.” (Lý Thường Kiệt)

“Các đại biểu Quốc hội đã rất sáng suốt khi nhận thấy gánh nợ cho con cháu mai sau. Các vị đại biểu bỏ phiếu tán thành đề án cần xem lại đã làm hết trách nhiệm của nhân dân giao phó chưa?” (Hoàng Dũng)

“Hiện nay người dân còn rất khổ, lương hàng tháng không đủ sống, làm ăn ế ẩm do lạm phát tăng cao, dân trí thấp, văn hóa sống kém, mất vệ sinh ô nhiễm môi trường trầm trọng, tham nhũng dầy đặc, nạn quan liêu sách nhiễu nhân dân còn phát triển mạnh mẽ, chúng ta nên suy nghĩ kỹ cái gì cần làm trước, cái gì cần làm sau cho rõ ràng.

Tôi rất mừng là Quốc Hội đã biểu quyết không làm, đó là sự may mắn của tổ quốc Việt Nam” (Lê Tuấn).

Nhưng câu chuyện bỏ phiếu hôm 19-6 tại Quốc hội không đơn giản chỉ 1 lần mà có tới 3 lần tất cả, dựa theo ý muốn của Chính phủ vì cả 3 đề nghị đều có lợi cho nhà nước và phe Ðại biểu Quốc hội muốn làm đường sắt cao tốc.

Rất tiếc, trời không phụ lòng những kẻ “ăn ngay ở lành” nên cả 3 đề nghị đều không hội đủ số phiếu quá bán số Ðại biểu hiện diện nên nhà nước và đảng đã thua trắng tay!


Chi tiết bỏ phiếu lịch sử


Ðể xem cho biết mánh khóe “cố đấm ăn xôi” hay quyết chí “thua keo này ta bày keo khác” của đảng và phe muốn làm đường cao tốc đã lèo lái Quốc hội ra sao trong phiên họp ngày 19-6 (2010), mời mọi người hãy cùng đọc bài tường thuật của báo Nhân Dân, cơ quan ngôn luận chính thức của đảng: “Do đại biểu Quốc hội còn có nhiều ý kiến khác nhau về dự án đường sắt cao tốc, vì thế, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Ðặng Vũ Minh cho biết, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã trình Quốc hội hai phương án trong Ðiều 1 của dự thảo Nghị quyết.

Phương án một không đề cập cụ thể đến đường sắt cao tốc mà chỉ nêu: “Trong những năm qua, tuy nguồn lực tài chính Nhà nước nói chung và ngân sách nhà nước nói riêng còn rất hạn hẹp, nhưng Ðảng và Nhà nước đã dành một lượng vốn khá lớn để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông. Tuy nhiên, so với yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì cơ sở hạ tầng giao thông còn rất hạn chế về số lượng, thiếu đồng bộ và lạc hậu về công nghệ... Trong thời gian tới cần huy động đa dạng mọi nguồn lực của Nhà nước và xã hội, trong nước và ngoài nước, bằng nhiều phương thức đầu tư để tăng đầu tư, cải thiện rõ rệt cơ sở hạ tầng giao thông trong phạm vi cả nước cũng như trong từng vùng, góp phần tạo bước đột phá trong phát triển đất nước nhanh và bền vững.

Tuy nhiên, phương án này không được đa số đại biểu Quốc hội đồng ý, mà chỉ có 209 đại biểu (chiếm 42.39%) tán thành, trong khi có đến 191 đại biểu (chiếm 38.74%) không tán thành, 39 đại biểu không biểu quyết.

Vì Phương án một không được thông qua, nên Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Ðức Kiên đã đề nghị Quốc hội chuyển sang biểu quyết Phương án hai: tán thành chủ trương đầu tư xây dựng đường sắt cao tốc Hà Nội-Thành phố Hồ Chí Minh với những bước đi cụ thể nêu tại Ðiều 2.

Nhưng với phương án này, cũng chỉ có 185 đại biểu (chiếm 37.53%) trong tổng số 427 đại biểu có mặt tán thành chủ trương đầu tư dự án đường sắt cao tốc Hà Nội-TP Hồ Chí Minh. Có 208 đại biểu (chiếm 42.19%) không tán thành, 34 đại biểu (chiếm 6.9%) không biểu quyết.”

Sau khi thua 2 keo, phe Nhà nước lại tìm cách vớt vát đem gài kế hoạch đường sắt cao tốc chia thành 2 giai đoạn thực hiện vào quyết nghị nghiên cứu tổng quát kế hoạch giao thông trên cả nước.

Báo Nhân Dân viết tiếp: “Quốc hội cũng đã tiến hành biểu quyết về Ðiều 2 của dự thảo Nghị quyết với nội dung: giao cho Chính phủ thực hiện các công việc: rà soát, hoàn chỉnh quy hoạch giao thông tổng thể trong cả nước. Lập quy hoạch chi tiết; tiếp tục nghiên cứu sâu hơn, đầy đủ và toàn diện hơn các điều kiện bảo đảm tính khả thi, hiệu quả của tuyến đường sắt cao tốc Hà Nội-Thành phố Hồ Chí Minh. Trên cơ sở đó nghiên cứu lập dự án đầu tư một trong hai đoạn tuyến Hà Nội-Vinh hoặc Thành phố Hồ Chí Minh-Nha Trang, trình Quốc hội xem xét, quyết định chủ trương đầu tư một đoạn tuyến được chọn và thực hiện đầu tư vào thời điểm thích hợp trước năm 2020 bằng nhiều nguồn vốn, đa dạng phương thức đầu tư. Từ kết quả đầu tư xây dựng đoạn tuyến được chọn, tiến hành đánh giá việc đầu tư, khai thác đoạn tuyến trên và báo cáo Quốc hội xem xét, quyết định việc triển khai đầu tư xây dựng các bước tiếp theo.Tuy nhiên, với 409 đại biểu có mặt, chỉ có 157 đại biểu (chiếm 31.85%) tán thành, 170 đại biểu không tán thành và 82 đại biểu không biểu quyết cho điều 2.”

Sau 3 lần bỏ phiếu thất bại, báo Nhân Dân viết: “Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Ðức Kiên kết luận, biểu quyết hai điều này mà đại biểu Quốc hội bỏ phiếu không quá bán, coi như Quốc hội không thông qua Nghị quyết này.


Cú sốc bất ngờ


Trước các cuộc bỏ phiếu của Quốc hội, Nguyễn Sinh Hùng, Phó Thủ tướng còn tự tin khi trả lời chất vấn của các Ðại biểu Quốc hội.

Hùng nói như đinh đóng cột: “Tôi yên tâm. Yên tâm rằng phải làm. Yên tâm cùng chính phủ xin Quốc hội chủ trương để làm. Yên tâm là Quốc hội và Chính phủ tính được bài để làm.”

Nhưng căn cứ vào đâu mà Hùng nói làm đường sắt dễ như ăn kẹo như vậy?

Báo điện tử Việtnam Express viết: “Theo số liệu Phó thủ tướng công bố, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam năm nay ước đạt 106 tỉ USD. Với đà tăng trưởng hiện nay, đến 2020, GDP sẽ đạt gần 300 tỉ USD; 2030 là 700 tỉ USD; 2040 đạt 1,200-1,400 tỉ USD và đến 2050 sẽ gấp đôi số đó. GDP bình quân đầu người đến 2050 dự kiến lên 20,000 USD, thay vì mức hơn 1,000 USD hiện nay. Nếu cứ lấy ngưỡng an toàn vay nợ là 50% GDP, đến 2020, Việt Nam có thể vay 150 tỉ mà vẫn an toàn.

Với mức vay nợ như vậy, chúng ta có thể làm được. Mà thưa các đồng chí, có phải chúng ta làm ngay ngày mai đâu. Còn tính toán, cân lên đặt xuống và xin ý kiến Quốc hội nhiều lần nữa trước khi triển khai”, ông nói chắc nịch, sau khi rành mạch công bố một loạt số liệu mà chỉ nhầm một chút về ước tính GDP 2040 của Việt Nam (thay vì 1,200-1,400, nói nhầm thành 1.2-1.4 triệu tỉ USD).”

Nhưng có ai ở Việt Nam dám tin vào những lời suy đoán giả tưởng của Nguyễn Sinh Hùng không? Cho đến bây giờ, 35 năm sau ngày thống nhất đất nước và 24 năm theo đuổi chủ trương Ðổi mới, Việt Nam vẫn chưa có được một viện nghiên cứu rủi ro và dự đoán để phóng tầm nhìn vào tương lai giúp dân ổn định cuộc sống.

Do đó, những lời “đường mật” của Nguyễn Sinh Hùng về triển vọng kinh tế, lợi tức đầu người và khả năng tài chính cho kế hoạch đường sắt phiêu lưu không thuyết phục được ai. Bởi vì Hùng không bảo đảm được rằng ai sẽ là những người phải đai lưng ra lao động để trả nợ cho canh bạc đường sắt, dự trù có ít nhất 1/3 trong tổng số 56 tỉ Mỹ kim là vốn phải đi vay của nước ngoài trong chương trình ODA (Official Development Assistance)!

Ðại biểu Dương Trung Quốc của Tỉnh Ðồng Nai đã cảnh giác Nguyễn Sinh Hùng trong cuộc chất vấn ngày 12-6-2010: “ODA là khoản vay có điều kiện của nước giàu đối với nước nghèo, thực chất là phương thức đầu tư tài chính, công nghệ và chính trị mang lại lợi ích cho chủ nợ. Việc vay vốn ODA là cần thiết, nhưng chỉ nên coi là nhất thời, giống như đứa trẻ cần bú sữa mẹ, vú nuôi hoặc xin sữa hàng xóm. Các nước đều nỗ lực giảm vay ODA, giống như đứa trẻ cứng cáp cần cai sữa mẹ. Chính phủ đã có kế hoạch cai ODA hay chưa?”, ông Quốc vẫn giữ cách hỏi ví von, đầy ẩn ý khi biết ODA là phần vốn quan trọng để triển khai dự án đường sắt cao tốc.” (Báo VietNam Express)

Trả lời Ðại biểu Quốc, Nguyễn Sinh Hùng khẳng định: “Việt Nam không chấp nhận các dự án mà nhà tài trợ có động cơ, mục đích chính trị đằng sau. Tuy nhiên, ông thừa nhận Việt Nam chịu một số ràng buộc về kinh tế và công nghệ khi vay ODA.

Bú sữa hàng xóm đúng là khó đấy. Vay ODA mà họ cho mình tự quyết thì tốt hơn. Chúng ta vay thực tế có chịu ràng buộc và có thiệt về kinh tế. Song tính chung lại, đánh giá các mặt cho thấy sử dụng vốn ODA là có hiệu quả. Năm vừa rồi mặc dù thế giới khó khăn mà họ vẫn cam kết cho mình vay với mức kỷ lục”, ông nói. Tuy nhiên, theo Phó thủ tướng, “trong điều kiện hiện nay, Việt Nam vẫn phải tranh thủ nguồn ODA càng dài càng tốt.” (VietNam Express)

Nhưng nợ là nợ, đời này không trả được thì các đời sau phải trả. Vì vậy mà 288 Ðại biểu Quốc hội đã nghe thấu tiếng kêu của người dân trong cuộc bỏ phiếu lịch sử chống làm đường sắt cao tốc ngày 19 tháng 6 (2010) vừa qua.

Phải chăng vận nước đã đổi thay để cho đảng mở mắt?

Posted: Tue Jul 06, 2010 2:56 am
by thienthanh
Bá chủ: Ðích tới của hải quân Trung Quốc
Sunday, July 04, 2010

James Kraska
(Trích boxitvn.net)
Tác giả bài báo là James Kraska, cựu chuyên gia tư vấn về chính sách và chiến lược của Hội đồng Tham mưu trưởng quân đội Mỹ, làm việc tại trường Chiến tranh Hải quân Mỹ và Học Viện Nghiên Cứu Chính Sách Ðối Ngoại. Ðây là quan điểm riêng của tác giả, không đại diện cho chính sách hay quan điểm chính thức của một nước nào. Ðể có cách nhìn nhiều chiều về vấn đề này, chúng tôi xin giới thiệu bài báo.


Hải quân Trung Quốc đang gia tăng sự hiện diện lớn mạnh của họ xung quanh Ðông Á. Một chỉ huy hải quân Mỹ từng đưa ra câu hỏi liệu Mỹ có thể làm được những gì trước thực tế này.

Vào đêm 26 tháng 3, Cheonan, một tàu khu trục nhỏ của Hải quân Hàn Quốc thực hiện nhiệm vụ tuần tra Hoàng Hải, đã bị vỡ làm hai mảnh trong một vụ nổ bí ẩn và chìm xuống đáy biển. Chiếc tàu chỉ vừa mới rời đảo Baengnyeong, gần Ðường giới hạn phía Bắc - là đường phân cách thỏa thuận giữa hai miền Triều Tiên. Trong số 104 thủy thủ trên tàu, chỉ còn 58 người sống sót. Các thông tin cho rằng, tàu đã vướng vào ngư lôi sức công phá mạnh mang đầu nổ 200kg của Triều Tiên.
Image
Tàu ngầm Trung Quốc. (Hình: Sinodefenceforum.com)
Trao đổi và so sánh các đặc điểm từ hai miền Triều Tiên, rồi từ Trung Quốc và Mỹ, cũng như vụ tàu Cheonan gặp thảm họa thực sự là cơn ác mộng trong hình dung của nhà phân tích mà tôi đã viết trên tờ Orbis (tạp chí hàng đầu về quan hệ đối ngoại của Mỹ) với tiêu đề “Mỹ sẽ thất bại trong cuộc chiến hải quân năm 2015 như thế nào”.

Bài báo đưa ra giả thuyết về một cuộc tấn công bất ngờ của Trung Quốc khi họ sử dụng tên lửa đạn đạo chống hạm mới chống lại hàng không mẫu hạm Mỹ, chiếc USS George Washington. Ở đây có một sự tương đương, một mối quan hệ kỳ lạ giữa giả tưởng năm 2015 đăng trên Orbis với thảm họa tàu Cheonan.

Trong cảnh giả thuyết, Trung Quốc bắn tên lửa đạn đạo tiên tiến DF-21 vào tàu sân bay của Mỹ, sau đó phủ nhận khiến Mỹ rơi vào tình trạng lúng túng khó xử giống như Hàn Quốc hiện tại. Bất cứ một phản ứng phòng thủ nào cũng là nguy cơ dẫn tới cuộc chiến tranh lớn.

Viễn cảnh Trung Quốc thực hiện vụ tấn công bất ngờ, dĩ nhiên là có thể có nhiều tranh cãi. Nhưng dù sao, vấn đề lớn hơn là ở chỗ, Trung Quốc đã đầu tư thế nào trong nhiều thập niên nay qua một chiến dịch đầy kiên nhẫn và gây hấn nhằm dần dần đẩy các quốc gia khác ra khỏi Biển Ðông và Biển Ðông Trung Hoa (Trung Quốc gọi tắt là Ðông Hải).

Hải quân Mỹ là mục tiêu chính, khi chính nó là trở ngại lớn nhất với chiến lược của Bắc Kinh. Kết quả: một chiến dịch phối hợp chặt chẽ, nhuần nhuyễn đến hoàn hảo của áp lực luật pháp, chính trị và quân sự - đôi khi gây hấn - cuối cùng đã đặt những vùng duyên hải vào sự chi phối của Trung Quốc.

Ví dụ, bắt đầu từ năm 2000, Trung Quốc đã tăng cường các cuộc tập trận của máy bay và tàu chiến, thậm chí còn bắt đầu sử dụng các tàu hải dương học và tàu giám sát ngư nghiệp để cố gắng cản trở, làm gián đoạn lộ trình thực hiện sứ mệnh giám sát, thăm dò của quân đội Mỹ tại Biển Ðông Trung Hoa.

Và nó khiến người ta nhớ đến vụ việc năm 2001 khi một máy bay do thám của Mỹ phải hạ cánh khẩn cấp xuống đảo Hải Nam vì va chạm với một máy bay chiến đấu của Trung Quốc. Trung Quốc sau đó đã thả 24 phi hành đoàn của Mỹ khi Mỹ lên tiếng xin lỗi.

Năm 2001, máy bay do thám EP-3 của Hải quân Mỹ đã va chạm mạnh với một máy bay chiến đấu của Trung Quốc. Kết quả là chiếc EP-3 hư hỏng nặng phải hạ cánh khẩn cấp xuống đảo Hải Nam. Năm 2003, một vụ việc tương tự mang tính chất “ngăn chặn” lại xảy ra.

Cách đây không lâu, báo chí Mỹ đã bàn luận nhiều tới một số vụ mà họ cho rằng Trung Quốc “quấy nhiễu” lực lượng không quân, hải quân nước này. Vào 7/3/2009, lực lượng hàng hải Trung Quốc bắt đầu “theo đuổi” tàu thăm dò đại dương USNS Impeccable của Mỹ. Một tàu tình báo, một tàu nghiên cứu hải dương học, một tàu giám sát ngư nghiệp và hai tàu hàng thương mại đã vượt qua mũi tàu Impeccable, và lập tức dừng ở phía trước con tàu.

Tổng Thống Mỹ Obama đã điều động USS Chung-Hoon để hỗ trợ vũ trang cho tàu thăm dò. Ðáp trả lại, Trung Quốc nhanh chóng triển khai tàu tuần tra giám sát hải dương thuộc loại lớn nhất, hiện đại nhất của mình - Ngư chính 311 - tới Biển Ðông nhằm xác định “quyền và lợi ích” của Trung Quốc.

Ba trường hợp kể ra trên đây chỉ là phần nổi của tảng băng chìm. Mùa Hè năm 2001 và trở lại lần nửa năm 2002, các tàu và máy bay Trung Quốc đã khiêu khích và đe dọa USNS Bowditch và USNS Sumner, đang hoạt động ở Ðông Hải. Không lâu sau Impeccable, tới lượt USNS Victorious bị quấy nhiễu. Trong từng trường hợp, Trung Quốc đã không tuân thủ bổn phận của mình theo quy định của luật pháp quốc tế là thể hiện sự tôn trọng quyền các tàu, máy bay của các quốc gia khác hoạt động ở Biển Ðông và Biển Ðông Trung Hoa.

