Thời Sự, Bình Luân

tiendung
Posts: 884
Joined: Tue Jun 19, 2007 7:47 am
Location: Paris
Contact:

Post by tiendung »

Những vụ án không thể nằm im để bị dập tắt!

Bùi Tín.

Trước hết là vụ án vốn gọi là ‘mua bán dâm’ ở Hà Giang. Tòa án tỉnh trong cuộc xử phúc thẩm 1-2-2010 đã buộc phải xóa bỏ bản án sơ thẩm tháng 11-2009 xử 2 em học sinh Nguyễn Thúy Hằng(18 tuổi) 6 năm tù giam và em Nguyễn Thị Thanh Thúy(17 tuổi) 5 năm tù giam về tội danh ‘bán dâm’ (!), để mở lại cuộc điều tra từ đầu. Công lao của việc hủy vụ án oan này thuộc về gia đình 2 em nữ sinh, dư luận thị xã Hà Giang và đặc biệt là của luật sư Trần Đình Khiển từ Hà Nội lên tham dự phiên phúc thẩm.

Luật sư Khiển nêu lên nhiều yếu tố mới, chỉ ra phiên sơ thẩm không có luật sư bào chữa cho bị cáo, xử vội vã, sai luật, sự việc xảy ra khi các em đều là vị thành niên.

Đây là một vụ bê bối xấu xa bậc nhất của một các quan chức cộng sản đầu tỉnh, trong Tỉnh ủy, trong Ủy ban nhân dân tỉnh, trong sở Công an, sở Giáo dục, chủ Ngân hàng nhà nước, Hải quan tỉnh…cùng chung âm mưu dùng viên hiệu trưởng Sầm Đức Xương làm ma cô đầu sỏ, biến 15 em nữ sinh trung học xinh đẹp nhất, chưa đến tuổi trưởng thành, thành một nhóm nô lệ tình dục rẻ tiền và không mất tiền cho bọn chúng, trong mấy năm liền.

Khi vụ này vỡ lở, nhóm lãnh đạo tỉnh, bí thư tỉnh ủy Hà Minh Nhất (là ủy viên TW đảng CS) liền ra lệnh xử án ngay, đổ hết tội cho viên hiệu trưởng Sầm Đức Xương là kẻ ‘mua dâm’ (bị 10 năm tù giam), các em nữ sinh là tự nguyện bán dâm, kết án cả 3 người, coi như là xong, hết chuyện, bọn tội phạm đầu xỏ an toàn, vô sự.

Nay vụ án được hiện ra dần cái thực chất thật mà nhóm đương quyền ở trung ương cố bịt kín. Nhưng càng bịt, sự việc càng thêm bùng nổ trong dư luận, nhất là ở Hà Giang và trong giới luật sư tôn trọng luật pháp.

Cốt lõi vụ án là một nhóm quan chức chóp bu tỉnh sống phè phỡn trác táng, lên cơn dâm ô thác loạn, thèm khát các nữ sinh ngây thơ trinh trắng để thỏa mãn nhục dục và cầu may trong những vụ kiếm chác - tham nhũng tội lỗi.

Họ tận dụng tâm lý nhút nhát, thơ ngây của các em nữ sinh, nhất là tâm lý sợ điểm kém, thi trượt, bị gia đình rầy la, để mua chuộc và khống chế các em. Hai em Hằng và Thúy còn nhớ và ghi rõ số điện thoại của hơn 10 quan chức thường gọi cho các em, khai rõ rằng viên hiệu trưởng Sầm luôn dọa là không đến gặp các vị trên thì ‘sẽ bị hạnh kiểm đạo đức kém, khó mà lên lớp được’. Hắn dọa các em nếu để lộ sẽ bị đuổi học. Em Thúy kể có lần cán bộ đầu tỉnh đòi gặp em ngay lúc em sắp vào một buổi thi, em không chịu đi, viên hiệu trưởng vừa dọa vừa dử rằng: Phải đi, nếu chịu đi không thi cũng sẽ có điểm cao, không chịu đi thì có thi cũng sẽ bị điểm xấu! Và em đã hé ra rằng đó chính là ông quan to nhất, đầu tỉnh (là ngài chủ tịch Nguyễn Trường Tô). Ông này đang được ông bí thư tỉnh uỷ hết lòng che chở, vì sợ trách nhiệm, hoặc cũng có thể là thành viên của nhóm đầu sỏ tội phạm. Luật sư Triển cho biết, theo ông đây là một hành động cưỡng dâm, một tội rất nặng, đối với các em vị thành niên càng nặng, đối với quan chức cao vào tuổi bố, tuổi ông các em, có trách nhiệm bảo vệ giáo dục các em, thì tội tăng nặng đến bao nhiêu lần.

Tại sao hàng chục ngàn nhà báo trong nước vẫn dửng dưng trước vụ án nghiêm trọng về đạo lý học đường và xã hội này? Họ làm gì? Họ có động lòng trước một vụ án làm xúc động xã hội, họ có còn ý thức trách nhiệm về thông tin trung thực, bênh vực công lý, lẽ phải, đạo đức, lao vào cuộc điều tra, tìm hiểu tại chỗ để soi sáng công luận, như các đồng nghiệp ở nước khác luôn đua nhau lao vào hay không?

Ở các nước, nếu có một vụ như thế là báo chí sẽ đua nhau lao đi tìm hiểu, nô nức lên Hà Giang lấy tài liệu từ gia đình, phụ huynh, bạn học, láng giềng, thầy cô giáo, người dân, hội thanh niên, hội phụ nữ…có bao nhiêu chuyện để nói, để phanh phui, nhận định, và yêu cầu trung ương, Bộ Giáo dục, Toà án, Viện kiểm sát, Bộ Công an phải vào cuộc theo chức năng, phải làm sớm, làm ngay, không được trì hoãn, không thể cứ im lìm, buông trôi như hiện nay để vụ án chìm trong vô cảm. Báo chí không tạo nên công luận là báo chết!

Đâu phải chỉ có riêng một vụ án ở Hà Giang. Đất nước mà ngài tổng thanh tra Chính phủ than thở: sờ vào đâu cũng có tội phạm, còn ngài thủ tướng lại khoe: tôi chưa kỷ luật ai!

Thật trớ trêu, chỉ khổ cho dân đói khổ, oan ức, bất công kêu trời không thấu, chỉ khổ cho đất nước, ngân sách, tài nguyên bị cướp bóc chia chác công khai vô tội vạ giữa kẻ đương quyền với nhau. Rồi họ rửng mỡ, ăn chơi phá của, đến đổ đốn biến các nữ sinh ngây thơ thành nô lệ tình dục cho họ, mà vẫn cứ nhởn nhơ trâng tráo vì đinh ninh đã có ô dù, phe cánh từ trên cao.

Công luận xã hội yêu cầu một loạt vụ án mà nhân dân, dư luận trong nước và quốc tế quan tâm đặc biệt phải được xét xử công khai, đúng luật, đúng người, đúng tội ngay trước khi Đại hội XI khai mạc. Đó là các vụ hối lộ quan chức đương quyền VN của PCI – Pacific Consultant Institute (Nhật bản), vụ hối lộ của Securency(Úc) cho các quan chức VN, vụ hối lộ của công ty Nexus Technologies (Hoa kỳ) cũng cho các quan chức ở các Bộ Công Thương, Kế hoạch - Đầu tư, Quốc phòng, Công an ở Việt nam. Phía Nhật Bản, Úc, Mỹ đã khẩn trương điều tra và đã mở phiên tòa xét xử, đã sớm chuyển cho phía VN mọi tài liệu điều tra cần thiết, mà sao phía VN vẫn không nhúc nhích.

Trước hết là Vụ án Hà Giang ở trong nước. Luật sư Trần Đình Triển yêu cầu khẩn cấp chính phủ, quốc hội, viện kiểm sát, tòa án tối cao, bộ tư pháp phải ra lệnh ngay cho tỉnh Hà Giang trả tự do lập tức cho 2 em Hằng và Thúy, là kẻ bị oan, là nạn nhân thê thảm thật sự trong vụ án này, để các em về nhà chữa bệnh vì 2 em đang ốm yếu do sống cảnh tù đầy oan trái, còn bị cấm thăm nuôi. Mong các luật sư tôn trọng luật pháp và có tình người hướng dẫn cho gia đình các em phát đơn kiện lại bọn tội phạm súc vật trên đây.

Luật sư Triển cho biết ông cũng bị nhiều sức ép, tính mạng 2 em và chính ông cũng bị đe dọa, nhưng ông quyết vì công lý, vì xã hội, vì các em bị vu oan, ông quyết thúc đẩy và làm rõ vụ án này.

Phải có sức ép mạnh từ xã hội mới mong công bằng được thực hiện. Nhà đương quyền cộng sản vẫn ù lỳ, chây ỳ nếu dân cứ cúi đầu mãi. Như vậy mà văn kiện đảng vẫn cứ ghi: xây dựng xã hội công bằng, văn minh, xây dựng nền pháp lý xã hội chủ nghĩa, khẩn trương chống tham nhũng …

Mong rằng bà con ta trong và ngoài nước quan tâm thiết thực đến 2 em Hằng và Thúy cùng 13 em nữ sinh khác trong nhóm 15 em bị 'cưỡng dâm' khi tất cả các em đều ở tuổi vị thành niên. Thật là đau xót, thương tâm, oan trái.

Xin hãy an ủi, hỏi thăm, giúp đỡ, động viên các em, gia đình, bạn hữu các em, động viên luật sư cương trực Trần Đình Khiển, với niềm tin rồi các em sẽ có dịp ngồi trên ghế nạn nhân để kể tội, hỏi tội những dã thú đội lốt người.

Xin đa tạ.
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Image

Tháng Tư, nhớ về Sài Gòn

Nguyễn Xuân Thiệp



Tháng Tư về, gợi lên bao điều để suy nghĩ và để nhớ.
Nhớ Sài Gòn, chẳng hạn. Ờ, tại sao lại nhớ Sài Gòn mà không nhớ Huế, nhớ Đà Nẵng, nhớ Nha Trang? Hay nhớ Đà Lạt? Có thể nhiều người nhớ những thành phố này, còn với Nguyễn thì Sài Gòn là đóa quỳ vàng của một thời.

Có lẽ tại vì Nguyễn đã sống ở đó những năm thanh xuân của đời mình, và ra đi từ đó. Lại nữa, Sài Gòn chính là Việt Nam trong tim của Nguyễn và của nhiều người. Ôi Việt Nam / từng là nỗi đau xé trong tôi / sao tôi khóc lúc ra đi / phượng đỏ một lời yêu dấu cũ / là lúc chia xa… Vâng, qua bên này nghe ca khúc Đêm Nhớ Về Sài Gòn của Trầm Tử Thiêng lại càng nhớ da diết. Đêm nhớ về Sài Gòn / Tiếng nhạc vàng gọi từng âm xưa / Ánh đèn vàng nhạt nhòa đêm mưa / Ai sầu trong quán úa…
Ôi Tháng Tư. Tháng Tư mở ra những cơn mưa đầu tháng Năm ở Sài Gòn ngày ấy. Mưa. Mưa trái mùa trên rừng cao su An Lộc. Những chiến sĩ Biệt Kích Dù, hàng hàng lớp lớp, đứng nghiêm trong mưa, chào quốc kỳ lần cuối. Rồi chia tay... Vì đâu... Xin hãy nhớ lại kể từ 30 Tháng Tư 1975, không còn tiếng súng xối xả vào kẻ thù, mà đây đó có những tiếng súng lẻ tẻ, tiếng nổ lựu đạn, của các tướng quân, sĩ quan, binh sĩ chấp nhận cái chết chứ nhất định không để rơi vào tay kẻ thù. Những người lính Dù ở Lăng Cha Cả chẳng hạn, hay những người lính Thủy Quân Lục Chiến trong Biển Xưa của Nguyễn Mộng Giác.

Và như vậy, Tháng Tư gợi lại bao nhiêu kỷ niệm cho nhiều thế hệ người Việt Nam, trong cũng như ngoài nước. Nó là một dấu mốc rất lớn, kể từ năm 1975 trở đi tới nay, và chắc chắn nó cũng nói lên bao điều với những thế hệ sau này. Thật vậy, tháng 4 vẫn luôn là những kỷ niệm thật đau khổ và lớn lao, một vết cháy trong tâm hồn bạn tâm hồn tôi - những người một thời bước đi trên sạn đạo lửa đỏ quê hương - và cho cả lớp người theo cha mẹ vượt biên hồi còn bé dại rồi lớn lên ở những xứ sở xa lạ - như cô bé Phạm Quỳnh Anh người hôm nào đã hát ca khúc Bonjour Vietnam tuyệt vời, hay như cô bé Dao Strom với tiếng đàn thùng, tác giả những bài ca buồn trong tuyển tập Send Me Home - lớp người trẻ hôm nay vẫn chưa quên những năm hãi hùng "tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên xã hội xã hội chủ nghĩa," với những ông chủ mới "y trang xúng xính. giọng hét phàm phu" (chữ của Tô Thùy Yên) chĩa mũi súng đẩy hàng trăm ngàn người vào trại cải tạo, đẩy cả triệu dân ra biển Đông sóng dữ hay đi vùng kinh tế mới ma hoang nước độc...

Đúng vậy. Nhà báo Trần Khải viết: Những hình ảnh kinh hoàng, bây giờ nhìn lại vẫn thấy y hệt như là truyện tiểu thuyết Liên Xô. Có vẻ gì rất là siêu thực, như không thể là thực, nhưng lại rất là bi thảm, và đã làm chết biết bao nhiêu người, trên rừng, ngoài phố và sau này là trên biển. Bao giờ thì tháng 4 có thể hàn gắn, không còn là một vết thương, ít nhất là với nhiều triệu người? Với Sơn Ca, có bao giờ cô quên được những hình ảnh hãi hùng đau đớn của Tháng Tư 1975: hôm 28 tháng tư em vào Tân Sơn Nhất / đêm địch pháo phi trường. em ôm hai con / trời tối đen. tắt rồi ánh lửa / không tiếng người. anh ờ nơi đâu... Ôi, cô ca sĩ mắt xếch, tóc màu auburn, em còn nhớ đã cùng chàng chỉ ít hôm sau khi Việt Cộng chiếm Sài Gòn, đã đi mua ngay chiếc xe đạp, đèo nhau đi, để gọi là từ đài các bước xuống bụi đời… Và em nữa, cùng hai con, lúc ấy còn bé xíu, chiều chiều đứng trên ban công nhìn ra sông Thanh Đa, cầu nguyện... Tháng Tư quả như vết dao chém xuống Sài Gòn, chém xuống Việt Nam, cắt đứt những mảnh đời. Kể từ đây xanh thành đỏ, phải thành trái, đúng thành sai, con người lộn ngược đầu kiểu như trong tranh Upsidedown của Nguyễn Đại Giang. Còn gã nhạc sĩ mù ôm đàn gào trong cơn mưa trước rạng đông mặt trời bị cắt cổ (soleil / cou coupé –Apollinaire), bây giờ đi đâu về đâu?

Cuối cùng, Tháng Tư vọng lên câu chửi thề nổi tiếng của thi sĩ Sơn Núi: Đù mẹ cây bông hồng / Mày không lao động / Sao mày trổ bông... [NXT]
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

35 năm nhìn lại

Lê Duy Nhân

Ba mươi lăm năm so với chiều dài lịch sử dân tộc thì chỉ là một cái chớp mắt, nhưng 35 năm lạc hâu, 35 năm mất nhân quyền, 35 năm sống dưới sự thống trị của một tập đoàn độc tài toàn trị là một quãng thời gian dài như một thế kỷ. Nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại.

Ðảng CSVN chiếm độc quyền lãnh đạo, đối với miền Bắc là 65 năm và đối với toàn bộ đất nước là 35 năm, họ đã làm được gì cho đất nước và dân tộc?

Sau 35 năm hòa bình, thống nhất đất nước, kinh tế Việt Nam vẫn không ra khỏi tình trạng lạc hậu, chưa nói so với các nước tiến bộ, so với các nước trong vùng, Việt Nam chỉ hơn được một hai nước?

Giáo dục hầu như không tiến lên được một bước nào, vẫn luẩn quẩn ở thời kỳ tiền kỹ nghệ điện toán, không tạo nổi một đội ngũ kỹ thuật có khả năng nâng cao kỹ nghệ sản xuất lên ngang tầm với các nước tiến bộ trong vùng như Thái Lan, Singapore, v.v...

35 năm trồng người XHCN đã làm đạo đức xã hội băng hoại mỗi ngày mỗi nhanh, mỗi mạnh và lan tỏa ra khắp đất nước, phá hủy hoại mọi giá trị tinh thần truyền thống dân tộc. Thế hệ trẻ đua nhau chạy theo xa hoa, phù phiếm, mất lý tưởng, mất tính hướng thượng và càng ngày càng lún sâu xuống vũng bùn sa đọa.

Guồng máy chính quyền thối nát, tham nhũng, dựa vào quyền lực để bóc lột, cướp đất của nông dân, vơ vét tài nguyên quốc gia để làm giàu cho bản thân khiến hố cách biệt giàu nghèo giữa giới lao động và quan chức mỗi ngày một sâu rộng hơn.

Tập đoàn lãnh đạo vừa bất tài, vừa bạc nhược lại dựa vào kẻ thù ngàn đời của dân tộc để bảo vệ ngôi báu, cam tâm nhượng đất, hải đảo, rước cả bọn cướp đất, cướp biển của ta, chặn nước đầu nguồn của sông Hồng, sông Cửu Long, vào phá hoại cao nguyên và rừng đầu nguồn của nước. Ta đã mất đất biên giới, mất Hoàng-Trường Sa, mất Biển Ðông và ngày mai không biết còn mất bao nhiêu nữa. Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu không mất đất, mất biển và chịu nhục quỳ gối trước phương Bắc như ngày nay. Cả dân tộc lo âu chờ ngày người Việt trở thành dân tộc thiểu số trên đất Việt?

