Page 40 of 180

Posted: Sun May 16, 2010 5:23 am
by hoanghoa
ĐẠO ĐỂ LÀM GÌ ?
Lm Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh
Chuyện lạ đời chưa từng xảy ra Hình như cho đến nay, chưa hề có một cuộc lễ nào của Công Giáo, mà Ban Tổ Chức phải ra thông cáo thận trọng dặn dò các tín hữu đi tham dự thánh lễ : “đừng mang theo những gì không cần thiết”, như trường hợp lễ nhậm chức Phó Tổng Giám Mục Hà Nội của Đức Cha Phê-rô Nguyễn Văn Nhơn ngày 07-05-2010 vừa qua. Nay thì Ban Tổ Chức có thể thở phào nhẹ nhõm, vì đã không có gì đáng tiếc xảy ra. Ta hãy thử xem có thể học được gì từ buổi lễ khác thường này.

Chiên chứ không phải cừu Sở dĩ đã không có gì đáng tiếc xảy ra vì giáo dân Việt Nam vốn có tinh thần kỷ luật rất cao. Ngay cả lúc xảy ra những vụ dầu sôi lửa bỏng như Thái Hà hay Tam Toà, họ vẫn biết tự chế. Nhưng cái mới, cái lạ là ngày nay giáo dân, tuy là những con chiên, nhưng không còn chấp nhận là những con cừu, ai nói gì cũng nghe, ai bảo sao cũng được. Cứ đọc bao nhiêu bài viết trên mạng trong thời gian vừa qua thì thấy rõ. Những khi cần, và có dịp để bày tỏ ý kiến, giáo dân không còn sợ nữa. Và họ có dư thừa sáng kiến để bày tỏ nguyện vọng của mình, tình cảm của mình. Lễ nhậm chức Giám mục Phát Diệm của Đức Cha Nguyễn Năng đã là một ví dụ. Nay đến lễ nhậm chức Phó Tổng Giám Mục Hà Nội của Đức Cha Nhơn. Trước mặt tiền nhà thờ chính toà Hà Nội, ta thấy một biểu ngữ nền đỏ chữ vàng Hân hoan chào mừng Đức Tân TGM Phó Phêrô. Biểu ngữ này chắc chắn là của Ban Tổ Chức. Nhưng tội nghiệp cho cái biểu ngữ đó : nó mới lẻ loi làm sao, đơn độc làm sao, giữa một rừng biểu ngữ nền vàng chữ đỏ :

– Tôn vinh Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt
– Chúng con yêu mến Đức Tổng Giu-se
– Chúng con đồng hành với Đức Tổng Giu-se
– Đức Tổng Ngô Quang Kiệt mới là người chủ chăn đích thực
– Đức Cha Giu-se Ngô Quang Kiệt mãi mãi là Tổng Giám Mục của chúng con
– Tinh thần Ngô Quang Kiệt bất diệt, v.v…


Được biết là trước lễ nhậm chức này, đã có một thỉnh nguyện thư với trên 15 000 chữ ký (nếu có thời gian và điều kiện để gom chữ ký, chắc con số này sẽ tăng lên rất nhiều lần). Nội dung thư này là xin Đức Giáo Hoàng đừng chấp nhận đơn xin từ chức của Đức Cha Ngô Quang Kiệt, nhưng tiếp tục giữ ngài lại trong chức vụ Tổng Giám Mục Hà Nội. Nghe đâu có vị quan chức người Việt bên Vatican nghe biết sự việc, đã vội bắn tiếng : làm như thế là chống đối Toà Thánh ! Đúng là trò nhát con nít, vì bày tỏ nguyện vọng và chống đối là hai việc khác nhau. Và những con người nặng óc giáo sĩ trị, thì chỉ muốn giáo dân mãi mãi là những trẻ vị thành niên, và rất sợ những tín hữu trưởng thành. Nhưng điều đáng ngạc nhiên, mà lại rất đáng mừng, là hôm nay giáo dân, rõ ràng nhất là tại Hà Nội, không chỉ biết vâng lời, nghĩa là tuân lệnh, nhưng còn biết đối thoại, biết bày tỏ ý kiến của mình, biết đề đạt nguyện vọng của mình.


Trên bậc thang quyền bính, thì giám mục, đến linh mục, rồi mới đến giáo dân. Nhưng những gì ta chứng kiến trong cuộc lễ hôm nay cho ta hiểu tại sao Đức Cha Lê Đắc Trọng, về cuối đời, lại nhận định : giáo dân hơn linh mục, linh mục hơn giám mục. Giá mà nhận định này cũng là nhận định nếu không phải của mọi giám mục, thì cũng là một số nhiều nhiều, và nhận định đó được đưa ra sơm sớm trước khi gần nhắm mắt, thì phúc cho Giáo Hội biết chừng nào !
Dấu ấn Ngô Quang Kiệt Câu hỏi đặt ra là do đâu mà Đức Tổng Kiệt lại được giáo dân ngưỡng mộ, kính yêu đến như vậy. Ngài không thuộc hàng khoa bảng, bằng cấp cùng mình, không phải là người có tài hùng biện để thu hút, mê hoặc người nghe. Năm năm làm Tổng Giám Mục Hà Nội là thời gian quá ngắn để đáng được lưu danh bằng cách đặt tên mình cho một công trình kiến trúc như hội trường tại một Trung Tâm Mục Vụ. Thế nhưng cứ nhìn rừng biểu ngữ được giương cao, nhìn những tấm hình của ngài được các tín hữu ôm trước ngực một cách vừa kính cẩn, vừa trìu mến, ta có thể hiểu được dấu ấn Đức Tổng Kiệt để lại trong óc, trong tim người giáo dân Hà Nội sâu đậm đến mức nào. Có lẽ tấm biểu ngữ “Tinh thần Ngô Quang Kiệt bất diệt” đã gói ghém mọi lý do của lòng cảm phục sâu sắc và yêu mến thiết tha mà giáo dân Hà Nội dành cho ngài. Tinh thần Đức Tổng Kiệt được thể hiện qua cách ngài làm mục vụ : không quản ngại đến chia sẻ với người dân khi họ gặp khó khăn thử thách, chẳng hạn lúc xảy ra thiên tai, đến thăm viếng ủi an khi họ bị đập đánh, bị thương tật, mạnh dạn tuyên bố sẵn sàng thay thế cho ai vì nghe lời ngài kêu gọi cầu nguyện mà phải đi tù.

Liều chết vì đoàn chiên Nhưng có lẽ quan trọng nhất là Đức Tổng Kiệt đã dám đứng về phía người nghèo, người bị lường gạt, bị bóc lột, bị áp bức, để dõng dạc tuyên bố trước bạo quyền : Tự do tôn giáo là quyền chứ không phải là ân huệ xin-cho. Tìm ra được một gương mặt quả cảm trong hàng ngũ lãnh đạo hôm nay là chuyện quá hiếm. Ngài không ngoảnh mặt lên trời mà nói sảng, không dừng lại nơi những lý thuyết cao xa, những nguyên tắc trừu tượng. Khi mục tử bất chấp hiểm nguy cho tính mạng, can đảm đứng ra bênh vực đoàn chiên, thì lòng kính trọng và ưu ái được dành cho ngài chẳng có gì khó hiểu. Mục tử không phải là kẻ chăn thuê, chính Đức Giê-su đã từng cảnh báo (Ga 10,12). Đức Tổng Kiệt đã thể hiện lời giáo huấn của Chúa Giê-su : “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13). Nay ngài ra đi, nhưng tinh thần của ngài sẽ tồn tại mãi.

Lời người ra đi Trong buổi lễ nhậm chức, Đức Tổng Kiệt là người giới thiệu Tân Tổng Giám Mục Phó. Nghe giọng nói đĩnh đạc, đanh thép của Đức Tổng Kiệt, ta không thể nghĩ đó là giọng nói của một người mệt mỏi vì mất ngủ triền miên. Lời giới thiệu của ngài ngắn gọn, nhưng đầy đủ những điều cần nói, và nói rất hay. Một áng văn tuyệt vời ! Quá nhiều thiệt thòi và quá nhiều đau khổ, đó là nhận định của ngài về Tổng Giáo Phận Hà Nội. Tuy là gốc Bắc, nhưng ngài sinh trưởng ở miền Nam . Ra làm giám mục Lạng Sơn, rồi về Hà Nội, ngài có điều kiện để so sánh xã hội và nhất là Giáo Hội ở hai miền Nam Bắc. Nếu hỏi : Quá nhiều thiệt thòi, quá nhiều đau khổ do đâu, thì câu trả lời là quá rõ : là vì miền Bắc hơn miền Nam 30 năm xã hội chủ nghĩa (từ 1945 đến 1975). Đứa con trong gia đình chịu thua thiệt thì cha mẹ phải thương hơn, phải quan tâm chăm sóc hơn. Như thế nào ? Thì đây câu trả lời : “Từ nay ngài (Đức Tân Tổng Giám Mục Phó) không chỉ đồng cảm hay đồng hành với anh chị em nhưng sẽ đồng sinh đồng tử với anh chị em, với giáo phận. Đây không phải là một kiểu nói bóng bảy của một người làm văn, mà là xác tín sâu xa, hơn thế nữa là kinh nghiệm xương máu của người mục tử sắp phải chia tay với đoàn chiên, và cũng là một lời cầu chúc, một lời nhắn gửi, nếu không nói là một lời trối trăng cho người đến thay thế.

“Chàng rể” mới Chiếc nhẫn của giám mục biểu trưng sự gắn bó keo sơn của giám mục với giáo phận của mình, cũng như chiếc nhẫn cưới của cô dâu hay chàng rể. Trong Thánh lễ nhậm chức ngày 7 tháng 5, trông dáng dấp “chàng rể” 72 tuổi, bước chân nặng nề, vẻ mặt căng thẳng, mắt nhìn xuống đất, ta không thấy được vẻ tự tin của người chủ đi về nhà mình. Đọc bài chia sẻ của ngài, ta có cảm tưởng ngài đang đi dây : cố gắng thế nào cho khỏi ngã, khỏi té : một bài chia sẻ Lời Chúa mang tính kinh điển có thể áp dụng cho bất cứ dịp lễ nào. Trong hoàn cảnh khó khăn tế nhị hôm nay, ta không thể đòi hỏi ngài nhiều hơn nữa. Trước cũng như sau Thánh Lễ, nhìn ngài bước đi lầm lũi, trông thật cô đơn. Giá mà kỳ đại hội các giám mục tại Xuân Lộc tháng 10 năm 2008 mà các thành viên trong Hội Đồng, đứng đầu là Đức Cha Chủ Tịch, nghĩ đến giám mục cô đơn Ngô Quang Kiệt, thì ngày hôm nay, Đức Tân Phó Tổng Giám Mục Hà Nội đã không phải cô đơn như thế. Nhưng dù sao thì sự cũng đã rồi !

Người chịu lắng nghe để rút kinh nghiệm Bài diễn văn thứ ba của buổi lễ là của Đức Cha Nguyễn Chí Linh, giám mục giáo phận Thanh Hoá, Phó Chủ Tịch HĐGM/VN. Bài của Đức Cha Linh vừa tạo được sự ngạc nhiên và thích thú, vừa khơi lên niềm hy vọng giữa lúc bao người đang hồi hộp lo âu, băn khoăn tự hỏi : mai này, khi HĐGM/VN và ngay cả Toà Thánh Vatican đã mất nhiều uy tín, trong tình trạng yếu kém vì chia rẽ, lãnh đạo chịu khuất phục kẻ thù, liệu Giáo Hội sẽ đi về đâu ? Bài của Đức Cha Linh không có vẻ gì là lên tiếng cũng như không lên tiếng. Ngài không né tránh, nhưng dám nhìn thẳng vào vấn đề. Đức Cha đã quan tâm theo dõi thời cuộc, không coi thường truyền thông, biết lắng nghe cả những tiếng nói ngược chiều, không vội vàng kết án, nhưng nhìn nhận vai trò tích cực và thiện chí xây dựng ngay cả những người dám phê bình chỉ trích. Ngài nói : “Điểm tích cực đầu tiên là mọi thành phần Dân Chúa đã có cơ hội nói lên nguyện vọng của mình một cách chân thành, đồng thời cũng có kinh nghiệm sâu sắc hơn về vai trò và sứ mệnh của các phương tiện truyền thông thời hiện đại. Kỷ niệm 50 năm thành lập, Hàng Giáo phẩm Việt Nam bước vào một giai đoạn mới qua đó, các bậc chủ chăn được lắng nghe tiếng nói cộng đồng Dân Chúa cách phong phú và cụ thể hơn, đồng thời cũng học được bài học biện phân cách bình tĩnh hơn đối với những thông tin mỗi lúc một đa dạng, đa chiều và phức tạp hơn. Điểm tích cực thứ hai là dù khác biệt, thậm chí có khi là đối lập, nhưng tất cả mọi quan điểm đều có một mẫu số chung là lòng yêu mến Giáo Hội. Suy nghĩ và cách biểu hiện khác nhau, nhưng lòng yêu mến vẫn là một. Trong bối cảnh và tinh thần Năm Thánh 2010, chúng ta hãy xem đây là cơ hội sống tình hiệp thông cách đặc biệt hơn : chúng ta cần phải can đảm hơn khi đối diện với các dị biệt, chúng ta cần phải mổ xẻ chuyện Giáo Hội cách rốt ráo hơn, công khai hơn, nhưng đồng thời trải nghiệm được cái giá phải trả để bảo vệ tình huynh đệ trong đại gia đình Giáo Hội.” Bản thân tôi, và chắc nhiều người khác cũng vậy, nghe bài diễn văn này xong, cảm thấy phấn khởi.

Nhưng rồi tôi lại tự hỏi : liệu Đức Cha Phó Chủ Tịch HĐGM/VN có phản ánh quan điểm của HĐGM/VN vào thời điểm này sau khi đã rút tỉa kinh nghiệm từ nhiều bài học đắt giá, hay đây chỉ là quan điểm của cá nhân ngài ? Liệu suy nghĩ này sẽ tồn tại được bao lâu, có sẽ được thể hiện qua những việc làm cụ thể, hay rồi khi cuộc lễ đã tàn thì đâu lại vào đó ? Tâm trạng hoài nghi của tôi chẳng phải không có cơ sở, vì cách đây đúng một năm Đức Cha Nguyễn Văn Khảm đã có một bài viết mang tựa đề “Quan điểm Công Giáo về trách nhiệm của Giáo Hội trước các vấn đề xã hội” trong đó có những lời khẳng định rất mạnh mẽ, tỷ dụ như : “Các vấn đề chính trị và xã hội liên quan đến khía cạnh đạo đức là trách nhiệm đặc thù của Giáo Hội, chẳng hạn chiến tranh, tham nhũng, phá thai, gian dối…”. Thế nhưng một năm đã trôi qua, bài viết của Đức Cha Khảm chỉ nằm trên giấy.


Trở lại với bài diễn văn của Đức Cha Phó Chủ Tịch HĐGM/VN, ta chỉ có thể cầu mong cho thiện ý của ngài, cách nhìn, cách đánh giá tích cực của ngài thực sự phản ánh một thay đổi, tuy muộn màng, của hàng giáo phẩm Việt Nam đối với truyền thông, đối với công luận, để nhìn nhận vox populi, vox Dei, ý dân là ý Trời. Chỉ có vậy mới có thể mong rằng từ cuộc khủng hoảng trầm trọng hiện nay, Giáo Hội Việt Nam có thể vươn mình đứng dậy, khởi đầu bằng việc sám hối.

Tin giờ chót Tôi viết bài này khi Đức Tổng Kiệt đang trong máy bay rời khỏi Việt Nam . Là chứng nhân của Chúa Ki-tô, chứng nhân của sự thật, của công lý, cây tùng cây bách Ngô Quang Kiệt không chỉ bị đốn ngã, bị trốc gốc, mà còn phải bứng đi cho khỏi nước Việt Nam, cho khuất mắt nhà cầm quyền Hà Nội. Cây phải đốn vì cây bị bệnh, nhưng đó chỉ là cái cớ. Điều đáng nói là cây bị đốn cách hợp pháp, với phép lành của Toà Thánh Vatican, và ít nhất là với sự đồng tình của HĐGM/VN. Nhà cầm quyền Việt Nam có thể an lòng : từ nay sẽ không có giám mục nào đứng ra kêu gọi cầu nguyện như Đức Tổng Kiệt nữa. Và có xảy ra điều gì thì cũng sẽ là chuyện địa phương thôi. Nguyên tắc đã có sẵn rồi.

Kết luận Những diễn biến vừa qua cho thấy rằng : Chuyện bắt đạo kiểu xưa đã qua rồi. Đức Tổng Kiệt rời Hà Nội để một vị khác đến, không đơn thuần chỉ là chuyện thay đổi nhân sự. Nay thì không ai “bắt đạo” đâu. Nhưng đạo muốn tồn tại thì phải “biết điều” ! Sẽ có những cuộc lễ linh đình trọng thể, với đầy đủ trống phách, với các tư tế mũ cao áo rộng, sẽ có những cơ sở hoành tráng nếu có tiền (nghe đâu Trung Tâm Hành Hương La Vang dự kiến tốn đến 25 triệu Mỹ Kim trên miền đất “chó ăn đá gà ăn sỏi”). Miễn là đạo đừng ra khỏi nhà thờ, đừng đụng chạm gì đến chế độ độc tài, bất nhân, mặc cho xã hội hoàn toàn băng hoại, dân nghèo bị nghiền nát, trong khi một nhóm tư bản đỏ tự do tung hoành, mặc cho dân tộc ngày càng chui đầu vào vòng nô lệ giặc Tàu, nợ nần quốc gia cứ cao như núi, vì người đi vay biết chắc : người trả sẽ không phải là mình… Trong một xã hội như thế mà người có đạo chỉ vòng tay ngậm miệng đứng nhìn, thì câu hỏi đặt ra là : đạo để làm gì ?

Sài-gòn, ngày 13 tháng 05 năm 2010
Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh ofm
pascaltinh@gmail. com

Posted: Sun May 16, 2010 6:59 pm
by tankhoasinh

Image

Hà nội Mở Chiến Dịch Dùng Việc Từ Chức của
Đức Cha Kiệt Nhằm Triệt Hạ Uy Tín Tòa Thánh


Emily Nguyễn (Asia-News)
Các phương tiện truyền thông của chính phủ Hà nội hiện đang cố gắng vẽ vời về việc từ chức vì lý do sức khỏe của Đức Cha Kiệt như là một chiến thắng của nhà nước, tự phô trương chính mình như là một thứ quyền lực tuyệt đối trong đời sống tôn giáo ở quốc gia này, coi mình là người mà ngay cả Đức Giáo Hoàng cũng phải tuân lệnh.

Hà Nội (Asia-News) - Một chiến dịch đang được giới báo chí trong nước tiến hành nhằm mô tả việc từ chức đang diễn ra của Tổng Giám mục Hà Nội Giuse Ngô Quang Kiệt như là một chiến thắng của nhà nước Việt Nam, qua đó thuyết phục người Công giáo rằng bất kỳ quyết định nào liên quan đến đời sống tôn giáo ở trong nước đều phải phụ thuộc vào đảng Cộng sản. Ngay cả Đức Giáo Hoàng, trong bối cảnh này, cũng phải được sự chấp thuận của họ.

Về tình trạng của Đức TGM Kiệt, hôm qua, tổng giáo phận nói rằng ngài đã rời Hà Nội để tiếp tục cuộc điều trị đã được khởi sự từ hồi tháng Ba - ban đầu là ở Rome và sau đó là Paris - sau khi ngài đã đến dưỡng bệnh hai tháng tại tu viện Châu Sơn cũng cùng một lý do. Ngài đã bị mất ngủ mãn tính và căng thẳng, một tình trạng được cho là xuất phát từ các cuộc tấn công của nhà nước chống lại ngài. Trong gần hai năm, ngài đã không thể ngủ yên giấc. Trong một cuộc phỏng vấn gần đây, Đức Cha Kiệt nói rất rõ rằng ngài đã xin Toà Thánh cho phép mình được từ chức vì lý do sức khỏe. Nhưng cả Toà Thánh lẫn Hội Đồng Giám Mục đều không chấp nhận yêu cầu. Đức Tổng Giám mục Kiệt đã nhắc đi nhắc lại nhiều lần rằng ngay cả trong những giây phút khó khăn nhất của mối quan hệ của ngài với nhà cầm quyền Việt Nam, "Tòa Thánh và Hội Đồng Giám Mục luôn ở bên cạnh tôi".

