Page 39 of 187

Posted: Thu Jun 10, 2010 5:16 am
by dailien
Nghĩ về chuyện đao đức nghề báo ở Việt Nam

Song Chi

Image
Hình minh họa (Getty Images).

Ðã từng có những năm làm báo viết ở Việt Nam trước khi làm “báo hình,” làm phim, tôi nhận thấy một sự thật đáng buồn đó là ở Việt Nam đạo đức của đa số người làm báo dường như càng ngày càng xuống thấp; và tuy ở Việt Nam cũng có luật báo chí nhưng các vụ vi phạm luật vẫn diễn ra đều đều mà chẳng mấy khi thấy nhà báo nào bị kiện, nếu có bị kiện thì việc xét xử cũng chẳng đến đâu; vả chăng hình như ngay chính người dân cũng chẳng biết liệu mình có quyền kiện báo chí không và cái quyền ấy đến đâu.

Nếu thử đặt câu hỏi với một số nhà khoa học, Giáo sư, nghệ sĩ... đã từng nhiều lần “được” hay “bị” báo chí phỏng vấn, chắc chắn nhiều người trong số họ đã từng có những “kinh nghiệm đau thương” với giới làm báo. Những “tai nạn” thuộc loại “nhỏ như con thỏ” như câu trả lời bị người viết (vô tình) viết nhầm, viết sai một vài chữ, một vài ý là chuyện vẫn xảy ra hoài; thậm chí không phải không có những phóng viên phỏng vấn một đằng viết một nẻo, câu người ta nói thì cắt gọt, biên tập đi, giựt tít lên thành ra mang một màu sắc, ngữ nghĩa khác hẳn. Trong giới nghệ sĩ vẫn hay gặp những chuyện như thế này: có những phóng viên dùng báo chí để hù dọa người nghệ sĩ theo kiểu nếu không mời tôi đi dự chương trình ca nhạc này, buổi chiếu phim kia, hoặc tặng album nhạc mới ra, tặng sách... thì rồi anh, chị sẽ nhận được một bài phê bình chê bai không thương tiếc về tác phẩm của mình. Có những phóng viên còn lập thành nhóm, thành băng để cùng nhau viết bài khen, chê, rủi cho nghệ sĩ nào mà tác phẩm không được họ thích hoặc có điều gì làm họ không hài lòng thì họ sẽ cùng nhau “đánh hội đồng” tơi bời trên ba, bốn tờ báo cùng lúc!

Thời buổi kinh tế thị trường, dưới sức ép của việc phải có người đọc, báo chí Việt Nam hầu hết phải thương mại hóa, “lá cải hóa” để thu hút lượng người đọc bình dân. Và cách thức dễ thấy nhất là khai thác chuyện đời tư của giới nghệ sĩ. Có một điều đáng nói là báo chí ở Việt Nam hầu như không có khái niệm gì về sự tôn trọng hay bảo mật những thông tin cá nhân của con người.

Thỉnh thoảng, khi đọc báo Na Uy, tôi nhận ra rất nhiều điểm khác nhau giữa cách viết bài, đưa tin của báo chí Na Uy với báo chí Việt Nam ở nhà. Một ví dụ nhỏ: trong các bài báo, hoặc tin tức của Na Uy, những thông tin, chi tiết có tính cách cá nhân của các nhân vật được đề cập đến rất ít khi được công bố. Những cái tin thuộc loại “tào lao, giải trí” thường chỉ như thế này: một bà cụ sống ở vùng... nhận được giấy báo của bưu điện gửi đến về một khoản thanh toán khá lớn cho những cuộc sex phone mà bà cụ chưa bao giờ xài đến; hay người đàn ông sống ở vùng... bị buộc tội đã gửi những tin nhắn có nội dung khiêu dâm cho chính con gái của mình v.v... Không có tên, tuổi, hình ảnh, không có bất cứ một thông tin gì khác. Tôi đem cái thắc mắc của mình đi hỏi một người quen là một phụ nữ Malaysia lấy chồng người Na Uy và đã sống ở Na Uy 26 năm, chị cho biết ở Na Uy luật báo chí có điều khoản cấm các nhà báo đưa bất cứ thông tin cá nhân, hình ảnh nào của ai đó nếu không được sự cho phép của họ. Ngay cả nếu có một vụ giết người xảy ra (phải nói là ở Na Uy những án mạng như vậy rất hiếm hoi), các thông tin cá nhân về nạn nhân dứt khoát không được công bố đã đành, mà ngay cả tên tuổi thủ phạm cũng vậy. Tôi bẻ lại tại sao lại không công bố thông tin về thủ phạm, cần phải cho mọi người biết về thủ phạm để mà còn phòng tránh chứ. Nhưng không, luật pháp Na Uy không cho phép, chưa kể, ở Na Uy không có luật tử hình tội phạm, kể cả giết người cũng chỉ bị ở tù một số năm, mức án cao nhất ở Na Uy là tù 21 năm mà thôi, nên kẻ phạm tội sau khi thi hành án, vẫn còn nhiều năm để sống tiếp cuộc đời của mình, và họ cần phải được sống như bất cứ một người nào khác, không ai biết về quá khứ của họ để mà phán xét, xa lánh họ. Tôi lại thắc mắc nếu bất cứ cái tin nào cũng chỉ thấy ghi sơ sài như thế, làm sao biết là tin đó có thật không hay lỡ phóng viên ngồi một chỗ phịa ra, vì có vẻ rất dễ phịa ra hàng chục cái tin kiểu như vậy. Người bạn tôi trả lời hầu như không có chuyện đó, đó là sự trung thực, danh dự của người làm báo cần phải giữ được, và lại dù không công bố trên báo chí nhưng trong cơ quan của phóng viên đó, hay sếp của anh ta phải biết là tin đó có thật hay không trước khi quyết định đăng lên.

Nghe xong tôi chợt nghĩ đến báo chí ở Việt Nam. Phải nói là so với báo chí ở Na Uy chẳng có nhiều chuyện để mà khai thác (vì đất nước họ quá... bình yên) thì báo chí Việt Nam bây giờ hầu như ngày nào cũng có đủ chuyện, tha hồ cho người dân đọc... giải trí (!);từ chuyện hậu trường, scandal, ngồi lê đôi mách... về đời tư của giới văn nghệ sĩ cho đến những chuyện cướp, giết, hiếp,... những vụ án hình sự đủ các kiểu v.v... Viết về những chuyện như vậy vừa dễ câu khách vừa khỏi sợ mang vạ vào thân như khi đụng đến những vấn đề bị nhà nước xếp vào loại “nhạy cảm” như mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc, cách hành xử của nước láng giềng và thái độ của chính quyền, vụ khai thác bauxite Tây Nguyên, cho thuê rừng đầu nguồn, những xung đột, khiếu kiện của dân oan, hay giáo dân v.v... Và thế là các báo tha hồ khai thác đời tư giới nghệ sĩ, nhiều khi quá đà. Như trường hợp một nam nghệ sĩ hài vừa rời khỏi trung tâm cai nghiện một thời gian nay lập gia đình mới, báo chí đua nhau đưa tin về đám cưới của anh, phỏng vấn anh, phỏng vấn người vợ mới của anh chưa đủ, còn phỏng vấn cả người vợ cũ có tâm trạng như thế nào khi nghe tin chồng cũ lấy vợ mới! Phải nói là vô cùng thiếu tế nhị! Một ngôi sao ca nhạc chuẩn bị làm mẹ khi chưa có đám cưới, thế là báo chí xông vào khai thác cuộc tình hiện tại của cô, lật cả “hồ sơ tình ái” từ trước đến nay của cô với rất nhiều chi tiết, nhận xét... nhiều khi vô cùng ác ý đến nỗi nếu dễ bị tổn thương, người ta hẳn có thể tự tử được, hoặc cuộc tình hiện tại có thể vì thế mà bị ảnh hưởng nặng nề khi người đàn ông đọc thấy quá khứ của người yêu bị phơi trần trên mặt báo cho hàng ngàn, hàng triệu người mua vui.

Song, tất cả những chuyện bới móc đời tư đó dù sao cũng có thể hiểu được, con người ở đâu trên thế giới này hình như cũng thích “tán” chuyện, ngồi lê đôi mách, nhất là chuyện về giới nghệ sĩ thì dân tình càng thích. Và đã là nghệ sĩ, là người của công chúng thì dù ở Việt Nam, Hàn Quốc hay ở Mỹ cũng đều bị săm soi, “chiếu tướng” như nhau, đối mặt với những tin đồn như nhau, ở Mỹ đội ngũ paparazzi có lẽ còn kinh khủng hơn!

Nhưng thiếu lương tâm nghề nghiệp nhất là cái cách đưa tin về những vụ án, những bi kịch gia đình, xã hội... đằng sau những cái chết.

Tôi còn nhớ cách đây khá lâu, năm 2004, có một nhạc sĩ trẻ tự tử chết tại nhà riêng ở Sài Gòn. Báo chí đã đưa tin rất tỉ mỉ từ việc nhạc sĩ này chết trong tư thế không mặc quần áo ra sao cho tới chuyện đời tư của nhạc sĩ, những lời đồn đại về giới tính, những vụ kiện về tiền bạc... Như thế, báo chí đã giết người nhạc sĩ bất hạnh ấy thêm một lần nữa, và làm cho gia đình, người thân của người nhạc sĩ này thêm đau đớn. Bởi, tại hiện trường có lẽ nhiều nhất chỉ chừng vài chục người biết được tình trạng của người nhạc sĩ khi chết cũng như những chuyện đời tư của anh nhưng khi báo chí tung lên thì có hàng triệu người đọc. Chưa kể, trong trường hợp người nhạc sĩ này, nghe đâu một trong những nguyên nhân đưa đến việc anh trầm uất, phẫn chí và tự tử như chính dân trong nghề báo đã tiết lộ, là từ một số bài báo trước đó đã khai thác về đời tư của anh và khi chết, anh có để lại thư tuyệt mệnh ghi rõ tên mấy nhà báo nào đã viết bài ác ý về mình! Một sự việc khác, vào năm 2006, có một nữ diễn viên điện ảnh bị bắt vì tội làm gái bán dâm cao cấp, báo chí đua nhau khai thác, đưa ra đầy đủ mọi chi tiết từ việc cô bán dâm giá bao nhiêu, (thậm chí có cả bài báo viết về vụ cô lấy giá quá cao, bị nhiều người... phản ứng và có thể sẽ bị phạt vì tội... “phá giá” này!), lần cuối cùng là khi nào v.v... Và sau khi cô đã bị đưa vào trung tâm giáo dục dạy nghề phụ nữ thì các phóng viên vẫn tiếp tục bám theo đến tận trung tâm để có những bài viết về tâm trạng, cuộc sống của cô trong giai đoạn này như thế nào! Không một ai trong số các phóng viên viết bài có ý nghĩ rằng dù sao thì cuộc đời cô diễn viên này cũng còn rất dài, còn bao nhiêu năm để có thể làm lại và trở thành người vợ, người mẹ... vậy phải chăng chỉ cần những thông tin vắn tắt là cô đã bị bắt vì hành vi bán dâm đã là quá đủ, có nên viết quá rõ mọi chi tiết như vậy hay không. May sao cuối cùng rồi cuộc đời cô diễn viên này cũng có được một cái kết có hậu, cô đã lập gia đình và sống bình yên.

Hầu như ở Việt Nam bây giờ không có ngày nào mở các tờ báo ra mà không có những cái chết, những vụ án mạng các kiểu, với mức độ ngày càng đa dạng, tinh vi, man rợ hơn. Báo chí càng có nhiều chuyện để viết bài và bán báo. Và chẳng cần bận tâm gì đến hậu quả của những bài viết của mình. Cách đây khoảng 1 năm có vụ giám đốc một công ty dịch vụ bảo vệ bị giết để cướp tài sản, báo chí đã đưa ra những thông tin từ việc nạn nhân là một người đồng tính và đã có quan hệ đồng tính với kẻ thủ ác trước khi chết như thế nào, chi tiết của sự việc ra sao..., phỏng vấn cả cha, cả vợ nạn nhân... Không hiểu khi những bài báo này được đăng lên thì cuộc sống của người vợ và những đứa con của nạn nhân sẽ thế nào? Hình như có ít nhất một trường hợp ở Việt Nam, con gái của một nhân vật có chức có quyền bị dính vào vào một đường dây ăn chơi có tên là vụ án Ðường Sơn quán, bị báo chí khui ra cách đây nhiều năm, đã tự tử chết vì không chịu nổi dư luận! Gần đây nhất, vụ một thanh niên thuộc loại có học thức ở Hà Nội giết người yêu cũ rồi chặt đầu để phi tang, trước sự nóng sốt của dư luận, báo chí càng đua nhau khai thác quá mức cần thiết. Có báo khai thác tới 6, 7 bài về vụ này. Không chỉ mặt mũi, tên tuổi kẻ thủ ác được trưng ra trên báo, mà cả tên tuổi nạn nhân, và cả người yêu mới của hung thủ, các chi tiết về đời tư... Sao những người làm báo không nghĩ rằng những người thân của kẻ thủ ác cũng như nạn nhân và những người liên quan rồi còn phải sống tiếp cuộc đời của họ?

Còn trong những “vụ án” có liên quan đến những người bất đồng chính kiến, những người hoạt động dân chủ... thì thôi khỏi nói. Cả mạng lưới báo chí truyền thông của Nhà nước Việt Nam tha hồ xúm vào bôi nhọ, vu khống, lên án... họ; nào bịa đặt về đời tư, tư cách, nhân thân..., nào gán cho họ đủ thứ từ ngữ, tội danh, và kết tội họ ngay trước khi tòa án bắt đầu. Nhưng đó lại là một vấn đề lớn khác của báo chí Việt Nam, cần phải được đề cập riêng trong một bài viết khác.

Giới làm báo có những người vô tư (!)không coi luật báo chí, đạo đức, lương tâm ra gì, nhưng điều đáng nói là hình như ở Việt Nam người dân không hề biết mình có những quyền gì đối với giới truyền thông, báo chí (hoặc có biết mà không dám làm vì biết làm cũng chẳng đến đâu?), ví dụ như quyền giữ im lặng hoặc từ chối trả lời những câu hỏi khiếm nhã của phóng viên, quyền khiếu kiện đến cùng nếu phóng viên đưa tin, viết bài sai... Rải rác cũng có những vụ kiện xâm phạm đời tư, đưa thông tin sai nhưng cũng chẳng thấy ai bị trừng phạt gì nghiêm trọng. Có phải vì vậy mà báo chí cứ tha hồ muốn viết gì thì viết?

Nói như vậy không có nghĩa là không có nhiều nhà báo tử tế, có tâm và có tầm. Nhưng những điều nói trên đang là tình trạng chung của báo chí Việt Nam hiện nay. Suy cho cùng, trong một xã hội như xã hội Việt Nam, khi sự sa sút về đạo đức nghề nghiệp, sự tha hóa trong nhân cách con người và sự lỏng lẻo về mặt luật pháp đang diễn ra tràn lan trong mọi ngành nghề, mọi lĩnh vực thì báo chí cũng không là ngoại lệ.

(Nguồn: Bauxite Việt Nam)

Song Chi

Posted: Fri Jun 11, 2010 1:48 am
by mudo
Mỹ tính gì ở Biển Ðông?

Ngô Nhân Dụng
Một vị độc giả Nhật báo Người Việt viết thư nêu ý kiến rằng nước Mỹ sẽ chẳng đời nào để tâm đến những tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc; lý do là vì Mỹ đã “nhường Việt Nam cho Trung Cộng” từ khi ông Nixon đi Tầu năm 1972 rồi. Vị độc giả nêu thêm một bằng cớ: Năm 1974 quân Trung Cộng tấn công chiếm quần đảo Hoàng Sa; trong khi Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa bị tàn sát thì Hạm Ðội Thứ Bẩy của Mỹ đứng ngoài không can thiệp mặc dù lúc đó nước Mỹ vẫn là đồng minh. Không những thế, khi tầu Việt Nam bị đánh chìm các sĩ quan đã điện xin chiến hạm Mỹ đến vớt các thủy thủ lênh đênh trên mặt biển, họ hoàn toàn bất động.

Ai cũng phải tức giận trước thái độ làm ngơ vô tình của Hạm Ðội Thứ Bẩy của Mỹ khi không cho tầu đi cứu vớt các chiến sĩ Hải Quân Việt Nam. Không biết họ có lý do kỹ thuật nào để từ chối hay không; nhưng thái độ đó không thể nào tha thứ được.

Nhưng về mặt chính trị thì chúng ta hiểu tại sao chính phủ Mỹ quyết định đứng ngoài không can thiệp vào vụ Hoàng Sa năm 1974. Về mặt ngoại giao cũng như trên mặt chiến lược, nước Mỹ không thấy lý do nào đủ mạnh để can thiệp vào vụ Hoàng Sa.

Lúc đó chính phủ Nixon đã quyết định rút khỏi Việt Nam rồi. Năm 1968, trong khi đang tranh cử tổng thống, ông Richard Nixon đã cho cố vấn Henri Kissinger đến gặp riêng đại sứ Nga tại Washington, yêu cầu chính phủ Nga đừng làm gì ảnh hưởng tới cuộc bầu cử năm đó. Ông Kissinger nói với Ðại Sứ Dobrynin rằng ông Nixon chắc chắn sẽ rút quân Mỹ khỏi Việt Nam. Và ông nhấn mạnh: Sau đó chế độ chính trị ở miền Nam Việt Nam ra sao, Mỹ cũng không quan tâm, “dù đó là một chế độ cộng sản.” Ðại Sứ Anatoliy F. Dobrynin đã nhắc đến những lời Kissinger cam kết như vậy 2 lần trong cuốn hồi ký của ông ta in năm 1995; ông kể đủ chuyện về 24 năm làm đại sứ, qua sáu đời tổng thống Mỹ từ 1962 đến 1986 (ông mới qua đời năm 2010).

Năm 1974, sau khi Kissinger đã ký hiệp định Paris để rút quân, chính phủ Mỹ coi những tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Cộng không dính líu đến họ. Vào năm 1974, chính phủ Mỹ có thể đã nhìn trước thấy trước sau miền Nam sẽ bị cộng sản chiếm. Họ không thể vì bênh vực một quốc gia sắp rơi hoàn toàn vào tay một chính quyền cộng sản mà đi gây thêm rắc rối với Trung Quốc, một nước mà họ đang ve vãn để cùng hợp tác chống Nga Xô!

Từ thời gian đó cho tới gần đây, nước Mỹ vẫn giữ thái độ đứng ngoài mọi tranh chấp giữa hai nước cộng sản Việt Nam và Trung Quốc. Vùng Biển Ðông là địa bàn tranh chấp giữa hai nước cộng sản đó, nước Mỹ không dính vào, trừ khi có chuyện nào liên hệ tới quyền lợi của các nước Ðông Nam Á và các nước đồng minh của Mỹ như Ðài Loan, Nhật Bản hoặc Nam Hàn. Ngay cả sau khi chính phủ Mỹ đã mở bang giao với cộng sản Việt Nam, các vị tổng thống Mỹ như Clinton, Bush, đã đến thăm Việt Nam và giúp Việt Nam vào tổ chức Thương Mại Thế Giới, chính phủ Mỹ luôn công khai đứng ngoài trước các tranh chấp giữa Bắc Kinh và Hà Nội.

Nhưng trong tuần qua, có những dấu hiệu cho thấy chính sách của Mỹ đang thay đổi, qua các hành động và lời tuyên bố của ông bộ trưởng quốc phòng Mỹ. Ông Robert Gates đã nhân cuộc họp mặt ở Singapore về các vấn đề an ninh khu vực để gặp riêng bộ trưởng quốc phòng của chính quyền Cộng Sản Việt Nam. Hành động này có thể chỉ được coi là một cử chỉ xã giao bình thường nếu không có những lời tuyên bố của ông Gates, rõ ràng nhắm vào Trung Quốc.

Ông Gates nói thẳng đến vùng Biển Ðông (thường gọi là Nam Hải của Trung Quốc). Ông nhấn mạnh rằng Biển Ðông là một vùng đang căng thẳng. Nước Mỹ tỏ ra không phải chỉ quan tâm đến phía Ðông Bắc Á Châu, nơi Bắc Hàn đang gây hấn, mà vẫn ngó về phía Nam. Nhưng ông Gates nói rõ: “Biển Ðông không phải chỉ là mối lo của các nước chung quanh,” mà còn đáng quan tâm đối với “các nước có quyền lợi kinh tế liên can” đến vùng này. Không nói ai cũng hiểu: Nước Mỹ nằm trong các quốc gia có quyền lợi kinh tế trong vùng này. Nước Mỹ phải có mặt trong vùng Biển Ðông để bảo vệ các quyền lợi đó.

Ông Gates nhắc lại chính sách của Mỹ là “ổn định, bảo đảm quyền tự do đi lại và quyền phát triển kinh tế của các nước trong vùng Biển Ðông không bị ngăn cản.” Ðó chỉ là những nguyên tắc chung chung, không đủ để khiến cho Trung Quốc coi là có thái độ khiêu khích họ. Hai điều ai cũng có thể nói và ai cũng đồng ý: Cần ổn định và tự do sử dụng đường biển nối liền vùng Ðông và Nam Á Châu với Âu Châu và thế giới dầu lửa Á Rập.

Nhưng có một điều mới mẻ: Ðây là lần đầu tiên một vị bộ trưởng quốc phòng Mỹ nhấn mạnh thêm đến “quyền phát triển kinh tế không bị ngăn cản” của các quốc gia trong vùng Biển Ðông. Và ông ta nói trong một hội nghị về an ninh trong vùng.

Tại sao nhắc đến quyền lợi kinh tế? Vì, cũng trong câu chuyện ngày Thứ Bẩy vừa qua, ông Robert Gates nhắc đến chính sách Mỹ là phản đối tất cả mọi hăm dọa đối với các công ty năng lượng dầu khí của Mỹ hay của bất cứ nước nào khác, đang hoạt động trong khu vực này. Ðiều này rõ ràng không thể nào hiểu lầm được: Ông Gates ám chỉ việc Trung Cộng ngăn cấm các công ty Mỹ dò tìm dầu khí ở trong vùng biển mà Việt Nam coi là thuộc hải phận của mình.

Năm 2007, Bắc Kinh đã làm áp lực đối với công ty British Petrolium Anh Quốc, buộc họ ngưng hợp đồng khai thác dầu khí với Việt Nam. Năm 2008, công ty Mỹ Exxon Mobil cũng phải rút lui không tìm mỏ dầu ở thềm lục địa Việt Nam nữa. Chính quyền Cộng Sản Việt Nam hoàn toàn bó tay và kín miệng trước các hành động áp bức đó. Các công ty dầu khí quốc tế thì phải tự lo quyền lợi kinh tế của chính họ: Nếu không nghe lệnh Bắc Kinh, họ sẽ mất các hợp đồng với Trung Quốc, là một thị trường nhiều triển vọng tốt hơn gấp bội. Nhưng chính phủ Mỹ không thể làm ngơ, vì họ chịu trách nhiệm với Quốc Hội Mỹ, nơi các công ty dầu lửa không ngừng vận động hành lang. Năm ngoái, nhân viên Bộ Ngoại Giao Mỹ đã bị các đại biểu Quốc Hội chất vấn về hiện tượng Trung Cộng ngăn cản các công ty Mỹ khi khai thác trong vùng Biển Ðông của Việt Nam.