Cùng thời điểm đó, Trung Quốc không ngừng đưa ra tuyên bố “chủ quyền” với gần như toàn bộ Biển Ðông.

Ðáng chú ý là, khu vực Hoàng Sa và Trường Sa nằm cách xa Trung Quốc, nhưng lại trong phạm vi vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam, Philippines, Malaysia và Brunei.

Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển quy định rằng, mỗi quốc gia có vùng lãnh hải 12 hải lý và các đặc khu kinh tế - là các khu vực biển mở rộng 200 hải lý (370km) từ bờ biển của một quốc gia - để cho họ đặc quyền khai thác và sử dụng tài nguyên biển. Ðặc khu kinh tế cho phép một nước quyền khai thác dầu khí, cá và các tài nguyên khác cùng quyền kiểm soát nghiên cứu hàng hải.

Tuy vậy, trong tháng 3, tờ New York Times đưa tin rằng, quan chức Trung Quốc đã nói với Thứ Trưởng Ngoại Giao James B. Steinberg rằng, Trung Quốc sẽ không chấp thuận “sự can thiệp của nước ngoài” vào “lãnh thổ” của họ ở Biển Ðông. Ðây là lần đầu tiên, Bắc Kinh coi “vùng lưỡi bò” như một lợi ích sống còn của quốc gia.

Steinberg nổi tiếng với cụm từ “chiến lược tái khẳng định” cho rằng, Mỹ nên tái đảm bảo với Trung Quốc là, việc gia tăng ảnh hưởng của họ được hoan nghênh, nhưng đổi lại, Trung Quốc cần tái đảm bảo với các nước láng giềng rằng, sự gia tăng này là hòa bình.

Song, bằng tuyên bố Biển Ðông là “lãnh thổ”, Trung Quốc đã vươn tay quá xa khỏi vùng bờ biển của họ...

Năm ngoái, Trung Quốc giữ 33 tàu cá của Việt Nam cùng 433 thủy thủ gần quần đảo Hoàng Sa. Vào ngày 10 tháng 4 năm nay, xa hơn ở phía Bắc, một đội tàu 10 chiếc của Trung Quốc bao gồm hai tàu ngầm đã đi qua khu vực giữa đảo Okinawa và Miyakojima. Vụ việc này chỉ diễn ra sau hai ngày khi một trực thăng Trung Quốc lượn ngay trên đầu một tàu khu trục của Lực Lượng Phòng Vệ trên biển Nhật Bản (MSDF).

Sau đó, ngày 13 tháng 4, một tàu khu trục của Hải quân Trung Quốc đã trình diễn khả năng triển khai hỏa lực, “dọa” một máy bay MSDF P-3C của Nhật khi ấy đang thực hiện sứ mệnh tuần tra thông thường trong không phận quốc tế.

Những tranh cãi, đụng độ hàng hải trên đã trở thành nền tảng, hay đúng hơn là minh chứng cho những thập niên gia tăng sức mạnh của hải quân Trung Quốc, cho những tuyên bố chủ quyền không khoan nhượng, không mệt mỏi của Bắc Kinh.

Nỗ lực to lớn của Trung Quốc trong việc sẻ chia các đại dương thành những khu vực nằm dưới quyền kiểm soát của họ là một trò chơi nguy hiểm, thậm chí có thể gây ra một cuộc chiến hải quân. Và Mỹ không thể đứng bên ngoài.

Ðiều này không còn gì là mới mẻ. Cuộc chiến đầu tiên được tiến hành bởi một nước Mỹ độc lập liên quan tới vấn đề tự do hàng hải - cuộc chiến 1798-1800 Quasi với Pháp. Tiếp đến là Cuộc chiến Barbary thứ nhất năm 1804; rồi Chiến cuộc 1812 và Cuộc chiến Barbary lần thứ hai. Trong mỗi cuộc xung đột, vấn đề chính của Mỹ là đảm bảo quyền tự do hàng hải. Cũng như vậy, chính vấn đề tự do hàng hải đã phần nào khiến Mỹ hấp tấp lao vào hai cuộc chiến tranh thế giới...

Trung Quốc đã trải qua một tiến trình thần kỳ trong sự bền bỉ và kiên trì để chuyển từ mô hình lực lượng phòng vệ bờ biển lỗi thời của những năm 1950 đến một hạm đội biển cả ngang sức ngang tài. Trung Quốc đã không ngại ngần trình diễn các hệ thống mới nổi và hiện đại. Ðầu tiên, nước này đang thúc đẩy việc phát triển loại vũ khí mới - tên lửa đạn đạo đối hạm DF-21 - được thiết kế đặc biệt để gây nguy hiểm cho các tàu trên vùng biển lớn. DF-21 sẽ được trang bị hệ thống do thám hàng hải, có thể được sử dụng để tấn công tàu chiến di động trên biển.

Ðiều này khác hẳn với mọi nguy cơ mà Hải quân Mỹ từng phải đối mặt.

Thứ hai, là quyết tâm của Trung Quốc sau khi trải qua những phút “lúng túng” vào năm 1996, thời điểm Trung Quốc thực hiện nhiều vụ thử tên lửa gần Ðài Loan, Tổng Thống Mỹ Bill Clinton đã “thị uy” bằng việc điều động hai hải đội tàu sân bay Nimitz và Independence triển khai trong khu vực. Kể từ đó, Trung Quốc theo đuổi một chương trình xây dựng hạm đội tàu mạnh, hướng tới phát triển tàu sân bay.

Trong lúc Mỹ chỉ dành 26% ngân sách quốc phòng cho hải quân và lực lượng lính thủy đánh bộ, thì Hải quân Trung Quốc chiếm hơn 33% chi tiêu quốc phòng nói chung.

Ðội tàu của Trung Quốc hiện có khoảng 260 tàu với 75 tàu chiến lớn và hơn 60 tàu ngầm, toàn bộ lực lượng này lại được phụ trợ bởi hàng trăm tên lửa trang bị trên các tàu tuần tra xa bờ và máy bay xuất phát từ đất liền.

Hãy làm phép so sánh. Khi Trung Quốc không ngừng gia tăng sức mạnh hải quân thì lực lượng chiến đấu của Hải quân Mỹ đã giảm 20% kể từ năm 2001. Hải đội Mỹ với 11 tàu sân bay, 31 tàu chiến đổ bộ, 48 tàu ngầm, 88 tàu chiến trên mặt nước... và lực lượng này bị dàn mỏng ở khắp thế giới.

Mỹ tin rằng, họ có thể “gần như hiện diện” ở khắp mọi nơi, và sau đó tập trung dồn lực lượng trong điều kiện xảy ra một cuộc khủng hoảng. Nhưng niềm tin ấy là thiếu thực tế, và Mỹ dường như phải ngầm công nhận rằng, Hải quân với gần 600 tàu những năm 1980 đã không thể duy trì số lượng dù chỉ là một nửa.

Trong tháng 2, Trung tâm Phân tích hải quân đưa ra một báo cáo nhấn mạnh: Hải quân Mỹ đang dần từ bỏ vị trí siêu cường hàng hải. Và rằng, Mỹ đang “ảo tưởng” khi nghĩ có thể duy trì quyền kiểm soát biển ở Châu Á.

Thứ ba, Trung Quốc đã lặng lẽ phát triển AIP - một hệ thống giúp tàu ngầm chìm sâu hơn trong nước và không bị phát hiện trong một khoảng thời gian dài - cho loại tàu ngầm lớp Nguyên 041. AIP kéo dài khả năng chìm dưới nước của tàu từ vài ngày tới một tháng, đảm bảo cho tàu ngầm chạy hết tốc lực dưới nước, gia tăng đáng kể bán kính tấn công. Trong một vụ việc vào tháng 10/2006, một tàu ngầm lớp Tống AIP đã nổi lên ngay trong khu vực bảo vệ của tàu sân bay USS Kitty Hawk.

Thứ tư là vị trí địa lý của Trung Quốc với hệ thống đường dây thông tin ngắn và đảm bảo.

Cách hành xử của Trung Quốc giống như một nhóm thiếu niên bước vào tuổi dậy thì hừng hực sức mạnh và năng lượng. Trong khi đó, Mỹ lại oằn mình với gánh nặng thâm hụt ngân sách, và một mình lực lượng hải quân khó có thể đạt mục tiêu “hiệu chuẩn’’ lại cán cân sức mạnh biển.

Ðánh giá trên dẫn tới hai kết quả. Ðầu tiên là Trung Quốc sẽ đạt mục tiêu trở thành cường quốc bá chủ Châu Á, không chỉ đất liền mà còn ở Tây Thái Bình Dương. Thứ hai là khả năng các quốc gia khác - đi đầu là Nhật Bản và Ấn Ðộ cùng nhiều nước trong khu vực - sẽ bắt đầu nghĩ tới việc tập hợp các biện pháp để có thể cân bằng sức mạnh đang ngày một gia tăng từ Bắc Kinh.

Thái An (theo Diplomat)

Posted: Thu Jul 08, 2010 6:24 am
by tiendung
Afgha: Chiến Lược Mới

Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh
Đại tướng David Petraeus đã tựu chức Tổng tư lệnh chiến trường Afghanistan để chỉ huy một cuộc chiến kéo dài cả chục năm với những khó khăn như mức ủng hộ của dư luận suy yếu, một kẻ thù ngày càng liều lĩnh bạo tàn, một chính quyền đầy tham nhũng và ngày rút quân Mỹ định trước đã sắp đến vào năm tới. Nhiệm vụ của Petraeus, thay thế tướng Stanley McCrystal, chỉ huy hàng trăm ngàn quân Mỹ và đồng minh NATO là trong vài tháng tới cho thấy có tiến bộ đẩy lui được bọn khủng bố và làm cho dân chúng Afgha và các nước xung quanh thấy rõ Mỹ quyết tâm theo đuổi mục tiêu nhằm làm cho Afghanistan hết là nơi an toàn cho bọn khủng bố al-Qaida và các đồng minh của chúng.

Những quyết định đầu tiên tướng Petraeus ra lệnh sẽ được theo dõi chặt chẽ, không phải bởi dân chúng Afgha mà bởi chính quân đội ngoài mặt trận. Ngay trong buổi lễ tiếp nhận quyền chỉ huy cuộc chiến, ông đã nhấn mạnh sự an toàn của dân chúng tiếp tục là mối quan tâm lớn lao của quân đội. Ông nói khi quân Mỹ và đồng minh NATO cùng với quân đội của chính phủ Afgha mở cuộc hành quân, "mọi lực lượng võ trang phải dùng mọi thủ đoạn để bảo vệ an toàn cho người dân". Câu nói này có một ý nghĩa ngầm rất quan trọng. Đó là bảo vệ an toàn cho dân tuyệt nhiên không phải bằng cái mạng sống của quân đội.

Trước khi tướng McChrystal tựu chức Tổng tư lệnh chiến trường vào tháng 6 năm 2009, các lực lượng quân đồng minh từ bên ngoài đến đã lỡ tay gây ra nhiều cái chết trong dân chúng cùng với những cái chết của bọn phiến loạn, bởi vì loạn quân đã cố ý dùng dân chúng làm bia đỡ đạn cho chúng. Sau khi tựu chức tướng McChrystal đã thay đổi lệnh hành quân, để dân chúng khỏi chết oan nên số tử vong trong dân chúng đã hạ xuống.

Trong buổi lễ tựu chức trước đám đông tại Đại bản doanh quân NATO, đại tướng Petraeus đã ngợi khen tướng McChrystal như sau: "Những tiến bộ thực hiện được trong mấy tháng qua - trước quân thù luôn luôn liều mạng - là kết quả của sự sáng suốt, nghị lực và quyền chỉ huy.” Petraeus còn nói nhiều người đã làm việc cực nhọc dưới quyền chỉ huy của tướng McChrystal trong chiến lược chống phiến loạn. Vậy từ nay chiến lược mới của Petraeus như thế nào? Ở đây thiết tưởng cũng nhắc lại trước đây, khi còn là chỉ huy mặt trận Iraq, Petraeus đã nổi tiếng vì một chiến lược dân quân phối hợp chống phiến loạn và khủng bố, khiến quân Mỹ đã có kế hoạch rút quân bộ chiến ra khỏi nước này vào năm 2011.

Petraeus cũng là người chống lại mọi dư luận hoài nghi hay chủ bại ở chính trường Thủ đô Mỹ. Ông nói chiến tranh Afghanistan ngầy ngật khó khăn, nhưng nhấn mạnh đến những kết quả thực tế: Hơn 7 triệu trẻ em đã được cắp sách đến trường so với con số 1 triệu em từ 10 năm trước đây; trẻ em được chích ngừa nhiễm trùng 70% hay hơn; xây cất thêm nhiều đường lộ mới; kinh tế nở rộ ở nhiều thành phố hay thị trấn. Ông tuyên bố: "Sau nhiều năm chiến tranh, nay chúng ta đã đi đến một thời điểm khẩn trương. Chúng ta cần phải chứng minh cho nhân dân Afgha - và cho cả thế giới -thấy rằng bọn al-Qaida và nhóm liên minh cực đoan của chúng sẽ không được phép trở lại một lần nữa tái lập các mật khu của chúng ở Afghanistan, để từ đó lại phóng ra các cuộc tấn công đánh vào dân chúng Afgha và tấn công các nước yêu chuộng hòa bình trên thế giới".

Sáng thứ Hai đầu tuần này, nguồn tin UPI cho biết đại tướng Petraeus đã gửi một bức thư cho quân đội và nhân viên dân sự của Lực lượng Yểm trợ An ninh Quốc tế NATO. Trong thư này Petraeus viết: "Các lực lượng đồng minh ở Afghanistan sẽ không nề hà giết chết, bắt sống hay làm bọn phiến loạn quay đầu trở lại trong khi làm nhiệm vụ bảo vệ dân chúng. Chúng ta không từ nan, không ngại khó khăn, chúng ta quyết đem cuộc chiến đấu đến kẻ thù và chúng ta sẽ tiếp tục làm như vậy".

Petraeus còn nói với quân sĩ của ông như sau: "Với sự bành trướng của Lực lượng Yểm trợ An ninh Quốc tế NATO và sự tăng trưởng của quân đội quốc gia Afghanistan - với hai thế lực này làm việc chung với nhau - chúng ta sẽ bảo đảm cho người dân Afghanistan "không bao giờ còn bị cai trị bởi những kẻ chủ trương bạo động bừa bãi và bọn cực đoan chủ nghĩa vuợt qua mọi biên giới quốc gia".

Một tin mới nhất từ Afghanistan cho biết sáng thứ Ba Cảnh sát Bài trừ Ma túy của chính quyền Afgha và các lực lượng An ninh quốc tế đã giết chết 64 người và bắt giam 10 người trong một cuộc hành quân 3 ngày tại tỉnh Helmand ở biên giới ráp ranh Pakistan. Nhà cầm quyền cũng tịch thu được 16,641 kí-lô nha phiến trong cuộc hành quân. Diễn biến này xẩy ra tối Chủ nhật, nhưng đến đầu tuần này chính quyền mới loan báo đầy đủ chi tiết.
Bộ Quốc phòng Afgha loan báo 64 kẻ bị giết đều là bọn "khủng bố". Trong cuộc hành quân, lực lượng của chính phủ đã giải thoát được 14 người dân bị bọn khủng bố bắt giam. Điều cần lưu ý là nông dân Afghanistan từ xưa vẫn quen trồng ma túy để sinh sống. Số người nghiền ma túy không phải ít. Bọn khủng bố Taliban do al-Qaida huấn luyện và yểm trợ, đã khuyến khích dân miền thôn dã trồng ma túy, bởi vì chúng lấy nhựa nha phiến ngầm đưa ra nước ngoài bán lấy tiền. Tiền đó chúng dùng để mua chuộc dân chúng và cũng là quỹ tổ chức các cuộc đánh bom tự sát hay các trận đánh du kích phá hoại an ninh trật ở các thị trấn, thành phố ở nước này.
Chúng tôi thiết nghĩ cuộc chiến lâu nhất do Tổng Thống Bush khởi sự từ năm 2001 có hy vọng sẽ kết thúc trong một thời gian ngắn với chiến lược của tướng Petraeus. Chiến lược chỉ là lý thuyết, kết quả của một sự suy tư của con người. Suy tư là do trí tuệ trong bộ óc mà có, bởi vậy tôi nghĩ đến luật tiến hóa chung cho cả nhân loại. Ở đâu có con người là có bộ óc tiến hóa, nó không dậm chân đứng lỳ một chỗ, mà với thời gian nó sẽ tiến ngày một nhanh hơn trước. Đánh họa khủng bố là phải đánh bằng bộ óc.

SƠN ĐIỀN NGUYỄN VIẾT KHÁNH

Posted: Thu Jul 08, 2010 5:02 pm
by bobinh
Kho bom nguyên tử &
chính sách “không nhìn, không chối”
của Do Thái

Trần Bình Nam


Cách đây hơn 24 năm, ngày 5/10/1986, tờ The Sunday Times, một tờ báo hằng tuần uy tín của Anh xuất bản tại Luân Đôn đăng một tin làm chấn động thế giới: Do Thái làm bom nguyên tử từ năm 1966, và hiện có một kho bom nguyên tử ngang hàng với 5 nước Hoa Kỳ, Nga Xô, Trung quốc, Anh và Pháp.

Tin này do một chuyên viên nguyên tử Do Thái tên là Mordechai Vanunu tiết lộ. Ông Vanunu cho biết trung tâm sản xuất vũ khí nguyên tử của Do Thái đặt tại Dimona trong sa mạc Negev nằm ở phía Nam Do Thái. Vanunu 31tuổi làm việc tại trung tâm đó gần 10 năm. Ông cho rằng khả năng nguyên tử của Do thái – dù để tự vệ - là một đại họa cho nhân loại nếu được xử dụng để đánh các nước A Rập chung quanh. Ông Vanunu nói năm 1973 khi Ai Cập bất ngờ tấn công Do Thái trong mùa lễ Zom Kippur 1973, bà Golda Meir thủ tướng Do Thái đã cho lệnh chuyển bom nguyên tử đến các phi trường quân sự sẵn sàng xử dụng.

