Chân Dung Người Lính VNCH

Quân sử, những bài viết, ký sự, ...
bobinh
Posts: 221
Joined: Fri Feb 26, 2010 1:35 am
Contact:

Post by bobinh »

Lời Người Lính VNCH Gởi Các Chiến Hữu Đổi Màu

Đỗ Văn Xuân

Tôi rất ngại, không biết phải xưng hô thế nào với các bạn, trước đây tôi và các bạn đứng dưới lá quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ, nay có một số đã chấp nhận đứng dưới lá cờ đỏ sao vàng, lá cờ mà trong cuộc chiến bảo vệ tự do, chúng ta không bao giờ chấp nhận và truy lùng trong những cuộc hành quân, cũng như hạ xuống tại những vùng nông thôn kẻo lánh để thay vào bằng lá cờ vàng ba sọc đỏ. Đau lòng là ngày nay, các anh không còn thích chào cờ nầy khi về Việt Nam, phải đứng trước lá cờ đỏ sao vàng và chân dung Hồ chí Minh, thậm chí khi trở sang nước tạm dung, các anh tỏ ra khiếp sợ một cách hèn nhát, ít khi dám tham dự các sinh hoạt có lá cờ vàng, nhất là không dám chụp những tấm ảnh có những thứ mà chế độ cộng sản thù ghét, đã sống tại các nước dân chủ, nhưng các anh vẫn còn sợ hãi đảng cộng sản, thì làm sao giải trừ được chế độ phi nhân, mang lại tự do cho đồng bào Việt Nam. Tôi cảm thấy ngượng ngùng khi gọi các anh là chiến hữu, các anh đã thực sự đổi màu, trở thành đồng chí với cán binh cộng sản khi về đây vui chơi hay với nhiều lý do khác.

Nhớ thuở xưa, quân nhân chúng mình đã thề trung thành với Tổ Quốc, đứng dưới lá Quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ, ngày nay các anh đã quên tất cả và đổi màu chỉ sau lần về Việt Nam và sau đó là những chuyến hồi hương, càng thắt chặt tình đồng chí với cán bộ, công an, bộ đội để kết bạn tâm giao, mua sự an toàn bằng những tiệc tùng do chính các anh xuất tiền chiêu đãi.

Những năm tháng chiến đấu chống lại kẻ thù cộng sản, tay sai của khối cộng sản quốc tế, những năm tù đày tưởng như không sống sót sau khi miền nam thất thủ. Một số các anh may mắn di tản trong giờ phút sau cùng của cuộc chiến và nay một số các anh đã quay về, không còn như bài ca: Người Di Tản Buồn, một thời làm xúc động trái tim của những người xa tổ quốc, khi quê hương lọt vào tay quân thù.Những người di tản buồn ấy tiêu biểu như thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ và gia đình với con gái Kỳ Duyên, vợ là Tuyết Mai, đã quay về, sánh vai cùng những kẻ mạt sát mình là bọn phản động nước ngoài, đĩ điếm du côn...chắc chắn là những người di tản buồn ấy đã mất hết tâm hồn, trở thành công cụ tuyên truyền cho chế độ phi nhân.

Người di tản buồn Nguyễn Phương Hùng, về Việt Nam vài lần và tự xóa bỏ căn cước tị nạn, khóc lóc như là đứa trẻ trước mặt bọn cán bộ cộng sản, thật là nhục nhã, còn đâu phẩm cách con người, chứ chưa nói đến tác phong của người lính Việt Nam Cộng Hòa, với tấm gương Trần Bình Trọng:" thà làm quỷ nước nam, còn hơn làm vương đất bắc". Các anh em quân nhân, nhất là cùng binh chủng Biệt Động Quân, cảm thấy đau lòng khi trong hàng ngũ có Nguyễn Phương Hùng, đổi màu, đón gió, trở thành quân nhân quốc gia, thờ ma cộng sản. Ấy thế mà Nguyễn Phương Hùng cảm thấy hãnh diện, niềm tự hào của tên phản bội đê hèn, là hạng người mà bất cứ xã hội nào cũng khinh khi, sớm đầu tối đánh. Ngay cả những đồng chí mới của Nguyễn Phương Hùng cũng không bao giờ tin được hắn, nhưng trong giai đoạn nầy, đảng cộng sản dùng thân xác của anh lính Biệt Động Quân đón gió để thực hiện mục đích tuyên truyền. Chính cá nhân Nguyễn Phương Hùng cũng có thể là không nhận ra sự thâm độc của đảng cộng sản, như con chó được chủ nó ném khúc xương để ngoan ngoãn nằm gọn trong thòng lọng và sau đó bị đập đầu, xẻ thịt cho một tiệc nhậu, cái băng Youbube mà Người di tản buồn năm nào, Biệt Động Quân Sát như bài ca hành khúc, bị Nguyễn Phương Hùng hạ nhục thành Biệt Động Quân khóc như đứa trẻ lên ba tại một phòng họp ở đảo Song Tử Tây, đưa Nguyễn Phương Hùng thành thân bại danh liệt, xú danh muôn đời, nhất là sau đó trở sang Hoa Kỳ, sống trong vùng đất tự do mà hầu hết mọi người nguyền rủa kẻ phản bội. Đảng cộng sản đã giết Nguyễn Phương Hùng bằng cái youtube ấy, hắn lại hãnh diện và cám ơn kẻ giết mình. Nhưng nếu Nguyễn Phương Hùng trở về Việt Nam, sống trọn vẹn với tấm lòng mê đảng, hiếu với bác như Trần Trường, thì trong tương lai, bị trấn lột, phải bỏ của chạy lấy người, như nhiều kẻ lập công dâng đảng từ trước, trở về và bị vắt chanh bỏ vỏ. Nguyễn Phương Hùng ngây thơ, dù làm báo lâu năm với nghề ký giả tự do ở Hoa Kỳ, hắn không biết hay cố tình không muốn biết con tàu Việt Nam Thương Tín, đã đến bến bờ tự do mà còn quay về và tất cả đã bị đảng tống vào tù. Nếu Nguyễn Phương Hùng về Việt Nam cách đây 35 năm trước, thì hắn không bao giờ nói là hối tiếc là không về sớm để phục vụ chế độ cộng sản. Những nạn nhân Việt Nam Thương Tín vẫn còn hổ thẹn và hối tiếc sau khi trở về quê hương.

Những bạn lính may mắn khác, vượt biển, đi bằng đường bộ thành công, đến bến bờ tự do. Sau bao năm lăn lóc nơi xứ người, thành công trên nhiều lãnh vực, bỗng trở về, mang tiền về giúp đảng cộng sản từ nhiều năm qua, họ trở thành khách cung cấp tiền thường trực hàng năm cho chế độ cộng sản, giúp đảng vượt qua những khó khăn kinh tế, nợ nần lút đầu, nên tránh được sụp đổ từ lâu, khi cạn kiệt tài chánh, là bài toán chung cho sự sụp đổ các chính quyền trên thế giới.

Một số tù cải tạo, sống sót, được Hoa Kỳ cứu vớt theo chương trình O.D.P, sau thời gian định cư, quay về, kết bạn với những kẻ đã từng hành hạ, mạt sát trong các nhà tù, lương tri của con người không nằm trong ấy, ngay cả thú vật cũng không quên sau vài lần đánh đập nó, nhưng các anh quân nhân H.O trở về, kết bạn mới với cán bộ, trở thành đồng chí, kiêm mạnh thường quân trong các tiệc, sáng nhậu với ủy ban nhân dân, chiều công an đãi tiệc... đó là những đồng tiền hưu dưỡng được chính phủ Mỹ chu cấp để sinh sống, hay những món tiền hưu sau nhiều năm làm việc, thay vì chi cho gia đình, giúp cho các bệnh viện sở tại để chửa trị, trong đó có phúc lợi gia đình và cá nhân mình.... thì các anh lại tiêu xài cho cán bộ cộng sản để mua sự an toàn trong thời gian lưu lại, với nhiều ly do như thăm gia đình, hú hý với gái tơ, du lịch...Những quân nhân như Phạm Tín An Ninh, sau 9 năm tù, quay về để làm quen với những kẻ hành hạ trước đây, còn viết sách ca tụng quản giáo và giúp đỡ cả con quản giáo nữa.

Một số bạn bè của tôi cho biết ở nước Úc, chính phủ ưu ái dành cho quân nhân đồng minh quyền lợi, được cấp hưu dưỡng từ bộ cựu chiến binh, nhưng đã có nhiều anh đã dùng 11 tháng trong năm số tiền cấp dưỡng để sống tại Việt Nam, đó là tiền đóng thuế của dân Úc, lại được các anh nuôi chế độ cộng sản.. Theo nhiều người biết, nhiều quân nhân đã quay về, mua nhà, chỉ sang Úc 1 tháng cho hợp chính sách và trở về sống 11 tháng còn lại trong năm, các anh ấy là đồng chí, chứ không còn là chiến hữu nữa. Tại sao những quân nhân ở đây không báo cho chính phủ Úc biết những người như thế?. Một số quân nhân quay về Việt Nam thường viện lý do là có quan hệ bang giao, các cựu chiến binh đồng minh ở Hoa Kỳ, Úc...trở về Việt Nam du lịch, vì họ có nguồn gốc khác với các quân nhân VNCH, chúng ta ra đi vì chế độ cộng sản, nay không thể viện lý do bang giao, là quốc tịch được ban cấp để trở về nơi mà chúng ta cho là nguy hiểm, không thể quay về.... đó là trường hợp một giàn dây leo, có cây mướp, bầu, khổ qua...chung một giàn, nhưng khác giống. Những người tỵ nạn cộng sản năm nay, trở về an toàn, thì đã tự mình xé bỏ căn cước tỵ nạn chính trị, chính phủ các nước ban cấp quyền công dân, nhưng họ cũng có quyền thu hồi khi cần và xét thấy những người được cấp vi phạm luật, giống như thu hồi giấy phép thương nghiệp, hành nghề luật sư, bác sĩ...của những kẻ vi phạm luật.

Kẻ thù cộng sản đã đạt thắng lợi lần nữa sau cuộc chiến Việt Nam, không phải chúng tài giỏi, nhưng là do trong hàng ngũ quốc gia, có một số người đón gió trở cờ, đặt cá nhân trên tổ quốc, trở thành những kẻ phản bội.

Trước năm 1975, chính sách chiêu hồi của chính phủ miền nam đã cải hóa hàng chục ngàn cán binh trở về với chính nghĩa quốc gia. Nhưng phía cộng sản cũng có cái gọi là: trở về với nhân dân và cách mạng, thực tế là con số người giác ngộ cách mạng không nhiều, đa số là những kẻ nằm vùng trong hàng ngũ quân đội, chính quyền bị lộ nên phải bỏ vào bưng để an toàn, hay những tên gây tội phạm hình sự, sợ bị pháp luật chế tài, nên vào rừng để trốn tránh. Vào những ngày gần cuối cuộc chiến, có một số quân nhân phản bội, nằm vùng nhưNguyễn Thành Trung, quay súng làm phản, được cộng sản cấp giấy " Tiền Khởi Nghĩa", số người nầy đa số là gia đình cán bộ cộng sản, được móc nối bỏ hàng ngũ để sau nầy được an toàn.

Ngày nay, sau cuộc chiến, các quân nhân may mắn thoát khỏi tay kẻ thù, nay trở thành " tiền khởi nghĩa", trở về làm đồng chí của những kẻ chiến thắng thời cơ, mang tiền về đóng góp cho bọn tư bản đỏ tại Việt Nam và đã thành kẻ phản bội. Đây là những tâm tình của một người lính Việt Nam Cộng Hòa, nhắn gởi những ai còn lương tri và đồng thời xác định lập trường, bảo vệ chính nghĩa quốc gia, từ nay những kẻ phản bội, trở cờ, không còn là chiến hữu nữa../.

Đỗ Văn Xuân
( Người lính chưa nhận chứng chỉ giải ngũ)
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Câu chuyện cảm động về người vợ lính
từ Vietnam đến Mỹ nhận tro cốt người chồng đã chết


Vào ngày thứ ba của cuộc hành quân 719 Lam Sơn (10 tháng 2, 1971,) có một trực thăng UH-1 Huey của VNCH
bị bắn rơi tại Hạ Lào. Tất cả những người có mặt trên chuyến bay này đều bị tử nạn, đó là :

Ðại Tá Cao Khắc Nhật trưởng phòng 3,
Trung Tá Phạm Vi, trưởng phòng 4 thuộc Bộ Tư Lệnh QÐ 1,
Hai phi công là:

Trung Úy Nguyễn Diếu,
Trung Úy Tạ Hòa
Hai nhân viên phi hành đoàn là:
TS Cơ Khí Nguyễn Hoàng Anh,

HS Xạ Thủ Trần Công Minh, thuộc Không Ðoàn 41-Phi Ðoàn 213- SÐ1KQ đóng tại Ðà Nẵng.

Trên chuyến bay này còn có 4 phóng viên Mỹ là:

Larry Burrows của tờ Life,
Henri Huet của AP,
Kent Potter của UPI
và phóng viên người Nhật Keisaburo Shirnamoto của tờ Newsweek.


Image
Vào năm 2008 trưởng phòng thông tấn AP tại Saigon ngày xưa là Richard Pyle đã đến Hạ Lào tìm xác các phóng viên tử nạn. Sau nhiều ngày cùng dân địa phương đào xới nơi máy bay bị bắn rơi, Richard Pyle đã tìm thấy hài cốt của tất cả những người tử nạn, nhưng qua thời gian 37 năm, tất cả di hài đã tan nát trộn lẫn với nhau, và sau đó tro cốt này đã được đem về để tại Newseum ở thủ đô Hoa Thịnh Ðốn. Vào tháng 4 năm 2008, Newseum đã cử hành một lễ tưởng niệm cho bốn phóng viên Mỹ tử nạn trong chuyến bay này, nhưng về phía Việt Nam không có một bảng tên nào được ghi dấu.

Tin tức này đã đến với bà quả phụ cố trung úy phi công Nguyễn Diếu là bà Trương Thị Sen, hiện ở An Cựu, Huế từ năm 2008, nhưng vì không có phương tiện để sang Mỹ viếng nơi để tro cốt của chồng, nên mãi đến 4 năm sau (2012) người quả phụ này mới có cơ hội đến Mỹ và đi thăm nơi để di cốt của chồng.
Image
Nhờ sự giúp đỡ của Bảo Tàng Viện Việt Nam ở San José, các thân hữu trong các binh chủng, bạn bè và họ hàng thân quyến, tháng 5 năm 2012, bà quả phụ Nguyễn Diếu, đã từ Huế, vào Saigon, đến San Jose, Illinois, North Carolina và cuối cùng đã được đến thăm nơi lưu giữ tro cốt của chồng tại Hoa Thịnh Ðốn. Chúng tôi đã được gặp gỡ bà Trương thị Sen trong một cuộc họp mặt của nhóm cựu nữ sinh Bồ Ðề, Huế tại Little Saigon, tại đây bà Sen đã không dấu được giọt lệ trong khóe mắt, khi đã hơn 50 năm qua, bạn bè, có người nhớ kẻ không, nhưng ai cũng đối với bà trong tình thân ái, nhất là khi được biết bà Sen là một quả phụ của VNCH, đã ở vậy nuôi con trong suốt 41 năm dài, qua bao nhiêu biến cố của đất nước.

Bà Trương Thị Sen năm nay đã trên 70 tuổi. Bà kết hôn với Thiếu Úy Nguyễn Diếu năm 1968 tại Huế và hai ông bà sinh hạ được một trai một gái, hiện nay cô con gái là công nhân hãng dệt và con trai làm nghề thợ may, sống tại An Cựu, thành phố Huế. Sau khi có tin trực thăng của chồng rơi tại Hạ Lào, và trên máy bay không còn ai sống sót, bà được Phi Ðoàn 213 bố trí cho một công việc dọn dẹp trong phi trường để có sinh kế nuôi con. Sau khi Ðà Nẵng mất vào tháng 3 năm 1975, bà Sen bắt đầu bươn chải, buôn bán ngoài chợ trời, cho mãi đến năm 1978, bà mới trở về Huế nương nhờ cha mẹ của mình.
Image
Cộng đồng người Việt hải ngoại mở rộng vòng tay đón người quả phụ VNCH.

Một người bạn của cố Trung Úy Nguyễn Diêu, hiện cư ngụ tại San José, đã đem câu chuyện này kể với cựu Ðại Tá Vũ Văn Lộc, bút hiệu Giao Chỉ, giám đốc IRCC để nhờ ông tìm cách vận động bạn bè và chiến hữu của cố Trung Úy Nguyễn Diếu giúp cho người vợ chờ chồng 40 năm có chút phương tiện để sang Mỹ thăm nơi để chút tro cốt của chồng, cũng như liên lạc với ban giám đốc Newseum xem có thể giúp đỡ gì được cho bà Sen hay không? Cuối cùng vào tháng 4 năm 2012, nhờ sự bảo trợ của anh Nguyễn Hữu Thanh Lam và các cháu ở Illinois, chị Trương Thị Sen bắt đầu lên đường đi Mỹ. Ðể được yên tâm hơn trên đoạn đường dài, khi 41 năm nay chị Sen chỉ quanh quẩn ở xóm làng và không biết tiếng Anh, chị đã đến San José trước và từ đây đi Illinois, trong khi chờ đợi ngày đi thăm Bảo Tàng Viện Truyền Thông. Tại San José, chị Sen đã được anh Trần Thạnh mở trương mục để quyên góp và ông Vũ Văn Lộc tổ chức cuộc họp cho những người quan tâm gặp gỡ chị.
Image
Mãi đến tháng 11 năm nay (2012) chị Trương Thị Sen được anh Trương Ðình Thiện, nguyên là một sĩ quan nhẩy toán, đại diện cộng đồng Việt Nam tại Raleigh, North Carolina mời chị sang thăm và đưa chị viếng Newseum. Tại Hoa Thịnh Ðốn chị Sen đã được cộng đồng người Việt và các bạn trong “Bản Tin Hoa Thịnh Ðốn – SBTN” cũng như nhân viên viện bảo tàng đón tiếp. Tại nơi để tro cốt của 4 ký giả và phi hành đoàn của chuyến bay định mệnh, chị Sen đã xúc động quỳ xuống bên phiến đá cẩm thạch nói với người đã khuất: “Sau 41 năm, không hề có một tin tức về anh. Giờ đây em đã yên tâm. Xin anh hãy yên nghỉ.”

Trên đường đi thăm tro cốt của chồng, từ Nam hay Bắc Cali, Illinois, North Carolina, Washington D.C., ở đâu những chiến hữu của chồng và đồng bào cũng tiếp đón, giúp đỡ chị Trương Thị Sen tận tình. Sau Giáng Sinh năm nay, bà quả phụ cố Trung Úy Phạm Diếu sẽ trở về Huế, Việt Nam, nơi bà hiện đang sống với hai con và bốn cháu nội ngoại.

Qua chúng tôi, bà Trương Thị Sen xin chân thành gửi lời cám ơn đến các ân nhân, bằng hữu đã tạo phương tiện cho bà muôn dặm xa xôi được đi thăm nơi để tro cốt của chồng, người phi công đã gãy cánh trại Hạ Lào 41 năm xưa.

Chúng tôi xin ghi lại địa chỉ và điện thoại của bà Trương Thị Sen sau đây, để bạn đọc có quan tâm, tiện liên lạc:

Trương Thị Sen
33/209 Phan Ðình Phùng, Huế, Việt Nam
Ðiện thoại: 84-935-376-228
Nguồn : Quê hương Ngày nay
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

Một Chút Kỷ Niệm với BIỆT ĐỘNG QUÂN
Vũ Ánh

(Viết tặng Tập san BĐQ và các bạn đồng khóa 105 Nhảy Dù. Luôn luôn tưởng nhớ anh linh Tướng Trần Văn Hai)


Cuối 1967, Lê Phú Nhuận bị gọi động viên vào Thủ Đức rồi đến Dương Phục và sau đó là tôi.
Sau này tôi và Nhuận được biệt phái trở lại Cục Vô Tuyến Truyền Thanh, Dương Phục về Đài Quân Đội.
Chúng tôi vẫn là những người bạn thân, chia sẻ với nhau những tin tức mặt trận với cường độ các cuộc chạm súng ngày một dữ dội hơn.
Chúng tôi không còn thời giờ nào để thực hiện những dự án tự nguyện đi dự những khóa học đặc biệt,
nhất là khóa rừng núi xình lầy và viễn thám, để có dịp thử sức chịu đựng của mình nữa.

Image

Hành quân Lam Sơn 719 - Lào : 13-03-1971

Trong cuộc hành quân Lam Sơn 719, Dương Phục đã vào đến Tchepone nhưng rồi lại phải rút ra theo Sư Đòan 1. Cũng vào khoảng thời gian ấy tôi bị gọi về để giữ một vai trò khác: trưởng phòng Bình Luận và đặc phái viên của Vô Tuyến Truyền Thanh tại Phủ Tổng Thống. Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu là người đi rất khỏe và hay đi kinh lý dài ngày. Những chuyến đi như thế rất vất vả, một ngày ông đi như vậy đến cả chục địa điểm. Ngồi trực thăng lên xuống ngày vài chục lần, “thổi harmonica” (gặm bánh mì), uống nước bi đông cũng đủ sức giúp tôi xuống cân rất mau. Thời đó, phương tiện điện thọai còn rất khó khăn, chất lượng xấu và chậm tiến hơn rất nhiều so với các nước Đông Nam Á. Cho nên khi về nghỉ ngơi tạm ở một thành phố nào đó, chúng tôi mất rất nhiều thời gian kiếm chỗ gởi tin để Đài Saigon có thể loan trước Đài BBC. Vị Tổng Giám Đốc của chúng tôi giai đọan này là Trung Tá Phạm Hậu, ít khi chấp nhận chuyện một chuyến đi của Tổng Thống có đặc phái viên của Đài theo, mà lại loan tin chậm hơn BBC hay VOA. Vì thế cho nên, tôi phải tìm ra cách gởi tin trong một thời gian nhanh nhất: viết dần trên máy bay hay trực thăng, tìm kiếm những hậu cứ của những đơn vị quân sự mà tôi quen biết để gởi tin qua hệ thống điện thọai quân sự, thay vì dùng hệ thống viễn liên của bưu điện. Nhưng dù sớm thì cũng phải đến 9 giờ tối mới xong mọi chuyện. Về tới khách sạn cũng gần 11 giờ. Chỉ còn có cách kiếm chỗ bán cháo trắng hột vịt muối mà thôi.

Vào giai đọan cao điểm của kế họach Việt Nam hóa chiến tranh, tôi được đôn lên chỉ huy Sở Thời Sự, một loại công vụ hay gặp nhiều rắc rối và phiền toái nhất của Hệ Thống Truyền Thanh, nhưng song song vẫn phải làm công việc của một đặc phái viên. Tôi bơi ở trong cái giòng chảy của những biến chuyển rất nhanh, cho đến trưa ngày 30-4-1975, vài ngày trước ngày tôi còn 34 tuổi. Phim cháy.

Ngày nay, nhìn lại những công việc mà chúng tôi đã từng làm, từng trải qua, khó khăn nhiều hơn là thuận lợi, hai đồng nghiệp thân thiết từng chia sẻ với tôi những cảm quan, và cách nhìn cuộc chiến Việt Nam, lúc trà dư tửu hậu trong cảnh lưu vong là Nhuận, Phục thường hỏi tôi: có tiếc gì không? Tôi nói không cần suy nghĩ: còn gì để thua nữa mà tiếc.

Chúng tôi đã chứng kiến cuộc chiến đấu của những người lính VNCH, đã thấy họ tử trận hay phải để lại một phần thân thể nơi chiến trường, đã thấy họ chiến thắng, và không hiếm những khi họ nếm thảm bại. Chúng tôi không hề thấy lính nào hào hoa, cũng chẳng thấy lính nào là nữ hòang của chiến trường. Lính là cực, là nhọc, là mồ hôi, là máu, là súng, là đạn, là can đảm, là hèn nhát. Họ chiến đấu không phải là để được tôn vinh là hào hoa hay là nữ hòang. Họ chiến đấu vì chính họ, gia đình họ, vì lý tưởng tuổi trẻ. Hồi Tết Mậu Thân lần thứ hai, tôi và Dương Phục bị kẹt ở mặt trận Tân Thới Hiệp. Đơn vị mà chúng tôi đi theo có nhiệm vụ phải chiếm lại cái am xây bằng đá ong gần nhà máy Vị Hương Tố. Trong am bọn Việt Cộng bố trí một tổ tam tam: một B-40, một thượng liên và một AK-47, lựu đạn chày. Suốt từ 12 giờ trưa đến 5 giờ chiều, đơn vị này mở nhiều đợt xung phong, nhưng đều vô hiệu.
Image

Một phi tuần AD-6 vần vũ, lồng lộn trên trời, nhưng đành chịu vì những người lính trong đơn vị vừa rồi không thể lùi ra xa đủ an tòan, để oanh tạc cơ oanh tạc. Lính chết và bị thương được lôi ra gần chúng tôi, thân thể đầy máu và rên la. Trong lúc ấy, lệnh từ chiếc CNC bay trên đầu chúng tôi chuyển xuống qua chiếc loa phụ nhỏ của chiếc PRC-25 của người Đại Đội Trưởng nằm cách tôi vài thước, giọng cứ đều đều: “Vào đi em, lon đấy em, vào đi em…”. (Ý là hãy cố gắng tiến vào đi, lon thăng cấp chờ sẵn). Tôi hoàn toàn phản đối cách này. Tôi cho rằng cái đích của cuộc chiến đấu của những người lính qủa cảm này không phải là lon lá. Mạng sống của chính mình và của các đồng đội, không thể đánh giá bằng một lời hứa thăng cấp vào hòan cảnh đó. Hứa nhử như thế là xỉ nhục họ. Cái mà người lính cần lúc đó là sự trợ lực tinh thần và sự điều động khôn khéo của người chỉ huy cao cấp hơn, để giúp họ thóat khỏi thế kẹt. Cuộc phản công tạm ngưng ban đêm và sáng sớm hôm sau. Viên sĩ quan đại đội trưởng đã chỉ huy lính của ông kiễn nhẫn phá thế cài răng lược của địch phía sau, và cho lính lùi ra xa hơn để cho trực thăng võ trang làm thịt bằng hỏa tiễn.

Tôi chứng kiến bối cảnh trên nhiều lần và ở nhiều nơi khác nhau trên các mặt trận. Thời chiến tranh, biết bao nhiêu sai lầm được bỏ qua, không được đề cập đến trên báo, trên đài, cũng chỉ vì không ai muốn người lính ở tiền tuyến hoang mang. Nhưng đám sâu mọt không hiểu thế. Chúng lợi dụng những taboo đó để làm lợi cho cá nhân mình. Trong đời sống, kể từ lúc còn làm việc bên cạnh những người lính, đủ lọai, từ lính làng, lính quận, lính tỉnh cho tới lính mặc quân phục ngụy trang, tôi tự xây dựng cho mình một quan niệm về người lính VNCH qua những thông điệp, những ước mơ bình thường, mà họ gởi gấm những người làm truyền thông như chúng tôi. Có một lần, trước khi vào Khe Sanh, sinh họat với lính của Đại Đội Hắc Báo ngoài PK.17, tôi hỏi cảm tưởng và ước mơ của một anh binh nhất năm anh tròn 20 tuổi thì được trả lời:”Ước mơ à, nhỏ lắm: chiến tranh mau chấm dứt để tôi được về quê làm ruộng“.

Một lần khác, vào quán cơm bình dân tại chợ Hàn, Đà Nẵng để dùng cơm trưa. Bên cạnh có vài người lính mũ nâu cũng ngồi ăn. Thấy tôi quần jean, áo lính, giầy map, ba lô nón sắt, máy ghi âm, cổ đeo hai ba cái thẻ (lối ăn mặc chung của các phóng viên mặt trận ở câu lạc bộ báo chí sau viện bảo tàng Chàm), một người lính hỏi: “phóng viên chiến tranh hả, từ Cùa hay Ba Lòng về?”. Tôi cười hỏi: “Sao biết”. Một người khác: “Giầy và quần áo bụi, bùn đỏ lòm”. Tôi hỏi” Nghĩ sao về đời lính”. Một người trong nhóm nói: “Cũng khổ, tụi tôi như con ghẻ, bị xài cạn láng”. Tôi hiểu những người lính này ám chỉ đến điều gì. Nhưng rồi cuối cùng chúng tôi cũng chỉ biết cười xòa, hút với nhau điếu thuốc rồi chia tay.
Image
Tướng Trần Văn Hai tại Lam Sơn.

Ba mươi năm trôi qua như một giấc ngủ trưa. Biết bao biển dâu, nên ngày nay tất cả chúng tôi, những phóng viên tiền tuyến đầu tiên của ngành, sẽ không còn lại một chút gì dấu vết của những ngày tháng cũ, nếu không có những ký ức không bao giờ quên được. Riêng đối với những niên trưởng đã cùng với tôi đổ mồ hôi ở khóa 105 Nhảy Dù, tôi mới chỉ gặp lại niên trưởng Ngô Minh Hồng với cái chân vẫn còn vết thương từ một vụ pháo kích của VC ở Bình Long. Thỉnh thoảng tôi có gặp ông Thuyết “lì”. Ổng cứ nhắc bữa nào phải họp khóa. Tôi hứa nhưng tới nay vẫn còn “cuội” vì bận mưu sinh quá.
Còn với cố Thiếu Tướng Trần Văn Hai, tôi cũng đã vài lần mô tả những ngày cuối cùng của ông, nhưng vẫn quên một chi tiết đáng nói. Sau khi mất Ban Mê Thuột, tôi có xuống thăm ông ở Bộ Tư Lệnh Sư Đòan 7 BB ở Đồng Tâm. Lần đó, ông từ chối không cho tôi phỏng vấn. Ngược lại ông đưa tôi lên trực thăng bay gần một tiếng đồng hồ trong vùng Tiền Giang và về sát Saigon. Khi quay trở lại Bộ Tư Lệnh để dùng cơm, ông nói: “Tình hình đáng buồn lắm. Anh chỉ có thể nói với cậu như vậy thôi”.

Ba mươi năm sau, tôi vẫn chưa thể hiểu, đây có phải là lời tiên tri của một vị tướng mà cái chết đã trở thành linh thiêng như ông hay không?

Vũ Ánh
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

THÂN PHẬN CỦA ĐẠI TÁ CAO VĂN VIÊN
TRONG CUỘC ĐẢO CHÁNH 1-11-1963.

Từ đơn vị tác chiến (tiểu đòan 41 BĐQ), Tôi được lệnh về làm Sĩ quan Tuỳ Viên cho Đại Tướng Cao văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng vào cuối năm 1966. Vì tôi không có nhà ở Sài Gòn nên ông bà Đại Tướng cho tôi tạm ở trong tư dinh thời gian đầu .

Với công việc hoàn toàn mới lạ, nhiều bỡ ngỡ, cộng thêm sự gò bó ở trong dinh của Đại Tướng, mới đầu tôi hơi nản lòng, nhưng nhờ sự giúp dỡ, chỉ dẫn tận tình của người tiền nhiệm của tôi là Quách tinh Cần K20//TVBQGĐL, và sự cởi mở của ông bà Đại Tướng nên tôi cảm thấy an tâm đôi chút.

Những ngày đầu về ở trong dinh của Đại Tướng, cứ sau bữa cơm tối ông xuống phòng tùy viên chỉ rõ cách sinh hoạt trong nhà, cách tiếp nhận đìện thoại từ bên ngoài gọi vào, an ninh vòng ngoài, an ninh vòng trong, và v.v...

Ông bảo tôi: thông thường các tướng lãnh khác tôi đều tiếp họ tại văn phòng, ngoài giờ làm việc tôi không tiếp ai ở nhà riêng cả, nếu có vi tuớng tá nào muốn gẵp tôi ngoài giờ làm việc, mà không có hẹn, chú không được mở cổng, mà phải báo tôi trước để tôi quyết định có tiếp họ hay không, dặc biệt chú phải quan sát, xem vĩ tướng đó có đem theo lính hộ tống hay không, trong mọi trường hợp chú đừng cho lính hộ tống vào bên trong dinh, cổng phải luôn luôn khóa chốt. Nhưng đặc biệt có hai vị cựu tướng lãnh khi tới nhà muốn gặp tôi bất cứ lúc nào, chú cũng mở cổng mời vào phòng khách rồi báo tôi ra tiếp, không cần phải hỏi tôi trước, hai vi đó là trung tướng Trần văn Đôn và trung tướng Tôn thất Đính, mà chú có bao giờ thấy hai vị tướng đó chưa? Tôi trả lời “da chỉ biết qua hình ảnh trên báo chí”. Ông bảo cũng tót, vậy thi ráng nhận diện nếu hai vị đó tới. Xong ông nhìn tôi thấy có vẻ như tôi muốn tìm hiểu lý do mà hai ông cựu tướng này được đại tướng ưu ái như vậy, ông nói thêm chú muốn biết tại sao tôi đối xử với hai ông đó đặc biệt như thế chứ gì, được rồi để mai tôi kể cho chú nghe vì mai là chúa nhật có nhiều giờ rảnh hơn”

Hôm sau ăn cơm trưa xong ông xuống phòng tôi và bắt đầu kể:

“Ngày 1 tháng 11 năm 1963 là ngày Lễ Các Thánh, quân nhân, công chức nghỉ buổi sáng khoảng 10 giờ sáng tôi được điện thoại của chánh văn phòng thiếu tướng Khiêm mơi vào Bộ Tổng Tham Mưu họp ở phòng họp số 1, và phải có mặt trước 1 giờ, tôi tới lúc 1 giờ kém 10 phút, thấy có đông các đơn vị trưởng sẵn đó rồi, nhìn mặt toàn là các sĩ quan thân tín của ông Diệm, đúng 1 giờ 2 qưân cảnh ở ngoài đóng cửa phòng họp và khoá lại, mọi người trong phòng ngơ ngác nhìn nhau, đại tá Lê quang Tung nói lớn: “họp hành khỉ mẹ gì, ai chủ toạ phiên họp sao chưa tới mà họ khoá cửa nhốt mình rồi, chuyện gì đây”, vài phút sau đó có tiếng mở cửa, đại úy Nhung cận vệ của trung tướng Dương văn Minh đứng ngoài cửa nới với vào: “mời đại tá Lê quang Tung Lưc Lượng Đặc Biệtt và đại tá Cao văn Viên Nhẩy Dù lên lầu gặp trung tướng Dương văn Minh, vì đại tá Tung ngồi gần cửa nên bước ra trước, tôi ở trong xa cửa hơn nên đi ra sau, khi tôi ra khỏi phòng họp thì nhìn thấy đại tá Tung đã bị đại úy Nhung còng tay dẫn xuống xe, còn tôi cũng bị 1 sĩ quan khác còng nhưng mới vừa bị còng 1 tay thì tình cờ thiếu tướng Tôn thất Đính trên lầu đi xuống chợt thấy vậy, ông bảo tháo còng tôi ra, rồi sĩ quan đócùng tướng ĐÍnh dẫn tôi lên lầu gặp trung tướng Minh .

Tướng Minh nói: Hôm nay “moi” và một số các tướng lãnh đảo chánh ông Diệm “toi” nghĩ sao? Tôi trả lời, chuyện quan trọng như vậy mà tới giờ này trung tướng mới cho tôi biết thì tôi đâu có quyết định được gì. Lúc đó trung uý Trương ( hay Trần) Tự Lập sĩ quan tùy viên của trung tướng Minh lăm le khẩu súng carbine chiã vào lưng tôi như sẵn sàng bắn tôi. anh ta hỏi tôi “ Đại tá có theo Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng không?” Tôi đáp”tinh thần của quân nhân thuộc binh chủng nhẩy dù không trả lời trước áp lực” thiếu tướng Đính thấy vậy bảo tên trung úy Lập đừng hỗn với cấp trên, rồi tướng Đính dẫn tôi về lại phòng sô 1 đóng cửa lại.

Vài vị sĩ quan đang bị nhốt chung trong phòng tới hỏi tôi chuyện gì vậy? Tôi nói họ đảo chánh Tổng Thống Ngô đình Diệm. Có người hỏi: còn đại tá Tung đâu? tôi nói bị còng dẫn đi chỗ khác rồi”.

Khoảng 15 phút sau tôi lại bị dẫn lên gặp Trung tướng Minh lần nữa, lần nàyTrung tướng Minh nói với tôi:”có 1 tiểu đoàn nhẩy dù theo “Chiến Đoàn Vạn Kiếp” của trung tá Vĩnh Lộc từ Bà Rịa về tới Sài Gòn, nhưng không chịu tấn công vào Dinh Gia Long, đòi phải được liên lạc trực tiếp với “toi”, vậy nếu “toi” chịu làm 2 việc như sau: Thứ nhất tuyên bố theo Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng, thứ hai ra lệnh cho tiểu đoàn nhẩy dù ở Bà Rịa về tấn công vào Dinh Gia Long, khi thành công “moi” gắn lon thiếu tướng cho “toi” liền. Tôi trả lời rằng chuyện của trung tướng làm, tôi không chống đối, nhưng bảo tôi phản lai “thầy” tôi thì tôi không làm, trung tướng thông cảm cho tôi (lời người viết: xin nói rõ thêm, trước khi chỉ huy lực lượng nhẩy dù, đại tá Viên là chánh Võ Phòng rồi Tham Mưu Trưởng Biệt Bộ Phủ Tổng Thống);

“Tôi được dẫn trả lại phòng họp số 1, các vị sĩ quan trong phòng lại hỏi, tôi trả lời chưa hết thì chánh văn phòng của thiếu tướng Khiêm xuống dẫn tôi lên văn phòng giữ riêng tôi ở đó.

Sau khi đảo chánh thành công tôi được cho về nhà, rồi hằng ngày tôi phải lên Bộ Tổng Tham Mưu chờ lệnh độ 5,6 ngày sau trung tướng Khiêm “lên trung tướng ngày 2 tháng 11 năm 1963” tự ý quyết định cho tôi trở về chỉ huy Lữ đoàn nhẩy dù như cũ, còn các vị sĩ quan bị nhốt chung với tôi đa số bị giải ngũ hoặc bị hạ tầng công tác.

Rồi sau đó không lâu tôi được trung tướng Đôn cho biết: sau khi tôi từ chối lời yêu cầu cuả trung tướng Minh thì Trung tướng Minh bàn với trung tướng Đôn định đưa tôi theo số phận của đại tá Lê quang Tung, nhưng trung tướng Đôn không đồng ý và nói rằng trước khi tiên hành cuộc “cách mạng” :anh” (ông Minh) có hứa với chúng tôi hạn chế tối đa vìệc gây đổ máu các sĩ quan cấp tá không ủng hộ chúng ta, anh đã cho giết đại tá Hồ tấn Quyền, giết đại tá Lê quang Tung, bây giờ anh muốn giết luôn đại tá Viên nũa sao? Hơn nữa dù “lui” không hợp tác với mình nhưng “lui” đâu có chống mình mà giết “lui”.

Tôi nghĩ dường như tướng Khiêm cũng biết ý định đó của tướng Minh nên mới ra lệnh đem tôi lên văn phòng của ông giao cho chánh văn phòng là đại úy Pham bá Hoa giữ riêng tôi ơ đó, rồi ông Khiêm bảo:”Ai muốn kêu đại tá Viên đi đâu phải có lệnh của tôi mới cho đi”. Đấy là 3 người ơn cứu tử tôi đó .

Vai trò của Đại tá Cao văn Viên trong cuộc chỉnh lý ngày 30-1 -1964.

Một lần tôi theo Đại Tướng Viên ra Đà Nẵng thăm các đơn vị thuộc Quân Đoàn I, Tối lại, ngủ ở Tòa Thị Chính Đà Nẵng, lúc đó trung tá Lê chí Cường gốc nhẩy dù làm Thị Trưởng.

Đầu hôm thời tiết còn nóng, thầy trò tôi chưa ngủ được nên Đại Tưóng kể chuyện Đảo Chánh, chỉnh lý cho tôi nghe, giờ đây thì chuyện dù đã xa xưa, nhưng thiết tưởng còn nhiều người chưa biết rõ, hoặc biết không chính xác, không đầy đủ, nên tôi mạo muội thuật lại những gì Đại Tướng Viên kể cho tôi nghe với ước mong giúp quí vị độc giả đánh giá được 1 phần sự thực của 1 giai đoạn của Đất Nước.

Nguyên nhân đưa đến cuộc chỉnh lý 30-1-1964.

Đại Tướng Viên kể rằng :

“ Trong nội bộ các tướng lãnh: sau ngày Đảo Chánh 1-11-1963 thành công, trong hàng tướng lãnh trụ cột của cuộc đảo chánh có những bất đồng ý kiến về việc thành lập chính phủ mới, về việc sắp xếp nhân sự và quan trọng hơn là sự tranh công tranh quyền giữ các tướng với nhau, cho nên dân tới sự chia rẽ.

Ngoài ra trung tướng Minh ỷ quyền là chủ tịch Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng nên tỏ ra độc đoán trong mọi quyết định.
“ Chẳng hạn như ông Minh muốn đưa ông Nguyễn ngọc Thơ nguyên Phó Tổng Thống của ông Ngô Đình Diệm ra làm thủ tướng, nhìều tướng lãnh không đồng ý, vì cho rằng nguyên Phó Tổng Thống của chính phủ vừa bị lật đổ ra làm thủ tướng của chính phủ mới thì thật là vô lý, nhưng ông Minh cứ làm theo ý ông.

“Về phía Tòa Đại Sứ Mỹ thì ông Đăi Sứ đề nghị với ông Minh nên cử ông Trần quốc Bửu Chủ Tịch Tổng Liên Đoàn Lao Công ra lập chính phủ với lý do ông Bửu có nhiều uy tín trong giới bình dân và hiện trong tay ông Bửu có hơn 20 ngàn doàn viên của Tổng Liên Đoàn Lao dộng là lực lượng hùng hậu sẽ hỗ trợ cho chính phủ, ông Dương văn Minh chẳng những không nghe mà còn ra lệnh cho thìếu tướng Đỗ Mậu bắt giam ông Trần quốc Bửu với lý do rất mơ hồ.

Thêm nữa, ông Minh lại gọi 2 người đã rời khỏi quân đội hồi năm 1955 đang lưu vong bên Pháp( vì chống ông Ngô đình Diệm) trở về hợp tác, đó là thiếu tướng Nguyễn văn Vỹ và đại tá Trần đình Lan(phòng2) trong quân đội Liên Hiệp Pháp; đìều này có vài tướng trẻ mới được thăng cấp như thếu tưóng Nguyễn hữu Có, Đỗ Mậu, thiếu tương Dương ngọc Lắm, trung tướng Trần thiện Khiêm đều không đồng ý, bởi các vị này cho rằng ông Nguyễn v Vỹ và ông Lan đã lỗi thời và đã rời khỏi quân đội lâu rồi, không còn thích hợp với quân đội hiện giờ nữa, các ông Khiêm, Có, Lắm cho ràng, hiện nay trong quân đội có nhiều cấp tá trẻ có nhiều năng lực và được đào tạo chánh quy, cứ mạnh dạn giao việc cho họ, chứ cần gì phải gọi 2 người đó về hợp tác.

Ông Dương văn Minh chẳng thèm nghe mà vẫn cứ hành xử theo ý riêng mình dựa trên tình cảm cá nhân.

“Phần tôi (đại tá Cao văn Viên) thì mỗi ngày trình diện ở Bộ Tổng Tham Mưu, nghe nói ông Minh định cho tôi giải ngũ, nhưng nhờ trung tướng Khiêm tự ý cho tôi trở về nhẩy dù ngày 6-11-1963 mà không hội ý với ông Minh, vì việc này nằm trong thảm quyền của ông Khiêm.

Về sau mới biết, sở dĩ ông Khiêm hành động như vậy vì ngày 5-11-1963, ông Minh nói với ông Khiêm rằng đại tá Nguyễn chánh Thi ở Campuchia sắp về, ông Minh sẽ cho ông Thi chỉ huy lại Lực Lượng Nhẩy Dù, diều này chính ông Khiêm không muốn, nên hành động trước một bước, vì nếu để ông Nguyễn chánh Thi chỉ huy nhẩy dù thì khi ông Khiêm muốn mưu đồ gì cũng không thể xử dụng lực lượng nhẩy dù được vì ông Khiêm với ông Thi không thân nhau, vả lại cũng còn ngờ vực không biết ông Thi còn ôm mối hận ngàỳ 11-11-1960 cách 3 năm trước hay không.

Ngày 8-11-1963 đại tá Nguyễn chánh Thi từ Nam Vang đi đường xe về tới Gò Dầu Hạ, được ông Khiêm cho trực thăng đi đón về Tổng Tham Mưu, sau đó ông Khiêm cử ông Thi làm chủ tịch Ủy Ban Điều Tra tài sản và tội ác của ông Ngô đình Cẩn, thế là ông Thi trở ra miền Trung làm việc.

Từ những việc như vậy đưa đến những xích mích giữa ông Khiêm và ông Minh, rồi một ngày vào hạ tuần thang 12-1963, ông Minh cử ông Khiêm đi công du qua Nhật và Đài Loan, ở nhà ông Minh giao cho Trung tướng Lê văn Kim thay thế trung tướng Khiêm giữ chức vụ Tham Mưư Trưởng Liên Quân( không làm lễ bàn giao), đến khi ông Khiêm trở về thì ông Minh chỉ định ông Khiêm làm tư Lệnh Quân Đoàn III chia bớt nhiệm vụ của trung tướng Đính đang kiêm nhiệm Bô An Ninh.Thời gian này Quân Đoàn ÌÌÌ còn nằm trong trại Lê văn Duyệt Sài Gòn chưa dời lên Biên Hoà). Vậy là ông Khiêm bị hạ tầng công tác nên ông Khiêm trở nên bất mãn.

Nguyên nhân bên ngoài.

Ông Dương văn Minh gây cho Đại Sứ Mỹ cú “sốc” đầu tiên là không nghe theo đề nghị của Đại Sứ Mỹ đề cử ông Trần quốc Bửu làm thủ tướng mà ông Bửu còn bị bắt giam với tội danh mơ hồ.

Sau khi đảo chánh thành công, ông Minh thường liên lạc với đại sứ Pháp ờ Sài Gòn, hơn là đại sứ Mỹ, và có vài lần ông Minh mời Đại Sứ Pháp đến dinh “Hoa lan” của ông Minh dùng cơm tối, có sự hiện diện của ông Đôn, ông Kim, ông Xuân ...mà không có sự hìện diện của viên chức Mỹ nào cả. Việc này không qua khỏi cặp mắt “cú vọ” của cơ quan CIA ở Sài Gòn khiến họ đâm ra hoài nghi. Ngoài ra mỗi khi có việc phải giao tiếp với viên chức của toà đại sứ Mỹ và Bộ Tư Lệnh M.A.C.V, các ông Minh, Đôn, Xuân, Kim ...chỉ nói toàn tiếng Pháp mà không nói 1 câu tiếng Anh nào, điều này cũng gây khó chịu và tự ái đối với các viên chức Mỹ không ít, và họ nghĩ là các tướng có khuynh hướng thân Pháp.