Bây giờ, chính một vị bộ trưởng quốc phòng Mỹ đã đề cập tới vấn đề này, tại một hội nghị quốc tế về vấn đề an ninh trong vùng Ðông Nam Á. Cho nên, chúng ta có thể thấy một bước chuyển biến mới trong chính sách ngoại giao của chính phủ Mỹ. Họ xác định quyền lợi kinh tế của nước Mỹ trong vùng biển mà trước đây họ coi như các tranh chấp ở đó hoàn toàn là vấn đề của các nước chung quanh, nước Mỹ đứng xa không can thiệp. Ông Robert Gates xác định: Nước Mỹ có những quyền lợi kinh tế trong vùng Biển Ðông. Và người đại diện chính phủ Mỹ nói thẳng điều này với đại diện của chính phủ Bắc Kinh. Thử nhớ lại, năm 1974 chính phủ Nixon bỏ rơi các chiến sĩ Hải Quân Việt Nam cho quân Trung Cộng tàn sát, 7 tháng trước khi ông Nixon từ chức. Ba mươi sáu năm sau, một chính phủ Mỹ khác xác định họ sẽ bảo vệ quyền lợi của các công ty dầu khí Mỹ trong vùng Biển Ðông, không cho Trung Cộng ngăn cản. Ðây là một bước rẽ mới. và cũng là một cơ hội mà bất cứ chính quyền Việt Nam nào cũng nên bắt lấy, nếu họ thực sự lo cho quyền lợi của nước Việt Nam chứ không quá hèn nhát chỉ lắng nghe theo những ý kiến từ Bắc Kinh.

Ðể tạo thêm sức nặng cho những lời nói trên đây, ông Robert Gates còn nói thêm rằng chính phủ Mỹ khẳng định lại các cam kết lâu dài của họ tại Châu Á. Hơn nữa, họ tiếp tục gia tăng và mở rộng các liên minh cũng như các quan hệ trong khu vực này. Nhắc lại: gia tăng và mở rộng các liên minh ở Á Châu. Bài nói chuyện của ông Gates còn nhấn mạnh rằng chính sách an ninh của chính phủ Mỹ đang “mở rộng về mặt địa lý,” cứng rắn hơn về lập trường, và bền chắc hơn về chính trị (một câu nói khá mơ hồ cho mọi người tự tìm cách diễn giải).

Những lời tuyên bố của ông bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ không chỉ nhắm riêng vào mối xung đột giữa Trung Cộng với Việt Nam, mà còn nhắn nhủ chung cho các nước Ðông Nam Á khác. Từ nửa thế kỷ nay, nước Mỹ vẫn đánh lá bài “mối đe dọa của Trung Cộng” đối với các nước trong vùng này. Ðến nay, lá bài đó vẫn còn có giá trị trong việc khích động các chính phủ và người dân Á Châu. Họ vẫn thấy phải có lá dù che chở của nước Mỹ. Nếu không, các nước từ Nhật Bản, Nam Hàn, đến Indonesia, Phi Luật Tân sẽ phải tốn rất nhiều tiền để vũ trang, có nước sẽ làm bom nguyên tử!

Các nước Ðông và Nam Á đã được hưởng một thời gian kéo dài một thế hệ, từ 1955 đến 1985, khi Trung Cộng và Việt Cộng bị cầm chân trong cuộc chiến Việt Nam và chiến tranh giữa các nước cộng sản Việt, Hoa và Campuchia. Trong thời gian đó các chế độ cộng sản không thể thúc đẩy mạnh các phong trào nổi loạn ở các nước trong vùng Ðông Nam Á. Chính nhờ 30 năm đó mà các quốc gia, từ Mã Lai, Tân Gia Ba, Phi Luật Tân, vân vân, có thời gian để phát triển kinh tế; nối gót Ðài Loan, Nam Hàn, và Hồng Kông. Một khi kinh tế đã phồn thịnh cho người dân đủ sống thì họ được bình yên vì chủ nghĩa cộng sản hết hấp dẫn.

Thêm một thế hệ nữa đã qua, đến năm 2010 này, ông Robert Gates nhắc lại sự có mặt của nước Mỹ trong vùng Biển Ðông. Trong lúc đó, mối đe dọa của chính sách bành trướng của Trung Cộng còn lộ liễu hơn, mặc dù đã chuyển từ chính sách gây bạo loạn cách mạng vô sản sang chủ trương liên kết kinh tế trong hòa bình. Nhưng đối với các nước Ðông Nam Á, đây là những lời cam kết mới của chính phủ Mỹ, chứng tỏ họ sẵn sàng giúp các nước vùng Biển Ðông đứng vững trước áp lực của Trung Cộng. Tất cả mọi người Việt Nam yêu nước phải nhìn thấy đây là một cơ hội phải bắt lấy. Nước Việt Nam không bao giờ nên liên kết với một cường quốc ở xa để khiêu khích hoặc gây hấn với nước láng giềng to lớn phương Bắc. Nhưng Việt Nam phải lợi dụng ngay bất cứ cường quốc nào, khi thấy họ có quyền lợi giống như mình vì phải cùng đối phó với chính sách bành trướng bá quyền của Trung Quốc.

Posted: Sat Jun 12, 2010 6:15 am
by thienthanh
Tiền Là Chánh, DÂN CHỦ Là Phụ
Vi Anh
Hai mươi mấy năm trước đây,đêm mồng 3 rạng sáng mổng 4 tháng 6 năm 1989, ngay thủ đô Bắc Kinh, nhà cầm quyền Trung Cộng cho bộ đội CS và xe tăng bắn giết, càn quét thanh niên sinh viên Trung Hoa đấu tranh cho dân chủ. Tây Phương phản đối, cấm vận TC. Tổng thống Pháp lúc bấy giờ là Ông François Mitterrand từng tuyên bố «Một chế độ bắn vào giới trẻ thì không có tương lai». Lời này mấy chục năm sau chưa thấy đúng.

Tiền là chánh, dân chủ chỉ phụ thôi trong thời kinh tế toàn cầu. Nhiều chánh quyền, nhứt là các nước Tây Phương miệng thì nói tự do, dân chủ, nhân quyền, nhưng hành động bị chi phối bởi tài phiệt siêu quốc gia, coi Đô la là Tổ Quốc. Nên chỉ 21 năm sau thôi, 189 nước đổ dồn về Thượng Hải tham gia Triển Lãm Toàn Cầu Thượng Hải do TC tổ chức. Cả thế giới o bế TC vì TC hiện là một siêu cường kinh tế, xưởng làm ra hàng hoá rẻ tiền của thế giới, và chủ nợ của nhiều đại siêu cường kinh tế như Mỹ mắc nợ TC như chúa chỏm vậy. Từ chánh quyền Mỹ, tới Anh, Pháp, Úc những siêu cường của Tây Phương ngày nào cấm vận TC bây giờ trong việc tham dự, tham gia cuộc Triển lãm Thượng Hải 2010, tránh né không nói, hoặc nói xa nói gần một chút xíu tự do, dân chủ thôi. Tây Phương không tỏ thái độ dứt khoát đối với Trung Quốc trong các vấn đề nhân quyền. Trung Quốc vẫn luôn luôn nằm dưới bàn tay của một đảng độc tài, thủ phạm của các vụ đàn áp những quyền con người căn bản nhất. CS Bắc Kinh dùng lớp sơn phát triển kinh tế để che lấp thực tế xã hội phi nhân quyền không thể tưởng tượng này. TC vào Tổ chức Thương mại Thế giới (2001), nhung bất chấp chuẩn mực pháp lý quốc tế, luôn gây bất ổn định tại châu Á, bằng cách điều khiển con rối Bắc Triều Tiên.

Bây giờ nói tới TC người ta nói đến kinh tế tăng trưởng, nói nhiều về 100 triệu người nhờ ăn theo mà giàu và bắt đầu tiêu thụ, với sức mua mà Tây Phương đang kỳ vọng. 100 triệu người giàu này thần phục đảng Cộng sản và chỉ quan tâm cải thiện mức sống của họ mà thôi. Họ được chú ý như là những người tiêu thụ tốt cho kinh tế ngoại quốc và nội địa của TC. Theo nhà sử học He Li, thuộc trường Merrimack College, chuyên gia về các quan hệ giữa giới khá giả và đảng Cộng sản tại Trung Quốc, số người này họ làm giàu nhờ móc ngoặc với các viên chức thuộc các doanh nghiệp của Nhà nước, cũng như các doanh nghiệp tư nhân, liên hệ chặt chẽ với hệ thống quyền lực độc đoán. Họ chờ đợi chế độ này bảo vệ các quyền lợi của họ. Một khi họ cảm thấy được bảo vệ, thấy mức sống của họ được cải thiện, thì họ không đòi hỏi bất cứ một thay đổi chính trị nào.
Đối với họ nhân quyền là phù phiếm vì họ là thành phần được Đảng Nhà Nước ưu đãi. Dân chúng ra sao, sống chết mặc bây, tiền họ đầy túi là “hẩu léc”.

Và bước sang Việt Nam, Tây Phương cũng coi tiền là chánh, dân chủ phụ thôi nếu không muốn nói là bỏ quên dân chủ. Thực vậy sau khi CS Hà nội dùng vũ lực gồm thâu cả nước VN, Mỹ cấm vận CS Hà nội. Một thời gian sau CS Hà nội và Washington tái lập bang giao và giao thương với nhau. Việt Nam: năm 1987, chuyển qua nền kinh tế thị trường, hội nhập vào thế giới về kinh tế; năm 1995, Việt Nam gia nhập Hiệp hội các nước Đông Nam Á; năm 1999, hiệp định thương mại ký kết với Hoa Kỳ cho phép Việt Nam thật sự cất cánh. Năm 2007, Việt Nam trở thành thành viên Tổ chức Thương mại Thế giới.

Bây giờ mỗi lần nghe chánh quyền các nước Tây Phương nói về VN thì nói nhiều về kinh tế. Kinh tế tăng gia mạnh và cao. Gần đây, trang kinh tế nhật báo Le Monde có bài về Việt Nam, với tựa đề «Nước Việt Nam theo chủ nghĩa Mác giờ đây biết đến thịnh vượng và các bất bình đẳng xã hội ». Mười năm trước chỉ thấy xe đạp tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, thì hiện nay hai thành phố lớn tràn ngập hàng triệu xe mô tô đủ loại. Hai mươi năm trước Việt Nam còn là một trong những nước nghèo nhất địa cầu, còn bây giờ là «con cưng của các nhà tài trợ », với 5 tỷ đô la hàng năm tiền tài trợ và cho vay ưu đãi. Nhờ tiêu thụ, xuất khẩu và đầu tư tăng lên, nền kinh tế Việt Nam đã kháng cự lại được cuộc khủng hoảng toàn cầu.

Nhưng báo Le Monde cũng nói lên phía sau của cái huy chương, mặt trái, mảng tối của nền kinh tế tăng trưởng đó. Nếu tầng lớp trung lưu đang nổi lên tại các thành phố, thì những người dân nông thôn càng ngày càng lâm vào cảnh khó khăn. Tỷ lệ nghèo đói trong vòng 20 năm qua giảm từ 70% dân số, xuống còn 11%, nhưng rất nhiều nông dân hiện nay lâm vào cảnh ruộng đất bị tước đoạt, trong khi lương công nhân rất thấp. "Nạn tham nhũng, quan liêu và sự trễ nãi của nhiều cơ sở chính quyền địa phương khiến cho người dân phẫn nộ. Tuy nhiên, những phản kháng lại quá phân tán. Còn thái độ của giới trẻ có học thường rất cá nhân và thực dụng". Le Monde dẫn lời nhà kinh tế Daniel Van Houtte, giảng dạy tại Đại học Hà Nội. Ông cho biết sinh viên của ông chủ trương: "Quyền làm người đầu tiên của tôi là trở nên giàu có trong tương lai. Vậy, nếu «Đảng» tạo ra được môi trường thuận lợi để tôi đạt được mục tiêu này, thì tôi hoàn toàn tán thành Đảng ! »

Tiền là chánh, dân chủ chỉ phụ thôi. Nên không còn mấy ai người Tây Phương quan tâm đến các buổi lễ tưởng niệm Thiên An Môn, như buổi lễ sẽ diễn ra tại Paris tối nay ở quảng trường Trocadero, còn được gọi là Quảng trường Nhân quyền. Nên không còn mấy ai người Tây Phương nói đến gần 3 triệu người VN ra khỏi nước tỵ nạn CS. Và ngay trong số người đó cũng quên tại sao mình bỏ xứa ra đi, mỗi năm gởi về mấy tỷ và mỗi năm về nước đang nằm trong tay chế độ mà xưa kia mình không chấp nhận nên bỏ xứ ra đi. Dù thực tế cho đến bây giờ hai chế dộ CS lớn ở Á Châu chỉ đổi màu chớ không đổi chất. TC và VC vẫn là hai con khủng long đỏ Đảng Nhà Nước CS ở Trung Quốc và VN bây giờ vẫn do “con cháu các cụ” CS khai quốc công thần nắm giữ quyến bính. Họ giàu nức đố để vách nhờ giải tư các quốc doanh tài sản công chuyển vào tài sản riêng của họ trong thời gọi là đổi mới kinh tế. Họ biến quyền lực cứng với vũ khí, độc tài thành quyển lực mềm thu phục ngoại giao các nước, tạo hình ảnh ảo giác một nước TC hoà đồng, sống chung hoà bình cùng thế giới.

Nhưng TC và VC vẫn là một trại tù lớn đối với người dân bị tước đoạt tự do, dân chủ, nhân quyền và trại tù nhỏ đối với những nhà đấu tranh cho tự do, dân chủ một cách ôn hoà. Chế độ CS Bắc Kinh và Hà nội là đại sát thủ Internet, đại tham nhũng, đại quan liêu, độc tài đảng trị toàn diện.


VI ANH

Posted: Sat Jun 12, 2010 4:56 pm
by tranphuongdong
Vì Sao Đảng Cộng Sản Trung Quốc
Trị Được Đảng Cộng Sản Việt Nam?


Song Chi
Có rất nhiều bài báo, cuốn sách phân tích, nghiên cứu về việc tại sao Đảng Cộng sản Việt Nam đã chiến thắng trong cuộc chiến tranh với Mỹ và với phe Việt Nam Cộng hoà. Ở đây tôi chỉ xin nói lại vài điểm trong quan điểm của mình. Tôi cho rằng, trong cuộc chiến với Mỹ trước kia, Đảng Cộng sản Việt Nam có rất nhiều lợi thế và họ đã biết tận dụng tối đa những lợi thế này. Một, đó là họ đã khai thác được lòng yêu nước, tinh thần chống ngoại xâm mạnh mẽ của người dân Việt Nam dưới chiêu bài “chống Mỹ cứu nước” để tiến hành một cuộc chiến tranh thực tế là vì quyền lợi của Đảng Cộng sản Việt Nam và của phe xã hội chủ nghĩa mà đứng đầu là Liên Xô lúc bấy giờ; hai, họ đã nhận được sự hỗ trợ về nhiều mặt từ lương thực, cố vấn quân sự cho đến vũ khí các loại, chẳng hề thua kém gì sự viện trợ của Mỹ dành cho Nam Việt Nam, thậm chí trong giai đoạn cuối cùng của cuộc chiến khi miền Nam bị cắt giảm viện trợ rồi cúp hẳn thì viện trợ của phe xã hội chủ nghĩa dành cho miền Bắc vẫn hết sức hùng hậu; thứ ba, họ rất biết cách tuyên truyền, định hướng dư luận với nhân dân miền Bắc và với quốc tế, tranh thủ sự ủng hộ của các phong trào phản chiến, phong trào xã hội có tính chất khuynh tả ở các nước phương Tây lúc bấy giờ, thêm một cái may cho họ là báo chí phương Tây, nhất là báo chí của chính nước Mỹ, với cách đưa tin, bài nhấn mạnh về sự kéo dài của cuộc chiến, những tổn thất về tiền bạc và nhất là sinh mạng của người Mỹ, chỉ trích sự sa lầy của chính phủ Mỹ tại Việt Nam v.v… đã góp phần làm cho phong trào phản chiến tại Mỹ dâng cao cộng với dư luận quốc tế dẫn đên việc Mỹ quyết định rút khỏi Việt Nam. Và còn rất nhiều nguyên nhân khác nữa.

Nhưng đến bây giờ nếu xảy ra cuộc chiến với Trung Quốc, Đảng và Nhà nước Việt Nam hoàn toàn không còn có những lợi thế đó nữa. Người dân Việt Nam muôn đời vẫn là một dân tộc rất có tinh thần yêu nước, nhưng liệu bây giờ Đảng Cộng sản Việt Nam có còn nhận được sự ủng hộ 100% của nhân dân nữa không? Những người đảng viên từ trên xuống dưới, đặc biệt là các cấp lãnh đạo, không còn là những người vô sản như ngày xưa mà trái lại, bây giờ họ có quá nhiều tài sản, quá nhiều thứ để mất nên tinh thần chiến đấu chắc chắn cũng không thể bằng như ngày xưa. Nếu xảy ra chiến tranh bây giờ, Đảng và Nhà nước Việt Nam cũng không còn ai là đồng minh như đã từng có Liên Xô, Trung Quốc trước kia… Về mặt tuyên truyền, hướng dẫn dư luận, với nhân dân trong nước, Đảng Cộng sản Việt Nam không còn muốn nói gì thì dân cũng tin và nghe theo, còn trên quốc tế thì cả thế giới đều hiểu rõ chủ nghĩa cộng sản và thực chất cuộc sống của người dân trong những quốc gia do đảng cộng sản lãnh đạo là như thế nào, ngay cả người Nga bây giờ còn phải lên án chế độ cộng sản; nên nếu hai nước “anh em, đồng chí” cùng do hai đảng cộng sản lãnh đạo này có đánh nhau thì thế giới cũng phản đối lấy lệ chứ chẳng ai nhiệt tình can thiệp, tình hình như vậy đã từng xảy ra khi Trung Quốc đánh Việt Nam vào những năm 1979, 1988. Chưa kể nước nào cũng phải nghĩ đến những quyền lợi của đất nước họ, nhân dân họ là trên hết, tại sao họ phải vì Việt Nam – một quốc gia chẳng phải là đồng minh của họ – để đối đầu với Trung Quốc, ảnh hưởng tới bao nhiêu mối lợi về thương mại, kinh tế…?

Trước đây, trong cuộc chiến tranh với một nước dân chủ mà chính phủ rất sợ phản ứng của người dân như nước Mỹ, Đảng Cộng sản Việt Nam tha hồ tận dụng điểm này để tuyên truyền xách động dư luận quốc tế và tạo sức ép về mặt dư luận với nhân dân Mỹ để đến lượt họ, gây sức ép lại với chính phủ Mỹ về cuộc chiến tranh hao người tốn của này. Nhưng với nhà cầm quyền Trung Quốc thì nhà cầm quyền Việt Nam thua vì Đảng Cộng sản Trung Quốc – cũng giống như Đảng Cộng sản Việt Nam, thậm chí còn hơn hẳn một bậc, chẳng hề coi nhân dân họ ra ký lô gì. Còn về việc nướng quân trong chiến tranh thì Trung Quốc sẵn sàng chẳng ngán gì ai. Trong bài viết “Hiểm họa diệt chủng”, tác giả Nguyễn Sơn có nhận xét về việc nếu xảy ra chiến tranh giữa Mỹ và Trung Quốc như sau:

“So sánh về tư tưởng chiến lược quân sự tương lai. Chi Hoatian nhận xét “lý do mà nước Mỹ còn tồn tại vì chưa bao giờ có chiến tranh xảy ra ngay tại trên đất nước của họ. Nếu tình huống chiến tranh xảy ra hôm nay, tôi có thể tiên đoán là khi địch quân đã tràn vô tới thủ phủ Hoa Thịnh Đốn rồi thì Quốc hội Mỹ vẫn còn bận họp để tranh cãi có nên cho phép Tổng thống của họ tuyên chiến hay không? Đó là sự khác biệt giữa Mỹ và Trung Quốc. Chúng ta không phí thời giờ cho những bàn cãi vô bổ này. Đồng chí Đặng Tiểu Bình đã từng dạy “Cái cốt lõi của vấn đề nằm ở sự nhạy bén của Đảng. Một khi Đảng đã quyết định, thì lập tức mệnh lệnh được thi hành, không mất thời giờ vô bổ như các quốc gia tư bản”.

Và:

“Não trạng Trung Quốc từ sau trận chiến biên giới Việt-Trung cũng không thay đổi. Họ sẵn sàng thí mạng dân Trung Quốc nếu phải xảy ra cuộc đối đầu chiến tranh nguyên tử cũng như không ngần ngại sử dụng vũ khí hủy diệt nhân loại để chiến thắng nếu cần. Nếu thế chiến thứ hai hơn 57 triệu người đã bị chết, thì thế chiến thứ ba sẽ khủng khiếp hơn. Đối với lãnh đạo Trung Quốc mạng người chỉ là rơm rạ. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Trung Quốc tuyên bố câu nói lịch sử “nếu phải hy sinh một nửa dân Trung Quốc, tức là hơn nửa tỷ dân chết đi để giữ cho đảng CSTrung Quốc được tồn tại thì họ vẫn làm”. Vì nếu bị mất Đảng, tức là mất đầu tàu, mất lãnh đạo, mất phương hướng thì Trung Quốc coi như sụp đổ.”

Chưa kể, tất cả những trò ma mãnh, thủ đoạn nào mà Đảng Cộng sản Việt Nam có thể sử dụng với đối phương thì Đảng Cộng sản Trung Quốc còn là thầy của họ trong những trò này nữa. Cả hai quốc gia này đều nắm trong tay toàn bộ ngành báo chí truyền thông trong nước, tha hồ chỉ đạo cho báo chí nói gì thì nói, muốn đổi trắng thay đen, sửa đổi lịch sử, muốn tuyên truyền chính nghĩa về phía mình, bôi nhọ kẻ thù, kích động lòng căm thù của nhân dân, định hướng dư luận trong nước… tha hồ. Tuy nhiên, cho đến nay, mới thấy báo chí truyền thông Trung Quốc mạnh miệng trong lĩnh vực này, hết thẳng tay chửi Việt Nam là “lòng lang dạ sói”, “tiểu nhân bỉ ổi không biết xấu hổ”, rằng nếu “cuộc chiến tranh Trung-Việt năm 79 vẫn chưa đủ dạy cho Việt Nam một bài học tơi bời thì trong bài học lần này, chúng ta cần làm triệt để, để Việt Nam có được bài học nhớ đời và cũng là vì lợi ích lâu dài của Trung Quốc” hoặc “phải giết bọn giặc Việt Nam để làm vật tế cờ trong trận chiến thu hồi Nam Sa” và những kiểu hù dọa, lăng mạ, bôi nhọ, vu cáo khác nhau trong rất nhiều bài báo đăng trên một số trang báo mạng chính thức của Trung Quốc, đã được dịch và đăng lại trên trang Bauxite Vietnam gần đây. Trong khi đó thì báo chí Việt Nam suốt một thời gian dài không được phép nói bất cứ điều gì bất lợi cho “mối quan hệ hữu hảo” giữa hai nước, mãi đến gần đây mới thấy đưa tin ngư dân Việt Nam bị tàu Trung Quốc bắt giữ, cướp tài sản, đòi tiền chuộc… chẳng hạn.