Dưới đây là vài sự kiện về vấn đề này. Ngày 8 tháng Năm, tại Hà Nội và Saigon, báo chí nhà nước đã tiến hành một chiến dịch nhằm tường thuật về buổi lễ nhậm chức của Đức Tổng Giám Mục Phó mới, Phêrô Nguyễn Văn Nhơn, trong đó nhấn mạnh đi nhấn mạnh lại một câu của Thông Tấn Xã VNA, rằng "được sự chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ, Đức Giáo Hoàng đã tiến hành việc bổ nhiệm này”. Các cụm từ, được lập đi lập lại trong tất cả mọi bản tin, nhằm mục đích thuyết phục người Công giáo rằng tất cả các hoạt động tôn giáo trong nước cần phải có "sự chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ."

Trong những ngày sau đó, truyền thông nhà nước đã tuyên bố rằng việc từ chức của Đức TGM Kiệt sẽ diễn ra trong khoảng ngày 13 và 18 tháng năm. Họ đã nhận được chỉ thị để mô tả sự rút lui này như là một chiến thắng của nhà nước đối với vị tổng giám mục, và là một thành công trong việc ép buộc Vatican phải chấp nhận một "lộ trình", trong đó việc nghỉ hưu của vị Tổng giám mục Hà Nội là một điều kiện cho việc thiết lập quan hệ ngoại giao và (có thể là) cuộc ghé thăm của Đức Giáo Hoàng nữa. Theo những nhà báo này, nhà cầm quyền địa phương đang chuẩn bị một bữa tiệc để ăn mừng "chiến thắng " này của họ.

Việc phổ biến rộng rãi những tin đồn này đang tạo ra khó chịu và nghi ngờ giữa những giáo dân Công Giáo Việt Nam. Các chiến dịch của nhà nước, nói vắn tắt, đã khiến cho các tín hữu rơi vào não trạng cho rằng Tòa Thánh sẵn sàng hy sinh đổi một vị giám mục, người được những giáo dân Công giáo yêu quý nhưng bị chính quyền ghét bỏ để đạt được những mục tiêu "ngoại giao".

Linh mục Dòng Đa Minh Nguyễn Xuân Quế [có lẽ là Đỗ Xuân Quế - chú thích của người dịch] viết như sau "Người Công Giáo Việt Nam đã mất rất nhiều niềm tin nơi chính sách ngoại giao của Vatican và Hội Đồng Giám Mục. Họ không tin vào con đường này, và tin là Vatican không thông hiểu Giáo Hội Việt Nam và không biết gì về thực trạng của Giáo Hội này". "Vatican chẳng biết gì về Việt Nam ngày nay hết", một nhà truyền giáo từng sống tại Việt Nam bao nhiêu năm đã lập lại như thế...

Niềm tin này còn được tăng lên bởi những người lo sợ rằng một kỷ nguyên mới - được xem là tiêu cực - đang được nảy sinh trong quan hệ giữa Vatican và chính phủ Việt Nam, rồi lại được bồi thêm bởi những tin đồn rằng cùng với việc từ chức của Đức TGM. Kiệt, việc từ chức của Đức Giám mục Vinh Phaolô Maria Cao Đình Thuyên, cũng sẽ được công bố. Cả hai vị đều có một lịch sử phản kháng và chống đối kiên cường trong bất kỳ nỗ lực nào của nhà nước nhằm hạn chế tự do tôn giáo hay việc trưng thu sai trái những tài sản của giáo hội.

Emily Nguyễn (Asia-News)

Posted: Mon May 17, 2010 2:28 am
by vuphong
TRUNG CỘNG CHƠI TRÒ QUA MẶT MỸ
Ở BIỂN ĐÔNG VÀ CÁC NƯỚC CHÂU Á


Lý Đại Nguyên


Tổng thống Mỹ, Barack Obama và tổng thống Nga, Dmitri Medvedev ký hiệp ước cắt giảm võ khí hạt nhân của 2 nước, tại thủ đô Czech, hôm 08/04/2010, nhằm lật qua một trang sử mới về một thế giới “không có chiến tranh nguyên tử”. Tổng thống Mỹ, Obama tuyên bố: “Hiệp ước này là một bước quan trọng cho an ninh thế giới: Ngày hôm nay là một dấu mốc quan trọng cho an ninh hạt nhân, cho thỏa thuận không phổ biến vũ khí hạt nhân, cũng như cho mối quan hệ Mỹ-Nga”. Tổng thống Nga, Medvedev nói: “Vì có hiệp ước này, toàn thể cộng đồng thế giới đã đạt được thắng lợi”. Sau đó một hội nghị quốc tế gồm 40 nước, được triệu tập tại Washington để cùng cam kết không phổ biến loại vũ khí hủy diệt này nữa. Thực ra trong thời đại kinh tế thị trường toàn cầu hôm nay, các nước có vũ khí nguyên tử, dù khác chế độ, dù có căm ghét nhau cách mấy, cũng không thể xử dụng bom nguyên tử để tiêu diệt nhau được nữa, vì các nước lớn nhỏ đều đã đan kết quyền lợi đầu tư, thương mại với nhau. “Tiêu diệt người, cũng là tiêu diệt chính nguồn sống của mình”. Chỉ trừ 2 nước tự cô lập là Bắc Hàn, Iran và bọn Khủng Bố Quốc Tế, nếu họ có vũ khí nguyên tử trong tay thì đó mới là mối họa cho thế giới.


Chính vì vậy, mà vấn để nguyên tử của Bắc Hàn và Iran luôn là đề tài nóng đối với quốc tế. Bắc Hàn đã có vài ba quả bom nguyên tử, nhưng nước này nghèo đói mạt rệp và là đàn em của Trungcộng, mà ông anh tham lam sẵn sàng hy sinh đàn em để đổi lấy quyền lợi của mình trên trường quốc tế, nên Mỹ và quốc tế không mấy lo ngại. Trước sau gì rồi vấn đề Bắc Hàn cũng phải ngã giá thôi. Riêng Iran là một nước Hồi Giáo toàn thống có tham vọng thực hiện cuộc cách mạng Hồigiáo trên thế giới. Trực tiếp đe dọa nền hoà bình mong manh tại Trung Đông. 5 nước Thường Trực trong Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc là Anh, Pháp, Mỹ, Nga, Tầu, cộng với Đức, đã thường dùng LHQ làm áp lực với Iran, nhưng đều thất bại, vì trước đây Nga và Tầu không cho làm mạnh. Nay Nga đã tỏ dấu cứng rắn hơn với Iran, vì Iran không chịu để Nga tinh luyện nguyên tử cho Iran dùng vào mục đích hoà bình. Chỉ còn có Tầu là kỳ đà cản mũi. Thực ra Tầucộng cũng chỉ muốn dùng vấn đề nguyên tử của Iran để cầm chân Mỹ tại phía Tây, vì nơi đây ngoài sự đe dọa của chương trình nguyên tử Iran, và mối nguy Khủng Bố Quốc Tế, còn là lò lửa chiến tranh Do Thái- Palestine, Iraq, Afghanistan, Pakistan, nên Mỹ chưa thể dồn toàn lực triển khai chiến lược “trở lại Á châu”, để Trungcộng có thời gian bành trướng thế lực ở phía Đông, nhất là làm chủ toàn vùng Biển Đông và khống chế Đông Nam Á.


Hiện nay, Trungcộng đã có Miến Điện trong tay, họ chủ trương hợp pháp hoá Miến Điện, nên đang thực hiện kế hoạch ‘dân sự hoá’ chế độ Quân Phiệt, qua cuộc tổng tuyển cử ‘tiền chế’. Gạt bỏ lãnh tụ Aung San Suu Kyi và tổ chức Liên Minh Dân Tộc vì Dân Chủ của bà ra khỏi cuộc bầu cử. Thay vào đó một số tướng lãnh có thực quyền, tự giải ngũ để thành lập chính đảng ra ứng cử và hẳn nhiên là thắng cử. Tại Tháilan, qua lá bài cựu thủ tướng tham nhũng Thaksin bị truất phế, được HunSen Campuchia nhận làm cố vấn kinh tế. Được Trungcộng hậu thuẫn, rồi thọc tay vào quậy tung tình thế Vươngquốc này, qua phong trào dân nghèo ‘Áo đỏ’ biểu tình bám trụ tại Bangkok, chống thủ tướng Abhisit và thế lực ‘Áo vàng’. Chính vì vậy, mà đa số thủ lãnh áo đỏ có muốn làm hòa với thiện chí của ông Abhisit cũng không xong. Tháilan loạn ly là một thắng lợi lớn cho Trungcộng.


Còn tại Việtnam thì Trungcộng hoàn toàn khống chế Tổng Bí Thư, Bộ Chính Trị, Trung Ương Khóa X, và tiếp tục âm mưu dàn dựng lớp lãnh đạo cộng đảng Khóa XI, nhằm thực hiện kế hoạch ‘tàm thực’ lâu dài tại Việtnam. Nếu, đảng Việtcộng, chính phủ Hànội còn nằm trong tay Trungcộng ngày nào thì toàn Dân, toàn Quân Việtnam dù có tinh thần quyết liệt chống Bành Trướng Trungcộng cũng khó lòng phát tiết ra được. Nắm được Việtcộng là nắm được nước Lào và Campuchia. Hiện nay Trungcộng đang đồng hoá nước Lào. Hứa cung cấp cho Campuchia 256 quân xa, và 50.000 bộ quân phục. Trám vào chỗ của Mỹ, hồi đầu tháng 04/2010, vừa ngưng viện trợ quân sự cho Campuchia, vì nước này đã trục xuất 20 người tỵ nạn Uighur từ Trungcộng. Xem vậy, 5 nước nằm ở lục điạ Asean, đều trong tầm tay của Trungcộng thao túng. 5 nước Asean nằm ngoài đảo thì vẫn còn lỏng chỏng, không cảm nhận được mối nguy bành trướng của Bắckinh. Nên chưa thể tìm được đồng thuận về Biển Đông.


Chính vì vậy mà Trungcộng mặc sức tung hoành trên biển Đông. Nuốt Hoàngsa, chiếm Trườngsa của Việtnam, vẽ thành hình ‘lưỡi bò’ chiếm trên 80 phần trăm diện tích biển Đông. Đưa tầu chiến xuống kiểm soát toàn vùng Trườngsa trong đó Việtnam, Philippines, Malaysia, Brunei, Đàiloan đều có nhận chủ quyền. Nhưng mỗi nước không đủ sức đương đầu với Trungcộng. Nên Trungcộng chỉ muốn thương thuyết song phương với từng nước. Chống lại chủ trương ‘quốc tế hoá’ biển đông. Nhất là không để cho hạm đội Hoakỳ có mặt trong vùng. Mới đây Trungcộng tung ra một cuộc tập trận quy mô lớn ở vùng biển đảo chiến lược gần Nhậtbản. Hạm đội Đông Hải của Trungcộng đã tiến về chuỗi đảo chiến lược tiền tiêu giữa Nhậtbản, Đàiloan, Philippines., mà xưa nay hạm đội Mỹ vẫn hoạt động tích cực thường xuyên tại đó. Có lẽ dịp này, Mỹ cố làm ngơ để cho thủ tướng Nhật, Hatoyama phải bỏ kế hoạch dời căn cứ quân sự Mỹ trên đảo Okinawa, mà ông đã hứa khi tranh cử. Đây cũng là áp lực khiến cho các nước trong vùng Đông Nam Á dễ dàng chấp nhận đứng chung trong chiến tuyến ngăn bành trướng Trungcộng của Mỹ.


Thực ra Hoakỳ có trong tay, bản Hiệp Ước Thượng Hải 1972 ký giữa tổng thống Mỹ, Nixon với Chu Ân Lai, thủ tướng Trungcộng. Trong đó Mỹ hứa chấm dứt can dự vào chiến tranh Việtnam. Trungcộng long trọng cam kết: “Tất cả các quốc gia lớn hay nhỏ, phải được đối xử bình đẳng; những quốc gia lớn không được gây tổn thương đau khổ cho những nước nhỏ. Trungquốc sẽ không bao giờ là một siêu cường, và Trungquốc chống lại quyền lực bá chủ và quyền lực chính trị dưới bất cứ hình thức nào…tất cả mọi quốc gia có quyền lựa chọn hệ thống xã hội của họ, như sự mong muốn của họ, và quyền bảo vệ nền độc lập, quyền tối thượng và quyền toàn vẹn lãnh thổ của những quốc gia riêng họ, và chống lại mọi hình thức hiếu chiến của ngoại bang, chống lại sự can thiệp, kiểm soát và sự phá hoại. Tất cả lực lượng quân sự phải rút về lãnh thổ riêng họ”. Nhưng hành động bá quyền nước lớn đối với các quốc gia nhỏ trong vùng, và cuộc công khai xâm chiếm biến Đông của Trungcộng hiện nay, rõ ràng Trungcộng đã tự tay xé bỏ bản Hiệp Ước 1972 giữa Mỹ vả Tầu. Đến lúc, Mỹ đã danh chính ngôn thuận, hợp tình, hợp pháp có quyền ‘trở lại Á Châu’ rồi vậy.

Posted: Mon May 17, 2010 4:34 pm
by dailien
Đức Giám Mục Ba Lan:
Chúng ta phải nói to lên Giáo Hội đang bị bách hại tại Việt Nam


Image
Đức Cha Tarnowski Wiktor Skworc
“Tình hình của Giáo Hội tại Việt Nam rất giống với tình hình Giáo Hội Ba Lan chúng ta trong hai thập niên 60 và 70, khi đó nhà cầm quyền cộng sản đàn áp thẳng tay người Công Giáo chúng ta,” Đức Cha Tarnowski Wiktor Skworc, chủ tịch Ủy Ban Truyền Giáo của Hội Đồng Giám Mục Ba Lan đã trả lời như trên trong cuộc phỏng vấn dành cho báo chí và các đài truyền thanh, truyền hình trong khuôn khổ ngày Hiệp Thông, Liên Đới và Cầu Nguyện cho Giáo Hội tại Việt Nam.

“Đáng tiếc là giờ đây chúng ta thấy những gì đã diễn ra ở Ba Lan lại được tái diễn tại Việt Nam," Đức Cha Skworc than phiền.

Ngài nhấn mạnh "Nhà cầm quyền bất cứ ở đâu, kể cả nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam, cũng không thể cứ mãi bất chấp dư luận. Thành ra, chúng ta phải nói to lên cho mọi người nghe là Giáo Hội đang bị bách hại tại Việt Nam, và chúng ta không thể câm nín nhượng bộ được.”

Ngày Hiệp Thông, Liên Đới và Cầu Nguyện cho Giáo Hội tại Việt Nam là sáng kiến của Ủy Ban Truyền Giáo trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Ba Lan và Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Ba Lan. Trong ngày 4/2, nhiều buổi cầu nguyện cho Giáo Hội Việt Nam đã diễn ra trong cả nước Ba Lan. Cả các dòng nữ Chiêm Niệm cũng tham gia cầu nguyện cho Giáo Hội Việt Nam.

Trong khi đó, các báo chí Ba Lan như tờ Gazeta Wyborcza có những bài sưu khảo rất công phu về tình trạng của Giáo Hội Việt Nam trong suốt 350 năm qua, và đặc biệt những năm gần đây khi Giáo Hội phải đương đầu với những vụ như Tòa Khâm Sứ, Thái Hà, Vĩnh Long, Loan Lý, Long Xuyên, Bầu Sen, Cồn Dầu, Đồng Chiêm...

Nguyễn Việt Nam

Posted: Tue May 18, 2010 1:40 am
by dailien
Tiên Sư Chúng Nó "Người Nước Ngoài"
… Thế đấy, thằng kẻ cướp, tên xâm lược nó có tên, có tuổi có mặt mũi rành rành mà báo chí cứ “Người nước ngoài” là sao ? Sao không chửi thẳng ra là bọn lính Trung Quốc ?…

“Người nước ngoài”?
Từ nhỏ mình đã nể những người ngoại quốc. Họ cao to như Tây, giàu có như Nhật và khỏe như Cu Ba.

Tây thì Hà Nội nhiều, thời chiến tranh nhưng không khó lắm để gặp một ông Tây. Nga, Đức, Bun, Hung… gì không biết, to cao da trắng mắt xanh râu he he thì cứ gom lại là Liên Xô tất. Nhe răng ra cười thì họ giơ tay cười chào lại, khoái cực. Nhiều người hay kể về phi công Mỹ chứ nói cho đúng ra ít ai được thấy, nhất là bọn tuổi lóc chóc như mình.

Sau 1975, thời đóng cửa cũng chỉ tuyền Tây Liên Xô, nhìn quen mắt rồi, sau 80 lại được ăn bánh mì đen uống Cờ-vát với họ thì nháng nháng phân biệt đâu là Tây Nga, Tây (Đông) Đức. Vẫn nể, không nể theo cảm tính như hồi nhỏ nhưng nhìn cái Quảng trường Đỏ rồi chui xuống tàu điện ngầm ở Mát xít cơ va đố ai có thể coi thường ông Tây Nga này.

Ngoại quốc mà tóc màu còn có các Tây Âu, Mỹ…mỗi anh một kiểu, nhưng gói gọn là một chữ: Nể!

Chuyển sang ngoại quốc Á, đầu tiên sang VN có lẽ là anh Tàu, nhưng anh ấy giống người VN nên chẳng gây ấn tượng gì, vả lại người Tàu ở VN cũng…lạc hậu như mình nên chẳng nể mấy ngoài tài làm kẹo bột. Khi ra trường mình làm cho công ty XK thủy sản, bắt đầu tiếp xúc với người Nhật. Họ trắng trẻo, nhìn no đủ và thông minh, không lớn con hơn người Việt nhưng xét tổng thể thì khác nhiều. Họ là thương nhân nên khôn khéo trong giao tiếp, tính cách rất thuần hậu, vì công việc. Họ lại giàu nữa, một sự giàu có do lao động mang đến nên họ có quyền tự hào.

Sau mở cửa thì có thêm người Úc, Mỹ…. bổ sung vào các anh Tây To, Đài Loan, Hàn quốc vào danh mục Tây da vàng… mỗi người một vẻ nhưng tóm lại là đều mang theo nhiều thứ mà dân VN ta phải học tập.

Còn Tây Cu Ba đen thui thì khỏe như… trâu (Sorry vì không biết so sánh thế nào cho lịch sự hơn) Mình được gặp mấy chú ấy khi còn là học sinh cấp hai, thời Cu Ba giúp Quảng bình xây bệnh viện VN-CB ở ngay sau lưng trường. Nhìn anh Cu Ba to, đen vác khúc gỗ to đi băng băng, mình chợt nghĩ ngày ấy mà xáp lá cà, quân giải phóng miền Nam làm sao mà thắng nổi lính tây đen, có mà nó bốc lên ném cho một phát xa mười thước ấy chứ. Thế mà ta vẫn thắng mới lạ.

Tây đen còn có thể gặp nhiều ở khu Phạm Ngũ Lão – Sài gòn bây giờ. Họ đen, khỏe, và đá bóng giỏi, lại nghe đồn là bộ đồ nghề hoành tráng lắm nên vẫn được nhiều bà chị họ Mầu “nhờ cậy”. Họ cũng nổi tiếng về tài… nhịn đói, một ngày có hai cái bánh mì không người lái, uống nước máy mà vẫn sống khỏe. Cũng là cái khiến ta phải nể chứ nhỉ?

Thế, nên cho đến tận bây giờ, mình vẫn cho rằng cứ “Người nước ngoài” là đáng nể.

Mà chính nhà nước ta xưa nay vẫn có phân biệt Tây – Ta cả đấy chứ. Có những chuyện Ta được làm Tây thì cấm, và ngược lại. Có nhiều cửa hàng chỉ có Tây mới được mua thôi. Nhiều khi cũng tức nhưng nghĩ lại, họ đến ta thì ta coi là khách, khách thì phải được đối xử khác hơn với con cái trong nhà chứ.

Ấy vậy mà hôm nay mình giận.

Giận trời, giận đất, giận vu vơ…thế thôi.