Tổng hợp những chuyện kể trên đưa đến cuộc chỉnh lý ngày 30-1-1964.

Chỉnh lý ngày 30-1-1964.

Chiều ngày 29-1-1964 tướng Khiêm mời tướng Khánh ở Đà Nẵng về Sài Gòn, nói có chuyện cần bàn với tướng Khánh, rồi tướng Khiêm gặp tôi (Đại tá Viên) chỉ thị cho tôi chuẩn bị lực lượng nhẩy dù đi bắt 5 vị tướng: Đôn, Kim, Xuân, Đính,Vỹ và người thứ 6 là thìếu tá Nhung(người đã giết ông Ngô đình Diệm và ông Ngô đình Nhu), thiếu tá Nhung đang ở trong nhà trung tướng Dương văn Minh.

Tôi đề nghị với trung tướng Khiêm nên giao người khác đi bắt ông Đôn và ông Đính, chứ tôi rất khó xử nếu phải đi bắt 2 người mà cách đâỷ 3 tháng đã là ân nhân cứu tử tôi. Trung tướng Khiêm thấy đề nghị của tôi hợp lý nên giao cho tiểu đoan 2 TQLC lúc đó do thiếu tá Cổ Tấn Tinh Châu làm TĐT đi bắt tướng Đôn và tướng Đính.

Lệnh tổng quát của trung tướng Khiêm cho 2 tôi và thiếu tá Châu là không được liên lạc hoặc tiếp xúc với bắt cứ ai cho đến khi hoàn thành nhiệm vụ.

Thời gian này tất cả mọi đơn vị muốn vào lãnh thổ Biệt Khu Thủ Đô phải có lệnh của Tư Lệnh QĐ111, và riêng TĐ2/TQLC vì đang đóng quân bên ngoài lãnh thổ Biệt Khu Thủ Đô nên tr/t Khiêm ký sự vụ lệnh giao cho 1 đại úy thuộc QĐIII đem đến cho TĐT/TD92/
TQLC để di chuyển tiểu đoàn vào BKTĐ mà không bị ngăn cản.

Tr/t Khiêm ra lệnh cho thiếu tá Phạm bá Hoa chuẩn bị 1 xe dodge truyền tin để theo dõi việc đi bắt5 ông tướng mà chính t/t Hoa phải trực máy truyền tin. Giờ xuất phát đi bắt là 23 giờ và các đường giây điện thoại ở nhà 5 ông tướng đã bị ông Khiêm cho lệnh cắt đứt hết rồi, không liên lạc được với ai cả.

Đúng 23 giờ tôi được lẹnh xuất phát để bắt 3 ông tướng : Mai hữu Xuân, Lê văn Kim và Nguyễn văn Vỹ, rồi sau cùng đến bắt th/t Nguyễn văn Nhung tại nhà của ông Dương văn Minh.

Tiểu đoàn 2/TQLC được giao nhiệm vụ đi bắt 2 ông tướng Tôn thất Đính và Trần văn Đôn , cả 2 đơn vị xuất phát cùng một lúc.

Đến khoảng 2 giờ sáng 5 vị tướng : Đôn, Kim, Xuân, Đính, Vỹ được đưa vô Bộ Tổng Tham Mưu, riêng th/t Nhung thì tôi đưa về trại Hoàng Hoa Thám bản doanh của lữ đoàn nhẩy dù.

Trung tướng Nguyễn Khánh ở Đà Nẵng được trung tướng Khiêm mời về Sài Gòn từ chiều, đang ở nhà chờ, đến bấy giờ mới được tướng Khiêm mời vào BTTM cho biết:”Nhiệm vụ của tôi(tướng Khiêm) tới đây đã xong, phần còn lại tôi giao cho anh (tướng Khánh)
chuẩn bị sáng mai anh họp báo.

Tướng Khánh nói:”công của anh thì anh làm luôn đi”. Tướng Khiêm vãn khước từ và gợi ý với tướng Khánh, khi họp báo cứ nói các ông đó cớ ý định “trung lập thân Pháp” nên mình phải ra tay ngăn chặn.

Trung tướng Khánh liền gọi ra Quân Đoàn I Đà Nẵng dặn dò chuyện gì đó, rồi dại tá Thi nghe được lièn bay vô Sài Gòn kịp sáng sớm vào TTM ngồi họp báo chung với tướng Khánh, điều này khiến báo chí và dân chúng tưởng rằng ông Khánh và ông Thi làm cuộc chỉnh lý, chứ không biết rằng trong đêm 1 mình tướng Khiêm đích thân chỉ huy 2 vị sĩ quan cấp tá là tôi và thiếu tá Cổ Tấn Tinh Châu đi bắt 5 ông tướng và thiếu tá Nhung, xong rồi mới giao cho ông Khánh.

Tóm lại ông Khiêm dọn sẵn “mâm cỗ” cho ông Khánh hưởng.

Hôm saụ 5 vị tướng bị chỉnh lý được phi cơ chở ra Đà Nẵng rồi vài ngày sau lại chở vô quản thúc ở Đà Lạt. Ông Khánh lên làm thủ Tướng từ lúc đó.

Số phận của th/t Nhung.

Đại Tướng viên kể lại rằng:

“Khi tới nhà ông Minh để bắt t/t Nhung thì tôi gặp ngay tướng Minh, ông hỏi lệnh của ai biểu bắt, tôi (đại tá Viên) trả lời: lệnh của tr/t Trần thiện Khiêm.

Ông Minh hỏi : ông Khiêm hiện giờ ở đâu?

Tôi trả lời: thưa trung tướng tôi không biết.

Ông Minh lại hỏi tiếp:vậy đại tá nhận lệnh của ông Khiêm từ lúc nào? lý do nào bắt cận vệ của tôi.

“Tôi đáp: xin tr/t hỏi ngay tr/t Khiêm, còn tôi chỉ thi hành lệnh. liền đó tướng Minh bốc điện thoại gọi ai đó, nhưng gọi không được, bèn dằn mạnh điện thoại xuống bàn, thấy vậy tôi nói :”điện thoại bị cắt giây rồi, trung tướng không gọi được ai đâu”, tôi chào tr/t Minh rồi dẫn th/t Nhung ra xe đưa về trại Hoàng Hoa Thám.

Tại đây tôi giao th/t Nhung cho sĩ quan an ninh nhẩy dù hỏi cung th/t Nhung, chủ yếu ở điểm: ai ra lệnh giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông cố vấn Nhu? Sĩ quan an ninh nhẩy dù đưa giấy, viết bắt ông ta tư viết lời khai để làm chứng cớ. Sau khi lấy lời khai xong, khuya ngày hôm sau sĩ quan an ninh (cấp bậc trung úy) cho người vô phòng giam bóp cổ Nguyễn Nhung chết rồi lấy giây giầy”saut” của chính ông Nhung thắt vòng treo cổ Nguyễn Nhung lên trần nhà.

Đêm đó tôi về nhà ngủ, sáng sớm hôm sau, sĩ quan trực ở trại Hoàng Hoa Thám đìện thoại báo cáo tôi: th/t Nhung thắt cổ tự tử chết rồi, tôi bảo sĩ quan trực gọi bác sĩ Văn văn Của, lúc ấy là th/t y si trưởng ND ráng cứu chữa ông ta coi có thể sống lại được không? .
Sau đó y sĩ thiếu tá Văn văn Của điện thoại báo tôi: “Thưa đại tá hết phương cứu chữa rồi và ông Của làm bản báo cáo, y chứng xác nhận, thiếu tá Nhung đã chết do thắt cổ tự tử”. Cuộc điện đàm này tôi có cài máy ghi âm để thủ thân về sau này.

Trong lời tự khai của th/t Nhung, ông ta nói răng ông Dương văn Minh ra lệnh cho ông ta giết ông Nhu trướckhi đoàn xe về tới Bộ TTM, ngoài ra trên đường di chuyển nếu có sự bất trắc gì xẩy ra thì chỉ nghe theo lệnh của thiếu tướng Mai hữu Xuân mà thôi, khi ông Nhung đâm ông cố vấn Nhu thì bị ông Diệm chống cự quyết liệt nên buộc lòng ông Nhung phải giết luôn ông Diệm.

Ngoài ra khi khám tử thi của t/t Nhung, sĩ quan an ninh lấy ra được một mẩu giấy viết sẵn giấu trong quần, định tìm cách gửi về nhà, nhưng chưa gửi được. Nội dung như sau:”Em ơi! Bọn Diệm , Nhu sống lại rồi, chắc anh phải chết, nếu anh có mệnh hệ gì,em phải ráng nuôi các con cho khôn lớn, anh đang bị nhốt trong lữ đoàn nhẩy dù”.

Lời tự khai và cái thơ riêng gửi cho vợ của t/t Nhung được đưa cho trung tương Khánh giữ.

Nhận định riêng của người viết:

Về cái chêt của thiếu tá Nhung,tôi nghĩ rằng vị sĩ quan an ninh nhẩy dù không dám tự ý hành động, mà phải có lệnh của 1 trong 3 vị: tuớng Khánh, tướng Khiêm hoặc đại tá Viên? Nhiều lần tôi muốn hỏi đại tướng Viên nhưng lại rụt rè không giám hỏi vì sợ tướng Viên giận và cho rằng tôi tò mò.

Theo tôi cuộc chỉnh lỷ 30-1-1964 chắc chắn phải có bàn tay “phù thuỷ” của Mỹ thúc dẩy cho tướng Khiêm thực hiện, mà nguyên nhân chánh là do trung tướng Dương văn Minh làm phật lòng người Mỹ, nhưng ông Minh không bị loại vì lúc bấy giờ dân chúng và khối phật giáo Ấn Quang vẫn còn xem ông Minh như người hùng”cách mạng” nếu loại hẳn ông Minh sợ e có xáo trộn xã hội và sợ thượng toạ Thích trí Quang sách động phật tử “xuống đường”ủng hộ ông Minh . Còn 5 ông tướng bị chỉnh lý vì thân tín với ông Minh nên bị làm vật tế thần, bị chụp lên đầu cái mũ”trung lập thân Pháp”, để chặt hết tay chân của ông Minh, biến ông Minh thành “con cua bị gẫy cang” ngồi đó nhìn ông Khánh tung hoanh.

Phụ chú;

Những điều tôi thuật lại cho quý độc giả trên đây là tôi được nghe đại tướng Viên kể lại lúc tôi đang là sĩ quan tùy viên của ông,
Sau này vào tháng 8 năm 2004, tôi từ Cali qua Virginia thăm đại tướng Viên trong 1 nursing home, tình cờ có đại tướng Khiêm tới, ông Viên, ông Khiêm và tôi cùng ngồi nói chuyện chung, đây là dịp may hiếm có, tôi hỏi đại tướng Khiêm vài điều mà tôi ấp ủ từ lâu vì không biết hỏi ai cho chính xác.

Tôi hỏi: thưa đại tướng, em nghe nói ngày đảo chánh 1-11-1963 có 1 người Mỹ ở trong phòng của đại tướng ngay từ giờ phút đầu để theo dõi cuộc đảo chánh, em muốn biết lời đồn đó co đúng không?

Đại tướng Khiêm nói: lời đồn đó đúng, người Mỹ đó là trung tá Conein, ông ta ở trong 1 phòng nhỏ sát phòng làm việc của tôi sau tấm vách ngăn mà không hề bước qua phòng tôi trong thời gian tiến hành đảo chánh.

Tôi cho chú biết thêm, ông Conein này là 1 sĩ quan trưởng của 1 toán tình báo Mỹ đã từnf nhẩy dù xuống vùng Việt Minh kiểm soát ở miền Bắc, Việt Nam năm1945 để giúp Hồ chí Minh đánh Nhật, ông ta là người biết nhiều về Hồ chí Minh và mặt trận Viễt Minh.
Tôi hỏi tiếp : thưa đại tướng, em được biết, sau khi đại tướng làm cuộc chỉnh lý ngày 30-1-1964 thiếu tá Nhung đã khai, ông Minh ra lệnh cho ông ta giết ông Diệm, ông Nhu , lời khai đó chan thật không? Liệu sau lưng ông Minh có 1 thế lực nào khác thúc đẩy ông Minh làm chuyện đó không?

Đại tướng Khiêm trả lới: chú nghe kỹ tôi nói đây:”trước ngày đảo chánh (1-11-1963) tôi đưa ra 1 điều kiện tiên quyết với ông Minh, liên quan đến Tổng Thống Diệm như sau : phải bảo đam sinh mạng Tổng Thống Diệm và để T/T Diệm bình an xuất ngoại. Ong Minh và ông Kim đều đồng ý, sở dĩ có ông Kim vì mới đầu ông Kim có 1 nhóm riêng cũng âm mưu đảo chánh, về sau 2 nhóm mới kết hợp lại.

Khi biết ông Diệm , ông Nhu bị giết, lúc ấy tôi mới biết luôn đại tá Quyền, đại tá Tung và em của đại tá Tung là Lê quang Triệu cũng bị giết, còn ông này(ông Khiêm vừa nói vừa nhìn qua ôngViên) cũng bị còng tay, may mà ông Đính thấy kip chứ không thì cũng theo Hồ tấn Quyền và Lê quang Tung rồi(ông Viên và ông Khiêm cùng cười).

Ông Khiêm nói tiếp: tôi ở văn phòng của tôi trên lầu còn ông Minh, ông Kim, ông Đôn ngồi ở phòng của đại tướng Tỵ, lúc đó đại tướng Tỵ đang dưỡng bệnh, nên ông Đôn làm quyền Tổng Tham Mưu Trưởng. Họ hành động lến lút, giấu không cho tôi biết rồi họ quyết định với nhau tôi có hay biết gì đâu.

Chú nghĩ coi: ông Diệm đã gọi đìện thoại bảo cho xe đến đón ông về TTM, như vậy nghĩa là ông đã đầu hàng rồi, tại sao lại giết người đầu hàng. Ông Minh, ông Kim độc ác quá! Cho nên tôi bất mãn với 2 ông ấy từ lúc đó.

Còn chú hỏi liệu có thế lực nào khác thúc đẩy ông Minh giết ông Diệm, tôi cho chú biết thêm chi tiết này, khi ông Conein ở trong phòng nhỏ bước ra phòng tôi trung tướng Minh cho ông ta biết ông Diệm và ông Nhu chết rồi, ông Conein tỏ ra tức giận không nói với ông Minh một lời,ông quay trở vào phòng và thốt lên một câu:”Do a terrible thing”rôì một lúc sau ông Conein bỏ ra về. Thế đó chú tự suy nghĩ”.

Tôi cám ơn đại tướng Khìêm, rồi chúng tôi tiếp tục nói chuyện linh tinh khác suốt cả buổi sáng hôm đó.

Thân phận của một Quốc Gia nhược tiểu là như vậy.

Cựu Sĩ quan tùy viên Đặng kim Thu.

Tác gỉa Đặng Kim Thu, cựu SVSQ/TVBDL/K19, cựu tùy viên của Đại tướng Cao Văn Viên, cựu Quận trưởng Chợ Gạo. Sau dính líu vào vụ còi hụ Long An và đi tu.
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

Image

Cựu Đại Tướng Nguyễn Khánh
từ trần ngày Thứ Bảy, 12 tháng 1, 2013..

Tóm tắt Tiểu sử:

Sanh ngày 8 tháng 11, năm 1927 tại Trà Vịnh

Thân phụ: Cụ Nguyễn Bữu

Phu nhân: Bà Phạm Lệ Trân

Cậu ruột: Bác sĩ Nguyễn Lưu Viên, Cựu Thủ Tướng Chánh Phủ, Bộ Trưởng Nội Vụ, Bộ Trưởng VHGD Thanh Niên VNCH

Binh nghiệp:

- tốt nghiệp khóa 1 Trường Võ Bị Liên Quân Viễn Đông (năm 1946-47).

- tốt nghiệp Học Viện Quân Sự Coetquidan và Saint Cyr Pháp năm 1948.

- sĩ quan VN duy nhất theo học lớp huấn luyện Nhãy Dù và điều khiển phi cơ T7 và JU-52 tại Pau, Pháp , cuối năm 1948.

- ngày 1/6/1949, sĩ quan tùy viên(aide-de-camp) của Thủ Tướng Nguyễn Văn Xuân.

- 1950- 1954: lần lượt đảm nhận Đại Đội Trưởng Biệt Lập Nhãy Dù, chỉ huy Tiểu Đoàn 1 Nhãy Dù, chỉ huy liên đoàn lưu động (GM11), Trưởng Phòng Tình Báo Bộ TTM.

- tốt nghiệp Trường Tham Mưu Paris, Pháp năm 1954-55.

- sau khi hồi hương, trong 2 năm 1955- 57 liên tục thay đổi trong các chức vụ: chỉ huy trưởng Phân Khu kiêm Tỉnh Trưởng Cần Thơ, Chánh Thanh Tra Nhãy Dù, Tham Mưu Phó Bỗ Tổng Tham Mưu kiêm Phự tá Tổng Tham Mưu Trưởng về Không Quân, chỉ huy phó chiến dịch Hoàng Diệu, mang cấp Đại tá Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Dã Chiến, sau đó du học Hoa Ky tham dự lớp chỉ huy tham mưu tại Trường Command Staff, Forth Leavenworth, Kansas .

- đảm nhận chức tư lệnh Miền Hậu Giang (vùng 4 chiến thuật) năm 1958.

- Tổng Thư Ky' Quốc Phòng trực thuộc Tổng Thống VNCH, năm 1959.

- trong 2 năm 1960 - 61, đảm nhận lần lượt chức vụ Thiếu Tướng Tư Lệnh Quân Khu 5, Tham Mưu Trưởng Bộ Tổng Tham Mưu.

- ngày 20/12/1962 thuyên chuển đến Pleiku nhận chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn II, thay thế Thiếu tướng Tôn Thất Đính về thủ đô nhận chức Tư Lệnh Quân Đoàn III.

- ngày 11 tháng 12, 1963 đến Đà Nẳng đảm nhận chức Trung Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn I hoán chuyễn với Trung tướng Đỗ Cao Trí.

- ngày 30 tháng 1, 1964 cầm đầu cuôc chỉnh ly' với sự tham dự của Trung tướng Trần Thiện Khiêm và Đại tá Cao Văn Viên, bắt giữ 5 tướng lãnh Trần Văn Đôn, Lê Văn Kim, Nguyễn Văn Vy, Mai Hữu Xuân, Tôn Thất Đính.

- ngày 8 thang 1, 1964 Trung tướng Ngu ễn Khánh, Thủ tướng Chánh Phủ thành lập nội các.

- ngày 8 tháng 10, 1964 kiêm nhiệm Tổng Tư Lệnh Quân Lực thay thế Đại tướng Trần Thiện Khiêm.

- rời khỏi chức vụ Tổng tư Lệnh Quân Lực ngày 20 tháng 2, 1965; lên đường công du trong chức vụ Đại sứ Lưu Động(Sắc Lệnh đề cử số 046/QT/SL ngày 22 tháng 2, năm 1965 của Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu).

Huy chương: Kim Khánh Đệ Nhất Hạng, Đệ Nhị Đẳng Bảo Quốc Chương và nhiều huy chương Quân Sự, Dân Sự QGVNCH và Đồng Minh.

((Tham chiếu tài liệu Wikipedia, The Encyclopedia of The Vietnam War, Lược Sử Quân Lực VNCH)

Nguyễn Nam chuyển
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »


Image

LUẬN VỀ NGHI THỨC PHỦ CỜ

Đỗ Ngọc Uyển

Gần đây, các diễn đàn trên internet có phổ biến bài tự thán rất bi tráng mà tác giả (?) được ghi nhận là Chuẩn Tướng Lê Quang Lưỡng, nguyên Tư Lệnh Sư Đoàn Nhẩy Dù. Nguyên văn lời nói đầu cùng với bài tự thán như sau:

Mai Tôi Chết Cờ Vàng Xin Đừng Phủ

Tướng Lê Quang Lưỡng (cựu Tư lệnh Sư Đoàn Nhẩy Dù/QLVNCH): “Xin mặc đồ đen, không mặc quân phục, nếu muốn đến tiễn đưa tôi lần chót”. Một vị Tướng-lãnh QLVNCH đã trối-trăn: Tôi làm Tướng không bảo vệ được nước, khi nước mất tôi đã không dám chết theo nước, nên khi tôi chết già yêu-cầu đừng phủ quốc-kỳ lên quan-tài tôi, vì tôi biết mình không xứng-đáng được hưởng nghi lễ nầy.


Mai tôi chết cờ vàng xin đừng phủ.
Xác thân này đâu chết cho quê hương?
Súng gươm xưa đã bỏ lại chiến trường!
Thân chiến bại nhục nhằn nơi đất khách!

Hơn nửa đời đã tan rồi khí phách.
Nhớ bạn bè nằm xuống nghĩ mà đau!
Không quan tài cờ phủ giữa chiến hào,
Máu thịt đã thấm vào lòng đất mẹ.

Bao năm trời bao nhiêu người trẻ.
Chết không cần cờ phủ vẫn uy nghi.
Khi nằm xuống bạn nào đã cần gì??
Chỉ ước muốn thân này dâng đất nước.

Ta giờ đây đã tan bao mơ ước.
Chuyện ngày xưa chỉ còn thấy trong mơ…
Ngày về quê càng lúc càng xa mờ.
Thời gian vẫn lạnh lùng theo năm tháng.

Tuổi càng cao lòng càng nghe mặn đắng!
Xót thân này khi chết bỏ lại đây!
Nơi xứ người bạn hữu chẳng còn ai??
Mai tôi chết cờ vàng xin đừng phủ.

Lê Quang Lưỡng (?)


Tuy nhiên, cũng có nguồn tin ghi nhận rằng tác giả bài tự thán trên đây là Nguyễn Ngọc Trân, một chiến sĩ biệt động quân. Đây là tâm sự của hai chiến sĩ cùng chung một cảm xúc bi tráng và tự trọng với tinh thần trách nhiệm rất đáng kính phục.

Bài tự thán bi hùng của Nguyễn Ngọc Trân và những lời “trăn trối” tâm huyết của Tướng Lưỡng đã đánh mạnh vào tình cảm mến phục, thương xót của con người. Xin tôn trọng những lời tự thán và “trăn trối” trên đây của Nguyễn Ngọc Trân và Tướng Lưỡng. Tuy nhiên, với tư cách người lính QLVNCH, tôi viết bài này để trình bày một quan điểm về nghi thức phủ quốc kỳ trên quan tài khi người lính nằm xuống.


Khi mặc bộ quân phục, đứng dưới Quốc Kỳ, nguời lính QLVNCH mang trên vai Danh Dự và Trách Nhiệm đối với Tổ Quốc. Dưới lá Quốc Kỳ, người quân nhân hãnh diện được hy sinh vì Tổ Quốc và coi nhẹ cái chết. Suốt một đời đứng dưới Quốc Kỳ, cầm súng bảo vệ Tổ Quốc, khi nằm xuống trong bất cứ trường hợp và hoàn cảnh nào - ngoài trận địa hay trên giường bệnh tại hậu phương - mọi quân nhân đều được Tổ Quốc ghi ơn và được hưởng mọi nghi thức tang lễ đã quy định trong các huấn thị như Nghi Lễ Phủ Quốc Kỳ, được mai táng tại các Nghĩa Trang Quốc Gia, được Dàn Chào Danh Dự khi hạ huyệt…

“Con chim gần chết tiếng kêu thương; con người gần chết lời nói thành thật.” Chúng tôi tin rằng những lời ‘trăn trối” trên đây của Tướng Lưỡng - trong hoàn cảnh sa cơ thất thế và lưu vong - đã thốt ra từ đáy lòng khi cuối đời nghĩ tới những đồng đội dưới quyền đã hy sinh ngoài mặt trận hay còn đang kéo dài cuộc sống tối tăm, mòn mỏi trong tay quân thù ngay trên quê hương Miền Nam. Tướng Lưỡng cũng thốt ra những lời cay đắng, tự trách mình đã không hoàn thành nhiệm vụ đối với quê hương. Do đó, Tướng Lưỡng đã nói lời cuối cùng:

“Xin Đừng Phủ Quốc Kỳ Lên Quan Tài”

Như đã nói ở trên, chúng tôi tôn trọng những lời “trăn trối” của Tướng Lưỡng, nhưng xin không đồng ý về việc từ chối lễ phủ cờ theo quy chế và nghi thức mà Quân Đội và Tổ Quốc đã ban cho ông. Dù trong hoàn cảnh sa cơ thất thế và lưu vong hiện nay, Tướng Lưỡng nói riêng và tất cả quân nhân các cấp đã từng xông pha trận mạc trong suốt 20 năm để bảo vệ quê hương thân yêu Miền Nam sẽ mãi mãi là những anh hùng của QLVNCH. Họ đựợc Tổ Quốc ghi ơn và xứng đáng được hưởng mọi nghi thức mà Quân Đội và Tổ Quốc đã quy định khi nằm xưống.

Mới đây nhất, với tư cách là đồng minh của VNCH trong cuộc chiến chống cộng tại Việt Nam và ngăn chặn sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản xuống vùng Đông Nam Á, Tổng Thống Hoa Kỳ đã trao tặng Huân Chương Legion of Merit (Degree of Commander) cho Thiếu Tướng Bùi Thế Lân, nguyên Tư Lệnh Sư Đoàn TQLC, bằng một sắc lệnh do Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ Robert M. Gates ký. Sắc lệnh này nêu rõ những chiến công anh hùng của Tướng Lân và Sư Đoàn TQLC/QLVNCH trong thời gian từ 30/3/1972 đến 16/9/1972 khi hoàn toàn tái chiếm tỉnh Quảng Trị từ tay quân xâm lăng cộng sản Bắc Việt. Buổi Lễ Trao Tặng Huân Chương được tổ chức ngày 7/3/2009 tại phòng họp của đài phát thanh Radio Saigon, thành phố Houston với sự tham dự của khoảng 20 tướng lãnh và sĩ quan Hoa Kỳ cùng với khoảng 40 sĩ quan QLVNCH. Người đại diện cho Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert M. Gates để choàng giải Huy Chương Legion of Merit (Degree of Commander) trên ngực Thiếu Tướng Lân là Thiếu Tướng William Eshelman, bạn cùng khoá với Tướng Lân tại trường Thuỷ Quân Lục Chiến Hoa Kỳ Quantico. Khi ban thưởng Huân Chương Cao Quý Legion of Merit (Degree of Commander) cho Tướng Lân sau 37 năm kể từ khi tái chiếm tỉnh Quảng Trị, một lần nữa, Tổng Thống Hoa Kỳ - với tư cách là đồng minh của VNCH trong cuộc chiến chống cộng - đã công nhận rằng Tướng Lân là một vị tướng anh hùng của QLVNCH anh hùng, mặc dù QLVNCH đã bị những thủ đoạn chính trị phản phúc của Nixon và Kissinger làm cho tan rã để mang lại thắng lợi cho quân cộng sản Bắc Việt trong tháng 4/1975. Cho tới nay, kể cả Tướng Lân, mới chỉ có 19 vị tướng anh hùng của các quốc gia đồng minh của Hoa Kỳ được ban thưởng huy chương cao quý trên đây.

Lễ phủ cờ là một vinh dự được Quân Đội và Tổ Quốc ban cho quân nhân các cấp khi nằm xưống và là niềm hãnh diện của gia đình họ. Cách đây không lâu, đài truyền hình SBTN từ Nam California có chiếu cảnh phóng viên Thanh Toàn từ Mỹ trở về một vùng quê ở Miền Nam Việt Nam, đến thăm một anh thương binh và trao tặng anh này một bộ quân phục tác chiến như đã hứa trong lần viếng thăm kỳ trước. Người cựu chiến binh thương tật với gương mặt rạng rỡ đã đưa hai tay nhận bộ quân phục tác chiến thân yêu còn mới nguyên nếp gấp. Sống trong lòng địch, khi chết không được phủ cờ, người chiến binh thương tật này chỉ còn một điều mong ước cuối cùng là được mặc bộ quân phục khi nằm trong quan tài thay vì được phủ cờ. Anh chiến binh anh hùng của QLVNCH đã được toại nguyện, và xin cám ơn phóng viên Thanh Toàn đã làm một việc rất có ý nghĩa.

Trong dư luận, có những lời bàn cho rằng trong những ngày cuối tháng 4/1975, một số tướng tá cao cấp, sĩ quan đã bỏ chạy, đào ngũ, chốn ra ngoại quốc, đầu hàng…, và những người này không còn xứng đáng để được hưởng nghi thức phủ cờ khi nằm xuống. Đây là những lời bàn ngang, nông nổi, không xác đáng. Sau đây, xin kể một sự kiện đã đi vào quân sử Hoa Kỳ.

Trong thế chiến II, ngày 26-7-1941, Trung Tướng Douglas McArthur được lệnh tái ngũ và được Tổng Thống Roosevelt bổ nhiệm làm Tư Lệnh Lục Quân Hoa Kỳ tại Viễn Đông. Bản doanh của Tướng MacArthur đóng tại Thủ Đô Manila, Philippines. Những ngày tiếp theo, Trung Tướng MacArthur được vinh thăng Đại Tướng và được Tổng Thống Philippines Manuel L. Quezon vinh thăng Thống Chế (Field Marshal) của quân đội Philippines. Cuối năm 1941, quân đội Nhật mở cuộc tấn công đánh chiếm Philippines. Trước sức tấn công mãnh liệt của quân Nhật, Tướng MacArthur đã phải ra lệnh cho lực lượng Mỹ và Philippines rút về phòng thủ bán đảo Bataan, và Bộ Tham Mưu của Tướng MacArthur cũng phải rút về bán đảo chiến luỹ Corregidor. Nhận thấy tình hình rất nguy ngập, Tổng Thống Roosevelt đã ra lệnh cho Đại Tướng MacArthur phải di chuyển khỏi Philippines. Trong đêm 12/3/1942, Tướng MacArthur cùng với gia đình và bộ tham mưu của ông đã di tản khỏi bán đảo Corregidor trên bốn chiếc tầu tuần (PT boats) để đến phi trường Del Monte Airfield trên bán đảo Mindanao và được phi cơ B-17 đưa họ đi Úc Đại Lợi. Sau đó, Tướng MacAthur được bổ nhiệm làm Tổng Tư Lệnh Tối Cao Đồng Minh của Chiến Trường Tây Nam Thái Bình Dương. Khi rời khỏi Corregidor, Tướng MacArthur có hứa rằng ông sẽ trở lại và ông đã giữ lời hứa. Ông cùng với bộ tham mưu đã trở lại Philippines ngày 20/10/1944 ngay khi lực lượng đống minh do ông chỉ huy giải phóng được Philippine khỏi tay quân đội Nhât. Trước khi rời khỏi Philippines, Tướng MacAthur đã chỉ định Trung Tướng Jonathan M. Wainwright ở lại thay ông chỉ huy toàn thể lực lượng Mỹ và Phi tại Bataan. Sự đào thoát khỏi Philippines của Tướng Tư Lệnh Chiến Trường MacArthur trong lúc địch quân đang tấn công không phải là một sự đào ngũ hay chạy chốn. Sự đào thoát này là do tình thế đòi hỏi. Nếu Tướng MacArthur ở lại, sự thể sẽ tệ hại hơn, chắc chán ông sẽ bị quân Nhật bắt làm tù binh như Trung Tướng Jonathan M. Wainwright sau này. Tướng MacArthur được vinh thăng Thống Tướng Năm Sao và được vinh danh là anh hùng của nước Mỹ. Ông mất ngày 5/4/1964 trên giường bệnh tại Walter Reed Army Medical Center, và Tổng Thống Johnson đã ra lệnh tổ chức lễ quốc táng. Từ sự kiện trên đây có thể luận ra rằng: Trong tình thế tuyệt vọng của những ngày cuối tháng 4/1975, những vị tướng tá, sĩ quan QLVNCH đã tìm cách thoát ra khỏi Việt Nam là hợp lý vì tình thế bắt buộc và là một quyết định đúng. Họ không đào ngũ hay chạy chốn mà là một hành động can đảm, không buông xuôi số phận trước một tình thế hoàn toàn tuyệt vọng. Nếu họ ở lại, chắc chắn sẽ bị Băng Đảng Cộng Sản Việt Nam trả thù rất đê tiện bằng nhiều năm đầy ải trong các trại tù khắp nước từ Nam ra Bắc như chúng đã đối xử với những người bị kẹt lại. Những quân nhân này vẫn mãi mãi là anh hùng của QLVNCH. Họ đã chiến đấu suốt 20 năm để bảo vệ quê hương Miền Nam. Họ được Tổ Quốc ghi ơn và rất xứng đáng được hưởng nghi thức phủ Quốc Kỳ khi nằm xuống.

Trở lại trường họp của Tướng Jonathan M. Wainwright, người đã được Tướng MacArthur chỉ định ở lại bảo vệ bán đảo Bataan trong một tình thế mà cơ hội sống còn hết sức mong manh. Nhưng đây là một vinh dự đối với một cấp chỉ huy như Tướng Wainwright. Trước sức tấn công vũ bão của quân đội Nhật và để tránh thương vong vô ích cho quân sĩ, Tướng Wainwright đã phải ra lệnh cho 76.000 quân Mỹ và Phi trên bán đảo Bataan đầu hàng quân Nhật lúc 9 giờ sáng ngày 9/4/1942. Tướng Wainwright bị quân Nhật bắt làm tù binh hơn 3 năm và được quân đội Liên Xô giải thoát khỏi một trại giam tù binh của Nhật tại Manchuria trong tháng 8/1945. Sự đầu hàng của Tướng Wainwright không phải là một sự hèn nhát mà là một hành động can đảm do tình thế đòi hỏi để tránh thương vong vô ích cho binh sĩ dưới quyền. Tướng Wainwright vẫn được tôn vinh là anh hùng của Bataan (hero of Bataan). Ngày 2/9/1945, Tướng Wainwright đứng bên cạnh Tướng MacArthur trên chiến hạm USS Missouri trong một buổi lễ tiếp nhận sự đầu hàng vô điều kiện của nước Nhật. Sau đó, Tướng Wainwright đã cùng với Tướng Arthur Percival trở lại Philippines để tiếp nhận sự đầu hàng của Tướng Tomoyuki Yamashita, người chỉ huy quân đội Nhật tại Philippines. Tướng Wainwright được vinh thăng bốn sao và được ban thưởng huy chương Medal of Honor. Ông mất ngày 2/9/1953 tại San Antonio vì bị nhồi máu cơ tim và được an táng tại Nghĩa Trang Quốc Gia Arlington theo nghi thức đối với một vị tướng anh hùng khi nằm xuống. Từ sự kiện trên đây có thể khẳng định rằng trong tình thế tuyệt vọng của những ngày cưối cùng của tháng 4 đen năm 1975, nếu có một số sĩ quan đã tự quyết định hoặc theo lệnh của “Tổng Thống Dương Văn Minh” mà buông súng là vì tình tế bắt buộc chứ không phải là hành động của những quân nhân hèn nhát. Họ đã chiến đấu đến phút cuối cùng và chỉ buông súng trong hoàn cảnh “thế cùng, lực tận”. Họ vẫn mãi mãi là những quân nhân anh hùng của QLVNCH và rất xứng đáng được hưởng nghi thức phủ Quốc Kỳ mà Quân Đội đã quy định khi nằm xuống.

Tóm lại, dù bị sa cơ thất thế trong biến cố 30/4/1975, những người lính thuộc mọi quân binh chủng của QLVNCH đã chiến đấu suốt 20 năm để bảo vệ quê hương Miền Nam thân yêu vẫn mãi mãi là những chiến binh anh hùng của QLVNCH anh hùng. Họ đã được Tổ Quốc ghi ơn qua những Bảo Quốc Huân Chương, Anh dũng Bội Tinh, Chiến Thương Bội Tinh, Chiến Dịch Bội Tinh … Họ Là Những Người Đi Dựng Cờ và rất xứng đáng được hưởng nghi lễ phủ quốc kỳ khi nằm xuống trong hoàn cảnh lưu vong hiện nay.

Trong cuộc chiến chống cộng, QLVNCH đã phải chiến đấu chống lại cả một khối Đệ Tam Quốc Tế được uỷ nhiệm cho bọn tay sai là Băng Đảng Cộng Sản Việt Nam. Trong thế trận quốc cộng này, VNCH bị đẩy vào cái thế là phải dựa vào sự viện trợ duy nhất của Hoa Kỳ. Nhưng nhận viện trợ của Mỹ mà không làm theo Mỹ thì bị Mỹ giết như trường hợp Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Và sau này, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cũng bị Nixon doạ giết nếu không chịu ký vào cái “Hiệp Định Đầu Hàng Paris”. Gần đây, những tài liệu giải mật của Toà Bạch Ốc và Ngũ Giác Đài đã chứng minh rằng Nixon và Kissinger đã đi đêm với Trung Cộng và bán đứng VNCH cho cộng sản. Sử gia Hoa Kỳ Larry Berman, trong tác phẩm “No Peace, No Honor: Nixon, Kissinger and Betrayal in Vietnam”, đã chỉ đích danh hai người này là những kẻ phản bội VNCH. Và QLVNCH đã bị hai kẻ phản bội này làm cho tan rã để mang lại thắng lợi cho quân Việt Cộng chứ không phải quân Việt Cộng đã chiến thắng hoặc chúng ta thua trận trong ngày 30/4/1975. Ngày 29/9/2010, trong cuộc hội thảo tại Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ về “ Kinh Nghiệm của Hoa Kỳ tại Đông Nam Á từ 1945 đến 1975”, chính Kissinger đã thú nhận: “Sự thảm bại tại Việt Nam năm 1975 là do Hoa Kỳ chứ không phải do VNCH”. Lời thú nhận muộn màng trên đây không làm ai ngạc nhiên. Trên phương diện thuần tuý quân sự, chúng ta không thua trận. Chúng ta luôn luôn hãnh diện là người lính QLVNCH bởi vì chúng ta có Chính Nghĩa và Chính Nghĩa sẽ tất thắng. Hãy ngẩng cao đầu và không bao giờ mang mặc cảm thua trận. Chế độ Việt Cộng - một chế độ độc tài hủ lậu - chắc chắn sẽ bị lịch sử đào thải.

21 năm xông pha trên tuyến đầu, Tướng Lê Quang Lưỡng đã được ban thưởng những huy chương cao quý của QLVNCH và Quân Lực Hoa Kỳ như sau:
Đệ Tam Đẳng Bảo Quốc Huân Chương
Đệ Tứ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương
Đệ Ngũ Đẳng Bão Quốc Huân Chương
21 Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu
6 Anh Dũng Bội Tinh với Ngôi Sao Vàng, Bạc và Đồng
3 Chiến Thương Bội Tinh
Two Silver Stars with V Device - 1971 - 1972
Thee Bronze Stars with V Device - 1967 - 1968 - 1970
One Distinguished Flying Cross
One Air Medal
Cùng với tên tuổi đã đi vào quân sử, Chuẩn Tướng Lê Quang Lưỡng - người anh hùng của QLVNCH, người con thương yêu của Tổ Quốc Việt Nam - không bao giờ chết mà chỉ mờ dần đi như hình ảnh những người lính trong điệp khúc của khúc ballad nổi tiếng đã được Tướng MacArthur nhắc đến trong bài diễn văn giã từ binh nghiệp đọc tại Lưỡng Viện Quốc Hội Hoa Kỳ ngày 19 tháng 4 năm 1951 như sau:

Old Soldiers Never Die; They Just Fade Away

Đến đây, xin nhắc lại một lần nữa: Chúng tôi thông cảm và tôn trọng những lời ‘trăn trối” của Tướng Lưỡng nhưng xin không đồng ý về sự từ chối lễ phủ cờ theo nghi thức đã được ấn định bởi vì đây là một danh dự mà Quân Đội và Tổ Quốc ban cho tất cả quân nhân các cấp khi nằm xuống và không một quân nhân nào được phép từ chối. Ngoài ra, để bảo vệ Chính Nghĩa Quốc Gia và Danh Dự của người lính QLVNCH, chúng ta phải tiếp tục tổ chức lễ phủ cờ cho bạn đồng ngũ khi nằm xuống. Đây là một nghi thức truyền thống cao quý của QLVNCH. Xin tôn trọng những lời cuối trước khi ra đi của Tướng Lưỡng như một ngoại lệ đặc biệt. Và cũng xin nhắc lại câu danh ngôn đã được truyền tụng: “Xưa nay, không ai lấy thành bại để luận anh hùng.”

Đỗ Ngọc Uyển
(Khoá 4 Thủ Đức/ Binh Chủng TT)
Tháng 1 năm 2013
Morgan Hill, California
caolynh
Posts: 317
Joined: Wed Dec 17, 2008 7:21 pm
Contact:

Post by caolynh »

Người Lính Thủy Quân Lục Chiến bên bờ Bến Hải
Kính dâng hương hồn người chiến sĩ vô danh

Nguyễn Ngọc Ẩn

Trời trên đầu vẫn nắng chang chang. Dưới chân là sỏi đá khô cằn. Đất ở đây như không đủ sức mời mọc cho cây đâm rễ nên quang cảnh mang một vẻ trơ trụi, hoang sơ thế nào.

Đoàn tù vẫn lầm lũi bước. Cách từng quãng một là cán binh CS miền Bắc, vai mang khẩu AK-47, đầu đội mũ tai bèo, chân dép râu cũng tiếp nối từng bước như đoàn tù nhưng chắc chắn là mang trong họ một trạng thái tinh thần hoàn toàn khác. Họ là những kẻ chiến thắng, đang giải đoàn tù binh, sản phẩm của chiến bại, về Bắc. Trước là họ có dịp phô trương cái “anh hùng” của họ ở trong B, sau là biết đâu họ có thể có dịp tạt qua thăm nhà một lần sau bao nhiêu năm gia nhập bộ đội để đi “giải phóng miền Nam ruột thịt, đang oằn oại dưới ách thống trị bạo tàn của Mỹ Thiệu” và quan trọng và chắc chắn hơn hết là họ được tránh xa vùng lửa đạn có thể làm họ “đi gặp HCM” bất cứ lúc nào...

Trước đó không lâu mà tưởng chừng như ở vào thế kỷ khác, quân CS đã bất ngờ vượt vùng phi quân sự để tràn xuống tấn công miền Nam. Trở tay không kịp, các căn cứ hoả lực ở vùng phía Nam Phi Quân Sự bị đánh tan vỡ, quân đội VNCH đã lập tức gởi ngay quân ở trong miền Nam ra cứu viện và các đơn vị Biệt động quân gồm 3 Liên Đoàn Tổng Trừ Bị được đưa ra và trong đó, Liên Đoàn 5 BĐQ là đơn vị ra tới đầu tiên mà trong đó có tôi với tư cách Y sĩ điều trị của Liên Đoàn.

Tôi là một bác sĩ, tính tới hôm ra tới Quảng Trị là ngày 5/4/72 thì tôi mới ra trường chưa được 5 tháng, do đó tôi còn ở dưới quyền một đàn anh là Y Sĩ Trưởng của đơn vị, hiện anh đang trở về làm việc ở hậu cứ khi có tôi ra thay ở mặt trận (hai anh em chúng tôi thay phiên nhau đi hành quân mỗi người nửa tháng).

Tuy tôi không được dự các cuộc họp hành quân nhưng theo tin tức tôi thu nhặt được từ các sĩ quan trẻ trong BCH Liên Đoàn thì tôi biết, Chuẩn Tướng Vũ Văn Giai, Tư Lệnh SĐ3BB là sĩ quan cao cấp nhất được trên chỉ định làm Tư Lệnh mặt trận và ông đã điều quân như sau: LĐ5 chịu tuyến cực Bắc của mặt trận là thị trấn Đông Hà chạy dài về phía Nam ở hướng Tây của quốc lộ 1. Kế tiếp là LĐ4 BĐQ rồi tới LĐ7 BĐQ tiếp tục phòng thủ và chiến đấu để giữ gìn phía Tây QL 1. Còn về hướng Đông là phía biển thì mặt trận chắc chắn sẽ nhẹ hơn sẽ do SĐ 3 BB, sau trận đánh mấy ngày trước đã mỏi mòn trấn giữ.

Nhưng tới trận phục kích chót của quân CS vào BCH/LĐ trong đêm 30/4/72, trên đường rút quân của đơn vị tôi sau khi thành phố Quảng Trị đã thất thủ thì đơn vị tôi chính thức cũng đã bị xoá tên trong trận chiến. Hỏi làm sao không xóa tên tại chỗ được khi một Liên đoàn BĐQ như đơn vị tôi mà có những 18 sĩ quan bị bắt làm tù binh trong đó phải kể đến: Tiểu Đoàn Trưởng và TĐ phó TĐ 38 BĐQ, sĩ quan trưởng ban 3 LĐ, sĩ quan trưởng ban Truyền Tin LĐ, bác sĩ (tôi), Đại Đội Trưởng Trinh Sát của LĐ và bao nhiêu sĩ quan cấp thấp khác ở các ban ngành của cả BCH LĐ cũng như của TĐ 38 là TĐ đi bọc hậu cho LĐ trên đường rút quân. Dĩ nhiên tôi được biết sau nầy là sau khi tập trung lại ở Huế, LĐ được đưa về để “làm máy lại,” tái tạo. bổ sung các cấp từ sĩ quan đến binh sĩ và tung vào hành quân 2 tháng sau đó. Còn chúng tôi, 18 sĩ quan xấu số, trên con đường định mệnh không biết sẽ đi về đâu, đang bị xỏ xâu vào nhau và lầm lũi bước đi về hướng Bắc.

Tôi viết hồi nãy là LĐ tôi có 18 sĩ quan bị bắt là do về tới chỗ tạm giam gặp nhau chớ còn lúc giải đi trên đường thì làm sao tôi biết được? Cá nhân tôi thì trừ một số ít sĩ quan trong đơn vị là tôi biết mặt, hầu như tất cả anh em tù binh ở Quảng trị tôi mới gặp đều như gặp lần đầu, tôi mới biết mặt họ mà họ cũng mới biết mặt tôi. “À, anh là bác sĩ mới về đó hả ? Tui có nghe mà chưa gặp, không dè mình gặp trong hoàn cảnh nầy, thiệt xui !!”

Nãy giờ tôi mãi nói về đơn vị tôi, thực sự ra, đoàn tù binh bị giải đi về hướng bắc nầy hàng mấy trăm người là ít gồm sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ của mọi binh chủng có mặt trong trận Quảng Trị hồi tháng 4/72: TQLC, BĐQ, Thiết Giáp, Bộ Binh, Địa Phương Quân, Nghĩa Quân và cả dân sự là mấy anh ở các ngành gọi là “ác ôn” dưới con mắt của CS như Chiêu Hồi, Xây Dựng Nông Thôn ...

Tôi biết mình đi về hướng Bắc là vì dễ thôi, mặt trời bao giờ cũng mọc và ở suốt ngày bên tay phải tôi, có điều đi tới đâu thì mình không biết được, chỉ biết đôi chân quen mang giày dép, nay phải để trần dẩm lên sỏi đá, mỗi bước chân là hai hàng nước mắt chảy ra. Tôi không khóc đâu, nước mắt chảy là do cái đau đớn buốt lên từ lòng bàn chân bắn thẳng lên óc làm nước mắt tự động chảy thôi chớ phải nói, lòng căm giận đầy ngập trong tim thì dễ gì tôi khóc được?