Nếu Đảng Cộng sản Việt Nam chuyên nói ngược, nói một đằng làm một nẻo thì Đảng Cộng sản Trung Quốc còn hơn thế nữa. Hãy xem cái cách Đảng Cộng sản Trung Quốc một mặt cứ đem chiêu bài 16 chữ vàng trong mối quan hệ giữa hai nước ra để làm yên lòng những nhà cầm quyền Việt Nam nhưng mặt khác vẫn để yên cho báo chí thóa mạ Việt Nam, cho tàu bè ngang nhiên bắt bớ ngư dân Việt Nam… thì đủ hiểu. Nếu Đảng Cộng sản Việt Nam không biết ngán sợ dư luận thế giới trong hàng loạt hành vi bắt bớ, giam cầm những người bất đồng chính kiến, thẳng tay đàn áp tôn giáo, ngang nhiên tuyên bố chính công an và chính quyền là thủ phạm tấn công và đánh sập hàng loạt các trang báo mạng độc lập và trang blog cá nhân có những quan điểm trái chiều với nhà nước v.v… thì Đảng Cộng sản Trung Quốc, với thế mạnh của một cường quốc kinh tế đứng hàng thứ hai trên thế giới hiện nay và là chủ nợ của nhiều nước kể cả Mỹ, càng không coi dư luận thế giới ra cái gì. Nói như thế để nếu có một cuộc chiến tranh xảy ra giữa Việt Nam và Trung Quốc, có điều gì mà Trung Quốc không dám làm rồi sau đó phủi tay, tìm cách nói ngược lại trước dư luận thế giới? Ở Trung Quốc cũng như ở Việt Nam, làm gì có báo chí độc lập để lên án chính phủ sa lầy trong một cuộc chiến vô nghĩa, buộc chính phủ phải rút lui như ở Mỹ? Còn người dân Trung Quốc thì đã được báo chí chuẩn bị tinh thần, định hướng dư luận trong suốt một thời gian dài để phần lớn họ sẽ tin rằng “đánh cho bọn Việt Nam xấu xa một trận” là đúng.

Tuy nhiên, thiết nghĩ, trong thời đại này, việc một nước nào đó sử dụng con đường quân sự, con đường chiến tranh để đánh chiếm một nước khác cũng là kế hạ sách. Thay vào đó, Đảng Cộng sản Trung Quốc có hàng ngàn cách khác để vẫn nắm được Đảng Cộng sản Việt Nam trong tay, qua đó khai thác tối đa những gì có thể khai thác được từ mảnh đất hình chữ S này. Đó là việc sử dụng sức mạnh mềm – ở đây là vừa dùng tiền để mua chuộc các cấp lãnh đạo tham nhũng có hạng của Việt Nam, vừa sử dụng mối quan hệ “láng giềng hữu hảo”, “anh em đồng chí” như một lá bùa dán lên miệng để làm yên lòng giới lãnh đạo Việt Nam; lũng đoạn chính trị, lũng đoạn kinh tế, làm cho kinh tế Việt Nam ngày càng phải lệ thuộc vào Trung Quốc, mặt khác, chiếm đoạt dần dần lãnh thổ lãnh hải của Việt Nam mà không tốn một viên đạn. Dù là một nước lớn nhưng trong cách hành xử từ trước đến nay với các nước láng giềng nhỏ yếu hơn trong đó có Việt Nam, Trung Quốc chưa bao giờ tỏ ra là một nước đàn anh chính nhân quân tử, sẵn sàng dùng mọi thủ đoạn để lừa các nhà cầm quyền Việt Nam vào tròng, giành lấy từng kilomet đất, biển; trong làm ăn kinh tế thì chỉ toàn tính lợi cho nước mình còn sự mất mát, thiệt hại lâu dài thì nước khác phải gánh chịu. Điều này cũng đang diễn ra trong mối quan hệ của Trung Quốc với một số quốc gia khác, nhất là ở Châu Phi.

Trong nhiều năm dài, Đảng Cộng sản Việt Nam với các thế hệ lãnh đạo liên tiếp chỉ là những kẻ tham lam, bạc nhược, quan trí thấp, tầm nhìn ngắn, lại thêm nỗi lo sợ phải bảo vệ thể chế chính trị này bằng mọi giá, đã thua trắng tay các thế hệ lãnh đạo Trung Quốc vốn thâm sâu, trăm mưu ngàn kế, lại không che giấu một tham vọng bành trướng đã ăn sâu vào máu từ bao đời nay. Đảng Cộng sản Trung Quốc thừa hiểu nỗi sợ lớn nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam là phải giữ vững chế độ cho dù có phải chịu lệ thuộc vào ngoại bang (ở đây là Trung Quốc), có phải mất đất mất biển; họ cũng biết rât rõ điểm yếu của Đảng Cộng sản Việt Nam nằm ở đâu và họ triệt để khai thác những điểm này. Chẳng hạn như Đảng Cộng sản Việt Nam rất sợ mất tính chính danh trước nhân dân nếu để cho nhân dân thấy giới lãnh đạo Đảng chỉ là bọn bán nước, nhu nhược, thì Đảng Cộng sản Trung Quốc cứ ngang nhiên và thường xuyên cho tàu vào ra vùng biển thuộc lãnh hải của Việt Nam, bắt bớ đánh đập đòi tiền chuộc các ngư dân Việt Nam… buộc nhà cầm quyền Việt Nam hiện nguyên hình là những kẻ hèn với giặc ác với dân trong mắt người dân Việt Nam; hoặc nếu Đảng Cộng sản Việt Nam rất sợ những bí mật về ông Hồ bị phơi bày ra thì đó cũng là một trong những con bài để Đảng Cộng sản Trung Quốc gây áp lực khi cần v.v… Nói tóm lại, chơi kiểu gì, chơi đường nào thì Đảng Cộng sản Việt Nam cũng dưới cơ Đảng Cộng sản Trung Quốc mà thôi. Hay nói cách khác, chỉ có Đảng Cộng sản Trung Quốc là trị được Đảng Cộng sản Việt Nam vì tất cả những lý do trên. Điều đó lý giải vì sao trước nhà cầm quyền Trung Quốc, nhà cầm quyền Việt Nam trở nên bạc nhược, hèn hạ đến vậy.

Đảng Cộng sản Việt Nam vì những quyền lợi của họ mà phải hèn nhát chịu cho Đảng Cộng sản Trung Quốc ép mọi bề, nhưng còn nhân dân Việt Nam – một dân tộc đã từng có một lịch sử lâu dài vượt qua mọi âm mưu thôn tính, mọi cuộc chiến tranh tàn khốc, mọi sự nghiệt ngã của số phận để tồn tại, lẽ nào ngày hôm nay chúng ta lại chịu để cho lịch sử 1000 năm lệ thuộc phương Bắc sẽ lặp lại nhưng tinh vi hơn, tàn nhẫn hơn? Lẽ nào nhân dân Việt Nam lại cứ cam chịu để cho Đảng Cộng sản Việt Nam và một nhóm những kẻ nắm quyền lãnh đạo cao nhất được phép thay mặt nhân dân dâng đất, dâng biển, bán rẻ tài nguyên, biến mảnh đất này thành nguồn lợi khai thác đồng thời là bãi rác thả của đủ thứ độc hại từ sản phẩm kém chất lượng cho tới bùn đỏ bauxite… của nước khác? Đất nước này không phải chỉ của Đảng Cộng sản và của một nhóm người để họ có quyền muốn làm gì thì làm. Bao nhiêu quốc gia đã chọn được một con đường đúng để đi, kể cả những quốc gia từng một thời sai lầm như Liên Xô cũ và các nước Đông Âu nay cũng đã vượt qua được quá khứ, sao nhân dân ta phải cam chịu đi con đường sai thành ra lẻ loi không bè bạn không đồng minh, một mình đối mặt với hiểm họa từ phương Bắc?

© 2010 Song Chi

Posted: Sun Jun 13, 2010 6:12 pm
by thienthanh
Đi Đâu Cũng Bị Phản Đối
Trong năm nay (2010), sẽ có hai Hội nghị thượng đỉnh G20. Canada được uỷ nhiệm tổ chức Hội nghị thượng đỉnh lần thứ nhất năm 2010 vào hai ngày 26 và 27 tháng 6 tại Toronto. Hội nghị thượng đỉnh G20 lần thứ hai trong năm 2010 sẽ diễn ra vào tháng 11 tại Seoul, Đại Hàn.

Tổ chức G20 là diễn đàn của đại biểu 19 nước có nền kinh tế lớn nhất hoàn cầu và đại biểu Liên hiệp Âu Châu (European Union hay EU). Mười chín nước đó là (theo thứ tự ABC): Argentina, Australia, Brazil, Canada, China, France, Germany, India, Indonesia, Italy, Japan, Mexico, Republic of Korea, Russia, Saudi Arabia, South Africa, Turkey, United Kingdom, United States of America. Đại biểu 19 nước nầy cùng vớp đại biểu EU họp thành G20.

Hội nghị G20 đầu tiên được tổ chức tại Berlin trong hai ngày 15 và 16-12-1999 do hai bộ trưởng Tài chánh Cộng Hòa Liên Bang Đức và Canada chủ trì. Tổ chức G20 hiện gồm hai hội nghị: Hội nghị thường niên cấp bộ trưởng tài chánh và thống đốc ngân hàng trung ương, và Hội nghị thượng đỉnh gồm nguyên thủ các quốc gia trong G20. Tổ chức G20 không có uỷ ban thường trực mà chỉ có chủ tịch luân phiên hàng năm. Chủ tịch G20 đầu tiên (1999-2001) là Canada, sau đó là Ấn Độ (2002), Mexico (2003), Đức (2004), Trung Quốc (2005), Australia (2006), Nam Phi (2007), Brazil (2008), Anh (2009). Năm nay (2010), chủ tịch G20 là Cộng Hòa Hàn Quốc (Đại Hàn hay Nam Hàn) và năm 2011 sẽ là Pháp.

Ngoài 20 thành viên thường trực, ngày 8-5-2010, Văn phòng thủ tướng Canada là Stephen Harper thông báo sẽ mời thủ tướng năm nước đến dự thính Hội nghị G20 trong hai ngày 26 và 27-6-2010 với tư cách là quan sát viên. Đó là các nước (theo thứ tự ABC): Ethiopia, Malawi, Netherland (Hòa Lan), Spain (Tây Ban Nha) và Việt Nam. Việt Nam được mời vì năm nay (từ 01-01-2010 đến 31-12-2010) Việt Nam là chủ tịch luân phiên của Association of Southeast Asian Nations (ASEAN) tức Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á.

Chắc chắn sẽ có nhiều cuộc biểu tình của cộng đồng các sắc dân tại Canada và trên thế giới chống đối Hội nghị thượng đỉnh G20. Rút kinh ngiệm từ việc bảo vệ an ninh Thế vận hội mùa đông Vancouver vừa qua, chính quyền Canada đã lo chuẩn bị những biện pháp an ninh cần thiết từ đầu tháng 6 để bảo vệ Hội nghị thượng đỉnh G20 tại Toronto.

Những cuộc biểu tình nầy có nhiều mục đích khác nhau. Tựu trung có thể có hai nhóm chính: Biểu tình vì kinh tế, chống chủ trương toàn cầu hóa; và biểu tình vì chính trị, chống các chế độ độc tài đàn áp.

Riêng trường hợp Việt Nam, trước đây, nhân hội nghị APEC tại Việt Nam tháng 11-2006, thủ tướng Stephen Harper đã tuyên bố ở Hà Nội rằng: "Canada muốn phát triển giao thương với thế giới. Nhưng tôi không tin rằng người Canada chúng tôi muốn bán khoán các giá trị Dân chủ, Tự do và Nhân quyền để lấy đồng đô la.” (DCVOnline.net ngày 19-11-2006.)

Cũng theo nguồn tin nầy, trong cuộc gặp tay đôi tại Hà Nội với Nguyễn Tấn Dũng vào ngày 17-11-2006, thủ tướng Canada đã đề cập đến các vấn đề nhân quyền, tự do báo chí và ông Harper đã đưa ra 10 trường hợp tiêu biểu về những người bị bắt giam vì bất đồng chính kiến, vì vận động dân chủ hay hoạt động tôn giáo…

Không phải tại nơi nào khác, mà ngay tại Hà Nội ông Stephen Harper công khai tuyên bố như thế, đồng thời đề cập đến những tù nhân lương tâm với Nguyễn Tấn Dũng, chứng tỏ rõ ràng rằng trong việc tổ chức Hội nghị G20 tại Toronto, người mời (Stephen Harper) đã biết rõ khách mời (thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng) là kẻ đứng đầu một bộ máy cai trị đàn áp nhân quyền và không có tự do dân chủ, nhưng vì thủ tục của G20, Canada vẫn phải mời chủ tịch luân phiên của tổ chức ASEAN, chứ không phải vì Việt Nam là một nước kinh tế phát triển.

Cần chú ý mục đích của Hội nghị G20 là tìm kiếm những phương sách phát triển kinh tế toàn cầu một cách bền vững lâu dài. Muốn phát triển kinh tế, không phải nước nào muốn là được, mà còn cần phải có nhiều điều kiện kinh tế và môi trường chính trị thuận lợi cho sự phát triển.

Trong thời gian chiến tranh, Hoa Kỳ quyết định cấm vận Bắc Việt Nam từ năm 1964. Hoa Kỳ cấm vận trong thời gian nầy ít ảnh hưởng đối với BắcViệt vì Bắc Việt theo nền kinh tế cộng sản chỉ huy và Bắc Việt chỉ giao dịch và xin viện trợ các nước trong khối cộng sản. Sau khi chiến tranh kết thúc năm 1975, Hoa Kỳ tiếp tục cấm vận Việt Nam. Việc cấm vận nầy khiến cộng sản Việt Nam gặp nhiều khó khăn kinh tế, nhất là từ khi khối Liên Xô sụp đổ vào đầu thập niên 90.

Sau những cuộc thương lượng lâu dài, ngày 3-2-1994, tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton tuyên bố bãi bỏ cấm vận chế độ Việt Nam. Năm sau, ngày 11-7-1995, cũng tổng thống Bill Clinton quyết định tái lập bang giao với Việt Nam. Ngày 7-11-2006, Việt Nam được chấp nhận gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization = WTO), và chính thức trở thành hội viên thứ 150 của WTO kể từ 11-1-2007.

Trở thành hội viên WTO, bước vào dòng sinh hoạt thế giới, đáng lẽ Việt Nam phải dần dần thay đổi chính sách, mở rộng tự do dân chủ, tạo điều kiện để phát triển chẳng những về kinh tế mà cả mở rộng chính trị, nhằm hỗ trợ cho sự thăng tiến kinh tế.

Trong khi đó, từ năm 1994 (Hoa Kỳ bỏ cấm vận) hay 2007 (vào WTO), tuy Việt Nam đã nới rộng phần nào những hoạt động kinh tế, nhưng vẫn không buông lỏng sự kiểm soát chính trị, vẫn đàn áp những nhà bất đồng chính kiến, vẫn mở thêm nhà tù.

Trước hết, điều 4 hiến pháp năm 1992 hiện vẫn đang còn áp dụng tại Việt Nam ghi rằng: "Đảng Cộng Sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.”

Đảng Cộng sản là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội, có nghĩa là đảng Cộng Sản vẫn độc tôn quyền lực, độc đảng, độc tài toàn trị. Về kinh tế, bên bờ suy sụp toàn diện sau 10 năm thực hiện kinh tế chỉ huy theo đường lối CS từ năm 1975 trên toàn cõi Việt Nam, đảng CSVN bắt buộc phải “đổi mới” từ năm 1985 để tự cứu mình, phần nào mở rộng hơn trước, nhưng vẫn chủ trương “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, nghĩa là vẫn do đảng CSVN chỉ huy theo đường lối cộng sản. Như thế, về chính trị và kinh tế, Việt Nam hiện nay trước sau vẫn là một nước cộng sản.

Vì chủ trương độc đảng, độc tài toàn trị nên hiện nay ở trong nước không có tự do dân chủ, không có tự do ngôn luận, không có tự do báo chí, không có tự do thông tin, không có tự do giáo dục. Cho đến hôm nay, đã 10 năm qua thế kỷ 21, mà ở Việt Nam vẫn chưa có báo tư nhân. Khoảng 100 tờ báo ở trong nước hoàn toàn do các cơ quan nhà nước kiểm soát, chỉ là cái loa với nhiều âm lượng khác nhau phát ra từ Bộ chính trị đảng CSVN. Dù là báo của nhà nước, những ai viết báo ra ngoài chỉ thị của nhà nước đều bị bắt giam.

Tất cả những điều trên không cần phải chứng minh dài dòng; chỉ cần nhìn hình linh mục Nguyễn Văn Lý bị bịt miệng hoặc đọc tin các nhà văn, các ký giả , các nhà nhà hoạt động dân chủ trong nước bị bắt giam là đủ rồi. Ở Việt Nam hiện nay chỉ có tự do ăn chơi, tự do đàng điếm, tự do tham nhũng. Không có tự do dân chủ thì không thể có thảo luận tranh cãi, không thể có sáng kiến, không thể có cạnh tranh, thì làm sao có tiến bộ? Không có tự do thông tin, không có tự do báo chí thì lấy ai để theo dõi, thông tin, nhận xét, phê bình hoạt động kinh tế?

Ngành giáo dục Việt Nam hiện nay sa sút trầm trọng. Sa sút về mọi mặt. Chương trình học tập, phương pháp giảng dạy, trình độ giáo sư, kết quả học sinh, tất cả đều sa sút. Ở đại học, phải là đảng viên mới được phong hàm giáo sư. Những người học vị cao, chuyên môn giỏi, nhưng không vào đảng, thì không bao giờ được phong hàm giáo sư. Đó là chưa kể cảnh bán bằng cấp, bán bài vở, bán đề thi xảy ra khắp nơi, từ đại học xuống trung học. Với một nền giáo dục như thế, làm sao đào tạo được nhân tài để xây dựng một nền kinh tế vững mạnh?

Nhiều người du lịch Việt Nam nhận thấy hiện nay, các thành phố được mở mang, sinh hoạt tấp nập, nên vội cho rằng Việt Nam bắt đầu thay da đổi thịt. Tuy nhiên xin lưu ý là sau 35 năm hòa bình với bao nhiêu viện trợ quốc tế, mà Việt Nam chỉ đạt được chừng đó tiến bộ hay sao? Trong thời gian chiến tranh, miền Nam Việt Nam đã đứng trên những nước Đông Nam Á. Ba mươi lăm năm hòa bình, Việt Nam tụt hậu và thua xa cả hàng vài chục năm các nước lân bang. Và cũng xin lưu ý là những phồn vinh giả tạo hiện nay chỉ diễn ra ở thành phố, cho tầng lớp đảng viên CSVN và những thành phần chung quanh đảng hưởng thụ, trong khi đại đa số nông dân vẫn phải lầm than cơ cực ở miền nông thôn nghèo đói. Sự cách biệt lợi tức đồng niên giữa thành phố và nông thôn càng ngày càng lớn rộng.

Một điều hết sức tệ hại là đảng CSVN đã lợi dụng những cải cách kinh tế để tham nhũng, mang lại lợi lộc riêng cho giới đảng viên cầm quyền. Chuyện ép dân, cướp đất bán cho người nước ngoài, nói là để mở mang thương mại là chuyện “thường ngày ở huyện”. Nguy hiểm hơn nữa là đảng CSVN vốn tùng phục Trung Quốc nhằm củng cố quyền lực, nay núp dưới chiêu bài gọi là phát triển kinh tế, đã không ngại thực hiện những dự án kinh tế rất nguy hiểm về môi trường và an ninh cho các thế hệ tương lai. Điển hình nhất là chương trình giao cho người Trung Quốc khai thác bauxite ở Tây nguyên, kế hoạch cho người Trung Quốc thuê dài hạn vùng núi đồi miền biên giới…

Muốn phát triển kinh tế, thì điều kiện căn bản tiên quyết là phải có tự do dân chủ. Chưa có tự do dân chủ, mà vẫn độc đảng, độc tài toàn trị, đàn áp nhân quyền và dân quyền, tùy tiện bắt giam những người bất đồng chính kiến, kể cả những người yêu nước, phản đối Trung Quốc xâm lược, thì không thể nói đến chuyện phát triển, và nếu có phát triển thì phát triển lệch hướng, nhằm phục vụ cho đảng CSVN và tập đoàn lãnh đạo đảng CSVN, chứ không phục vụ lợi ích chung cho dân tộc, cho đất nước.

Hình ảnh Việt Nam ngày nay đúng như sự mô tả của điều 9 Nghị quyết 1481 của Quốc hội châu Âu tại Strasbourg ngày 25-1-2006: "Các chế độ toàn trị cộng sản vẫn còn hoạt động tại một số quốc gia trên thế giới và vẫn tiếp tục gây ra tội ác.” (Bản Anh ngữ: “Totalitarian communist regimes are still active in some countries of the world and crimes continue to be committed.”)

Trong hoàn cảnh như thế, Việt Nam làm thế nào có thể phát triển kinh tế bền vững đúng hướng được. Thủ tướng cộng sản Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đến Toronto dự thính Hội nghị G20 chẳng ích lợi gì cho sự phát triển kinh tế Việt Nam vì guồng máy kềm kẹp của đảng CSVN vẫn không thay đổi, tiếp nghiền nát tất cả những cải cách, những sáng kiến nào có hại cho quyền lợi của tập đoàn lãnh đạo CSVN. Muốn phát triển kinh tế, trước tiên phải dẹp bỏ guồng máy nầy đi.

Tuy nhiên, vì “vẫn tiếp tục gây ra tội ác”, người ta không lấy làm lạ bất cứ viên chức CSVN nào ra nước ngoài cũng đều bị đồng hương phản đối. Viên thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, đứng đầu một guồng máy cai trị “vẫn tiếp tục gây ra tội ác” ở Việt Nam, đến dự thính với tư cách quan sát viên trong Hội nghị thượng đỉnh G20 ngày 26 và 27-6-2010 lần nầy tại Toronto, chắc chắn sẽ bị đồng hương phản đối. Thật là nhục! ĐI ĐÂU CŨNG BỊ PHẢN ĐỐI.

TRẦN GIA PHỤNG

(Toronto, Canada)

Posted: Mon Jun 14, 2010 12:16 am
by vuphong
Nam Phi, tự do và hy vọng

Ngô Nhân Dụng
Dân chúng Cộng Hòa Nam Phi, 49 triệu người, có quyền hãnh diện khi một nửa nhân loại đang chăm chú theo dõi những trận đá trong Giải Bóng Tròn Thế Giới tổ chức ở nước họ, lần đầu tiên một quốc gia Phi Châu đứng ra tổ chức giải này. Nhưng đằng sau không khí lễ hội nhộn nhịp, khi cả thế giới nhìn về Nam Phi với lòng kính phục, người ta vẫn tự hỏi nước này đang thành công hay thất bại.

Nam Phi khác hẳn Việt Nam. Nước ta do một khối dân tộc cùng ngôn ngữ, cùng màu da lập nên, do nhu cầu tự nhiên phải đoàn kết chống lại một cường quốc phương Bắc. Nam Phi là một quốc gia rất “nhân tạo,” gồm nhiều bộ lạc da đen ngôn ngữ khác nhau, bên cạnh còn những “bộ lạc” khác gồm người da trắng, người Á Châu (Ấn Ðộ), người lai được gọi là “da màu.” Cách đây hơn ba thế kỷ, người Hòa Lan, Ðức, và người Anh Quốc tới đây khai khẩn thuộc địa, dần dần mảnh đất này thuộc quyền Ðế Quốc Anh. Nam Phi chỉ được thành lập 100 năm trước đây, khi những người gốc Hòa Lan thắng các toán lính thuộc địa. Ðó là những người Boers, sau này gọi là Afrikaners, với ngôn ngữ Afrikaan giống tiếng Hòa Lan thế kỷ 17, bây giờ cùng với tiếng Anh là hai trong 11 ngôn ngữ chính thức của quốc gia! Cùng lúc đó những người da đen cũng đứng lên đòi độc lập, do bộ lạc đa số Zulu khởi xướng, quy tụ trong Nghị Hội Quốc Gia Nam Phi (ANC).