Số là mình có đọc được một chuyện xúc phạm đến mình, cụ thể hơn là họ xúc phạm đến lòng tôn trọng, chà đạp lên cái sự “nể” bất di bất dịch của mình đối với người nước ngoài:

Trích VOV News:
“Trong chuyến công tác của Đoàn đại biểu Đảng bộ, chính quyền, quân, dân Thủ đô Hà Nội và Quân chủng Hải quân do bà Ngô Thị Doãn Thanh, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch HĐND Thành phố Hà Nội làm Trưởng đoàn ra thăm, kiểm tra các đảo thuộc quần đảo Trường Sa và thềm lục địa phía Nam của Tổ quốc. Ngày 9/5, đoàn đã tổ chức trọng thể Lễ tưởng niệm các chiến sỹ đã hy sinh trong sự kiện 14/3/1988 ở Trường Sa.

Trong diễn văn đọc tại Lễ tưởng niệm, Thượng tá Trịnh Lương Vượng, Phó Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn M46, vùng D Hải quân nhấn mạnh: Với mưu đồ thôn tính Trường Sa, độc chiếm biển Đông, từ cuối năm 1987, đầu năm 1988, lực lượng quân sự “nước ngoài” đã ngang nhiên chiếm đóng một số bãi đá ngầm thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, cán bộ, chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam đã kiên quyết bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia với phương châm “không dùng vũ lực để giải quyết những vấn đề tranh chấp trên biển”. Bất chấp lẽ phải, quân đội “nước ngoài”ngang nhiên tấn công quân sự, bắn chìm, bắn cháy 3 tàu vận tải của ta.

Trong trận chiến đấu đó, 64 cán bộ, chiến sỹ Hải quân nhân dân Việt Nam đã anh dũng hy sinh, đến nay còn nhiều đồng chí vẫn đang phải nằm lại với biển khơi.”

Cách đây 22 năm, ngày 14/3/1988, tại vùng biển này, các chiến sĩ đã anh dũng chiến đấu, hy sinh trước sự tấn công trắng trợn và phi lý của các lực lượng tàu chiến Hải quân “nước ngoài” để bảo vệ vững chắc sự toàn vẹn lãnh thổ chủ quyền biển, đảo thân yêu của Tổ quốc. (hết trích).
*
Thế đấy, thằng kẻ cướp, tên xâm lược nó có tên, có tuổi có mặt mũi rành rành mà báo chí cứ “Người nước ngoài” là sao ? Sao không chửi thẳng ra là bọn lính Trung Quốc ?

Run cả người vì giận, mình thắp nén nhang ngoảnh hướng Đông lẩm bẩm:

Các anh ơi, 64 sỹ quan và chiến sỹ đã ngã xuống ngày ấy ơi, xin các anh đừng buồn đừng phẫn nộ, bởi dẫu sao thì nhân dân cả nước vẫn bái vọng về các anh như những anh hùng đã hy sinh vì Đất Mẹ. Sự hy sinh ấy không kém oanh liệt hơn những người Việt đã hy sinh trong lịch sử chống ngoại xâm mấy ngàn năm của dân tộc đâu. Các anh hãy mở lòng nhận những vòng hoa của nhân dân – những người lao động đóng thuế. Nhân dân đã đóng thuế để có chi phí cho cái bọn gọi kẻ thù, kẻ cướp ấy là “Người nước ngoài” vác mặt ra thăm các anh đấy ạ. Tiền ấy, hoa ấy đều là từ thuế của Dân cả đấy các anh ạ. Chỉ cái bọn mặt dày ấy thì không phải là Dân thôi, nếu có khôn thiêng xin các anh khóa mồm, cắt lưỡi cái bọn ngu ấy cho Dân nhờ.

Mình khấn các anh xong thì có bớt tức. Tuy vẫn còn phải chửi thêm một câu cho trọn bộ:

Tiên sư chúng nó, bọn hèn nhát, bọn phản Dân hại Nước!

Chửi xong lại sợ, lỡ chúng xấu hổ quá mà không dám làm người Việt nữa, chuyển sang làm “Người nước ngoài” hết thì… may cho dân tộc này quá. Cầu trời !

Blog's Anh Ba Saigon

Posted: Wed May 19, 2010 7:33 am
by quaichao
TRUNG CỘNG ĐÒI LẤY MÁU VIỆT NAM LÀM VẬT TẾ CỜ:
MỘT BÀI BÁO TRÊN MẠNG TRUNG CỘNG ĐÒI LẤY MÁU VIỆT NAM LÀM VẬT TẾ CỜ:
“Phải giết bọn giặc Việt Nam để làm vật tế cờ trong trận chiến thu hồi Nam Sa”
(Bài đưa lên mạng Trung Cộng 5g45p ngày 9 tháng 1 năm 2010)

Vũ Cao Đàm dịch

Đó là kết luận ngắn gọn, rắn đanh của bài báo mang tiêu đề “Việt Nam, Vật tế cho trận chiến thu hồi Nam Sa” (越南—收复南沙之战的祭品) vừa được đưa lên nhiều trang mạng của Trung Cộng (tôi gọi là Trung Cộng để phân biệt với Trung Hoa Đài Loan, hoặc Trung Hoa Hồng Kông, hoặc với các bạn hữu Trung Hoa hải ngoại khác). Nguyên văn câu kết luận bằng Hán ngữ là “杀越寇为南沙之战祭旗” (Giết giặc Việt để làm lễ tế cờ trong trận chiến Nam Sa – Sát Việt khấu vi Nam Sa chi chiến tế kỳ).

Chúng ta là dân, không thể biết được các nhà lãnh đạo hai “đảng anh em” bàn với nhau những chuyện gì, nhưng bằng bài báo này, thì có thể nói chắc, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Hoa, các ông anh Đại Hán đã gọi dân Việt Nam là bọn “giặc Việt” (Việt khấu), và hạ quyết tâm giết thẳng tay bọn “giặc Việt” để làm vật tế cho cuộc chiến “thu hồi” Nam Sa, thu hồi miền biển đảo mà tổ tiên họ chưa hề đặt chân đến. Theo cách viết trong bài báo mà tôi đã dịch đăng trên BVN mấy ngày trước đây, thì người Trung Quốc phải quyết tâm giết bọn “giặc Việt” “lòng lang dạ sói” không cần bàn đến việc điều đó có là đạo đức hay là vô đạo đức.

Cái quốc gia mà báo chí Việt Nam vẫn gọi là “nước lạ” này có một kiểu lập luận rất “lạ”. Tác giả bài báo dùng một từ Hán rất cổ, không còn tìm thấy trong các từ điển hiện đại thông dụng của Trung Quốc: “Việt Nam vốn xưa là phiên thuộc của nước ta” (phiên thuộc nghĩa là một vùng đất chư hầu, tồn tại như những châu, những quận dưới sự cai quản của mẫu quốc Trung Hoa, đoạn này nguyên văn tiếng Hán là 越南原为我国藩属 – Việt Nam nguyên vi ngã quốc phiên thuộc). Theo cách nói mập mờ của họ, thì người đọc hiểu rằng, dường như dải đất Việt Nam này, “vốn xưa” là một bộ phận thuộc lãnh thổ Trung Quốc. Nhưng rồi, vì Trung Quốc kém cỏi, đã bị các đế quốc thực dân xâu xé... Theo Thỏa ước Pháp – Thanh 1885, cái phần Việt Nam “của họ” đã bị “nhượng” cho thực dân Pháp, và đến khi Trung Quốc giúp Việt Nam đánh Pháp giành lại độc lập thì họ đã “quên” không lấy lại một phần trong đó, là quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Tôi nhớ lại một lần vào giữa thập niên 1960, khi đến thăm Bảo tàng Quân đội ở Bắc Kinh, thấy người ta trưng ra một bản đồ, trong đó chỉ rõ những vùng đất gọi là “của” Trung Quốc khi xưa, mà điều không thể tin ở mắt mình là cả Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên đều bị khoanh vào trong đó. Những kẻ “chữ nghĩa đầy mình” đã cố tình giải thích hai chữ “phiên thuộc” ra như thế đấy? Thật là một trò đánh tráo khái niệm quá ư hài hước.

Đọc xong bài báo này, tôi bỗng đâm phân vân về trình độ học sử của Người Trung Quốc. Tuy không phải nhà nghiên cứu lịch sử, nhưng nếu tôi cũng cho phép mình “lý luận” theo kiểu ông láng giềng phương Bắc, thì tôi sẽ lập luận thế này: Xưa kia, từ thế kỷ XXIX trước Công nguyên, từ thời Hồng Bàng, dân Bách Việt (trong đó có dân Việt Nam ngày nay) có địa giới từ Hồ Động Đình mãi tận phương Bắc xa xôi! Nhưng rồi bọn giặc Hán “lòng lang dạ sói” đã đến xâm chiếm giang sơn của các sắc dân Bách Việt, dồn dân Bách Việt xuống mãi phía Nam. Vậy thì, bây giờ dân Bách Việt cũng phải thu hồi cái giang sơn gấm vóc cũ của mình về cho đất mẹ Bách Việt chứ! Nêu lên một phản đề như thế thật ra chỉ cốt để nhắc nhở các ngài đang già mồm cổ vũ luận điệu bành trướng hãy nhớ lại câu nói của Khổng Từ trong Luận ngữ: “Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân”, nghĩa là “Cái mà mình không muốn thì đừng làm cho người khác”.

Cũng như bài tôi đã dịch và đưa lên mạng tuần trước, bài này cũng không ký tên tác giả. Đó chỉ là một cách ném đá giấu tay chứ không có gì khác. Nhưng tôi vẫn dám khẳng định tác giả là hạng người “miệng có gang có thép”. Vì sao? Cái cách họ phân tích tương quan giữa các thế lực quân sự trên cục diện toàn cầu và những vấn đề địa - chính trị đều cho thấy họ có những cách nhìn của các nhà chiến lược đang cân nhắc thực lực giữa đôi bên, xem xét kỹ lưỡng dư luận quốc tế có thể giáng lên đầu mình một khi hành sự, và như con báo rình mồi, họ đón chờ cơ hội để “ra đòn” đúng lúc, song mặt khác, họ lại dùng những ngôn từ rất hạ đẳng làm cho người đọc lầm tưởng họ là dân “chợ búa”.

Nhưng thôi, tranh luận mà làm gì. Đó vẫn là cách chơi chữ thâm căn cố đế của anh bạn “ giặc Hán lòng lang dạ sói” của chúng ta. Xin các bạn đọc toàn văn bản dịch ngay sau đây. Các bạn sẽ thấy, những kẻ “nhai xé thịt người ngọt xớt như đường” (Nguyễn Du) lại lên tiếng kêu la oan ức... toàn một giọng nói ngược,... làm như chính họ đã bị bọn “Việt Nam lòng lang dạ sói” vây bắt ngư dân, đã bị bọn “giặc Việt” chiếm đóng những vùng biển đảo, mà trên thực tế không hề tìm thấy một bằng chứng nào để chứng minh rằng người Hán đã từng đặt dấu chân lên đó trước người Việt. Đọc bài báo, chúng ta cũng thấy được họ tuyên bố công khai việc thuê đất dài hạn ở các tỉnh biên giới chính là nằm trong ý đồ lấn chiếm đất đai của chúng ta.
Lưu ý, người dịch giữ nguyên cách gọi các địa danh trong bài báo, là Tây Sa, Nam Sa và Nam Hải, nhưng xin hiểu Nam Sa là Trường Sa, Tây Sa là Hoàng Sa, Nam Hải là Biển Đông.

Người dịch

Nguyên bản tiếng Trung Quốc trên trang mạng “Trung Quốc Binh khí Đại toàn”: http://www.cnweapon.com/html/news/2010- ... 14304.html
Quần đảo Nam Sa (Việt Nam gọi là Trường Sa) vốn dĩ là chuỗi ngọc trai lấp lánh của đất mẹ Trung Hoa, nhưng lại bị nhiều kẻ trộm cắp, muốn chiếm đoạt, giành giật, việc này chỉ làm phân tán đi ánh hào quang của chuỗi ngọc trai mà thôi.Trong số các đảo bị các nước chiếm đoạt, bọn Việt Nam kiêu ngạo, vong ơn bội nghĩa đã ráo riết chiếm đóng quần đảo với số lượng nhiều nhất.

Nghĩ lại mà xem, Việt Nam vốn xưa là phiên thuộc của nước ta. Năm 1885, theo Thỏa ước Pháp - Thanh, Việt Nam đã bị nhượng lại cho Pháp, dần trở thành thuộc địa của Pháp. Sau hai cuộc chiến tranh, Trung Quốc đã giúp Việt Nam đánh đuổi thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, hai miền Nam Bắc đã được thống nhất. Nhưng thật không ngờ bọn Việt Nam không những không biết ơn Trung Quốc, mà trái lại đã lấy oán báo ân, tự vỗ ngực xem mình là nước có tiềm lực quân sự lớn thứ ba thế giới, liên tiếp khiêu khích Trung Quốc. Mặc dù qua hai bài học, là cuộc chiến tranh biên giới Trung - Việt và chiến tranh Bãi đá ngầm, nhưng Việt Nam vẫn không nhận ra được bài học, càng ra sức chiếm đoạt nhiều đảo hơn.

Do bọn Việt Nam bắt tay thực hiện khai thác đảo sớm nên điều kiện chiếm cứ thuận lợi hơn, hơn nữa lại có nguồn nước ngọt nên bọn chúng có thể thi công trên đảo, xây dựng sân bay, kiến tạo hạ tầng kỹ thuật thông tin di động, di dân ra đảo, tổ chức du lịch quốc tế, thiết lập phân chia ranh giới khu hành chính cấp huyện hòng vĩnh cửu hóa, thực tế hóa, quốc tế hóa, hợp pháp hóa hành vi bá chiếm. Tiếp đó các nước khác cũng lần lượt theo đuôi Việt Nam, như Philipin, Malaysia, Indonesia, Bruney… xâu xé vùng biển Nam Sa của Trung Quốc, xây dựng căn cứ quân sự hoặc khoan dầu mỏ. Tất cả bọn chúng đều không coi Trung Quốc ra gì.

Các nước xung quanh xâm chiếm quần đảo Nam Sa đúng vào thời kỳ đất nước Trung Quốc chúng ta tiến hành cải cách mở cửa, thực hiện chiến lược đối ngoại hòa bình, tập trung xây dựng kinh tế trong nước, duy trì hòa bình phát triển với bên ngoài. Cùng là những nước đang phát triển đáng ra Việt Nam và các nước lân cận phải có thiện ý giải quyết hài hòa những tranh chấp. Đất nước chúng ta đề xướng ra mục tiêu “gác lại chiến tranh, cùng nhau phát triển”. Tuy nhiên, 30 năm qua, lòng tốt của chúng ta lại không hề được báo đáp, mà trái lại các nước còn không ngừng tăng cường lấn chiếm khu vực biển của nước ta, ngang nhiên chiếm lãnh hải, lãnh thổ nước ta. Không khó khăn lắm, chúng ta cũng có thể nhận ra rằng, lòng tốt của chúng ta không được báo đáp tử tế; danh dự, lãnh thổ và lãnh hải quốc gia nếu chỉ dựa vào giao thiệp hòa bình thì khó mà giữ gìn, bảo vệ được. Ủy ban thềm lục địa của Liên Hiệp Quốc quy định, 12/5/2009 là kỳ hạn cuối cùng cho các quốc gia có liên quan phải hoàn thành việc gửi những bản giải trình các luận cứ khoa học về chủ quyền thềm lục địa và khu kinh tế đặc quyền. Tình hình phát triển còn làm phức tạp hóa vấn đề, sự xoay chuyển của thời gian sẽ làm cho chúng ta càng thêm bất lợi, nếu cứ tiếp tục kéo dài sự khoan dung của chúng ta thì kẻ khác sẽ cho rằng chúng ta đã chấp nhận, bằng lòng với việc đó. Vì thế, biện pháp có hiệu quả là phải dùng lực lượng quân sự chiếm đoạt lại Nam Sa, và phải đưa việc này vào chương trình nghị sự.

Chúng ta phải thấy một thực tế rằng, mức độ xâm phạm của các nước có liên quan đối với lợi ích của nước ta là khác nhau, do điều kiện môi trường và địa vị quốc tế khác nhau nên sẽ có những phản ứng khác nhau đối với hoạt động quân sự của nước ta, vì vậy mà chúng ta cần phải có những cách đối xử khác nhau, giải quyết tốt những mâu thuẫn chủ yếu, thúc đẩy giải quyết những mâu thuẫn thứ yếu. Không còn nghi ngờ gì nữa, mục tiêu tấn công chủ yếu của chúng ta phải là Việt Nam.

Chúng ta có đầy đủ lý do để tấn công Việt Nam, Việt Nam cũng có đầy đủ điều kiện để trở thành vật tế của trận chiến thu hồi Nam Sa:

1. Việt Nam xâm chiếm nhiều đảo nhất, có nguy hại lớn nhất, hơn nữa có thái độ kiêu ngạo nhất, ảnh hưởng xấu nhất. Trước tiên ta thu hồi lại những đảo mà Việt Nam chiếm đóng là có thể thu hồi lại hầu hết các đảo bị chiếm, khống chế được toàn bộ. Lấy gương xua đuổi thành công quân Việt Nam để răn đe các nước khác buộc chúng phải tự mình rút lui.

2. Trước đây, Việt Nam đã nhất nhất thừa nhận Tây Sa và Nam Sa thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Những bài phát biểu của các quan chức, bản đồ quân sự, tài liệu địa lý đều là những bằng chứng xác thực, cho đến sau khi thống nhất đất nước thì Việt Nam có những thái độ bất thường, có yêu cầu về lãnh thổ lãnh hải đối với Tây Sa và Nam Sa. Việt Nam ngấm ngầm thọc lưng Trung Quốc, tiền hậu bất nhất, đã làm mất đi cái đạo nghĩa cơ bản, khiến quân đội của chúng ta phải ra tay, với lý do đó để lấy lại những vùng biển đảo đã mất.

3. Việt Nam có lực lượng quân sự lớn nhất Đông Nam Á. Hơn nữa lại đang tăng cường phát triển lực lượng hải quân, không quân để đối đầu với ta. Quân đội của ta có thể phát động cuộc chiến Nam Sa, cho dù quân đội Việt Nam đã có chuẩn bị. Với chiến thắng trong cuộc chiến này, hoàn toàn có thể làm cho các nước khác thua chạy, không đánh mà lui. Đây là cách để loại trừ Việt Nam, làm cho Việt Nam ngày càng lụn bại.

4. Hai nước Trung – Việt xích mích đã lâu, đã từng nảy sinh tranh chấp lãnh thổ và lãnh hải, lần này lại xảy ra xung đột quân sự. Đây là điều mà thế giới đã dự đoán và đã sớm nghe quen tai với việc này, chắc chắn phản ứng sẽ nhẹ nhàng hơn. Trái lại, nếu tấn công vào các nước như Philipin thì phản ứng quốc tế nhất định sẽ rất mạnh mẽ.

5. Các nước khác tuy cùng trong khối ASEAN nhưng chế độ xã hội và ý thức hệ khác với Việt Nam, các nước khác lại ủng hộ Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, thời gian đó đã sinh ra những khúc mắc. Là liên minh ASEAN, khi chúng ta phát động chiến tranh thu hồi lại Nam Sa ắt sẽ gặp phải sự phản đối của ASEAN, nhưng hậu quả của cuộc tấn công Việt Nam sẽ tương đối nhỏ, vì Việt Nam đã từng có ý đồ thiết lập bá chủ khu vực, việc này đã làm cho các nước láng giềng có tinh thần cảnh giác, việc làm suy yếu lực lượng quân sự của Việt Nam cũng là điều tốt cho các nước ASEAN.

6. Tình hình quốc tế gần đây có lợi cho việc giải quyết vấn đề Nam Sa. Quan hệ Trung – Mỹ ; Trung – Nga đang ở thời kỳ tốt nhất, không phải vì thế mà dẫn đến sự đối đầu về quân sự giữa các nước lớn. Quân đội Mỹ đang sa lầy vào chiến trường Afganistan, Iraq và vẫn phải chuẩn bị ứng phó với chiến tranh có thể xảy ra với Iran, chưa rảnh tay để quan tâm tới chiến sự Nam Sa. Hơn nữa tranh chấp đảo giữa Nhật Bản và Hàn Quốc, tranh chấp giữa Campuchia và Thái lan đều sẽ làm phân tán sự chú ý của cộng đồng quốc tế.

7. Quần đảo Nam Sa là một vị trí chiến lược không thể thiếu của Trung Quốc trên trận tuyến kéo dài từ Trung Đông đến Viễn Đông, tuy eo biển Malacca là con đường yết hầu nhưng quần đảo Nam Sa không phải là không có vị trí chiến lược. Có được Nam Sa sẽ uy hiếp được Malacca, yểm trợ các đường ống dẫn dầu, Nam Sa là một trong những vùng hiểm yếu, Trung Quốc quyết không ngần ngại chiến đấu để thu hồi Nam Sa.

8. Lấy chiến tranh để luyện tập quân đội, lấy việc thực hiện chiến tranh để kiểm nghiệm và nâng cao năng lực chiến đấu của quân ta, tình hình phát triển của hai bờ Đài Loan – Hải Nam có thể đảm bảo để hai bên bờ sẽ không xảy ra chiến tranh trong tương lai gần, giải quyết triệt để vấn đề Nam Hải, trong khi thực hiện chiến tranh trên biển phải khảo sát những thiếu sót của hải quân, không quân đảo Trung Quốc để kịp thời nhận diện những khiếm khuyết, cải thiện, nâng cấp, nhằm phát triển càng nhanh càng tốt lực lượng hải quân không quân của ta, để chứng tỏ rằng quân đội ta là lực lượng quân đội theo mô hình mới, có kinh nghiệm chiến đấu hiện đại, chuẩn bị sẵn sàng cho chiến sự Đài Loan – Hải Nam hoặc để đối phó với những thách thức khác có thể phát sinh. Lực lượng hải quân, không quân của Việt Nam không thể xem là quá mạnh cũng không thể xem là quá yếu, chúng phù hợp với việc luyện tập quân đội của ta.

9. Việc thiết lập hợp tác quân đội với Đài Loan có thể còn nhiều khó khăn, sự bất đồng giữa hai bờ Đài Loan – Hải Nam có thể tồn tại, nhưng việc thu hồi Nam Sa thì hai bên lại có chung một lập trường. Mặc dù không thể mời quân đội Đài Loan cùng tham chiến nhưng trước và sau trận chiến đều cùng nhau tiến hành các hoạt động như: cung cấp nguyên vật liệu, thiết bị bảo trì, nhân viên xử lý, máy bay, tàu chiến do nhu cầu cần thiết hạ cánh hoặc cập bến trong chiến tranh, chắc chắn rằng sự phối hợp hai quân đội sẽ góp phần vào đoàn kết, thống nhất quốc gia.

10. Việt Nam là bọn tham lam, kiêu ngạo, vô lễ, tuyệt đối không thể thông qua đàm phán để chiếm lại quần đảo Nam Sa, không chiến đấu thì không thể thu hồi lại biên cương quốc thổ. Như vậy, cuộc chiến Nam Sa là không thể tránh khỏi, đánh muộn không bằng đánh sớm, bị động ứng phó không bằng chủ động tấn công.

Vẫn còn rất nhiều lý do nhưng không tiện để nêu ra cụ thể từng lý do được
Mặc dù nói chúng ta đánh Việt Nam như đánh bạc nhưng việc thu hồi Nam Sa quả thực không phải chuyện nhỏ. Hải quân và không quân Việt Nam cũng đang dần hiện đại hóa cho nên ta quyết không đánh giá thấp đối phương, bắt buộc phải làm tốt công tác chuẩn bị, không đánh thì thôi, đã đánh là phải thắng nhanh. Trong khi bàn việc lấy lại Nam Sa vấn đề không phải là xét xem có thể thành công hay không mà phải xét xem thắng lợi có triệt để hay không, những tổn thất, rủi ro có phải là nhỏ nhất hay không và kết quả cuối cùng có phải là tốt đẹp nhất không… Vì thế cần phải xác định 4 mục tiêu rõ ràng. Đó phải là, xuất một đường quyền đẹp mắt về chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao.

Trên lĩnh vực quân sự, đáng tiếc rằng Việt Nam đã làm những việc gây phản ứng mãnh liệt như xâm chiếm nhiều đảo mới, giam giữ ngư dân và tàu đánh cá Trung Quốc. Ta tuyên bố rằng lãnh thổ lãnh hải nước ta không dễ dàng xâm chiếm, bắt buộc Việt Nam trả lại những đảo đã xâm chiếm, nhanh chóng hoàn thành việc triển khai quân sự tại Nam Hải. Nếu quân đội Việt Nam không chịu thì Trung Quốc sẽ tiến hành tấn công xua đuổi, kẻ nào dám phản kháng ta kiên quyết diệt trừ, nếu tăng viện trợ máy bay tàu chiến cho Việt Nam thì sẽ bắn hạ, bắn chìm hết. Quân đội Việt Nam đã trang bị một số lượng nhất định máy bay, tàu chiến và tên lửa tiên tiến do Nga sản xuất. Quân đội của ta sẽ huy động tiềm lực hải quân, không quân để phong tỏa những căn cứ hải quân, không quân của chúng. Quân đoàn pháo binh thứ hai cần làm tốt việc che giấu những cứ điểm chiến lược hiểm yếu, không quân và chiến hạm cần làm tốt công tác dự báo; cung cấp nhiên liệu cho kế hoạch tấn công lâu dài ở căn cứ phía Nam. Lực lượng trên mặt đất phải luôn luôn sẵn sàng ứng phó với các cuộc tấn công quấy nhiễu của quân đội Việt Nam ở khu vực biên giới bất kỳ lúc nào; phải thực hiện phá hủy các căn cứ hải quân không quân ở miền Bắc. Tóm lại, ta sẽ lấy việc tấn công Việt Nam như là cuộc diễn tập để giải phóng Đài Loan, một khi tình hình đã lan rộng thì sẽ triệt để phá hủy lực lượng hải quân, không quân Việt Nam.

Trên lĩnh vực chính trị, vạch trần việc các nước như Việt Nam xâm chiếm lãnh thổ, lãnh hải nước ta, nhắc lại rằng nước ta muốn duy trì phương châm hòa bình, nhưng chúng ta không thể hòa bình với những kẻ xâm hại đất nước ta. Cho dù xảy ra rồi thì chúng ta không mong nhìn thấy xung đột quân sự. Trung Quốc hy vọng rằng các bên liên quan nên ngồi lại tiến hành đàm phán hòa bình để nhanh chóng kết thúc chiến tranh. Nếu như các nước như Việt Nam chịu khuất phục trước sức ép quân sự to lớn của nước ta thì nước ta sẽ không sử dụng biện pháp vũ lực nữa, sẽ mở rộng tiếng nói quốc tế của nước ta.

Trên lĩnh vực ngoại giao, một khi chiến sự xảy ra, cộng đồng thế giới chắc chắn sẽ đưa ra bốn chữ “phê phán, phản đối”. Chúng ta cần nhanh chóng tranh thủ sự thông cảm của Mỹ, Nga, Liên minh Châu Âu, nhiệm vụ quan trọng nhất của hoạt động ngoại giao là nắm được mục tiêu của các nước ASEAN, cố gắng bình tĩnh trước sự phẫn nộ và hoảng hốt của họ, khiến họ tin tưởng rằng Trung Quốc vô cùng coi trọng quan hệ với ASEAN, tuyệt đối không làm tổn hại đến lợi ích của các quốc gia ASEAN ngoại trừ Việt Nam, Trung Quốc sẽ làm cho mức độ phản ứng của họ giảm xuống mức tối thiểu
Trên lĩnh vực kinh tế, để chung sống hòa bình cần thực hiên chiến lược “Dùng đất đai đổi lấy hòa bình”. Để hòa bình phát triển thì cần thực hiện chiến lược “Dùng tiền bạc đổi lấy đất đai”. Đối với quần đảo Nam Sa thì lại phải thực hiện phương châm “chủ quyền thuộc về tôi, cùng nhau phát triển, thỏa hiệp hòa bình, chia sẻ lợi ích” thiết lập một số khu vực cùng phát triển ở giáp giới các nước ASEAN gần quần đảo Nam Sa. Lấy nước ta làm chủ, lần lượt cùng hợp tác phát triển với Philipin, Malaysia, Bruney..giúp các đối tác cùng có lợi. Mục đích của các nước này muốn chiếm đảo là vì muốn đạt được lợi nhuận dầu mỏ, giúp cho họ kiếm được tiền mà họ muốn, làm cho nó dễ dàng đồng ý chủ quyền Trung Quốc. Nếu Việt Nam đồng ý với chính sách này thì có thể cũng nhận được một phần nào đó.

Với ý đồ lấy phương thức hòa bình để giải quyết tranh chấp Nam Sa thì kết quả cuối cùng Nam Sa quần đảo ắt bị chia cắt. Tất cả những đảo bị chiếm giữ là do ban đầu lực lượng quân đội của nước ta không đủ, khi có đủ năng lực thì không cần phải do dự mà không quyết định, việc sử dụng vũ lực chắc chắn sẽ dẫn đến có sự phản đối. Cùng năm đó, Anh ra sức tranh đoạt đảo Falklands cũng đã bị lên án chỉ trích nhiều, nhưng khi đảo Falklands đã nằm trong tay nước Anh, ai đã có thể làm gì họ . Nếu Việt Nam nguyện làm đầu têu thì phải đánh cho chúng không kịp trở tay.
Hãy giết chết bọn giặc Việt Nam để làm vật tế cờ cho trận chiến Nam Sa.

Vũ Cao Đàm dịch

Posted: Thu May 20, 2010 4:10 am
by tankhoasinh
Cuộc “lội ngược dòng” của giáo dân Hà Nội -
Ai là kẻ lo sợ nhất ?


Hồ Học-Trần Trung Luận
.Sự kiện bung ra đã làm cho những con bài chủ nặng ký nhất đã bị bại lộ, đường lối đối ngoại và đối thoại “bẩn” kiểu “Cộng Sản” bị phơi bày, cuồng vọng đứng trên cả “Chúa Trời” của Đảng Cộng Sản đã bị giáo dân Hà Nội chặn đứng và giáng trả quyết liệt hơn cả mức cần thiết, tình thế chạm đến ngưỡng không có lợi cho sự “ổn đinh” của họ trong kỳ “lột xác” cuối cùng (đại hội Đảng).

Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt đã lại đã bất ngờ rời Việt Nam (đêm 12/5 ) bất ngờ như khi ông trở về từ Vatican (ngày 9/4) để dàn xếp, đón đưa Giám mục Nguyễn Văn Nhơn kế vị mình theo quyết định của Toà thánh sau đó nửa tháng.
Dư luận cũng bất ngờ bùng lên trước cách đối xử với ông của Toà Thánh Vatican, gới cầm quyền Việt Nam và cả HĐGMVN (những thành tố duy nhất có thể tạo tác quyết định cho vấn đề này) ngay khi còn là manh nha, đồn đại.

Những hành động, những biểu lộ quyết liệt, mạnh mẽ chưa từng thấy của giáo dân Hà Nội cũng bùng lên theo đó. Một bầu không khí đau buồn, lo âu, nghi kỵ và phân hoá bao trùm giáo phận Hà Nội, lan toả ra nhiều nơi trong và ngoài nước.

Một thỉnh nguyện thư đã được giáo dân khẩn trương thu thập trong thời gian ngắn nhất với 15.000 chữ ký (được cho là kỷ lục ) chuyển gấp sang Vatican. Một Thánh Lễ, “Lễ tạ ơn chào đón đức TGM phó” diễn ra trong căng thẳng, ngột ngạt và đầy tự phát… nhưng cũng chẳng thể nào khác được, với rừng băng rôn của giáo dân tôn vinh TGM Ngô Quang Kiệt chứ không phải là “chào đón Đức TGM phó” như chủ đề của Thánh Lễ.

Nhiều ý kíên trái ngươc, mâu thuẫn, chống đối nhau tràn ngập trên các trang mạng Công Giáo... để lý giải, để bach hoá sự thật... để bao biện, để che đậy, phá rối và cả để tranh giành, để làm nổi mình lên trong bối cảnh hỗn loạn này.

Tất cả được thấy như những nỗ lực, quyết tâm giành thắng lợi cuối cùng của những lực lượng cụ thể nào đấy trong việc “đi hay ở” của Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt.

Và đến lúc TGM Ngô Quang Kiệt đã chính thức rời sứ vụ, bằng thông báo của Toà Thánh Vatican chấp nhận đơn từ chức của ông và ra nước ngoài chữa bệnh như thông báo của toà TGM Hà Nội, Giám mục Nguyễn Văn Nhơn cũng đã chính thức trở thành Tổng Giám Mục Hà Nội nhưng quán tính của sự kiện “đi hay ở” và dấu ấn “tinh thần Ngô Quang Kiệt” vẫn còn nguyên, vẫn sôi sục, vẫn đòi hỏi phải được lý giải một cách chính thức và minh bạch từ những tầng cao nhất của Giáo Hội.
Lễ chúa Jê-Su lên trời (một trong những thánh lễ quan trọng hàng đầu của người Công Giáo, theo thông lệ sẽ do Tân Tổng Giám Mục chủ tế) đã lại trở thành cuộc biểu lộ tình cảm của Giáo dân các xứ trong giáo phận… Đến lúc này thì rất khó đặt tên cho cả chuỗi sự kiện , nó giống như một cuộc “lội ngược dòng” đẫm nước mắt đi tìm “công lý sự thật”, đi tìm “chủ chăn đích thực” của giáo dân Hà Nội.
Ở đây “cuộc lội ngược dòng” của những giáo dân bé mọn ấy là hoàn toàn đúng đắn, là chân thực... nhưng nó đã “bùng lên” ngoài tầm kiểm soát, làm cho cả giáo hội chao đảo, HĐGMVN hầu như tê liệt, nó gây đau đớn, lo ngại cho ngay chính các hàm, phẩm cao nhất của Giáo Hội, cho cả giới cầm quyền đang chăm chú theo dõi trong nín lặng, và căng thẳng bởi với chính họ, sự việc cũng đang ngoài tầm kiểm soát,

Nguyên nhân của sự “bùng lên” quyết liệt và tự phát đến như vậy có thể thấy là ngoài tình cảm yêu thương, khát vọng một “chủ chăn đích thực” của giáo dân thì phần còn lại (ẩn phía sau) của vấn đề chính “là quá trình đưa đến sự lựa chọn người kế vị” như nhận định của Linh Mục Vũ Khởi Phụng chánh xứ giáo xứ Thái Hà, hay nói cụ thể hơn là sự xuất hiện không lô-gic, không cần thiết của chính vị GM Nguyễn Văn Nhơn. Quá trình này thể hiện rõ bàn tay của giới cầm quyền Hà Nội từ mở đầu với sự việc Nguyễn Thế Thảo, chủ tịch UBNDTP Hà Nội triệu tập Ngoại giao đoàn tại Hà Nội đã Ngày (10/2008) công khai bày tỏ ý đồ trục xuất TGM Ngô Quang Kiệt ra khỏi Hà Nội... cho đến mẩu tin gọn lỏn của TTX VN (ngày 7/5/2010).
Có thể thấy phản ứng của giáo dân chính là phản ứng của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam với chính quyền cộng sản vô thần và dã tâm” bóp chết Công Giáo” của họ. HĐGMVN hay một “đáng tiếc” nào đấy của Toà ThánhVatican bỗng nhiên thành điểm đối đầu của phản ứng này (cần thấy rõ Giáo Hội không chỉ là Tổng Giám Mục, HĐGM, hay một vài đấng bậc cụ thể. Giáo Hội là 8 triệu Giáo dân).

Lo ngại của gới cầm quyền là một thực tế bởi mục đích cả lâu dài hay trước mắt của họ là trục xuất TGM Ngô Quang Kiệt ra khỏi Hà Nội một cách êm thấm, từ đó từng bước “quốc doanh hoá” Thiên Chúa Giáo như đã từng làm với nhiều tôn giáo khác chứ không phải là để chọn lựa để tìm tới một kết quả hỗn loạn, không thể áp đặt như hiện nay.

Sự kiện bung ra đã làm cho những con bài chủ nặng ký nhất đã bị bại lộ, đường lối đối ngoại và đối thoại “bẩn” kiểu “Cộng Sản” bị phơi bày, cuồng vọng đứng trên cả “Chúa Trời” của Đảng Cộng Sản đã bị giáo dân Hà Nội chặn đứng và giáng trả quyết liệt hơn cả mức cần thiết, tình thế chạm đến ngưỡng không có lợi cho sự “ổn đinh” của họ trong kỳ “lột xác” cuối cùng (đại hội Đảng).

Thêm nữa trong một tương lai ngắn ngủi, bất trắc đang chờ Đảng Cộng Sản, đã hình thành xu hướng “ tự diễn biến” “tự chuyển hoá” tạo khả năng để có thể tái tồn tại trong một một nền chính trị mới “phi cộng sản” nay mai thì tổn thương lớn này với người Công Giáo không dễ gì mà hàn gắn, hay đền bù, hoà giải được.

Nhìn lại chuỗi sự kiện người ta đã phải rất ngạc nhiên khi thấy rằng chỉ để có 2 công viên bé nhỏ vô tích sự mà cả một chính thể đã mâu thuẫn với 10% dân số của mình một cách trầm trọng đến mức không thể hoá giải được thì rõ ràng tầm vóc, não trạng chính trị của giới cầm quyền Hà Nội nói chung và BT Thành Uỷ Phạm Quang Nghị nói riêng là quá thấp kém.

Do vậy việc ra đi của TGM Ngô Quang Kiệt vốn được coi là “điểm thưởng” cho phe cánh chính trị Hà Nội của Phạm Quang Nghị trong đại hội Đảng nguy cơ trở thành “điểm triệt” bởi kết quả chẳng êm thấm chút nào, sự kiện còn kéo dài và diễn biến khó đoán định, đây chính là lý do tại sao không một tờ báo quốc doanh nào đưa tin hay bình luận ngoại trừ một mẩu tin chiếu lệ của TTXVN.

Sự hoảng loạn và lo ngại không chỉ riêng gì của giới cầm quyền Hà Nội, mà nó còn đang trong suy tư của các lãnh đạo Công Giáo trong và ngoài HĐGMVN, nhất là với những người đã bàn quang, đã làm ngơ, đã chấp nhận, hoặc tham gia vào “quá trình đưa đến sự lựa chọn người kế vị” không lo-gic, không minh bạch này.

Tình trạng hiện thời của HĐGMVN đang là rất hoang mang, lúng túng như trả lời phỏng vấn của Phó CT HĐGMVN Nguyễn Chí Linh... không biết làm gì hơn là tiếp tục chọn lựa cách ứng xử theo lối truyền thống của mình là “im lặng”. Từ khi sự kiện bung ra tới nay người ta chỉ thấy có “thư chúc mừng” của HĐGMVN cho chính vị Chủ Tịch của mình là có lên quan đến sự kiện.

Nhưng trong bối cảnh hiện nay “im lặng” không phải là “vàng” nữa khi mà “một trang sử buồn cho Giáo Hội Việt Nam và cách riêng, cho Tổng giáo phận Hà Nội” đã mở ra (cũng vẫn theo nhận định của giám mục Nguyễn Chí Linh ) với khởi đầu là một lễ tạ ơn chua chát, đau lòng, rồi lễ chúa Jê-Su lên trời vắng bóng tân Tổng Giám Mục làm chủ tế, vắng bóng giáo dân sốt sắng mộ đạo, cái còn đó vẫn là những băng rôn, biểu ngữ tôn vinh TGM Ngô Quang Kiệt. thánh lễ nhận TGP của TGM Nguyễn Văn Nhơn cũng không tổ chức …Những giáo dân Hà Nội cho biết họ sẽ “tiếp tục như vậy cho tới ba năm nữa “
Cái lo ngại nhất của các đấng, bậc trong Giáo Hội chính là sự phân hoá trong nội bộ Giáo Hội. Trong bài “tinh thần Ngô Quang Kiệt”-cuộc canh tân giáo hội bắt đầu chúng tôi cũng đã có nhận định về một viễn cảnh không xa “Thiên chúa Giáo miền bắc Việt Nam chỉ còn là một tín ngưỡng tại gia”

Nhưng ngay cận cảnh đây một tình huống mang những nét “cát cứ tôn giáo” đã xuất hiện, tức là “tinh thần Ngô Quang Kiệt “ cùng những giá trị “tông giáo chân chính” sẽ phát triển, tồn tại theo cách riêng ở từng giáo phận, giáo xứ, thậm chí các cộng đoàn, các giáo họ. Cơ cấu tầm cao như Tổng Giáo Phận, HĐGMVN chỉ còn là tượng trưng, hình thức, mang tính giao đãi...để có mũ, áo, ghế, gậy trong đại lễ 1000 năm Thăng long, trong đưa đón bang giao với Toà Thánh, trong nghênh đón Giáo Hoàng sang thăm Việt Nam (nếu có). Thế thì cái thông điệp “mầu nhiệm-sứ vụ-hiệp thông” của năm thánh 2010 hoàn toàn phá sản.

