Thời Sự, Bình Luân

vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Image

Hoa Kỳ có bao nhiêu đầu đạn nguyên tử?

Đào Nguyên /source AP.
- Thứ hai 3/5 Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ loan báo là Hoa Kỳ có 5,113 đầu đạn nguyên tử trong kho dự trữ và khoảng “vài ngàn đầu đạn” nguyên tử khác đến “tuổi về hưu” đang chờ được phá hủy.

Chính phủ Obama lần đầu tiên công khai hóa con số đầu đạn nguyên tử từ năm 1962 đến nay, để khuyến khích các cường quốc khác cũng thẳng thắn như mình.

Bà Ngoại Trưởng H. Clinton tuyên bố ở Liên Hiệp Quốc về vấn đề này như sau: “Chúng tôi cho là chính vì phục vụ cho an ninh đất nước mà chúng tôi quyết định cần phải rõ ràng khi nói về chương trình nguyên tử của Mỹ”.

Trước đây chính phủ Mỹ xem các con số này thuộc phạm vi tối mật. Các con số vừa công bố bao gồm loại đầu đạn cho hỏa tiễn liên lục địa lẫn hỏa tiễn tầm ngắn.

So với con số mà Hoa Kỳ thủ đắc vào năm 1989 thì con số vũ khí nguyên tử mới công bố đã giảm tới 75%. Con số mới công bố tỏ ra khá phù hợp với tính toán của các chuyên gia.

Ông Hans Kristensen, Giám đốc hiệp hội Federation American Scientists, cho biết hội của ông đã tính là Mỹ hiện có khoảng 5,100 vũ khí nguyên tử, căn cứ trên tính toán về ngân sách quốc phòng và một số taài liệu khác.

Đào Nguyên /source AP
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Không thể trốn tránh vấn đề di dân lậu

Ngô Nhân Dụng

Nghị Sĩ John McCain đắc cử nghị sĩ lần đầu ở Arizona trong một cuộc bầu cử bổ túc, năm 1988, bây giờ đang tranh cử cho nhiệm kỳ thứ năm. John McCain được tiếng là người trung trực, thẳng tính, không chao đảo. Năm 1982 ra tranh cử dân biểu đơn vị 1 tiểu bang Arizona, ông bị đối thủ chỉ trích là dân “nhảy dù” mới đến đây cư ngụ, không phải là người Arizona thật sự. Ông trả lời rằng gia đình ông mấy đời là sĩ quan Hải Quân, vốn không ở đâu nhất định (ông sanh ở Panama, ra đời trong một căn cứ Hải Quân Mỹ nên vẫn được coi là công dân thứ thiệt). Ông nói, “Trong đời tôi, nơi tôi sống nhiều năm nhất là ở Hà Nội,” nơi ông bị tù ở Hỏa Lò trong 6 năm.

Nghị Sĩ John McCain không phải là người sợ áp lực. Nhưng trong cuộc vận động tranh cử sơ bộ của đảng Cộng Hòa hiện nay, nhiều người đã chê là ông thay đổi lập trường cố hữu về vấn đề di dân, khi ông tuyên bố ủng hộ đạo luật mà Quốc Hội tiểu bang Arizona mới thông qua, đã được vị thống đốc ký ban hành. Năm 2006, ông McCain đã ủng hộ dự luật cải tổ chính sách di dân mà Tổng Thống George W. Bush đề nghị, mặc dù đa số đảng Cộng Hòa, nhất là trong trong tiểu bang ông, phản đối vì cho là ông Bush “quá dễ dãi” đối với các di dân ngụ cư bất hợp pháp. Năm nay, đạo luật về di dân của tiểu bang Arizona quả thật rất khắt khe, và gây rất nhiều phản ứng chống đối trên toàn quốc mặc dù tới Tháng Bảy này mới thi hành. Chủ Nhật vừa qua, tại Los Angeles có 60,000 người biểu tình phản đối đạo luật của Arizona, tại California có một phong trào tẩy chay tiểu bang láng giềng này.

Ðạo luật mới của Arizona cho cảnh sát viên quyền khám xét giấy tờ của bất cứ người nào bị nghi ngờ là dân ngụ cư bất hợp pháp, nếu mối nghi ngờ đó hợp lý (reasonable suspiscion). Thế nào là “nghi ngờ hợp lý?” Ðó là một từ không có nghĩa rõ ràng. Người này thấy có lý do chính đáng để nghi ngờ, người khác không thấy; ai phải, ai trái, khó lòng phán đoán được. Ðây là một điều luật rất dễ bị lạm dụng, và có thể đưa tới những hành động có tính chất kỳ thị chủng tộc. Xưa kia, một cảnh sát viên thổi còi để xét giấy một lái chiếc xe đắt tiền vì nghi ngờ người đó đã ăn cắp xe có thể chỉ vì đó là một người da đen. Ngày nay, không ai nghĩ tình trạng đó có thể xảy ra nữa, vì tâm lý đa số người Mỹ đã thay đổi về mầu da đen trắng. Nhưng nay mai nếu một cảnh sát viên ở Arizona gọi một người lại để xét giấy, chỉ vì đó là một người da nâu, thì có bị nghi là mang đầu óc phân biệt chủng tộc hay không?

Dân Mỹ rất nhạy cảm về hai vấn đề, nhân phẩm và mầu da. Chính quyền không có quyền cứ hơi nghi ngờ ai là đòi xét giấy tờ tùy thân của người ta, mà không có lý do chính đáng, thí dụ vì một hành vi có thể là phạm pháp. Dân Mỹ đã quen sống suốt đời không bao giờ bị hỏi giấy tờ cả, trừ khi chính cá nhân đó thấy cần thiết, như để chứng minh tên họ, địa chỉ của mình là có thật. Người Mỹ chống các chế độ độc tài chính vì họ vẫn coi việc cảnh sát xét giấy tờ một cách tùy tiện là xúc phạm đến phẩm giá con người. Chỉ trong các nước phát xít, cộng sản độc tài thì mới làm như thế. Cho nên đức Hồng Y Roger Mahony (da trắng), tổng giám mục giáo phận Los Angeles, đã kết án đạo luật mới ở Arizona là “giống như thời Ðức Quốc Xã” (Nazi-like!).

Mối quan tâm thứ nhì của người Mỹ là quyền hành bình đẳng của mọi chủng tộc, mọi mầu da, cũng như mọi tôn giáo, giới tính, hay bất cứ nhãn hiệu nào phân biệt con người. Kỳ thị, tức là phân biệt, là điều người Mỹ nào cũng muốn tránh. Ðiều người ta lo ngại nhất đối với đạo luật mới ở Arizona là nếu có một cảnh sát viên có óc kỳ thị thì ông hay bà ta nhìn người da mầu nào cũng có thể nghi ngờ, đòi xem giấy! Người đó có thể bị tạm câu lưu chỉ vì không mang theo giấy tờ trong mình! Nước Mỹ hiện không có một đạo luật nào bắt buộc công dân phải đem giấy tờ nào trong mình; dù người gốc da vàng, da nâu hay da đen hoặc trắng. Như vậy thì nhiều công dân Mỹ có thể bị bắt oan, bị mất thời giờ, cảm thấy mình bị xúc phạm, mà cảnh sát vẫn làm theo đúng luật! Và những người da mầu sẽ dễ bị nghi ngờ hơn người da trắng, điều này dễ hiểu.

Một đại biểu Quốc Hội tiểu bang Arizona mới lên tiếng báo động về số dân ngụ cư bất hợp pháp đến từ Trung Quốc mỗi ngày một gia tăng, để chứng tỏ rằng đạo luật mới này không nhắm kỳ thị người gốc Mexico. Nhưng, các người dân da vàng nghe thế sẽ thấy lo lắng hơn, vì chính họ có thể sẽ bị nghi ngờ và bị phiền nhiễu vô ích! (Xin chú ý là các du khách và di dân hợp pháp, theo luật, bắt buộc phải mang theo giấy tờ, khác với các công dân Mỹ).

Vậy tại sao Nghị Sĩ John McCain lại ủng hộ một đạo luật có thể gây ra những tai tiếng như vậy? Bởi vì ông đang tranh cử sơ bộ trong đảng Cộng Hòa để được đảng đưa ra tranh cử, mà đối thủ của ông, cựu Dân Biểu J.D. Hayworth đang được các người bảo thủ trong đảng ủng hộ. Ở nước Mỹ, những người hoạt động trong mỗi đảng nắm lá phiếu quyết định ai là người sẽ được đảng đề cử, chứ không phải chỉ được các cấp ủy trong đảng ủng hộ là đủ. Khi đa số những người hoạt động mạnh nhất của đảng nghiêng về phía bảo thủ, các ứng cử viên phải nghiêng theo. Tại tiểu bang Florida, ông Thống Ðốc Charlie Crist thuộc đảng Cộng Hòa nhưng đã bị đối thủ qua mặt trong cuộc vận động bỏ phiếu sơ bộ vì bị đa số bảo thủ chống; ông Crist đã phải rút lui để sẽ ra tranh cử với tính cách độc lập. Tại tiểu bang Connecticutt năm 2006, Nghị Sĩ Joseph Lieberman cũng bị đảng Dân Chủ bỏ rơi như vậy, ông đã tranh cử độc lập và đã thắng. Chắc chắn Nghị Sĩ John McCain không muốn lâm vào tình trạng của ông Crist hay ông Lieberman, cho nên ông đã chọn một lập trường rất bảo thủ trong vấn đề di dân, một vấn đề được dân chúng tiểu bang Arizona rất quan tâm. Ông McCain tuyên bố ủng hộ đạo luật mới của Arizona, khiến nhiều người ngưỡng mộ ông cảm thấy thất vọng vì ông đã thay đổi. Ông vẫn được tiếng là người ôn hòa, và năm 2006 ông đã ủng hộ dự luật về di dân của Tổng Thống Bush, một dự luật rất ôn hòa nhưng bị các thành phần bảo thủ trong đảng Cộng Hòa chống đối. Nhưng quyết định của ông McCain không thể tránh được, trong thực tế cuộc bầu cử ở Mỹ năm nay, khi vấn đề di dân bị cả hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ bỏ qua không giải quyết. Cùng lúc đó, các nhóm bảo thủ với khuynh hướng chống di dân lậu đang bành trướng ảnh hưởng trong công luận, đặc biệt là trong nội bộ đảng Cộng Hòa.

Dư luận dân Mỹ ngả về khuynh hướng chống di dân bất hợp pháp. Trong 10 người Mỹ thì có 8 người lo lắng rằng 12 triệu di dân lậu đang sử dụng bất hợp pháp những tài nguyên của chính phủ dành cho trường học, nhà thương, và chính họ cạnh tranh làm cho đồng lương của người lao động Mỹ bị giảm xuống. Ðạo luật chống di dân lậu của Arizona được 60% dân Mỹ trên toàn quốc ủng hộ, trong đó 51% cho là nó đúng và 9% còn cho là chưa đủ mạnh. Chỉ có 36% người Mỹ coi là đạo luật đó là quá khắc nghiệt. Dân các tiểu bang miền Nam và miền Trung Tây (Midwest) ủng hộ Arizona nhiều hơn, so với dân các miền Ðông và miền Tây, trong đó có California.

Nhưng dân Mỹ cũng muốn đối xử công bằng với mọi mầu da không phân biệt, cho nên ba phần tư người Mỹ đang lo ngại rằng đạo luật ở Arizona sẽ dẫn đến tình trạng người da mầu sẽ bị làm khó dễ một cách bất công. Cứ 2 người Mỹ thì có một người lo ngại rằng đạo luật ở Arizona sẽ dẫn đến tình trạng cảnh sát bắt oan vì nghi ngờ cư ngụ lậu chỉ vì mầu da của người ta; chỉ có 15% nghĩ rằng việc đó sẽ không xảy ra.

Ðạo luật mới ở Arizona là một phản ứng của dân tiểu bang trước tình trạng các nhà chính trị liên bang “lảng tránh” nếu không nói là “trốn tránh” không giải quyết vấn đề di dân lậu trong hàng chục năm qua.

Khác với các vấn đề như cải tổ y tế, kích thích kinh tế, hoặc cải tổ hệ thống tài chánh, ngân hàng, vấn đề di dân lậu không gây ra sự đối kháng giữa hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ. Ðây là một đề tài mà cả hai đảng đồng ý là không nên đem ra bàn trong lúc này. Vì trong nội bộ mỗi đảng đều chia rẽ trong vấn đề này, và trong một năm bầu cử, không ai muốn bước vào “bãi mìn” đó. Dự luật năm 2006 của cựu Tổng Thống George W. Bush đã không được Quốc Hội đem ra bàn cũng chỉ vì sự chia rẽ ý kiến trong nội bộ cả hai đảng chính trị.

Có những người quá khích chủ trương phải đuổi hết các di dân bất hợp pháp trở về nguyên quán. Nhưng trong thực tế, muốn đi tìm được 12 triệu người này, rồi đem họ ra biên giới tống xuất thì bộ máy cảnh sát, quân đội Mỹ sẽ không đủ nhân lực làm công việc đó. Hơn nữa, nền kinh tế Mỹ không thể thiếu 12 triệu nhân công rẻ tiền đó. Bao nhiêu công việc tay chân nếu không có di dân lậu thì sẽ thiếu người làm; hoặc có người nhưng giá cả sẽ tăng lên. Thiếu di dân lậu thì người Mỹ sẽ phải ăn trái cây và rau với giá đắt hơn, đi ăn tiệm sẽ trả tiền đắt hơn vì lương công nhân cao hơn.

Giải pháp tốt nhất là hợp pháp hóa những di dân lậu với các điều kiện công bằng và nghiêm khắc. Nhưng hợp thức hóa như thế nào? Hợp pháp hóa những người đang ở lậu có thể khuyến khích những người khác tìm cách nhập cư bất hợp pháp, làm sao để ngăn chặn? Canh phòng biên giới cẩn mật hơn sẽ ngăn không còn di dân lậu nữa, nhưng dân Mỹ có đồng ý đóng thêm thuế cho công việc đó hay không? Dự luật của Tổng Thống Bush cũng dự trù một quy chế cho những di dân đóng vai công nhân tạm thời, công nhân khách, được làm việc hợp pháp ở Mỹ khi hết hợp đồng phải về quê cũ, nếu không sẽ bị phạt nặng. Vẫn chủ trương phải phạt những chủ nhân thuê mướn công nhân ngụ cư bất hợp pháp, nhưng giới chủ nhân chống đối; vì việc kiểm soát ai cư ngụ hợp pháp, ai không, là việc của chính phủ, không phải của tư nhân!

Trên đây là một vài nỗi khó khăn gây bất đồng ý kiến giữa các nhà chính trị, khiến cho họ không thể thỏa thuận về giải pháp cho vấn đề di dân bất hợp pháp. Nhưng khi các nhà chính trị liên bang lảng tránh không giải quyết thì các tiểu bang phải tự lo! Ðó là lý do tiểu bang Arizona đã làm. Có thể nói đây là một hồi chuông báo động để buộc các nhà chính trị phải đối diện với một vấn đề hóc búa. Trong một năm bầu cử như năm nay, khó hy vọng Tòa Bạch Ốc và Quốc Hội Mỹ sẽ đủ can đảm giải quyết vấn đề này. Nhưng tiếng chuông cảnh tỉnh của Arizona hy vọng sẽ khiến cho sang năm 2011 Quốc Hội mới sẽ bàn về một giải pháp toàn diện và lâu dài cho 12 triệu người di dân lậu ở Mỹ. Nếu Nghị Sĩ John McCain được tái cử trong năm nay, hy vọng ông sẽ là một người xướng xuất một dự luật được cả 2 đảng ủng hộ để tìm giải pháp toàn diện như vậy. Bởi vì ông vẫn được tiếng là người ôn hòa và đủ can đảm để đưa ra những ý kiến đúng, dù làm mất lòng những người ủng hộ mình.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Kim Chính Nhật, con người lạ thường của một chế độ bệnh hoạn

Lê Quốc Tuấn

Sau những vụ ồn ào về thử nghiệm vũ khí hạt nhân năm ngoái, tuần này, hình ảnh đặc thù của Kim Chính Nhật (Kim Jong Il) lại xuất hiện trên trang nhất của báo chí truyền hình, truyền thông thế giới qua chuyến xuôi nam đi thăm Trung Quốc của ông.

Mục đích chuyến đi này là để nhà lãnh đạo Bắc Triều Tiên 68 tuổi tìm kiếm hỗ trợ từ Trung Quốc về tài chính và một chỗ dựa cho chế độ quá suy sụp của mình. Đồng thời, có lẽ cũng nhằm cố gắng tìm sự đồng thuận, đỡ đầu của nước bảo trợ cho Kim Chính Vân (Kim Jong Un), đứa con trai đang được tích cực “xức dầu thánh” để đăng quang kế nhiệm mình vì tình trạng sức khỏe ngày càng tệ hơn của Kim Chính Nhật.

Có thể nói, chế độ của Kim Chính Nhật ở Bắc Triều Tiên là một sự bất thường ngay cả khi đem so sánh với những nước cộng sản độc tài ít ỏi còn lại trên thế giới như Trung Quốc, Việt Nam và Cuba. Chế độ này là sự kết hợp nỗi ám ảnh bí mật của chế độ độc tài cộng sản với chủ nghĩa biệt lập kinh điển mà điển hình rõ rệt nhất chính là đất nước Bắc Triều Tiên khép kín lâu nay.

Còn về phương diện cá nhân, tối thiểu là Kim Chính Nhật đã thực hiện được cho mình hình ảnh của một con người hết sức cá biệt ở những tiêu chuẩn tiêu cực nhất khiến có thể gọi là một kẻ lạ thường, điên khùng trước cái nhìn của cả thế giới.