Trong hơn ba thế kỷ, người da trắng coi dân da đen như một giống người thấp kém, không được hưởng những quyền bình đẳng với họ. Trong nửa thế kỷ sau cùng, người da trắng đã chính thức hóa độc quyền cai trị với chế độ phân biệt chủng tộc gọi là Apartheid. Cả thế giới phản đối chính sách đó, các cường quốc cùng nhau cấm vận Nam Phi, dần dần đưa kinh tế đến tình trạng suy sụp. Năm 1994, trong một cuộc trưng cầu dân ý dành riêng cho người da trắng thống trị, hai phần ba đã bỏ phiếu đồng ý bãi bỏ chế độ apartheid (một hành động ngoạn mục không khác gì bây giờ các đảng viên Cộng Sản ở Việt Nam bỏ phiếu xóa bỏ điều 4 trong hiến pháp!)

Người da đen được tham dự một cuộc bỏ phiếu đầu tiên trong lịch sử của họ, và phong trào ANC đại thắng. Hai năm sau, Quốc Hội đã ban hành một bản hiến pháp mới, lúc đó có thể coi là một Cộng Hòa Nam Phi mới được khai sinh.

Bản hiến pháp Nam Phi có thể coi là tiến bộ nhất thế giới. Những quyền tự do và bình đẳng về chính trị, kinh tế, xã hội được công nhận và thể hiện trong luật pháp. Hiến pháp cấm mọi chủ trương phân biệt chủng tộc, bảo đảm quyền lợi của người da trắng, người Châu Á và da màu. Không những thế, mọi hành động kỳ thị về phái tính (nam, nữ), tín ngưỡng, văn hóa, ngôn ngữ, tình trạng hôn nhân, cũng như kỳ thị người đồng tính luyến ái đều bị cấm. Mọi công dân đều bình đẳng và được pháp luật bảo vệ. Tổ chức quốc tế Nhà Tự Do (Freedom House) đánh giá Nam Phi là quốc gia có chỉ số tự do bằng 2, trong bậc thang từ 1 (tự do nhất) đến 7 (không tự do). Ðây là một điều đáng hãnh diện.

Từ năm 1994 đến nay, Nam Phi đã sống theo tinh thần bản hiến pháp mới. Người da trắng (9% trong dân số 49 triệu), người da màu (9%), người Á Châu (3%), được sống yên ổn cùng khối đa số da đen. Có những chính sách nhằm nâng đỡ người da đen, như giành ưu tiên chia cho họ một tỷ số công việc làm ở công sở và tại các công ty tư nhân; cũng giống như một chính sách áp dụng ở Mã Lai Á nhằm nâng đỡ người gốc Mã Lai vì họ khó cạnh tranh với người gốc Trung Hoa. Từ năm 1969, phong trào ANC đã thâu nhận cả người da trắng, để chứng tỏ họ không kỳ thị. Hiện trong chính phủ Nam Phi của Tổng Thống Jacob Zuma (mới đắc cử năm ngoái) có 4 người da trắng trong số 35 bộ trưởng. Có 9 người da trắng cầm quyền trong số 99 thủ tướng và bộ trưởng ở các tỉnh.

Phải công nhận tình trạng hòa hài trong cuộc sống Nam Phi đạt được là nhờ giới lãnh đạo phong trào trào ANC, đặc biệt là công của vị tổng thống đầu tiên, ông Nelson Mandela. Ông Mandela đã bị chính quyền Apartheid cầm tù nhiều năm, cho đến khi họ chịu xóa bỏ chính sách kỳ thị. Ông được cả thế giới ngưỡng mộ, đắc cử chức tổng thống, và giữ đúng chủ trương không kỳ thị, không thù hận người da trắng. Ông bảo vệ hệ thống hành chánh và nền tư pháp độc lập mà người da trắng đã thiết lập, sử dụng những người da trắng theo khả năng của họ. Nam Phi đã không rơi vào tình trạng rối loạn và suy sụp như nước láng giềng, xứ Zimbabwe. Ở Zimbabwe, sau khi người da đen giành được chính quyền năm 1980, ông Mugabe đã cai trị theo lối độc tài, theo những chính sách mị dân, gây thù hận người da trắng và giành mọi quyền lợi cho đàn em trong đảng ZANU dù đó là những người bất lực. Kinh tế Zimbabwe đã suy đồi, giai cấp thống trị mới là một guồng máy tham nhũng, lạm quyền trong khi dân chết đói. Ông Mandela đã rời bỏ chính quyền sau một nhiệm kỳ tổng thống, nêu tấm gương không tham quyền cố vị cho các nhà chính trị khác. Từ 16 năm nay, bốn vị tổng thống đều thuộc đảng ANC. Họ đều không bị quyến rũ bởi khuynh hướng độc tài mà lãnh tụ các nước Á Phi thường hay sa ngã. Các chính sách lớn của quốc gia thường được tham khảo với các nhà chính trị và chuyên gia ngoài đảng cầm quyền. Nhiều định chế kiểm soát lẫn nhau giúp ngăn chặn những hành động lạm quyền. Nam Phi có thể coi là một ngọn đuốc dân chủ cho một tỷ người ở Phi Châu trông vào.

Có một bản hiến pháp tiến bộ, một di sản chính trị tốt với các chính sách đứng đắn do Mandela để lại, nhưng nước Nam Phi vẫn chưa thực hiện được những ước mơ tự do và bình đẳng.

Một bản hiếp pháp dù tiến bộ đến đâu cũng không bảo đảm được là mọi người sẽ thay đổi tánh tình để sống đúng tinh thần bản hiến pháp đó. Những người cầm quyền rất dễ bị quyền hành làm hư hỏng. Nam Phi đang bị nạn tham nhũng thao túng không khác gì nhiều nước chậm tiến khác. Nạn tham nhũng bắt đầu từ chính những người “cách mạng” trong ANC. Ông Snuts Ngoyama, từng là phát ngôn viên của đảng cầm quyền vào năm 2007, đã nói: “Tôi không tham gia tranh đấu để sống nghèo mãi được!” Câu nói này cũng giống như lời cựu Thủ Tướng Võ Văn Kiệt giải thích với một nhà kinh tế mà ông đang tham khảo ý kiến khi ông này than phiền về tình trạng đảng viên Cộng Sản tham nhũng. Ông Nguyễn Hữu Hanh, cựu thống đốc Ngân Hàng Trung Ương miền Nam, kể lại trong cuốn hồi ký của ông lời ông Kiệt giải thích rằng các cán bộ Cộng Sản đã chịu đựng gian khổ nhiều rồi, cũng nên cho họ cơ hội được hưởng thụ để đền bù lại!

Nhưng tại Nam Phi, đảng ANC không nắm tất cả mọi quyền lực như đảng Cộng Sản tại Việt Nam. Ngoài báo chí tự do, các đảng đối lập với chính quyền, còn có các cơ quan trừ tham nhũng độc lập trong guồng máy nhà nước.

Tổng TZuma công nhận tình trạng tham nhũng ở nước ông tệ hại hạng nhất thế giới. Ông hứa sẽ chấm dứt chế độ ban tổ chức cán bộ của ANC phân phối các đảng viên trung thành vào các cơ quan công quyền, bất chấp khả năng. Người đứng đầu cơ quan gọi thầu của Bộ Quốc Phòng, người cầm đầu hệ thống hỏa xa, người chỉ huy công ty hàng không đã bị cách chức. Chỉ huy trưởng cảnh sát toàn quốc đang bị đưa ra tòa về tội tham nhũng. Người đứng đầu Ủy ban Ðiều tra Tham nhũng tại Nam Phi, ông Willie Hofmeyr, cho biết có 400 ngàn công chức Nam Phi đã thụ hưởng những quyền lợi mà đáng lẽ họ không được hưởng. Có 6,000 công chức đã trốn không khai những việc góp vốn của họ vào các công ty tư nhân, mặc dù luật lệ bắt buộc phải khai báo. Nạn tham nhũng nặng nề nhất là trong ngành công chánh, khi giá thầu xây dựng được nâng lên để thâm lạm tiền công quỹ. Tham nhũng khó trị nhất là ở cấp chính quyền địa phương, nơi người dân ít có dịp lên tiếng qua báo chí. Nhiều cuộc biểu tình phản đối đã diễn ra tại các tỉnh, chống tình trạng ‘con ông cháu cha,” quản lý sai lầm, và chính quyền không có khả năng.

Với một guồng máy chính quyền còn đầy tham nhũng như vậy, tình trạng giáo dục, y tế và xã hội không thể tiến bộ được, dù chính sách của chính phủ đứng đắn. Nam Phi chi hơn 6.4% tổng sản lượng nội địa vào việc giáo dục, một tỷ số cao nhất thế giới, chứng tỏ họ rất quan tâm tới tương lai quốc gia (tỷ lệ ở Việt Nam thấp hơn, khoảng 5.6% GDP vào năm 2006). Nhưng tình trạng giáo dục không tiến được vì nhân viên tham nhũng và kém khả năng. Chỉ có 10% các trường trung học có thư viện và phòng thí nghiệm khoa học. Có 800,000 sinh viên đại học nhưng cả nước chỉ có một đại học Cape Town được xếp hạng trong số 200 đại học tốt nhất thế giới (đại học tốt nhất Việt Nam ở Sài Gòn được xếp hàng 500 đến 600, theo báo chí ở trong nước). Tổng Thống Zuma đã đặt vấn đề cải tổ giáo dục là ưu tiên số một của chính phủ ông. Một biện pháp ông sẽ thi hành là tái lập hệ thống thanh tra giáo dục, như thời Apartheid vẫn có.

Tình trạng y tế ở Nam Phi cũng không tiến bộ được cũng vì thiếu người và tham nhũng. Một phần ba các chức vụ về y tế không tuyển được người làm, mặc dù chính phủ giành gần 9% cho y tế. Nạn AIDS (Sida) ở Nam Phi trầm trọng nhất thế giới. Tỷ số thất nghiệp ở Nam Phi cũng cao nhất trong số các nước đang lên. Nhiều người da đen đã bước vào tầng lớp trung lưu trong 16 năm qua, nhưng số người nghèo ở các vùng xa vẫn đông và ngày càng thua kém những người ở thành phố. Nam Phi đứng hàng thứ 24 về kinh tế trên thế giới, là thành viên của nhóm G20 gồm 20 quốc gia kinh tế cao, với lợi tức bình quân 10,000 đô la một năm cho mỗi người dân. Nhưng có tới 40% dân chúng sống với lợi tức dưới 2 đô la Mỹ một ngày. Ða số là những người da đen sống ở các vùng thôn quê, ở một xứ mà chỉ có 12% đất đai là trồng trọt được. Với tình trạng bất công xã hội như vậy, nạn ma túy, trộm cắp và tội phạm lên cao.

Với những vấn đề xã hội còn nặng nề như vậy, Nam Phi còn phải cố gắng nhiều hơn. Nhưng sau 16 năm giành được quyền tự do tham gia việc chính trị, vào năm 1994 là lúc kinh tế đang suy kiệt, quốc gia này có thể hãnh diện về những thành quả họ đã đạt được. Tương lai của họ có vẻ lạc quan. Ðây là nước được thiên nhiên ưu đãi. Họ chiếm 90% quặng mỏ platinium của thế giới, 80% quặng manganese, 70% crôm, và 40% quặng vàng. Chế độ chính trị ổn định không phải nhờ guồng máy đàn áp của công an, mà do sự trưởng thành của các định chế chính trị. Ðiều đáng khen ngợi nhất trong xã hội Nam Phi là một xã hội công dân đã thành hình và rất năng động. Mặc dù guồng máy cai trị bị hoen ố vì tình trạng bè phái tham nhũng, nhưng nền tư pháp của Nam Phi vẫn giữ được tư cách tương đối độc lập. Các công đoàn độc lập hoạt động mạnh, với những người lãnh đạo có kiến thức và đại diện thật của công nhân. Ðáng kể nhất là hệ thống truyền thông, báo chí Nam Phi hoạt động rất mạnh và độc lập với nhà nước, cùng với các đảng chính trị tạo nên những thế lực ngoài chính quyền và ngăn cản cảnh lạm quyền có hiệu quả. Ðây cũng là một quốc gia có rất nhiều hội đoàn tư ngoài chính phủ (NGO), họ hoạt động rất mạnh, tạo thành một xã hội công dân năng động. Xã hội công dân đó là nền tảng giúp chế độ tự do dân chủ được vững bền.

Trong khi theo dõi các trận đá banh trong Giải Bóng Ðá Thế Giới, quý vị độc giả có thể sẽ tìm hiểu thêm và suy nghĩ về nước chủ nhà Nam Phi; hy vọng sẽ rút ra những bài học cho nước ta. Ngày hôm nay mở màn World Cup, Tổng Thống Jacob Zuma sẽ được sống những giờ phút “quang vinh” ngay trong lễ khai mạc và những dạ tiệc đi kèm. Nhiều khán giả đang thắc mắc ai sẽ đóng vai đệ nhất phu nhân chia sẻ những sinh hoạt đó với ông; mỗi lần ông sẽ phải chọn một trong số ba bà vợ chính thức hiện nay - nhưng chắc không phải là hai cô vị hôn thê chưa làm đám cưới. Nhưng sau những giờ phút hưởng vinh quang trong địa vị tổng thống một nước đương cai, ông phải nhớ chính phủ ông còn rất nhiều việc cần làm để 40 triệu người da đen, một nửa còn sống nghèo khổ, được ngẩng đầu lên!

Posted: Mon Jun 14, 2010 6:16 am
by thienthanh
Trung Quốc Sẽ Tấn Công VN!
Chúng Ta Làm Gì?


Quốc Phùng
Biến Cố Quốc Tế Liên Quan Đến Vận Mạng Việt Nam
Tình hình tranh chấp quốc tế đang rất bấp bênh và có nguy cơ bùng bổ chiến sự lớn. Các điểm nóng thời sự như (1) Chiến tranh bán đảo Đại Hàn qua việc tiềm thủy đỉnh Bắc Hàn bắn hạ tàu chiến Nam Hàn. (2) Do Thái tuyên bố sẽ đơn phương hủy diệt các trung tâm nguyên tử Iran nếu tình hình ngày càng nguy hiểm cho Do Thái. (3) Xung đột Do Thái - Palestine đang ngày càng nóng lên qua việc Biên Phòng Do Thái chận bắt tàu tiếp tế cho Gaza...

Trong lúc đó, các biến cố chính trị giữa Việt Nam và Trung Quốc những lúc gần đây cho chúng ta thấy rõ tình hình cũng đang ngày càng căng thẳng. Diễn tiến các tranh chấp và mâu thuẫn giữa hai nước trong vài tuần lễ gần đây cùng một chuỗi sự kiện cho ta biết rằng một cuộc đối đầu trong thời gian gần giữa Việt Nam - Trung Quốc sẽ khó tránh khỏi, theo sau các biến cố quốc tế.

Sau ngày 15 tháng 5 năm 2010, tức là ngày Trung Quốc cấm đánh bắt cá trong khu vực Biển Đông, báo chí và truyền thông Trung Quốc nhao nhao lên án Việt Nam xâm phạm chủ quyền Trung Quốc và kêu gọi một cuộc trừng phạt đích đáng. Ai chủ trương? Chắc chắn không phải dân thường Trung Quốc rồi!

Về phía Việt Nam, các ngư dân vẫn tiếp tục ra khơi và đi thành đoàn để bảo vệ lẫn nhau theo sự khuyến khích của chính quyền địa phương...Mới vài ngày gần đây, lực lượng biên phòng Việt Nam bắt giữ một tàu đánh cá Trung Quốc vào sâu trong hải phận Việt Nam. Dù Việt Nam đã vội vã thả 30 thuỷ thủ Trung Quốc nhưng đây là dấu hiệu cho thấy Việt Nam bắt đầu có phản ứng. Cùng lúc ấy một trung tướng Hải Quân CS Việt Nam tuyên bố sẽ bảo vệ ngư dân Việt Nam hành nghề trong lãnh hải.

Sự việc không dừng lại ở đó. Cách đây vài ngày, rất nhiều trang Webs chính thức của đảng và chính quyền CSVN, trong đó có trang báo điện tử "Nhân Dân", cơ quan ngôn luận của đảng CSVN bị Trung Quốc phong tỏa bằng cách thả virus phá hoại, theo sự điều tra và báo cáo của mạng toàn cầu Google.
Một loạt các diễn biến đó có nghĩa gì?
Tại sao CS Việt Nam không tiếp tục cúi đầu nhường nhịn dù đa số uỷ viên trong Bộ Chính Trị CSVN qua Nông Đức Mạnh, Nguyễn Phú Trọng, Tô Huy Rứa, Nguyễn Chí Vịnh v..v...chủ trương thần phục để ổn định? Đây là một chuỗi diễn tiến mà tập đoàn phản quốc khó thể kềm chế mãi được:

1. Chính quyền địa phương thường xuyên kêu gọi Trung Ương có biện pháp bảo vệ ngư dân của mình nhưng không được đáp ứng.

2. Các quân binh chủng CSVN nhất là binh chủng Hải Quân rất bất bình trước những chỉ thị nhu nhược và đớn hèn khi được lệnh Hải Quân tránh chạm trán và không can thiệp giải cứu ngư dân dù Trung Quốc đang chận bắt và giết chóc dân lành trước mắt "lực lượng biên phòng".

3. Một số không nhỏ Uỷ Viên Trung Ương có cái nhìn không "nhất quán" với Bộ Chính Trị về vấn đề Trung Quốc nên thường khi có cảnh "trống đánh xuôi, kèn thổi ngược".

Tại sao Trung Quốc chọn thời điểm này để tạo một chiến tranh giới hạn với Việt Nam?

Bài học ở Georgia khi Nga Sô xua quân khống chế chính quyền Georgia và tạo các khu tự trị thân Nga dứt khoát sẽ là nguồn cảm hứng chiến lược của Bắc Kinh. Chẳng hạn quân đội Nga tấn công Georgia đúng ngày 08-08-2008 khi các nguyên thủ quốc gia đang tham dự Thế Vận Hội Bắc Kinh và cả thế giới đang hướng về Thế Vận Hội "vĩ đại" đó.

Khi phát động chiến tranh khu vực giới hạn với Việt Nam, Bắc Kinh phải dựa vào một biến cố quốc tế để sự tiếp ứng và lên tiếng phản đối của thế giới bị giới hạn. Thật nhanh chóng trước khi quốc tế và Hoa Kỳ can thiệp, Bắc Kinh sẽ dứt điểm, tê liệt hóa toàn bộ truyền thông và đầu nảo chỉ huy quân sự của CSVN. Những vùng tự trị sẽ được thành lập. Một chính quyền bù nhìn hoàn toàn thân Trung Quốc sẽ trình diện. Từ đây vĩnh viễn sức đề kháng của dân tộc Việt Nam sẽ bị triệt tiêu...
Image
Chiến tranh biên giới Việt-Trung năm 1979
Dưới đây thêm phần tài liệu với bài viết đăng trên Bản Tin TĐV tháng 1-2010

CHÚNG TA PHẢI LÀM GÌ KHI CHIẾN TRANH
VIỆT-TRUNG BÙNG NỔ


XUNG ĐỘT TRONG BANG GIAO VIỆT-TRUNG HIỆN NAY
Trong bang giao giữa Việt Nam và Trung Quốc, mặc dù hai chính quyền luôn đề cao 16 Chữ Vàng: "Láng Giềng Hữu Nghị, Hợp Tác Toàn Diện, Ổn Định Lâu Dài, Hướng Đến Tương Lai" và 4 Tốt: "Bạn Bè Tốt, Láng Giềng Tốt, Đồng Chí Tốt, Đối Tác Tốt". Nhưng đây quả thực là “đồng sàng dị mộng”. Trung Quốc đang ôm ấp một giấc mộng đẹp: Giấc mộng Đại Hán.

Trong giấc mộng này, các dân tộc Mãn, Mông, Hồi, Tạng sẽ đời đời lệ thuộc Trung Quốc và sẽ bị Hán hoá trong vòng vài thế hệ. Các dân tộc khác chung quanh Đại Hán, mà quan trọng và gần gũi nhất là Việt Nam, sẽ trở thành Phiên Thuộc. Việt Nam và các quốc gia khác ở Đông Nam Á-Châu và Nam Á-Châu sẽ là phên dậu, thành lũy bảo vệ Trung Nguyên.

Trong khi đó giấc mộng của CSVN là gì? CSVN mộng một sự ổn định lâu bền, duy trì quyền lực độc tôn của Đảng CS. Vơ vét làm giàu cho bản thân và gia đình. Kéo dài sự cai trị của chế độ càng lâu càng tốt. Sự nhu nhược và thụ động thờ ơ với thời cuộc của người dân trong nước cũng là niềm mong mõi của chính quyền CSVN... Mộng đẹp của Trung Quốc và của đảng cầm quyền Việt Nam cũng chính là cơn ác mộng hãi hùng của dân tộc Việt Nam!

Vì Trung Quốc và CSVN theo đuổi hai giấc mộng cho hai quyền lợi khác nhau nên không tránh khỏi xung đột. Trung Quốc muốn Việt Nam phải hoàn toàn lệ thuộc từ kinh tế, chính trị đến an ninh khu vực nên áp lực CSVN về mọi mặt. Trước những chuyến công du quan trọng, các lãnh đạo CSVN thường khi phải đi chầu tại Bắc Kinh, báo cáo mục đích chuyến đi và đường lối của đảng CSVN. Xác định mối tương quan trung thành và hữu nghị với đảng CS Trung Quốc.

Để lấy lòng Trung Quốc và để tạo "ổn định chính trị", những ai lên tiếng phản đối Trung Quốc từ vấn đề lãnh thổ đến lãnh hải, từ Bauxite Cao Nguyên đến an ninh nội địa... đều bị đàn áp bắt bớ và đem ra toà xét xử với những bản án tiền chế nặng nề như từ trước đến nay mọi người đều rõ. Nhưng càng ngày Trung Quốc càng tỏ ra lấn lướt và bộc lộ dã tâm khống chế toàn diện. Tham vọng quá đáng và thái độ khinh miệt của Trung Quốc đối với Việt Nam làm CSVN ngày càng lộ vẽ bất mãn.

Mặc dù phải chìu lòng Trung Quốc về mọi phương diện nhưng gần đây, CSVN bắt đầu lên tiếng phản đối. CSVN đã "dám" xác nhận Hoàng Sa là của Việt Nam qua việc thành lập "Ủy Ban Nhân Dân huyện đảo Hoàng Sa" (trước đây thủ tướng CSVN Phạm Văn Đồng xác nhận Hoàng Sa thuộc về Trung Quốc). CSVN đã "dám" phản đối Trung Quốc tập trận tại Biển Đông, đã "dám" than phiền việc Trung Quốc cướp bóc và đánh đập ngư dân Việt Nam... Gần đây CSVN đã thành lập “Lực Lượng Dân Quân Bảo Vệ Biển”, CSVN ký kết mua tàu ngầm tối tân của Nga Sô trị gía nhiều tỷ đô la. Các tàu chiến Hoa Kỳ viếng thăm VN và gặp gở cấp cao về Quốc Phòng...