Cái bụng thì cồn cào, từ hồi bị bắt tới giờ cũng đã 5, 6 ngày rồi còn gì mà tôi chỉ được có mấy nắm cơm vắt nhỏ xíu bằng bàn tay (mỗi bửa ăn là nửa vắt!), còn khát thì còn nói gì! Nắng, nóng, hoạt động (đi bộ ròng rã) mà không hề có nước uống, nhìn chung quanh mình, tôi thấy ai cũng ở vào tình trạng gọi là khát rã họng là đúng chữ nhất!

Đã vậy mà thôi đâu, trong khi hạ sĩ quan hay binh sĩ thì cứ chậm rãi đi thành hàng một, còn chúng tôi, sĩ quan đâu được như vậy. Chúng dùng sợi dây dài cột tay trái người đi trước vào tay trái người đi sau thành từng hàng dài cho tới khi nào sợi dây hết thì chúng dùng sợi dây khác nên không có con số nhất định mỗi xâu là bao nhiêu người mà chỉ do độ dài ngắn của sợi dây...

Tôi thì đi lọt vào áp chót của một sợi dây, vừa bước đi khập khiểng do đau hai lòng bàn chân tột cùng, vừa đau đớn cho số phận của riêng mình kể gì nói cho hết.

Tuy lúc đầu lệnh của bọn cán binh là tù binh phải đi thành hàng một nhưng phải nói, do bị xâu chùm lại với nhau (với không biết có phải do lòng hai bàn chân của các sĩ quan thì “tiểu thơ” hơn anh em hạ sĩ quan và binh sĩ hay không?) mà đám tù sĩ quan đi chậm hơn đám tù đa số kia nhiều nên việc chúng tôi đi hàng xâu bên nầy song song với những anh lính của chúng tôi cách đó vài mét là thường. Có khi tên bộ đội đi gần đó mở miệng quát tháo, có khi chúng cũng mặc kệ mấy thằng tù, đi kiểu nào thì đi, miễn cứ đi là được rồi...

Từ lúc bị bắt đưa về cái nhà lá làm nơi tập trung đám tù binh mới bắt ngoài mặt trận cho tới ngày hôm nay, tôi đã bị đưa đi qua không biết bao nhiêu là cảnh vật thay đổi đủ kiểu. Chỗ gần nơi tôi bị bắt (sau nầy tôi mới biết là quận Hải Lăng) thì có ruộng lúa, lúa cao ngang ngực như lúa sạ ở Đồng Tháp Mười, còn giải đi thì lúc qua xóm Cửa Việt, chúng tôi đi dọc dài theo bờ biển cát êm mịn xinh đẹp với tiếng sóng vỗ rì rào. Nhưng cảnh vật khi họ dẫn chúng tôi từ phía đông QL 1 băng dần về phía núi rừng phía tây thì thay đổi hẳn, những đám rừng lúc trước giờ chỉ là những cây với những cành trơ trụi vì bom đạn làm tôi nhớ tới bài hát "Sương Trắng Miền Quê Ngoại" có 2 câu thơ:

Gio Linh ơi, đất thiêng chừ run rẩy
Tội lũ chim rừng không chỗ đậu vì bom...

Con đường càng đi về hướng Tây Bắc càng trơ trụi, sỏi đá khô cằn. Chỉ vài ngày đi bộ là tôi đã thấy thấm mùi đời lắm rồi nhưng ở trong tư thế không biết làm sao nên tôi cứ nhắm mắt mà bước theo những bước chân của những người bạn xấu số đồng cảnh của mình.

Tới buổi trưa hôm đó thì đoàn tù (hay đúng ra là cái xâu của tôi) đang bước chân qua một dòng nước nhỏ bề ngang chừng 1 mét. Ai cũng cố dừng lại để cúi người xuống hầu ké một ngụm nước và vì chúng tôi bị xâu lại với nhau nên sự bò xuống uống nước không thể làm cùng lúc bao nhiêu người được. Vì thế mới có sự trùng trình ở chỗ lạch nước nầy. Lúc tôi vừa uống nước xong thì có tên bộ đội nhóc đứng gần đâu đó cất tiếng:

- Chúng mầy có biết dòng nước nầy có tên gì không?

Khi không nghe ai trả lời cả (hoặc bận uống nước hoặc không bận cũng chẳng buồn trả lời làm gì) hắn ta nói tiếp, giọng oang oang đầy vẽ tự hào:

- Sông Bến Hải đấy chúng mầy ạ! Hễ chúng mầy bước qua nó là chúng mầy đã chính thức đặt chân lên miền Bắc xã hội chủ nghĩa của chúng tao rồi đấy!

Trong lúc tôi còn bàng hoàng vì đây chỉ là một lạch nước nhỏ xíu mà người ta có thể bước ngang được dễ dàng mà lại là thượng nguồn của một con sông lịch sử, con sông chia cắt hai miền Nam Bắc của nước mình từ mấy mươi năm qua bổng, hết sức bất ngờ ngoài sự tưởng tượng của tôi hay bất kỳ ai, một anh lính TQLC, chúng tôi biết anh là TQLC do tù binh vẫn còn bộ đồ lính trên người tuy lon lá đều đã bị tháo gở, anh ở trong đám binh sĩ đi gần chúng tôi, nhào lên bóp cổ tên bộ đội nhóc, vừa bóp cổ vừa gặc gặc cho cái siết cổ thêm mạnh trong khi miệng anh bật lên bao nhiêu là tiếng Đức, tiếng Đan Mạch, và đối tượng để anh chửi rủa là HCM, là “cha già kính yêu” của bọn bộ đội. Anh chửi rủa rất to tiếng trong khi nắm tay siết chung quanh cổ tên bộ đội như hai gọng kềm căm thù đã nung nấu từ hồi nào đến giờ, giờ mới có dịp phát huy.

Tên bộ đội cố hết sức dãy dụa, tuy tay còn cầm khẩu AK nhưng mọi thứ đều thành vô dụng trong lúc nầy. Rồi một tên bộ đội khác nhanh chân chạy đến, bắn ngay một phát súng vào chân anh lính TQLC, anh đau đớn nên lỏng vòng tay và tên bộ đội vùng thoát ra được, hắn không ngần ngại đá một phát vào anh lính lúc nầy đã nằm xuống đất...

Sự việc viết lại tưởng như dông dài nhưng thực ra đã diễn ra trong chớp mắt trước sự ngỡ ngàng của đám tù binh chúng tôi. Rồi đám bộ đội đã tụ tập đến chung quanh anh lính miền Nam, một tên có vẻ là cao cấp nhất trong bọn đã nói gì không rõ với lũ thuộc cấp, sau đó hắn quay sang chúng tôi, ra lệnh mở trói xâu cho 2 sĩ quan tù binh ở cuối xâu và... tôi là một trong hai sĩ quan tù binh đó. Hắn ra lệnh cho đám bộ đội kia rồi không biết lấy ở đâu ra mà ngay sau đó vài phút là một tên đã đưa đến cho chúng tôi một cây đòn dài, một tên khác thì đưa chúng tôi một cái võng rồi tên chỉ huy ra lệnh cho hai anh em chúng tôi “cáng” anh lính đi tiếp.

Tôi thì vì phản xạ nghề nghiệp nên khi vừa được “mở xâu” là đã chạy ngay đến anh lính TQLC đang nằm dưới đất để xem xét vết thương của anh nhưng ngay lập tức, một tên bộ đội đã xua tôi đứng dậy để làm nhiệm vụ cáng anh TQLC. Tuy nhiên trong một tích tắc đó, tôi cũng đã thấy được anh lính thần sắc đã tả tơi sau mấy ngày làm tù binh cho bọn chết đói, bộ quân phục sọc ngang cố hữu của binh chủng oai hùng ngày nào giờ cũng xác xơ giống như chủ nó, và viên đạn đi vào đùi anh lính, tôi đã không nhìn kịp coi có lỗ đạn ra hay không cũng như không thử mạch nên không biết có trúng động mạch đùi không và hơn hết, không biết cái chân có còn nhúc nhích được không nữa. Tuy nhiên, tôi cũng đã xé được từ cái áo thun của chính tôi được một miếng vải để cột ngay phía trên vết thương trong khi miệng thì nói với mấy thằng bộ đội:

- Mấy anh muốn cáng anh nầy thì ít ra cũng phải để cho tôi băng bó sơ anh ấy cái chớ......

Một tên bộ đội thì nói:

- Thường ngày chúng mầy là sĩ quan quen nạt nộ lính, hôm nay cho chúng mầy cáng lính của chúng mầy để đền tội......

Trong khi tôi băng bó cho anh lính TQLC thì anh bạn tù sĩ quan của tôi (anh thuộc SĐ3BB, rất tiếc tôi không còn nhớ tên anh) đã nhanh nhẹn cột hai đầu cái võng vào cái đòn dài để hoàn thành cái cáng tức là có sau đó, chúng tôi sẽ gánh anh thương binh nằm trên đó. Nhưng khi chúng tôi mở cái võng ra cho ngay ngắn và sửa soạn để khiêng anh thương binh đặt lên thì anh đã nói:

- Tui cám ơn mấy ông lo cho tui nhưng tui làm là tui chịu, tui hổng có làm phiền tới mấy ông đâu. Mấy ông cứ đi đi, tui hổng để mấy ông khiêng tui đâu......

- Anh nói gì lạ vậy, tôi nói. Anh để chúng tôi khiêng anh đi, ít ra tới chỗ nào đó mình mới có thể có phương tiện chữa cho anh được chớ.

Nói qua nói lại gì thì nói, hai lần chúng tôi đặt anh thương binh lên võng, hai lần anh đều lăn ra khỏi cái võng. Bọn bộ đội quay quần chung quanh nóng ruột, chúng hối thúc chúng tôi liền miệng nhưng - tôi nhớ đời câu nói nầy - anh thương binh nói:

- Mấy thằng VC nầy nói cái gì sinh Bắc tử Nam, tui thì dốt thiệt nhưng quyết sinh Nam tử Nam, tui không phải như mấy ông để tụi nó dẩn ra ngoài Bắc để hành hạ rồi chết ngoài đó đâu. Đây nè, tay tui còn xâm 2 chữ “Sát Cộng”, mấy ông tưởng tui sợ chết mà chịu sống chung với tụi chó đẻ nầy hả?

Tới đó thì bọn bộ đội chịu hết nổi, tên chỉ huy bèn quát:

- Thôi hai thằng nầy về hàng trở lại đi để thằng nầy lại cho chúng tao!

Bọn bộ đội đưa 2 thằng tù sĩ quan trở về xâu trở lại rồi ra lệnh tiếp tục lên đường. Tôi còn cố nhìn lại anh thương binh TQLC đang nằm dưới đất, cổ còn cố ngểnh lên để nhìn theo chúng tôi như tiển, như đưa... Bọn cán binh CS thì bàn soạn xì xào...

Được một khoảng xa vài trăm thước, tôi nghe một tiếng súng nổ ở phía sau. Chỉ một tiếng súng nổ phá tan cái yên tỉnh của buổi trưa hè mà như đã phá nát cái định kiến cố hữu vẫn có trong lòng tôi, anh lính TQLC, tuy vì lý do thiếu văn hoá một chút nên dùng toàn những từ ngữ máy nước để chửi bọn CS nhưng đã đánh thức dậy trong tôi, đã nói vào tri thức tôi rằng, những tự hào tôi đã và đang có là một người ngang tàng không biết sợ, với cái học vấn hơn người thường một chút để tự cho mình là một người trí thức. Hay nhìn xuống những người không được may mắn có cái học vấn của tôi hay các sĩ quan khác, phải đi hạ sĩ quan hay binh sĩ và cho họ là những người không đáng được kính trọng, họ chỉ là để phục vụ cho chúng tôi, các sĩ quan ăn trên ngồi trước, tất cả những suy nghĩ đó đều sai hết.

Chỉ có một kết luận duy nhất, tôi là một thằng hèn, tôi đã vì sự sống của chính tôi, vì gia đình và vì... tiếc của đời, tôi đâu có dám làm như một anh lính thường ở đơn vị TQLC, không chấp nhận sinh Nam tử Bắc, thẳng tay chửi bới già Hồ để ung dung đi vào cõi chết!

Cái chết của anh là một bài học lớn cho tôi mà suổt đời, tôi đã không bao giờ dám quên. Từ đó, tôi đã không bao giờ coi lon lá nhà binh, bằng cấp bỏ trong túi hay tiền tài vật chất có trong cuộc sống là thực sự giá trị con người (có ở hoàn cảnh khốn cùng mới thấy lon lá hay ông lớn chừng nào lại dễ thành thằng hèn, thằng ăng-ten chừng nấy).

Chỉ có Danh Dự, xin dùng chữ hoa ở đây, mới xác định giá trị con người. Xin cám ơn anh, một người tôi đã không được hân hạnh biết tên biết tuổi, đã dạy cho tôi một bài học vô cùng thắm thía mà suốt đời tôi sẽ ghi nhớ trong lòng.

Nước mắt chảy dài trên má tôi, lần nầy không phải vì cái buốt đưa lên từ hai bàn chân đi đất mà là từ trái tim, khối óc chợt nhận ra cái hèn không dám chết của mình.

Nguyễn Ngọc Ẩn
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Quận Trưởng Triệu Phong - Chuẩn Úy Lê Đình Lời khóa 4/71

MX Giang Văn Nhân

Xe hậu trạm của TĐ3/TQLC chạy qua nhà thờ Hội Yên, hướng về Mỹ Thủy, trên xe là những quân nhân mới từ Sàigòn ra bổ sung cho tiểu đoàn sau hơn một tháng hoán đổi khu vực trách nhiệm từ Sư Đoàn Nhảy Dù, xe bỗng quẹo phải trên đường 555, rồi dừng lại xóm nhà thuộc thôn Đơn Quế, nơi có Bộ Chỉ Huy của TĐ3/TQLC.

Sau những thủ tục trình diện Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng Nguyễn Văn Cảnh, Thượng Sĩ Sinh Ban 1 Hành Quân đọc tên ba Chuẩn Úy khóa 4/71 về đại đội 2:

- Đỗ Hữu Đôn, Lê Đình Lời và Trần Trung Ngôn

Thượng Sĩ Nhất Võ Lách Thường Vụ Đại Đội 2 hướng dẫn ba người về đại đội. Trên đường đi, cả ba muốn biết sơ về đơn vị mình, với giọng nói từ tốn vùng Ninh Hòa của thường vụ:

- Đại đội bị tổn thất nặng, Đại Úy Đại Đội Trưởng bị thương từ tháng 7, một thiếu úy hy sinh, hai thiếu úy bị thương, hạ sĩ quan và binh sĩ thương vong 30%, hiện tại chỉ còn Thiếu Úy Nguyễn Văn Lãm Đại Đội Phó XLTV và Chuẩn Úy Khúc Thừa Thế Trung Đội Trưởng trung đội súng nặng .

Sau khi gặp Thiếu Úy Lãm, Lời nổi bật vì dáng to, chắc và khỏe được chỉ định Trung Đội Trưởng Trung Đội 23. Ngôn dáng dấp thư sinh, có đôi mắt tinh anh, Trung Đội Trưởng Trung Đội 21. Riêng Đôn OJT với trung đội 22, Thiếu Úy Nguyễn Văn Phán mới được Tiểu Đoàn thuyên chuyển qua. Bên ngoài các trung đội phó đang long ngóng chờ các ông thầy mới của mình.

Buổi đầu trình diện, Thiếu Úy Lãm có mồi và những lon bia dành cho các alpha tới tàn cuộc. Dưới bóng cây sầu đông, Thượng Sĩ Nhất Thường Vụ khề khà đối ẩm cùng các Trung Sĩ Trung Đội phó. Đôn được Trung Sĩ Nguyễn Văn Hai Trung Đội Phó và hiệu thính viên khiêng về trung đội. Lời thì chân đá Nam, tay vung Bắc được Trung Sĩ Nhất Trần Văn Nuôi kè về vị trí. Ngôn theo Trung Sĩ Nhất Nguyễn Tấn Thành, anh đã tưới bia trộn lẫn thức ăn trên suốt đoạn đường về tuyến.

Lời và Ngôn cùng quê ở Tây Ninh, nơi mà mùa nắng không khí oi bức khó chịu, nhưng so với Quảng Trị nơi có gió Nam Lào khô rát cùng không khí ngột ngạt chiến tranh quả là khủng khiếp
Image

Thời gian này Lời làm quen với sinh hoạt đại đội, những kinh nghiệm quý báu của anh em hạ sĩ quan và binh sĩ cấp tiểu đội như Hạ Sĩ Nhất Điền méo, Hạ Sĩ Phúc, Hạ Sĩ Chánh, Binh Nhì Voi xạ thủ đại liên… Anh tiếp xúc và trò chuyện thân mật với mọi người, hòa nhịp với những người lính trẻ tuổi đôi mươi, đùa giỡn, ca hát trong đêm vang vọng âm thanh sóng vỗ ở làng chài Mỹ Thủy.

Đại đội được trang bị, bổ sung quân số đầy đủ, trung đội Lời được 40 người, một cấp số thật lý tưởng như đã học ở Trường Bộ Binh Thủ Đức. Một buổi sáng, Lời nghe anh em binh sĩ kháo nhau là tiểu đoàn sắp sửa trở lại thị xã Quảng Trị. Chiều ngày 25 tháng 8 Đại Úy Đại Đội Trưởng xuất viện về đại đội với Chuẩn Úy Trần Tuấn Dũng khóa 5/71. Đại Úy Nguyên Thảo tập họp đại đội nói chuyện với toàn thể anh em về tình hình và nhiệm vụ sắp tới. Ngày hôm sau, lệnh chuẩn bị, xe hậu trạm vào tiếp tế lương thực, đặc biệt có 3 ngày lương khô. Các sĩ quan dán liên hợp bản đồ tỉnh Quảng Trị, và nhận lệnh sẽ vào vùng hành quân vào sáng mai. Lời và các bạn đồng khóa được hướng dẫn một vài căn bản về xử dụng khóa ngụy thoại trên bản đồ, ví dụ như khóa Hoàng Oanh, vị trí của đại đội hiện giờ là Hoàng Oanh phải 12 lên 9, vài quy tắc như vị trí Cổ Thành, địch có thể quan sát ta dễ dàng, tránh bị bắn sẻ… .Lời nhìn Ngôn và Đôn, trong ánh mắt mỗi người có chút suy tư, anh thầm nghĩ đây là lần đầu tiên mà cả ba sẵn sàng nhập vào cuộc chơi sanh tử, bên cạnh Nguyên Thảo, Thiếu Úy Lãm và Thiếu Úy Phán, cùng những quân nhân dầy dạn, nét mặt họ vẫn bình thản vì đã bao lần xuất quân và chấp nhận “Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi” của người lính Tổng Trừ Bị

Gần tới khu vực xuống xe đã thấy pháo nổ mù trời trước mặt. Xe vừa dừng lại, tất cả mau lẹ nhảy xuống và tạt rộng ra hai bên đường. Trung đội Lời bám theo trung đội của Thiếu Úy Phán chạy nhanh qua cầu Ba Bến (sau này mới biết đây là điểm chuẩn, có thể là hỏa tập của địch).

Theo chỉ định của đại đội phó, Lời cho trung đội theo chân người hướng dẫn của TĐ8 đến hoán đổi vị trí một trung đội. Pháo 130 nổ rải rác trong khu vực hoán đổi. Đạn đạo pháo binh yểm trợ của ta từ phía sau bay qua đầu và nổ xa về hướng Tây. Lời làm theo phản ứng với người khinh binh phía trước, lúc chạy qua khoảng trống và bám vào những đống gạch đổ nát. Từng bước gay go, may mắn cuộc đổi quân hoàn tất không bị tổn thất vì pháo 130 ly.


Đổ Hữu Đôn hy sinh ngay buổi sáng đầu tiên tại chiến tuyến. Ban ngày án binh bất động, pháo 130 ly của địch và pháo 105, cùng 155 của ta đua nhau nổ, anh em ngoài nhiệm vụ canh gác, quan sát, chia nhau ngủ, ngụy thoại truyền tin mang mặt nạ tức là đánh địch vào ban đêm, từng toán rời vị trí tìm địch và tiêu diệt bằng lựu đạn.
Image
Sau những chiến thắng diệt chốt sát tận bờ thành, cùng những tổn thất về nhân mạng, Đại Đội 3 vào hoán đổi nhưng trung đội của Lời và Thiếu Úy Phán ở lại tăng phái. Đêm hôm đó Đại Đội 3 tiếp tục dồn nổ lực vào thành Đinh Công Tráng, và mờ sáng một trung đội đã chiếm được bờ thành.

Nhận lệnh của ĐĐT Giang Văn Nhận, hai trung đội tăng phái (Ch/Úy Lời và Th/Úy Phán) tiến trước cùng đại đội theo sau từng bước thanh toán mục tiêu. Địch vẫn cố bám vào hầm hố và ẩn núp trong các vị trí đổ nát cầm cự, nhưng trước tinh thần chiến thắng vì đã vào được mục tiêu của TQLC, một số địch quân bị chết tại chỗ, một số chống trả chờ bóng đêm để tẩu thoát hoặc ra hàng. Lê Đình Lời cảm thấy lần đầu tiên trong cuộc đời mình, nỗi hân hoan kỳ lạ khó diễn tả, lúc này anh không nghĩ gì đến sự sống và cái chết. Lính của ba trung đội gặp nhau bên những đống gạch chắn ngang lúc nửa đêm, sau khi diệt toán chốt tại đóng gạch cao to, trời mờ mờ sáng, nhận diện rõ cổng thành, cùng toàn bộ bờ thành sát bên cạnh, Lời rút nhanh lá Quốc Kỳ Việt Nam, khinh binh Lương Văn Tòng reo hò mang lá cờ cùng anh em cả ba trung đội dựng lên trên đầu cổng thành Quảng Trị. Đó là sáng ngày 15 tháng 9 năm 1972. Lời không có may mắn được tiểu đoàn đề nghị đặc cách Thiếu Úy trong chiến thắng mà hình ảnh phổ biến khắp miền Nam ngay sau đó.


Tháng 11 đại đội vào thay thế tuyến thôn Nại Cửu, đêm 13 địch đồng loạt tấn công, địch ném bê ta và dùng súng phun lửa xịt thẳng vào hầm trú ẩn của Lời. Khi nghe bê ta nổ, Lời đánh thức Minh và phóng nhanh ra khỏi hầm trước khi lửa chụp xuống. Trung đội 22 kế bên cũng bị tấn công tương tự, một số khác tấn công vào trung đội 21 và 24. Pháo binh yểm trợ và hỏa châu soi sáng trận địa. Địch thảm bại, thừa thắng các trung đội tiến chiếm vị trí của địch mở rộng vùng kiểm soát. Khinh binh Chót và Minh hiệu thính viên tử trận, tịch thu toàn bộ 2 súng phun lửa, 12 AK và 2 B40. Phòng Tâm Lý Chiến có đến BCH Tiểu Đoàn chụp chung hình chiến lợi phẩm (gom lại của các đại đội) với anh em bảo vệ cánh A.

Sau một thời gian ở bệnh viện Quảng Trị, rồi đồi Lê Huấn, và được ba ngày ở đồi Dương ngay ngã ba Long Hưng, ngày 21 tháng 1 năm 1973 lại lên đường theo cánh B vào chợ Sãi hoán đổi TĐ1/TQLC. Đại đội bố trí ở hướng Bắc chợ Sãi, cách quân đường 100 thước. Sau một ngày củng cố vị trí, quan sát địch tình, đêm 22, Thiếu Úy Phán bung trung đội ra xa khoảng 50 thước lập đầu cầu rồi cho hai bán tiểu đội tiến vào. Họ vào được dãy hầm đầu, tung lựu đạn làm cháy sáng thuốc bồi cùng tiếng nổ phụ. Địch bên trong bắn chận và ném bê ta. Sức nổ của bê ta ép chặt lòng ngực vài người, Thạch Rong bị nghẹn thở, tản thương gấp về tiểu đoàn.
Image
Dựng cờ ngày 15 tháng 9 năm 1972
(Trích Chiến Sĩ Cộng Hoà số 273 –1-10-1972)
Đêm 23, sau khi pháo binh tác xạ bắn phủ đầu, trung đội 22 vừa lập xong đầu cầu, Lời điều động trung đội tấn công vào mục tiêu là quận Triệu Phong, anh đã đánh bật địch ra khỏi chi khu vào lúc 3 giờ sáng. Lời thấy trong khu nhà xập có nhiều vật dụng linh tinh dường như đây là BCH hay T.O.C của chi khu Triệu Phong.

Lựu đạn cùng bao cát từ cánh B tại chợ Sãi chuyển vào quận. Trên máy PRC 25 cấp trung đội, tiếng nói trực tiếp của Tiểu Đoàn Trưởng TĐ3/TQLC, gởi lời chúc mừng:

_ Kể từ giờ phút này, Chuẩn Úy Lê Đình Lời là “Quận Trưởng Quận Triệu Phong”.

Khoảng 5 giờ sáng địch bắt đầu phản công, súng cối pháo tập trung vào chi khu, hỏa lực bắn dữ dội vào khu vực đầu cầu của trung đội 22, sau đó đồng loạt xung phong vào trung đội 23. Lời đã đánh cận chiến trên đường lui quân về đại đội. Hỏa lực rào cản của trung đội 22 và pháo binh do Nguyên Thảo điều chỉnh hiệu quả , hai trung đội lui về tuyến phòng thủ an toàn.

8 giờ sáng ngày 28 tháng 1 năm 1973, lệnh ngưng bắn có hiệu lực, đại đội vào chi khu gói poncho thi hài của bốn binh sĩ đã hy sinh đem về chợ Sãi, tại đây họ được bọc trong túi nylon rồi chuyển vô Huế..

Giữa năm 1973, Lời, Ngôn được thuyên chuyển về BCH tiểu đoàn, Ngôn Trưởng Ban Chiến Tranh Chánh Trị (B5), Lời thay Tr/úy Hào làm Trưởng Ban An Ninh Tình Báo (B2). Dù trong hoàn cảnh nào, trong lòng người quân nhân Đại Đội 2/ TĐ3 TQLC, Thiếu Úy Lê Đình Lời mãi mãi là người hùng Cổ Thành Quảng Trị và là Quân Trưởng Quận Triệu Phong.

MX Giang Văn Nhân
TranAnhDung
Posts: 297
Joined: Tue Oct 28, 2008 7:43 pm
Contact:

Post by TranAnhDung »

Ngày Quân lực Việt Nam Cộng hòa 19-6-1971, 19-6-1973

Image
Xin click vào hình để xem youtube Ngày Quân Lực VNCH

Ngày Quân Lực VNCH

khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Đại Đội 2 Trinh Sát Nhẩy Dù‏

Image
Trương Văn Út (Mũ Đỏ Út Bạch Lan)
Không biết tại sao nhiều người viết và nhắc tới đơn Đại Đội 2 Trinh Sát Nhẩy Dù (ĐĐ2TSND)? “ Nó” cũng giống như hằng trăm, hằng nghìn đơn vị cấp đại đội khác, cũng đánh giặc, cũng “oánh” lộn, “uýnh” trúng, ba gai, coi Ông Trời bằng cái nắp vung, khiến nhiều lần tôi cũng phải phát khủng, hoá điên vì “Nó”…! Nhẫm tính ra tôi làm Đại Đội Trưởng “cái” đơn vị này gần 6 năm dài chứ chứ ít ỏi gì sao, lớp này ngã xuống, lớp khác bổ sung, đến rồi đi, đi rồi quay trở về, có nhiều "ông Thiên Lôi” quậy tàn canh gió lốc, thần thiên chứng kiến cũng sầu bi lắc đầu ngao ngán lẫn hố hố cười sảng khoái, ma quỷ lỡ độ đường cúng quẩy cô hồn tháng bẩy, linh lạc bay tứ tán muôn phương nhìn thấy cũng buồn khóc lẽ loi “lòi le” một mình…như thế, như vậy và như thị …ha…ha…ha…!!! Nhưng khi xung chiến trận thì có Tổng Lãnh Thiên Thần Micae (Michael) đỡ đầu là “Hộ Pháp” của binh chủng Nhẩy Dù giáng thế cũng chưa chắc đã can gián, phân bua, đình cản mấy “ổng” được…! Nhiều trận xông vào những mục tiêu “cửa tử” chết người, “Quan” chưa kịp chỉ huy điều động thì đã nghe thấy mấy “ông Thiên Lôi” đã đứng trên miệng hầm vạch quần đái xuống với giọng cười ha hả khoái trá, VC đang chong súng từ dưới bắn lên dòn tan, “Thiên Lôi” nhoài mình nhanh nhẹn tránh né tinh ranh như sóc cáo và rút chốt lựu đạn “thẩy lổ” như đánh bi, đánh đáo giỡn mặt tử thần ngổ ngáo, ngịch ngợm như trong thôn xóm những ngày còn thơ dại hồn nhiên… và đau thương tan nát như vỡ đi từng mạch máu co thắt nhói tim khi phải vuốt mắt tiễn đưa bằng hữu và những “đứa em Thiên Lôi” về “vùng 5” nơi cõi mịt mùng mà đời không còn gặp lại nhau:

Ôi…bằng hữu đã lên đường quá vãng
Trận mạc tan tành không một nén hương
Tiễn nhau đi lửa cháy đỏ thôn làng…
Tôi yên lặng cúi đầu như pho tượng

(Tiễn Biệt - mũđỏútbạchlan)

Những ai đã từng chung cam khổ, hiểm nguy trên chiến trường trong quảng đời quân ngũ dài lâu ắt hẳn sẽ đồng cảm với Anh – Em chúng tôi những Sĩ Quan, Hạ Sĩ Quan, Binh Sĩ “thấu nỗi” gia đình Huynh Đệ Chi Binh không phải chỉ là từ ngữ để chỉ “thứ” Tình “nó” bàng bạc như hời hợt mông lung mà lại rất gắn bó, thắt chặc và tình thâm như Huynh Đệ Thủ Túc sống chết hết lòng bảo vệ cho nhau, đôn đốc nhắc nhở kinh nghiệm chiến trường, Sĩ Quan “om” Lính những kinh nghiệm tử sinh qua “bề dầy” trận mạc như những châm ngôn, những qui tắc để giữ thân và chiến thắng trên chiến trường mỗi ngày qua thêm khốc liệt …vì kẻ nội thù Bắc Quân có cùng một giống nòi Việt Nam với chiến đấu tính tinh xảo, kỳ tuyệt …đã được hun đúc kinh qua bao trường thiên chiến cuộc chống cự với giặc Hán phương Bắc để dựng Nước, giữ Nước và mở Nước đến ngày nay…! Nên Ta rõ thấu Địch và Địch cũng tỏ lòng Ta. Nhưng Quân Dân miền Nam khác với “rợ” Bắc Cộng vì chúng ta Thiện, Lành, Hài Hoà và Văn Minh …biết trân quí “cái” Tốt Đẹp từ bản chất con Người, đãi lọc văn hoá của mình, cắt tỉa văn hoá du nhập tự phương xa sao cho hợp với mình, với thời… làm thêm phong phú văn vẽ rồi “thì là” Việt Nam, điển hình như “Người SàiGòn” mà tứ dân địa phương Nam – Trung - Bắc hội tụ, hoà nhập rồi lẫn vào nhau thành “cái” đặc trưng “Dân SàiGòn”, nếp sống SàiGòn, giọng nói SàiGòn…loài chim se sẻ là những “thị dân” chuyên cư trú trên mái nhà trong thành phố cũng có đời sống sinh hoạt cộng hưởng với thị dân thứ thiệt rất Sàigòn, rất bản lĩnh, rất hào phóng, rất “anh hùng mã thượng” và cũng rất lè phè nhậu nhẹt cụng ly chí chát, tân nhạc xen lẩn vọng cổ hoà điệu chẳng phiền hà gì ráo trọi…Nhưng thói tiểu nhân, chơi xấu, cà chớn, chơi mẹ đụ, nịnh trên đạp dưới là không được làm bạn chung mâm, chung bàn “tao dzọng cho mầy thấy mẹ” là “thuật” ngữ ban cho “thằng cà chớn” kèm theo vài cú đá, đạp văng ra đường, nạn nhân sịt máu mũi, phun ra vài cái răng cửa thích đáng biểu đồng tình…Vì vậy cho nên, từ Đại Đội Phó đếnBinh Nhì vừa về đơn vị trình diện là “Quan” quán mục xem “chân cẳng anh hùng” lượng định “Hảo Hớn Lương Sơn” hay “gà mái” để mà “xử thế” an bày trong hàng quân sao cho hợp tính cách hữu dụng và trên hết là thân tình tự Tâm thể hiện Thân cận, Thân “giáo” để làm gương.

Tôi thương mến tất cả “thuộc hạ” thế đứng chỉ huy trong Đại Đội 2 Trinh Sát Nhẩy Dù đơn vị tinh nhuệ, thiện chiến ưu tú của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà và Họ là “thượng thừa” của tôi trong tình nghĩa cao thượng Tử Sinh xương máu trên chiến trường và Họ chính thật là bản thân thủ túc của tôi. Những khi dưỡng quân an bình ngắn hạn tôi vẫn thường “lên lớp” căn dặn “mấy ông Thiên Lôi” như “Tố Nữ Kinh Bửu Giám": “Các anh em, mấy “ông cố nội”, mấy “ông thiên lôi”, mấy tên cà chớn tụi bây, tụi mầy…là Lính của Đại Đội 2 Trinh Sát Nhẩy Dù nổi tiếng trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà khi chiến đấu thì hiên ngang trên chiến trường, nhưng về thành phố phải thể hiện phong cách thanh lịch “con nhà”. Không như khỉ đột về thành… "! Mà “thanh lịch” làm sao chứ ! Họ vừa mới được bốc ra khỏi trận mạc tử địa thì trổ ngay đủ mọi phương cách kỷ xảo, mánh mung là “dù” trốn ngay ra phố mặc cho ăn boot de sault, lãnh phạt...thả giàn không cần bán vé, bị Quân Cảnh hốt, giải giao trả về đơn vị, “Quan” tra vấn, “Lính” trả lời ngâm nga:

Tóc nàng dài nàng cài hoa thiên lý
Tóc em dài Quân Cảnh kí đầu Em...!

“Quan” Tôi không “dằn” được cười bèn thị uy “ngọt”: “ Thôi đi !... đi hớt tóc đi “ông cố nội”…!!! Hết ý !

Tháng 5 năm 1972, Đơn Vị vất vả tả tơi sau một tháng ăn thua đủ với SĐ320 CSBV là một sư đoàn chủ lực thiện chiến thuộc Quân Đoàn 3VC tham gia chiến dịch Bắc Tây Nguyên năm 1972. Sư đoàn 320B gồm các trung đoàn 48, 64 và một trung đoàn bộ đội địa phương của mặt trận B5 tăng cường cho mặt trận Trị Thiên 1972. Các trung đoàn 48 và 64 của Sư đoàn 320 B là các đơn vị chủ lực phòng thủ Cổ Thành Quảng Trị trong suốt 81 ngày đêm từ 6-6-1972 đến 15-9-1972. Đặc biệt là Trung Đoàn 48 với khẩu hiệu: "48 còn, Quảng Trị còn” và Trung Đoàn 48 VC nầy đã bị Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà xoá sổ, tử thi cán binh VC đã tanh bành với đất đá trong Cổ Thành… được kết thúc ngày 18-6-1972 với chiến thắng anh dũng của Quân Lực Miền Nam và ngọn cờ Vàng chiến thắng phất phới ngạo nghễ bay trong gió trên tường thành Quảng Trị. Đơn vị của tôi chỉ được an dưỡng 6 ngày tại hậu cứ, chờ bổ sung quân số và tái trang bị, lại cấm trại 100%...! Nhận lệnh hành quân kế tiếp là “bốc” rồi “thả” vào chiến trường Quảng Trị. Sáng ngày 14-5-1972, sau phiên họp hành quân ở Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn II Nhẩy Dù (BCHLĐIIND) Đại Tá Trần Quốc Lịch nói:

- “ Đại Úy Út ở lại gặp Tôi “!

Ngồi trong văn phòng riêng của Liên Đoàn Trưởng, Tôi hơi lo âu hồi hộp không biết sự việc hung hay kiết, vì cách đây 4 ngày Tôi đã lén lút cho phép tất cả “Quan và Quân” được về thăm nhà 4 ngày và phải trở về đơn vị đúng thời hạn…?! Nếu có lệnh lên đường hành quân lúc này thì Tôi lãnh đủ, vì quân số chỉ còn có năm bảy chục mạng ở trại gia binh mà thôi ! Nhưng ý nghĩ đó chỉ thoáng qua trong đầu rồi tan biến ngay đi, vì Tôi biết chắc chắn rằng Ông sẽ “châm chế” không nỡ khiển trách Tôi và đơn vị vì tính Ông bộc trực, cảm thông với binh sĩ đồng khổ cực, gian nguy ở chiến trường …lại nữa mới vừa hai tuần lễ qua chúng tôi đã vào sinh ra tử cứu Ông và Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn bị địch trùng trùng tứ phía tấn công ở Võ Định và căn cứ 43. Tôi tự hỏi: Misson Imposible chăng ? Có thể lắm ! Ông bước vào, vòng ra sau ghế ngồi của Ông cười cười rồi ra lệnh:

- Anh nghe đây: Đây là khẩu lệnh, Anh không cần biết của ai...khi ra đến Phú Bài...Anh phải làm như thế này...thế này...Anh có gì thắc mắc không ?

Thắc mắc cái gì ? Thi hành trước khiếu nại sau đã thế rồi và Tôi chưa bao giờ nhận một lệnh hành quân nào " Tiếu Ngạo Giang Hồ " như thế này ?!!! Sau này Tôi mới biết đây là chỉ thị riêng của Trung Tướng Dư Quốc Đống (Tư Lệnh Sư Đoàn Nhẩy Dù) qua lời yêu cầu của Thiếu Tướng Ngô Quang Trưởng (Tư Lệnh Quân Đoàn I) . Lệnh hành quân “Đóng Phim” ...trong khi mặt trận Quảng Trị và Huế đang bước vào giai đoạn sinh tử khốc liệt: Sư Đoàn 3Bộ Binh như tan biến nơi nào đó, Sư Đoàn1Bộ Binh đang vất vã hiểm nguy giữ từng ngọn đồi trên dãy Trường Sơn phía Tây Huế cùng với Liên Đoàn I Biệt Động Quân, Sư Đoàn Thuỷ Quân Lục Chiến đã rút về án ngữ phòng tuyến phía Nam sông Mỹ Chánh, Lữ Đoàn I Nhẩy Dù và Lữ Đoàn III Nhẩy Dù đang hỗn chiến với Bắc Quân VC ở An Lộc, Lữ Đoàn II Nhẩy Dù đã tử chiến với Bắc Quân ở mặt trận Tam Biên giờ như mãnh hổ thấm thương què quặt đang “gom bi” chờ phục hồi sinh lực ...bây giờ còn lại đơn vị Tôi “anh hùng xông tứ phương” nơi nào cực hiểm nguy như chỉ mành treo chuông, tử thần Bắc Quân lởn vởn cường bạo tấn công, vây hãm chờ đoạt hồn Quân Ta …thì đơn vị Đại Đội 2 Trinh Sát Nhẩy Dù và đơn vị 81 Biệt Cách Dù được điều động “bốc” và “thả” tới nơi để tử chiến giải nguy cho Quân Bạn…nay “Đại Đội Chiến” lại được lệnh đi " Đóng Phim " thì quả là tiếu lâm khôi hài không chỗ nào “chê” được …!!! Mà là đóng phim thật mới “tuyệt” làm sao ! Qua những thước phim nhựa của Trung Tâm Điện Ảnh Quân Đội nầy đã chứng tỏ ĐĐTS2ND của Tôi thật "thanh lịch” trên đường phố Huế vào mùa Hè năm 1972 dường bao…?!!! Đây những “scene” và “casting” tài tử là “Quan và Quân” ĐĐ2TSND đóng phim “đánh đấm” và “dỗ an” dân Huế rất ư là tận tình hết ý như ri:

Ngày 15 tháng 5 năm 1972, …Khi phi cơ vừa thả ĐĐ2TSND xuống phi trường Phú Bài, Tôi gọi tất cả 4 Sĩ Quan Trung Đội Trưởng, 6 Sĩ Quan Toán Trưởng, Thường Vụ, Sĩ Quan tiền trạm họp bỏ túi tại chỗ, mỗi người đã có sẵn bản đồ hành quân trên tay được phân phối khi còn trong C130 trên đường bay ra xứ Huế. Tôi bắt đầu ra lệnh “Hành Quân Đóng Phim”:

- Các Anh cũng biết, chúng ta là đơn vị Nhẩy Dù đầu tiên đến Huế và sẽ vào Quảng Trị từ khi Quảng Trị đã bị mất vào tay Cộng Quân…! Bây giờ thì hãy ghi nhớ những khẩu lệnh của Tôi, nếu chỉ một hành động sơ xuất nào thì các Anh phải trực tiếp chịu trách nhiệm...! Rõ chưa ? Thôi,… tất cả đã thông suốt, cứ thế mà thi hành, nhớ luôn luôn trên máy…!

10 giờ 30 phút sáng, đoàn xe 6 chiếc GMC lăn bánh chạy rời khỏi phi trường với chiếc jeep có huy hiệu con Ó Nhẩy Dù dẫn đầu. Theo lệnh, tất cả quân nhân khi lên xe, tháo ba lô để xuống sàn xe, thay mũ sắt bằng mũ đỏ, chỉ có giây ba chạc và súng cá nhân, không được ngồi mà phải đứng quay mặt ra ngoài thành xe trình diễn khí thế Bataillon De Commandos vào “đại lễ” dẹp trừ bạo loạn và an dân…!!!

Tôi dẫn đầu đoàn xe, chạy thật chậm, khoảng chừng được vài cây số cho dừng lại trên Quốc Lộ I...Ngược đường trước mặt là đoàn người chạy loạn, hằng trăm, hằng nhiều ngàn nam phụ lão ấu, đàn ông, đàn bà, con nít tay gồng, vai gánh thân nhân, đồ vật với xe lam, xe bò, xe đò, xe đạp, xe máy chất đầy bao bị tất tả đang hướng về phí Nam, Đại Lộc, Lăng Cô, Đèo Hải Vân…! “Tài tử” ĐĐTS2ND bắt đầu đóng phim: họ nhẩy xuống xe, tận tình, tận lực phụ giúp đẩy những chiếc xe do người kéo cực nhọc nặng nề, bồng mấy đứa bé mà bà mẹ đang cỏng, tay bồng tay dắt dăm ba đứa bé con, mấy “ông Thiên Lôi” nhanh nhẩu móc trong giây ba chạc những hộp trái cây, thịt ba lát, thuốc lá cà phê trong khẩu phần Ration C phân phát cho mọi người hể hả rất ư là chí tình Quân Dân như cá với nước và “Phim” đã trở thành “Thực” trước tình huống đùm bọc, chở che đồng bào hoạn nạn trong chiến cuộc…! Thật sự cảm động đã có nhiều giọt lệ ứa trên khoé mắt đỏ cay vì thiếu ngủ không ngăn được chảy dài trên làn da mặt đen đủi rám nắng dạn dầy chiến trường của mấy “ông Thiên Lôi” và đồng bào đồng cảm…Ôi có hạt kim cương nào sánh bằng những giọt nước mắt thấm đượm ân tình trong cơn “tao ngộ” hoạn nạn nầy chứ…!

- Các Ôn là Lính con Ó hỉ, bộ đội Cộng Hoà hỉ…? Tụi tui từ Đông Hà, Ái Tử, Quảng Trị chạy vào Huế cả tháng nay...khổ quá phải chạy tiếp vào Lăng Cô kiếm thóc, kiếm cá mắm mà ăn đói quá…! Bà con ơi...! Bà con ơi...Lính Dù đây nè...Lính Dù trở ra Quảng Trị nì...!!!

Chúng Tôi còn nhiều “pha” đóng phim và có nhiều trường hợp, trạng huống như thật lẫn lộn chẳng biết đâu là thực hư rất “truyền cảm” và cũng rất nực cười khoái trá tạm quên đi mai đây chúng tôi sẽ phải xông vào nơi gió cát với súng nổ liên thanh và đạn bay xé rách không gian, không biết ai còn ai mất trong cuộc tử sinh…?! Chúng tôi và đoàn người chạy loạn tiếp tục xuôi ngược cuộc hành trình lên đường vào ra xứ Huế…bất giác tôi tự hỏi những ngày tháng kế tiếp rồi họ sẽ ra sao và về đâu ? Tôi làm sao biết được khi mà thành phố Huế trước mặt đang trong tình trạng hỗn loạn, tang tóc thê lương…! Đoàn xe dừng lại phía Bắc cầu Tràng Tiền, Trung Đội1Trinh Sát Nhẩy Dù (TĐ1TSND) phụ trách khu Quốc Học Đồng Khánh, Trung Đội 2Trinh Sát Nhẩy Dù (TĐ2TSND) trách nhiệm khu Đài Phát Thanh, Đại Học Luật Khoa, Văn Khoa, Trung Đội 3Trinh Sát Nhẩy Dù (TĐ3TSND) đi dọc xuống Vĩ Dạ…ba lô mũ sắt để lại trên xe, súng cầm tay, giây ba chạc,mũ đỏ tinh anh “hành quân dạo phố” với phương châm ghi nhớ nằm lòng “phải thanh lịch” (lời của đàn anh Mũ Đỏ Bác Sĩ Trần Văn Tính), phải tươi cười nhả nhặn vẩy tay, vẩy tay phe phẩy chào hỏi với mọi người trên đường phố như thân thương tà áo tím ngày thanh bình chưa có bóng giặc “răng hô mả” tấu từ núi rừng kéo về chặt đầu chôn sống trong những hố hào lấp cạn…! Tôi chợt nhận ra là mình như quen đã thuộc với Huế qua những tác phẩm văn chương tả về Huế và nỗi niềm của bạn thân kể chuyện tình của Anh khi đóng quân ở Huế trước kia rất vui, rất tình và cũng rất ngổ ngáo dễ thương, lính ồn ào trêu ghẹo sổ sàng không “thanh lịch” lại nữa dù ở đâu trên đất nước Việt Nam cũng là quen thuộc trú xứ biết bao tình vì là Quê Hương mà:

“Núi Ngự Bình không “chim” buồn xao xác…!
Đò Sông Hương vắng khách đĩ kêu trời”…!

Và hôm nay ngồi đây hồi tưởng lại mối tình ray rức với người “Em xứ Huế” chưa nguôi: “Dị ghê hỉ…” ! …và vẫn để yên bàn tay “En” lùa vào ngực với gò má ửng hồng im lặng đê mê…! Cái dịu dàng lãng mạn như tiết Xuân thoảng nhẹ qua cành chồi mai non buổi sớm, nhưng nồng nàn âm ỉ dễ bốc cháy bùng ngọn lửa trong lò nấu bánh tét,bánh nậm …giao thừa của nửa đêm về sáng…Huế đấy, “Huế của Tôi”, Huế với thành nội, hồ Tĩnh Tâm cổ kính với những tà áo tím buồn muôn thưở, buồn não thiên thu những ngày mưa tầm tả, mưa rã rít dai dẳng như không muốn tạnh mang theo hơi lạnh hoang vu của cây cỏ gẩy đổ làm tan tác Kim Long, làm thêm cho mười hai nhịp cầu Trường Tiền như muốn run rẩy và cô quạnh chi lạ …hay chính tâm hồn tôi đang nỗi cảm hàn vì chiều mưa qua phố Huế…Ôi …Cầu Trường Tiền dài mười hai nhịp, lỡ thương nhau rồi không biết duyên kịếp về mô…!