Người Bắc Triều Tiên phải gọi Kim Chính Nhật là vị “Lãnh tụ Kính yêu”, họ phải “sẵn lòng chết cho lãnh tụ Kim”; hệ thông truyền thông Bắc Triều Tiên gọi Kim Chính Nhật là một nhà lãnh đạo tài ba không ai có thể so sánh bằng. Trong khi Hàn Quốc và giới truyền thông Hoa Kỳ gọi Kim Chính Nhật là thằng dở hơi (wacko); Tổng thống Mỹ George W. Bush từng gọi Kim Chính Nhật là một đứa trẻ hư đốn (spoiled child).

Ngoài tài năng cai trị, “chính sử” của Bắc Triều Tiên còn ghi lại rằng, năm 1964, sau khi tốt nghiệp đại học, Kim Chính Nhật đã viết 1.500 cuốn sách, tất cả đều được lưu trữ trong thư viện nhà nước. Ngoài ra ông còn đã từng viết sáu vở opera, tất cả đều hay hơn bất cứ vở nhạc kịch nào trong lịch sử âm nhạc và là người đã thiết kế Tháp Juche, một ngọn tháp cao 150 mét để kỷ niệm người cha của mình.

Sự thật là con người ngạo nghễ, bất cần dư luận này có đủ trí tuệ khôn ngoan để được giữ vững được vị trí của mình bất chấp thực tế của một đất nước khánh kiệt, một nền kinh tế trống rỗng, một guồng máy cai trị quan liêu, tham nhũng và một quân đội “hùng mạnh” nhưng chưa từng được thử thách bao giờ. Kim Chính Nhật đã đánh lừa được một số người giỏi và sáng giá nhất như đã từng được cựu bộ trưởng ngoại giao hoa Kỳ Madeline Albright ca ngợi trong chuyến thăm chính thức của bà. Kim Chính Nhật từng đe dọa sẽ từ bỏ cuộc đình chiến được ký kết hồi năm 1953 trong Chiến tranh Triều Tiên, bắn một tên lửa vào Biển Nhật Bản và chặn một máy bay trinh sát Mỹ trong không phận quốc tế. Kim Chính Nhật cũng đã từng đồng ý tháo dỡ khả năng hạt nhân của nước mình để đổi lấy viện trợ năng lượng quốc tế và các lợi ích khác. Ngoài ra, Kim Chính Nhật dám xúc phạm đến chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào trong cuộc họp báo riêng của mình. Và mặc dù chống Kim Chính Nhật, tất cả các nước lớn, các nguồn thông tin, từng liệt chế độ của Kim vào thành phần của Trục Ma Quỷ (Axis of Evil) nhưng ông ta vẫn còn đầy đủ quyền lực và không hề có dấu hiệu suy yếu nào.

Làm thế nào để ông có thể quản lý để đánh lừa được cả một dân tộc và nhiều người khác trên thế giới như thế?

Những điều tra của Nam Hàn và thế giới phương Tây về chế độ và chính con người của Kim Chính Nhật phần nào đã trả lời được câu hỏi ấy. Tất cả sức mạnh của Kim và chế độ khởi đi và nằm trong hai nguyên tắc: Tàn ác và Bí ẩn. Và có lẽ, hai nguyên tắc ấy chỉ có thể thực hiện được ở một con người luôn cố tạo cho mình dáng vẻ kỳ bí nhưng đằng sau là cả một cá tính bệnh hoạn, tâm lý thất thường, trong một đời sống cá nhân xa hoa và thác loạn.

Tàn ác

Về đối nội: Kim Chính Nhật đã cai trị bằng một chế độ tệ hại nhất trên hành tinh. Tàn ác lớn nhất là Kim luôn luôn sử dụng gần 24 triệu dân mình làm con tin trong các mặc cả với phương Tây. Ông đã dùng các tù nhân để thử nghiệm các vũ khí chất độc và sinh học, sử dụng tù nhân trong các lao động nô lệ và xử phạt nặng nề những người muốn chạy trốn khỏi “thiên đường của công nhân và nông dân”. Kim chủ trương bắt cóc hàng trăm người vô tội từ Hàn Quốc, Nhật Bản và Trung Quốc tiếp tục cầm giữ họ để đào tạo gián điệp phá hoại cho mình.

Như Hwang Jang Yop, một nhân vật cao cấp trong chính phủ trước đây, đã đào thoát khỏi Bắc Hàn, nói “Chắc chắn chế độ độc tài của Kim Chính Nhật là khắc nghiệt nhất và khả năng lãnh đạo của Kim là tuyệt vời. Với khả năng siêu việt này, Kim đã hủy hoại chính công lao cha mình, cả xã hội của Bắc Triều Tiên và nhiều người ngây thơ phục tòng ông”.

Về đối ngoại: Kim Chính Nhật chủ trương đóng cửa, rút cầu, bế quan tỏa cảng. Trước khi kế vị ngai vàng trụy lạc của cha, ông luôn luôn được nhắc đến chính thức trong báo chí trong tất cả các mánh lới xiên xẹo có thể có được để đánh bóng mình. Kim Chính Nhật là Trung tâm của Đảng, Tổng thủ lĩnh Thanh Niên. Bởi vì trước đó, không một ai biết gì về Kim. Kim đã chưa từng bao giờ đi du lịch qua phương Tây. Khi Kim cầm quyền, ít ai nghĩ rằng ông ta có thể giữ được quyền lực, nhưng Kim đã củng cố được cơ chế cha mình ban cho và khai triển những kỹ thuật khác để tăng sức mạnh của mình, và quan trọng hơn cả là Kim đủ độc ác để thi hành.

Trước giới quan sát quốc tế, Kim Chính Nhật đã thực hiện một quá trình chuyển đổi có chủ ý từ tính cách ẩn dật và lập dị khi ông đã ngày càng vững vàng trên sân khấu công cộng. Trong khi đó, Kim đã học để chơi các ván bài ti tiện mà ông ta nắm giữ được với kỹ năng của một người có nhiều tay tại cuộc cờ quốc tế.

Để chắc ăn, Kim Chính Nhật phô trương mối nguy hiểm cho các láng giềng mình để qua đó gián tiếp đe dọa Hoa Kỳ bằng Taepdong, một tên lửa loại mới có thể bắn đến bờ biển phía Tây của Hoa Kỳ. Kim còn cho thấy, mình sẽ có thể gắn thêm một thiết bị hạt nhân trên những tên lửa chết người đó. Tóm lại, hiện nay Kim cho thấy rõ ràng có đủ sức mạnh trong tầm tay của mình để khuấy động xung đột trong khu vực. Những xung đột vốn có thể dẫn đến một cuộc chiến tranh mà ông ta không thể thắng, nhưng những thiệt hại tương tàn – thường dân bị sát hại, tài nguyên bị hủy hoại cùng những tác động xấu đến kinh tế – sẽ tức khắc làm rúng động khu vực và cả Hoa Kỳ.

Đồng thời, Kim Chính Nhật xuất khẩu các sản phẩm thấp hèn của mình như tên lửa, vũ khí hóa học, sinh học, công nghệ hạt nhân, ma túy, nô lệ tình dục và tiền giả ra khắp thế giới. Những đất nước ngỗ ngịch từng có chiến tranh với Mỹ và xung đột với các nước khác đã mua được các vũ khí nguy hiểm từ Bắc Triều Tiên. Trong vai trò gián tiếp, Kim Chính Nhật hỗ trợ các radar thám thính cho Iran, Syria, Venezuela và những phong trào khủng bố. Thực tế Kim đã đóng một vai trò đe dọa hơn nhiều so với thách thức trực tiếp tới Mỹ của mình.

Bí ẩn

Duy trì bí ẩn về chế độ và cá nhân mình là một trong những kỹ thuật để bảo vệ quyền lực mà Kim Chính Nhật đã khai thác đến mức khác thường. Bằng tất cả quyền lực, guồng máy cai trị bạo tàn trong tay, Kim luôn tăng cường gìn giữ bí mật về đời sống cá nhân. Ông ta thường tránh xuất hiện trước công chúng. Người dân thường trong nước không có cách nào để hiểu được về tâm lý và tính cách của Kim. Bất cứ ai có cơ hội gần gũi với Kim, nhận ra điều gì tiêu cực về Kim cũng phải giữ gìn che đậy hoặc là lập tức bị “biến mất” nếu để lộ ra công chúng. Cá tính của Kim Chính Nhật có thể giải thích đưọc phần nào qua tiết lộ của Lee Young Kuk, một trong những vệ sĩ cũ của Kim; Lee mô tả Kim như một con người “dễ mất kiên nhẫn do hậu quả uống quá nhiều rượu và do các vấn đề gia đình khi ông còn ấu thơ, đó là lý do tại sao ông có thói quen quyết định công việc đột ngột, bất ngờ và vội vàng”.

Những người viết sử của Bắc Triều Tiên còn thêu dệt thêm những bí ẩn xung quanh ngày và nơi sinh của Kim. Theo các quan chức nhà nước, ông được sinh ra trong tháng 2 năm 1942 tại căn cứ du kích của cha mình trên núi Paektu, ngọn núi cao nhất của Bắc Triều Tiên. Khi ông sinh ra, “có các lằn chớp và sấm sét, những tảng băng trôi trong hồ giữa rặng núi Paektu phát ra loại âm thanh huyền bí và có một vầng cầu vồng sáng rực rỡ xuất hiện”. Tuy nhiên, các sử gia đúng đắn nói rằng sự thực là Kim sinh ra một năm trước đó trong thời gian cha ông sống lưu vong ở Siberia.

Người ta tin rằng ông đã kết hôn một lần, có một đứa con từ cuộc hôn nhân này, song song đó ông cũng đã có ba tình nhân và hai đứa con khác. Một trong những con trai của Kim Chính Nhật là Kim Chính Nam (Kim Jong-nam), nhân vật lẽ ra thừa kế quyền lực của Kim, đã bị thất sủng sau một vụ bắt giữ hồi năm 2001 tại Tokyo khi sử dụng hộ chiếu giả để đi du lịch.

Giống như bất kỳ nhà độc tài khôn ngoan nào trong quá khứ lịch sử con người. Kim Chính Nhật không ngừng xây dựng một sự sùng bái nhân cách cho cá nhân và gia đình mình. Hình ảnh của ông ta và người cha quá cố Kim Nhật Thành được trang hoàng ở tất cả các công trình công cộng, và hình phạt cho bất cứ lời chỉ trích phê bình nào đến lãnh tụ “kính yêu” là phạt tù trong trại tập trung. Sinh nhật của cả hai cha con Kim là hai ngày lễ quan trọng của quốc gia. Tất cả các phương tiện truyền thông của Nhà nước, tất nhiên, liên tục khen ngợi hết lời vị “Lãnh tụ kính mến”.

Cá tính bệnh hoạn, đời sống thác loạn xa hoa

Nói đến cá tính lạ thường của con người này, có thể bắt đầu bằng một nhận xét của Sam Harris trong tác phẩm Thư gởi một quốc gia Kitô giáo cho thấy tính khí của con người này bệnh hoạn ra sao: “Kim Chính Nhật đòi hỏi là giường ngủ của y ở nhiều nơi cư ngụ khác nhau phải được đặt chính xác năm trăm mét trên mức nước biển. Nệm giường của y phải được nhồi bởi các thứ lông vũ mềm mại nhất mà chúng ta có thể tưởng tượng được. Các thứ lông vũ đó chính là các lông măng dưới cằm của giống chim sẻ. Phải cần đến bảy trăm ngàn con chim sẻ để dồn đủ lông cho một tấm chăn như thế“.

Kim Chính Nhật nổi tiếng với thị hiếu lập dị và ngông cuồng của mình. Ông nhập khẩu hàng năm một lượng rượu cognac Hennessy trị giá đến 700,000 mỹ kim, thích phim ảnh Hollywood như “Rambo” và loạt phim kinh hoàng “Thứ Sáu ngày 13″. Kim cũng rất thích đua xe, và có bộ sưu tập xe hơi phong phú, bao gồm tất cả các loại đắt tiền nhất từ Mercedes, Fords, Cadillac, Ferrai, Lambroghini, Lincolns…

Kim Jong Ryul, 75 tuổi, nguyên là một đại tá của Bắc Triều Tiên đã trốn khỏi Bắc Hàn, sống lưu vong hơn 16 năm ở Áo, viết một cuốn sách để ông “có thể chết đi mà không bị lương tâm cắn rứt”. Trong cuốn sách này, Kim Jong Ryul tiết lộ hai thập kỷ chuyên truy lùng mua sắm những thứ xa hoa ở châu Âu cho nhà lãnh đạo của đất nước ông, trong khi đất nước thì nghèo khó và những người dân thường phải chết đói. Sử dụng tên giả là Emil, ông Kim J.Ryul thường xuyên đi qua châu Âu bằng một hộ chiếu ngoại giao và một vali đầy tiền mặt để mua sắm xe hơi, máy bay, súng và các thực phẩm đặc biệt cho cả Kim Nhật Thành và con trai ông, Kim Chính Nhật. Các hàng hóa mua được và tiền sẽ được giao dịch thanh toán qua ngả Vienna, lợi dụng lợi thế của các trương mục ẩn danh, quy tắc thương mại lỏng lẻo và những kiểm tra tối thiểu trên máy bay dành cho hàng ngoại giao.

Ông nhận xét rằng mặc dù công khai tố cáo chủ nghĩa đế quốc và văn hóa đồi trụy phương Tây nhưng thực chất gia đình cầm quyền của Kim Chính Nhật có đời sống điển hình nhất của một thứ đời sống sa đọa, bệnh hoạn. Ông Kim Ryul cho biết các nhà lãnh đạo Bắc Triều Tiên có hàng chục biệt thự, một số trong đó được xây dựng dưới lòng đất, được trang hoàng với các chùm đèn xa hoa, thảm Ba Tư quý hiếm và tất cả các loại đồ nội thất đắt tiền. Ông cho biết một số các biệt thự còn được trang bị hệ thống thông gió đặc biệt để đề phòng một cuộc tấn công bằng hạt nhân.

Ông cho biết Kim Chính Nhật “chỉ ăn thức ăn nước ngoài”. Khẩi vị của Kim là tôm hùm, trứng cá muối, sushi hảo hạng và thịt lừa rang. Ông nói thêm: “Tại Vienna, có một tùy viên đặc biệt, bạn của tôi, một người chỉ chuyên mua sắm đặc sản nước ngoài cho nhà độc tài”. Hàng đoàn đầu bếp giỏi được gửi từ Bắc Triều Tiên đến Áo để nghiên cứu học hỏi các cách nấu ăn tinh xảo ngon miệng phục vụ lãnh tụ kính yêu.

Trong tuần lễ này, nhà lãnh đạo “kính yêu” đang ở Trung Quốc trong một chuyến đi lạ thường, ly kỳ như tiểu thuyết giả tưởng. Vì mắc một chứng bệnh tâm lý sợ máy bay rớt, ngài không bao giờ đi máy bay. Trong các chuyến công du trước đây đến Trung Quốc và Nga, ngài luôn sử dụng phương tiện an toàn nhất : xe hỏa. Lần này, ngài đã đi trên một đoàn xe lửa bọc thép dài 17 toa, chạy kèm theo hai bên là những chiếc limousine và đoàn xe bus của đoàn nhân viên tùy tùng phục dịch. Đoàn xe “bí mật” này chạy qua thành phố Đan Đông biên giới Hàn/Trung vào hôm 3 tháng Năm, nghỉ lại qua đêm ở Đại Liên, sau đó viếng thăm một nhà máy, khu công nghiệp ở đó để cuối cùng đến thủ đô Bắc kinh ngày 5 tháng Năm để vị lãnh tụ Kim lạ thường này gặp gỡ các quan thầy cao cấp nhất của nước bảo hộ Trung Quốc. Ra khỏi chiếc xe hỏa bọc thép, Kim tiến vào Nhà khách Quốc gia Trung Quốc Điếu Ngư Đài (Diaoyutai) trong một đoàn xe 40 chiếc. Nơi đây, cựu tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon từng lưu lại trong chuyến viếng thăm 40 năm trước của ông đến Trung Quốc.

Chuyến đi ồn ào đông đảo mà lại lặng lẽ này quả là một biểu tượng quái gở nền ngoại giao thế kỷ hai mươi mốt. Trong khi các hãng truyền thông phương Tây, báo chí, đài truyền hình Nam Hàn và Nhật Bản đưa tin từng giờ về chuyến đi “bí mật” này, sự kiện hệ thống truyền thông Trung Quốc giữ im lặng, không hề chính thức loan báo gì về cuộc viếng thăm cấp quốc gia của Kim cũng đã cho thấy phần nào tính quái gở của ngành truyền thông và trong công việc ngoại giao của phía Trung Quốc.

Quả là những chuyện chỉ có thể xảy ra ở những xứ “lạ”! Và quả là nhân loại chung quanh, đặc biệt là những nước có ảnh hưởng trực tiếp đến các xứ “lạ” này cần phải suy nghĩ về mối quan hệ của mình với những con người, chế độ như thế này.

(Tổng hợp từ nhiều nguồn.)
Tháng Năm 2010
Lê Quốc Tuấn
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Thánh Lễ Tạ Ơn Và Chào Đón
Đức Tổng Giám Mục Phó
Phêrô Nguyễn Văn Nhơn

http://www.tgphanoi .org
07.05.2010


Hà Nội, ngày 07/05/2010, Tổng Giáo Phận Hà Nội long trọng cử hành thánh lễ Tạ Ơn và chào đón Đức Tân Tổng Giám Mục Phó Phêrô tại nhà thờ Chính Tòa Hà Nội. Đức Tổng Giám Mục Giuse đã chủ sự thánh lễ với sự tham dự của các Đức Giám mục thuộc giáo tỉnh Hà nội, linh mục đoàn TGP Hà Nội, các linh mục đại diện Giáo phận Đà Lạt, một số linh mục từ các Giáo phận trong giáo tỉnh cùng đông đảo nam nữ tu sỹ, chủng sinh và anh chị em giáo dân.

