Page 37 of 180

Posted: Tue Mar 23, 2010 2:37 am
by quaichao
Tự do ngôn luận

Nguyễn Ðạt Thịnh
Như mọi người, mỗi ngày tôi nhận hàng trăm cái e-mail, trong cơn sốt e-mail thời đại; tôi chỉ đọc thư người quen, và đọc vài bài viết được những nhà trung gian uy tín giới thiệu; những mail khác tôi “select all” và “delete”.
Tôi nghĩ đó là thái độ chung của người Việt hải ngoại đôi phó với những xe rác e-mail khổng lồ, nhiều cái mang nội dung vô cùng bẩn thỉu. Tôi từng đọc những chữ chỉ được phát ngôn trên những khuôn miệng giang hồ, anh chị, và tại những khu mạt hạng của xã hội; nhưng, vì thương yêu quyền tự do ngôn luận, tôi chấp nhận những rác rến đó trôi vào thùng thư của tôi. Ðổ rác âu cũng chỉ là cái giá mà tôi trả cho quyền tự do cao quý này, cái giá, nghĩ cho cùng, cũng không lấy gì làm đắt.

Một trong những nhà trung gian tôi tín nhiệm là ông Huy Hùng, một vị đại tá boss của tôi những ngày trước 1975; tôi kính trọng đại tá Hùng, không chỉ vì cấp bực, mà còn vì tư cách rất thánh thiện của ông. Suốt nhiều năm làm việc dưới quyền ông, tôi chưa thấy ông có một tiếng xàm xỡ.

Nhưng lần này tôi trách ông đã giới thiệu bài “THÁNH NỮ, Đứa Con của Thằng Cuội”, tác giả là ông Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất. Ông Duyên Lãng viết bài này để chỉ trích cô Lê thị Công Nhân và Linh mục Nguyễn Văn Lý.

Trong số những người của hai tổ chức mẹ con này (Khối 8406 và Thăng Tiến) có hai nhân vật nòng cốt là Lm Nguyễn Văn Lý và Ls Lê Thị Công Nhân, bị VGCS cho đi nằm ấp,” ông Duyên Lãng viết. “Hai người cùng vào một cái lò đúc của VGCS, và ra lò trong cùng một thời gian, trở thành hai “tác phẩm” khác nhau mỗi người một vẻ. Ông linh mục thành anh “thương binh chống nạng cầy bừa”. Còn cô gái, với hào quang “Người Con Của Thượng Đế”, xuất hiện trước đám quần chúng mà đa số thật là vô tư lự. Nhưng cũng đã có người tinh mắt nhìn ra cô gái chỉ là miêu duệ của dòng nhà cuội. Thật bất ngờ, tính chất cuội trong cái hào quang Người Con Của Thượng Đế của cô gái, không biết vì vô tình hay quá tự tin, lại do chính cô tự phô bầy ra.”

Nhận xét về hai chiến sĩ đấu tranh đòi hỏi tự do và nhân quyền cho người Việt Nam, vừa ra khỏi ngục tù Việt Cộng, bằng giọng nói khinh bạc, đểu cáng đến như vậy, thì quả là không còn tĩnh từ nào có thể đi đôi với cái tên Duyên Lãng của ông này.

Ông Duyên Lãng công bằng? hay ông Duyên Lãng yêu nước? Hai tĩnh từ “công bằng” và “yêu nước” đều không thích hợp, không đi đôi được với cái tên Duyên Lãng. Ông không công bằng khi vô cớ và thiếu chứng minh, chỉ trích hai nhân vật đáng kính phục hơn là đáng chỉ trích; và ông không yêu nước khi ông thui chột ý chí tranh đấu cho nhân quyền và dân chủ bằng cách chỉ trích hai chiến sĩ tiên phong trong cuộc đấu tranh này.
Ông Duyên Lãng bảo Linh mục Nguyễn Văn Lý và luật sư Công Nhân ra khỏi tù (mà ông gọi là ra ‘”lò”) và “trở thành hai “tác phẩm” khác nhau, mỗi người một vẻ”!

Thưa ông, họ là tác phẩm của ai? Mặc dù không nói huỵch toẹt ra, nhưng rõ ràng ông ám chỉ là họ ra khỏi “lò đúc” Việt Cộng, và trở thành một sản phẩm của lò đúc này. Tôi nghĩ khác, và qua giọng văn của ông, tôi biết ông không đồng ý với tôi: tôi mãnh liệt tin tưởng hai vị anh hùng và liệt nữ này là tác phẩm của mẹ Việt Nam; vì yêu thương nước Việt Nam, yêu thương người Việt Nam mà họ tay không dấn thân vào cuộc đấu tranh với bạo quyền Việt Cộng, không chỉ hung ác, tàn nhẫn, mà còn vô cùng thâm độc, mưu mô, và nhiều thủ đoạn.

Chúng bôi nhọ hai chiến sĩ chúng không giam giữ được nữa.
Linh mục Lý bị stroke 3 lần, do đó ông đi đứng khó khăn và phải sử dụng một loại gậy xe có bánh. Ông Duyên Lãng diễu cợt tình trạng bệnh hoạn của Linh mục Lý bằng một câu hát của Phạm Duy: Ông linh mục thành anh “thương binh chống nạng cầy bừa”! Tôi đánh dấu chấm than sau câu nhận xét của ông Lãng, vì quả thật tôi không biết phải chê trách bằng chữ nào cho đủ.
Chưa một người Việt Nam nào nỡ nặng lời chế diễu một anh hành khất đi xe lăn, đến xin tiền người đi đường bị đèn đỏ chặn lại trước mỗi ngã tư; nguyên cớ nào khiến ông Duyên Lãng nỡ nặng lời với một chiến sĩ nhân quyền như vậy.

Bôi nhọ cô Công Nhân, ông Duyên Lãng viết, “Thế nhưng rất đáng tiếc, vật đã đổi, sao đã rời, Lê Thị Công Nhân hôm nay không còn phải là cô Lê Thị Công Nhân ngày hôm qua nữa. Cô đã khác, khác với người mà trước đây tôi khâm phục. Lê Thị Công Nhân khác thế nào, và tại sao lại ra khác, thì đó là những vấn đề người viết bàn tới trong bài này”.

Duyên Lãng không bàn ngay về việc cô Công Nhân “vật đổi, sao dời”; ông còn có nhiệm vụ dèm xiểm thêm nhiều nhân vật khác. Ông viết, “Chẳng hiểu làm sao mà trước đây có một thời kỳ, trong nước, ngoài nước, phong trào, tổ chức, đảng phái chính trị mọc ra như nấm. Người dân quèn cứ ngớ ra, tưởng phen này, nói theo Ls Đinh Thạch Bích, VC đã được Mỹ đỡ xuống khỏi lưng cọp, và chúng đã cho bầu cử đa đảng rồi. Nhưng, thời gian trôi cứ trôi, mọi chuyện vẫn cứ “vũ như cẩn”. Thuở trời đất trăm hoa đua nở đó, có Khối 8406 và đảng Dân Chủ là bề thế hơn cả. Đảng Dân Chủ gồm toàn họ hàng con cháu nhà Cuội, như cuội Hoàng Minh Chính, cuội Trần Khuê v.v. hợp tác với bọn chính khứa lưu manh tại hải ngoại, như Nguyễn Xuân Ngãi và đám lâu la Việt Tân (VT).