Toàn thể HĐGMVN, các đấng bậc cao trọng của giáo hội có nhìn thấy cái viễn cảnh và cận cảnh này không? có còn trách nhiệm không? có còn bản lĩnh, lòng can đảm của một Ki-Tô hữu ? Bởi để vượt qua “trang sử buồn” này đòi hỏi phải có một tầm nhìn, một trách nhiệm, và cả lòng can đảm nữa.

Cần nhận thấy rằng phản ứng bùng lên của giáo dân là đúng đắn, là chính đáng, là phản ứng của nhân dân bị đoạ đầy dưới gót sắt của chế độ Cộng Sản vô thần, nghĩa là giáo dân đang cùng nhịp bước với cả dân tộc, cái còn lại là HĐGMVN các đấng bậc, giáo sĩ, linh mục có đồng hành cùng giáo dân, cùng dân tộc hay không?

Với cuộc “lội ngược dòng” đẫm nước mắt của giáo dân Hà Nội đi tìm“công lý, sự thật" tìm “chủ chăn đích thực” ta đã thấy rõ ai là kẻ lo sợ nhất.

Hồ Học-Trần Trung Luận
Last Updated ( Tuesday, 18 May 2010 12:29 )

Posted: Fri May 21, 2010 4:42 am
by tranphuongdong
Công An Nhân Dân: Vì Đảng Quên Dân, Vì thân Phục Vụ!

Lê Minh

Mấy hôm nay dân mạng trong và ngoài nước chuyền nhau bức hình tấm panô treo trước cửa của trụ sở Bộ Công An CSVN tại 44 Yết Kiêu, Hà Nội. Tấm panô này có hàng chữ rất ... kêu và rất phản động: "Công an Nhân dân: Chỉ biết còn Đảng còn mình".
Image
Tấm panô “Công an Nhân dân - Chỉ biết còn Đảng còn mình”

Tại Việt Nam, hầu hết các cơ quan, tổ chức đều có tên gọi đi kèm với “Nhân dân”, chẳng hạn Tòa án Nhân dân, Ủy ban Nhân dân, Quân đội Nhân dân. Đương nhiên lực lượng công an cảnh sát cũng không ngoại lệ, cho nên mới có tên gọi chính thức là Công an Nhân dân (CAND). Đối với trường hợp của tổ chức này thì có mối “gắn bó” với nhân dân “đặc biệt” hơn cả.

Cũng như tất cả lực lượng công an cảnh sát mật vụ tại các nước cộng sản, lực lượng công an CSVN mà tên chính thức là Công an Nhân dân, là cánh tay duy trì quyền lực hữu hiệu nhất của ĐCSVN. Đây cũng chính là lực lượng sắt máu, trung thành tuyệt đối với Đảng, không khác gì chó trung thành với chủ, sẵn sàng cắn xé bất cứ lúc nào, không cần biết đó là những mệnh lệnh đúng sai, hay phi nhân bản. Để đạt được sự phục tùng mệnh lệnh một cách tuyệt đối, không đắn đo, người CAND phải “tuyệt đối trung thành với Đảng cộng sản Việt Nam, với Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” trong lời hứa danh dự trước tiên của mình. Cũng chính vì sự trung thành tuyệt đối này của lực lượng CAND mà người dân Việt Nam trên khắp mọi miền đất nước phải khổ sở điêu đứng.

Lực lượng CAND được tổ chức chặt chẽ, từ trung ương đến địa phương, đến tận mọi ngóc ngách. Hình ảnh của CAND thuộc mọi thứ bậc, chủng loại đều là những hung thần áo vàng có hình hài giống nhau.

Từ đơn vị nhỏ nhất với viên công an khu vực là tên hung thần dòm ngó, kiểm soát chặt chẽ tình trạng cư trú, làm việc và sinh sống của mỗi người dân, từng hộ gia đình trong khu vực. Trên một nấc là công an phường mà văn phòng là cửa ngõ “đầu tiên” và cũng là nơi tập trung, thuê mướn các tay đầu gấu côn đồ để đàn áp đánh đập dân oan. Văn phòng công an quận là nơi chuyên bắt giữ, thẩm vấn những người yêu nước, hoặc giam giữ người một cách trái phép.

Công an ở cấp tỉnh-thành thì có quyền hơn, chẳng hạn như có thể bắt người giữa phố xá đông người mà không cần tội danh, mà cách “mời về đồn làm việc” rất là vũ lực, chẳng hạn như xúm lại khiêng nạn nhân vứt lên xe đưa về đồn trước những đôi mắt ngạc nhiên của người đi đường qua lại. Trong số những nhà bất đồng chính kiến bị “mời” kiểu này gần đây nhất có Luật sư Lê Trần Luật và LS.Tạ Phong Tần.

Công an cấp tỉnh thành thì có quyền nhiều hơn, có thể dễ dàng quy chụp kết tội “phản động” hoặc các tội danh như “xâm phạm an ninh quốc gia”. Công an Bộ thì phạm vi hoạt động xa hơn, có thể vươn tới tận các nước láng giềng như Thái Lan, Campuchia, bắt cóc nạn nhân đem về xử. Trường hợp của vợ chồng bà Phạm Thị Phượng bị bắt cóc mới đây tại Bangkok là một ví dụ điển hình, và còn được công an Bộ gán cho siêu tội danh “khủng bố” vì một mình có thể “sử dụng thuốc nổ để phá tượng đài Hồ Chí Minh và gây nổ ở nhiều địa điểm công cộng như nhà ga, bến tàu, bệnh viện, trường học…” với giá thật bèo!







Lực lượng công an 113 thì rất nhanh nhạy trong việc trấn áp, mạnh tay với dân oan. Ngoài việc canh gác người sống, cũng kiêm luôn việc canh gác người chết và cướp xác, mà điển hình là vụ trấn áp “thành công” giáo dân ở Cồn Dầu mới đây, và phong tỏa, canh gác nghĩa địa ngày đêm. Công an tôn giáo thì chuyên nghề đàn áp và gây chia rẽ giữa các tôn giáo, mà các vụ Bát Nhã, Thái Hà, Tam Tòa là những ví dụ điển hình.

Công an mạng thì rất tài trong việc khám phá, ngăn chận và tấn công triệt hạ các trang web “đen”. Hầu hết các trang mạng đưa “tin lề trái” đều không dưới một lần là nạn nhân của đám công an này.

Còn nhiều nữa, nào là công an cửa khẩu, công an văn hóa, công an biên phòng,... đủ các loại công an rất giỏi nghề trấn áp, hạch sách dân lành. Lực lượng công an giao thông cũng được xem là một đám cướp mãi lộ không hơn không kém, trong khi đám công an lo việc đăng ký đăng bộ xe các loại thì phủ phê với hàng núi tiền và còn cấu kết với đám trộm cướp để phi tang hàng ăn cắp, cho nên người dân đã nhại cái điệp khúc nửa mùa của Hồ Chí Minh thành:
Xăng có thể cạn, lốp có thể mòn.
Song số máy số sườn không thể thay đổi.

Trước đây, tù nhân trong các trại tù cải tạo thuộc nằm lòng những điều răn của CAND vì chúng được treo nhan nhãn trên tường tại “phòng sinh hoạt” của các trại cải tạo này. Một trong những điều răn của CAND “đáng nể” nhất là:
Ngày gác cho dân chơi, đêm gác cho dân nghỉ
Lấy hạnh phúc của nhân dân làm hạnh phúc của mình

đã được một số tù cải tạo ứng khẩu sửa lời rất “chuẩn” là:
Ngày gác cho dân chơi, đêm gác cho dân nghỉ
Lấy HẾT hạnh phúc của nhân dân làm hạnh phúc của mình

Quả đúng là các anh CAND rất tài giỏi trong việc “gom” hết hạnh phúc của nhân dân về làm hạnh phúc của mình. Cho nên người dân miền Nam mới gán cho các hung thần CAND là “bò vàng”

Nói đâu chi ở ngoài biển Đông xa xôi, công nhân Trung Quốc làm việc tại một số công trình trên đất Việt Nam mà các anh đâu có dám trừng trị, trong khi thanh niên Việt Nam xuống đường biểu tình chống Trung Quốc xâm lấn hải đảo lãnh thổ Việt Nam thì các anh vâng lệnh Đảng thẳng tay đàn áp không thương tiếc. Các anh son sắt, “chỉ biết còn Đảng còn mình” như thế cũng phải thôi, bởi vì Đảng tiêu thì các anh cũng không còn chỗ dựa dẫm để “Lấy HẾT hạnh phúc của nhân dân” nữa. Tuy miệng luôn hô hào “vì nước quên thân, vì dân phục vụ” hoặc là “vì Đảng quên thân, vì dân phục vụ”, nhưng thật ra các anh đã “vì Đảng quên dân, vì thân phục vụ”. Có như vậy thì lực lượng CAND mới luôn xứng đáng làm đàn chó trung thành với chủ “trong mọi tình huống”, sủa vang điệp khúc trung thành “Chỉ biết còn Đảng còn mình” trước khi được chủ ban cho miếng xương

Nói đến công lao “trời bể” của ĐCSVN thì lúc nào Bác Hồ cũng có phần, lúc nào cũng phải “Bác và Đảng” đi đôi với nhau cả. Cho nên mới nói lực lượng CAND đã “vì Đảng quên dân, vì thân phục vụ”, thì cũng “vì Bác quên dân, vì thân phục vụ”.

Hôm nay nhân ngày sinh của Bác, lực lượng CAND chắc hẳn phải nhớ ơn Bác nhiều lắm vì nhờ 6 điều răn của bác mà anh nào cũng mập béo, giàu sang cả.

Ngày 19/05/2010
Lê Minh

Posted: Sun May 23, 2010 3:00 am
by hoanghoa
Image

'Kính thưa các đồng chí chưa bị lộ'

Nguyễn Hưng Quốc blog
Chuyện kể: trong một cuộc họp chi bộ ở Việt Nam, một đảng viên bị mang ra kiểm điểm về tội tham nhũng. Người đảng viên ấy bị bắt quả tang và đã thành khẩn nhận tội. Trước mặt các đồng chí của mình, với vẻ mặt nghiêm trang và nước mắt rươm rướm, ông bắt đầu bài tự kiểm điểm bằng một lời chào trân trọng:

“Kính chưa các đồng chí trong chi bộ.
Kính thưa các đồng chí chưa bị lộ.”

Câu chuyện ý vị và sâu sắc. Nó cho thấy ở Việt Nam, liên quan đến vấn đề tham nhũng, sự khác biệt giữa các đảng viên chỉ nằm ở một điểm: một số người đã bị lộ và đại đa số chưa bị lộ. Vậy thôi. Không hề có người thanh liêm và trong sạch.

Không có và, trong tình hình chính trị Việt Nam hiện nay, không thể và sẽ không bao giờ có một thống kê nào cụ thể về con số các đảng viên tham nhũng. Những tài liệu do các cơ quan quốc tế công bố, chẳng hạn Việt Nam “được” xếp vào hạng thứ ba trong danh sách các nước tham nhũng nhất vùng châu Á - Thái Bình Dương có lẽ chỉ có ý nghĩa tương đối. Sự thực có khi còn tệ hại hơn nữa. Trong trường hợp này, tôi tin vào kinh nghiệm trực tiếp của dân chúng hơn là các con số thống kê chính thức.

Mỗi người Việt Nam, đang sống hoặc đã từng sống ở Việt Nam, hãy tự đặt cho mình hai câu hỏi:

Một, có bao giờ mình hoặc bạn bè và thân nhân của mình từng đút lót một số tiền nào đó để công việc được trôi chảy? Ví dụ, cho công an phường để chứng nhận một loại giấy tờ gì đó; cho hiệu trưởng để con mình được nhận vào học ở một trường tiểu hay trung học nào đó; cho một nhân viên trong bệnh viện để người nhà mình có được một cái giường để nằm, v.v…

Hai, có đảng viên hay viên chức nào ở Việt Nam có mức sống kham khổ hơn những người dân bình thường có mức lương (chính thức) tương tự?

Tôi tin câu trả lời phổ biến nhất cho câu hỏi thứ nhất là Có và cho câu hỏi thứ hai là Không.

Trong một xã hội đảng trị như Việt Nam, tất cả các đảng viên đều nắm giữ các chức vụ quan trọng trong guồng máy nhà nước, từ trung ương xuống địa phương, từ các cơ quan chính phủ đến các công ty quốc doanh. Lương chính thức của các đảng viên ấy, dù ở bất cứ chức vụ nào, cũng đều rất thấp. Ngay cả lương của một thứ trưởng, như lời tiết lộ của ông Nguyễn Tiến Dĩnh, Thứ trưởng Bộ Nội Vụ kiêm Đại biểu Quốc Hội thành phố Hà Nội, chỉ có năm triệu (5.000.000) đồng. http://daibieuquoch oi.vietnamnet. vn/content. aspx?id=612 Năm triệu đồng là bao nhiêu? Chỉ tương đương với hơn 260 đô la Mỹ (theo hối suất hiện nay là một đô la Mỹ ăn 19.000 đồng Việt Nam). Với vật giá và mức sống ở Việt Nam hiện nay, số lương ấy chỉ đủ để người ta sống một cách chật vật. Như vô số những ngưòi lao động bình thường và lam lũ khác. Vậy mà, ở Việt Nam, hầu như không có đảng viên nào nghèo cả. Tất cả đều có mức sống cao hơn hẳn những người dân bình thường. Tại sao? Họ có nguồn thu nhập nào khác chăng? Có lẽ có. Nhưng hầu như tất cả đều nằm trong… túi của người khác.

Những chuyện như vậy có thể kiểm tra dễ dàng trong đời sống hằng ngày. Thử nhìn vào nếp sống của các chủ tịch, phó chủ tịch, bí thư đảng, phó bí thư đảng ở ngay cấp phường, cấp xã mà xem. Rồi thử nhìn lên mức sống của các cán bộ lãnh đạo từ cấp quận, huyện lên cấp tỉnh, thành phố và lên cao hơn nữa, cấp trung ương mà xem. Có người nào mà da dẻ không hồng hào mơn mởn? nhà cửa không khang trang, xe cộ không bóng loáng? con cái không đi du học ở nước ngoài, phần nhiều bằng con đường tự túc về tài chính? Có người nào phải lo âu tính toán cho từng buổi đi chợ như hàng chục triệu người dân bình thường khác?

Nguyễn Tiến Dĩnh cho biết lương của ông chỉ có năm triệu đồng một tháng. Tôi không hề biết ông, nhưng tôi dám cam đoan là căn nhà ông thứ trưởng ấy đang sở hữu (chứ không phải căn nhà ông được cấp trong thời gian đang tại chức) không phải là một căn nhà trệt trong một con hẽm khuất tồi tàn nào đó; trong nhà, nhất định sẽ không thiếu bất cứ một tiện nghi xa hoa nào cả. Nếu ông có con đang trong lứa tuổi đi học, tôi chắc phần lớn chúng sẽ học đâu đó ở ngoại quốc. Rượu ông uống chắc chắn không phải là rượu đế rẻ mạt sản xuất ở trong nước. Thuốc lá ông hút, nếu ông nghiện, chắc chắn sẽ là thuốc lá ngoại. Đi chợ, vợ ông hay người giúp việc, sẽ không phải đắn đo tính toán từng lạng thịt hay từng bó rau như bao nhiêu gia đình khác cùng mức lương như ông.

Nạn tham nhũng có lẽ ở đâu cũng có. Và thời nào cũng có. Ngay ở Mỹ hiện nay, không ai dám bảo đảm là không có tham nhũng. Tổng thống, phó tổng thống và các bộ trưởng chắc là không tham nhũng. Nhưng còn quan chức ở các cấp địa phương, đặc biệt là cảnh sát? Thực sự tôi không chắc. Và có lẽ cũng không ai dám chắc. Thế nhưng, tôi dám chắc một điều: Tham nhũng, ở Mỹ cũng như ở các quốc gia Tây phương, nếu có, chỉ là những ngoại lệ. Là ngoại lệ, chúng khá hiếm hoi. Và, nếu bị phát hiện, chắc chắn, chúng sẽ bị lên án gay gắt.

Ở miền Nam trước 1975 chắc chắn cũng có tham nhũng. Nhiều nữa là khác. Chả thế, ông Trần Văn Hương, người từng giữ chức phó tổng thống thời bấy giờ, đã không phải than thở: “Trị hết tham nhũng thì lấy ai mà làm việc?”

Câu nói ấy cho thấy ông Trần Văn Hương thừa nhận hai điều: một, nạn tham nhũng rất phổ biến; và hai, có ít nhất một số người lãnh đạo không tham nhũng. Cái khó của những người lãnh đạo ấy là khó hoặc không thể kiếm ra các thuộc hạ hay cộng tác viên hoàn toàn trong sạch.

Còn bây giờ? Chắc chắn câu nói của Trần Văn Hương vẫn còn chính xác. “Trị hết tham nhũng thì lấy ai mà làm việc?” Nhưng có lẽ phải thêm một câu này nữa: “Trị hết tham nhũng bây giờ thì lấy ai mà… lãnh đạo?”

Nếu thuộc cấp tham nhũng mà lãnh đạo trong sạch thì người ta còn hy vọng là tình hình, một lúc nào đó, sẽ thay đổi. Nhưng nếu cả thuộc cấp và lãnh đạo đều tham nhũng, lớn ăn lớn, nhỏ ăn nhỏ, thì mọi hy vọng đều biến thành ảo vọng. Đảng cầm quyền sẽ tự biến thành một đám mafia chỉ theo đuổi một mục tiêu tối hậu là: cấu kết với nhau để vét sạch tài sản của đất nước.

Posted: Tue May 25, 2010 2:29 pm
by tankhoasinh
Ngoại trưởng Clinton: Mỹ hoàn toàn ủng hộ Nam Triều Tiên

Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton tuyên bố Hoa Kỳ hoàn toàn ủng hộ các biện pháp mà Tổng thống Lee Myung-bak đã loan báo để đáp lại vụ tấn công của Bắc Triều Tiên nhắm vào một trong các chiến hạm của miền Nam. Lên tiếng tại thủ đô của Trung Quốc hôm nay, bà Clinton nói rằng nếu có các bằng chứng xác đáng thì Hoa Kỳ có thể đưa Bình Nhưỡng trở lại danh sách các nước bảo trợ khủng bố. Từ Bắc Kinh, Thông tín viên đài VOA, Margaret Besheer gửi về bài tường trình chi tiết sau đây.

Margaret Besheer | Beijing Thứ Hai, 24 tháng 5 2010
Image
Hình: AP
Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton nói về tình hình trên bán đảo Triều Tiên trong một cuộc họp báo ở Bắc Kinh, Trung Quốc, Thứ Hai 24 Tháng Năm, 2010
Ngoại trưởng Clinton tuyên bố Washington và Seoul tham khảo ý kiến chặt chẽ với nhau về tình huống này. Bà nhắc lại một công bố của Tòa Bạch Ốc và nói rằng các biện pháp mà Tổng thống Lee đưa ra là “thận trọng và hoàn toàn xứng hợp".

Hôm nay, Tổng thống Nam Triều Tiên Lee Muyng-bak loan báo nước ông sẽ cắt đứt phần lớn các quan hệ mậu dịch với Bắc Triều Tiên và cấm tàu bè của nước này vào hải phận của miền Nam. Ông Lee cũng cho biết Nam Triều Tiên sẽ đưa vụ việc này ra trước Hội đồng bảo an LHQ và Bình Nhưỡng có thể thể phải đối mặt với các biện pháp trừng phạt mới.

Ngoại trưởng Hoa Kỳ cho biết Hoa Kỳ kiên quyết hậu thuẫn hành động này.