9h30 đoàn đồng tế tiến vào cung thánh. Trước khi vào Thánh lễ, cha chánh văn phòng TTGM Hà nội đã đọc Sắc chỉ bổ nhiệm Đức TGM Phó Hà Nội của Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI và Nghị định bổ nhiệm Đức TGM Phó Hà nội của Thánh Bộ Rao Giảng Tin Mừng Cho Các Dân Tộc. Tiếp đó, Đức Tổng Giám Mục Giuse đã ngỏ lời với cộng đoàn và giới thiệu Đức TGM Phó Phêrô với cộng đoàn.

Thánh lễ đã diễn tiến trong sự trang nghiêm của bầu không khí phụng vụ. Đức Tân TGM Phó đã chia sẻ Tin Mừng trong Thánh lễ.

Trước khi kết thúc Thánh lễ, Đức Giám Mục Giuse Nguyễn Chí Linh, Phó Chủ Tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, đã thay mặt HĐGM Việt Nam ngỏ lời chúc mừng Đức Tân TGM Phó Phêrô.

Cha Giuse Nguyễn Khắc Quế, Quản hạt Thanh Oai, thay mặt toàn thể cộng đoàn dân Chúa TGP Hà Nội ngỏ lời chúc mừng Đức Tân TGM Phó.

Đáp lại, Đức Tân TGM Phó Phêrô đã ngỏ lời với toàn thể cộng đoàn.
Image

Image
Đức TGM Giuse giới thiệu Đức Tân TGM Phó Phêrô

Image

Image
Bên hông nhà thờ

Image

Đức Tổng Giám Mục Giuse Giới Thiệu Đức TGM Phó Phêrô Với Cộng Đoàn


Thưa anh chị em,

Tôi xin trân trọng giới thiệu với anh chị em: Đức Cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn, Chủ tịch HĐGMVN, vừa được Tòa Thánh bổ nhiệm làm Tổng Giám Mục Phó với quyền kế vị tại tòa TGM Hà Nội.

Anh chị em đã biết từ mấy năm qua sức khỏe của tôi không được tốt. Suốt năm vừa qua, tôi nghỉ nhiều hơn làm việc. Với lương tâm trách nhiệm, tôi đã đệ trình Tòa Thánh. Và hôm nay, Tòa Thánh đã cử Đức cha Phêrô đến giúp đỡ giáo phận chúng ta.

Khi cử Đức cha Chủ tịch HĐGM đến, Tòa Thánh đã có ý trân trọng Tổng Giáo phận Hà Nội. Được có ngài làm Phó đó là niềm vinh dự cho cá nhân tôi.

Có lẽ anh chị em đang băn khoăn tự hỏi: “Không biết Đức cha Phêrô có hiểu chúng ta không”. Anh chị em băn khoăn là có lý. Trong quá khứ, Giáo hội Miền Bắc đã chịu quá nhiều đau khổ. Tổng Giáo Phận Hà Nội đã chịu quá nhiều thiệt thòi. Về phương diện con người sau khi đã trải qua nhiều đau khổ thì cảnh giác là tự nhiên và cần thiết.

Nhưng về phương diện Giáo hội thì khác. Khi nhận một giáo phận, vị giám mục phải suốt đời gắn bó yêu thương giáo phận đó. Vì thế, từ hôm nay, TGP Hà nội trở thành quê hương của ngài. Anh chị em trở thành gia đình của ngài. Vui buồn của anh chị em là vui buồn của ngài. Nguyện vọng của anh chị em là nguyện vọng của ngài. Từ nay ngài không chỉ đồng cảm hay đồng hành với anh chị em nhưng sẽ đồng sinh đồng tử với anh chị em, với giáo phận. Vì thế anh chị em hãy chào mừng ngài.

Ngài đã trở thành người ở trong gia đình giáo phận, anh chị em hãy yêu mến ngài như đã yêu mến tôi. Vì tôi đau yếu, ngài sẽ thay mặt tôi đảm trách những công việc của giáo phận, anh chị em hãy vâng phục ngài như đã vâng phục tôi.

Trong tâm tình đó, giờ đây chúng ta cùng dâng thánh lễ cầu nguyện cho Giáo phận, đặc biệt cho Đức cha Phêrô, thành viên mới của gia đình Giáo phận chúng ta.

Đức TGM Giuse Ng. Q. Kiệt
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Hình Ảnh Lễ Phong Chức Phó Tổng Giám Mục Hà Nội

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image


quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

TGM Phó Nguyễn Văn Nhơn Được Đón Tiếp Căng Thẳng...
Image
Biểu ngữ tôn vinh Đức cha Ngô Quang Kiệt.(Photo: VietCatholic News)
Nhiều Biểu Ngữ Giáo Dân Cầm Tới Bị Tịch Thu ở Cổng Nhà Thờ...
Trong khi Tổng Giáo Phận Hà Nội đón chào Tổng giám mục phó Nguyễn Văn Nhơn, nhiều giáo dân Hà Nội vẫn bày tỏ lòng trung thành với TGM Ngô Quang Kiệt, theo tin của đài RFI hôm Thứ Sáu.

Bản tin RFI viết:
“Ngày 7/5, thánh lễ đón chào Đức tân Tổng giám mục phó Tổng giáo phận Hà Nội Nguyễn Văn Nhơn đã được cử hành tại Nhà thờ Chính tòa Hà Nội với sự tham dự của rất đông giáo dân, trong đó nhiều người mang biểu ngữ tôn vinh Đức cha Ngô Quang Kiệt.

Đức cha Nguyễn Văn Nhơn, đương kim chủ tịch Hội đồng giám mục Việt Nam, đã được Tòa thánh ra quyết định ngày 22/4 bổ nhiệm làm Tổng giám mục phó với quyền kế vị Đức Tổng giám mục Ngô Quang Kiệt, mà hiện sức khoẻ rất kém. Việc bổ nhiệm này đã gây ra nhiều tranh cãi, vì có dư luận cho rằng, Vatican và Hội đồng giám mục Việt Nam đã nhượng bộ trước sức ép của chính quyền Việt Nam, vẫn muốn loại bỏ Đức cha Ngô Quang Kiệt, người đã dám lên tiếng đòi công lý và sự thật trong các vụ tranh chấp đất đai giữa Giáo hội với Nhà nước.

Mặc dù Tòa Tổng giám mục Hà Nội đã kêu gọi là không nên « mang những gì không cần thiết cho thánh lễ và tránh thái độ, cử chỉ, lời nói ảnh hưởng đến bầu khí thánh thiêng của thánh lễ », nhưng rất nhiều giáo dân đã mang các biểu ngữ với những khẩu hiệu và hình ảnh tôn vinh Đức Tổng giám mục Ngô Quang Kiệt...”

Bản tin của thông tấn VietCatholic News hôm 7-5-2010 cho biết thêm các chi tiết:
“...Trong lời giới thiệu Đức Cha Tân Tổng Giám Mục Phó, Đức Tổng Giám Mục Giuse Ngô Quang Kiệt ghi nhận những băn khoăn của anh chị em giáo dân trước quyết định bổ nhiệm Đức Cha Phêrô.
“Trong quá khứ giáo hội Miền Bắc đã chịu quá nhiều quá nhiều đau khổ, tổng giáo phận Hà Nội đã chịu nhiều thiệt thòi về phương diện con người. Sau khi đã trải qua quá nhiều đau khổ thì cảnh giác là điều tự nhiên và cần thiết.”

Tuy nhiên, Đức Tổng Giám Mục Giuse trấn an anh chị em giáo dân rằng về phương diện Giáo Hội, khi nhận một giáo phận, vị giám mục sẽ coi giáo phận mới là quê hương và gia đình của mình. “Vui buồn của anh chị em là vui buồn của ngài. Nguyện vọng của anh chị em là nguyện vọng của ngài. Từ nay ngài không chỉ đồng cảm hay đồng hành với anh chị em, nhưng sẽ đồng sinh, đồng tử với anh chị em, với giáo phận”.

Đặc biệt, thông tấn Nữ Vương Công Lý qua lời phóng viên Thanh Tâm đã ghi nhận tình hình phải đi cửa hông và không khí “căng thẳng... mọi phía không ai thấy có được một nụ cười rạng rỡ, như thường thấy trong các thánh lễ nhận chức và truyền chức.”

Bản tin này trích:
“Hà Nội- Sáng 7/5 tại nhà thờ Chính Tòa đã diễn ra thánh lễ ra mắt của Đức TGM Phó TGP Hà Nội Phêrô Nguyễn Văn Nhơn.
Tham dự, về phía các đức giám mục, có các đức giám mục của các giáo phận Buôn Mệ Thuật, Thanh Hóa, Phát Diệm, Hải Phòng, Bùi Chu, Thái Bình, Bắc Ninh, Hưng Hóa, Lạng Sơn và Hà Nội.
Các linh mục có khoảng 150, phần lớn thuộc linh mục Đoàn Hà Nội, một số đến từ Bắc Ninh, Hưng Hóa và Đà Lạt.
Đông đảo giáo dân, chủng sinh và nam nữ tu đã về tham dự. Số người ước lượng khoảng 1500 người, trong đó phần lớn là giáo dân đến từ các giáo xứ xa Hà Nội.

Thánh lễ diễn ra trong bầu khí căng thẳng. Gương mặt giám mục, linh mục, tu sĩ và giáo dân mọi phía không ai thấy có được một nụ cười rạng rỡ, như thường thấy trong các thánh lễ nhận chức và truyền chức.
Đông đảo giáo dân đã tập trung ở quảng trường trước nhà thờ và giăng khá nhiều biểu ngữ ủng hộ và cổ vũ Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt.
Ban Trật tự nhà thờ và các thầy chủng sinh đã phải vất vả để ngăn dòng người mang biểu ngữ vào trong nhà thờ. Các thầy cũng đã thu được khá nhiều biểu ngữ ủng hộ Đức Tổng Kiệt. Nhiều giáo dân mất biểu ngữ đã lớn tiếng phản đối các thầy chủng sinh.

Đoàn đồng tế bắt đầu rước sớm hơn 30 phút so với dự tính là 10 h. Đoàn đồng tế tiến vào nhà thờ bằng cửa phụ, bên hông nhà thờ thay vì cửa chính như những lần khác. Kết lễ, đoàn rước Đức Tổng Giám Mục Phó cũng đi về Tòa Giám Mục như vậy...”
Cuối thánh lễ, tình hình cũng căng thẳng, theo trang web Nữ Vương Công Lý:
“...Kết lễ, trên đường rước, một số giáo dân muốn tiếp cận Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt để được bắt tay ngài như mọi cuộc rước trong các thánh lễ khác, nhưng đã bị Ban Trật tự ngăn lại.
Có nhiều người mang biểu ngữ và hình ảnh Đức TGM Ngô Quang Kiệt đã đứng trên lối đi từ nhà thờ Chính Tòa qua Chủng viện sang Tòa Giám Mục. Dòng người này đã bị chặn lại ở cổng phân cách giữa Tòa Tổng Giám Mục và nhà thờ Chính Tòa...”
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Sự thay đổi chiến lược của Mỹ ở Thái Bình Dương
đối với hải quân Trung Quốc
Từ trước đến nay, Mỹ vốn tự hào là có lực lượng Hải quân hùng mạnh nhất thế giới. Đặc biệt, lực lượng Hải quân Mỹ luôn được coi là có khả năng khống chế toàn bộ biển Thái Bình Dương cho dù họ mới chỉ sử dụng có 40% lực lượng hiện có.
Image
Tiềm thủy đỉnh của hải quân Trung Quốc
Thế nhưng, bước sang năm 2005 thì tình hình đã khác trước rất nhiều, người Mỹ bắt đầu phải quan ngại đến một đối thủ tiềm táng, đó chính là lực lượng tàu ngầm của Hải quân Trung Quốc.

Hạm đội tàu ngầm của Hải quân Trung Quốc

Từ sau năm 1960, lực lượng Hải quân Trung Quốc đã có một hạm đội tàu ngầm với khoảng hơn 70 chiếc, chạy bằng động cơ diesel và chủ yếu được chế tạo theo kiểu tàu ngầm thế hệ Romeo của Liên Xô. Mặc dù, xét về số lượng thì Hải quân Trung Quốc đứng thứ ba trên thế giới nhưng hạm đội của nước này vẫn không được đánh giá là mạnh.

Trong những năm tgừ 1992 đến 1996, Trung Quốc đã quyết tâm thực hiện bằng được kế hoạch thay thế các tàu ngầm cũ bằng những lớp tàu ngầm mới do nước này tự chế tạo. 20 chiếc tàu ngầm thế hệ mới thuộc lớp Ming đã thay thế 20 chiếc tàu lớp Romeo. Lớp tàu ngầm Ming của Trung Quốc có khả năng chống tàu vận tải và rải các thủy lôi điều khiển bằng điện từ. Lớp tàu này còn được trang bị hệ thống siêu âm và các chân vịt được thiết kế theo tiêu chí không tạo âm thanh khi hoạt động.

Tiếp đó, Trung Quốc bắt đầu chế tạo thêm một thế hệ tàu ngầm khác, đó là các tàu ngầm lớp Song. Thế hệ tàu ngầm này được ứng dụng công nghệ tạo áp lực đẩy không tiếng động đặc biệt và đã bắt đầu được trang bị các hỏa tiển loại "hạm - đối - hạm". Theo các chuyên gia kỹ thuật của Mỹ thì những chiếc tàu ngầm này có khả năng hoạt động sâu dưới mặt nước trong nhiều tuần liền mà không gây ra bất cứ tiếng động nào dù là nhỏ nhất. Chính vì thế, ngay từ năm 2002, việc Trung Quốc biên chế 7 tàu ngầm thế hệ này cho Hạm đội Bắc Hải đã khiến cho các nhà hoạch định chiến lược của Mỹ bắt đầu cảm thấy băn khoăn.

Trong năm 2003, Trung Quốc còn cho hạ thuỷ 13 tàu ngầm thuộc các lớp khác nhau trong đó có 2 chiếc chạy bằng năng lượng hạt nhân được chế tạo theo lớp Yuan. Đây là thế hệ tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân được thiết kế hoàn chỉnh nahát theo mô phỏng của hai lớp tàu là lớp Song của Trung Quốc và lớp Kilo của Nga. Tuy vậy, cho tới nay, đối với các thế hệ tàu ngầm nguyên tử chạy bằng năng lượng hạt nhân của Trung Quốc thì lớp tàu ngầm tấn công Han vẫn được coi là hiện đại nhất.

Mỹ điều chỉnh lại lực lượng quân đội ở Thái Bình Dương

Theo Washington Post thì lực lượng phản gián chống ngầm thuộc Hạm đội 7 của Mỹ là cơ quan đầu tiên nắm được hoạt động di chuyển của tàu ngầm 406 của Trung Quốc ngay từ khi nó rời căn cứ. Trong thời gian chiếc tàu này hoạt động, các máy bay trinh sát, vệ tinh viễn thám và các tàu săn ngầm của Hạm đội 7 đã liên tục theo dõi, giám sát.

Tuy nhiên, người Mỹ vẫn cảm thấy bất an bởi họ đã quá quen với tình huống không có đối thủ, còn giờ đây, họ cho là đang bị đe doạ tại chính các căn cứ quân sự lớn nhất của mình ở Thái Bình Dương.

Trước sự phát triển của tàu ngầm Trung Quốc, tháng 12/2004, Bộ Quốc phòng Mỹ đã tiến hành kế hoạch điều chỉnh lực lượng quân đội của mình tại khu vực Thái Bình Dương. Theo đó, Mỹ bổ sung một tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân USS Houston đến căn cứ Guam nâng tổng số tàu ngầm hạt nhân của Mỹ tại căn cứ này lên 3 chiếc. Đó là các tàu USS San Francisco, USS City of Corpus Christi và USS Houston. Chỉ một tháng sau, tàu USS San Francisco đã bị gặp nạn tại khu vực phía Nam đảo Guam khiến cho 31 trên tổng số 135 thuỷ thủ đoàn bị thương nặng.

Theo báo cáo Pacific Daily News thì trong thời gian tới, Hải quân Mỹ sẽ tiếp tục thực hiện kế hoạch tái bố trí lực lượng và tăng cường thêm ít nhất khoảng 8 tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân tới căn cứ Guam. Không những thế, Tư lệnh Không quân Mỹ ở Thái Bình Dương, tướng William J.Gegger còn cho biết, lực lượng không quân Mỹ sẽ phải tăng cường các máy bay chiến đấu, phi cơ phóng pháo và máy bay săn ngầm đến căn cứ không quân Anderson trên đảo Guam. Thêm vào đó, trong báo cáo tài chính của Bộ Quốc phòng Mỹ cũng đã khẳng định rằng, trong thời gian từ 5 đến 10 năm nữa, Mỹ sẽ tăn cường từ 2 đến 5 tỉ USD cho việc nâng cấp các cơ sở hạ tầng tại căn cứ Guam. Đồng thời, với các hoạt động này, một trung tâm trinh sát chống ngầm từ xa cũng đang được Bộ Quốc phòng Mỹ vội vã cho xây dựng tại căn cứ quân sự ở San Diego với nhiệm vụ nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu cũng như khả năng tác chiến chống ngầm.