Ông Mordechai Vanunu cho rằng cách tránh tai họa là tiết lộ cho thế giới biết Do Thái có một kho bom nguyên tử để các nước đừng khinh xuất tạo ra chiến tranh nguyên tử. Ông không có một ý đồ lợi lộc nào.
Ông Vanunu lén chụp hình các thiết bị và dụng cụ thí nghiệm tại Dimona rồi tìm cách trốn đi Úc châu. Trước đó ông Mordechai Vanunu đã bỏ đạo Do Thái và theo Anh Giáo do mục sư John McKnight ở Úc đỡ đầu.
Image
Mẫu tâm bom nguyên tử
do ông Vanunu chụp được
Đến Úc châu ông Vanunu đến tá túc tại họ đạo của mục sư McKnight và tìm các liên lạc với tờSunday Times ở Luân Đôn.
Tờ Sunday Times biết tin này là một tin có thể làm đảo lộn tình hình thế giới nên vội thiết lập một Ban Điều Tra (Insight Team) để kiểm chứng tính chính xác của nguồn tin.
Những bằng chứng và lời tường trình của ông Mordechai Vanunu đã làm các chuyên viên nguyên tử kinh ngạc. Thế giới vốn đã nghi Do Thái đang lén chế tạo vũ khí nguyên tử, nhưng không ai ngờ Do Thái có khả năng nguyên tử cao không kém 5 nước Hoa Kỳ, Nga Xô, Anh, Pháp & Trung quốc và đã sẵn sàng từ giữa thập niên 1960.
Các tấm hình của ông Vanunu cho thấy các cơ sở chếplutonium (một kim loại phóng xạ để làm bom nguyên tử) mua của Pháp đặt tại Dimona trong một khu công thự không làm ai chú ý và đã qua mắt các vệ tinh do thám quốc tế cũng như của các đoàn thanh tra Liên hiệp quốc trong nhiều năm. Dựa vào tài liệu do ông Vanunu cung cấp, các chuyên viên nguyên tử của Hoa Kỳ và Anh đồng đánh giá mỗi năm trung tâm Dimona có thể chế biến 40 kg plutonium đủ để làm được 10 quả bom nguyên tử cỡ trung bình. Và vào năm 1986 Do Thái đã có ít nhất 100 quả bom nguyên tử, cao gấp 10 lần khả năng người ta nghi ngờ Do Thái có thể có.
Đó là chưa kể một lò nguyên tử (atomic reactor) 26 megawatts mua của Pháp nâng cấp lên 150 megawatts có khả năng sản xuất thêm chất plutonium.
Khả năng này được xác nhận bởi giáo sư Theodore Taylor, một chuyên viên nguyên tử thượng thặng của Hoa Kỳ, và tiến sĩ Vật lý học người Anh ông Frank Barnaby. Gíáo sư Taylor là học trò của nhà khoa học Robert Oppenheimer, cha đẻ bom nguyên tử của Hoa Kỳ. Và tiến sĩ Barnaby từng làm việc tại trung tâm nghiên cứu nguyên tử Anh Berkshire đặt tại Aldermaston và trước khi nghỉ hưu là Giám đốc Viện Nghiên cứu Hòa bình của Thụy Điển.
Sau khi quan sát 60 tấm hình và 2 tuần lễ phỏng vấn, tiến sĩ Barnaby nói: “Với con mắt của một nhà vật lý học, tôi xác nhận ông Mordachai Vanunu phải từng làm việc tại một trung tâm chế biến chất plutonium và sản xuất vũ khí nguyên tử “
Ngoài hai ông Taylor và Barnaby, Ban Điều TraSunday Times còn nhờ nhiều chuyên viên nguyên tử khác của Anh đánh gía các tiết lộ của ông Vanunu, nhưng Sunday Times không tiện nêu tên tuổi vì các chuyên viên này đang làm việc tại các cơ sơ nghiên cứu và sản xuất bom nguyên tử của Anh .
Sau khi bài báo Sunday Times xuất hiện, chính phủ Do Thái không nhìn nhận nhưng cũng không chối mình đã chế tạo bom nguyên tử. Đồng thời xác nhận rằng quả có một chuyên viên nguyên tử người Do Thái tên là Mordechai Vanunu làm việc cho Ủy ban Nguyên tử lực quốc gia ở Dimona, và đã được cho nghỉ việc cùng với 180 nhân viên khác để tiết kiệm ngân sách. Chính phủ Do Thái còn tiết lộ rằng sau khi nghỉ việc Mordechai Vanunu đã ghi tên theo học triết học tại đại học Beersheba ở West Bank (Tây ngạn sông Jordan) và có tiếp xúc linh tinh với các sinh viên A Rập tại đó.
Thái độ của chính phủ Do Thái được hiểu Do Thái đã có vũ khí nguyên tử nhưng không công khai nhìn nhận. Do Thái áp dụng một chính sách hiểu sao cũng được, hay là chính sách “không nhìn, không chối” (atomic ambiguity strategy) để cảnh cáo các nước A rập chung quanh, đồng thời tỏ ý tuân hành nguyên tắc chung của thế giới, chính yếu là ý muốn của 5 nước trong Ủy ban Thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc là không lan truyền vũ khí nguyên tử. Thái độ này hợp ý nhất đối với Hoa Kỳ . Và đó là lý do Do Thái có vũ khí nguyên tử nhưng ít được các cơ quan truyền thông thế giới nhắc nhỡ tới.
Một tuần lễ sau, trong số báo ngày Chủ Nhật 12/10/1986 tờ Sunday Times lại loan tin ông Mordechai Vanunu mất tích. Bài báo viết rằng ngày 30/9 ông Vanunu rời khách sạn nơi Sunday Timesthuê cho ông tạm trú trong thời gian Đoàn Kiểm Tra làm việc nói ông sẽ đi vắng vài ngày, nhưng không trở lại và Sunday Times mất liên lạc với ông.
Câu chuyện được mọi người biết một cách chi tiết lúc đó là: Tháng 9 năm 1986 ông Mordechai Vanunu rời Do Thái đi Úc châu qua ngỏ Mạc Tư Khoa và Bangkok với một cuốn phim chưa khai triển gồm 60 tấm hình những bí mật nguyên tử của Do Thái ông chụp được. Ông không gặp khó khăn nào tại Nga và Thái Lan. Đến Sidney ông Vanunu tiếp xúc vớiSunday Times và một nhà báo khác tên là Oscar Guerrero người Columbia. Ngày 12/9 tờ Sunday Times đưa ông qua Anh để kiểm chứng thêm.
Ngày 28/9 trong khi Sunday Times đang kiểm chứng tính chính xác của Mordechai Vanunu tờ Sunday Mirror, một tờ báo khác tại Luân Đôn đăng tải tin Do Thái làm bom nguyên tử của nhà báo Guerrero cung cấp. Tờ Sunday Mirror không tin nguồn tin của Guerrero nhưng cho đăng bản tin với mục đích cảnh giác dư luận báo chí đừng mắc lừa Guerrero. Bài báo đăng một tấm hình của ông Vanunu và Guerrero với những chi tiết do Guerrero phóng đại. Thấy bài báo, ông Mordechai Vanunu nghĩ rằng nỗ lực của ông đã hỏng và tờ Sunday Times sẽ không bao giờ khai thác nguồn tin của ông.
Ngày 30/9 Mordechai Vanunu cho Sunday Times biết ông sẽ đi vắng vài hôm. Sáng hôm đó, trong khi tiếp xúc với Sunday Times qua điện thọai Sunday Timescho biết họ đã hoàn tất việc kiểm chứng nguồn tin giá trị của ông và sẽ đăng tải trong số báo ngày Chủ Nhật 5/10/1986 . Rất phấn khởi ông Vanunu hứa vớiSunday Times sẽ trở về khách sạn ngày 2/10 kịp trước khi báo phát hành.
Nhưng - như đã biết - ông không bao giờ trở lại ... Mấy hôm sau báo chí tại Do Thái loan tin Mordechai Vanunu đang bị cầm tù tại Do Thái. Chính phủ Anh cho điều tra và không tìm thấy bằng chứng nào Do Thái đã vi phạm chủ quyền của Anh . .. Cho mãi 18 năm sau, khi ông Mordechai Vanunu mãn án tù tại Do Thái thế giới mới có đủ các nét của toàn bộ bức tranh.
**
Sau khi Mordechai Vanunu trốn khỏi Do Thái, thủ tướng Shimon Perez ra lệnh cho cơ quan tình báo Mossad của Do Thái tìm cách bắt cóc ông Vanunu mang về Do Thái trị tội. Chỉ thị của thủ tướng Perez là tránh vi phạm chủ quyền của Anh quốc, lúc đó đang có căng thẳng ngoại giao với Do Thái.
Cơ quan Mossad cử nữ điệp viên bí danh Cindy, tên thật là Cheryl Hanin, một thiếu nữ Mỹ 25 tuổi tóc vàng xinh đẹp đến Luân Đôn để làm quen với ông Vanunu. Cindy làm việc cho Mossad trong bộ phận tình báo tại các tòa đại sứ Do Thái ở nước ngoài. Hồ sơ nhân sự cho biết ông Mordachai Vanunu là một thanh niên phóng khoáng, nhiều nghệ sĩ tính.
Đến Luân Đôn cô Cindy giả làm một du khách Mỹ chuyên nghề thử nước hoa đến Luân Đôn để trau dồi nghề nghiệp, trong khi bộ phận khác của Mossad tim cách tiếp cận với Mordechai Vanunu.
Những ngày ở Luân Đôn chờ Sunday Times kiểm tra thông tin, Mordechai Vanunu thỉnh thoảng đi dạo phố, và cơ quan Mossad đã theo dõi được dấu vết của Mordechai Vanunu. Mossad bố trí Cindy gặp Mordechai Vanunu tại công trường Leicester. Tài tử gặp giai nhân điệu nghệ và nhanh chóng trở nên đôi nhân tình tha thiết. Nhà báo Peter Hounam đượcSunday Times biệt phái theo dõi giúp đỡ ông Vanunu cảnh giác rằng Cindy có thể là điệp viên Do Thái, nhưng ông Vanunu không tin cho rằng Cindy là một người Mỹ gốc Do Thái có khuynh hướng chống vũ khí nguyên tử như anh.
Ngày 21/4/2004 trong một cuộc họp báo bất ngờ tại Jerusalem sau 18 năm tù ông Vanunu cho biết trong những ngày dong chơi ở Luân Đôn ông đang bực bội về bài báo “láo lếu” trên tờ Sunday Mirror thì Cindy rủ ông đi Rome chơi vài ngày cho khuây khỏa và ông đã bị bắt cóc tại đó.
Mordechai Vanunu thuật lại rằng, chiều ngày 30/9/86 ông và Cindy vừa từ phi trường Rome về tới một căn phòng Cindy nói của bà chị ruột dành riêng cho cô thì ông bị hai người, một Do Thái, một Pháp phục sẵn trong phòng đánh anh gần ngất xỉu, chích thuốc mê vào người rồi dìu anh một cách kín đáo ra xe chạy đến một bờ biển vắng. Một chiếc thuyền máy nhỏ chờ sẵn đưa anh ra một chiếc tàu lớn hơn. Anh bị xiềng chân tay trên tàu, và sau 7 ngày lênh đênh trên Địa Trung Hải ngày 7/10 tàu cập bến Caesaria Beach tại Do Thái .
Mossad đưa anh về nhà tù Shikma ở Ashkelon cách Jesusalem 60km.
Báo chí tại Do Thái đăng đầy đủ vụ truy tố Mordechai Vanunu và phiên tòa xử Mordechai Vanunu nhưng không hề có một chi tiết tại sao Mordechai Vanunu đang ở Luân Đôn lại nằm trong nhà tù tại Do Thái. Chính phủ Do Thái xem như Mordechai Vanunu chưa bao giờ ra nước ngoài.
Ngày 28/12/1986 tòa xử kín được ghi băng với công tố viên Ouzi Hason và luật sư bào chữa Amnon Zichroni. Ông Amnon Zichroni là một luật sư nổi tiếng tranh đấu cho nhân quyền.
Công tố viên Hason kết ông Mordechai Vanunu hai tội. Thứ nhất là gíúp kẻ thù của Do Thái có thể lãnh án tử hình hay 25 năm cấm cố. Tội thứ hai là tiết lộ bí mật quốc gia có thể lãnh án khổ sai chung thân.
Sau khi luật sư Zichroni bênh vực, tòa án tuyên án Mordechai Vanunu 18 năm tù.
**
Ông Mordechai Vanunu được phóng thích ngày 21/4/2004 với hai hạn chế: không được rời khỏi nước; thứ hai không được tiếp xúc với người nước ngoài .

Image
Mordechai Vanunu, 49 tuổi và cảnh sát Do Thái
Hiện nay ông Vanunu vẫn sống tại Do Thái và thỉnh thoảng đụng chạm với pháp luật. Năm 2007 ông bị 6 tháng tù giam về tội kết thân tình cảm với một thiếu phụ người Na Uy.
Về phần Cheryl Hanin, sau khi hoàn thành công tác cô sống tại thành phố Netanya ở miền Bắc Do Thái một thời gian trước khi trở về nguyên quán ở Florida, Hoa Kỳ sống với chồng. Cô Hanin tuyệt đối không tuyên bố điều gì với báo chí về điệp vụ của cô.
Cho đến nay Do Thái vẫn theo chính sách “không nhìn, không chối” về kho bom nguyên tử của mình và thế giới cũng nín thinh một cách rất yên ổn cho Do Thái như đó là một phần của chính sách Trung Đông của Liên hiệp quốc .
Qua vụ Mordechai Vanunu vào năm 1986 các chuyên viên nguyên tử quốc tế xếp Do Thái vào quốc gia nguyên tử mạnh thứ sáu trên thế giới (sau Hoa Kỳ, Liên Bang Nga, Anh, Pháp, Trung quốc). Do Thái có một kho bom và nhiên liệu dự trữ có thể sản xuất 200 đầu đạn nguyên tử khác .
**
Iran thì sao?
Theo dõi hoạt động hiện nay của Iran chúng ta có thể tiên đoán rằng: Iran sẽ chế tạo bom nguyên tử. Và Iran sẽ áp dụng chính sách không nhìn, không chối như Do Thái. Và rồi thế giới sẽ phải chấp nhận thực tế đó.
Ngày 29/6/2010 cựu tổng thống Clinton khi trả lời câu hỏi: “Có cách gì ngăn cản Iran chế tạo bom nguyên tử không?” của nhà báo Wolf Blitzer của đài CNN trong chương trình “The Situation Room”, ông Bill Clinton trả lời đại ý: Tôi không biết! Người ta có thể đánh phá cơ sở chế tạo vũ khí nguyên tử của Iran. Nhưng thành công hay không là một chuyện khác và cái giá sẽ không lường trước được./.

Trần Bình Nam

July 1, 2010

Posted: Fri Jul 09, 2010 12:40 am
by nguyenvsau
Tưởng niệm
Nhà Cách Mạng Dân Tộc kiêm Văn Hào
Nhất-Linh Nguyễn Tường Tam
Cách đây đúng 47 năm, ngày 7 tháng 7 năm 1963, nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam đã uống độc dược quyên sinh tại Sài Gòn để phản đối chính quyền độc tài Ngô Đình Diệm đàn áp đối lập chính trị và bức hại Phật giáo Việt Nam. Ông chọn ngày 7 tháng 7 vì 24 tiếng đồng hồ sau đó, ông không chấp nhận bị mang ra tòa án (8-7-1963) để xử tội chống đối Ngô triều , và cũng là ngày “Song Thất” mà chính quyền kỷ niệm ngày ông Diệm sau “bao nhiêu năm từng lê gót nơi quê người”, bắt đầu về Việt Nam làm Thủ tướng cho vua Bảo Đại.

Trong chúc thư để lại cho gia đình và bạn bè chiến hữu, ông viết:


"Đời tôi để lịch sử xử. Tôi không chịu để ai xử cả. Sự việc đem các đảng phái quốc gia đối lập ra xét xử là một trọng tội đối với quốc gia, chỉ đưa đất nước rơi vào tay Cộng Sản. Vì thế tôi tự hủy mình cũng như Hòa Thượng Thích Quảng Đức đã tự thiêu là để cảnh cáo những ai chà đạp mọi thứ tự do.

Ký tên: Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, ngày 7 tháng 7 năm 1963.”



Hiện nay, tại hải ngoại, những “sử gia” hoài Ngô dư đảng cần lao loại Tú Gàn Nguyễn Cần, cựu bộ trưởng Nội vụ Lâm Lễ Trinh, Nguyễn Văn Lục (em Nguyễn Văn Trung), Nguễn Hữu Duệ… đang cố tình đánh bóng lại sự nghiệp của ông Ngô Đình Diệm, cậu ruột của Hồng y Nguyễn Văn Thuận, để làm biểu tượng chính trị hầu tập trung lực lượng Công giáo chống Cộng, và để chuẩn bị cho Vatican phong thánh trong tương lai. Trong quá trình “đánh bóng” đó, những ai đã từng chống lại Ngô Đình Diệm và chế độ của ông ta đều bị lên “giàn hỏa lịch sử” để thiêu đốt hết. Phật giáo là một trường hợp. Nhất Linh là một trường hợp khác, mà điển hình là bài viết của Nguyễn Văn Lục bôi bác Nhất Linh bị bệnh tâm thần nhằm ngụy biện rằng đầu óc Nhất Linh vốn bất thường từ lâu, có ý định tự tử từ 10 năm trước chứ chẳng phải vào năm 1963 để lên án chế độ Ngô Đình Diệm gì cả.