Tại sao CSVN "can đảm" quá vậy? Lòng yêu nước trong những người Cộng Sản vượt thắng lòng ích kỷ chỉ biết bảo vệ chế độ và lòng tham vơ vét vô tận cho bản thân và gia đình? Hay là "Con giun xéo lắm cũng oằn"?...Hoàn toàn không phải!CSVN đủ kiến thức nhận định tình hình và đang lo sợ chế độ bị sụp đổ, CSVN biết lòng dân đang phẩn nộ và sẳn sàng đoàn kết đứng lên chống lại bao nỗi bất công đầy dẫy trong xã hội. CSVN thừa biết người dân nghĩ gì trước thái độ nhu nhược của đảng cầm quyền trước giặc Tàu Ô. Họ biết rõ lòng ái quốc luôn luôn tiềm tàng trong tâm khảm mọi người con dân nước Việt. Họ cũng biết rõ càng đàn áp, lòng yêu nước càng mạnh mẽ thêm lên. Đó là tất cả những lý do CSVN phải liều lĩnh can ngăn và phản đối Trung Quốc! CSVN đang đu dây giữa lòng yêu nước của toàn dân và mưu đồ bành trướng Đại Hán. CSVN đang nổ lực xoa dịu sự bực mình, khó chịu của người thầy và cũng là "đồng chí" đã ban tặng 16 chữ Vàng. Mâu thuẫn càng chồng chất, việc dạy cho Việt Nam một "Bài Học Thứ Nhì" càng khó tránh khỏi. Không khó tìm những website Trung Quốc có những bài tham luận chống Việt Nam nẩy lửa của những nhân vật chính trị và quân sự nổi tiếng của Trung Quốc. Những kế hoạch công khai hô hào tấn đánh Việt Nam!...
CHÚNG TA PHẢI LÀM GÌ MỘT KHI TRUNG QUỐC TẤN CÔNG VIỆT-NAM?
Đây là một câu hỏi khó cho người Việt Nam có lòng với quê hương từ quốc nội ra đến hải ngoại và cũng là câu hỏi khó cho các tổ chức đấu tranh. Mục tiêu của chúng ta là tranh đấu cho Tự Do và Dân Chủ cho toàn dân Việt. Đối tượng của chúng ta là đảng CSVN. Nhưng một khi Trung Quốc khơi mào chiến tranh và đảng CSVN kêu gọi mọi người dân Việt phải tham gia bảo vệ Tổ Quốc! Chúng ta sẽ làm thế nào?

Trong sự tuyên truyền và chuẩn bị của CSVN, sẽ chỉ có một lựa chọn duy nhất để bảo vệ Tổ Quốc và chủ quyền là toàn dân đứng dưới sự lãnh đạo của đảng CSVN!!! Đây là sự áp đặt và lợi dụng lòng ái quốc của toàn dân. CSVN rất tự tin là lòng dân nằm về phía họ. Thực tế sẽ hoàn toàn khác hẳn. CSVN rõ ràng không được lòng dân! Sau nhiều thập niên độc tài, đàn áp và triệt tiêu lòng ái quốc của người dân, CSVN rất khó huy động khi cấn đến. Sẽ không có sự đoàn kết dân tộc như đảng CSVN mong muốn mà khi ấy sẽ có ba khuynh hướng tiêu biểu từ quốc nội ra đến hải ngoại:

1. Khuynh Hướng Hưởng Ứng: Những người theo khuynh hướng này sẽ hưởng ứng lời kêu gọi của đảng CSVN cống hiến tài lực, vật lực và nhân lực, tích cực xông ra chiến trường bảo vệ Tổ Quốc. CSVN sẽ kích động lòng yêu nước của toàn dân bằng những bài học lịch sử chống ngoại xâm, bằng những bài ca hùng ca, bằng những bài viết kích động lòng người một lòng một dạ chống bọn Bành Trướng Bắc Kinh, chống bọn Trung Quốc Xâm Lược... Cả một bộ máy tuyên truyền trong tay đảng CSVN sẽ mở hết công suất ngày đêm kêu gọi tinh thần hy sinh của toàn dân đứng lên chống giặc ngoại xâm.

Hậu quả: Cho dù chính quyền CSVN bằng mọi tiềm năng dân tộc giữ gìn được nước nhưng quốc gia sẽ kiệt quệ trong một thời gian dài. Điều quan trọng và bất hạnh nhất cho dân tộc là đất nước vẫn tiếp tục nằm dưới ách độc tài toàn trị của đảng CSVN.

2. Khuynh Hướng Thụ Động: Tương tự năm 1979 khi Trung Quốc dạy cho Việt Nam bài học lần thứ nhất. Hầu hết những người Việt Nam theo khuynh hướng này đều chán ngán sự cai trị của đảng CSVN nên hoàn toàn thụ động, phó mặc cho "vận nước nổi trôi". Họ không muốn Trung Quốc chiến thắng và áp đặt ách cai trị lên dân tộc Việt Nam bằng một chính quyền Việt Nam bù nhìn! Nhưng họ cũng không tha thiết mong mõi chính quyền do đảng CSVN lãnh đạo chiến thắng trong cuộc tương tranh giữa hai thể chế độc tài và tàn hại ngang nhau.

Hậu quả: Đất nước có thể lọt vào tay Trung Quốc. Một chính quyền bù nhìn có thể được dựng lên. Chính quyền này sẽ là công cụ cho ngoại bang. Biên cương và mọi quyền lợi dân tộc sẽ lần hồi mai một.

3. Khuynh Hướng Dân Tộc: Đây sẽ là động cơ chính bảo vệ đất nước tránh họa ngoại xâm. Đây cũng là khuynh hướng chính đáng nhất có thể thay đổi chế độ Độc-Tài Đảng-Trị bằng chế độ Dân-Chủ Tự-Do. Những người theo khuynh hướng này sẽ kêu gọi quốc tế can thiệp bảo vệ sinh mạng người dân vô tội. Những tổ chức đấu tranh và nhân quyền trong và ngoài cộng đồng người Việt sẽ vận động chính phủ các quốc gia Dân-Chủ Tự-Do trên thế giới, áp lực Trung Quốc ngưng các cuộc tấn công quân sự và buộc chính quyền CS Việt Nam phải chấp nhận chính thể Đa-Nguyên. Đặt nền tảng quốc gia trên cơ chế Dân Chủ Pháp Trị và tổ chức bầu cử Quốc Hội Lập Hiến có quốc tế giám sát.

Trên thực tế, các quốc gia dân chủ trên thế giới không bao giờ tán đồng và hổ trợ các chính thể độc tài, độc đảng như chế độ CSVN, Bắc Hàn hoặc Cuba. Những hoạt động quốc tế trợ giúp dù có chỉ thuần là trợ giúp nhân đạo hay nhằm mục đích giúp đở các nước Cộng Sản độc tài còn sót lại trên thế giới phát triển. Có tiến bộ và phát triển hy vọng dân chủ sẽ được cải thiện hơn, đời sống người dân sẽ được ấm no hạnh phúc hơn...

Bỏ ra ngoài sự tuyên truyền một chiều của giới lãnh đạo CS, chẳng hạn như "Việt Nam được kính nể khắp năm Châu" v..v...không một quốc gia dân chủ nào trên thế giới thật lòng kính trọng một chính quyền độc tài không do dân bầu lên. Không một quốc gia nào thành tâm muốn giúp cho các chính quyền Cộng Sản tiếp tục cai trị đất nước một cách lạc hậu và vô trách nhiệm như ở Việt Nam hiện nay.

Một chính quyền của dân, do dân, vì dân phải được chính người dân tín nhiệm và trực tiếp bầu cử bằng chính lá phiếu của mình. Chính quyền đó mới được quốc tế thực lòng yểm trợ và kính nể.

Kết luận:

Áp dụng thành công Khuynh Hướng Dân Tộc sẽ là thành tựu to lớn nhất của dân tộc Việt Nam. Sau hàng trăm năm bị đô hộ, chiến tranh và Cộng Sản thuộc, mọi người sẽ góp phần xây dựng đất nước bằng sức cần lao và trí tuệ của mình. Để tránh bị ngoại xâm, Việt Nam phải là một quốc gia độc lập hùng cường, có một định chế Trung Lập Pháp Lý được quốc tế công nhận và cam kết bảo vệ. Nền hoà bình khi đó mới thực sự vững bền và trường cữu.

Quốc Phùng.
(Tuần báo Tự Do Dân Bản / LMDCVN / Phát hành tuần lể 04.06.2010)

Posted: Tue Jun 15, 2010 2:43 am
by tiendung
Chân chính, tử tế, trong sáng

T.S. Nguyễn Ðình Thắng

Image
Hình minh họa. (Hình: Getty Images)

Một tập thể chỉ vững bền khi thiết lập và bảo tồn được mối quan hệ lành mạnh giữa các thành viên. Tập thể có thể là một nhóm, một tổ chức, một cộng đồng hay một xã hội.

Quan hệ lành mạnh dựa trên niềm tin ngày càng tăng trưởng giữa đôi bên. Ðiều này không phải ai cũng hiểu. Thậm chí có người đeo đuổi lý tưởng xây dựng xã hội tốt lành nhưng thường xuyên phá hủy niềm tin bằng thái độ thiếu chân chính, thiếu tử tế, thiếu trong sáng. Họ như người cố công xây căn nhà vững chắc nhưng luôn tay đục khoét nền móng, cột kèo.

Ðó là cung cách của các đảng viên Cộng Sản. Họ nêu cao lý tưởng đại đồng nhưng luôn luôn sống trong sự lừa dối, giả dạng. Họ gọi đó là đạo đức cách mạng.

Ở thời kỳ còn hoạt động trong bóng tối, họ trình diện, qua sinh hoạt ngoại vi của đảng, như người vô tư, độc lập, để làm quen, lôi kéo người khác theo mình. Họ bội tín từng giờ từng phút vì người khác chân tình còn mình thì đeo mặt nạ. Căn bản của mối quan hệ không phải là niềm tin mà là sự giả dối ngay từ thuở đầu. Một tổ chức sinh hoạt như vậy thì sẽ gồm những ai?

Nó sẽ chỉ giữ lại những người thiếu sáng suốt nên tiếp tục bị ru ngủ.

Nó sẽ chỉ giữ lại những người thiếu bản lãnh nên dù thấy vấn đề nhưng không dám rời bỏ.

Nó sẽ chỉ giữ lại những người đồng lõa vì cuồng tín hoặc vì quyền lợi cá nhân.

Tiến trình tự nhiên của một tổ chức như vậy là sẽ chỉ còn trật lại những ai giống lông, giống cánh và biến dần thành tổ chức băng đảng. Nhiều cuộc nghiên cứu cho thấy rằng một tổ chức như vậy càng phát triển thì nó càng hủy hoại tập thể rộng lớn hơn ở chung quanh. Băng đảng mafia lộng hành ở Chicago thời xưa đã đục khoét nền móng pháp trị ở thành phố này. Sự thành công của đảng cộng sản ở Việt Nam là thảm bại của cả dân tộc.

Thế nhưng không phải ai cũng học được bài học này. Có người tranh đấu cho sự tốt lành của đất nước nhưng đang đi theo vết xe đổ ấy.

Chẳng hạn có thành viên của tổ chức chính trị trong hàng chục năm phủ nhận thân thế khi sinh hoạt trong cộng đồng, khi gia nhập các đoàn thể quần chúng, cho đến một ngày họ xuất hiện như phát ngôn viên, nhân vật chủ chốt, thành viên kỳ cựu của tổ chức. Họ cho như vậy là tinh vi, khéo léo, hay ho. Thực ra họ bội tín hàng ngày hàng giờ, và hàng giờ hàng ngày họ phá hủy niềm tin và đục khoét nền móng của sự lành mạnh trong cộng đồng, trong xã hội; họ đang đẩy lùi triển vọng dân chủ cho Việt Nam và lũng đoạn nền dân chủ ở đất nước cưu mang; họ đang góp phần biến tổ chức của họ thành băng đảng.

Họ mất dần đi ý thức về đạo đức nhân bản. Thay vì xây dựng và trân quý con người, họ dùng người như phương tiện để đạt mục đích. Qua công tác can thiệp cho đồng bào xin tị nạn do cuộc đàn áp đang diễn ra ở Việt Nam, tôi gặp những người có lòng đã bị chính tổ chức của họ sử dụng như vật tế thần. Sự thiếu chân chính ngày càng chồng chất đã dẫn đến những hành động nhẫn tâm, thiếu đạo đức.

Có một người trẻ giải thích với tôi rằng có người sẵn sàng hy sinh vì đại cuộc. Ðúng vậy. Tuy nhiên, điều này khác với tình trạng nhân danh đại cuộc để hy sinh người khác.

Có một người trẻ khác lại lập luận rằng có những việc phải bảo mật nên không thể tiết lộ thân thế. Bảo mật khác với lừa néo để lôi kéo. Trong trường hợp thân thế của mình phải bảo mật vì nhu cầu công tác thì hãy tập trung vào công tác mật ấy, chứ đừng liên lạc, móc nối và chiêu dụ người khác dưới một lớp ngụy trang. Việc phát triển tổ chức không cần đến điệp viên.

Những người thực tâm với tiền đồ của dân tộc, với tương lai của cộng đồng và với nền dân chủ của xã hội nơi mình đang sinh sống cần tâm niệm một điều: Tuyệt đối đòi hỏi và bảo vệ sự chân chính, tử tế, trong sáng trong quan hệ giữa con người với nhau.

(Nguồn: Mạch Sống Online)

Posted: Fri Jun 18, 2010 3:22 am
by caolynh
Yêu nước lén lút buôn người công khai

Ngô Nhân Dụng

Image
Hình minh họa. (Hình: tumasic.tk)

Trên diễn đàn Bô Xít Việt Nam (boxitvn) một bạn trẻ than rằng anh đang phải “yêu nước lén lút.” Yêu nước, vì anh tham gia một phong trào nhắc nhở đồng bào về chủ quyền của nước ta trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Lén lút, vì yêu nước mà không dám đứng dậy công khai bầy tỏ lòng yêu nước trước mặt mọi người!

Các bạn trẻ trong phong trào lén lút yêu nước đi viết khẩu hiệu trên tường, ở rất nhiều nơi trong nước Việt Nam. Khẩu hiệu chỉ có sáu chữ viết tắt, “HS - TS - VN!” Ai cũng hiểu 6 chữ đó nói gì: Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam!

Khi viết khẩu hiệu là muốn hô hào cho người khác nghe hoặc thấy ý kiến của mình. Và muốn kêu gọi mọi người đồng ý đồng tình với mình, cùng phổ biến lại ý kiến đó cho nhiêu người biết! Khẩu hiệu mà phải viết tắt, không dám viết đầy đủ, cũng giống như muốn nói một điều gì nhưng miệng câm, hoặc bị bịt miệng, không nói lên được. Do đó, phải khua tay chân, làm dáng điệu, nháy mắt, lúc lắc cái đầu, cho người khác hiểu. Cả nước Việt Nam đang bị bịt miệng không được nói lớn tiếng một câu: “Hoàng Sa, Trường Sa là của nước chúng ta!” Vì vậy, các bạn trẻ Việt Nam phải viết tắt, phải dùng ngôn ngữ của những người câm!

Người viết đưa tin lên mạng boxitvn tên là Trịnh Hưng. Anh gửi lên mạng nhiều tấm hình chụp các bức tường, những cây cột chân cầu đã viết khẩu hiệu “HS - TS - VN!” bằng chữ lớn, xuất hiện ở thành phố Nam Ðịnh. Anh hãnh diện báo tin người dân trong tỉnh anh đã nhập cuộc, tham dự phong trào viết khẩu hiệu này. Nhờ các thanh niên yêu nước lén lút đó, từ nay, Nam Ðịnh có thể đứng ngang với các tỉnh đi trước như Ðồng Nai, Bình Dương, Sa Ðéc, Trà Vinh, Cần Thơ, Bình Thuận, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, và Ninh Bình.

Nhưng các bạn trẻ ở thành phố Nam Ðịnh, cũng như nơi khác, đều phải đi viết các khẩu hiệu “HS - TS - VN!” vào ban đêm! Tại sao không dám viết công khai giữa ban ngày? Ðúng là muốn yêu nước cũng phải yêu lén lút; giống như các cô cậu nhân tình trẻ đang bị cha mẹ cấm đoán! Cha mẹ nào cấm đoán không cho các thanh niên được tỏ lòng yêu nước?

Chỉ có đảng Cộng Sản Việt Nam! Vì bản chất của các chế độ Cộng Sản là độc quyền. Ngay khi cướp được chính quyền, đảng đã nắm giữ các độc quyền kinh tế, độc quyền chính trị, viết vào hiến pháp rằng đảng độc quyền lãnh đạo cả nhà nước lẫn xã hội. Cho nên đảng cũng chiếm độc quyền yêu nước. Thời 1945 bao nhiêu người Việt Nam yêu nước đã bị đảng Cộng Sản giết, vì họ sợ mất độc quyền! Các thanh niên Việt Nam bây giờ không dám yêu nước, cũng vì sợ vi phạm độc quyền của đảng, nếu không mất mạng thì cũng mất việc làm! Trịnh Hưng thú nhận ai cũng bị con “vi rút sợ hãi” nó nhập trong người, yêu nước cũng không dám nói công khai “nếu không được nhà nước cho phép!” Trịnh Hưng viết: “...Phần lớn mọi người còn ngần ngại nếu không nói là e sợ, không dám bày tỏ lòng yêu nước của mình vì những mối đe dọa lúc nào cũng quanh quẩn ở bên ta.”

Ai đe dọa? Chỉ có đảng Cộng Sản Việt Nam, những người đang nắm toàn quyền cai trị! Tại sao đảng Cộng Sản lại cấm người ta bầy tỏ lòng yêu nước? Vì họ sợ dụng tới Trung Cộng, một chế độ “vừa là đồng chí lại là anh em” của đảng Cộng Sản!

Trong cuốn tự truyện Ðêm Giữa Ban Ngày, nhà văn Vũ Thư Hiên kể chuyện thi sĩ Chế Lan Viên làm thơ lúc nào cũng đúng lập trường mà các lãnh tụ đảng đã phát biểu. Ông nêu thí dụ một câu nói của Lê Duẩn, trong một bài học tập nội bộ: “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc, cho các nước xã hội chủ nghĩa...” (Văn Nghệ xuất bản, năm 1997 trang 422). Các thanh niên Việt Nam bây giờ không nhớ bài học đó, quên mất rằng cha, mẹ, anh, chị họ đã từng đổ máu cho Liên Xô, Trung Quốc. Nay nước Cộng Sản Liên Xô biến mất trên bản đồ thế giới, chỉ còn lại nước Cộng Hòa Nga. Nhưng Trung Quốc thì vẫn còn chế độ Cộng Sản, vẫn là đồng chí, anh em với nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam! Cho nên, họ cấm người Việt Nam không được hô lớn công khai khẩu hiệu: “Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam!”

Các bạn thanh niên Việt Nam phải bày tỏ lòng yêu nước một cách lén lút; nhưng nhà nước Cộng Sản thì lại công khai làm một công việc khác mà đáng lẽ ai biết liêm sỉ thì cũng tránh không làm. Ðó là việc buôn người.

Bộ Ngoại Giao Mỹ mới công bố bản phúc trình về nạn buôn người trên thế giới, vẫn xếp nhà nước Việt Nam vào “loại 2” tức là thuộc loại những nước cần được theo dõi. Nhà nước Cộng Sản Việt Nam đã được xếp trong danh sách này từ 4 năm qua. Bản phúc trình của Bộ Ngoại Giao Mỹ xác nhận nhiều người lao động Việt Nam được các công ty môi giới đưa ra nước ngoài đã phải làm việc như các nô lệ. Nhiều phụ nữ Việt Nam, trong đó có cả các em gái vị thành niên vẫn được đưa qua các ổ mãi dâm ở các nước như Cam Phu Chia, Trung Quốc và Lào; sau đó nhiều người lại bị bán lại lần nữa qua Mã lai Á, Thái Lan, vân vân.

Nhưng Dân Biểu Chris Smith, Cộng Hòa, tiểu bang New Jersey, đã lên tiếng chỉ trích Bộ Ngoại Giao Mỹ còn sai lầm, khi xếp ba nước Việt Nam, Ấn Ðộ và Trung Quốc vào “loại 2” (Tier 2) trong khi đáng lẽ phải xếp các nước này vào Loại 3 (Tier 3), vì chính quyền ở các nước đó chưa có những luật lệ nghiêm ngặt để đề phòng, ngăn chặn nạn buôn người và bảo vệ các nạn nhân.

Ông Chris Smith là một tác giả của đạo Luật Chống Nạn Buôn Người mà Quốc Hội Mỹ thông qua năm năm 2000, sau đó ông lại đề nghị thêm 2 đạo luật khác để thi hành đạo luật trên. Hai đạo luật này nhắm giúp thúc đẩy việc truy tố các thủ phạm buôn người, và nhắm bảo vệ các nạn nhân không bị trả thù khi họ đứng ra tố cáo. Vị dân biểu nổi tiếng về các đạo luật dân quyền và nhân quyền này nói rằng chính quyền cộng sản Việt Nam đáng thuộc “Loại 2” để “theo dõi đặc biệt” vì “Chúng ta có chứng cớ vững chắc cho thấy xứ này là một nguồn gốc của công việc buôn người.”

Ông Smith tố cáo chính quyền Cộng Sản Việt Nam là chủ nhân chính thức hoặc bán chính thức các công ty đưa người Việt Nam ra làm việc ở nước ngoài, mà trong đó có những người bị bắt làm việc như nô lệ, cũng như các phụ nữ bị buộc phải làm nghề bán thân. Ngoài ra, ông tố cáo chính quyền Cộng Sản Việt Nam đã bị tòa án ở nhiều nước kết tội trong nhiều vụ kiện do các nạn nhân bị buôn người khởi xướng, hoặc do các tổ chức vô vị lợi giúp họ; nhưng chính quyền Cộng Sản không bao giờ chịu nộp tiền phạt. Trong số những tổ chức đó có Boat People SOS và tổ chức Bảo Vệ Người Lao Ðộng Việt Nam; đã hoạt động có hiệu quả trong nhiều vụ ở Trung Ðông và Malaysia, để bênh vực và bảo vệ các nạn nhân bị Cộng Sản Việt Nam đem bán cho các chủ nhân nước ngoài.

Ông Smith nói cho công chúng và báo chí Mỹ nghe những điều mà người Việt Nam đã biết từ lâu. Ðằng sau các tổ chức gọi là xuất khẩu lao động, đằng sau các công ty làm môi giới cho phụ nữ Việt Nam lấy chồng ngoại quốc, đều là những cán bộ Cộng Sản. Có thể nói công việc “buôn người” để lấy vàng và đô la Mỹ đã bắt đầu từ ngay sau năm 1975! Khi đó, các cán bộ Cộng Sản tổ chức cho nhiều người vượt biên, đặc biệt là các người Việt gốc Hoa giàu có. Mỗi một mạng người muốn trốn thoát chế độ Cộng Sản phải chịu một cái giá trả bằng vàng, sau trả bằng đô la vì đồng tiền Mỹ nhẹ, dễ cất giấu hơn! Cả một phong trào vượt biên bán chính thức là một chiến dịch buôn người khổng lồ! Chính ông Nguyễn Tấn Dũng đã làm nên tài sản lớn đầu tiên nhờ các dịch vụ buôn người đó. Ðảng Cộng Sản tiếp tục tổ chức cho người Việt ra ngoài làm lao động hay lấy chồng ngoại quốc để kiếm lời, đó cũng chỉ là tiếp nối công tác kinh doanh người vượt biển ngày xưa.

Công việc kinh doanh buôn người của đảng Cộng Sản thực hiện được, kiếm tiền đáng kể, từ năm 1975 đến nay đều nhờ vào chế độ giành độc quyền chính trị cho đảng Cộng Sản. Nếu không chiếm “độc quyền lãnh đạo” thì không chính quyền nào trên thế giới có thể kinh doanh buôn người kiếm lợi trên quy mô to lớn trong nhiều năm trời như vậy. Cho nên dù ông Dân Biểu Smith hoặc Bộ Ngoại Giao Mỹ có chỉ trích mạnh mẽ tới đâu, đảng Cộng Sản Việt Nam cũng không thể nhả món lời to lớn đó ra khỏi miệng được! Trừ khi chính người Việt Nam đứng lên gây một phong trào chống nạn buôn người ngay trong đất nước mình. Nếu một phong trào như thế được gây nên, chắc chắn cả thế giới sẽ hỗ trợ, và người Việt Nam ở nước ngoài sẽ hết lòng hỗ trợ. Vì tình máu mủ đồng bào, không ai không cảm thấy xấu hổ trước cảnh các công nhân Việt Nam bị bạc đãi ở Mã Lai Á, Ðài Loan; hay các phụ nữ Việt Nam bị đem bầy hàng bán ở Thái Lan, Singapore!