“ Bọn này cuội quá nên mất tín nhiệm với người dân ngay từ đầu. Trái lại, Khối 8406 và đứa con đẻ của nó là đảng Thăng Tiến VN, được hình thành do một vài nhà tu hành cùng với một số các bạn trẻ giầu lòng yêu nước, nên được quần chúng tin tưởng hơn. Thế nhưng, vỏ quít của người dân dầy thì VGCS lại có móng tay nhọn. Trong Khối 8406 và đảng Thăng Tiến, những thành phần chỉ có năng khiếu chạy cờ thì VGCS cứ để cho nhởn nhơ ở ngoài nhà tù mà chạy cờ. Còn những thành phần cốt cán, khó trị, thì chúng cho đi nằm ấp hết. Ở trong ấp, ai cải tạo được thì chúng cải tạo. Người không cải tạo nổi, thì hoặc bị chúng nhốt không có ngày ra, hoặc có trở về thì chắc chắn phải thành thân tàn ma dại, chỉ còn nước chờ ngày làm bạn với ông Sáu (tấm) là xong. VGCS xứng danh là lưu manh, bịp bợm số một trên thế giới ở chỗ là, sau khi đã triệt hạ thành phần lãnh đạo của Khối 8406, chúng không ra tay dẹp tổ chức đó, mà chúng cài người vào trong, để biến tổ chức thành công cụ phục vụ cho chúng. Nhìn vào thành phần lãnh đạo và các hoạt động của Khối 8406 hiện nay, người ta không còn nghi ngờ gì về chuyện này.”
Duyên Lãng muốn nói thành phần lãnh đạo của khối 8406 hiện nay là nguòi của Việt Cộng gài vào! Lại một dấu chấm than khác; tại sao Lãng lại ác độc cắm cờ đỏ lên nóc giáo đuờng? Tại sao anh ta lại muốn quần chúng hoài nghi tính chống Cộng của khối 8406? Chỉ có một cách trả lời: anh muốn làm tổ chức chống Cộng 8406 yếu đi.

Cắm ngọn cờ “công cụ phục vụ cho Việt Cộng” lên nóc nhà thờ xong, Lãng trở lại với cô Công Nhân và 3 năm tù của cô.
Lãng viết, “Vài ba năm tù, mười năm tù, hay lâu hơn nữa, thời gian ở tù không phải là cái thước đo giá trị của đấu tranh. Giá trị của một cuộc đấu tranh là mục tiêu tranh đấu, và sự kiên định lập trường cho mục tiêu này. Nguyễn Thái Học bị Pháp bắt và ở tù chỉ có 4 tháng (2-1930 đến 6-1930) rồi bị đưa lên đoạn đầu đài. Mặc dù cuộc Tổng Khởi Nghĩa Yên Bái không thành, nhưng ông vẫn là một vị đại Anh Hùng của dân tộc, được toàn dân kính mến. Ls Lê Thị Công Nhân, sau khi ra tù, thường cứ nhắc đi nhắc lại, và hình như có ý khoe khoang cái thời gian 3 năm tù của cô. Điều này cũng là tâm lý tự nhiên, và cũng tốt thôi. Nhưng cái thực sự quan trọng trong công cuộc tranh đấu là lập trường của cô thì xem ra đã biến đổi nhiều. Tôi dùng chữ “xem ra” để nói lên sự dè dặt khi lên tiếng về một sự việc quan trọng. Chúng ta hãy nghe lời đanh thép của người tù Lê Thị Công Nhân khi cô bước chân vào nhà tù: “Tôi khẳng định với tất cả lương tâm và trách nhiệm của mình đối với đất nước Việt Nam và dân tộc Việt Nam tôi sẽ chiến đấu đến cùng dù chỉ còn một mình tôi đấu tranh”… “Và CSVN đừng có mong chờ bất cứ một điều gì, dù thoả hiệp chứ đừng nói là đầu hàng từ phiá tôi. ” Câu nói có thép và lửa này, nội dung không khác gì lời từ biệt đồng bào của anh hùng Nguyễn Thái Học trước khi ông bước lên máy chém: Không thành công cũng thành nhân. Nhưng ngưòi trí thức trẻ Lê Thị Công Nhân sau khi vừa bước chân ra khỏi cổng nhà tù, trong lời nói của cô lửa đã tắt ngúm, và thép đã hoá bùn.”

Nguyên nhân nào khiến ông Lãnh có thể võ đoán như vậy? Ông viết, “trong một cuộc trả lời phỏng vấn của nhà báo Dương Phục, cô nói: (vì âm thanh không tốt, chúng tôi không ghi được nguyên văn, nhưng đại để là) : Quốc-hội Mỹ và Quốc Hội VN cần phải giao lưu và làm việc với nhau. Mong Quốc Hội Mỹ hãy khoan hòa, bao dung, và giúp đỡ Quốc-hội VN, đừng đẩy họ vào con đường cùng. Cho dù 1 lấn, 2 lần, 5 lần hay 100 lần hoặc hơn nữa, Quốc Hội Mỹ cũng vẫn tiếp tục giúp đỡ Quốc-hội VN, như thế thì mới mong thay đổi được.”
Thật hết chỗ nói: chỉ vì một câu nghe lõm bõm (vì âm thanh không tốt) mà ông Lãng đã buộc cô Công Nhân vào tội “lửa đã tắt ngúm, thép đã hóa bùn.”

Tôi thấy không cần trích thêm những đoạn sau bài viết của Duyên Lãng, vì ngần đó lập luận của ông cũng đủ cho thấy dã tâm bôi nhọ hai chiến sĩ dân chủ vừa được trả tự do. Câu hỏi cần đặt ra là tại sao ông Lãng lại làm như vậy; ông ta thù oán gì linh mục Lý, cô Công Nhân, ông Hoàng Minh Chính, ông Trần Khuê, ông Nguyễn Xuân Ngãi?
Hay ông có nhu cầu mạ lỵ những người chống Việt Cộng để thỏa mãn một cái order đặt hàng?

Nguyễn Ðạt Thịnh

Posted: Thu Mar 25, 2010 3:13 am
by thienthanh
50 năm trước: Hà Nội khởi xướng cuộc chiến Việt Nam

Image
Binh chủng Nhảy Dù Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. (Hình: Hội Quân Y Nhảy Dù)
* Uwe Siemon-Netto


Tết 2010 đánh dấu một cộc mốc quan trọng cho người Mỹ gốc Việt. Theo số liệu của Cơ Quan Thống Kê Hoa Kỳ (U.S. Census Bureau), cộng đồng người Mỹ gốc Việt đã lên tới con số 1.6 triệu và trở thành cộng đồng thiểu số gốc Á Châu lớn thứ hai toàn nước Mỹ (sau người Trung Hoa*). Ðối với họ, năm 2010 cũng chứa đựng một khía cạnh đau buồn bởi vì là kỷ niệm thứ 50 của một biến cố khiến họ phải bỏ xứ lưu lạc đến bến bờ này. Năm 1960, cộng sản Bắc Việt thành lập “Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam,” gọi tắt là Việt Cộng. Ðiều này đã mở màn cho một cuộc chiến mà hậu quả là nỗi đau đớn chưa nguôi cho hàng chục ngàn người đã từng nếm trải ngục tù cộng sản. Một công trình nghiên cứu y khoa dựa trên nhóm 200 người sống sót đã từng bị hành hạ cho thấy 64% đã biểu lộ những sự hư hại rõ rệt về thần kinh.