Nhân dịp kỷ niệm 47 năm ngày mất của Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, chúng tôi xin đăng lại bài viết của bác sĩ Nguyễn Hữu Phiếm, người quen biết với ông đã lâu và cũng là bác sĩ gia đình trước và trong năm 1963 đó tại Sài Gòn, để tưởng nhớ đến một ngôi sao sáng của văn học Việt Nam, một người dân xã thân vì dân tộc, và để xem bùn dơ của các “sử gia” Công giáo hoài Ngô có vấy bẩn được hoa sen Nhất Linh hay không.

Image
Nhất Linh và Đông Hồ tại Sài Gòn, khoảng 1960


Nhớ về Nhất Linh

Nguyễn Hữu Phiếm


Người ta đã viết và nói nhiều về Nhất Linh trong khi anh còn sinh thời cũng như sau khi anh mất.

Viết hoặc tổ chức những buổi nói chuyện để đề cao một chiến sĩ cách mạng quốc gia đã noi gương Thượng toạ Thích Quảng Đức, tự huỷ mình để chống lại một chế độ bạo tàn, để “cảnh tình những con người ác, làm đèn soi sáng nẻo vô minh”, hoặc để đề cao một văn hào lỗi lạc, “một ngôi sao Bắc đẩu trong nền văn hoá Việt Nam”, suốt đời chỉ biết phụng sự văn hoá, vì theo Nhất Linh, chỉ có văn mới làm cho đời người đẹp hơn và đáng sống mà thôi.

Cũng có khi viết hay nói về Nhất Linh cốt để tự đề cao mình lên, và theo tôi, cái đó cũng không lấy gì làm lạ, vì như văn hào Duhamel đã viết: “Khi một người có danh tiếng nằm xuống thì có biết bao nhiêu người tự nhận là bạn thân của người đó xuất hiện”.

Nói cho đúng ra, Nhất Linh có rất nhiều bạn – ngoài một số đông độc giả mến tài anh qua những tác phẩm của anh – vì ai đã gặp anh không thể không quý anh được. Nhưng trong mấy năm gần đây, nhất là từ sau ngày đảo chính hụt 1-11-1960, anh bị chính quyền Ngô Đình Diệm lùng bắt, nhiều người xa lánh anh, cũng như anh, không muốn cho ai vì mình mà phải liên luỵ, cũng chỉ lui tới nhà một thiểu số bạn, rất thân của anh, trong đó có kẻ viết bài này.

Có người cho rằng, dù cho có giao du với Nhất Linh thì đã sao, nhất là trong trường hợp tôi, vốn quen biết anh từ lâu, lại là thầy thuốc của gia đình anh nữa; nhưng theo tôi, phải sống dưới chế độ độc tài, như chế độ họ Ngô, mới thấy rằng người dân không có quyền gì hết đã đành, lại không có cả cái quyền chơi với bạn nữa, nhất là khi người bạn đó lại đứng về phe đối lập như Nhất Linh. Nếu không tất sẽ bị khủng bố, và nếu là một công chức, sẽ bị sa thải, “nồi cơm sẽ bị bể” như ta nói. Điều bi đát này, chính tôi đã được tai nghe một cựu công chức cao cấp của Ngô triều thuật lại.

Ở đây, tôi chỉ ghi những gì tôi biết về Nhất Linh trong những giờ phút cuối cùng của anh. Trước hết, tôi dám quả quyết là Nhất Linh đã sắp đặt, ít nhất là một tuần lễ trước, cái chết của mình. Bằng cớ là ngày 30-6-1963, anh tới dự buổi họp của Trung tâm Văn Bút mà trước đó anh là chủ tịch, không phải vì văn hoá, mà chỉ cốt để gặp mặt một lần chót các văn hữu của anh trước khi bước sang bên kia thế giới.

Riêng một cử chỉ, “mối tình chân thành” đó cũng đủ cho chúng ta quý mến Nhất Linh rồi.

Ở Trung tâm Văn bút ra, Nhất Linh có ghé lại thăm tôi, nhưng tiếc rằng hôm ấy tôi đi vắng.

Chủ nhật sau, nhằm ngày 7-7-1963, Nhất Linh lại tới vào buổi sáng hồi 10 giờ. Tôi đang ngồi trong phòng ăn bỗng anh lặng lẽ đi vào. Vẫn con người dong dỏng cao ấy, vẫn vầng trán rộng và thông minh ấy, với đôi mắt tuy tinh anh, sáng quắc nhưng đượm một vẻ buồn khó tả. Phải chăng, tôi nghĩ bụng, anh buồn vì ngày mai anh sẽ phải ra toà để toà xử về vụ đảo chính ngày 11-11-1960?

Anh mặc rất đơn giản, không khác gì mọi bận anh lại thăm tôi: sơ-mi trắng dài tay, hở cổ, quần tây màu xanh thẳm, và chân đi giày – vẫn đôi giày duy nhất ấy – cũ kỹ đến nỗi không nhận được ra màu gì nữa. Nhất Linh lười mặc lẫn lười ăn, lười uống… thuốc; trái lại, anh rất chăm làm việc, nhất là chăm đọc, chăm viết. Chả thế mà chỉ trong có ba tháng trời, trong khi anh lẩn trốn, mà anh còn viết, viết một mạch xong ba cuốn Dòng sông Thanh Thuỷ, rồi lại vẽ, lại sửa bản thảo trước khi đưa in…

Cho hay, khi đời sống nội tâm của con người ta dồi dào, phong phú thì tất cả những gì thuộc về ngoại vật, đều không đáng kể. Đó là trường hợp của Nhất Linh.

Như trên vừa nói, Nhất Linh lại thăm tôi vào buổi sáng hôm 7-7-1963. Anh giơ tay bắt tôi. Chúng tôi im lặng nhìn nhau. Tôi đợi anh ngồi xuống ghế mới cất tiếng hỏi thăm về sức khoẻ của anh. Anh khẽ gật đầu, và hai mắt chớp chớp như mọi bận.

Tôi ngập ngừng đề cập tới việc hôm sau anh ra toà thì anh lạnh lùng nói:

"Ông Diệm đã bảo xếp việc này đi rồi không hiểu tại sao lại còn moi ra."

Tôi nói để cho anh yên lòng:

"Chắc chỉ để khủng bố tinh thần các anh mà thôi."

Rồi tôi nói một câu tiếng Pháp: “Leurs jours sont comptés” (Ngày tàn của chúng cũng đến nơi rồi).

Vợ tôi đứng gần đấy hỏi anh:

"Mai ra toà anh sẽ khai ra sao?"

"Chị cứ yên trí, anh đáp, tôi sẽ không nói gì hết, y như ông giáo sư ở trong phim Jugement à Nuremberg khi ra toà ấy.”

"Không sao đâu, chiều mai chúng tôi sẽ xuống thăm anh.”

“Anh chị lại không gặp tôi đâu.”

Thú thật, khi nghe Nhất Linh nói câu đó, với một giọng bình thản vô cùng, tôi chỉ có thể đoán được rằng, có lẽ hơn ai hết, anh biết rõ tội trạng (!) của anh, yên trí sau phiên toà anh sẽ bị kết án, chứ tôi không ngờ rằng anh nói với ẩn ý là anh sẽ quyên sinh, không chịu để cho toà xử.

Đang lúc tôi còn phân vân không biết nói gì với anh thì vợ tôi nói:

“Dẫu có thế nào thì chúng tôi vẫn luôn nhớ tới anh, vẫn coi anh như người anh cả.”

Câu chuyện giữa anh và vợ chồng tôi, đáng lẽ còn kéo dài, nhưng thấy tôi có khách, anh vội đứng lên và nói rất nhỏ nhẻ:

“Tôi đến để từ biệt anh chị.”

Khi ấy vào khoảng 11 giờ. Chúng tôi tiễn anh ra cửa, và hai chúng tôi còn đứng trên vỉa hè để đợi tắc-xi trên 10 phút, lặng lẽ cầm tay nhau, không ai nói với ai một câu, mỗi người có một ý nghĩ riêng, mỗi người có một mối buồn cành cánh bên lòng. Nhưng thú thật là khi ấy, tuyệt nhiên trên nét mặt của Nhất Linh, tôi không hề nhận thấy một dấu hiệu nhỏ nào cho biết chỉ trong vài tiếng đồng hồ nữa, anh sẽ xa lánh cõi trần, xa tất cả mọi người thân yêu của anh để đi vào lịch sử.

Tôi có thể nói tôi là người bạn cuối cùng mà anh đã hạ cố lại thăm trước khi mất.

Ngay buổi chiều hôm ấy – vào khoảng 5 giờ – chúng tôi, có lẽ do linh tính thì phải, dang bàn nhau xuống An Đông thăm anh, bỗng có anh bạn của Nhất Linh và của tôi, anh K. xồng xộc chạy vào, với nét mặt hớt hải. Tôi đoán là có việc chẳng lành đã xảy ra cho anh Tam. Quả nhiên, anh bạn đó tới để báo tin anh Nhất Linh đã quyên sinh và hiện đang mê man, anh yêu cầu tôi xuống gấp.

Mười phút sau thì chúng tôi tới An Đông. Gặp chị Nhất Linh ở dưới nhà, tôi không kịp chào hỏi, cứ cắm đầu chạy thẳng lên thang.

Thoáng nhìn nét mặt và nghe hơi thở của anh, rồi bắt mạch, tôi biết ngay là anh đã quyên sinh với thuốc ngủ, mặc dầu lục lọi chung quanh chỗ anh nằm không tìm thấy một viên hay một ống thuốc nào. Khi người ta đã cố tình tự vẫn thì không khi nào để lại một vết tích gì và không chết bằng cách này thì cũng chết bằng cách khác, đó là cảm nghĩ của tôi khi đứng trước Nhất Linh.

Tuy nhiên tôi vẫn phải làm phận sự của người thầy thuốc, vẫn phải chích cho anh một mũi thuốc hồi sinh, rồi cấp giấy giới thiệu với Bệnh viện Grall để anh được vào nằm điều trị.

15 phút sau tôi cũng tới bệnh viện, vừa lúc bác sĩ thường trực đến. Chúng tôi thảo luận với nhau một hồi về bệnh tình, có vẻ trầm trọng của bạn tôi.

Đồng nghiệp của tôi lắc đầu thất vọng, và nói: “C’est foutu!”.

Ông ta toan cho đưa anh xuống “Nhà xác”, nhưng thấy tôi khẩn khoản quá ông đành ưng thuận cho lên nằm trên phòng bệnh để “còn nước còn tát”.

Mặc dầu có bao sự tận tâm săn sóc, Nhất Linh cũng trút hơi thở cuối cùng trong đêm hôm đó. Anh đã được toại nguyện, đã được chết ngày 7-7-1963 là ngày “song thất” của kẻ đã phản dân hại nước.

Trong suốt thời gian nằm trong bệnh viện, anh vẫn mê man không lúc nào tỉnh cả.

Tâm trạng của tôi, vừa là bạn, vừa là thầy thuốc của anh, tối hôm đó, thật rối bời bời, và vô cùng phức tạp. Một mặt, tôi cầu chúc cho anh được tai qua nạn khỏi, mặt khác, lại lo ngại, lo ngại lỡ ra anh sống, biết đâu mình chả đắc tội với anh vì đã làm trái với chí nguyện của anh chỉ mong được chết để chống lại những kẻ “chà đạp lên mọi thứ tự do”.

Nào chỉ có những ý nghĩ vẩn vơ ấy mà thôi! Trong khi anh mê man, nằm thoi thóp trên giường bệnh, chúng tôi – mấy con anh Nhất Linh và một anh bạn – bàn tính với nhau để giấu tờ di chúc chính trị do chính tay Nhất Linh viết làm hai bản, rồi trao cho phóng viên của hai tờ tuần báo Time và Newsweek, theo lời trối trăng của anh.

Tôi còn nhớ mãi cuộc thảo luận tối hôm đó ở ngoài hành lang bệnh viện, đối diện với gian buồng bệnh của anh, chung quanh bản di chúc quan trọng đó. Chúng tôi nhất định không để lọt mảnh giấy học trò kia vào tay nhà chức trách. Tôi căn dặn mọi người là nếu họ có hỏi tra thì chỉ đưa ra hai tờ di chúc: một gửi cho bạn bè thân thuộc, và một gửi cho chị Nhất Linh.

Trong tờ di chúc thứ nhất vẻn vẹn có mỗi một dòng:


Vĩnh biệt tất cả mọi người thân yêu.


Tờ di chúc thứ hai, gửi cho chị Nhất Linh, cũng chỉ vắn tắt hai dòng:


Mình,
Mối tình của đôi ta đẹp đẽ lắm rồi. Mình không còn mong muốn gì hơn nữa.


Ở đây tôi thấy cần ghi là chính bà Nhất Linh cũng không rõ nội dung của tờ di chúc chồng gửi cho mình, vì sau khi được tin Nhất Linh từ trần, nhà chức trách đã tịch thâu hết các giấy tờ – trừ bản di chúc chính trị nói trên – và không chịu trả cho thân nhân anh. Cho đến mãi hai tháng sau ngày đảo chính 1-11-1963 mới đòi lại được.

Cũng trong cái đêm lịch sử ấy, chúng tôi bàn nhau để loan tin Nhất Linh tự vẫn cho các bạn đồng chí của anh, hôm sau phải ra toà, ngõ hầu gây một xúc động lớn tại toà án.

Quả nhiên sáng hôm sau 8-7-1963, tin Nhất Linh tự huỷ mình để chống lại chính quyền lan đi rất mau khác nào một vệt thuốc súng, khiến cho dư luận các giới, nhất là giới trí thức, sinh viên, xôn xao, bàn tán, và ngay cả chính quyền cũng phải sửng sốt hoang mang.

Bản án của Nhất Linh đương nhiên bị huỷ bỏ, còn đối với các chính trị phạm sắp bị xử, toà có một thái độ bất ngờ. Đáng khen, theo lời tường thuật của một ông bạn tôi cũng bị đưa ra xử hôm đó, là cử chỉ can đảm của ông Phan Khắc Sửu, đã đứng ra xin toà cho một phút để mặc niệm Nhất Linh. Dĩ nhiên là toà không cho phép, nhưng không vì thế mà không có phút mặc niệm kia.

Chả bù cho thái độ trái ngược hẳn của một chính khách, thường được nhiều người coi như một nhà cách mạng, khi nghe thấy một số đông phạm nhân đề nghị đeo băng đen để tang Nhất Linh, bèn từ chối đây đẩy và thốt lên câu nói bất hữu này:

“Thôi mà, bày vẽ để tang làm gì họ lại phết thêm cho vài năm tù nữa chả bõ.”

Nghĩ mà buồn và thương hại thay cho những hạng người thường vỗ ngực là đồng chí của Nhất Linh.

Cái chết của Nhất Linh đã gây nhiều bối rối cho chính quyền Ngô Đình Diệm, nhất là cho vợ chồng Ngô Đình Nhu, lồng lộn lên như con thú dữ. Chúng sợ người sống đã đành, chúng sợ và thù ghét cả người chết nữa, những người chết cồng kềnh (les morts encombrants) như chúng tôi nói.

Trước kia chúng sợ cái chết của Thượng toạ Thích Quảng Đức, ngày nay chúng sợ cái chết của Nhất Linh, không những vì Nhất Linh là một chiến sĩ cách mạng quốc gia có rất nhiều uy tín ở trong nước cũng như ở ngoại quốc, mà lại còn là một văn hào có tên tuổi, được giới thanh niên, trí thức mến chuộng.

Tôi dám nói, không sợ nói ngoa, là từ lúc Nhất Linh nằm xuống cho tới khi đưa anh về nơi an nghỉ cuối cùng ở Nghĩa trang Gò Vấp, chính quyền Ngô Đình Diệm đã mất ăn mất ngủ, và tìm mọi cách để phá.

Bằng cớ là ngay sau khi anh mất, họ ra lệnh làm một cuộc phẫu nghiệm tử thi (autopsie), mặc dầu không có sự ưng thuận của gia đình.

Tất cả là 12 người có mặt trong buổi phẫu nghiệm ngay hôm 9-7-1963, tại nhà xác của Bệnh viện Grall: 7 bác sĩ, trong đó có một bác sĩ giải phẫu ngoại kiều của Grall, hai nhân viên Sở Giảo nghiệm, một viên phó cảnh sát, hai biện lý và phó biện lý của Toà án Sài Gòn.

Dưới đây là kết luận của bản phúc trình pháp y về cuộc phẫu nghiệm đó:

“Với những phương pháp khám nghiệm thông thường tại chỗ, không thấy thi hài có triệu chứng nào có thể giải thích cái chết mau chóng của Nguyễn Tường Tam, cần chờ xem kết quả việc tìm kiếm do các phòng và viện giảo nghiệm”.

Nào chỉ có phẫu nghiệm tử thi mà thôi! Theo lời của một người trong gia đình anh, có lần chúng toan cướp cả xác của anh, định đem ra khỏi Grall, nhưng ban giám đốc bệnh viện không chịu.

Riêng về phần tôi, cũng vào buổi sáng hôm thứ ba 9-7-1963, chính quyền cử một nhân viên công lực tới nhà để hỏi tôi những chi tiết về cái chết của Nguyễn Tường Tam, trong trường hợp nào tôi quen anh v.v…

Sau đó ít lâu, lại một nhân viên khác của Sở Giảo nghiệm tới tìm tôi ở Viện Pasteur để hỏi xem có biết ông Nguyễn Tường Tam đã dùng thuốc gì để quyên sinh không.

Tôi không trả lời thẳng câu hỏi của người ấy mà chỉ cho biết là ông Tam, hồi trẻ, đậu cử nhân khoa học, và như vậy, ông thông thạo hơn ai hết về các chất hoá học. Huống hồ, ông lại còn là một nhà văn, và từng đọc rất nhiều truyện trinh thám (mỗi lần Nhất Linh đi qua đại lộ Lê Lợi là anh khuân hàng chục cuốn sách trinh thám, và anh đọc ngấu nghiến trong một đêm là hết), nhất là đã từng viết trong tác phẩm cuối cùng là Dòng sông Thanh Thuỷ, cả một chương về một vụ đầu độc. Như thế thì tôi, mặc dù là thầy thuốc, làm sao mà biết được ông đã dùng thuốc gì để quyên sinh?