Nếu miền Nam không rơi vào tay chính quyền CS thì có thể, rất có thể Việt Nam sẽ là Ðại Hàn của ngày nay. Miền Nam nếu không được như Nam Hàn thì cũng không thua kém bao nhiêu, cho dù miền Nam không có những lãnh tụ tài giỏi. Sự mất miền Nam tự do không chỉ là thảm kịch của nhân dân miền Nam mà còn là nỗi tuyệt vọng của nhân dân miền Bắc. Chẳng thà không thống nhất đất nước còn hơn thống nhất dưới ách thống trị chuyên chế tàn ác. Nhìn nước Ðức thống nhất trong tự do, dân chủ ai cũng cảm thấy đau xót, nhục nhã và uất hận.

Không phải chỉ có người dân trong nước uất hận mà trên ba triệu người Việt phải bỏ nước ra đi cũng uất hận vì cái tình tự “nhiễu điều phủ lấy giá gương.”

Ba mươi lăm năm qua người Việt hải ngoại đã làm được gì?

Sau 35 năm ta đã có 3 thế hệ trên quê hương mới. Người Việt đã xây dựng thành công cuộc sống mới cả về vật chất lẫn tinh thần. Họ đã có những đóng góp to lớn cho quê hương mới mà người Việt ở đâu cũng có thể tự hào. Nhưng họ đã làm được gì cho cố hương?

Nơi nào có người Việt sinh sống là ở đó có tổ chức, đoàn thể chống Cộng. Mỗi đoàn thể, đảng phái có một đường lối hành động riêng nhưng tất cả đều có chung một mục tiêu là tranh đấu cho quyền sống có nhân phẩm của đồng bào trong nước. 35 năm tranh đấu cho Việt Nam dân chủ, ta đã làm được gì? Mỗi người có một đánh giá khác nhau: Có những đánh giá bi quan bên những đánh giá lạc quan. Nhưng không ai có thể phủ nhận được những đóng góp tuy còn khiêm tốn cho tiến trình dân chủ hóa Việt Nam.

- Nếu người Việt hải ngoại không lên tiếng, không hỗ trợ các nhà tranh đấu dân chủ trong nước thì liệu có phong trào dân chủ trong nước hay không?

- Nếu các cơ quan truyền thông hải ngoại không tiếp sức các phong trào dân chủ trong nước thì tiếng nói của các nhà dân chủ trong nước có đến được nhân dân trong nước rộng rãi như ngày nay không?

- Nếu các tổ chức chống Cộng hải ngoại không tích cực hành động thì CSVN sẽ xâm nhập phá hoại cộng đồng người Việt như thế nào? CSVN ra nghị quyết 36 là nỗ lực làm suy yếu sức mạnh của các cộng đồng người Việt hải ngoại và nhằm lôi kéo người Việt hải ngoại về phía chính quyền Việt Nam. Nếu các cộng đồng người Việt hải ngoại không chống Cộng thì các sứ quán của Việt Nam đâu có bị cô lập và vô hiệu như ngày nay.

-Nếu các tổ chức chống Cộng không vận động chính quyền nơi họ sinh sống thì quốc tế có bênh vực nhân quyền cho nhân dân Việt Nam không?

Chúng ta chưa có thực lực ở trong nước. Ðúng. Nhưng không có tiếp sức của người Việt hải ngoại thì phong trào dân chủ trong nước sẽ khó có cơ hội thành công.

Hãy nhìn vào lịch sử đấu tranh của Ba Lan để thấy người Ba Lan hải ngoại đã đóng góp cho cuộc cách mạng dân chủ ở Ba Lan như thế nào.

Ba mươi lăm năm nhìn lại để tiến về phía trước.

Làm gì cho người Việt trong nước trút bỏ được gông cùm của độc tài toàn trị. Làm gì giúp được dân tộc bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, bẻ gẫy được âm mưu Hán hóa của Bắc Kinh?

Việt Nam đang ở trên bờ vực tiêu vong.

Sẽ không có một cuộc di tản mới cho cả dân tộc đâu. Vì ta không còn biển cho thuyền nhân, không còn đất cho bộ nhân. Vì biên giới và biển của ta lúc đó đã thành đất Trung Quốc.

Tưởng niệm ngày 30 tháng 4 không phải để khơi lại cái đau xót của mất mát mà để ghi nhớ những thảm cảnh vượt biển của thuyền nhân, để tưởng niệm hàng trăm ngàn thuyền nhân bỏ mình trên Biển Ðông và nhất là để các thế hệ sau hiểu được tại sao cha anh họ bỏ nước ra đi, để tự hào về lịch sử tìm tự do của thế hệ trước.

(Nguồn: Thông Luận 2010)
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Bước đầu trả lại danh dự cho Việt Nam Cộng Hòa

Hội Thảo 'Việt Nam , 35 Năm Nhìn Lại' tại Washington D.C:
'Theo thời gian, sự thật lịch sử sẽ được phơi bày'
•Hà Giang/Người Việt (từ Washington D.C. )

WASHINGTON D.C. - Sáng sớm ngày 9 tháng Tư, gần 200 người, trang phục chỉnh tề, tụ tập tại phòng họp lớn của Câu Lạc Bộ Hải Quân Hoa Kỳ, tọa lạc trên đường 17th Street Northwest, ngay trung tâm thủ đô.

Họ là những người Mỹ gốc Việt, sử gia, học giả, chính trị gia, giáo sư các trường quân sự, cựu quân nhân và sĩ quan các cấp, cựu đại sứ, cố vấn, của hai quốc gia Hoa Kỳ, và Việt Nam trước đây (VNCH).

Họ đến từ nhiều nơi, từ California, Canada, Florida, Texas... để tham dự cuộc hội thảo có tên: “Việt Nam, 35 Năm Nhìn Lại” (“Vietnam – a 35 Year Retrospective Conference”).
Image
Toàn cảnh buổi hội thảo Việt Nam-35 Năm Nhìn Lại. (Hình: Hà Giang)
Họ đến để cùng nghe, cùng tìm hiểu và cùng nói lên sự thật về “Chiến Tranh Việt Nam,” cuộc chiến đã gây không biết bao nhiêu tranh cãi, và ngộ nhận trong suốt 35 năm qua.

Những ngộ nhận và những sự thật về cuộc chiến này là gì? Lý do nào thực sự khiến Việt Nam Cộng Hòa và đồng minh Hoa Kỳ thua trận?

Mở đầu buổi hội thảo, cựu đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ, ông Bùi Diễm, nói: “Người thắng trận có quyền viết lịch sử theo ý họ, nhưng qua một thời gian thật lâu, thì lịch sử thật sự sẽ được phơi bày.”

“Thời gian thật lâu,” là bao lâu? Ba mươi lăm năm có thể được xem là “đủ lâu?”
Image
Cựu Đại Sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ trong cuộc hội thảo Việt Nam - 35 Năm Nhìn Lại:
“Người thắng trận có quyền viết lịch sử theo ý họ, nhưng qua một thời gian thật lâu, thì lịch sử thật sự sẽ được phơi bầy.”
(Hình: Hà Giang)
Tiến sĩ Stephen Randolph, cựu đại tá không quan Hoa Kỳ, hiện là phó khoa của Đại Học Không Quân Quốc Gia, tác giả cuốn sách có tên: “Powerful and Brutal Weapons: Nixon, Kissinger, and the Easter Offensive,” do Havard University Press xuất bản, cả quyết: “Năm 1972, trong một cuộc gặp gỡ tại Tòa Bạch Ốc, Henry Kissinger báo cho tổng thống Nixon biết là tình báo Hoa Kỳ khám phá rất nhiều xe vận tải chứa vũ khí tối tân tại miền Bắc Việt Nam, tiêu hủy những chiếc vận tải này là việc rất dễ, nhưng nếu chậm trễ để cho chỉ một chiếc xe vận tải này lọt vào Việt Nam thôi, thì Nam Việt Nam sẽ khốn đốn.”

Cũng theo lời tiến sĩ Stephen Randolph, thì Henry Kissinger nói rằng tổng thống Nixon lúc đó “băn khoăn, đi ra đi vào mãi” mà không quyết định được, lý do là vì Hoa Kỳ sắp hội thảo với Bắc Kinh trong vòng mười ngày nữa.

Cuối cùng, Tổng Thống Nixon quyết định làm lơ với tin tình báo này.

“Tổng thống (Nixon) sợ là phá hủy vũ khí của Bắc Việt sẽ ảnh hưởng không tốt đến tương quan với Bắc Kinh.”


Tiến sĩ Stephen Randolph kết luận, rằng Việt Nam và Hoa Kỳ thua cuộc “là vì lý do chính sách,” và vì Hoa Kỳ lúc đó “has bigger fish to fry” (đang câu con cá lớn hơn).

Ngậm ngùi, ông nói: “Đây là nhận thức mà tôi biết rằng sẽ ám ảnh tôi cho đến suốt cuộc đời.”

Ngoài một vài tiếng thở dài, cả phòng họp dường như yên lặng sau lời tâm sự của ông.

Cuộc hội thảo hoàn toàn bằng Anh ngữ cũng đã dẫn cử tọa đi ngược thời gian, chứng kiến những trận đánh quan trọng của chiến tranh Việt Nam, qua lời kể của những nhân chứng sống, cũng như những tài liệu tham khảo, trong cuộc thảm sát Tết Mậu Thân, trận chiến An Lộc, kỳ công tái chiếm cổ thành Quảng Trị.

Bằng giọng kể vừa linh hoạt vừa đầy xúc cảm, Trung Tá (lieutenant colonel) biệt cách dù Nguyễn Văn Lân, lãnh đạo của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù vẽ lên một cách sống động trận chiến An Lộc, mà tiến sĩ Jim Willbanks cho là “trận đánh quan trọng nhất trong chiến tranh Việt Nam.”

“Thời điểm 1972, Bắc Việt rất tin là họ sẽ chiếm được miền Nam, vì chính sách “Việt Nam Hóa” chiến tranh của Hoa Kỳ đã cho Bắc Việt nhiều lợi thế, cả về quân sự lẫn chính trị.”

“Binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã phải đơn phương chống cự với một đạo quân đông gấp bội, và hỏa lực ngày càng hùng hậu và tối tân do Nga và Tàu cung cấp.”

Trung Tá Nguyễn Văn Lân nói.

“Thế nhưng, lòng quả cảm của quân đội VNCH đã khiến chúng ta đẩy lui được quân Bắc Việt, dù phải chịu thiệt hại nặng nề.”

Chỉ lên tấm hình một nghĩa trang ngút ngàn thập tự giá, Trung Tá Nguyễn Văn Lân chia sẻ: “Không gì đau lòng hơn cảnh nhìn các binh sĩ của mình tìm cách chôn cất đồng đội, trong khi chính bản thân họ cũng đang cận kề cái chết.”

Rồi ông đọc một câu thơ do một phụ nữ trong vùng làm tặng các chiến sĩ bỏ mình vì thương cảm trước hoàn cảnh bi đát của họ:

“An Lộc địa sử ghi chiến tích
Biệt Kích Dù… vị quốc vong thân…”

Cử tọa xúc động khi ông nghẹn lời, run giọng, không đọc rõ nổi bốn chữ “Vị Quốc Vong Thân.”

“Đã đến lúc phải trả lại sự thật cho lịch sử. Chúng ta phải cho các thế hệ con cháu biết là cha ông chúng đã anh dũng hy sinh để bảo vệ đất nước, để họ không bao giờ phải hỏi tại sao chúng ta đã thua trận. Chúng ta không thể để cho những người đã nằm xuống phải tức tưởi.”

Ông kết luận.

Nếu lòng quả cảm, ý chí bảo vệ bờ cõi đến giọt máu cuối cùng, và sự hy sinh anh dũng của quân đội Việt Nam Cộng Hòa, bên cạnh đồng minh Hoa Kỳ được làm sáng tỏ, thì mặt khác, cử tọa cũng được các diễn giả cho thấy rõ quyết tâm tiến chiếm Miền Nam của quân đội miền Bắc, bên cạnh sự hỗ trợ ngày càng cao của hai nước Nga Sô và Trung Quốc.

Giáo sư kiêm học giả Nguyễn Ngọc Bích trình bày cuộc thảm sát, rằng Bắc Việt “chối bỏ cáo buộc là chính họ ra lệnh cho cuộc tổng tấn công và thảm sát,” và “đổ tội cho những hành động riêng lẻ của cấp dưới.”

Ông cũng nói đến vai trò của giới truyền thông trong việc tạo nên những ngộ nhận về cuộc chiến, qua biến cố Mậu Thân, “cuối cùng dẫn đến quyết định bỏ rơi Việt Nam của Tổng Thống Nixon.”

Trong một buổi hội thảo có mặt của biết bao nhân vật có tầm cỡ của cả hai chính quyền, sự có mặt và phần trình bày của thứ trưởng John Negroponte được nhiều người chú ý nhất, và ông cũng là người được nhiều người và các cơ quan truyền thông đặt câu hỏi “hóc búa” nhất.

Trả lời câu hỏi của phóng viên nhật báo Người Việt, rằng ông nghĩ gì về nhận định cho rằng việc Mỹ bỏ rơi đồng minh đã dẫn đến việc thua trận của họ và miền Nam Việt Nam, ông trả lời: “Hoa Kỳ đã hỗ trợ Việt Nam từ năm 1950 cho đến năm 1975, khi đã hỗ trợ nhau một thời gian dài như thế thì không thể gọi là bỏ rơi được. Chỉ là vấn đề lúc đó Tổng Thống Johnson đã quá kiệt sức, không “deal” nổi với cuộc chiến đó nữa.”

“Nên nhớ là sau đó Johnson quyết định không tái ứng cử nữa. Ông đã quá mệt mỏi!”

Cuộc hội thảo có sự góp mặt của một danh sách hùng hậu nhiều diễn giả có tầm vóc, và các nhân chứng sống của cuộc chiến như: Sử Gia Dale Andrade (Trung Tâm Lịch Sử Quân Đội Hoa Kỳ, người đã viết ba cuốn sách về cuộc chiến Việt Nam: “Ashes to Ashes: The Phoenix Program and the Vietnam War”, “Spies and Commandos: How America Lost the Secret War in North Vietnam”, and “America’s Last Vietname Battle: Halting Hanoi’s 1972 Easter Offensive”), Tiến sĩ John Carland (Trung Tâm Lịch Sử Quân Đội Hoa Kỳ, và là một chuyên gia nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam), ông Hoàng Đức Nhã (cựu Bộ trưởng bộ Thông Tin VNCH), Đại Tá Cảnh Sát Trần Minh Công, Đại Tá Hoàng Ngọc Lung...

Nhiều người tham dự ra về trong tiếc rẻ, vì khó có thể tóm tắt quá nhiều sự kiện quan trọng của một cuộc chiến đã làm thay đổi bàn cờ thế giới trong vòng một ngày, nhưng ai cũng đồng ý, đây là bước đầu trong việc trả sự thật cho lịch sử, và danh dự cho quân đội Việt Nam Cộng Hòa và đồng minh, cũng như ghi ơn những người đã nằm xuống.

(Người Việt sẽ lần lượt giới thiệu chi tiết nội dung hội thảo trong các số báo tới).
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

‘Em chẳng còn cơ hội lấy được người đàng hoàng’

Tác giả: Andew Lam/NAM

Chuyển ngữ: Triệu Phong/Người Việt[/
color]


LTS: Cô Phạm Lan, 21 tuổi, làm nghề massage trong một khách sạn ở Quận Một, Sài Gòn. Ðây là nơi mà đa số du khách ghé lại khi đến Việt Nam . Cũng như hằng triệu người trẻ khác từ vùng quê, Sài Gòn có sức thu hút mãnh liệt với hứa hẹn của những cuộc sống tốt đẹp hơn, để khỏi phải suốt ngày cong lưng trên cánh đồng lúa và nợ nần thì cứ mãi chồng chất. Lan kể lại với Andrew Lam, chủ bút của tổ chức New America Media (NAM), người trở lại thăm quê nhà vào dịp 35 năm ngày kết thúc cuộc chiến. Người Việt đăng bản chuyển ngữ của Andrew Lam, với sự đồng ý của tác giả.


Em từ quận Tân Châu, tỉnh An Giang, gia đình có sáu người, tất cả đều làm ruộng. Em lên Sài Gòn đã được bốn năm.

Anh có biết người nông dân cơ cực đến chừng nào không? Cuộc sống của người nông dân là cuộc sống mà nợ khi nào cũng ngập đầu. Ðời sống lệ thuộc vào vụ mùa. Những tháng ngồi chờ lúa chín, người nông dân cần nuôi sống gia đình nên họ phải vay nợ. Ðến mùa gặt, nợ cộng với tiền lãi, mới được trả. Nhưng những lúc bị thiên tai lụt lội hoặc mất mùa, người nông dân lại phải vay thêm để sống còn, và cứ thế, họ sống mãi trong nợ nần. Cuối cùng đành chọn làm những công việc chẳng đặng đừng để kiếm tiền.

Cha mẹ em mang nợ dài dài, họ không kiếm đủ tiền để nuôi bốn đứa con. Chị em lấy chồng năm 17 tuổi, chị cưới một ông già Ðài Loan mà chỉ lúc ổng đến hỏi xin cưới mới được thấy mặt lần đầu. Vì cần tiền mà chị phải lấy ổng. Trong một năm đầu, chị gửi tiền về đều đặn, nhưng bây giờ thì không biết chuyện gì xảy ra bên đó. Chị biệt tích như vậy đã nhiều năm rồi. Do vậy, nhà em nay phải mang nợ trở lại và đây là lúc đến lượt em phải lo cho gia đình.

Em là con thứ trong nhà. Với em, gia đình quan trọng hơn chính bản thân mình, nên vì gia đình, em sẵn sàng làm mọi thứ, bất kể công việc gì. Em có thích công việc mình đang làm không? Anh hỏi gì kỳ vậy? Dĩ nhiên là không, nó làm hỏng mất đời em rồi. Ðể em nói cho anh nghe, thà chọn lối sống này còn hơn ngồi khoanh tay nhìn gia đình chết đói, hay bị tống cổ ra khỏi mảnh đất của họ.

Than thở với ai bây giờ? Sài Gòn đầy rẫy dân tứ xứ, những người như em, những kẻ từ vùng quê đến đây để kiếm sống, để sống còn. Tết đến, đường phố vắng ngắt, người người kéo nhau về quê sum họp với gia đình. Ðó là thời gian duy nhất mà người ta có thể ngưng làm công việc nuôi sống gia đình, để về đoàn tụ.

Khi mới lên Sài Gòn lần đầu, em không thể tưởng tượng được cuộc sống ở đây có thể xa hoa đến thế. Nào là nhà cửa to lớn, xe cộ bóng láng. Nhưng người Sài Gòn coi rẻ dân ở tỉnh lên như chúng em. Họ coi thường giới nông dân. Họ cho chúng em là ngu đần. Ðúng ra em hầu như luôn luôn nằm ở gần tột đỉnh của giai cấp mình. Em đọc sách đọc báo nhưng họ vẫn nghĩ em là ngu dốt và thiếu học. Em bỏ ngang việc học vào năm lớp chín để giúp đỡ gia đình, nếu có cơ hội, ắt em sẽ tiến xa hơn.

Em đọc hiểu gì qua báo chí? Nào là người ta xây thêm nhiều sân golf. Hằng tỉ đô-la được đổ ra để đầu tư. Nhưng tiền dành ra cho những kẻ như chúng em đi đâu cả? Các đại gia xây những căn biệt thự có trần mạ vàng. Kẻ quyền thế chỉ biết lo chơi golf trong khi cầu cống ở các tỉnh cứ bị sập hoài. Người giàu có chơi tennis rồi kéo đến đây tẩm quất, rồi họ cư xử với các cô gái như đồ bỏ.

Nếu em là chủ tịch nước em sẽ lo nuôi sống dân nghèo, làm chỗ ở cho người không nhà. Em sẽ làm những gì để cho người nghèo thấy họ được quan tâm giúp đỡ. Em sẽ không đuổi người dân ra khỏi mảnh đất của họ để người giàu xây nhà cao tầng và sân golf.

Nói về khách hàng, em không thích người Mỹ, em thích người Úc hơn. Họ tử tế và vui tính. Có người muốn hỏi cưới em sau khi em làm cho họ được sung mãn, nhưng tất cả đều là giả dối. Họ trở lại vài lần rồi biệt dạng.

Nhưng em không muốn cưới người Việt. Họ quỷ quyệt lắm... Ðàn ông Việt Nam không thể tin tưởng được. Họ đối xử với đàn bà như rác, đặc biệt là hạng chúng em. Xong việc rồi là phủi tay. Họ cho “tip” một cách bủn xỉn, thậm chí họ không cho đồng nào ngoại trừ phải nhắc mãi. Có khi họ còn sỉ vả sau khi được phục vụ xong. Có lần, đang tẩm quất bằng cách bước trên lưng, em muốn đạp một cái cho gãy phứt cổ luôn.

Bây giờ em dư giả rồi. Em có đủ để nuôi sống gia đình và cho hai đứa em tiếp tục ăn học. Em còn dư tiền để thỉnh thoảng được người khác đấm bóp cho mình nữa.

Em biết em không thể tiếp tục như thế này mãi được, nhưng nếu em đổi sang nghề nấu ăn hay làm công nhân nhà máy thì em không dành dụm được tiền nữa, và gia đình lâm cảnh khó khăn trở lại. Em biết em cần phải có khả năng chuyên môn mới sống còn được, nhưng biết học chuyên môn nào nếu không có tiền để đi học?

Mối lo lớn nhất của em bây giờ là khó mà có cơ hội để lập gia đình. Biết em làm nghề này em sẽ bị người ta khinh rẻ ngay. Em không còn cơ hội để lấy được người đàng hoàng. Em thấy không có lối nào để bước ra.

Nhưng phụ nữ làm nghề đấm bóp cũng mơ mộng cao xa. Em mơ một ngày nào đó tìm được người chồng tốt. Em mơ có đủ tiền để đi tìm bà chị và mang bả về với gia đình. Sau đó em sẽ xây một căn nhà đẹp để cả gia đình cùng sống chung với nhau. Có điều là không biết bao giờ điều đó mới xảy ra. (T.P.)


Nguon : http://www.nguoi- viet.com/ absolutenm/ anmviewer. asp?a=111382&z=248
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

CSVN Bị Chống Nhiều Nhứt

Vi Anh

Nếu ai chịu khó ghi nhận và sưu khảo sẽ thấy lãnh đạo của chế độ CS Hà nội là những người bị chính đồng bào mình ở hải ngoại biểu tình chống nhiều nhứt thế giới, trong vòng mười mấy năm trở lại đây.

Từ Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh đến Chủ Tịch Nước Nguyễn minh Triết, Thủ Tướng Phan văn Khải, Nguyễn tấn Dũng công du bất kỳ Úc, Tây Âu, Bắc Mỹ ló đến đâu là bị người Việt hải ngọai biểu tình đả đảo, phản đối đến đó, phải vào cửa hông ra cửa hậu. Người Việt Hải ngọai, cộng đồng, đòan thể, cá nhân đều đi biểu tình chống CS Hà nội. Càng ngày số người trẻ thế hệ thứ một rưởi, hai càng tham gia đông đảo và tích cực hơn. Đó là dấu chỉ cuộc chống Cộng trở thành liên thế hệ.

Một thí dụ điển hình là cuộc biểu tình mới đây nhứt người Việt ở Bắc Mỹ phản đối Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng tại Washington DC nhơn dịp ông Dũng sang Hoa Kỳ họp Hội nghị thượng đỉnh về nguyên tử. Biểu tình xa luân chiến mấy ngày từ 14 tháng tư 2010, mấy nơi Ô Dũng đi họp và về nghỉ. Qui tụ hơn 400 người từ các tiểu bang xa gần của Mỹ, từ bờ Thái bình Dương qua Đại Tây Dương,như California, Massachussetts, Georgia, Louisiana, Maryland, Idaho, Texas.... đặc biệt có một phái đòan từ Canada cũng đã tập trung tại Hoa Thịnh Đốn. Cờ VN nền vàng ba sọc đỏ rợp trời. Tiếng đả đảo CS dậy đất. Theo tường trình của phóng viên Đỗ Hiếu của Đài RFA tường thuật tại chỗ, những người Việt hải ngọai biểu tình chống CS Hà nội nhiểu tội. Đối với Trung Cộng thì ươn hèn để mất đất, mất biển vào tay TC. Còn đối với người dân thì thẳng tay đàn áp, chà đạp, hạn chế và tước đoạt, quyền tự do dân chủ, sách nhiễu, bắt bớ những người bất đồng chính kiến, các nhân vật đối lập ôn hòa. Và đòi hỏi với lời hô to bằng tiếng Anh Tự do cho VN (Freedom for Vietnam), Nhân Quyền cho VN (Human Rights for Vietnam).

Và cách cuộc biểu tình chống Cộng ở Washington DC này một ngày là cuộc biểu tình ở Texas. Cả ngàn người Mỹ gốc Việt đã tập họp trên đường phố, trước cao ốc số 5251 tầng lầu thứ 11 trên đại lộ Westheimer, bên cạnh khu thương mại sang trọng, nơi CS Hà nội mướn làm lãnh sự quán. Hàng ngàn cánh tay giơ lên hàng vạn tiếng hô to đả đảo CS vang lên, đòi hỏi CSVN phải tôn trọng Tự do, Dân chủ và Nhân Quyền cho người dân trong nước. Cảm kích vô cùng. Già, trẻ, bé, lớn đủ cả; từ một cụ bà ngồi xe lăng 98 tuổi đến những sinh viên đầy nhựa sống đều có mặt. Gần xa đều đến. Người Việt từ Cali cũng bay đến. Người Việt tư Dallas cũng lái đến quyết tâm và hăng hái tham dựï cuộc biểu tình chống Cộng sản.

Từ 35 năm nay cái gì có thay đổi nhưng tinh thần chống Cộng vẫn y nguyên. Từ muời mấy năm qua CS Hà nội tái lập bang giao được với Mỹ, người Mỹ gốc Việt liên tục bỉểu tình chống Cộng. Chủ Tich CS Hà nội Nguyễn minh Triết đi Mỹ, đi Liên Hiệp Quốc ở New York – chống. Tổng Bí Thư Đảng CSVN Nông đức Mạnh. Chủ Tịch Nguyễn minh Triết đi Úc, Thủ Tướng VC Phan văn Khải đi Mỹ và Canada, Chủ tịch Nước VC Trần đức Lương, Thủ Tướng VC Nguyễn tấn Dũng đi Pháp, Hòa Lan, và Bỉ - chống tất cả, chống mọi nơi. Chống lãnh dạo CS và chống luôn truyển hình CS. Người Việt ở Úc biểu tình chống, truyền hình VC phải tắt đài VT4, chống văn công phải rã gánh. Gần đây CS Hà nội còn bị chống mạnh hơn nữa vì đã mải quốc cầu vinh, bí mật cắt đất nhượng biển cho TC và cho cả TC vào khai thác quặng bauxite, chiếm cao điểm chiến lược ở Cao Nguyên và hành lang an ninh quốc phòng của đất nưóc VN nữa.

Âu Mỹ Úc ở đâu, lúc nào xuân hạ thu đông, hể có mặt CS là biểu tình chống.. Chế độ CS Hà Nội là chế độ gì mà bị biểu tình chống liên tục, kể không hết vì quá nhiều. Chế độ CS Hà nội là chế độ gì mà biểu tượng đảng kỳ, và quốc kỳ bị đồng bào gọi là cờ máu, chỉ ru rú như gián ngày trong bốn bức tường của sứ quán, ló ra đâu là bị đồng bào biểu tình triệt hạ.
Trong khi đó quốc kỳ VNCH dù không còn pháp nhân công pháp nữa, vẫn chẳng những được người Việt Hải Ngoại chào kính mà còn được dân chúng và nhiều chánh quyền địa phương ở ngoại quốc công nhận như biểu tượng, di sản tự do, dân chủ, nhân quyền VN-là chính nghĩa đối đầu với CS Hà Nội.
Những câu hỏi này người Việt Hải ngoại đã trả lời khẳng định từ lâu, từ khi dùng thuyền nan vượt đại dương, gạt nước mắt tạm rời nước nhà đi tìm tự do cho mình và hy vọng đem lại tự do cho bà con còn bị kẹt ở lại. Và người Việt hải ngoại cũng đã làm cho dân chúng và chánh quyền nhiều nước trên thế giới, nơi có người Việt định cư ít nhiều đã tỏ rõ.

Người Việt Hải Ngoại không chống đất nước và nhân dân VN. Người Việt Hải ngoại chống là chống cái chế độ độc tài đảng trị tòan diện của CS Hà Nội, cái chủ nghĩa CS độc tài đảng trị, toàn diện vừa theo kiểu Staline vừa theo kiểu Mao Trạch Đông và gần đây đã đổi màu xanh vỏ nhưng đỏ lòng để tồn tại. Người Việt Hải ngoại chống nhà cầm quyền lấy quyền lợi Đảng để trên quyền lợi dân tộc, làm cho xã hội VN quằn quại vì nạn tham nhũng, vì nạn sang đoạt đất ruộng của dân, vì kỳ thị người Việt Bắc và Nam, trấn áp, sách nhiễu nhà tu, các tôn giáo không được yên ổn tu hành, đồng bào thiểu số không được nâng đỡ .

Không phải người Việt hải ngọai biểu tình chống Cộng ở hải ngọai không thôi. Trong nước người Việt cũng chống. Công nhân từ đình công, lãng công hàng chục ngàn người, một năm trên 200 vụ. Đến Dân Oan bị CS lợi dụng qui họach cướp nhà, cướp đất, đền bồi rẻ mạt như giựt để bán rẻ cho cán bộ, đảng viên CS, bán mắc cho tài phiệt ngọai quốc. Dân Oan tập trung khiếu kiện, tọa kháng từ Bắc chí Nam. Công Giáo tập trung cầu nguyện đòi công lý, trả đất cho nhà chung, từ Thái Hà ở Hà nội vài ngàn người đến Vinh lên đến 250. 000 người.

Dù gồm thâu được giang sơn, “nắm” được người dân trong nước như những con tin, bòn vét tiền rừng bạc biển của đất nước, thuế má mồ hôi nước mắt của 84 triệu người Việt trong nước, có an ninh lộ trình bang giao, có túi bạc ngân sách quốc gia kè kè, mà CS Hà Nôi đi tới đâu đều phải vào cửa hông ra cửa hậu. Ở Âu, ở Mỹ, ở Úc, ở đâu người Việt cũng chống Cộng. Già trẻ đều chống Cộng, đều đi biểu tỉnh, một triệu chứng chỉ cho thấy còn chống dài dài, cho đến khi nào không còn CS mới thôi.


VI ANH
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Cắt đất đai tổ quốc trả nợ: Cái họa khôn cùng

Bài viết của Nguyễn Quang Thiều trên Tuần Việt Nam ngày 16 tháng 4, 2010 bị xóa
LTS: Nhà thơ, nhà văn, biên kịch, vẽ tranh, dịch giả, nhà báo tự do Nguyễn Quang Thiều, 53 tuổi, đang sống ở Hà Ðông. Ông đã đoạt nhiều giải thưởng văn chương ở Việt Nam. Không những đa tài, nổi tiếng trong ngoài nước, thỉnh thoảng, ông gửi đăng báo những bài tâm cảm, trình bày cái nhìn của ông về các vấn đề thời sự của đất nước. Ông vừa gửi tới “Tuần Việt Nam”, một bộ phận của báo điện tử VietNamNet (cơ quan chủ quản là Bộ Thông Tin Truyền Thông của ông bộ trưởng “lề phải” Lê Doãn Hợp).

Bài viết ngắn có tựa đề “Cắt đất đai tổ quốc trả nợ: Cái họa khôn cùng” vừa mới được bỏ lên tuanvietnam.net sáng sớm ngày Thứ Sáu 16 tháng 4 năm 2010 thì bị giật xuống ngay. Tác giả không nói gì về chuyện ở Việt Nam, nhưng cái đề tài nhậy cảm này “tuy rằng nói đấy mà đây chạnh lòng”. Vấn đề chủ quyền biển đảo, lãnh thổ và cái họa Bắc thuộc đang là nỗi ám ảnh của người Việt Nam khắp nơi, hiển nhiên gồm cả Nguyễn Quang Thiều.

Từ đầu năm đến nay, ông đã gửi cho TuanVietnam và VietNamNet một số bài. Hồi Tháng 3, khi video clip cô nữ sinh đánh bạn tàn nhẫn ngay trên đường phố trước cái nhìn vô cảm của đám học sinh khác và cả người đi đường. Lại còn được phóng lên youtube cho thiên hạ biết. Ông Thiều bình luận cái chuyện này “là cái tát” cho các người lớn.

Vào dịp Tết vừa qua, ông thấy khổ tâm vì người ta nườm nượp dùng đủ mọi loại xe, cả công xa, lên rừng chặt các cành đào về nhà ở Hà Nội trưng bày ăn Tết, không bao lâu đào rừng sẽ hết vì người thành phố.

Năm 2008, Bộ Chính Trị CSVN công bố chính sách “tam nông” với mục tiêu “thực hiện công bằng xã hội”. Báo Nông Nghiệp Việt Nam viết một loạt bài ca ngợi rằng “Ðảng, nhà nước ta luôn đặc biệt quan tâm đến nông nghiệp-nông dân-nông thôn. Trong đó, coi nông dân là trung tâm của những hoạch định chính sách lâu dài.”

Nhưng giữa năm 2009, ông Nguyễn Quang Thiều viết loạt bài “Thư của đứa con những người nông dân” trên VietNamNet cho thấy sau nửa thế kỷ được “giải phóng” và biết bao chính sách, nông dân ở quê ông, nay là Hà Nội mở rộng, vẫn con trâu, cái cày rồi tới người nông dân bám theo nhau trên cánh đồng. Thu nhập đầu người chỉ có 40,000 đồng một tháng không đủ sống. Chữ nghĩa thì, may ra, qua khỏi nạn mù chữ. Y tế cũng không. Một người cha trong gia đình phải lựa chọn bán ruộng vườn nhà cửa để chữa bệnh (con cái sẽ đi ăn mày) hay chết (để cho con còn cơ hội sống) đã chọn cái chết.

Dưới đây là bài của ông Thiều bày tỏ sự ưu tư về tiền đồ của dân tộc đã bị xóa.

Nguyễn Quang Thiều
http://www.tuanvietnam.net/2010-04-15-c ... khon-cung-
Image
Nhà văn, nhà thơ, nhà báo Nguyễn Quang Thiều. (Hình: lethieunhon.com)
Mấy ngày trước, VTV1 đưa tin hai đứa trẻ Hy Lạp đã lấy những đồng tiền tiết kiệm trong lợn nhựa của chúng để đóng góp cho đất nước trả nợ chứ đừng mang một số hòn đảo, đất đai của tổ tiên chúng, gán nợ cho nước ngoài. Rất nhiều người lớn nghe tin đó đã cúi đầu...

Họ cúi đầu kính trọng và xấu hổ. Và như một sự vô tình, hành động của những đứa trẻ đã thổi vào lòng những người lớn trên nhiều quốc gia lòng tự trọng dân tộc và tình yêu tổ quốc.

Nợ là chuyện bình thường của mọi quốc gia. Ngay như nước Mỹ, nước Nhật còn là con nợ lớn của thế giới cơ mà. Vậy là chuyện mà có lẽ người nào trong đời cũng phải vay ít nhất một lần và các quốc gia cũng như vậy. Nhưng vay để làm việc gì và trả nợ như thế nào mới là điều đáng nói? Tôi không biết vì lý do nào mà Hy Lạp nợ nước ngoài và vì lý do gì mà Hy Lạp không có cách nào trả nợ nước ngoài.

Nợ nước ngoài có nhiều cách. Nợ vì vay để đầu tư hồi phục nền kinh tế hoặc xây dựng những công trình chiến lược của đất nước. Không trả nợ được có thể vì những người lãnh đạo không biết điều hành đất nước mà cụ thể không biết sử dụng một cách hiệu quả nhất tiền vay. Không trả nợ được có thể vì nạn tham những ăn vào quá lớn những đồng tiền đi vay ấy.

Image
Nợ đến nỗi phải bán cả một hay nhiều phần đất của tổ quốc đi để trả nợ thì đấy là cái họa khôn cùng.
(Hình: Theo bài viết của Nguyễn Quang Thiều trên TuanVietnam)
Nhưng nợ đến mức làm cho các thế hệ sau nối nhau còng lưng trả nợ cho những người đi trước quả là họa lớn cho đất nước. Còn nợ đến nỗi phải bán cả một hay nhiều phần đất của tổ quốc đi để trả nợ thì đấy là cái họa khôn cùng cho đất nước.

Việc cắt đất cho nước ngoài không phải chuyện hi hữu. Lịch sử nhiều quốc gia trên thế giới do nhiều nguyên nhân đã bán đất cho nước ngoài. Bán có thời hạn hoặc bán vĩnh viễn. Cắt đất cho nước ngoài cũng có nhiều nguyên nhân. Có nguyên nhân là vì bại trận trong một cuộc chiến tranh, có nguyên nhân cắt đất để có được những lợi ích khác và cũng có nguyên nhân do hèn nhát trước những đe dọa của nước ngoài mà dâng đất. Và với nhiều trường hợp, cho mượn đất với những lý do nào đó đôi khi cũng là một cách dâng đất của tổ quốc cho người ngoài.

Nhưng sớm hay muộn thì những dân tộc đã bị cắt đất bán hoặc dâng đất cho nước ngoài sẽ đều tìm cách đòi lại lãnh thổ của mình cho dù lãnh thổ đã mất chỉ nhỏ bằng một thửa ruộng của một người nông dân. Lịch sử cũng cho chúng ta thấy nhiều ví dụ về chuyện đòi lại đất như thế.

Trước tòa nhà Quốc Hội Úc có một ngôi nhà dựng lên gọi là “Ðại sứ Thổ dân Úc”. Tôi đã trò chuyện với đại sứ thổ dân trong ngôi nhà này trong chuyến đến Úc năm 1999. Những người thổ dân Úc dựng “tòa đại sứ” này để đòi lại đất của tổ tiên, ông cha họ đã bị những người da trắng cướp cho dù những người thổ dân Úc còn lại không nhiều và họ không có một quân đội nào. Nhưng họ đã chiến đấu cho lẽ phải bằng chính lẽ phải hết đời này đến đời khác buộc chính quyền Úc phải thừa nhận chủ quyền của họ. Cuối cùng, chính quyền Úc đã phải công khai xin lỗi những người thổ dân.

Bây giờ, chính quyền Hy Lạp cắt một số hòn đảo để trả nợ nước ngoài. Có thể sau đó, họ đã xóa được món nợ tiền, nợ vàng nước ngoài thì họ lại mang một món nợ khác. Món nợ này lớn hơn và đau đớn hơn bất kỳ món nợ nào khác. Ðó là món nợ với tổ quốc và nhân dân họ.

Chính vì thế mà cả những đứa trẻ như hai đứa trẻ Hy Lạp cũng phải đứng lên bảo vệ lãnh thổ của tổ quốc chúng bằng cách của những đứa trẻ nhưng ý nghĩa của hành động ấy thật sâu sắc, thật lớn lao và thật xúc động.

Qua hành động của hai đứa trẻ Hy Lạp ấy, tôi nghĩ, những người có lương tâm ở tất cả các quốc gia đã từng bán đất hay dâng đất cho nước ngoài cho với bất kỳ lý do nào và cho dù mảnh đất ấy chỉ đủ trồng một khóm hoa hay một gốc tre cũng đều cảm thấy hổ nhục.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Image

VIÊN GẠCH LÓT ÐƯỜNG
Giao Chỉ, San Jose


Ngày xưa, thi sĩ Nguyên Sa gọi ông là Kinh Kha. Trên báo Ðời số đặc biệt năm 1982 xuất bản ở quận Cam, nhà văn Hư Trúc gọi ông là Mặt Trời Không Bao Giờ Lặn. Ðồng bào Việt ở Úc Châu gọi ông là Chiến Sĩ. Báo chí Hoa Kỳ gọi ông là Người Tù Anh Hùng. Trên tờ báo lớn ở miền Tây Úc, ký giả nổi tiếng Norman Aisbett gọi ông là Ðại Tá Cô Ðơn. Trong quân đội tên ông là Võ Ðại Tôn, với bí danh Wòng-A-Lìn. Ngoài văn giới ông mang bút hiệu Hoàng Phong Linh. Và sau cùng, khi tìm đường gai góc mà đi, ông tự coi mình là Viên Gạch Lót Ðường.
Với chuyến trở về vào đầu thập niên 80, viên gạch quý của chúng ta được sản xuất tại miền đất Quảng anh hùng đã làm nên lịch sử. Khi tin tức về cuộc họp báo tại Hà Nội ngày 13-07-1982 được loan báo trên hầu hết các hệ thống truyền thông thế giới, đồng bào Việt Nam hải ngoại lập tức coi Võ Ðại Tôn như là một biểu tượng chung của người quốc gia đang tìm đường quang phục quê hương.

Ðoạn phim ngắn của truyền hình Nhật Bản đã làm nhỏ lệ biết bao khán giả xen lẫn niềm hãnh diện vốn đã vắng bóng từ lâu. Từ màn ảnh nhỏ, Võ Ðại Tôn xuất hiện vĩ đại, bất khuất. Một trận thư hùng đã mở màn. Một bên là toàn thể bộ máy cầm quyền, cao ngạo, hùng mạnh, khốc liệt và vô cùng hiểm độc. Một bên là người tù biệt giam, cô đơn, đói khát, tuyệt vọng. Ðây là cuộc chiến của một người chống một chế độ trước ống kính của truyền hình, máy ảnh và những cây bút ghi chép đại diện cho hàng trăm cơ sở truyền thông trong và ngoài nước. Trong số này có trên 10 phóng viên ngoại quốc đã được Hà Nội triệu tập khẩn cấp từ Vọng Các qua. Không ai biết chuyện gì sẽ xảy ra. Trong khi đó, nhà cầm quyền Hà Nội úp mở nói rằng sẽ cho trình diện một gián điệp của Hoa Kỳ và của tình báo Thái, xâm nhập vào làm công tác phá hoại Việt Nam.

Từ loa phóng thanh, tiếng viên Thứ Trưởng Bộ Văn Hóa Thông Tin Cộng Sản Hà Nội, Lê Thành Công, chủ tọa và điều hợp buổi họp báo vang lên: Ðây là tên tay sai của trung ương tình báo Hoa Kỳ CIA.
Với gương mặt khắc khổ và cặp mắt cương nghị, người đàn ông họ Võ, sinh năm 1936 tại Ðà Nẵng cúi đầu chào cử tọa. Tiếp theo ông đứng lên phía sau một chiếc bàn gỗ ghé đầu xuống micro: Tôi, Võ Ðại Tôn, chỉ huy trưởng Chí Nguyện Ðoàn Phục Quốc, tôi xác nhận hoàn toàn chịu trách nhiện về dự mưu xâm nhập Việt Nam...Tôi xin các nhà báo vì lương tâm chức nghiệp của người cầm bút, xin hãy tường thuật trung thực.
Một cách gián tiếp, Võ đại Tôn bác bỏ vai trò của trung ương tình báo Hoa Kỳ. Ông xác nhận đã là người chủ dộng và chấp nhận tất cả mọi hậu quả. Như chúng ta đã thấy, hậu quả tàn khốc nhất là ông đã làm mất mặt toàn thể guồng máy công an và tình báo Hà Nội. Sau khi thấy Võ đại Tôn nói không đúng bài bản dự trù là sẽ thành khẩn thú nhận tội lỗi, lập tức cộng sản cúp điện, và lôi ông vào.

Sau đó khán giả không được thấy hình ảnh tiếp theo. Bình luận gia của đài truyền hình cho biết là người ta đã đem ông Võ đi và cuộc họp báo chấm dứt. Cuộc chiến đã ngưng ở đây. Một người đã thắng một chế độ. Kinh Kha của Việt Nam đã hoàn tất sứ mạng và không ai nghĩ rằng người tráng sĩ đó lại có ngày trở về.
Trần Bình Trọng của lịch sử Việt Nam, lúc sa cơ trong tay giặc đã bày tỏ tâm nguyện không làm vương đất Bắc. Người chiến sĩ họ Võ ra đi năm 1975, trở về năm 1981 vỏn vẹn với hai chiến hữu, sa cơ ở miền biên giới, đã đành quyết một lòng làm quỷ nước Nam. Sau này, khi đã xin tỵ nạn tại Pháp, nguyên đại tá cộng sản Bùi Tín kể lại rằng năm 82 Võ đại Tôn đã đem chính thân xác ra hy sinh để đánh lừa cả bộ chính trị Hà Nội một quả vô tiền khoáng hậu. Ai cũng biết rằng ông đã phải trả giá cho cuộc họp báo quốc tế phi thường như thế nào.
Tại San Jose, những thước phim ngắn trên truyền hình Nhật Bản được in ra phổ biến trong cộng đồng và một cuộc biểu dương hàng ngàn người đã được tổ chức tại công viên St James
Từ đó đến nay, giữa ngục tù Cộng Sản, ông Tôn đã đếm được 10 năm 1 tháng và 17 ngày. Báo chí ở Úc nói rằng: Mr. Võ có một trí nhớ sắc bén như lưỡi dao cạo. Ông nhớ rằng với trọn năm tù đầu tiên ông bị đánh suốt 45 ngày. Biệt giam trong một xà lim 3 thước và 2 thước rưỡi. Suốt 10 năm ông đã bị đánh đập 96 lần.
Sau ngày 13-7-1982, khắp thế giới nói đến Võ Ðại Tôn, nhưng cũng từ ngày ấy không một ai biết thêm tin tức gì về viên gạch lót đường yêu quý đó nữa.


Tại Úc châu, tiểu bang New South Wales, nơi cộng đồng Việt Nam thân yêu mà ông từ giã, vẫn mòn mỏi chờ đợi là một người vợ trẻ và đứa con trai 3 tuổi.

Năm 1990, khi có cơ hội qua Úc châu thăm bà Võ Ðại Tôn, chúng tôi đã tìm thấy một gia đình rất bình thường như bất cứ một gia đình tỵ nạn nào của cộng đồng Việt Nam. Bà Tuyết Mai, vợ Võ Ðại Tôn đi làm công chức và thay chồng nuôi con. Trong căn nhà nhỏ bé, có treo một tấm chân dung vĩ đại của người chồng và người cha ngàn trùng xa cách. Trở về Hoa Kỳ, chúng tôi đã bắt đầu công cuộc vận động với các giới lập pháp Hoa Kỳ, kể cả việc gửi người trong phái đoàn về đấu tranh với Hà Nội.

Cuối thập niên 80, các hội đoàn tại San Jose hòa nhịp với người Việt toàn thế giới cùng lên tiếng đấu tranh cho tù tập trung “Lao Cải”. Tên của Phan nhật Nam và Võ đại Tôn dược nhắc nhở nhiều lần. Sau đó, đại diện cơ quan IRCC là ông phó giám đốc Nguyễn đức Lâm trong phái đoàn quốc hội California đã về Sài gòn trong sứ mạng thăm dò với cùng muc đích của bộ ngoại giao Hoa Kỳ. Cũng vào thời gian đó, Phan Nhật Nam vừa được tự do và IRCC đã có dịp phỏng vấn trực tiếp ông tại Sài Gòn đem về phát lại trên radio San Jose. Nhưng trường hợp Võ đại Tôn hy vọng rất mong manh.
Ðối với gia đình của ông Tôn, tin tức ghi nhận được ngày 13-7-1982 cũng là tin tức chính thức cuối cùng. Ít nhất cho đến 9 năm sau, với sự vận động rất tích cực của chính phủ Úc Ðại Lợi, Hà Nội đã cho phép ông nhận quà và gửi thư về. Rồi đến áp lực chung của toàn thế giới và sự lưu tâm đặc biệt của Úc châu. Sau cùng Cộng Sản Việt Nam quyết định trả tự do cho ông Võ Ðại Tôn ngày 10-12-1991.

Ông trở về Úc châu với cả một cộng đồng thân yêu chào đón. Với người vợ đỏ mắt chờ mong và đứa con trai mà người cha như là một huyền thoại. Hà Nội đã giam giữ ông trên 10 năm, từ 72 kg xuống còn 48 kg. Thân hình tiều tụy trông già hơn 20 tuổi. Tuy nhiên, trí óc sắc bén còn nhớ hàng trăm bài thơ dài ngắn và 3 cuốn sách mà ông đã viết bằng ký ức trong thời gian biệt giam, vì không có ánh đèn và giấy bút. Ngay như cuốn hồi ký Tắm Máu Đen (đường về quê hương và cuộc chiến cô đơn trong lao tù Hà Nội) dày hơn 500 trang, ngay sau khi ra khỏi tù trở về Sydney, đã được đánh máy trong vòng một tuần lễ và phát hành ngay tại Úc, 1992. Tái bản tại Hoa Kỳ năm 2000. Như vậy là, sau cùng người chiến sĩ xuất thân từ biệt kích đã có nhiều lần đảm nhận nhiều công tác tình báo đặc biệt, nay đã trở về. Lần cuối cùng ông đi vào lòng địch không hề có lệnh công tác mà cũng không có được một tiểu đội xung kích. Nếu không kể toán lính kháng chiến Lào hộ tống đã tan hàng, thì thầy trò chỉ vỏn vẹn có 3 người. Một người là Vũ Ðình Khoa đã hy sinh tại chỗ, một người thứ hai đã bị bắt cùng một lượt với Võ Ðại Tôn và được thả năm 1987.

Năm 1981, khi ông Võ Ðại Tôn lên tiếng với toàn thế giới là ông đang tìm đường trở về quang phục quê hương, trong chúng ta đã có nhiều người bày tỏ sự hoài nghi rất hợp lý.
Dứt bỏ cuộc sống ổn định, bỏ gia đình vợ con đơn chiếc để tìm con đường về mịt mù vô vọng. Quyết định này không dễ gì thực hiện. Mở cuộc thánh chiến cô đơn để chống chế độ Hà Nội lúc đó còn đầy đủ sắt máu và phong độ vào thập niên 80, rõ ràng đối với nhiều người thì đây là một hành động không khôn ngoan và thiếu thực tế.
Nhưng chúng ta không thể lấy tri thức của mọi người mà đo lòng của một người. Không thể lấy bụng dạ của thường nhân mà đo lòng chiến sĩ. Và không thể lấy đất mà đo với gạch. Vì vậy mới có Võ Ðại Tôn. Con người này khi đi làm anh hùng thể hiện sứ mạng lịch sử, quả thực đã thiếu sự khôn ngoan của đa số bình thường. Chúng ta đâu có biết ông đã nghĩ gì khi quyết “Tìm đường gai góc mà đi”.

Tháng 4 năm 1992, miền đất ấm California đã có dịp chào đón Võ Ðại Tôn trên đường từ Úc Châu qua Hoa Kỳ. Lúc đó phong độ vẫn quả cảm quyết liệt, nhưng già dặn chín chắn hơn. Chúng ta thường có thói quen dành hết lòng thương yêu thành kính cho những người liệt sĩ ra đi vĩnh viễn vào cõi vô cùng. Trong khi đó cộng đồng và quê hương thực sự rất cần những anh hùng còn tồn tại.
Hai mươi năm trước San Jose đã lên tiếng cảm ơn đất Quảng đã sản xuất ra một Võ Ðại Tôn trước sau như một. Chúng ta đã ca ngợi cộng đồng Việt tại Úc châu có được một Võ Ðại Tôn hơn một lần bước chân đi, lẫm liệt đường hoàng.
Con đường đấu tranh cho tự do, dân chủ và nhân quyền dù trong hoàn cảnh nào cũng luôn luôn mở rộng trong một cuộc chiến mới đầy hy vọng cho quê hương và dân tộc.
Trên con đường đó vẫn cần rất nhiều viên gạch lót đường. Trong đó, chúng ta đã có sẵn một viên gạch bất khuất. Viên gạch lót đường mang họ Võ.Tháng 4 năm nay, chúng tôi lại mời ông Võ Ðại Tôn qua Mỹ.Ngày thứ bẩy 15 tháng 5-2010 lúc 1 giờ trưa ông sẽ có dịp gặp gỡ đồng hương và chiến hữu tại San Jose. Tại hội trường Santa Clara County số 90 W. Hedding. Ông sẽ giới thiệu những cuốn sách mới viết xong, trong đó có cuốn hồi ký “Tuổi thơ và chiến tranh” và quan trọng hơn hết là ông sẽ trải rộng tâm tình với bà con San Jose, nơi cũng đã trải tấm lòng ra với ông suốt 30 năm qua.
Rồi một tuần sau, đến ngày chủ nhật 23 tháng 5-2010 trong chương trình văn nghệ 35 năm nhìn lại tại đại hí viện CPA, nhà thơ Hoàng Phong Linh, bút hiệu văn nghệ của Võ Ðại Tôn sẽ cất tiếng hát lời thơ do chính ông sáng tác (Nguyễn Ánh 9 phổ nhạc) :” Mẹ Việt Nam ơi, chúng con vẫn còn đây...
Tháng tư 1975, cách đây 35 năm miền Nam đã có biết bao nhiêu anh hùng tuẫn tiết. Tình cờ chúng tôi ghi nhận được tướng Nguyễn Khoa Nam của đất Thần kinh, Trung Việt. Tướng Lê Nguyên Vỹ, quê Sơn Tây, Bắc Việt và tướng Lê văn Hưng, Nam Việt. Quả thực anh hùng ở khắp mọi nơi và hào kiệt thời nào cũng có.

Trên con đướng đấu tranh phục quốc Trần văn Bá về từ Âu Châu, Hoàng cơ Minh về từ Mỹ Châu và Võ Ðại Tôn về từ Úc Châu. Trên sân khấu lịch sử 35 năm nhìn lại ngày 23 tháng 5-2010, chúng tôi ước mong có đại diện sinh viên Trần Văn Bá, có người con trai của tướng Hoàng cơ Minh. Liệt sĩ Trần văn Bá đã bị cộng sản xử tử hình tại Sài Gòn. Ðề đốc Hoàng cơ Minh đã hy sinh miền biên giới. Ta nỡ lòng nào đề một mình viên gạch lót đường cô đơn Võ Đại Tôn đứng đó mà hát rằng:” Mẹ Việt Nam ơi, chúng con vẫn còn đây...

Giao Chỉ - San Jose.
4.2010
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Không nhận tin xấu

Nguyễn Ðạt Thịnh




Bằng văn thư chính thức gửi đi ngày 30 tháng Ba 2010, ngân hàng nhà nước Việt Cộng yêu cầu các ngân hàng ngoại quốc đang có chi nhánh hoạt động tại Việt Nam thôi không cung cấp tin tức về thị trường và về chứng khoán thế giới cho Việt Nam nữa. Ngân hàng Việt Cộng lấy cớ là họ không muốn biết thêm về những diễn biến khủng hoảng và suy thoái của kinh tế toàn cầu.

Việt Cộng nói dối; sự thật là sau trên một năm suy thoái, kinh tế toàn cầu đang lấy lại thăng bằng, bớt nghiêng ngửa vì hậu quả của nền kinh tế bong bóng vài năm trước của Hoa Kỳ.

Nền kinh tế Việt Cộng, ngược lại mỗi ngày một bong bóng hơn, trong cái phồn thịnh bèo bọt trên mặt sinh hoạt nổi của một vài đô thị, 95% người Việt Nam vẫn nghèo, 90% người Việt Nam vẫn đói.

Mới 18 tháng trước, tháng Chín 2008, chính ngân hàng Việt Cộng đã gửi văn thư chính thức (số 8666/ NHNN-CSTT) xin các ngân hàng thế giới cung cấp tin tức về sinh hoạt thị trường và chứng khoán

Truyền thông trong nước trích nguồn Ngân hàng nhà nước Việt Nam nói trong 18 tháng vừa rồi các ngân hàng nước ngoài tỏ ra rất hiệu quả trong việc thực hiện yêu cầu trên.

Ông Hà Huy Thành, cựu Viện trưởng Viện nghiên cứu môi trường và phát triển bền vững từ Hà Nội cho biết các thông tin mà phía nước ngoài cung cấp đã có tác động trực tiếp tới thị trường trong nước.

Ông nói: "Không chỉ cung cấp thông tin về khủng hoảng tài chính quốc tế mà họ còn cung cấp thông tin về các loại thị trường thế giới. Theo tôi biết, việc cung cấp thông tin được thực hiện rất tốt. Sự minh bạch đó đã giúp Việt Nam rất nhiều trong việc điều chỉnh hoạt động ngân hàng và đặc biệt là hoạt động của thị trường chứng khoán."

Ông Thành cũng thừa biết nguyên nhân khiến Việt Cộng thôi không muốn ngân hàng thế giới cung cấp những con số cụ thể về thị trường và về ngân hàng thế giới nữa, là để giới tiêu thụ -quảng đại đa số quần chúng- không còn căn bản nào khác hơn để dựa vào đó mà sinh hoạt, ngoài những thông cáo của chính phủ không chỉ thiếu chính xác, mà còn chuyên chở nhiều gian dối.

Cuộc sống kinh tế Việt Nam sẽ xây dựng trên những con số giả tạo này, và sẽ đột quỵ, như nền kinh tế Hoa Kỳ đã đột ngột xụp đổ vài năm trước.

Việt Cộng đang huyênh hoang tuyên bố là trong quý đầu năm nay Việt Nam đạt mức tăng trưởng kinh tế 5.83%. Tuy nhiên, theo bình luận của hãng tin Reuters thì Việt Nam vẫn là một địa điểm đầu tư đầy rủi ro và ảm đạm.

Kinh tế gia Lê Đăng Doanh tỏ ra ngạc nhiên trước quyết định thôi tiếp nhận thông tin của Ngân hàng nhà nước Việt Nam . "Tôi không rõ Ngân hàng nhà nước giờ đã xây dựng được một hệ thống thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời và đa dạng như thế nào để nhận định về tình hình khủng hoảng kinh tế thế giới." Ông Doanh “không rõ” hay không tin vào hệ thống tin tức ngân hàng và kinh tế mà Việt Cộng sẽ đơn phương cung cấp?

Theo ông Hà Huy Thành, thì mức hiệu quả của các thông tin mà phía nước ngoài cung cấp nằm ở chỗ nó không chỉ được sử dụng trong phạm vi Ngân hàng nhà nước, mà còn được chia sẻ tới các nhà đầu tư.

Lý do không hợp lý mà Ngân hàng nhà nước đưa ra để yêu cầu không gửi thêm thông tin về khủng hoảng toàn cầu, là kinh tế thế giới đang dần phục hồi, ổn định. Ðiều này là nguỵ biện trắng trợn: người Mỹ và công dân mọi nước giầu vẫn đọc tin sinh hoạt kinh tế mỗi ngày, nhiều người còn quan niệm tin kinh tế quan trọng hơn tin chính trị.

Có thể vì đoán được ý đồ của Việt Cộng nên các đại diện ngân hàng thế giới nói họ vẫn để ngỏ cánh cửa thông tin để ngân hàng nhà nước có thể trở lại yêu cầu họ cung cấp tin tức về thị trường tài chính, tiền tệ trong nước và thế giới ".

Kinh tế gia Lê Đăng Doanh đánh giá việc tiếp tục thu thập thông tin là việc nên làm, đặc biệt là khi tình hình kinh tế thế giới hiện nay chưa thể coi là đã ổn định, phát triển như đánh giá của Ngân hàng nhà nước.

Ngày ra quyết định 2330/NHNN-CSTT cũng là ngày cuối cùng các sàn vàng trên cả nước phải tất toán hoạt động, khép lại một thời kỳ kinh doanh sôi động mặt hàng vàng trên thị trường Việt Nam .

Ngân hàng thế giới không ý thức được tội của họ là tội cung cấp bản tin trung thực, cái tội Việt Cộng không thể tha thứ. Việt Cộng không chấp nhận sống chung với sự thật, dù sự thật nằm trên tin tức thị trường, tin sinh hoạt chính trị, hay chỉ là tin về thật giá của một lượng vàng.

Họ không nhận nghe tin xấu, vì họ không kiểm soát được nguồn chuyên chở tin và không kiểm soát được những hậu quả của sự thật được tin tức phổ biến đến quần chúng độc già. Họ muốn tất cả nằm trong tay họ, họ muốn diễn dịch giá trị đồng bạc của họ, diễn dịch giá lên xuống của thị trường lúa gạo của 80 triệu nông dân.

Ðó là lý do họ đang mang mặt nạ đóng vai tin tặc, đang giam giữ anh Ðiếu Cầy, bỏ tù anh Nguyễn Việt Chiến, và bắt toàn bộ ký giả, văn nghệ sĩ, đi theo nhịp đếm bên lề phải của bộ thông tin tuyên truyền.

Họ nhất định làm mọi việc có thế làm để không nhận tin xấu.

Nguyễn Ðạt Thịnh
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Viết cho con những ngày cuối tháng 4:
‘Ðứng thẳng làm người, con nhé!’


Wednesday, April 21, 2010

LTS: Blogger Mẹ Nấm, bút danh của Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, 31 tuổi, hiện sống ở Nha Trang, trong sự khống chế của công an CSVN.

Chị bị bắt hồi tháng 9, 2009 cùng một khoảng thời gian gần nhau với một số bloggers có tiếng khác như Người Buôn Gió, Trang Ridiculous. Một trong những mẫu số chung của vụ bị bắt là họ đều mặc áo thun màu vàng lá mạ phía ngực có hàng chữ “Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam” còn mặt lưng có bản đồ Việt Nam với bảng hiệu ám chỉ cấm trong đó có chữ bauxit và Trung Quốc. Họ cũng là những người viết báo mạng cá nhân (blogs) bày tỏ lòng yêu nước trước hiểm họa bắc thuộc và nguy cơ mất dần biển đảo do tham vọng bành trướng bá quyền của Trung Quốc.

Tuy không phản là tội phạm, nhưng Như Quỳnh đã không được cấp hộ chiếu xuất cảnh hồi tháng 2 vừa qua, lý do chính thức không được xác nhận.

Dù bị theo dõi, gia đình bị áp lực của công an CSVN, Blogger Mẹ Nấm bị xóa Blog Mẹ Nấm vẫn viết trên “Blog Bạn của Mẹ Nấm.”

Bài viết dưới đây qua hình thức một bức thư gửi cho con khi gần tới ngày 30 tháng 4, ngày miền Nam tự do bị Cộng Sản nhuộm đỏ, đưa cả nước vào guồng máy độc tài đảng trị. Mẹ Nấm dặn con, khi lớn lên “hãy đứng thẳng làm người.”

19 tháng 4, 2010

Nấm thân yêu,

Mẹ viết cho con những dòng này, sau khi cân nhắc và tẩy xóa khá nhiều lần.

Lá thư cuối tháng 4 này được mẹ viết giữa những bộn bề suy nghĩ, đắn đo.

Những tưởng, chúng ta có thể bỏ lại sau lưng khoảng thời gian khốn khó, những tưởng mọi thứ lại trở nên bình thường sau bao nhiêu cố gắng của mẹ, những tưởng...

Mọi thứ không hề bình yên chút nào con ạ, bởi mái nhà của chúng ta, khoảng sân con thường chơi, góc nhà con nằm ngủ, chỉ cần có một chữ ký xác nhận là nó sẽ chẳng thuộc về chúng ta nữa.
Image
Blogger Mẹ Nấm, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh và con gái.
(Hình của Mẹ Nấm's Blog)
Mẹ nghĩ mãi mà không ra, căn nhà đó, nếu vì bất cứ lý do nào mà mẹ không quay về, thì cũng không ai có quyền xác nhận là mẹ không tạm trú ở đó, bởi ngoài mớ giấy tờ chi chít dấu đỏ hợp thức hóa sự hiện diện của mẹ, thì vẫn còn có một mối dây liên kết vô hình phải không con?

Huống hồ chi, vì lý do an toàn cá nhân, và cả an toàn trong tinh thần của mình, và để chấm dứt cái cảnh nay ông trưởng thôn đến hỏi, mai lại có nhiều cặp tình nhân lảng vảng quanh nhà, để tránh cái cảnh căng thẳng và những bức xúc không cần có, mẹ muốn tịnh tâm, muốn con yên bình.

Chủ Nhật, ngày 18 tháng 04 năm 2010 - mẹ muốn con nhớ ngày này, cái ngày mà những người nhân danh luật pháp, vì muốn bảo vệ hạnh phúc gia đình mình, đã “nhờ” ba con ký giấy xác nhận rằng: mẹ con ta không còn ở trong căn nhà của mình nữa.

Lý do và động cơ nào khiến họ làm việc đó thì mẹ không biết, thực lòng mẹ cũng không muốn biết, bởi ở đất nước này, sẽ có 1001 lý do được đưa ra bất cứ khi nào, bất cứ lúc nào người ta muốn.

Mẹ viết lại những chuyện này, không phải để trách móc ai. Mẹ chỉ muốn con biết rằng, đã từng có một thời điểm khó khăn để ba mình quyết định nên làm thế nào cho đúng và cho phải.

Mẹ ghi lại những điều này không phải để điểm mặt chỉ tên ai, mà mẹ muốn con biết rằng, mai này, có những loại công việc, nó sẽ quyết định nhân cách của mình. Người chọn nghề, hay nghề chọn người, điều đó không quan trọng, mà điều quan trọng nhất của một con người, là biết tự mình phân biệt đúng sai, và lựa chọn cách hành xử làm sao cho nên “người” nhất. Tuyệt đối, không được phép nhân danh nghề nghiệp, mà quên đi nhân cách của mình, con à.

Có thể mai này lớn lên, con sẽ thắc mắc rằng, tại sao mẹ lại “hân hạnh được chiếu cố” đến vậy? Lẽ ra, mẹ có thể lựa chọn khác đi, để ba con vui lòng, để mọi người được an nhàn, nhưng tại sao mẹ không làm thế?

Mẹ sẽ chỉ im lặng, bởi mẹ không trả lời con được.

Bởi vì, mẹ cảm nhận được dòng máu đang chảy trong người mẹ, buộc mẹ phải suy nghĩ và hành động như vậy. Mẹ đã từng suy nghĩ, tại sao mình không làm khác đi được?

Và, mẹ không tìm được câu trả lời.

Những ngày cuối tháng 4, khi viết những dòng này cho con, mẹ nhớ đến lá thư mà bác P. viết cho con trai mình năm ngoái. Một lá thư xúc động, và cũng làm khá nhiều người khó chịu, bởi nó là lời trần tình của một người cha dành cho con trai mình về quê hương thân yêu.

Mai này con lớn lên, sẽ phải học nhiều thứ về lịch sử, mẹ đã hứa với lòng mình, sẽ dạy con đánh vần hai tiếng “quê hương” thật trọn vẹn, sẽ chỉ cho con xem những dấu tích đớn đau trên thân xác đất nước mình. Tháng 4 mà mai này con được học, sẽ không chỉ có cờ hoa rực rỡ, mà nó còn là nước mắt và máu của rất nhiều người.

Tháng 4 là tháng mà mẹ sẽ dạy con, là biết nhìn nhận, biết lắng nghe và biết suy nghĩ trước những gì lịch sử đã trải qua. Ðó thực sự không phải là chiến thắng, mà chỉ là một cuộc chuyển giao quyền lực đầy đau đớn của dân tộc mình.

Quê hương này là của mẹ, của con, của mọi người Việt Nam.Làm gì có ai thắng cuộc, khi cả dân tộc này bị chậm tiến so với các nước bạn phải không con?

Mẹ sẽ không dạy con những điều cao siêu đầy lý tưởng, không dạy con yêu kính những giá trị không hề có thật được tô vẽ.

Mẹ sẽ chỉ dạy con rằng ngoài việc yêu bản thân mình ra, yêu ông bà, cha mẹ, anh chị em, họ hàng mình, yêu những người xung quanh mình, yêu cả nơi mà con sinh ra và lớn lên - là Việt Nam. Nơi sản sinh một dân tộc da vàng, thấp bé, nhưng thông minh và can đảm chẳng kém ai.

Có thể rồi con sẽ “được” học, được nghe, được xem và bị ảnh hưởng bởi một nền văn hóa mang tên Trung Quốc, rõ ràng là điều này sẽ xảy ra, bởi chúng ta đang phải sống chung với nó, phải đối mặt với nó trong cuộc sống hàng ngày mà không có sự chọn lựa nào khác.

Nên vì thế, mẹ viết những dòng này để con nhớ rằng, dù sự đô hộ của Trung Hoa cách đây 1000 năm đã trở thành nỗi ám ảnh trong lòng nhiều người Việt, thì giấc mơ “Hán” hóa nước Việt Nam bằng nhiều cách thức, nhiều thủ đoạn cũng sẽ chỉ là giấc mơ của tên láng giềng đầy lòng dã tâm.

Bởi lịch sử đã và sẽ đang viết tiếp tinh thần No China từ 1000 năm trước con à!

Một mai con khôn lớn, đọc lại những dòng này, mẹ hy vọng con sẽ hiểu hơn những gì mẹ đã nghĩ, đã làm chỉ vì muốn con có thể học được bài học đứng thẳng làm người, con nhé!

Mẹ yêu con!
caolynh
Posts: 317
Joined: Wed Dec 17, 2008 7:21 pm
Contact:

Post by caolynh »

Những vòng hoa giả của Moscow

Nguyễn Xuân Nghĩa
Trong vở chèo cổ lấy cảm hứng từ truyện thơ chữ Nôm là Lưu Bình Dương Lễ, nàng Châu Long có răn chàng Lưu Bình hào hoa và lười học một câu: “Có vàng mà chẳng có tâm...”

Phải chi nàng biết tiếng Anh!

May ra mà nhờ đó Hoa Kỳ có thể học được vài điều về cách xử thế với các xứ khác. Nước Mỹ viện trợ rất nhiều cho thiên hạ. Thiên tai xảy ra nơi đâu là cũng thấy tầu Mỹ cùng dân Mỹ cung cấp phẩm vật cấp cứu. Hai cựu Tổng Thống George H. Bush và Bill Clinton đều như làm việc bán thời để đại diện nước Mỹ phối hợp những hoạt động cứu trợ này.

Nhưng, nhìn từ bên ngoài, nhiều người vẫn cho rằng nước Mỹ vô tâm.

Một thí dụ là khi Tổng Thống Ba Lan Lech Kaczynski cùng phu nhân Maria và ban tham mưu của ông bị tử nạn phi cơ hôm mùng 10 tại Liên Bang Nga, truyền thông Hoa Kỳ đều có loan tin. Rồi tập trung vào nỗi buồn của cộng đồng người Mỹ gốc Ba Lan. Tổ sư hùng biện trong tòa Bạch Cung là ông Barack Obama thì ra thông cáo chia buồn, với ngôn ngữ tẻ nhạt của công thức ngoại giao.

Cùng lúc ấy, Liên Bang Nga mở chiến dịch giao tế! Ồn ào, xúc động và cực kỳ huê dạng.

Lãnh tụ thật là Thủ Tướng Vladimir Putin thì đích thân điều khiển cuộc điều tra về tai nạn phi cơ. Tổng Thống Dmitri Medvedev thì lên truyền hình chia buồn và ban bố ngày đại tang tại Nga là 12 tháng 4. Thị trưởng Moscow là Yuri Lushkov thông báo biện pháp đặc biệt để gia đình các nạn nhân có thể dễ dàng di chuyển và ăn ở khi bay từ Ba Lan qua nhận diện thân nhân. Hộ chiếu hay thông hành gì cũng theo thủ tục khẩn cấp.

Cao điệu hơn thế, Ðoàn Thanh Niên Nashi của Nga, một lực lượng nổi tiếng là chống Ba Lan do điện Kremlin kiểm soát, thì mau mắn tổ chức việc đặt vòng hoa tưởng niệm và long trọng canh gác Tòa Ðại Sứ Ba Lan, nơi mà xưa kia họ vẫn biểu tình... chửi Ba Lan. Ðài truyền hình Rossjia thì chiếu phim “Katyn” của Ba Lan, kể lại chuyện dân Ba Lan bị tàn sát trong Thế Chiến II, mà lại cho chiếu vào giờ cao điểm hôm Chủ Nhật 11, tức là chỉ một ngày sau tai nạn. Nói chung, truyền thông Liên Bang Nga liên tục loan tin và hình ảnh về biến cố, nhất là hệ thống quốc doanh phát bằng tiếng Anh cho toàn thế giới là Russia Today.

Nước Nga ngày nay là một quốc gia văn minh tử tế, hết sức ân cần với quốc tang của Ba Lan.

Tổng Thống Kaczynski tử nạn khi tới nơi mà hơn hai vạn người Ba Lan đã bị Hồng quân Liên Xô tàn sát hồi Ðệ Nhị Thế Chiến và ông là lãnh tụ của phe quốc gia kịch liệt chống Nga. Việc Liên Bang Nga bày tỏ sự luyến tiếc với một tai nạn quá lớn của Ba Lan khiến ta nghĩ tới... Khổng Minh khi khóc Chu Du!

Trong khi ấy, Tổng thống Hoa Kỳ có một thượng đỉnh vĩ đại về võ khí Hạch Tâm với sự tham dự của 47 nguyên thủ quốc gia ngay tại thủ đô Washington trong các ngày 12 và 13. Thế giới quên ngay thượng đỉnh này mà chỉ theo dõi tang lễ của Ba Lan, với những trở ngại bất ngờ về núi lửa khiến tổng thống Mỹ và nhiều lãnh đạo Âu Châu không thể tới như đã dự trù.

Ðấy là lúc Liên Bang Nga độc diễn màn “vô cùng thương tiếc.”

Tai nạn máy bay đã loại bớt một đối thủ đáng gờm là ông Kaczynski và đảng bảo thủ của ông, để lại Thủ Tướng Donald Tusk thuộc cánh trung hữu, vốn dĩ ôn hòa hơn trong cách ứng xử với Liên Bang Nga. Sau khi giải quyết gọn - nội trong một ngày - vụ đảo chánh tại Kyrgyzstan hôm mùng bảy để lật đổ chính quyền thân Tây phương và thân Mỹ của Tổng Thống Kurmanbek Bakiyev, nước Nga bỗng được nhiều món quà lạ. Tổng Thống Kaczynsky tử nạn, núi lửa tại Iceland khiến tổng thống Mỹ không thể tới Ba Lan dự tang lễ và truyền thông Mỹ thì tập trung vào phong trào phản đối “Tea Party”... Phong trào này có gây bạo động hay không, câu hỏi quá quan trọng đến nỗi ông Clinton phải lên truyền hình và báo động...

Trong khi đó, Ba Lan lủi thủi tổ chức quốc táng và ngậm ngùi về sự thờ ơ của người Mỹ. Sau khi hứa hẹn bảo vệ Ba Lan bằng lá chắn chiến lược BMD, Hoa Kỳ bỗng đổi ý, nghĩ lại. Ở giữa một nước Nga đang tổng phản công và ra sức o bế và bên cạnh một nước Ðức sẵn sàng hợp tác với Nga, Ba Lan chỉ còn trông chờ vào Hoa Kỳ. Nhưng kỵ binh Mỹ đang bận.

Liên Bang Nga cũng bận. Kết hoa.

Hôm Thứ Sáu 16 vừa qua, phòng báo chí điện Kremlin của Tổng Thống Medvedev loan một cái tin mà truyền thông Mỹ cho là không đáng ghi. Trong hai ngày 27-28 tới đây, tổng thống Nga chính thức thăm viếng Ðan Mạch để đích thân đọc lời mừng ngày khánh hỷ của xứ này là lễ thọ bảy mươi tuổi của Nữ Hoàng Margaret Ðệ Nhị. Mừng sinh nhật Nữ hoàng thì có gì đáng nói!

Nhưng, nếu ta nhìn lại tấm bản đồ và cuốn lịch thì dường như Liên Bang Nga đang lên như diều gặp gió.

Sau khi tấn công Georgia rồi khuynh đảo Ukraine năm 2008, Thủ Tướng Putin liên tục tổng phản công để giành lại ảnh hưởng mà Liên Xô đã mất, và hay nhất là khỏi phải dùng chiến xa. Nước Nga đã nắm chắc xứ Belarus bên cạnh Ukraine, đang củng cố quan hệ với Cộng Hòa Liên Bang Ðức - 70% khí đốt dân Ðức tiêu thụ là do Nga cung cấp - với Pháp, với Turkey và còn ve vuốt Ba Lan thì Tổng Thống Kaczynski từ trần. Không chỉ dừng ở đó, Nga tiến dần đến việc trung lập hóa ba nước Cộng Hòa Baltic ở phía Bắc, là Latvia, Lithuania và Estonia và đã đóng xong cái chốt ở Trung Á qua chuyện Kyrgyzstan đổi chủ.

Cuộc Cách Mạng Hoa Tulip (uất kim hương) do Hoa Kỳ yểm trợ tại xứ này vào năm 2005 coi như bị đẩy lui. Liên Bang Nga xẻ ba thung lũng Ðại Uyển (Fergana Valley) cho xứ Uzbekistan ở dưới, Tajiskistan ở cửa vào và nay có thể chế ngự ở trên với một chính quyền Kyrgyzstan thân Nga. Từ trên rặng Thiên Sơn của xứ Kyrgyzstan này, Nga còn ngó qua Trung Quốc và khu Tự trị của dân Uighurs tại Tân Cương... Nhìn vào bản đồ thì ta thấy chóng mặt. Căn cứ Không Quân Manas của Mỹ tại xứ Kyrgyzstan bỗng như con cá nằm trong rọ.

Bây giờ đến lúc Tổng Thống Medvedev đem hoa đi tặng Nữ hoàng Ðan Mạch, dù ngày sinh nhật bảy mươi của bà đã qua rồi, vào Thứ Sáu 16 quần qua. Có hề chi!

Vương quốc Ðan Mạch giữ một ví trí địa dư chiến lược cho Ðông Âu và Bắc Âu vì kiểm soát luồng vận chuyển hàng hải từ North Sea vào biển Baltic. Ðan Mạch còn là thành viên của Âu Châu từ năm 1973, là đồng minh của Mỹ trong Minh Ước Phòng Thủ NATO và đã gửi quân yểm trợ Hoa Kỳ cho chiến trường Afghanistan - và cả chiến trường Iraq trước đây. Nguyên thủ tướng Ðan Mạch là Anders Fogh Rasmussen hiện đang là tổng thư ký NATO, do sự vận động của Mỹ. Ðan Mạch rất gần Hoa Kỳ ở xa mà vì địa dư quá gần, lại rất nghi ngờ Liên Xô hay Liên Bang Nga.

Vậy mà Liên Bang Nga vẫn không ngại ngùng hay tỵ kiềm gì nỗi ác cảm ấy. Trong bốn tháng qua, Thủ Tướng Putin đã ba lần gặp lãnh đạo của Ðan Mạch, và hôm 16 vừa qua còn thông báo một dự án năng lượng của Tổng công ty khí đốt Gazprom với tổ hợp quốc doanh Ðan Mạch là DONG Energy. Cho nên, khi Tổng Thống Medvedev ôm hoa đi mừng sinh nhật Nữ Hoàng Margaret II thì ta hiểu rằng đòn o bế của Nga là một màn trình diễn bất tận vô cương.

Trong hoàn cảnh ấy, người ta mới thấy tiếc sự vắng bóng của Hoa Kỳ.

Khi quý độc giả còn đọc bài này trên cột báo Người Việt thì chắc chắn là giới chức an ninh và ngoại giao Hoa Kỳ đã biết gấp trăm gấp ngàn. Và cũng biết rằng Nga dâng hoa giả sau khi đã bành trướng được thế lực thực tế. Dân Ba Lan cũng biết vậy, có lẽ dân Ðan Mạch cũng thế. Nhưng, với nhận thức chung của thế giới, rõ ràng là lãnh đạo Liên Bang Nga có bày tỏ thiện chí. Trong khi ấy, Hoa Kỳ vẫn cứ lạnh tanh. Lãnh đạo xứ này có những ưu tiên khác.

Vì vậy mới mang tiếng là vô tâm vô tình. Phải chi nàng Châu Long biết hát tiếng Anh!
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »

Image

TEXAS RA NGHỊ QUYẾT CẤM TREO CỜ VC
Tiểu Bang Texas đã ra nghị quyết cấm các trường học treo cờ máu VC mà phải treo lá CỜ VÀNG của Việt Nam Tự Do.

Nghị Quyết HCR258 Khuyến Cáo Trường Ðại Học Houston Và Các Trường Ðại Học Tại Tiểu BangTexas Trong Việc Cấm Treo Cờ Ðỏ Tại Trường Ðã Ðược Thông Qua.

Thay Mặt Cộng Ðồng Việt Nam Tại Hoa kỳ VAC-USA, Ủy Ban Hạ Cờ Ðỏ tại UH và Ðại Diện gia đình phụ huynh con em đang theo học tại University of Houston xin chân thành cảm ơn Dân Biểu Hubert Võ đã sốt sắng hỗ trợ mạnh mẽ và cương quyết cho Ủy Ban Hạ Cờ Ðỏ của VC tại UH trong những ngày tháng qua trên quyết tâm Hạ Cờ Ðỏ cuả VC tại UH.

Vào lúc 3 giờ 15 ngày thứ năm 22 tháng 5 năm 2009, Dân biểu Hubert Võ đã cho chúng tôi biết là Ðại diện cuả UH hứa sẽ hạ cờ đỏ tại UH vào ngày thứ ba 26 tháng 5 năm năm 2009 với điều kiện là Dân Biểu Hubert Võ hãy thu hồi lại nghị quyết cấm treo cờ đỏ tại các trường Ðại Học. Dân Biểu Hubert Võ đã trả lời cho ông Ðại diện UH rằng nghị quyết này sẽ áp dụng trên toàn trường Ðại Học tại Texas chứ không riêng gì tại UH.

Khi chúng tôi xuống UH Center vào ngày thứ Ba thì cờ đỏ vẫn chưa hạ nhưng lại có cờ Vàng treo lên. Chúng tôi đã thấy ngay âm mưu cuả bọn CS nằm vùng quyết ăn thua đủ trong việc Hạ Cờ Ðỏ tại UH. Tôi gọi ngay cho Bân Biểu Hubert Võ và sau khi Dân Biểu Hubert Võ gọi cho trường UH thì Ban Giám Ðốc cho biết đã có chỉ thị hạ cờ đỏ nhưng chưa biết schedule ngày nào.

Hôm nay qua nghị quyết HCR258 của Dân Biểu Hubert Võ đệ trình và với trong một thời gian kỷ lục 7 ngày nghị quyết HCR258 đã được thông qua cả thượng viện và hạ viện.

HCR258 là nghị quyết luật pháp khuyến cáo các trường Ðại Học Houston (University of Houston) và tất cả các trường đại học tại tiểu bang Texas phải treo cờ Vàng là biểu tượng của người Việt Quốc gia đại diện cho Cộng Ðồng Người Việt Tỵ Nạn CS tại Texas chứ KHÔNG ÐƯỢC TREO CỜ ÐỎ CỦA VC nữa.

Ðược biết nghị quyết HCR258 cuả dân biểu Hubert Võ đã được thông qua vào lúc 8 giờ 05 phút tối hôm qua ngày 30 tháng 5 năm 2009.
Theo Dân biểu Hubert Võ, Cộng Ðồng VN tại Austin hiện giờ (Tối Chủ nhật) đã đem thức ăn vào cảm ơn các nghị sĩ dân biểu cuả TB Texas vừa passed nghị quyết HCR258.

Sự đấu tranh và sự quyết tâm cuả người Việt tỵ nạn CS tại Houston trong việc Hạ Cờ Ðỏ tại Ðại Học Houston là một bài học cho những ai chưa tin vào sự phẫn nộ đồng loạt của đồng hương trước những âm mưu đen tối trong những sự việc đi ngược lại nguyện vọng của người dân. Ðây cũng lại là một bài học đích đáng cho những tên Việt gian đang làm tay sai cho CS tại thành phố này.

Một lần nữa chúng tôi xin thay mặt Ủy Ban Hạ Cờ Ðỏ tại UH, Gia Ðình Phụ Huynh Con em đang theo học tại UH và Cộng Ðồng VN tại Hoa Kỳ xin ca ngợi Tinh Thần Phục Vụ của Dân Biểu Hubert Võ trên quyết tâm không chấp nhận Cờ Ðỏ treo chung với cờ Vàng, cũng như xin thành kính tri ân Dân Biểu Hubert Võ đã thực sự đáp ứng được nguyện Vọng của người Dân.

Thay Mặt Ủy Ban Hạ Cờ Ðỏ :
Ông Nguyễn Toàn Vẹn - Chủ Tịch
Ông Ðỗ Quảng - Cố Vấn
Cựu Ðại Tá Nguyễn văn Nam - Yểm Trợ
Ông Lưu Quý Tùng - Vận động.
Bà Tôn Nữ Hoàng Hoa - Ngoại giao
Thay mặt Cộng Ðồng VN tại Hoa Kỳ VACUSA
Tôn Nữ Hoàng Hoa
Chủ Tịch Hội Ðồng Ðiều Hành

H.C.R. No. 258 CONCURRENT RESOLUTION
WHEREAS, The display of the flag of the Socialist Republic of Vietnam on the central campus of the University of Houston, as well as on other campuses of higher learning, has caused great distress to many members of the Vietnamese American community; and
WHEREAS, This flag, which features a yellow star on a red background, was first adopted by the Indochinese Communist Party in the mid-20th century; it represents a source of anguish to countless people who fled to the United States as a welcoming haven of liberty and tolerance; to these esteemed citizens, the display of this flag is interpreted as a lack of respect for their historic struggles; and
WHEREAS, In contrast, the Freedom and Heritage Flag symbolizes both the Vietnamese cultural heritage and a deeply rooted resilience and yearning for democracy; this flag, which bears three red stripes on a background of golden yellow, was flown for the first time at a ceremony marking the official recognition by France of Vietnamese unity and independence; and
WHEREAS, The University of Houston and other institutions of higher learning can express their respect for Vietnamese American culture and their support for the ideals of liberty and democracy by replacing the flag of the Socialist Republic of Vietnam with the Freedom and Heritage Flag; now, therefore, be it
RESOLVED, That the 81st Legislature of the State of Texas hereby urge the University of Houston and other institutions of higher education to cease displaying the red flag of the Socialist Republic of Vietnam and to instead fly the golden yellow Freedom and Heritage Flag that has been embraced by the Vietnamese American community; and, be it further RESOLVED, That the secretary of state forward an official copy of this resolution to the commissioner of higher education as an expression of the sentiment of the house of representatives and senate.
caolynh
Posts: 317
Joined: Wed Dec 17, 2008 7:21 pm
Contact:

Post by caolynh »


Image

35 Năm Nhìn Lại Con Người Việt Nam

Nam Dao
Mẹ tôi đã ngoài 90 tuổi. Ở cái tuổi gần đất xa trời, giống như tất cả mọi người, trí nhớ của mẹ tôi rất kém. Dẫu quên rất nhiều nhưng chỉ có 3 điều mà cụ bà đã kể cho tôi cách đây 40 năm vẫn còn như in trong óc cụ. Mới cách đây một tuần sự lập lại ba câu chuyện nọ cho tôi nghe là một chỉ dấu cho thấy ảnh hưởng của nó trong cuộc đời cụ sâu đậm đến nỗi thời gian vẫn chưa xóa nhòa được trong tâm người.

Trong ngày tưởng niệm 35 năm Quốc Hận 30/4/2010 năm nay, trước biết bao đổi thay về xã hội lẫn con người VN thời nay, ba câu chuyện mẹ vừa kể đã giúp tôi mường tượng được phần nào bức tranh xã hội VN và con người VN thời trước để suy ngẫm về nguyên nhân nào đã dẫn đến sự thoái hóa của xã hội và con người VN thời nay, về chính sách 100 năm trồng người của Hồ Chí Minh và những hậu qủa của nó trên quê hương VN.

Câu chuyện đầu tiên nói về nạn đói năm Ất Dậu đưa đến hơn triệu cái chết. Tại làng mẹ tôi, sáng nào cũng có ít nhất hai chiếc xe thổ mộ đi nhặt xác người chết đói dọc đường. Mẹ tôi không bao giờ quên được hình ảnh một bà mẹ sáng nào cũng nấu sẵn một nồi cháo trắng để múc cho những người đói khát đi ngang qua nhà bà. Đoàn người tuần tự xếp hàng, không giành giật, không cãi vã, nối đuôi nhau kiên nhẫn chờ tới phiên mình để nhận được một muôi cháo trắng. Và điểm đặc thù của dân làng này là cho dù cả làng đang ở trong tình trạng đói khát, nhưng dân làng không nỡ quay mặt làm ngơ trước những trẻ thơ nằm lả trên vỉa hè bên cạnh xác mẹ cha vừa mới chết vì đói.

Câu chuyện trên cho tôi nhìn thấy một điều là, dẫu dân làng đang ở trong hoàn cảnh đói khát sống qua ngày nhưng trái tim nhân bản của người dân Việt thời đó vẫn còn đầy, còn biết động lòng thương người nên mới nhịn chút phần ăn của mình để cứu vớt các em bé vừa mồ côi đang hấp hối dọc đường. Giờ đây, trong bối cảnh xa hoa phù phiếm của xã hội VN thời nay, lại xảy ra hiện tượng những con người VN đi lùng các trẻ mồ côi sống lây lất đầu đường xó chợ đem về làm “con nuôi”. Họ nhẫn tâm bẻ tay chân hay đâm mù mắt các em rồi bắt các em đi ăn mày đem tiền về nuôi họ sống trên sự tàn phế về xác thân lẫn tương lai đời các em! Đó là còn chưa kể tới những dịch vụ ăn mày mà trong đó những người mẹ ăn mày chuyên nghiệp tìm mướn những trẻ thơ con nhà nghèo, thản nhiên đày đọa các em trong mưa gió để khơi dậy lòng trắc ẩn du khách qua đường hầu xin được nhiều tiền. Đã có những bé bị chết vì sưng phổi sau vài ngày bị “mẹ hờ” địu trên lưng dầm mưa dãi nắng. Trẻ nào may mắn sống sót khi lớn lên nếu hên hơn thì sẽ tìm được công ăn việc làm nơi các hãng xưởng. Đa số thường bị các chủ nhân ông bóc lột sức lao động, hành hạ như nô lệ trước sự im lặng đồng lõa cuả nhà nước Cộng sản Việt Nam . Tuy nhiên thân phận những trẻ nói trên còn tốt số hơn những em khác bị các dịch vụ buôn người đem các em đi bán làm nô lệ tình dục nơi xứ người. Những hiện tượng dùng trẻ thơ như một phương tiện làm giàu phải chăng là kết qủa của chính sách 100 năm trồng người của Hồ Chí Minh mà qua đó nền giáo dục Xã hội Chủ nghiã Việt Nam đã hủy diệt lần mòn những mầm thiện và tình bác ái trong con người VN?

Câu chuyện thứ hai liên quan đến cung cách sống của người dân nghèo dưới thời bị trị hà khắc của thực dân Pháp. Có những người dân trong làng nghèo đến độ cả gia đình đều phải đóng khố chuối và chỉ mua được một chiếc quần để dành cho cả gia đình dùng chung khi có ai cần ra tỉnh hay lên huyện. Cho dù nghèo đến mấy đi chăng nữa nhưng lại ít xảy ra cảnh cha mẹ bán con, hoặc con gái tự bán mình để đổi lấy vật chất xa hoa phù phiếm.

Phong cách con người VN thời chưa bị Cộng sản nhuộm đỏ như thế đó. Dẫu sống trong hoàn cảnh túng quẫn thiếu vải che thân như “Trần Minh khố chuối”, nhưng dân làng vẫn cố “giấy rách phải giữ lấy lề”. Thời nay, những từ như “ tư cách, tự trọng” có lẽ ngày càng trở nên xa lạ nơi "thiên đường Xã hội Chủ nghiã VN" đầy rẫy những lừa lọc, bon chen đua đòi hưởng thụ vật chất. Hiện tượng hàng trăm cô dâu VN đứng trần như nhộng để cho đàn ông ngoại quốc sờ ngắm mua về vừa làm vợ và con ở đã trở thành chuyện bình thường. Sau khi xài thử nếu không vừa ý thì khách được quyền đổi lấy cô khác. Món hàng phụ nữ Việt qủa rẽ mạt và thua xa giá trị của cái tủ lạnh bán ngoài cửa hàng mà người mua dù không thích cũng không được quyền trả lại sau khi đã dùng nó. Khi phụ nữ VN thời nay chấp nhận làm món hàng đem rao bán, khi người chồng coi chuyện chở vợ mình đi làm nghề bia ôm, cũng như khi các nữ sinh, sinh viên hành nghề gái gọi, v.v... thì hẳn nhiên đạo đức sẽ không còn chỗ đứng để nhường bước cho sự sa đọa đang đẩy xã hội VN ngày càng chìm sâu dưới vực thẳm tội lỗi.

Câu chuyện thứ ba là câu chuyện duy nhất mỗi lần kể lại giọng mẹ tôi run lên vì xúc động: Khi cuộc chiến giữa Pháp và các đảng phái quốc gia diễn ra ác liệt ở Hà thành, bố mẹ tôi đã trốn về quê lánh nạn và tạm trú ở nhà một đứa cháu trai. Trong suốt thời gian ở đó, ban ngày cậu ta uống rượu say mèm chờ mỗi khi chiều xuống thì xách mã tấu ra khỏi nhà và chỉ trở về lúc trời tờ mờ sáng. Thấy hành động quái dị của đứa cháu kéo dài liên tục cả tháng, ba tôi thắc mắc gạn hỏi mãi nhưng cậu ta vẫn không chịu mở miệng. Cho tới một hôm có lẽ vì men say nên đứa cháu mới khóc tiết lộ cho biết là bọn Việt Minh (tiền thân của đảng Cộng sản Việt Nam) đã ra lệnh cho cậu ta nếu muốn cha mẹ vợ con sống, thì khi màn đêm xuống phải đem những đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng ra giữa dòng sông chém đầu rồi vứt xác xuống sông để phi tang. Mỗi đêm ít nhất có khoảng một chục đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng bị hành quyết trên dòng sông. Và đó là lý do tại sao tên “đao phủ bất đắc dĩ” phải uống rượu cho say mèm trước khi đi . Đứa cháu nói với ba tôi rằng bọn Việt Minh rất tàn ác dã man không thể ở được với bọn chúng. Ba mẹ tôi nên tìm đường trốn vào Nam. Đứa cháu không trốn được vì sợ Việt Minh chặt đầu cả gia đình. Chỉ nội trong vòng một tháng kể từ ngày được cháu tiết lộ bí mật về tội ác tầy trời của Cộng sản Việt Nam (CSVN), bố mẹ tôi đã lấy quyết định “bỏ của chạy lấy người” di cư vào Nam năm 1954, bỏ lại sau lưng tài sản, quê hương và hình ảnh những cuộc đấu tố cải cách ruộng đất hãi hùng đã xảy ra cho người quen của mình ...

Câu chuyện trên vẫn chỉ là một trong hàng nghìn bằng chứng khác xác nhận sự thật lịch sử tội ác CSVN, lột trần bản chất gian xảo thâm độc của những con người ác đã tiêu diệt hầu hết các đảng phái quốc gia đã từng là đồng minh của họ, cũng như dân tộc VN sẽ không bao giờ tha thứ tội ác tầy trời của Hồ Chí Minh đã nhẫn tâm bán đứng nhà ái quốc Phan Bội Châu cho Pháp để cướp công kháng chiến chống thực dân Pháp. Khi lương tâm không có chỗ đứng trong con tim lãnh đạo CSVN, những hành động bán nước buôn dân để thủ lợi tất không tránh khỏi. Đất đai, hải đảo của tổ tiên, Ải Nam Quan - niềm hãnh diện của lịch sử Tiên Rồng - lãnh đạo CSVN còn dám đem dâng cho Tầu cộng để trả ơn cho đàn anh đã giúp họ có được ngày 30/4/1975 thì sá gì mạng dân đối với họ chỉ là một món hàng nô lệ béo bở tha hồ khai thác làm giàu trên sự khổ đau nhục nhã của dân tộc. Một quốc gia được điều hành bởi những kẻ lãnh đạo gian ác sẽ là môi trường lý tưởng cho sự phát triển ác tính trong con người dẫn đến bao thảm nạn cho quê hương dân tộc.

35 năm! Một phần ba đoạn đường “100 năm Trồng Người” của Hồ Chí Minh! CSVN đã trồng được những con người nào trên quê hương VN ? Chỉ cần nghe ngôn ngữ thời nay là hiểu ngay thực tại đất nước và đạo đức con người VN thời nay đang đi về đâu: Nhìn đểu, khóc đểu, hàng đểu, đá đểu, yêu đểu, chơi đểu, xin đểu, bằng đểu, rượu đểu, người đểu, nhà trường đểu, v.v... Và khi những từ như “Nhà cầm quyền đểu, nhà nước đểu, lãnh đạo đểu, dân chủ đểu...” đã trở thành câu chuyện đầu môi lưu truyền trong dân gian thì lời nhận xét đất nước VN đang ở trong thời kỳ Đồ Đểu quả thật không ngoa chút nào ! Ôi! Nghe qua ngậm ngùi cay đắng làm sao!!

Trong ngày tưởng niệm 35 năm Quốc Hận 30/4/2010 năm nay, nhìn lại đất nước và con người Việt Nam đang ngụp lặn trong thế giới Đồ Đểu với thòng lọng Trung Cộng ngày càng “xiết đểu” họng dân tộc, là con dân nước Việt tất phải đau lòng uất hận. Muốn chấm dứt nền “dân chủ đểu” thì “lãnh đạo đểu” phải ra đi. Những nỗ lực đấu tranh theo kiểu hòa giải hòa hợp với “chế độ đểu” cũng vẫn chỉ là “đấu tranh đểu” mà thôi. Trong cuộc chiến chống lại cái ác ngày càng lan rộng trên quê hương VN, vũ khí duy nhất để chiến thắng cái ác là vung gươm trí tuệ nhân bản và hành động thánh thiện làm gương mở đường cho lương tâm và lòng nhân ái bừng tỉnh trong mỗi con người VN. Khi nào người biết thương người thì những dòng nước mắt nhục nhằn khổ đau sẽ ngưng chảy trên những tuổi đời bất hạnh VN. Thời kỳ Đồ Đểu rồi sẽ qua nhanh, nhường bước cho thời đại hoàng kim ấm áp tình người và niềm tự hào dân tộc.

Adelaide 27/4/2010
Nam Dao
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Image


Tuyên bố của nhà báo Bùi Tín nhân ngày 30-4-2010
Bùi Tín viết riêng cho VOA Thứ Năm, 29 tháng 4 2010

Gần đây Bộ Tổng tham mưu Quân đội Nhân dân ở Hà Nội đã mở hội nghị để viết lại tài liệu lịch sử về ngày 30-4-1975, với ý định được tuyên bố là «thuật lại thật chính xác những gì đã xảy ra trong ngày hôm ấy tại Dinh Độc lập giữa Sài Gòn»’.

Thật đáng tiếc là tài liệu được tạo nên có một số điều sai sự thật.

Là một người chứng kiến tại chỗ, tôi buộc lòng phải lên tiếng, không hề vì động cơ cá nhân.

Tôi giữ thái độ trung thực, tôn trọng sự thật đúng như nó có, không tô vẽ gì thêm - không tự vẽ thêm râu ria - cũng không để ai khác nhận vơ những điều chính tôi đã phát biểu.

Trong tài liệu nói trên của Bộ Tổng tham mưu, không hề nói gì đến chuyện tôi, Bùi Tín, lúc ấy là Thượng tá QĐND, cũng là cán bộ cao cấp duy nhất chứng kiến sự đầu hàng của nội các Dương Văn Minh vào buổi trưa và xế chiều ngày 30-4-1975 tại «Dinh Độc Lập».

Tôi không hề mảy may có ý tranh dành tiếng tăm hay vinh dự gì trong thời điểm lịch sử này.

Biết bao liệt sỹ của 2 bên đã nằm xuống, trong đó có nhiều bạn thân, đồng đội, anh em, con cháu trong dòng họ của tôi. Việc tranh dành công trạng là điều tôi coi là xấu xa đáng sỉ nhục.

Nhưng lịch sử là lịch sử. Sự thật lịch sử cần tôn trọng tuyệt đối. Nói sai lịch sử về một số chi tiết có thể gây nghi ngờ về nhiều điều lớn hơn.

Do có những nhận định mang tính chất bôi xấu, vu cáo là tôi đã tự nhận là người nhận đầu hàng của tướng Dương Văn Minh, thậm chí cho là tôi không hề có mặt ngày 30-4 ở Dinh Độc Lập, nên tôi thấy cần nói rõ sự thật chân thực là như sau:

-Tôi đến Dinh Độc lập cùng Trung tá Nguyễn Trần Thiết - phóng viên ban biên tập quân sự của báo QĐND - lúc 12 giờ rưỡi trưa ngày 30-4-1975, sau khi đoàn cơ giới của Lữ đoàn xe tăng 202 của Quân đoàn 2 đột nhập vào trong sân;

-Tôi và Trung tá Thiết ra ngoài cổng Dinh hỏi chuyện vài thanh niên cưỡi xe gắn máy đang tò mò xúm quanh mấy xe tăng, rồi vội vào cùng đi khắp các tầng, các phòng của dinh Độc Lập. Xong chúng tôi tìm ngay chỗ ngồi viết bài tường thuật để gửi gấp về Hà Nội, vì biết rằng ngoài tòa soạn đang mong chờ cho số báo in ngay tối nay.

-Tôi đang viết bài thì Trung tá Bùi Văn Tùng, chính ủy Lữ đoàn 202 và Trung tá Nguyễn Văn Hân, trưởng Ban Bảo vệ của Quân đoàn 2, cùng đến yêu cầu tôi vào gặp nội các Dương Văn Minh. Tôi từ chối việc này, vì tôi không được giao trách nhiệm, lại đang chăm chú lo viết bài báo. Tôi trả lời 2 trung tá: «Các anh nên đưa 1, 2 người ra đài phát thanh để công bố tin toàn thắng đi, nên làm gấp để cả nước và thế giới biết». Sau này gặp lại anh Tùng, tôi mới biết 2 anh trung tá ấy cùng nghĩ rằng cấp trung tá chỉ là cán bộ trung cấp, nên việc làm không đủ giá trị theo quân phong quân kỷ. Họ cần ý kiến một cán bộ cao cấp, mà lúc ấy không có một ai khác là tôi, họ biết tôi là cấp thượng tá, là phó tổng biên tập báo QĐND.

[Cần nói rõ thêm để các bạn ở ngoài quân đội biết là giữa Trung tá và Thượng tá là khác không chỉ một cấp, mà khác hẳn một bậc. Cán bộ sơ cấp từ Thiếu uý lên Đại úy là bậc Sơ cấp, từ Thiếu tá và Trung tá là bậc Trung cấp, từ Thượng tá lên cấp Tướng là bậc Cao cấp. Phân biệt 3 cấp ấy rất rõ, khác hẳn nhau, từ bếp ăn, phòng ngủ, nhà ở, quân phục, tiền lương, sổ mua hàng, lớp học, trường học, hội nghị, tài liệu đều phân biệt rõ.]

Ngay sau đó, Trung tá Bùi Văn Tùng đưa ông Minh ra Đài phát thanh Sài Gòn để loan tin đầu hàng trong vòng nửa tiếng rồi cùng trở về dinh Độc Lập, chờ cấp trên vào; họ chờ nhất là Thiếu tướng Nguyễn Hữu An, Tư lệnh Quân đoàn II. Tôi cũng đã viết gần xong bài báo. Tôi còn nhớ Trung tá Thiết mở hộc bàn giấy của tổng thống lấy ra tờ giấy cứng in Thực đơn của Tổng thống trưa 30-4-1975, trên đó có 2 món chính là: «gân bò hầm sâm» và «cá thu kho mía», đưa cho tôi xem để ghi thêm trong bài báo cho sinh động.

Hai Trung tá Tùng và Hân lại khẩn khoản nói với tôi: họ đang ngồi chờ trong kia, chừng 30 người, các ông tướng chưa ai vô, anh vào gặp họ đi, để họ chờ lâu không tiện.

Anh Thiết bàn với tôi: «Anh vào gặp họ đi, ta cùng vào rồi sẽ viết thêm vài chi tiết, sau ta sẽ vào trại Davis – Tân Sơn Nhất, nhờ tổ thông tin đánh bài báo ra Tổng cục chính trị».

Trung tá Hân dẫn 2 chúng tôi vào phòng họp lớn. Anh Hân, trên cương vị trưởng ban bảo vệ Quân đoàn hiện là người sắp xếp trật tự của dinh Độc Lập. Anh vào trước, báo tin: «Tất cả đứng dậy! Sắp có một cán bộ cao cấp QĐND vào gặp các ông!»

Tôi và anh Thiết bước vào. Phòng khách rộng lớn, ghế ngồi lót dạ đỏ, trên bàn có những cốc nước và mấy hộp hạt đào lộn hột. Anh Thiết ghi tên suốt lượt cả 28 người có mặt, từ các ông Dương Văn Minh, Vũ Văn Mẫu, Nguyễn Văn Huyền đến các ông Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Hữu Có, Bùi Tường Chiểu, Nguyễn Hữu Hạnh, Bùi Hòe Thực, ông Diệp, ông Trường v...v...

Vừa lúc ấy, Trung tá Hân đón tổ quay phim Quân giải phóng (có 2 người) vào. Ông Minh bước tới trước, nói chậm rải:-«Thưa quý ông! Chúng tôi chờ quý ông từ buổi sáng đặng chuyển giao chính quyền».

Tôi đáp ngay: «Các ông còn có gì mà bàn giao; không thể bàn giao khi trong tay không còn có gì!»

Tôi không nói gì đến chuyện đầu hàng vì 2 Trung tá Tùng và Hân đã cho tôi biết ông Minh vừa tuyên bố đầu hàng ở đài phát thanh. Ý tôi muốn nói là không thể có chuyện bàn giao chính quyền, vì tình hình đã ngả ngũ xong xuôi.

Tôi thấy các ông Minh, Mẫu, Huyền, Hảo, Có …đều buồn. Ông Minh cúi hẳn đầu, tôi thấy cằm ông lún phún râu, đường gân 2 bên má co giật nhẹ. Tôi liền an ủi: «Hôm nay là ngày vui. Hòa bình đã đến. Cuộc chiến tranh đã kết thúc. Chỉ có người Mỹ là thua. Tất cả người Việt nam ta là người chiến thắng».

Tôi thấy một số vị gật gật đầu, ông Mẫu nở nụ cười vui vẻ, tán đồng. Tôi liền thêm: «Bất cứ ai có tinh thần dân tộc đều có thể coi ngày hôm nay là ngày vui lớn của mình».

Sau đó tôi mời mọi người ngồi, uống nước, trò chuyện thân mật. Tôi hỏi chuyện ông Minh, sức khỏe ra sao, ngày ông chơi mấy «sét» tennis ? Collection phong lan của ông có bao nhiêu giò rồi? có những loại hiếm quý nào? Ông trả lời hết, vui vẻ, tự nhiên …

Tôi quay sang ông Mẫu hỏi ông từ giã miền Bắc từ hồi nào? Ông còn nhớ gì về vùng quê Chèm Vẽ…nay Cầu lớn Thăng Long qua gần đấy; tôi hỏi về trường Luật ông đang dạy, tôi cũng hỏi ông: Sao tóc ông đẹp, dài vậy, tôi nghe có hồi ông cắt tó phản đối chính quyền ? ông cười, đó là chuyện 2 năm trước, ông luôn mê say với sinh viên trẻ ngành Luật…

Một lát sau, ông Nguyễn Văn Hảo yêu cầu gặp riêng tôi. Tôi cùng ông ngồi cạnh chiếc bàn con bên cửa sổ lớn nhìn xuống sân trước, ông nói: «Tôi là Nguyễn Văn Hảo, giáo sư, phó thủ tướng đặc trách kinh tế, xin báo với riêng ông một tin quan trọng: bọn này đã giữ lại trong kho Ngân khố quốc gia hơn 16 tấn vàng, không cho họ mang ra khỏi nước, mong quý ông báo ra Hà Nội cho người vô nhận…»

Tôi hỏi kỹ lại và tối đó tôi điện ngay cho Thiếu tướng Lê Quang Đạo phó Chủ nhiệm Tổng cục chính trị. Ngày 2-5-1975 Hà Nội cho chuyên cơ IL 18 vào Sàigòn nhận đủ hơn 16 tấn vàng ấy.