Cầu Trường Tiền dài mười hai nhịp…
Bến Vân Lâu vắng bóng người câu !
Nước Hương Giang trôi dạt nặng hồn sầu !
Đò Gia Hội tiếng đàn ca lặng vắng !
Trường Đồng Khánh đâu rồi tà áo trắng ?
Bạch Hổ Cầu cũng thiếu nắng tà huy,
Bài thơ Kim Long trong chiếc nón kiêu kỳ,
Chùa Thiên Mụ giục sáng trời cũng hết,
Gà Thọ Xương bặt tiếng gáy kêu sương,
Hồ Tịnh Tâm mang nặng cảnh đoạn trường !
Chùa Diệu Đế, mã Âm Hồn vắng lạnh,
Dốc Nam Giao, Chùa Từ Đàm hiu quạnh !
Biết bao giờ mới có sự đổi thay…?
Nắng mới lên sưởi ấm những hồn gầy,
Cho Dân Tộc chuyển vươn mình sống dậy.

(Phù Vân Am)

Tiếp tục trên đường “tiến quân” bắt gặp những quân nhân ăn mặc xốc xếch, chận lại xét hỏi giấy tờ, không giấy tờ, lịch sự mời lên xe và canh giữ tại chỗ để giao lại Quân Cảnh sau đó, cũng không quên mời họ một điếu Pallmall hay Lucky, một gói cà phê Instant từ Ration C...rất ư là “thanh lịch”…!!! Trung Đội 4Trinh Sát Nhẩy Dù (TĐ4TSND), Trung Đội Viễn Thám (TĐVT) và Bộ Chỉ Huy Đại Đội (BCHĐĐ) đặc trách chợ Đông Ba, Thành Nội, đường Trần Hưng Đạo từ cầu Bạch Hổ xuống tới cầu Đông Ba và những màn trình diễn thật ngoạn mục:

- Út Bạch Lan...207 ? Đây 207 (là ám hiệu của Đại Tá Trần Quốc Lịch). Tới đâu rồi ?

- Trình 207 mọi việc diễn tiến như đã hoạch định...Nghe có tiếng âm thoại khác là lạ trong máy...?

- Út Bạch Lan ... ? Đây Thái Xuân…(Thái Xuân là Thiếu Úy Thái Trung Đội Trưởng Trung Đội 2 Quân Cảnh 204 của Sư Đoàn Nhẩy Dù).

- Tôi nghe.

- Đích Thân đang ở đâu ?

- Đầu cầu Trường Tiền.

- Đích thân chờ Tôi, Tôi sẽ đến đó ngay.

Năm phút sau, chiếc xe Jeep mui trần QC204 của SĐND trờ tới, ném vội vả lên GMC của Trung Đội Viễn Thám hơn hai chục bộ quần áo bộ binh bẩn thỉu rách rưới, hơn chục đôi dép không chiếc nào giống chiếc nào, sáu toán viễn thám thay đồ “trang phục” chớp nhóang xong phóng vội xuống xe biến mất trong lòng đường phố… Thượng Sĩ Nhất Nguyễn Tá thường vụ Đại Đội, Anh nguyên là Võ Sư Võ Bình Định, mỗi lần mấy “ông thần” ba gai phạm kỷ luật trình diện Thượng Sĩ Tá thường vụ thì cũng thường có cái màn “khúc nôi” khóc lóc không thể nín cười:

Thượng Sĩ nhìn Em Thượng Sĩ cười

Em nhìn Thượng Sĩ lệ Em rơi…!

Vợ Em mới đẻ ngày hôm trước

Trể phép vì Em rước vợ dzìa "

Đến 12 giờ trưa trong khi tất cả đơn vị đang thi hành nhiệm vụ. Tôi vào nhà lồng chợ Đông Ba, tìm sạp cơm tôm chua thịt ba rọi luộc, rau sống với trái vã để ăn trưa và mang theo ba máy PRC25 k êu rè rè bên cạnh, một máy hàng dọc với các Trung Đội, một máy hàng ngang với Thiếu Úy Thái QC, một máy trực tiếp với Lữ Đoàn… Một cô bé mang rỗ rau và tô cơm trắng đặt lên bàn ngập ngừng hỏi :

- Các Ôn là Lính Nhẩy Dù hả ? ...Ừ ! Cô ta bổng la lên: “ Mệ ơi...Mệ ơi Lính Dù nì, Lính Dù ra “Huệ” rồi nì...!!!

Một c ảm xúc không thể diễn tả nổi lâng lâng dâng ngập trong hồn tôi khi nhìn cô bé mang đĩa thịt luộc trở ra bàn với gương mặt rạng rở vui mừng cười chúm chím và nói mời:

- Ăn đi mấy Anh, hết Em mang ra nữa...!!!

Tết Mậu Thân 1968, lần đầu Tôi ra Huế. Cố Đô được phủ cả một giãi khăn sô ngút ngàn nước mắt, thành quách phố phường đỗ nát với những đống gạch vụn điêu tàn vẫn còn vương mùi thuốc súng và “cái” âm khí rờn rợn cô hồn tang tóc u uất thê lương vướng vít oan khiên trong những cơn gió chợt thổi hơi se lạnh thoáng qua…! Ta hãy lắng nghe trong âm thanh im lặngquá vãng không còn hiện hữu trong thế gian nầy! Nhưng những dòng chữ huyết lệ của Cô Nguyễn Thị Thái Hoà là một điển hình nạn nhân xứ Huế viết trải phơi bày, tố cáo những kẻ giết người với căn tính ác độc thù hận đằng đằng sát khí của anh - em Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Thị Đoan Trinh, Tôn Thất Dương Tiềm, Lê Văn Hảo trong cuộc tàn sát bè bạn sinh trưởng lớn lên cùng trong “non nước Thần Kinh” và “thương về Cố Đô” yêu dấu:

“Trên đoạn đường từ Văn Khoa ngang qua trường Thiên Hựu, cầu Kho Rèn, lên tới nhà nội chúng tôi thấy nhiều người bị trói dính chùm vào với nhau đi trước mấy người mặc đồ đen đi dép râu, mang súng.

Súng nổ tư bề mà sao không thấy bóng dáng lính mình ở đâu cả. Chỉ thấy lính bộ dội Bắc Việt khắp nơi.

Trên đường Hàm Nghi, Nguyễn Thị Đoan Trinh chạy ngang nhà nào mà y thị gật đầu là y như rằng trong nhà đó có người bị bắt đem ra, người thì bị bắn tại trước nhà, người thì bị dắt đi, mấy ông bà cụ trong nhà chạy theo nằm lăn ra đường khóc la thảm thiết… Bộ đội ngoài Bắc thì cứ chửi thề luôn miệng:”… đéo mẹ câm mồm, ông bắn bỏ mẹ bây giờ…”!

Chúng tôi đem Hải vào nhà, đặt anh trên divan. Ông nội lấy mền đắp lên xác Hải.

Hai người anh tôi đang trốn trên trần nhà đòi xuống nhìn mặt Hải. Ông nội không cho. Anh Lộc giở nắp trần nhà sát góc tường, thò đầu xuống vừa khóc vừa nói:” Ti, đẩy cái ghế đẩu qua cho anh…”. Tôi nghe lời ra đằng sau bếp lấy cái ghế đẩu mang lên để ngay góc phòng cho anh Lộc nhẩy xuống. Ông nội ngó lên, quơ quơ hai tay, giọng ông lạc đi:”… đừng xuống, ông nội lạy con, đừng xuống, ở trên đó đi mà…”! Anh Kính đang ở trên đó, cũng đang khóc. Lộc chưa kịp nhẩy xuống thì nghe tiếng nói, tiếng chân người ngoài sân. Anh vội vàng đóng miếng ván lại thì bọn Hoàng Phủ Ngọc Phan cũng vừa vào đến. Thấy Phan bước vô, mặt Văn biến sắc, anh lắp bắp nói với ông nội:” Anh Phan cho tụi con đem xác về đó ông ơi”! Ông nội đứng im không nói. Hai mắt cú vọ của nó ngó ông nội hỏi:”…thằng Lộc, thằng Kính ở mô”? Ông nội nói:” Tui không biết”! Phan gằn giọng:” Ông thiệt không biết tụi hắn ở mô ? Tụi hắn năm mô cũng về ăn tết ở đây mà ông không biết răng được”? Ông nội nói:” ba ngày tư ngày tết, ăn xong thì tụi hắn đi chơi, đi thăm bà con họ hàng chứ chẳng lẻ ở nhà hoài răng? Chừ thì tui biêt tụi hắn ở nhà mô mà chỉ…”!

Mắt Phan ngó láo liên khắp nơi, chợt thấy cái ghế đẩu ngay góc phòng, nó cười khan một tiếng.

Tôi đứng núp sau lưng ông nội, Hoàng Phủ Ngọc Phan hung hăng bước tới, xô ông nội qua một bên, nó nắm lấy tóc tôi kéo tôi ra về phía hắn. Ngó lên trần nhà la lớn:” Lộc, Kính, Hiệp, tụi mày không xuống tau bắn con Ti”!

Nó vừa nói, vừa xoáy mái tóc dài của tôi trong tay, nó đẩy tới, đẩy lui. Tôi đau điếng, tôi sợ, tôi run lẩy bẩy, nước mắt ứa ra nhưng không dám la thành tiếng. Ông nội tôi chấp tay lạy nó như tế sao:” Tui lạy anh tha cháu tui, con gái con lứa, hắn biết chi mô”! Thằng Phan càng la lớn:” tau biết tụi mi trên đó, có xuống không thì nói, tau bắn con Ti”. Phan xô tôi té xuống, lấy chân đạp lên lưng, chĩa mũi súng lên đầu tôi hô:” một, hai, ba…”. Lập tức anh Lộc mở nắp trần nhà thò đầu xuống la to:” đừng, đừng bắn em tau, tau xuống, để tau xuống…”!

Ông nội tôi chạy lại giữ cái ghế cho anh bước xuống, hai chân ông run, ông té sấp, đang lúc anh Lộc tìm cách tuột xuống,thò hai chân xuống trước, hai tay còn vịn trần nhà, khi đôi chân vừa chạm chiếc ghế đẩu thì Phan đã nỗ súng, đạn trúng ngay chính giữa cổ, máu phọt ra, anh Lộc dẫy dụa mấy cái rồi nằm im.

Mặc ông nội tôi la hét thất thanh, Phan chĩa súng bắn lên trần nhà, nghe tiếng anh Kính lăn tới đâu, nó bắn tới đó, bắn nát trần nhà, hết đạn nó dành lấy cây súng của một thằng khác bắn tiếp, cho tới khi anh Kính tôi rớt xuống theo mấy miếng ván. Anh Văn ngồi bệt xuống đất, nhắm mắt, bịt tai, run lẩy bẩy, ngồi kề bên cạnh anh người tôi tê cóng, đái ỉa ra cả quần, ông nội tôi nhào tới ôm anh Kính, hai mắt trợn trừng, anh đang thều thào những lời sau cùng, ông khóc, ông chửi rủa thằng Phan, nó say máu, bắn luôn ông nội tôi, Ông tôi đổ xuống bên cạnh anh Kính…!

Kính Thưa Quý Vị,

Đó là những cái chết oan khiên của những người ruột thịt thân yêu mà tôi phải chứng kiến tận mắt với muôn ngàn đau dớn. Trong bà con thân tộc nội-ngoại hai bên của tôi có rất nhiều người bị bắt đi ở nhà thờ Phủ Cam, một số bị bắt ở nhà thờ dòng Chúa Cứu Thế. Số người bị chôn sống, mất tích lên tới 70 người. Tất cả đều là học sinh, sinh viên, thường dân, nông dân, buôn bán ở chợ An Cựu.(ngưng trích)

Sau Tết Mậu Thân, những hầm mộ chôn vùi nạn nhân xứ Huế bị quân Việt Cộng chôn sống đã được thân nhân đào bới truy tìm, tổng kết đã có hơn 5747 bộ hài cốt được cải táng… và mãi cho đến ngày nay và mai sau nữa cứ mỗi lần Đông qua Xuân đến người người vui Xuân đón Tết thì ở Huế nhà nhà cũng cúng giỗ người thân yêu đã bị Việt Cộng giết trong Tết Mậu Thân 1968…! Đây là chiến thắng “đáng” được Việt Cộng tự hào, cổ võ và mồm loa mép giãi rêu rao là thành quả giải phóng miền Nam ư…?! Bây giờ là mùa Hè 1972, Tôi trở lại Huế lần này, sau bốn năm, dù rằng Huế đã một phần nào phục hồi sinh lực, vết hằn đớn đau Tết Mậu Thân có đôi chút nguôi ngoai…Nhưng hôm nay nỗi phập phòng lo sợ khi hằng vạn vạn dân quân từ Quảng Trị chạy về tá túc tị nạn làm thành phố thêm hỗn loạn vô trật tự dễ thường tan vỡ thật không lường…! Nên ĐĐ2TSND được chọn để “thế Thiên hành Đạo” khử loạn - an dân theo kế sách “chiến tranh chính trị” của Thượng Cấp đề xướng ban “khẩu thị” và mấy “ông Thiên Lôi” thi hành rất hữu sự…!!!.

Bịch...bịch...bịch...Tôi liếc ra ngoài thấy Thượng Sĩ Tá đang biểu diễn Võ Bình Định, đá song phi, đấm vào ngực, pha thêm chút Judo vật ngã mấy tên mặc quần áo xốc xếch, không mũ, không giày, đang lang thang định phá rối trong chợ… đám lính Nhẩy Dù lao tới nắm cổ áo lôi sềnh xệch quẳng lên hai chiếc GMC đang đậu trước cửa chợ Đông Ba. Ở phía bờ sông Hương, Trung úy Thông TĐT/VT với mũ đỏ đang xét giấy tờ hai tên tóc dài mặt nghênh nghênh ngổ ngáo:

- ĐM… mấy ông làm gì xét giấy tờ của tôi ?

Bịch...bịch...bịch… hai tên ngã lộn nhào xuống đất, lại ăn thêm một báng súng vào bụng, một “yên hùng” Nhẩy D ù rút dây nịt trói tay bẻ ngoặc phía sau đẩy lên xe. Ở nơi kh ác một tên mặc quân phục rách rưới, nhưng mang đôi giày Sault của Nhẩy Dù bước vào quán ăn mắm tôm chua của Bà Bảy Xíu :

- Đói quá có cái gì cho Tôi ăn không ? Cô bé trả lời:

- Dạ...dạ chỉ có cơm với mắm tôm chua thôi ạ !..

- Được mang ra đây!

Hắn ngốn tọng vào mồm như kẻ chết đói lâu ngày rồi xô ghế nghênh ngang bước ra khỏi quán không trả tiền, không một lời nói…! Thì bổng nghe bịch...bịch...bịch...Trung sĩ Minh đang giữ máy truyền tin của Tôi với cái máy PRC25 trên vai, trở báng súng M18 giọng vào bụng tên lính ăn quịt, nghe tiếng “hự” hắn ôm bụng lăn lộn trên mặt đất sau đó bị đẩy lên xe. Trung úy Mỹ đang ở khu Quốc Học Đồng Khánh gọi:

- Đích Thân , Tôi cần vài ba thằng đào ngũ.

- Chờ.

Chiếc xe jeep chở bốn tên đã bị bắt phóng trở qua cầu Tràng Tiền, thả xuống trước dinh Tỉnh Trưởng Thừa Thiên” thi hành nhiệm vụ”. Chờ cho đến 4 giờ tan học, nam sinh Quốc Học, nữ sinh Đồng Khánh túa ra đường như bầy ong vỡ tổ, “bốn tên lính đào ngũ” bắt đầu nham nhở chọc ghẹo, một màn biểu diễn “Anh Hùng Nhẩy Dù cứu Mỹ Nhân” thi thố Taekwondo tung Dapchagi vào ngực đối phương phường “Bùi Kiệm” phải gió “ép Liễu ghẹo Hoa” không “thanh lịch” giữa chốn “học đường” phồn hoa còn nếp “Văn Miếu” ơn Thầy “Quốc Tử Giám” lục sáu, tam ba, gia nhà, quốc nước…!!! Bịch…bịch…bịch…hự…hự…hự “bọn du đảng” bốn tên lính đào ngũ nham nhở bốc hốt sờ mông, bóp vú nữ sinh đã bị trừng trị hạ đo đất ngoạn mục và bị xúc lên xe Quân Cảnh chở đi …”hoạt cảnh” giữa Lính Dù và bốn tên đào ngũ diễn ra trước hằng trăm cặp mắt tò mò thích thú thán phục của đám học trò nam thanh, nữ tú nghịch ngợm kháo nhau như họp chợ...!!! Từ thành Nội, TĐ4TSND cũng báo cáo tình hình “chiến sự” tương tự…!!! Tôi gọi TĐ2TSND và TĐ3TSND di chuyển ngược về cầu Tràng Tiền, cùng TĐ1TSND hòa nhập vào dòng áo dài nữ sinh Đồng Khánh các “tiểu thơ” nhởn nha qua cầu, yểu điệu thục nữ biến vào phố chợ săn lùng hàng quán bởi thói quen ăn quà vặt, bên ni hàng chè hạt sen long nhãn, bên nớ cơm hến, bún bò, bên tê bánh xèo, bánh khọt…mỹ nhân lượn qua hàng quán, “anh hùng” theo bén gót chực chờ cơ hội “kiến nghĩa bất vi vô dũng dã” và lẫm bẩm chữi thề :” Mẹ …mấy cái thằng trời đánh sao không mần đại cho rồi…” và vẫn với nụ cười cùng cái gật đầu chào hỏi “thanh lịch” ông đi qua bà đi lại cám ơn, cám ơn và không có chi…rất ư là Nhẩy Dù “thanh lịch”…!!!

- Út Bạch Lan...đây Thái Xuân (Quân Cảnh204ND) đang phối hợp với Quân Cảnh Tiểu Khu Thừa Thiên)

-Tôi nghe đây.

- Đã quá đích thân, Tôi không ngờ Trinh Sát Dù “đóng phim” tuyệt cú mèo !

Đến 6:00 giờ chiều tập trung tất cả trở lại tư thế và vị trí cũ, phân loại: đào ngũ thứ thiệt giao cho Quân Cảnh Tiểu Khu Thừa Thiên, đào ngũ giả kín đáo thay lại quân phục Nhẩy Dù, tiếng cười nói vang vang trên GMC:

- “Lính mình uýnh lính ta, bị bắt rồi thả ra, thả ra đi uýnh tiếp, uýnh tiếp rồi bị bắt, bị bắt rồi thả ra...quá đã...quá đã…”!!!

Lại thêm có tiếng cải vã than phiền như gây lộn:

- “ …con c… mày...mày đá đít tao đau thấy mẹ…tao đã lộn hai vòng rồi, mắc mớ gì mầy còn dọng thêm một báng súng vào bụng tao...”?

Cũng có thêm tiếng cười khoái trá:

- “ Mẹ... không có cái gì đã cho bằng hồi nãy tao đm ông Thông, Ổng chỉ có đá đít tao mà còn tức cười nữa...”!!!

Tôi lại nghe tiếng quát của Trung Úy Thông Trung Đội Trưởng Viễn Thám:

- “ Im đi...đây nè mấy chục cái địa chỉ và tên họ của mấy cô học sinh Trung Học Thành Nội, chia nhau ngày mai viết thư cho họ, nhớ đừng viết tục tỉu nha mấy ông cố nội…”!

Đêm đó, đêm 15-5-1972 chúng tôi tạm đóng quân ở cầu An Hòa, đường ra Quảng Trị. Không ngũ được, tôi bước xuống võng, xỏ chân vào giày Sault, mang giây ba chạc, rút cái đèn pin bằng cây bút cấm trong túi với cái mũ sắt chụp lên đầu. Sơn Nhung, Hạ Sĩ Nhất người Miên bên cạnh Tôi như hình với bóng lòm còm bò dậy, mò trong Balô tìm C4, bật diêm quẹt, chỉ hai phút sau tôi có ly cà phê nóng hổi trên tay. Trong những giây phút này, tôi không có một thoáng suy nghĩ nào về cha mẹ vợ con gia đình mà tôi chỉ nghĩ đến những người Lính Trinh Sát Nhẩy Dù thân thương như thể tay chân của chính mình, họ đã ở bên cạnh cuộc đời và đồng chia cộng gian khổ hiểm nguy 24 giờ ngày đêm đối diện với thần chết không biết đâu mà lường, nào ai biết ngày mai sẽ ra sao trên đường chiến chinh máu lửa…?! Chiều nay họ còn đùa với nhau: “ lính mình uýnh lính ta, tao uýnh hộc máu mầy, cho mày tởn tới già, đừng la cà phá phách ở đây nữa… “, rồi ngày mai, ngày mốt, hay những ngày sau nữa, họ cùng tôi lao vào lửa đạn với địch thù thứ thiệt, sống chết chỉ cách nhau như sợi tóc có vài giây đồng hồ. Tôi với Sơn Nhung đi một vòng qua các lều poncho dã chiến, trở về chỗ của mình thì trời vừa gần sáng. Dân chúng ở khu vực chung quanh đã thức dậy, các bếp lò cũng nhóm lửa. Tôi vẫn ngồi đó với ly cà phê đã nguội chờ trời sáng hẳn. Thiếu Úy Hiền Toán Trưởng Viễn Thám, vừa đi vừa cài nút áo đến gặp tôi và nói :

- Đại Úy có mấy người dân muốn gặp ...!!!

Tôi đi ra niềm nở đón tiếp người dân xứ Huế thăm đơn vị Nhẩy Dù. “Phái đoàn” gồm có: một người đàn ông trung niên và hai cụ bà với gánh gồng trên vai thân thiện:

- Thưa Đại Úy,...dân ở đây gọi tui là Bảy Sói, trước đây tui là Cảnh Sát, Tết Mậu Thân gia đình tui bị VC giết rụi, tui thoát chết được vì lúc đó tui không có ở nhà...đây là gánh xôi, đây là gánh bánh bột lọc với nồi chè Vĩ Dạ của bà con nấu đêm qua khi nghe nói Nhẩy Dù ra Huế...xin Đại Úy nhận cho Anh Em ăn lấy thảo…tuy chỉ là thức ăn đơn sơ gia bản…Nhưng là tấm lòng của dân Huế thương mến Lính Nhẩy Dù đã xã thân chiến đấu bảo vệ Huế trong những ngày dầu sôi lửa bỏng...! Có thêm tiếng phụ nữ phụ hoạ: “ …răng mà thương như núm ruột, dân “Huệ” tui thương Lính Nhẩy Dù “đực” ruột…”En” ăn bánh, ăn chè đậu “vạn” hỉ…ngọt thanh nớ…”!

Tôi quá xúc động và bổng dung “tịt ngòi” bèn ú ớ không thưa thốt được một lời “huê mỹ” chữ nghĩa ba hoa thường ngày “phú lĩnh” mất tiêu …để đáp lễ cám ơn tấm thịnh tình cho ra vẻ lễ nghĩa cung cách hoặc thể hiện tình Quân – Dân, “hậu phương và tuyền tuyến” bèn phổng đá vả lã âm thanh nghẹn trong cổ họng, nhưng run run tay bắt mặt mừng rất ư là cảm động…thật là “cảm động”…!!! Thuở nhỏ mài quần “xà lỏn” trên ghế trường làng cũng có đọc qua sách vở và tiểu thuyết về lịch sử sự hình thành Cố Đô Huế của Vua Gia Long và những chuyện tình lãng mạn ở đất Thần Kinh, cũng tìm hiểu chút…chút ít phong tục tập quán Hoàng Triều nhà Nguyễn cùng những nét đặc thù của dân Huế: Phụ nữ Huế dù buôn gánh bán bưng nhưng lúc nào cũng mặc áo dài giữ phong cách, cô gái Huế dù con nhà nghèo hay phú quý cũng vẫn một vành nón Huệ nghiêng nghiêng với tà áo tím và dăm bài thơ trữ tình lãng mạn, “Huệ” thơ mộng qua mái tóc đen tuyền bay bay sợi tóc mai qua cầu huyền ảo với dòng sông Hương uốn khúc biết đâu là mái tóc, đâu là sông Hương, “Huệ” ướt át hữu tình và u uẩn như đáy mắt sâu thăm thẳm cả một trời chiều mưa buồn rười rượi mà ánh điện đường vàng leo lét không soi thấu nỗi lòng thổn thức của bài thơ Ngõ Ý: Tôi nuốn nói yêu người, ngày mai qua Thành Nội…ngày mai qua Thành Nội…và đặc biệt nhìn từ phía sau mông cô gái Huế tròn lẳng không trĩu trệ rất ư là chiêu tình quân tử “nhất dạ lục giao nam tắc tử”…!!! “Huệ” với những lễ nghi triều chính khuôn mẫu với Ông Hoàng, Bà Chúa và “Họ” của dòng Tôn Thất dài lê thê năm chữ, sáu, bẩy từ …xướng danh nghe lạ tai và thích thú …!!! “Huệ” cũng vẫn là “quê hương tôi nghèo lắm ai ơi, mùa đông thiếu áo mùa hè thiếu ăn và tiếng hò Mái Đẩy tâm sự của Cụ Thúc Địch nghe buồn não nuột từ đầu nguồn con sông kéo dài lê thê như không muốn rơi rớt ở cuối sông khiến chạnh lòng “nược non”…! Tuy nghèo ăn thiếu mặc nhưng dân “Huệ” không thiếu tình người và phú quí ân nghĩa…! Tôi ân cần:

- Cụ cho cháu xin nắm xôi ! Xôi còn nóng bốc khói thơm phức hương nếp một, buổi sáng lạnh mù sương mà có nắm xôi của cụ lúc này chẳng thua gì buổi “ngự thiện” của Vua Minh Mạng trong Nội Cung…! Tôi nói thật chí tình mà nghe sao cứ như “hài” kịch…quả thật vụng về không phải lúc !

Qua hình ảnh ân cần của Ông Bảy Sói và hai cụ bà, tôi chợt nghĩ đến hình ảnh đau thương của dân Huế …! Đâu phải chỉ với Tết Mậu Thân 1968, Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 hiện tại…mà tự xa xưa người dân xứ Huế đã phải nhận chịu rất nhiều tai ương oan khiên như thời:

" Nhất giang lưỡng quốc bất khả Thuyết,

Tứ nguyệt tam Vương bất khả Tường..."

Hay Vua Duy Tân hỏi Trần Cao Vân:

· Tay dơ lấy nước rửa, Nước dơ lấy gì để rửa ?

Và quả thật là khí thiêng sông núi thiên niên vận hành khuôn đúc hình hài dòng giống Việt tinh anh nên Khẩu Khí của một Vị Vua tuổi đời còn thơ dại mà đã Chính Khí Hạo Nhiên bàng bạc khắp đất trời đã trẩm triệu phán:

· Nước dơ lấy máu rửa.

Tôi bảo Thượng Sĩ Tá gọi các Trung Đội lên nhận xôi chè và bánh bột lọc phân phối cho đều đơn vị.

Trên đường vào Quảng Trị cuối tháng 5-1972, Lữ Đoàn II Nhẩy Dù (LĐIIND) gồm có Tiểu Đoàn 5 Nhẩy Dù (TĐ5ND), Tiểu Đoàn 7 Nhẩy Dù (TĐ7ND), Tiểu Đoàn 11Nhẩy Dù (TĐ11ND), Tiểu Đoàn1Pháo Binh (TĐ1PB) và Trinh Sát 2Nhẩy Dù (TS2ND) là mũi dùi chính vượt sông Mỹ Chánh theo trục từ Nam lên Bắc tiến vào Quảng Trị, trong khi Sư Đoàn Thuỷ Quân Lục Chiến đã dạt về phía Đông tiến lên Cửa Việt. TS2ND của tôi được một chi đoàn chiến xa của Thiết Đoàn 17 Kỵ Binh cỏng theo đuôi TĐ7ND trên quốc lộ I tiến vào ngã ba Long Hưng, khi còn cách ngã ba Long Hưng chừng vài cây số thì có lệnh của Đại Tá Trần Quốc Lịch LĐT/LĐIIND dừng lại xuống xe và chờ lệnh.

Tôi không nhớ ai là tác giả đặt cái tên sau này là: "Đại Lộ Kinh Hoàng"?Vì chỉ một đoạn đường ngắn ngũi không đầy một cây số mà tôi cùng TS2ND đang đứng đây, dọc theo trên đường có hằng trăm hay hằng ngàn, nhiều ngàn xác người dân chết đã thối rữa, tuy mùi hôi thối không còn nặc nồng nhưng vẫn còn quyện mùi tử khí tanh tưỡi rờn rợn trong không khí vướng vít không siêu thoát…! Nơi nầy là thi thể của người đàn bà trẻ bụng to như đang có thai nằm nghiêng với xác đứa con một hay hai tuổi trong tay buông thỏng, kế bên là xác bà cụ già trên lưng còn gùi đứa cháu gái thơ ấu, những xác người phủ lên mặt đường chung quanh là các cụ ông râu tóc bạc phơ với áo quần rách rưới tơi tả, xác người chết với xác người chết đầy trên “Đại Lộ Kinh Hoàng”…! Tôi lặng người nhìn “quang cảnh” địa ngục có thật ở trần gian là tác phẩm của bầy quỉ đỏ hiện thân người đã gieo rắc tai ương kinh hoàng cho người dân nghèo hiền hoà Quảng Trị ! Nơi kia lác đác mươi xác lính Địa Phương Quân đã chết tay vẫn còn ôm khẩu XM16, năm ba chiếc xe đò cộc cạch lật nghiêng ngữa, mươi chiếc xe bò, xe ngựa chỏng gọng, ngựa thì còn xác, bò thì không, bao bị túi xách đồ đạt lỉnh kỉnh còn cột chặt vào thành xe...không biết họ đã chết bao lâu, nhưng mắt vẫn mở trừng trừng oan uổng vì có ai đâu cạnh kề mà vuốt mắt cho nhau, tất cả đã chết hết…chỉ có trời xanh, mây trắng là rõ mặt con người oan nghiệt tận số và loài côn trùng hoang gậm nhấm hình hài, không một nén hương, không lời cầu kinh đưa linh hồn về nơi …không biết về đâu…? Tôi ra lệnh ngay tức khắc, tất cả quân nhân các cấp quan cũng như như lính đồng bộ bỏ ba lô xuống, tay xẻng cá nhân đào huyệt mộ chôn tất cả xác chết này tại chổ với lời khấn vái hồn thiêng siêu thoát và phù hộ anh em chúng tôi được bình an sau chiến trận sẽ rất khốc liệt nay mai vào Cổ Thành Quảng Trị...chỉ hai tiếng đồng hồ trong khi chờ lệnh Lữ Đoàn thì TS2ND đã hoàn thành được một nghĩa địa không tên tuổi, không bia mộ, không nhang đèn hương khói tiễn linh, chỉ với xót xa cho những oan hồn uổng tử và sao “nghe” cay cay ở khoé mắt mà muối xót trong lòng như tiễn biệt người thân thương:

Những bằng hữu lên đường tôi ở lại

Tôi xin chấp tay yên lặng cúi đầu…

Không nói được dẫu một lời vụng dại

Trong hồn tôi sương phủ mấy nhịp cầu !

(TGĐ…không nhớ rõ lắm!) .

Thiếu Úy Mai một tay với cái xẻng, tay khác đang gạt những giọt mồ hôi trên trán cười cười hỏi tôi:

- Hôm nay mình chôn họ, ngày mai ai chôn mình ?

- Đừng nói "gỡ" ông cố nội...!

Tôi ngồi tựa lưng vào lề đường, Sơn Nhung lại pha cho tôi một ly càphê, tôi móc điếu thuốc lá ba con mèo châm lửa thâm tâm lý luận cùn: “ Tao là Tao, Mày là Địch, Mày là Mày, Tao là Địch...trên trận mạc Tao không bắn Mày thì Mày cũng bắn Tao như một qui luật bất biến của chiến tranh, nhưng cớ sao chúng mày có thể xã súng vào số đông người dân nghèo hiền hoà vô tội đang trốn chạy tử thần một cách dã man như loài dã thú như thế này…?!

Nhìn những nắm mộ vừa mới lấp mắt tôi đã nhạt nhoà bóng mây mờ ảo lung linh, bất thần bàn tay tôi nắm chặt bá súng với tiếng vọng câm thù âm thầm từ đâu đó:

Ôi…Quảng Trị điêu linh đất nghiệt hình !

Thôn xóm rên xiết, xác người trong biển lửa…!

Nầy Chị, nầy Em, Cha Mẹ, Ông Bà…

May mắn sống như hoang đường chuyện cổ…!

Dòng máu chuyển căm hờn ôi …đau đớn…!

Quảng Trị điêu tàn thống thiết bi thương !

Ta xé gan, bẻ cật nguyện lời thề:

Mai về Quảng Trị xác thù phơi đầu súng.

Vào Quảng Trị tôi chợt nhớ tới lời kể tâm tình “trọ trẹ” với thổ âm “cưu mang” nhiều dấu nặng của “Ôn Lệnh Hồ Xung Lô Lọ” (Trung Tá Nguyễn Lô Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 7 Nhẩy Dù), Đại Uý Võ Bình Nha Kỷ Thuật (Chiến Đoàn I Biệt Cách Dù) họ đã chào đời và lớn lên tại Quảng Trị với: “ những ngày tháng thời niên thiếu “Tau” đi mòn dép trên những con đường thị xã nắng gắt buồn xao xác tiếng gà gáy trưa, hay thả đôi mắt tinh ngịch có chút mơ mộng mông lung nhìn buổi chiều mưa giăng giăng mù mịt không thấy được bên kia bờ sông Thạch Hãn…”! Thật sự hơn 4 năm qua lăn lộn trong cuộc chiến, tôi chưa thật sự biết nỗi căm giận và thù hận là gì…?! Xâm nhập vào chiến khu C, bắt được 3 “cán gái” y tá thanh xuân hơ hớ, giữ đó đối xử tử tế cho ăn uống đàng hoàng chờ trời tối ra lệnh dẫn ra bìa rừng bắn bỏ, toán thi hành chỉ bắn vài tràng đạn chỉ thiên bâng quơ rồi trở vào như không thấy, không biết mấy ả chạy trối chết về đâu và sau nầy biết có còn dám làm VC nữa chăng ?!!! Nhiều lần bắt được tù binh, khi giải giao cho An Ninh Qu ân Đội Nhẩy Dù tôi đều ghi rỏ: “tự thú đầu hàng, không có kháng cự “ để tránh cho họ không bị tra khảo đánh đập hỏi cung. Một lần toán Viễn Thám theo dõi dấu vết của một tên VC kinh tài, ập vào nhà bắt tại trận vào lúc nửa đêm. Hắn khai báo đơn vị du kích, vị trí đóng quân của hắn một cách thành thực. Bà mẹ già của hắn với đôi tay run rẩy bần bật đang đun nước sôi, người vợ đang bồng đứa con cho bú với đôi mắt sợ hãi van lơn cầu khẩn…! Đường kiếm có sắc bén lạnh lẽo tàn độc cở nào cũng không nỡ hạ thủ một kẻ đã sa cơ thất thế, tay đao có oan nghiệt ngất trời cũng không nỡ tàn bạo giết chết đứa bé sơ sinh ! Nếu tôi giải giao hắn qua tay Đơn Vị 101, hay Phượng Hoàng thì không những chỉ có riêng hắn bị tù tội mà là tất cả cả gia đình hắn bị ảnh hưởng di lụy, còn đâu mái gia đình êm ấm ?! Chiều hôm đó tôi thả hắn đi với lời giả vờ thịnh nộ: ” Đi, đi… đừng quay đầu nhìn lại…”! Hắn hay tay chắp trước ngực, lầm lũi vừa chạy vừa đi run rẩy chỉ sợ một tràng đạn sau lưng kết liểu đời mình ! Chờ cho đến khi bóng dáng của hắn khuất phía sau bên kia đồi…Tôi ngoảnh mặt nhìn lại, thấy vợ hắn vẫn còn đang cho con bú với dáng quỳ mọp bên cạnh bà cụ già khóc không thành tiếng…! Họ không phải là đối tượng chiến tranh của TS2ND. Không biết trong trái tim của mỗi một con người có bao nhiêu ngăn, nhưng tôi biết chắc trái tim của bọn Cộng Sản vô thần chỉ có một ngăn duy nhất chứa cùng một lúc những tên đồ tể như Stalin, Mao, Hồ…”nó” được đào luyện “thép đã toi như thế đấy” và chất chứa vô lượng căm thù giết chóc như biểu tượng “Quốc Ca” của chúng: “ thề phanh thây uống máu quân thù…” v à thèm khát máu tươi của dân lành vô tội…! Thế Kỷ 21 đương đại văn minh, loài Người đang tiến hoá hướng thượng và sống hài hoà với nhau. Thế mà chúng cứ mãi u mê lặn ngập trong máu lệ xáo thịt nhồi da như loài ngạ quỉ dưới địa ngục…! Thực hoang tưởng cho “cái” tương lai “thiên đường xã hội cộng sản” (không viết hoa) và biểu tượng đại vô học, não trạng tay sai ngoại bang rõ nét khi tên Lãnh Tụ Hồ Chí Minh đã xác định: “ Tôi nào có tư tưởng gì đâu ? Tất cả bác Mao đã làm hết rồi…”. Để chứng thực lời nói hắn đưa quyển Mao Tuyển cho cận thần dưới trướng xem !!! “quỉ Vương ” đã thế bầy “tôi Thần ” còn tệ hơn với đặc thù căn tính nô lệ ngoại bang tên Tổng Bí Thư Lê Duẩn phát xú ngôn: ” Chúng ta đánh đây là đánh cho Trung Quốc, đánh cho Nga Sô…” và đây biểu tượng Văn Hoá, giới “sĩ phu Bắc Hà” tên Tố Hữu đao phủ văn nghệ, đại diện cho giới “trí thức Ngựa” (Ngựa viết Hoa) hắn thổ thơ “khóc ông Sịt-ta- lin” (đúng kiểu cách dụng từ ngữ loại văn chương Bắc Hà thời đồ đểu VC ngự trị):

“Ông Sịt Ta Lin ơi, Ông Sịt Ta Lin

Hay tin ông chết đất trời còn không

Thương cha thương một thương ông thương mười”

Chứng kiến cánh đồng xác người dân bị cán binh VC bắn chết trên “Đại Lộ Kinh Hoàng” tôi bắt đầu biết căm giận và thù hận, không phải riêng tôi mà tất cả binh lính của TS2ND của tôi cũng cùng như thế ! Sau khi họ đã cùng tôi chôn lấp hằng ngàn xác chết của thường dân vô tội trên Đại Lộ Kinh Hoàng trước khi vào Quảng Trị. Chúng tôi bổng trở thành ngây ngây say say bầu nhiệt huyết, quyết tử chiếnvới quân thù, chứ không khát máu như quân thù, mắt đổi mắt, mạng đổi mạng… cho nên khi vào Qu ảng Trị và Cổ Thành, tôi chỉ ra lệnh ngắn gọn: "giải giao tại chỗ". Đối với bọn quỉ dữ trầm luân khát máu, chúng ta cũng cần thiết phải sắt máu và say máu mới đương đầu với chúng nó được. Trong trường hợp này, tương nhượng nhân nghĩa là đồng nghĩa với tự sát và là người ngu tốt bụng ! Có phải đây là một yếu tố tinh thần giúp cho QLVNCH giữ được Kontum, An Lộc và quyết tử để quyết sinh Quân Ta đã tái chiếm Cổ Thành Qu ảng Trị làm tròn nhiệm vụ Bảo Quốc - An Dân:

Ôi…Quảng Trị tan hoang buồn xao xác…!

Trăng soi âm u lành lạnh Cổ Thành

Gió hiu hắt thổi qua điêu tàn đổ vỡ…!

Nhưng Bắc Quân đến đây Quỷ gặp Người

Chúng đã “gặp” Người, chạm mặt tử thần Nhẩy Dù và những đơn vị tinh nhuệ, thiện chiến chủ lực của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà như: Lực Lượng 81 Biệt Cách Dù, Thuỷ Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân, Thiết Giáp, Pháo Binh, Sư Đoàn 1 Bộ Binh Nhất Kiếm Trấn Ải, Không Quân Việt Nam Bảo Quốc Trấn Không, Hải Quân và Nghĩa Quân, Địa Phương Quân, Cảnh Sát Chiến Đấu kiên cường … đã tống táng hồn Bắc Quân bay theo tiếng súng…!!!

Thành Phố Huế trở lại yên bình, nhưng người dân xứ Huế sẽ không bao giờ quên những gương mặt khát máu: Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Thị Đoan Trinh, Tôn Thất Dương Tiềm, Lê Văn Hảo…với những hầm hố chôn sống tập thể nạn nhân. Ác quỉ chào đời tại Huế lớn lên làm giặc truy lùng giết người Huế…! Ôi,…nỗi oan khiên thống khốc nào hơn …!

Người dân Quảng Trị trở về ngôi nhà đổ nát, ruộng vườn điêu tàn sơ xác …cố gắng kham khổ gầy dựng lại cuộc sống vốn đã nghèo nàn lam lũ tự thuở nào, còn đâu những người thân yêu với nồi ngô khoai ấm lòng buổi chiều đông giá lạnh rét mướt và mùa nóng bức gió Lào thổi bay cát bụi như muốn toét mắt …?! Liệu họ có thể quên được hình ảnh kinh hoàng trên “đại lộ buồn thiu” khi mà cha mẹ vợ con đã chết trước họng súng đại liên của Bắc Quân bắn giết đồng bào dã man gấp ngàn lần bọn Gestapo của Đức Quốc Xã, vì Gestapo không bao giờ tàn sát người dân Đức. Hỏi: Bùi Tín, Vũ thư Hiên, Dương Thu Hư ơng, Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Thế Thiệp... và gần đây nhất " Bên Thắng Cuộc " của Huy Đức có nhìn được cái mặt trái bạo tàn của Việt Cộng và những “sư phụ” Stalin, Mao, Hồ đã sản sinh loài “Cộng Sản” một “sản phẩm” cấu vật tàn hại con Người khủng khiếp mà bút nghiên giấy mực và ngôn ngữ của Người Văn Minh không thể nào lột tả hết được, ngàn năm trước không có, ngàn năm sau chắc gì có chứ ?! Hiện tại di hệ lớp hậu duệ hai ba thế hệ sau này vẫn phải mang giòng giống khát máu dân lành, khiến cho cả một dân tộc Việt Nam vốn hiền hòa nhưng quật khởi nay mai phải chờ đợi ngày “nhà Hán” tràn xuống rồi thành lập “AnNam Tỉnh Bang” dư ới sự cai trị của “Hán Triều Đô Hộ Phủ” và lịch sử chép: “ bọn man di Ỏ Nàm Dành” có “tổ tiên” là thượng phụ Mã Viện Phục Ba Tướng Quân và “mẫu” là Cù Thị….!!! Biết đến bao giờ có một Vị Anh Hùng Áo Vải Lam Sơn xuất thế !

Đại Đội 2 Trinh Sát Nhẩy Dù là như vậy đó... Say máu trên chiến truờng, “thanh lịch” trong thành phố…?!!! Trong một buổi sinh hoạt Chiến Tranh Chính Trị của đơn vị, khi tôi đang thao thao đề tài: “Tình quân dân như cá với nước...”, bổng một giọng Quảng Nam khàn khàn bên dưới hỏi tôi: “ Cạ mạ không nược cạ chệt, nược mạ không cạ thì sao hở Đựa Quới...”? Một chút lúng túng tức cười tôi chợt khôi hài: “ Nước mà không cá thì nước cũng chết luôn” làm cả đơn vị cười ồ vui không tả được…!!! Không có Dân làm gì có Nước ? Nên Dân Vi Quý Xã Tắc Thứ Chi là trúng ph óc, “Khổng Tử viết” chí lý chỗ nầy…!!!

Những ngày cuối tháng ba năm 1975, LĐ1ND , LĐ3ND đang tả xung hữu đột với Cộng quân ở Thường Đức phía Tây Đà Nẳng, LĐ2ND đang trấn giữ đèo Phước Tượng, tin Ban Mê Thuộc đã mất, TQLC sẽ bỏ Quảng Trị, SĐND rút về SàiGòn...tin tức với tin tức chẳng có tin nào được vui…?! Tôi đứng trên ngọn đồi cùng với Đại Tá Nguyễn Thu Lương (LĐT/LĐ2ND) cách đèo PhướcTượng vài trăm thước với cái ống nhòm nhìn xuống con đường ngoằn ngèo từ Đại Lộc, Lăng Cô, chân đèo Hải Vân và buồn bả , lại những hình ảnh tang thương giống như đầu năm 1972 tái diễn….hàng đoàn người, xe lam, xe đò, xe bò chen chúc nhau trên con đường đèo nhỏ hẹp xuôi Nam, họ cứ đi, đi mãi… không biết đi đâu chạy giặc…?! “Giặc từ ngoài Bắc vô đây bàn tay nhuốm máu đồng bào..." …!

Một tháng sau... ngày 30-4-75 số phận của toàn thể Quân - Dân Miền Nam bị an bài, Đại Tá Nguyễn Thu Lương vị Đại Tá Lữ Đoàn Trưởng tài năng, đạo đức có thừa kính yêu của chúng tôi đã rơi vào tay bọn quỉ đỏ, thân xác Trung Tá Sơn Đui Lữ Đoàn Phó không biết nằm ở nơi nào đó trong vòng đai Bộ Tư Lệnh Tiền Phương của Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi (Phan Rang). TS2ND chúng tôi cũng cùng chung số phận tan thư ơng, cả Đại Đội “may mắn” trở về hậu cứ vỏn vẹn duy nhất trên một chiếc trực thăng cấp cứu…!

Tình Quân - Dân như Cá với Nước ! Quân đã như vậy, thuỷ cũng tận, nước đã cạn, ngư diệt, cá muốn sinh tồn chỉ còn thế bươn chảy ra biển khơi tự lực cánh sinh, còn nước thì theo vận nổi trôi nay đã trở thành những giòng sông đen rác rưởi, hay những giòng sông đỏ loang đầy huyết lệ…?! Ôi …những dòng sông của thời thanh bình hay chiến sự đã chảy quanh chuyên chở biết bao niềm như kỷ niệm nay đã thế nào rồi…?! Hỡi Thạch H ãn, Hương Giang, Mỹ Chánh… đau thương như một quá khứ nhạt nhòa với “Mũ Đỏ Nhẩy Dù” và chiếc nón lá che nghiêng hé trộm nhìn, tà áo dài thướt tha bay bay trên cầu Tràng Tiền “Em tan trường về...Anh theo Ngọ về..."…làm sao cho qua sầu Cố Đô ?! Trinh Sát 2 Nhẩy Dù...đã gắn liền tâm hồn mình với “Dân Huệ” dọc dài suốt bốn năm trong khói lửa chiến chinh. Không biết đến bao giờ Tôi mới có thể trở lại “Huệ” thân yêu để “đóng Phim” trước những tiếng cười khúc khích tinh nghịch của các “nàng” Văn Khoa, Luật Khoa… của “Huệ”… hay chỉ là mơ thôi.