Sự thật là như thế!

Sau này, theo bản phúc trình của một phòng thí nghiệm công gửi cho Toà án Sài Gòn, tôi mới rõ là người ta đã tìm thấy ở trong máu, trong bao tử, và trong nước tiểu rất nhiều chất thuốc ngủ, loại véronal.

Nhất Linh đã mua và tích trữ thuốc này từ bao giờ, ngay đến những người thân thích của anh cũng không hay biết.

Nhưng gay go nhất là việc định ngày để cất đám Nhất Linh.

Gia đình anh xin phép đưa vào buổi sáng chủ nhật, nhưng chính quyền một mực từ chối, cái đó dễ hiểu, vì họ sợ đưa đám ngày nghỉ, thiên hạ sẽ đi dự rất đông.

Xin phép đưa chiều thứ bảy, họ cũng từ chối nốt, vì chiều thứ bảy, cũng là ngày nghỉ của các công sở. Họ chỉ ưng thuận, hoặc sáng thứ bảy, đúng 8 giờ rưỡi, hoặc sáng thứ hai. Đành phải bằng lòng sáng thứ bảy vậy.

Lại còn một điều này nữa khiến cho chị Nhất Linh băn khoăn rất nhiều là việc làm lễ cầu siêu cho anh ở chùa Xá Lợi.

Kẻ bàn ra người tán vào, phần đông không muốn làm lễ ở Xá Lợi, vì dạo ấy như mọi người đều rõ, chùa Xá Lợi dưới con mắt của chính quyền Ngô Đình Diệm, khác nào một cái gai trước mắt họ, là nơi công khai chống lại họ thì làm lễ tại đó, tức là khiêu khích họ.

Tôi còn nhớ mãi nét mặt rầu rầu của chị Nhất Linh buổi trưa hôm thứ tư 10-7-1963 đó, và vì thấy chị buồn thảm quá nên tôi đã không ngần ngại đứng về phe chị để yêu cầu cho bằng được nhà chức trách cho phép làm lễ cầu siêu ở chùa Xá Lợi. Tôi bảo với chị:

"Nếu họ từ chối thì chị cứ viện lý do tôn giáo ra họ phải chịu. Quả nhiên Bộ Nội vụ và Toà Đô sảnh Sài Gòn – sau khi xin chỉ thị của phủ Tổng thống – bằng lòng cho làm lễ cầu siêu tại chùa Xá Lợi."

Nhưng chúng ta còn lạ gì chính quyền Ngô Đình Diệm, luôn luôn có thái độ ngoan cố, tuy rằng cho phép đấy nhưng cho phép miễn cưỡng, cho phép để che mắt thế gian, để tỏ ra mình dân chủ, tôn trọng tự do tín ngưỡng, nhưng kỳ thực vẫn tìm đủ mọi cách để ngăn cản.

Tôi tuy là người ngoại cuộc, nhưng trong việc này tôi đã có đủ bằng chứng về những cuộc vận động hoặc áp lực của chính quyền để cho buổi lễ cầu siêu kia không thể thực hiện theo yêu mến của gia đình Nhất Linh được.

Tôi còn nhớ buổi chiều hôm thứ sáu 12-7-1963, hai vợ chồng tôi sắp sửa vào Grall để dự lễ khâm liệm cho anh bỗng có ba nhân viên công lực quận Ba, nhân danh ông Đô trưởng và ông Bộ trưởng Bộ Nội vụ đến tìm tôi để yêu cầu tôi can thiệp với bà Nhất Linh đừng làm lễ cầu siêu ở chùa Xá Lợi.

Tôi trả lời họ rằng tôi không có tư cách gì cả để can thiệp, vì đối với gia đình ông Nhất Linh, tôi chỉ là bạn mà thôi. Nhưng mấy người đó cho biết là bà Nhất Linh “chỉ nghe lời bác sĩ, và bác sĩ chỉ nói cho một tiếng là được”.

Tôi đánh trống lảng và lại còn nửa đùa nửa thật bảo họ:

"Thì các ông cứ việc ra lệnh cấm cho rồi hà tất phải cho phép."

"Chính phủ đâu có cấm tự do tín ngưỡng."

Những điều dự đoán của tôi thật quả không sai.

"Tôi không hiểu tại sao các ông lại không muốn cho tang quyến làm lễ cầu siêu ở chùa Xá Lợi? Gia đình ông Tam, theo chỗ tôi biết, vốn theo đạo Phật từ lâu, bà cụ thân sinh ông ta, xưa kia vẫn là một vị tu hành, và sau khi mất đi vẫn để thờ tại đấy thì nay đến lượt ông Tam, làm lễ cầu siêu ở Xá Lợi tôi nghĩ đó là một việc rất thường vậy."

"Chúng tôi được tin mật cho biết Việt cộng định khủng bố, nên có bổn phận phải giữ gìn an ninh trật tự."

Họ đã viện ra lý do đó thì còn biết nói năng gì nữa? Để chấm dứt tôi hứa sẽ can thiệp với bà Nhất Linh, nhưng được hay không, tôi không dám chắc.

Khi vợ chồng tôi tới Grall thì lễ nhập quan đã cử hành xong rồi, chúng tôi rất tiếc và ân hận vô cùng.

Tại Grall, tôi lại được chứng kiến một vụ can thiệp nữa không ngoài mục đích trên.

Trong hai vị sứ giả của Bộ Nội vụ và Toà Đô sảnh Sài Gòn cử đi để điều đình, có một bạn đồng nghiệp của tôi. Có lẽ vì là chỗ bạn đồng nghiệp mà mặc dầu chưa được quen biết nên tôi mới hỏi ông ta bằng một câu tiếng Pháp:

"Pourquoi vous faites ce métier?" (Tại sao ông đi làm cái nghề này?)

Bạn đồng nghiệp của tôi hơi bẽn lẽn đáp:

"Thiên lôi chỉ đâu đánh đấy, biết sao?"

Nghĩ tới những con người trí thức mà phải vì cơm áo sống dưới chế độ của nhà Ngô cũng thương hại thật.

Tôi cho ông ta hay chị Nhất Linh bởi quá thương chồng, nên đã mấy phen ngất xỉu, và nếu ông cứ trở lại vấn đề đó nữa, bà ta có mệnh hệ nào thì ông sẽ phải chịu trách nhiệm.

Chị Nhất Linh nghe nói thế càng được thể khóc to hơn, và ông bác sĩ nọ – nói cho đúng ra cũng là người biết điều, và nhất là có nhiều cảm tình đối với Nhất Linh – đành phải rút lui, sau khi đã ngỏ lời xin lỗi tang quyến.

Ở Grall về – vào khoảng 10 giờ khuya – tôi đã thấy 2 nhân viên khác của Toà Đô sảnh và quận Nhất, trong đó có một bạn đồng nghiệp (lại một bạn đồng nghiệp), đang đợi tôi ở trước cửa nhà. Họ tìm tôi cũng không ngoài mục đích nhờ tôi can thiệp bà Nhất Linh về buổi lễ cầu siêu, “muốn làm ở đâu cũng được, miễn đừng làm ở chùa Xá Lợi”, nghe vẫn với một luận điệu như trên tôi trả lời tôi không có thẩm quyền để định đoạt. Cùng lắm là tôi sẽ yêu cầu với tang gia rút ngắn thời gian hành lễ ở chùa Xá Lợi mà thôi.

Hồi 11 giờ đêm tôi trở lại Grall thì gặp một tốp khác. Và lần này thì họ doạ nạt chứ không van lơn nữa.

"Chúng tôi vừa được tin Việt cộng sẽ khủng bố đám tang Nhất Linh, vậy tốt hơn hết là thay đổi lộ trình."

Rồi như để phân trần với mọi người, họ nói:

"Chúng tôi xin nói là Việt cộng định khủng bố chứ không phải là chính quyền đâu."

Có người trong tang quyến cất tiếng hỏi:

"Nếu là Việt cộng thì ở đâu mà chúng không khủng bố được, hà tất cứ phải ở chùa Xá Lợi?"

Cuộc vận động của mấy tai sai Nhu – Diệm, mặc dầu kéo dài gần tới ba giờ sáng, đã hoàn toàn thất bại.

Ở đây tôi cũng cần nói là trong suốt thời gian linh cữu của anh Nhất Linh quàn tại nhà xác, có ít ra hàng chục công an, mật vụ ngày đêm túc trực để theo dõi từng người tới viếng. Có khi họ còn hỏi thẻ kiểm tra, tra khảo lý lịch, đe doạ dẫn vào bót nữa, nhất là đối với các thanh niên, học sinh, sinh viên. Giới này được chính quyền để ý nhiều hơn hết hôm thứ bảy 13-7-1963, ngày đưa đám Nhất Linh.

Trên các ngả đường đưa tới bệnh viện Grall đều có rất nhiều cảnh binh, công an canh gác, chặn đường không cho vào bệnh viện, hoặc xua đuổi những ai lảng vảng gần đây.

Đã đến lúc chính quyền Ngô Đình Diệm bỏ rơi mặt nạ! Nhưng mặc dầu có rất nhiều công an, mật vụ ở chung quanh đám táng, chúng cũng không cấm nổi tang quyến treo ngay trên tường của căn nhà xác, và sau này đặt trên nóc xe tang, bức trướng thật to, viết chữ trắng trên nền đen, do các đồng chí của Nhất Linh kính điếu.

Nguyên văn bức trướng đó như sau:


Kính điếu lãnh tụ Nhất Linh Nguyễn Tường Tam


Thương thay đối lập quốc gia
Mất cả tự do trong mấy lúc
Đối với thiêu thân Quảng Đức
Noi gương cảnh cáo giữa nghìn thu.

Các anh em đồng chí
7-7-1963


Thật chẳng khác nào một roi vụt vào mặt chính quyền vậy.

Công an và mật vụ của Nhu – Diệm nhiều thật đấy, nhưng chúng đâu có ngăn nổi các anh em sinh viên khiêng linh cữu Nhất Linh, từ nhà xác ra tận xe tang. Mấy bạn đó vừa khiêng vừa sụt sùi khóc, khiến mọi người đứng gần đấy cũng mủi lòng rơi lệ theo. Có người khóc Nhất Linh để thương tiếc một chiến sĩ quốc gia chống cộng, suốt đời tranh đấu cho tự do, dân chủ thế mà lại bị những kẻ đội lốt quốc gia bức tử. Hoặc khóc một văn hào đã có công lớn trong nền văn học nước nhà mà đến khi nằm xuống không được chính quyền ngỏ một lời phân ưu. Hoặc khóc một con người tài hoa, mặc dầu sống trong thử thách mà vẫn giữ một tâm hồn nghệ sĩ, và còn giữ cho đến khi nhắm mắt.

Thật thế! Không có một tâm hồn nghệ sĩ như Nhất Linh mà trước khi từ giã cõi đời, đôi mắt mỗi lúc một mờ dần, còn nói được một câu: “Bầu trời hôm nay đẹp quá nhỉ!” thì thiết tưởng, trong thiên hạ ít có người nghệ sĩ như anh.
............ ......... ......... ......

Đoàn xe tang đi qua các đường Mạc Đĩnh Chi, Phan Đình Phùng, Bà Huyện Thanh Quan, để rồi ghé lại chùa Xá Lợi vào hồi 10 giờ 45.

Đám tang thật là đơn giản, nhưng vô cùng ảm đạm, trang nghiêm. Khi khởi hành từ bệnh viện Grall, số người tham dự còn thưa thớt, nhưng dần dần mỗi lúc một đông. Phần nhiều là thanh niên, học sinh, sinh viên, giới trí thức. Có rất đông phóng viên, ký giả ngoại quốc, nam có, nữ có, có mặt trong đám táng để chụp ảnh hoặc để quay phim. Họ chịu khó biên chép tất cả những câu viết trên các đối trướng rồi nhờ người dịch sang tiếng Anh. Họ lại còn ghi âm tất cả những lời khóc than kể lể của chị Nhất Linh.

Như vậy đủ rõ cái chết của văn hào Nhất Linh đã gây một tiếng vang lớn, không riêng gì ở Việt Nam mà ở cả trên thế giới nữa.

Tại chùa Xá Lợi, ngoài một số đông đồng bào đã túc trực từ sáng sớm – trong đó dĩ nhiên có cả công an, mật vụ của Nhu – Diệm – còn có khoảng 200 tăng ni có mặt để cầu siêu cho Nhất Linh.

Giữa cảnh khói hương nghi ngút, chùa Xá Lợi cất lên ba hồi chuông trống, rồi thì những tiếng tụng niệm vang lên. Trong khi ấy, ở trước cửa chùa có nhiều thanh niên, sinh viên phát băng tang cho mọi người, kể cả người của chính quyền Ngô Đình Diệm.

Lễ cầu siêu cử hành không đầy 15 phút như đã ấn định từ trước, rồi đoàn xe tang từ từ chuyển bánh, theo sau có 3 chiếc xe đò lớn chở những người đi tiễn đưa.

Đoàn xe tiến về đường Phan Thanh Giản, rẽ sang đường Hai Bà Trưng rồi chạy về Gò Vấp. Có hàng trăm chiếc xe, xe đạp lẫn xe gắn máy, trên mỗi xe có hai người, phần đông là thanh niên, học sinh, sinh viên, có cả ký giả ngoại quốc nữa, băng băng đi theo sau, hoặc đi trước, hoặc ở hai bên xe tang. Ngay cả trên nóc xe hơi cũng có người nữa. Hàng phố, từ đường Hai Bà Trưng trở đi, đổ xô ra xem. Một điều đáng ghi nhận là từ chùa Xá Lợi trở đi, không có một ngã tư nào là không có nhân viên công lực đứng, không phải để giữ an ninh trật tự, mà trái lại, để cố tình cắt quãng đoàn xe tang, làm sao cho số người tham dự đừng đông đảo.

Và khi tới nghĩa trang Gò Vấp, liếc nhìn chung quanh, ai nấy đều có một cảm giác nặng nề, ghê rợn, dường như bao phủ bởi một bầu sát khí đằng đằng: chỗ này một tốp người vận quân phục, chỗ kia một tốp, với súng trường, súng lục, tiểu liên, lựu đạn… Tôi tự hỏi, chẳng hay họ chuẩn bị như vậy để bảo vệ ai, hoặc để giết ai ở một nơi hoang vu, tĩnh mịch và tôn nghiêm này?

Họ đề phòng Việt cộng khủng bố chắc? Phải ngây thơ lắm mới tin được, mặc dầu trong khi hạ huyệt người ta đã phao tin bắt được quả tang một gã – phu xe xích lô – trong người dắt một trái lựu đạn.

Còn một điểm này nữa thiết tưởng cũng cần ghi lại, là trên con đường về, trời nắng chang chang và xa tắp có một số người đi đưa đám – trong đó có kẻ viết bài này và một ông bạn già, ký giả Nguyễn Đắc Lộc – được một phen cuốc bộ, vì gặp chiếc xe nào, tắc-xi hay xe gắn máy, tài xế cũng lắc đầu lia lịa, rôi mắt trước mắt sau, như muốn bảo cho mọi người hiểu: đã có lệnh trên, cấm chở những ai đi dự đám táng của Nguyễn Tường Tam.

Người ta bảo Nhất Linh đã chết. Riêng tôi, đứng trước cái chết cao cả của anh, chết để cảnh cáo những người “chà đạp lên mọi thứ tự do”, chết để chống lại bạo quyền, chết với niềm hy vọng sự hy sinh của mình sẽ đem lại tự do cho người khác, như vậy là anh đã biết chết, đã chết thật đúng lúc, mặc dầu anh không biết sống, nghĩa là theo tôi, sống như thiên hạ, một cách tầm thường, hoặc sống cũng như chết, rồi khi đứng trước cái chết thì sợ sệt, hoặc chết nhưng chết một cách nhục nhã thảm thương.

Ở trên tôi vừa nói đời sống nội tâm, đời sống tinh thần của Nhất Linh rất phong phú.

Nhất Linh thường tâm sự với tôi: Ở đời anh ghét nhất là sự giả dối, lừa lọc, xảo trá và phản bội. Và suốt đời anh không có một chiếc xe hơi.

Nhất Linh trong sạch. Điều đó ai cũng trông thấy rõ. Ở thời buổi này, muốn xét người nào trong sạch, yêu nước thương nòi hoặc quốc gia hay không, phải chờ cho người ấy vào trong chính quyền đã, rồi nhìn nếp sống của họ sau khi rũ áo ra về. Hoặc chờ cho người đó nằm xuống, hình hài thể xác trở về nơi cát bụi hãy hay.

Nhất Linh đã tham chính và Nhất Linh nay đã ra người thiên cổ. Bởi vậy tôi có thể nói một cách chắc chắn rằng anh là một người thiết tha yêu nước, đang đứng ngang hàng với những anh hùng dân tộc của chúng ta, như Trần Bình Trọng, Hoàng Diệu, Nguyễn Thái Học v.v…. Anh cũng là một người trong sạch hiếm có. Anh không có xe hơi, nhà lầu, nhưng nói cho đúng ra, anh có một căn nhà gỗ thô sơ – có lẽ bây giờ đã hoang phế – do chính tay anh cất lấy, ở bên bờ suối Đa-mê, cách Đà Lạt 30 cây số, trong một khu rừng hẻo lánh, có nhiều cây cỏ, nhất là nhiều lan để anh ngắm và tìm cảm hứng để viết văn. Phí tổn để xây cất căn nhà đó cả thảy là 20 đồng bạc, tiền mua danh.

Tôi vừa nói ở trên là Nhất Linh sống rất giản dị, từ cái ăn đến cái mặc. Tôi còn nhớ trong những năm 60-61, sau ngày đảo chính hụt và oanh tạc Dinh Độc Lập, tôi lại thăm anh vào bữa ăn, tôi thấy anh chỉ ăn có lưng chén cơm với hai miếng đậu kho, có lần một đĩa nouille, anh và trong ba phút là xong, rồi anh lên giường ngủ.