Đêm ấy, tôi gửi bài báo «Sài Gòn 30-4: Trong ánh chớp của lịch sử» in trên số báo QĐND ra sáng 1-5-1975, do tổ thông tin của Đoàn đại biểu Mặt trận Giải phóng trong Ban Liên hợp 2 bên trong trại Davis – Tân Sơn Nhất chuyển bằng tín hiệu morse. Đây là bài báo duy nhất gửi được từ Sài Gòn, vì bưu điện bị đóng cửa liền 2 ngày. Fax, điện thoại viễn liên, điện báo đều tắc. Do chuyển bằng morse, tên 2 món trong thực đơn của tổng thống bị sai, «cá thu kho mía» thành «cá thu kho giá» và «gân bò hầm sâm» thành «gan bò hầm sâm»!

Sáng 1-5 tôi gặp các phóng viên Boris Galash (Tây Đức) và Tiziano Terzani (Ý) và nhận chuyển giúp 2 bài báo ngày 30-4 của họ qua con đường Thông tấn xã Viêt Nam ở Hà Nội. Họ mừng rỡ vô cùng vì đó là điều họ lo, sốt ruột nhất. Bài báo đến được Berlin, Bonn và Roma.

Những sự việc trên đây tôi ghi lại thật đúng với thực tế lịch sử.

Trong tài liệu chính thức của bộ Tổng tham mưu, các câu nói của tôi trên đây được đặt trong miệngTrung tá Bùi Văn Tùng (!). Tôi khá thân với anh Tùng, từng ghé thăm 2 vợ chồng anh. Tôi tin là anh Tùng sẽ có thể đến lúc không ngại gì nói rõ sự thật đầy đủ.

Có những nhân chứng còn sống, về những lời nói của tôi trưa hôm ấy, như các ông Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Hữu Có, Nguyễn Hữu Hạnh, các ông Diệp, Trường (tôi không nhớ họ)… cũng như tổ phim Giải phóng hay nhà báo Nguyễn Trần Thiết rất ngay thật thẳng tính.

Sự thật là hoàn cảnh ngẫu nhiên đưa đẩy để tôi là cán bộ cấp cao duy nhất của QĐND có mặt tại dinh Độc Lập trong khoảng thời gian từ 12 giờ đến 16 giờ chiều 30-4-1975 để chứng kiến và chút ít tham gia sự kiện lịch sử này.

Vị tướng đầu tiên tôi gặp lúc đã xế chiều ở Dinh Độc lập là Thiếu tướng Nam Long, phái viên của bộ Tổng tham mưu, tôi cùng tướng Nam Long chụp chung ảnh kỷ niệm. Tối mịt Thiếu tướng Nguyễn Hữu An mới đến, khi quanh sân anh em nổi lửa nấu cơm, mỳ ăn liền.

Sở dĩ một số báo nước ngoài cứ nói phóng lên là tôi là người nhận đầu hàng của tướng Minh là vì tướng Trần Văn Trà chủ tịch ủy ban Quân quản Sài Gòn hồi tháng 9-1975 có lần giới thiệu tôi với các nhà báo Nhật, Pháp, Thái lan, Hoa Kỳ … rằng : đây là nhà báo, sỹ quan cao cấp nhất chứng kiến sự đầu hàng của chính quyền Sài Gòn. Rõ ràng «chứng kiến » và «nhận» là 2 điều khác nhau.

Hồi 1989, khi tôi đưa nhà báo Mỹ Stanley Karnow đến gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại nhà khách chính phủ (đường Ngô Quyền), ông Giáp giới thiệu với S. Karnow: Đại tá Bùi Tín là sỹ quan cao cấp nhất có mặt ở Dinh Độc Lập khi chính quyền của tướng Minh đầu hàng.

Từ đó, có thể có người hiểu sai, hiểu lầm cho rằng tôi là người nhận đầu hàng. Cũng có thể có người hiểu sai, cho rằng khi tôi nói «không còn gì để bàn giao» thì cũng có nghĩa là tôi đòi họ phải đầu hàng tôi!

Đã có bài báo tiếng Việt ở Pháp bịa ra rằng: Bùi Tín rút súng chĩa vào nội các Dương Văn Minh, hét mọi người phải giơ tay đầu hàng, rồi bắn loạn xạ lên trời để thị uy, làm phách…!

Tôi không bao giờ nhận một điều gì không phải của mình, không do mình làm.

Hơn nữa, sự có mặt của tôi ngày 30-4 -1975 ở Sài Gòn với hy vọng hòa giải và hòa hợp dân tộc trọn vẹn đã sớm tan thành mây khỏi, với chính sách thực tế của lãnh đạo CS là chiếm đóng, trả thù, đày đọa các viên chức, binh sỹ, đồng bào ruột thịt ở miền Nam, tịch thu quyền sống tự do, có nhân phẩm, nhân quyền của nhân dân cả nước suốt 35 năm nay. Gần 20 năm nay họ để cho bọn bành trướng uy hiếp, mua chuộc, để chúng lấn đất, lấn biển, lấn đảo, giết hại ngư dân ta…

Do tình hình đất nước nguy kịch như thế, đã 20 năm nay, tôi chỉ một điều tâm niệm là góp hết sức thực hiện đoàn kết thống nhất dân tộc, cùng toàn dân đấu tranh dành lại các quyền tự do dân chủ bị một chế độ độc đảng toàn trị tước đoạt hơn nửa thế kỷ nay.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Thế hệ những người 35 tuổi

Ngô Nhân Dụng

Image
Năm 1922, Phan Châu Trinh viết một lá thư cho Nguyễn Tất Thành, khuyên ông ta nên theo chủ trương “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” như cụ Tây Hồ vẫn cổ võ. Cụ Phan viết, “đừng có dùng cái lối nương náu ngoại bang để rung chuông gõ trống...” Trong bức thư viết ngày 12 tháng 2, 1922, Phan Châu Trinh khuyên Nguyễn Tất Thành không nên theo đường lối cầu ngoại, vì nếu có thành công, “thì quốc dân đồng bào vẫn nguyên là cái lưng con ngựa, chỉ thay người cưỡi mà thôi.” Nhưng Nguyễn Tất Thành, sau đổi tên là Hồ Chí Minh, đã chọn Quốc tế Cộng sản, đã chọn Nga Xô và Trung Cộng làm chỗ dựa.


Em bé ngồi trầm tư trên bước đường chạy giặc, năm nay chắc em đã gần 40 tuổi. Năm 1975, các em tuổi đó làm sao biết được trong 35 năm sắp tới mình sẽ sống thế nào? Những em sinh đúng ngày 30 tháng Tư năm 1975, hôm nay vừa đủ 35 tuổi. Trong 5 người Việt Nam bây giờ, 4 người thuộc lớp 35 tuổi trở xuống. Đó là nước Việt Nam, trong hiện tại và tương lai. Tại một quốc gia bình thường, những người trên dưới 30, 40 tuổi là lực lượng thúc đẩy đất nước vươn lên về đủ các phương diện: kinh tế, chính trị, văn hóa. Nếu lớp người tuổi đó có kiến thức cao, có chí phấn đấu, có lòng yêu nước, thì cả dân tộc hưng thịnh. Thế hệ đó gánh trách nhiệm đối với các em nhỏ tuổi hơn mình. Làm sao để những em bé hôm nay mới lên 4, lên 5 không phải mang bộ mặt đăm chiêu, lo lắng như các em cùng tuổi hồi 35 năm trước?

Trong 35 năm nữa kinh tế nươc ta sẽ vượt lên bằng Hàn quốc, bằng Đài Loan bây giờ hay không? Dân ta sẽ được sống tự do hạnh phúc hay không? Lãnh thổ quốc gia có toàn vẹn hay không? Chính thế hệ 20, 40 tuổi hôm nay sẽ phải lo cho chính mình cũng như các lớp đàn em.

Trong lớp tuổi 35 trở xuống hiện nay có nhiều người đang suy nghĩ, lo âu và hành động xây dựng tương lai dân tộc. Phạm Thanh Nghiên, 33 tuổi; Lê Thị Công Nhân, 31 tuổi; Nguyễn Tiến Trung, Ngô Quỳnh,... chưa tới 30. Những bạn trẻ này biết nếu dân tộc Việt Nam còn chưa được tự do, còn tiếp tục chậm tiến so với thế giới chung quanh, thì đến cuối cuộc đời họ người Việt Nam sẽ vẫn còn thua kém.

Thế hệ 35 tuổi chắc đều biết ngày 30 tháng Tư đánh dấu một khúc quanh trong lịch sử. Nhưng họ không mang trong lòng những ám ảnh về cuộc chiến huynh đệ tương tàn gọi là 'tranh chấp quốc cộng' 'mà nhiều người thuộc thế hệ cha anh họ đến nay vẫn chưa quên được. Nhưng khi bắt đầu suy nghĩ về cuộc sống chung quanh mình, về tương lai dân tộc, thì những người 35 tuổi sẽ không tránh khỏi phải đặt ra một số câu hỏi mà các thế hệ cha anh đã tranh luận với nhau, những ý kiến bất đồng gây ra cuộc xung đột đẫm máu giữa những người cùng một giòng giống Việt.

Khi hiểu rõ nguyên nhân gây nên cuộc chiến chấm dứt ngày 30 tháng 4, thì những người ở lớp tuổi 35 sẽ ý thức được là những câu hỏi được đặt ra từ thời 1930, 1945 tới hôm nay vẫn chưa được trả lời thỏa đáng.

Trước đây một thế kỷ, người Việt chỉ quan tâm đến việc đánh đuổi thực dân Pháp, giành độc lập. Nhưng nhiều người yêu nước đã đặt ra câu hỏi: 'Chúng ta muốn xây dựng một nước Việt Nam như thế nào, sau khi đánh đuổi thực dân Pháp?' Đầu thế kỷ 20 Phan Bội Châu muốn dùng vũ lực, cầu viện ngoại bang, rồi xây dựng đất nước dưới chế độ quân chủ lập hiến. Sau đó, cụ đổi ý kiến, ủng hộ chế độ dân chủ theo chủ nghĩa Tam Dân và cổ động dân tộc tự cường. Từ đó, mọi người đều đồng ý đó là đường lối tốt nhất. Nhưng sống dân chủ như thế nào? Đây là câu hỏi đã gây ra bao nhiêu mâu thuẫn.

Thời 1930 đã nhiều người ý kiến khác nhau, thời 1945 các mâu thuẫn càng gay gắt khiến cho lịch sử diễn ra những cuộc tương tàn, kéo dài cho tới ngày 30 tháng Tư năm 1975.

Mâu thuẫn chính yếu là hai ý kiến: Một số người muốn xây dựng nước Việt Nam theo chủ nghĩa Mác Lê nin của cộng sản quốc tế; bên kia là những người khác muốn lấy quốc gia, dân tộc làm trọng tâm, và muốn trong xã hội dân chủ các chủ thuyết chính trị được tôn trọng như nhau. Những tranh chấp từ 1945 đến 1975 là do hai tư tưởng đối chọi đó. Năm 1975, phe Mác xít đã thắng trận. Nhưng câu hỏi căn bản trên vẫn đặt ra, vì nhiều người dân Việt Nam không chấp nhận chủ nghĩa cộng sản. Nhất là sau khi chế độ cộng sản sụp đổ ở Âu châu thì càng nhiều người muốn lên tiếng đặt lại các câu hỏi này.

Ngày nay Đảng Cộng Sản vẫn tiếp tục hông bỏ tín điều Mác xít; nhưng nhiều bạn trẻ ở lớp tuổi 35 đang đặt câu hỏi: Ngoài chủ nghĩa Mác Lê nin, loài người có cách nào sống với nhau cho tử tế hơn không?

Gần một thế kỷ trước đây, người Việt Nam đã đặt câu hỏi đó rồi. Năm 1922, Phan Châu Trinh đã viết một lá thư cho Nguyễn Tất Thành, khuyên ông ta nên theo chủ trương 'khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh' như cụ vẫn cổ võ. Cụ Tây Hồ viết: 'đừng có dùng cái lối nương náu ngoại bang để rung chuông gõ trống....' Nhưng lúc đó thì Nguyễn tất Thành vừa mới 'khám phá ra chủ nghĩa Lê Nin' và đã quyết định đi Nga học Stalin. Chính trong bức thư viết ngày 12 tháng Hai năm 1922 này, Phan Châu Trinh đã khuyên Nguyễn Tất Thành không nên theo đường lối cầu ngoại như Phan Bội Châu từng làm, vì, 'Thảng như cái phương pháp của ông Phan (Bội Châu) mà thành công thì quốc dân đồng bào vẫn nguyên là cái lưng con ngựa, chỉ thay người cưỡi mà thôi.' Nhưng Nguyễn Tất Thành, sau đổi tên là Hồ Chí Minh, đã chọn Quốc tế Cộng sản. Ông đã chọn Nga Xô và Trung Cộng làm chỗ dựa, học các kỹ thuật cướp chính quyền, học chiến lược, chiến thuật, nhận các vũ khí của hai nước đàn anh cộng sản đó. Năm 1975, các đệ tử của ông Hồ đã thành công.

Hậu quả là đến ngày nay, trên cái lưng con ngựa Việt Nam là một Đảng Cộng Sản do ông lập ra. Đảng Cộng Sản vẫn còn chưa chấp nhận tụt xuống khỏi cái lưng dân tộc Việt, chưa chịu thay đổi độc quyền cai trị của họ mặc dù chính dân Nga đã tự cởi bỏ chủ nghĩa cộng sản rồi. Đảng Cộng Sản vẫn giữ nguyên chủ thuyết của Lê Nin. Vẫn ngăn cấm không cho thông tin tự do, không cho hội họp và bầu cử, tranh cử tự do; vẫn muốn chỉ có một đảng chuyên chế theo một chủ nghĩa lạc hậu lỗi thời.

Trong lúc đó, những người trẻ tuổi đang truyền bá tư tưởng tự do dân chủ, họ theo đuổi những công việc mà Phan Châu Trinh đã làm là 'khai dân trí, chấn dân khí,' chính họ đang bị ngăn cấm.

Cho nên những vấn đề chính trị căn bản đặt ra từ thời 1930, tới giờ vẫn còn là mối bận tâm day dứt của nhiều người trẻ tuổi thuộc thế hệ trên dưới 35 tuổi ở nước ta. Các vụ đấu tranh và đàn áp trong năm 2010 này trong bản chất không khác gì những vụ tranh chấp giữa hai chủ trương xây dựng đất nước khác nhau thời 1930, bùng nổ năm 1945 rồi kéo dài đến 1975. Đó là mâu thuẫn cơ bản của lịch sử nước ta từ 1920 đến 1975.

Khi những mâu thuẫn về chủ trương trị quốc của người Việt Nam lại trùng hợp với mối mâu thuẫn lớn trên thế giới, là cuộc đấu tranh giữa hai khối tư bản và cộng sản quốc tế, thì nước Việt Nam đã không may bị chọn làm bãi chiến trường, dân tộc Việt Nam bị đem làm vật thí nghiệm, cho những cuộc thử thách bom đạn, vũ khí, chiến thuật và kỹ thuật trong cuộc tranh chấp quốc tế đó. Bao nhiêu nước cựu thuộc địa trong thế giới Á Phi đã tránh khỏi vòng lửa đạn này, là nhờ ở nước họ không có một đảng cộng sản như ở nước ta.

Cuộc tranh chấp tư bản, cộng sản trên thế giới đã kết thúc được 20 năm rồi. Loài người đã đồng ý với nhau muốn tiến bộ và hạnh phúc thì phải sống tự do, về chính trị cũng như về kinh tế. Nhưng ở nước ta, Đảng Cộng Sản vẫn tiếp tục cưỡi trên lưng dân tộc Việt. Mâu thuẫn về phương cách xây dựng đất nước vẫn còn nguyên, mặc dù đã biến dạng. Những bất đồng ý kiến từ thời 1930 đến giờ vẫn còn đó nhưng bây giờ là mâu thuẫn giữa một đảng độc quyền thống trị và nhân dân. Cuộc nội chiến kết thúc năm 1975 còn tiếp tục trong cuộc đấu tranh dai dẳng giữa những người cộng sản cầm quyền và những người dân không đồng ý kiến với họ. Hôm nay, những người như các cô Lê Thị Công Nhân, Trần Khải Thanh Thủy, Tạ Phong Tần, các anh Nguyễn Văn Đài, Điếu Cầy, vân vân, đang vận động tranh đấu cho một nước Việt Nam tự do dân chủ và một xã hội công bằng, trong sạch hơn. Họ dùng phương pháp bất bạo động, họ đấu tranh bằng cách phổ biến thông tin cho đồng bào biết thế giới đang thay đổi như thế nào và người Việt Nam nên sống với nhau ra sao. Họ đang theo chủ trương 'khai dân trí, chấn dân chí,' của Phan Tây Hồ. Họ đang bị chế độ cộng sản đàn áp. Khi đứng lên đòi tự do cho dân tộc Việt Nam; những bạn trẻ đó đang tiếp tục cuộc đấu tranh ý thức hệ dưới hình thức mới.

Cuối cùng, nước Việt Nam vẫn phải chọn một câu trả lời cho câu hỏi mà thế hệ 1930 đã đặt ra. Phải dứt khoát giã từ chủ nghĩa Mác xít để dân tộc được hòa mình vào gióng sống của lịch sử loài người. Như một nhà thơ ở Sài Gòn viết: 'Chủ nghĩa chết đi, quê hương vẫn sống!' Phải chọn sống tự do dân chủ thay vì độc tài đảng trị, chọn công bằng xã hội thay vì độc đảng độc quyền. Đó là trách nhiệm của những người Việt Nam thuộc thế hệ 35 tuổi.

--------------------------------------------------------------------------------
CHÚ THÍCH: Những câu trong lá thư của Phan Châu Trinh trích dẫn từ trang 40, sách 'Việt Nam 1920 -1945' của Ngô Văn, xuất bản tại Montreuil, Pháp và tại Texas, Hoa Kỳ, năm 2000.
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 8 guests