Khi nào rất nhiều người dân Việt Nam ý thức được nỗi tủi hổ đó, chính chúng ta sẽ cùng nhau chấm dứt nạn buôn người ở nước ta. Cũng như khi các bạn thanh niên cảm thấy tủi hổ vì không được bầy tỏ lòng yêu nước. Trên mạng lưới boxit.vn, Trịnh Hưng bấy tỏ lòng thán phục với những người bạn trẻ khác đã lén lút viết những chữ “HS - TS - VN” trên khắp nước. Anh vinh dự báo tin tỉnh Nam Ðịnh đã tham gia phong trào này, nhưng anh thú nhận: “Tôi nghe các bạn nói là phải ‘yêu nước lén lút’ mà cảm thấy tủi hổ!”

Không lẽ dân tộc Việt Nam cứ chấp nhận chịu sống trong tủi hổ mãi như vậy?

Posted: Sat Jun 19, 2010 1:13 am
by vuphong
Bắc Triều Tiên sau khi Kim ra đi



Người con trai út của Kim Jong-il là nhân vật được được ưa chuộng để kế nghiệp ông. Nhưng nhân vật triển vọng này của ông khi được đưa lên sẽ là một sự tối tăm, trừ khi có Trung Quốc can thiệp vào. Nền cai trị của Chủ tịch Kim Jong-il đang đi đến hồi kết. “Kim chỉ nam của thế kỷ 21",”Người canh giữ hành tinh của chúng ta” đang già, yếu đi và rõ ràng mệt mỏi.

Nền kinh tế của ông, dù được một thời gian ngắn ngủi nhẹ nhàng vào năm 2008 đã đang tiếp tục đi xuống. Các thần dân của ông thực sự kính trọng người cha của ông, nhân vật sáng lập nhà nước Bắc Triều Tiên, nhưng lai khinh thường ông. Kế hoạch đưa người con trai 27 tuổi của Kim lên ngai vàng trông giống như một ván bài bấp bênh.
Vậy điều gì sẽ xảy ra ở Công Hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên khi Kim ra khỏi hiện trường ? Đáng tiếc là chúng ta không thể tiên đoán được nhiều lắm. Chính trị của Bình Nhưỡng là một loại phức tạp, kiểu Đế Quốc La mã ở phương Đông (Byzantine) luôn dấu diếm và không thể đoán trước. Dù sao chúng ta cũng thoáng thấy được những gì đang xảy ra trong tháng này khi Quốc Hội Nhân dân tối cao, một cơ quan lập pháp chỉ có hình thức thường nhóm họp mỗi năm một lần, đã tổ chức một phiên họp bổ sung đột xuất. Tại cuộc họp bổ sung này, Jang Song Thaek, người em rể của Kim được đưa lên làm phó chủ tịch Ủy ban Quốc phòng đầy quyền lực.

Rõ ràng là ông Kim cần một người thân thích đáng tin, chồng người em gái út của mình, làm nhiếp chính cho đến khi Kin Jong-Un, đứa con trai út-chính thức được phê chuẩn của ông có thể sẵn sàng để trở thành thành viên thứ ba của gia đình cai trị chế độ. Kế hoạch (chuyển quyền) thoạt tiên có vẻ như đã chạy sai đường, nhưng việc đưa Jang lên cho thấy rằng Kim Jong-il đã có thể lèo lái chương trình kế vị của ông trở lại đúng hướng.

Ngay bây giờ Jong-un đã có gió thổi cho đôi cánh của mình. Một chế độ, mặc dù không chính thức là một chế độ quân chủ, có được nguồn gốc hợp pháp của mình từ gia đình Kim. Điều này có nghĩa là quân đội – tính đến nay là khối mạnh nhất ở Bình Nhưỡng - tự nhiên sẽ phải nhìn Kim như một vị chủ tướng. Hơn nữa, Triều Tiên lại có truyền thống về một người cai trị có sức mạnh, và trên báo đảo này, thật không có ai mạnh hơn những người trong gia đình Kim. Ngoài ra, ngay chính sự bất ổn của chế độ cũng đã có thể giúp cho chàng thanh niên Jong-un. Các viên chức chỉ huy, những người có thể năm lấy tình hình nếu họ muốn, sẽ do dự khi phải chịu trách nhiệm một cách chính thức cho một nền kinh tế thất bại và một xã hội tan rã.

Tuy nhiên, bất chấp tất cả những lợi thế mà Kim Jong-un được hưởng, vẫn có những lực lượng mạnh mẽ chống lại anh ta. Chỉ riêng một việc là, Kim Il-sung, người đã qua đời vào tháng 7 năm 1994, từng bắt đầu việc nâng quyền cho con trai, Jong-il, mãi từ những năm đầu thập niên 1960. Trong khi, Jong-il đã chỉ bỏ ra một vài năm để cho Jong-un sẵn sàng cho vị trí cao nhất. Nếu như Jong-il biến mất hoặc chết sớm, như nhiều người đang mong mỏi và hy vọng – thì rõ ràng là Jong-un sẽ không có đủ thời gian để củng cố vị trí của mình tại Bình Nhưỡng.

Jong-un có thể không có nhiều thời gian trong bất cứ sự cố nào. Chế độ đã từng hứa với người dân rằng đến năm 2012 đất nước của họ sẽ là một quốc gia “mạnh mẽ và thịnh vượng”. Hiện nay, những công dân đói khổ của Bắc Triều Tiên đã trở nên quen thuộc với những khoe khoang hoang tưởng với chính sách tuyên truyền của gia đình Kim, nhưng khẳng định này lại nhằm một dịp quan trọng đặc biệt và không dễ quên được. Tại sao? Vì trong năm 2012, chế độ sẽ kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Kim Il-sung.

Nói tóm lại, Kim Jong-il đã tự mình tạo ra một chỉ dấu khó có thể bỏ qua được. Đó có thể là một sai lầm bởi vì không có cách nào để hình dung được việc ông ta có thể thực hiện tốt đưọc lời hứa long trọng ấy. Sáng kiến “cải cách” kinh tế quan trọng của ông hồi năm ngoái, một tiến trình phi tiền tệ hóa sai lầm được đưa ra ngày 30 tháng 11, dẫn đến cuộc bạo loạn chống lại chính phủ và sự việc đội hành quyết xử tử Pak Nam Gi, viên chức phụ trách kế hoạch bị thất bại. Kim đã có thể tái lập trật tự, nhưng những gián đoạn đã rõ ràng chứng minh sự thiếu ủng hộ cho chế độ của mình và sụ suy thoái hiệu quả về cách cai trị của ông.

Đó không phải là những tin tốt cho Kim Jong-un, một ứng cử viên chưa kinh qua thử thách để kế vị. Người được cho là đã đưọc thừa hưởng “gen của nhà độc tài” và chắc chắn rằng cha anh ta đã cung cấp cho anh những bài học về các loại đối xử tàn ác tiên tiến, những thoái thác quanh co và xử lý nước đôi. Tuy nhiên, dù sao những thử thách sẽ là gian nan đặc biệt là khi anh ta phải đối diện với chúng mà không có hậu thuẫn của cha mẹ.

Lúc nào cũng có hy vọng cho cậu con út Kim. Vào cuối năm 1994, it1 người nghĩ rằng Kim Jong-il có thể tồn tại mà không có cha của ông. Tuy nhiên, cuối cùng các tướng lãnh và các viên chức cao cấp đã tán thành đến việc chuyển giao di truyền đầu tiên của quyền lực trong một nhà nước cộng sản bằng cách tập hợp quanh Kim Jr. Nhưng có một khác biệt quan trọng giữa thời ấy và bây giờ. Trong tháng 10 năm 1994, chính quyền Clinton báo hiệu hỗ trợ cho sự liên tục của chế độ Kim bằng việc ký kết một Thỏa thuận Căn bản (Agreed Framework), một sự thu xếp bước đầu để đình chỉ chương trình hạt nhân của Bắc Triều Tiên.

Với nỗi bi quan gần như phổ biến ở Washington hiện nay về các ý định lâu dài của Bình Nhưỡng, chắc chính quyền Obama sẽ không đến để mà giải cứu Kim Jong-un trong một cung cách ấn tượng, hữu hình như thế. Hơn nữa, Ngay cả Tổng thống Hàn Quốc Lee Myung-bak, nếu có muốn, cũng không thể chấp thuận sự ủng hộ sau vụ đánh chìm khu trục hạm Cheonan vào ngày 26 tháng ba.

Điều đó đưa đến việc Trung Quốc là vị cứu tinh duy nhất của hoàng tộc Kim. Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã liên tục hỗ trợ Bắc Triều Tiên trong thập kỷ này. Có thể có những thất vọng lớn lao với Bình Nhưỡng trong giới hoạch định chính sách ở Bắc Kinh, nhưng không có sự đồng thuận nào về việc rút lại các ủng hộ cho một Bắc Triều Tiên của những người họ Kim.

Ngược lại, chúng ta có thể mong đợi Bắc Kinh và Bình Nhưỡng để giữ lại các mối liên kết mạnh mẽ của mình. Ngoài các lý do cảm tính cho các mối gắn bó tiếp tục, còn có những gắn bó mang tính xây dựng nữa. Gia đình Kim khiêu khích gây cho Nhật Bản mất ổn định, Hàn Quốc mất bình tĩnh và làm cho Hoa Kỳ cảm thấy phải chịu ơn Trung Quốc. Còn điều gì mà Trung Quốc không thích nào ? Hơn nữa, cả dân Trung Quốc và Bắc Triều Tiên đều đã từng xác định các nước phương Tây như là những trở ngại cho tham vọng lâu dài của họ.

Tại thời điểm này, chúng ta không biết các nhà hoạch định chính sách ở Bắc Kinh cảm thấy thế nào về Kim Jong-un, nhưng có những lý do để tin rằng họ sẽ không phản đối việc anh ta sẽ là nhà lãnh đạo kế tiếp của Bắc Triều Tiên. Trong tất cả các xác xuất, anh ta sẽ là một nhà lãnh đạo yếu và đặc biệt là sẽ thuộc vào Bắc Kinh.

Trong nhiều thập kỷ, Bắc Kinh đã vun trồng nên các quan chức Bắc Triều Tiên và Kim Jong-il đã định kỳ thanh lọc họ. Chức năng ấy ngày nay cứ tiếp tục và sẽ chỉ kết thúc khi ông ta bị mất quyền lực. Nhưng sau đó Bắc Kinh, đặc biệt là khi họ có được thế thượng phong, chắc chắn sẽ phải học cách sống với một ông Kim mới nhất: Kim Jong-un, khi ông đặt chân vào đôi giày nâng gót cho cao hơn của cha mình, dù có thể chỉ là một chàng bù nhìn. Nhưng sẽ là lý tưởng, từ quan điểm của Trung Quốc.

http://www.x-cafevn.org/node/525

Posted: Mon Jun 21, 2010 5:23 am
by vuphong
Hãy Biết Im Miệng

Bác sĩ Trần Xuân Ninh
Quyển sách “Tâm tư tổng thống Thiệu” của ông Nguyễn Tiến Hưng mới ra mắt được ít ngày thì đã khiến cho ông Châu Kim Nhân gửi thư phản đối và yêu cầu tác giả cải chính những chuyện sai lầm bịa đặt về mình. Ông Nguyễn Tiến Hưng là một người có bằng cấp ở Mỹ và từng là một tổng trưởng kể hoạch trẻ của cố tổng thống Thiệu. Ông Châu Kim Nhân cũng là một người bằng cấp nhưng già hơn, và nguyên là tổng trưởng kinh tế cũng thời ông Thiệu. Ông Hưng đã nhanh chóng viết thư giải thích. Cả hai vị là thuộc thành phần “đạo cao đức trọng”, vì cả hai đều làm lớn. Và như thế thì không biết tin ai.Vì ngay cả người thông minh như ông Cao Bá Quát ngày xưa khi đi điều tra cuộc tranh cãi giữa hai vị đại thần cũng chỉ có thể về trình lại với vua rằng bỉ (người này) thế này, thử (người kia) thế nọ, chứ không kết luận được.

Thực thế, ông Hưng đã trả lời rằng ông không biạ đặt về ông Nhân, mà đã chỉ “trích dịch nguyên ý” từ quyển sách “There to the bitter end” của Anne Blair viết theo lời kể của một ông tướng Úc tên là Sarong nay đã chết rồi. Bằng trả lời này, ông Nguyễn Tiến Hưng đã tránh được cái tội biạ đặt, nhưng không khẳng định được rằng những lời nói về ông Châu Kim Nhân là đúng hay sai, dù rằng đó là từ hai người ngoại quốc, mà một người đã chết. Còn người kia tuy là đàn bà và còn sống, nhưng cũng không thể tin là đã nói thật. Ông Hưng đã bào chữa rằng ông “nói có sách, mách có chứng”. Nhất là sách và chứng đây lại là sách và chứng ngoại quốc!

Cũng có người cho rằng ông Hưng là giáo sư đại học, và là người trong cuộc, cho nên có thể tin. Nhưng nghĩ thế cũng là vì không biết rằng trong cái nghề giáo sư và nghiên cứu ngay cả ở Mỹ này có nhiều loại người, và đa số cũng chỉ là sao tẩm chép sách, vì bị đòi hỏi bởi cái yêu cầu nghề nghiệp là publish or perish (viết sách hay là tiêu). Nói riêng trong lãnh vực chính trị xã hội, nhiều sách được viết ra không hẳn là sự thực, hay là nguyên lý, mà là để quảng bá những ý kiến phục vụ cho một chủ trương cần ảnh hưởng vào quần chúng. Ngoài ra thì ở nước Mỹ còn có những giảng sư hay giáo sư thỉnh giảng là những người từng giữ chức vụ ở các chính quyền ngoại quốc mà có thành tích hợp tác với Mỹ, hay nếu không thì cũng là những người chủ trương những quan niệm chính trị Mỹ, rồi vì thế mà phải lưu vong. Nói khác đi, cái chức giáo sư là một đãi ngộ chính trị. Vì những lý do trên nên mới có những nghiên cứu sinh như Độ Ngọc Bích ở đại học Hawai, rồi được thuê dạy tiếng Việt tại trung tâm ngôn ngữ đại học Yale và dịch tài liệu lịch sử, mà có người ba chớp ba nhoáng gọi là giáo sư ở Yale và hô hào gửi thư phản đối đại học Yale sau bài viết tào lao của đương sự, nhan đề “Một cách nhìn khác về tinh thần dân tộc” được phổ biến đi bởi chương trình Việt ngữ đài BBC.

Chuyện hai ông Châu Kim Nhân và Nguyễn Tiến Hưng do đó không thể biết đúng sai, và nếu có quan trọng thì chỉ quan trọng với ông Nhân, mà cá nhân bị xúc phạm, và hữu ích cho ông Hưng. Hữu ích để bán sách, vì câu chuyện ông Nhân dù sai hay đúng cũng là một trong nhiều mẩu chuyện kể là loại hậu trường chính trị có sức hấp dẫn ít nhiều đối với những người rảnh thì giờ, không có việc gì để làm hơn là đọc những “chuyện gẫu hậu trường chính trị” mà nhân vật là những quân nhân làm chính trị với những người cộng tác đủ hạng, trong đó có cả hai ông Hưng và Nhân, đã dẫn đến sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam

Cuốn sách này của ông Hưng, cũng như nhiều tác phẩm khác của những cấp chức chính quyền VNCH trước đây, đã chỉ có chung một mục đích là đổ tội sự sụp đổ miền Nam cho Mỹ, cho sự phản bội của Mỹ, để mà chạy tội cho mình. Chẳng ai không biết cái vai trò này của Mỹ. Cũng như không ai không biết rằng chỉ vì Gorbachev ngưng chính sách ủng hộ vô điều kiện các chư hầu cho mục tiêu bành trướng chủ nghĩa CS, và vì Liên sô sụp đổ, mà Cộng sản Việt Nam phải quay sang đổi mới, mở cửa ra ngoài. Bài học cho người Việt nam chỉ là nhìn cho ra bản chất những kế hoạch giúp đỡ hay phát triển, của ngoại quốc từ Tây sang Đông chẳng phải vì lòng thương xót, chẳng phải vì lý tưởng tự do dân chủ hay là tạo công bằng xã hội cho VN. Tiếc thay, cho tới nay, ít người làm chính trị thấy như thế và hành sử từ trên căn bản đó, nghĩa là lấy sức minh làm chính trong việc giải quyết những vấn đề của mình. Đa số những người này đã chỉ biết dưạ theo ngoại quốc, để mà gọi là “dùng” hay là “nương” sức người, nhưng thực sự là tay sai,vì nhắm mắt theo những chủ trương ngoại quốc hay dâng nạp tài nguyên nhân lực quốc gia cho ngoại bang như những lãnh đạo CS Việt nam, để được sự ủng hộ chính trị nhằm giữ quyền hành hay mong chiếm quyền hành.

Xem ra thì dù sao ông Nguyễn Văn Thiệu vẫn là người đáng mặt tổng thống nhất, vì biết lì, biết ngậm miệng cho nên tội nặng để mất miền Nam, nhưng cũng không ai bới ra làm gì. Còn như đại quan Nguyễn Tiến Hưng tuy là giáo sư đại học và là tiến sĩ, đã chỉ làm được có một việc mà người bình dân Việt nam không biết văn hoa kiểu cách, nói là “bới phân ra mà ngửi”.

Bác sĩ Trần Xuân Ninh
Ngày 14 tháng 6/2010

Posted: Tue Jun 22, 2010 5:28 am
by tiendung
Phẩm chất cuộc sống

Trần Bình Nam

Image
Một khu phố ở Queens, New York. (Hình: Getty Images)

“...Tổ chức xã hội càng máy móc tinh vi, sự thúc bách của cuộc sống càng mạnh, luật lệ ràng buộc càng nhiều, con người càng đánh mất bản chất nguyên thủy ‘nhân chi sơ tánh bản thiện’ và trở nên ít quan tâm đến đồng loại...”

Hôm 11 tháng 5 năm 2010 một bài báo do bà Tina Susman, phóng viên của tờ New York Times thuật lại chuyện một thanh niên tên là Hugo Alfredo Tale-Yax, 31 tuổi gốc Guatemala nằm chết bên lề đường ở quận Queens thuộc thành phố New York.

Chuyện xảy ra ngày 18 tháng 4 năm 2010. Theo tường trình của cảnh sát, ông Hugo Alfredo Tale-Yax từ nước Guatemala, Trung Mỹ di cư đến Hoa Kỳ cách đây 6 năm. Hôm 18 tháng 4 đang lang thang ngoài phố Queens trong một khu của người lao động ở có nhiều người qua lại, Tale-Yax thấy một người phụ nữ (không rõ gốc gác) và một người đàn ông cãi vã nhau. Máy ghi tự động trên đường phố (được thiết đặt sau vụ khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001) ghi người phụ nữ tóc nâu dài, mặc váy ngắn và một áo khoác ngắn có tay. Người đàn ông mặc sơ mi ngắn tay đầu đội một chiếc nón loại vải mềm không vành. Khi thấy người đàn ông hành hung người phụ nữ Hugo Tale-Yax nhảy vào bênh vực và bị người đàn ông dùng dao đâm vào ngực. Tale-Yax gục xuống trước cổng một cư xá.

Người đàn bà cũng như người đàn ông đâm Tale-Yax biến mất. Người ta nghi ngờ giữa 3 ba người có một quan hệ nào đó và câu chuyện còn nhiều khúc mắc, cảnh sát New York đang điều tra.

Nhưng phần câu chuyện cả thế giới biết và bàn tán là chuyện ông Hugo Alfredo Tale-Yax bị thương nằm ôm ngực đầy máu rên rỉ hơn một giờ đồng hồ tại một góc phố đông đúc mà không một ai đoái hoài giúp đỡ. Máy ghi hình cho thấy có người đứng lại nhìn, có người lấy điện thoại cầm tay ra chụp hình, có người đến vỗ nhẹ vào vai Tale-Yax, lật người nhận diện thấy vết thương rồi bỏ đi. Chín mươi phút sau, khi xe cứu thương đến thì Hugo Alfredo Tale-Yax đã chết.

Vụ này xảy ra đúng 13 ngày trước ngày 1 tháng 5, khi Faisal Shahzad, một tên khủng bố người Mỹ gốc Pakistan định đặt bom tại Time Squares trong khu Manhattan. Vụ nổ bom bất thành nhờ một người bán hàng rong nghi ngờ báo cho cảnh sát.

Tòa lãnh sự Guatemala đã yêu cầu giữ xác Hugo Alfredo Tale-Yax ở nhà quàn khi cảnh sát đang điều tra, và giúp thân nhân của nạn nhân trả chi phí tổ chức một buổi thăm viếng quan tài Tale-Yax trong 6 giờ vào ngày 28 tháng 4 để những ai quan tâm có thể đến quan sát.

Xác Hugo được đặt trong một quan tài để mở với dòng chữ “Descance en Paz” (Yên Giấc Ngàn Thu) trang nghiêm. Nhiều người Mỹ không quen biết đã thân hành đến nơi chào Hugo lần cuối.

Bà Rosa Akidil, cư dân thành phố New York, thắc mắc một cách đơn giản: “Người phụ nữ đó bây giờ ở đâu? Có thể bà ấy không còn sống đến giờ này nếu không có người đàn ông này can thiệp và chết thay!”

Ông Kevin Dotson cũng dân New York triết lý: “Cứ mỗi người đi qua nơi Hugo Alfredo Tale-Yax đang hấp hối mà không phản ứng gì là lòng nhân đạo của con người đối với con người bị tổn thương thêm một chút”.

Và Mục Sư Luis Fernandez giận dữ: “Chúng ta đến đây để làm việc”. Ông nhắc đến luật di cư bang Arizona vừa ban hành có tính chất kỳ thị người gốc Nam Mỹ và đang là một đề tài sôi nổi toàn quốc và một số hành động kỳ thị trước đây tại thành phố New York và kết luận: “Qua lăng kính của Phoenix (thủ đô bang Arizona), người dân ở đây xem Hugo là một tội phạm chứ không phải một con người”.

Người nước ngoài tự hỏi tại sao ở thành phố New York, nơi có một hệ thống kiểm soát an toàn đường phố chu đáo nhất, một việc như vậy có thể xảy ra. Mỗi góc đường đều có bảng viết và máy phóng thanh nhắc nhở người đi đường báo cáo cho cảnh sát mọi sự bất thường trên đường phố.

Và vụ Hugo Alfredo Tale-Yax làm người ta nhớ đến vụ cô Kitty Genovese năm 1964. Cô Genovese 25 tuổi bị hiếp dâm và bị đâm chết ngay trên đường phố của quận Queens. Cô kêu cứu, nhiều người nghe nhưng không ai can thiệp hay gọi cảnh sát giùm. Vụ này gây sôi nổi và một số nhà tâm lý tại các đại học đã mở nhiều cuộc nghiên cứu tìm hiểu sao con người New York có thể vô cảm như vậy.

Nhưng có phải người Mỹ hay con người thành phố New York vô cảm không? Hay còn có những nguyên nhân sâu xa khác?

Bác Sĩ Paul Fink, giáo sư tâm thần tại đại học Temple ở Philadelphia và từng là chủ tịch của Hiệp Hội Bác Sĩ Tâm Thần của Hoa Kỳ nói rằng khi con người không cảm thấy mình bị đe dọa trực tiếp người ta không bị thúc bách hành động. Và chuyện vô cảm đối với cô Genovese hay với Hugo Alfredo Tale-Yax có thể xảy ra ở đâu chứ không riêng gì ở New York.