Trái lại, mỗi khi được tin có một biến chuyển nào đó, có thể làm thay đổi cục diện, chấm dứt chế độ bạo tàn thì đôi mắt anh sáng quắc lên, bao nhiêu bệnh não của anh – mà chúng tôi thường bảo là bệnh giá-cách – đều tiêu tan hết, và khi ấy anh cười nói rất vui, ăn uống ngon lành lắm.

Nhất Linh không những là một chiến sĩ quốc gia, anh còn là một văn hào lỗi lạc nữa. Về điểm này, các văn hữu của anh có nhiều thẩm quyền hơn tôi đã phán xét. Riêng về phần tôi ở đây chỉ muốn ôn lại một vài kỷ niệm nhỏ giữa Nhất Linh và tôi trên lĩnh vực văn hoá.

Trước hết tôi cần nói là không có một lĩnh vực nào mà anh không thành công, và thành công rực rỡ nếu như anh muốn, dù là làm chính trị, hay viết văn, hay vẽ, hay chơi âm nhạc, hay chơi lan, hay làm báo… Anh chuyên về thứ nào thì anh say mê thứ đó, đến quên ăn quên ngủ.

Không những chỉ say mê mà thôi, anh dốc hết cả tâm trí vào việc anh làm, và anh làm rất chu đáo. Khi anh viết được một trang nào hay, hoặc tìm ra được một chữ nào, và chỉ có chữ ấy là đúng thôi, anh thích thú vô cùng, anh sung sướng hơn bắt được một báu vật. Có lần anh bảo tôi: “Khi tôi dịch cuốn Les Hauts de Hurle Vent, tôi tìm mãi mấy ngày mấy đêm mới ra câu: Đỉnh gió hú”.

Tôi còn nhớ bận tôi dịch một truyện trinh thám của Conan Doyle, nhan đề: La bande mouchetée (tức con rắn), tôi tìm mãi không biết dịch là gì. Anh nghĩ một lúc rồi bảo: Chiếc giải đốm hoa. Tôi cho câu dịch đó thật tài tình.

Khi anh viết cuốn Dòng sông Thanh Thuỷ (hồi đó anh lẩn trốn ở đường Trần Hưng Đạo) anh biên giấy nhờ một anh bạn của chúng tôi chuyển lại cho tôi để hỏi có mỗi một câu về một danh từ y học, đủ rõ anh thận trọng như thế nào trước khi hạ bút.

Đáng phục nhất là trong suốt thời gian anh bị chính quyền Ngô Đình Diệm lùng bắt, anh phải lẩn trốn hết nơi này đến nơi khác, lấy ngày làm đêm, đêm làm ngày mà anh vẫn còn có can đảm để viết văn, để phác hoạ ra cả một chương trình: xuất bản sách để các bạn trẻ đọc, để giáo dục quần chúng, để phổ biến tất cả những gì cao đẹp của loài người, của vũ trụ. Bởi theo anh, “đã đến lúc loài người phải giở sổ soát lại vốn tư tưởng quá khứ để định hướng đi tương lai, tìm chân lý là kim chỉ nam cho người đời giữa biển sóng gió”.

Hiện giờ, khi viết mấy dòng này, trước mặt tôi còn có một xấp thư – những mảnh giấy học trò – của Nhất Linh gởi cho tôi hồi anh đang bị chính quyền lùng bắt, chữ viết nhỏ li ti, yêu cầu tôi cho anh những tài liệu cần thiết về: danh nhân thế giới, tình sử đông tây, kỳ quan vũ trụ, giáo dục phổ thông, chính trị, khoa học v.v…

Những loại sách bỏ túi – 27 loại cả thảy – đó, anh định bán với một giá rất rẻ, và in đẹp, nhằm mục đích nâng cao đời sống tinh thần của mọi tầng lớp người trong xã hội, vì anh cho rằng “văn làm cho đời người đẹp hơn và đáng sống”.

Thật là cả một chương trình vĩ đại, đáng khen mặc dầu chưa thực hiện được, chứng tỏ sự nhiệt tâm của Nhất Linh trước tiền đồ của dân tộc, trước trạng huống phức tạp và đảo lộn của xã hội ngày nay.



*


Trên đây là một vài nét về nếp sống cùng những hoạt động của Nhất Linh trên địa hạt chính trị xã hội văn hoá, đủ khiến cho ai nấy phải ngậm ngùi trước sự hy sinh cao cả của anh.

Nhưng điều khiến cho một số bạn thân của Nhất Linh tiếc thương anh hơn cả là tính tình hồn hậu và thuỷ chung của anh đối với bạn, nhất là trong những lúc khó khăn, hoạn nạn.

Tôi còn nhớ Tết năm Tân Sửu, vào sáng hôm mồng hai, và trong khi anh lẩn trốn, xa gia đình thân yêu, mà anh còn ngồi vẽ một bức tranh – bó hoa oeillet – để tặng tôi, với hai câu thơ, câu đầu là:


“Tặng ai mười đoá hoa xuân”


khiến tôi cảm động vô cùng.

Tôi dám chắc, đối với một số đông bạn thân của anh, anh cũng có những cử chỉ tế nhị và đẹp như thế.

Lại còn một điểm nữa khiến cho tôi quý Nhất Linh, là cách cư xử của anh đối với mẹ già và gia đình nhỏ của anh.

Tôi còn nhớ hồi sinh thời của bà cụ thân sinh ra anh, thường gọi là “Cụ Cẩm Giàng”, mỗi lần tôi lại thăm bệnh cho cụ, cụ móc túi ra cho tôi xem một mẩu giấy nhỏ – nhỏ vừa bằng lòng bàn tay – trên có ghi mấy dòng chữ Nhất Linh gửi cho mẹ, báo tin cho cụ biết cuốn tiểu thuyết này hay tiểu thuyết nọ đã xuất bản rồi, để cho cụ mừng.

Cảm động nhất là hôm cụ đưa cho tôi xem cuốn Dòng sông Thanh Thuỷ khi vừa mới in xong anh gửi tặng cụ, cụ mệt không đọc được, nhưng lúc nào cụ cũng khư khư ôm trong lòng, không muốn rời ra.

Nhất Linh thường nói với tôi:

“Gia đình tôi đông anh em, nhưng mẹ tôi chỉ thương và nể có tôi thôi. Tôi bảo gì mẹ tôi cũng nghe, nhưng… trăm tội ở đâu cũng đều đổ cả lên đầu tôi, chỉ có tôi là bị rầy la nhiều nhất.”

Hôm cụ mất anh bị mệt và… cũng đang bị chính quyền để ý nên không đưa cụ tới nơi an nghỉ cuối cùng được, anh rất đỗi khổ tâm.

Nhất Linh có một đời sống đẹp như vậy, thế mà sau khi anh mất đi có kẻ dám công khai bôi nhọ anh, nào bảo anh “hút thuốc phiện, nghiện rượu, không có chút công lao gì đối với nền văn học Việt Nam”, nào “phản đảng, phản dân tộc, phản cả gia đình nữa”… [1] thì đủ rõ giữa Nhất Linh và đối lập đương nắm chính quyền của anh, ai là quân tử, ai là tiểu nhân?

Thật thế! Nhất Linh, ngay cả đối với kẻ thù, lúc nào cũng đàng hoàng, quân tử. Mỗi khi nói tới Hồ Chí Minh hay Ngô Đình Diệm, hay vợ chồng Ngô Đình Nhu, tôi chưa từng nghe thấy anh có một lời nói nặng, một câu nào bất lịch sự cả.

Cái chết của Nhất Linh không những là một thiệt thòi rất lớn cho quốc gia, nhất là trong giai đoạn này, đã mất một chiến sĩ vừa có tài lại có đức, vừa là một cái tang chung cho nền văn học nước nhà, lại còn gieo vào trong lòng của các bạn hữu cũng như gia đình đầm ấm của anh, biết bao niềm thương xót khôn nguôi với thời gian được.

Riêng về phần tôi, mỗi bận nhớ tới anh rồi nhìn chung quanh mình chỉ thấy toàn những kẻ tranh giành nhau trên con đường danh lợi, những kẻ lừa thầy phản bạn, tôi cảm thấy có một khoảng trống mông mênh, kinh khủng. Và tôi chợt nhớ câu thơ bất hủ của thi hào Lamartine, tôi xin mượn câu thơ đó để nói lên nỗi lòng của tôi đối với Nhất Linh:


“Thiếu mỗi một người và tất cả đều là hoang vắng”.
(Un seul être vous manque et tout est dépeuplé).


Nguyễn Hữu Phiếm

Posted: Fri Jul 09, 2010 2:13 am
by KýCóp
Khi lá phiếu của người dân quyết định số phận của nhà chính trị
Wednesday, July 07, 2010

Lê Diễn Ðức

Image
Tổng Thống Bronislaw Komorowski. (Hình: Janek Skarzynski/AFP/Getty Images)

Cuộc bầu cử tổng thống vòng II tại Ba Lan diễn ra trong Chủ Nhật, ngày 4 tháng 7 cho thấy lá phiếu của người dân quyết định số phận của các nhà chính trị như thế nào.

Chỉ vẻn vẹn có hai tuần để vận động tranh cử vòng II, hai kỳ phùng địch thủ Bronislaw Komorowski và Jaroslaw Kaczynski đã tận dụng từng khoảnh khắc thời gian đến phút chót trước ngày “im lặng bầu cử” vào hôm Thứ Bảy, tức là một ngày trước khi tiến hành bầu cử. Trong ngày “im lặng bầu cử” này luật bầu cử quy định các ứng viên chấm dứt vận động, cấm tất cả các phương tiện truyền thông, báo chí quảng cáo ủng hộ, hoặc đưa ra kết quả thăm dò dư luận...

Khác với vòng I bình lặng đến nhàm chán, hai ứng viên đã sử dụng hết công suất cho cuộc chạy đua tới đích ở vòng II. Tỏa ra những hướng khác nhau, họ đi xe hơi qua hàng ngàn cây số tới cử tri của mình, từ thành phố đến nông thôn, miền núi và thậm chí tới cả những nơi người Ba Lan đang nghỉ Hè trên các bãi biển.

Lo ngại bầu cử đúng vào thời gian dân chúng đi nghỉ Hè và sau trận lụt lớn, chính phủ Ba Lan khuyến khích, kêu gọi và tạo điều kiện dễ dàng cho người Ba Lan trong nước, cũng như đang ở nước ngoài có thể tham gia bỏ phiếu.

Mỗi ứng viên đều ý thức được rằng, số lượng người đi bầu mang tính quyết định đối với tỷ lệ thắng, bại.

Ða số ủng hộ viên của Jaroslaw Kaczynski là những người ở nông thôn và giới lớn tuổi, ngoan đạo - những người có thừa thời gian để đi bỏ phiếu.

Ủng hộ viên của Bronislaw Komorowski thuộc dân chúng sống trong các thành phố, những người có trình độ đại học trở lên, giới trẻ và trung niên - thành phần thường bận rộn với công việc làm ăn hoặc đã đưa gia đình đi nghỉ sau ngày con cái kết thúc năm học, cho nên số người đi bỏ phiếu có nguy cơ bị suy giảm so với vòng I.

Ðất nước Ba Lan đang đứng trước sự lựa chọn: tiếp tục phát triển kinh tế thị trường tự do trên cơ sở hợp tác chặt chẽ với Liên Hiệp Châu Âu, cải thiện quan hệ đối tác với Nga và tránh những xung đột trên tuyến Quốc hội-Chính phủ-Tổng thống trong các cải cách sắp tới.

Hay là, một bức tranh chưa thể xác định rõ, nếu quyền lực tổng thống rơi vào tay Jaroslaw Kaczynski, người được xem là bậc thầy của chia rẽ trên sân khấu chính trị, có quan điểm của chủ nghĩa dân tộc thái quá, trong quá khứ không mấy thân thiện với hai cường quốc láng giềng Nga và Ðức. Những lời hứa trong tranh cử rằng, ông sẽ thực hiện chính sách ôn hòa, mềm dẻo hơn, không đủ thuyết phục dư luận rằng, con người ông J. Kaczynski sẽ thay đổi khi giành được chiếc ghế tổng thống.

Trong 21 năm qua, tôi thấy ý thức trách nhiệm của người dân Ba Lan rất cao thông qua lá phiếu của mình khi thấy dân tộc đứng trước lựa chọn, thử thách giữa cái đúng và cái sai, giữa thiện và ác, giữa đồng thuận và xung đột,...

Giới trẻ, nhất là sinh viên, họ khuyến khích, rủ nhau đi bỏ phiếu cho Komorowski, vì sợ rằng, số lượng cử tri đi bầu ít sẽ có khả năng làm chiến thắng ngả về Jaroslaw Kaczynski.

Ðêm ngày 4 tháng 7, sau khi các phòng bỏ phiếu đóng cửa vào lúc 8 giờ tối, các phương tiện truyền thông công bố kết quả thăm dò cho thấy B. Komorowski thắng với tỷ lệ hơn J. Kaczynski khoảng 6-7%. Ðến 11 giờ tối, kết quả sơ bộ sau khi kiểm được hơn 50% số phiếu của Ủy Ban Bầu Cử Quốc Gia với mức chênh lệch của hai người chưa tới 1%, đã làm sốc dư luận. Vào lúc nửa đêm, có lúc J. Kaczynski đã vượt lên cao hơn, nhưng chỉ sau đó ít lâu lại đứng dưới. Hai ủy ban bầu cử và ủng hộ viên của hai phía đã trải qua một đêm đầy kịch tính, căng thẳng, đôi khi phải nín thở vì hồi hộp.

Vào ngày Thứ Hai, Ủy Ban Bầu Cử Quốc Gia công bố kết quả chính thức: B. Komorowski đạt 53,01% và J. Kaczynski - 46,99%. Số cử tri đi bỏ phiếu toàn quốc đạt 55,31%, cao hơn cả vòng I, nhiều địa phương có tới 60% đến 80%, thậm chí có nơi hơn 90%.

Bronislaw Komorowski trở thành tổng thống dân cử thứ tư kể từ khi Ba Lan giành được độc lập, dân chủ, tự do, thoát khỏi chế độ cộng sản vào năm 1989.

Ông B. Komorowski sẽ từ nhiệm chủ tịch Quốc Hội để nhận chức Tổng Thống Ba Lan trong vài tuần tới. Cám ơn tất cả mọi người vào buổi tối Chủ Nhật khi có kết quả thăm dò đầu tiên, ông nói: “Ðây là chiến thắng của Dân Chủ!”

Ðúng như thế, Bronislaw Komorowski đã thắng nhờ sự tổng động viên tham gia bầu cử tự phát của ủng hộ viên. Số lượng người đi bầu ở các thành phố đạt ở mức rất cao, hầu hết trên 60%, tại thủ đô Warsaw tới 66,97%.

B. Komorowski giành chiến thắng tuyệt đối ở 16 trong 17 thủ phủ các tỉnh lỵ trên toàn Ba Lan. Tại các thành phố khác, nơi nào càng đông dân thì càng nhiều phiếu bầu cho ông.

Ngược lại, J. Kaczynski giành bội thế thấy rõ ở nông thôn. Tuy nhiên, mặc dù được sự ủng hộ của hệ thống Nhà Thờ và Chủ Tịch Công Ðoàn Ðoàn Kết J. Sniadek, tiếng nói của hai lực lượng rất mạnh và lớn trong một đất nước có dân số theo đạo Công Giáo hơn 90% và Công Ðoàn Ðoàn Kết với đầy đủ kinh nghiệm vận động quần chúng, ông vẫn bị thua cuộc.

Cũng không thể bỏ qua những nghịch lý thú vị trong xã hội dân chủ.

Trái với Chủ Tịch Công Ðoàn Ðoàn Kết J. Sniadek, Cựu Thủ lĩnh Công đoàn Ðoàn kết Lech Walesa, kêu gọi ủng hộ B. Komorowski.

Còn chủ tịch Liên Minh Cánh Tả Dân Chủ (SLD), ông G. Napieralski, người đứng vị trí thứ ba trong vòng I, tuyên bố không ủng hộ bên nào, trong khi cựu chủ tịch SLD, cựu tổng thống Ba Lan, ông A. Kwasniewski thì lại đề nghị cử tri Cánh Tả bỏ phiếu cho B. Komorowski.

Rõ ràng, nếu không có sự hậu thuẫn đông đảo của cử tri các thành phố, giới thanh niên, trung niên và cử tri thuộc Cánh Tả (tới 70%), ông B. Komorowski rất khó đánh bại được ông J. Kaczynski, khi tỷ lệ cuối cùng giữa hai người chênh lệch chỉ 6%.

Người Ba Lan thực sự đã trải qua một cuộc tranh đua quyết liệt, căng thẳng, giành giật từng lá phiếu một, nhưng bình đẳng và tương kính lẫn nhau. Ðây là “chiến thắng của dân chủ” - như ông B. Komorowski kết luận.

Cùng ngày, hàng loạt các cơ quan truyền thông và báo chí lớn trên thế giới như The Economist, Finalcial Times, Times, CNN, ABC, El Mudno, El Pais, EFE , v.v... đã đưa tin và bình luận về kết quả bầu cử ở Ba Lan.

Những nguyên thủ quốc gia đầu tiên gửi điện chúc mừng tân tổng thống Ba Lan là các tổng thống và thủ tướng của Hoa Kỳ, Ðức, Pháp, Italy, Tây Ban Nha và Nga.

Chúc mừng tân tổng thống Ba Lan, Tổng Thống Barack Obama đã mời ông thăm Hoa Kỳ và bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với Ba Lan về cách cư xử trong và sau thảm họa Smolensk: “Sức mạnh và sự kiên cường của nhân dân Ba Lan khi đối mặt với thảm kịch này là chưa từng có và phải là nguồn cảm hứng cho thế giới,” Obama nói.