Xuân Quý Tỵ 2013,
Trương Văn Út
(Mũ Đỏ Út BạchLan)
quangminh
Posts: 549
Joined: Thu May 27, 2010 1:54 am
Contact:

Post by quangminh »

MÙA XUÂN CỦA NGƯỜI ĐIÊN
Phạm Phong Dinh

Sài Gòn những ngày cuối đông ủ ê như một người bệnh nằm trăn trở trên giường. Những tòa cao ốc xám xịt và rêu mốc oằn thân phiền buồn nhìn xuống những con đường đầy những chiếc xe đạp cũ kỹ bên dưới những chiếc lưng còng. Những chú heo từ trên những chiếc lan can lầu thò mõm ra khỏi những lỗ gạch tường nhìn khoảng bầu trời âm u, ngao ngán bỏ lửng chiếc máng còn một nửa thức ăn, điều gọi là thức ăn của những lát thân chuối xắt mỏng chát ngắt trộn với vụn cám đắng nghét. Thức ăn bạc bẽo như thế nên những cô chú heo rầu rĩ và ốm o.

Chỉ mới có mấy năm đón nhận hòa bình mà những tòa nhà cao ốc đẹp đẽ của ngày nào đã trở thành dột nát, loang lổ và xấu xí đến mủi lòng. Thầy thợ, công nhân, giáo chức, cán bộ, viên chức nhồi nhét nhau, chen chúc ngụ cư trong những tòa cao ốc này. Cha chung không ai chăm sóc, nên cầu tiêu cầu tiểu nghẹt cứng hôi thối. Tường vôi ẩm thấp vì nước thải và phân heo chảy tràn lan đóng rêu xanh biếc. Những cánh cửa kêu than kẽo kẹt vì bản lề rỉ sét. Hàng đống rác bốc mùi thối rữa nằm dồn đống trên lề đường mỏi mòn chờ những người phu dọn rác è ạch kéo những chiếc xe cút kít đến.

Thành phố Sài Gòn, Hòn Ngọc Viễn Đông giờ đây, trong một ngày cuối đông sắp sửa sang xuân ngơ ngác, cằn cỗi như một mệnh phụ nhan sắc đã phai tàn. Ngoài chợ Bến Thành hàng quán bán hàng xuân trong một khung cảnh nhộn nhịp nhưng gượng gạo và giả tạo. Lấy cái gì, có cái gì mà mua sắm để đón xuân sau những cú đổi tiền tàn bạo. Người dân sạch trắng túi, mỗi người chỉ còn vài tờ giấy lộn trong túi, mà chỉ sau vài tuần chúng đã nhàu nát thảm hại. Hình lão già cười toe toét trên những tờ giấy súc ấy trong cơn nhăn nhúm đã trở nên méo móm kỳ quặc.

Thạnh ngồi bên chân một cây cột đèn đường giở lon guigoz cơm ra ăn. Bữa cơm trưa thật đạm bạc. Có gì đâu, chỉ là một nhúm cơm ăn với xả trộn với mắm ruốc. Nhưng Thạnh hài lòng với thực đơn của chàng. Mua một miếng mỡ bầy nhầy loại rẻ tiền nhất, cho vào cái chảo gang cũ đã bể mất hết một cái quay hun lửa cho nó phọt nước mỡ ra, rồi đổ hổ lốn xả bằm với mắm ruốc vào. Vậy là Thạnh đã có được một tuần hay hơn thức ăn mặn để đưa những hạt cơm xam xám đầy những hạt bông cỏ vào chiếc bao tử lép kẹp của chàng. Người dân thành phố còng lưng đua nhau lượm những hạt sạn và hạt cỏ hằng hà sa số nằm chen lẫn với những hạt gạo vàng ngoách và đục ngầu. Sau một ngày làm việc mệt mỏi, Thạnh chỉ muốn chui vào tấm mền nhà binh rách ngủ vùi, nên chàng chẳng buồn lượm sạn đá và hột cỏ, mà chúng có thể làm cho chiếc bao tử bị lủng và sưng phồng. Nhưng Thạnh cóc cần. Chàng chẳng phải đã là một con người chết rồi hay sao, chỉ là một cái xác chết tạm thời còn thở và đi đứng vậy thôi.

Vừa vá chiếc ruột xe đạp của khách hàng xong, mặt trời đã lên đến đỉnh đầu, chiếc dạ dày của Thạnh nhốn nháo đòi hỏi, nên Thạnh giở cơm ra ăn. Thạnh ngồi trên cái hộp gỗ đựng đồ nghề, duỗi cái đầu gối cụt được tháp vào bằng một cái chân gỗ, thoải mái tựa lưng vào cột đèn đường vừa ăn vừa ngước trông những chú heo trên tòa cao ốc bên kia đường. Thạnh nhìn cái bánh xe đạp, trời ơi cái ta-lông của nó chắc người chủ nghèo rớt mồng tơi, đã chằng không biết bao nhiêu là sợi nylon. Cái ta-lông của chiếc bánh xe làm Thạnh liên tưởng đến cuộc đời tan nát của chàng, mà ngày xưa ở lính người ta gọi là banh ta-lông mỗi khi đơn vị bị tổn thất tả tơi.

Nghề ngỗng hạ bạc, hôm đắt hôm ế, nhưng Thạnh vẫn thấy chàng còn may mắn lắm, bởi vẫn có thể kiếm được vài đồng tiền hình lão già râu để sống còn. Chàng có một mái nhà, không, một cái chòi lụp xụp bên con kinh nước đen mà khi ở tù về chàng đã theo các bạn tù thuộc dạng con bà phước đến lấn chiếm dựng lên. Bọn chàng thường cụng ly cười buồn với nhau, nhớ tiếc những ngày thương phế binh xuống đường cắm dùi giành đất.

Bỗng nhiên Thạnh có một cái cảm giác, rằng có một ai đang nhìn trộm chàng. Thạnh giật mình quay sang, thì chàng trông thấy một người đàn bà rách rưới đang ngồi xổm bên cạnh từ bao giờ. Thạnh đặt chiếc lon guigoz xuống lạ lùng hỏi:
- Chị cần gì, chị muốn sửa xe phải không?
Người đàn bà không trả lời, đôi mắt đục ngầu không ánh lên một vẻ cảm xúc nào, nàng nhìn chằm chằm vào chiếc lon cơm của chàng, miệng lẩm bẩm:
- Cơm, cơm, con tôi... con... con...

Thạnh quan sát kỹ hơn người đối diện, con tim chùng xuống trong một nỗi buồn. Trời ơi, chàng đã rách rưới lắm rồi mà nàng còn tả tơi gấp nhiều lần hơn. Chiếc áo bà ba đã sờn rách nhiều chỗ để hở cả da thịt, chiếc quần không biết phải gọi là màu gì, vì nó đã biến thành màu nâu đỏ, cái ống quần bị xẻ rách để thò ra một mảnh da trắng ngà. Thạnh ái ngại nhìn khuôn mặt lem luốc của người đàn bà dưới một mái tóc rối bời, cứng ngắt như những cọng rễ tre. Điều mà Thạnh còn có thể nhận ra với chút ngạc nhiên, sau chiếc mặt nạ xấu xí ấy vẫn còn vướng vất vài đường nét kiêu sa của một cô gái đẹp. Người đàn bà chợt thò tay chộp lấy chiếc lon cơm của Thạnh, nhưng đã nhanh hơn, Thạnh chặn lấy bàn tay của nàng:
- Chị làm gì vậy?
Người đàn bà thều thào:
- Cơm... cơm... con... con...

Thạnh buông tay người thiếu phụ ra thở dài ngao ngán, trong lòng rên lên. Một người đàn bà đã mất trí. Chàng đã nghèo kiết xác đến tận cùng, mà người đàn bà này vừa điên khùng vừa đói khổ hơn nhiều. Thạnh bần thần không biết phải phản ứng như thế nào, bởi chàng mới vừa ăn được một ít, cái thân thể trong độ tuổi tráng niên của chàng hãy còn cái cảm giác thèm thuồng cơm lắm, chàng khó thể nhịn đói đến chiều được. Nhưng nhìn người đàn bà thảm hại thế kia, Thạnh thấy không đành, có lẽ chàng phải uống nước lã trừ cơm vậy. Chị Hai bán thuốc lá ngồi cách chàng chừng năm, bảy thước nói với sang:
- Anh ơi, bà điên đó, đừng để ý làm gì!
Thạnh hỏi lại:
- Chị biết bà này không?
- Ừ biết, tui là người hàng xóm của bà ấy. Anh không biết đâu, ngày xưa bà ta là bà Thiếu Tá đi xe Jeep không hà. Chặc, giờ đây nghe nói chồng đi tù ngoài Bắc đã chết mất xác, bà Thiếu Tá nghèo đói thảm hại như vậy.

Thạnh giật mình động lòng. Thì ra là người vợ lính. Không cần biết ông ta là thiếu tá hay binh nhì, trước mặt chàng đơn thuần là người vợ của một chiến hữu trong cơn thất thế. Thạnh trao chiếc lon guigoz vào tay bà Thiếu Tá:
- Chị lấy đi, nhưng buổi chiều chị trở lại trả cho tôi cái lon nghe.
Ánh mắt người thiếu phụ sáng lên một nỗi vui mừng, nàng ôm chặt cái hộp nhôm trong lòng như một báu vật. Thạnh ngậm ngùi hỏi:
- Chị ăn gì chưa?
Im lặng. Người điên làm sao hiểu được, nghe được âm thanh của thế giới người tỉnh. Thạnh bảo:
- Chị ngồi đây chờ tôi, tôi mua bánh mì cho chị ăn.
Người điên chỉ nghe được hai tiếng bánh mì và ăn, nên nàng nhìn Thạnh có vẻ như hiểu chút. Thạnh khập khểnh đến cái xe bánh mì ở gần đấy mua một ổ bánh mì chan nước sốt thịt, điều mà cái túi tiền còm chàng có thể cáng đáng. Thạnh trở lại trao ổ bánh mì cho bà Thiếu Tá:
- Chị ăn đi.
Không khách sáo gì, người đàn bà chộp lấy ổ bánh mình đưa lên miệng nhai ngấu nghiến, hẳn nàng đã nhịn đói nhiều ngày lắm rồi. Thật tội nghiệp, người điên làm sao có thể sinh tồn trong cái xã hội mà tất cả mọi con người bình thường đều bị đày đọa đến tận cùng này. Đột nhiên, người đàn bà ngừng nhai, nàng cột sợi giây thun vòng quanh tờ giấy bọc bánh mì lập lại điệp khúc cũ:
- Bánh mì... con... con...
Thạnh hiểu ngay rằng người mẹ này muốn dành hết phần ăn cho những đứa con ở nhà. Ôi, cao cả làm sao tình mẫu tử thiêng liêng. Đã là người mất trí, mà trong tận đáy tiềm thức của nàng, thiên chức làm mẹ vẫn bừng sống mãnh liệt. Thạnh hỏi chị bán thuốc lá:
- Chị ơi, gia đình bà này bây giờ ra sao rồi?
- Còn sao với trăng gì nữa. Chồng đi tù chết, bà hóa điên, hai đứa con bệnh hoạn vì đói. Hàng xóm tụi tui cũng có giúp đỡ ít nhiều nhưng chính chúng tôi còn không biết ngày mai ra sao nữa, bữa đói bữa no.

Người đàn bà chợt đứng lên, nàng ôm chiếc hộp và khúc bánh mì bỏ chạy. Thạnh chống tay trỗi dậy muốn đuổi theo, nhưng chàng phải dừng, vì ngại khi chàng vắng mặt thì cái thùng đồ nghề, cái cần câu cơm của chàng sẽ mọc cánh bay mất. Thôi đành gắng chờ bà ta trở lại vậy. Chàng có linh tính rằng nàng sẽ trở lại. Nhưng Thạnh đã lầm. Thành phố đã lên đèn, bà bán thuốc lá đang dọn thùng chuẩn bị về mà bà Thiếu Tá vẫn biệt tăm. Thạnh hỏi chị:
- Chị Hai ơi, chị có thể cho tôi biết chỗ ở của bà Thiếu Tá không?
- Ừ, anh biết cái xóm nhỏ trong con đường hẻm dẫn xuống con rạch nước đen có đám rau muống không? Anh đến đó hỏi bà Thiếu Tá, chặc, hay hỏi bọn con nít nhà bà điên, thì ai cũng biết.
- Bà Thiếu Tá mà ở nơi tăm tối vậy sao?
- Cái anh này ngớ ngẩn, nhà cửa bị tịch thu, bà ta đem con chạy vào xóm tụi tôi cất chòi ở, còn có cái mái che mưa nắng là may lắm rồi.
- Nhưng tại sao bà ta điên, thiếu gì bà tá tướng có chồng đi tù và chết?
Chị Hai nhìn Thạnh bằng ánh mắt hờn trách:
- Anh ơi, mỗi người trong bốn triệu dân Sài Gòn này đều có một câu chuyện bi thảm riêng, chuyện nào cũng có thể khiến cho người ta hóa điên hay tự tử chết được.
- Nhưng ít ra câu chuyện của bà Thiếu Tá phải bi thương đến độ bà phải dở điên dở khùng như thế chứ?
Người đàn ba bán thuốc lá cắn môi, đôi mắt rơm rớm nước mắt:
- Là đàn ông, anh không thấu hiểu nỗi đau đớn của đàn bà chúng tôi đâu. Đói khổ chúng tôi còn chịu được chứ... chứ... Mà thôi anh cứ hỏi bà ta thì hiểu.
Cái tính tò mò thiên bẩm của loài người thúc giục Thạnh hỏi dồn:
- Thì chị cứ nói đi, tôi hiểu rồi thì biết đâu tôi chẳng hăng hái cùng hàng xóm của chị giúp đỡ cho bà ta.
Chị Hai bĩu môi:
- Nhìn anh rách rưới thảm hại thế kia mà đòi giúp đỡ ai.
- Ông bà mình dạy lá rách rùm lá nát mà chị.
Chị Hai thở dài sầu não:
- Chẳng lẽ tôi phải nói trắng ra với anh là người đàn bà đáng thương ấy đã bị bọn chó đẻ muốn làm nhục trong lúc chồng đi tù. Không thỏa mãn thì chúng đuổi bà ta đi, ăn cướp nhà người ta. Nhục nhã, chồng chết, con bệnh đói, anh không hóa điên thì anh hóa thành cái gì?

Thạnh rụng rời vịn tay vào cây cột đèn, chàng lảo đảo muốn ngã, đầu óc dao động, trước mắt chàng hàng vạn đốm sáng đủ màu sắc nhảy múa trong một điệu luân vũ điên cuồng như muốn trêu cợt chàng. Dẫu biết rằng chúng nó là một lũ quỷ không tim có thể làm bất cứ chuyện ác độc nào, nhưng mỗi lần nghe kể một câu chuyện thương tâm, chàng không thể không đau lòng. Ôi ở thành phố Sài Gòn này, mỗi một người dân đều mang mển trong lòng một câu chuyện bi thảm riêng. Nếu người ta có thể hứng được nước mắt của mỗi con người ấy thì có lẽ nó đủ góp nên thành một đại dương mặn đắng.

Theo lời chỉ dẫn của chị Hai bán thuốc lá, Thạnh dễ dàng tìm được cái chòi lá của bà Thiếu Tá. Cái chòi của chàng bên bờ con kinh nước đen đã tồi tàn lắm rồi, mà cái chòi của bà càng thảm hại hơn, không biết phải gọi là cái gì. Khi Thạnh đến thì con hẻm đã chìm trong một vùng ánh sáng mờ nhạt từ chiếc bóng đèn trên cao. Đã là mùa đông chớm sang xuân rồi, đâu có còn là mùa mưa nữa, mà con hẻm thật lầy lội, Thạnh bước lõm bõm trong bùn sình đặc quánh. Khi chàng gõ vào cánh cửa gỗ tạp khép lỏng lẻo trên một cái khung méo mó, thì chẳng có ai trả lời hết. Đứng đợi mãi sốt ruột, Thạnh buộc phải đẩy nhẹ cánh cửa thò đầu nhìn vào:
- Xin lỗi, có ai trong nhà không?
Bên trong tối đen như mực, nhưng có tiếng rên rỉ đáp lời chàng. Thạnh mở toang cánh cửa tìm chút ánh sáng, chợt chàng buột miệng kêu lên:
- Ồ, trời ơi!
Thạnh đã trông thấy gì? Người đàn bà đang nằm còng queo trên một chiếc giường ọp ẹp ôm trong lòng hai đứa con nhỏ, mà tiếng rên rỉ xuất phát từ đấy. Thạnh bước đến ngồi xuống nhìn cho rõ. Giữa vùng ánh sáng xám mờ, chàng trông thấy hai đốm sáng mệt mỏi từ một đứa bé gái, nó rên ư ử. Thạnh hỏi:
- Chị ơi, chị cho tôi hỏi?
Người đàn bà nằm bất động, Thạnh không rõ nàng ra sao rồi, nhưng đứa bé gái thều thào trả lời:
- Chú ơi, con khát... con nóng...
Thạnh ngồi phệt xuống đưa tay lên sờ trán con bé, chàng hoảng hốt kêu:
- Trời, nóng thế này, cháu làm sao vậy?
Con bé khóc:
- Con không biết, con mệt, con... con... đói, con khát.
Thạnh đành phải lay người đàn bà dậy:
- Chị ơi, chị dậy đi, con của chị...
Người đàn bà mở mắt ngơ ngác nhìn, trông thấy một cái bóng đen lù lù nàng kêu rú kinh hãi, ôm hai đứa bé rúc vào góc nhà. Thạnh trấn an người thiếu phụ:
- Đừng sợ, tôi đây mà, tôi là người vá xe đạp hồi chiều…
Đứa bé gái chợt ngã ra nằm dài trên sàn đất ngất xỉu. Thạnh bò đến kéo nó dậy ôm vào lòng:
- Cháu... tỉnh dậy đi!
Con bé mở mắt nhìn, Thạnh rùng mình nhìn thấy sự chết trong ánh mắt của nó.
- Cháu mệt lắm rồi, cháu thở không được...
Thạnh vỗ về con bé:
- Đừng lo, chú đưa con đi nhà thương.
Thạnh quay sang nói với người mẹ:
- Tôi đưa cháu nó đi bệnh viện, chị ở nhà chờ tôi đừng đi đâu nghe.
Thạnh đưa tay muốn sờ trán thằng bé trai trong lòng bà Thiếu Tá, nhưng bà ta đã co rúm người ôm chặt nó hơn. Thạnh đoán rằng nàng sợ chàng bắt nó đi. Thạnh nhẹ nhàng đặt mấy khúc bánh mì và chai nước xuống:
- Chị cho cháu ăn và chị cũng ăn cho lại sức.

Thạnh kêu xích lô đưa con bé đến phòng mạch chui của một người bạn trước kia là một sĩ quan trợ y trong quân đội. Trên đường đi thì Thạnh được biết con bé có cái tên rất đẹp là Trần Nguyễn Thùy Trang, mẹ nó là Nguyễn Thùy Trinh, còn chú bé út là Trần Nguyễn Quốc Trân. Người chủ gia đình là ông Trần Quốc Kiến. Ông Thiếu Tá thật khéo đặt tên cho con. Thạnh ngại không muốn đưa bé Trang vào bệnh viện, bởi ai người ta tiếp nhận những con người cùng khổ không có sổ hộ khẩu như chàng và Thùy Trang. Ông bạn vàng của Thạnh thật là một con người có tấm lòng, anh đưa cho Thạnh mấy viên Ampicyline:
- Con nhỏ này nó bị cảm lạnh, phổi có thể sưng, tôi cho nó mấy viên trụ sinh uống tạm, anh lấy cái toa này mua thêm thuốc cho nó.
Người trợ y thở dài sườn sượt:
- Tôi chỉ còn có ngần ấy, tôi đã cho ra quá nhiều đến nỗi bây giờ tôi không còn gì. Tương lai đen như cái mõm chó mực, chắc tụi mình đi móc bọc sớm!
Thạnh ấn vào tay bạn mấy đồng tiền, nhưng anh ta đã giãy nãy đẩy ra:
- Thôi ông ơi, ông rách nát tả tơi quá rồi, dẫu sao tôi làm chui cũng còn khá hơn ông nhiều. Ông giữ lấy mà mua thuốc cho nó.

Thuốc men đắt kinh khủng, và hiếm nữa, không loại trừ mua lầm thuốc giả. Nhưng Thạnh không còn sự chọn lựa nào khác, chàng đành dốc túi đến chỗ bán thuốc mà bạn chàng giới thiệu. Số tiền còm cõi của Thạnh mua chẳng được mấy viên thuốc, nhưng thượng đế lòng lành thương người hoạn nạn, hay có lẽ con bé đang trong độ tuổi trẻ còn chống cự được với bệnh tật nên nó đã vượt qua được cơn hiểm nghèo. Sau chuyện này, số tiền để dành ít ỏi của Thạnh cạn sạch, nhưng chàng thấy có bổn phận vẫn phải giúp đỡ cái gia đình của người chiến hữu không chân dung này. Nhờ sự giới thiệu của chị Hai, Thạnh nhận được một mối bán vé số cho con bé Thùy Trang. Thùy Trang đòi đi bán khắp thành phố, nhưng Thạnh đã bảo:
- Không, con cứ ngồi bên chú không đi đâu hết, bán được bao nhiêu hay bấy nhiêu.
- Nhưng như vậy thì ế chết, lấy gì trả tiền cho người ta.
- Kệ nó, vé số ế biết đâu con sẽ trúng được... độc đắc không chừng.
Con bé miễn cưỡng ngồi bên Thạnh trên một cái ghế nhỏ, trước mặt là một kệ gỗ bày bán mấy tập vé số ít ỏi đến não lòng. Công cuộc bán vé số không mấy khá, con bé cứ đòi đi bán dạo, Thạnh đành miễn cưỡng ưng thuận:
- Được, nhưng con chỉ được đi từ đầu đường này đến đầu đường dưới kia rồi trở lại và không bao giờ biến mất trước mắt chú.
Con bé kéo thêm thằng Quốc Trân ra ngồi gần bên Thạnh, còn nó bắt đầu cuộc bán dạo. Công cuộc làm ăn xem chừng khấm khá hơn. Những khi trở về ngồi nghỉ, con bé tẩn mẩn nhặt mấy cái ruột xe lên xem rồi trề môi phê bình:
- Nói xin lỗi chú, chứ chú đánh giấy nhám không được tròn trịa, để con làm cho chú coi nè.
Con nhỏ khéo tay thật. Hai bàn tay nó vờn cái ruột xe cũ thoăn thoắt như một nhạc sĩ lướt trên phím đàn. Chẳng mấy chốc mà một cái vệt tròn trịa nham nhám đã sẵn sàng để Thạnh trét keo lên. Thạnh phục con nhỏ sát đất:
- Thùy Trang siêu thật, chú phải làm đệ tử của con thì đúng hơn.
Con bé mỉm cười hiền hậu:
- Từ nay khi có dịp con sẽ giúp chú vá xe.
- Ừ, mai sau này chú chắc là con nếu không làm kỹ sư thì cũng là bác sĩ giải phẫu tài ba.
Con bé cúi đầu cười buồn:
- Có ai người ta cho tụi con đi học đâu mà mơ chú ơi!

Thỉnh thoảng bà Thùy Trinh đến ngồi xổm bên chân cột đèn nhìn chú cháu Thạnh làm ăn. Thạnh không biết được liệu trong cái thế giới mờ mịt của những người mất trí, nàng có cảm nhận được những gì đang xảy ra trước mắt không. Thạnh nghĩ là có, bởi ánh mắt của bà luôn dành sự trìu mến cho những đứa con bé bỏng của bà. Thạnh ra chợ cũ mua mấy bộ quần áo rẻ tiền nhưng còn khá lành lặn đưa cho Thùy Trang:
- Mấy cháu mặc thay đổi, còn cái này tối về con thay cho mẹ.
Thùy Trang rưng rưng nước mắt:
- Chú là người dưng mà sao chú tốt với mẹ và tụi cháu quá vậy?
- Với mẹ và mấy con hay với ai thì chú cũng có bổn phận phải làm như vậy thôi.

Thạnh chạnh lòng nhìn sang bà Thùy Trinh. Chàng bảo con bé hàng ngày lau rửa thân thể và chải gỡ cho mẹ, nên giờ đây trước mắt Thạnh không còn là một người đàn bà dơ dáy lem luốc của mấy ngày trước, mà là một người thiếu phụ xinh đẹp hiền lành ngồi lặng thinh, co ro trong mảnh áo mỏng dưới những cơn gió bấc của mùa đông thổi về. Thạnh băn khoăn không biết cuộc sống vô nghĩa của gia đình ông Thiếu Tá Kiến và chính bản thân chàng sẽ kéo dài được bao lâu. Chàng còn lê lết tấm thân tàn tật này trên lề đường đến bao giờ… Thạnh không nhìn thấy được tương lai, bởi ngay cả hiện tại mà chàng cũng đã thấy nó đen tối như cái đêm ba mươi mà chàng sắp sửa đón nhận hôm nay. Thoắt cái đã là ngày Ba Mươi Tết rồi.
Con bé Thùy Trang bán xong một xấp vé số, nó quày trở lại vui vẻ nói với ông chú hờ:
- Tối nay mẹ và tụi con mời chú đến mừng giao thừa với gia đình.
Thạnh cười phì:
- Những người nghèo rách mồng tơi như chú cháu mình mà vẫn đón giao thừa sao?
- Phải đón chứ, nghèo đón theo nghèo.
- Ừ, chú sẽ đến, nhưng mà mẹ với mấy con định đãi chú món những gì đó?
Đôi mắt trong trẻo của Thùy Trang ánh lên vẻ bí mật:
- Chú đến thì sẽ rõ.
Thạnh cốc nhẹ lên đầu con bé:
- Ừ được, nhưng đừng bày vẽ tốn kém.
Chàng nói hơi thừa, bởi gia đình bà Thùy Trinh cái chòi lá trống trước trống sau, lấy gì mà bày vẽ. Con bé nhổm dậy định đi tiếp, thì chị Hai bán thuốc lá bỗng chạy sang mặt mũi tái xanh, chỉ có mấy bước mà chị thở hổn hển nói không ra lời:
- Anh Thạnh, Trang, Trân, ba mấy con đã... đã... về kìa...

Thạnh sửng sốt không tin những gì chị Hai vừa nói, chàng nhìn về hướng cái thùng thuốc lá của chị thì thấy một người đàn ông mặc một bộ y phục kaki cũ bạc màu, trên vai quảy một cái túi vải nhỏ chắp vá bằng những mảnh vụn ba lô cũ. Đúng là cung cách của một anh tù giống như bọn chàng mấy năm trước không lầm vào đâu được. Thạnh bàng hoàng đứng lên nhìn cho rõ hơn khuôn mặt khắc khổ của người tù, dù đã tàn tạ mà khuôn mặt chữ điền của ông vẫn còn vướng vất rất nhiều nét kiên nghị của một người lính. Người đàn ông nửa như chạy, nửa như ngập ngừng bước tới hỏi:
- Xin lỗi, anh là anh Thạnh, Trung Úy Thạnh?
Thạnh ngẩn ngơ cứ mãi nhìn người khách, trong ý nghĩ quay cuồng bao câu hỏi, chàng không nghe thấy ông nói gì. Ông khách ngồi xuống, gần như là quỳ trước mặt hai đứa bé, khóe mắt ông tràn đầy nước, ông run run nắm tay chúng giọng nghẹn đặc:
- Có phải mấy con là Thùy Trang và Quốc Trân, ba... ba... là ba... của các con...

Cuộc tương phùng trên hè phố trong ngày giao thừa, sự xúc động đã làm cho ông khách gục đầu xuống khóc òa, ông không nói thêm được gì nữa. Hai đứa bé ngơ ngác nhìn Thạnh cầu cứu. Thạnh ngồi xuống bên ông khách hỏi:
- Ông là... Thiếu Tá Kiến, Trần Quốc Kiến?
Người đàn ông ngước lên, đôi má sạm đen của ông đầm đìa nước mắt:
- Phải tôi là Kiến, còn Trung Úy...
Thạnh nắm tay ông Kiến vui mừng nói:
- Giờ này mà còn Trung Úy gì nữa ông thầy. Trời ơi, ông còn sống mà người ta nói ông chết rồi.
Kiến cười buồn:
- Đúng là tôi đã chết, bạn bè khiêng ra ngoài rừng chôn, nhưng thượng đế lại cho tôi sống, bạn bè lại khiêng vào. Có lẽ lời đồn đại tam sao thất bản về thành phố, người ta tưởng tôi đã chết.
Thạnh quay sang hai đứa nhỏ:
- Vui quá mấy con ơi, đây là ba con đã trở về. Thùy Trang có nhận ra ba con không?

Thùy Trang lạ lùng nhìn người đàn ông, trong cái ký ức bé thơ của nó những hình ảnh cũ ngày xưa lũ lượt hiện về. Ông Kiến đi tù lúc hai chị em Thùy Trang chỉ có mấy tuổi, mười năm sau ông trở về, những gì còn đọng lại trong tiềm thức của Thùy Trang dường như đã phai nhạt hết. Nhưng cái tình cha con thiêng liêng dường như có một mãnh lực siêu hình khiến cho Thùy Trang nhận ra ngay người cha đã chết của nó. Thùy Trang ngã vào lòng ông Kiến khóc lớn:
- Ba... ba...
Ông Kiến ôm hai đứa nhỏ vào lòng, cái thân hình gầy mòn nhưng mà cao to của ông ấp ủ hai con chim nhỏ dưới đôi cánh của một con đại bàng lớn bằng một tình yêu thương dạt dào. Chị Hai bỗng ú ớ kêu:
- Ông Thiếu Tá ơi, bà nhà ông đã đến kìa.
Kiến giật mình nhìn lên. Đây mới chính là điều mà ông trông chờ nhất. Ba cha con đứng nhìn người đàn bà từ xa đi đến, rồi nàng ngồi xổm xuống bên chân cái cột đèn quen thuộc. Ông Kiến nấc nghẹn gọi, giọng khàn đặc đứt quãng:
- Mình... mình... anh đã về...
Đôi mắt vô hồn của bà Thùy Trinh đăm đăm nhìn về một cõi vô hình nào mà chỉ nàng biết rõ. Bà không nhìn thấy ông Kiến, hay bất cứ người xa lạ nào khác. Nhưng tình mẫu tử kỳ lạ đã luôn khiến bà nhìn thấy mối nguy của những đứa con, Thùy Trinh nhảy đến giằng lấy hai đứa nhỏ từ trong tay ông Kiến:
- Con tôi... con tôi...
Ông Kiến nắm lấy bàn tay gầy guộc nổi đầy gân xanh của vợ khóc nức nở:
- Em... mình... mình... ra đến nông nỗi này sao, anh là Kiến của em đây!
Thùy Trinh ôm hai đứa bé vào lòng lùi dần, nàng sợ hãi muốn bỏ chạy, miệng lắp bắp:
- Con tôi... con tôi...
Thùy Trang lắc mạnh tay mẹ khóc lóc:
- Mẹ ơi... ba đã về...

Nhưng Thùy Trinh vẫn ngơ ngác như một cái cây vô tri, nàng buông hai đứa con ra rồi lại ngồi phệt xuống. Chứng kiến tấn bi kịch tương phùng, chị Hai cũng khóc. Vừa thấm nước mắt chị kể cho ông Kiến nghe chuyện gia đình ông, rằng vợ ông nổi điên là vì không muốn thân thể bị hoen ố, và vì bị đuổi ra khỏi nhà, nhưng trên hết là bởi nghe tin ông đã chết. Mặc cho người qua lại trên hè phố đứng nhìn, ông Kiến khụyu người xuống bên vợ khóc nấc từng lúc:
- Mình ơi, trời ơi... tội nghiệp mình biết dường nào.
Thạnh bước đến tìm lời an ủi:
- Ông thầy nên đưa bà về nhà trước rồi tính sau.
Khi mọi người đã ngồi trên chiếc giường ọp ẹp trong cái chòi lá tồi tàn, ông Kiến phục xuống lạy Thạnh:
- Anh Thạnh, Trung Úy Thạnh... xin anh nhận tôi mấy lạy này...
Thạnh kinh hoảng nhào xuống đỡ ông Kiến dậy:
- Thiếu Tá làm gì vậy?
Kiến ngã vào lòng Thạnh khóc lớn:
- Trung Úy Thạnh, suốt đời gia đình chúng tôi đội ơn Trung Úy.
Không dằn được cơn não lòng, Thạnh cũng khóc, hai người đàn ông ôm nhau nức nở như hai đứa trẻ bị mẹ đánh đòn oan.
- Ông thầy đừng nói vậy, mình là chiến hữu với nhau, tôi có bổn phận...
Độc giả không thích một cái kết cuộc quá bi thương vẫn có thể tin rằng thượng đế đã đang nhìn thấy hết những nỗi khổ đau của người trần gian và ngài sẽ cứu.

oOo

Năm năm sau. Cũng trong một ngày cuối đông sắp sang xuân, Thạnh cùng vợ và mấy người bạn trong cái xóm nhỏ bên bờ con kinh nước đen đang ngồi quanh bàn tiệc đón giao thừa, thì có một người khách lạ ăn vận tươm tất bước vào:
- Xin lỗi, đây có phải là nhà của ông Lê Văn Thạnh?
Thạnh đứng lên:
- Tôi là Thạnh đây, xin lỗi ông có gì cần?
Ông khách vui vẻ xoa tay:
- Tốt quá, xin mời ông ra ngoài nhận quà Tết.
Thạnh nhìn sang vợ ngơ ngác, trong lòng dậy lên một dấu hỏi to tướng. Thạnh có quen biết ai đâu mà nhận quà, hay là người ta lầm.
- Ông có chắc là tôi không?
Ông khách cười tươi:
- Ông là Trung Úy Lê Văn Thạnh, Tiểu Đoàn Địa Phương Quân ở Kontum? Nếu đúng thì xin ông ra nhận quà.
Thạnh nắm tay vợ cùng bước ra ngoài, ông khách bước theo chỉ vào… Trời ơi! Thạnh có nhìn lầm không? Một chiếc xe gắn máy bóng loáng, mới toanh.
- Đây là quà của gia đình ông Trần Quốc Kiến ở Hoa Kỳ gởi về, họ ân cần dặn dò tôi phải tìm đúng nhà ông Trung Úy Lê Văn Thạnh.
Ông khách vẫy một người đàn ông đang ngồi chờ trên một chiếc gắn máy khác ôm một gói to tướng đến:
- Còn đây là quà đón Tết của công ty bán xe Đại Phát chúng tôi. Hà hà, kính chúc gia đình Trung Úy sang năm mới tấn tài, tấn phát, vạn sự may mắn và an lành.
Vợ Thạnh gục vào vai chàng khóc thút thít:
- Anh ơi... em không thể tưởng tượng được.

Thạnh hiểu ngay rằng gia đình ông Kiến gởi về cho chàng một cái cần câu cơm. Từ nay gia đình nhỏ bé của chàng sẽ sống nhờ vào chiếc xe này. Mấy người bạn vây quanh nói lời chia mừng, Thạnh mở bức thư của ông Kiến ra. Một xấp tiền dầy cộm hiện ra trước mắt. Mắt nhòa lệ, những giòng chữ rắn rỏi của ông Kiến nhảy múa trên bàn tay run rẩy của Thạnh.

“Anh Thạnh rất thân mến của gia đình chúng tôi,
Đầu thư kính thăm anh chị luôn được mạnh khỏe và nhiều điều an lành. Đây là món quà nhỏ không phải của tôi hay của Thùy Trinh mà là của Thùy Trang với Quốc Trân gởi về cho chú thím của chúng nó. Các cháu vẫn luôn nhắc nhở những ngày ngồi bán vé số và cùng vá xe với chú Thạnh, mà chúng nó cho là những ngày đẹp đẽ nhất trong đời. Cháu Thùy Trang và cháu Quốc Trân nhắn lời là thế nào các cháu cũng về thăm chú thím Thạnh. Còn số tiền nhỏ mọn này, gia đình chúng tôi nhờ anh phân chia lại cho anh em chiến hữu trong xóm, gọi là chút quà mừng Xuân. Kèm theo đây là mấy hàng của vợ tôi gởi cho anh”.

Con tim như muốn vỡ ra trăm mảnh vì quá cảm xúc, Thạnh trao bức thư cho vợ đọc tiếp.

“Kính ân nhân,
Nhờ sự giúp đỡ của ân nhân mà tôi đã được trở về với thế giới của những người bình thường. Nhưng xin phép được gọi ân nhân là anh Thạnh. Anh Thạnh! Con bé Thùy Trang mà anh cứu sống đang rất bận rộn trong năm đầu tiên ở Trường Y, cháu sẽ theo đuổi ngành giải phẫu chuyên khoa. Thùy Trang nói vì đó là ước vọng, là lời anh nói với bé ngày xưa. Điều mà tôi luôn ghi khắc trong lòng cho đến trọn đời là xin anh cho gia đình chúng tôi được giữ mãi chiếc lon guigoz ân tình như là một báu vật của gia đình. Xin được kính lời thăm chị, kính chúc anh chị một năm mới vạn sự như ý và tốt lành. Thùy Trinh và gia đình”.

Phạm Phong Dinh
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Trung đoàn 44 , Sư đòan 23 Bộ Binh : Kontum Mùa hè đỏ lửa 1972
Lời Tòa Soạn: Trung tá Ngô Văn Xuân xuất thân khóa 17 trường Võ Bị Quốc gia Đà Lạt đã từng giữ chức vụ Đại đội trưởng Trinh sát thuộc Trung đoàn 11 Sư đoàn 7 Bộ binh, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 44 của Sư đoàn 23 Bộ binh, Trưởng phòng Hành quân Sư đoàn 23 và cuối cùng là Trung đoàn Trưởng Trung đoàn 44 Sư đoàn 23. Trong chiến đãu, ông đã 3 lần bị thương và sau khi VC chiếm miền Nam, ông đã bị đi cải tạo 13 năm. Ông đến Hoa Kỳ theo danh sách HO vào tháng 4/1992 và hiện đang cư ngụ tại vùng Bắc California.


”Mùa Hè Đỏ Lửa” trên vùng Cao nguyên mới đó mà đã 24 năm. Lửa chiến trường bây giờ đã nguội lạnh. Những chiến sĩ trẻ tuổi nhất của chiến trường lúc ấy, bây giờ cũng đã bước vào tuổi tứ tuần. Những cấp chỉ huy của mặt trận lúc ấy, sau bao thăng trầm dâu biển, giờ đây số còn sống sót cũng chẳng là baọ Đã có nhiều cuốn sách, hồi ký của nhiều tác giả viết về trận đánh mang tính quyết định này. Có người đã nhìn diễn tiến của trận chiến đó từ những góc độ khá cao, thậm chí có khi đã tường thuật 1 cách dửng dưng như 1 khán giả ngồi xem trên khán đài. Nhưng dầu sao, cũng còn nhiều khía cạnh đặc biệt của các trận chiến đó mà những người ngoại cuộc không thể thấy rõ hết được

Đôi khi tôi muốn kể lại diễn biến thực sự của trận đánh mà chính mình tham dự cùng với các chiến hữu của mình, nhưng tôi nghĩ rằng tôi không phải là 1 nhà sử học và cũng không phải là 1 nhà văn, nên cứ ngại ngùng về sự trình bày. Hôm nay, nhìn mọi người đang vui xuân ở quê người, bỗng dưng tôi thấy lòng nao nao khó tả khi nhớ đến các đồng đội chia ngọt xẽ bùi, vào sinh ra tử với mình, trong số đó, phần lớn đã nằm xuống trong lòng đất, một sốcòn lại đang sống cơ cực ở một nơi nào đó trên quê hương, chỉ có một số ít may mắn tìm được đất mới, nhưng cuộc sống chưa có gì là khả quan.

Chẳng mấy chốc, thêm một tháng 5 trên quê ngườị Mùa hè ở nơi đây dịu dàng hơn, không hẳn chỉ do nơi khí hậu tốt lành mà còn bắt nguồn từ việc được hít thở không khí tự do, điều mà các bạn bè, chiến hữu của tôi đã và đang xả thân chiến đấu để tìm cho được. Nhớ tới những chiến hữu đã nằm xuống trên chiến trường Kontum vào những ngày “Mùa Hè Đỏ Lửa” là động lực duy nhất khiến tôi vùng dậy, ngồi viết bài này.

1. DIỄN TIẾN TÌNH HÌNH

Sư đoàn 23 Bộ binh gồm 3 Trung đoàn 44, 45 và 53. Các Trung đoàn này được phối trí trên lãnh thổ khu 23 chiến thuật bao gồm các tỉnh Đắc Lắc, Phú Bổn, Tuyên Đức, Quảng Đức, Lâm Đồng, Phan Thiết, Phan Rang, Khánh Hòạ Do tình hình của từng địa phương, các Trung đoàn được bố trí như sau: Trung đoàn 45, hậu cứ đóng tại Ban Mê Thuột, trách nhiệm hành quân khu vực Đắc Lắc, Phú Bổn, Quảng Đức. Trung đoàn 53, hậu cứ đóng tại Bảo Lộc, trác nhiệm hành quân trên lãnh thổ các tỉnh Lâm Đồng, Truyên Đức. Trung đoàn 44, hậu cứ đóng tại Sông Mao, trách nhiệm khu vực Phan Thiết và Phan Rang. Tuy nhiên, tùy theo tình hình đòi hỏi, trong các chiến dịch lớn phối hợp nhiều đơn vị thì các Trung đoàn này di động phối hợp tác chiến chung với Trung đoàn kia trong cùng một chiến dịch.

Sau vụ Tổng Công Kích Mậu Thân 1968. Những lực lượng đýa phương bao gồm các du kích, chủ lực tỉnh, chủ lực miền và thành phần cơ sở của CS bị tiêu diệt gần hết. Riêng tại lãnh thổ thuộc tỉnh Phan Thiết, trực thuộc Quân khu 7 của Tướng Nguyễn Văn Ngàn của CS, tình hình càng bi đát hơn. Những cố gắng cuối cùng trong cơn hấp hối, với các cuộc tấn công thí mạng vào Sông Mao, và các cuộc phục kích trên quốc lộ 1 trên đoạn Lương Sơn tới chân núi Tà Dôm trong tháng 8, 9 và 10 trong nă 1970 của 2 Tiểu đoàn chủ lực miền 481 và 482 là dấu chấm cuối cùng trong lịch sử thành lập các đơn vị nàỵ Tình hình càng bi thảm hơn khi lực lượng Hoa Kỳ bao gồm Tiểu đoàn 3 thuộc Lữ đoàn 506 Nhảy dù yểm trợ trực tiếp cho 1 đại đội cơ giới công binh có gần 20 máy ũi cỡ lớn khai quang quốc lộ 1, 1 đoạn dường băng ngang mật khu Lê Hồng Phong. Cũng trong thời gian này, Đại tá Ngô Tấn Nghĩa, 1 người rất thành công trong chiến dịch bình định phát triển của mình, đã tách được các lực lượng cơ sở của CS và vô hiệu hóa được các cơ sở nàỵ Điều này đã được báo cáo về trung ương và TT Thiệu đã xác minh bằng chính những cuộc di chuyển bằng xe Jeep vào ban đêm trên đoạn đường từ Phan Thiết đi Phan Rang, 1 điều mà chỉ một hai năm trước đó không thể thực hiện được.

Do diễn biến tình hình thuận lợi như thế, Bộ Tư lịnh Quân đoàn 2 đã quyết định điều động 2 Tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 44 lên Pleiku làm lực lượng trừ bị cho Quân đoàn.

Tháng 7/1971, Chiến đoàn A/44 được thành lập. Thành phần gồm 2 Tiểu đoàn 1 và 2, BCH nhẹ Trung đoàn do tôi chỉ huỵ Chiến đoàn di chuyển lên căn cứ Hàm Rồng ở Pleiku nhận lệnh rồi sau đó đi An Khê, phối hợp hành quân với Thiết đoàn 3 Thiết giáp. Tháng 11/1971, tình hình chiến trương Cao nguyên sôi động hẳn lên. Những trận đánh đẫm máu đã xảy ra giữa CS với các lực lượng của ta gồm có Sư đoàn 23 Bộ binh, Biệt động quân, Lực lượng đặc biệt, Địa phương quân…ở vùng 3 biên giới, trại Bạch Hổ, các căn cứ 5 và 6… BTL Quân đoàn 2 đã quyết định điều động toàn bộ Trung đoàn 44 còn lại tại Sông Mao trực chỉ Pleiku. Có lẽ cũng cần nhấn mạnh đến 1 điều là lợi dụng tình hình thuận lợi trong năm 1971 đến tháng 9/1971, Trung đoàn 44 đã được xử dụng làm thí diểm cho chương trình “Chân Trời Mới” của Bộ Tổng Tham Mưu, nhằm tái bổ sng và huấn luyện để tạo cho Trung đoàn 1 khả năng tác chiến mới. Điều này đã đạt được kết quả là khi được điều động lên Cao nguyên, Trung đoàn 44 là 1 Trung đoàn có thực lực tương đối mạnh cả về quân số lẫn khả năng tác chiến. Hơn nữa, sự chiến thắng liên tiếp qua các trận đánh trong 2 năm 1970 và 1971 đã tạo ho Trung đoàn 1 tinh thần quyết thắng. Ngoài ra, trong thời gian đồn trú tại An Khê, Trung tá Trần Quang Tiến, Trung đoàn trưởng, đã có dịp để tuyển lựa ra 1 số binh sĩ tinh nhuệ và huấn luyện cho các chiến sĩ này khả năng sử dụng B40 và B41 (1 loại súng chống chiến xa khá hữu hiệu của khối CS).

2. TRUNG ÐOÀN 44 THAM GIA TRẬN ÐÁNH

Cuối tháng 3/1972, Chiến đoàn A/44 di chuyển đi Pleiku, thay thế nhiệm vụ của Trung đoàn 45 đang mở quốc lộ 14, đoạn đường từ Pleiku đi Kontum. Tôi còn nhớ rất rõ cái ngày kinh hoàng này. 5 giờ sáng, binh sĩ các tiểu đoàn 1 và 2 đã được báo thức dể chuẩn bị lên xe sẵn sàng di chuyển. Trung tâm Hành quân của Quân đoàn báo cho biết, căn cứ 42 (1 căn cứ hỏa lực, cách Kontum khoảng 7km về phía Bắc, nằm sát bên quốc lộ 14), hiện vẫn còn đang bị đặc công CS tấn công!