Bà Clinton nói: “Trước tiên, chúng tôi tán thành lời kêu gọi của Tổng thống Lee Muyng-bak có biện pháp đối với hành động gây hấn này và trên hết là chấm dứt sự hiếu chiến và thái độ đe dọa của Bắc Triều Tiên. Thứ nhì là sự ủng hộ mà dành cho Nam Triều Tiên của chúng tôi là điều rõ rệt, và Tổng thống Obama đã chỉ thị cho các tư lệnh quân đội Mỹ phối hợp chặt chẽ với các đối tác phía Nam Triều Tiên của họ để bảo đảm là chúng ta ở trong tư thế sẵn sàng và ngăn chặn những hành động gây hấn trong tương lai.”

Bà Clinton nói Hoa Kỳ và Nam Triều Tiên sẽ tìm cách gia tăng sự hợp tác của quân đội hai nước trên bán đảo Triều Tiên.

Ngoài ra, nhà lãnh đạo ngoại giao Mỹ cũng cho biết Tổng thống Obama đã chỉ thị cho các cơ quan chính phủ Hoa Kỳ duyệt lại các thẩm quyền và chính sách hiện hữu liên quan đến Bắc Triều Tiên để bảo đảm là họ có sẵn các biện pháp đầy đủ và xác định những lãnh vực cần điều chỉnh cho thích hợp.

Khi một phóng viên hỏi rằng biện pháp đó có bao gồm việc có thể đưa Bắc Triều Tiên trở lại danh sách các nước bảo trợ khủng bố hay không, bà Clinton cho biết Hoa Kỳ sẽ áp dụng luật pháp dựa vào các sự kiện xác thực.

Ngoại trưởng Clinton nói: “Nếu các chứng cớ xác thực thì Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ sẽ có hành động.”

Ngoại trưởng Clinton đã phát biểu trong khuôn khổ các cuộc đàm phán cấp cao về kinh tế và chính trị giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc. Trung Quốc đã bị chỉ trích vì đã đáp ứng chậm chạp đối với vụ tấn công Nam Triều Tiên và đã không công khai chấp nhận rằng Bắc Triều Tiên có lỗi.

Bà Clinton nói rằng bà tham khảo ý kiến ráo riết với chính phủ Trung Quốc về vụ việc này, nhưng bà không đề cập đến các chi tiết. Bà cho biết Bắc Kinh công nhận “sự nghiêm trọng của tình hình” và thông cảm với phản ứng của Nam Triều Tiên. Bà Clinton cũng nói thêm là tình hình rất bấp bênh và Hoa Kỳ đang cố gắng làm việc để tránh gia tăng một sự leo thang trong thái độ hiếu chiến khiêu khích.

Một cuộc điều tra của quốc tế tuần rồi đã xác định rằng một trái ngư lôi phóng đi từ một tàu ngầm của Bắc Triều Tiên đã đánh chìm chiến hạm Cheonan của Nam Triều Tiên trong tháng Ba, làm thiệt mạng 46 thủy thủ trên tàu.

Posted: Thu May 27, 2010 5:23 am
by hoanghoa
LM.Phan văn Lợi nói về Đức Ông
( Nội ) Cao Minh Dung thuộc Bộ Ngoại Giao Vatican




Tôi là Linh mục Phê rô Phan Văn Lợi đang ở Huế, đang bị quản thúc trong gia đình. Tôi xin được nói về vài điều mà tôi được biết về Đức ông Dung.
-- Đức ông Dung ngày xưa với tôi là cùng chủng viện, tôi trên Đức ông Dung là 6 lớp, cùng có một Cha bảo trợ là Đức Cha Thuận sau này lên làm Hồng Y Nguyễn văn Thuận. Và là cùng một giáo xứ Chánh Tòa Phủ Cam. Cho nên tôi khá biết rõ về Đức ông Dung.

- Từ lâu nay ở tại Phủ Cam những người thân cùng với những người quen biết với Đức ông Dung cho hay rằng Đức ông Dung trên danh nghĩa là con của ông Cao Minh Hiếu và bà Nguyễn thị Yến. Con đầu.

-- Nhưng mà trên thực tế, tôi cũng đã hỏi một người thân của Đức ông Dung là cậu ruột, thì người đó cho biết rằng Đức ông Dung không phải là con ông Hiếu. Mà là con của một ông thầy dòng, sau đó, ông thầy dòng đó ra khỏi dòng Thành Tâm, nhập địa phận Đà Nẵng, và làm Linh Mục. Đó là Linh Mục Đỗ Thanh Châu hay còn gọi là Đỗ Quang Châu, hiện thời đang sống tại Hoa Kỳ.

-- Đức ông Dung đi vào chủng viện, rồi tới năm 74 thì vào chủng viện Hòa Bình trong Đà Nẵng, là một chi nhánh của Đại chủng Viện Huế. Sau biến cố năm 1975 thì Đức ông Dung đã về lại Huế và ở Đại chủng viện Huế cùng với tôi. Chúng tôi ở trên đó tới năm 1978, thì nhà nước đã dựa vào cái nghị quyết 297 để trục xuất 18 Thầy trong số 45 Thầy. Ở trong đó có Đức ông Dung và tôi.

-- Đến năm 1979, thì Cha Đỗ Quang Châu lúc đó đang ở Saigon, đã đem Đức ông Dung vượt biên qua Mỹ. Sau đó chúng tôi nghe biết rằng Thầy Dung đã qua bên Roma để mà học tiếp. Sau đó đến năm 1983 thì chịu chức linh mục.

-- Rồi Đức ông Dung đi vào học từ ngoại giao cuả Tòa Thánh, lên chức Đức Ông lúc nào thì chúng tôi không biết. Sau đó thì đi làm việc tại nhiều nơi, thí dụ như Equador, Hoa Kỳ, Madagascar, NewZealand, Indonesia. Đến năm 2007 thì về Bộ Ngoại giao của Tòa Thánh, và đặc trách vùng Đông Á

-- Trong cái quan hệ với nhà cầm quyền cộng sản, thì chúng tôi biết rằng ngay từ khi được lên chức Đức Ông, thì ở tại Huế này, thì nhà cầm quyền cộng sản cụ thể là công an tôn giáo tỏ ra là thân thiết, o bế gia đình.

-- Đã có nhiều lần Đức ông Dung về Huế trước năm 2000, thì mỗi lần như vậy, thì chúng tôi biết rằng công an tôn giáo trong đó có 2 anh thiếu tá Phạm đức Thuận và thiếu tá Nguyễn hồng Lam đã luôn đến viếng thăm.

-- Lúc thân mẫu Đức ông Dung mất năm 2000, thì họ đã đi phúng điếu. Và không những phúng điếu rồi, một Linh Mục tại Huế còn nói với chúng tôi rằng Đức Cha Nguyễn Như Thể theo thói quen là chỉ tham dự thánh lễ an táng của cha mẹ các Linh Mục mà thôi. Nhưng mà lần đó thì chính bên nhà nước hay công an gì đó đã yêu cầu Đức Cha Thể phải làm Chủ Tế trong thánh lễ của bà Nguyễn Thị Yến, là thân mẫu của Đức ông Dung.

-- Đây là một cái khá đặc biệt. Bởi vì ngay chính thân mẫu và thân phụ của tôi mất thì Đức Cha chỉ có tham dự chứ không làm Chủ tế. Và nhiều Linh Mục khác trong giáo phận cũng vậy.

-- Không những bên chính quyền o bế, mà Đức ông Dung cũng có những cử chỉ thân thiện với người của nhà nước! Chẳng hạn như là tặng quà cho các viên chức cộng sản cao cấp ở Huế. Ví dụ như ông trung tá lê việt Hà là trưởng Công an thành phố Huế, hay là thiếu tá Phạm đức Thuận bây giờ lên trung tá rồi. Cho họ những món quà!

-- Chúng tôi lúc đó cũng rất ngạc nhiên, bởi vì thấy là một người thuộc Bộ ngoại giao của Tòa Thánh, mà lại có vẻ thân cận với chính quyền cộng sản. Đáng lẽ ra phải là một người cố gắng giữ tư cách độc lập.

-- Đến năm 2008, lúc đó bản thân tôi đang cùng với Cha Lý dấn thân vào phong trào tranh đấu cho tự do tôn giáo và dân chủ nhân quyền. Năm 2008 thì thân phụ của Đức ông Dung tức là ông Hiếu mất, thì bình thường, tôi cũng được mời đến gia đình, để mà làm lễ ở trong gia đình, vì là anh em cùng một cha (DHY Thuận) mà là cùng một giáo xứ nữa. Nhưng mà Đức ông Dung đã không mời tôi, bởi vì sợ liên lụy.

-- Và những lần trước đó cũng vậy. Kể từ năm 2001 tới bây giờ, mỗi lần Đức ông Dung về Huế thì luôn luôn tránh tôi. Bởi vì biết tôi đang có măt trong phong trào đấu tranh cho tự do tôn giáo.

-- Theo tôi biết, khi về Huế, Đức ông Dung chỉ gặp Đức Cha Thể và những Cha có tinh thần gọi là đấu dịu, hòa hoãn. Nói cho thẳng thắn là thoả hiệp với nhà nước. Còn những vị có thái độ muốn cho Giáo hội được độc lập, thí dụ như Cha Nguyễn Văn Giải, Cha Nguyễn văn Lý và tôi, hoặc là một số vị khác, thì Đức ông Dung không hề gặp!

-- Cái chuyến về Hà Nội cách đây 3 năm, tức là đầu năm 2008, nếu tôi nhớ không lầm là tháng 2-2008 thì Đức ông Dung cùng với Đức ông Phương cùng với một Đức ông Mỹ nữa đã về. Lần đó, chúng tôi ngạc nhiên là phái đoàn Đức ông Dung đã ở nhà khách của chính phủ, thay vì ở Tòa Tổng Giám Mục (Hà Nội)! Sau đó thì trong gia đình, những người em của Đức ông Dung ở đây, cũng đã ra ngoài đó gặp anh của mình, và cũng ở ngay trong nhà khách của chính phủ.

-- Trong lần đó, ở trong này, chúng tôi cũng nghe dư luận nói rằng Đức ông Dung có ý kiến là muốn ĐƯA ĐỨC CHA KIỆT RA KHỎI HÀ NỘI! Từ năm 2008 đó, chúng tôi đã nghe được dư luận như vậy!
-- Sở dĩ tôi nói điều này, không phải là vì cái sự xung đột tình cảm giữa 2 chúng tôi do từ sự khác biệt về quan điểm. Tôi muốn nói lên điều này để cho thấy rằng, chính vì thái độ của Đức ông Dung đó xuất phát từ việc tôi có một lập trường khác hẳn với Đức ông, đối với nhà cầm quyền cộng sản.

-- Từ đó suy ra cái thái độ của Đức ông Dung đối với cái nhà nước cộng sản này.
-- Và thái độ của Đức ông Dung đối với nhà nước cộng sản này, thì chúng ta thấy có nhiều dấu hiệu khiến cho rất nhiều người Công Giáo thất vọng!

-- Tôi nói tất cả những điều này là vì Sự Thật, vì Lẽ Phải, và vì Giáo Hội. Vì ích lợi của toàn thể Giáo Hội và nhất là Giáo Hội Việt Nam. Vì sự tôn trọng Công Lý và Sự Thật. Vì chỉ có Sự Thật mới giải thoát tất cả chúng ta !

Linh mục Phan văn Lợi
Huế, ngày 25.5.2010

Quý vị xem 10' video nội dung
Lm Phan văn Lợi phát biểu
http://www.youtube. com/watch? v=XcUmZZtoBDY&feature=player_ embedded

Posted: Thu May 27, 2010 5:44 pm
by dailien
Image

Sự Hán hóa Biển Đông Nam Á: tình hình dầu sôi lửa bỏng_
André Menras


«‘Sự kiên nhẫn’ đầy độ lượng của các nhà lãnh đạo VN» trước mọi hành động hung hãn côn đồ của ông anh Trung Quốc, một lời bình luận cho thấy «sự kiên nhẫn đầy độ lượng» của chính ông André Menras đối với Nhà nước Việt Nam mà không cứ gì ông, đại đa số trí thức và nhiều tầng lớp nhân dân đều lấy làm khó hiểu. Nhưng kiên nhẫn nào cũng có giới hạn. Ông sẽ nói tiếp những lời hết sức thẳng thắn và mà đau rát, như trong trái tim công dân Việt Nam của mình những giọt máu đang rỏ: «Từ lâu, họ đã bưng bít thông tin về cuộc xâm lược của Trung Quốc tại Biển Đông. Thậm chí họ đã đình chỉ các tờ báo, rút lại các bài viết, (RÚT THẺ NHÀ BÁO) của các phóng viên. Họ chưa bao giờ tuyên truyền rộng rãi trên toàn quốc tình hình các ngư dân đồng bào của họ đã bị bắt và bị cầm tù như thế nào! Họ đối xử với những người yêu nước đang phẫn nộ [trước mọi hành vi côn đồ] theo kiểu TQ và thường đồng hóa họ với «các thế lực phản động nước ngoài». Thậm chí họ còn kính cẩn làm ngơ trước những lá thư cảnh báo của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, huyền thoại trăm năm của nền độc lập VN, người bạn chiến đấu ngay từ buổi đầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh… ».

Tuy nhiên, khi thấy có chút dấu hiệu về sự «cựa mình» khác trước của lãnh đạo Việt Nam thì ông chứa chan hy vọng. Ông kêu gọi ngay các cường quốc phương Tây hãy nhìn vào gương Hội nghị Munich mà tỉnh táo hiệp đồng cùng nhau chống lại mọi cuồng vọng của kẻ đang thi thố dã tâm bành trướng. Ông André Menras quả là một tâm hồn rất mực Việt Nam.
như trong trái tim công dân Việt Nam của mình những giọt máu đang rỏ: «Từ lâu, họ đã bưng bít thông tin về cuộc xâm lược của Trung Quốc tại Biển Đông. Thậm chí họ đã đình chỉ các tờ báo, rút lại các bài viết, (RÚT THẺ NHÀ BÁO) của các phóng viên. Họ chưa bao giờ tuyên truyền rộng rãi trên toàn quốc tình hình các ngư dân đồng bào của họ đã bị bắt và bị cầm tù như thế nào! Họ đối xử với những người yêu nước đang phẫn nộ [trước mọi hành vi côn đồ] theo kiểu TQ và thường đồng hóa họ với «các thế lực phản động nước ngoài». Thậm chí họ còn kính cẩn làm ngơ trước những lá thư cảnh báo của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, huyền thoại trăm năm của nền độc lập VN, người bạn chiến đấu ngay từ buổi đầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh… ».
Tuy nhiên, khi thấy có chút dấu hiệu về sự «cựa mình» khác trước của lãnh đạo Việt Nam thì ông chứa chan hy vọng. Ông kêu gọi ngay các cường quốc phương Tây hãy nhìn vào gương Hội nghị Munich mà tỉnh táo hiệp đồng cùng nhau chống lại mọi cuồng vọng của kẻ đang thi thố dã tâm bành trướng. Ông André Menras quả là một tâm hồn rất mực Việt Nam.

Vùng biển có tên là Biển Trung Hoa mà người TQ gọi là Biển Nam, còn người VN thì gọi là Biển Đông đang trở thành điểm nóng trên hành tinh của chúng ta.Vùng «Địa Trung Hải» Đông Nam Á này bao gồm 10 quốc gia với hàng nghìn hòn đảo, trong đó có 200 đảo được tập trung thành 2 quần đảo là Hoàng Sa và Trường Sa.Vùng biển và đảo này có tầm quan trọng cực kỳ về mặt chiến lược và kinh tế: đây là lộ trình bắt buộc của tất cả các tàu chở dầu và các tàu vận chuyển nguyên vật liệu và các hàng hóa khác đi từ châu Âu, châu Phi, Trung Đông thông qua eo biển Malacca, hướng về TQ, Triều Tiên, Nhật Bản.Vùng biển này vừa là nguồn tài nguyên dồi dào về thủy sản, vừa là kho báu đầy hứa hẹn về trữ lượng dầu và khí đốt thiên nhiên. Hoàng Sa nằm ở phía Đông bờ biển miền Trung VN, đang là đối tượng tranh chấp về chủ quyền giữa VN và TQ. Trường Sa, nằm ở vị trí trung tâm, đang bị tranh chấp bởi 7 nước : Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan, Phi-lip-pin, Mã Lai, Bru-nây và In-đô-nê-xi-a.

Lịch sử, quyền lợi và sức mạnh

Nói về Hoàng Sa, trên phương diện lịch sử cũng như luật pháp quốc tế, chủ quyền chắc chắn thuộc về VN. Yêu sách mà TQ đưa ra không thể đứng vững trước xét xử của trọng tài quốc tế. Thế nhưng quần đảo này đã bị TQ nuốt chửng bằng sức mạnh quân sự. Đó là vào 2 thời kì: năm 1956, sau sự thất bại của thực dân Pháp và năm1974, khi Mỹ bắt đầu nhảy vào VN. Đối với quần đảo Trường Sa, tình hình có phức tạp hơn nhưng chủ quyền của VN trên một số lớn các hòn đảo cũng như trên các lãnh hải lân cận được xác lập một cách công bằng về mặt lịch sử cũng như về pháp lý. Những mâu thuẫn với các nước thành viên ASEAN có thể được giải quyết bằng cách thỏa thuận vì lợi ích lẫn nhau. Nhưng người «Anh Cả TQ» lại không muốn như vậy. Sau khi đột nhập vùng biển năm 1988, giết hại 74 thủy thủ VN, hải quân TQ đã không ngừng gặm nhấm các hòn đảo nhỏ.

Từ gặm nhấm đến nuốt chửng

Sau đó, TQ đi từ chính sách gặm nhấm đến nuốt chửng: ngăn cản các công ty dầu khí nước ngoài ký hơp đồng khai thác với các nước trong vùng, trong khu vực kinh tế độc quyền của họ; bắt bớ và cầm tù trong nhiều tuần các đoàn tàu đánh cá, tịch thu cá đánh bắt được cùng với thuyền chài, đánh đập dã man các ngư dân, trả tự do bằng cách đòi gia đình họ đưa tiền chuộc; đâm thủng và làm đắm các tàu thuyền, đơn phương ngăn cấm đánh cá – dĩ nhiên là chỉ đối với người VN – từ tháng 5 đến tháng 8 trong khu vực, viện cớ là khu vực sinh thái.

Trong suốt tháng 4, TQ đã phát động các cuộc diễn tâp hàng không với quy mô lớn ở Trường Sa với các thao tác như đổ bộ, thả lính nhảy dù, tập bắn súng. Về phương diện pháp lý, năm 2009 các nhà lãnh đạo TQ đã đưa ra yêu sách chính thức về chủ quyền «không thể tranh cãi» dựa trên sự ủy thác của Liên Hiệp Quốc về chủ quyền trên biển: 80% biển và toàn bộ 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Như để cảnh cáo, họ vừa chuyển đến các nhà ngoại giao Mỹ thông điệp : «Biển phía Nam thực chất thuộc về quyền lợi cốt lõi của Trung quốc». Có nghĩa là nơi mà họ sẵn sàng tiến hành các hoạt động quân sự như đối với Tây Tạng hoặc Đài Loan. Đồng thời , TQ cũng từ chối mọi cuộc đàm phán rõ ràng, minh bạch (và đa phương). Họ đã từ chối thẳng thừng việc áp dụng luật quốc tế của LHQ năm 1982 về chủ quyền trên biển. Nói tóm lại, Trung Quốc tự cho mình đứng ngoài vòng pháp luật, và họ thật sự đã làm như vậy, theo đúng nghĩa đen của từ này.

Tình hình VN trước sự đối mặt với TQ

Sự thiếu hụt về cán cân thương mại giữa VN và TQ thật là khổng lồ.Hơn 50% các trao đổi thương mại quốc tế của VN được thực hiện với TQ. Hàng hóa TQ tràn ngập thị trường đã bóp nghẹt nền sản xuất và nghề thủ công của VN. Các dự án lớn về khai thác mỏ chủ yếu bị các nhà thầu TQ được Bắc Kinh hỗ trợ hết mình cuỗm mất. Trong lĩnh vực xây dựng cũng bị Hán hóa sâu sắc và nhân công không lành nghề của TQ bắt đầu định cư lâu dài. Hàng trăm ngàn hec-ta đất cũng bị đem cho các doanh nghiệp lâm nghiệp TQ thuê trong vòng 50 năm…Đôi khi cả trong những vùng chiến lược. Các tổ chức lobby (vận động hành lang-chạy cò) của TQ đã len lỏi vào trong cơ chế quyết định về chính sách một cách mạnh mẽ và có thế lực.