(Theo báo An ninh thế giới)
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »

Bắt tay hy sinh một thánh nhân *

Image

Vatican, Vietnam sacrifice a holy man

By The Hanoist
A major stumbling block to diplomatic relations between Vietnam and the Vatican has seemingly been removed with the resignation of a popular Vietnamese Catholic leader and government critic.
Joseph Ngo Quang Kiet was the archbishop of Hanoi for the past five years, overseeing parishes in the capital and in the northern third of the country. He quietly supported a wave of protest vigils calling for the return of government-confisca ted church properties and greater religious freedom.
The Vietnamese government, which is often accused of violating religious freedom, hopes to silence human-rights critics, especially in the United States, by establishing full relations with the Holy See. Vietnam, with approximately six million Catholics, offers the Vatican the second-largest Catholic population in Southeast Asia after the Philippines.
Kiet, 57, was succeeded by 72-year-old Pierre Nguyen Van Nhon, who was appointed by the Vatican to be coadjutor archbishop of Hanoi on April 22. According to church observers, his was an unusual appointment since the coadjutor archbishop is usually groomed to eventually take over the top post. Not only is Nhon 15 years older than Kiet, he is set to officially become archbishop any day now.
Relations between communist Vietnam and the Holy See have always been fraught. Two contentious issues have been the settlement of communist-confiscat ed church properties - beginning in 1954 in the north and after 1975 in the south - and the training and appointment of clergy.
Unlike China, which severed ties with the Vatican and created a state-sponsored "patriotic church", Hanoi allowed a Catholic church to exist under nominal Vatican control. In practice, Vietnamese authorities restricted the ordainment of clergy and cleared all appointments. This led to a generally pliant Catholic church leadership in Vietnam.
There was nothing in Kiet's history that indicated a dissident streak. But after becoming archbishop of Hanoi he inspired mass civil actions by church followers. In late 2007, Catholics began gathering by the thousands at the former site of the Vatican embassy in Hanoi, which was confiscated in the 1950s.
After a series of unprecedented vigils demanding the return of the property, municipal officials appeared to accede to the demands on the condition that the gatherings stopped. But authorities later reversed course and instead of returning the church land they bulldozed over the ground and turned it into a public park.
In 2008, vigils spread to the Thai Ha parish in Hanoi, again over the issue of confiscated properties. Authorities broke up the peaceful gatherings and subsequently convicted eight parishioners for causing public nuisances and damaging property. There were rumors then that Kiet would be arrested.
State-run newspapers have vehemently attacked Kiet, calling him unpatriotic and an instigator of social disturbances, and have repeatedly called for his dismissal. The chairman of the People's Committee of Hanoi reprimanded Kiet in writing and frequently criticized him in the media and to outside delegations.
At a meeting with foreign diplomats, a Hanoi official stated, "A number of priests, led by Archbishop Joseph Ngo Quang Kiet, took advantage of parishioners' beliefs and their own low awareness of the law to instigate unrest, intentionally breaking the law and acting contrary to the interests of both the nation and the church."
Over the past year, demonstrations spread to other parishes. In the heavily Catholic area of Vinh in north central Vietnam, half a million people reportedly protested the beatings of co-religionists by security police in July 2009.
Against this backdrop, President Nguyen Minh Triet paid a visit to Pope Benedict XVI in December 2009, following Prime Minister Nguyen Tan Dung's historic Vatican trip in 2007. The two sides are reported to be discussing normalization of diplomatic ties.
Following Triet's meeting with the pope, Kiet went on medical leave and traveled to Rome for treatment. Vietnamese Catholic websites report that Triet insisted that the Vatican remove Kiet as a condition for establishing closer ties. This request, if true, would be consistent with the tone of government-controll ed newspapers.
On returning to Vietnam in April, Kiet announced that he was retiring, for "health reasons". His stepping down, though not unexpected, was a disappointment for many Vietnamese, Catholic and non-Catholic, who admired his courageous leadership. Several online petitions have been organized calling on Pope Benedict to keep Kiet as archbishop of Hanoi.
Vietnamese Catholics living overseas are a major source of funding for the church at home. They are also among the most vocal groups lobbying the United States administration and congress to blacklist Vietnam as a "country of particular concern" for its many well-documented religious rights violations.
In Vietnam, Catholic bloggers have extolled "the spirit of Ngo Quang Kiet" and compared him to the early martyrs of the church. Le Quoc Quan, a human-rights lawyer, wrote that there cannot be a universal church without the voices of the faithful. He wrote that Catholics in Vietnam had demonstrated their empowerment and were beginning to change the church from the ground up.
If the current pope eventually makes a grand visit to Vietnam, like Pope John Paul II did in Cuba, he will encounter a faithful inspired by Ngo Quang Kiet, a religious leader in the mold of John Paul.

The Hanoist writes on Vietnam's politics and people.

Nguồn: http://www.atimes. com/atimes/ Southeast_Asia/ LE07Ae02. html



VRNs (09.05.2010) - “Một trở ngại lớn trong mối quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Vatican dường như đã được gỡ bỏ với sự từ chức của một lãnh đạo hàng đầu Thiên chúa giáo Việt Nam đồng thời là một người chỉ trích chính phủ.
Giuse Ngô Quang Kiệt là Tổng Giám mục (TGM) giáo phận Hà Nội trong 5 năm qua, coi sóc các giáo xứ thuộc giáo phận Hà Nội và các giáo xứ chiếm một phần ba miền Bắc. Giám mục (GM) Kiệt ủng hộ các cuộc thắp nến cầu nguyện kêu gọi trả lại các tài sản của giáo hội đã bị chính phủ tịch thu, đồng thời đòi hỏi tự do tôn giáo.
Chính quyền Việt Nam, vốn thường xuyên bị cáo buộc vi phạm quyền tự do tôn giáo, hy vọng có thể dập tắt tiếng nói của nhà chỉ trích về nhân quyền, đặc biệt tại Hoa Kỳ, bằng cách thiết lập đầy đủ quan hệ ngoại giao với Tòa thánh. Việt Nam, với khoảng 6 triệu giáo dân Thiên chúa giáo, là quốc gia có dân số Thiên chúa giáo lớn thứ nhì ở Đông Nam Á, chỉ sau Phi Luật Tân.
GM Pierre Nguyễn Văn Nhơn, 72 tuổi kế vị GM Ngô Quang Kiệt, 57 tuổi, được Vatican bổ nhiệm để trở thành đồng TGM giáo phận Hà Nội vào ngày 22 tháng Tư. Theo các quan sát viên giáo hội, việc bổ nhiệm này là một điều bất thường, bởi lẽ đồng TGM thông thường được chuẩn bị để sau cùng nắm giữ chức vị TGM. Không chỉ GM Nhơn lớn hơn GM Kiệt 15 tuổi, GM Nhơn sẽ chính thức trở thành TGM bất kỳ lúc nào.
Gậy mục tử: Cây gậy của người chăn cừu từ ngàn xưa đóng ba vai trò chính: chỗ dựa, dụng cụ, và vũ khí. Gậy còn đó, mục tử đi đâu, về đâu?
Quan hệ giữa Việt Nam cộng sản và Tòa thánh luôn có vấn đề. Hai vấn đề dai dẳng đó là việc giải quyết các tài sản của giáo hội – bắt đầu từ năm 1954 tại miền Bắc và sau năm 1975 ở miền Nam – và việc bổ nhiệm hàng giáo phẩm.
Không giống như Trung Quốc, quốc gia đã cắt đứt quan hệ với Vatican và thiết lập giáo hội quốc doanh, Hà Nội cho phép một giáo hội Thiên chúa giáo tồn tại dưới sự kiểm soát của Vatican. Trên thực tế, các giới chức Việt Nam giới hạn việc phong chức sắc hàng giáo phẩm và thông qua tất cả các bổ nhiệm của Vatican. Điều này dẫn đến hàng lãnh đạo của Thiên chúa giáo Việt Nam dễ sai bảo.
Không có điều gì trong lý lịch GM Kiệt cho thấy ngài là một nhà bất đồng chính kiến. Tuy nhiên sau khi trở thành TGM Hà Nội, ngài đã khơi dậy hàng loạt cuộc thắp nến cầu nguyện với các tín hữu trung thành. Cuối năm 2007, giáo dân Thiên chúa giáo bắt đầu tụ hợp với hàng ngàn người tại nơi trước đây là Tòa khâm sứ của Vatican tại Hà Nội, vốn bị tịch thu vào những năm của thập kỷ 50.
Sau hàng loạt cuộc thắp nến cầu nguyền chưa từng có nhằm yêu cầu việc hoàn trả Tòa khâm sứ, các giới chức thành phố dường như chấp thuận các yêu cầu với điều kiện là các cuộc cầu nguyện chấm dứt. Nhưng sau đó chính quyền Hà Nội thay đổi ý định này và thay vì trao trả tài sản của giáo hội, họ cho ủi sập và xây thành công viên.
Vào năm 2008, các cuộc cầu nguyện lan rộng đến giáo xứ Thái Hà tại Hà Nội, cũng về các tài sản bị tịch thu của giáo hội. Chính quyền Hà Nội đã giải tán các cuộc cầu nguyện ôn hòa và sau đó kết án 8 giáo dân Thái Hà với tội gây rối trật tự công cộng và phá hoại tài sản. Có các tin đồn rằng GM Kiệt có thể bị bắt giữ.
Báo “lề phải” đã đồng loạt công kích GM Ngô Quang Kiệt, gọi ngài là người không yêu nước và là kẻ xúi giục tạo nên các xáo trộn xã hội, và liên tục kêu gọi bãi nhiệm ngài. Chủ tịch ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội khiển trách ngài bằng văn thư và nhiều lần chỉ trích trên phương tiện truyền thông và với các phái đoàn ngoại quốc.
Tại một cuộc họp với các nhà ngoại giao, một quan chức Hà Nội nhấn mạnh rằng, “Một số linh mục, được GM Giuse Ngô Quang Kiệt chỉ đạo, đã lợi dụng niềm tin của giáo dân và sự thiếu hiểu biết luật pháp của họ, cố ý vi phạm pháp luật và hành động trái với quyền lợi của đất nước và giáo hội.”
Trong năm qua, cầu nguyện lan rộng ra các giáo xứ khác. Tại địa phận Vinh thuộc miền Bắc Trung phần, nơi có đông giáo dân Thiên chúa giáo, nửa triệu giáo dân, theo tường trình, đã phản đối việc công an cảnh sát hành hung các giáo dân vào tháng 7 năm 2009.
Trước tình hình này, chủ tịch Nguyễn Minh Triết viếng thăm Giáo hoàng Benedict vào tháng 12 năm 2009, sau chuyến thăm lịch sử đến Vatican của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vào năm 2007. Hai phía được báo chí đưa tin là đang thảo luận cho việc bình thường hóa quan hệ ngoại giao.
Sau cuộc gặp gỡ giữa Nguyễn Minh Triết và Giáo hoàng, GM Kiệt đi Roma với lý do chữa bệnh. Các trang mạng thuộc Thiên chúa giáo Việt Nam tường thuật rằng Triết đòi hỏi Vatican loại bỏ GM Kiệt như là một điều kiện cho việc thiết lập mối quan hệ tốt hơn. Đòi hỏi này, nếu đúng sự thật, phù hợp với giọng điệu của các tờ báo quốc doanh.
Ngay sau khi trở về Việt Nam vào tháng Tư vừa qua, GM Kiệt thông báo rằng ngài nghỉ hưu vì “lý do sức khỏe.” Việc thoái chức của ngài, dù không bất ngờ, là một thất vọng đối với nhiều người Việt Nam – Thiên chúa giáo hoặc không Thiên chúa giáo, vốn cảm phục sự lãnh đạo can đảm của ngài. Có một vài thỉnh cầu trên mạng đã được thiết lập nhằm kêu gọi Giáo hoàng Benedict giữ GM Kiệt trong chức vị TGM Hà Nội.
Cộng đồng Thiên chúa giáo Việt Nam tại hải ngoại là một nguồn đóng góp tài chính quan trọng cho giáo hội tại Việt Nam. Họ cũng là trong số những nhóm có tiếng nói mạnh mẽ vận động chính phủ và quốc hội Mỹ đưa Việt Nam trở lại danh sách “các quốc gia cần quan tâm đặc biệt” vì các vi phạm các quyền tự do tôn giáo.
Tại Việt Nam, các blogger tuyên dương “Tinh thần Ngô Quang Kiệt”, đồng thời so sánh ngài với các thánh tử đạo tiên phong của giáo hội Việt Nam. Lê Quốc Quân, một luật sư nhân quyền, viết rằng không thể có một giáo hội hiệp nhất nếu không có tiếng nói của các tín hữu trung thành. Ông Quân nhận định rằng người Thiên chúa giáo tại Việt Nam đã biểu lộ sức mạnh của họ và đang thay đổi giáo hội từ hạ tầng đi lên.
Nếu Giáo hoàng Benedict có cuộc viếng thăm trọng đại đến Việt Nam, như Giáo hoàng John Paul đã từng đến Cuba, ngài sẽ gặp gỡ những tín đồ trung thành được Ngô Quang Kiệt – một lãnh đạo tôn giáo theo khuôn mẫu của John Paul II– truyền cảm hứng.
(*) Tựa bài do dcctvn.net đặt


Bản dịch của Nguyễn Hùng Kiệt
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Tăng cường bảo vệ Trường Sa: Việt Nam mua hỏa tiễn của Israel
Monday, May 10, 2010

SINGAPORE (TH) - Với tầm nhìn vào nhu cầu tăng cường khả năng phòng thủ khu vực quần đảo Trường sa, Việt Nam đang trong giai đoạn thương thuyết chót để mua của Israel một hệ thống hỏa tiễn đạn đạo tầm ngắn (Short-Range Ballistic Missile System), theo bản tin của ký giả chuyên về tin tức quốc phòng Robert Karniol viết trên báo The Straits Times ở Singapore hôm Thứ Hai, 10 tháng 5, 2010.
Image
Hỏa tiền tầm ngắn gọi tắt là Extra của Israel chế tạo mà Việt Nam đang điều đình để mua phòng thủ biển đảo. (Hình: IAI)
Hỏa tiễn tầm ngắn SRBM đang được hai bên thương thuyết do Kỹ Nghệ Quốc Phòng Israel phối hợp với công ty MLM Systems thuộc công ty Israel Aircraft Industries (IAI) hợp tác chế tạo, từng được đem trình diễn trong cuộc triển lãm máy bay ở Paris năm 2005.

Hệ thống SRBM nói trên còn được gọi rõ hơn là đạn pháo tầm hoạt động nới rộng (Extended Range Artillery Munition) hay gọi tắt là EXTRA, có tầm hoạt động hơn 150 km và mang đầu đạn nặng 125 kg, công ty IAI công bố chi tiết này trên website của họ và cho biết khả năng trệch mục tiêu của nó chỉ trong vòng bán kính 10 mét. Một trái đạn đại bác tầm trung 155 ly được coi là có độ chính xác cao có độ sai lệch mục tiêu từ 200m đến 300m ở mục tiêu tác xạ trung bình.

“Hỏa tiễn Extra có thể được phóng đi từ nhiều bệ phóng (platforms) khác nhau và có thể được xếp đặt 4 hỏa tiễn trong một dàn nếu là giàn phóng đặt trên mặt đất. Nó có thể được thiết trí trên xe tải hoặc ở một vị trí cố định nào đó.” IAI cho hay.

Hải Quân Việt Nam đang muốn có một hệ thống đặt ở vị trí cố định có thể nhắm đến các mục tiêu là tàu chiến di chuyển đến gần. Ðiều này cần thiết cho nhu cầu tối tân hóa khả năng tác chiến pháo binh vào lúc đang có những chuyển biến xấu thêm trong vấn đề tranh chấp biển Ðông.

Một số cải tiến của kỹ thuật nghiên cứu quân sự ở Singapore đem một đạn đại bác 155 ly từ tầm xa 19 km lên 30km đến 40 km. Nhưng Extra là một khả năng ở một mức vượt trội so với đại bác.

Giá bán một hệ thống Extra cho Việt Nam là bao nhiêu chưa ai biết nhưng khả năng tiêu diệt của nó lớn hơn hệ thống hỏa tiễn Himars do Mỹ chế tạo (High Mobility Artillery Rocket System) mà Singapore đang sở hữu. Ðầu đạn của Extra nặng 125 kg trong khi đầu đạn của Himars nặng 90 kg nếu đó là kiểu đạn tối tân nhất M31.

Theo tác giả bài viết, việc Việt Nam đề nghị mua hệ thống Extra rất đáng kể để tăng cường khả năng phòng thủ cho lực lượng Hải Quân 27,000 người mà nhiệm vụ phải bảo vệ những hải đảo ở xa. Sự mua sắm này cộng với việc đặt mua 6 tàu ngầm hạng Kilo, 12 khu trục đa năng Sukhoi SU 30 MK2 từ Nga hồi cuối năm ngoái và mới đây mua của Canada 6 chiếc thủy phi cơ (Otter DHC-6 series 600) để tuần tiễu biển, giúp hiện đại hóa, tăng cường khả năng quốc phòng cho Việt Nam.

Hơn 10 năm nay, chưa có cuộc chạm súng nào liên quan đến chủ quyền biển đảo trên biển Ðông, nhưng những cuộc tập trận qui mô, lớn lao của Trung Quốc ở khu vực các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ năm ngoái đến nay, báo động cho dư luận biết, Trung Quốc đang vươn sức mạnh quân sự xa hơn ra các vùng biển.

Khi tuyên bố một vùng biển Ðông rộng lớn hình lưỡi bò chiếm đến 80% và các nước có biển tiếp giáp chỉ còn một rẻo sát bờ rồi biểu diễn sức mạnh quân sự đe dọa các nước trong khu vực, đặc biệt là Việt Nam, Bắc Kinh không che giấu tham vọng bá quyền bành trướng được với ai.