8 giờ sáng, Chiến đoàn di chuyển. 10 giờ 30, đoàn xe đến vị trí. Tiếng báo cáo của Dại úy Đặng Trung Đức, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1/44 qua ống liên hợp làm tôi ngạc nhiên :”Báo cáo Bá Hòa (danh hiệu truyền tin của tôi), tình hình trong căn cứ sao thấy kỳ cục quá!”. Tôi ra lịnh cho chú lái xe vượt qua đoàn xe tiến lên phía trước. Vừa đến cửa căn cứ, tôi thấy Đức đứng xớ rớ nói chuyện với 1 sĩ quan thuộc Trung đoàn 45. Mùi khói củ thuốc súng và các vật dụng bằng gỗ đang cháy ngún, mùi khét của thịt người, mùi tanh của máụ..hoà huyện với nhau cho biết có một cuộc chiến vừa mới diễn ra nơi đây. Quan sát chiến trường, tôi nhận ra những xác chết đang nằm ngổn ngang gồm đủ loại, từ binh chủng Nhảy dù, Trung đoàn 45, Địa phương quân, Nghĩa quân, Pháo binh, gia đình binh sĩ…đến xác các đặc công CS. Bất chợt, tôi găp lại Thiếu tá Huỳnh Ngọc Anh, Trung đoàn phó Trung doàn 45, một bạn thân của tôi. Anh ta liền cho tôi biết căn cứ của anh bị đặc công CS tấn công vào lúc 2 giờ đêm qua, mãi tới 5 giờ sáng tiếng súng mới chấm dứt. Cuộc kiểm tra được khởi sự từ 8 giờ dến giờ, số tổn thất vẫn chưa xác định chính xác.

Đến 2 giờ chiều, công việc bàn giao mới xong. Chiến đoàn nhận trách nhiệm mở đường và chịu trách nhiệm an ninh lộ trình cho đoạn quốc lộ 14 từ Pleiku đi Kontum.

Trong gần 1 tuần lễ tại đây, tình hình không có tiến triển nào đáng kể. Dãy đồi đá Chu Pao nằm kề sát bên quốc lộ là một dãy những vách đá dựng. Trung đoàn 95 đặc công CS bố trí thành từng đám nhỏ trong các hang và vách đá trải dài theo quốc lộ hơn 5km, chốt chặt con đường lại. Đơn vị chúng tôi bị cầm chân ở phía Đông quốc lộ 14, không tiến lên được. Những cuộc chạm súng qua lại thường ở cấp độ tiểu đội, giành giựt nhau từng tấc đất, vách đá.

Sáng ngày 12/5/72, Chiến đoàn nhận được lệnh rời bỏ khu vực hành quan di chuyển đi Kontum. Tôi thở ra nhẹ nhõm. Dù chỉ mới có hơn tuần lễ chơi trò đánh du kích giựt chốt này, bứt chốt nọ, tôi cảm thấy hơi chán nản. Chúng tôi chờ đợi những cuộc hành quân mang tính tiến công hơn là những cuộc tranh giành từng vị trí chiến đấu mà tôi đã từng trải qua khi còn là 1 Đại đội trưởng Trinh sát hay Tiểu đoàn trưởng.

4 giờ chiều cùng ngày, tôi trở về Phòng 3 Quân đoàn để nhận kế hoạch di chuyển chi tiết. Tại đây tôi đã gặp Đại tá Lê Quang Bình, Tham mưu trưởng Quân đoàn và được biết đơn vị của tôi sẽ được chở bằng phi cơ C.130 đi Kontum vào đêm nay.

11 giờ, toàn đơn vi có mặt tại phi trường Phượng Hoàng. Tại đây, chúng tôi lại được thông báo thêm 1 tin mới: Phi trường Kontum hiện đang nằm trong tầm pháo của CS, phi cơ sẽ hạ cánh theo ánh đèn hướng dẫn của toán chuyên viên phi trường trên phi đạọ Ngay khi bánh xe ngừng lăn, cửa phi cơ sẽ mở rộng và các binh sĩ sẽ phải chia làm 2 hàng chạy thật nhanh ra khỏi phi cơ và phi đạo để tránh phá! Nhưng cũng lưu ý là không được chạy ra quá phi đạo 50 m vì phía ngoài phi đạo có gài mìn chống chiến xa!

Bộ chỉ huy của Chiến đoàn và tôi đi theo chuyến phi cơ đầu tiên, vì tôi muốn nắm được tình hình cụ thể để có thể có những xử trí thích ứng khi cần.

Chiếc phi cơ Hercules C.130 chở gần 100 người cất cánh lúc 11 giờ 30 đêm ấỵ Trời cao nguyên trong tháng đầu hè đày sao lóng lánh trên bầu trời đen xanh thăm thẳm. Khó ai có thể tin được trong cái im lặng thanh khiết ấy sẽ hứa hẹn những cuộc thư hùng đẫm máu chỉ không đầy 24 tiếng đồng hồ sau.

10 phút sau khi cất cánh, phi trường Kontum đã hiện ra trong những ánh chớp của những máy beacon của toán chuyên viên hướng đạo. Chiếc phi cơ hạ thấp dần và đáp rất gọn xuống phi đạo trong đêm tối, chạy đến cuối đường bay, trở đầu, mở cửa. Chúng tôi phân tán rất nhanh qua 2 bên đường trong im lặng. Phi cơ lại rú mạnh và bốc lên cao hướng về lại phía Pleiku. Tất cả cuộc di chuyển, lên xuống không đầy 15 phút cho mỗi chuyến. Đức theo chuyến bay thứ 2. Tôi yêu cầu Đức ở lại tiếp tục theo dõi cuộc vận chuyển. Lệnh từ BTL Sư đoàn cho biết, sẽ có 1 chiếc xe Jeep ra đón tôi vào trình diện Đại tá Tư lịnh Sư đoàn.

Viên sĩ quan tùy viên đưa tôi vào 1 căn nhà xây kiểu như 1 văn phòng công sở thường, chung quanh có 1 lớp rào kẽm gai sơ sài. Sau đó tôi được hướng dẫn vào gặp vị Tư lịnh, lúc đó là khoảng 1 giờ sáng ngày 13/5/1972.

Đại tá Lý Tòng Bá, Tư lịnh Sư đoàn, mặc áo thun trắng, quần trận màu xanh. Sau cái bắt tay xã giao, ông kéo tôi ngồi chung trên chiếc giường sắt quân đội được kê giữa phòng. Ông hỏi qua tình hình đơn vị, tinh thần binh sĩ, rồi ông đứng lên, kéo tôi xuống Trung tâm Hành quân nói sơ lược tình hình, diễn biến các kế hoạch của Sư đoàn, sau đó ông giao nhiệm vụ. Tại đây tôi được biết, toàn bộ Trung đoàn 44 sẽ tiếp tục lên trong ngày 13. Nhiệm vụ trước mắt của chúng tôi là bố trí thay thế 1 Liên đoàn Biệt động quân trên tuyến phòng thủ hướng Tây Bắc cách tỉnh Kontum khoảng 5 km.

Tôi trở lại phi trường Kontum, họp hành quân với Đặng Trung Đức, Tiểu đoàn trưởng Tiểu doàn 1/44 và Nguyễn Xuân Phán, Tiểu đoàn trưởng của Tiểu đoàn 2/44. 6 giờ 30 sáng, những tia sáng mặt trời chưa đủ để soi rõ thành phố đang ngái ngủ thì có tiếng nổ “ùynh, oàng, ùynh, oàng…”, 2 trái hỏa tiển 120 ly của CS rót thẳng vào phi trường từ hướng Đông Bắc. Rất may là cả 2 đều nổ gần trạm Tiếp Liên vắng người nên không gây tổn thất. Tôi cho lệnh Đức và Phán kéo quân ra khỏi phi trường, đi bộ dọc theo quốc lộ 14 lên hướng Bắc thi hành nhiệm vụ. Cuộc chuyển quân và phối trí quân cứ tiến hành nhịp nhàng như thế cho đến 5 giờ chiêu thì hoàn tất. Trung tá Tiên cùng Bộ chỉ huy Trung đoàn cũng đã lên đầy đủ cùng 2 Tiểu đoàn 3 và 4.

Trung đoàn 44 dược phối trí như sau :

Ba Tiểu đoàn 1, 2 và 3 trải dài theo hình cánh cung trên tuyến phòng thủ dài gần 4km, phía Tây giáp nhánh sông Dap Kron (?), phía Đông giáp quốc lộ 14. Phía phải quốc lộ là Trung đoàn 45. Lùi về phía sau tuyến phòng thủ khoảng 2km là đòi tròn, BCN Trung đoàn đóng tại đâỵ Tiểu đoàn 4/44 và Đại đội 44 Trinh sát là lực lượng trừ bị.

6 giờ chiều, Trung tá Tiến cùng tôi đi kiểm tra tuyến phòng thủ của các Tiểu đoàn 1, 2 và 3. Tại vị trí BCH cũ của đởn vị Biệt động quân vừa bỏ đi, chúng tôi vừa bước vào hầm hành quân thì cùng lúc pháo binh CS bắn tới. Những khẩu pháo này được đặt ngay tại Eo-Gió, 1 vị trí cách chúng tôi chừng 3km hướng Bắc, trực xạ vào chúng tôị Cuộc bắn phá này kéo dài chừng 20 phút. Những cột ăng-ten bật tung, khói bay mịt mù, trời sập tối. 8 giờ tối hôm ấy, chúng tôi được BTL Sư đoàn cho biết có nhận được điện văn của CS báo cáo đã diệt gọn Chỉ Huy Sở 44!

12 giờ đêm điện thoại reo, Trung tá Hiếu điện đàm cùng Đại tá Tư lịnh Sư đoàn. Đại tá Tư lịnh cho biết đã bắt được mật lịnh tấn công của CS vào 5 giờ sáng hôm sau, yêu cầu Trung đoàn chuẩn bị sẵn sàng đối phó.. Tất cả Trung đoàn được báo thức. Hầm hố cá nhân được lịnh phải tu bổ lại, cũng cố thêm để có thể chịu đựng được các cuộc pháo kích nặng trong chiến thuật tiền pháo hậu xung của địch.

Không khí oi bức của mùa hè Cao nguyên, cái ngột ngạt của sự chờ đợi, cái căng thẳng sẵn có kéo dài nửa tháng naỵ..làm cho chúng tôi càng không ngủ được. Đêm im lặng lạ thường. Cái im lặng chứa chất những mưu toan, thủ đoạn của cả 2 phía. Nằm trên chiếc poncho bên cạnh miệng hầm, tôi ngước nhìn bầu trời đầy saọ Tôi cố tìm trong giải ngân hà hằng hà sa số sao kia một ánh sao sa, để kịp nói lên 1 điều ước: Cuộc chiến hãy mau khởi sự để chấm dứt cuộc chờ đợi khốn nạn này.

3. TRẬN ÐÁNH MỞ MÀN

Những tiếng pháo gầm rú như giận dữ sau 1 thời gian bị bắt buộc chờ đợi. Tiếng điện đàm từ các hệ thống máy truyền tin gọi nhau ơi ớI. Tiếng nói như có vẻ hơi mất bình tĩnh của Đức:”Báo cáo Bá Hòa, địch bắt đàu tấn công chúng tôi”. Tiếng nói lúc nào cũng lạnh lùng bình thản của Phán:”Báo cáo Bá Hòa, có 3 chiếc tăng đang di chuyển về hướng tôi!”. Lúc đó là 5 giờ 20 sáng ngày 14/5/72.

Sau gần 30 phút pháo kích liên tục trên tuyến phòng thủ của các Tiểu đoàn 1, 2 và 3, những loạt đan pháo chuyển xạ về hướng chúng tôi để hổ trợ cho các cuộc xung kích của bộ binh và chiến xa của địch. Cuôc tấn công mang đầy tính chính quy sách vở mà tôi đã được huấn luyện cách đó 12 năm, nhưng mới chỉ được chứng kiến lần đàu.

Chúng tôi xử dụng các hàng rào cản pháo binh hỗ trợ tuyến phòng thủ, các phi cơ quan sát theo hương điều động của địch. Một phi đội trực thăng có trang bị đặc biệt hỏa tiển TOW cũng có mặt tại mặt trận không lâu sau đó.

6 giờ 15, tiếng báo cáo của Đức vang trong máy:”Báo cáo Bá Hòa, chúng tôi rang được 2 con cua rồi!”. Tiếng của Phán:”Báo cho Bá Hòa biết là tôi bắt được 1 con cua sống, 1 con bị rang muối còn 1 con chạy lủi về hướng Bắc, xin Bá Hòa cho Sao Mai (danh hiệu của phi cơ quan sát) nó biết nó thit luôn cho rồi!”. Tôi cũng chẳng chờ đợi lâu, tiếng phi công vui vẻ:”Hồng Ngọc (danh hiệu của Phán) yên chí, tôi thấy nó rồi, tụi nó đang chạy cát bụi mịt mù kia rồi…”. 3 chiếc trực thăng võ trang được gọi đến kịp thời. Những con cua của Trung đoàn 2 Thiết giáp CS sau khi dội ngược trước bức tường thép, cũng chịu chung số phận hẩm hiu như đòng đội.

Đến 10 giờ, tiếng súng lớn thưa thớt dần, tiếng súng nhỏ cũng chỉ còn rời rạc. Trên bầu trờ quang đãng lúc ấy chỉ còn vần vũ 2 phi tuần khu trục phản lực Standby. Báo cáo sơ khởi, trên tuyến phòng thủ của Trung đoàn 44, địch bỏ lại 5 xe tăng T54, 1 bị bắt sống. Khoảng hơn 100 xác đých nằm rải rác trên tuyến kéo dài trên 4km. Bên ta khoảng 50 bị hy sinh và bị thương, trong đó có 2 Đại đội trưởng. Và điều khôi hài là trong 5 chiếc xe tăng bị bắn cháy ấy, có tới 2 chiếc là do súng B40 của các toán diệt tăng của ta. 7 tù binh, trong đó có 2 bị thương, được giao giải ngay về BTL Sư đoàn khai thác. Cuộc hưu chiến bất đắc dĩ kéo dài không lâu, 2 giờ 15, địch phát động cuộc tấn công thứ hai vào phòng tuyến của ta. Súng đạn các loại lại được dịp thi nhau lên tiếng. Máy bay gào thét, nhào lộn lên xuống liên tục trên hậu tuyến địch.. Nỗ lực của địch đã được Trung đoàn 44 đáp ứng xứng đáng. Thêm 3 xe bị bắn cháy trên tyến, 50 xác địch quân để lạị Tiếng súng tạm ngưng vào lúc 5 giờ chiều, rồi lại trở lại vào lúc 7 giờ tối. Trong suốt ngày 14/5/72, CS đã tung ra 3 cuộc tấn công vào phòng tuyến của ta và đều bị đẩy luị Nếu tính chung cả số chiến xa do không quân bắn cháy, chỉ trong ngày hôm ấy, Trung đoàn 2 Thiết giáp của CS mất đi 15 xe.

Màn đêm trùm xuống trận địa màu tang tóc, lẫn trong mùi khói của cỏ khô trên những vạt đất còn ngun thuốc súng, lập loè những tia lửa dang dở của các đám cháy nhỏ nằm rải rác khắp chiến trường. Vẫn có mùi tanh của máu, mùi khét của thịt da ngườị Tất cả quyện lại với nhau, tạo nên cái mà người ta thường gọi là tử khí.

Những cung từ của tù binh khiến cho ta nắm được đội hình tấn công của địch. Trung đoàn 44 đang trực diện với mũi tấn công chính của 2 Trung đoàn 48 và 64 trực thuộc Sư đoàn 320 thép của CSBV. Sư đoàn này là 1 trong 2 Sư đoàn khét tiếng là tinh nhuệ và chủ công của CS. Sư đoàn kia là 308. Từ nhiệm vụ là lực lượng tổng trừ bị của CSBV, 2 sư đoàn này đã được tung vào chiến trường miền Nam dể thay thế các đơn vị đã bị tổn thất nặng nề, mất khả năng tác chiến. Sư đoàn 320 đã xuyên thủg tuyến phòng thủ của Sư đoàn 22 Bộ binh VNCH trên chiến trường Tân Cảnh ở vùng Tam Biên, và cũng đã phải trả một giá khá đắt cho thành quả này của họ. Điều này được giải thích bằng sự tái tổ chức và trang bị, mất khá nhiều thời gian nên tốc độ cuộc tiến quân bị chậm đến gần 1 tháng, kể từ sau khi họ chiếm được Tân Cảnh. Sáng ngày 15/5/72, cũng vẫn màn dạo đầu là loạt pháo dọn đường, sau đó là bộ binh xung phong, 2 Trung đoàn 48 và 64 của Sư đoàn 320 CSBV tiếp tục cuộc xuyên phá tuyệt vọng của họ. Các chiến sĩ thuôc Trung đoàn 44 vẫn bình tĩnh, lạnh lùng quyết liệt chống trả. Đặc biệt trong lần tấn công đầu ngày này, không có sự hỗ trợ của chiến xa nữạ Điều này ch+’ng tỏ lực lượng xung kích bằng thiết giáp của họ đã chịu những tổn thất thực sự nặng nề.

Buổi trưa cùng ngày, 1 mũi tấn công của họ đã chiếm được 1 số vị trí tiếp giáp giữa 2 Tiểu đoàn 1 và 3. Đại tá Trung đoàn trưởng (đã được đặc cách gắn tại mặt trận buổi trưa ngày 14/5/72 do Thiếu tướng Toàn, Tư lịnh Vùng, và cố vấn Paul Vann), đã quyết định tung luôn tiểu đoàn trừ bị 4/44 vào chiếm lại khu vực nàỵ Phải mất gần 4 tiếng đồng hồ, Đại úy Võ Anh Tài, Tiểu đoàn trưởng, mới báo cáo hoàn tất nhiệm vụ. Kể từ lúc đó, lực lượng trừ bị của Trung đoàn chỉ còn lại 1 Đại đội Trinh sát.

8 giờ tối, Đại tá Tư lịnh Sư đoàn điện thoại trực tiếp với Đại tá Tiến, thông báo 1 quyết định táo bạo của ông. Sư đoàn sẽ sử dụng hộp bom trải thảm (Box B52) để tiêu diệt lực lượng địch đang áp sát tuyến phòng thủ của ta để tránh bị tiêu diệt bằng hỏa lực phi pháọ Mỗi Box B52 có diện tích 3 km2, số bom được thả xuống cho mỗi tấm thảm này gồm nhiều loại, từ 100 – 500 pound, đủ sức tiêu diệt hầu hết các sinh vật nằm trong thảm. Dù bom được thả theo sự hướng dẫn của các công cụ điện tử nên bom rơi vào các vị trí khá chính xác, nhưng qui luật an toàn vẫn đòi hỏi đơn vị bạn phải nằm cách thảm bom tối thiểu 500m theo hướng thẳng góc với chiều bay của B52 và 2km với hướng baỵ Trong khi khoảng cách giữa ta và địch lúc đó chỉ vỏn vẹn có 20-30m, thậm chí có những vị trí còn gần hơn thế nũạ Đại tá Tư lịnh Sư đoàn chỉ thị các đơn vị của Trung đoàn phải bí mật rời khỏi vị trí phòng thủ 300m về phía sau, núp theo con suối cạn 2 phút trước khi máy bay B52 đến trải thảm. Lệnh được ban ra qua điện thoại để bảo mật hoàn toàn. 12 giờ 2 phút, vừa kịp nghe tiếng ù ù của máy bay, thì đã có tiếng ục ục của bom rơi! Những tiếng nổ long trời lở đất, kèm theo những chấn động rung chyển mặt đất, mọi ngươi đều cảm thấy tức ngực đến ngộp thở, dù rằng vị trí của chúng tôi lúc đó cách xa thảm bom 2 km!

Quyết định táo bạo này đã mang đến 1 kết quả không ngờ : Biệt đội tình báo kỹ thuật của Sư đoàn nghe lén được những điện khẩn của các đơn vị CS kêu nhau ơi ớị.. Một số chỉ huy sở biệt vô âm tín, trong đó có BCH Trung đoàn 48 đang nằm đối mặt với Tiểu doàn 2/44.

Tình hình trở lại yên tĩnh từ dêm 16-20/5/72.

Tính ra hầu như toàn bộ Trung đoàn 44 đã không ngủ gần 1 tuần lễ liên tiếp, hay nói cho chính xác hơn, không được phép ngủ trong suốt thời gian ấỵ Thêm vào đó là những tổn thất không thể tránh được sau 1 tuân lễ giao tranh. Trung đoàn cần được nghỉ ngơi, BTL Sư đoàn quyết định đưa Trung đoàn 53 ra thay thế., Trung đoàn 44 trở về làm trừ bị cho Sư đoàn. 2 Tiểu đoàn 1 và 2 được đưa ra nghỉ ngơi tại bờ sông Dap La, trong khu dân cư của BCH Trung đoàn, Tiểu đoàn 4 và Đại đội Trinh sát trở về đồn trú tại BTL Biệt khu 24.

So ra sau 1 tuần trằn trọc bên chiến hào, nằm cận kề địch quân, đêm đầu tiên được ngủ trong 1 doanh trại kiên cố khiến cho tôi cảm thấy hạnh phúc hơn bao giờ hết. Tôi ngả lưng trên ghế bố trong Trung tâm Hành quân và…lịm đị

4. TRẬN ÐÁNH ÐỢT HAI

Cuộc vui nào cũng qua mau, người ta thường nói như thế. Điều này lại càng đúng cho chúng toi hơn bao giờ. Cuộc dưỡng quân chưa tròn 2 ngày thì chiều 22, Đại tá Trung đoàn trưởng và tôi được qua trình diện Đại tá Tư lịnh Sư đoàn để nhân lịnh mớị Vị Tư lịnh kêu chúng tôi xuống Trung tâm hành quân Sư đoàn. Với vẻ mặt đăm chiêu, ông ôn tồn nói :”Tôi biết Trung đoàn còn rất mệt, các anh đáng lý cần dược xả hơi thêm vài ngày nữa, nhưng tình hình đang có những diễn tiến mớị Sư đdoàn 320 đã kiệt quệ hẳn, không còn khả năng hành quân nữạ Tuy nhiên, chúng ta đã nhận được những tin tức khá chính xác về 1 kế hoạch mới : Tướng Hoàng Minh Thảo, Tư lịnh Mặt trận B3, quyết định tung ra nỗ lực cuối cùng bằng 1 cuộc tấn công mới với Sư đoàn 2 Sao Vàng được điều từ Tam Quang và Bồng Sơn lên, phối hợp với Sư đoàn 968 mới được bổ sung và thành lập bởi các đơn vị chính thống của Mặt trận. Cố vấn John Paul Vann yêu cầu chúng ta mở 1 cuộc phản công bằng tấn công vào sau lưng địch. Tôi đã trình bày cho ông ta biết thực trạng của chúng ta, nhưng ông ấy đã áp lực bằng cách nêu điều kiện chỉ tiếp tục yểm trợ hỏa lực B52 nếu chúng ta tổ chức 1 cuộc hành quân như thế! Rồi ông quay qua phía tôi vỗ vai nói :”Tao biết chú mày không mấy vui về quyết định này, cũng như chính tao vậy! Chúng ta không có sự lựa chọn nào khác. Tao tin tưởng ở chú em và hy vọng là chú em sẽ hoàn thành được sứ mạng này”. Đại tá Tiến và tôi nhìn nhau không nóị Đúng hơn là không được phép nói không.

7 giờ sáng ngày 23/5/72, tôi và 2 tiểu đoàn 1 và 2/44 tham gia cuộc hành quân phản công nàỵ Trong các cuộc hành quân quan trọng, tôi vẫn có thói quen sử dụng 2 đơn vị này vì nhiều lý do riêng tự Thứ nhất, cả Đức và Phán đều xuất thân từ khóa 19 Đà Lạt, là khóa đàn em do chính khóa 17 chúng tôi huấn luyện, nên ngoài hệ thống quân giai của Quân đội, giữa chúng tôi còn có tình đồng trường truyền thống. Thứ hai, 2 tiểu đoàn này đều là 2 tiểu đoàn có nhiều thành tích nhất trong Trung đoàn, có tổ chức cán bộ chặt chẽ và tinh thầ chiến đấu khá caọ Sau ít phút thảo luận, tôi, Phán và Đức đã đồng ý với nhau 1 số nguyên tắc :

- Mỗi tiểu đoàn chỉ lựa ra khoảng 150 binh sĩ, sĩ quan và hạ sĩ quan có tinh thần và sức khoẻ tốt.
- Tất cả súng cộng đồng đều bỏ lại hậu cứ.
- Quân trang quân dụng mang tối thiểu, gọn nhẹ, dễ xoay xở.

Chiến đoàn đặc nhiệm của chúng tôi sẽ được trực thăng vận vào sau lưng phòng tuyến địch từ 10-15 km, sau đó sẽ mở cuộc càn quét địch từ hướng Bắc xuống Nam, lấy trục đường 14 làm chuẩn, hướng về phía Kontum. Phi đoàn 263 của Thiếu tá Quang nhận nhiệm vụ hành quân phối hợp với chúng tôị

Khi bước lên máy bay chỉ huy C&C, tôi bàn cùng Quang hướng tiếp cận bãi đáp để đánh lừa địch. Đội hình của đơn vị bay theo trục đông tây, hướng về phía Trung Nghĩa, ra sát ven sông Dab Kron, rồi lên hướng bắc, đổi hướng tây đông, băng qua quốc lộ 14 và đáp xuông các bãi đáp trống trên các ngọn đồị Cuộc đổ quân hoàn tất lúc 9 giờ sáng, không có tổn thất. Tôi chia dơn vi làm 2 mũi, Tiểu đoàn 1 cập theo quốc lộ 14, Tiểu đoàn 2 dọc theo đường đỉnh cách quốc lộ 1 km, tôi đi theo Tiểu đoàn 2.

Ngay khi xuống bãi đáp, chúng tôi đã chạm trán ngay với các toán hậu cần và thông tin liên lạc của địch. Trên đoạn đường khoảng 3 km di chuyển dầu tiên, ít nhất chúng tôi cũng đã tiêu diệt được hơn 1 tiểu đội địch đi lang thang kéo giây điện thoại hoặc gánh cơm tiếp tế..

12 giờ, chúng tôi còn cách thị xã Kontum 10 km. Nhìn về hướng thị xã, khói lửa ngút trời, tiếng pháo nổ dồn dập tưởng chừng như không bao giờ dứt. Trong hệ thống thông tin nội bộ của Sư đoàn, tôi nghe tiếng của các đơn vị báo cáo bị CS pháo kích kêu liên tục. Trong cái huyên náo ồn ào đó, từ khắp hướng, những chiếc phản lực cơ nhào lộn thả bom lên xuống tấp nập không kém. Sau này tôi mới được biết, nội trong ngày 23/5/72, Kontum đã chịu 1 ngày ăn nhiều đạn pháp nhất, gần 2000 quả đạn trải rộng trên 1 diện tích không đầy 10 km2! 1 giờ trưa, tôi nhận được lệnh trực tiếp từ Mặt Trờị Tiếng Đại tá Tư lịnh vang lên trong máy :

- Bá Hòa, đây là Mặt Trời đây, anh nghe tôi rõ không?
- Tôi nghe Mặt Trời 3/5, có gì Mặt Trời nói đị
- Đây là Mặt Trời, tôi lệnh cho anh phải về nhà trước chiều nay để gặp gia đình anh, bằng mọi giá, anh nghe tôi rõ không?
- Tôi nghe rõ.
- Tôi lặp lại là bằng mọi giá, anh nghe rõ không?
- Tôi nghe rõ rồi, bằng mọi giá, phải không, Mặt Trời?

Tôi nói lại cho Đức và Phán cái lệnh quái ác nàỵ Bằng mọi giá, chúng tôi phải đạp lên đầu cái phòng tuyến hung hiểm ủa địch đang nằm đối diện với Trung đoàn 45 để trở vào Kontum, nơi mà cũng chỉ sáng nay thôi, chúng tôi cũng từ vừa trong đó đi ra! Tôi ra lệnh dừng quân, lấy sức, ăn trưạ 2 giờ, chiến đoàn mở cuộc phản kích từ phía sau, leo qua đầu địch trở về thành phố.

Khoảng 6 giờ, toàn đơn vị căng hàng ngang, mở hỏa lực và lao vao tuyến địch đang phòng ngự hướng vào Kontum. Cuộc chạm súng tương đối ngắn ngủị Không như dư liệu, một phần địch quân bị tiêu diệt ngay trên tuyến, một phần bỏ chạy về hướng tây bắc. Đại tá Tư lịnh Sư đoàn ra đón chúng tôi cách tuyến phòng thủ không xa, ngay trên quốc lộ 14. Điều an ủi lớn lao nhất cho tôi, trong cuộc hành quân này, chúng tôi chỉ bị tổn thất 1 sĩ quan và 13 binh sĩ, ngoài ra 5 người khác bị thương chúng tôi đều mang về được. Tôi chia tay Phán và Đức ngay cửa BTL Sư đoàn. Cả hai trở về bên bờ sông Dap La, còn tôi và chú em truyền tin, viên sĩ quan Ban 3, trở lại BCH Trung đoàn 44.

5. TRẬN ÐÁNH ÐỢT BA

Tôi để nguyên giầy vớ, buông mình lên ghế bố nhà binh. Sau khi uống 1 ly nước đá và hút điếu thuốc, đầu óc tôi vẫn còn quay cuồng với những hình ảnh chết chóc vừa mới xảy rạ Hình ảnh của những đồng đội xả thân lao vào giặc, không ngại gian khó và hiểm nguy, không từ chối hy sinh…đã làm cho tôi vừa hãnh diện được là cấp chỉ huy của họ vừa áy náy về hình ảnh những đau thương mà gia đình, vợ con của họ phải gánh chịụ Trong suy tư ấy, tôi quên mất bản thân mình. Tôi cứ tưởng tôi là cấp chỉ huy thì thần chết không có quyền đụng tớị Thực tế, có biết bao nhiêu người nhận lãnh trách nhiệm chỉ huy như tôi đã nằm xuống như các chiến hữu khác. Súng đạn vô tình, tử sinh có số… Tôi thiếp di trong cơn mệt nhoài của thân xác. 5 giờ sáng ngày 24/5/72, tôi choàng thức giấc, tiếng súng đại bác 100 ly gắn trên chiến xa trực xạ nổ ầm đúng ngay trên hầm chỉ huy, xen kẽ giữa tiếng súng nhỏ nổ chát chúa ngay trong tuyến phòng thủ, tiếng la hét om sòm… Tôi nghe Trung úy Mạnh, Đại đội trưỏng Trinh sát 44, thất thanh trên vô tuyến : “Báo cáo Bá Hòa, địch đang tấn công vào chúng tôị..”.

Thế là thế naò nhỉ? Đại đội 44 Trinh sát đang phòng thủ chung quanh căn cứ của BCH Trung đoàn. Sát ngay bờ thành phía Bắc của căn cứ là Bệnh viện 2 Dã chiến, khoảng cách từ hầm chỉ huy ra đến tuyến phòng thủ chỉ khoảng 20m. Thế là thế nào?

Tiếng của Mạnh lại la bải hải trên máy :”Bá Hòa ơi, chúng tôi rang được 1 con cua rồi!”. BTL Sư đoàn quay điện thoại qua hỏi chuyện gì. Đại tá Tiến báo cáo Đại đội Trinh sát 44 vừa bắn hạ được 1 chiến xa CS, ngay bên kia hàng rào Bệnh viện 2 Dã chiến. Ai cũng ngỡ ngàng.

Chiếc chiến xa nã đạn đại bác 100 ly ngay trên nóc hầm chỉ huy của húng tôi nằm cách xa lối vào Trung tâm hành quân chừng 20 m. Đó là 1 chiến xa T.59 của Trung quốc chế tạo, cải tiến từ kiểu T.54 cũ hơn. Các chiến sĩ Trinh sát 44 mở nắp xe, lôi ra 3 xác CS đẫm máụ Trong đó có viên Đại úy tên Vinh, chức vụ Đại đội trưởng cơ giới, trước ngực đeo chiếc túi da đựng bản đồ và 1 lá cờ đỏ sao vàng có thêu hàng chữ “Đơn vị anh hùng”. Đại tá Tiến đã trao chiếc cờ bị xé rách bằng nhiều vết đạn, cây súng ngắn K.59, cùng túi đựng bản đồ cho Đại tá Tư lịnh Sư đoàn, khi ông qua thăm mặt trận tại đâỵ

Trời hửng sáng, trực thăng võ trang được kêu lên quan sát khu vực khuôn viên bệnh viện đã duợc di tản từ lâu trước đó, 3 chiếc thiết giáp khác chui vào nhà ẩn núp bị phát hiện và bị tiêu diệt bằng hỏa tiển TOW ngay sau đó. Đơn vị bô binh của CS tác chiến hợp đồng với chiến xa bị Đại đội trinh sát tiêu diệt gọn, gần 20 xác nằm rải rác trước tuyến phòng thủ. Mặt Bắc kể như tạm yên. Hướng cổng ra vào của BCH Biệt khu 24 quay về hướng Đông, cách 1 bãi cỏ hoang khoảng 50m, bên kia con đường đi vào cổng là khu gia binh, trại Thiết giáp… 1 Tiểu đoàn địch đang bố trí tấn công vào BCH Trung đoàn từ hướng đó. Thì ra địch đã lòn vào hướng Đông, Đông Nam, xuyên qua tuyến phòng thủ của các đơn vị Địa phương quân và Nghĩa quân thuộc Tiểu khu Kontum, đánh vào BTL Biệt khu 44 mà chúng đinh ninh là nơi trú phòng của BTL Sư doàn 23!

Sư đoàn gởi tới 1 tiểu đoàn của Sư đoàn 22 tăng viện và chi đoàn chiến xa để phối hợp tiêu diệt đơn vị này của CS. 2 giờ chiều, 1 phi tuần khu trục được gởi đến để yểm trợ cuộc tiến quân. Trong thế trận cài răng lược, cuộc oanh kích của các phi cơ trở thành 1 trò chơi vô cùng nguy hiểm. Phía Bắc là Trung đoàn 45, phía Đông là các đơn vị Địa phương quân của Tiểu khu, phía Tây là BTL Sư đoàn 23, phía Nam là dơn vị bạn đang tấn công quân địch. Trục tấn công tương đối an toàn cho quân bạn vì chỉ còn 1 hướng duy nhất : trục Đông Tâỵ Các đơn vị bạn được yêu cầu thả trái khói để đánh dấu vị trí. Phi cơ quan sát điều chỉnh cự ly từng thước một! Những trái bom được thả xuống mục tiêu như những nghệ nhân biểu diễn xiếc. Lần điều chỉnh cuối cùng, trái bom 250 cân Anh thả ngay giữa mục tiêu yêu cầu, xác Cộng quân nổ văng lên cao tung toé, giữa tiếng reo hò tán thưởng của quân bạn. Cùng lúc đó, cây đại liên phòng không của địch vừa bố trí xong trên bồn nước khu gia binh bất thần nhả đạn xối xả vào thân phi cơ khi chiếc phi cơ này ngóc đầu lên chuẩn bị trợ về căn cứ. Chiếc phi cơ trúng đạn loạng choạng mất thăng bằng, nghiêng đảo trông thật đáng thương. Về sau nghe kể lại tôi mới biết, nếu anh chỉ nghĩ đế sinh mạng của mình, nhảy dù cấp cứu ra khỏi phi cơ, anh đã an toàn về với gia đình. Nhưng sẽ rơi vào giữa thị xã, chắc chắn sẽ tạo nên những tổn thất cho dân chúng, nên anh đã cố gắng đáp xuống đám rừng khô ở bờ phía Nam sông Dap La với hy vọng đem lại an toàn cho mọi ngườị Anh không ngờ 1 bờ ruộng nhỏ đã làm chiếc phi cơ anh lật ngửa và anh đã tử nạn. Tên anh là Phạm Văn Thặng, Thiếu tá Không quân Phạm Văn Thặng.

Cùng buổi chiều hôm ấy, những đợt chống cự cuối cùng của địch bị bẻ gẫỵ Tù binh, đặc biệt trong cuộc tấn công này có cả 1 số hàng binh và những cán binh miền Bắc, lợi dụng trong lúc súng nổ, đã chạy sang đầu hàng các đơn vị của tạ Các bản thẩm cung sau đó đã xác nhận những tin tức ta thu nhận được là chính xác.

6. ĐỢT TẤN CÔNG CUỐI CÙNG

Thời gian tiếp theo là những cuộc hành quân mở rộng vòng đai phòng thủ của Sư đoàn 23. Các đơn vị từ tuyến phòng thủ của mình tiến lên hướng Bắc, tung ra các cuộc truy quét các tàn binh CS và thu dọn chiến trường.

Đầu tháng 6/1972, Đại tá Lý Tòng Bá, Tư lịnh Sư đoàn 23, được vinh thăng Chuẩn tướng tại mặt trận. Ngày Quân lực năm 1972 tôi được thăng đặc cách Trung tá tại mặt trận. Cả 4 Tiểu đoàn trưởng, cùng các sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ xuất sắc của Trung doàn đều được thăng đặc cách mỗi người 1 cấp.

Cũng trong tháng này, Đại tá Tiến bị kiệt sức sau chuỗi ngày chỉ huy căng thẳng, đã phải nhập viện trị bịnh. Tôi được Đại tá Tư lịnh sư đoàn chỉ định xử lý thường vụ chức vụ Trung đoàn trưởng 44 và một tháng sau đó thì chính thức đảm nhiệm chức vụ nàỵ Mặt trận trở lại không khí sôi động sau gần 1 tháng tạm yên lặng. Sư đoàn F.10 CS và các đơn vị trực thuộc Mặt trận B3 trở lại lởn vởn trong khu vực Võ Định cách Kontum non 20km về hướng Bắc. Các dàn pháo tầm xa 122 ly và hỏa tiễn của CS đã nã đạn hàng ngày vào thị xã Kontum. Tuyến phòng thủ mới của Sư đoàn được nới rộng tới căn cứ Eo Gió cách thị xã gần 10km. Những tin tức tình báo cao cấp ghi nhận CS đang chuẩn bị cho 1 cuộc tấn công mới vào Kontum. Đây là đợt tổng công kích thứ 3. Sau hai đợt tấn kích 1 và 2, những lực lượng chủ công của địch đã bị loại ra khỏi vòng chiến, đó là Sư đoàn 320 Thép, Trung đoàn 2 Tăng, Trung đoàn 95 Đặc công…, nên CS phải sắp xếp lạị Kế hoạch tác chiến cũng thay đổi, các mũi tấn công chủ yếu đánh từ hướng Nam và Tây Nam vào thị xã. Một số súng cối 122 ly và súng phòng không bố trí ngay trên đỉnh đồi Chipu, nằm về hướng Đông Nam Kontum, cách Kontum khoảng 6 km.

Với cách phối trí của địch, Trung đoàn 45 từ nhiệm vụ tổng trừ bị của Sư đoàn được đưa ra ứng phó chính với mặt trận nàỵ Ở mặt trận phía Bắc, 2 Trung đoàn 44 và 53 đã tỏa ra theo hình nan quạt, tiếp tục các cuộc hành quân truy quét địch và mở rộng vòng đai phòng thủ.

Vì CS không còn mạnh như những trận đầu nên các cuộc tấn công đợt này không ác liệt như thời gian trước, nhưng cũng không kém phần gây cấn và đẫm máụ Các Thiếu tá Đặng Trung Đức, Tiểu đoàn trưởng 1/44, Thiếu tá Võ Anh Tài, Tiểu đoàn trưởng 4/44 lần lượt hy sinh trong tháng 6 và 7/1972. Vào tháng 8, tôi cũng bị thương gãy chân trái trong 1 đợt pháo kích bằng súng cối 122 ly của Trung Cộng.

Tháng 9/1972 chiến sự dịu lắng dần. Những cuộc tấn công vô vọng của CS do Tướng Hoàng Minh Thảo điều khiển đã không đem lại 1 kết quả nào cụ thể. Phải chăng nhu cầu chính trị lúc đó của Lê Đức Thọ tại hội nghị Paris không còn thúc bách để buộc Mặt trận B3 phải tự hủy diệt như thế? Nói đúng hơn, những tổn thất quá lớn sau gần 4 tháng tấn công liên tục đã không cho phép Tướng Thảo hành động tự sát nữạ

Ngày Quốc khánh năm ấy, Trung đoàn 44 được tuyên dương trước Quân đội lần thứ 5, về những chiến công hiển hách và những thành tích xuất sắc mà Trung đoàn đã đạt được trong suốt thời gian tác chiến tại mặt trận Kontum.

7. NHỮNG ƯỚC MONG

Tháng 5 năm nay (1996) là tròn 24 năm sau các trận đánh tại mặt trận Tây nguyên. Những chiến sĩ ưu tú nhất của Trung đoàn 44 đã nằm xuống trên chiến trường nàỵ Xương trắng, máu đào đã đổ xuống, trải ra trên 1 vùng đất vốn nổi tiếng là hiền hòa và thơ mộng của quê hương. Một số khác, chỉ 3 năm sau đó, sống ngắc ngoải, lê lét, hoặc chết vì kiệt sức, vì tra tấn, bịnh tật trong các trại tù khổ sai của CS.

Đã có lúc, tôi suy nghĩ tới những kỷ niệm biết bao kiêu hùng, đáng hãnh diện mà Trung đoàn 44 đã làm được trong “Mùa hè đỏ lửa” trên chiến trường Tây nguyên ấy, rồi sau đó lại cảm nhận 1 nỗi buồn man mác gần như khó nguôi ngơi đi được. Chúng ta đã hy sinh và đã thắng trong nhiều trận, nhưng đã để thua trong cuộc chiến. Chúng ta đã có tội với một nữa phần đất nước, với một nữa phần dân tộc, vì chúng ta không bảo vệ và duy trì được cuộc sống yên lành, ấm no và hạnh phúc cho những người đã chạy thoát khỏi chế độ CS và cuối cùng đã giao họ lại trong tay những kẻ bạo tàn. Nhưng tôi lại nghĩ rằng, những người theo chế độ CS đã có tội lớn hơn chúng ta gấp trăm lần vì họ đã đưa dân tộc vào một cuộc chiến điêu linh kéo dài 30 năm mà cuối cùng đã biến cả đất nước thành 1 nơi không tự do, dân chủ… Cầu cho đất nước được sớm thoát khỏi thảm họa CS để thanh bình, tự do và no ấm đến với mọi người trên quê hương thân yêụ

Trung tá Ngô Văn Xuân
Campbell, 19/2/1996
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Một nơi xứng đáng cho Tử Sĩ VNCH

Họ chết trận nên sẽ còn trẻ mãi
Còn chúng ta sống sót tuổi già thêm
Lúc trời chiều hay buổi sáng nắng lên
Họ chẳng sợ thời gian làm mệt mỏi.


(Ý từ các câu “They shall grow not old, as we that are left grow old.
Age shall not weary them, nor the years condemn.
At the going down of the sun and in the morning”
trong bài thơ For the Fallen (Cho Người Nằm Xuống) của thi sĩ người Anh Laurence Binyon, 1869-1943).

Hy sinh vì tổ quốc được xem là cái chết vinh dự cao cả nhất trong mọi thời đại. Hình ảnh người chiến binh chết trận trong tuổi thanh xuân sẽ giữ nguyên như vậy trong tâm trí người sống, nhất là đối với các bạn đồng ngũ. Tập thể người Việt hải ngoại, dù từng cầm súng dự phần trong cuộc chiến tự vệ chống cộng sản hay không, vẫn không quên tử sĩ VNCH mà thân xác còn nằm lại quê hương. Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa cũ mãi mãi là hình ảnh thiêng liêng trong tâm khảm người dân miền Nam tự do ngày trước và được xem như một thánh địa hành hương. Nhưng theo tin tức mới nhất, các chuyến thăm viếng tập thể ở nghĩa trang này vẫn còn bị nhân viên công an địa phương gây khó dễ. Điều đó cho thấy nhà cầm quyền CSVN vẫn còn dị ứng với tử sĩ VNCH.
Tử sĩ VNCH bị phân biệt đối xử tại quê nhà

Theo thống kê, Việt Nam hiện nay có 342 nghĩa trang và đài tưởng niệm dành cho chiến binh cộng sản tử trận mà họ gọi là liệt sỹ để phân biệt với tử sĩ của phe VNCH. Chưa hết, CSVN đang có kế hoạch tạo lập một nghĩa trang tầm cỡ quốc gia rộng 100 mẫu dành riêng cho cán bộ cao cấp của đảng và nhà nước. Ngoài ra, đâu đó trên đất nước Việt Nam cũng có những nghĩa trang và đài tưởng niệm tử sĩ ngoại nhân. Hài cốt tử sĩ thuộc quân đội Pháp chôn cất tại nghĩa trang cạnh Ngã Tư Bảy Hiền, gần phi trường Tân Sơn Nhứt mãi đến năm 1986 mới được chính phủ Pháp bốc mộ mang về nước. Còn lại là ba nghĩa trang liệt sỹ Trung Cộng do chính quyền Hà Nội tạo dựng để “đời đời nhớ ơn” các đồng chí lớn phương Bắc đã giúp CSBV xâm lăng thôn tính miền Nam.

Image
Một trong 3 nghĩa trang liệt sỹ người Trung quốc đã chết lây khi giúp CSVN xây dựng các tuyến đường chiến lược trong chiến tranh VN.
Các nghĩa trang này do CSVN quản trị và bảo trì, hàng năm đều được đặt vòng hoa tưởng niệm ghi hàng chữ “Đời đời nhớ ơn”.

Tuy cùng là dân Việt con Hồng cháu Lạc như liệt sỹ CSVN, tử sĩ VNCH không được cái may mắn đó. Tất cả nghĩa trang quân đội của VNCH bị xóa vết tích, ngoại trừ Nghĩa Trang Biên Hòa tuy vẫn còn đó nhưng hoang phế, đài tưởng niệm bị phá bỏ. Nếu bảo tử sĩ VNCH là kẻ thù từng gây tổn thất nặng nề cho quân CSBV nơi chiến trận nên vẫn còn bị căm thù và không đáng được tưởng niệm, thế còn 74 chiến sĩ VNCH bỏ mình trong trận hải chiến bảo vệ biển đảo của tổ quốc chống quân Trung Cộng xâm lược đảo Hoàng Sa năm 1974 thì sao? Họ cũng là những anh hùng xả thân cho quê hương giống như 64 thủy binh CSVN đã thiệt mạng năm 1988 ở Trường Sa. Nhà nước CSVN chỉ lập đài tưởng niệm cho 64 chiến sĩ của họ. Vong hồn của 74 chiến sĩ VNCH vùi thây trong lòng biển sâu phải chăng còn tức tửi. Khi hận thù chưa xóa bỏ thì những kêu gọi hòa hợp hòa giải của CSVN vẫn còn là những lời chót lưỡi đầu môi.