Ông cũng tỏ lòng cám ơn Ba Lan về sự tham gia vào sứ mệnh ở Afghanistan và gửi lời chia buồn với gia đình các binh sĩ ba Lan đã hy sinh trên mặt trận: “Ba Lan và Hoa Kỳ là hai đối tác chặt chẽ trong việc thúc đẩy tự do và an ninh,” Obama nhấn mạnh.

Ông B. Komorowski sinh năm 1952, là nhà sử học, con của một gia đình trí thức Ba Lan có truyền thống yêu nước. Từ năm 1977 ông tham gia tích cực lực lượng đối lập trong “Phong Trào Bảo Vệ Nhân Quyền và Công Dân”, từ năm 1980 ông gia nhập Công Ðoàn Ðoàn Kết và bị chính quyền cộng sản bắt giam trong giai đoạn 1981-1982.

Sau khi chế độ cộng sản sụp đổ, từ năm 1990, ông liên tục là đại biểu Quốc Hội Ba Lan, đã từng giữ chức bộ trưởng Quốc Phòng, phó chủ tịch Quốc Hội và hiện đang giữ chức chủ tịch Quốc Hội. Sau khi Tổng Thống Lech Kaczynski tử nạn hôm 10 tháng 4, 2010, ông kiêm nhiệm chức tổng thống tạm thời.

Ðảng cầm quyền Cánh Trung Hữu PO từ giờ phút này với tổng thống thuộc đảng mình sẽ có nhiều thuận lợi cho các chương trình cải cách. Nhưng họ cũng đang đứng trước thử thách to lớn và liệu có phạm sai lầm lạm quyền như các chính phủ trước hay không.

Trong khi vận động tranh cử vòng II, ông B. Komorowski xin cử tri cho ông 500 ngày bình yên để chính phủ và tổng thống thực thi những hứa hẹn. Ý ông muốn nói rằng, sau khoảng 500 ngày nữa sẽ có bầu cử Quốc Hội, lúc đó cử tri có đủ cơ hội để loại bỏ chính phủ PO, nếu ông và chính phủ làm ăn không ra gì.

Hai đảng đối lập trong Quốc Hội Ba Lan hiện nay, một là đảng “Luật Pháp và Công Lý” của đối thủ J. Kaczynski, hai là Liên minh Cánh Tả Dân Chủ đều tăng thêm rất nhiều ủng hộ viên qua chiến dịch tranh cử tổng thống.

Cho nên, 500 ngày để chứng minh không phải là thời gian ngắn, nhưng cũng phải nhiều lắm cho đảng cầm quyền PO và Tân Tổng Thống B. Komorowski.

PO và tổng thống của mình trên sân chơi được hưởng những quả phạt 11 mét, nhưng phải ý thức được rằng, không phải quả nào cũng có thể lọt lưới và đối thủ không phải là tay vừa!

(Nguồn: Lê Diễn Ðức blog)
Lê Diễn Ðức
Warszawa 5 tháng 7, 2010

Posted: Sat Jul 10, 2010 3:56 am
by quaichao
Tướng Công An Gài Bẫy Sex Chủ Tịch tỉnh Hà Giang?
Có phải chuyện ông Chủ Tịch Tỉnh Hà Giang bị chụp ảnh cởi truồng là do Tướng Công An dàn dựng?
Một bản tin trên báo Tiền Phong cho biết thêm một số chuyển biến về câu chuyện Chủ Tịch Tỉnh Hà Giang Nguyễn Trường Tô mua dâm gái vị thành niên bị đổ bể là có bàn tay một Tướng Công An.
Báo Tiền Phong viết bài có nhan đề “Liên quan đến vụ đề nghị cách chức Chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang: Ông Nguyễn Trường Tô tố ngược Giám đốc CA tỉnh,” trích:
“...Trong cuộc trao đổi với PV Tiền Phong chiều qua (8-7), ông Vũ Trung Lâm - Bí thư Chi bộ Tổng hợp Văn phòng UBND tỉnh Hà Giang - cho biết, sau khi đại diện Văn phòng UBND tỉnh được Ủy ban KTT.Ư mời về Hà Nội để nghe thông báo kết luận về ông Nguyễn Trường Tô, trong đó có nêu “ông Tô sống buông thả, quan hệ thiếu lành mạnh”, ông Lâm đã có ý kiến phản ứng (?).
Cụ thể, phản ứng này đã được Chi bộ Tổng hợp Văn phòng UBND tỉnh Hà Giang thể hiện rõ trong lá đơn kiến nghị đề ngày 27-5, gửi lên nhiều cơ quan Trung ương.
Văn bản này nêu, ngày 17-5, Đoàn công tác của Ủy ban KTT.Ư đã mời Bí thư Đảng ủy và Bí thư Chi bộ Tổng hợp Văn phòng UBND tỉnh Hà Giang dự họp, thông qua Báo cáo kết quả kiểm tra về dấu hiệu vi phạm đạo đức, lối sống, đồng thời lấy ý kiến bằng hình thức bỏ phiếu của các đồng chí trong Ban thường vụ Tỉnh ủy về hình thức kỷ luật đảng đối với đồng chí Nguyễn Trường Tô.
Báo cáo kết quả kiểm tra có nội dung chính là việc đồng chí Tô quan hệ bất chính với chị Nguyễn Thị D. (trú tại Việt Lâm, Vị Xuyên, Hà Giang) tại một nhà nghỉ ở Hà Nội vào năm 2005, trong đó có những tình tiết như chị D. có số điện thoại, có những bức hình chụp đồng chí Tô bằng điện thoại di động, và có lời khai tại cơ quan Công an và trực tiếp với tổ công tác Ủy ban KTT.Ư.
Theo ông Lâm, tại cuộc họp này, ông Tô phủ nhận việc quan hệ bất chính với chị D. Ông Tô phát biểu, ông không hiểu tại sao lại có những bức ảnh đó, ai chụp, chụp lúc nào, ở đâu, và chụp để làm gì (?). Còn số điện thoại của Chủ tịch tỉnh, theo ông Tô thì nó được in công khai trong cuốn danh bạ của tỉnh, mọi người cùng biết…
Về cuộc họp của Thường vụ Tỉnh ủy hôm đó, ông Lâm cho biết, đã có ý kiến thắc mắc rằng tại sao sự việc xảy ra từ năm 2005, cơ quan pháp luật phát hiện năm 2006, nhưng đến nay mới đưa ra xử lý?
Khá bất ngờ, trong cuộc trao đổi với PV Tiền Phong, ông Lâm còn cho biết: Cũng vào ngày 27-5, ông Nguyễn Trường Tô đã ký một văn bản báo cáo một số vấn đề có dấu hiệu sai phạm liên quan đến Thiếu tướng Nguyễn Bình Vận - Giám đốc Công an tỉnh Hà Giang. Văn bản này được gửi đến cơ quan cấp T.Ư và Thường vụ Tỉnh ủy Hà Giang.
Theo ông Lâm, ông Tô đã nêu ra dấu hiệu một vụ “ném đá giấu tay”. Đó là vụ một công dân ký tên Hứa Như Bình (không có địa chỉ) gửi đơn đến nhiều cán bộ có trách nhiệm, cho rằng “ông Vận mới xứng đáng ở cương vị cao hơn, chứ không phải là ông Tô, ông Vinh” (?!). Đặc biệt, trong bản báo cáo đề ngày 27-5, ông Tô khẳng định Giám đốc Công an tỉnh Hà Giang đã quan hệ bất chính với nhiều phụ nữ (?!).
Trước những thông tin nói trên của ông Vũ Trung Lâm, PV Tiền Phong đã thẩm tra lại qua ông Nguyễn Trường Tô; ông Tô khẳng định “dám chịu trách nhiệm với toàn bộ nội dung bản báo cáo này”...”
Một chuyển biến lạ nữa là, “Các bị can bất ngờ từ chối luật sư,” theo bản tin từ báo Pháp Luật. Bản tin báo Pháp Luật viết:
“Liên quan đến vụ hiệu trưởng Sầm Đức Xương mua dâm nữ sinh, ngày 8-7, gia đình các bị can Nguyễn Thị Hằng và Nguyễn Thị Thanh Thúy cho biết cả hai em đã viết đơn gửi các cơ quan chức năng từ chối luật sư.
Theo gia đình hai em, việc từ chối này khiến họ khó hiểu bởi trước đó nhờ có sự trợ giúp về mặt pháp lý của luật sư mà tại phiên xử phúc thẩm, hai em đã dũng cảm khai ra danh sách đen với hàng loạt cán bộ, quan chức của tỉnh Hà Giang có hành vi mua dâm khiến TAND tỉnh Hà Giang phải đi đến quyết định hủy bản án sơ thẩm.”
Người ta tin rằng công an đã áp lực để làm chìm xuồng vụ án mua dâm trẻ vị thành niên, bằng cách khủng bố các bị can để từ chối luật sư.

Posted: Sun Jul 11, 2010 7:32 am
by quaichao
Chạy đua quân sự hay kinh tế?

Ngô Nhân Dụng
Chủ Nhật vừa qua, ngày 4 tháng 7, 2010, nhật báo South China Morning Post ở Hồng Kông loan tin ba tầu ngầm của Mỹ mang theo tổng cộng 452 hỏa tiễn Tomakawk đang cập bến tại ba hải cảng vùng Á Châu. Bị chất vấn, nhân viên chính phủ Mỹ giải thích rằng sự hiện diện của ba tiềm thủy đĩnh cùng một lúc trong một vùng chung quanh nước Trung Hoa này là một sự tình cờ, không có dụng ý nào cả. Phát ngôn viên Tòa Ðại Sứ Trung Quốc tại Washington cũng rất dè dặt, chỉ tuyên bố rằng ông “hy vọng các hành động quân sự của chính phủ Mỹ sẽ mang lại hòa bình, ổn định và an ninh trong vùng, chứ không vì lý do nào khác.”

Những lời lẽ ôn hòa trên không che giấu được mối căng thẳng thường trực trong bang giao giữa hai nước lớn đang tranh giành ảnh hưởng ở Thái Bình Dương. Vì nước Mỹ hiện nay chỉ trang bị hỏa tiễn Tomakawk trên 4 chiếc tầu ngầm, và tháng 6 vừa qua là lần đầu tiên cả 4 chiếc tầu này cùng rời nước Mỹ đi chu du thế giới. Những tầu ngầm này, thuộc loại gọi là Ohio-class, trước đây trong thời chiến tranh lạnh chỉ dùng để mang hỏa tiễn bắn câu vòng (ballistic missile), gắn đầu đạn nguyên tử, thường vẫn chạy dưới nước vòng quanh thế giới, nhắm vào các địa điểm chiến lược của Nga Xô. Ngày nay, nước Mỹ không chờ đợi một cuộc chiến tranh nguyên tử với Nga nữa, cho nên ngoài 14 chiếc tầu ngầm vẫn mang hỏa tiễn nguyên tử còn hoạt động, bom hạch tâm trên 4 chiếc tầu kể trên đã được tháo gỡ. Hiện mỗi chiếc tầu đó được gắn 154 chiếc hỏa tiễn Tomahawk với tầm bắn hơn 1,500 cây số, và trang bị loại loại bom nổ thường, sức nổ khoảng 1,500 tấn. Gọi Tomahawk là một hỏa tiễn cũng không đúng nghĩa. Ðó là những trái bom biết bay, có khả năng tự điều khiển, bay thấp để tránh không bị hỏa tiễn bên địch nhắm bắn phá, vào năm 2001 mỗi chiếc Tomahawk tốn khoảng 600,000 Mỹ kim của người dân Mỹ đóng thuế. Mỹ vẫn đang dùng hỏa tiễn Tomahawk trên các chiến trường Iraq, Afghanistan, trong những cuộc chiến tranh có tính địa phương.

Tuần trước, tiềm thủy đĩnh USS Ohio đã cập bến Vịnh Subic ở Phi Luật Tân, trong lúc chiếc USS Michigan ghé bến Pusan thuộc Nam Hàn và chiếc USS Florida đến bờ đảo Diego Garcia ở Ấn Ðộ Dương. Hải Quân Trung Quốc chắc chắn phải lưu ý tới sự hiện diện bất thường của ba phần tư số hỏa tiễn Tomahawk chở trên tầu ngầm của Mỹ đang đến gần vùng mà họ đang muốn gây ảnh hưởng.

Hai nước Mỹ và Trung Hoa vẫn tiếp tục giao hảo. Mỗi ngày trung bình nước Mỹ nhập cảng một tỷ đô la hàng hóa từ Trung Quốc chở sang, bày bán trong các cửa hàng rẻ tiền và hạng trung ở khắp nơi. Với số tiền thu dư được nhờ bán hàng sang Mỹ, Bắc Kinh vẫn tiếp tục mua công trái phiếu của Mỹ, tức là cho chính phủ Mỹ vay nợ; mặc dù gần đây họ đã gia tăng mua công trái của Nhật Bản để tránh để quá nhiều trái trứng vào trong một cái rổ. Tuần qua, Bắc Kinh lại cho phép đồng nhân dân tệ được lên giá tự do hơn, giá đồng Nguyên đã tăng chút đỉnh so với đô la Mỹ, như chính phủ và các đại biểu Quốc Hội Mỹ vẫn liên tiếp yêu cầu từ mấy năm qua.

Nhưng quyền lợi của nước đông dân nhất và nước giầu mạnh nhất thế giới lúc nào cũng có những khác biệt, không tránh được những cuộc chạy đua và tranh giành ảnh hưởng thường xuyên và liên tục; đặc biệt khi Mỹ vẫn là đồng minh bảo vệ Ðài Loan, mà Trung Quốc thì coi đó là một tỉnh ly khai sẽ có ngày phải hợp nhất với lục địa.

Tháng Giêng năm 2010 Mỹ bán hỏa tiễn Patriot cho Ðài Loan, tổng số trị giá gần 6 tỷ rưỡi đô la; với khả năng làm rào cản ngăn chặn hơn 1000 hỏa tiễn mà Trung Quốc đang bầy bên kia bờ biển để đe dọa. Chính phủ Obama cũng như chính phủ Bush trước đó, giải thích họ chỉ bán vũ khí phòng thủ để thi hành Luật Bang Giao với Ðài Loan mà quốc hội Mỹ đã thông qua năm 1979. Sau vụ bán Patriot, chính quyền Trung Cộng chỉ phản đối lấy lệ vì không muốn gây chuyện với cả Mỹ lẫn Ðài Loan trong lúc đang chuẩn bị ký với Ðài Loan một “thương ước” lâu dài. Nhưng ngay sau đó, Bắc Kinh đã loan báo việc thí nghiệm thành công loại hỏa tiễn chống hỏa tiễn của họ; coi như đã ăn miếng trả miếng rồi. Và cuộc chạy đua vẫn tiếp tục như cũ.

Năm 2007, Bắc Kinh đã thí nghiệm phóng hỏa tiễn lên phá hủy được một vệ tinh nhân tạo cũ, cho thấy khả năng chống vệ tinh của họ, không thua kém việc Mỹ đã biết làm từ năm 1985. Năm 2008, Mỹ lại thí nghiệm này lần nữa, nhưng dùng một hỏa tiễn bắn lên từ một chiến hạm đang chạy ngoài khơi chứ không bắn trên mặt đất liền.

Chính phủ Obama đã thay đổi chính sách mua vũ khí, cho thấy họ có vẻ quan tâm đến những cuộc chiến địa phương nhiều hơn là lo về chiến tranh thế giới như thời chiến tranh lạnh. Tổng Thống Obama và Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ Robert Gates đều chủ trương giảm bớt không mua những “vũ khí đắt tiền” trong khi đó gia tăng loại vũ khí có thể dùng ở những mặt trận như ở Iraq, Afghanistan. Tháng Năm vừa qua, bộ trưởng Gates đã công bố một chính sách mới, nước Mỹ chỉ sản xuất những loại vũ khí để “sử dụng trong các cuộc chiến tranh mà Mỹ đang tham dự, chứ không làm những vũ khí tối tân cho những cuộc chiến tranh dự báo trong tương lai. Chính phủ Mỹ đã ngưng mua thêm máy bay “tàng hình” F22, giảm số hàng không mẫu hạm từ 11 xuống 10 chiếc, vân vân, mặc dù các công ty sản xuất vũ khí và nhiều nhà chính trị phản đối. Dù không nói ra, nhưng người ta hiểu các loại vũ khí được chọn sẽ phù hợp với một cuộc đương đầu với Trung Quốc trong vùng Á Châu, hơn là chọi với Nga, một cường quốc có khả năng cao hơn về những vũ khí tối tân.

Việc đưa các tầu ngầm mang hỏa tiễn Tomahawk sang Á Châu cũng biểu thị một chính sách mới khác của chính phủ Mỹ là chuyển địa bàn chiến lược ưu tiên từ Ðại Tây Dương sang Thái Bình Dương. Tháng trước, Bộ Trưởng Gates mới nhấn mạnh tại một hội nghị an ninh vùng ở Singapore rằng nước Mỹ vẫn có mặt trong vùng Ðông Nam Á để bảo vệ các quyền lợi kinh tế thiết thực. Thứ trưởng quốc phòng Mỹ nhắc lại các lời đó khi đến thăm Hà Nội. Chính phủ Bắc Kinh phản ứng rất dè dặt trước thái độ có vẻ mạnh mẽ này, cho thấy Trung Quốc không muốn gây khó khăn cho cuộc bang giao.