Hồi tháng 4, Trung Quốc đưa hạm đội Bắc Hải đóng căn cứ ở Thanh Ðảo tỉnh Sơn Ðông xuống phối hợp tập trận với hạm đội Nam Hải đóng ở Tam Á (đảo Hải Nam) ở khu vực quần đảo Trường Sa. Lần đầu tiên, có một cuộc trập trận của Trung Quốc qui tụ những chiến hạm, tàu ngầm tối tân nhất của hai hạm đội như một sự biểu dương sức mạnh với Việt Nam và các nước khu vực đang tranh chấp chủ quyền quần đảo này. Bộ chỉ huy của cuộc tập trận đặt ở đảo Fiery Cross Reef mà Trung Quốc đã đánh chiếm của Việt Nam năm 1988, (Trong trận này, Hải Quân Việt Nam mất 3 tàu và hơn 70 lính thiệt mạng). Ðảo Fiery Cross Reef nay là một căn cứ được trang bị cả hệ thống phá sóng radar.

Cùng với hai hạm đội, Trung Quốc còn đưa nhiều phi đội của các căn cứ khác nhau trên lục địa ra tập tấn công trên biển Ðông gồm nhiều trách nhiệm tác chiến và thử nghiệm từ khả năng vượt hàng rào radar, tác chiến đêm, tiếp nhiên liệu trên không, phá sóng radar địch v.v...

Trung Quốc loan báo luân phiên đưa các tàu tuần kiểm soát đánh cá trên biển Ðông nói rằng để bảo vệ ngư dân của họ nhưng thật sự là để cấm ngư dân Việt Nam và các nước khác đánh cá trong các vùng biển tranh chấp và cũng là coi quần đảo Trường Sa là của họ.

Mới đây, ngay khi Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng tới Thượng Hải gặp Chủ Tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Ðào, thì Bắc Kinh loan báo lệnh cấm đánh cá trên biển Ðông từ giữa tháng 6 đến 1 tháng 8, 2010 cũng như năm ngoái. Bản tin chính thức TTXVN ngày 30 thấng 4, 2010 viết, “Hai nhà lãnh đạo bày tỏ hài lòng về việc hai bên đã hoàn thành phân định Vịnh Bắc Bộ và phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền giữa hai nước và nhất trí cho rằng hai bên cần tiếp tục kiên trì đàm phán trên tinh thần láng giềng hữu nghị, cùng quan tâm đến lợi ích của nhau, trên cơ sở luật pháp quốc tế, thông qua đối thoại và hợp tác, nỗ lực tìm kiếm giải pháp thỏa đáng cho các vấn đề liên quan đến Biển Ðông, góp phần duy trì hòa bình, ổn định và hợp tác ở khu vực và trên thế giới.”

Chỉ ít ngày trước khi Nguyễn Tấn Dũng tới Thượng Hải, tàu tuần Trung Quốc lại bắt một tàu đánh cá của ngư dân Quảng Ngãi hoạt động ở khu vực Hoàng Sa và đòi tiền chuộc 70,000 nhân dân tệ. Thời gian hơn một tháng trước đó, đã bắt 2 tàu kéo về đảo Phú Lâm rồi chỉ trả một tàu và ngư dân, còn tịch thu một tàu và toàn thể ngư cự, trang bị hải hành của hai tàu.

Trong khi đó, báo chí trong nước cho hay từ cuối năm ngoái đến nay, hàng đoàn tàu đánh cá của Trung Quốc đã vào sâu trong hải phận Việt Nam đánh cá mà chỉ bị “nhắc nhở” mà không bị bắt giữ hay phạt vạ.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Image

Ý kiến của Người Việt Hải Ngoại
về bức thư của Bộ Ngoại Giao Việt Cộng gửi Dân biểu Hoa Kỳ CAO QUANG ÁNH.


TIẾP THEO DÂN BIỂU CAO QUANG ÁNH,
GỬI THƯ TRẢ LỜI Thứ trưởng ngoại giaoVC Nguyễn Thanh Sơn,
là MỘT BÀI VIẾT ĐANH THÉP sau đây:


Đối Thoại

Mỹ Linh
35 năm qua, đến mãi hôm nay, chúng ta mới nhận được lá thư của Thứ trưởng Ngoại giao VC Nguyễn Thanh Sơn, thư được gởi trực tiếp đến dân biểu Hoa Kỳ Cao Quang Ánh, nhưng coi như một cách gián tiếp đã gởi đến với Cộng đồng người Việt hải ngoại, gọi là mong muốn "đối thoại".
35 năm qua, các ông đại diện nhà cầm quyền CHXHCNVN đi ra nước ngoài, bị chính đồng bào của mình rượt chạy như những con chuột cống, để luôn luôn phải đi vào cửa hậu.

Đây là tình trạng của 35 năm trống đánh xuôi, kèn thổi ngược. Thử hỏi, chính đồng bào của các ông mà ghét các ông như thế, làm sao các ông gặt hái những thành qủa tốt đẹp về ngoại giao ? Chắc các ông chỉ nhận được cái nhìn khinh bỉ từ các chính quyền sở tại mà thôi. 35 năm qua, các ông đã không đủ can đảm nhìn nhận đây là một vấn nạn của đất nước. Không một ông cầm quyền nào dám mở một hội trường để đối thoại với chính đồng bào của mình. Bản chất của các ông chỉ là những tên hèn, sợ chính đồng bào ruột thịt của mình, hay sợ chính nước Mỹ này không bảo đảm được sinh mạng của mấy ông ư ?

35 năm, câu chuyện này đáng lý ra phải được giải quyết từ lâu lắm rồi, không phải đợi đến giờ này, các ông mới bắt đầu lên tiếng, tuy rằng có muộn đấy, nhưng có vẫn còn hơn không. Đọc xong lá thư của quý ông, người Việt hải ngoại chắc không tránh khỏi sự ngậm ngùi suy nghĩ. Một người làm tới chức thứ trưởng bộ ngoại giao lại còn mơ màng thốt lên: "Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài dự kiến tiến hành chuyến đi tới Mỹ và Canada với mục đích gặp gỡ và tiếp xúc với Cộng đồng người Việt Nam, trong đó có cả những cá nhân tổ chức còn thiếu thông tin đúng đắn về Việt Nam và vẫn còn mang tư tưởng hận thù cùng những lời nói, việc làm chống lại Nhà nước Việt Nam." Chẳng lẽ ông không biết việc trong nước có 700 cơ sở truyền thông, phải đi theo lề bên phải như Bộ Trưởng Bộ Thông Tin Lê Doãn Hợp đã từng lên tiếng. "Thông tin đúng đắn" là thông tin của sự thật, thông tin đi theo lề bên phải, không phải là "đúng đắn", nó không phải là sự thật. Người dân đã ví 700 cơ sở này, chỉ có duy nhất một tổng biên tập là Đảng Cộng Sản Việt Nam, ông có biết điều đó không ?

Mấy ông kiểm soát thông tin, bắt phải đi theo lề phải, đó là loại tin tức một chiều, viết theo đơn đặt hàng của Đảng CSVN. Đây là điều mà toàn dân Việt Nam đau khổ nhất, bị các ông lừa bịp trong suốt cuộc đời của họ vì đã đọc và đã nghe những cơ quan truyền thông của các ông. Nó khổ đến nỗi, lúc Đảng đã cho phép cứ nói thẳng "tàu Trung Quốc", nhưng cái tinh thần sợ sệt của một số nhà báo vẫn còn dùng chữ "tàu lạ", hay "tàu nước ngoài". Bấy nhiêu đó thôi, cũng đủ chứng minh tại Việt Nam hoàn toàn không có tự do báo chí. Lẽ ra làm thứ trưởng như ông, phải biết điều đó chứ !? Không có tự do báo chí làm sao có những tin tức đúng đắn về VN được. Người thiếu tin tức đúng đắn là toàn dân Việt Nam, chứ không phải người Việt hải ngoại. Ở hải ngoại, chúng tôi hoàn toàn có tự do báo chí, nhưng không phải muốn viết gì thì viết. Tác giả viết bậy bạ sẽ bị chế tài bởi những vụ thưa kiện, hoặc sẽ không còn uy tín nữa nếu ngụy tạo, hoặc dối trá. Chủ nhiệm tờ báo hay cơ sở truyền thông cũng phải chịu trách nhiệm liên đới, chứ không phải muốn đăng gì thì đăng. Người Việt hải ngoại, muốn có thông tin trong nước, cứ vào các báo online như Vietnamnet, Quân Đội Nhân Dân, Công An, Nhân Dân, Người Lao Động... thiếu gì, hàng mấy chục tờ, nằm trong www.saigonbao. com đấy, trang này rất phổ thông, có từ trên chục năm, ai cũng biết.

"...và vẫn còn mang tư tưởng hận thù cùng những lời nói, việc làm chống lại Nhà nước Việt Nam.", thì trước hết phải xét, toàn dân có bầu ra cái gọi là Nhà nước Việt Nam ? Có ai bầu ra Nguyễn Tấn Dũng làm thủ tướng ? Có ai bầu ra Nguyễn Minh Triết làm chủ tịch nước ? Chẳng một người dân nào đã bầu Dũng và Triết, chỉ biết 2 người này Đảng cử ra, rồi Quốc Hội bù nhìn bỏ phiếu. Gọi QH bù nhìn cũng đúng thôi, vì 99% là người của Đảng được đề cử ra, qua Mặt Trận Tổ Quốc, chỉ vài người ngoài Đảng cho có vẻ màu mè dân chủ, làm kiểng. Người dân chỉ biết bỏ phiếu, còn có vụ bỏ phiếu giùm nữa, mà chẳng thấy mặt, hay biết mặt người đại diện cho mình, vì chẳng có tranh cử. Đây đúng là một cuộc bầu cử bịp bợm mà linh mục Nguyễn Văn Lý đã kêu gọi tẩy chay vào năm 2007. Một Nhà nước không đại diện cho dân, lẽ dĩ nhiên bị toàn dân chống đối là đúng rồi !

Trong nước, người dân sợ họng súng AK, dùi cui, roi điện, ...của các ông, nên không dám biểu tình phản đối các ông. Còn hải ngoại, chẳng ai sợ các ông, người ta khinh các ông, vì các ông chẳng phải là người đại diện cho đất nước Việt Nam. Mấy ông phải hiểu rằng, ở hải ngoại, cái gì cũng rộng lớn, nhất là ở Mỹ, đường phố xa xôi, muốn đi đến địa điểm biểu tình chống các ông, đâu phải là chuyện dễ dàng. Người nào cũng phải lo công ăn việc làm, muốn xin phép nghỉ làm cũng không dễ, nhưng với tấm lòng quyết tâm, son sắc, với quê hương đất nước VN yêu dấu, họ phải biểu tình chống các ông cho bằng được, mới không thẹn lòng với núi sông.
Kế đến nói về "tư tưởng hận thù", 35 năm rồi, còn hận thù cái gì nữa, nói đến hận thù, phải nói đến trả thù.

Chúng ta trả thù ai bây giờ ? Nói đơn giản, là hận thù chung một chế độ, vì chế độ này không đại diện cho dân. Nếu các ông tổ chức bầu cử tự do, chấp nhận chính trị đa đảng, bảo đảm không người Việt hải ngoại nào dám biểu tình chống đối các ông. Vì làm như thế chính là chống lại đất nước Việt Nam, được xem như phản bội tổ quốc. Bảo đảm không ai ngu si, dại khờ chống lại quê hương của mình. Hiện tại, người ta chống, là chống ĐCSVN độc tài, chống một Nhà nước không do dân bầu ra, thế thôi. Người ta thường nói "Tôi có thể tha thứ tội ác của anh, nhưng tôi không thể quên", tiếng Mỹ có câu: "I can forgive, but I cannot forget". Có thể số đông người Việt hải ngoại mang tâm trạng này. Chính vì tha thứ, nên hàng trăm ngàn, có thể trên triệu người Việt đã về thăm lại quê hương, nhưng bảo đảm họ không quên những tội ác của CSVN đã gây ra đối với gia đình họ. Hàng triệu người tù cải tạo, với trên 500 ngàn người chết trên biển đông, làm sao quên được ! Bởi vậy, khi xảy ra vụ Trần Trường treo cờ máu và hình Hồ Chí Minh, 53 ngày đêm đồng bào biểu tình chống đối, có lúc con số lên đến kỷ lục, 50 ngàn người !

Nếu nói về cá nhân, Linh chỉ hận thù bè lũ đang cầm quyền Dũng - Mạnh - Triết - Trọng mà thôi. Nếu cho Linh có điều kiện gặp mặt bọn này, chắc chắn Linh sẽ dạy cho chúng một bài học, về những tội ác mà chúng đã và đang gây ra đối với dân tộc Việt Nam. Có thù có hận chăng , là những tên đầu sỏ VC như nằm trong Bộ Chính Trị, tỉnh ủy, huyện ủy, nói chung là các cấp chỉ huy CSVN. Còn lại nhân dân, gần như tất cả chỉ là những nạn nhân của chủ nghĩa cộng sản. Có người cho rằng, 3 triệu đảng viên ĐCSVN đều có tội, thằng làm lớn tội lớn, thằng làm nhỏ tội nhỏ. Sự suy nghĩ này rất chủ quan, sống trong một xã hội bưng bít thông tin, sống chung đụng với một lũ bịp bợm, trong môi trường bị đầu độc, nhồi sọ từ nhỏ tới lớn, chẳng mấy ai thoát khỏi ảnh hưởng của VC. Nên việc gia nhập đảng viên ĐCSVN xét trở nên bình thường trong đời sống. Tội lỗi này không thuộc về họ, mà thuộc về xã hội. Có ai bảo đảm rằng, con mình sinh ra trong nước CHXHCNVN, sẽ không bao giờ trở thành đảng viên của ĐCSVN ? và nếu chẳng may, cha mẹ của đứa con đó, không có thời giờ để dạy dỗ con cái. Và nói ngay, nhiều khi chẳng dám dạy nó chống lại chủ nghĩa CS, vì có thể bị tù tội như chơi. Nhiều khi lỡ bị sinh ra trong một gia đình cộng sản, người con phải làm sao đây ? Biết gì mà chống lại cha mẹ của mình ?

Còn đối với những tên cộng sản như các ông thì sao ? Các ông có "hận thù" đồng bào hải ngoại hay người miền Nam ? Nếu nói không hận thù, tại sao tên Trần Đức Lương đã dùng ngoại giao để ép buộc chính quyền Mã Lai và Indonesia phải đập 2 Bia Tưởng Niệm đồng bào vượt biển ? Không hận thù, thì tại sao về Việt Nam phải xin Visa (chếu khán nập cảnh), trong khi đó bọn Tàu Cộng qua biên giới chẳng cần phải xin Visa ? Không hận thù nguời Nam, tại sao ngay tại phi trường Tân Sơn Nhất, chỉ thấy toàn là dân người miền Bắc ? Không hận thù, tại sao đến giờ phút này, còn tổ chức trọng thể cái gọi là Ngày Chiến Thắng 30 Tháng 4? Chỉ bằng đó câu hỏi, các ông đã cứng miệng rồi.

35 năm qua, sự thật đã được phơi bày, đồng bào miền Bắc cần được giải phóng khỏi ách cộng sản nghèo đói, chứ không phải đồng bào miền Nam vốn đã sung túc. 35 năm qua, chiến thắng gì mà hàng triệu người phải vào tù cải tạo (không án, không biết ngày về); chiến thắng gì, mà có trên 2 triệu người phải vượt biển Đông tìm tự do ; chiến thắng gì khi có 500 ngàn người dân Việt phải chết ở biển Đông; chiến thắng gì khi cha xa con, vợ xa chồng, anh em xa nhau; chiến thắng gì, sau 35 năm đã để lại một nước Việt Nam phân hóa, một xã hội suy đồi về đạo đức, con dân Việt bị đem đi bán trên toàn thế giới !

Các ông đã và vẫn hận thù đến thế, ấy vậy mà đòi đối thoại, thì đối thoại cái gì ? Miệng thì nói hòa hợp hòa giải dân tộc, trong khi đó lại đi tổ chức Ngày Chiến Thắng 30 Tháng 4. Nhục nhã thay, một chế độ tiếp tục phỉnh gạt người dân !
Muốn đối thoại, các ông nên đối thoại với đồng bào của các ông trong nước trước tiên nhất,
hãy đối thoại với linh mục Nguyễn Văn Lý, hãy đối thoại với chị Lê Thị Công Nhân, hoặc anh Lê Công Định, anh Nguyễn Tiến Trung, anh Trần Huỳnh Duy Thức, anh Lê Thăng Long, anh Trần Anh Kim, anh Nguyễn Vân Đài, chị Trần Khải Thanh Thủy, chị Nguyễn Thu Trâm, chị Phạm Thanh Nghiên... đấy, vì tất cả những nhà dân chủ này là đồng bào hải ngoại đều qúy mến. Họ có thể xem như đại diện cho đồng bào hải ngoại vậy.

Thật là nhục nhã thay, một chế độ tiếp tục lừa gạt toàn dân qua những chiêu bài gọi là hòa hợp hòa giải dân tộc, trong khi vẫn tổ chức cái gọi là ăn mừng chiến thắng 30 tháng 4. Các ông nên suy nghĩ lại, từ bỏ cái lễ quá trơ trẽn này ! Đấy cũng là một bước tiến trong tiến trình gọi là "hòa giải" nếu có. Ngày nào các ông còn tổ chức ăn mừng cái gọi là 30 tháng 4, thì đừng bao giờ nói đến hòa hợp hòa giải, các ông chỉ là đồ giả nhân giả nghĩa mà thôi !

Chỉ mới hôm qua thôi, theo tin chính thức được truyền đi từ một giáo dân ở Giáo Xứ Cồn Dầu trong nước, được nghe qua Paltalk, Diễn Đàn Chính Trị Tranh Luận Dân Chủ, hơn 100 giáo dân bị thương, vài chục người bị thương nặng, như chấn thương sọ não, 67 người bị bắt. Lệnh của bí thư thành ủy Đà Nẳng, Nguyễn Bá Thanh ban ra, không cho nhà thương nào được nhận chứa những nạn nhân bị đánh, nhiều bàn thờ Đức Mẹ đều bị phá hủy. Ngoài ra, tên VC Thanh còn tuyên bố, nếu nó bắt được ai truyền tin ra ngoài, nó sẽ tìm cách thủ tiêu. (http://www.ustream. tv/recorded/ 6672014). Chỉ có chuyện cỏn con giành đất nghĩa trang của đồng bào, mà các ông đã kéo vài trăm tên công an, cảnh sát 113, bọn xã hội đen, chó nghiệp vụ, roi điện, dùi cui... Thử hỏi, các ông đối xử với dân như thế này, làm sao hòa hợp hòa giải với người Việt hải ngoại được ?

Ngày 5 tháng 5 năm 2010
Mỹ Linh
Mylinhng@aol. com
http://mylinhng. multiply. com
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

BỨC HÌNH: TÂM SỰ CỦA MỘT CỰU SINH VIÊN DU HỌC Ở TÂN TÂY LAN

Image
Sinh Viên VNCH du học tại Paris Biểu tình 27/4/1975

Bức hình ! Chỉ là một bức hình đen trắng ! Do người bạn bên Âu châu gởi qua cho xem. Nhưng nó đã đeo đuổi trong đầu óc tôi từ sáng đến giờ.

Bức hình chụp cách đây đã lâu lắm rồi. Ba mươi lăm năm về trước. Mà lại không phải là nguyên bản, chỉ “ …được một anh bạn tốt nghiệp KTS tại Pháp trước 75 scan lại từ một tờ báo Pháp mà anh đã cất giữ từ ngày đó, mãi đến hôm nay P.. mới tìm thấy lại xin chia sẻ cùng các ACE …. xa gần.”

Nhưng anh bạn ắt hẳn đã vô cùng trân quý tấm ảnh vì trông vẫn còn rất rõ. Rõ từng hàng chữ trắng và to trên biểu ngữ màu đen “HONNEUR À NOS SOLDATS MORTS POUR LA LIBERTE’”, hay “ GRANDE JOURNÉE DE DEUIL” đã đành. Mà còn rõ nét mặt của từng thanh niên, nam nữ trong đoàn biểu tình hôm đó.

U buồn ! Hoang mang ! Uất hận ! Nhưng không kém phần cương quyết. Nói lên cho người dân Ba Lê, và cho cả thế giới, biết lập trường chính trị của các bạn không hề suy xuyển.

Nhìn những khuôn mặt của các bạn sinh viên Quốc gia trên dưới đôi mươi ở Pháp thời bấy giờ, bỗng dưng tôi trông thấy lại chính mình và những người bạn của mình 35 năm về trước ở Christchurch, Tân Tây Lan. Ừ phải rồi ! BST cũng với cặp kính cận như anh ôm bình nhang đi đầu. TĐN cũng có dáng cao ròm như anh đi phía bên trái. Chị BC cũng có mái tóc dài và thường mặc quần jeans như cô bạn mang lá Đại kỳ VNCH.

Chúng tôi cũng đã trãi qua những ngày đêm khắc khoải của tháng Tư năm đó. Bỏ học. Bỏ giảng đường. Ngày thì ôm cái radio đón nghe tin tức. Tối đến, xem trên TiVi hình ảnh của đồng bào lánh nạn từ Cao nguyên xuống miền Trung, rồi dần dần phải di tản về Xuân Lộc, Long Khánh.

Trong phòng khách của BST có 1 bản đồ Việt Nam thật lớn treo trên vách. Trên đó anh em cắm những cây kim gút có đầu màu vàng lên những địa danh bên ta còn giữ được, và những cây kim màu đỏ đánh dấu những nơi đã rơi vào tay giặc.

Để từ giữa tháng Ba, tim mỗi ngày một thắt lại, lòng mỗi ngày một chùn xuống. Vì kim màu đỏ càng lúc càng lấn át những cây kim màu vàng.

Một tuần lễ của Xuân Lộc kiên cường là một tuần lễ của niềm hy vọng cuối cùng đối với chúng tôi, như một cái phao cho người rơi xuống biển giữa sóng trùng vây bủa

Cái khổ là nguy hiểm cận kề nhưng không làm gì được. Ai cũng cố gắng gọi điện thoại về bên nhà để hỏi thăm tin tức của gia đình. Nhưng thời đó đã làm gì có direct link như bây giờ. Muốn gọi ra nước ngoài phải qua 2 Tổng Đài, một ở NZ và một ở VN, đó là chưa kể đến chuyện phải làm cái hẹn trước.

Bất lực ! Tuyệt vọng ! Đến mức nảy sinh những ý định ngông cuồng. Không phải chỉ từ chúng tôi. Ngay cả một anh bạn Tân Tây Lan, vốn đã từng sang dạy Anh văn ở đại học Văn Khoa Sàigòn vào năm 73 và có 1 cô bạn gái bên đó. Một đêm, anh nói với chúng tôi “Tao sẽ sang Thái Lan, hijack một chiếc máy bay, hẹn với L. ra Tân Sơn Nhất ngồi chờ, ngày đó, giờ đó, tao sẽ đáp xuống và bốc cô nàng đi!”.

Nghe sao giống kiểu người hùng Lý Tống quá, phải không ?

Nhưng bực bội nhứt là mỗi đêm phải nghe những tiếng rè rè từ máy phát thanh của đám “phản thùng” ở căn flat kế bên. Chúng cố gắng bắt các đài Hà Nội, đài Bắc Kinh trên các làn sóng ngắn để nghe “những bản tin chiến thắng” (sic !) và cố tình vặn âm thanh thật lớn để lọt vào tai chúng tôi. Hơn một lần, đã suýt có ẩu đả xảy ra cũng vì chuyện này.

Thật sự, tôi cũng không ngờ đám “30 tháng 4” đó trở cờ một cách nhanh chóng như vậy. Mới 1, 2 tháng trước, chúng còn khúm núm trước các vị làm việc trong Tòa Đại sứ VNCH để xin được gia hạn ở lại học tiếp. Thế mà bây giờ, Sàigòn chưa mất mà chúng đã vuốt mặt, in ra những tờ báo bằng roneo để phỉ báng những người này bằng những ngôn từ xảo trá, hạ tiện nhứt. Trí thức gì lạ vậy ? Tự trọng của chúng ở đâu ? Sĩ diện của chúng có còn hay không ? Không cần phải nói thêm là chúng tôi tuyệt giao với bọn đó kể từ ngày lằn ranh đã rõ rệt phân chia.

… Hôm nay, nhận được tấm hình, tự dưng nhìn thấy lại mình, nhìn thấy lại bạn bè của mình 35 năm về trước. Ai nấy tóc cũng đã hai màu muối tiêu. Có người đã có cháu nội, ngoại.

Nhưng các bạn vẫn chưa ngừng nghỉ. Các anh LQL, NH, NVB vẫn tiếp tục lên tiếng về Hoàng Sa, Trường Sa với sự tiếp tay của ĐGT. Anh PPL là tiếng nói hàng đầu về các vấn đề thuộc khu vực sông Cửu Long. Và xin đừng chọc giận chị DVT với mấy chuyện “hòa hợp, hòa giải".

Tôi cảm ơn các anh, các chị, các bạn. Nhưng tôi nghĩ các bạn tôi, cũng như tôi, với tấm hình mang đến những ký ức năm xưa, tất cả đều thầm cảm tạ hồn thiêng sông núi đã hướng dẫn chúng tôi đi đúng theo con đường của chính nghĩa Quốc gia. Đi theo anh Trần văn Bá. Đi cùng anh Phan văn Hưng, chị Nam Dao. Và nhiều anh chị em khác nữa !

Hôm trước. Hôm nay. Và mãi mãi !!!

HƯNG VIỆT (Brisbane)
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Vạn Lý Ðộc Hành!

Nguyễn Xuân Nghĩa
Có mặt thì phải đặt tên là khủng bố!

Cuối cùng thì chính quyền Hoa Kỳ công nhận Faisal Shahzad là một tên khủng bố. Mà cũng chẳng là tay đặc công đơn lẻ theo kiểu “vạn lý độc hành,” một thứ “lone wolf.” Faisal Shahzad có liên hệ đến lực lượng khủng bố Taliban tại Pakistan và có thể đã được Taliban yểm trợ về tài chánh.

Ngày Chủ Nhật, mùng 9 tháng 5, Tổng Trưởng Tư Pháp Eric H. Holder Jr. xác nhận với truyền thông như vậy. Cố vấn về Chống Khủng Bố tại Phủ Tổng Thống là ông John Brennan còn cho biết thêm là Shahzad hoạt động cho nhóm Tehrik-e-Taliban (gọi tắt là TPP), một lực lượng khủng bố đồng hành và hầu như không tách rời khỏi nhóm Al-Qaeda.

Những xác nhận trên đây không là chuyện nhỏ. Nhìn từ bên ngoài, người ta phải thấy chột dạ.

Tối mùng 1 tháng 5, Faisal Shahzad dùng một xe hơi chất đầy chất nổ nhằm đánh bom khu vực Times Square của thành phố New York vào giờ cao điểm để giết người tối đa. Việc không thành nên không ai bị thiệt mạng. Hơn 53 giờ sau thì tên khủng bố non tay này bị bắt khi lên máy bay tại phi trường New York tính đào thoát qua Dubai ở Trung Ðông. Trước tòa án, nghi can xác nhận tội trạng nhưng khai là tự ý một mình chứ không liên hệ gì tới các nhóm khủng bố ở ngoài nước Mỹ. Cuộc điều tra sơ khởi cho thấy là y khai gian.

Nước Mỹ hú vía vì gặp một tay mơ, nhưng sự may mắn ấy có khi không tái diễn.

***
Trước hết, quả là hung thủ không thiếu ý chí giết người tối đa. Trong chiếc SUV loại Pathfinder được đậu tại đường 45 gần quảng trường Time Square, Faisal Shahzad đã gài ba loại chất nổ nhằm phá hủy cả một khu vực rộng lớn đang có đầy người.

Theo thông tin của Bộ Tư Pháp, một thùng sắt để phía sau xe có chứa hơn một tạ (113 kg) phân bón gốc urea. Nếu trộn với “acid nitric,” phân bón sẽ thành “urea nitrate,” chất nổ được sử dụng trong vụ tấn công World Trade Center năm 1993. “Mục đích yêu cầu” của hung thủ là làm xe hơi nổ tan tành giữa chốn đông người. May là chuyện pha chế ấy không thành!

Trong xe còn trữ hai bình gần hai chục lít xăng, chung quanh chất đầy pháo bông. May là pháo nổ lại không làm vỡ bình xăng khiến xăng bốc cháy hoặc kích hỏa chất “urea nitrate.” Xăng cháy thì quả là ngoạn mục nhưng chức năng giết người thuộc về “urea nitrate.” Như chưa đủ chắc, hung thủ còn để ba bình ga loại propane, mỗi bình 75 lít. May là Faisal Shahzad lại không mở bình ga, có lẽ vì muốn dùng áp suất rất cao trong bình gây ra một vụ nổ lớn. Dùng bình ga làm bom thủ công nghệ - improvised explosive devices - là trò khủng bố đã phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới.

Hoa Kỳ gặp may vì hung thủ cố ý dùng cả ba loại chất nổ (urea, xăng và ga lỏng) mà chỉ không biết cách pha chế và kích hỏa. Ráp bom là một nghề, cho nổ lại là một nghề khác và Faisal Shahzad chưa được huấn luyện tới nơi tới chốn. Một nguyên nhân khác là y có tham vọng cao hơn khả năng, muốn tạo ra sự ngoạn mục cho thiên hạ biết tiếng bằng cách sử dụng phương pháp cầu kỳ quá sức mình.

Năm ngoái, một lãnh tụ khủng bố của Al-Qaeda trong Vịnh Á Rập (AQAP - Al-Qaeda in the Arabian Peninsula) là Nasir al-Wagayshi đã căn dặn các tay khủng bố tự phát ở cấp cơ sở là “chỉ nên dùng phương pháp tấn công đơn giản thôi!” Nghe chừng Faisal Shahzad chưa nghe ra... có khi vì y là con một cựu thiếu tá người Pakistan, đã học hành tử tế và thành công tại Mỹ nên muốn chơi trội!

Nhưng, việc hung thủ đã có thể gom góp ngần ấy phương tiện giết người “ngay trong đất địch” khiến chúng ta phải lạnh mình!

***

Sau vụ 9-11, các nhóm khủng bố chuyên nghiệp xưng danh “Thánh chiến” thấy là rất khó tấn công vào lãnh thổ Hoa Kỳ.

Sau khi được huấn luyện nhuần nhuyễn, các đặc công có tay nghề cao nhất thì khó đột nhập vào Mỹ. Quân khủng bố đành tìm “dân nội địa,” người Hồi Giáo sinh sống tại Mỹ và đã thụ đắc quốc tịch Mỹ, rồi đưa ra ngoài tập huấn để trở về ra đòn.

Thí dụ như tháng 9 năm ngoái, “công dân Mỹ” Najubullah Zazi bị bắt như vậy sau khi qua học tập trong một căn cứ của Al-Qaeda tại Pakistan năm 2008. Chính là hệ thống nghe lén của tình báo Mỹ phát giác hành tung của Zazi và theo dõi để kịp thời tóm cổ khi hắn mua một lượng rất lớn hai chất “hydrogen peroxide” và “acetone” để pha chế chất nổ “triacetone triperoxide” rất dễ bốc. Hành tung mua sắm loại hóa chất này khiến nhà chức trách kịp nhảy vào cuộc. Nghĩa là các nghi can đều có được khủng bố al-Qaeda hay Taliban huấn luyện, nhưng chưa tới trình độ.

Một trường hợp khác lại đáng chú ý hơn. Ðó là thiếu tá Bộ Binh Hoa Kỳ Nidal Hasan. Tháng 11 năm ngoái, anh ta nổ súng giết chết 13 người trong trại lính Fort Hood ở Texas. Thay vì chạy ra nước ngoài để thụ huấn một khóa học về khủng bố, Nidal Hasan dùng ngay kiến thức quân sự của mình thi hành việc giết người để làm sáng danh Thượng đế Allah của mình, theo kiểu tàn ác của mình. Hung thủ nhắm vào phương pháp đơn giản hơn là chế bom, và đạt kết quả hơn hẳn Faisal Shahzad! Nói cách khác, lời khuyên của trùm khủng bố AQAP là al-Wahayshi đã có công hiệu trong cộng đồng Hồi Giáo cực đoan tại Mỹ.

Vấn đề là vì sao người ta vẫn còn gặp hiện tượng kỳ lạ này?

***

Lãnh đạo lực lượng khủng bố chiến lược như al-Qaeda hay Taliban thật ra đang bị tê liệt và không thể tung hoành tại Hoa Kỳ với một thành tích ghê gớm như vụ 9-11 năm 2001. Nhưng, trong thế giới Hồi Giáo, ta vẫn thấy xuất hiện phản ứng “khủng bố tự phát” của các nhóm Al-Qaeda “địa phương” (như AQAP) hay nội địa, hoặc các tay khủng bố đơn lẻ kiểu “Vạn lý Ðộc hành.” Thành phần này không có trình độ nghiệp vụ cao như 19 hung thủ của vụ 9-11 và cần được huấn luyện thêm. Nếu được kết nạp từ Hoa Kỳ và chạy ra ngoài học nghề giết người - như trường hợp Faisal Shahzad - thì may ra nhà chức trách Mỹ có thể theo dõi và bắt được. May ra thôi, nếu Quốc Hội không ngăn cấm chuyện nghe lén này.

Chứ thực tế thì nhà chức trách Hoa Kỳ đã bị tuột tay và nước Mỹ gặp may nên tránh được hai vụ tàn sát trên chuyến bay vào Detroit trong ngày Giáng Sinh và tại Times Square vào hôm mùng Một vừa qua. Trong cả hai vụ, chính là thường dân đã phát giác và ngăn được tai họa. Và Faisal Shahzad còn thoát khỏi mạng lưới an ninh cho tới khi lên máy bay - cũng tại New York - để trốn qua Trung Ðông. Các cơ quan an ninh Mỹ có trách nhiệm lớn khi để xảy ra những vụ như vậy.

Faisal Shahzad có bị theo dõi, đã đưa vợ con ra ngoài sau khi qua 5 tháng học nghề khủng bố rồi quay trở lại Mỹ thi thố tài năng. May là tay nghề chưa khá nên thành tích chưa trọn vẹn. Nếu hắn gặp may thì dân Mỹ đã lãnh họa! Dù sao, phải lấy công tâm mà nói rằng việc theo dõi, nghe lén và điều tra một số nhân vật khả nghi như vậy không là đơn giản, dễ làm. Và nếu thiếu tế nhị thì cơ quan công quyền còn mang tiếng là kỳ thị dân Trung Ðông, Á Rập hay người Hồi Giáo.

Chuyện đáng nói hơn thế là chính quyền Barack Obama đã gián tiếp quy tội cho vị tiền nhiệm là có chánh sách quá khe khắt nhuốm mùi thù nghịch với Hồi Giáo nên càng khuyến khích khủng bố. Sau khi nhậm chức, ông Obama lập tức đòi đóng cửa trại tù Guantanamno rồi đi vái tứ phương, đọc diễn văn đầy tính chất hòa giải tại các nước Hồi Giáo và tránh dùng đến chữ “khủng bố” - một “tai họa nhân tạo”! Kết quả thì ông chẳng thuyết phục được các phần tử quá khích và khủng bố Hồi Giáo vẫn kết nạp thêm người, kể cả những kẻ ăn học tử tế ngay trong xã hội Mỹ. Ngoài Faisal Shahzad hiển nhiên là còn nhiều tay khác, hiện đang học kinh nghiệm thất bại tại Times Square để trau giồi nghiệp vụ.