Sau khi chiếm được miền Nam, CSVN lập ra Nhà Trưng Bày Tội Ác Mỹ-Ngụy và theo thời thế đổi tên nó thành Nhà Trưng Bày Tội Ác Chiến Tranh Xâm Lược và sau cùng là Bảo Tàng Chứng Tích Chiến Tranh trên đường Võ Văn Tần, Quận 3 Sài Gòn. Đó là nơi thuần túy dùng cho mục đích tuyên truyền một chiều như tên gọi của nó. Nơi đây, nhà nước CSVN cho trưng bày triển lãm toàn những di vật chiến tranh cùng những hình ảnh bất lợi và bêu xấu Hoa Kỳ và VNCH. Nơi đây, khách thăm viếng sẽ không tìm thấy bất cứ chứng tích tội ác nào của CSBV và Việt Cộng, ví dụ như vụ thảm sát Mậu Thân ở Huế, cuộc thảm sát Đắk Sơn và vụ thảm sát Châu Đốc, mẫu trưng bày các loại vũ khí phe cộng sản như mìn bẫy, hầm chông, súng AK47, B. 40, hỏa tiễn SAM-3, súng phòng không 37mm, tăng T54, các buồng giam cộng sản trước và sau 1975, v.v. Hận thù đã xóa bỏ chưa?
Chiến cuộc đã tàn gần 40 năm qua nhưng vết sẹo chưa lành trong lòng người và trên bia mộ nghĩa trang. Người cùng chủng tộc miệng nói Nam Bắc một nhà nhưng sao còn phân biệt đối xử. Dù đứng ở bên nào chiến tuyến ngoài mặt trận, khi người chiến binh nằm xuống rồi, theo lẽ công bằng, đáng lẽ phải được đối xử như nhau vì thật ra bên nào cũng đều là hy sinh cho đất nước.

Ngày nay, khi một nguyên thủ quốc gia công du nước cựu thù lần đầu, sự thăm viếng đài tưởng niệm tử sĩ quốc gia hầu như đã trở thành một nghi thức ngoại giao. Việc làm đó thể hiện không những sự xóa bỏ hận thù, lòng kính trọng không phân biệt đối với chiến binh mà còn chứng tỏ thái độ của người quân tử có tinh thần hào hiệp mã thượng. CSVN không có được tinh thần đó nên các nghĩa trang tử sĩ VNCH bị cố tình xóa tan dấu vết, hài cốt tử sĩ mất tích không được tìm kiếm, và thương phế binh bị phân biệt đối xử thiếu tình người. Vì thế, việc thực hiện đài tưởng niệm tử sĩ VNCH trên đất nước tạm dung càng trở nên cần thiết để làm nơi an vị anh linh.
Nghĩa Trang và Đài Tưởng Niệm Tử Sĩ VNCH ở hải ngoại

Dự án thực hiện Đài Tưởng Niệm Tử Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đầu tiên tại Hoa Kỳ và thế giới được điêu khắc gia Phạm Thế Trung thai nghén từ nhiều năm qua. Sau khi đồ án và mô hình tượng năm vị tướng VNCH tuẫn tiết đã hoàn tất, ĐKG Phạm Thế Trung đã liên lạc và trình bày toàn bộ dự án với nhiều tổ chức hội đoàn trong cộng đồng người Việt để tìm sự chuẩn nhận đứng ra khởi công thực hiện.

Đồng thời gian đó, bác sĩ Huỳnh văn Chỉnh tức ca sĩ Trung Chỉnh, cựu Y Sĩ Thuỷ Quân Lục Chiến QLVNCH, cũng mang hoài bão thực hiện một nghĩa trang dành cho tập thể quân cán chính VNCH tại hải ngoại nên ra sức vận động và đã nhận được sự hưởng ứng thuận lợi của cộng đồng người Việt lẫn các vị đại diện dân cử chính quyền địa phương. Dự án qui mô trù liệu cần một món tiền nhiều trăm ngàn Mỹ kim. Qua các buổi trình diễn văn nghệ và tiệc gây quỹ, Ủy Ban Vận Động của bác sĩ Chỉnh cũng đã quyên đủ một số tiền đặt cọc và đã hoàn tất việc tậu mua mảnh đất rộng 55 mẫu, gần bằng phân nửa diện tích của Nghĩa Trang Quân Đội VNCH ở Biên Hòa ngày trước rộng 125 mẫu.

Do duyên may, đến cuối năm 2012, dự án Đài Tưởng Niệm Tử Sĩ VNCH đã được chấp thuận để trở thành một bộ phận của Nghĩa Trang Biên Hòa Hải Ngoại. Đây là một kết hợp thuận lý hoàn hảo vì nghĩa trang là nơi người chết an giấc ngàn thu và cũng là nơi người sống viếng thăm và tưởng niệm giống như nhiều nghĩa trang quốc gia trên thế giới.

Image
Tượng đài Seabees trong nghĩa trang Arlington

Nghĩa trang Quốc Gia Arlington của Hoa kỳ không chỉ có một mà nhiều tượng đài của nhiều đơn vị quân binh chủng. Bức ảnh trên là đài tưởng niệm tử sĩ thuộc đơn vị Tiểu Đoàn Công Binh Kiến Tạo Hải Quân Hoa Kỳ đã hy sinh vì công vụ qua nhiều cuộc chiến từ Đệ Nhị Thế Chiến đến Chiến Tranh Triều Tiên và Chiến Tranh Việt Nam. (Seabees là cách phát âm từ C.B., viết tắt của Construction Battalion).
Hoa Kỳ có 131 nghĩa trang quân đội nằm rải rác trong 39 tiểu bang và Puerto Rico, một lãnh địa thuộc chủ quyền của Hoa Kỳ. Ngoài ra còn có 24 nghĩa trang chôn cất 125,000 tử sĩ Mỹ tử trận trong hai cuộc thế chiến tại các nước khác, phần lớn là ở Âu châu.
Với sự lớn mạnh của cộng đồng bốn triệu cư dân gốc Việt hải ngoại hiện nay, chúng ta có quyền kỳ vọng Nghĩa Trang Biên Hoà Hải Ngoại và Đài Tưởng Niệm Tử Sĩ VNCH ở Cali sẽ trở thành một địa điểm hành hương của người Việt tự do.

Image
Đồ họa tạm thời Nghĩa Trang Biên Hòa Hải Ngoại của kiến trúc sư Võ Trung


Image
Đồ họa Đài Tưởng Niệm Tử Sĩ VNCH của điêu khắc gia Phạm Thế Trung với 5 vị tướng tuẫn tiết theo thứ tự từ trái qua phải như sau
Image
Chuẩn tướng Trần Văn Hai

Image
Thiếu tướng Phạm Văn Phú

Image
Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam

Image
Chuẩn tướng Lê Văn Hưng

Image
Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ

Khi viếng thăm một Viện Bảo Tàng Chiến Tranh của một nước, du khách có thể đánh giá trình độ văn hóa của họ như thế nào. Du khách sẽ không thấy một lời tuyên truyền nào hạ nhục hay chê bai đối phương tại các viện bảo tàng chiến tranh của các quốc gia tự do dân chủ và tiến bộ. Vị lãnh tụ hay quân đội của phe đối nghịch không bị rủa xả hạ cấp. Sự kiện lịch sử xảy ra dù tốt hay xấu vẫn được ghi lại một cách rõ ràng trung thực để tùy người đi xem tự phán đoán. Nước chủ nhà không che giấu sự thật để lường gạt người đi xem hay tuyên truyền một chiều.
Tưởng niệm tử sĩ thuở xưa
Từ khi có loài người, chiến tranh hầu như luôn xảy ra không nơi này thì nơi khác trên quả địa cầu. Dân tộc theo văn hóa phương Tây thường chỉ quen dựng đài tưởng niệm để đánh dấu chiến thắng vinh quang trong khi dân tộc theo văn hóa Đông phương quan niệm ghi nhớ công ơn người chết đã có từ xa xưa lắm. Các nước phương Tây dựng đài tưởng niệm để ghi nhớ công ơn tử sĩ thật ra chỉ bắt đầu trong ba thế kỷ trở lại đây mà thôi.
Đài tưởng niệm chiến tranh có thể là một tòa nhà, một tượng đài, hay chỉ là một bức tượng, một kiến trúc để vinh danh một cuộc chiến tranh hoặc chiến thắng, hoặc, theo như quan niệm chiếm ưu thế trong thời hiện đại, để tưởng nhớ những người đã chết hoặc bị thương trong chiến tranh.
Đối với hầu hết những thời kỳ trong lịch sử nhân loại, đài tưởng niệm chiến tranh được dựng lên để kỷ niệm những chiến thắng tuyệt vời. Ghi nhớ những người chết chỉ là mối quan tâm thứ yếu. Thật vậy, trong thời đại của Napoleon, thi hài của chiến binh tử trận thường được chôn vùi chung trong những ngôi mộ tập thể không mộ bia đánh dấu. Khải hoàn môn (L’ Arc de Triomphe) ở Paris hoặc Cột Tháp Nelson nơi công viên Trafalgar ở London đều không có ghi khắc tên của tử sĩ.
Image
Hình: Đài tưởng niệm Cuộc Nổi Dậy của nhân dân Ba Lan ở thủ đô Warsaw

Đến cuối thế kỷ 19, ý niệm này mới trở nên phổ biến tại các đơn vị trung đoàn bộ binh của quân đội Anh. Những người chiến binh sống sót nghĩ đến việc xây dựng tượng đài để tưởng nhớ những đồng đội của họ đã chết trong các cuộc chiến tranh lấn chiếm thuộc địa nho nhỏ. Và tên tuổi của tử sĩ đã được liệt kê nơi các đài tưởng niệm này.
Đến đầu thế kỷ hai mươi, một số thị trấn và thành phố ở Vương quốc Anh đã gây quỹ để làm lễ tưởng nhớ những người đồng hương đã chiến đấu và chết trong cuộc chiến tranh lần thứ hai (Second Anglo-Boer War, 1899-1902) giữa Đế quốc Anh và cư dân Hòa Lan ở Nam Phi. Tuy nhiên, chỉ sau khi sự thiệt hại về nhân mạng to lớn từ Đệ Nhất Thế Chiến gây ra, việc tưởng niệm tử sĩ mới được đặc biệt chú trọng. Hầu hết các nơi đều xây dựng một đài tưởng niệm chiến tranh có ghi khắc đầy đủ tên tuổi của những đứa con của địa phương đã đi vào cuộc chiến và không bao giờ trả lại.
Theo quan niệm của cả thế giới ngày nay, mục đích chính của việc dựng lên đài tưởng niệm chiến tranh (war memorials) không phải là để tôn vinh chiến tranh, nhưng là để tôn vinh những người đã chết. Đôi khi, như trong trường hợp thủ tướng Tây Đức Willy Brandt quì gối trước Đài tưởng niệm Warsaw ngày 07 tháng 12 năm 1970 để bày tỏ một cử chỉ khiêm tốn và sám hối đối với các nạn nhân của cuộc nổi dậy Warsaw Ghetto, đài tưởng niệm cũng có thể được dùng như là biểu tượng của sự cảm thông ngày càng tăng giữa hai kẻ cựu thù.
Với sự trợ giúp của kỹ thuật hiện đại, một dự án có tầm vóc quốc tế hiện đang tìm kiếm, kiểm định để lập thành hồ sơ lưu trữ tất cả mộ phần tử sĩ của các cuộc chiến có sự tham dự của khối Thịnh Vượng Chung kể từ năm 1914 trở về sau.
Những đài tưởng niệm tử sĩ Thế Chiến Thứ Nhất
Image
Đền Tử Sĩ Vô Danh Menin Gate ở Ypres Bỉ quốc

Sau Đệ Nhất Thế Chiến, nhiều quốc gia đã nhìn thấy sự tàn phá khủng khiếp khắp mọi nơi về vật chất và sự tổn thất sinh mạng đến mức độ kinh hoàng với tổng số 15 triệu người chết và 20 triệu người bị thương cho cả hai bên. Tuy các quốc gia phương Tây gánh chịu thiệt hại nhân mạng thấp hơn nhưng hậu quả lại khác hẳn: đó là số lượng đài tưởng niệm được xây dựng nhiều hơn. Tại các quốc gia phương Tây, đi đôi với những ghi nhận thành quả chiến thắng về quyền lợi vật chất thu tóm được, hầu hết các thành phố ở các quốc gia này đều xây dựng đài tưởng niệm. Các đài tưởng niệm tại các thị trấn và những ngôi làng nhỏ hơn thường ghi tên của từng tử sĩ nguyên là cư dân của địa phương mình.

Image
Nghĩa trang tử sĩ của cả hai bên Pháp và Đức chết trong trận đánh ở Verdun năm 1916

Các đài tử sĩ qui mô to lớn hơn của vương quốc Anh tưởng niệm hàng ngàn người chết thì lại không có tên vì bia mộ không được xác định, chẳng hạn như hai đài tưởng niệm tử sĩ vô danh Menin tại Ypres, Bỉ quốc và Thiepval ở Picardie, Pháp quốc, cũng đã được xây dựng. Đài tưởng niệm Memorial Liberty, nằm ở thành phố Kansas, Missouri, là một đài tưởng niệm chung cho tất cả 116,516 tử sĩ Hoa Kỳ hy sinh trong Đệ Nhất Thế Chiến, còn được gọi là Cuộc Chiến Tranh Vĩ Đại.

Ngoài các đài tưởng niệm tử sĩ bỏ mình nơi chiến trận mà chúng ta thường biết đến còn có những đài tưởng niệm dành cho các nạn nhân của chiến tranh vốn là những thường dân vô tội mà phần lớn là phụ nữ và trẻ em. Sau khi cuộc đại chiến chấm dứt năm 1918, những người yêu chuộng hòa bình tại Pháp đã lập một số đài tưởng niệm cho nạn nhân của chiến tranh vói các hình tượng đàn bà và trẻ con với nét mặt đau buồn khốn khổ. Các đài tưởng niệm loại này đã gây ra sự giận dữ trong số các cựu chiến binh và quân đội nói chung.

Image
Liberty Memorial, Kansas City, Missouri

Đài tưởng niệm dành cho nạn nhân chiến tranh nổi tiếng nhất được dựng lên ở Gentioux-Pigerolles vùng Creuse. Dưới cột liệt kê tên của những người chết là tượng đồng của một đứa trẻ mồ côi đang chỉ tay vào hàng chữ “Maudite soit la guerre” (Nguyền rủa chiến tranh). Làn sóng chống đối dâng quá cao đến nỗi ngày khánh thành chính thức của tượng đài đã phải đình hoãn cho đến năm 1990 và quân nhân đồn trú tại một căn cứ quân sự gần đó được lệnh khi đi ngang qua đó phải quay đầu đi chỗ khác.
Một đài tưởng niệm khác tương tự như vậy nằm tại thị trấn nhỏ là Équeurdreville-Hainneville trong vùng Manche với bức tượng của một góa phụ đau buồn với hai con nhỏ. Hai đài tưởng niệm hòa bình này có vẻ như là không thích hợp với hình thức tưởng niệm trong phạm vi Vương quốc Anh.
Vì vậy, mặc dù điều này có vẻ không bao giờ được công nhận một cách tổng quát, trên khắp Vương quốc Anh đã xây dựng nhiều đài tưởng niệm chiến tranh nhưng đề cập khái niệm về hòa bình. Ví dụ như đài tưởng niệm chiến tranh ở Hartlepool ( trước đây là West Hartlepool) với dòng chữ khắc 'Thine O Lord is the Victory' (Ôi! Chúa tôi là chiến thắng).
Những đài tưởng niệm tử sĩ Thế Chiến Thứ Hai trở về sau

Có một số đài tưởng niệm Thế Chiến Thứ Nhất sau đó đã được mở rộng thêm để cho đủ chỗ ghi tên của những con dân địa phương đã hy sinh trong Thế Chiến Thứ II.
Kể từ đó trở đi, nhiều đài tưởng niệm đều khắc ghi tên tử sĩ trong các cuộc xung đột khác như chiến tranh Triều Tiên và chiến tranh Việt Nam, nhất là tại các quốc gia phương Tây, chẳng hạn như Bức Tường Đen (Black Wall) tại thủ đô Washington D.C., tên gọi thân mật của Đài Tưởng Niệm Chiến Tranh Việt Nam, trên đó có chạm khắc tên của hơn 58.000 chiến binh Hoa Kỳ đã thiệt mạng hoặc mất tích khi tham gia trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Bức Tường Đen nằm trong Khu Tưởng niệm các Cựu chiến binh Chiến tranh Việt Nam và được khánh thành ngày 13 tháng 9 năm 1982 với diện tích 8.100 m². Đây là nơi đón tiếp hơn 3 triệu người tới thăm viếng mỗi năm. Bức tường có hình chữ V được làm từ hai tấm đá hoa cương đen mang về từ thành phố Bangalore ở Ấn Độ. Trên thế giới chỉ có ba nơi có nhiều loại đá hoa cương đen và lớn như vậy là Ấn Độ, Thụy Điển và Nam Phi. Chiều dài bức tường là 75 m, cao 3 m. Với sự thêm tên mới đây nhất của 10 người nữa trong năm 2004, bức tường này có tất cả 58.245 tên của các quân nhân nam nữ, trong số đó có khoảng 1.200 người nằm trong danh sách quân nhân Mỹ mất tích trong Chiến tranh Việt Nam.

Image
Đài tưởng niệm tử sĩ Hoa Kỳ bỏ mình trong Chiến Tranh Việt Nam, quen được gọi là Bức Tường Đen

Một đài tưởng niệm chiến tranh cũng có thể là toàn bộ một tòa nhà, thường bao gồm một viện bảo tàng, hoặc chỉ đơn thuần một tấm bảng phẳng. Nhiều đài tưởng niệm chiến tranh mang hình thức của một tượng đài hoặc bức tượng, và phục vụ như là một nơi gặp gỡ cho các nghi thức hành lễ trong Ngày Chiến Sĩ Trận Vong hay Ngày Cựu Chiến Binh (Memorial Day). Vì lẽ đó, những đài này thường được tìm thấy gần trung tâm thành phố, hoặc được đặt trong một công viên hay quảng trường để tạo sự tham dự dễ dàng cho công chúng.

Nhiều đài tưởng niệm chiến tranh liệt kê tên của những người chết trong trận chiến. Đôi khi các danh sách này có thể rất dài đến cả hàng trăm ngàn như trường hợp Đài Tưởng Niệm Okinawa có khắc ghi hơn 240,000 tên dân quân tử sĩ của cả hai bên tham chiến và gồm nhiều quốc tịch khác nhau: Nhật, Triều Tiên, Đài Loan, Hoa Kỳ, Anh quốc. Một số đài tưởng niệm chiến tranh được dành riêng cho một trận chiến cụ thể, trong khi những đài khác tổng quát hơn chỉ ghi khắc những giai đoạn khác nhau của cuộc chiến tranh.

Image
Cornerstone of Peace - Nền tảng Hòa Bình ở Okinawa.

Nhiều đài tưởng niệm chiến tranh có văn bia nêu tên các đơn vị chiến đấu, tên chiến dịch hay cuộc hành quân tham dự.

Image
Đài Tưởng Niệm Chiến Tranh Úc Đại Lợi tại thủ đô Canberra

Image
Đài tưởng niệm Biệt động quân ở Tô Cách Lan

Văn bia Kohima trên Đài tưởng niệm dành cho các chiến sĩ phe Đồng Minh bỏ mình trong trận Kohima trong Thế Chiến Thứ II ghi: “When You Go Home, Tell Them Of Us And Say, For Their Tomorrow, We Gave Our Today” với ý đại khái rằng nếu bạn sống sót trở về, bạn hãy kể cho họ biết về chúng tôi. Và bạn hãy nói với họ rằng vì tương lai của họ, chúng tôi đã hy sinh những tháng ngày hiện tại của đời mình.

Nhiều nghĩa trang chiến tranh do Ủy Ban Phần Mộ Khối Thịnh Vượng Chung quản trị đều có một mẫu chung đài tưởng niệm chiến tranh giống hệt nhau được gọi là Thánh Giá của Hy Sinh do Sir Reginald Blomfield thiết kế có chiều cao thay đổi từ 18 ft đến 32 ft, tùy thuộc vào kích thước của nghĩa trang. Nếu số lượng mộ phần từ 1000 trở lên, nghĩa trang Commonwealth đó sẽ chứa một Tảng đá Tưởng niệm do Sir Edwin Lutyens thiết kế có khắc hàng chữ "Their name liveth for evermore ", tương tự như câu “Tổ quốc ghi ơn” của Việt Nam ta. Tất cả các tảng đá tưởng niệm đều có kích thước dài 11ft6 in và cao 5ft với ba bậc buớc lên.
Đài Tưởng Niệm và quan điểm đối nghịch

Chúng ta không lấy gì làm ngạc nhiên khi đài tưởng niệm chiến tranh gây tranh cãi về mặt chính trị vì quan điểm khác biệt giữa các nước cựu thù.
Một ví dụ đáng chú ý là những tranh cãi xung quanh Đền Yasukuni Shrine ở Nhật Bản, nơi có thờ tro cốt của một số quân nhân Nhật đã bị kết án gây tội ác trong Đệ Nhị Thế Chiến. Đại diện người Trung Hoa và Đại Hàn thường biểu tình phản đối các chính trị gia Nhật Bản đến lễ bái ở đền thờ này. Những lần viếng Đền trong quá khứ đã dẫn đến cuộc xung đột ngoại giao nghiêm trọng giữa các quốc gia liên hệ, và các doanh nghiệp Nhật Bản bị tấn công ở Trung Hoa sau khi cựu Thủ tướng Nhật Bản Junichiro Koizumi tới viếng đền thờ. Sự kiện này đã được loan truyền rộng rãi và nhận được những công luận chỉ trích trên các phương tiện truyền thông Trung và Hàn Quốc.

Trong một trường hợp tương tự, cựu Thủ tướng Đức Helmut Kohl đã bị hai nhà văn Günter Grass và Elie Wiesel chỉ trích vì ông đã đi cùng với tổng thống Mỹ Ronald Reagan đến thăm nghĩa trang chiến tranh ở Bitburg, nơi có cả những ngôi mộ của tử sĩ Đức Quốc Xã. Điều này không giống như trường hợp ngôi đền tử sĩ Yasukuni của Nhật vốn thường dính líu đến yếu tố cố ý bất chấp dư luận quốc tế.

Image
Cổng đài tưởng niệm Trung Đoàn Khinh Binh Hoàng gia Dublin

Do chính quyền thay đổi, các câu trích dẫn của Joseph Stalin trên Đài Tưởng niệm Chiến tranh Thế giới Thứ II của Liên Xô thường xuyên bị thay thế sau khi ông chết. Các đài tưởng niệm đó thường được xây dựng trong trung tâm thành phố và bây giờ đôi khi bị coi là biểu tượng cho thời kỳ chiếm đóng của Liên Xô và bị loại bỏ, chính vì vậy lại có thể châm ngòi cho các cuộc phản đối.

Một trường hợp đối nghịch khác nữa là Kiến ​​trúc vòng cung tưởng niệm Trung Đoàn Khinh Binh Hoàng gia Dublin gồm toàn lính Ái Nhĩ Lan tham dự cuộc Chiến Tranh Boer ở Nam Phi được xây dựng vào năm 1907 nơi công viên St. Stephen’s Green tại trung tâm thủ đô Dublin. Cổng đài này thường bị người Ái Nhĩ Lan quá khích chống Đế quốc Anh gọi là "Cổng của Những Kẻ Phản Bội Tổ Quốc". Độ sắc nét của tranh cãi đã bị mờ dần, và trong khi thuật ngữ "Cổng của Những Kẻ Phản Bội Tổ Quốc" vẫn còn được dùng thường xuyên trong câu chuyện mạn đàm của cuộc sống hàng ngày ở Dublin, nó gần như là mất đi ý nghĩa xấu xa ban đầu.

Ở Úc Đại Lợi, vào năm 1981, nhà sử học Henry Reynolds nêu lên vấn đề liệu có nên xây đài tưởng niệm chiến tranh để vinh danh thổ dân bản địa Úc đã bỏ mình vì chiến đấu chống lại quân xâm lược đế quốc Anh trên quê hương của họ hay không. Ông Henry Reynolds nói: "Thế thì chúng ta phải giải quyết bằng cách nào đây về sự hy sinh của thổ dân Úc? Người Úc da trắng thường xuyên nói rằng hãy cho chuyện đó đi luôn vào quên lãng. Nhưng nó sẽ không bị quên không thể quên. Những kỷ niệm đen tối đó quá đậm sâu và vết sẹo còn ràng ràng vì nó xảy ra cách đây chưa lâu. Và từ ngữ quên lãng quả là một mô tả lạ lùng khó hiểu đối với một cộng đồng quốc gia luôn tôn thờ tử sĩ và luôn ghi khắc câu "Chúng Tôi Không Bao Giờ Quên” trên mọi đài tưởng niệm khắp nước.”

Năm 1988, để đánh dấu kỷ niệm 200 năm lập quốc, chính phủ Úc chính thức cho trưng bày trước công chúng tại Nhà Triển Lãm Quốc Gia ở thủ đô Canberra một tác phẩm điêu khắc gồm 200 thân gỗ rỗng ruột tượng trưng cho 200 cổ quan tài tử sĩ thổ dân bỏ mình trong công cuộc chiến đấu chống lại sự xâm nhập của người da trắng. Xem ra người Úc da trắng còn có lương tri đã trả lại công bằng cho lịch sử. Còn nhà nước CSVN thì biết đến bao giờ.
Kết luận
316.000 tử sĩ VNCH chưa có một đài tưởng niệm tầm cỡ quốc gia nào dành riêng cho họ. Bốn chữ “Tổ Quốc Ghi Ơn” được nhắc nhở trong sách vở và trong tâm trí của tập thể cựu chiến sĩ VNCH và cộng đồng người Việt quốc gia ở hải ngoại nhưng chưa được khắc ghi trên một đài tưởng niệm tử sĩ quốc gia.
Hy vọng một ngày các sự kiện của lịch sử giữ nước sẽ được tái thẩm định để trả lại sự công bằng và sự thật trên quê hương.
Hy vọng một ngày không xa, dự án Nghĩa Trang Biên Hòa Hải Ngoại với Đài Tưởng Niệm Tử Sĩ VNCH sớm hoàn thành. Chừng đó, chúng ta có được một địa điểm thường trực cố định trang nghiêm xứng đáng để cử hành các buổi lễ quan trọng. Chừng đó, du khách người Việt mỗi khi đến Cali sẽ có dịp hành hương thăm viếng nghĩa trang đầu tiên ở hải ngoại dành cho tập thể quân cán chính VNCH. Đến để dâng một bó hoa hay thắp một nén nhang, để nghe trong lòng dâng tràn một niềm cảm xúc hãnh diện. Đến để cảm thấy ấm lòng như đang đứng giữa một phần đất thân quen của quê hương.
Ta không thể sống ở quê hương nhưng quê hương luôn sống mãi trong ta.

Phan Hạnh.
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »


Image

Người Lính Thủy Quân Lục Chiến bên bờ Bến Hải
Kính dâng hương hồn người chiến sĩ vô danh

Nguyễn Ngọc Ẩn


Trời trên đầu vẫn nắng chang chang. Dưới chân là sỏi đá khô cằn. Đất ở đây như không đủ sức mời mọc cho cây đâm rễ nên quang cảnh mang một vẻ trơ trụi, hoang sơ thế nào.

Đoàn tù vẫn lầm lũi bước. Cách từng quãng một là cán binh CS miền Bắc, vai mang khẩu AK-47, đầu đội mũ tai bèo, chân dép râu cũng tiếp nối từng bước như đoàn tù nhưng chắc chắn là mang trong họ một trạng thái tinh thần hoàn toàn khác. Họ là những kẻ chiến thắng, đang giải đoàn tù binh, sản phẩm của chiến bại, về Bắc. Trước là họ có dịp phô trương cái “anh hùng” của họ ở trong B, sau là biết đâu họ có thể có dịp tạt qua thăm nhà một lần sau bao nhiêu năm gia nhập bộ đội để đi “giải phóng miền Nam ruột thịt, đang oằn oại dưới ách thống trị bạo tàn của Mỹ Thiệu” và quan trọng và chắc chắn hơn hết là họ được tránh xa vùng lửa đạn có thể làm họ “đi gặp HCM” bất cứ lúc nào...

Trước đó không lâu mà tưởng chừng như ở vào thế kỷ khác, quân CS đã bất ngờ vượt vùng phi quân sự để tràn xuống tấn công miền Nam. Trở tay không kịp, các căn cứ hoả lực ở vùng phía Nam Phi Quân Sự bị đánh tan vỡ, quân đội VNCH đã lập tức gởi ngay quân ở trong miền Nam ra cứu viện và các đơn vị Biệt động quân gồm 3 Liên Đoàn Tổng Trừ Bị được đưa ra và trong đó, Liên Đoàn 5 BĐQ là đơn vị ra tới đầu tiên mà trong đó có tôi với tư cách Y sĩ điều trị của Liên Đoàn.

Tôi là một bác sĩ, tính tới hôm ra tới Quảng Trị là ngày 5/4/72 thì tôi mới ra trường chưa được 5 tháng, do đó tôi còn ở dưới quyền một đàn anh là Y Sĩ Trưởng của đơn vị, hiện anh đang trở về làm việc ở hậu cứ khi có tôi ra thay ở mặt trận (hai anh em chúng tôi thay phiên nhau đi hành quân mỗi người nửa tháng).

Tuy tôi không được dự các cuộc họp hành quân nhưng theo tin tức tôi thu nhặt được từ các sĩ quan trẻ trong BCH Liên Đoàn thì tôi biết, Chuẩn Tướng Vũ Văn Giai, Tư Lệnh SĐ3BB là sĩ quan cao cấp nhất được trên chỉ định làm Tư Lệnh mặt trận và ông đã điều quân như sau: LĐ5 chịu tuyến cực Bắc của mặt trận là thị trấn Đông Hà chạy dài về phía Nam ở hướng Tây của quốc lộ 1. Kế tiếp là LĐ4 BĐQ rồi tới LĐ7 BĐQ tiếp tục phòng thủ và chiến đấu để giữ gìn phía Tây QL 1. Còn về hướng Đông là phía biển thì mặt trận chắc chắn sẽ nhẹ hơn sẽ do SĐ 3 BB, sau trận đánh mấy ngày trước đã mỏi mòn trấn giữ.

Nhưng tới trận phục kích chót của quân CS vào BCH/LĐ trong đêm 30/4/72, trên đường rút quân của đơn vị tôi sau khi thành phố Quảng Trị đã thất thủ thì đơn vị tôi chính thức cũng đã bị xoá tên trong trận chiến. Hỏi làm sao không xóa tên tại chỗ được khi một Liên đoàn BĐQ như đơn vị tôi mà có những 18 sĩ quan bị bắt làm tù binh trong đó phải kể đến: Tiểu Đoàn Trưởng và TĐ phó TĐ 38 BĐQ, sĩ quan trưởng ban 3 LĐ, sĩ quan trưởng ban Truyền Tin LĐ, bác sĩ (tôi), Đại Đội Trưởng Trinh Sát của LĐ và bao nhiêu sĩ quan cấp thấp khác ở các ban ngành của cả BCH LĐ cũng như của TĐ 38 là TĐ đi bọc hậu cho LĐ trên đường rút quân. Dĩ nhiên tôi được biết sau nầy là sau khi tập trung lại ở Huế, LĐ được đưa về để “làm máy lại,” tái tạo. bổ sung các cấp từ sĩ quan đến binh sĩ và tung vào hành quân 2 tháng sau đó. Còn chúng tôi, 18 sĩ quan xấu số, trên con đường định mệnh không biết sẽ đi về đâu, đang bị xỏ xâu vào nhau và lầm lũi bước đi về hướng Bắc.

Tôi viết hồi nãy là LĐ tôi có 18 sĩ quan bị bắt là do về tới chỗ tạm giam gặp nhau chớ còn lúc giải đi trên đường thì làm sao tôi biết được? Cá nhân tôi thì trừ một số ít sĩ quan trong đơn vị là tôi biết mặt, hầu như tất cả anh em tù binh ở Quảng trị tôi mới gặp đều như gặp lần đầu, tôi mới biết mặt họ mà họ cũng mới biết mặt tôi. “À, anh là bác sĩ mới về đó hả ? Tui có nghe mà chưa gặp, không dè mình gặp trong hoàn cảnh nầy, thiệt xui !!”

Nãy giờ tôi mãi nói về đơn vị tôi, thực sự ra, đoàn tù binh bị giải đi về hướng bắc nầy hàng mấy trăm người là ít gồm sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ của mọi binh chủng có mặt trong trận Quảng Trị hồi tháng 4/72: TQLC, BĐQ, Thiết Giáp, Bộ Binh, Địa Phương Quân, Nghĩa Quân và cả dân sự là mấy anh ở các ngành gọi là “ác ôn” dưới con mắt của CS như Chiêu Hồi, Xây Dựng Nông Thôn ...

Tôi biết mình đi về hướng Bắc là vì dễ thôi, mặt trời bao giờ cũng mọc và ở suốt ngày bên tay phải tôi, có điều đi tới đâu thì mình không biết được, chỉ biết đôi chân quen mang giày dép, nay phải để trần dẩm lên sỏi đá, mỗi bước chân là hai hàng nước mắt chảy ra. Tôi không khóc đâu, nước mắt chảy là do cái đau đớn buốt lên từ lòng bàn chân bắn thẳng lên óc làm nước mắt tự động chảy thôi chớ phải nói, lòng căm giận đầy ngập trong tim thì dễ gì tôi khóc được?

Cái bụng thì cồn cào, từ hồi bị bắt tới giờ cũng đã 5, 6 ngày rồi còn gì mà tôi chỉ được có mấy nắm cơm vắt nhỏ xíu bằng bàn tay (mỗi bửa ăn là nửa vắt!), còn khát thì còn nói gì! Nắng, nóng, hoạt động (đi bộ ròng rã) mà không hề có nước uống, nhìn chung quanh mình, tôi thấy ai cũng ở vào tình trạng gọi là khát rã họng là đúng chữ nhất!

Đã vậy mà thôi đâu, trong khi hạ sĩ quan hay binh sĩ thì cứ chậm rãi đi thành hàng một, còn chúng tôi, sĩ quan đâu được như vậy. Chúng dùng sợi dây dài cột tay trái người đi trước vào tay trái người đi sau thành từng hàng dài cho tới khi nào sợi dây hết thì chúng dùng sợi dây khác nên không có con số nhất định mỗi xâu là bao nhiêu người mà chỉ do độ dài ngắn của sợi dây...

Tôi thì đi lọt vào áp chót của một sợi dây, vừa bước đi khập khiểng do đau hai lòng bàn chân tột cùng, vừa đau đớn cho số phận của riêng mình kể gì nói cho hết.

Tuy lúc đầu lệnh của bọn cán binh là tù binh phải đi thành hàng một nhưng phải nói, do bị xâu chùm lại với nhau (với không biết có phải do lòng hai bàn chân của các sĩ quan thì “tiểu thơ” hơn anh em hạ sĩ quan và binh sĩ hay không?) mà đám tù sĩ quan đi chậm hơn đám tù đa số kia nhiều nên việc chúng tôi đi hàng xâu bên nầy song song với những anh lính của chúng tôi cách đó vài mét là thường. Có khi tên bộ đội đi gần đó mở miệng quát tháo, có khi chúng cũng mặc kệ mấy thằng tù, đi kiểu nào thì đi, miễn cứ đi là được rồi...

Từ lúc bị bắt đưa về cái nhà lá làm nơi tập trung đám tù binh mới bắt ngoài mặt trận cho tới ngày hôm nay, tôi đã bị đưa đi qua không biết bao nhiêu là cảnh vật thay đổi đủ kiểu. Chỗ gần nơi tôi bị bắt (sau nầy tôi mới biết là quận Hải Lăng) thì có ruộng lúa, lúa cao ngang ngực như lúa sạ ở Đồng Tháp Mười, còn giải đi thì lúc qua xóm Cửa Việt, chúng tôi đi dọc dài theo bờ biển cát êm mịn xinh đẹp với tiếng sóng vỗ rì rào. Nhưng cảnh vật khi họ dẫn chúng tôi từ phía đông QL 1 băng dần về phía núi rừng phía tây thì thay đổi hẳn, những đám rừng lúc trước giờ chỉ là những cây với những cành trơ trụi vì bom đạn làm tôi nhớ tới bài hát "Sương Trắng Miền Quê Ngoại" có 2 câu thơ:

Gio Linh ơi, đất thiêng chừ run rẩy
Tội lũ chim rừng không chỗ đậu vì bom...

Con đường càng đi về hướng Tây Bắc càng trơ trụi, sỏi đá khô cằn. Chỉ vài ngày đi bộ là tôi đã thấy thấm mùi đời lắm rồi nhưng ở trong tư thế không biết làm sao nên tôi cứ nhắm mắt mà bước theo những bước chân của những người bạn xấu số đồng cảnh của mình.

Tới buổi trưa hôm đó thì đoàn tù (hay đúng ra là cái xâu của tôi) đang bước chân qua một dòng nước nhỏ bề ngang chừng 1 mét. Ai cũng cố dừng lại để cúi người xuống hầu ké một ngụm nước và vì chúng tôi bị xâu lại với nhau nên sự bò xuống uống nước không thể làm cùng lúc bao nhiêu người được. Vì thế mới có sự trùng trình ở chỗ lạch nước nầy. Lúc tôi vừa uống nước xong thì có tên bộ đội nhóc đứng gần đâu đó cất tiếng:

- Chúng mầy có biết dòng nước nầy có tên gì không?

Khi không nghe ai trả lời cả (hoặc bận uống nước hoặc không bận cũng chẳng buồn trả lời làm gì) hắn ta nói tiếp, giọng oang oang đầy vẽ tự hào:

- Sông Bến Hải đấy chúng mầy ạ! Hễ chúng mầy bước qua nó là chúng mầy đã chính thức đặt chân lên miền Bắc xã hội chủ nghĩa của chúng tao rồi đấy!

Trong lúc tôi còn bàng hoàng vì đây chỉ là một lạch nước nhỏ xíu mà người ta có thể bước ngang được dễ dàng mà lại là thượng nguồn của một con sông lịch sử, con sông chia cắt hai miền Nam Bắc của nước mình từ mấy mươi năm qua bổng, hết sức bất ngờ ngoài sự tưởng tượng của tôi hay bất kỳ ai, một anh lính TQLC, chúng tôi biết anh là TQLC do tù binh vẫn còn bộ đồ lính trên người tuy lon lá đều đã bị tháo gở, anh ở trong đám binh sĩ đi gần chúng tôi, nhào lên bóp cổ tên bộ đội nhóc, vừa bóp cổ vừa gặc gặc cho cái siết cổ thêm mạnh trong khi miệng anh bật lên bao nhiêu là tiếng Đức, tiếng Đan Mạch, và đối tượng để anh chửi rủa là HCM, là “cha già kính yêu” của bọn bộ đội. Anh chửi rủa rất to tiếng trong khi nắm tay siết chung quanh cổ tên bộ đội như hai gọng kềm căm thù đã nung nấu từ hồi nào đến giờ, giờ mới có dịp phát huy.

Tên bộ đội cố hết sức dãy dụa, tuy tay còn cầm khẩu AK nhưng mọi thứ đều thành vô dụng trong lúc nầy. Rồi một tên bộ đội khác nhanh chân chạy đến, bắn ngay một phát súng vào chân anh lính TQLC, anh đau đớn nên lỏng vòng tay và tên bộ đội vùng thoát ra được, hắn không ngần ngại đá một phát vào anh lính lúc nầy đã nằm xuống đất...

Sự việc viết lại tưởng như dông dài nhưng thực ra đã diễn ra trong chớp mắt trước sự ngỡ ngàng của đám tù binh chúng tôi. Rồi đám bộ đội đã tụ tập đến chung quanh anh lính miền Nam, một tên có vẻ là cao cấp nhất trong bọn đã nói gì không rõ với lũ thuộc cấp, sau đó hắn quay sang chúng tôi, ra lệnh mở trói xâu cho 2 sĩ quan tù binh ở cuối xâu và... tôi là một trong hai sĩ quan tù binh đó. Hắn ra lệnh cho đám bộ đội kia rồi không biết lấy ở đâu ra mà ngay sau đó vài phút là một tên đã đưa đến cho chúng tôi một cây đòn dài, một tên khác thì đưa chúng tôi một cái võng rồi tên chỉ huy ra lệnh cho hai anh em chúng tôi “cáng” anh lính đi tiếp.

Tôi thì vì phản xạ nghề nghiệp nên khi vừa được “mở xâu” là đã chạy ngay đến anh lính TQLC đang nằm dưới đất để xem xét vết thương của anh nhưng ngay lập tức, một tên bộ đội đã xua tôi đứng dậy để làm nhiệm vụ cáng anh TQLC. Tuy nhiên trong một tích tắc đó, tôi cũng đã thấy được anh lính thần sắc đã tả tơi sau mấy ngày làm tù binh cho bọn chết đói, bộ quân phục sọc ngang cố hữu của binh chủng oai hùng ngày nào giờ cũng xác xơ giống như chủ nó, và viên đạn đi vào đùi anh lính, tôi đã không nhìn kịp coi có lỗ đạn ra hay không cũng như không thử mạch nên không biết có trúng động mạch đùi không và hơn hết, không biết cái chân có còn nhúc nhích được không nữa. Tuy nhiên, tôi cũng đã xé được từ cái áo thun của chính tôi được một miếng vải để cột ngay phía trên vết thương trong khi miệng thì nói với mấy thằng bộ đội:

- Mấy anh muốn cáng anh nầy thì ít ra cũng phải để cho tôi băng bó sơ anh ấy cái chớ......

Một tên bộ đội thì nói:

- Thường ngày chúng mầy là sĩ quan quen nạt nộ lính, hôm nay cho chúng mầy cáng lính của chúng mầy để đền tội......

Trong khi tôi băng bó cho anh lính TQLC thì anh bạn tù sĩ quan của tôi (anh thuộc SĐ3BB, rất tiếc tôi không còn nhớ tên anh) đã nhanh nhẹn cột hai đầu cái võng vào cái đòn dài để hoàn thành cái cáng tức là có sau đó, chúng tôi sẽ gánh anh thương binh nằm trên đó. Nhưng khi chúng tôi mở cái võng ra cho ngay ngắn và sửa soạn để khiêng anh thương binh đặt lên thì anh đã nói:

- Tui cám ơn mấy ông lo cho tui nhưng tui làm là tui chịu, tui hổng có làm phiền tới mấy ông đâu. Mấy ông cứ đi đi, tui hổng để mấy ông khiêng tui đâu......

- Anh nói gì lạ vậy, tôi nói. Anh để chúng tôi khiêng anh đi, ít ra tới chỗ nào đó mình mới có thể có phương tiện chữa cho anh được chớ.

Nói qua nói lại gì thì nói, hai lần chúng tôi đặt anh thương binh lên võng, hai lần anh đều lăn ra khỏi cái võng. Bọn bộ đội quay quần chung quanh nóng ruột, chúng hối thúc chúng tôi liền miệng nhưng - tôi nhớ đời câu nói nầy - anh thương binh nói:

- Mấy thằng VC nầy nói cái gì sinh Bắc tử Nam, tui thì dốt thiệt nhưng quyết sinh Nam tử Nam, tui không phải như mấy ông để tụi nó dẩn ra ngoài Bắc để hành hạ rồi chết ngoài đó đâu. Đây nè, tay tui còn xâm 2 chữ “Sát Cộng”, mấy ông tưởng tui sợ chết mà chịu sống chung với tụi chó đẻ nầy hả?

Tới đó thì bọn bộ đội chịu hết nổi, tên chỉ huy bèn quát:

- Thôi hai thằng nầy về hàng trở lại đi để thằng nầy lại cho chúng tao!

Bọn bộ đội đưa 2 thằng tù sĩ quan trở về xâu trở lại rồi ra lệnh tiếp tục lên đường. Tôi còn cố nhìn lại anh thương binh TQLC đang nằm dưới đất, cổ còn cố ngểnh lên để nhìn theo chúng tôi như tiển, như đưa... Bọn cán binh CS thì bàn soạn xì xào...

Được một khoảng xa vài trăm thước, tôi nghe một tiếng súng nổ ở phía sau. Chỉ một tiếng súng nổ phá tan cái yên tỉnh của buổi trưa hè mà như đã phá nát cái định kiến cố hữu vẫn có trong lòng tôi, anh lính TQLC, tuy vì lý do thiếu văn hoá một chút nên dùng toàn những từ ngữ máy nước để chửi bọn CS nhưng đã đánh thức dậy trong tôi, đã nói vào tri thức tôi rằng, những tự hào tôi đã và đang có là một người ngang tàng không biết sợ, với cái học vấn hơn người thường một chút để tự cho mình là một người trí thức. Hay nhìn xuống những người không được may mắn có cái học vấn của tôi hay các sĩ quan khác, phải đi hạ sĩ quan hay binh sĩ và cho họ là những người không đáng được kính trọng, họ chỉ là để phục vụ cho chúng tôi, các sĩ quan ăn trên ngồi trước, tất cả những suy nghĩ đó đều sai hết.

Chỉ có một kết luận duy nhất, tôi là một thằng hèn, tôi đã vì sự sống của chính tôi, vì gia đình và vì... tiếc của đời, tôi đâu có dám làm như một anh lính thường ở đơn vị TQLC, không chấp nhận sinh Nam tử Bắc, thẳng tay chửi bới già Hồ để ung dung đi vào cõi chết!

Cái chết của anh là một bài học lớn cho tôi mà suổt đời, tôi đã không bao giờ dám quên. Từ đó, tôi đã không bao giờ coi lon lá nhà binh, bằng cấp bỏ trong túi hay tiền tài vật chất có trong cuộc sống là thực sự giá trị con người (có ở hoàn cảnh khốn cùng mới thấy lon lá hay ông lớn chừng nào lại dễ thành thằng hèn, thằng ăng-ten chừng nấy).

Chỉ có Danh Dự, xin dùng chữ hoa ở đây, mới xác định giá trị con người. Xin cám ơn anh, một người tôi đã không được hân hạnh biết tên biết tuổi, đã dạy cho tôi một bài học vô cùng thắm thía mà suốt đời tôi sẽ ghi nhớ trong lòng.

Nước mắt chảy dài trên má tôi, lần nầy không phải vì cái buốt đưa lên từ hai bàn chân đi đất mà là từ trái tim, khối óc chợt nhận ra cái hèn không dám chết của mình.

Nguyễn Ngọc Ẩn
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »


Image

LĐ81/BCND VÀ NHỮNG NGÀY THÁNG TƯ
Biên Hùng
Những chi tiết trong bài này được tóm tắt theo ký ức của các quân nhân thuộc Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhẩy Dù (*) nhằm vẽ lại một góc độ nhỏ nhoi của chung cuộc đau thương bức tử mà những người lính LĐ81/BCND nói riêng, và của toàn thể Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa nói chung đã phải gánh chịu vào những ngày tháng Tư năm 1975 và những năm sau đó…

Suốt năm 1974 cho đến ngày 30/4/75, Liên Đoàn 81/BCND tăng phái cho Quân Đoàn III để hoạt động trong các chiến khu Dương Minh Châu, chiến khu D, và các vùng rừng núi thuộc các tỉnh Tây Ninh, Bình Dương, Bình Long, Phước Long, Bình Tuy, Phước Tuy, Long Khánh, và Biên Hòa.