Khám phá của Richard F. Mollica, bác sĩ tâm thần của trường Ðại Học Harvard và các cộng sự viên đã minh họa một điều là mặc dù người Mỹ cố quên đi chiến tranh Việt Nam, hậu quả cuộc chiến này vẫn luôn còn đó. Rất nhiều cựu chiến binh Hoa Kỳ không thể quên được sự đón tiếp tồi tệ khi họ trở về Mỹ và bị phỉ báng là những “tên sát nhân trẻ em.” Uất ức vì sự phản bội của đồng hương, hàng ngàn cựu chiến binh Hoa Kỳ đã phải tự tử.

Trong khi đó, dư luận Hoa Kỳ không hề nhắc đến số phận của các cựu chiến binh miền Nam Việt Nam đang sinh sống trên đất nước này. Bây giờ mới rõ ra là họ cũng chịu đựng đau đớn bởi những vết thương vô hình sau khi bị bỏ rơi vào tay bạo ngược. Ðiều này không có gì ngạc nhiên cả. Suốt chiều dài lịch sử, các chiến binh luôn luôn phải gánh chịu hai loại tổn thương - về thể xác gây ra bởi vũ khí và về tinh thần do những ám ảnh đau thương, đặc biệt là nỗi đau bị bỏ rơi ngay tại quê hương của mình.

Hẳn nhiên có nhiều cựu chiến binh miền Nam Việt Nam với những vết thương như vậy trong đám đông nồng nhiệt đầy tiếng pháo đón chào “Năm Canh Dần” vào sáng Chủ Nhật đầu năm. Họ có thể không để lộ ra nhưng sau nhiều năm nghiên cứu, Bác Sĩ Mollica đã khám phá ra là những vết thương vẫn luôn còn đó.

Khi cuộc chiến Việt Nam chấm dứt, những nhà phê bình chính sách Hoa Kỳ đã đồng lòng vào sự bịa đặt rêu rao bởi những tư tưởng gia quá khích và một số bộ phận của truyền thông. Họ cho là Washington và những “tay sai tham nhũng” tại Sài Gòn đã tạo ra cuộc chiến Việt Nam. Ðến nay đã có đầy đủ bằng chứng để chỉ mặt đích danh thủ phạm: đó là Hồ Chí Minh. Dưới cái tên Nguyễn Tất Thành, Hồ Chí Minh là một thành viên cốt cán của Cộng Sản Quốc tế (Comintern) với nhiệm vụ rõ rệt là áp dụng chủ thuyết Lê-Nin-Nít vào Việt Nam. Hồ Chí Minh đã theo đuổi không mệt mỏi sứ mạng được giao, ngay cả sau khi Hiệp Ðịnh Geneve 1954 tạm thời chia đôi đất nước với Bắc Việt theo Cộng Sản và miền Nam Việt Nam theo khối Tây Âu.

Vài tháng trước kỳ đại hội Ðảng Lao Ðộng lần thứ ba, Quốc Hội Bắc Việt đẻ ra tổ chức Việt Cộng vào tháng 9 năm 1960. Ðiều này chứng tỏ giới lãnh đạo cộng sản đã chuyển từ giai đoạn “khuấy động và tuyên truyền,” giai đoạn đầu của chiến tranh du kích vẽ ra bởi Võ Nguyên Giáp, sang thành “đấu tranh bạo động,” giai đoạn hai của chiến lược này. Giai đoạn thứ ba là giai đoạn tổng công kích với hình thức chiến tranh qui ước mà thế giới đã được biết qua màn hình TV hàng ngày.

Vào tháng 1, 1960, chính quyền Sài Gòn ghi nhận hàng ngày một số lượng trung bình khoảng 7 “hành vi” khủng bố tại các vùng tiền đồn Việt Nam. Danh từ “hành vi” mà phát ngôn viên quân sự loan báo hàng ngày cho giới báo chí trong “bản tin vào lúc 5 giờ” nghe có vẻ tầm thường nhưng thực chất là những hành động ghê tởm mà số lượng tăng lên nhanh chóng thành hàng trăm và hàng ngàn vụ mỗi ngày.

Ðầu năm 1965, bản thân người viết làm nhân chứng cho một “hành vi” như vậy tại một ngôi làng đã được một toán Việt Cộng chiếu cố đêm hôm trước. Gia đình trưởng làng gồm cha mẹ và 11 người con bị treo cổ chết trên cây. Toàn làng bị bắt buộc phải chứng kiến cuộc tắm máu này. Trong khi đó, một tên cán bộ Việt Cộng răn đe họ “đây là hậu quả cho bất cứ ai cộng tác với ngụy quyền Sài Gòn.” Vị trưởng làng đã trung thành với chính quyền miền Nam Việt Nam trước đó.

Những ký ức như vậy không bao giờ phai mờ được, thì làm sao có thể quên được sự chịu đựng của những cựu chiến binh và công chức miền Nam Việt Nam đã trải qua khi đất nước họ bị đồng minh bỏ rơi và lọt vào tay cộng sản. Nhắc lại lần thứ 50 ngày thành lập tổ chức Việt Cộng cũng là dịp để tỏ lòng tri ân những người đồng minh cũ của Hoa Kỳ, những người đã bỏ mình ngoài biển cả trốn chạy chế độ cộng sản, và đồng thời cho những người đã không ngừng làm kinh ngạc người Mỹ với sự siêng năng, cần cù và lòng trung thành với đất nước này.

Ðã từng chịu đựng sự chế nhạo, nay họ xứng đáng được kính trọng và nhớ ơn sâu sắc. Rất mong năm Canh Dần này sẽ là một năm hạnh phúc và thành công cho tất cả những “Sài Gòn nhỏ” trên toàn lãnh thổ Hoa Kỳ.

(Người dịch: Duy Anh. Bản gốc tại www.uwe-thebeat.org)


(*) Phần thêm của người dịch:

Giáo Sư Uwe Siemon-Netto, Ph.D gốc người Ðức, nguyên tổng biên tập về tôn giáo của United Press Internationa, hiện là bình luận gia quốc tế và một nhà thần học (không phong chức)của đạo Lutheran. Ông là sáng lập viên của Center for Lutheran Theology and Public Life (CLTPL) và chủ tịch của tổ chức “Tthe League of Faithful Masks” đặt bản doanh tại Capistrano Beach và trường Concordia University Irvine, California.

Với tư cách một nhà báo, ông chuyên về những đề tài liên quan đến niềm tin, xã hội và ngoại giao. Ông hiện là cộng tác viên thường trực của tờ “The Atlantic Times,” một tờ báo tiếng Anh hàng đầu của giới báo chí Ðức tại Mỹ.

Ông đã từng là phóng viên tường thuật những sự kiện lịch sử quan trọng như vụ xây dựng bức tường Bá Linh năm 1961, hoạt động của Liên Hiệp Quốc, phong trào nhân quyền tại Mỹ, vụ ám sát TT John F. Kennedy, cuộc chiến Việt Nam (trong thời gian 5 năm), cuộc chiến 6 ngày Ả Rập-Do Thái, và Cách Mạng Văn Hóa tại Trung Cộng.

Trong thời gian làm phóng viên chiến trường tại Việt Nam, ông đã chứng kiến tội ác Việt Cộng tại Huế kỳ Mậu Thân 1968, trong đó một số người quen của ông là 3 bác sĩ người Ðức cùng với vợ của một người đang làm việc thiện nguyện tại trường Y Khoa Huế đã bị thảm sát.

Posted: Fri Mar 26, 2010 5:50 am
by tranphuongdong

Image

Nhìn Tây Tạng, thấy Việt Nam
Rời Thành Đô trên chiếc phi cơ cánh quạt loại nhỏ chứa khoảng sáu chục người, sau hơn một giờ bay chúng tôi đã thấy nhấp nhô những đỉnh núi phủ đầy tuyết trắng của xứ Tây Tạng. Bỏ lại sau lưng căn nhà tranh di tích của Đỗ Phủ, bỏ lại mảnh đất dựng nghiệp của Lưu Bị thời Tam Quốc, bỏ lại miếu thờ Khổng Minh, Quan Công, Trương Phi cùng những thành lũy bằng đất xây dựng từ thời Tần-Hán nằm gần quận lỵ Đôn Hoàng, khi chiếc máy bay chuẩn bị hạ cánh xuống phi trường Lhasa thì kim đồng hồ chỉ 1 giờ 22 phút, giờ địa phương, buổi chiều.

Mỗi người được phát cho một túi nhỏ đựng dưỡng khí và được dặn dò phải cẩn thận kẻo bị choáng váng hay té ngã vì áp suất thay đổi. Trong số hơn 60 hành khách thì gần ba chục là du khách Âu Mỹ, 5 hay 6 người mặc binh phục, hơn hai chục là thường dân nói tiếng Hoa, và vỏn vẹn chỉ có 4 người Việt. Lúc rời Washington DC nhóm anh em chúng tôi có tới 12 người, nhưng lúc đi Tây Tạng chỉ còn lại vợ chồng anh chị Trần Dương và vợ chồng tôi. Trong lúc chuẩn bị rời máy bay, tôi bỗng chợt nhớ tới bài địa lý thuở còn nhỏ:

Nước Tây Tạng rộng bằng hai nước Pháp, có dãy núi Hymalaya (Hy Mã Lạp Sơn) là dãy núi cao nhất thế giới, có ngọn Everest quanh năm tuyết phủ. Tuổi ấu thơ của tôi lại được kích thích khi nghe kể chuyện những nhà tu trên đất Tây Tạng ngồi xếp bằng tròn, bay vù vù từ đỉnh núi này qua đỉnh núi khác, hoặc những chuyện rùng rợn về thiên táng, xác người chết được đem lên đỉnh núi xẻ thịt ra từng mảnh quăng cho chim ăn theo triết lý: vật nuôi người, người nuôi vật, trái ngược với phong tục của chúng ta là địa táng, đào huyệt chôn dưới đất, hay hỏa táng là đem thiêu xác, lấy cốt về thờ. Lớn lên, đọc sách, đọc báo, đọc được những bức thư của nhà cách mạng Phan Bội Châu gửi cho nhà cách mạng Phan Chu Trinh, trên đầu thư cứ một điều Hy Mã Tôn Ông nhã giám, hai điều Hy Mã Tôn Ông nhã giám, thì lòng lại càng nao nức muốn biết Tây Tạng và Hy Mã Lạp Sơn lắm. Tưởng rằng “nhưng chỉ là giấc mơ thôi”, không ngờ có ngày tâm thành ý đạt.

Độ cao của nước Việt Nam ta trung bình so với mặt biển là khoảng 19 m (63 feet), nhưng độ cao của Tây Tạng so với mặt biển là 3,658 m (12,000 feet) và đỉnh cao của ngọn Everest so với mặt biển tới 8,848 m (29,000 feet). Cho nên, trừ dân địa phương, còn du khách khi đã có ý định mò lên thăm cái xứ sở nằm cao tít trên nóc nhà thế giới này thì đều đã dự liệu về chuyện áp suất không khí thay đổi. Tinh thần chuẩn bị kỹ càng như thế nhưng lúc máy bay đáp xuống phi trường, cánh cửa mở ra, chân mới chạm đất thì gió thổi mạnh đến nỗi không thể tự chủ nổi, chỉ bước được mấy bước thì cái mủ lưởi trai đem từ D.C. đã bị gió thổi văng xuống và cuốn đi như một chiếc lá. Một tay che đầu, một tay kéo cái túi hành lý nhỏ, chạy lọt được vào tới phòng chờ đợi thì cổ họng khô cứng lại như đã ba ngày không được một hớp nước.

Nhân viên hãng du lịch ra đón bốn người chúng tôi là một phụ nữ có tên Mã Dung. Cái tên này làm tôi chợt nhớ đến mấy cái tên Mã Đằng, Mã Đại và Mã Siêu trong bộ Tam Quốc Chí. Nghĩ vậy thôi, chứ cô Mã Dung không mang một nét đặc thù nào của Hán tộc. Thân hình dong dỏng cao, khoảng hơn thước rưỡi, tóc dài chấm lưng vai, da rám nâu, nói tiếng Anh đủ để chúng tôi hiểu được. Sau một vài câu trao đổi ngắn gọn, cô đưa chúng tôi lại chỗ lấy hành lý và ra ngay chiếc xe Van hiệu Toyota chờ sẵn. Trái với cô Mã Dung, người lái xe rõ ràng là một chú người Hoa chính hiệu, hai mắt ti hí, má phệ, tóc ngắn, nước da màu vàng tái, tương phản hẵn màu nước da của những người Tây Tạng mà chúng tôi từng gặp trong chùa Tây Tạng Labrang Monastery trên đất Sa Hẹ. Ra khỏi phi trường, xe chạy vòng vèo, một bên vách núi, một bên bờ sông, nước trong xanh ngắt. Độ chừng mười cây số xe dừng lại tại một khúc quẹo và người tài xế ra hiệu cho chúng tôi xuống để chụp hình. Đó là một cái hang thô sơ thờ hình Đức Phật ngồi thiền, miệng hang treo vô số tấm phướn và cờ đuôi nheo cùng những miếng vải to cỡ ba bốn bàn tay, màu sắc, xanh, trắng, đỏ, vàng, trông rất sặc sỡ. Chụp hình xong, chúng tôi lên xe về thẳng khách sạn Holiday Inn trên đường Beijing Lu.

Ở đâu quen đấy. Sau một buổi chiều và một đêm dài nghỉ ngơi chúng tôi đã làm quen được với thời tiết. Sáng hôm sau chúng tôi ra ngồi nhâm nhi cà phê trong phòng khách để chờ xe đến đón. Phía bên kia đường là một dinh thự lớn, bảng hiệu nền đỏ chữ vàng viết bằng chữ Hán, hai người lính gác, súng gắn lưởi lê, quân phục màu xanh phân ngựa, thứ quân phục của lính Trung Cộng mà chúng tôi từng gặp ở Bắc Kinh và Tây An. Tại tiền đình, trên đỉnh cao của cột cờ là lá cờ Trung Cộng, một ngôi sao lớn bốn ngôi sao nhỏ phất phơ trước gió. Ngôi sao lớn tượng trưng cho Đại Hán, bốn ngôi sao nhỏ tượng trưng cho bốn sắc dân chư hầu Mãn, Mông, Hồi, Tạng.

Mặt trời lúc này đã lên cao. Những tia nắng ban mai đã rọi xuyên qua khung kính cửa sổ của phòng khách dệt thành những sợi nắng đan chéo trên tường nhưng không khí vẫn còn se se lành lạnh. Xe cộ qua lại thưa thớt, lâu lắm mới thấy một chiếc xe tự chế, là chiếc xe có một bánh bằng gỗ do một người đẩy hay kéo, chậm chạp đẩy qua. Theo lịch trình, đúng 9 giờ cô Mã Dung cùng người tài xế mới có mặt đưa chúng tôi tới đến Jokhang là ngôi đền được Hoàng hậu Wengcheng, vợ thứ của vua Songtsen Gampo, xây cất vào năm 647, và sau đó tới đền Lublinka. Hai ngôi đền thờ này khá lớn nhưng chỉ có một tầng, tường xây bao bọc chung quanh, vôi tróc loang lổ, thiếu người săn sóc, cũng hệt như quang cảnh sở thú ở Trùng Khánh, cây cỏ thì xơ xác, con người thì nhếch nhác. Thỉnh thoảng một nhóm dân Tây Tạng ngồi nhặt cỏ nhìn chúng tôi đi qua với ánh mắt vô cảm lạnh lùng rồi sau đó họ lại ngồi chồm hổm tiếp tục dọn cỏ hay đứng lên uể oải cầm chổi quét những chiếc lá rụng. Không khí ở đây ảm đạm buồn tênh chứ chẳng thấy gì gơi cảm.

Đến bữa ăn trưa chúng tôi được đưa vào nhà hàng quốc doanh nằm cùng dãy nhà với siêu thị do nhà nước quản lý. Tổ chức du lịch của Trung Quốc rất chặt chẽ. Chuyên chở đưa đón thì có China Travel Services, viết tắt là CTS, và chúng tôi gọi đùa là Communist Total Shit. Bữa ăn thì bị lùa vào nhà hàng quốc doanh. Mua sắm thì vào các thương xá Friendship của nhà nước luôn luôn được xây cất kế ngay nhà hàng ăn, hoặc xe bus chở thẳng vào các công ty sản xuất. Tiếng gọi là công ty nhưng thực chất là công ty quốc doanh, nhân viên phục vụ đều là người của chế độ mặc thường phục. Hầu hết đồng tiền của du khách đều lọt vào túi của nhà nước chớ rất khó mà rớt đến tay người dân. Sau bữa cơm trưa, chúng tôi được đưa đi chơi băng qua sông Lhasa bằng thuyền Yak-Skin. Thuyền này làm bằng da con Yak, một loại bò đen to lớn, lông rất dài và rất dày để chống lạnh. Còn sống và khỏe mạnh thì con Yak được dùng để kéo cày và lấy sữa. Lúc chết thì thịt dùng làm thực phẩm, mỡ dùng làm dầu nến thắp, da dùng làm trống hoặc ghép lại làm thuyền. Con bò Yak mật thiết tới đời sống người dân Tây Tạng nên bò Yak là biểu tượng của xứ Tây Tạng. Con đường Beijing Lu kéo dài từ Bakhor tới Drapung Monastry chia thủ phủ Lhasa ra làm đôi, đoạn dẫn vào khu thương mại trung tâm thành phố cũng có tượng Yak. Đi xem trình diễn văn hóa dân tộc cũng có vũ điệu muá với bò Yak. Ở Lhasa thuyền Yak không đậu dưới sông mà được dựng ở các bến, mỗi bến có cả chục chiếc thuyền làm bằng da con Yak xếp thành dãy dài chờ du khách. Mỗi thuyền chở được sáu hay tám người và có thể chở thêm cả xe đạp hoặc xe gắn máy . Nước sông Lhasa rất trong nhưng do tuyết tan từ các đỉnh núi chung quanh đổ xuống nên thò tay xuống thấy lạnh buốt. Khi có du khách, một người Tây Tạng đưa lưng ra cõng một chiếc thuyền bằng da con Yak đến bến cho khách xuống và dùng sào chống con đò qua sông như hình ảnh người chèo đò Trương Chi trong truyện cổ Việt Nam.

Hôm sau chúng tôi đựợc đưa đến thăm cung điện Potala là nơi ngày trước các vị Phật sống Tây Tạng ngự trị. Cung điện này cao ba từng quét vôi nửa trắng, nửa nâu xây trên triền núi gồm nhiều dãy nhà nối tiếp nhau. Nửa trắng phía dưới là nhà khách, nhà ăn, nhà chứa vật cụ, phần trên màu nâu được phân chia thành các phòng thờ phượng. Phía trước, ở dưới thấp là một sân rộng phía trước chừng hơn hai mẫu tây để tín đồ tụ hội, từng toán du khách đổ xuống từ những chiếc xe bus hòa nhập với những người dân địa phương chạy theo bán nhang đèn và các tu sĩ khoác áo choàng màu huyết dụ hay màu vàng nghệ làm không khí ở đây thêm nhôn nhịp. Từ trên cao, tôi nhìn khắp bốn phía để mong thấy những tín đồ đi hành hương, cứ bước một bước lại nằm dài thẳng cẳng xuống đất, duỗi hai tay về phía trước, miệng đọc kinh, sau đó lại đứng dậy bước thêm một bước khác, rồi lại nằm dài người xuống đất, như những con sâu đo. Chúng tôi đến cung điện Potala không nhằm vào ngày lễ nên ngoài du khách ra chỉ thấy những người dân Tây Tạng dẫn vợ con đến cúng vái. Người chồng nét mặt khắc khổ, quần áo nhiều mảnh, có khi khoác áo nhà binh sờn rách, người vợ mặc váy, cổ đeo nhiều chiếc vòng bằng đồng, đầu quấn khăn tua sặc sỡ, chân bước, tay cầm chiếc “vòng luân hồi” vừa đi vừa quay, miêng lẩm bẩm đọc kinh một cách thành kính.

Con đường đi lên điện Potala là những phiến đá lát bậc thang, không dốc lắm nhưng rất hẹp khiến người lên người xuống phải chen chúc len lách. Càng lên cao càng ngộp thở. Hơi người, hơi khói, và nhất là hơi bốc ra từ những ngọn nến và những bình dầu đốt bằng mỡ Yak khiến không khí thật ngột ngạt. Qua tầng một, tầng hai, là lên đến khu chánh điện, được chia làm nhiều gian nhỏ, cờ quạt, lọng phướn treo kín mít. Tại mỗi phòng đều có bàn thờ Phật hoặc bàn thờ linh vị các Đạt Lai Lạt Ma đã hóa kiếp. Mỗi phòng đều có một nhà sư lo việc đèn dầu và ngay gần cửa ra vào của mỗi phòng là một thùng kiếng để thập phương bỏ tiền dâng cúng. Một lần vừa lấy máy ảnh định chụp một tấm hình thì vị sư già khẳng khiu ngồi gần chánh điện xua tay ra hiệu chỉ thẳng vào một người to béo mặc thường phục ngồi ở góc cửa ra vào. Người đó mới thực sự quyền hành còn vi sư già chỉ là cây cảnh.

Rời tu viện Potala chúng tôi được đưa đi xem một khu sản xuất thủ công nghệ gồm nhà đan lát, nhà dệt thảm, nhà chạm khắc đồ gỗ. Mỗi nhà đều có khu sản xuất và khu bán hàng. Tại những khu sản xuất, nhân công là người Tạng, nét mặt khắc khổ chịu đựng, ngồi từng dãy im thin thít, quấn sợi, kéo chỉ. Ở khu dệt thảm đa số thợ là trẻ nhỏ, thấy du khách đến chúng lấm lét ra hiệu cho du khách lại gần rồi hai mắt dáo dác, đưa tay xin tiền. Không biết là chúng sợ bị bắt, bị trừng phạt, hay sợ bị thu lại số tiền xin được. Đến khu bán hàng thì chỉ thấy người Hoa, líu lo nói tiếng Hoa, nét mặt sung mãn. Buổi chiều chúng tôi được đưa đi mua sắm ở khu thương mại nằm phía đông thành phố, trong lòng bốn con đường chính có tên Wengduixinca, Dongzisu Road, Hebalinlu và Zinzudong Lu. Ở mấy dãy phố này không có nhà cao từng. Bảng hiệu hoặc viết bằng Anh Ngữ hoặc bằng chữ Hán. Bước vào đây không khác gì bước vào các khu phố Tàu ở Philadelphia hay phố Tàu ở Los Angeles. Có lẽ người dân Tây Tạng đã “tự nguyện xin đi các vùng kinh tế mới”, hệt như người Sàigòn tự nguyện dâng nhà dâng cửa cho Đảng cho Bác để đi lao động vinh quang tại các vùng đèo heo hút gió khỉ ho cò gáy Bù Đăng, Bù Đóp, Bù Gia Mập. Bữa ăn cuối cùng tại Lhasa chúng tôi được đưa vào nhà hàng uống sữa Yak, ăn cháo lòng Yak, có tiếp viên và nhạc công mặc xiêm y Tây Tạng, nhưng viên quản lý lại cũng là người Tàu. Khi sắp ra về cô Mã Dung choàng lên cổ chúng tôi mỗi người một khăn vải mỏng màu trắng, biểu lộ tình hữu nghị và sự hiếu khách của người Tạng.

Ở Tây Tạng bốn ngày, đi đâu cũng chỉ thấy người Hoa làm chủ. Trước đây Tây Tạng là một quốc gia độc lập cho đến năm 1959 thì bị Trung Cộng sát nhập. Trước năm 1950 dân số Tây Tạng gần một triệu nhưng năm 2000, theo thống kê, dân số lên đến hơn 2 triệu. Một triệu người thêm sau này chắc chắn có đến 80% là người Hoa vì dân Tây Tạng rất ít sinh đẻ. Giờ đây có lẽ dân số trên đất Tạng đã cao hơn nhiều, nhưng người Tây Tạng đích thực đã trở thành nô lệ của người Trung Hoa Hán Tộc. Lũ Tạng Gian trở thành cai nô còn người dân Tây Tạng thì làm thợ trong các xưởng máy hoặc làm nông nô tại các nông trường. Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nhân danh Tây Tạng vận động khắp thế giới xin cho Tây Tạng là một xứ tự trị Tibet Autonomy Region (TAR) cũng không được. Trung Cộng đã dựng lên một Ban Thiền Lạt Ma làm bù nhìn. Trước đây đến Tây Tạng phải bằng máy bay. Năm 2000, du khách từ Thành Đô tới Tây Tạng cũng phải đi bằng máy bay. Năm 2004 Trung Cộng xây dựng một thiết lộ nối liền Trung Quốc đến Tây Tạng. Có con đường này thì lên Tây Tạng sẽ dễ dàng và người Hán sẽ lên Tây Tạng thoải mái. Con đường này làm tôi liên tưởng đến con đường Trường Sơn được Hà Nội cho làm xuyên suốt từ biên giới Trung Cộng vô Nam.

Ôi! Dân Tạng chỉ có hơn một triệu nên phải chịu cảnh mất nước đã đành, còn dân Việt chúng ta có hơn tám chục triệu cũng đành chịu trở thành dân mất nước? Chẵng lẽ ngay trong cuộc đời trước mắt, chúng ta đứng yên để thấy những đảng viên cộng sản trở thành cai nô, người dân Việt Nam trở thành nông nô, tổ quốc Việt Nam là một ngôi sao nhỏ nằm chung với bốn ngôi sao nhỏ khác. Lá cờ Trung Cộng sẽ là lá cờ có một ngôi sao nhỏ lớn tượng trưng cho Đại Hán và năm ngôi sao nhỏ tượng trưng cho năm sắc dân bị mất nước là Mãn, Mông, Hồi, Tạng, Việt ?

Lê Minh Khôi

Posted: Fri Mar 26, 2010 4:03 pm
by khieulong
Người Việt Tị Nạn CS tại Houston biểu tình chống đối tòa Lãnh Sự VC

Houston hôm nay bầu trời vẫn còn nhiều mây mù nhưng tương đối khô ráo, tạo một môi trường thuận lợi cho đồng hương tỵ nạn cộng sản tụ tập về địa điểm khu Galleria Houston để cùng biểu dương ý chí chống lại sự có mặt của tập đoàn những người cộng sản khai trương Tòa Lãnh Sự Việt Cộng (LSVC) tại đây.

Ủy Ban Bảo Vệ Chính Nghỉa Quốc Gia và Ủy ban Đấu Tranh Chính Trị tại Houston đã phối hợp rất nhịp nhàng và đồng điệu để hướng dẫn đồng hương tại Houston cũng như các phái đoàn đại diện từ các thành phố khác như Austin, San Antonia, Dallas, Fort Worth về tham dự.

Hơn một ngàn đồng hương tham dự đã cùng dương cao cờ Vàng ba sọc đỏ, hô to những khẩu hiểu chống đối cộng sản, chống đối sự có mặt cùa tòa LSCS tại Houston.

Đồng hương đã được BTC hướng dẫn để cùng biểu dương cờ Vàng tại địa điểm chính số 5251 Westheimer nơi tòa LSVC đặt bản doanh, sau đó đòan biểu tình di chuyển về mặt tiền khách sạn Westin Oak Galleria, được biết tại lầu hai của khách sạn này đang có tiệc mừng khai trương của TLSVC, tại đây lại một lần nữa đồng hương ta dương cao ngọn cờ Vàng chính nghĩa.


Một vài điểm ghi nhận:

•BTC dự trù sẽ bắt đầu cuộc biểu tình vào lúc 10:30AM nhưng 9:00AM chúng tôi đã được biết một số lớn đồng hương đã hiện diện tại địa điểm, có lẽ vì thế cho nên vào khoảng 9:20AM nhân viên trong TLSVC đã cho thu hồi hai lá cờ máu đặt trước cổng ra vào building.
•BTC gởi người lên lầu 2 của khách sạn để quan sát nhưng đã bị nhân viên của hotel chặn lại không cho lại gần, tuy nhiên quan sát nhanh họ đã ghi nhận một số đông người Việt đang sinh hoạt bên trong cũng như nhận diện được hai gương mặt quen trong cộng đồng người Việt Houston trong đó, có lẽ họ là những khách mời của TLSVC.
•Một số đồng hương cho biết có vài người khả nghi là nhân viên của TLSVC đã trà trộn trong đoàn người biểu tình, cũng như có sự hiện diện của một người mà thời gian gần đây đã gây ồn ào qua các vụ đánh phá những người Quốc Gia chống cộng tại Houston trên các diễn đàn tiếng Việt cố tình làm lợi cho TLSVC. BTC đã đặc biệt lưu tâm và theo dõi.
•BTC đã điều động một số đồng hương đứng chặn cửa sau của khách sạn Westin Oak nhưng bọn CS đã cố tình trốn tránh đoàn biểu tình, cầm cự bên trong nhất định không chịu lộ diện.

Cuộc biểu tình của Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia chống cộng tại Houston và các thành phố lận cận để chống tòa LSVC đã chấm dứt lúc 1:00PM theo đúng như chương trình dự định, mọi việc đã diễn ra tốt đẹp như ý nguyện chung của BTC và đồng hương.
Image
Building bản doanh của tòa LSVC

Image
Mặt tiền building nơi có tòa LSVC

Image
Đ/T Trương Như Phùng (Ủy Ban Bảo Vệ Chính Nghĩa Quốc Gia)

Image
Ông Đặng Quốc Việt đồng trưởng BTC

Image

Image
Các Đài Truyền Hình địa phương phỏng vấn BTC

Image

Image
Đoàn biểu tình nhìn từ xa

Image
Một cựu chiến binh người Mỹ tham gia trong đoàn biểu tình

Image
Nhà Báo Phạm Thông và cựu Th/Tá Lê Văn Sanh

Image
Đoàn biểu tình di chuyển về khách sạn Westin Oak

Image
Trước khách sạn Westin Oak nơi bữa tiệc khánh thành TLSVC khoản đãi

Image

Image

Image

Posted: Sat Mar 27, 2010 1:35 am
by thienthanh
Google thách thức cả nước Trung Hoa

Ngô Nhân Dụng
Khi công ty Google từ chối không tiếp tục làm công việc kiểm duyệt mà chính quyền Trung Quốc bắt họ phải chịu để được làm ăn ở xứ này, nhiều người coi đây là một vụ thách thức đối với đảng Cộng Sản Trung Quốc. Nhưng, tính trên đường dài thì đây cũng là một thách thức đối với mọi người dân Trung Hoa trong lục địa. Ðặc biệt, là thách thức giới trí thức trẻ tuổi. Hơn 300 triệu người Trung Hoa đang sử dụng Internet. Dùng Internet là một bước tiến vào cuộc sống văn minh toàn cầu của thế kỷ 21. Trong hai thế kỷ qua, loài người đã tiến những bước dài trên con đường sống tự do dân chủ. Giới trí thức Trung Quốc chịu cúi đầu trước một bạo quyền của thế kỷ 19 cho tới bao giờ?

Tháng Giêng năm 2010, khi Google bắt đầu phản đối chính phủ Bắc Kinh về những vụ đột nhập vào mạng lưới của họ để ăn cắp các dữ liệu về các nhà trí thức đối lập, rất nhiều thanh niên Trung Hoa đã can đảm bày tỏ ý tán đồng hành động đó. Họ dám đương nhiên mang hoa đến đặt trước trụ sở công ty này ở Bắc Kinh. Trong một ngày, hàng trăm ngàn người bày tỏ ý kiến trên mạng, đại đa số ủng hộ lập trường của công ty ngoại quốc trẻ trung này, mà những người sáng lập cũng cùng tuổi với đa số dân Nét ở Trung Quốc. Một dân Nét đã viết: Nếu Google rút đi, Trung Quốc sẽ trở về “thời đồ đá” trong thế giới mạng lưới! Chúng ta phải khâm phục những bạn trẻ can đảm này.

Nhưng các hành động tỏ ý tán thành như trên cũng chỉ có tính cách “phản kháng bất bạo động” và thụ động. Ba tháng đã qua, Google đã thương thuyết với chính quyền Trung Quốc nhưng không tìm ra giải pháp nào thỏa đáng, bây giờ công ty đã tiến thêm một bước nữa: Rút hẳn dịch vụ dò tìm trên mạng ra khỏi lãnh thổ Trung Hoa lục địa, hướng dẫn các người muốn dùng dịch vụ tìm kiếm của Google sang mạng lưới của họ ở Hồng Kông. Chính phủ Bắc Kinh tiếp tục “đánh trả đũa” với “Trường Thành Lửa,” không cho người dân trong lục địa sử dụng Google. Nghĩa là người dân Trung Hoa muốn tìm hiểu gì về Tây Tạng, về Thiên An Môn thì chỉ được coi những tài liệu đã được chính quyền kiểm duyệt.

Cuộc đấu giữa chính quyền Bắc Kinh và Google tiêu biểu cho hai thế lực, hai quan niệm về văn minh. Một bên là một công ty trẻ mới ra đời được hơn 10 năm, đi tiên phong trên mặt kỹ thuật, lớn mạnh rất nhanh nhờ tinh thần khai phá, dám làm và dám chấp nhận rủi ro. Công ty này, ngay từ khi thành lập, đã chọn một khẩu hiệu: “Không làm ác” (Don't Be Evil), đề cao mục tiêu đạo đức chứ không còn là thương mại nữa. Bên kia là một chính quyền độc tài hủ lậu muốn kìm hãm tự do của một dân tộc với nền văn minh thuộc hàng xưa nhất thế giới. Chính quyền đó cũng là tàn tích còn sót lại của ý thức hệ Mác xít, đã bị khai tử ngay tại Âu Châu nơi chủ nghĩa và chế độ này được phát sinh. Cuộc đấu trí giữa hai bên sẽ đưa tới kết quả nào, nó sẽ định nghĩa đời sống của thế kỷ 21. Bạo Lực sẽ thắng? Hay sau cùng Ðiều Thiện sẽ thắng?

Nhiều người phê bình hành động của Google là vì hiện nay họ chỉ chiếm 30% thị trường “tra tìm thông tin” ở trong lục địa, cho nên họ có thể bỏ qua mà không bị thiệt hại bao nhiêu; nếu họ chiếm 70% thị trường thì có thể họ sẽ hành động khác. Hơn nữa, công ty này không kiếm lợi ở Trung Quốc được bao nhiêu. Tất cả số thu của họ trong lục địa chỉ chiếm vài phần trăm tổng số thu nhập hơn hơn hai chục tỷ Mỹ kim trên toàn thế giới. Do đó, quyết định từ giã thị trường Trung Quốc không khó khăn lắm. Lời phê bình này chỉ “phỏng đoán” động cơ của công ty Google, gán cho họ những động cơ xấu nhất. Hơn nữa, nói như trên là quên rằng thị trường lục địa phát triển rất mạnh, giá trị tính bằng đô la có thể tăng 40% mỗi năm. Khi tính đến tiềm năng đó, thì phải công nhận hành động từ bỏ một thị trường như vậy là rất can đảm, Google đã đặt nguyên tắc đạo lý lên trên mưu tính doanh lợi lâu dài.

Thông điệp chính của Google là, “Chúng tôi không chấp nhận đóng vai trò kiểm duyệt” cho một chế độ độc tài, để hưởng các lợi lộc kinh tế. Ðây là một thách thức. Thông điệp này có đánh thức giới trẻ Trung Quốc hay không, và họ sẽ hành động như thế nào, chúng ta còn phải chờ tương lai mới biết câu trả lời. Bởi vì hành động của cộng sản Bắc Kinh đối với Google chỉ là một trong nhiều bộ mặt của chế độ này, khi họ kiểm soát thông tin, đàn áp tư tưởng tự do, bấờt chấp quyền sống và phẩm giá của người dân Trung Hoa. Chế độ Bắc Kinh cũng kiểm soát các phương tiện thông tin hiện đại khác, như việc sử dụng Facebook, Twitter, vân vân.