Các hung thủ còn mai phục và nhắm vào các mục tiêu “mềm,” thuộc về dân sự, rất khó phòng thủ và bảo vệ. Nhiều “vạn lý độc hành” mà cùng ra tay thì ta vẫn có một phong trào... Nước Mỹ sẽ chẳng mãi mãi gặp may và một tai họa khác vẫn có thể xảy ra.
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »


Image

HAI ÐÓA HỒNG TƯƠI
Ngày trước, Ðức Tổng Giám Mục Philipphê Nguyễn Kim Ðiền đã ra đi về nhà Cha với danh nghĩa TỬ VÌ ÐẠO, ngày hôm nay, Ðức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt rời chức vụ Tổng Giám Mục Tổng Giáo Phận Hà Nội với danh nghĩa gì, chúng ta rất khó có một định nghĩa chính xác.

Ðức Tổng Giám Mục Philipphê đã bị Việt Cộng đầu độc để bứng đi một kẻ chống đối, một thế lực mà chúng không thể nào lay chuyển, một sức mạnh mà Việt Cộng cho là nguy hiểm dù chỉ với 2 bàn tay không, và những lời đanh thép binh vực Chân Lý và Sự Thật. Sau mười mấy giờ vật lộn với tác dụng của độc dược, Ngài đã trút hơi thở cuối cùng, chấm dứt cuộc sống ở trần thế, Ngài đã được vào nước Thiên Chúa vĩnh hằng. Mặc cho những kẻ tránh né sự thật, ghép cho Ðức Tổng Giám Mục Philipphê Nguyễn Kim Ðiền một sự oan ức: đã có thời gian hợp tác với Việt Cộng, để hồ sơ phong thánh của Ngài không bao giờ được mở, hay ít ra là trong thời gian Việt Cộng còn cai trị Việt nam. Nhưng trước mặt Thiên Chúa là cha sự công bình và chân lý, Ðức Tổng Giám Mục Philipphê là một đóa hồng tươi thắm với máu tử đạo của Ngài, bởi sự can trường đem ánh sáng Phúc âm chiếu tỏa giữa bầy quỷ dữ vô thần.

Vài ngày nữa, Ðức Tổng Giám Mục Giu Se Ngô Quang Kiệt cũng sẽ ra đi khỏi Hà Nội trong sự reo mừng chiến thắng của Việt Cộng và những kẻ tay sai của chúng. Ðức Tổng Giám Mục Giu se rời khỏi chức vụ Tổng Giám Mục Hà Nội với tư cách gì? Một sự cách chức? Một sự hy sinh để cho “giáo hội Công giáo Việt Nam được thăng hoa về đàng vật chất”? Hay một sự sai lầm nghiêm trọng, phá nát lòng tin của giáo dân và giáo sĩ đối với Bề Trên? Hay là một sự chiến thắng của Satan, kẻ thù của Giáo Hội.

Một Tổng Giám Mục rời khỏi chức vụ mình mà không được trao phó cho một chức vụ, một nhiệm vụ tương tự, cũng như một viên chức chính quyền rời khỏi nhiệm vụ mà không được trao phó cho một nhiệm vụ mới tương đương, thì dù muốn, dù không cũng phải gọi đó là một SỰ CÁCH CHỨC, không thể có ngôn từ nào thích đáng hơn. Nhưng, viên chức hành chánh nào, trừ những sự lắc léo trong chế độ Cộng Sản, đều được cho biết lý do trên giấy trắng mực đen. Riêng trường hợp bị cách chức của Ðức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt chắc chắn không được Vatican nêu rõ lý do cho sự cách chức Ngài hay một lý do “lạc đề”. Người ta dự đoán trong sắc lệnh cất chức Ngài, Vatican có thể ghi mấy chữ: vì lý do sức khỏe, vì chấp thuận đơn xin nghỉ hưu, hay một lý do nào khác, nhưng với bất cứ lý do nào của Vatican đưa ra, cũng không đánh đổ được hai chữ “cách chức” phũ phàng mà hàng triệu giáo sĩ và giáo dân, có thể có một vài giám mục nữa tin chắc như thế, hàng triệu triệu con tim Việt Nam ngoài Công giáo cũng tin như thế, vì đó là sự thật.

Các nhà viết sử của Tổng Giáo Phận Hà Nội sau này nói riêng, Giáo Hội Việt Nam nói chung, rất khó mà ghi lý do rời khỏi chức vụ của Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt. Xin đừng ghi rằng “vì lý do sức khỏe” vì vừa đến Vatican thì Ngài được đưa ngay vào bệnh viện, công cuộc “chữa trị” dự trù 2 tháng, nhưng các bác sĩ của Vatican đã tuyên bố “ngài đã không có bệnh gì” và cụ thể là Ngài rời “bệnh viện” và về Việt Nam trước một tháng. Xin đừng ghi rằng “vì Ngài chống đối chính quyền lúc bấy giờ”. Vì ghi như vậy, tuy đúng sự thật, dù chỉ đúng một nửa, cũng là một sự sỉ nhục Công Lý và Sự Thật. Vì “chính quyền lúc bấy giờ” là một bọn vô thần, một bọn tham quan ô nhục, một bọn phản quốc, nô lệ cho ngoại bang, nhất là một bọn tiêu diệt tôn giáo thì với tư cách một Kitô hữu, một công dân Việt nam ai cũng có bổn phận chống đối và lật đổ chế độ độc tài đó. Chống đối những kẻ như vậy mà bị cách chức, hay nói văn hoa là “rời khỏi chức vụ” là một sự sỉ nhục Chân Lý và Sự Thật. Dù Ðức TGM Ngô Quang Kiệt bị cách chức hay rời khỏi chức vụ vì chống đối bọn người nói trên thì sự hiện diện của Giáo Hội Công Giáo tại Việt Nam để làm gì?

Tại sao “vì chống đối chính quyền thời bấy giờ” chỉ nói lên một nửa sự thật? Vì Ðức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt không chống đối “chính quyền” bằng bạo lực, bằng hận thù, bằng những phương tiện của con người, mà bằng phương tiện của Thiên Chúa: cầu nguyện. Một Tổng Giám Mục vì lý do dạy bảo con chiên cầu nguyện mà bị cách chức thì các giám mục khác dạy con chiên điều gì? Hỏi tức là trả lời. Sự việc Ðức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt dạy bảo con chiên phải cầu nguyện được đánh dấu bằng lời nói đanh thép của Ngài: “Ai vì cầu nguyện mà bị đi ở tù, tôi sẽ ở tù thay”. Cũng không thể ghi rằng “vì Ngài không hòa đồng với các giám mục khác”, hoặc vì Ngài “không hòa giải, hòa hợp với chính quyền đương nhiệm”. Vì người đời sau sẽ đánh dấu hỏi các giám mục khác hòa đồng với nhau những “chuyện” gì? Im lặng trước những tệ đoan xã hội như phá thai, như bóc lột, tham nhũng, mãi dâm, bán đất, bán biển cho ngoại bang đổi lấy sự sự cai trị đất nước của “chính quyền đương nhiệm”? Thế thì nhiệm vụ của đạo Công Giáo ở giữa trần gian này là gì? Là mưu cầu tiền bạc để tạo nên những lâu đài tráng lệ, những đền thờ nguy nga “ Nam thiên nhất trụ” trên một đất nước nghèo nàn?

Bài xã luận của Việtcatholic Network ngày 11.5.2010 đã viết rằng: “ÐTGM Ngô Quang Kiệt sẽ đi vào lịch sử như một chứng nhân anh dũng cho giá trị Kitô Giáo”. Thế thì Vatican và Hội Ðồng Giám Mục Công giáo Việt Nam “chứng nhân” cho cái gì trong thời Ðức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt chăn dắt đoàn chiên Thiên Chúa ở Hà Nội và Việt Nam? Hay nói cách khác là các ngài không coi trọng hay chống đối “giá trị Kitô Giáo”. Việt Catholic ca ngợi Ðức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt hay sỉ nhục Vatican và Hội Ðồng Giám Mục Công Giáo Việt Nam ? Ðây là đầu đề của một bài xã luận được ký tên bên dưới là Vietcatholic Network chứ không phải của tác giả nào khác, cũng không có lời minh xác của tòa soạn. Với cái tựa đề như vậy mà Vietcatholic Network lại có đoạn viết rằng: “Tuy nhiên, những kẻ đạo diễn gây ra bi kịch này sẽ hớn hở vui mừng biết bao nếu chúng ta chán nản buông xuôi, nếu chúng ta đánh mất đi tình hiệp nhất khi buông mình tuôn ra những lời lẽ nặng nề chỉ trích lẫn nhau”. Còn lời lẽ nào nặng hơn khi một chứng nhân anh dũng cho giá trị Kitô Giáo lại bị Bề trên và anh em mình “cách chức”. Còn gì đau khổ hơn cho TGM NguyênễVăn Nhơn, vị thay thế cho “chứng nhân anh dũng cho giá trị Kitô Giáo” khi ngài đọc được bài xã luận này? Thế thì thân phận và nhiệm vụ của vị thay thế Ðức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt sẽ là kẻ không làm chứng cho các giá trị Kitô Giáo? Người ta không trách Vietcatholic có đầu đề bài xã luận “tuôn ra những lời lẽ nặng nề chỉ trích” nhưng chỉ trích ai? “Chỉ trích lẫn nhau” thì không đúng, mà chúng ta phải chỉ trích những sự sai trái, đi ngược lại với giá trị Kitô Giáo. Nói cách khác, chúng ta phải nói lên sự thật, binh vực giá trị Kitô Giáo tức là Chân Lý và Sự Thật.

Một lời nói sai của Ðức Vua hay của một bề trên với một lời nói đúng của một kẻ khố rách áo ôm, chúng ta phải nói lên sự thật ai đúng, ai sai, hay là chúng ta phải nhìn vào bộ áo vua chúa của người nói, địa vị kẻ nói để chấp nhận chính họ mới là kẻ nói đúng, còn kẻ khố rách áo ôm phải luôn luôn bị cho là sai?. Trước bạo lực của Việt Cộng, Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam đã phải chấp nhận cho chúng là đúng, còn Ðức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt bị cho là sai. Ðừng nói rằng quyền quyết định là quyền của Ðức Giáo Hoàng chứ không phải Hội Ðồng Giám Mục Việt nam. Ðừng chối bỏ trách nhiệm thay cho các ngài. Ðức Giáo Hoàng chỉ có ơn BẤT KHẢ NGỘ khi tuyên bố tín điều, Ngài không phải người thần thông quảng đại biết được những gì xảy ra tại Việt Nam mà không đọc những tờ trình của các cấp trong giáo hội địa phương. Vụ Tòa Khâm Sứ cũ và Thái Hà, Vatican dù có cử phái bộ điều tra qua Việt Nam cũng phải hỏi ý kiến của Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam trước khi trình lên Ðức Giáo Hoàng quyết định. Nguyên tắc hành chánh buộc Vatican phải hỏi ý kiến của Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam về “một người anh em” của họ trước khi quyết định nâng người anh em này lên một cấp bực cao hơn, chứ đừng nói hạ người này xuống một vị thế không có cấp bực nào!

Bổn phận tất cả mọi người là phải nói lên sự thật. Vì chỉ có sự thật mới cứu được chúng ta. Sự thật là Thiên Chúa.

Nếu cái chết của Ðức Tổng Giám Mục Philipphê Nguyễn Kim Ðiền trở thành một đóa hồng tươi của Giáo Hội Công Giáo Việt nam dâng lên Thiên Chúa, thì sự “ra đi” của Ðức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt là một đóa hồng tươi khác dâng lên Thiên Chúa, vì Ngài đã là nhân chứng anh dũng cho giá trị Kitô Giáo. Chúng ta hãy cầu nguyện - lại cầu nguyện - cho Ngài trong những năm tháng còn lại của cuộc đời an vui thanh thản, chấp nhận cuộc sống hiện tại, như quan niệm của Thánh nữ Têrêxa Hài Ðồng Giê Su, Ngài như một trái banh của Chúa Giê Su, nếu được Chúa dùng đến, hay vứt vào xó xỉnh nào thì trái banh vẫn luôn là của Chúa.

Ðức TGM Ngô Quang Kiệt đã là “chứng nhân anh dũng cho giá trị Kitô Giáo”, vậy thì trách nhiệm của những ai đã đẩy ngài ra khỏi Hà Nội là gì? Là một Kitô hữu, chúng ta phải nói lên sự thật để hãnh diện rằng chúng ta không nói láo. Nói lên sự thật để lay chuyển những trái tim sắt đá, im lặng trước những bất công, bóc lột mà bổn phận của họ phải cảnh giác bạo quyền, phải binh vực nạn nhân. Là một công dân Việt Nam, chúng ta phải nói lên sự thật cũng với mục đích cảnh tỉnh những ai đang về hùa với kẻ bán nước buôn dân, nhất là trước nạn diệt vong của dân tộc do “nước lạ”, “nước ngoài” tức là Trung Cộng đem lại, với sự hỗ trợ đắc lực của “chính quyền đương nhiệm”, đừng để hàng giám mục Việt Nam nằm trong danh sách những đồng lõa hay tòng phạm trong thảm trạng diệt vong của đất nước và dân tộc.

Kính xin Ðức Tổng Giám Mục Philippê Nguyễn Kim Ðiền trên thiên đàng cầu nguyện cho Giáo Hội Công Giáo Việt Nam đi theo con đường “chứng nhân anh dũng của giá trị Kitô Giáo”. Kính xin Ðức Tổng Giám Mục Giu Se Ngô Quang Kiệt tiếp tục cầu nguyện và là “chứng nhân anh dũng của giá trị Kitô Giáo” trong thời gian còn lại của cuộc đời tận hiến.

Xin dâng hai đóa hồng tươi của Giáo Hội Việt nam lên Thiên Chúa để tùy Ngài xử dụng. Xin Mẹ Maria, Mẹ La Vang của Việt Nam cho con cái Thiên Chúa luôn là sự sáng của thế gian, cầu bàu cho Giáo Hội Việt Nam xứng đáng là chứng nhân của con Mẹ, cho nước Việt Nam chúng con mau thoát ách Cộng Sản.

Lê Văn Ấn
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Hòa hợp hòa giải dân tộc: Với ai? Ðể làm gì?

Lê Quốc Trinh
Tự dưng mấy hôm nay nổi lên những loạt bài nói về “hòa hợp hòa giải dân tộc” tràn lan trong thế giới mạng Việt Nam từ trong nước ra đến hải ngoại. Bắt đầu bằng bài phỏng vấn ông Võ Văn Sung, cựu đại sứ Việt Nam tại Pháp trên chủ đề “Nuôi thù hận, cản trở hòa hợp là có tội với tương lai,” trên báo TuanVietNam (24 tháng 4, 2010), tiếp theo là bà Nguyễn Thị Bình, cựu phó chủ tịch nước với câu nói, “Cùng một dân tộc, hà cớ gì không thể hòa hợp?” Phản hồi trên TuanVietNam sau đó là tiếng nói của GS Cao Huy Thuần (Một dân tộc không có sông Ngân), rồi bài viết của nhà giáo Phạm Toàn hôm nay (Ba điều ước về ngày 30 tháng 4).
Image
Không có hòa hợp hòa giải dân tộc sau 1975, thuyền nhân Việt Nam bỏ nước ra đi. (Hình: AFP/Getty Images)

Qua bài viết này tôi xin góp ý với hai nhà cách mạng lão thành đến tuổi “gần đất xa trời,” ông Võ Văn Sung và bà Nguyễn Thị Bình cũng trên chủ đề “hòa hợp hòa giải dân tộc.” Tôi là Việt kiều Canada, năm nay cũng qua lứa tuổi lục tuần, xin phép được đối thoại với với quý vị về những chuyện cũ xa xưa, chắc không gọi là lạc đề cho lắm.


Kính thưa quý vị,

Thực tế, 35 năm trôi qua, tôi nghĩ rằng đất nước đã thật sự hòa bình, mọi người đang mơ ước làm ăn xây dựng, mà ngày nay hãy còn nghe nhắc đến cụm từ “hòa hợp hòa giải dân tộc” sao mà cảm thấy đắng cay, chua chát. Ðiều này hiển nhiên chứng tỏ tập đoàn lãnh đạo Ðảng Cộng Sản Việt Nam và nhà nước tự thú nhận đã thất bại trong chính sách an dân, có nghĩa là “lòng dân không an.” Tôi thắc mắc không hiểu tại sao chỉ có nhà nước hay tập đoàn lãnh đạo Ðảng Cộng Sản Việt Nam mới hay kêu gọi “hòa hợp hòa giải dân tộc”? Hòa hợp với ai đây? Ðể làm gì nhỉ?

Theo lời các cụ nói “ai có tật thì hay giật mình,” phải chăng tập đoàn lãnh đạo Ðảng Cộng Sản Việt Nam đã làm điều gì sai trái trong quá khứ khiến cho hận thù dân tộc còn âm ỷ không thôi, để rồi sau 35 năm qua, quý vị lãnh đạo lại cứ bị ám ảnh mãi? Phải chăng vì thế mà quý vị cán bộ cao cấp trong Ðảng thường hay đi lễ Phật, xây chùa hoành tráng, đúc tượng vĩ đại, bày trò cầu an, cầu siêu rầm rộ, say mê đồng bóng, điển hình là Chủ Tịch Nguyễn Minh Triết, người cộng sản đầu tiên trong lịch sử, xung phong xin quy y Tam Bảo và đăng đàn tổ chức Ðại Lễ Phật Ðản Thế Giới 2008?

Nếu đúng thế thật, vậy thì theo giáo lý nhà Phật chính thống, tôi trân trọng đề nghị quý vị lãnh đạo Ðảng Cộng Sản Việt Nam hãy cùng nhau tổ chức một buổi lễ hoành tráng gọi là “Thành Tâm Sám Hối” trước tiên, hãy lấy hết can đảm tự làm một bản kiểm thảo tự phê bình trước toàn dân. Ðức Phật đã từng nói rằng, “buông dao mổ trâu xuống, tức khắc thành Phật,” ở đây phải nói chính xác là buông xả hết những tâm địa đen tối, dẹp bỏ những thủ đoạn gian trá, lừa lọc còn tiếp tục gây hoang mang nghi ngờ trong quần chúng.

Chưa hết, đó mới chỉ là bước đi đầu tiên để tái lập lòng tin sơ khởi, bước kế tiếp là đề nghị tập đoàn lãnh đạo Ðảng Cộng Sản Việt Nam và Quốc Hội Việt Nam hãy có can đảm tu chỉnh Hiến Pháp, xóa bỏ Ðiều 4 (*), chấp nhận mọi chính kiến trái chiều, công nhận đa nguyên đa đảng, từ bỏ cương vị độc quyền độc đảng, và từng bước tiến hành một cuộc tổng tuyển cử, phổ thông đầu phiếu dân chủ và tự do để cho toàn thể dân tộc Việt Nam, đến tuổi trưởng thành, tự tay cầm lá phiếu bầu lên một chính phủ đại diện dân “danh chính ngôn thuận.” Ðó mới đúng là hòa hợp hòa giải dân tộc, hãy để dân tộc Việt Nam nói lên tiếng nói của họ, vì hơn nửa thế kỷ qua họ đã phải âm thầm ngậm miệng cay đắng chịu đựng. Hãy thử học tập theo gương đất nước Căm-Pu-Chia bên cạnh, họ đã có can đảm dám chấp nhận đa nguyên đa đảng và tổ chức bầu cử dân chủ sau một thời kỳ đen tối suýt bị “diệt chủng.”

Ngày nào mà tư cách đại diện của tập đoàn lãnh đạo Ðảng Cộng Sản Việt Nam và nhà nước chưa thực sự “danh chính ngôn thuận” thì những lời kêu gọi “hòa hợp hòa giải dân tộc” của quý vị chỉ là những câu tuyên truyền rỗng tuếch, vô nghĩa, không khác gì những ngọn đèn nhỏ xanh đỏ nhấp nháy dùng để trang hoàng cho một thân cây Noel mục nát, trong mùa lễ Giáng Sinh. Ngày nào đất nước Việt Nam có được một chính phủ đại diện chính thức do toàn dân tín nhiệm bầu lên trong bầu không khí tự do, dân chủ thì tức khắc quý vị sẽ thấy ba triệu người con thân yêu ở hải ngoại lần lượt khăn gói kéo về chung vai sát cánh xây dựng tổ quốc hùng cường, và lương tâm quý vị lãnh đạo sẽ không còn bị cắn rứt ám ảnh nữa. Quý vị tin tôi đi!

Kính chào quý vị,
Lê Quốc Trinh
Canada
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Mở miệng đã run như cầy sấy

Phạm Trần

Quân đội của một nước có nhiệm vụ cao cả và trách nhiệm nhất là bảo vệ đất nước không bị mất vào tay quân thù, nhất là giặc ngoại xâm. Do đó, những người chỉ huy quân đội này phải một lòng một dạ trung thành với Tổ quốc và chung thủy với nhân dân.

Những nguyên tắc cơ bản này xem ra không thấy gắn bó với một số cấp chỉ huy lãnh đạo rường cột của Quân Ðội Nhân Dân Việt Nam, nhất là đối với Trung Quốc thì họ lại tỏ ra khiếp nhược và ươn hèn ra mặt.

Tỷ dụ như Phùng Quang Thanh, đại tướng bộ trưởng Quốc Phòng đã thốt ra những lời về Trung Quốc khiến người nghe chói tai.

Thanh nói, “Quan hệ với Trung Quốc hiện nay có thể nói là rất tốt, trên tinh thần đối tác, hợp tác chiến lược toàn diện, trên tinh thần 16 chữ và 4 tốt. Chúng ta là láng giềng hữu nghị, là đồng chí, anh em. (“láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt.”)

Bây giờ gay gắt nhất là vấn đề trên Biển Ðông thôi. Hai bên còn có những tranh chấp, đều cam kết là giữ ổn định, không để vì tranh chấp đó ảnh hưởng đến quan hệ hai nước, làm mất ổn định. Chúng ta phải đàm phán hòa bình theo tinh thần dễ trước, khó sau.

Những cái khó trước đây như biên giới trên bộ, vấn đề Vịnh Bắc Bộ chúng ta cũng đã giải quyết được bằng đàm phán hòa bình mà hai bên cùng có lợi, bây giờ trở thành đường biên giới hòa bình, hữu nghị, ổn định, phát triển kinh tế rất tốt.

Vấn đề Biển Ðông cũng cần đàm phán hòa bình để từng bước giải quyết, và phải hết sức kiềm chế, không để các thế lực thù địch bên ngoài lợi dụng, kích động để chia rẽ quan hệ hai nước Việt-Trung, không để chia rẽ giữa Ðảng, Nhà nước ta với quần chúng nhân dân. Ðiều đó rất quan trọng.” (Tường thuật của Phương Loan, VietNamNET)

Thanh đã nói với các nhà báo như thế bên lề hội nghị các Bộ Trưởng Quốc Phòng khối Hiệp Hội Các Nước Ðông Nam Á (ASEAN) diễn ra tại Hà Nội ngày 11 tháng 5 (2010).

Nhưng nếu so với những hành động của Trung Quốc như đang thao dượt quân đội để chuẩn bị tấn công chiếm các đảo còn lại của Việt Nam ở Biển Ðông; bắt và đánh đập ngư dân Việt đánh cá trong vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam; ngang ngược tự khoanh vùng biển chiếm đến 80 phần trăm Biển Ðông để gọi đó là “vùng đặc quyền kinh tế” của mình thì làm sao mà Thanh lại coi quan hệ giữa Việt Nam và Trung Hoa “rất tốt” là “tốt” ở chỗ nào?

Ngoài ra, Thanh còn nhu nhược nói như cúi rạp mình xuống trước quân xâm lược hung hăng khi khuyên hãy cẩn trọng khi đàm phán với Tàu về Biển Ðông như “phải hết sức kiềm chế, không để các thế lực thù địch bên ngoài lợi dụng, kích động để chia rẽ quan hệ hai nước Việt-Trung.”

Nhưng “thế lực thù địch bên ngoài” là thế lực nào hay Thanh đã bịa đặt ra như đảng Cộng Sản Việt Nam đã tự vẽ ra cái gọi là “diễn biến hòa bình” để che đậy sự yếu kém, thiếu tự tin vào sức mạnh của dân tộc mà cúi đầu thủ phục trước nanh vuốt của kẻ thù Phương Bắc chưa bao giờ từ bỏ âm mưu thôn tín Việt Nam?

Phùng Quang Thanh còn được báo trong nước ghi lời tuyên bố rằng, “Với vai trò chủ tịch trong năm 2010, Việt Nam đề xuất vấn đề an ninh trong khu vực quan trọng nhất là phải giữ được môi trường hòa bình. Với vấn đề tranh chấp chủ quyền ở các khu vực biển, đảo trên biển Ðông cần thực hiện đầy đủ DOC (cam kết giữa Trung Quốc với các nước Ðông Nam Á về Biển Ðông ký năm 2002 tại Nam Vang, Cao Miên), tức là giữ nguyên hiện trạng, không mở rộng tranh chấp lấn chiếm; đàm phán hòa bình, tôn trọng luật pháp quốc tế; cam kết không được dùng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực để giải quyết các tranh chấp. Mất ổn định khu vực thì sẽ ảnh hưởng đến cả thế giới vì ở đây có tuyến đường hàng hải mậu dịch đứng thứ nhì thế giới, mỗi ngày có 150-200 tàu bè lớn qua lại.”

Trong thực tế, Bắc Kinh đã không tuân thủ những điều họ đã ký kết. Từ đó đến nay, Hải Quân Trung Quốc đã coi vùng Biển Ðông như cái ao nhà của họ. Họ đã và đang thao dượt quân sự, tập tấn công, xây dựng thêm các bãi tác chiến, bến cảng, sân bay và tuần tra và thăm dò tài nguyên dưới biển. Họ còn ngang nhiên cấm đánh cá trong mùa cá cao điểm nhất từ tháng 6 đến tháng 8 mỗi năm, nhưng lại gia tăng tầu chiến đến vùng biển của Việt Nam để hộ tống hàng ngàn thuyền đánh cá của Tàu hoạt dộng đánh bắt tự do từ Hoàng Sa xuống Trường Sa.

Ngoài Phùng Quang Thanh, người phụ tá của Thanh là Nguyễn Chí Vịnh, trung tướng, thứ trưởng Quốc Phòng cũng huênh hoang vừa nói vừa run với báo chí trong nước bên lề Hội Nghị Các Bộ Trưởng Quốc Phòng ASEAN ngày 11 tháng 5, 2010: “Tình hình ở Biển Ðông ngày càng được chú ý, song giải quyết vấn đề Biển Ðông chỉ có thể bằng giải pháp hòa bình, như một yêu cầu khách quan và không nước nào có lợi nếu sử dụng sức mạnh quân sự ở Biển Ðông... Giải quyết vấn đề Biển Ðông bằng giải pháp hòa bình không phải từ thiện chí mà là từ nhu cầu, yêu cầu khách quan của tất cả các nước. Không một nước nào có lợi khi sử dụng sức mạnh quân sự ở Biển Ðông.” (VietNamNet)

Vấn đề là từ 3 năm trở lại đây, chưa có khi nào Trung Quốc muốn nói chuyện bằng “thiện chí” với Việt Nam. Ngược lại, xuyên qua những bài báo chính thức của đảng Cộng Sản Trung Hoa và qua các cuộc tiếp xúc giữa các viên chức lãnh đạo hai nước thì đằng sau những câu nói ngọt ngào đầu môi chót lưỡi đậm tình đồng chí là những hành động đe dọa công khai.

Tỷ dụ như trong trong buổi làm việc với ông Lê Quang Bình - Ðại biểu Quốc Hội, kiêm Chủ nhiệm Ủy Ban Quốc Phòng của Việt Nam tại lầu Bát Nhất ngày 29 tháng 4, 2010, ông Sun Jian Guo - trung tướng Hải Quân, phó tổng tham mưu trưởng Quân Ðội Giải Phóng Nhân Dân Trung Quốc đã cho biết những lập trường cụ thể của Trung Quốc đối với vấn đề Biển Ðông như thế này: “Vấn đề tranh chấp trên Biển Ðông là vấn đề lớn nhất mà hai nước còn nhiều điều chưa có sự thống nhất và tồn tại mâu thuẫn. Trung Quốc kịch liệt phản đối việc đưa vấn đề này ngày càng trở nên ‘quá nóng,’ phản đối việc đưa vấn đề này thành sự kiện ‘quốc tế hóa,’ đồng thời cũng phản đối việc các nước khác tham gia vào vấn đề này. Theo đó hai nước Việt-Trung nên bình tĩnh, thận trọng và song phương giải quyết vấn đề này, qua đó không làm tổn hại đến mối quan hệ hai nước.” (Theo báo điện tử Chinanews do VIT-Vietnam Information Treasure- dịch đăng lại )

Cũng nên biết từ 2 năm qua, Việt Nam đã tổ chức một số cuộc thảo luận quốc tế và quốc nội ngay tại Hà Nội và Sài Gòn để bàn về vấn đề chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đào Hoàng Sa và Trường Sa. Một số nhà nghiên cứu của Việt Nam cũng đã đến Hoa Kỳ tham gia vào ít cuộc hội thảo ở Nữu Ước và Philadelphia (Pennsylvania) về Biển Ðông và chính sách của Trung Hoa tại vùng biển quan trọng này.

Ngoài ra Việt Nam cũng muốn Hiệp Hội Các Quốc Gia Ðông Nam Á cùng với Việt Nam lập thành một khối đoàn kết và thống nhất để nói chuyện với Trung Hoa về cuộc xung đột chủ quyền ở Biển Ðông. Nhưng Trung Hoa quyết liệt chống lại các kế hoạch của Việt Nam.

Lập trường của Bắc Kinh là chỉ muốn nói chuyện “tay đôi” với Việt Nam và chống lại bất cứ một nỗ lực nào muốn “quốc tế hóa” chuyện Biển Ðông.

Cũng oái oăm cho Việt Nam là một số nước trong khối ASEAN không mặn mà với đề nghị của Việt Nam vì họ có những quyền lợi riêng với Trung Quốc nên Việt Nam tiếp tục trong tình trạng cô đơn trong cố gắng đàm phán với Bắc Kinh để lấy lại quần đảo Hoàng Sa đã bị Tàu đánh chiếm từ tay Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa tháng 1, 1974, cũng như phía CSVN đã mất 8 hòn đảo trong số trên 100 hòn đảo của quần đảo Trường Sa sau trận hải chiến với quân Trung Hoa năm 1988.

Ngoài ra, theo chuyên gia về Trung Hoa, ông Dương Danh Y ở trong nước thì hai trang báo điện tử của tờ Nhân Dân và Hoàn Cầu thời báo Trung Quốc ngày 29 tháng 4, 2010 đã viết bài công khai đe dọa xâm lăng các đảo còn lại của VN trên Biển Ðông.

Xin trích một đoạn trong bài của Ông Dương Danh Y đăng trên báo điện tử Bauxite Việt Nam của các nhà trí thức trong nước: “Hiện nay tình hình Biển Ðông ngày càng phức tạp nghiêm trọng. Về kinh tế một số quốc gia không ngừng tăng nhanh tiến hành khai thác kiểu ăn cướp tài nguyên Biển Ðông của chúng ta (Trung Quốc); về quân sự hải quân một số quốc gia xung quanh Biển Ðông không ngừng mua sắm hạm tàu và máy bay tác chiến có tính năng tiên tiến; về chính trị, có quốc gia có ý đồ đẩy tranh chấp Biển Ðông thành quốc tế hóa và liên minh hóa.

Ngoài ra nước Mỹ dưới sự giúp đỡ của các nước đồng minh như Singapore và Philippine đã tăng cường sự tồn tại quân sự tại Biển Ðông, đồng thời có kế hoạch trở lại vịnh Cam Ranh, nhằm tiến tới sát đường giáp ranh cận hải của ta. Vì thế vấn đề tranh chấp chủ quyền của các đảo và lãnh hải của Trung Quốc kéo dài đã lâu không giải quyết đang trở thành sự thách thức song trùng đối với an ninh kinh tế và an ninh quốc phòng nước ta. Giải quyết hoàn cảnh khó khăn của Biển Ðông phải có suy nghĩ mới và biện pháp mới, càng cần phải quán triệt vào hành động cụ thể.

Một là chế định chiến lược khai thác tài nguyên Biển Ðông, khuyến khích doanh nghiệp Trung Quốc tiến hành lợi dụng và khai thác tài nguyên dầu khí và tài nguyên nghề cá tại Biển Ðông. Phải từ độ cao chiến lược an ninh kinh tế và phát triển lâu dài của quốc gia để nhìn nhận tỉ mỉ vai trò quan trọng của tài nguyên Biển Ðông đối với việc xây dựng kinh tế nước ta, qui hoạch thống nhất chiến lược phát triển, mục tiêu phát triển và các bước đi phát triển đối với tài nguyên dầu khí và tài nguyên nghề cá Biển Ðông, chế định cương yếu thực thi tỉ mỉ, thiết thực, cung cấp sự ủng hộ vững chắc về tài chính và thu thuế cho các doanh nghiệp tham gia khai thác tài nguyên Biển Ðông. Ðồng thời quốc gia phải vì các xí nghiệp tham gia khai thác tài nguyên Biển Ðông hình thành cơ chế liên động đối với các cơ cấu chức năng như an ninh môi trường sản xuất, biên phòng, hải tặc, ngư chính, quân đội, v.v... có thể xử trí kịp thời có hiệu quả các loại sự kiện xung đột, bảo vệ nhân viên, thiết bị và tài sản tham gia khai thác tài nguyên Biển Ðông không bị xâm hại phi pháp.”

Khi nói đến các biện pháp quân sự nếu cần, hai báo này viết: “Tăng cường sự tồn tại quân sự tại các đảo, bãi ở Biển Ðông, để chuẩn bị tốt đấu tranh quân sự cho việc giải quyết về căn bản, cảnh khó ở Biển Ðông. Biển Ðông vừa là con đường vận chuyển quan trọng năng lượng và mậu dịch trên biển của nước ta, vừa là chiếc cửa để hải quân nước ta đi ra Ấn Ðộ dương, liên quan tới lợi ích hạt nhân của nước ta, vì thế việc thu hồi các đảo bãi và lãnh hải bị các nước khác xâm chiếm không thể không có thời gian biểu.”

Như thế thì còn gì rõ hơn về âm mưu nham hiểm của người phương Bắc đối với chủ quyền lãnh thổ và tài nguyên của Việt Nam?

Thế mà cả Phùng Quang Thanh và Nguyễn Chí Vịnh vẫn chưa hiểu hay cố tình chưa biết để đưa ra những lời nói theo phong cách quỳ gối, cúi đầu, bái phục trước gót giầy của các quan Thái Thú bá quyền Trung Quốc?

Vì vậy mới hay làm người lãnh đạo mà biết nhịn nhục để phục thù thì khó mà làm tôi tớ thì dễ quá.

Phạm Trần
(Tháng 5, 2010)
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 8 guests