Vì trong việc bang giao quốc tế ngày nay, kinh tế mới là mặt trận chính. Trong lúc phát ngôn viên bộ ngoại giao Bắc Kinh lên tiếng phản đối mỹ bán hỏa tiễn Patriot tối tân cho Ðài Loan thì ở Bắc Kinh hai phái đoàn quốc Cộng đang bàn nhau về một hiệp ước thương mại. Tuần trước, bản Thỏa ước Khung về Hợp tác (ECFA) giữa Ðài Bắc và Bắc Kinh đã được ký kết ở Trùng Khánh, mở đầu một trang sử mới trong việc giao thương giữa hai nước Trung Hoa. Trong hai năm tới, Bắc Kinh sẽ giảm thuế nhập cảng trên 539 loại hàng nhập cảng từ Ðài Loan; trị giá khoảng 14 tỷ đô la được bán sang lục địa mỗi năm, và cho phép doanh nhân Ðài Loan tham dự 11 loại dịch vụ mới trong lục địa, trong đó có dịch vụ ngân hàng. Nhiều sản phẩm nông và ngư nghiệp của Ðài Loan được bán sang Trung Quốc với quan thuế thấp mà Ðài Loan không cần phải đáp lại. Trong khi đó Ðài Loan sẽ chỉ phải giảm thuế trên 267 loại hàng mà Trung Quốc xuất cảng, trị giá mỗi năm chỉ có gần 3 tỷ Mỹ kim.

Tại sao Bắc Kinh lại rộng rãi như vậy đối với một chính quyền ‘thù địch” do Trung Quốc Quốc Dân Ðảng lãnh đạo? Bởi vì họ muốn ủng hộ chính phủ Quốc Dân Ðảng của Tổng Thống Mã Anh Cửu, được giới doanh thương ủng hộ, trong cuộc đối đầu với Ðảng Dân Tiến có khuynh hướng muốn tách Ðài Loan ra làm một nước độc lập. Ðảng Dân Chủ Tiến Bộ đã tổ chức biểu tình trên 30,000 người phản đối thỏa hiệp trên, nhưng sau một năm 2009 mà kinh tế Ðài Loan suy thoái, GDP giảm bớt 2%, thì bất cứ hiệp ước nào gia tăng xuất cảng đều được dân chúng ủng hộ. Mặt khác, sau thỏa hiệp mới với lục địa, chính phủ Ðài Loan hy vọng sẽ dựa vào đó để ký các hiệp ước thương mại song phương với các nước Ðông Nam Á; một điều mà các nước này còn dè dặt vì sợ Trung Cộng phản đối. Năm nay, Trung Hoa lục địa bắt đầu thương mại tự do với khối ASEAN, Ðài Loan không thể chậm chân quá!

Bắc Kinh và Ðài Bắc đều chủ trương chỉ có một nước Trung Hoa, và việc thống nhất sẽ có ngày thực hiện; họ chỉ không nói rõ là trong 50 năm hay 100 năm! Trong khi chờ đợi, phát triển kinh tế là mối ưu tiên hàng đầu. Vì vậy, không riêng với Ðài Loan, chính sách ngoại giao của Bắc Kinh với Mỹ cũng coi kinh tế là chủ yếu, các liên hệ khác là phụ.

Tháng Tư năm ngoái, chiến hạm U.S.S. Fitzgerald, trọng tải 6,800 tấn, đã tiến vào bến Thanh Ðảo, tham dự lễ kỷ niệm 60 năm Hải Quân Trung Quốc được thành lập vào năm 1949, khi 9 chiến thuyền của Trung Hoa Quốc Dân Ðảng đào ngũ chạy theo Cộng Sản. Có 14 quốc gia gửi tầu chiến đến tham dự lễ ăn mừng này! Trung Quốc đang chế tạo hàng không mẫu hạm đầu tiên, và đã biến đảo Hải Nam thành một căn cứ hải quân hùng mạnh. Nhưng khi Mỹ đưa 3 tầu ngầm tới các hải cảng chung quanh nước Tầu, giống như để thể hiện những lời của ông Gates nói ở Singapore tháng trước, thì Bắc Kinh không một lời phản đối. Hiển nhiên, trong mối bang giao Mỹ-Trung Quốc, kinh tế mới quan trọng. Hai nước đang giao hảo, còn trên mặt trận quân sự thì vẫn tiếp tục gờm nhau.

Trong cuộc chạy đua vũ khí hiện nay, còn lâu Trung Quốc mới hy vọng theo kịp Mỹ. Hiện nay ngân sách quân sự của Mỹ khoảng 700 tỷ đô la, cao gấp 10 lần con số chính thức của Trung Quốc, và lớn hơn tổng cộng ngân sách quốc phòng của tất cả các nước khác trên thế giới cộng lại. Tất nhiên, Trung Cộng có thể đã chi gấp hai, ba lần con số công bố chính thức, nhưng dù vậy cũng vẫn còn quá ít so với Mỹ. Cho nên, Bắc Kinh giữ thái độ im lặng và hòa hoãn là phải.

Posted: Mon Jul 12, 2010 4:40 am
by khieulong
Thụy Ðiển, Việt Nam hội luận về tham nhũng
* Võ Long Triều


Vấn đề tham nhũng ở Việt Nam trở thành một thông lệ, có thể nói là một thứ luật bất thành văn. Nó làm đình trệ sự phát triển kinh tế, làm cho đầu tư nước ngoài phải do dự, thế giới chê cười. Người Việt ở hải ngoại về thăm quê hương phải lót năm, mười đô la trong hộ chiếu mới qua được cửa khẩu dễ dàng.
Image
Một trường học tại Việt Nam. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)
Tham nhũng tạo bất công, gây bất mãn tràn đồng, làm băng hoại xã hội. Ba mươi lăm năm cai trị đất nước đảng viên cộng sản, từ giai cấp bần cố nông, bỗng nhiên có nhà cao cửa rộng, có nếp sống giàu sang phú quí, trở thành chủ nhân ông, họ quên hết quá khứ, lý tưởng, lập trường vì dân vì nước. Lý tưởng ngày nay của họ là đô-la Mỹ. Vị lãnh đạo nào cũng là triệu phú, tỷ phú, nghèo nhứt cũng có năm bảy trăm ngàn đô. Danh sách tên tuổi và gia sản tính bằng USD được phổ biến trên Internet. Tên tuổi và tài sản đúng hay sai, ít hay nhiều, không cần biết. Ðiều chắc chắn là có.

Người ta phổ biến những hình ảnh có thật tại Việt Nam, nhà cửa đồ sộ, trang trí toàn đồ quí giá, của các ông cựu Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng có nhà ở Cần Thơ và Saigon do 17 vị tướng đồng ký tên tố cáo đích danh, Thiếu Tướng Nguyễn Chí Thanh Tổng Cục II có 5 căn nhà bán hết 2 do 38 vị tướng lãnh vạch trần khi các ông kiến nghị phản đối ông Thanh kỷ luật Trung Tá Vũ Minh Trí, người dám tố cáo thiếu tướng cục trưởng. Còn bao nhiêu hình ảnh nhà cao cửa rộng khác, có tên sở hữu chủ và địa chỉ hẳn hoi của những ông chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, bí thư tỉnh ủy, Trưởng ty công an vân vân và vân vân. Ðó là tài sản trong xứ, còn tài sản của các quí tử đi du học ở nước ngoài tạo sẵn và bỏ tiền trong nhà băng không ai có thể kiểm được.

Tiếng xấu đồn xa, nhà nước Thụy Ðiển có xu hướng khuynh tả, ít nhiều theo chủ nghĩa xã hội, thấy tội nghiệp nhóm người bần cố nông Việt Nam đang lạc đường mất hướng, nên viện trợ cho Hà Nội một khoản tiền để điều tra và chống tham nhũng. Hà Nội chấp nhận ngay nhưng lại yêu cầu không phổ biến kết quả. Nhà nước Thụy Ðiển trả lời chúng tôi xài tiền của Quốc Hội phải có nhiệm vụ phúc trình hiệu năng của số tiền đã chi dùng. Nói vậy chớ chính phủ Thụy Ðiển cũng thông cảm nên đề nghị cứ mỗi sáu tháng phải họp một lần để thảo luận và nghiên cứu biện pháp bài trừ tham nhũng.

Lần hội họp ngày 28 tháng 5 năm 2010 với đề tài thảo luận do Việt Nam chọn lấy đó là “Tham nhũng trong ngành giáo dục,” theo lời xác nhận của bà Phó Ðại Sứ Marie Ottosson.

Ðể biện hộ cho sự trong sạch của nền giáo dục của Việt Nam, Thứ Trưởng Giáo Dục & Ðào Tạo, cùng với thanh tra chính phủ khẳng định: “Vấn đề tham nhũng trong lãnh vực giáo dục tại Việt Nam không có gì trầm trọng. Các ông lập luận rằng tiền cấp cho các cơ sở giáo dục ít, nên tham nhũng ít. Trên toàn quốc có 40,000 cơ sở giáo dục mà tiền không có nhiều nên không thể cung cấp nhiều.” Thực tế ngân sách giáo dục chiếm 20% ngân sách quốc gia, trong khi ở các nước tân tiến chỉ sử dụng khoảng 6%. Mỹ hơn 7%.

Những người tham dự phiên họp đưa ra toàn những con số thống kê không thể chối cãi được về tình trạng bi đát của ngành giáo dục Việt Nam làm cho mọi người phải suy nghĩ và lo ngại cho tương lai đất nước. Thử tuần tự điểm qua những gì xảy ra trên thực tế trong ngành giáo dục Việt Nam:

-Muốn xin cho con vô trường lớn nhỏ, tốt xấu gì cũng phải chạy qua các cửa ải. Chữ “chạy” ở đây phải hiểu là chi một khoản tiền ít nhứt là vài triệu. Muốn vào trường Lê Quí Ðôn phải mất hơn $2,000 USD.

-Khi thi lên lớp, vào đại học, hay lấy bằng thường phải mua điểm, vấn đề này trở thành phổ biến, học sinh và phụ huynh đều biết. Mua điểm ở Bạc Liêu mất 550 triệu đồng.

-Tại cuộc hội thảo người ta đưa ra con số 71% các phụ huynh ở ba thành phố Hà Nội, Saigon, Ðà Nẵng xác nhận phải bỏ tiền để xin cho con vào trường tốt. Con số 71 này đúng hay sai, quá lớn hay nhỏ hơn không quan trọng, nó xác nhận sự bất công trong xã hội nghèo giàu.

-Lương giáo viên không đủ sống, phải mở lớp dạy tư để kiếm tiền, do đó họ dạy không hết tình trong trường để cho học sinh đến nhà học thêm. (Lương giáo viên mỗi tháng 2.5 triệu, dạy thêm được 1.9 triệu). Lương công nhân mỗi tháng 1.2 triệu!

-Kết quả những cuộc khảo sát cho biết 40% gia đình phải mất 10% tiền thu nhập gia đình cho 1 đứa con đi học thêm.

-Gánh nặng giáo dục mà gia đình phải gánh chịu dẫn đến tình trạng bỏ học.

-Thống kê cho biết tổng số học sinh cả nước là 22 triệu. Mỗi năm có 1.2 triệu đến 1.5 triệu trẻ em ra đời. Trong khi số học sinh không thay đổi như vậy chứng minh hằng năm có 1.2 đến 1.5 học sinh bỏ học! Hậu quả của tham nhũng dẫn đến bất công, đưa quốc gia đến chậm tiến vì thanh niên thất học.

-Ông Martin Roma, chuyên viên kinh tế của ngân hàng thế giới, xác nhận ông biết được là tiền chạy vào truờng đã là gánh nặng mà còn một khoản tiền khác gọi là “Tự Nguyện” mà phụ huynh học sinh phải đóng góp thêm nhưng nếu không tự nguyện thì không xong! Sự tự nguyện cho mỗi năm, có nơi còn phải mỗi tháng. Bởi vì các cơ sở giáo dục trên toàn quốc có quyền đặt thể lệ riêng mà bộ không hề lưu ý đến.
-Học phí quá nặng. Ðầu tháng 11 năm 2009 báo VNexpress tố bộ Giáo Dục & Ðào Tạo để cho trường Ðại Học Công Nghiệp Saigon bắt học sinh phải đóng học phí gấp đôi. Cũng báo này đưa tin một học sinh Ðại Học Công Nghiệp Hà Nội phải đóng 1.8 triệu học phí theo qui định và phải cộng thêm 1.8 học phí tăng cường tổng cộng 3.6 triệu, trong khi bộ khẳng định học phí không tăng!

Giáo Sư Tiến Sĩ Nguyễn Ðình Cử cho biết có 9 hình thức tham nhũng trong ngành giáo dục ở việt Nam: Chạy trường, mua điểm, dạy thêm, độc quyền xuất bản sách giáo khoa, tuyển dụng, đề bạt và hoán chuyển giáo viên, rút ruột các công trình xây dựng cơ sở giáo dục, xới bớt tiền khi mua thiết bị, xới bớt kinh phí dụ án giáo dục.

Ðại sứ Thụy Ðiển tại Việt Nam ông Rolf Bergman phát biểu: “Quá trình chuyển đổi qua nền kinh tế thị trường của một nước có thu nhập trung bình chỉ có thể đạt được nếu chúng ta khuyến khích tự do suy nghĩ và những ý tưởng mới. Ðiều này không thể có được nếu các cơ sở giáo dục và các trường đại học là nơi mà điểm thi, nghề dạy học và cơ hội nhập học đều có thể mua được bằng tiền. “Tham nhũng nước nào cũng có ít nhiều, trong một xã hội tân tiến hay chậm tiến, những người có điều kiện hối mại quyền thế họ làm ăn rất kín đáo. Dù vậy ít người thoát khỏi cảnh tù tội, cho dù đổi tên họ, trốn chui trốn nhủi hay lưu vong. Còn tại Việt Nam thì đa số các quan tham nhũng thường được thong dong tự tại hay được giảm án. Tội nặng biến thành nhẹ, tội nhẹ biến thành án treo hay hóa không. Báo chí lề phải cũng phê bình quan tòa xử phạt án treo nhiều quá!

Tại sao?

Phải nói ngay quân nhân cộng sản Bắc Việt tự hào thuộc giới bần cố nông, sống trong điều kiện nghèo khổ thiếu thốn. Do đó sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 xâm chiếm được miền Nam họ thi nhau chuyên chở hàng hóa về Bắc. Rồi đến lược đánh tư sản, thêm một lần nữa đảng viên có dịp chiếm của mà không mất công tạo thành. Con người làm bằng xương thịt, biết sướng biết khổ, biết tham tiền ham danh lợi.

Cho nên khi cái gọi là “cách mạng thành công” thì phải tưởng thưởng những đồng chí đã từng hy sinh chiến đấu, phân chia chức vụ, bao che lỗi lầm.

Năm 1992, Thủ Tướng Võ Văn Kiệt mời ông Lý Quang Diệu sang thăm Việt Nam, cựu Thủ Tướng Mã Lai Á, một doanh gia kinh tế đã hóa phép biến xứ Malaisia thành một trong những con rồng Ðông Nam Á. Nhân cơ hội Võ Văn Kiệt xin ông cố vấn cho Việt Nam. Lý Quang Diệu phán ngay: “Nếu nhà nước muốn thưởng công cho các chiến sĩ thì cấp cho họ tiền hưu hay tiền thưởng đặc biệt cao. Không nên cử họ vào những chức giám đốc công ty, chủ tịch huyện hay tỉnh, bởi vì những người này không biết quản trị hành chánh và chuyên môn, nên sẽ phá hư nền kinh tế.” Nhưng Hà Nội chẳng những không dám tin chuyên gia miền Nam lại còn phải đền đáp công lao cho các đồng chí và bao che họ trong mọi lỗi lầm và sự hối mại quyền thế. Cho nên tham nhũng bắt đầu và lan rộng ngày càng phổ biến.
Lý do thứ hai là cấp trên bao che thì bên dưới phải đền ơn. Thông lệ này nhanh chống trở thành một hệ thống làm tiền hữu hiệu. Cấp trên ngồi không hưởng lợi, cấp dưới yên tâm lạm dụng vô tội vạ. Mỗi cá nhân hay phe nhóm từ bộ Chính Trị xuống dài đến tỉnh ủy đều có đường dây ăn chịu. Báo chí nước ngoài hay trong xứ có khui bể mánh thì có ô dù của cấp trên che chở. Những vụ động trời như giám đốc PMU 18 lấy công quỹ cá độ banh, mất cả trăm triệu USD mà điều tra xử án mấy năm trời không xong, rủi thay đương sự bệnh chết trong tù hay cá nhân lãnh đạo nào đó cho người diệt khẩu cũng không chừng.
Giám Ðốc Sĩ bị báo chí Nhật Bản tố cáo và áp lực triệt để mới bị bắt giam, tội nặng tày trời đổi thành tội cho mướn nhà bất hợp lệ, xử mãi chưa xong! Rồi vụ in tiền giấy Polimer, báo chí Úc phanh phui, Việt Nam điều tra chưa ngã ngũ. Hiện tại, Thanh Tra nhà nước kiểm nghiệm và phán quyết tập đoàn công nghệ tàu thủy Vinashin mất mát 80,000 tỷ đồng vì chủ tịch tổng giám đốc để cho con và anh ruột quản lý nguồn vốn nhà nước. Chủ tịch còn có tội trục lợi cá nhân. Rồi đây cũng sẽ có người bao che hay nếu cần thì diệt khẩu.
Tham nhũng là một tệ nạn, nó gây tai hại không ít, nhưng quan trọng và ghê gớm hơn cả là nó làm băng hoại những thế hệ trẻ lâu dài. Ngay từ lúc các em mới học cung cách, lễ nghĩa, văn chương, khoa học mà chúng nó được dạy rằng tất cả đều có thể mua bằng tiền. Và khi chúng nhìn qua xã hội bên ngoài, các ông thầy, các ông lớn có thể ngự trị với bằng cấp giả. Thậm chí báo còn công khai quảng cáo những tổ chức học mướn, thi mướn, thì giáo dục học đường trở thành vô nghĩa không tối cần thiết nữa. Tại hại lâu dài nhứt phải nói là đầu óc các em không còn khả năng nghĩ công bằng, không còn tin công lý, chỉ tìm cách chạy chọt đút lót, chỉ biết tiền là phương tiện duy nhứt đề thành công. Thiên đàng cộng sản là như thế. Bằng cớ những ông tổng bí thư, dù tại chức hay không, đều sống trong cảnh địa đàng.

Võ Long Triều
7 tháng 7, 2010