Nhiệm vụ của Liên Đoàn 81 là thả các toán thám sát vào hoạt động những nơi mà những đơn vị khác ít khi hành quân vào vì lực lượng địch quá đông, vì điạ thế hiểm trở, vì ngoài tầm hoạt động của pháo binh, vì xa nơi hoạt động của các đơn vị bạn, v.v. Các toán thám sát có cái lợi điểm là quân số ít (mỗi toán chỉ có 6 người), dễ dàng lẫn tránh khi gặp địch, dễ dàng thoát hiểm khi bị địch truy kích vì đã được huấn luyện kỹ về mưu sinh thoát hiểm. Nhiệm vụ các toán là thu lượm tin tức hoạt động của địch để báo cáo lên cấp trên, tùy theo mục tiêu, các toán có thể tổ chức đột kích, phục kích bắt tù binh khai thác tin tức. Có những mục tiêu ngoài khả năng của toán và theo yêu cầu của Quân Đoàn, Liên Đoàn 81 thỉnh thoảng cũng mở những cuộc đột kích vào hậu tuyến địch như trận phục kích tiêu diệt đoàn xe tiếp tế của địch ở thung lũng Ashau thuộc tỉnh Thừa Thiên năm 1968 và ở vùng tam biên (biên giới Việt, Miên, Lào) thuộc tỉnh Kontum năm 1972. Ngoài nhiệm vụ phục kích, đột kích nói trên, tùy theo tình hình Liên Đoàn 81 còn có thể tập trung lại để hành quân phối hợp với các đơn vị khác như ở tại thành phố An Lộc năm 72, Quảng Trị năm 73, và Phước Long năm 75.
LĐ81/BCND trong trận Phước Long

Ngày 3 tháng 1 năm 75, Liên Đoàn 81 được lệnh tăng viện cho tỉnh lỵ Phước Long, trung tá Vũ xuân Thông và thiếu tá Nguyễn Sơn chỉ huy 300 quân chuẩn bị nhảy vào Phước Long. Cuộc đổ quân được chia ra làm hai đợt, nhưng ngày hôm đó không thực hiện được vì phi trường Biên Hòa bị pháo kích khá nặng, một số trực thăng bị hư hại, một số phi công có nhà ở ngoài không vào phi trường sớm được. Giờ xuất quân ấn định là 9 giờ sáng nhưng mãi đến chiều, số trực thăng tập trung ở phi trường Long Bình để đưa BCD nhẩy vào chiến trận Phước Long mới đủ túc số ấn định. Đúng 2 giờ chiều, 30 trực thăng cùng cất cánh. Sau một giờ bay, chiến trận Phước Long hiện ra trước mắt vị CHT/LĐ81. Đỉnh núi Bà Rá đã lọt vào tay Việt Cộng. Từ đó, pháo địch rót vào quân ta không một viên nào ra ngoài mục tiêu, tất cả thành phố như chìm trong biển lửa. Có thể thả BCD xuống được nhưng sao giờ đổ quân đó, các phi tuần oanh tạc vẫn chưa thấy xuất hiện để làm tê liệt địch quân ở núi Bà Rá? Qua hai vòng bay ngoài thành phố Phước Long để tránh cao xạ phòng không, vẫn không thấy phi tuần đến, lại thêm trời chiều Phước Long với khói súng mù mịt khắp thành phố, với núi rừng âm u bao quanh Phước Long, màn đêm kéo đến những nơi này sớm hơn ở đồng bằng. Nếu thả BCD xuống vào khoảng 3 giờ 30 chiều thì với khoảng cách từ sân bay Long Bình đến Phước Long là gần 100 cây số, sớm nhất là phải 5 giờ 30 chiều đợt đổ quân thứ hai mới đến kịp. Giờ đó, màn đêm đã hoàn toàn phủ kín Phước Long, trực thăng và phi cơ oanh kích đành bó tay, chắc chắn anh em BCD đã thả xuống đợt đầu không thể nào đương đầu với làn sóng người “sinh Bắc tử Nam” được. Không thể hy sinh BCD ngu xuẩn như thế, CHT/LĐ81 quyết định không thả quân BCD và sẵn sàng lãnh nhận trách nhiệm và mọi hậu quả.

Ngày 4/1/75, trước 9 giờ đã có đầy đủ số trực thăng như dự định nên 300 quân đã vào được Phước Long với một số tổn thất tương đối. 300 quân nhảy vào một chiến trường mà hết 90% vị trí phòng thủ đã lọt vào tay địch quân cộng với tinh thần quân trú phòng quá suy sụp, hàng ngũ chiến đấu không còn nguyên vẹn thì giờ phút khai tử Phước Long chẳng còn bao lâu nếu không được tiếp tục đưa thêm quân tăng viện vào. Phần lực lượng còn laị của Liên Đoàn 81 đã sẵn sàng để vào tiếp viện nhưng lệnh trên không cho nên ngày 6/1/75, Phước Long đã hoàn toàn lọt vào tay Cộng quân. Liên Đoàn 81 đã xử dụng trực thăng cứu thoát được trên 100 quân ở xung quanh rừng Phước Long, trong số này có 7 quân nhân thuộc đơn vị bạn, số còn lại kể như bị chết, bị bắt hay mất tích.
Image
Trớ trêu thay, sau khi Phước Long thất thủ, Không quân đã phải ra tòa vì tội “mất Phước Long”, đó là một quyết định bất công. Đúng ra là BTL/QĐIII, BTL/KQ và chính CHT/LĐ81 phải ra tòa mới đúng. Đúng hơn nữa, người đã quyết định đưa BCD vào “biển lửa” khi đã có ý định bỏ rơi Phước Long mới là kẻ có tội. Khi KĐ43 Chiến Thuật phải ra điều trần trước hội đồng tướng lãnh, CHT/LĐ81 đã đến buổi họp, ông xin được phát biểu trước và sau đó vội vã ra về vì Phước Long mất, bộ chỉ huy BCD chỉ mới cứu ra được trên 100 quân, trong đó có trung tá Vũ Xuân Thông, CHT Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật, thiếu tá Nguyễn Sơn (CHP/BCH/CT), đại úy Trương Việt Lâm (biệt đôi trưởng BĐ 811), và đại úy Lê Đắc Lực (biệt đội trưởng BĐ 814), (những vị này hiện đang ở Hoa Kỳ), còn trên 100 BCD khác nữa đang cần có CHT/LĐ81 trên các phi vụ tìm kiếm. Gần 9 năm liên tục lặn lội trên các chiến trường với anh em BCD, CHT/LĐ81 nhận thấy Không Quân, nhất là anh em trực thăng đã thường cùng chết chung với BCD, do đó CHT/LĐ81 đã xin sẵn sàng nhận tội làm mất Phước Long trước tòa án binh chứ không phải Không Đoàn 43 Chiến thuật.

Xin được trích đăng một đoạn do Không Quân Đào Vũ Anh Hùng đã viết trên đặc san Lý Tưởng của Không Quân liên quan đến “sự kiện Phước Long” :


Đại tá Triệu, xước danh “pilot Thái Bình” mà Dương Hùng Cường mô tả là “lái máy bay trước khi biết lái xe đạp”, Không Đoàn Trưởng KĐ43 Chiến Thuật yêu cầu tôi đại diện Không Đoàn, làm “luật sư” trong buổi điều trần trước hội đồng tướng lãnh. Đại tá Phan Văn Huấn, Liên Đoàn Trưởng Liên Đoàn 81 Biệt Kích Dù có một thiếu úy tùy viên đi theo, vào phòng họp sau cùng. Ông xin được nói trước với lời lẽ hiên ngang đầy khí phách :


- “Mất Phước Long, lý do tại sao, quý vị đều biết nhưng không ai nói ra. Phần BCD 81, chúng tôi vào chỗ chết đã đành, bởi nghề nghiệp chúng tôi là chọn chỗ chết để đi vào. Riêng với anh em Không Quân, các phi hành đoàn trực thăng đã làm quá bổn phận của họ, chết lây với chúng tôi thật tội nghiệp. Nay đưa họ ra tòa là điều tôi cho là vô lý. Nếu có lỗi làm mất Phước Long, tôi nhận lỗi. Xin quý vị ở lại tiếp tục họp và cho tôi biết kết quả. Tôi xin phép ra về vì còn nhiều việc phải làm”.


Đại tá Huấn đứng nghiêm chào và quay ngắt đi ra. Ông đến như một cơn gió và ông đi cũng như cơn gió. Ông xuất hiện chưa đầy năm phút, nói một lời ngắn ngủi nhưng tôi ghi nhớ mãi cái giây phút lịch sử và hình ảnh đó của ông. Hội đồng tướng lãnh ra về, giao việc điều tra cho Đại tá Nguyễn Huy Lợi, Nha Quân Pháp, ở lại làm việc. Tôi đã làm trọn vẹn vai trò “luật sư”, biện hộ cho Không Đoàn 43 Chiến Thuật. Ngày di tản, gặp lại Đại tá Nguyễn Huy Lợi trên boong tầu Mỹ, trước đông anh em, ông đã khen tôi không tiếc lời về việc tôi dám nói ra sự thật vụ mất Phước Long.
Image
Bộ Chỉ Huy 3 Chiến Thuật của LĐ81/BCND tại Bộ Tổng Tham Mưu

Công việc thả các toán thám sát vào sâu trong các vùng hoạt động của Cộng quân để thu thập tin tức vẫn được tiếp tục như trước. Đến ngày 26 tháng 4 năm 75, Liên Đoàn 81 được lệnh đưa một bộ chỉ huy chiến thuật khoảng 1000 quân về tăng cường phòng thủ bộ Tổng Tham Mưu. Bộ chỉ huy 3 chiến thuật do thiếu tá Phạm châu Tài nhận lãnh trách nhiệm này. Thiếu tá Phạm châu Tài đặt bộ chỉ huy ở cao ốc trước cổng bộ Tổng Tham Mưu và chia quân bố trí những điểm trọng yếu xung quanh bộ Tổng Tham Mưu như sân banh quân đội, nghĩa trang Bắc Việt, ngã năm quân khuyển, sân golf, v.v. Riêng việc bố phòng bên trong hàng rào bộ Tổng Tham Mưu thì do quân sĩ cơ hữu của bộ Tổng Tham Mưu đảm trách.

Ngày 30 tháng 4 năm 75, Cộng quân từ hướng ngã ba ông Tạ tiến về ngã tư Bảy Hiền thì bị chận đánh bởi hậu cứ Sư đoàn Nhảy Dù, từ Lăng Cha Cả đến cổng Bộ Tổng Tham Mưu thì gặp sự chống trả của LĐ81 Biệt Cách Dù và Nha Kỹ Thuật. Lực lượng địch gồm có bộ binh và chiến xa được pháo binh yểm trợ, tuy địch đông và mạnh như thế nhưng địch vẫn không dập tắt được sức kháng cự của Nhảy Dù, Biệt Cách Dù, và Nha Kỹ Thuật. Mặc dầu lệnh tổng thống Dương văn Minh đã phát đi từ sáng sớm, kêu gọi QLVNCH ngưng chiến và giao nạp vũ khí cho "Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam". Cuộc điện đàm giữa thiếu tá Phạm châu Tài với chuẩn tướng Nguyễn hữu Hạnh và "TT" Dương văn Minh sau này đã được thiếu tá Phạm châu Tài vắn tắt lại như sau:

9:00 giờ sáng ngày 30-4-75 Bộ chỉ huy 3 chiến thuật của LĐ81 / BCND đang quần thảo với Việt Cộng trước cổng bộ Tổng Tham Mưu ở Lăng Cha Cả thì lệnh đầu hàng của tổng thống Dương văn Minh đã ban ra. Tôi chạy vào văn phòng trong bộ TTM mà đêm hôm trước tôi đã họp với tướng Vĩnh Lộc, nhưng những người lính cơ hữu gác ở đó cho biết tướng Vĩnh Lộc đã rời Bộ Tổng Tham Mưu từ 6:00 giờ sáng. Tất cả các tướng lãnh và các sĩ quan mang cấp bậc đại tá đã họp trong phòng này với tôi vào đêm 29 tháng 4 đều vắng mặt. Tôi bốc điện thoại lên quay số của văn phòng Phủ Tổng Thống để được đàm thoại với TT Dương văn Minh, tôi hết sức ngạc nhiên khi người trả lời xưng danh là chuẩn tướng Nguyễn hữu Hạnh. Tôi nói muốn được nói chuyện với TT Dương văn Minh, tướng Hạnh hỏi lại tôi là ai? Tôi trả lời:

- “Tôi là Th/tá Phạm châu Tài, chỉ huy trưởng bộ chỉ huy 3 chiến thuật của Liên Đoàn 81/ Biệt Cách Dù đang đóng quân ở Bộ Tổng Tham Mưu”

Tướng Hạnh đã biết tôi vì tướng Hạnh cũng có mặt trong buổi họp ở BTTM vào đêm 29/4/75 nên khoảng vài giây đồng hồ sau tướng Hạnh đưa diện thoại cho TT Dương văn Minh. T/t Minh nói :

- Đại tướng Dương văn Minh tôi nghe đây, có chuyện gì đó ?

Tôi mới trình bày với T/t Minh:

- “Tôi là chỉ huy trưởng cánh quân đang tử chiến với Việt Cộng ở Bộ Tổng Tham Mưu, tôi đang cố liên lạc với bộ TTM thì lệnh ngưng chiến đã ban ra và quân của Việt Cộng vẫn còn đang tiến về thủ đô. Tôi vào trong bộ Tổng Tham Mưu thì không còn một tướng lãnh nào ở đây, họ đã bỏ chạy hết do đó tôi muốn nói chuyện với tổng thống để xin quyết định” - T/t Minh trả lời rằng :

- Các em chuẩn bị bàn giao đi.

- Có phải là đầu hàng không ? - Tôi hỏi lại.

- Đúng vậy, ngay bây giờ xe tăng của Việt Cộng đang tiến vào dinh Độc Lập.

– T/t Minh trả lời.

Tôi mới nói rằng:

- “Nếu xe tăng của Việt Cộng tiến về dinh Độc Lập thì chúng tôi sẽ đến cứu tổng thống, nếu tổng thống ra lệnh đầu hàng thì tổng thống có chịu trách nhiệm với hơn 1000 quân đang tử chiến ở Bộ Tổng Tham Mưu hay không?”.

T/t Minh trả lời:

- “Tuỳ ý các anh em” xong cúp máy….

Mặc dù đã có lệnh đầu hàng của "TT" Dương văn Minh nhưng sự chiến đấu của nhiều đơn vị thuộc QLVNCH vẫn tiếp tục. Diễn tiến của bộ chỉ huy 3 chiến thuật thuộc LĐ81/BCND kể từ ngày 29/4/75 được đúc kết như sau:

12:30 giờ trưa ngày 29/4/75, trung đội 1 do th/úy Nguyễn công Danh thuộc biệt đội 819 đã giải vây và bảo vệ 2 chuyến xe buýt đang bị cướp có võ trang uy hiếp tại cổng phi trường Tân Sơn Nhất. Sau khi ổn định tình hình trung đội 1 đã hộ tống 2 chuyến xe này vào phi trường. Hành khách lên phi cơ, và phi cơ cất cánh lúc 2:45 phút chiều. Đây cũng là chuyến phi cơ cuối cùng cất cánh tại phi trường Tân Sơn Nhất vào thời điểm đó. Sau đó trung đội 1 trở về phối trí với biệt đội 819 do Đại úy Trương việt Lâm chỉ huy đang rải quân ở trường Sinh Ngữ Quân Đội và Lục Quân Công Xưởng. Đại úy Lâm đã cho các quân nhân biết xử dụng thiết giáp M113 lái 3 thiết giáp M113 còn mới tinh chạy ra khỏi công xưởng để lập tuyến phòng thủ bên ngoài.

Trong đêm 29/4/75 Đại úy Nguyễn Hiền nhận lệnh chỉ huy đoàn quân xa chuyên chở những quân dụng nặng, và tải thương binh của LĐ81/BCND từ Biên Hoà trở về trại hậu cứ của LĐ81/BCND là trại Bắc Tiến ở Trung Chánh. Lúc 3 giờ sáng ngày 30/4/75. Khi đoàn quân xa đến cầu Bình Phước thì Địa Phương Quân gác đầu cầu cho biết trại Bắc Tiến và các cơ sở quân sự trong vùng đó đã bị VC chiếm đóng. Đ/úy Hiền liền cho đoàn quân xa đổi hướng tiến đến cầu Bình Triệu và tìm đường về bộ Tổng Tham Mưu để sát nhập lại với bộ chỉ huy 3 chiến thuật của LĐ81/BCND đang cố thủ tại đó. Đ/úy Hiền bắt tay liên lạc với BCH/3/CT của LĐ81/BCND lúc 5:30 sáng.

Cùng ngày 30/4/75 lúc 2 giờ sáng, trận chiến tại cổng phi trường Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng Tham Mưu vẫn tiếp tục giữa VC và các đơn vị của LĐ81/BCND. Các chốt của LĐ81/BCND phía sau cổng bộ Tổng Tham Mưu đã dùng lựu đạn mini để ngăn chặn các toán đặc công của Việt Cộng đang tìm cách đột nhập. Lựu đạn và chất nổ được xử dụng tối đa, sau 1 giờ rưỡi giao tranh VC không tiến được đành rút lui khỏi cổng sau của Bộ Tổng Tham Mưu.

Đến 6 giờ sáng, 5 chiến xa T54 và đoàn quân tùng thiết của VC trên đường tiến vào Sài Gòn đã bị lực lượng của Sư Đoàn Nhẩy Dù và Liên Đoàn 81/BCND chận đánh trước cổng phi trường Tân Sơn Nhất, 4 chiến xa của VC bị phá huỷ, chiếc sau cùng quay trở lại chạy thoát.

Các biệt đội của LĐ81/BCND trấn thủ trước cổng bộ TTM là biệt đội 817 do trung úy Lê văn Lợi chỉ huy, và biệt đội 818 do đại úy Nguyễn Ánh chỉ huy.

7 giờ sáng một đoàn chiến xa khác của Việt Cộng hướng vào cổng chính bộ Tổng Tham Mưu… Một toán của LĐ81/BCND phòng thủ trên cao ốc đã dùng M72 bắn cháy chiếc đầu tiên, chiếc thứ 2 đã dùng súng đại pháo trên pháo tháp bắn vào cao ốc làm tê liệt tuyến phòng thủ đó, nhưng chiến xa này cũng bị bắn cháy trước cổng bộ Tổng Tham Mưu do quân nhân thuộc biệt đội 817 của trung úy Lê văn Lợi.

Sau 10 giờ sáng, VC đã tràn ngập vào phi trường Tân Sơn Nhất, có một xe Toyota Corona dân sự chạy đến cổng Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà bị quân nhân LĐ81/BCND chận lại không cho vào. Trên xe có hai người đàn ông, một người tên Quân mặc quân phục của Quân Vận mang cấp bậc thiếu tá, người kia mặc thường phục xưng là nhà báo muốn vào bộ TTM để treo cờ của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Đại úy Nguyễn Hiền đã cho binh sĩ tịch thu cờ và bắt giữ 2 nhân vật đó. Sau khi hỏi cung được biết họ chỉ là thành phần đón gió trở cờ nên BCH 3 chiến thuật đã thả 2 người đó trước cổng bộ TTM.

10:30 sáng, đại úy Nguyễn hữu Hưng chỉ huy phó bộ chỉ huy 3 chiến thuật của LĐ81/BCND và đại úy Nguyễn Hiền đi đến quyết định rút đơn vị khỏi bộ TTM, trở về Biên-Hoà để tái hợp với bộ chỉ huy hành quân của LĐ81/BCND. Trên đoàn quân xa gồm những quân nhân của tất cả các đơn vị còn muốn chiến đấu, trong đoàn quân xa này được tăng cường thêm 8 chiếc thiết giáp M41 và M113 từ phi trường Tân Sơn Nhất về phối hợp. Nhưng khi đoàn xe đang di chuyển trên đường Võ di Nguy, Phú Nhuận thì bị VC phục kích, chiếc quân xa đầu tiên bị bắn cháy, đoàn xe bị nghẹt lại, đại úy Hưng cho lệnh anh em bỏ đoàn quân xa và tìm đường thoát thân để tránh sự trả thù.

1 giờ trưa ngày 30/4/75. Riêng biệt đội 819 của đại úy Trương việt Lâm sau khi tập họp được quân nhân của biệt đội, các anh em đã chất vũ khí, đạn được từ Lục quân công xưởng lên 2 xe GMC bít bùng để chạy về Biên Hoà hy vọng kết hợp với bộ chỉ huy Liên Đoàn 81/BCND tại đó. Nhưng khi 2 chiếc quân xa này chạy đến ngã 5 Hạnh Thông Tây bị Việt Cộng chặn lại. Dân chúng bên đường bu quanh 2 chiếc GMC kêu gọi anh em biệt đội 819 bỏ súng, họ nói: “Hết chiến tranh rồi, các anh buông súng đi, Biệt Cách Dù buông súng đi…” - Biệt đội 819/LĐ81/BCND đã giao nạp vũ khí tại ngã 5 Hạnh Thông Tây lúc 2:15’ chiều 30/4/1975. Anh em biệt đội 819/ LĐ81 / BCND chia tay nhau tại đó.

Bộ chỉ huy Liên Đoàn 81/BCND và 2 bộ chỉ huy chiến thuật ở Biên Hoà

Thủ đô VNCH trong giờ phút đó chỉ còn 2 điểm kháng cự ở ngã tư Bảy Hiền và Lăng Cha Cả. Chẳng bao lâu sau đó, tiếng súng cả hai nơi không còn nổ nữa, anh em rời vũ khí và chia tay nhau mỗi người mỗi ngả!

Bộ chỉ huy 1 chiến thuật do tr/tá Vũ xuân Thông chỉ huy, bộ chỉ huy 2 chiến thuật do th/tá Nguyễn Sơn chỉ huy cùng với bộ chỉ huy Liên Đoàn 81 do đại tá Phan văn Huấn chỉ huy với quân số vào khoảng 2000 quân nhân đang đóng quân ở phía bắc phi trường Biên Hòa. Ngày 28 tháng 4/75 lúc 12 giờ trưa, đ/tá Huấn được lệnh tr/tướng Nguyễn văn Toàn gọi về bộ tư lệnh QDIII họp khẩn, nhưng Liên Đoàn 81 không còn có trực thăng tăng phái ngày hôm đó và đường xe đến bộ tư lệnh QDIII không còn chạy được nên tr/tướng Toàn đã cho trực thăng đến đón đ/tá Huấn về họp. Tr/tướng Toàn chủ tọa buổi họp với các sĩ quan gồm có: đ/tá Lưu Yểm tỉnh trưởng Biên Hòa, tr/tá Lô tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 7 Nhảy Dù, đ/tá Phan văn Huấn chỉ huy trưởng Liên Đoàn 81/BCND và chừng 20 sĩ quan của bộ tư lệnh QDIII.

Trong phòng họp không khí thật căng thẳng và hồi hộp, tr/tướng Toàn nói: “Ngày mai (29/4/75) chúng ta rút khỏi Biên Hòa để về phòng thủ tuyến Thủ Đức, các đơn vị tuần tự rút lui, nhưng phải có trật tự không được lộn xộn như ở vùng I và vùng II; Liên Đoàn 81/ BCND là lực lượng đi sau cùng (đoạn hậu) và có nhiệm vụ phá hủy chiếc cầu trên xa lộ Đại Hàn gần phi trường Biên Hòa”.

Sau khi họp ở QĐIII về, đêm 28/4/75 Liên Đoàn 81/BCND liền di chuyển vào phi trường Biên Hòa bố trí quân ở đó. Riêng biệt đội 812 do đại úy La-Cao chỉ huy có nhiệm vụ phải giữ an-ninh và kiểm soát lưu thông trên cầu Mới cho đến khi các đơn vị bạn và LĐ81/BCND qua khỏi cầu để tiến về Thủ Đức lập tuyến phòng thủ. Sáng 29/4/75 đơn vị di chuyển qua cầu xa lộ Đại Hàn, rút khỏi thành phố Biên Hòa đúng theo lệnh tr/tướng Toàn đã nói (phi trường Biên Hòa do sư đoàn 3 Không Quân trấn đóng nhưng Không Quân đã rút đi từ mấy ngày trước). Đúng 8 giờ sáng thì Liên Đoàn 81/BCND qua khỏi cầu Mới và biệt đội 812 cùng toán công-binh của đại úy Hoàng tăng phái cho Liên-Đoàn 81 là đơn vị sau cùng qua cầu và đã hoàn tất nhiệm vụ dùng chất nổ phá chiếc cầu đó. Đơn vị vừa qua khỏi cầu thì nghe lệnh ông Vũ văn Mẫu, tân thủ tướng VN yêu cầu người Mỹ rút ra khỏi VN trong vòng 24 tiếng đồng hồ.

Đây là một sự kiện quan trọng diễn ra trong giờ phút hấp hối của miền Nam. Trước tình thế đó, Liên Đoàn 81/BCND liền rút thẳng vào rừng Cò Mi bố trí và tìm cách liên lạc với thượng cấp và các đơn vị bạn để hiểu rõ tình hình, ngõ hầu chọn lựa đường lối hành quân thích hợp cho Liên Đoàn 81/BCND. Suốt đêm hôm đó, bộ chỉ huy và ban truyền tin của Liên Đoàn 81/BCND đã cố gắng bắt liên lạc với các đơn vị bạn qua các tần số nhưng không có kết quả ! Sáng 30/4/75, Liên Đoàn 81/BCND men theo đường rừng di chuyển dần về hướng Thủ Đức để hy vọng gặp được đơn vị bạn nhưng hoàn toàn tuyệt vọng. Trên đường di chuyển, LĐ81/BCND chỉ thỉnh thoảng bắt gặp quân trang quân dụng của các đơn vị bạn bỏ lại! Khi Liên Đoàn 81/BCND đến gần lăng chú Hỏa (gần núi Châu Thới), đơn vị dừng quân và tung các toán thám sát ra các xa lộ Lái Thiêu, Đại Hàn quan sát tình hình.

Các toán thám sát báo về bộ chỉ huy LĐ81/BCND quân xa của Việt Cộng đang chạy công khai trên các trục lộ mà không gặp một sự kháng cự nào của đơn vị trách nhiệm trong vùng. Tất cả các nơi như là đều đã rã ngũ hết rồi!
Sau đó Đ/tá Huấn liền họp các cấp chỉ huy và nói:

- “Chúng ta đã cố gắng liên lạc với cấp trên và các đơn vị bạn nhưng tất cả đều vô vọng, bây giờ tình hình như thế này xin anh em cho biết ý kiến.”

Đại đa số ý kiến anh em đều nói:

- “Một con én không làm nổi mùa xuân, hơn nữa chúng ta không nhận được lệnh gì của thượng cấp hết, nếu bây giờ chúng ta vẫn tiếp tục chiến đấu mà không còn đơn vị yểm trợ thì cuối cùng đơn vị ta sẽ bị Việt Cộng tập trung tiêu diệt mà thôi, không còn cách nào khác chúng ta phải bắt buộc làm theo lệnh của tổng thống Dương văn Minh.”

Đ/tá Huấn yêu cầu các cấp chỉ huy tập họp anh em xung quanh một ngôi mộ có gò mả khá cao. Đứng trên gò mả, đ/tá Huấn bùi ngùi nói trước hàng quân:

- “Chúng ta sinh trưởng ở miền Nam, chúng ta có bổn phận phải bảo vệ miền Nam, bây giờ chúng ta thua rồi, chúng ta phải cay đắng tuân lệnh "TT" Dương văn Minh, giao nạp vũ khí cho Việt Cộng. Thưa anh em, chúng ta là một đơn vị ưu tú của QLVNCH, qua bao nhiêu năm chiến đấu bên nhau, trong giờ phút lịch sử này, chúng ta phải chứng tỏ là một đơn vị có kỷ luật không như những đội quân ô hợp, vậy yêu cầu anh em theo tôi tiến ra xa lộ Đại Hàn, các biệt đội sắp hàng tư và di chuyển về hướng Saigòn để tiếp xúc với đơn vị Việt Cộng mà bàn giao vũ khí rồi anh em chúng ta giải tán và chia tay nhau; Xin anh em nhớ rằng, anh em không có tội gì cả, vì anh em phải tuân hành theo lệnh của tôi, tôi sẵn sàng nhận tội và tôi sẽ đi đầu, nếu Việt Cộng có bắn thì họ sẽ bắn tôi trước”.

Trên xa lộ Đại Hàn gần lăng chú Hỏa, quân nhân của Liên Đoàn 81/BCND sắp hàng tư tiến về hướng Saigòn. Hai bộ chỉ huy chiến thuật và bộ chỉ huy Liên Đoàn 81 quân số gần 2000 quân nhân, đội hình hàng tư dài hơn cây số. Đoàn quân yên lặng di chuyển trên xa lộ, không khí thật ngột ngạt khó thở, những người lính súng đạn còn trên tay nhưng cái lệnh đầu hàng đã làm cay cay lòng mắt. Những hình ảnh nhạt nhoà của những người dân đứng trước mái nhà tranh nhìn đoàn quân não nề tiến bước. Khi LĐ81/BCND đang di chuyển trên xa lộ Đại Hàn thì xe Việt Cộng cũng di chuyển ngược xuôi bên đội hình Liên Đoàn 81/BCND, các cán binh Cộng Sản trên xe nhìn Liên Đoàn 81/BCND với nét mặt tò mò và ngạc nhiên khi thấy quân nhân của LĐ81/BCND trên tay vẫn còn mang vũ khí. Khi Liên Đoàn 81/BCND đã di chuyển khá xa thì có 2 xe từ hướng Saigòn chạy đến, trên mỗi xe có đặt máy quay phim. Việt Cộng quay phim từ đầu đội hình cho đến cuối và ngược lại từ cuối lên đầu đội hình, Việt Cộng quay nhiều về toán quân đi đầu gồm nhiều cấp chỉ huy của Liên Đoàn 81/BCND.

Khi Liên Đoàn 81/BCND dừng lại cho anh em nghỉ ngơi thì đơn vị Việt Cộng đến tiếp xúc và quân nhân Liên Đoàn 81/BCND để vũ khí tại chỗ và giải tán….
Xin viết thêm là khi Liên Đoàn 81/BCND đang di chuyển trên xa lộ thì thấy rất nhiều thanh niên từ hướng Saigòn chạy ngược về Biên Hòa, đầu trần, đi chân không, mình mặc áo quần lót, tay cầm các giấy tờ tùy thân và tiền bạc cá nhân; đ/tá Huấn đi đầu đội hình liền kéo một anh chạy gần và hỏi:

- “Các anh chạy đi đâu mà ăn mặc như thế? “

Anh đó liền trả lời:

- “Chúng tôi là lính, Việt Cộng tước vũ khí rồi bắt phải cởi áo quần giày dép và cho về nhà.”

Chính đó là lý do mà khi tiếp xúc giao nạp vũ khí cho Việt Cộng, đ/tá Huấn đã yêu cầu Việt Cộng đừng bắt anh em 81 Biệt Cách Dù làm như thế vì sợ anh em chạm tự ái vì bị sỉ nhục mà sẽ không tuân theo lệnh giao nạp vũ khí; Việt Cộng đã đồng ý và cho xe đến chở các sĩ quan về nhà.

Riêng biệt đội 812 do đại úy La-Cao chỉ huy, binh sĩ dưới quyền đã được đ/úy La-Cao chỉ thị:

- “Các anh em khi tháo băng đạn ra khỏi súng nhưng nên để lại một viên trong buồng đạn để tránh sự tấn công bất ngờ hoặc trường hợp khi gặp Việt-Cộng nếu bị sỉ nhục quá đáng nếu anh em không dằn lòng được, anh em có thể xử dụng viên đạn cuối cùng.”

Sau đó có 2 chiếc xe đến chở các sĩ quan về Saigòn, khi xe chạy đến làng đại học Thủ Đức, đ/tá Huấn yêu cầu xe dừng lại và nói với Việt Cộng:

- “Sĩ quan chúng tôi có nhà ở trong khu này”.

Thật tình thì anh em sĩ quan đâu có nhà ở trong khu sang trọng đó, vì anh em sĩ quan không muốn cho Việt Cộng biết nhà ở của mình.

Tại nơi đây anh em sĩ quan đã ngậm ngùi chia tay nhau !
Image
Biệt Đội 813/LĐ81/BCND tại Tây Ninh

Giữa tháng 3/75, đại bộ phận Liên Đoàn 81/BCND do Trung Tá Chỉ Huy Phó Nguyễn Văn Lân chỉ huy được điều động lên Tây Ninh để cùng với Sư Đoàn 25 phòng thủ vùng Tây Bắc Sài Gòn.

Khi Liên Đoàn 81/BCND đến Tây Ninh, Căn Cứ Hành Quân đóng tại Xóm Chàm và Biệt Đội 813/BCND là thành phần trừ bị, có nhiệm vụ phòng thủ vòng ngoài Căn Cứ Hành Quân. Khoảng một tuần sau, Biệt Đội 813 được điều động lên Trảng Sụp, tiền đồn cực Tây của Tỉnh Tây Ninh để thay thế cho Biệt Đội 816/BCND của Đại Uý Lễ.

Cuối tháng tư, tình hình Tỉnh Tây Ninh rất căng thẳng, Tr/Tướng Toàn ra lệnh cho Liên Đoàn 81/BCND phải duy trì một Biệt Đội ở đó để giữ vững tinh thần quân sĩ tại tỉnh Tây Ninh khi đại bộ phận của LĐ81/BCND về Biên Hoà để nhận lệnh hành quân mới. Biệt Đội 813/BCND do Tr/Úy Lai Đình Hợi chỉ huy nhận lãnh trách nhiệm này. Trước khi rời Tây Ninh Tr/Tá Lân giao cho Tr/Úy Hợi một bao thư niêm mật và nói chỉ được mở khi hữu sự.

Lực lượng tại Tây Ninh lúc đó, ngoài các đơn vị cơ hữu của Tỉnh, chỉ còn có Trung Đoàn 49 của Sư Đoàn 25, do Trung Tá Khoa làm Trung Đoàn Trưởng và Biệt Đội 813/BCND.

Vài ngày sau, Đại Tá Tài, Tỉnh Trưởng Tỉnh Tây Ninh, ra lệnh đưa Biệt Đội 813 về phòng thủ dinh Tỉnh Tây Ninh. Vào thời điểm này, nhiều sự kiện xẩy ra như: TT Nguyễn Văn Thiệu từ chức, Tổng Thống Hương giao quyền cho Đại Tướng Minh.

Sáng ngày 29/4/75, Tr/Tá Khoa báo cho Tr/Úy Hợi biết: Đã mấy ngày qua, ông mất liên lạc với Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 25. Biệt Đội 813 cũng mất liên lạc truyền tin với Trung Tâm Hành Quân Liên Đoàn 81/BCND đang đóng ở Suối Máu và cả với hậu cứ tại Ngã Tư Anh Sương. Tr/Tá Khoa cho Tr/Úy Hợi biết thêm là ông đã họp bàn với Đại Tá Tài và một số các đơn vị trưởng của Tỉnh là ông có ý định ngày mai (30/4/75) ông sẽ rút về Sài Gòn, nếu Sài Gòn cũng mất, ông sẽ về Vùng 4 để tiếp tục chiến đấu vì ông có một số bạn bè ở đó. Tr/Tá Khoa hỏi Tr/Úy Hợi xin giúp ông một điều. Ông nói:

- “Chiều nay, khi Trung Uý đi họp, (chiều nào Đại Tá Tài cũng chủ tọa buổi họp gồm các đơn vị trưởng của Tỉnh, và các đơn vị biệt phái) giữa buổi họp, Trung Uý cho một toán Biệt Cách Dù ập vào phòng họp dùng súng uy hiếp và ra lệnh cho tôi rút về Sài Gòn.”

Trung úy Hợi nói:

- “Tôi không làm được việc này vì nếu chưa có lệnh của Đại Tá Huấn thì tôi sẽ không rút, cho dù Tây Ninh chỉ còn mỗi Biệt Đội 813/BCND của tôi”.

Tr/Tá Khoa cố gắng thuyết phục Tr/Úy Hợi cùng rút và giải thích là mình rút để có thể tiếp tục chiến đấu chứ không phải để chạy. Tr/Úy Hợi hẹn sẽ trả lời ông vào buổi chiều.

Trưa ngày 29/4/75, Tr/Úy Hợi họp tất cả các Sĩ Quan, Hạ Sĩ Quan trong Biệt Đội. Sau khi thuật lại cuộc nói chuyện với Tr/Tá Khoa, Tr/Úy Hợi cho các anh em biết, trong lần tiếp tế gần nhất bằng trực thăng, Tr/Úy Hợi có nhận được lá thư tay của Đại Tá Huấn trong đó, ngoài những lời chỉ bảo, còn có câu nhắn nhủ ngắn gọn: “Hợi, tình hình rất nặng, nếu có gì, cùng Tử Thủ với Liên Đoàn”. Sau khi bàn luận, tất cả đồng ý rút.

Chiều ngày 29/4/75, Tr/Úy Hợi trả lời Tr/Tá Khoa là sẽ cùng rút với ông, nếu Tr/Tá Khoa cùng đồng ý rút chứ Tr/Úy Hợi không cho lính của Biệt Đội uy hiếp ông (Tr/Tá Khoa đồng ý và do đó đã không có buổi họp chiều hôm đó). Sau đó Tr/Úy Hợi ra lệnh cho Biệt Đội 813/BCND chuẩn bị để ngày mai di chuyển về hậu cứ, đồng thời bảo Trung Uý Phan Anh Tuấn, Biệt Đội Phó vào Quân Y Viện Tỉnh để thông báo với các thương bệnh binh của BCND.

Sáng ngày 30/4/75, Tr/Tá Khoa cho biết lực lượng rút khỏi Tây Ninh chỉ có Trung Đoàn của ông và Biệt Đội 813/BCND (Đại Tá Tài ở lại không đi). Lệnh hành quân như sau: Di chuyển bằng xe về Sài Gòn, nếu bị phục kích, xuống xe đánh bật rồi đi tiếp (lúc đó quốc lộ nhiều đoạn bị cắt). Biệt Đội 813/BCND được phân chia đi cùng với Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn 49. Khoảng 7 giờ sáng, tất cả đã lên xe chuẩn bị di chuyển. Đi theo Biệt Đội 813/BCND, ngoài các thương bệnh binh của BCND, còn có một người nữa là Trung Tá Trưởng Ty Cảnh Sát Tỉnh Tây Ninh (không nhớ tên vị Tr/Tá này). Đoàn xe đi được một đoạn, khoảng 8 giờ sáng, thì bị chặn lại. Tr/Úy Hợi cho quân nhân Biệt Đội xuống xe, tạt sâu vào bên phải quốc lộ, bố trí đợi lệnh. Kiểm điểm lại quân số, Biệt Đội 813 không thiếu một ai, kể cả các thương binh của BCND, ngoài ra còn có Tr/Tá Khoa và Tr/Tá Cảnh Sát. Lúc đó, Tr/Úy Hợi mở bao thư mật của Tr/Tá Lân khi ông rời Tây Ninh, trong bao thư có một bản đồ chỉ dẫn các điểm tập trung để đợi triệt xuất khi gặp nạn. Tr/Tá Khoa cho biết Việt Cộng đã chiếm Tỉnh Tây Ninh ngay sau khi đoàn xe rời Tây Ninh. Tr/Tá Khoa và Tr/Úy HợI quyết định di chuyển bộ về Sài Gòn. Để tránh gặp địch, Biệt Đội 813 đi men theo bờ ruộng, xa Quốc Lộ. Tr/Tá Khoa cho biết là ông đã mất liên lạc với Trung Đoàn của ông.

Trưa ngày 30/4/75, trong lúc đang di chuyển, một binh sĩ BCND mở radio đang phát ra: lời kêu gọi đầu hàng của Dương văn Minh. Sau khi dừng quân bố trí, Tr/Tá Khoa nghĩ Vùng 4 bây giờ vẫn còn và ông muốn cùng anh em Biệt Đội 813 về đó. Sau đó đoàn quân 813/BCND lại vững tay súng tiến bước lên đường mặc bỏ sau lưng lời kêu gọi đầu hàng của Dương văn Minh.

4 giờ chiều ngày 30/4/75, Tr/Úy Hợi họp tất cả các Sĩ Quan, Hạ Sĩ Quan để hỏi ý kiến. Tất cả đều đồng ý để súng tại bờ ruộng ấp Bầu Nâu và đi ra quốc lộ.

Ngày 1/5/75, các anh em trong Biệt Đội 813/BCND vẫn giữ kỷ luật nghiêm minh theo lệnh Tiểu Đội Trưởng, Trung Đội Trưởng, Biệt Đội Phó Tuấn và Biệt Đội Trưởng Lai Đình Hợi.

Khoảng 9 giờ tối ngày 1/5/75, Biệt Đội 813 và các anh em thuộc Sư Đoàn 25 được lệnh tập họp để nghe “Chính Sách Khoan Hồng Của Cách Mạng”. Trước khi chấm dứt, một Cán Binh nói: “Tất cả các Sĩ Quan ở lại, Hạ Sĩ Quan và Binh Sĩ được ra về”. Tr/Úy Hợi nói nhỏ : “Tất cả đi hết, không ai ở lại.”. Khoảng 10 giờ đêm ngày 1/5/75, tất cả Biệt Đội 813/BCND kéo nhau ra quốc lộ, đi bộ suốt đêm về Gò Dầu để đón xe đò về Sài Gòn. Đoàn xe đò chở Biệt Đội 813/BCND về đến Ngã Tư An Sương vào khoảng trưa ngày 2/5/75 và anh em Biệt Đội 813/LĐ81BCND chia tay nhau tại đó.

Số phận của 6 toán thám sát của LĐ81/BCND trong chiến khu D:


Riêng về 6 toán thám sát được trực thăng thả sâu trong mật khu VC đã hoàn toàn mất liên lạc. Hệ thống vô tuyến liên lạc của toán bằng máy PRC25, UHF-1 phải qua các trạm chuyển tiếp (Radio Relay Station) bằng phi cơ L-19 hoặc các đài tiếp vận truyền tin ở các núi cao. Nhưng sau ngày 29/4/75 các toán này không liên lạc bằng truyền tin với bộ chỉ huy LĐ81/BCND được nữa, vì những đài yểm trợ tiếp vận truyền tin đã không còn. Các toán thám sát chưa biết lệnh buông súng của Dương văn Minh ngày 30/4/75. Mười tám anh em của 3 toán liên lạc truyền tin được với nhau, lương khô 5 ngày đã cạn, họ đã phải nhịn đói, mưu sinh thoát hiểm, lặn lội từ rừng sâu, khi về đến một làng ở quận Tân Uyên cạnh sông Đồng Nai gần thác Trị An (đồn Đại An ngày xưa). Họ đã quá đói nên men vào làng để xin ăn và thăm hỏi sự tình. Ba toán thám sát này đã bị Việt Cộng bao vây, nên anh em đành buông súng vào ngày 5/5/1975.Mười tám anh em bị Việt Cộng giam, bỏ đói, sau đó bắn hết rồi thả trôi sông. Những xác của anh em thám sát thả trôi sông, sau bị sình thối nên Việt Cộng bắt dân vớt lên chôn dọc theo bờ sông Đồng Nai, còn 8 xác anh em khác đã chôn tập thể trong một cái giếng bỏ hoang. Theo dân làng cho biết thì có một anh chưa chết, được hai vợ chồng già trong làng đem dấu và cứu sống. Anh này tên là Đức. Hàng năm mỗi khi Tết đến anh Đức đều trở lại để đền đáp và tạ ơn cứu tử của ân nhân. Nhưng từ năm 1995 hai ông bà cụ đó đã qua đời nên anh Đức không còn đến nữa. Một toán viên khác tên Nguyễn văn Một, khi dân làng chôn cất thì có giữ được một cuốn nhật ký nhưng nay cuốn nhật ký đó cũng đã thất lạc. Mặc dầu Liên Đoàn 81/BCND đã cố gắng tìm kiếm để mua lại nhưng không được. Còn phần mộ anh Tuấn là sĩ quan toán trưởng đã được gia đình đến bốc cốt từ năm 93.

Còn toán của chuẩn úy Lê Xuân Hiền trở về ngày 7/5/75 và toán của thiếu úy Nguyễn Minh trở về ngày 15/5/75 cũng tại vùng Đại An nhưng không bị Việt Cộng xử bắn nữa. Anh Lê xuân Hiền và Nguyễn Minh nay đã được định cư ở Hoa Kỳ.

Theo dư luận địa phương cho biết sở dĩ hai toán này không bị VC giết chết vì dân chúng bàn tán sôi nổi về sự dã man của Việt Cộng đã ngược đãi và tàn sát 3 toán trước.

Toán trưởng Lê Xuân Hiền cho biết sau khi bị VC tước bỏ vũ khí ngày 7/5/75, anh bị đưa vào trại tù binh trong rừng Bình Sơn. Tại đây, toán trưởng Hiền gặp thêm 12 anh em thám sát ở các toán khác. Trong đó toán trưởng Hiền còn nhớ tên các anh ch/u Huỳnh sơn Phương, t/s Võ văn Hiệp, Lý Khách, Lê văn Điệp c/u Nguyễn văn Bé, Nguyễn văn Sơn v.v. Trong thời gian bị giam giữ ở đó, các anh đã bị đánh đập tra tấn trả thù nên anh Nguyễn văn Sơn và t/s Võ văn Hiệp đã chết.

Năm 1995 Gia Đình 81/BCND ở hải ngoại đã cho người về làng Đại An để lập mộ cho những anh em đã đền nợ nước nhưng dân chúng địa phương đã không dám hợp tác. Dân chúng sợ Việt Cộng trả thù vì việc lập mộ bia cho anh em là trưng bày cái dã tâm vô nhân đạo của Việt-Cộng. Những quân nhân thuộc LĐ81/BCND đã bỏ mình tại làng Đại An vào những ngày cuối cùng của cuộc chiến chỉ còn trong tâm tưởng của những người dân ở đó và chiến hữu còn sống sót mà thôi.

Phần Kết:

Những anh hùng của LĐ81/BCND đã sa cơ trong thảm cảnh tháng Tư ở Đại An, họ đã nhận lãnh những viên đạn oan nghiệt của kẻ thù vào sau cái ngày mà những người còn “mê ngủ” đã rêu rao gọi là ngày “hoà bình đã đến trên quê hương Việt-Nam!”

GĐ81/BCND

(*) Ghi nhận theo những tâm tình, thư từ, bài viết, điện thoại, email và lời kể lại của những chiến hữu đã trực tiếp có những liên hệ ít nhiều trong những ngày giờ lịch sử đau thương của đất nước.

Xin chân thành cảm ơn đại tá Phan văn Huấn, thiếu tá Phạm châu Tài, đại úy Nguyễn Hiền, đại úy La Cao, đại úy Trương việt Lâm, trung úy Lai đình Hợi, thiếu úy Nguyễn công Danh, các sĩ quan toán trưởng Lê xuân Hiền, Nguyễn Minh… và nhiều quân nhân các cấp đã giúp cho bài “Liên Đoàn 81/BCND và những ngày tháng Tư năm 1975″ được thành hình, dù rằng thâm tâm quý vị đã không muốn nhắc lại “chuyện đau lòng”.

Biên Hùng chuyển
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest