Page 39 of 85

Posted: Wed Jul 18, 2012 5:41 am
by lengoi
"Cấm Đái Bậy"

Ts.Alan Phan

Cái hành động nhỏ nhặt nhanh chóng tạo nên một tư duy mới và nhiều kế hoạch bổ sung khác tiếp tục nối đuôi. Càng “làm” nhiều, càng khiến chúng trở thành thói quen hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng.

Con rắn không thay được da phải chết. Những đầu óc không chịu cởi mở thay đổi sẽ ngừng hoạt động. – Friedrich Nietzsche.

Cách đây vài tháng, một chuyện cười được phổ biến quanh vòng các nhà ngoại giao sống ở Hà Nội và tôi được nghe lại từ một quan chức cao cấp Việt. Một du khách Anh hỏi một hướng dẫn viên du lịch,” Chúng tôi đã đi thăm Vịnh Hạ Long (Ha Long Bay), Vịnh Cam Ranh (Cam Ranh Bay)… Một vịnh khác tôi thấy quảng cáo khắp xứ này, chắc phải hấp dẫn lắm, chúng tôi muốn tới Cam Dai Bay.”

Chúng tôi cười một chút, nhưng tôi không biết nghe xong, ông có thấy chút hổ thẹn. Một dấu ấn có thể nhiều hơn các biểu ngữ vinh danh tổ quốc, anh hùng, thành tích…lại là ba chữ đơn giản, “cấm đái bậy”.

Tại New York vào thập niên 1970′s, lối quản trị hành chính của các thị trưởng phe khuynh tả đảng Dân Chủ như Lindsay, Koch…khiến tỷ lệ tội ác công cộng như trộm cướp, giết người, mại dâm…tăng mạnh. Khu Times Square (Công Trường Thời Đại) nổi danh không còn bóng du khách vì đây là trung tâm ổ chứa các tệ nạn về đêm. Kinh tế khủng hoảng, ngân sách lãng phí với các chương trình mị dân. Các ông thị trưởng “siêu tiến bộ” này, cho rằng phần lớn tội phạm là những dân da đen nghèo khó, phải cứu giúp và giáo dục thay vì trừng phạt. Người giàu chạy trốn khỏi thành phố, vì thuế lợi tức và kinh doanh lên rất cao và tội ác càng ngày càng gia tăng, khiến cho ngân sách càng thêm hao hụt.

Kết quả là New York gần tuyên bố phá sản vào năm 1975, phải nộp đơn xin chính phủ liên bang cứu viện và Tổng Thống Ford trả lới với câu nói bất hủ,” Drop Dead” (Chết cho rồi).

Cử tri quay bầu cho đảng Cộng Hòa và thị trưởng Rudy Giuliani hứa sẽ quét sạch mọi rác rưởi cho xã hội. Chương trình của ông bắt đầu bằng một bước rất nhỏ: dẹp sạch bọn lau cửa kính xe hơi.

Khoảng 10 năm trước đó, các trẻ em nghèo New York nghĩ ra một cách kiếm tiền lẻ khá công hiệu. Tại vài ngã tư nơi hay xẩy ra nạn kẹt xe, các em xin tài xế cho lau chùi kính xe để đổi lấy một hai đô la tiền “tip”. Phần lớn không ai từ chối lời mời dễ thương này từ các khuôn mặt ngây thơ và cũng vì số tiền quá bé.

Thấy các em làm ăn được, bọn tội phạm nhẩy vào kinh doanh theo bình diện lớn. Các tay đầu gấu được trải khắp thành phố tại mọi ngã tư và gần như đòi tiền mãi lộ mọi tài xế. Trước khi tài xế có dịp phản ứng, chúng xịt loại thuốc chùi nhiều bọt xà phòng xóa hẳn tầm nhìn. Bạn nào không trả 5 đô la (hay hơn nữa cho các siêu xe) phải tự leo xuống lau chùi cửa kính, gây nạn kẹt xe khủng khiếp. Bạn nào phàn nàn có thể bị ăn đòn tại chỗ hay xe bị cào xấy trướt. Chính quyền không can thiệp vì đây là nhóm cử tri “nghèo” cần được xã hội giúp đỡ.

Guiliano diệt trừ bọn “lau kính xe” không nhân nhượng. Chỉ trong 3 ngày khi ông nhậm chức, New York không còn bóng dáng một tên lau kính xe nào, kể cả trẻ em. Đây là một thông điệp ngắn gọn và hữu hiệu. “Chúng tôi không chấp nhận một tệ nạn xã hội nào, dù nhỏ nhoi.” Một thông điệp không hề loan truyền qua các mạng truyền thông hay biểu ngữ, mà bằng “hành động” thực tế, dứt khoát và nhanh chóng. Khỏi cần phải nói thêm là sau đó, New York trở lại với vị trí “Ông Hoàng của các thành phố Mỹ”. Kinh doanh bộc phát tạo thanh khoản cho ngân sách, tội phạm đi xuống vì pháp luật nghiêm khắc, người giàu và du khách nườm nượt quay lại… tất cả vì New York lại trở nên một vùng đất lành, nơi đáng sống.

Cách đây 20 năm, sức khỏe của tôi cũng suy sụp tệ hại. Như nhiều đứa trẻ khác ở Việt Nam, thói quen đánh răng của tôi từ giáo dục gia đình và xã hội là một lần vào buổi sáng khi thức dậy. Khi gặp người đẹp hay dự các buổi họp quan trọng, tôi nhai thêm miếng “gum” bạc hà cho thơm miệng. Cho đến một ngày khi tôi đọc một bài viết là vi khuẩn trong răng thực sự là nguồn gốc của mọi loại bệnh tật, kể cả bệnh tim mạch. Sống hơn 40 năm, chẳng bác sĩ nào nói với tôi điều này.

Từ hôm đó, tôi luôn luôn đánh răng sau mỗi lần ăn, dù ăn nhiều hay ít. Thói quen nhỏ nhặt này cải thiện sức khỏe tôi thấy rõ. Từ bước đầu đơn giản đó, tôi bắt đầu chú ý đến các kiến thức về sức khỏe nhiều hơn, từ cách ăn uống rau củ, tập thể dục đến cách tập thở và ngồi thiền. Tôi hãnh diện mà nói, 20 năm nay, tôi ít bệnh hoạn hơn 40 năm trước đó.

Cái hành động nhỏ nhặt nhanh chóng tạo nên một tư duy mới và nhiều kế hoạch bổ sung khác tiếp tục nối đuôi. Càng “làm” nhiều, càng khiến chúng trở thành thói quen hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng.

Môi trường vệ sinh ở Singapore có thể coi là sạch nhất thế giới. Tất cả bắt đầu bằng một lệnh cấm khạc nhổ, vất rác bừa bãi…nơi công cộng của chính quyền Lý Quang Diệu vào năm 1968. Người dân Singapore đã tập thói quen này khi biết rằng cảnh sát Singapore rất quyết liệt trong việc thực thi luật này (phạt đến 100 đô la Sing khi vất tàn thuốc bậy). Cũng gốc người Tàu, nhưng dân Singapore hành xử khác hẳn người Tàu Trung Quốc, dù nơi công cộng hay chốn riêng tư.

Nguồn gốc của văn minh và văn hóa của một cá nhân hay một dân tộc bắt đầu từ những quyết định nhỏ nhặt và đơn giản. Nhiều bạn hỏi nếu tôi “được” tư vấn các nhà lãnh đạo thì tôi sẽ khuyên họ làm gì? (thực tình, ngày mà tôi được mời tư vấn thì ngày đó chắc là ngày sau cùng của trận Thế Chiến Thứ Ba). Tuy nhiên, nếu chuyện khó tin này hiện thực, tôi sẽ nói là các bác hãy ra một lệnh trong ngày đầu tiên nhậm chức là ”tên nào đái bậy hay xả rác bậy sẽ bị nhốt 3 ngày tù”. Và nghiêm chỉnh thực thi luật pháp không nhân nhượng, dù người vi phạm là vợ chồng hay con cháu yêu quý của các bác.

Khi bỏ tù những tên đái bậy trên đất đai đường phố, người dân sẽ hiểu là các bác cũng sẵn sàng bỏ tù những tên đái bậy trên nền kinh tế và tài chính xứ này.

Nguồn: Góc Nhìn Alan Phan

Posted: Wed Jul 25, 2012 5:49 am
by lilac2010
Văn Hóa Ngọng

Tác giả : Trần Văn Giang
Lời giới thiệu:

Ngôn ngữ là một món quà quý báu mà thượng đế đã ban cho con người. Ngôn ngữ với một số ràng buộc khá phức tạp về cách phát âm, chính tả, và văn phạm cũng là một phần rất quan trọng của văn hóa. Qua cách dùng ngôn ngữ “đúng cách” (chuẩn, chính xác, đơn giản, dễ hiễu), con người không chỉ đạt được mục tiêu trình bày trọn vẹn ý tưởng; mà còn vô hình trung làm cho mọi người chung quanh biết thêm về trình độ học vấn, tư cách, địa vị (chỗ đứng) của người sử dụng nó trong xã hội.

Trước hết người viết cũng xin thành thật mong quý vị thấy mục đích của bài này là một tạp bút giới thiệu một số phương ngữ của vùng, miền; trình bày thêm những những khó khăn mà người sử dụng đã gặp lúc cần phải giao tiếp với người sống ở bên ngoài môi trường cố hữu của mình. Một số thí dụ và các ghi chép tự nhiên không thêm bớt từ nhiều nơi (nghe sao thì ghi lại y như vậy) sẽ được đề cập chỉ có tính cách tượng trưng, chứ không hề có ngụ ý “pha tiếng,” hay để “chửi” ai cả… Người viết cũng muốn mạnh dạn và thận trọng nêu lên một số vấn đề phát âm, chữ viết vượt qua khỏi phạm vi giới hạn của địa phương cần được quan tâm cùng với các quan sát, nhận định rất chủ quan (và người viết chờ mong sự chỉ trích của quý vị cao kiến) về sự phát âm khác biệt (nói nôm na bình dân học vụ là “ngọng”) theo vùng, miền của dân Việt nói chung và chính ngay gia đình cá nhân của người viết để chúng ta cùng góp thêm vào một giải thích, một phương cách khả dĩ có thể sửa chữa, làm thay đổi hoàn cảnh khó khăn trong lãnh vực thông tin, giao tiếp hiện nay.

Điểm đặc biệt đáng lưu ý là “phát âm khác biệt theo vùng” và “ngọng,” xét cho kỹ, là hai vấn đề khác nhau; nhưng để đơn giản hóa, người viết sẽ gom cả hai thể loại này thành một dạng để tiện phân biệt với dạng “chuẩn” ở bên kia lằn ranh. Cũng không khó khăn gì lắm, quý vị sẽ thấy rõ khi nào là “phát âm khác biệt” và khi nào là “ngọng” trong những giòng kế tiếp…

TVG


Ngọng thường xuất phát từ (địa) phương ngữ, thổ ngữ có nghĩa là chỉ chi phối, chỉ có ảnh hưởng giới hạn trong một miền, vùng, địa phương nào đó. Tuy nhiên trong thực tế, qua cuộc cách mạng tin học và với sự có mặt của một nền văn hóa xhcn “Mac Keno” không người lái, vinh quang vô địch… (trong cái văn hóa “Mac Keno” - mặc kệ nó – chủ trương ngu dân thì việc dân bị ngọng cũng là chuyện tốt thôi; miễn sao dân ngu cứ việc “ngu” và đừng “phản động, chống đối đảng và nhà nước” là được rồi!) Ngọng nói đã dần dà tràn lan qua ngọng viết và cả hai thứ ngọng trở thành quốc nạn hồi nào mà không hay. Hãy nghe và xem các thí dụ thật - không phải loại vu vơ chế nhạo để giải trí tiếng nói vùng miền trong các hài kịch rẻ tiền, vô trách nhiệm - Các “video clip” phỏng vấn các bác “nhân dân” trong nước, hoặc các tựa đề, các bài viết đứng đắn trên báo in và báo điện tử “lề phải,” băng rôn tuyên truyền của chính quyền cs, bảng chỉ dẫn lưu thông của “nhà nước,” bảng hiệu thương mại, quảng cáo của quần chúng toàn quốc trước mắt bàn dân thiên hạ, chúng ta không khỏi lo lắng ái ngại cho tương lai tiếng Việt.

Có lẽ chúng ta chưa hề thấy có thống kê chính thức nào cho toàn quốc Việt Nam về tỉ lệ dân chúng nói ngọng; nhưng theo cá nhân tôi, phải có đến trên 50% dân số Việt Nam nói “ngọng” cách này hay cách khác.

Khái quát về phương ngữ ba miền

Nói ngọng là “đặc sản” của địa phương, là chuyện bình thường; Tuy vậy, lúc nào cũng có ngoại lệ. Không phải bất cứ ai sống trong một vùng có người nói ngọng thì họ cũng đương nhiên phải nói ngọng. Có nhiều người người sinh ra và sống ngay trong vùng nói ngọng, chẳng hạn đa số dân Hà Nội không nói ngọng “l,n,” mà họ lại “dị ứng” với việc nói ngọng, đó chưa kể đến chuyện họ đôi khi tỏ vẻ “kỳ thị” (khinh thường) đồng bào nói ngọng(!).

Một lần nữa, những ghi chép sau đây chỉ có tính cách tượng trưng điển hình, không phải là tuyệt đối; tất nhiên còn cần nhiều bổ túc và sửa chữa.

1- Bắc kỳ

Cơ bản sự “ngọng” của dân Bắc kỳ là phát âm “nhẹ” hẳn đi các phụ âm dẫn đầu mỗi chữ (như tr, r, s…) Các Ngôn ngữ gia khắt khe hơn thì cho rằng người Bắc “lười” không chịu khó uốn lưỡi một chút cho đúng âm mà lại chọn khuynh hướng đọc dễ dàng hơn: giảm bớt cái âm uốn cong hay cao lên của phụ âm đầu.

Dân Bắc kỳ nhất là các vùng Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh, Nam Định, Hà Nam, Bắc Ninh…v.v..., và ngay cả dân cư đất “ngàn năm văn vật” - 13 huyện Hà Nội - rất “phổ thông” nói ngọng líu lo (và đặc biệt bị lưu tâm nhiều nhất) hai phụ âm “l,n.” Chẳng hạn:

“Đi Hà lội mua cái lồi về lấu cơn lếp”
(“Đi Hà nội mua cái nồi về nấu cơn nếp”)


Hoặc là:

“Chỗ lước lày lông, lội được!”
(“Chỗ nước này nông, lội được!”)


Hay:

“Thằng Nong nàm việc thì nếu náo; nhưng nòng nợn thì ló gắp nia gắp nịa.”
(“Thằng Long làm việc thì lếu láo; nhưng lòng lợn thì nó gắp lia gắp lịa.”)

“Mình không nàm thì có bảo mình không nàm; mà mình nàm thì ló nại bảo mình nàm nấy nệ.”
(“Mình không làm thì có bảo mình không làm mà mình làm thì nó lại bảo mình làm lấy lệ. ”)


“Tự nhiên như người Hà lội.” Toàn bộ các chữ có “l phang tới thành “n” và ngược lại (!)

Đại đa số dân Bắc kỳ (kể cả người viết và gia đình) còn nói trật nguyên âm “r, d, gi” (“rờ” thành ra “dờ” hay “giờ”):

“Kính dâm”
(Kính râm / kính mát)
“Mấy giờ giồi?”
(“Mấy giờ rồi?”)


Một em xướng ngôn viên (bây giờ vi-xi gọi là “phát thanh viên”) của một chương trình truyền hình trên VTV ở Việt Nam loan báo tin thời tiết nghe mà muốn “dởn da gà” luôn như sau:

"Có mưa dào dải dác; nhưng dét da diết.”
(”Có mưa rào rải rác; nhưng rét (lạnh) ra riết.”
“Mưa dừng ơi mưa dừng.”
(Như ông bạn Vũ Khanh của tôi ca lời bản nhạc “Mưa Rừng” của Huỳnh Anh)
Và nổi bật nhất và phổ thông nhất là sai nguyên âm “tr, ch:”
“Mười lăm chăng chòn; mười sáu chòn chăng.”
(“Mười lăm trăng tròn; mười sáu tròn trăng.”)

Hay là:

“Đường xưa lối cũ có bóng che, bóng che che thôn làng
Đường xưa lối cũ có anh chăng, ánh chăng soi đường đi…”

(Lời ca bài hát “Đường xưa lối cũ” của Hoàng Thi Thơ mà tôi nghe ca sĩ Quang Minh - cũng dân Hải phòng - hát).

Trong khi lời hát đúng phải đọc là:

“Đường xưa lối cũ có bóng tre, bóng tre che thôn làng
Đường xưa lối cũ có anh trăng, ánh trăng soi đường đi…”


Một số địa phương ở Bắc như Nam Định, Ninh Bình và Thái Bình… vẫn phát âm đúng các phụ âm “r, d và gi” trong khi phần lớn các vùng khác (ở miền Bắc) đều phát âm sai…

Nên để ý, thật oái oăm, nghịch lý ở đây là hai thứ ngọng (có lẽ vì lười không chịu uốn lưỡi ?!) rành rành “tr” thành “ch” và “r” thành “d, gi” của dân Bắc kỳ lại được đại chúng có khuynh hướng rộng lượng chấp nhận như là “dạng chuẩn” riêng trong vấn đề hát lời ca của ngành tân nhạc (?). Một vài ca sĩ không phải gốc Bắc kỳ như Ngọc Hạ (Đà Nẵng / Quảng Nam, miền Trung), và Phương Dung (Gò Công, miền Nam) khi hát tân nhạc đôi khi đã cố tình phát âm đúng chữ “tr” (trăng, trong, trời…) chứ không đổi sang “ch” như thông lệ thì nghe lại có vẻ rất căng thẳng (?) và ngượng ngạo (?) Thành ra vấn đề âm thanh ngọng (mà thuận tai?) được chấp nhận (hay không) còn tùy vào sự cảm nhận của đại chúng… Như vậy, không có gì gọi là “chuẩn” tuyệt đối cả.

Vùng Hải Hậu, Nam Định thì lại ngọng “tr, t” một cách khác:
" Con tâu tắng nằm cạnh gốc te tụi giữ tưa hè"
("Con trâu trắng nằm cạnh gốc tre trụi giữa trưa hè.).


Tương tự, một số dân ở địa phương Thái Bình thì lại ngọng chữ “r, d” một cách khác nghe rất lạ tai. Như bà hàng xóm của tôi (gốc Thái lọ) là dân di cư 1954 ở Sài gòn cứ gọi con ơi ới:

“Rương ơi Rương! Ra đây mẹ cho miếng rưa.”
(“Dương ơi Dương! Ra đây mẹ cho miếng dưa.”)


Hà Tây, Hà ta thì thì cũng “lười,” bỏ bớt dấu huyền của mỗi chữ cho nó đỡ vướng:
“Con bo vang”
(“Con bò vàng”)


Hát là:

“Nhin chiêu vang đôi thông thưa thớt
Long bôi hôi buôn trong theo bóng”
(“Nhìn chiều vàng đồi thông thưa thớt…
Lòng bồi hồi buồn trong theo bóng”

(Lời bản nhạc “Chiều Vàng” của Nguyễn Văn Khánh )

Người Bắc đọc sai tất cả chữ phụ âm “s” thành âm “x” hết ráo trọi; trong khi người miền Trung và miền Nam lại phân biệt “s, x” rất rõ ràng. Bắc kỳ đọc “s, x” như sau đây:

“Xáng xớm xương xuống xào xạc; xã xệ xửa xoạn xuống xuồng xang xông.”
(“Sáng sớm sương xuống xào xạc; xã xệ sửa soạn xuống xuồng sang sông.”)


Mẹ tôi còn kể thêm là ở ngoài Bắc, có vùng còn ngọng nguyên âm “s, x” ra “th” mà tôi chưa kiểm chứng được xem ra loại ngọng này thuộc vùng nào (? Kính nhờ các bác uyên thâm bổ túc dùm nhà cháu ở phần này):

“Thúng hay thấm? hay trẻ con thậm thàn”
(“Súng hay xấm? hay trẻ con dậm sàn”)


2- Trung kỳ

Dân Trung kỳ (Huế và các xứ Quảng) hầu hết nói chéo (sai) hai dấu hỏi ngã:

“Đễ kỹ niệm…”
(“Để kỷ niệm”)


(Nhà văn PNN tiếp lời MC Nam Lộc trên một “Asia DVD” trong chủ đề “Vinh danh người lính QLVNCH”).

Hoặc đổi nguyên âm “t” thành “c” ở cuối chữ:

“Làm lụng đàu tắc mặc tối.”
(“Làm lụng đầu tắc mặc tối.”)


Người Huế chính gốc “ớt hiểm” còn chơi thêm dấu “nặng” vào hầu hết các các chữ; và đồng thời thêm “g” ở cuối chữ “không g.” Hiểu như vậy thì quý vị cũng đừng ngạc nhiên khi một cô thợ hớt tóc người Huế thơ mộng hỏi:“Anh muốn cắt dài hay cắt ngắn?”

“Hắng” / “Hắn”

Huế, nhất là xứ Quảng, đôi khi xài sang, cho thêm nguyên âm “o, a” ở giữa chữ cho long trọng:

“Đo(á)m noái / Đám nói”
Hay:
“Đo(á)m hoải / Đám hỏi.”
Hoặc:
“Lâu đo(à)i tình o(á)i.” / Lây đài tình ái.”
Vùng Bình Định Qui Nhơn phát âm “hơi sai” nguyên âm “a, ă, e, ê, iê:”
“Nem boa bửa không tém một bửa”

(Đọc số phone: “537-0817”)

Hoặc:

“eng / ăn;” ” “téc đèng / tắt đẻn;” “Chó kéng / Chó cắn;” “Nghem / Nghiêm.”
Dân Khánh Hòa, Phú Yên ngoài “a, ă, e, ê, iê...” (nhưng nghe sai có vẻ nhẹ nhàng hơn người Bình Định) còn đọc “ơ” thành ra “u” mới chết người. Gia đình thằng em cột chèo của tôi người Nha Trang (Khánh Hòa) nói thoải mái mời tôi:
“Mời anh ở lại ăn cum / ăn cơm”


3- Nam kỳ

Dân Nam kỳ, đa số, có khó khăn khi phát âm các chữ bắt đầu bởi phụ âm “v, d.” Chẳng hạn:

“Dân dzệ dê dzợ dân dzận. Dân dzận dzậng dân dzệ.”
(“Anh lính Dân Vệ mê vợ của anh cán bộ của Ty Dân Vận Chiêu hồi. Làm cho anh cán bộ Dân Vận Chiêu Hồi giận hết sức!”


Hoặc:
“Cười lên đi để dzăng dzàng sáng chói / Răng vàng”
(Lời hát nhái trong dân gian cho câu “Kìa thôn quê dưới trăng vàng bát ngát” từ bài “Khúc ca ngày mùa “ của Lam Phương).


Hoặc:

“Đi đâu chơi mới dzề hả? Dzui hông?...”
(“Đi đâu chơi mới về hả? Vui không?”)


Và sai lẫn lộn phụ âm “t,c” ở cuối mỗi chữ, đồng thời đôi khi tiện tay bỏ bớt nguyên âm (a, e, i, o, u) ở giữa chữ:

“Giữ chặc tình thân hủ / Giữ chặt tình thân hữu;”
“Cúi từng có giá đặt biệt / Cuối tuần có giá đặc biệt”


Đồng bào “Nam bộ” ta cũng dùng chéo (sai) hai dấu “hỏi ngã” và thêm “g” vào chữ “không g” như các bác Trung kỳ:

“Cho tui xin nửa chéng cơm nửa”
(“Cho tôi xin nửa chén cơm nữa.”)
“Tổ quắc ăng năng / ăn năn”


Bà mẹ vợ tôi, người gốc Long Xuyên, khi nói đã tự ý đổi “y” thành “i” ở cuối chữ; đôi khi nghe cũng dễ bị hiểu lầm lắm (?):

“Tịm chúng tôi có báng đủ các lọi đồng hồ đeo tai ”
“Tiệm chúng tôi có bán đủ các loại đồng hồ đeo tay ”
(Như lóng rày ca sĩ BC làm quảng cáo cho tiệm đồng hồ Tic-Toc trên TV) .


Riêng dân vùng đồng bằng sông Cửu Long: Cần Thơ, Bạc Liêu, Sóc Trăng còn ngầu hơn, miệt này phát âm chữ “r” thành ra “g” nghe thoáng như lưỡi bị ngắn (?) hoặc giống tiếng Miên (?):

“Bắt con cá gô bỏ gổ, nó gục gịch gục gịch gớt dzào gổ gau găm”
(“Bắt cá rô bỏ rổ, nó rục rịch rục rịch rớt vào rổ rau răm” ).
Tôi có rất nhiều bạn nói kiểu “đi ga… chết gồi” (“đi ra… chết rồi”) này. Nghe riết rồi cũng quen tai.

Ngoài ra, còn có hàng chục thổ ngữ nhỏ khác với cách phát âm và chữ dùng mà người vùng khác không tài nào hiểu nổi. Tuy nhiên bài viết ngắn này chỉ là một bài tạp bút không phải là một bài khảo cứu ngôn ngữ; cho nên, trong phạm vi giới hạn, không tiện kể ra hết cho hoàn tất, đầy đủ. Nếu hưởn, quý vị có thể tự tìm hiểu thêm … Có một điều đáng để ý là người miền Nam nói sao thì họ viết y như vậy cho nên người Nam dễ bị sai chính tả (ngọng viết) hơn là đồng bào miền Bắc và Trung – Người miền Bắc và Trung tuy phát âm sai nhưng phần lớn lại viết đúng chính tả!

Kinh nghiệm gia đình và cá nhân người viết

Tôi sinh ra tại vùng ngoại ô của thành phố Hải Phòng vào năm 1950 và lớn lên ngay giữa trung tâm thành phố này – Thật ngẫu nhiên, Hải Phòng cũng là sinh quán của một số văn nghệ sĩ tên tuổi đương thời như: nhạc sĩ Văn Cao, Gia đình Lữ Liên (Lữ Lỉên, Thúy Liễu, Bích Chiêu, Tuấn ngọc, Khánh Hà, Anh Tú, Thúy Anh, Lưu Bích... cả tiểu đội!), kép cải lương Hùng Cường, minh tinh Thẩm thúy Hằng, nhạc sĩ Ngô Thụy Miên, ca sĩ Thu Phương, Quang Minh... (người viết xin phép được tiện đây thấy người sang bắt quang làm họ một tí cho thay đổi không khí !) nhưng đồng thời tôi cũng tự phát giác ra Hải Phòng là “thủ đô nói ngọng” (loại “phản cảm,” “nhà qué” “có 102 - một không hai ” “l,n”) của Việt Nam (xin lưu ý: Tôi thấy các “siêu sao” gốc Hải Phòng nổi tiếng mà tôi vừa liệt kê ở trên không có “sao” nào nói ngọng “l,n” cả mới là lạ !).

Gia đình nhỏ của bố tôi có 3 anh em trai, tất cả đều sinh ra tại Hải Phòng. Tôi cứ nhắm mắt mà vẫn yên tâm cam đoan là cả ba người (bố tôi và hai ông chú) đều nói ngọng lúc thiếu thời... Khi lớn lên, bố tôi và một ông chú nhỏ tuổi nhất làm “cách mạng kinh tế” phá rào, vượt qua lũy tre xanh, rời xa khỏi địa bàn Hải Phòng, đi lính quốc gia... Kết quả, sau này hai người (Bố tôi và ông chú trẻ) nói và viết tiếng Viêt không còn ngọng một tí ti ông cụ nào. Riêng ông chú tuổi kế bố tôi ở lại “bám trụ” Hải phòng ngay từ ngày đầu chú mới sinh ra cho tới tận bây giờ; thì ông chú này và 8 đứa con vẫn ngọng đặc cán mai. Năm 1948, bố tôi 24 tuổi từ Sài gòn trở về Bắc làm cảnh sát Hải Phòng; và lập gia đình với mẹ tôi - mẹ tôi cũng là dân sinh quán Hải Phòng; và chính mẹ tôi cũng nói ngọng “l,n.” khá nặng. Tôi và 3 đứa em lớn được sinh ra tại Hải Phòng. Năm 1954 gia đình tôi (bố mẹ và 4 anh em tôi) tị nạn cs, theo làn sóng di cư vào Nam. Đến hôm nay, gia đình tôi có cả thẩy 8 anh em ruột và gia đình ông chú trẻ của tôi có 5 đứa con; tất cả chúng tôi (tổng cộng 13 người con của thế hệ thứ nhì) không có một ai nói ngọng “l,n” (nên biết chúng tôi nói rặc tiếng Bắc 54 y chang như quý vị nghe giọng nói của ca sĩ Vũ Khanh và Ý Lan – hoàn toàn khác hẳn với giọng Bắc kỳ 75 của Bằng Kiều, Nguyễn Hồng Nhung).

Năm 2005 tôi có dịp về Việt Nam, ghé qua thăm quê quán Hải Phòng thì mới thấy là tất cả toàn bộ (“chăm phần chăm”) họ hàng bên nội bên ngoại của tôi đều ngọng “l,n” hết ráo. Môt cô cháu gái của tôi, tuổi hai mươi mấy, trông dáng trắng da dài tóc xinh xắn, làm giáo viên tiểu học ở Hải Phòng, cũng ngọng “l,n” rất trầm trọng (có nghĩa là tất cả các chữ “l” đều đánh ra thành “n” và ngược lại); Ngọng líu lo (“l,n”) mà làm nghề mô phạm dậy trẻ con thì xem ra còn tệ hơn là đặc công khủng bố (văn hóa). Làm thiệt mạng (rất nhiều) người chứ chẳng phải chuyện đùa!

Qua kinh nghiệm của gia đình và cá nhân tôi thì sự phát âm sai (ngọng) phần lớn là vì ảnh hưởng của môi trường phát âm sai (Hải Phòng); không phân biệt được chữ đúng... Nếu có dịp đi ra khỏi môi trường ngọng này, như bố tôi chẳng hạn, và hội nhập vào môi trường phát âm đúng; hoặc có người chỉ dẫn như được học hành với thầy cô nói tiếng Việt chuẩn thì sự “ngọng” có thể dần dần sửa chữa được – Như vậy, “ngọng” là một bệnh nan y thật nhưng không phải là hoàn toàn hết thuốc chữa...

Điều đáng chú ý là ngoại trừ loại ngọng “phản cảm” “l,n;” hầu hết các loại ngọng hay phát âm sai bét khác đều được công chúng dễ dãi xí xóa thông cảm. Ngọng “l,n” đặc biệt bị phân loại là “sai cơ bản,” “bất bình thường” “không chấp nhận được.” Trong giao tiếp bình thường mọi ngày, người ngọng “l,n” đôi khi còn bị hiểu lầm và bị “đánh giá” thấp như “nhà quê,” “ít học,” “kém văn hóa...” Trời đất! Quê tôi !

Bàn thêm một chút về lý do ngọng

Bên trong vòng đai lũy tre xanh, một cộng đồng khép kín, buổi sáng thức dậy đi làm ruộng, tối trở về nhà ăn uống nghỉ ngơi rồi ngày mai lại thức dậy đi làm ruộng tiếp thì với cuộc sống đơn giản như vậy, số người tiếp xúc hàng ngày chỉ loanh quanh là người trong gia đình làng xóm... Lời ăn tiếng nói hàng ngày và phong tục đã thấm sâu vào trong con người. Sự nói ngọng (phát âm sai) đã trở thành thói quen chung (cả làng đều ngọng cả), không ai thấy có nhu cầu hay tác động gì cần thiết phải sửa đổi.

Sau khi ra khỏi lũy tre xanh, gia nhập một cuộc sống phức tạp hơn, bon chen hơn, phải giao tiếp rộng rãi hơn với mọi người khác xứ; rồi qua phản ứng của họ (người khác xứ nghe mình nói ngọng thương hổng nổi!) người phát âm sai lúc đó mới cảm thấy được những cái bất lợi của việc phát âm sai của mình. Từ đó tác động vào ý muốn sửa chữa, vượt qua những lỗi phát âm.

Có một anh chàng “ngọng” đẹp trai vừa chân ướt chân ráo ra khỏi lũy tre xanh; vào một buổi đẹp trời phải lòng một em gái văn minh phố thị. Mặc dù anh biết cô em nhiều lần tỏ vẻ lạnh lùng không muốn thân thiện (phần lớn cũng chỉ vì kỳ thị tiếng nói ngọng), nhưng anh đẹp trai đã lỡ yêu rồi nên cũng liều, cố lấy hết can đảm viết ra một lá thư tình “ngọng.” Quý vị thử tưởng tượng xem khi đọc lá thư “phản cảm” này đại khái như dưới đây thì liệu cô nàng “xí xọn, khó tính” có mủi lòng được hay không?

“Em Nan ơi. Anh đã nhiệt niệt no nắng cho em đủ mọi chuyện thế mà em vẫn chưa hiểu cho nòng anh; Em vẫn tỏ vẻ nạnh nùng với anh. Bây giờ anh không biết phải nàm thế lào để nấy được nòng em....

Nễ.”

Em Lan (“Nan”) vì đã “dị ứng” sẵn với sự ngọng của anh Lễ cho nên tỏ vẻ cự tuyệt hơi quyết liệt. Em Lan dùng chính ngôn ngữ của anh “Nễ” trả lời anh “Nể” vì mong anh “Nễ” dễ hiếu rõ ý của em. Em Lan viết trả lời anh “Nễ” đại khái như vầy:

“Anh Nễ nàm em sợ nắm. Em còn bé, không dám nghĩ đến chuyện tình cảm người nhớn... Nếu anh không giận em thì xin anh vui nòng nàm phúc sơ tán qua vùng khác nàm ăn để em còn yên chí học hành; no cho tương nai.

Lan.”

Chuyện tình cảm tha thiết, thành thật, đứng đắn mà không may dùng phải chữ nghĩa ngượng ngạo của vi-xi; cộng thêm chữ viết ngọng thì là một thảm kịch chứ không giống hai người đang diễn hài (kịch)... Có lẽ anh Lễ cần rất nhiều may mắn (và cả phúc đức nữa ) mới có cơ may kết duyên với một em gái không ngọng.
Thiệt tình. Ai bảo cuộc đời này không bất công?

Làm sao sửa được tật nói ngọng

Trước hết người nói ngọng phải tự ý thức được sự ngọng của mình thì vấn đề sửa đổi mới có hiệu quả - Cái mục này nói thì dễ lắm mà làm là chuyện vượt cả Trường Sơn Đông lẫn Trường Son Tây trong một buổi...). Đối với một số người bảo thủ lý luận là: “Đây là tiếng mẹ đẻ; cha ông tôi đều nói như vậy. Tại sao phải thay đổi” thì đành chịu.

Khoảng 5 tuổi trở lên, trẻ con bắt đầu hiểu được tiếng nói, và biết bắt chước cách phát âm tiếng mẹ đẻ. Nếu ngôn ngữ được uốn nắn ngay từ lúc này thì rất tốt (kể ra càng sớm càng tốt). Người đứng ra hướng dẫn và uốn nắn tốt nhất là thầy cô giáo vì ngay cha mẹ nhiều khi cũng đã ngọng sẵn rồi còn gì. Các cô giáo có than phiền là dù đã tương đối thành công sửa giọng ngọng của các em ở trong lớp; nhưng khi các em trở về nhà, sống giữa gia đình ông bà bố mẹ anh chị đều nói ngọng thì các em lại ngọng trở lại... Xem ra “sự nghiệp giải phóng dân tộc” còn dễ hơn là “sự nghiệp giải phóng ngọng!”

Muốn chữa nói ngọng thì phải nói cho chậm rãi để có thời giờ nghĩ và chỉnh các âm sai. Thầy giáo và bạn bè thân thiết có thể giúp đỡ rất hữu hiệu trong việc nhận diện các âm sai và sửa sai. Quan trọng nhất là sự kiên tâm, chịu khó luyện tập lâu dài. Ở Mỹ có những chuyên viên về sửa chỉnh ngôn ngữ (Speech Therapist / Speech Therapy) được đào tạo đặc biệt để giúp các công dân Mỹ có vấn đề phát âm Anh Ngữ như ngọng, cà lăm. Các tay chơi thể thao nổi tiếng như Bill Walton (basketball), Bo Jackson (football) bị cà lăm rất nặng khi họ mới xuất hiện trong các cuộc phỏng vấn từ của các đài truyền hình thể thao phát hình các trận đấu giữa các trường đại học hoặc thể thao chuyên nghiệp. Thế mà chỉ sau một thời gian ngắn, nhìn thấy rõ là họ đã có thể trở thành người ăn bình thường, trôi chẩy khi họ đảm nhận các vai trò phân tích thể thao (sprt analysts) cho truyền hình Mỹ trong các trận đấu.

Đã có nhiều ý kiến cấp tiến khá mạnh dạn cho rằng giải quyết vấn đề ngọng phải bắt đầu ngay từ lớp thấp nhất của trường tiểu học. Các trường sư phạm đào tạo thầy giáo, cô giáo tiểu học được đề nghị sẽ phải bắt buộc có điều kiện thu nhận khắt khe: Chỉ thu nhận thí sinh, sinh viên (làm thầy giáo trong tương lai) không ngọng. Có như vậy thì mới mong tìm ra lời giải, cách xuyên phá được vòng lẩn quẩn (dirty cycles), của bài toán “ngọng.” Tình trạng ngọng hiện nay ở trong nước thật đáng bi quan: Nhiều trường học của các huyện nằm ngay trong thủ đô, cái nôi văn hóa, Hà Nội (huyện Đông Anh hay Mỹ Linh chẳng hạn) có đến 30-40% tổng số học sinh tiểu học nói ngọng và 20-30% giáo viên ngọng - mà cả thầy Hiệu trưởng và “Hiệu Phó” cũng ngọng luôn thể !

“Còn trời còn đất còn non nước
Có lẽ ta đâu (ngọng) mãi thế này.”


Trần Văn Giang

Posted: Wed Jul 25, 2012 5:50 am
by lilac2010
Văn Hóa Ngọng

Tác giả : Trần Văn Giang
Lời giới thiệu:

Ngôn ngữ là một món quà quý báu mà thượng đế đã ban cho con người. Ngôn ngữ với một số ràng buộc khá phức tạp về cách phát âm, chính tả, và văn phạm cũng là một phần rất quan trọng của văn hóa. Qua cách dùng ngôn ngữ “đúng cách” (chuẩn, chính xác, đơn giản, dễ hiễu), con người không chỉ đạt được mục tiêu trình bày trọn vẹn ý tưởng; mà còn vô hình trung làm cho mọi người chung quanh biết thêm về trình độ học vấn, tư cách, địa vị (chỗ đứng) của người sử dụng nó trong xã hội.

Trước hết người viết cũng xin thành thật mong quý vị thấy mục đích của bài này là một tạp bút giới thiệu một số phương ngữ của vùng, miền; trình bày thêm những những khó khăn mà người sử dụng đã gặp lúc cần phải giao tiếp với người sống ở bên ngoài môi trường cố hữu của mình. Một số thí dụ và các ghi chép tự nhiên không thêm bớt từ nhiều nơi (nghe sao thì ghi lại y như vậy) sẽ được đề cập chỉ có tính cách tượng trưng, chứ không hề có ngụ ý “pha tiếng,” hay để “chửi” ai cả… Người viết cũng muốn mạnh dạn và thận trọng nêu lên một số vấn đề phát âm, chữ viết vượt qua khỏi phạm vi giới hạn của địa phương cần được quan tâm cùng với các quan sát, nhận định rất chủ quan (và người viết chờ mong sự chỉ trích của quý vị cao kiến) về sự phát âm khác biệt (nói nôm na bình dân học vụ là “ngọng”) theo vùng, miền của dân Việt nói chung và chính ngay gia đình cá nhân của người viết để chúng ta cùng góp thêm vào một giải thích, một phương cách khả dĩ có thể sửa chữa, làm thay đổi hoàn cảnh khó khăn trong lãnh vực thông tin, giao tiếp hiện nay.

Điểm đặc biệt đáng lưu ý là “phát âm khác biệt theo vùng” và “ngọng,” xét cho kỹ, là hai vấn đề khác nhau; nhưng để đơn giản hóa, người viết sẽ gom cả hai thể loại này thành một dạng để tiện phân biệt với dạng “chuẩn” ở bên kia lằn ranh. Cũng không khó khăn gì lắm, quý vị sẽ thấy rõ khi nào là “phát âm khác biệt” và khi nào là “ngọng” trong những giòng kế tiếp…

TVG


Ngọng thường xuất phát từ (địa) phương ngữ, thổ ngữ có nghĩa là chỉ chi phối, chỉ có ảnh hưởng giới hạn trong một miền, vùng, địa phương nào đó. Tuy nhiên trong thực tế, qua cuộc cách mạng tin học và với sự có mặt của một nền văn hóa xhcn “Mac Keno” không người lái, vinh quang vô địch… (trong cái văn hóa “Mac Keno” - mặc kệ nó – chủ trương ngu dân thì việc dân bị ngọng cũng là chuyện tốt thôi; miễn sao dân ngu cứ việc “ngu” và đừng “phản động, chống đối đảng và nhà nước” là được rồi!) Ngọng nói đã dần dà tràn lan qua ngọng viết và cả hai thứ ngọng trở thành quốc nạn hồi nào mà không hay. Hãy nghe và xem các thí dụ thật - không phải loại vu vơ chế nhạo để giải trí tiếng nói vùng miền trong các hài kịch rẻ tiền, vô trách nhiệm - Các “video clip” phỏng vấn các bác “nhân dân” trong nước, hoặc các tựa đề, các bài viết đứng đắn trên báo in và báo điện tử “lề phải,” băng rôn tuyên truyền của chính quyền cs, bảng chỉ dẫn lưu thông của “nhà nước,” bảng hiệu thương mại, quảng cáo của quần chúng toàn quốc trước mắt bàn dân thiên hạ, chúng ta không khỏi lo lắng ái ngại cho tương lai tiếng Việt.

Có lẽ chúng ta chưa hề thấy có thống kê chính thức nào cho toàn quốc Việt Nam về tỉ lệ dân chúng nói ngọng; nhưng theo cá nhân tôi, phải có đến trên 50% dân số Việt Nam nói “ngọng” cách này hay cách khác.

Khái quát về phương ngữ ba miền

Nói ngọng là “đặc sản” của địa phương, là chuyện bình thường; Tuy vậy, lúc nào cũng có ngoại lệ. Không phải bất cứ ai sống trong một vùng có người nói ngọng thì họ cũng đương nhiên phải nói ngọng. Có nhiều người người sinh ra và sống ngay trong vùng nói ngọng, chẳng hạn đa số dân Hà Nội không nói ngọng “l,n,” mà họ lại “dị ứng” với việc nói ngọng, đó chưa kể đến chuyện họ đôi khi tỏ vẻ “kỳ thị” (khinh thường) đồng bào nói ngọng(!).

Một lần nữa, những ghi chép sau đây chỉ có tính cách tượng trưng điển hình, không phải là tuyệt đối; tất nhiên còn cần nhiều bổ túc và sửa chữa.

1- Bắc kỳ

Cơ bản sự “ngọng” của dân Bắc kỳ là phát âm “nhẹ” hẳn đi các phụ âm dẫn đầu mỗi chữ (như tr, r, s…) Các Ngôn ngữ gia khắt khe hơn thì cho rằng người Bắc “lười” không chịu khó uốn lưỡi một chút cho đúng âm mà lại chọn khuynh hướng đọc dễ dàng hơn: giảm bớt cái âm uốn cong hay cao lên của phụ âm đầu.

Dân Bắc kỳ nhất là các vùng Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh, Nam Định, Hà Nam, Bắc Ninh…v.v..., và ngay cả dân cư đất “ngàn năm văn vật” - 13 huyện Hà Nội - rất “phổ thông” nói ngọng líu lo (và đặc biệt bị lưu tâm nhiều nhất) hai phụ âm “l,n.” Chẳng hạn:

“Đi Hà lội mua cái lồi về lấu cơn lếp”
(“Đi Hà nội mua cái nồi về nấu cơn nếp”)


Hoặc là:

“Chỗ lước lày lông, lội được!”
(“Chỗ nước này nông, lội được!”)


Hay:

“Thằng Nong nàm việc thì nếu náo; nhưng nòng nợn thì ló gắp nia gắp nịa.”
(“Thằng Long làm việc thì lếu láo; nhưng lòng lợn thì nó gắp lia gắp lịa.”)

“Mình không nàm thì có bảo mình không nàm; mà mình nàm thì ló nại bảo mình nàm nấy nệ.”
(“Mình không làm thì có bảo mình không làm mà mình làm thì nó lại bảo mình làm lấy lệ. ”)


“Tự nhiên như người Hà lội.” Toàn bộ các chữ có “l phang tới thành “n” và ngược lại (!)

Đại đa số dân Bắc kỳ (kể cả người viết và gia đình) còn nói trật nguyên âm “r, d, gi” (“rờ” thành ra “dờ” hay “giờ”):

“Kính dâm”
(Kính râm / kính mát)
“Mấy giờ giồi?”
(“Mấy giờ rồi?”)


Một em xướng ngôn viên (bây giờ vi-xi gọi là “phát thanh viên”) của một chương trình truyền hình trên VTV ở Việt Nam loan báo tin thời tiết nghe mà muốn “dởn da gà” luôn như sau:

"Có mưa dào dải dác; nhưng dét da diết.”
(”Có mưa rào rải rác; nhưng rét (lạnh) ra riết.”
“Mưa dừng ơi mưa dừng.”
(Như ông bạn Vũ Khanh của tôi ca lời bản nhạc “Mưa Rừng” của Huỳnh Anh)
Và nổi bật nhất và phổ thông nhất là sai nguyên âm “tr, ch:”
“Mười lăm chăng chòn; mười sáu chòn chăng.”
(“Mười lăm trăng tròn; mười sáu tròn trăng.”)

Hay là:

“Đường xưa lối cũ có bóng che, bóng che che thôn làng
Đường xưa lối cũ có anh chăng, ánh chăng soi đường đi…”

(Lời ca bài hát “Đường xưa lối cũ” của Hoàng Thi Thơ mà tôi nghe ca sĩ Quang Minh - cũng dân Hải phòng - hát).

Trong khi lời hát đúng phải đọc là:

“Đường xưa lối cũ có bóng tre, bóng tre che thôn làng
Đường xưa lối cũ có anh trăng, ánh trăng soi đường đi…”


Một số địa phương ở Bắc như Nam Định, Ninh Bình và Thái Bình… vẫn phát âm đúng các phụ âm “r, d và gi” trong khi phần lớn các vùng khác (ở miền Bắc) đều phát âm sai…

Nên để ý, thật oái oăm, nghịch lý ở đây là hai thứ ngọng (có lẽ vì lười không chịu uốn lưỡi ?!) rành rành “tr” thành “ch” và “r” thành “d, gi” của dân Bắc kỳ lại được đại chúng có khuynh hướng rộng lượng chấp nhận như là “dạng chuẩn” riêng trong vấn đề hát lời ca của ngành tân nhạc (?). Một vài ca sĩ không phải gốc Bắc kỳ như Ngọc Hạ (Đà Nẵng / Quảng Nam, miền Trung), và Phương Dung (Gò Công, miền Nam) khi hát tân nhạc đôi khi đã cố tình phát âm đúng chữ “tr” (trăng, trong, trời…) chứ không đổi sang “ch” như thông lệ thì nghe lại có vẻ rất căng thẳng (?) và ngượng ngạo (?) Thành ra vấn đề âm thanh ngọng (mà thuận tai?) được chấp nhận (hay không) còn tùy vào sự cảm nhận của đại chúng… Như vậy, không có gì gọi là “chuẩn” tuyệt đối cả.

Vùng Hải Hậu, Nam Định thì lại ngọng “tr, t” một cách khác:
" Con tâu tắng nằm cạnh gốc te tụi giữ tưa hè"
("Con trâu trắng nằm cạnh gốc tre trụi giữa trưa hè.).


Tương tự, một số dân ở địa phương Thái Bình thì lại ngọng chữ “r, d” một cách khác nghe rất lạ tai. Như bà hàng xóm của tôi (gốc Thái lọ) là dân di cư 1954 ở Sài gòn cứ gọi con ơi ới:

“Rương ơi Rương! Ra đây mẹ cho miếng rưa.”
(“Dương ơi Dương! Ra đây mẹ cho miếng dưa.”)


Hà Tây, Hà ta thì thì cũng “lười,” bỏ bớt dấu huyền của mỗi chữ cho nó đỡ vướng:
“Con bo vang”
(“Con bò vàng”)


Hát là:

“Nhin chiêu vang đôi thông thưa thớt
Long bôi hôi buôn trong theo bóng”
(“Nhìn chiều vàng đồi thông thưa thớt…
Lòng bồi hồi buồn trong theo bóng”

(Lời bản nhạc “Chiều Vàng” của Nguyễn Văn Khánh )

Người Bắc đọc sai tất cả chữ phụ âm “s” thành âm “x” hết ráo trọi; trong khi người miền Trung và miền Nam lại phân biệt “s, x” rất rõ ràng. Bắc kỳ đọc “s, x” như sau đây:

“Xáng xớm xương xuống xào xạc; xã xệ xửa xoạn xuống xuồng xang xông.”
(“Sáng sớm sương xuống xào xạc; xã xệ sửa soạn xuống xuồng sang sông.”)


Mẹ tôi còn kể thêm là ở ngoài Bắc, có vùng còn ngọng nguyên âm “s, x” ra “th” mà tôi chưa kiểm chứng được xem ra loại ngọng này thuộc vùng nào (? Kính nhờ các bác uyên thâm bổ túc dùm nhà cháu ở phần này):

“Thúng hay thấm? hay trẻ con thậm thàn”
(“Súng hay xấm? hay trẻ con dậm sàn”)


2- Trung kỳ

Dân Trung kỳ (Huế và các xứ Quảng) hầu hết nói chéo (sai) hai dấu hỏi ngã:

“Đễ kỹ niệm…”
(“Để kỷ niệm”)


(Nhà văn PNN tiếp lời MC Nam Lộc trên một “Asia DVD” trong chủ đề “Vinh danh người lính QLVNCH”).

Hoặc đổi nguyên âm “t” thành “c” ở cuối chữ:

“Làm lụng đàu tắc mặc tối.”
(“Làm lụng đầu tắc mặc tối.”)


Người Huế chính gốc “ớt hiểm” còn chơi thêm dấu “nặng” vào hầu hết các các chữ; và đồng thời thêm “g” ở cuối chữ “không g.” Hiểu như vậy thì quý vị cũng đừng ngạc nhiên khi một cô thợ hớt tóc người Huế thơ mộng hỏi:“Anh muốn cắt dài hay cắt ngắn?”

“Hắng” / “Hắn”

Huế, nhất là xứ Quảng, đôi khi xài sang, cho thêm nguyên âm “o, a” ở giữa chữ cho long trọng:

“Đo(á)m noái / Đám nói”
Hay:
“Đo(á)m hoải / Đám hỏi.”
Hoặc:
“Lâu đo(à)i tình o(á)i.” / Lây đài tình ái.”
Vùng Bình Định Qui Nhơn phát âm “hơi sai” nguyên âm “a, ă, e, ê, iê:”
“Nem boa bửa không tém một bửa”

(Đọc số phone: “537-0817”)

Hoặc:

“eng / ăn;” ” “téc đèng / tắt đẻn;” “Chó kéng / Chó cắn;” “Nghem / Nghiêm.”
Dân Khánh Hòa, Phú Yên ngoài “a, ă, e, ê, iê...” (nhưng nghe sai có vẻ nhẹ nhàng hơn người Bình Định) còn đọc “ơ” thành ra “u” mới chết người. Gia đình thằng em cột chèo của tôi người Nha Trang (Khánh Hòa) nói thoải mái mời tôi:
“Mời anh ở lại ăn cum / ăn cơm”


3- Nam kỳ

Dân Nam kỳ, đa số, có khó khăn khi phát âm các chữ bắt đầu bởi phụ âm “v, d.” Chẳng hạn:

“Dân dzệ dê dzợ dân dzận. Dân dzận dzậng dân dzệ.”
(“Anh lính Dân Vệ mê vợ của anh cán bộ của Ty Dân Vận Chiêu hồi. Làm cho anh cán bộ Dân Vận Chiêu Hồi giận hết sức!”


Hoặc:
“Cười lên đi để dzăng dzàng sáng chói / Răng vàng”
(Lời hát nhái trong dân gian cho câu “Kìa thôn quê dưới trăng vàng bát ngát” từ bài “Khúc ca ngày mùa “ của Lam Phương).


Hoặc:

“Đi đâu chơi mới dzề hả? Dzui hông?...”
(“Đi đâu chơi mới về hả? Vui không?”)


Và sai lẫn lộn phụ âm “t,c” ở cuối mỗi chữ, đồng thời đôi khi tiện tay bỏ bớt nguyên âm (a, e, i, o, u) ở giữa chữ:

“Giữ chặc tình thân hủ / Giữ chặt tình thân hữu;”
“Cúi từng có giá đặt biệt / Cuối tuần có giá đặc biệt”


Đồng bào “Nam bộ” ta cũng dùng chéo (sai) hai dấu “hỏi ngã” và thêm “g” vào chữ “không g” như các bác Trung kỳ:

“Cho tui xin nửa chéng cơm nửa”
(“Cho tôi xin nửa chén cơm nữa.”)
“Tổ quắc ăng năng / ăn năn”


Bà mẹ vợ tôi, người gốc Long Xuyên, khi nói đã tự ý đổi “y” thành “i” ở cuối chữ; đôi khi nghe cũng dễ bị hiểu lầm lắm (?):

“Tịm chúng tôi có báng đủ các lọi đồng hồ đeo tai ”
“Tiệm chúng tôi có bán đủ các loại đồng hồ đeo tay ”
(Như lóng rày ca sĩ BC làm quảng cáo cho tiệm đồng hồ Tic-Toc trên TV) .


Riêng dân vùng đồng bằng sông Cửu Long: Cần Thơ, Bạc Liêu, Sóc Trăng còn ngầu hơn, miệt này phát âm chữ “r” thành ra “g” nghe thoáng như lưỡi bị ngắn (?) hoặc giống tiếng Miên (?):

“Bắt con cá gô bỏ gổ, nó gục gịch gục gịch gớt dzào gổ gau găm”
(“Bắt cá rô bỏ rổ, nó rục rịch rục rịch rớt vào rổ rau răm” ).
Tôi có rất nhiều bạn nói kiểu “đi ga… chết gồi” (“đi ra… chết rồi”) này. Nghe riết rồi cũng quen tai.

Ngoài ra, còn có hàng chục thổ ngữ nhỏ khác với cách phát âm và chữ dùng mà người vùng khác không tài nào hiểu nổi. Tuy nhiên bài viết ngắn này chỉ là một bài tạp bút không phải là một bài khảo cứu ngôn ngữ; cho nên, trong phạm vi giới hạn, không tiện kể ra hết cho hoàn tất, đầy đủ. Nếu hưởn, quý vị có thể tự tìm hiểu thêm … Có một điều đáng để ý là người miền Nam nói sao thì họ viết y như vậy cho nên người Nam dễ bị sai chính tả (ngọng viết) hơn là đồng bào miền Bắc và Trung – Người miền Bắc và Trung tuy phát âm sai nhưng phần lớn lại viết đúng chính tả!

Kinh nghiệm gia đình và cá nhân người viết

Tôi sinh ra tại vùng ngoại ô của thành phố Hải Phòng vào năm 1950 và lớn lên ngay giữa trung tâm thành phố này – Thật ngẫu nhiên, Hải Phòng cũng là sinh quán của một số văn nghệ sĩ tên tuổi đương thời như: nhạc sĩ Văn Cao, Gia đình Lữ Liên (Lữ Lỉên, Thúy Liễu, Bích Chiêu, Tuấn ngọc, Khánh Hà, Anh Tú, Thúy Anh, Lưu Bích... cả tiểu đội!), kép cải lương Hùng Cường, minh tinh Thẩm thúy Hằng, nhạc sĩ Ngô Thụy Miên, ca sĩ Thu Phương, Quang Minh... (người viết xin phép được tiện đây thấy người sang bắt quang làm họ một tí cho thay đổi không khí !) nhưng đồng thời tôi cũng tự phát giác ra Hải Phòng là “thủ đô nói ngọng” (loại “phản cảm,” “nhà qué” “có 102 - một không hai ” “l,n”) của Việt Nam (xin lưu ý: Tôi thấy các “siêu sao” gốc Hải Phòng nổi tiếng mà tôi vừa liệt kê ở trên không có “sao” nào nói ngọng “l,n” cả mới là lạ !).

Gia đình nhỏ của bố tôi có 3 anh em trai, tất cả đều sinh ra tại Hải Phòng. Tôi cứ nhắm mắt mà vẫn yên tâm cam đoan là cả ba người (bố tôi và hai ông chú) đều nói ngọng lúc thiếu thời... Khi lớn lên, bố tôi và một ông chú nhỏ tuổi nhất làm “cách mạng kinh tế” phá rào, vượt qua lũy tre xanh, rời xa khỏi địa bàn Hải Phòng, đi lính quốc gia... Kết quả, sau này hai người (Bố tôi và ông chú trẻ) nói và viết tiếng Viêt không còn ngọng một tí ti ông cụ nào. Riêng ông chú tuổi kế bố tôi ở lại “bám trụ” Hải phòng ngay từ ngày đầu chú mới sinh ra cho tới tận bây giờ; thì ông chú này và 8 đứa con vẫn ngọng đặc cán mai. Năm 1948, bố tôi 24 tuổi từ Sài gòn trở về Bắc làm cảnh sát Hải Phòng; và lập gia đình với mẹ tôi - mẹ tôi cũng là dân sinh quán Hải Phòng; và chính mẹ tôi cũng nói ngọng “l,n.” khá nặng. Tôi và 3 đứa em lớn được sinh ra tại Hải Phòng. Năm 1954 gia đình tôi (bố mẹ và 4 anh em tôi) tị nạn cs, theo làn sóng di cư vào Nam. Đến hôm nay, gia đình tôi có cả thẩy 8 anh em ruột và gia đình ông chú trẻ của tôi có 5 đứa con; tất cả chúng tôi (tổng cộng 13 người con của thế hệ thứ nhì) không có một ai nói ngọng “l,n” (nên biết chúng tôi nói rặc tiếng Bắc 54 y chang như quý vị nghe giọng nói của ca sĩ Vũ Khanh và Ý Lan – hoàn toàn khác hẳn với giọng Bắc kỳ 75 của Bằng Kiều, Nguyễn Hồng Nhung).

Năm 2005 tôi có dịp về Việt Nam, ghé qua thăm quê quán Hải Phòng thì mới thấy là tất cả toàn bộ (“chăm phần chăm”) họ hàng bên nội bên ngoại của tôi đều ngọng “l,n” hết ráo. Môt cô cháu gái của tôi, tuổi hai mươi mấy, trông dáng trắng da dài tóc xinh xắn, làm giáo viên tiểu học ở Hải Phòng, cũng ngọng “l,n” rất trầm trọng (có nghĩa là tất cả các chữ “l” đều đánh ra thành “n” và ngược lại); Ngọng líu lo (“l,n”) mà làm nghề mô phạm dậy trẻ con thì xem ra còn tệ hơn là đặc công khủng bố (văn hóa). Làm thiệt mạng (rất nhiều) người chứ chẳng phải chuyện đùa!

Qua kinh nghiệm của gia đình và cá nhân tôi thì sự phát âm sai (ngọng) phần lớn là vì ảnh hưởng của môi trường phát âm sai (Hải Phòng); không phân biệt được chữ đúng... Nếu có dịp đi ra khỏi môi trường ngọng này, như bố tôi chẳng hạn, và hội nhập vào môi trường phát âm đúng; hoặc có người chỉ dẫn như được học hành với thầy cô nói tiếng Việt chuẩn thì sự “ngọng” có thể dần dần sửa chữa được – Như vậy, “ngọng” là một bệnh nan y thật nhưng không phải là hoàn toàn hết thuốc chữa...

Điều đáng chú ý là ngoại trừ loại ngọng “phản cảm” “l,n;” hầu hết các loại ngọng hay phát âm sai bét khác đều được công chúng dễ dãi xí xóa thông cảm. Ngọng “l,n” đặc biệt bị phân loại là “sai cơ bản,” “bất bình thường” “không chấp nhận được.” Trong giao tiếp bình thường mọi ngày, người ngọng “l,n” đôi khi còn bị hiểu lầm và bị “đánh giá” thấp như “nhà quê,” “ít học,” “kém văn hóa...” Trời đất! Quê tôi !

Bàn thêm một chút về lý do ngọng

Bên trong vòng đai lũy tre xanh, một cộng đồng khép kín, buổi sáng thức dậy đi làm ruộng, tối trở về nhà ăn uống nghỉ ngơi rồi ngày mai lại thức dậy đi làm ruộng tiếp thì với cuộc sống đơn giản như vậy, số người tiếp xúc hàng ngày chỉ loanh quanh là người trong gia đình làng xóm... Lời ăn tiếng nói hàng ngày và phong tục đã thấm sâu vào trong con người. Sự nói ngọng (phát âm sai) đã trở thành thói quen chung (cả làng đều ngọng cả), không ai thấy có nhu cầu hay tác động gì cần thiết phải sửa đổi.

Sau khi ra khỏi lũy tre xanh, gia nhập một cuộc sống phức tạp hơn, bon chen hơn, phải giao tiếp rộng rãi hơn với mọi người khác xứ; rồi qua phản ứng của họ (người khác xứ nghe mình nói ngọng thương hổng nổi!) người phát âm sai lúc đó mới cảm thấy được những cái bất lợi của việc phát âm sai của mình. Từ đó tác động vào ý muốn sửa chữa, vượt qua những lỗi phát âm.

Có một anh chàng “ngọng” đẹp trai vừa chân ướt chân ráo ra khỏi lũy tre xanh; vào một buổi đẹp trời phải lòng một em gái văn minh phố thị. Mặc dù anh biết cô em nhiều lần tỏ vẻ lạnh lùng không muốn thân thiện (phần lớn cũng chỉ vì kỳ thị tiếng nói ngọng), nhưng anh đẹp trai đã lỡ yêu rồi nên cũng liều, cố lấy hết can đảm viết ra một lá thư tình “ngọng.” Quý vị thử tưởng tượng xem khi đọc lá thư “phản cảm” này đại khái như dưới đây thì liệu cô nàng “xí xọn, khó tính” có mủi lòng được hay không?

“Em Nan ơi. Anh đã nhiệt niệt no nắng cho em đủ mọi chuyện thế mà em vẫn chưa hiểu cho nòng anh; Em vẫn tỏ vẻ nạnh nùng với anh. Bây giờ anh không biết phải nàm thế lào để nấy được nòng em....

Nễ.”

Em Lan (“Nan”) vì đã “dị ứng” sẵn với sự ngọng của anh Lễ cho nên tỏ vẻ cự tuyệt hơi quyết liệt. Em Lan dùng chính ngôn ngữ của anh “Nễ” trả lời anh “Nể” vì mong anh “Nễ” dễ hiếu rõ ý của em. Em Lan viết trả lời anh “Nễ” đại khái như vầy:

“Anh Nễ nàm em sợ nắm. Em còn bé, không dám nghĩ đến chuyện tình cảm người nhớn... Nếu anh không giận em thì xin anh vui nòng nàm phúc sơ tán qua vùng khác nàm ăn để em còn yên chí học hành; no cho tương nai.

Lan.”

Chuyện tình cảm tha thiết, thành thật, đứng đắn mà không may dùng phải chữ nghĩa ngượng ngạo của vi-xi; cộng thêm chữ viết ngọng thì là một thảm kịch chứ không giống hai người đang diễn hài (kịch)... Có lẽ anh Lễ cần rất nhiều may mắn (và cả phúc đức nữa ) mới có cơ may kết duyên với một em gái không ngọng.
Thiệt tình. Ai bảo cuộc đời này không bất công?

Làm sao sửa được tật nói ngọng

Trước hết người nói ngọng phải tự ý thức được sự ngọng của mình thì vấn đề sửa đổi mới có hiệu quả - Cái mục này nói thì dễ lắm mà làm là chuyện vượt cả Trường Sơn Đông lẫn Trường Son Tây trong một buổi...). Đối với một số người bảo thủ lý luận là: “Đây là tiếng mẹ đẻ; cha ông tôi đều nói như vậy. Tại sao phải thay đổi” thì đành chịu.

Khoảng 5 tuổi trở lên, trẻ con bắt đầu hiểu được tiếng nói, và biết bắt chước cách phát âm tiếng mẹ đẻ. Nếu ngôn ngữ được uốn nắn ngay từ lúc này thì rất tốt (kể ra càng sớm càng tốt). Người đứng ra hướng dẫn và uốn nắn tốt nhất là thầy cô giáo vì ngay cha mẹ nhiều khi cũng đã ngọng sẵn rồi còn gì. Các cô giáo có than phiền là dù đã tương đối thành công sửa giọng ngọng của các em ở trong lớp; nhưng khi các em trở về nhà, sống giữa gia đình ông bà bố mẹ anh chị đều nói ngọng thì các em lại ngọng trở lại... Xem ra “sự nghiệp giải phóng dân tộc” còn dễ hơn là “sự nghiệp giải phóng ngọng!”

Muốn chữa nói ngọng thì phải nói cho chậm rãi để có thời giờ nghĩ và chỉnh các âm sai. Thầy giáo và bạn bè thân thiết có thể giúp đỡ rất hữu hiệu trong việc nhận diện các âm sai và sửa sai. Quan trọng nhất là sự kiên tâm, chịu khó luyện tập lâu dài. Ở Mỹ có những chuyên viên về sửa chỉnh ngôn ngữ (Speech Therapist / Speech Therapy) được đào tạo đặc biệt để giúp các công dân Mỹ có vấn đề phát âm Anh Ngữ như ngọng, cà lăm. Các tay chơi thể thao nổi tiếng như Bill Walton (basketball), Bo Jackson (football) bị cà lăm rất nặng khi họ mới xuất hiện trong các cuộc phỏng vấn từ của các đài truyền hình thể thao phát hình các trận đấu giữa các trường đại học hoặc thể thao chuyên nghiệp. Thế mà chỉ sau một thời gian ngắn, nhìn thấy rõ là họ đã có thể trở thành người ăn bình thường, trôi chẩy khi họ đảm nhận các vai trò phân tích thể thao (sprt analysts) cho truyền hình Mỹ trong các trận đấu.

Đã có nhiều ý kiến cấp tiến khá mạnh dạn cho rằng giải quyết vấn đề ngọng phải bắt đầu ngay từ lớp thấp nhất của trường tiểu học. Các trường sư phạm đào tạo thầy giáo, cô giáo tiểu học được đề nghị sẽ phải bắt buộc có điều kiện thu nhận khắt khe: Chỉ thu nhận thí sinh, sinh viên (làm thầy giáo trong tương lai) không ngọng. Có như vậy thì mới mong tìm ra lời giải, cách xuyên phá được vòng lẩn quẩn (dirty cycles), của bài toán “ngọng.” Tình trạng ngọng hiện nay ở trong nước thật đáng bi quan: Nhiều trường học của các huyện nằm ngay trong thủ đô, cái nôi văn hóa, Hà Nội (huyện Đông Anh hay Mỹ Linh chẳng hạn) có đến 30-40% tổng số học sinh tiểu học nói ngọng và 20-30% giáo viên ngọng - mà cả thầy Hiệu trưởng và “Hiệu Phó” cũng ngọng luôn thể !

“Còn trời còn đất còn non nước
Có lẽ ta đâu (ngọng) mãi thế này.”


Trần Văn Giang

Posted: Thu Jul 26, 2012 6:37 am
by phaobinh
Image

Phố “lạ” ở Bình Dương

Đỗ Trường

- Nhiều khu vực ở TX.Dĩ An (Bình Dương) đang hình thành những "phố" có nhiều người nước ngoài cư trú bất hợp pháp, khiến tình hình an ninh trật tự trở nên phức tạp.

Bắt cóc, đòi nợ thuê

Công an TX.Dĩ An đang hoàn tất kết luận điều tra vụ 1 người Trung Quốc (TQ) cầm đầu băng nhóm xã hội đen, thuê nhà ở để thực hiện bắt cóc và đòi nợ thuê. Theo điều tra, Chen Chi Yung (42 tuổi, quốc tịch TQ) sang VN từ 2009. Quá trình ở VN, Chen Chi Yung thu nạp các đàn em là Hứa Kiến Hào (38 tuổi), Vương Gia Hào (34 tuổi), Lý Hoàng Phong (36 tuổi, cùng là người Việt), thành lập băng nhóm đòi nợ thuê. Ngày 2.3, băng nhóm này thuê nhà ở P.Dĩ An (TX.Dĩ An) sắm roi điện, súng nhựa, kiếm... để thực hiện vụ bắt cóc đòi nợ thuê 1,6 tỉ đồng (tỷ lệ ăn chia 50-50). Khi nhóm này chuẩn bị ra tay thì bị Công an Dĩ An phát hiện, bắt giữ. Theo nguồn tin của Thanh Niên, hiện Cảnh sát TQ đang đề nghị dẫn độ Chen Chi Yung về nước để xét xử, vì ở TQ, y cũng đang bị truy nã về tội cưỡng đoạt tài sản.
Image
Hàng quán và người TQ "vây" quanh trung tâm thương mại Sóng Thần - Ảnh: Đỗ Trường

Mới đây, đêm 18.7, chị T.M.L (25 tuổi) ở một mình trong căn hộ thuê tại chung cư Hoàng Long (P.Dĩ An) thì bị 2 người TQ đập cửa nhiều lần, quấy rối khiến chị hoảng sợ. Theo tường trình của chị L., khoảng 20 giờ, chị nghe có tiếng gõ cửa, khi nhìn qua khe hở thì người ở ngoài lấy tay che lại không nhìn được. Chị L. sợ không dám mở cửa. Đến khoảng nửa đêm, chị L. tiếp tục nghe tiếng gõ và đập cửa rầm rầm. Nghe ồn ào, bà N.T.D từ trên lầu 8 đi xuống thấy 2 người TQ đang đập cửa phòng của chị L. Khi bà D. lên tiếng thì bị 2 người TQ lao tới bóp cổ. Nghe tiếng kêu cứu, chồng, con bà D. và bảo vệ chung cư chạy lại giải vây. Sau đó, Công an phường Dĩ An đã có mặt lập biên bản xử lý một người TQ về hành vi không đăng ký tạm trú theo quy định. Ngoài ra, lãnh đạo công an phường cho biết đã chuyển toàn bộ hồ sơ vụ việc cho An ninh Công an thị xã Dĩ An thụ lý.

Người dân KP.Nhị Đồng, P.Dĩ An (TX.Dĩ An) phản ánh, việc người TQ tạm trú bất hợp pháp đã gây ra tình trạng phức tạp về an ninh trật tự. Một thành viên Ban Quản lý chung cư An Bình (P.An Bình, TX.Dĩ An) cũng bức xức: "Họ xả rác tràn lan. Đêm đến thì kéo nhau về chỗ ở ăn nhậu rồi la ó, đập rầm rầm cả đêm. Khi chúng tôi gọi công an tới kiểm tra thì họ nhất quyết không mở cửa". Theo thành viên Ban Quản lý chung cư An Bình, hiện trong chung cư có gần 40 căn hộ đang cho người nước ngoài thuê, hầu hết là người TQ.

Image
Quán ăn TQ trong khu dân cư Hoàng Long

Không có cơ quan nào quản lý ?

Trao đổi với PV Thanh Niên, trung tá Phan Thành Trung, Đội trưởng Đội An ninh Công an TX.Dĩ An thừa nhận: "Việc quản lý người nước ngoài tạm trú trên địa bàn hiện gặp rất nhiều khó khăn, nhất là trong các khu dân cư, chung cư. Kể cả việc người dân phản ánh, khi công an kiểm tra họ đều tìm đủ mọi cách tránh né". Theo trung tá Trung, trong 6 tháng đầu năm 2012, Công an TX.Dĩ An đã kiểm tra và xử phạt 36 người TQ và 1 người Hàn Quốc với số tiền gần 100 triệu đồng về các hành vi cư trú bất hợp pháp, visa hết hạn...

Theo Công an TX.Dĩ An, những người nước ngoài đang cư trú tại các khu dân cư, chung cư trên địa bàn phần lớn là lao động trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoặc tự mở nhà hàng, quán ăn... để kinh doanh. Những người này sang VN đa số bằng con đường du lịch và sau đó tìm đủ mọi cách để ở lại, kể cả việc lấy vợ, "cặp" với phụ nữ người Việt để hợp thức hóa việc kinh doanh, thuê nhà ở. Tuy nhiên, việc quản lý lao động người nước ngoài này thuộc thẩm quyền của Sở LĐ-TB-XH.

Trong khi đó, một lãnh đạo Sở LĐ-TB-XH Bình Dương cho rằng: "Chúng tôi chỉ quản lý những doanh nghiệp có số lao động người nước ngoài từ 10 người trở lên. Sở không quản lý người nước ngoài kinh doanh, buôn bán nhỏ. Tuy nhiên, trên thực tế, tồn tại rất nhiều người nước ngoài, đặc biệt là người TQ đang làm việc ở những doanh nghiệp nhỏ và vừa, kinh doanh nhỏ lẻ. Những dạng này hiện chưa có một cơ quan nào quản lý".

Không dùng tiếng Việt

Tại KP.Nhị Đồng, P.Dĩ An (TX.Dĩ An), có rất nhiều quán ăn, nhà hàng, khách sạn, tiệm massage... mọc lên để phục vụ người nước ngoài. Tối 14.7, PV Thanh Niên vào một địa điểm có tên “quán ăn TQ” thì bất ngờ cả chủ quán và phục vụ đều không nói tiếng Việt, giá cả các món ăn đều niêm yết bằng tiền TQ. Tương tự, tại khu vực Trung tâm thương mại Sóng Thần (P.Dĩ An) hiện cũng có khoảng 20 quán ăn, nhà hàng, tiệm massage... do người TQ trực tiếp kinh doanh. Vào một quán ăn, người bán hàng ra dấu cho chúng tôi rằng chỉ phục vụ cho người TQ. Chúng tôi, cố gắng ra hiệu cần mua một lon nước ngọt thì được phục vụ một cách miễn cưỡng...

Đỗ Trường

Posted: Sat Jul 28, 2012 4:15 pm
by vuphong

Image

Sợ nhất cái gì?
Chú tiểu hỏi hoà thượng:" Thưa sư phụ, người ta sợ nhất cái gì?".
Thế con cho là cái gì? - Hoà thượng hỏi lại đồ đệ.
Có phải là sự cô độc không ạ?
Hoà thượng lắc đầu:" Không đúng!".
Thế thì là sự hiểu nhầm chăng?
Cũng không đúng!
Là sự tuyệt vọng?
Không đúng!
...
Chú tiểu đưa ra liền mười mấy phương án, nhưng hoà thượng đều lắc đầu.
" Vậy thì sư phụ nói cho con xem, đó là cái gì?" -
Chú tiểu chưa chịu thôi.
" Là chính con?" -
Chú tiểu ngẩng đầu, mở to mắt dường như hiểu nhưng cũng dường như chưa hiểu, chú nhìn thẳng vào sư phụ như xin điểm hoá.

" Đúng vậy!" -
Hoà thượng cười nói -
"Thực ra những điều con vừa nói như sự cô độc, sự hiểu lầm, sự tuyệt vọng...đều là cái bóng của thế giới nội tâm của con, đều là cảm giác mà tự con gây ra cho con thôi. Nếu con tự nghĩ là những cái này thật đáng sợ thì đúng là con tự đánh bại con. Còn nếu con nghĩ là chẳng có gì đáng sợ cả, ta có thể chiến thắng thì chẳng cái gì có thể áp đảo con. Bởi vì một người mà ngay cả bản thân mình cũng không sợ thì còn sợ cái gì nữa. Cái làm cho ta sợ không phải là những suy nghĩ mà là chính bản thân ta".

Posted: Sun Jul 29, 2012 8:20 pm
by caubennoc

Image

NHỮNG CHUYỆN TRỜI ƠI!
Ở trên đời có những chuyện tréo cẳng ngỗng một cách chướng tai, gai mắt. Người ta thích nịnh hơn nói thật, nói thẳng. Ai cũng tỏ ra ta đây hơn người, khoe những cái hay ( không có ), che những cái dỡ ( dẫy đầy ) mà làm những việc đáng phiền hà. Khi khen thì vỗ tay rần rần. Khi chê thì “ngậm máu phun người”. Làm sao mà tiến bộ!? Nói một đường làm một nẽo. Nói chống Cộng thì y như rằng, làm lợi cho Việt cộng. Nói lương thiện, y như rằng làm chuyện bất đạo. Mới dưới tượng Chúa xưng tội, dưới tượng Phật sám hối bước ra, thì vẫn cứ mưu tính chuyện vô lương. Những kẻ huênh hoang nhất là những kẻ ti tiện nhất. Chúng tôi xin đơn cử vài mẫu chuyện mắt thấy tai nghe dẫy đầy trong thành phố nhỏ nhoi của chúng tôi, thành phố Kansas City của tiểu bang Missouri, thấy mà không nói thì không chịu được !

- Có một tiệm, tôi chỉ nói có một tiệm buôn bán DVD, CD ở đây cứ sang lậu các dĩa DVD, CD của các trung tâm, của các nhà làm phim, của các ca sĩ…mà bán. Và bà con ta có những người thuộc loại keo kiết cứ kiếm các dĩa dvd, cd sang lậu đó mà mua. Mua mua, bán bán…các trung tâm sản xuất đóng cửa, các ca sĩ, nghệ sĩ giải nghệ. Một, hai năm nữa, khắp nơi trên thế giới, chỗ nào có người Việt thì có từng đống, từng đống nhạc “như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng” bán rẻ 1 đồng, 5 cắc cũng mua nghe cho đỡ ghiền, rồi thành Việt Cộng hồi nào không hay. Lương tâm đâu!? Ðạo đức đâu!? Người Việt Quốc Gia đâu!? Những kẻ bần tiện, làm những chuyện bất nhẫn, bất nhân, bất nghĩa như vậy cứ vênh vênh cái bản mặt tự đắc, tự kiêu có bao giờ thấy tội trước Phật, trước Chúa…vễnh to lỗ tai nghe người ta chửi, rủa đến ba đời tổ tiên mình?

- Việt Nam mới qua, thấy cái gì cũng ham, cũng hám :


* Thấy mấy xe mua hàng ( shopping cart ) ở các cửa tiệm mạ kền bóng lộn khoái quá, quen thói “chôm chỉa” ở Việt Nam, bèn lén lút đẩy về nhà dấu làm kỹ vật ăn cắp. Một chiếc rồi hai chiếc để chật nhà. Không giống ai. Nửa đêm thậm thà thậm thụt, vợ chồng xấu hổ quá, rủ nhau đem bỏ ngoài đường. Xóm làng nói nhau: “đồ thứ tham lam”.

* Thấy sự mua đi trả lại dễ quá, bèn cứ mua máy chụp hình, máy quay phim, áo quần, giày dép…thật tốt thả giàn. Sinh nhật xong, đám cưới xong, đi chơi xa xong, đem trả lấy tiền lại, có sao đâu? Có chết thằng Tây trắng, thằng Tây đen nào đâu? Có là có người ta chửi cha, chửi mẹ mình; có là có Bề Trên bắt tội là “đồ gian giảo”, sau khi chết, theo Ðạo Thiên Chúa xuống địa ngục; theo Ðao Phật vào cõi súc sanh ngạ quỷ.

* Cứ mặc đồ xấu vào tiệm bán đồ cũ ( thrift store ), thản nhiên mặc đồ tốt vào, đi ra không thèm trả tiền cho ai, tênh hếch cái bản mặt cướp cạn! Vào các tiệm, tráo đổi hay quăng bỏ những barcode đi rồi tự nhiên như người Hà Nội bỏ vào túi ra cửa hay ra cashier tính tiền rẻ. Bị bắt sẽ bị tội ăn cắp hàng ( shop lifting ). Lúc đó đứng kêu trời, trời cũng không giúp được cái thứ mánh mung, hôi của, cướp vặt.

Vào Chùa không để lạy Phật, nghe Pháp, đọc Kinh mà để “ăn giành ăn giựt” lấy, dấu thức ăn thiện nam tín nữ cúng, đem về cho vợ, cho chồng, cho con, cho cháu “nuốt cho bội thực”… mặc kệ ai làm lễ xong, ra không còn gì. Dẫu có hiền cách mấy, cũng phải la lên “đồ cô hồn đói”. Mấy đứa nhỏ vì cha mẹ chúng không biết dạy, không nói chi. Mấy người lớn còn tệ hại hơn, tư cách đâu mà dạy với không dạy. Sống chỉ một mình hay hai vợ chồng già, cũng ôm đồm “hốt” được chừng nào hay chừng nấy về ăn… cho chết.

Trong hảng xưởng giành làm over time để lấy tiền “one and one-half” mà gây lộn nhau, chửi lộn nhau. Ðàn ông thì cung tay chửi thề. Ðàn bà thì vỗ bành bạch. Người ta đứng cười mà thấy “mắc cỡ” hết sức người Việt Nam. Cũng vì lòng tham đồng tiền, bạn bè ta đi tìm cái nhục.

Mướn hội trường của người ta làm tiệc cưới, thấy những cây Golf Club để ơ hờ một góc đẹp quá, mấy đứa nhỏ con cái nhà ai đã âm thầm rủ nhau “mượn” đem về nhà dấu làm kỷ niệm. “Một là đền 40,000 đô, hai là bị đưa ra tòa”. Tham lam, có cái giá của nó. Giá mất tiền đã đành. Giá mất danh giá gia đình, giòng họ mới nhục. Tội hai gia đình cô dâu và chú rể đau hết sức là đau bỏ ra 40,000 đô la để khỏi “bị đưa ra tòa”!

Hay cũng bắt chước. Dở cũng bắt chước. Rủ nhau bắt chước… ra tiệm Nail cho nhiều, phá giá từ full set 70 đô, 100 đô làm không kịp, giờ 20 đô, 15 đô cũng không có khách mà làm. Chết là cái chắc! Dễ mà! Qua Mỹ từ năm 1975 cũng Nail. Mới đầu hôm sớm mai qua Mỹ cũng Nail. Học cao cũng Nail. “I-tờ-rí” cũng Nail. Già cũng Nail. Trẻ cũng Nail. Có bằng Nail cũng Nail. Không bằng Nail cũng Nail. Nail và Nail “xà nẹo” nhau dẹp tiệm!.

Qua Mỹ hưởng cuộc sống văn minh đủng đỉnh, bỏ sau lưng đời khốn nạn, bèn phát biểu một cách vô tư rằng thì là “nhờ Việt Cộng mà gia đình tôi được qua Mỹ”. Vợ và con gái người ta bị cỡi trần truồng hãm hiếp trước mặt. Thân nhân người ta bị chết thảm phải quăng xuống biển. Có nhớ sự nghiệp còn cái quần xà loỏng đóng khố…và cô độc sống lủi thủi, ăn mày trên xứ lạ…có “nhờ Việt Cộng” không!? Lạ! Câu nói đó lại từ miệng anh Trung Úy Chiến Tranh Chính Trị của VNCH đi Diện HO. Lạ! Câu nói đó lại từ miệng chị lấy chồng Mỹ đi Diện Con Lai. Câu nói đó không từ miệng bất cứ bà con nào đi Diện Vượt Biển, Vượt Biên. Họ không nói “nhờ Quân, Dân, Cán, Chính của Chính Thể Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh xương máu đánh Việt Cộng cho họ còn sống đến ngày hôm nay qua Mỹ, con có đứa Bác sĩ, Luật sư…và mình đời hết khốn nạn như thời ở cái nước gọi là Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam!

Ở Mỹ vài năm có chút tiền, mua được nhà, mua được xe, có người toét loét cái miệng than: “khổ như trâu” và trở mặt phản phúc: “Mỹ bốc lột hơn Việt Cộng”. Khổ như trâu chắc không bằng người Sài Gòn đêm đêm làm chuột, lủi xuống ống cống nước kiếm ăn!? Khổ như trâu chắc không bằng mấy đứa nhỏ đói xác đói xơ tìm sống trên đống rác? Mỹ bốc lột hơn Việt Cộng mới có tiền dư mà “áo gấm về làng” ăn chơi đàng điếm. Mình lạy lục xin vào Mỹ. Mỹ đếch mời mình vào! Hãy để bà Julia Gillard, Thủ Tướng nước Úc “dạy” cho bài học “if you aren’t happy here then leave. We didn’t force you to come here. You asked to be here…”

Mùa Ðông cũng như mùa Hè, mẹ và đứa con gái đi chợ, lúc nào cũng thùng thình áo quần hai, ba lớp, túi rộng thênh thang. Ðể làm gì? Ðể ăn cắp kẹo. Những Camera đang nhìn trừng trừng. Có ngày “xộ khám” làm sao mà ăn mà nói hỡi Trời!? Không phải nghèo một nhúm kẹo. Không phải đói một nhúm kẹo. Không phải thèm một nhúm kẹo. Vậy thì, tại làm sao? Tại vì “tham”, không còn liêm sỉ, thấy cái gì của ai cũng muốn ăn cắp, ăn trộm, ăn cướp.

“Trưởng giả học làm sang”, xênh xang trong nhà vài con chó lớn, chó nhỏ cho nó oai. Mua chuồng cho chó. Hớt tóc cho chó. Sắm áo cho chó. Mua thức ăn cho chó. Mua xương gặm cho chó. Chích thuốc lu bù cho chó… Cả mấy đứa con, trai có, gái có mà để cha ở riêng một mình chết thúi mấy ngày không thằng nào, không con nào hay biết! Vậy mà hở ra, cứ ta là Trung Úy Hải Quân, ta là vợ Ðại Úy Quân Y…nghe mà thúi cả ruột gan cữu tộc!

Giành giựt nhau lượm lon. Ông A nói; “khu vực đó là của tôi”. Ông B nói: “tôi lượm lon ở đây lúc anh còn ở Việt Nam”. Ông A chửi ông B: “đồ chó”. Ông B chửi ông A: “đồ chó”.Thì ra, hai ông đều “đồ chó” hết trơn như nhà thơ Cao Bá Quát đã nói: “…Bỉ viết cẩu. Thử viết cẩu. Bỉ thử giai cẩu…”

Ở đâu đâu, hai ông bà của hai gia đình người Huế cũng oang oang cái lổ miệng rủ nhau khua môi, múa mỏ làm người ta nhức cả đầu. Một ông bà rằng thì là “con tôi học Luật Sư, sắp ra Luật Sư” làm như một hiện tượng hi hữu. Một ông bà rằng thì là “con tôi một đứa đã là Bác Sĩ và một đứa nữa sắp ra Bác Sĩ”. Ðể làm gì? Ðể nổ cho người biết, “ta đây”? Lạ gì các anh chị ở Việt Nam, bỏ Huế vào Sài Gòn sống một đời sống lăn lộn ở chợ cầu Ông Lãnh quen thói “đá cá lăn dưa”?


“Con cóc trong hang, con cóc nhảy ra. Con cóc nhảy ra, con cóc ngồi đó, Con cóc ngồi đó, con cóc nhảy đi”. Ðó là “bài thơ con cóc”. Ở đây, ít nhất cũng có một anh học hành chẳng ra gì nhưng ưa khoe tài hay chữ và tài làm thơ dở hơn “thơ con cóc”, bắt người ta nghe muốn “mệt nghỉ”. Người ta bị nghe hoài, người ta nói thẳng: “ông không nghe tụi nó nói, thơ ông là “thơ con cặt” sao?” Người ta mới nghe một lần đã chửi: “đồ thúi như cứt”. Tôi không hiểu tại sao ổng hợm đến mức cứ: “tôi xin đọc bài thơ của tôi cho các anh nghe”.


Bước vào Chùa, Nhà Thờ, Cộng Ðồng…không đóng góp thì nói có. Ðóng rất ít thì la toáng lên nhiều lắm. Ủng hộ năm, ba đồng thì lúc nào cũng “sao không thấy tên tôi?”. Ðúng là miệng lưỡi kẻ ti tiện. Lén ăn cắp. Lén lấy đem về thì im thin thít. Ðúng là cung cách kẻ bần cùng. Giữ của như Ma Xó, chết rồi cũng trắng tay. Bần cùng, ty tiện, chết rồi cũng thiêu ra tro. Có điều, xú danh con cháu phải mang tiếng nhục đời đời.


“Chân mình còn lấm bê bê mà cầm bó đuốc đi vê chân người”. Ở đây có nhiều người đàn ông bỏ hết thì giờ ra rình mò chuyện riêng tư của người rồi như đàn bà, ngồi lê đôi mách thêm bớt nói xấu người ta, rằng: “Ông nầy lấy vợ thằng kia”. “Con bé đó bỏ nhà theo trai”. “Thằng nhỏ nọ bỏ học, bụi đời, hút xách” mà không có thì giờ nghĩ đến con mình không đứa nào ra đứa nào. Tại sao vậy!?Tại vì cái thói muốn ai cũng “tệ”, cũng “xấu”, cũng “ hư”, cũng “nghèo”, “cũng “thua mình” để cười cho đả mà không nghe người ta chửi cho!

Một chị Việt Nam theo chồng người Mỹ về nước Mỹ từ 1972. Sống trong xã hội Mỹ, nhớ người Việt Nam. Khoảng những năm 1985 đến 1990, mừng gặp lại bà con người Việt. Chị, chồng chị và 2 đứa con lai của chị, xúm lại hết lòng giúp đỡ đồng hương của mình đang chân ướt chân ráo, bơ vơ nơi xứ lạ quê người. Một vài năm sau, đồng hương của mình khúm núm hồi nào, bây giờ làm ăn được, gặp ân nhân, không có một lời hỏi han, còn nói: “đồ thứ Me Mỹ”. Phản phúc! Nghe đứt cả ruột gan!.

Một người, trước năm 1975 ở Việt Nam trốn lính. Ðến Mỹ bỗng thành Ðại Úy Nhảy Dù. Giả tới giả lui, quen mình là Ðại Úy Nhảy Dù thứ thiệt. Lúc nào, ở đâu anh ta cũng nghêng ngang hách xì xằng, chê lính Sư Ðoàn, chê lính Tiểu Khu, chê lính Cảnh Sát…Người ta vừa giận, vừa tức cười …không cứ gì “thằng điên”. Ảnh qua đây từ những ngày đầu bình minh di tản, khá tiếng Anh, láu tiếng Việt, tốt tướng nên, dễ qua mắt bà con, quên mình sống nghề hái cà phê mướn ở Ban Mê Thuột.

Người mình nghĩ bằng cái bụng, không nghĩ bằng cái đầu nên, thường làm những chuyện trớt quớt, trời ơi! Cứ suy bụng ta, ra bụng người. Không động não theo lý trí để hành xử làm sao đúng làm sao sai cho người ta khỏi chửi mà, cứ một mực bụng làm dạ chịu tưởng là hay! Thấy người thất bại thì cười. Thấy người nghèo thì khinh. Thấy người giàu thì ghét. Thấy người hay thì chê. Thấy người không chơi với mình thì thù. Thấy người tốt với mình rồi phản. Thấy người trước mặt thì khen, sau lưng thì nói xấu…Bụng dạ không biết đâu mà lường!? Phải chi có chút đầu óc, đỡ biết mấy!!!

Thấy người nổi hơn mình thì tìm cách đè xuống. Mình không ra cái gì lại muốn nổi lên. Không thích người ta thì đánh phá… Cái dễ đánh phá, dễ đè người ta xuống là cái Nón Cối máu Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam úp người ta là Việt Cộng. Có thể, hạng người nầy là thứ Việt Cộng, là thứ ăn bã Việt Cộng, là thứ bất tài háu danh, là thứ tư thù, là thứ ăn hại đái nát. Ðừng đỡ đòn thúi của bọn vô loại, vô loài nầy, vừa dơ tay lại hết thì giờ lo chánh nghĩa. Cứ nhớ: “chó sủa mặc chó, đoàn lữ hành vẫn đi” của chính trị gia Pháp Joseph Calliaux “le chien aboie, la caravane passe”. Mong lắm thay!

Trong hãng xưỡng cứ muốn làm hơn người ta rồi đi “mét” leader, supervisor cái bà đó, cái ông đó làm biếng. Ca trước muốn hơn ca sau; ca sau không chịu thua ca trước. Hơn hơn, thua thua làm “vượt chỉ tiêu” quá trời. Ðược gì? Hãng xưỡng bắt làm nhiều hơn. Các con Mỹ, các thằng Mỹ, các con Mễ, các thằng Mễ chửi liền liền “fuck you”, “fuck you”. Mình có dại lắm không!?

Hai ông, một Ðại Úy và một không rõ lý lịch, được nghe ổng nói là Giảng Sư Học Viện CSQG ( Giảng Sư lèo ) ngồi “bốc” nhau lên trời xanh. Ông Ðại Úy chê: “Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu không biết làm Tổng Thống, phải chi anh làm thì dân giàu, nước mạnh và mình đâu lưu vong”. “Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm cũng là thứ tệ, tôi tin anh làm Thủ Tướng không những hơn ông Khiêm mà hơn cả ông Nguyễn Cao Kỳ nữa”, ông Giảng Sư lèo nói lại. Bốc qua bốc lại, ông Ðại Úy đi tới đâu người ta cũng không muốn gặp; ông Giảng Sư tới đâu, người ta cũng đóng cửa không cho vào.

Làm trong Station Casino, Ameristar Casino người ta quyên United Way, đã không cho thì thôi lại “cho Mỹ uổng, để cho Việt Nam sướng hơn”. Mình đã quên mình được nhân dân Mỹ cưu mang trăm thứ mới có ngày hôm nay. Người Mỹ có Lễ Tạ Ơn hằng năm. Ta sống một chục năm, hai chục năm, ba chục năm…không phải mắt không có con ngươi hay là kẻ mất trí mà không thấy, không biết. Ông bà mình đâu có dạy những đứa con mình vô ơn vô nghĩa một cách “đểu” như vậy.

Bà con mình khoái nghe láo hơn nghe thiệt. Cái nhà mua không “down” một xu teng thì nói 70, 000 đồng “cho người ta nể, không thì người ta khinh. Nghèo cũng là một cái tội”. Cặp vợ chồng nầy “thành thật khai báo” với tôi như vậy. Mà thiệt, người ta đã trọng cặp vợ chồng nầy từ khi họ biết nói láo, huyênh hoang. Hèn chi một anh đi hái cà phê mướn ở Ban Mê Thuột đã nói ở trên muốn “con nhái to như con bò” bèn trút lớp áo “cu-li” thành Ðại Úy mà “Ðại Úy Nhảy Dù người ta mới ngán” .

Ôm một đống school supplies của Don Bosco phát cho mấy em bé con nhà nghèo về, khoe: “nhờ khéo chen, lấn, luồn, lách và còn chút nữa đánh lộn với người ta mới được về sớm thế nầy, chứ tới phiên mình thì còn gì nữa và nắng quá chịu gì nổi”. Chắc vợ chồng ông em bạn nầy đui, điếc và quen lối sống thiếu văn minh dưới cái gọi là Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam nhiều năm rồi nên hồ đồ một cách mọi rợ!?

Những cuộc biểu tình của đồng bào Người Việt Quốc Gia chống Cộng ở ngoại quốc, đích thực có giá trị triệt tiêu những manh động của Việt Cộng và tay sai. Có kẻ tanh tưởi phát biểu rằng thì là “không đụng tới sợi lông tụi Bắc Bộ Phủ”. “Không đụng tới sợi lông Bắc Bộ Phủ” mà Trần Trường phải hạ lá cờ máu và hình Bác của tụi nó bị liệng xuống cống. “Không đụng tới sợi lông Bắc Bộ Phủ” mà âm mưu Madison Nguyễn không thành. Nhất là tụi Việt Cộng, có đứa nào nghênh ngang ở ngoại quốc và lá cờ máu của chúng cắm lên chỗ nào là bị quăng xuống đất chỗ nấy ngay.

Hai ông già cỡ 65 tuổi, một cựu Ðại Úy Không Quân còn vợ, một cựu Trung Sĩ Truyền Tin vợ chết. Ông Ðại Úy nói: “tôi có lấy vợ, vợ tôi phải trẻ, thật trẻ, trẻ chừng nào tốt chừng nấy”. Ông Trung Sĩ nói: “ngang ngang tuổi tôi cũng được miễn là ăn ở với nhau trọn đời”. Ông Trung Sĩ về Việt Nam rước qua Mỹ một bà già “ngang ngang tuổi tôi cũng được…”; ông Ðại Úy bỏ vợ về Việt Nam cặp kè một con đàn bà nhỏ tuổi hơn con gái út của mình. Thời gian quá ngắn qua đi, bà già “ngang ngang tuổi tôi cũng được” và “vợ tôi phải trẻ, thật trẻ, trẻ chừng nào tốt chừng nấy” rủ nhau chuồng tuốt luốt để hai ông trơ trọi “ngồi buồn gãi háng, dái lăn tăn”!

Ai cũng biết, bọn cầm quyền Việt Cộng toàn là thứ thảo khấu, chuyên ăn cắp, ăn trộm, ăn cướp xương tủy đồng bào mình mà mình có ngu cách mấy cũng thấy, cũng biết chính cả mình cũng là nạn nhân nữa chịu không nổi, phải liều chết ra đi. Ai đời, bây giờ mình lại trở về “xênh xang” cho bọn đầu trộm đuôi cướp nầy sai bảo, làm vui cho chúng hả hê một cách đĩ thỏa!? Tại sao chúng ta lại có những thứ “xướng ca vô loại” được nuôi lớn, vỗ béo từ Cộng Ðồng Người Việt Hải Ngoại cứ “chình ình” cái mặt mo mà “ùn ùn” về Việt Nam kiếm chút “phân” tụi nó toẹt ra? Trách chi người ta cứ lôi ông bà, cha mẹ của họ ra mả chửi: “đồ thứ “thương nữ bất tri vong quốc hận. Cách giang do xướng Hậu Ðình Hoa” không biết liêm với sỉ là gì” cũng đúng thôi.

Người Việt ở đây không bao lăm người mà san sát đã có 3 chùa Sư, 2 chùa Cô rồi. Nay sẽ có thêm một chùa đang xây và một chùa sắp khai trương. Bận nầy, các Sư trẻ măng, các Cô trẻ măng từ Việt Nam qua Mỹ lập chùa đông quá. Chùa, không thấy chùa nào treo cờ Việt Nam Cộng Hòa. Không biết tổ quốc của mấy Sư, mấy Cô đâu nhỉ, chắc Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam? Người ta đã nghi, các ổng, các bả là “cán bộ” của cái gọi là Ðảng Cộng Sản Việt Nam. Một ngày nào không xa, các thầy như Thích Chánh Lạc, Thích Viên Lý, Thích Huyền Việt, Thích Giác Ðẳng, Thích Thông Triết…già đi, viên tịch đi rồi thì “ô hô! ai tai!” các chùa mặc sức Cờ Ðỏ Sao Vàng mà “Hồ Chí Minh Muôn Năm”!?

Những chuyện nêu trên là những chuyện có thật và được kể thật. Nếu mà kể đủ thì không bao giờ đủ được, không bao giờ hết được, còn nữa và nhiều nữa. Chừng ấy cũng đủ nhức cả đầu, hoa cả mắt. Dĩ nhiên, chúng ta cũng có khối gì những con người làm nên tiếng tốt vẽ vang Người Việt. Nghĩ rằng, những chuyện kể trên sẽ có ít nhất những ai dính dáng vào nên thay đổi để chúng ta cùng nắm tay dẫn dắt con em mình đi trên con đường tươi sáng, hạnh phúc. Những chuyện kể trên ta thấy hằng ngày, nghe hằng ngày nhưng cả nể hay sợ đụng chạm, không ai muốn đả động đó thôi. Mà “nín” như vậy, nghĩ cho cùng, đã là thiếu tinh thần xây dựng cũng như thiếu trách nhiệm tất nhiên.

Bài viết nầy không nhắm trực tiếp vào ai cũng không hồ đồ chi tiết cho riêng ai. Dù là sự thực của từng cá nhân một nhưng có tính biểu kiến và chung chung. Nếu có những ai na ná với ai đó mà thấy chính mình ở trỏng cũng nên nghĩ lại mà sống sao cho lương thiện, trong sáng, liêm sỉ để một mai nằm xuống còn hy vọng được Chúa rước về Thiên Ðàng và Phật đón nơi Niết Bàn và ít nhất bây giờ đây đang hiện tiền, sống với nhau một cách chan hòa, thân thương đầy trân trọng…

Ðêm Hè 21 tháng 7 năm 2012
NGUYỄN THỪA BÌNH

Posted: Wed Aug 01, 2012 4:01 am
by thienthanh
Khoan nói chống Trung Cộng, Chống Việt Cộng trước đã.

Trần Mộng Lâm.

Trước đây 34 năm, khi tôi may mắn thoát khỏi cái thiên đường Xã Hội Chủ Nghĩa của bọn Cộng Sản, chúng tôi, những người đã sống tại Miền Nam từ 1954 cho đến khi rời khỏi đất nước và sau đó ra nước ngoài, đã biết thế nào là đời sống tại Miền Nam, đời sống sau khi Công Sản vào, và đời sống của các tây phương như Pháp, Mỹ, Úc, Na Uy, Hòa Lan…v.v thường nói với nhau : Chúng mình sống tại Miền Nam tạm gọi là Thế Kỷ 20, Công Sản vào, đời sống bị kéo trở về Thế Kỷ 19, nay ra ngoại quốc, đúng là Thế Kỷ 21.

Mọi người có thể kết tội chúng tôi vọng ngoại, nhưng sự thực nó là như vậy, không phải nịnh ai, Mỹ hay Pháp, mà đây là nói chuyện chơi với nhau, có ăn đồng tiền cắc bạc nào .

34 năm nay, tôi không về thăm đất nước, vì một điều là tôi bực mình, không muốn thấy lại hình ảnh một người bất xứng được tôn lên làm cha già dân tộc, mà tôi có về, thì làm được gì ngoài việc du hý, ăn chơi ?

Tuy nhiên, tôi không thể nào quên hẳn Việt Nam.

Nhờ ở Internet, nhờ ở bài viết của những người đã trở về thăm VN, bài viết của những người trong nước, những vidéo, tôi vẫn biết rõ những gì đang xẩy ra tại Việt Nam.

Càng biết, càng buồn.

Đất nước tôi, dân tộc tôi ,là thế sao ?

Một đất nước gì mà tiền kiếm được nhờ ở những người dân gửi về từ ngoại quốc. Những người làm ra tiền cho VN hiện giờ là những người đã di cư sau 1975, hay những người lao động được gửi ra nước ngoài làm tôi mọi cho người ta, làm những việc mà người bản xứ không thèm làm.

Việt Nam đã sản xuất được gì có giá trị? Nhà máy nào, công ty nào, sản phẩm nào. Việt Nam có thể có được một công ty tương tự như Toyota, Samsung ? hay chỉ là những công ty cung cấp dịch vụ tình dục hay ăn chơi cho bọn lắm tiền đến từ ngoại quốc?

Đất nước gì mà người ta chỉ có thể giàu có nhờ ăn cướp, tham nhũng, hối lộ,

Nhìn về Việt Nam, về phương diện văn hóa, thì ngôn ngữ Việt Nam càng ngày càng trở nên tối om với những từ ngữ mới . Báo chí VN nhiều khi đọc mà không hiểu họ muốn nói gì.Còn bọn lãnh tụ, khi ra ngoại quốc, ăn nói chẳng giống ai, điển hình là vụ :Việt Nam thức thì Cuba ngủ, Việt Nam ngủ thì Cu Ba thức, để canh cho thế giới !!!

Nhìn về Việt Nam, chỉ thấy giam cầm, bắt bớ, chỉ thấy dân oan khiếu kiện mếu máo thảm thương, chỉ thấy công an dùng sức mạnh và vũ khí quật túi bụi vào dân lành, và dân lành nhiều khi phẫn uất, mạng đổi mạng với bọn công an.

Nhìn về Việt Nam, chỉ thấy những cô gái nghèo, như trong vidéo mới đây tôi được xem, bán mình cho đàn ông ngoại quốc, không do tình yêu (tình yêu gì mà khi đến phi trường Đại Hàn, chưa biết ai sẽ ra đón mình), mà do một chút tiền bạc, mong có được để đổi đời, cho mình và cho cha mẹ mình.Việc đó có khác gì việc người da đen bị bán làm nô lệ trong thời Mỹ Quốc lập nước, hai thế kỷ trước đây ? Việc buôn bán nô lệ, là Thế Kỷ thứ 18.Việt Công đang đưa dân Việt trở về Thế Kỷ này.

Nhìn về Việt Nam, chỉ thấy ngao ngán, xa lạ. Xa lạ vì cho mãi tới giờ, người dân vẫn chẳng có một chút quyền hành, một chút giá trị gì. Họ là con giun, cái kiến trước bọn nắm quyền, đảng viên đảng Cộng Sản,tệ hại hơn các ông vua thời phong kiến.

Hỡi những người Việt Nam, đồng bào của tôi, chúng ta phải chống bọn Trung Cộng Xâm Lược, chỉ lăm le nuốt chững chúng ta.

Nhưng trước khi chống Trung Cộng, chống bọn Việt Công trước đã, việc đó khẩn cấp hơn.Còn cái guồng máy CS trên đầu trên cổ, Việt Nam không thể trở nên hùng mạnh để làm các láng giềng nể trọng.

Trần Mộng Lâm.

Posted: Fri Aug 03, 2012 3:26 am
by KýCóp
Chúng tôi đi biểu tình

Nguyễn Anh Dũng

Cứ gần đến ngày 27/7, truyền thông nhà nước lại tuyên truyền về ngày thương binh liệt sỹ. Nhắc lại một thời đất nước bị tàn phá, con người bị hủy diêt bởi chiến tranh. Sự huỷ hoại trên mình tổ quốc, thời gian rồi sẽ xoá dần, nhưng vết thương trong tâm trí người dân thì không bao giờ xoá nhoà. Khi mà biết bao gia đình, còn đang khắc khoải, chờ mong và hy vọng tìm thấy hài cốt của người thân từ các bên tham chiến tại Việt Nam.

Trung Quốc phát động cuộc chiến biên giới phía Bắc năm 1979. Cưỡng chiếm biên giới trên đất liền, biển đảo Hoàng Sa và Trường Sa, bắn giết bộ đội, ngư dân để cướp đảo, cưỡng đoạt tầu thuyền và đòi tiền chuộc. Thành lập các cơ quan quản lý hành chính và quân sự tại nơi đã chiếm đóng. Hành vi đó đã kéo dài qua nhiều năm tháng một cách có hệ thống, với mức độ ngày càng nghiêm trọng hơn. Dần thực hiện âm mưu đồng hoá, biến Việt Nam trở thành một phần lãnh thổ của Trung Quốc.

Khi mà Đảng và nhà nước muốn giữ hoà khí trong một liên minh với Tầu cộng bằng 16 chữ vàng và quan hệ 4 tốt giả hiệu. Đã quên đi nỗi nhục mất nước từ ngàn xưa. Để rồi cũng quên đi hương hồn những người con của nhà nước Việt Nam Cộng Hoà, nhà nước Cộng Hoà XHCN Việt Nam. Đã hy sinh để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc Việt Nam. Nhằm duy trì sự độc quyền thống trị của Đảng cộng sản.

Biểu tình chống xâm lược là việc làm cần thiết, để góp phần ngăn chặn chiến tranh trước khi cuộc chiến có thể xẩy ra. Biểu tình một cách ôn hoà là quyền và nghĩa vụ của công dân được quy định tại điều 69, 77 Hiến pháp. Có thể nói đây là hình ảnh hội nghị Diên Hồng thu nhỏ nối tiếp truyền thống Ông Cha từ đời xưa. Như cụ Hồ đã nói: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Đồng thời cũng là thông điệp thể hiện ý chí và nguyện vọng của người dân gửi tới nhà cầm quyền trước hoạ Bắc triều. Như cụ Hồ đã nói:“Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” (Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ngày 19/12/1946).

Đi biểu tình là sự tự nguyện chấp nhận khó khăn gian khổ, thậm chí cả mất mát hy sinh của cá nhân. Nhưng bù lại sẽ được cho nhân dân, tổ quốc trong độc lập tự do và hạnh phúc. Cổ nhân đã dậy: “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn”, có hoà mình vào đoàn biểu tình mới thấy được lòng người khi sơn hà nguy biến, mới biết cái hay, cái tốt và sức mạnh của nó, mang đậm tính nhân văn.

Thoạt nhìn cảnh lực lượng cảnh sát triển khai lực lượng: Xe mô tô, xe ôtô chở quân cơ động trang bị đầy người, xe bắt người, xe phá sóng điện thoại quần đảo khắp nơi. Lại thêm lực lượng dân vệ, thanh niên CS Hồ Chí Minh cùng với các hàng rào sắt ... Chốt giữ các ngả đường cùng với âm thanh cực đại trên loa của cảnh sát, đòi giải tán cuộc biểu tình theo nghị định 38/CP năm 2005 của chính phủ, của lãnh đạo thành phố “Vì hoà bình”. Người yếu bóng vía thấy cảnh như vậy cũng “Thất kinh”.

Vượt lên tất cả, khi biểu ngữ “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam”, “Ủng hộ luật biển”, “Bảo vệ ngư dân Việt Nam”. “Đả đảo quân Trung Quốc xâm lược” xuất hiện. Lập tức từ các nơi, mọi người kéo đến hoà cùng dòng người, cùng nhau hô vang các khẩu hiệu, diễu hành qua các phố dẫn đến đại sứ quán Trung quốc.

Đoàn biểu tình diễu hành với một khí thế mạnh mẽ, vui vẻ, đoàn kết, sẵn sàng giúp đỡ, bảo vệ lẫn nhau. Không hề thấy xuất hiện sự lo âu sợ hãi, mặc dù biết rằng mọi người có thể bị đàn áp, bắt bớ bất cứ lúc nào. Lúc này mọi người dường như tạm gác sang một bên những nỗi khó khăn vất vả thường ngày, những nỗi bức xúc oan ức, những mối thù nhà để tập trung vào việc trả nợ nước.

Tiêu biểu như cô Trịnh Kim Tiến, nếu không bị công an ngăn cản khống chế. Đã tạm gác nỗi đau khi người cha thương yêu, trụ cột của cả gia đình đã bị tên ác ôn, trung tá công an Nguyễn Văn Ninh nhân danh nước cộng hoà XHCN Việt Nam đánh chết ở Hà Nội, để tham gia đoàn biểu tình. Hoặc biểu tình tại gia như chị Bùi Thị Minh Hằng ở Vũng Tầu.

Đi lẫn trong đoàn biểu tình một nhân viên mật vụ, mà mọi người đã nhẵn mặt nói: “Các bà Văn Giang đi khiếu kiện đòi đất, chứ chống gì Trung Quốc”. Một chị nông dân trả lời: “Nước mất thì đất Văn Giang cũng không còn, nên chúng tôi đi biểu tình chống Tầu”.

Có điều lạ các cuộc biểu tình chống Tầu trong tháng 7/2012, lực lượng cảnh sát dầy đặc, nhưng không xẩy ra xô sát, đàn áp bắt bớ. Theo kiểu đại uý cảnh sát Phạm Hải Minh mặc thường phục giả dạng côn đồ đạp vào mặt anh Nguyễn Chí Đức trong cuộc biểu tình trước đây. Ngược lại Họ còn hướng dẫn, đảm bảo giao thông cho đoàn khi đi qua các giao lộ, với một thái độ đúng mức. Một sự “Tốt lên” hiếm thấy, khiến người ta phải cảnh giác, về một thủ đoạn đàn áp mới có thể xấy ra.

Có điều lạ nữa, lúc đầu đoàn biểu tình chỉ có một số đông, càng đi đoàn người càng đông thêm bởi một số người mới sát nhâp, có nhiều người đi xe đạp hoặc xe máy cũng xuống dắt xe đi theo đoàn. Những người dân đứng hai bên đường nhìn theo với ánh măt đồng cảm, với nụ cười thân thiện. Ở một vài nơi, người dân đã tặng cờ, nhà Chùa tặng những thùng nước khoáng để tiếp sức thêm cho đoàn. Sự thật này đã nói lên điều gì?

Thật cảm động khi thấy những mái tóc bạc bên mái tóc xanh của các vị cao niên như cụ bà Lê Hiền Đức, nghệ sỹ violon Hải. Các bà mẹ tay bế con thơ, tay dắt con nhỏ. Có người phải ngồi trên xe lăn cùng các bạn trẻ đã không quản mọi nối gian truân, nguy hiểm để cùng hoà tiếng nói chung “Đả đảo quân Trung Quốc xâm lược”.

Một người đi biểu tình tên Cường kể lại: Kết thúc buổi biểu tình đã gần 11h30 ngày 22/7/2012, người đẫm mồ hôi và thấm mệt. Cường tìm đến quán nước giải khát của hiệu kem Bốn Mùa bên hồ Hoàn Kíêm, gọi một cốc kem dâu để giải khát. Ngồi cùng bàn là một người đàn ông khoảng 40 tuổi, người cao nhưng hơi gầy, có dọng nói nhẹ nhàng, đôi mắt dễ thương và vẻ mặt thân thiện, đặt chiếc máy ảnh đặt trên bàn, anh vui vẻ nói chuyện.

Được biết anh là người Sài Gòn, ra Hà Nội thăm người nhà, gập lúc đoàn biểu tình đi qua nên đã được thấy, được nghe và chứng kiến nỗi lòng của người dân Hà Nội. Lúc chia tay Cường đứng dậy trả tiền nước, thì người khách Sài Gòn rất lịch sự có nhã ý xin được mời và thay Cường thanh toán tiền cốc nước này, với một tình cảm tốt đẹp dành cho người đi biểu tình. Cường cũng không biết nói gì hơn đành chân thành cám ơn và qua anh nhờ nói lên khung cảnh của cuộc biểu tình chống Tầu cộng tại Hà Nội và xin gửi lời chào đến bà con cô bác ở Sài Gòn.

Thông tin về cuộc biểu tình nhanh chóng được truyển tải lên mạng Internet. Lãnh đạo thành phố đã cho đài truyền hình Hà Nội, dùng những lời nói thiếu văn hoá, xuyên tạc, xúc phạm và không quên buông lời đe doạ những người đi biểu tình. Một việc làm thiếu xuy nghĩ, thiếu tình người và quan trọng hơn cả. Họ đã vô trách nhiệm, đánh mất quyền và nghĩa vụ công dân, chỉ nhằm giữ lại cuộc sồng theo bản năng của mình. Rất tiếc một cơ quan báo chí cùng những người được phỏng vấn, cái đầu của họ cũng chỉ nghĩ được đến như vậy!

Trong khi đó một số người đi biểu tình được chính quyền “Nhận diện”, như cụ bà Lê Hiền Đức, LS Lê Quốc Quân được cơ quan ANĐT triệu tập đến “Làm việc”. Hoặc tại địa phương, các đoàn đại diện cho hệ thống chính trị của cụm dân cư đến tại nhà Blogger Nguyễn Hữu Vinh và một số người khác để khuyên cáo: Việc bảo vệ chủ quyền “Đã có đảng và Nhà nước lo”! và yêu cầu mọi người không đi biểu tình nữa!

Mấy vị đại diện này hẳn muốn người dân hãy cứ “Há miệng chờ sung”, hoặc cứ yên tâm vì đã có người khác chăn dắt như một “Bầy cừu”! Phải chăng họ không biết gì về hành vi xâm lược của Tầu cộng, hay họ là người từ hành tinh khác tới đây?

Trong khi đó, uỷ viên Bộ Chính Trị, bí thư thành uỷ Hà Nội, ông Phạm Quang Nghị, đã từng mắng người dân: “Dân ta bây giờ so với ngày xưa ỷ lại Nhà nước lắm. Cứ chờ trên về, chờ cung cấp cái này, hỗ trợ cái kia chứ không đem hết sức ra tự làm” (nguồn: Kinh tế nông thôn).

Trời Hà Nội những ngày này chợt mưa, chợt nắng, nhưng lòng người vẫn bình thản trước sóng gió cuộc đời. Phảng phất đâu đây một nỗi chăn trở, ưu tư, một nỗi buồn man mác. Khi mà còn có những người tỏ ra bằng lòng với cuộc sống hiện tại trong ngôi nhà bé nhỏ của mình. Cũng có thể do họ sống tốt, nhờ cơ chế “Sống chung với tham nhũng” hiện nay. Hoặc quá hoảng sợ khi nghe đến hai chữ “BIỂU TÌNH”.

Để rồi sự “Vô cảm” đã làm cho họ trở nên ích kỷ, nhỏ nhen và hèn nhát, không dám nghĩ đến cả những quyền và nghĩa vụ công dân của mình. Tuy nhiên đối tượng này không nhiều, đại bộ phận người dân đã quá mệt mỏi cực khổ với cuộc sống hiện tại và mong muốn đến một ngày nào đó, sẽ có dịp “Nối vòng tay lớn” để “Dậy mà đi”. Theo những ca khúc đi cùng năm tháng đã một thời vang dội trên những nẻo đường chiến tranh.

Hà Nội, ngày 01 tháng 8 năm 2012

Nguyễn Anh Dũng
Nhà giáo - Cựu chiến binh VN

ĐC: Số 5 ngách 12/87 Chính Kinh, Nhân Chính,Thanh Xuân, Hà Nội.
ĐT: (04) 38583514: DĐ: 0984535494. Gmail: xuannho.vu1@gmail.com

Posted: Sun Aug 05, 2012 6:21 am
by TranAnhDung
Tiếng lóng Sài Gòn

Image

Một thời, một nơi chốn nào đó, trong đời sống ngôn ngữ dân gian lại nảy sinh ra một số tiếng lóng, một số thành ngữ, một câu hát nhại theo câu hát chính phẩm, hầu hết là để châm biếm, tạo nên nụ cười, hay có khi là để răn đe, tìm sự hoàn thiện trong cuộc sống, chúng chỉ sống một thời rồi tự biến mất, nhường chỗ cho đoạn đời "tiếng lóng" khác đến thay thế. Do đó, việc ghi chúng lại để đọc vui chơi hay phục vụ nghiên cứu văn học dân gian, chỉ có giá trị, khi ghi rõ định vị địa lý và thời gian.


Tỷ như Sài Gòn vào thập niên 60, thịnh hành tiếng lóng "sức mấy" để thay nói bất lực hay chuyện không thể. Phổ biến đến nỗi, một nhạc sĩ đã chọn làm đề tài cho một bài hát đường phố "Sức mấy mà buồn, buồn chi bỏ đi Tám".
Những câu chuyện thuộc loại tiếng lóng đó xuất hiện vào thời buổi Sài Gòn thời chiến, quê hương chiến tranh buồn phiền; "sức mấy" đã trở thành bút hiệu của một chuyên mục phiếm luận trên báo, sau đó một kỹ thuật gia sản xuất còi ôtô đã chế ra một điệu còi ôtô, bấm còi là kêu vang trên phố một dòng nhạc còi auto 9 nốt "tính tính tè tè, tè ti tè ti té", làm cho đường phố càng náo loạn hơn.


Trước đó cũng từ bài ca Diễm xưa của Trịnh Công Sơn mà sinh ra tiếng lóng "xưa rồi Diễm ơi", mỗi khi có ai lặp lại một đòi hỏi nào đó,mà người nghe không muốn nghe thêm nữa.

Thời các vũ trường mới du nhập Sài Gòn như Mỹ Phụng, Baccara, Tháp Ngà, thì dân chơi gọi Tài-pán tức người điều phối nhóm vũ nữ, bằng tiếng lóng "Cai gà", gọi cảnh sát là "mã tà", vì police (cảnh sát) hay mang cái dùi cui, tiếng Tây là matraque, đọc trại thành "mã tà". Cũng từ thời thuộc địa, tiếng Tây chế ra tiếng lóng âm Việt rất nhiều như: "gác-dang" tức thuê người làm bảo vệ; tiếng Pháp gardien đọc trại ra thành gác-dang. Cũng như nói "de cái đít" tức lùi xe arriere; tiền cho thêm người phục vụ tiếng Pháp: pour-bois âm bồi gọi "tiền boa", sau này chế ra là "tiền bo".

Cũng thời Pháp thuộc, Sài Gòn có nhiều cách nói mà đến nay không ai biết nguyên do. Tỷ như gọi sở bưu điện là nhà dây thép, mua tem dán bao thư gọi là "con cò", còn nếu gọi "ông cò" là chỉ cảnh sát trưởng mấy quận ở thành phố, gọi "thầy cò" tức là các ông chữa morasse các tòa báo do chữ correcteur, nhưng nói "cò mồi" là tay môi giới chạy việc, "ăn tiền cò" thì cũng giống như "tiền bo", nhưng chữ này chỉ dùng cho dịch vụ môi giới.

Thời kinh tế phát triển, đi xe auto gọi là đi "xế hộp", đi xe ngựa gọi là đi "auto hí", đến thời xe máy nổ ầm ào, đi xe đạp gọi là "xe điếc", đi nghỉ mát Vũng Tàu gọi là "đi cấp", đi khiêu vũ gọi là "đi bum", đi tán tỉnh chị em gọi là đi "chim gái", đi ngắm chị em trên phố gọi là "đi nghễ", gọi chỉ vàng là "khoẻn", gọi quần là "quởn", gọi bộ quần áo mới là "đồ día-vía". Ði chơi bài tứ sắc các bà gọi là "đi xòe", đi đánh chắn gọi là "múa quạt", đi chơi bài mạt chược các ông gọi là "đi thoa", đi uống bia gọi "đi nhậu", đi hớt tóc gọi đi "húi cua". Có một cụm tiếng lóng từ Huế khoảng 1920 - 1950 du nhập Sài Gòn, đó là "đi đầu dầu", tức các chàng trai ăn diện "đi nghễ" với đầu trần không mũ nón, để cái mái tóc chải dầu brillantine láng cóng, dù nắng chảy mỡ. Tuyệt vời gọi là "hết sẩy", quê mùa chậm chạp gọi là "âm lịch", hách dịch tự cao gọi là "chảnh".


Tiền bạc gọi là "địa", có thời trong giới bụi đời thường kháo câu "khứa lão đa địa" có nghĩa ông khách già đó lắm tiền, không giữ lời hứa gọi là "xù", "xù tình", tức cặp bồ rồi tự bỏ ngang. Làm tiền ai gọi là "bắt địa", ăn cắp là "chôm chỉa", tương tự như "nhám tay" hay "cầm nhầm" những thứ không phải của mình.


Ghé qua làng sân khấu cải lương hát bội, người Sài Gòn gọi là làng "hia mão", có một số tiếng lóng người ngoài làng có khi nghe không hiểu. Tỷ như gọi "kép chầu", có nghĩa là đào kép đó tuy cũng tài sắc nhưng vì một lý do nào đó không được phân vai diễn gánh hát, đêm đêm họ cũng xách vali trang phục phấn son đến ngồi café cóc trước rạp hay túc trực bên cánh gà, để đợi, ngộ nhỡ có đào kép chính nào trục trặc không đến rạp được, thì kép chầu thay thế vào ngay. "Kép chầu" phải thuần thục rất nhiều tuồng để đau đâu chữa đó.

Ðào chính chuyên đóng vai sầu thảm gọi là "đào thương", kép chính chuyên đóng vai hung tàn gọi là "kép độc". Có một cụm tiếng lóng xuất phát từ hai nơi, một là cải lương rạp hát, hai là quanh các tòa soạn báo chí, đó là "café à la... ghi" tức uống café thiếu ghi sổ...Vào làng báo mà tiếng lóng người Sài Gòn xưa gọi "nhật trình". Nếu thiếu tin lấy một tin cũ nhưng chưa đăng báo để đăng lấp chỗ trống, gọi là "tin kho tiêu", các loại tin vớ vẩn dăm dòng từ quê ra tỉnh gọi là "tin chó cán xe", tin quan trọng chạy tít lớn gọi là "tin vơ-đét" vedette, nhặt từ tài liệu dài ra thành một bài gọn gọi là "luộc bài", chắp nhiều thông số khác nguồn ra một bài gọi là "xào bài", truyện tình cảm dấm dớ gọi là "tiểu thuyết 3 xu", các tạp chí bình dân xoi mói đời tư gọi là "báo lá cải". Làng nhật trình kỵ nhất là loan tin thất thiệt, lóng gọi là "tin phịa", nhưng trong "tin phịa" còn có hai mảng chấp nhận được đó là loan tin thăm dò có chủ đích, lóng gọi là "tin ballons" tức thả quả bóng thăm dò, hay tin thi đua nói dối chỉ được xuất hiện vào đầu tháng tư, gọi là "tin Cá tháng Tư".

Có đến bảy tiếng lóng để thay cho từ chết. Ðó là "tịch", "hai năm mươi", "mặc chemise gỗ", "đi auto bươn", "về chầu diêm chúa", "đi buôn trái cây" hay "vào nhị tỳ", "nhị tỳ" thay cho nghĩa địa và "số dách" thay cho số một... đều ảnh hưởng từ ngôn ngữ minh họa theo người Hoa nhập cư.

Thời điểm truyện và phim kiếm hiệp của Kim Dung nói chung là chuyện Tầu thịnh hành, người Sài Gòn đã chế ra nhiều tiếng lóng, như ai dài dòng gọi là "vòng vo Tam Quốc", ai nói chuyện phi hiện thực gọi là "chuyện Tề Thiên", tính nóng nảy gọi là "Trương Phi".Một số tên nhân vật điển hình của Kim Dung được dùng để chỉ tính cách của một người nào đó. Tỷ như gọi ai là "Nhạc Bất Quần" tức ám chỉ người ngụy quân tử, đạo đức giả, gọi là "Ðoàn Chỉnh Thuần" tức ám chỉ đàn ông đa tình có nhiều vợ bé... Sài Gòn là đất của dân nhập cư tứ xứ, nơi tha hương văn hóa bốn phương, nên ngôn ngữ càng thêm phong phú, trong đó tiếng lóng cũng "ăn theo" mà ra đời. Thời Mỹ đến thì một tiếng "OK Salem", mà các trẻ bụi đời vừa chạy vừa la để xin ông Mỹ điếu thuốc. Thời gọi súng là "sén" hay "chó lửa", dân chơi miệt vườn gọi "công tử Bạc Liêu" còn hiểu được, Sài Gòn xuất hiện cụm từ "dân chơi cầu ba cẳng" thì thật không biết do đâu? Có lẽ cầu ba cẳng có tên Pallicao, lêu nghêu 3 cẳng cao như dáng vẻ cowboy trong các phim bắn súng, nên mới gọi "dân chơi cầu ba cẳng"? Ðó cũng là lúc các tiếng lóng như "dân xà bát", "anh chị bự", "main jouer" tay chơi ra đời, chạy xe đua gọi là "anh hùng xa lộ", bị bắt gọi là "tó", vào tù gọi là "xộ khám". Bỏ học gọi là "cúp cua", bỏ sở làm đi chơi gọi là "thợ lặn", thi hỏng gọi là "bảng gót". Cũng do scandal chàng nhạc sĩ nổi tiếng kia dẫn em dâu là ca sĩ K.Ng. qua Nhà Bè ăn chè, để ngoại tình trong túp lều cỏ bị bắt, từ đó "đi ăn chè" trở thành tiếng lóng về hành vi ngoại tình trốn ra ngoại ô.

Cũng có một số tiếng lóng do nói lái mà ra như "chà đồ nhôm" tức "chôm đồ nhà", "chai hia" tức chia hai chai bia bên bàn nhậu, nó cùng họ với "cưa đôi". Lóng thời sự loại này có "tô ba lây đi xô xích le" tức "Tây ba lô đi xe xích lô". Trong tiếng lóng còn chất chứa ân tình. Họa sĩ chuyên vẽ tranh sơn mài đề tài lá hoa sen xuất thân xứ Ca Trù hay than "buồn như chấu cắn", hay có người than phiền vì câu né tránh trách nhiệm với hai tiếng "lu bu"để thất hứa, nay còn có người nhấn thêm "lu xu bu" nại lý do không rõ ràng để trốn việc. Ðể tạm kết thúc phần dẫn này, tôi muốn nhắc một số âm sắc Bắc Hà. Những âm sắc theo chân người Hà Nội vào Nam rồi trở thành tài sản chung của người Việt. Bắt quả tang thành "quả tó", gọi chiếc xe Honda là "con rim", gọi tờ giấy 100USD là "vé", đi ăn cơm bình dân gọi là "cơm bụi", xuống phố dạo chơi gọi là "đi bát phố", gọi người lẩm cẩm là "dở hơi"...

Posted: Thu Aug 09, 2012 6:15 am
by lengoi
Cả nước đã bị lừa

Đã hơn 3 thập kỷ trôi qua, làm ăn cực nhọc là thế, thành tựu không thể nói là nhỏ, thế mà khoảng cách phát triển của VN so với thế giới sao vẫn xa vời! Không định thần nhìn nhận lại tất cả, không khéo chúng ta sẽ ngày càng đi sâu vào con đường đi làm thuê, đất nước có nguy cơ trở thành đất nước cho thuê với triển vọng là bãi thải công nghiệp của các quốc gia khác! Giữa lúc thế giới đang bước vào thời kỳ kinh tế trí thức!

150 năm đã trôi qua, nhưng bài học này còn nguyên vẹn. Đó là 80 năm nô lệ, 40 năm với 4 cuộc chiến tranh lớn (Pháp, Mỹ, Cam Bốt, Tàu) – trong đó 3 thế hệ liên tiếp gánh chịu những hy sinh khốc liệt, 35 năm xây dựng trong hòa bình với biết bao nhiêu lận đận, và hôm nay VN vẫn còn là một nước chậm tiến.

Thảm kịch của đảng cộng sản thực ra đã bắt đầu ngay từ ngày 30-4-1975. Sự bẽ bàng còn lớn hơn vinh quang chiến thắng. Hòa bình và thống nhất đã chỉ phơi bày một miền Bắc xã hội chủ nghĩa thua kém miền Nam, xô bồ và thối nát, về mọi mặt. “Tính hơn hẳn” của chủ nghĩa Mác-Lênin trở thành một trò cười. Sự tồi dở của nó được phơi bày rõ rệt cùng với sự nghèo khổ cùng cực của đồng bào miền Bắc.

Nhìn lại sau hơn nữa thế kỷ dưới chế độ CS, hàng loạt các câu hỏi được đặt ra :

- Năm 1954 sau khi thắng Pháp, tại sao hơn 1 triệu người Bắc phải bỏ lại nhà cửa ruộng vườn di cư vào miền Nam ?

- Sau năm 1975 , tại sao dân miền Nam không ồ ạt di cư ra Bắc sinh sống để được hưởng những thành quả của CNXH mà chỉ thấy hàng triệu người Bắc lũ lượt kéo nhau vào Nam lập nghiệp ?

- Tại sao sau khi được “giải phóng” khỏi gông cùm của Mỹ-Ngụy, hàng triệu người phải vượt biên tìm tự do trong cái chết gần kề, ngoài biển cả mênh mông ?

- Tại sao nhân viên trong các phái đoàn CS đi công tác thường hay trốn lại ở các nước tư bản dưới hình thức tị nạn chính trị ?

Tất cả những thành phần nêu trên, họ muốn trốn chạy cái gì?

- Tại sao đàn ông của các nước tư bản Châu á có thể đến VN để chọn vợ như người ta đi mua một món hàng?

- Tại sao Liên Xô và các nước Đông âu bị sụp đổ?

- Tại sao lại có sự cách biệt một trời một vực giữa Đông Đức và Tây Đức, giữa Nam Hàn và Bắc Hàn?

- Tại sao nước ta ngày nay phải quay trở lại với kinh tế thị trường , phải đi làm công cho các nước tư bản?

- Tại sao các lãnh tụ CS lại gởi con đi du học tại các nước tư bản thù nghịch?

Hỏi tức là trả lời, người VN đã bỏ phiếu bằng chân từ bỏ một xả hội phi nhân tính . Mọi lý luận phản biện và tuyên truyền của nhà nước cộng sản đều trở thành vô nghỉa.

Sự thực đã quá hiển nhiên nhưng đảng cộng sản không thể công khai nhìn nhận. Họ không thể nhìn nhận là đã hy sinh 4 triệu sinh mệnh trong một cuộc chiến cho một sai lầm. Nếu thế thì họ không còn tư cách gì để nắm chính quyền, ngay cả để hiện diện trong sinh hoạt quốc gia một cách bình thường. Nhìn nhận một sai lầm kinh khủng như vậy đòi hỏi một lòng yêu nước, một tinh thần trách nhiệm và một sự lương thiện ở mức độ quá cao đối với những người lãnh đạo cộng sản. Hơn nữa họ đã được đào tạo để chỉ biết có bài bản cộng sản, bỏ chủ nghĩa này họ chỉ là những con số không về kiến thức. Cũng phải nói là trong bản chất con người ít ai chịu từ bỏ quyền lực khi đã nắm được.

Thế là sau cuộc cách mạng long trời lở đất với hơn ba chục năm khói lửa, máu chảy thành sông, xương cao hơn núi, Cộng Sản Hà Nội lại phải đi theo những gì trước đây họ từng hô hào phá bỏ tiêu diệt. Từ ba dòng thác cách mạng chuyên chính vô sản, hy sinh hơn bốn triệu mạng người, đi lòng dòng gần nửa thế kỷ, Cộng Sản Hà Nội lại phải rập khuôn theo mô hình tư bản để tồn tại .

Hiện tượng “Mửa ra rồi nuốt lại” này là một cái tát vào mặt các nhà tuyên giáo trung ương.

Cách mạng cộng sản đã đưa ra những lí tưởng tuyệt vời nhất, cao cả nhất, đã thực hiện những hành động anh hùng vô song, đồng thời cũng gieo vào lòng người những ảo tưởng bền vững nhất. Nhưng thực tế chuyên chính vô sản đã diễn ra vô cùng bạo liệt, tàn khốc, chà đạp man rợ lên đạo lý, văn hóa và quyền con người ở tất cả các nước cộng sản nắm chính quyền. Sự dã man quỷ quyệt mánh lới và sự bất nhân khéo che đậy của Cộng sản chưa hề thấy trong lịch sử loài người.

Con người có thể sống trong nghèo nàn, thiếu thốn. Nhưng người ta không thể sống mà không nghĩ, không nói lên ý nghĩ của mình. Không có gì đau khổ hơn là buộc phải im lăng, không có sự đàn áp nào dã man hơn việc bắt người ta phải từ bỏ các tư tưởng của mình và “nhai lại” suy nghĩ của kẻ khác.

Nền chuyên chính vô sản này làm tê liệt toàn bộ đời sống tinh thần của một dân tộc, làm tê liệt sự hoạt động tinh thần của nhiều thế hệ, làm nhiều thế hệ con người trở thành những con rối , những kẻ mù chỉ biết nhai như vẹt các nguyên lý bảo thủ giáo điều…

Công dân của nhà nước cộng sản luôn luôn sợ hãi, luôn luôn lo lắng không biết mình có làm gì sai để khỏi phải chứng minh rằng mình không phải là kẻ thù của chủ nghĩa xã hội.

Cơ chế quyền lực cộng sản tạo ra những hình thức đàn áp tinh vi nhất và bóc lột dã man nhất. Vì vậy công dân trong các hệ thống cộng sản hiểu ngay điều gì được phép làm, còn điều gì thì không. Không phải là luật pháp mà là quan hệ bất thành văn giữa chính quyền và thần dân của nó đã trở thành “phương hướng hành động” chung cho tất cả mọi người.

Cơ chế hiện nay đang tạo kẽ hở cho tham nhũng, vơ vét tiền của của Nhà nước. Nhưng cái mà chúng ta mất lớn nhất lại không phải là mất tiền, mất của, dù số tiền đó là hàng chục tỉ, hàng trăm tỉ. Cái lớn nhất bị mất, đó là suy đồi đạo đức. Chúng ta sống trong một xã hội mà chúng ta phải tự nói dối với nhau để sống…

Bác và đảng đã gần hoàn thành việc vô sản hóa và lưu manh hóa con người VN (vô sản lưu manh là lời của Lê Nin). Vô sản chuyên chính (đảng viên) thì chuyển sang làm tư bản đỏ, còn vô sản bình thường (người dân) trở thành lưu manh do thất nghiệp, nghèo đói.

Nền kinh tế Việt Nam bây giờ chủ yếu là dựa trên việc vơ vét tài nguyên quốc gia , bán rẻ sức lao động của công nhân và nông dân cho các tập đoàn kinh tế ngoại bang , vay nước ngoài do nhà nước CS làm trung gian .

Huyền thoại giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp do cộng sản Việt Nam dày công dàn dựng đã tan thành mây khói khi giai cấp “vô sản” âm thầm lột xác trở thành các nhà Tư bản đỏ đầy quyền lực và đô la.

Do vậy, lý thuyết CS dần dần mất đi tính quyến rủ hoang dại. Nó trở nên trần trụi và lai căng. Tất cả điều đó đã làm cho các ĐCS trên toàn thế giới dần dần chết đi. Dù GDP có tăng lên, nhiều công trình lớn được khánh thành do vay mượn quỹ tiền tệ Quốc Tế nhưng đạo đức xả hội cạn dần. Thực tế cho thấy rằng sức mạnh không nằm ở cơ bắp. Vủ khí, cảnh sát và hơi cay chỉ là muổi mòng giửa bầu trời rộng lớn nếu như lòng dân đã hết niềm tin vào chính quyền.

Học thuyết về xây dựng một xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa chỉ là một loại lý tưởng hóa, nó là chiếc bánh vẽ để lừa gạt dân, không hơn không kém; đảng nói một đằng, làm một nẻo. Chẳng hạn đảng nói “xây dựng xã hội không có bóc lột” thì chính những đảng viên lại là những người trực tiếp tham nhũng bóc lột người ; đảng nói ” một xã hội có nền dân chủ gấp triệu lần xã hội tư bản” thì chính xã hội ta đang mất dân chủ trầm trọng; đảng nói “đảng bao gồm những người tiên phong nhất, tiên tiến nhất” nhưng thực tế thì đảng đầy rẫy những người xấu xa nhất, đó là những kẻ đục khoét tiền bạc của nhân dân.

Sở dĩ ĐCSVN còn cố giương cao ngọn cờ XHCN đã bị thiêu rụi ở tất cả các nước sản sinh ra nó vì chúng đang còn nhờ vào miếng võ độc “vô sản chuyên chính” là… còng số 8, nhà tù và họng súng để tồn tại !

Nhân dân đang hy vọng rằng Đảng sớm tự ý thức về tội lổi tầy trời của mình . Đảng sẻ phải thẳng thắn sám hối từ trong sâu thẳm chứ không chỉ thay đổi bề ngoài rồi lại tiếp tục ngụy biện, chấp vá một cách trơ trẻn.

Người dân chẳng còn một tí ti lòng tin vào bất cứ trò ma giáo nào mà chính phủ bé, chính phủ lớn, chính phủ gần, chính phủ xa đưa ra nữa. Họ nhìn vào ngôi nhà to tướng của ông chủ tịch xã, chú công an khu vực, bà thẩm phán, ông chánh án, bác hải quan, chị quản lý thị trường, kể cả các vị “đại biểu của dân” ở các cơ quan lập pháp “vừa đá bóng vừa thổi còi” mà kết luận: “Tất cả đều là lừa bịp!”

Do đó XHCN sẽ được đánh giá như một thời kỳ đen tối nhất trong lịch sử VN. Con, cháu, chút, chít chúng ta nhắc lại nó như một thời kỳ … đồ đểu ! vết nhơ muôn đời của nhân loại.

Một thời kỳ mà tâm trạng của người dân được thi sĩ cách mạng Bùi Minh Quốc tóm tắt qua 2 vần thơ :

“Quay mặt phía nào cũng phải ghìm cơn mửa !
Cả một thời đểu cáng đã lên ngôi!”

Chẳng lẽ tuổi thanh xuân của bao người con nước Việt dâng hiến cho cách mạng để cuối cùng phải chấp nhận một kết quả thảm thương như thế hay sao ? Chẳng lẽ máu của bao nhiêu người đổ xuống, vàng bạc tài sản của bao nhiêu kẻ hảo tâm đóng góp để cuối cùng tạo dựng nên một chính thể đê tiện và phi nhân như vậy ?

Tương lai nào sẽ dành cho dân tộc và đất nước Việt Nam nếu cái tốt phải nhường chổ cho cái xấu? Một xã hội mà cái xấu, cái ác nghênh ngang, công khai dương dương tự đắc trong khi cái tốt, cái thiện phải lẩn tránh, phải rút vào bóng tối thì dân tộc đó không thể có tương lai ! Một kết cục đau buồn và đổ vỡ là điều không tránh khỏi.

Châu Hiển Lý –
Bộ đội tập kết 1954

Posted: Fri Aug 10, 2012 5:20 am
by nguyenvsau
Quyền của cái miệng
Ăn xin là vạn bất đắc dĩ, là một cách để cái miệng có thứ mà nhai, là một cách kiếm sống. Không ai muốn phải tha hương, phải “lao động khổ sai” cả ngày trên đường, phải “cúi nhặt đồng xu dưới cống” cả

Luật Biểu tình cuối cùng vẫn là dự án luật gây tranh cãi nhất trong chương trình xây dựng luật của Quốc hội. Và lần này, thay cho phát ngôn nổi tiếng “Biểu tình là sự ô danh”, thì “Chủ nghĩa xã hội” được đưa ra như một lý do chính để bác bỏ dự án luật này.

“Nước ta là nước Xã hội chủ nghĩa, chưa nói tới biểu tình, để cho quần chúng nhân dân đi ăn xin giữa đường đã là không được”- Đây là phát biểu của ĐBQH Đắk Lắk, ông Niê Thuật.

Ăn xin là vạn bất đắc dĩ, là một cách để cái miệng có thứ mà nhai, là một cách kiếm sống. Không ai muốn phải tha hương, phải “lao động khổ sai” cả ngày trên đường, phải “cúi nhặt đồng xu dưới cống” cả. Hơn nữa, cũng cần phải nói là có nhiều cách để xóa bỏ tình trạng “ăn xin giữa đường” thay cho biện pháp hành chính là cấm, là bắt, là trả về địa phương, là đưa đi trại bảo trợ xã hội. Mà cách hữu hiệu nhất là chính quyền cho họ một cái cần câu cơm để tự họ có một cuộc sống “có cái để cho vào miệng”. Ông Niê Thuật là Bí thư tỉnh ủy Đắk Lắk, là quan đầu tỉnh, chắc hẳn ông quá hiểu chuyện đó. Vì thế, sự “được” hay “không được” không quyết định bởi những người vô nghề nghiệp, đang đói rã họng phải lê lết đi xin ăn ngoài phố, mà ở trách nhiệm của các bậc phụ mẫu với nhân dân của mình. Ước mơ giản dị của cụ Hồ “Ai cũng có cơm ăn áo mặc” từ ngày lập nước đến giờ đã mấy chục năm, xem ra vẫn còn là một mục tiêu cần phấn đấu.

Thế đấy, dù xã hội chủ nghĩa là tươi đẹp, là ưu việt, vẫn có những người phải ăn mày thiên hạ. Nhưng ngay cả khi nhân dân đã no ấm đến mức không còn người ăn xin, không còn hàng trăm ngàn người thiếu đói mỗi tháng thì chế độ xã hội cũng không phải là lý do để bác đi một trong những quyền cơ bản nhất của công dân đã được ghi trong Hiến pháp. Thưa ông Niê Thuật, một xã hội có những vấn đề - ăn xin chẳng hạn, thì cái đáng sửa, là cái cách xã hội đó đối xử để người dân không phải ăn xin, chứ không phải mặc áo đạo đức nói nó không có “ăn xin”, hoặc không chấp nhận “ăn xin” là vấn đề xã hội.

Còn nhớ tháng 11 năm ngoái, với tư cách là người có sáng kiến xây dựng Luật Biểu tình, Thủ tướng Chính phủ đã nói một cách rất giản dị rằng một dự án luật điều chỉnh hoạt động tuần hành, biểu tình là cần thiết vì thực tế đang đòi hỏi và bởi Luật Biểu tình là thực hiện theo Hiến pháp, với quy định công dân dược biểu tình. Chính phủ chấp nhận Luật Biểu tình, Thủ tướng Chính phủ thậm chí là người có sáng kiến xây dựng Luật, dù có thể các cuộc biểu tình sẽ là nơi nhân dân tỏ thái độ, hoặc ủng hộ, hoặc chưa ủng hộ với Chính phủ. Vậy thì can cớ gì mà một đại biểu dân cử lại không chấp nhận quyền hiến định của dân?

Phát biểu trước nghị trường ngày hôm qua, ĐBQH Trương Trọng Nghĩa, người từng coi Luật biểu tình là một “món nợ” của nhà nước đối với nhân dân, tiếp tục yêu cầu đưa Luật Biểu tình vào chương trình xây dựng luật. Bởi theo ông: “Một bên người dân có quyền hiến định, một bên là tình trạng thả nổi sẽ làm phát sinh xung đột, sự cố bất lợi nhiều mặt, kể cả uy tín của Nhà nước và thậm chí là thể diện quốc gia”. Ông gọi những người từng biểu tình là “bà con”: “Rất nhiều trường hợp biểu tình là do liên quan tới đất đai, vì không có hành lang pháp lý nên cách làm của bà con không theo mô hình nào cả, không có tư vấn nên dễ bị kẻ xấu xúi bẩy, gây ra nhiều hành vi phản cảm”. Và “Luật biểu tình sẽ đưa tình trạng này vào nề nếp, nhiều ngòi nổ sẽ được tháo bỏ kịp thời trước khi vụ việc trở nên nghiêm trọng hơn. Hy vọng khi có luật, các vụ biểu tình sẽ giảm bớt với mức độ sẽ bớt nghiêm trọng hơn”.

Không có Luật biểu tình vẫn có những cuộc biểu tình, dù đó là bất hợp pháp. Có Luật Biểu tình, có nghĩa là sẽ có biểu tình. Nhưng một đất nước có những cuộc biểu tình hợp pháp thì đó không phải là sự “ô danh” khi cùng với quyền được nhai, cái miệng còn có quyền được nói.

© Đào Tuấn
Theo blog Đào Tuấn

Posted: Wed Aug 22, 2012 3:32 am
by thienthanh
Văn Quang – Viết từ Sài Gòn
Còn thác loạn đến thế nào nữa?

Đã có biết bao nhiêu chuyện quái gở xảy trong nhũng năm gần đây, báo hiệu một nền luân lý đạo đức xuống cấp trầm trọng, tưởng không thể xuống cấp hơn được nữa. Chuyện bằng giả, bằng mua, bằng thi thuê, thi giùm cho sếp chỉ còn là chuyện vặt. Đã có bao nhiêu sếp xài bằng giả bị lật tẩy không đếm được. Giám khảo coi thi, mang bài giải vào tận trường thi cho thí sinh là chuyện từ “thượng cổ” tới nay chưa từng thấy… Nền giáo dục VN đang cảnh báo những hồi chuông nghiêm trọng.

Từ người lớn đến trẻ con

Về lối sống, đạo đức luân lý, gần đây dư luận đã kinh hoàng về vụ 3 ông bà bác sĩ cùng lảm việc ở một cơ quan, ngoại tình “ngon lành” rồi bà bác sĩ tự quay phim cảnh ái ân của mình và tình nhân là sếp của mình, đưa cho chồng vừa “chiêm ngưỡng” vừa làm bằng cớ, tung ra trước các báo chí cho cả làng cùng xem, sau đó kiện sếp đã quyến rũ, bắt ép vợ mình “quan hệ”. Kết quả cuối cùng hai ông bà trí thức ngoại tình bị thuyên chuyển đi mỗi người một nơi, kể như xong. Sự sa đọa và lối giải quyết “nửa chừng xuân” ấy như chỉ làm cho có, làm cho xong, đối phó với dư luận. Nhưng thực ra là họ đã đối phó, thách thức, nhạo báng với cả một nền luân lý truyền thống của ông cha ta để lại.

Người trí thức tạm gọi là “thành đạt” đã có một cuộc sống khá giả, vậy mà vẫn nổi loạn.Làm gương xấu cho lớp trẻ mới lớn. Điển hình là câu chuyện quái gở tôi đã tường thuật với bạn đọc về hai cô cậu chỉ ngồi “chat” với nhau qua mạng internet, để rồi hẹn hò đưa nhau vào khách sạn, thực hiện những gì đã học được suốt một tuần lễ liền đến phờ phạc ngớ ngẩn khiến cả hai gia đình đều không còn nhận ra con mình nữa. Chúng trở thành những “quái thai thời đại”, chẳng biết tương lai ra sao.

Đó chỉ là 2 câu chuyện điển hình, của một hai năm trước. Tưởng rằng đó là hết mức của những thác loạn. Nhưng ngững ngày gần đây, sự sa đọa còn có nguy cơ… tiến bộ hơn, “vượt thời gian và không gian”. Nó quái đản đến nỗi có giàu óc tưởng tượng cũng hình dung ra.

Ra mắt bố mẹ chồng bằng slogan…quái gở

Mời bạn đọc hàng tin ngắn này:

“Trong lần ra mắt gia đình người yêu, Thanh Hương (23 tuổi, quê Nghệ An - một "tín đồ" của áo thun slogan) chẳng ngại mặc chiếc áo với dòng chữ: “Đu theo xe rác, lượm xác người yêu”. Lần đầu, ba mẹ người yêu tưởng cô bé chỉ mặc một lần cho vui, nhưng lần khác đến chơi, cô bận ngay chiếc áo với dòng slogan còn sốc hơn: “Bỗng dưng muốn ấy...”. Cứ mỗi lần đến, cô lại “gắn” trên ngực áo một câu dữ dội khiến ba mẹ người yêu tưởng mình hoa mắt. Chắc chắn ông bà này phải chạy dài, vừa chay vừa vái “cô con dâu tương lai” kia đến nhà khác làm dâu, đừng bén mảng tới nhà bà, kẻo con trai bà chết sớm.

Không cần bình luận gì thêm, bạn đã thấy được sự thác loạn của tuổi trẻ ở đây bây giờ lên đến “cao trào” nào.

Kiểu mặc áo thun có những slogan trên ngực là chuyện thường thấy. Hầu hết là những hàng chữ rất dễ thương hoặc gây đôi chút tò mò với người xung quanh hoặc muốn bày tỏ một điều gì đó như mơ ước, ý thích của riêng mình. Ở VN cũng vậy, có những hàng chữ như “Phản đối đào đường”, “Tôi ghét kẹt xe”... Hoặc slogan có thể tạm chấp nhận được, mang tính hài hước như : “ăn chơi sợ gì mưa rơi, “bó tay con gà quay”, “đói như con sói”...

“Hàng độc” ở đâu ra?

Nhưng cũng có những dòng slogan với ngôn từ nhố nhăng như “Chán như con gián”, “Không bao giờ bán đứng bạn bè nếu... chưa được giá”, “Chúng ta rồi cũng sẽ già, sẽ lên nóc tủ ngắm gà khỏa thân”. “Bầu ơi thương lấy bí cùng, mai sau có lúc nấu chung một nồi”, “không say không về”… Qua những slogan ấy, các cô các cậu học trò còn muốn chứng tỏ “đẳng cấp” của mình trong giới ăn chơi. Vì thế cần phải có những slogan được coi là “hàng độc”, nhiều hàng chữ được các “tuổi tin” sáng tạo ra rồi các cửa hàng chuyên in áo thung tiếp sức sáng tác ra thêm những “phiên bản” mới, độc hơn, dữ dằn hơn. Đó chính là các người lớn khuyến khích cho trẻ em bước dần vào nững trò chơi thác loạn mà không một cơ quan văn hóa nào thèm để mắt tới.

Vì thế sự phát triển của những trò chơi trẻ trung này thành trò thác loạn rất nhanh, chỉ trong vòng vài tháng gần đây là nó “biến thái” như vết dầu loang trên biển. Nếu không nhanh tay ngăn chặn, không hiểu đường phố và tuổi trẻ VN sẽ biến thành cái gì. Cái chợ cổ động cho những trò chơi trụy lạc!

Ngăn chặn “vết dầu loang”

Hãy nhìn vào thực tế, quanh các khu công nghiệp Đồng An, Sóng Thần (Bình Dương), khu chế xuất Linh Trung I, II (Thủ Đức, TP Sài Gòn), nhan nhản các bạn trẻ áo quần lòe loẹt với đủ loại xanh, đỏ, tím, vàng.

Nhiều cô cậu đi xe đời mới, dùng điện thoại xịn nhưng lại khoác chiếc áo với dòng chữ to tướng “Tui nghèo kệ tui” bởi “Nghèo không phải là cái tội mà là phong cách sống”. Đó là cách khoe của kiểu mới. Rồi giới học sinh, sinh viên cũng gây sốc với slogan: “Học đi đôi với hành, hành đi đôi với... tỏi”, “Yêu là việc nhỏ, học là việc lớn. Không làm được việc nhỏ, sao làm được việc lớn”, “Học. Học nữa. Học mãi. Đuổi... nghỉ”.

Một cửa hàng áo quần gần khu công nghiệp Đồng An treo đủ loại áo thun in nhan nhản slogan nhảm nhí với giá bán chỉ 30.000 - 50.000 đồng. Người bán hàng còn lôi trong túi ra một lô hàng với các hình ảnh sexy và nói: “Mấy mẫu này bữa nay hút lắm, không có hàng lấy về bán luôn”. Đấy là chưa kể những mẫu áo với những tấm hình và câu chữ “quái dị” hơn, chủ cửa hàng chỉ dành cho khách quen hoặc khách lạ với giá cắt cổ. Những của hàng ở Bình Dương hay Thủ Đức kiếm ăn được, tất nhiên những của hàng ở ngay TP Sài Gòn cũng nhanh chóng vào cuộc, rồi Hanoi, Hải Phòng cũng cứ thế “phát huy” thêm.

Tôi cho rằng đây là trách nhiệm của nhà trường, của gia đình và các tổ chức xã hội. Các cơ quan văn hóa VN cần phải phối hợp với các cơ quan khác, ngăn chặn ngay những cô cậu mang những slogan nhảm nhí này. Có thể nói đây là những hành động không khác gì “công súc tu sỉ’ như trước đây chúng ta có luật cấm và phạt những kẻ vi phạm. Không thể để cho một lớp trẻ thiếu văn hóa, thiếu ý thức tôn trọng cộng đồng cứ nhởn nhơ như thế mãi được. Đã phạt những ca sĩ “khoe của” trên sân khấu thì cũng nên phạt những kẻ bôi nhọ thành phố, làm bại hoại thuần phong mỹ tục. Sự thờ ơ của những người có trách nhiệm khiến người dân vô cùng ngạc nhiên.

Cô gái trẻ đang buồn muốn gì?

Đấy là tảng băng nổi, tảng băng chìm con nguy hại hơn nhiều. Mới đây, trên Faceboook, một cô gái rất trẻ nữ đang sống ở Hà Nội (theo thông tin trên facebook) đã đăng dòng status với nội dung “đang rất buồn và muốn quan hệ tình dục” và cung cấp số điện thoại để những ai có nhu cầu liên hệ. Đáng tiếc hơn nữa là đây lại là sinh viên của một trường Cao đẳng và mới chỉ sinh năm 1993.

Chỉ trong một thời gian ngắn, status này đã thực sự thu hút cộng đồng mạng với hàng trăm lượt chia sẻ. Ngoài ra, cô bạn này còn thản nhiên bình luận dòng status của mình với những lời lẽ hết sức thô tục, lại còn kể thêm cả các “chiến tích” mà mình đã đạt được từ khi đi học.

Hành động của cô gái này trên mạng xã hội khẳng định thêm về một lối sống quá sa đọa của không ít các cô cậu “tuổi teen” ở VN hiện nay.

Rùng mình kinh hãi vì thái độ “hồn nhiên” của hung thủ 16 tuổi

Đó là chuyện cô gái trẻ, chuyện của các cậu trai mới lớn còn nguy hiểm hơn, chưa đầy 16 tuổi đã hiếp dâm, giết người cướp của.

Mới tuần trước đây thôi, vào đêm 11-8, một Lê Văn Luyện thứ 2 ở Thanh Hóa hiếp rồi giết dã man nữ sinh lớp 11. Kẻ giết người Lê Tuấn Anh tự nhận là “em” của Lê Văn Luyện.

Nạn nhân, em Nguyễn Thị Bích Ngọc, sinh năm 1995 (hiện là học sinh lớp 11 T1 trường THPT Quảng Xương III) đã bị hung thủ giết, hiếp sau đó ném xác xuống sông thuộc địa phận xã Quảng Châu (huyện Quảng Xương- Thanh Hóa).

Khi bị bắt, hung thủ man rợ này còn “hồn nhiên” nói rằng “Cháu có họ hàng với anh Lê Văn Luyện nên cháu phải làm một điều gì đấy giống anh ấy”.

Điều đáng sợ ở đây, không chỉ là tội ác của lứa tuổi 16 mà chính lá thái độ “hồn nhiên” của cậu học trò ấy. Câu trả lời kiểu “vì tôi có họ hàng với anh Luyện” nên cũng hành động như Luyện đã làm rùng mình những người sắt đá nhất. Nhưng đó cũng là câu trả lời “thật nhất” của hung thủ. Những tội phạm vị thành niên, tội phạm mới lớn đã từng đọc, từng nghe, từng xem đâu đó những hành vi tàn độc ở một thời điểm nào đó. Nguy hại hơn nữa, từ thời Lê Văn Luyện được một số giới trẻ VN xem như “người hùng” và làm thơ, viết nhạc ca ngợi tên sát nhân này!!!

Trở về với đời sống thời kỳ bán khai, hồng hoang nào đó

Tờ Dân Trí đã viết: “Liên tiếp những tội ác man rợ khiến người ta có thể ngỡ ngàng như thể xã hội đã bị đưa về với thời kỳ bán khai, hồng hoang nào đó. Luật pháp xã hội dường như không còn tác dụng răn đe khi hết xử những vụ giết người man rợ này lại xuất hiện trọng án khác.

Điều này cho thấy, điều nguy hiểm cho xã hội không chỉ ở những kẻ thủ ác mà chính là một hệ thống truyền thông “hồn nhiên” vô tình tiếp tay cho tội ác lan tràn.

Một nhà văn đã nói: càng “hồn nhiên” với tội ác - dưới bất kỳ hình thức nào - là càng góp sức mở đường cho tội ác tràn lan.

Theo luồng ý kiến này, độc giả Minh Thành cho rằng: “Kể từ sau vụ Lê Văn Luyện, ngày càng xuất hiện nhiều tên tội phạm tuổi teen. Nhất là tội phạm đặc biệt nguy hiểm như cướp của, giết người, hiếp dâm. Bọn chúng lập băng nhóm và tự xưng là “đàn em” Lê Văn Luyện để gây tội ác khắp nơi”.

Môi trường sống không cải thiện thì còn nhiều đứa trẻ phát triển tâm lý cực đoan chán đời và sẵn sàng thực hiện tội ác”.

Môi trường sống đó ở xã hội VN phải cải thiện như thế nào là một dấu hỏi lớn. Khi đồng tiền và thú vui hưởng thụ là lẽ sống của một số rất lớn “đàn anh, đàn chị” và kể cả “các chú, các bác” thì “đàn em, đàn cháu” bất chấp chuyện gì cũng có thể làm được cho bằng các anh các chị là điều dễ hiểu.

Có đúng là bề trong xã hội đang trở về với cuộc sống thuở hồng hoang như tờ báo Dân Trí đã mô tả? Quả là sự tụt xuống đáy dốc thê thảm.

Lời kể chuyện của một cô giáo

Một cô giáo trẻ đang dạy trung học tại Hà Nội đã viết qua e mail cho một tờ báo kể lại những chuyện mắt thấy tai nghe của cô về “sự yêu đương” của học sinh lớp 6, lớp 7 ngay trong chính lớp cô dạy, khiến chúng ta lại phải giật mình lần nữa trước lối sống buông thả của không ít teen thành phố bây giờ. Xin trích nguyên văn những gì cô giáo đã kể lại:

“…Tôi đọc đựơc những lời hẹn hò tình tứ, những câu yêu thưng rất “người lớn” trong lá thư của hai cô cậu học trò nhí của mình. Đọc thư, tôi thật sự bàng hoàng.

Bạn có tưởng tượng được không khi mà ở tuổi đó các em viết thư cho nhau với những lời lẽ mà sau khi đọc chúng ta phải giật mình. Tôi xin trích nguyên văn một đoạn như thế này: “Chồng iu quý của em! Tối qua, chồng hok đến gặp em như đã hẹn, có fải chồng đi “chơi” với con khác hok? Em bắt đền chồng, tối thứ 7 tuần này chồng fải đền cho em nhìu hơn đấy nhé! Mà lần này hok ra bụi chuối hôm nọ nữa đâu, ở đó bẩn lắm lại nhìu muỗi nữa. Chồng cố chơi lấy con lô để cuối tuần hai vợ chồng mình đi nhà nghỉ cho nó máu nhé! Vợ chồng cái Thương nó toàn đi nhà nghỉ mà chồng…”

Một lá thư khác thì có nội dung thế này: "Chồng" à! tí nữa em ra nhà vệ sinh trc rùi 5'sau "chồng" ra sau nhé, chúng mình sẽ làm "kiểu đứng" như trong phim hôm nọ em xem, em sẽ dạy "chồng" kiểu đó, hay lắm!...."

Hành động “thực tế” ngay tại trường

Cô giáo kể tiếp: “Tại lớp 6A, đang trong giờ học, cả lớp say sưa nghe giảng và sôi nổi học tập thì một em nữ học sinh xin phép tôi ra ngoài đi vệ sinh. Lẽ tất nhiên tôi cho phép em ra ngoài và không quên dặn dò: “Em hãy quay lại lớp ngay nhé”. Nhưng chưa đầy 3 phút sau thì một học sinh nam tiếp tục xin phép ra ngoài và cũng là ra nhà vệ sinh.

Và rồi 5 phút, 10 phút tôi không thấy hai học sinh đó quay về lớp, tôi bắt đầu sinh nghi và trong khi học sinh làm bài tập, tôi bước vội ra nhà vệ sinh để kiểm tra tình hình, thì …tôi giật bắn người. Hai học sinh của tôi đang hôn nhau và làm những việc vượt quá lứa tuổi học trò của các em. Tôi chững lại, rồi như chợt nhận ra tôi đang đứng nhìn, hai học sinh vội cúi mặt.

Băn khoăn, tôi tìm gặp, trò chuyện với các chị lao công thì được hay rằng, khi dọn vệ sinh họ thường lượm được rất nhiều vỏ bao cao su nhét trong bồn toalet.

Chồng - vợ là những câu xưng hô mà đến như tôi, một người đã có chồng mỗi khi gọi : chồng ơi cũng thấy một chút ngượng ngùng, vậy mà cách xưng hô chồng vợ dường như lại đang trở thành mốt của không ít cô cậu tuổi teen ngày nay.

Bạn có thể nghe thấy hoặc bắt gặp một cô nàng tóc vàng hoe, mặt búng ra sữa đi đường gọi một anh chàng đang vừa đi vừa đọc truyện tranh một câu rất ngọt tai như thế này: “Chồng ơi! chờ em với”

Chúng ta không nên chỉ nên án những hành vi thiếu lành mạnh đó của các em mà đồng thời ta phi tìm hiểu được nguyên nhân sau xa, gốc gác của những hành vi ấy. Vậy ai, cái gì là nguyên nhân gây ra và tiếp tay cho những suy nghĩ và hành động như vậy ở lứa tuổi các em? Câu trả lời xin dành lại cho tất cả những ai là người lớn trong xã hội chúng ta.”

Ai trả lời cho cô giáo những điều này? Và trả lời rồi có làm thay đổi được gì cho xã hội sáng sủa hơn không? Câu hỏi còn bỏ ngỏ. Lại xin dành cho các nhà làm văn hóa, giáo dục của thế hệ này trả lời giùm.

Đến chuyện một cô giáo “cuồng dâm” đáng thương hay đáng giận?

Trên đây là chuyện của học trò. Ngay cả chuyện của cô giáo cũng có những mâu thuẫn oái oăm.

Nhắc đến chuyện cuồng yêu, bạo dâm hay những câu chuyện về cai nghiện tình dục, bác sĩ Tô Thanh Phương – Trưởng khoa 6 (Bệnh viện Tâm thần Trung Ương 1) nhớ ngay đến trường hợp bệnh nhân N.T.T sinh năm 1982. Được biết, người phụ nữ tên T – nạn nhân của chứng cuồng yêu này đã được gia đình cho nhập bệnh viện Tâm thần hôm 13-7 vừa qua.
Khi mới được đưa vào BV, T. luôn trong tình trạng mệt lả, mất sức, bị rối loạn tâm thần. Cô luôn buồn chán, khóc lóc, lúc lại hoang tưởng vì bị quan hệ tình dục quá nhiều lần chỉ trong 1 đêm.

Cô T. sinh ra ở Mộc Châu (Sơn La), cô có bằng Đại học Sư phạm, dạy tại một ngôi trường trong tỉnh. T. xinh đẹp, nhưng lấy chồng 2 năm thì ly dị. Cô ra Hà Nội, tìm được công việc là giáo viên hợp đồng dạy học cho một Trung tâm giáo dục thường xuyên và cũng được nhiều thanh niên theo đuổi. Nhưng cô vẫn treo cáo giá ngọc không để y đến ai.

Cho tới khi T gặp D – một thanh niên trí thức người Hà Nội. Thấy D hiền lành, nói năng khiêm nhường và cũng có một công việc ổn định nên T cũng thầm mến D từ khi nào không biết. Nhiều lần ở bên nhau, D cũng đòi T cho “quan hệ” nhưng T vẫn quyết giữ gìn.

Khi cái giá ngọc rơi xuống

Cho tới một ngày không hiểu sao T lại dễ dãi đồng ý đi vào nhà nghỉ (khách sạn) với D. Vừa vào đến phòng, D đã khóa trái cửa lại. Mặc T chống cự, D liên tiếp quan hệ với T hùng hục suốt đêm mà chẳng có lấy một phút nghỉ ngơi.
Ngoài chuyện bắt “yêu” suốt đêm, D thản nhiên bắt T quan hệ tình dục ở đủ các tư thế. Cứ thế, suốt 1 đêm ròng bị yêu thô bạo, T mệt mỏi và sợ hãi đến loạn thần.
Bác sĩ Tô Thanh Phương – người đang trực tiếp điều trị cho T cho biết: “Ngày đầu vào BV, T mệt mỏi, hay khóc lóc và buồn chán. T tâm sự rằng vừa sợ cậu bạn trai quan hệ thô bạo suốt đêm kia nhưng lại vừa thích được yêu như thế và cũng thích gặp lại người đàn ông ấy”.

Luồng gió độc từ đời sống ngoài xã hội

Vừa sợ hãi lại vừa mong gặp lại người đàn ông “cuồng bạo” đó chính lá cái mâu thuẫn lớn nhất và là một bi kịch trong con người cô giáo. Nó mở toang cái cánh cửa thật sự của những ẩn ức, dồn nén, thèm khát của con người “treo cao giá ngọc”, sống “khép kín” nhưng làn gió độc từ ngoài cuôc đời thật, hàng ngày vẫn đè nặng lên tâm trí cô. Cái “giá ngọc” đã rơi xuống vỡ toang. Không ai có thể biết được trong những lúc cô đơn, cô giáo đã làm những gì, đã chui vào những trang web nào, đã xem những phim gì, đã học được những gì qua những trang sách báo nhan nhản những chuyện tình, những hình ảnh gợi cảm của những cuộc thi hoa khôi hoa hậu, thi hát xướng, nhảy nhót tưng bừng trên màn ảnh… Tất cả những thứ đó đã âm ỷ cháy trong tâm tưởng cô giáo như thùng thuốc súng chỉ chờ một ngòi nổ. Và cái ngòi nổ ấy đã đến. Nhưng nếu nó đến từ từ như những “cuộc nổi loạn” khác có lẽ cô giáo không bị loạn tâm thần như bây giờ, Song lúc này chính là lúc cô giáo sống thật nhất với mình.

Không biết cô T đáng thương hay đáng giận? Tùy bạn đọc phán xét.

Văn Quang
– Saigon 17-8-201

Posted: Sun Sep 02, 2012 7:23 pm
by lengoi
Image

Mẹ kiếp : Đứa nào bán nước?

Thư gởi bạn ta,

Đứa nào bán nước? Đoạn video xem được trong internet về chuyến đi mới đây của một nhóm người đến đảo Song Tử Tây, một hải đảo thuộc quần đảo Trường Sa, cho thấy cảnh một sĩ quan hải quân Cộng Sản Việt Nam đứng giải thích cho những người trong chuyến đi về một cột mốc bằng xi măng dựng trên đảo.

Bằng giọng Bắc đặc sệt, người quân nhân này vừa chỉ vào tấm bia xi măng vừa nói rằng cột mốc là một bằng cớ quan trọng có thể dùng để trưng ra làm bằng cớ về chủ quyền của Việt Nam trên đảo. Anh ta chỉ vào tấm bia có từ ngày 22 tháng 8 năm 1956 do Hải Quân Việt Nam Cộng Ḥòa dựng lên nhân một chuyến đi thị sát nghiên cứu và thăm đảo. Tấm bia ghi rõ quần đảo Trường Sa thuộc tỉnh Phước Tuy của Việt Nam Cộng Ḥòa. Anh ta nói rằng tấm bia rất quan trọng vì nó chứng minh chủ quyền của Việt Nam trên đảo. Anh ta nói thêm đó là bằng chứng lịch sử xác thực do hải quân của “chế độ cũ”, tức là chế độ Ngô Đ́nh Diệm dựng lên. Kế đó, anh nói thêm đó là tấm bia ghi rõ Việt Nam Cộng Ḥòa chứ không phải Cộng Ḥòa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Rồi anh chỉ vào một chi tiết khác của tấm bia và nói đó là biểu tượng của “ngụy quân Sài G̣òn và chính phủ Ngô Đình Diệm.”


Mẹ kiếp, các con muốn dùng những thứ ấy trong những tranh chấp về lãnh thổ với Bắc Kinh thì trước hết, các con phải thay đổi ngay cái lối ăn nói mất dậy, vô giáo dục của các con. Tiếp tục gọi chính phủ ở miền nam vĩ tuyến thứ 17 là “ngụy quyền” thì các tài liệu, lập luận của các con liên quan đến Trường Sa và Hoàng Sa sẽ không có giá trị gì hết.

Các con coi Việt Nam Cộng Ḥòa là “ngụy quyền”, là “chính quyền lập ra để chống lại chính quyền hợp pháp của nhân dân chống xâm lược”. Các con coi chỉ có các con mới là chính quyền hợp pháp (tức là chính phủ Việt Nam Cộng Ḥòa của cả hai nền cộng hòa ở nam vĩ tuyến 17 là bất hợp pháp) thì tại sao các con lại lôi các tài liệu bằng chứng lịch sử của chính quyền “ngụy” ra để chống lại lập luận xâm lược của Tầu Đỏ bây giờ?

Các con phải bỏ ngay cái lối ăn nói mất dậy, vô giáo dục của cả nhà các con mỗi khi nói về các chính phủ ở nam vĩ tuyến 17 trước năm 1975 thì mới có thể trưng ra những bằng cớ hợp pháp về chủ quyền của Việt Nam tại các đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Làm như thế mới có được sức mạnh đoàn kết của toàn dân mà các con rất cần vào lúc này. Phải công khai nhìn nhận các nỗ lực và hy sinh của người dân và quân đội Việt Nam Cộng Hòa đối với toàn vùng lănh thổ của đất nước.


Ngày nào mà các con không chịu công nhận và ghi ơn những hy sinh của các chiến sĩ Hải quân Việt Nam Cộng Hòa ở Hoàng Sa trong trận hải chiến kéo dài từ ngày 17 đến ngày 19 tháng 1 năm 1974, và tiếp tục cái lối ăn nói mất dậy gọi Việt Nam Cộng Hòa là “ngụy”, thì ngày đó các con sẽ vẫn chỉ là một bọn phản quốc, sẵn sàng cắt đất, dâng đảo ngoài khơi và sẵn sàng ăn cứt cho bọn Tầu Cộng.

Image

Nên nhớ tấm bia của quân đội Việt Nam Cộng Hòa dựng lên ngày 22 tháng 8 năm 1965 không có nghĩa là chỉ từ ngày đó trở đi, chủ quyền của Việt Nam mới có trên đảo, mà còn cả trước đó nữa. Bắc Kinh không hề có bất cứ một chứng cớ nào có thể đưa ra về chủ quyền của chúng trên các đảo này.

Nhưng cái này khó hơn cho các con trong những tranh cãi về lãnh thổ với Bắc kinh. Tấm bia của Việt Nam Cộng Hòa dựng lên ngày 22 tháng 8 năm 1956 thì ngày 14 tháng 9 năm 1958, tức là sau ngày dựng tấm bia hai năm, thì thủ tướng của các con gửi cha nó một công hàm cho Chu Ân Lai nói rằng nhà nước của các con “ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 58 của chính phủ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, quyết định về hải phận của Trung quốc”.

Cũng trong bức công hàm ô nhục đó, Phạm Văn Đồng còn viết thêm là sẽ “chỉ thị cho các cơ quan nhà nước tôn trọng quyết định của Bắc Kinh trong mọi quan hệ với nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa trên mặt bể”.


Rành rành ra như thế rồi thì làm thế nào các con vô hiệu hóa được cái công hàm khốn nạn đó. Chính thủ tướng của các con đã ngu xuẩn và nhanh nhảu viết bức công hàm đó chỉ 10 ngày sau khi Bắc kinh tuyên bố láo lếu về chủ quyền của bọn chúng, và tình nguyện nhìn nhận, tôn trọng quyết định ngang ngược xâm lăng của bọn Tầu.


Đến nay, các con mới quýnh quáng không biết ăn làm sao, nói làm sao vì cái miệng mắc bố nó cái quai công hàm bán nước của Phạm Văn Đồng. Trong khi đó, sau 38 năm các con vẫn chưa dám nói về trận hải chiến ở Hoàng Sa và các hy sinh của hải quân Việt Nam Cộng Hòa. Các con vẫn không dám gọi thẳng bọn Tầu khốn nạn là bọn xâm lược thì các con chống Tầu thế chó nào được, và các con vẫn tiếp tục đàn áp những tiếng nói yêu nước khi người dân Việt lên tiếng về việc lãnh thổ của cha ông bị bọn chó Bắc kinh xâm chiếm thì các con sẽ không bao giờ có được hậu thuẫn và ủng hộ rất cần của toàn dân để chống lại Tầu cộng.

Mẹ kiếp bây giờ đã thấy rõ đứa khốn nạn chó dại nào bán nước cầu vinh chưa?

Bùi Bảo Trúc.

Posted: Fri Sep 07, 2012 2:42 am
by huynhtruong25

Image

RƯỢU HAY NƯỚC ?

Bạn đối xử với người khác thế nào, bạn cũng sẽ nhận lại như thế. Bạn muốn xã hội tốt đẹp, công bằng, hòa bình, bạn phải là người gieo những hạt giống ấy chứ không chờ ai khác làm thay cho bạn.


Chuyện xưa kể rằng tại một ngôi làng, một nhóm mười người tổ chức cuộc gặp mặt đón xuân mừng năm mới. Một vị lên tiếng, “Tôi đề nghị chúng ta mỗi người góp tay nhau để vui xuân bằng cách mỗi người mang theo rượu của mình và đổ chung vào một chum lớn để cùng chia vui trong dịp xuân.” Mọi người đồng ý và vui vẻ ra về.

Khi về đến nhà, một người trong nhóm cảm thấy hối tiếc vì mình đã nhận lời mang theo bầu rượu quí lâu năm của mình để nạp chung vào nhóm. Vốn không muốn chia sẻ bầu rượu của mình và cũng tiếc tiền để mua rượu khác cho bữa tiệc, anh tỏ vẻ buồn rầu.

Nhưng sau một hồi suy nghĩ, anh ta quyết định. “Ta sẽ đổ nước lạnh vào bầu rượu. Khi đến dự tiệc, ta sẽ đi thẳng vào chum lớn và đổ “rượu” của ta vào đó. Chín ông kia sẽ mang rượu của họ đến, như thế “rượu” của ta sẽ hoà vào rượu của họ, thì chắc chắn sẽ không ai biết được, vì một bầu nước của ta sẽ bị lấn át bởi chín bầu rượu kia. Và như thế ta vẫn có rượu uống như mọi người mà không mất bầu rượu quí này.”

Đến ngày dự tiệc, anh ta mang “rượu” của mình và làm đúng như kế hoạch. Trời tối, chum lớn, từng người một đem rượu của mình đổ vào chum và quay về chỗ ngồi để chờ khai mạc tiệc vui. Sau khi mọi người đã vào bàn tiệc, ông chủ nhà liền sai anh hầu bàn rót rượu mời từng vị khách. Ai ai cũng háo hức để thưởng thức rượu ngon. Bắt đầu từ chủ nhà đến các vị khách, mỗi người đều nhắm rượu. Đôi mắt mỗi người nhìn chằm chằm vào nhau với sự nghi kỵ, xoi mói, hổ thẹn, nhưng miệng vẫn hết lời khen rượu ngon hảo hạng. Nhưng thực ra, thức uống mà họ cầm trên tay chỉ toàn là nước lạnh, vì ai ai cũng có suy nghĩ toan tính như anh kia.

Thưa bạn, câu chuyện rượu hay nước trên đây muốn nhắn gởi chúng ta điều gì ? Bạn muốn uống rượu, bạn phải cho rượu; bạn muốn đón nhận điều tốt từ người khác, bạn phải mang điều tốt cho họ. Bạn đối xử với người khác thế nào, bạn cũng sẽ nhận lại như thế. Bạn muốn xã hội tốt đẹp, công bằng, hoà bình, bạn phải là người gieo những hạt giống ấy chứ không chờ ai khác làm thay cho bạn. Trong bàn tiệc cuộc đời, ai ai cũng được mời gọi mang “rượu” của mình vào cuộc tiệc ấy. Hay nói cách khác, trong việc xây dựng xã hội, đất nước, ai cũng có phần trách nhiệm mang “rượu” để góp chung vào vận mạng của dân tộc.

Một em bé 9 tuổi khi tự nguyện góp phần thức ăn nhỏ của mình để chờ chia sẻ với mọi người bị nạn trong trận động đất tại Nhật Bản ( 11.3.2011). Em ấy mang “rượu” hay mang “nước” đến bữa tiệc chung của dân tộc Nhật Bản ?

Hỏi tức là trả lời vậy

Posted: Sat Sep 08, 2012 2:37 am
by hoanghoa

Image

Cái bẫy chuột và Cuộc đời
Chuyện kể rằng:

Một con chuột nhìn qua vết nứt của vách tường và trông thấy một bác nông dân
cùng với vợ đang mở một chiếc hộp. "Hẳn là có đồ ăn gì trong hộp?" - con
chuột tự hỏi. Nhưng liền sau đó, nó hốt hoảng khi phát hiện ra đó lại là cái
bẫy chuột.

Chuột ta bèn chạy ra ngoài vườn và la làng la xóm: "Có một cái bẫy chuột
trong nhà! Có một cái bẫy chuột trong nhà!"

Chị Gà cục ta cục tác chạy tới: "Chú Chuột này, đây quả thật là mối lo ngại
ghê gớm đối với chú, nhưng nó chẳng phiền hà gì tới tôi. Tôi không thể nào
bị vướng một cái bẫy chuột".

Chuột quay sang nói với anh Heo với vẻ lo lắng: "Anh ơi, trong nhà ta có một
cái bẫy chuột". Anh Heo tỏ ra thông cảm:


"Tôi rất lấy làm tiếc, cậu em ạ!
Tôi chẳng thể làm gì được, nhưng tôi sẽ cầu nguyện cho chú".

Chuột chạy tới bác Bò tỉ tê. Bác bò một lần nữa trấn an:


"Tôi rất hiểu cậu , nhưng tôi cũng chẳng thể giúp gì".


Chuột lẳng lặng bỏ vào nhà. Lòng buổn thỉu buồn thiu, một mình nhìn cái bẫy
chuột tàn nhẫn của bác nông dân.

Thế rồi đêm nọ, một tiếng động vang lên trong ngôi nhà, hệt như tiếng sập
bẫy. Vợ của bác nông dân vội chạy tới để xem có bắt được con chuột nào
không. Trong đêm tối,loạng choạng, bà đã bị một con rắn độc cắn khi bà
mon men tới cái bẫy vốn đang sập vào đuôi con rắn.

Bác nông dân nhanh chóng đưa vợ vào trạm xá. Khi về nhà, bà đã bị sốt.
Mọi người đều biết rằng ăn cháo có thể làm giảm cơn sốt; vì thế bác nông dân
đã chạy ra vườn bắt chị Gà mần thịt để làm cháo nấu cho vợ.

Thế nhưng bệnh tình của vợ ông vẫn không thuyên giảm. Bạn bè và xóm giềng
đã tới thăm hỏi. Để thết đãi họ, ông đã mần thịt anh Heo.

Sau nhiều ngày chống chọi với cơn bệnh, vợ ông đã qua đời. Nhiều người đến lễ tang
và vì thế bác nông dân đã mổ thịt bác Bò để có đủ thức ăn đãi khách, những người đã
rất quan tâm tới gia đình ông.


Lần sau, một khi bạn nghe thấy ai đó đang gặp khó khăn dù chuyện đó chẳng"ăn nhập"
gì tới bạn, hãy nhớ rằng khi một người trong chúng ta gặp nguy khốn, nghĩa là tất cả
chúng ta đều có nguy cơ gặp nguy khốn. Tất cả chúng ta đều đồng hành trên chuyến hành
trình mang tên Cuộc Đời. Hãy để mắt tới mọi người và luôn động viên và cùng họ .