«Sự kiên nhẫn» đầy độ lượng của các nhà lãnh đạo VN

Trong tình hình báo động cao độ vì nền độc lập của đất nước, các nhà lãnh đạo VN ngày càng lâm vào thế kẹt giữa những sự câu thúc và tham vọng ngày càng quá đáng của anh láng giềng «thân thiết» với phản ứng bền bỉ, tự hào vì sự sống còn của dân tộc. Từ lâu, họ đã bưng bít thông tin về cuộc xâm lược của Trung Quốc tại Biển Đông. Thậm chí họ đã đình chỉ các tờ báo, rút lại các bài viết, (RÚT THẺ NHÀ BÁO) của các phóng viên. Họ chưa bao giờ tuyên truyền rộng rãi trên toàn quốc tình hình các ngư dân đồng bào của họ đã bị bắt và bị cầm tù như thế nào! Họ đối xử với những người yêu nước đang phẫn nộ [trước mọi hành vi côn đồ] theo kiểu TQ và thường đồng hóa họ với «các thế lực phản động nước ngoài». Thậm chí họ còn kính cẩn làm ngơ trước những lá thư cảnh báo của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, huyền thoại trăm năm của nền độc lập VN, người bạn chiến đấu ngay từ buổi đầu của chủ tịch Hồ Chí Minh…


Những dấu hiệu phản ứng « cứng rắn » của VN

Nhưng tình trạng không thể cứ kéo dài như thế mãi bởi sự nhục nhã đã trở thành quá lớn đối với một dân tộc có truyền thống yêu nước nồng nàn và một tính cách vô cùng mạnh mẽ. Thực trạng kinh tế của quốc gia cũng không thể nào tránh khỏi điều đó: tương lai của đất nước, dải đất mà đôi khi chiều rộng chưa đến 100 cây số nhưng lại có bờ biển dài hơn 3000 cây số, sẽ là một tương lai chết nếu như vùng biển bị cướp đoạt. Không ai có thể chối cãi rằng Đảng Cộng Sản VN có quyền đòi hỏi vinh quang trong quá khứ, nhưng ngày nay họ phải hết sức thận trọng để không phải trả giá cho sự nhục nhã của hiện tại và thảm kịch của tương lai.

Do đó, trước sự phô trương sức mạnh quân sự của Bắc Kinh, VN đã thành lập một vùng quân sự mới, vùng số 2, chịu trách nhiệm bảo vệ vùng biển và hải đảo từ miền Trung đến miền Nam đất nước, bảo vệ các dân chài, nhà cửa, dân cư. Họ đang thử trang bị vũ trang hiện đại : tàu khu trục,tàu tuần tra, máy bay thám thính, tên lửa, trực thăng… Sự quân sư hóa cần thiết để sống còn này làm cho nền kinh tế thêm trì trệ và kìm hãm mạnh mẽ sự phát triển của đất nước.

Sự căng thẳng dâng cao

Trước quyết định kháng chiến rõ ràng của VN, các nhà lãnh đạo TQ lồng lên vì tức giận.Trong hàng trăm trang internet chịu sự kìểm soát gắt gao của Bắc Kinh, chúng ta có thể đọc được bài báo ngày 29/4/2010 với tựa đề : «Trung Quốc phải sử dụng vũ lực quân sự để tấn công bọn Việt Nam lòng lang dạ sói». Tác giả còn đề cập đến quan hệ giữa 2 nước giống như quan hệ giữa «người nông dân và con rắn»… Có đọan còn viết rằng : «cuộc chiến tranh Trung – Việt năm 79 vẫn chưa đủ dạy cho Việt Nam một bài học tơi bời thì trong bài học lần này, chúng ta cần làm triệt để, để Việt Nam có được bài học nhớ đời và cũng là vì lợi ích lâu dài của Trung Quốc». Cũng trong ngày 29/4, Tr ên trang Web «Hoàn cầu thời báo» và «Ren Minh bao (tức là báo Nhân dân) », cơ quan ngôn luận Dảng Cộng Sản TQ, người ta tìm thấy một bài với lời tựa hung hồn: “Giải quyết vấn đề Biển Đông , then chốt là hành động”.

Sau khi giới thiệu TQ giống như một nạn nhân vô tội trong một vụ cướp bóc tài nguyên trong khu vực, bởi «một số nước», các tác giả đã nêu lên mối nguy hiểm : «… Nước Mỹ, dưới sự giúp đỡ của các nước đồng minh như Sin-ga-po và Phi-lip-pin đã tăng cường sự tồn tại quân sự tại Biển Đông… có kế hoạch trở lại vịnh Cam Ranh, nhằm tiến tới sát đường ráp ranh cận hải của ta». Họ thản nhiên đưa ra chiến lược lấn chiếm của TQ từ mọi phía.

Về phía Việt Nam, ngày 7/5 vừa qua, Chủ tịch Quốc hội VN Nguyễn Phú Trọng, nhân vật số 4 trong Bộ chính trị của Đảng Cộng Sản VN đã kêu gọi hải quân «… sẵn sàng hiệp đồng chiến đấu với các lực lượng khác nhằm đánh bại mọi cuộc tiến công trên hướng biển».Cũng trong buổi lễ hôm ấy, Chuẩn Đô đốc Nguyễn Văn Hiến, trong bài diễn văn của mình, đã nhắc lại «sứ mệnh lịch sử» của hải quân VN là «dám đánh, quyết đánh và biết đánh thắng trong mọi điều kiện, hoàn cảnh».

Ngày 1/4/2010, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, trong chuyến viếng thăm đảo Bạch Long Vĩ của VN, cách Hải Phòng 70 hải lý, đã tuyên bố rõ ràng, không còn gì rõ hơn được nữa : «Đối với biên giới, lãnh hải, chúng ta luôn muốn hòa bình hưũ nghị giữa hai dân tộc, giữa các dân tộc có biên giới với chúng ta… Làm việc này trên cơ sở thương lượng, trao đổi, vận động, thuyết phục… Không để bất cứ ai xâm lấn bờ cõi của mình, biển đảo của mình… Chúng ta không tham của ai, nhưng một tấc đất quê hương chúng ta cũng không nhân nhượng».

Cuối ngày 11/5, tại Hà Nội, nhân Hội nghị các Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN (mà TQ không phải là thành viên), bộ trưởng VN, Đại tướng Phùng Quang Thanh đã tuyên bố rằng sự hiện đại hóa quân sự là chuyện bình thường, nhằm để bảo vệ đất nước tốt hơn và cũng để

«tạo sự răn đe». Răn đe: lần đầu tiên từ này được tuyên bố công khai bởi một vị lãnh đạo của VN. Nhưng răn đe ai? Chắc chắn không phải là các nước khác trong ASEAN.

Kết luận:

Mối đe dọa bùng nổ quân sự trong khu vực là có thật. Đó không phải là việc của các nước «nhỏ» ASEAN, bởi vì không ai trong số họ đe dọa TQ và họ cũng không hề quan tâm đến việc ấy. Dĩ nhiên càng không phải là VN. Tuy nhiên, có những giới hạn đối với các cuộc tấn công lấn chiếm gây ảnh hưởng đến sự sống còn của các nạn nhân. Chúng ta cũng có thể chờ xem phản ứng của các lực lượng có liên quan đến vấn đề an ninh trong khu vực.

Liệu rằng triều đại TQ hiện nay có dám coi thường quyền lợi của các dân tộc và luật pháp quốc tế bằng cách đem 1 tỉ 3 người TQ cùng với bom nguyên tử và các đòn trả đũa về kinh tế ra đe dọa hay không? Liệu TQ có thể khôi phục được quy luật cũ rích ngày xưa, quy luật chiến tranh của kẻ mạnh, với sự thông đồng của các bạn hàng quốc tế và các chính khách đại biểu hay không? Tuy nhiên, không ai trong số các nhà quan sát, các chuyên viên và các nhà phân tích lỗi lạc có thể nói rằng họ không hay biết điều đó bởi vì TQ đã tự lột mặt nạ của mình rồi!

Chẳng sớm thì muộn, càng không nói, càng lùi bước trong sự ích kỷ, tham lam và hèn nhát thì rồi đây chúng ta sẽ phải gánh chịu những thảm kịch đang xảy ra ở nơi khác mà chúng ta có thể ngăn chặn được. Munich(3) ở cách đây không xa và thế giới thì ngày càng nhỏ lại. Nếu chúng ta không hành động vì dân tộc VN và các dân tộc lân cận thì ít ra hãy hành động vì chính mình.

André Menras

Chú thích :

(1) Tác giả của bài báo về đề tài này – đã được phát hành trên báo l’ Humanité số ra ngày 14/5/2009 với tựa đề : «Việt Nam và Trung Quốc: ràng buộc hay trói buộc ?» – đồng thời cũng là tác giả tài liệu được đăng trong số 86 về các Nghiên cứu quốc tế, tháng 4- 6/2009 : «Lào, Cam-pu-chia và Việt Nam, những quân cờ đô-mi-nô đầu tiên của chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc?»
(2) Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
(3) Munich: Thành phố của Đức, nơi mà vào năm
1938, các đại diện của Chính phủ Pháp và Anh đã bật đèn xanh cho Hitler tấn công Ba-lan và Sét-xlô-va –kia vì họ muốn tránh chiến tranh xảy ra ở nước họ. Chỉ hai năm sau, Hitler đã tuyên chiến với Anh và Pháp.

Bản tiếng Pháp của tác giả vừa đăng trên La Marseillaise. Bản tiếng Việt cũng do tác giả chuyển ngữ và gửi trực tiếp cho BVN.

Posted: Fri May 28, 2010 1:34 am
by vuphong
Liên Minh Bài Trừ Nô Lệ Mới ở Á Châu (CAMSA)
phát triển hoạt động tại Ðài Loan

Wednesday, May 26, 2010

Mạch Sống Online

Image
Cựu Ðại Sứ Rees phát biểu tại buổi gây quỹ cho CAMSA tại Arligton, Virginia, ngày 21 Tháng Năm.
(Hình: Henry Nguyen/Mạch Sống)
Ðể yểm trợ cho văn phòng vừa được thành lập ở Ðài Loan, Liên Minh Bài Trừ Nô Lệ Mới Ở Á Châu (CAMSA) tổ chức buổi gây quỹ ở tư gia của một mạnh thường quân ở Arlington, Virginia.

Trước cử tọa gồm khoảng 40 thân hữu, trong đó có nữ tài tử Kiều Chinh đến từ California, TS. Nguyễn Ðình Thắng, giám đốc điều hành của BPSOS, cho biết là hiện nay có từ 600 đến 700 ngàn người Việt lao động ở ngoài nước.

“Tuy rằng không phải bất kỳ ai đi lao động ngoài nước cũng bị buôn lao động, tuy nhiên con số nạn nhân có thể rất cao”, Ông nói.

Theo ông cho biết, tỉnh Penang, Mã Lai, có khoảng 5 ngàn người Việt lao động. Thế mà trong 2 năm hoạt động, CAMSA đã can thiệp cho gần 2 ngàn nạn nhân, tức là 40% của tổng số người lao động Việt. Qua các vụ kiện dân sự, áp lực dư luận, và vận động chính sách, CAMSA đã thành công trong việc đòi các công ty liên can bồi thường gần một triệu Mỹ kim cho 1,300 nạn nhân.

Cựu Ðại Sứ Grover Joseph Rees, một trong số ít người tham gia soạn thảo đạo luật chống buôn người của Hoa Kỳ, nhận định rằng chính phủ Việt Nam có lẽ là chính phủ độc nhất ra mặt đứng về phía thủ phạm buôn người.

“Họ đã cử phái đoàn từ Hà Nội đến các hiện trường xẩy ra nạn buôn người để hăm dọa các nạn nhân dám đứng lên để tự bảo vệ quyền lợi,” Ông nói dựa trên kinh nghiệm bản thân.

Vị cựu đại sứ chính là người đã khởi động vụ can thiệp và giải cứu cho trên 200 nạn nhân Việt và Hoa trong vụ buôn người ở đảo American Samoa năm 2000. Hai công ty quốc doanh Việt Nam đã can dự vào vụ buôn người này.

Ðể đối phó với tình trạng buôn lao động ngày càng lan rộng ở Việt Nam, CAMSA không chỉ can thiệp cho nạn nhân mà, qua các hồ sơ cụ thể, nhắm vào việc thay đổi chính sách ở các quốc gia tiếp nhận người lao động như Mã Lai, Ðài Loan.

Trước nguy cơ bị chế tài bởi Hoa Kỳ, Mã Lai mới đây đã ban hành luật chống buôn người. Cuối năm 2009 CAMSA mở thêm hoạt động ở Kuala Lumpur, thủ đô của Mã Lai, để theo dõi và bảo đảm việc thi hành đúng đắn luật mới ban hành. Ngoài ra, từ Kuala Lumpur, CAMSA sẽ nới rộng hoạt động ra toàn quốc Mã Lai trong sự phối hợp với tổ chức Tenaganita, một thành viên của CAMSA.

TS. Thắng cho biết là trong 5 năm tới lui ở Ðài Loan để vận động chống buôn người, Ông đã chứng kiến sự thay đổi đáng kể về chính sách. Ðầu năm 2009, chính phủ Ðài Loan ban hành luật chống buôn người. Ðạo luật này bao gồm một số điều khoản do CAMSA đề nghị.

Ðể bảo đảm việc thi hành đạo luật mới ban hành, CAMSA đã phối hợp với tổ chức Phụ Nữ Cứu Viện Ðài Bắc (Taipei Women's Rescue Foundation) để mở văn phòng hoạt động ở Ðài Loan vào tháng 4 năm nay.

Trả lời câu hỏi của một thân hữu là làm sao để xúc tác thay đổi chính sách ở Việt Nam, TS. Thắng cho biết rằng qua các hồ sơ buôn lao động được can thiệp ở các quốc gia tiếp nhận, CAMSA chứng minh rằng có việc buôn bán lao động từ Việt Nam. Theo ông cho biết, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã có đủ chứng cớ về tình trạng buôn lao động từ Việt Nam và năm nay chú ý đặc biệt đến quốc gia này.

Cách đây không đầy hai tháng, chính quyền Việt Nam phổ biến dự thảo luật chống buôn người, đúng vào thời điểm Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ quyết định phân hạng các quốc gia. Ðây không phải là điều trùng hợp.

“CAMSA đã chứng minh hiệu quả của phương thức dùng một số hồ sơ cụ thể để thay đổi chính sách. Chúng tôi cần sự hỗ trợ của quý vị để theo đuổi phương thức này đến cùng,” TS. Thắng kêu gọi.

Nữ tài tử Kiều Chinh, có mặt tại buổi gây quỹ, kêu gọi các thân hữu có mặt hãy hết lòng yểm trợ cho CAMSA.

CAMSA chủ trương nhờ các mạnh thường quân thực hiện nhiều buổi gây quỹ nhỏ tại tư gia để giảm thiểu chi phí và thời gian tổ chức gây quỹ. Như vậy, mọi người có cơ hội hỏi han và trao đổi với nhau vào sâu trong từng vấn đề. Ðồng thời vì đỡ tốn công sức tổ chức gây quỹ, CAMSA có thể dành nhiều thì giờ hơn cho hoạt động bài trừ nạn buôn lao động.

Một tham dự viên, người Mỹ gốc Ðài Loan, khi tham dự buổi gây quỹ đã tình nguyện giúp cho văn phòng CAMSA ở Ðài Bắc khi trở về nguyên quán sinh sống vào Mùa Hè năm nay.

Với sự tham dự của khoảng 40 thân hữu, buổi tiệc gây được trên 5 ngàn Mỹ kim. Một số thân hữu không thể tham gia buổi gây quỹ cho biết sẽ gởi tiền ủng hộ đến sau.

Liên Minh Bài Trừ Nô Lệ Mới Ở Á Châu, viết tắt là CAMSA (Coalition to Abolish Modern-day Slavery in Asia) trong tiếng Anh, hiện gồm năm tổ chức thành viên: BPSOS, Ủy Ban Hoa Kỳ Bảo Vệ Người Lao Ðộng Việt Nam, Liên Hội Người Việt Canada, Hiệp Hội Nhân Quyền Quốc Tế (Ðức), và Tenaganita (Mã Lai). Sau một năm hoạt động, Liên Minh CAMSA đã can thiệp cho trên 30 vụ lớn nhỏ, ảnh hưởng đến ba ngàn công nhân. Liên Minh CAMSA cần sự yểm trợ của đồng bào để tiếp tục phát triển hoạt động nhằm can thiệp và trợ giúp nạn nhân, truy tố thủ phạm, và thúc đẩy những thay đổi về chính sách của các quốc gia.

Mọi đóng góp yểm trợ cho Liên Minh CAMSA, xin đề cho và gởi về: BPSOS/CAMSA, PO Box 8065, Falls Church, VA 22041 - USA.

Posted: Sat May 29, 2010 8:37 pm
by khieulong
‘Giải phóng mặt bằng’ và máu dân nghèo (*)
Friday, May 28, 2010

LTS: Nhân sự kiện công an bắn chết em Lê Xuân Dũng, 12 tuổi; và bắn bị thương hai người khác trong vụ phản đối cướp đất đai tại khu mặt bằng Nhà máy Lọc hóa dầu Khu kinh tế Nghi Sơn (thuộc địa bàn xã Tĩnh Hải, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa vào hôm 25/5/2010), Blogger Người Buôn Gió đã có bài viết trên blog của mình về cái gọi là ‘giải phóng mặt bằng’ ở Việt Nam.

Blog Người Buôn Gió

Nhiều năm sau cụm từ '' giải phóng mặt bằng'' chắc chắn sẽ đi vào lịch sử Việt Nam như một điển tích đau thương. Cụm từ này sẽ khắc sâu trong lòng người dân nghèo Việt Nam không khác gì những cụm từ trong quá khứ khiến nhiều người còn sống phải lạnh mình khi nhớ lại như '' cải cách ruộng đất , cải tạo tư sản, tập trung cải tạo,hợp tác xã, bao cấp, xếp hàng, tem phiếu..''
Image
Vũng máu còn lại tại hiện trường vụ công an bắn chết người ở Nghi Sơn, Thanh Hóa. (Hình: Bee.net.vn
)

Giải Phóng Mặt Bằng là một nét đặc trưng trong sự phát triển kinh tế Việt Nam ở những năm gần đây. Để công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Việt Nam phải dành một số diện tích đất đai để làm hạ tầng cơ sở cho các nhà máy, khu công nghiệp, khu du lịch sinh thái, khu đô thị mới, đường sá, cầu cống... Trong công cuộc đổi mới, phát triển hiện đại thì việc thu hồi quyền sử dụng đất để tập trung cho mục đích khác hiệu quả hơn là điều tất yếu. Đó là một việc làm đúng đắn mà bất kỳ quốc gia phát triển nào cũng phải trải qua. Ở Việt Nam cũng vậy. Có điều khi thu hồi quyền sử dụng đất chưa nơi nào trên thế giới này cụm từ '' GPMB '' lại gây nhức nhối . nhiều nước mắt như Việt Nam.

Trước tiên phải nói những khó khăn trong việc GPMB là do tâm lý của người dân Việt Nam từ ngàn đời để lại, đó là tâm lý nông dân, làng xã. Một tâm lý coi trọng đất đai là máu thịt, nơi gắn bó, chôn rau cắt rốn, nơi trở về. Hàng bao đời nay mảnh ruộng, cánh cò, lũy tre, bờ đê, thảm cỏ đi sâu vào đời sống người Việt, được khắc họa bằng đủ loại hình văn hóa, nghệ thuật như ca dao, thơ, hò, vè , kịch...đất đai với người Việt vốn thuần nông gắn bó như máu thịt, như bộ phận trên cơ thể. Sâu xa hơn nữa trong tiềm thức, tâm linh đó là một sự thiêng liêng đã nuôi nấng, sinh ra người nông dân. Phải xa quê hương, thoát ly, rời khỏi mảnh đất của mình đối với người nông dân là một điều bất đắc dĩ. Có những người đi xa quê hương gần hết đời người bên xứ lạ, khi chết vẫn thầm ước mong được chôn cất tại quê nhà. Với những trạng thái tâm lý, tình cảm ăn sâu từ đời này sang đời khác với đất đai, việc buộc phải chuyển đi nơi khác hay buộc phải từ giã canh tác, di chuyển nhà ở nhất là mồ mả là điều tối kỵ đối với người nông dân.
Image
Xác em Lê Xuân Dũng tại bệnh viện Tĩnh Gia, Thanh Hóa. (Hình: Bauxite Việt Nam)
Khó khăn nữa lại thuộc về những người thực hiện dự án, từ những thiếu sót trong việc tuyên truyền, đền bù khiến người dân vốn đang bị tổn thương càng thêm phẫn uất. Một anh bạn từng làm công tác giải quyết khiếu kiện về đất đai, đền bù đã buồn bã nói với tôi

- 80% dân khiếu kiện là đúng, chỉ có số ít chày bửa hay do thế lực bên ngoài kích động.

Phải nhìn thực sự rằng có nhiều kẻ đã lợi dụng công cuộc hiện đại hóa, thu hồi đất, GPMB để toan tính trục lợi. Đó là điều hiển nhiên, con số này không những ít mà còn đông đảo. Nhiều khu đất dùng làm nhà máy không sử dụng hết diện tích. Khi lập dự án những kẻ đầu tư cố tình vẽ cho thật rộng ra, rồi xây rào khoanh lại, một cái nhà xưởng vài chục công nhân sản xuất giấy ăn cùng lắm dùng đến vài ngàn mét vuông là quá đủ. Nhưng vẫn cứ khoanh cả một diện tích bao la chủ yếu với mục đích chiếm giữ đất, sau này chia bớt, nhượng lại ăn chênh lệch cao gấp mấy lần vốn ban đầu bỏ ra. Việc đền bù 24 triệu 1 sào ruộng, san lấp rồi bán trao tay cho đầu tư Đài Loan 300 triệu 1 sào ở Mao Điền, Hải Dương khiến người dân phẫn nộ, những bà mẹ liệt sĩ phải cắn răng bê di ảnh của con mình đi khiếu kiện, phản đối trước hàng hàng, lớp lớp đủ các loại cảnh sát trang bị hầm hố như đánh trận. Chúng ta thường thấy những hình ảnh quân đội, cảnh sát dàn quân như vậy chỉ có trong chiến tranh, trên phim ảnh. Thế mà ngày nay trên đất nước của mình đã sạch bóng quân xâm lược. Cớ sao súng ống, dùi cui, hơi cay , quân đặc nhiệm vẫn hàng ngày dàn trận trên khắp các vùng đất quê hương, chiến tranh đang xảy ra ư, chiến tranh với kẻ thù nào. Kẻ thù là những người đàn bà bê di ảnh con trai trong bộ quân phục, loang lổ vết ố của thời gian sao. Là những ông cụ , bà cụ già từng nuôi dấu cán bộ, là những người treo trong nhà hàng hà đa số những tấm bằng khen, ghi công trạng vì hy sinh cho đất nước có chủ quyền đó sao?
Image
Em Lê Xuân Dũng chết vì đạn bắn vào bụng. (Hình: Bauxite Việt Nam)
Có câu chuyện tôi nghe kể, không rõ có phải thật hay chuyện đùa. Một trợ lý của một quan chức địa phương hiến kế lấy khu đất của dân làm khu biệt thự bán kiếm doanh thu cho địa phương (tất nhiên là có phần riêng cho những người tham gia và quyết định).

Quan chức nói
- Làm thế dân nó kêu

Trợ lý
- Mình đền bù theo giá quy định của nhà nước, đứa nào kêu được.

Quan chức.
- Giá quy định có sát thực tế đâu, đền thế nó kéo nhau cả lũ biểu tình thì rách việc.

Trợ lý
- Chúng mà kéo đông định gây áp lực, cứ khoác cho bọn thế lực thù địch đứng đằng sau xui dục chống phá, mưu hại đất nước. Cho quân đến dẹp hết là xong. Làm đúng quy định, biểu tình, khiếu kiện cái gì.

Câu chuyện nghe còn chua chát hơn cả thời thực dân, thời mà bọn lý trưởng, cường hào chôn rượu lậu để cướp đất người lương thiện. Có lẽ câu chuyện trên chỉ là một chuyện đùa trong dân gian, thế nhưng nghe vẫn chua xót vì thực tế không xa câu chuyện bao nhiêu.

Chúng ta thử điểm xem có bao vụ chống đối đền bù GPMB, bao người dân phải ra tòa vì tội ''chống đối, phá hoại đường lối chính sách, gây rối trậ tự cộng cộng, chống người thi hành công vụ''. Xin thưa có quá nhiều, hầu như tỉnh thành nào cũng có. Cá biệt có những dự án ban đầu định lấy đất để chia lô xây biệt thự, xây nhà hàng kinh doanh, dân phản ứng thì thay đổi làm thành vườn hoa công cộng, di tích này nọ. Xử sự như thế sao mà dân tin tưởng được. Sao mà không gây hoài nghi, ức chế trong lòng dân.

Vì chuyện GPMB mà nhân dân và cảnh sát đụng độ với nhau như kẻ thù. Bạo loạn cũng có, dân đi tù cũng có, dân thương tích cũng có, giờ cả trẻ em chết nữa như vụ Nghi Sơn này thử hỏi đến lúc cần phải nhìn nhận nghiêm khắc về những ẩn số đằng sau việc GPMB hay chưa.?

Người dân thường nghe những luận điệu của đài, báo là do dân thiếu thông tin, do dân không hiểu biết, do dân bị xúi dục, dân thế này, thế nọ. Có bao giờ chúng ta đặt câu hỏi là tại sao chính sách đúng của chính quyền mà hết năm này sang năm khác, nơi này sang nơi khác tình trạng chống đối, phản ứng, khiếu kiện việc GPMB vẫn xảy ra ngày càng gia tăng với mức độ trầm trọng. Phải chăng do chính quyền quá mềm mỏng, chính quyền thiếu công cụ hỗ trợ thông tin ..? Vô lý, nhìn những vụ việc khi xảy ra mà xem. Chính quyền huy động đầy cảnh sát, quân đội vũ trang có vũ khí, công cụ đông gấp mấy lần dân khiếu kiện, đài báo lâu nhâu vào lên án, phê phán dân..

Hôm trước ở Cồn Dầu một cụ già chết, vì chuyện GPMB mà quan tài cụ thành vật tranh giành giữa chính quyền và nhân dân. Hôm nay cũng vì GPMB ở Tĩnh Gia, Thanh Hóa mà máu người dân phải đổ do súng đạn, một trẻ em thiệt mạng. Đó là chưa kể bao người vì uất ức mà thành đổ bệnh. Đã có bài học nào rút ra một cách công khai, thẳng thắn để rút kinh nghiệm GPMB giữa dân và chính quyền chưa. Hay cứ để một bên ỷ vào con bài ''thế lực thù đich'' để quy kết lấy cớ dùng bạo lực, một bên thì cứ đơn sơ theo cảm tính ông cha ngàn đời mà xông ra ngăn cản để hứng dùi cui, đạn nhận lấy nhà tù, thương vong, chết chóc.

Đất nước không còn bóng ngoại xâm mà máu người dân vẫn nhuộm đỏ đất quê hương để giành giữ. Đau đớn là chết do súng đạn, những thứ chỉ được dùng trong chiến tranh, cho kẻ thù.

Bỗng nhiên tôi cảm giác rằng các thế lực thù địch mà nhà nước ta hay nói không xa xôi bên tận phương trời nào, không mơ hồ như cái tên nhóm nào đó tận đâu. Mà nó rõ ràng, hiện hiển ngay quanh tôi, ngay trước mặt mọi người dân.

Khuôn mặt chúng mỡ màng mà ta hay thấy đâu đó hàng ngày trên báo chí, trên truyền hình.

(*) Tựa bài do Người Việt Online đặt
http://nguoibuongio.multiply.com/journal/item/466

Posted: Sun May 30, 2010 1:49 am
by mudo
Một chế độ điên khùng

Ngô Nhân Dụng
Mỹ và Nam Hàn đang tổ chức thao diễn quân sự gần biên giới Bắc Nam và tập luyện chiến thuật chống tàu ngầm gần đường giới tuyến, để chứng tỏ Mỹ vẫn đứng bên cạnh đồng minh Hàn Quốc. Ngoại Trưởng Hillary Clinton hứa với Ngoại Trưởng Nam Hàn Yu Myung Hwan (Lưu Minh Hoàn) hoàn toàn ủng hộ các biện pháp trừng phạt Bắc Hàn; sau khi một ủy ban điều tra quốc tế cho biết chính Bắc Hàn gây ra vụ đánh đắm chiến hạm Cheonan khiến 46 thủy thủ thiệt mạng. Chính phủ Nam Hàn quyết định chấm dứt các công tác viện trợ kinh tế và nhân đạo cho miền Bắc. Ðể đáp lại, Bắc Hàn cũng ngưng mọi cuộc tiếp xúc với chính phủ miền Nam, đuổi các nhân viên Nam Hàn trong ủy ban liên lạc, và ra lệnh quân và dân miền Bắc chuẩn bị chiến tranh toàn diện nếu bị Liên Hiệp Quốc phong tỏa kinh tế. Mỹ sẽ tham khảo Nam Hàn và các nước trong Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc về các biện pháp trừng phạt đối với chế độ Cộng Sản ở Bình Nhưỡng.

Ðây không phải là một cuộc đụng độ lớn đầu tiên giữa hai mảnh đất Hàn Quốc, miền Nam tự do dân chủ và miền Bắc độc tài Cộng Sản. Sau thỏa hiệp “đình chiến” chấm dứt cuộc chiến tranh Cao Ly 1950-1953, hai nước vẫn chưa ký hòa ước, trên nguyên tắc lúc nào họ cũng ở tình trạng chiến tranh. Ðường ranh giới trên biển mà chính phủ Nam Hàn vạch ra chưa bao giờ được Bắc Hàn công nhận. Cho nên, lâu lâu một chiến thuyền Bắc Hàn vượt qua lằn ranh, hải quân Nam Hàn yêu cầu rút đi không nghe, và hai bên nổ súng. Năm 1999, một cuộc hải chiến đã xảy ra, khiến 17 thủy thủ Bắc Hàn chết trên một chiếc tầu tuần duyên. Từ đó tới nay đã có 10 lần hai bên bắn nhau trên mặt biển. Tháng Hai năm 2002, một vụ chạm súng trên biển làm 4 thủy thủ Nam Hàn chết và 18 người bị thương. Sau biến cố này, Kim Chính Nhật đã bầy tỏ thiện chí bằng cách gửi đội đá bóng Bắc Hàn tham dự vào Á Vận Hội, do Nam Hàn đóng vai tổ chức. Giới ngoại giao giải thích đó là một cử chỉ ngụ ý “xin lỗi” của “Lãnh tụ Kính yêu” miền Bắc.

Tại sao Bắc Hàn gây ra vụ đánh đắm chiếc tầu Cheonan vào ngày 24 Tháng Ba vừa qua?

Một giả thuyết cho rằng Kim Chính Nhật muốn gây sự để ảnh hưởng tới cuộc bỏ phiếu ở Nam Hàn vào tháng tới. Gây ra tình trạng căng thẳng có thể khiến dân chúng Nam Hàn sợ và không ủng hộ đảng cầm quyền, vì Tổng Thống Lee Myung-bak (Lý Minh Bác) đã chấm dứt nhiều chương trình viện trợ cho miền Bắc mà hai đời tổng thống trước đã bắt đầu. Kim Chính Nhật có thể tín toán rằng có gây căng thẳng thêm cũng chẳng mất gì, nhưng có thể thúc đẩy các đảng đối lập ở miền Nam tỏ ra ôn hòa hơn để tranh cử. Nhưng nếu tính toán như vậy thì Kim Chính Nhật không thành công. Dân chúng Nam Hàn đã quá mệt mỏi với những cố gắng hòa giải và “hàn gắn” của các vị tổng thống cũ, và họ sẽ ủng hộ đường lối cứng rắn của đương kim tổng thống.

Một nguyên nhân khác, có thể là do chính trị nội bộ của chế độ Cộng Sản Bắc Hàn. Từ khi có tin ông Kim Chính Nhật bị bệnh nặng, cuối năm 2008, Bắc Hàn đã tỏ ra có thái độ gây hấn nhiều lần; chỉ cốt cho thế giới bên ngoài không để ý tới tình trạng suy yếu của ông ta. Ðồng thời, họ muốn cho thế giới thấy không ai có khả năng tiên đoán các hành động của lãnh tụ Cộng Sản này. Trong mấy tuần lễ, Tháng Tư và Tháng Năm năm 2009, Bình Nhưỡng đã phóng hỏa tiễn tầm xa và cho thử một vụ nổ nguyên tử lần thứ nhì. Sau khi Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc làm nghị quyết lên án, Bắc Hàn tìm cách xoa dịu dư luận, bằng việc trả tự do cho hai người Mỹ gốc Hàn Quốc và một người Nam Hàn. Sau đó, họ lại khiêu khích ngay lập tức bằng quyết định tịch thu tài sản của công ty du lịch tại vùng núi Kim Cương (Geum Gang), vốn là một vụ đầu tư nhắm mở cánh cửa thân thiện do chính phủ Nam Hàn khởi xướng. Chính phủ Bình Nhưỡng vừa mới ngỏ ý sẽ tham dự một cuộc đàm phán về năng lượng nguyên tử, thì vụ đánh tàu Cheonan xẩy ra. Vào Tháng Mười Một 2009, một chiếc tàu Bắc Hàn vượt qua lằn ranh giới trên biển, hải quân Nam Hàn ngăn chặn, gây ra một cuộc hải chiến; sau đó tàu Bắc Hàn phải bỏ chạy, một thủy thủ bị chết.

Sau nhiều năm ngoại giao lúc nóng, lúc lạnh chế độ Bắc Hàn đã làm cho thế giới nghĩ rằng các lãnh tụ họ Kim, từ đời bố Kim Nhật Thành, đến đời con Kim Chính Nhật có thể hành động điên rồ, khó hiểu, thậm chí phi lý. Họ không cần quan tâm đến cuộc sống kinh tế cũng như sinh mạng của nhân dân, cho nên không thể đoán trước họ sẽ làm gì.

Chính quyền Cộng Sản Bắc Hàn có thể gây hấn qua vụ Cheonan chỉ để làm cho thế giới chấn động, gây tiếng vang và các phản ứng đối nghịch, rồi tuyên truyền với dân chúng rằng họ đang bị Nam Hàn và Mỹ đe dọa. Trong một chế độ Cộng Sản bưng bít tin tức, họ sẽ thành công. Ðấy là một cách làm cho dân quên đói. Tháng trước, đã có tin nạn đói đang đe dọa nông dân Bắc Hàn; vì chính sách quản lý nông nghiệp theo lối xã hội chủ nghĩa vẫn thất bại như xưa. Bao nhiêu tài nguyên được chế độ Cộng Sản đổ hết vào việc chế vũ khí và nuôi quân đội, cho nên những nông dân làm ra lúa gạo là những người đầu tiên bị đói, trong khi đó dân thành thị lại nếm mùi thiếu thốn nhu yếu phẩm. Không khí chiến tranh là một phương tiện để điều khiển dư luận dân chúng, như Bắc Hàn đã từng sử dụng nhiều lần.

Một giả thuyết khác là các hành động gây hấn nhắm tạo uy tín cho người kế vị mà Kim Chính Nhật (Kim Jong Il) chỉ định là Kim Chính Vân (Kim Jong Un), đang được bố chuyển giao quyền hành. Trong khi bố đang chờ chết, ông con thứ ba mới 26 tuổi muốn tỏ ra là người cứng rắn hơn hai người anh lớn tuổi hơn. Cậu Chính Vân là con một người thiếp yêu của bố, hồi nhỏ đã được đưa qua Thụy Sĩ sống, giả làm con một nhân viên ngoại giao Bắc Hàn để mỗi ngày được xe đưa đi học trong trường Thụy Sĩ. Kim Chính Vân có thể chủ trương đánh đắm chiếc tàu Cheonan của Nam Hàn để trả thù cuộc đụng độ vào cuối năm ngoái. Chính cậu ta có thể đặt kế hoạch đánh chìm một tàu thủy Nam Hàn để trả thù vụ thất bại năm ngoái. Cầu muốn chứng tỏ mình có khả năng điều khiển lực lượng quân sự một triệu người, thử đặt các tướng lãnh già nua trong bàn tay kiểm soát của mình. Trong chế độ Cộng Sản, các lãnh tụ muốn ngoi lên hàng đầu vẫn phải tìm cách kiểm soát quân đội. Chức vụ duy nhất trong những năm sau cùng của Ðặng Tiểu Bình chỉ là chủ tịch Quân ủy Trung ương.

Những giả thuyết trên có thể đều đúng một phần. Nhưng đó là một điều đáng lo ngại cho cả thế giới. Vì chế độ Cộng Sản Bắc Hàn sẽ còn tiếp tục để cho dân bị đói, và phải tiếp tục làm sao cho dân quên đói. Vấn đề kế vị sẽ còn kéo dài, ngay cả khi Kim Chính Nhật chết và Kim Chính Vân lên nối ngôi rồi, thì cũng phải mất nhiều năm mới yên vị được. Và chế độ Bắc Hàn sẽ còn gây không khí chiến tranh để có lý do chế tạo thêm vũ khí. Bắc Hàn đã thí nghiệm bom nguyên tử 2 lần và không ai biết họ có trái bom nào nữa hay không! Nhưng hàng ngàn hỏa tiễn vẫn sẵn sàng bắn tới Hán Thành (Seoul) trong vài phút và các hỏa tiễn tầm xa có thể phóng sang tới Nhật Bản. Với đóng vũ khí lớn lao đó, các thế hệ lãnh tụ Bắc Hàn sẽ tiếp tục đóng vai trò điên khùng của họ để làm ông “Ngáo ộp” đe dọa các nước chung quanh.

Trung Quốc là nước có khả năng làm áp lực với Bắc Hàn. Ba phần tư nhiên liệu và gần nửa số thực phẩm của Bắc Hàn là do Trung Quốc cung cấp. Gần 40% số ngoại thương của Bắc Hàn là với Trung Quốc (1.60 tỷ Mỹ kim). Có gần nửa triệu người Bắc Hàn sống ở Mãn Châu, trong đó hơn 100 ngàn là những người tị nạn, có thể tuyển được một đạo quân gián điệp và phá hoại. Nhưng bề ngoài, Bắc Kinh vẫn không bao giờ tỏ ý hăm dọa ông Kim. Vì các chế độ Cộng Sản Á Châu có cách nói chuyện khác với thế giới bên ngoài!

Ngày 5 Tháng Năm, Chủ Tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Ðào đã khuyên chính quyền Cộng Sản Bắc Hàn nên cải tổ kinh tế và mở cửa ra với thế giới bên ngoài. Theo kinh nghiệm Bắc Kinh, đây là con đường duy nhất để “cải tổ chế độ” ở Bình Nhưỡng. Một khi con cháu các lãnh tụ Cộng Sản được tư bản hóa thì họ sẽ bớt hiếu chiến. Và họ sẽ tỏ ra bình thường hơn, không còn những cử chỉ và hành động điên rồ, khó hiểu nữa! Kim Chính Vân đã thấy cuộc sống thịnh vượng ở Thụy Sĩ, chắc sẽ được thuyết phục dễ hơn ông bố nhà quê!

Ðối với Trung Quốc, con đường tư bản hóa Cộng Sản Bắc Hàn sẽ có lợi hơn là hiểm họa chiến tranh. Nếu Bắc Hàn gây chiến, khi bộ đội của gia đình họ Kim tiến vào miền Nam, thấy cảnh sống trù phú ở đó, chắc chắn họ sẽ đào ngũ hết. Và quân Mỹ và Nam Hàn sẽ tiến đến gần sông Áp Lục, điều mà Mao Trạch Ðông ngày xưa đã lo sợ và hàng triệu lính Trung Cộng được gửi sang Hàn Quốc chết để ngăn cản. Nhưng hiểm họa lớn nhất đối với Trung Quốc là khi chiến tranh xảy ra hàng trăm ngàn dân Bắc Hàn tị nạn sẽ tràn qua biên giới vào nước Tàu. Ðó là cảnh tượng nhất định Bắc Kinh không cho xẩy ra!