Nhiều người đến tiễn biệt Hugo thành thật nói rằng khi tự hỏi mình phản ứng như thế nào nếu đã thấy Hugo Alfredo Tale-Yax nằm trên vỉa hè thành phố hôm đó nói họ cũng có thể bỏ đi vì nghĩ có phần chắc Hugo là một kẻ vô gia cư (homeless).

Hugo Alfredo Tale-Yax thuộc một gia đình khá giả tại Guatemala gồm 7 anh chị em, 5 trai 2 gái và bằng cách này cách khác, hợp pháp và không hợp pháp đã lần lượt di cư đến Hoa Kỳ. Byron, 24 tuổi, em của Hugo Alfredo Tale-Yax nói chúng tôi cũng như nhiều người trên thế giới đã đi tìm đất hứa.

Sau vụ cô Genovese năm 1964, không biết các cuộc nghiên cứu dẫn đến kết luận gì, tôi không có tài liệu để thuật lại. Nhưng có hai điều để chúng ta quan tâm.

Tháng 6 năm 1978 nhà văn Nga Solzhenitsin sau 4 năm tị nạn tại Hoa Kỳ, ông được mời đọc diễn văn tại Ðại Học Harvard. Ông miêu tả lối sống xuống dốc của con người trong cả hai khung xã hội Ðông Tây, đặc biệt tại Tây phương. Ông nhận xét luật lệ xã hội phức tạp máy móc làm cho con người không thể sống với nhau bằng trái tim một cách tự nhiên.

Thứ hai, con người càng thắng thiên nhiên để cung cấp cho mình một đời sống đầy đủ tiện nghi con người hủy hoại môi trường sống trong khi tinh thần trở nên căng thẳng vì mối lo vật chất. Con người bỗng nhiên thấy phẩm chất cuộc sống mất dần.

Qua câu chuyện cô Genovese năm 1964 và Hugo Alfredo Tale-Yax đều xảy ra tại New York Hoa Kỳ, nếu người ta nghĩ người Mỹ hay đặc biệt người dân sống ở thành phố New York là vô cảm thì không có gì nhầm lẫn hơn.

Sự vô cảm là sản phẩm của con người và do con người. Nó có bất cứ ở đâu trên trái đất nếu có cùng điều kiện. Tại sao chúng ta hay nghe nói nhiều ở Mỹ mà ít khi nghe thấy ở nơi khác? Chỉ vì Hoa Kỳ có một trình độ vật chất và luật lệ ràng buộc phức tạp tròng tréo hơn các nước khác. Ðơn giản chỉ là vậy.

Tổ chức xã hội càng máy móc tinh vi, sự thúc bách của cuộc sống càng mạnh, luật lệ ràng buộc càng nhiều, con người càng đánh mất bản chất nguyên thủy “nhân chi sơ tánh bản thiện” và trở nên ít quan tâm đến đồng loại.

Trên đường phố New York người dân Mỹ có quá nhiều lo âu thúc bách về cuộc sống. Họ không có thì giờ, và nói như Bác Sĩ Fink họ chỉ còn phản ứng tự vệ chứ không còn phản ứng bênh vực người khác. Luật lệ phức tạp cho họ biết rằng nếu thông báo cho cảnh sát họ sẽ được mời ra tòa ngày này qua ngày khác để làm chứng và ảnh hưởng đến sự làm ăn sinh sống của họ.

Hủy hoại cuộc sống tinh thần, hủy hoại khung cảnh thiên nhiên là cái giá của đời sống văn minh vật chất. Và sự tìm về với đời sống nguyên thủy là một nhu cầu.

Ðiều này giải thích hiện tượng hình thành những môn pháp tu hành đặc biệt như nhóm Mục Sư James Jones (đưa gần 1,000 con chiên sang sống biệt lập theo sách vở tẩy não tại Guana, Nam Mỹ, và sau khi giết một dân biểu Quốc Hội Hoa Kỳ sang điều tra, Mục Sư Jones thuyết phục tất cả 912 con chiên uống thuốc độc pha chế bằng cyanide tự sát tập thể ngày 18 tháng 11 năm 1978). Hiện tượng môn phái mục sư Sun Myung Moon hoạt động tại Hoa Kỳ thập niên 1970 và 80 với những lễ cưới tập thể cho tín đồ của ông. Và nó giải thích hiện tượng Vô Thượng Sư Thanh Hải trong cộng đồng người Việt. Nhiều bác sĩ, kỹ sư thành công từ bỏ cuộc sống gia đình lên đường theo chân Cô vô điều kiện. Họ chịu hết nổi áp lực của vật chất và luật lệ xã hội nên theo Thầy, theo Cô để mưu tìm một đời sống tâm linh thoải mái.

Cho nên câu chuyện của Hugo Alfredo Tale-Yax không phải chỉ xẩy ra tại đường phố New York. Nó có thể xẩy ra bất cứ nơi nào Âu hay Á nếu có cùng điều kiện sống của xã hội Hoa Kỳ. Ðoạn phim 90 phút ghi hình ảnh bao nhiêu người qua kẻ lại bên cạnh thân mình rỉ máu chờ chết của Hugo Alfredo Tale-Yax một cách vô cảm là tiếng chuông báo động chung cho nhân loại, không phải chỉ riêng cho cư dân thành phố New York.

Như một người phu đi đẵn cây, con người phấn khởi đi vào rừng vừa phá rừng vừa hưởng bao nhiêu hoa thơm cỏ lạ của rừng. Cho đến khi đẵn quá nhiều, đi quá xa, ngoài cảnh vật hoang tàn con người còn gặp thú dữ chờ chực bên gốc cây hay trong bụi rậm.

Cảm thấy mối nguy muốn ra nhưng không biết có còn nhớ đường về!

Posted: Fri Jun 25, 2010 5:42 am
by thienthanh
Ông tướng, ông tổng thống, và nhà báo

Ngô Nhân Dụng
Nhầm lẫn lớn nhất của Tướng Stanley McChrystal là ông nhận lời cho một ký giả phản chiến, của tờ báo phản chiến Rolling Stone, đi theo ông và trò chuyện thân mật với bộ Tham Mưu của ông cả tháng trời. Ký giả Michael Hastings được thấy và nghe đủ mọi chuyện, để viết một bài dài gần 8000 chữ có tính cách “duyệt xét tiến trình hình quân sự” ở Afghanistan. Người ta có thể đoán trước nhà báo đó sẽ nhìn bằng con mắt mầu xám và sẽ đưa ra các cảnh tượng không đẹp đẽ, để chứng tỏ mình đã khám phá ra những điều mà các nhà báo khác không thấy. Cả bài báo của McChrystal hầu như chỉ cốt chứng tỏ chính sách Mỹ ở Afghanistan đang thất bại, hầu như không lối thoát.

Muốn bôi đen cũng khó. Quân Mỹ và 40 nước đồng minh tấn công vào Afghanistan từ tháng 10 năm 2001, đến nay đã dài hơn thời gian tham chiến ở Việt Nam. Nhưng cho tới gần đây số tử vong của quân đội Mỹ mới lên tới 1,000 người. Nhà báo không tìm được hình ảnh những tử thi của binh sĩ hay thường dân để tả cảnh đen tối. Cho nên, ông ta đã nhấn mạnh đến những khó khăn nội bộ: Mối nghi ngờ của binh sĩ đối với chiến lược và chiến thuật của cấp chỉ huy chiếm một phần lớn bài báo. Phần nhỏ hơn là thái độ khinh thường do bộ tham mưu của ông tướng biểu lộ khi họ nói về các nhà chính trị ở thủ đô. Trong lúc vui đùa, họ còn nói những lời nhục mạ chính khách một nước đồng minh.

Bài của Hastings trong Rolling Stone số tháng 7, 2010 mở đầu với cảnh Tướng McChrystal bực bội vì phải ngồi chờ đợi trong căn trong phòng sang trọng ở khách sạn Westminster, Paris, với đám tùy viên hàng chục người, bận rộn nghe báo cáo thành phố Kandahar vẫn bị quân khủng bố đánh bom. Ông đang chờ đi ăn tối với một đại diện của chính phủ Pháp. Tướng McChrystal có nhiệm vụ ngoại giao, ve vuốt các nhà chính trị, thuyết phục họ để quân đội Pháp tiếp tục tham chiến ở Afghanistan. Nước Pháp đã hy sinh 40 binh sĩ ở Afghanistan. Năm nay chính phủ các nước Canada, Hòa Lan đã báo trước sẽ rút 4,500 quân về, theo ý muốn của dân chúng nước họ. Tướng McChrystal sẽ gặp ai? Một sĩ quan phụ tá (không nêu tên) trả lời nhà báo: Một anh bộ trưởng Pháp nào ấy mà, một thằng cha đồng tính (gay... kèm với một tiếng thô tục nhà báo tự ý đục bỏ).

Nghĩ tới bữa ăn sắp dự với một chính khách Pháp, ông tướng hỏi: Tại sao tôi bắt buộc phải đi ăn như thế này? (Ông dùng một chữ tục khó dịch). Vị sĩ quan chánh văn phòng trả lời: Thưa ngài vì cương vị của ngài đấy ạ! Ông tướng quay ghế: Ê, Charlie, vì cương vị thật à? Ðại Tá Charlie Flynn đưa ngón tay giữa lên để trả lời!

Phu nhân ông tướng được chồng gọi từ Mỹ qua để dự bữa ăn tối. Bà rất mừng, vì kể từ năm 2003 khi Tướng McChrystal bắt đầu đi đánh nhau ở Iraq, tới nay mỗi năm bà được gặp ông chưa tới 30 ngày. Ông tướng sống rất giản dị. Mới 55 tuổi, chạy bộ 7 miles mỗi sáng, ăn ngày một bữa, đêm chỉ ngủ 4 tiếng. Nhà báo kể trong một tháng chỉ gặp ông một lần lúc ông đang ăn. Ông rất ghét các quán ăn sang trọng. Ghét nhất là bàn ăn có thắp nến. Ông thích uống bia Bud Light hơn là uống rượu Bordeaux. Paris là chỗ rất “không thích hợp,” rất anti- McChrystal! Ông nói: Tôi thà bị cả bọn trong phòng này chúng đá đít còn hơn phải đi dự bữa ăn tối hôm nay. Tiếc rằng, chúng nó không đứa nào đá tôi cả! Bà vợ ông thì vui vẻ tâm sự với nhà báo: Có lúc ở Mỹ ông chồng dẫn bà vào ăn ở quán hăm bớc gơ Jack in The Box mặc dù hôm đó bà đã chuẩn bị mặc bộ đồ dạ hội khi được chồng rủ đi ăn tối!

Trong một tháng trời đi theo ông tướng và các sĩ quan cận vệ của ông, nhà báo chiếm được cảm tình của họ, được nghe họ kể những chuyện riêng tư. Nhà báo mô tả lối sống, hành động và tính tình của ông tướng được lòng thuộc cấp. Lối cư xử thân mật giữa ông và các sĩ quan bộ tham mưu, với các binh sĩ ngoài mặt trận, tính khí rất “nhà binh” của cả bộ tham mưu. Họ chỉ gọi ông tướng là “Boss.” Boss nói thế này, Boss nói thế kia. Nhà báo nhận xét: Các sĩ quan tham mưu tỏ ra coi thường hệ cấp chỉ huy. Và tất nhiên, họ thích thú chế nhạo, phê bình các nhà chính trị “sa lông” vẫn lâu lâu tạt qua mặt trận đòi nghe thuyết trình! Bộ tham mưu của Tướng McChrystal chê Tướng James Jones, cố vấn an ninh của Tòa Bạch Ốc là một thằng hề. Họ thuật lại những lời ông tướng nói trong nội bộ, phê bình các nhà chính trị bất đồng ý kiến với ông về chiến thuật, chiến lược. Ðặc biệt là Phó Tổng Thống Biden và đại sứ Mỹ ở Afghanistan. Chỉ có một chính trị gia được ông tướng khen, theo lời các cận vệ, là bà ngoại trưởng, vì bà Hillary Clinton ủng hộ chiến lược chống nổi dậy của ông ngay từ đầu. Thuộc hạ của ông tướng kể lời bà nói: “Stan cần cái gì, cứ cho ông ta hết!” Người chống lại, cũng chống ngay từ đầu, là Phó Tổng Thống Joe Biden. Phó tổng thống Mỹ không muốn chiến tranh kéo dài, chậm chạp, tốn tiền nước Mỹ quá! McChrystal coi Biden không ra gì cả. Những Nghị Sĩ John Kerry, John McCain, đã đi thăm mặt trận nhiều lần, cũng bị chế nhạo.

Một sĩ quan kể có lần ông tướng chuẩn bị một họp báo, đoán trước sẽ phải trả lời các câu hỏi về những lời ông chê Phó Tổng Thống Joe Biden. Năm ngoái trong lúc thuyết trình ở London, Tướng McChrystal chỉ trích ý kiến của của Phó Biden về chính sách chống nổi dậy là “thiển cận.” Nó sẽ gây hỗn độn, Afghanistan sẽ biến thành xứ Hỗn Ðộn, Chaos-istan. Sau đó, Tổng Thống Obama đã gọi McChrystal tới gặp riêng, trong phi cơ Air Force 1, để yêu cầu ông giữ miệng. Trong khi chuẩn bị cuộc họp báo mới, theo lời một cận vệ kể lại với nhà báo, McChrystal nói đùa rằng nếu có người thắc mắc chuyện đó, ông sẽ hỏi lại: Chuyện ông Biden hả? Ông ấy là ai vậy?

Tướng McChrystal được Tổng Thống Obama đưa lên thay thế Tướng David McKiernan vào tháng 6 năm ngoái, như ông bộ trưởng quốc phòng đề nghị; trước đó ông tướng không hề quen biết ông tổng thống. Ông là con của một vị tướng 2 sao đã từng tham chiến ở Cao Ly và ở Việt Nam. Bốn anh em trai cùng ở trong quân đội. Khi theo học Ðại Học Quân Sự Westpoint, ông đã bị 100 giờ phạt, một kỷ lục, vì nhiều lỗi trong đó có tội say rượu. Ở Afghanistan ông cấm rượu trong doanh trại. Khi còn chỉ huy ở Iraq, McChrystal nổi tiếng đánh giặc giỏi. Nhưng ông cũng bị mang tiếng vì viết báo cáo láo về cái chết của Trung Sĩ Pat Tillman, đề nghị huy chương cho người cầu thủ nổi tiếng tình nguyện tòng quân này. Báo cáo đã khai gian là Tillman bị quân địch giết! Sự thật là Tillman bị trúng đạn do đồng đội bắn lạc. Sau Iraq, McChrystal làm 5 năm ở bộ quốc phòng, chỉ huy các chiến dịch bí mật, trong đó đã bắt được Abu Musab al-Zarqawi, người cầm đầu al-Qaeda tại Iraq.

Sau khi nhậm chức ở Afghanistan, McChrystal muốn tăng thêm 40,000 quân, ý kiến đó được tiết lộ, nhiều người cho là ông cố ý ép ông Obama! Quốc Hội chỉ muốn cho thêm 20,000 quân thôi, nhưng sau đó ông Obama đã chịu con số 30,000! Từ khi nhậm chức McChrystal đã tăng số lực lượng đặc biệt ở Afghanistan từ 4 lên 19 đơn vị. Chiến cuộc tăng mạnh vì trong bảy tám năm trước đây quân Taliban đã phục hồi trong lúc Mỹ bận đánh nhau ở Iraq. Số thường dân chết trong 4 tháng đầu năm nay lên tới 90 người, tăng 76% so với năm ngoái. Dân oán thán, Tổng Thống Karzai công khai phản đối, Tướng McChrystal đã tới tận dinh tổng thống xin lỗi. Tổng Thống Karzai rất thích Tướng McChrystal, đã lên tiếng ủng hộ ông trước khi ông từ chức. Trong khi đó thì Ðại Sứ Karl Eikenberry luôn chỉ trích chính quyền Karzai tham nhũng, bầu cử gian lận, bị cả Karzai và McChrystal ghét.

Từ năm ngoái, Tổng Thống Obama đã ủng hộ chiến lược bình định của McChrystal. Tướng David Petraeus, người chỉ huy và mới được bổ nhiệm thay thế McChrystal ở Afghanistan, cũng chấp nhận chiến lược đó. Ông Petraeus đã từng đề nghị tăng quân ở Iraq 3 năm trước đây. Ông rất thân cận Tổng Thống Bush, có người tính mời ông sau này ra ứng cử tổng thống cho đảng Cộng Hòa. Theo chiến lược mới, chính phủ Mỹ đã tăng quân số và tập trung vào việc bảo vệ sinh mạng thường dân chứng không phải chỉ lo giết quân địch. Theo chiến lược bình định này, McChrystal ra lệnh bớt pháo kích, bớt thả bom. Tránh không được bắn vào nhà cửa thường dân, không được phá nhà cửa làng xóm. Lính bất mãn vì họ bị nguy hiểm nhiều hơn.

Binh sĩ than phiền với các nhà báo. Gần một nửa bài báo của Michael Hastings thuật lại những khó khăn của binh sĩ, tìm ra những khe hở trong chính sách bình định của Tướng McChrystal. Lính oán thán vì bị hạn chế sử dụng hỏa lực. Cũng như đa số dân chúng Mỹ hay nóng ruột, không hiểu nhu cầu chiếm lòng dân quan trọng hơn là giết quân địch, nhà báo Hastings chê cuộc chiến tiến hành quá chậm chạp, đánh ba tháng vẫn chưa yên một thành phố,đánh mãi chưa thấy kết quả! Ðọc xong bài báo, cảm thấy báo động cuộc chiến sẽ sa lầy!

Một trung sĩ, Israel Arroyo đã email cho McChrystal than bị cấm đoán không được dùng hỏa lực tối đa. Nói thẳng: “Ông không lo cho lính!” Ngày hôm sau McChrystal tới tận tiền đồn, đi bộ cùng hành quân với lính, ai cũng phải vui lòng. Nhưng mấy tuần sau, một đồng đội của họ bị bắn chết, đạn bắn từ căn nhà mà trước đó cấp trên đã cấm họ không được tấn công, không được pháo kích, lúc đó thì ai cũng oán giận cấp chỉ huy. Tướng McChrystal lại phải tới tận nơi. Ông trực tiếp giải thích chiến lược bình định của mình: Tại sao phải tôn trọng tính mạng thường dân Afghanistan dù có khi vì thế mà lính mình bị nguy hiểm. Ông nói: Quân đội Nga tới Afghanistan trước đây, họ đã giết một triệu người. Nhưng Nga vẫn thất bại.

Trong bài báo của Michael Hastings chỉ có hai điều phê phán ông Obama. Một sĩ quan cận vệ (không nêu tên) kể rằng ông tướng bất mãn vì, trong lần gặp đầu tiên cùng các vị tướng khác, riêng ông chỉ được gặp tổng thống có 10 phút! Và McChrystal nhận xét là ông tổng thống có vẻ không thoải mái khi gặp mặt giới tướng lãnh. Nói chung thì những lời chỉ trích các nhà chính trị cũng chỉ chiếm một phần nhỏ trong bài báo, người bị chê bai nhất là Joe Biden.

Nhưng Tướng McChrystal không tránh được rắc rối. Các sĩ quan cận vệ của ông đã vi phạm một quy tắc quan trọng nhất trong chế độ dân chủ của Mỹ, là giới chính trị do dân bầu lên nắm quyền điều khiển quân đội. Các tướng lãnh và chuyên gia quân sự phải tuân lệnh chính quyền dân sự. McChrystal đã vi phạm quy tắc thiêng liêng này, khi để cho cấp dưới chỉ trích và chế nhạo những người như phó tổng thống, và cả ông Ðại Sứ Eikenberry, là người đại diện của chính phủ Mỹ tại Afghanistan.

Tuy nhiên, những lời chỉ trích của họ, và những điều họ thuật lại lời ông tướng, phần lớn nhắm vào cá nhân chứ không phải bàn về chính sách của chính phủ. Hồi xưa Tướng Douglas MacArthur đã chỉ trích ngay cả chính sách của Tổng Thống Harry Truman cho nên bị cách chức. Trước đây, Tướng William Fallon chỉ huy Khu Vực Trung, coi toàn bộ vùng Trung Ðông, Ấn Ðộ Dương và Phi Châu, đã chỉ trích chính sách của chính phủ Bush đối với Iran, rồi bị cất chức. Một vị tướng khác tại Iraq cũng đã công khai chỉ trích ông Rumsfeld trong lúc ông còn làm bộ trưởng Quốc Phòng.

Trong thực tế, Tổng Thống Obama vẫn theo chiến lược bình định của Tướng McChrystal, và Tướng David Petraeus, đang cầm đầu chỉ huy Khu Vực Trung, chính là người đã vẽ ra chiến lược đó cùng với McChrystal. Chính sách và chiến lược của Mỹ ở Afghanistan không lo bị gián đoạn, nhưng tinh thần quân đội Mỹ ở Afghanistan có thể ảnh hưởng. Biến cố này cho thấy trong chính phủ Obama có những bất đồng ý kiến về chiến lược, chiến thuật, đôi lúc đã bị tiết lộ công khai.

Những lời phê phán các chính khách, toàn là những câu nghe thuật lại, ông tướng không bao giờ nói với nhà báo nào cả. Và nhà báo cũng không nêu tên một sĩ quan cận về nào của ông tướng khi kể lại những lời họ nói. Nhưng tất cả mọi người đều tin đó là những lời nói thật. Mà chỉ vì những lời “thuật lại” đó, Tướng McChrystal đã bị gọi về Washington và nộp đơn từ chức. Ðiều này cho thấy trong xã hội Mỹ các nhà báo rất được người ta tin, tin rằng họ không bịa đặt vì ác ý. Những sai lầm của nhà báo là do họ cũng nóng ruột như đa số dân Mỹ, không hiểu rằng chiến tranh ở Afghanistan, Iraq hay ở Việt Nam khác với các cuộc chiến lớn trước kia. Họ cứ muốn thấy quân đội đã đến chiếm thành phố nào là chỗ đó phải yên ổn ngay! Họ chú ý tới những bất mãn của binh lính khi bị hạn chế hỏa lực, không hiểu rằng cứ giết oan một người dân là có thể cung cấp thêm một người cho lực lượng chống đối. Nhà báo cứ muốn chứng tỏ mình thông minh, hiểu biết tình hình hơn các nhà quân sự và các nhà chính trị. Nhầm lẫn lớn của Tướng McChrystal là để cho nhà báo phản chiến đi theo sát suốt một tháng trời, mà không báo động trước cho bộ tham mưu phải giữ gìn lời ăn tiếng nói! Những người quen sống trong một xã hội tự do dân chủ, sống minh bạch công khai, thường dễ rơi vào lầm lẫn tai hại này!

Posted: Sat Jun 26, 2010 4:01 pm
by caubennoc
Từ bên kia bờ đại dương nhìn vào nước Mỹ

Lê Mạnh Hùng
Khi tôi còn học “undergraduate” tại đại học, trong chương trình kiến thức tổng quát mà tất cả học sinh trường tôi đều phải học, có nói tới thời Khai Sáng tại Châu Âu. Nhưng vào lúc đó, khi học về thời Khai Sáng này, người ta chỉ nhắc đến thời Khai Sáng ở Pháp với những nhà văn và triết gia như Descartes, Rousseau hoặc là Voltaire.

Những người này là những nhà tư tưởng mà khi đứng trước một thế giới đầy mê tín và tàn dư của một thời u tối hồi trung cổ, tìm cách kéo thế giới này ra trước ánh sáng của lý trí và suy luận. Bị hấp dẫn bởi cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lúc đó đang xảy ra tại Châu Âu, họ đặt toàn bộ tin tưởng vào sức mạnh của lý trí cá nhân trong việc tìm ra những sai lầm và đưa con người đến một chân lý tuyệt đối.

Descartes có thể là nhân vật điển hình của phong trào này. Ông muốn đặt lại từ căn bản sự hiểu biết của con người, loại bỏ những thiên kiến tích lũy của quá khứ, và xây dựng một tòa lâu đài kiến thức mới từ nền móng trở lên, với những chân lý đạt được qua những suy luận lô gích dựa trên một số những nguyên lý được coi như là tuyệt đối.

Ðiều mà Descartes làm đối với siêu hình học và trí thức luận, thì cũng được những người khác làm trong lãnh vực chính trị, quét sạch đi những truyền thống cũ hủ bại và xây dựng một chế độ mới dựa trên lý trí. Ðó chính là mục tiêu của cuộc Cách Mạng Pháp năm 1789.

Sau khi tốt nghiệp đại học, qua nhiều năm lăn lộn và vài cuộc đổi đời, tôi sang được đến bên Anh. Và trong khi cắp sách đến trường đi học trở lại, tôi được làm quen với một thời Khai Sáng mới, không phải của Pháp như tôi đã học mà của Anh với những nhà tư tưởng như David Hume, Adam Smith và đặc biệt là Edmund Burke. Trái với những nhà tư tưởng Pháp như Descartes tập trung vào sức mạnh và khả năng của lý trí và suy luận, những nhà tư tưởng Anh chú trọng đến những giới hạn của lý trí, đặc biệt là trong những lãnh vực có liên quan đến con người, chỉ ra rằng, người ta, nhất là trong tập thể, nhiều khi hoàn toàn không hành động theo lý trí.

Họ nhấn mạnh đến vai trò của cảm tính. Người ta sinh ra có những ước vọng tự nhiên muốn được mến phục và làm sao xứng đáng cho sự mến phục đó. Người ta sinh ra đã có sẵn một số cảm tính về đạo đức, tỷ như một khái niệm về công bằng và nhân đạo. Thế nhưng người ta sinh ra cũng có những cảm tính xấu như lòng ích kỷ; tinh thần bè phái. Và những cảm tính này đã làm hỏng những ý đồ của lý trí. Chúng ta là những sinh vật chịu sự chi phối chính và quan trọng nhất bởi những cảm tính và xã hội, nhất là trên phương diện chính trị không thể nào bỏ quên được.

Trên phương diện chính trị, người nói ra rõ nhất quan điểm này là Edmund Burke. Trong cuốn “Suy nghĩ về cuộc Cách Mạng tại Pháp” (Reflexions on the Revolution in France) Burke biện luận rằng mỗi một thế hệ chỉ là một mắt xích trong một chuỗi mắt xích dài của lịch sử. Chúng ta đóng vai trò người thừa kế những di sản trí tuệ của quá khứ và có bổn phận phải truyền lại chúng - nếu có thể được với một số cải thiện - cho những thế hệ sau. Cái di sản trí khôn đó bù đắp vào những chỗ hổng trong lý trí của chúng ta vì những định chế cổ truyền đó tự chúng có thể đã chứa nhiều trí năng (wisdom) hơn là khả năng của bất kỳ một cá nhân nào.

Burke cảm thấy khủng khiếp khi nghĩ đến việc người ta có thể dùng những lý luận trừu tượng để quét sạch những định chế mà đã tồn tại từ nhiều trăm năm. Ông không chống cải cách, nhưng ông tin rằng cải cách phải thực thi một cách tiệm tiến. Ta không tìm cách thay đổi những bản chất căn bản của một định chế, ta phải tìm cách thay đổi nó từ bên trong, giữ lấy những phần tốt và loại bỏ những phần bị hư hỏng.

Ðó là lý do Burke chống gay gắt cuộc cách mạng Pháp. Theo Burke nếu ta tìm cách thay đổi xã hội trên cơ sở của những kế hoạch trừu tượng thì cuối cùng ta chỉ gặt hái được những khó khăn mới vì xã hội là một thực thể phức tạp hơn là lý trí của ta có thể suy đoán được. Nếu bắt đầu từ số không trở lại, ta không bao giờ làm được cái gì đúng.

Burke ủng hộ cuộc cách mạng Mỹ vì ông coi nó như là khác với cuộc cách mạng Pháp. Ông cho rằng Quốc Hội Anh đã chà đạp lên một cách vô lý những quyền tự do truyền thống mà những người dân định cư tại Mỹ vốn vẫn được hưởng. Thành ra cuộc cách mạng Mỹ là một cố gắng của người dân Mỹ bảo tồn những cái gì họ có sẵn.

Thế nhưng cuộc cách mạng Mỹ không hoàn toàn có tính cách một cuộc phục cổ như Burke nhận xét. Trong tiến trình bảo vệ những truyền thống cũ, những bậc cha già của dân tộc Mỹ cũng tạo ra một cái gì mới. Và những mâu thuẫn giữa hai hệ phái Khai Sáng Anh và Pháp cũng được thể hiện qua những tranh cãi ngay từ khi Hoa Kỳ mới lập quốc giữa Alexander Hamilton và Thomas Jefferson và còn kéo dài cho đến ngày nay.

Nhưng vào lúc này nếu ta nhìn vào chính trị Mỹ, ta thấy về phía hữu, những người tự gọi là bảo thủ cực đoan lên tiếng muốn xóa bỏ trên 100 năm lịch sử và đưa chính quyền Liên Bang trở về tình trạng của thời nước Mỹ còn là một nước nông nghiệp. Còn về phía tả, ta thấy những người tự gọi là khai phóng (liberal) đặt hết tin tưởng vào khả năng của những quan chức chính phủ trong việc dùng lý trí và suy luận để tái tổ chức và kiểm soát những hệ thống phức tạp. Các nhà tranh luận cả ở phía tả và phía hữu đều dùng những lý luận trừu tượng nhiễm đầy ý thức hệ không khác gì những cuộc tranh luận của những phe phái như Jacobins hoặc Girondin trong thời cách mạng Pháp.

Những tư tưởng của những người trong hệ phái Khai Sáng Anh đang dần lùi bước. Nhưng những nhà tư tưởng Anh đã nắm đúng hơn bản chất con người. Cuộc cách mạng Pháp kết thúc bằng cuộc phản cách mạng của Napoleon. Mong rằng những tranh cãi ý thức hệ hiện nay của Mỹ chỉ là một giai đoạn tạm thời và chính trị Mỹ sớm trở lại một tình trạng cân đối và tiệm tiến như trước.

Posted: Sun Jun 27, 2010 5:05 pm
by vuphong
Vài Nét Mặt Người Việt Ở Paris

Nguyễn thị Cỏ May
Cách nay ít lâu, trên thị trường sách vở tiếng Việt ở Paris xuất hiện một quyển sách dịch từ tác giả người Tàu, Bá Dương, có tựa là Người Trung Quốc Xấu Xí . Sách do ông Nguyễn Hồi Thủ dịch, đã thu hút sự chú ý của khá nhiều độc giả người Việt. Cỏ May dám quả quyết như vậy vì nhiều người Việt Nam, cả các bà già trầu, tức những người không từng quan tâm đến chữ nghĩa, cũng đã tìm hoặc nhờ mua để đọc qua cho biết.

Ông Bá Dương sanh năm 1929 ở lục địa. Năm 1949, ông chạy qua Đài Loan tỵ nạn cộng sản Mao Trạch Đông. Trong 30 năm sanh sống ở Đài Loan, ông viết tiểu thuyết 10 năm, viết tạp văn 10 năm và ở tù 10 năm.

Cái tựa sách Người Trung Quốc Xấu Xí để gợi nhớ trước đó đã từng có Người Mỹ Ưu Tư, Người Mỹ Trầm Lặng, Người Nhựt Xấu Xí,… nhưng Người Việt Cao Quí.

Điều đã làm cho các bà già trầu chỉ mê phim bộ nay đọc Người Trung Quốc Xấu Xí vì các bà nghe nói Người Trung Quốc Xấu Xí sao mà giống hệt người mình quá!

Ai đã đọc qua rồi đều thừa nhận trong Người Trung Quốc Xấu Xí hiện rõ nét bóng dáng Việt Nam như ông Bá Dương viết về người Việt mình vậy.

Theo lịch sử Tàu thì họ ở phía bắc sông Dương Tử, còn Việt Nam là Nam man, thuộc một trong nhóm Bách Việt, ở vế phía nam sông Dương Tử. Như vậy Việt Nam đâu có họ hàng xa gần gì với người Tàu mà giống nhau được. Chẳng lẽ vì Việt Nam là con cháu Thần nông mà không giống lông cũng giống cánh?

Cỏ May sẽ trích dẫn một vài đoạn văn của ông Bá Dương mô tả Người Trung Quốc Xấu Xí để bạn đọc nhận diện và so sánh với người Việt Nam mình.

Giờ đây Cỏ May nói về một nét sinh hoạt xã hội ở Paris trong đó không thiếu bóng dáng người Việt ta.

Ở Pháp, đặc biệt tại những thành phố lớn như Paris, có nhiều tiệm cà-phê bán thuốc hút và vé số (lô-tô), cá ngựa. Thuốc hút do Chánh phủ độc quyền nên chỉ bán ở những địa điểm nhứt định. Người muốn hành nghề này phải là công dân Pháp và cựu quân nhân. Người khác phải mua lại môn bài. Bán vé số và cá ngựa thì điều kiện sang lại dễ dàng hơn như bán cà-phê.

Tại những Bar-Tabac-PMU, tức Cà-phê, Bar,Thuốc lá và Cá ngựa luôn luôn đông khách, phần lớn là người Rệp (Á-rặp), đen. Người Việt Bam chỉ là số ít vì trên cả nước Pháp cũng chỉ không quá 200,000 dân sanh sống. Nhưng không vắng mặt.

Trong số người đánh cá ngựa có lắm người sạt nghiệp. Nhưng họ vẫn mê sai như người ghiền mê thuốc phiện hay xì-ke. Theo họ ‘đánh cá ngựa là để sống’. Có người biết ‘cá ngựa là một thứ bịnh’ nhưng không muốn chữa trị cho dứt. Một phụ nữ Pháp, y tá Quốc gia nay hưu trí, mê cá ngựa và chơi suốt 40 năm mà không một lần được trúng. Bà than ‘đời bà không bao giờ được may mắn’!

Một phụ nữ khác sẵn sàng trả lời những người chung quanh về đặc tính của con ngựa này, con ngựa kia, những lần về nhứt,… Ở Bar-Tabac-PMU còn là nơi để người ta nói chuyện chơi với nhau, uống với nhau một ly. Có người chọn nơi này để tìm giải thoát khỏi đời sống nhàm chán hằng ngày. Một người ăn xin thường có mặt ở đây, sau khi sạch túi, mơ màng ngày mai sẽ xin được nhiều tiền hơn để đánh một mẻ lớn. May ra…

Người Việt ta ngồi chụm lại với nhau chung một bàn để bàn luận nên đánh con ngựa nào. Đối với phe ta, Bar-Tabac-PMU cũng giống như dân Tây là nơi hẹn hò nhau trong đam mê cá ngựa.

Ở Hòa Lan và Anh, trước đây người bản xứ gọi người Việt là ‘Việt chả giò’ vói ý thân thiện vì họ thích món chả giò của Việt Nam. Nay họ gọi bằng danh từ mới ‘Việt chả giò cần sa’. Danh từ này mới xuất hiện từ ít lâu nay, khi có người Việt gốc Đông Âu đến sanh sống hoặc đến từ Miền Bắc Việt Nam theo diện đoàn tụ gia đình. Đi làm ăn lãnh lương tháng vất vả nên họ chuyển qua trồng tỉa nhỏ. Họ trồng trong nhà chừng 10 cây cần sa trong vòng vài tháng, thu hoặch được ít nhứt 10 kg cần sa, đem bán mỗi ký từ 1000 đến 1300 euros. Nếu bị bắt, người trồng sẽ bị phạt có lợi tức không khai để đóng thuế. Trồng cần sa nhiều hơn qui định và không cho nhu cầu tự tiêu thụ hoặc tự chữa bịnh bị phạt 40 giờ lao động xã hội chủ nghĩa, tức lao động cho công ích như đi quét hoặc chăm sóc cây kiểng ở công viên. Nếu không muốn làm việc này để tránh có người thấy thì đi lao chùi bàn ghế công sở.
Về pháp lý, Bar-Tabac-PMU là những cơ sở thương mãi tư nhân khai thác do Bộ Canh nông và Bộ Ngân sách quản lý thu tiền đánh cá của dân chúng ngoài hệ thống Trường đua. Hằng năm, hệ thống cá ngựa loại này thu về cho Nhà nước 1 tỷ euros và tăng đều 9%. Người Việt ta chỉ đánh cá ngựa ở Cà-phê chớ chưa đủ điều kiện đến chơi tại trường đua.

Riêng tại thành phố Cỏ May ở chỉ là một thành phố nhỏ thuộc ngoại ô Paris, gốc nông nghiệp mà ngày nay chỉ còn một loại phô-mai Brie nổi tiếng, có vài ba tiệm Cà-phê có đánh cá ngựa.

Mỗi Cà-phê là một nơi gặp gở riêng của từng nhóm người Việt ta.
Một hôm Cỏ May đến Cà-phê mua một con tem của Bộ Tài chánh phát hành để trả thuế. Người chủ tiệm mới mua lại cửa hàng của người Pháp trước kia là Việt Nam, thấy Cỏ May cũng là Việt Nam nên hỏi :
- ‘Việt Nam, sao không thấy tới đây bao giờ hết vậy?’
- ‘Tới để làm gì ?’
- ‘Để đánh cá ngựa.’
- ‘Vậy phải đánh cá ngựa, mới là Việt Nam sao?’

Ở những nơi khác, Cỏ May không biết người Việt ta có mê cá ngựa và đánh Casino hay không. Ở Pháp, đời sống khó khăn. Phần lớn người Việt đến đây sau năm 1975 nếu không có ngành chuyên môn về khoa học kỹ thuật cao, như kỹ sư Trường Lớn của Pháp hoặc Nha Y sĩ (dược phải học lại rất nhiều nên ít người hành nghề lại dược), thường phải chấp nhận làm những nghề dưới khả năng của mình và lương thấp. Thế mà họ vẫn dành dụm để cuối tuần đi chơi Casino. Có những người làm nghề may mướn hoặc làm chả giò bán, cuối tuần thua sạch túi.

Casino ở Pháp sau năm 1981, Chánh phủ đóng cửa một số lớn. Những Casino còn lại đã có từ lâu đời. Muốn vào chơi phải ăn mặc chỉnh tề, mang giày Basket hay đi dép, áo bỏ ngoài, … không được vào. Khi vào, phải nói rõ với người gác cửa sẽ chơi môn gì để người gác cửa hướng dẫn thẳng đến phòng đó.

Cách nay ít lâu, có một bà người Việt ta mang bầu vào Casino mê ăn thua đến nổi phải đẻ trong Casino. Từ đó, Casino được lệnh không cho các bà người Việt có bầu vào Casino nữa.

Cỏ May nhận thấy người Việt ở Paris thuộc giới ‘bình dân’ khá đông đều mê cá ngựa và Casino. Số tiền họ mua cỏ cho ngựa ăn hay giúp Casino mở mang rất lớn so với lợi tức của họ. Cỏ May không hiểu tại sao có hiện tượng này. Vì đời sống khó khăn nên nuôi hi vọng làm giàu chớp nhoáng? Hay vì ngày mai không có gì bảo đảm mà sống chụp giựt qua ngày? Bản tánh cần cù, chịu khó, như sách vở nói, ở đâu sao không thấy?

Đam mê cờ bạc là một nét nổi bật khá rõ ở người Việt Paris.
Còn những nét tiêu biểu khác, Cỏ May mời bạn đọc vài đoạn trích dẫn trong quyển Người Trung Quốc Xấu Xí của Bá Dương để mình nhận diện mình:

Về đoàn kết

‘… có thể nói, mỗi người Trung Quốc đều là một con rồng, nói năng vanh vách, cứ như là ở bên trên thì chỉ cần thổi một cái là tắt được mặt trời, ở bên dưới thì tài trị quốc bình thiên hạ có dư. Người Trung Quốc ở một vị trí đơn độc như trong phòng nghiên cứu, trong trường thi - nơi không cần quan hệ với người khác - thì có thể phát triển tốt. Nhưng nếu ba người Trung Quốc hợp lại với nhau, ba con rồng này lại biến thành một con heo, một con giòi, hoặc thậm chí không bằng một con giòi nữa. Bởi vì người Trung Quốc có biệt tài đấu đá lẫn nhau. Chỗ nào có người Trung Quốc là có đấu đá, người Trung Quốc vĩnh viễn không đoàn kết được....(tr.30)’

Tánh tự ty và tự tôn

Đường đường là một nước lớn. Thế mà thay vì có một tấm lòng bao la, người Trung Quốc lại có một tâm địa thật hẹp hòi (tr. 40)... đưa đến một đằng tuyệt đối tự ty, một đằng tuyệt đối tự kiêu. Lúc tự ty thì thành ra tôi tớ, nghĩ mình không bằng đống phân chó. Lúc tự kiêu thì thành ông chủ, xem mọi người đều là *** chó hết (...)

Viết được dăm ba bài văn là đã thành văn hào. Đóng được hai bộ phim đã là ngôi sao sáng của nền điện ảnh. Hai năm có được ít chức quyền nghiễm nhiên có thể cho mình là cứu tinh của nhân dân. Qua Mỹ học được hai năm đã trở thành một học giả chuyên gia (tr. 41)

Theo tác giả, ấy do tội lỗi của đám Hủ Nho đã bóp chết khả năng suy xét, tưởng tượng chẳng khác nào lấy cái túi nhựa bịt kín bộ não lại. Ông gọi là hũ tương văn hoá Trung Quốc (dẫu có vứt mứt đào vào rồi cũng sẽ biến thành *** khô) (tr.48)

Nếu người dân không tự nuôi dưỡng được cho mình cái trình độ phán đoán đánh giá những lãnh đạo của mình thì chẳng có lý do gì để trách ai cả. Đi tôn thờ một kẻ không tôn thờ được thì còn trách ai một khi kẻ đó cưỡi lên đầu lên cổ mình? (...) Dân chủ là một cái gì phải tự mình giành giật được, chẳng ai ban phát cho cả (tr 49)

Người Trung Quốc là cái vại tương

Trong bài Người Trung Quốc và cái vại tương, Bá Dương chê người Trung Quốc ưa làm quan, phong kiến, khi phán xét, suy luận, không dùng lý trí mà nặng về cảm tính; xã hội dựa trên tiêu chuẩn chính trị đạo đức thời phong kiến hủ Nho, đặt lợi ích của người làm quan lên trên. Lâu ngày, những thói tục xấu xa ăn sâu vào "nhiễm thể",…
Dân vi quí, quân vi khinh (dân là quí, vua là thường). Đấy chỉ là một thứ lý tưởng mà Trung Quốc chưa bao giờ thực hiện (tr. 62). Người Trung Hoa xưa nay có bao giờ biết dân chủ, tự do, pháp trị là gì. Tuy có người bảo chúng ta cũng có tự do, có thể chửi cả hoàng đế, song thật ra quyền tự do của chúng ta rất có hạn, bị kẻ thống trị khống chế trong phạm vi cho phép (....) Phạm vi của tự do rất hẹp hòi. Đương nhiên có thể có cái tự do suy nghĩ vớ vẩn chứ các khái niệm dân chủ, pháp trị thì hoàn toàn chẳng có (tr.65)

Bá Dương liệt kê năm khuyết điểm

Khuyết điểm thứ nhất là vì nhân quyền, nhân tính, phẩm giá con người bị chế độ và xã hội phong kiến chà đạp trong suốt 5000 năm, khiến dân không còn lòng tự trọng (?) cái tự trọng còn lại chẳng qua cũng chỉ là cái tinh thần tự dối mình như AQ trong truyện của Lỗ Tấn (...). Ví dụ tôi đến thăm anh, thấy anh nhà cao cửa rộng (....) lúc ra khỏi nhà anh lại bảo "Ở nhà đẹp thế! Không biết ăn cắp hay ăn cướp ở đâu ra lắm tiền! Cầu trời cho ngày mai có đám cháy thiêu rụi cái nhà nó đi cho rồi!" Tâm lý (...) bị ức chế lâu ngày chỉ biết dùng cái tinh thần đó để tự thoả mãn. (tr. 80).

Khuyết điểm thứ hai là 4000 năm chiến tranh liên miên chỉ vì bần cùng, giết chóc, đố kỵ một cách lâu dài thành ra lòng dạ chúng ta thành hẹp hòi (tr.82).

Khuyết điểm thứ ba là chế độ khoa cử, quan trường, tạo ra một tầng lớp Quan liêu chẳng trung thành với quốc gia lãnh tụ gì cả, chỉ tận tâm tận lực với kẻ cất nhắc nó lên làm quan (tr 85)….

Cái xã hội ăn chơi, phù hoa là nơi các quan ra oai, tự nhiên hình thành một hệ thống tương hỗ bao che giữa các quan với nhau - một quan hệ vô cùng phức tạp. (tr 86) (.....) phức tạp đến độ một người lành mạnh không thể nào chịu nổi (tr.89)

Tinh thần Nho giáo bảo thủ, là khuyết điểm thứ tư, khiến xã hội mất hết sức sáng tạo, mất tập quán tự tìm hiểu, tự phê phán (tr 93)
Và nạn nhân mãn là khuyết điểm (cuối cùng), Trung Quốc quá đông, nghèo khổ quá lớn, quan trường quá mạnh, cạnh tranh quá khắc nghiệt, những lý do này sinh ra nơi người Trung Quốc cái hiện tượng bẩn, loạn, ồn, xâu xé lẫn nhau (...) Tôi cho là Trung Quốc là một nước tuyệt đối không trọng lễ nghĩa. Người Trung Quốc thật thô lỗ... (tr 96) Người Trung Quốc thông minh (....) đến độ khi bị đem đến lò sát sinh, còn cố cò kè về giá cả của mình, nếu kiếm thêm được vài đồng thì chết rất hả hê. Cái kiểu thông minh quá cỡ này nhất định sẽ thành kiểu ích kỷ quá cỡ. (...) người nào mà không suy nghĩ một cách ích kỷ, cư xử một cách ích kỷ đều bị chế diễu là ngu ngốc (tr.99)
Quan hệ giữa dân với Chánh quyền

(...) Phe nắm quyền, đối với thứ dân (...) bố thí, ban phát cho để tỏ ra mình đại lượng, khẳng khái. Sự thực là giữa người và người đầy những "cung kính" và "sợ sệt". Có nhiều người vì kính mà thành sợ, chẳng khác nào con đối với cha. Có nhiều người vì sợ thành ra kính, giống gái đĩ đối với khách làng chơi, như đại thần đối với hoàng đế, tiện dân đối với quan lại, tù nhân đối với cai ngục.(tr.115)
Tính ích kỷ quá mức được thể hiện ở chỗ không tuân thủ kỹ luật chung và lúc nào cũng mưu lợi riêng.

Ôi! Một kế hoạch, một phương pháp, một hội nghị, một quyết sách, thậm chí một vụ kiện cũng chỉ đều là cái cớ để (.....) nghĩ ngay rằng trong việc này mình có lợi gì không? hoặc ta sẽ kiếm chác (...) được hưởng quyền hành gì (....) được trách nhiệm lớn hay nhỏ? (....) đều lòng vòng trên những thứ đó. Bề trên cũng vậy, cấp dưới cũng thế. Cả anh cả tôi cũng rứa, mọi người đều ôm lấy chúng đến chết cũng không buông (tr. 119). Cái kiểu nhà Nho, mồm không nói đến lợi, đến tiền nhưng lòng dạ lại đầy ứ những quan niệm què quặt về lợi tiền (tr.121).

Các bạn với Cỏ May, ta hãy tìm đọc Người Việt Cao Quí.

Nguyễn thị Cỏ May