Người dân, và nhất là giới trẻ Trung Hoa, đang phải sống trong một vòng kiểm tỏa giống như những con cua trong một cái giọ. Trong cái giọ đó, con cua này tìm cách leo lên đầu con cua kia, nhưng vẫn không bao giờ leo ra khỏi giọ được. Họ có tự biết như vậy hay không? Chúng tôi nghĩ là họ có ý thức về điều đó.

Một bài trong tờ Vãn Báo (Báo Buổi Chiều) xuất bản trong lục địa, số ra ngày 3 tháng 7, năm 2000, có kể một câu chuyện để tự chỉ trích bản tính thích đấu đá nhau của người Trung Hoa. Bài báo của tác giả Thẩm Xương, kể một chuyện xảy ra ở New York, có thể do tác giả bịa ra để khuyến cáo đồng bào của ông tự răn mình.

Có một công ty Mỹ ở New York thuê rất nhiều công nhân ngoại quốc gốc Á Châu. Cuối năm, ông chủ báo tin sẽ tặng 500 đô la cho các công nhân giỏi nhất. Ông yêu cầu mỗi nhóm người thiểu số họp lại một người trong bọn họ để lãnh thưởng.

Nhóm công nhân Nhật họp rất nhanh chóng, đề nghị một người. Ông chủ cũng đồng ý, vì thấy đó là một công nhân tài giỏi thật. Nhóm người Việt Nam và nhóm người Hàn Quốc họp lâu mới đưa đề nghị lên. Hai người đó đều được tặng 500 đô la, nhưng ông chủ biết họ không giỏi giang gì cả. Người Việt được chọn vì các đồng hương thấy anh ta nghèo nhất, đáng giúp đỡ! Người công nhân Hàn Quốc thì được bầu vì anh ta tính hiền lành, ba phải, không làm mất lòng ai bao giờ. Nhưng nhóm công nhân Trung Hoa thì đến chiều cũng không đề nghị ai cả. Họ không chịu bỏ phiếu coi ai là người đáng lãnh thưởng. Họ đề nghị xin chia đều 500 đô la cho tất cả mọi người trong nhóm, tất nhiên bị từ chối. (Bài này được đăng lại trong sách “Người Trung Quốc và những căn bệnh về nhân cách”).

Thực sự người Trung Hoa có tánh ưa “tranh giành” với nhau về tính nhỏ nhặt mà không nghĩ được chuyện lớn hay không, chúng ta không dám quả quyết như tác giả bài báo trên. Nhưng nói đến tật xấu này thì chắc dân Việt hay người Hoa cũng ngang ngửa như nhau!

Chính quyền cộng sản không phải là triều đại đầu tiên ở Trung Quốc muốn kiểm soát thông tin và đàn áp tự do tư tưởng của người dân. Vào đời Nam Tống, Tống Huy Tông (tên Triệu Cấu) đã ra lệnh “cấm tuyệt” không ai được viết dã sử: “Những kẻ không đắc chí, ẩn nấp khắp nơi, nhòm ngó việc triều đình, bí mật viết dã sử để rao bán tà thuyết!” Các người làm blog, bloggers bây giờ cũng không khác gì những nhà viết dã sử đời trước. Họ cũng “nhòm ngó việc triều đình” và thông báo cho nhau những ý kiến mà nhà nước coi là “tà thuyết!”

Vào thế kỷ 12 kỹ thuật thông tin còn rất thô sơ, Triệu Cấu tưởng rằng chỉ ra lệnh cấm là bưng bít được tin tức. Nhưng cuối cùng lịch sử vẫn biết và vẫn phê phán chế độ hủ bại của ông vua Huy Tông và “thủ tướng” Tần Cối. Thế kỷ 21, việc cấm người ta “viết dã sử” còn khó hơn nữa. Những cố gắng “bịt miệng dân” của chế độ cộng sản cuối cùng sẽ thất bại. Thất bại nhanh hay chậm là tùy theo thái độ và phản ứng của các thanh niên trí thức đang sống trong các giọ cua đó.

Công ty Google đã đứng ra thách thức chính quyền cộng sản Trung Hoa. Họ sẵn sàng từ bỏ các lợi lộc kinh tế để giữ tư cách, bảo vệ phẩm giá của họ. Giới trí thức Trung Hoa có chấp nhận một thử thách như vậy hay không? Tất nhiên, đây cũng là một câu hỏi đặt ra cho giới trí thức và thanh niên Việt Nam!

Chúng ta không cần so sánh người Hán với người Việt. Nhưng thế nào cũng có người đặt câu hỏi rằng “Liệu dân Việt Nam hơn gì người Hán khi phải đối đầu với một chế độ độc tài chuyên chế hay không?” Chúng ta đang chứng kiến một cuộc chạy đua xem hai dân tộc Trung Hoa và Việt Nam, cùng sống dưới các chế độ độc tài cộng sản, xem bên nào sẽ dám đứng lên phản kháng và đòi tự do mạnh bạo hơn!

Trong lịch sử, dân tộc Trung Hoa, mà đại đa số là người Hán, đã chịu sống dưới các chế độ độc tài chuyên chế do người “ngoại tộc” đứng đầu trong nhiều thế kỷ. Thời Nhà Nguyên, người Mông Cổ đã cai trị nước Tầu trong hơn một thế kỷ. Người Mãn Thanh cũng làm chủ nhân nước Trung Hoa trong gần 400 năm. Người Việt Nam có thể coi là có ý chí rất quật cường. Sau khi ý thức dân tộc phát khởi để giành được độc lập vào thế kỷ thứ 10, không bao giờ người Việt chịu cho ngoại bang cai trị nữa. Ngay trong thời Pháp thuộc kéo dài 60 năm, không lúc nào thiếu các phong trào phản kháng. Có thể nói người Việt bất khuất hơn người Hán khi cần chống ách cai trị của ngoại tộc. Nhưng trước các chế độ độc tài chiếm đoạt các quyền tự do và xúc phạm đến phẩm giá con người thì chúng ta chưa biết dân tộc nào thật sự dũng cảm hơn!

Chỉ khi nào chế độ độc tài hủ lậu đó cũng cho thấy họ khiếp nhược đối với ngoại bang, thì người Việt thế nào cũng phản ứng mạnh! Trong Tháng Ba năm 2010, người Hán đã làm lễ kỷ niệm chiến thắng của Phục Ba Tướng Quân Mã Viện vào năm 43, mà báo chí họ gọi là “Anh hùng Vệ quốc.” Không biết họ nghĩ lúc đó nước Trung Hoa bị ai đánh mà phải có anh hùng vệ quốc? Một đoàn văn nghệ của cộng sản Việt Nam đã được tham dự lễ hội này, ngay tại thị xã Ðông Hưng, sát biên giới Trung-Việt, họ mặc áo dài khăn đóng, chụp hình đăng báo rất đẹp.

Người Việt Nam phải làm gì để tưởng niệm nhớ ơn công đức Hai Bà Trưng đây?

Posted: Sun Mar 28, 2010 12:25 am
by khieulong
Ước mơ và thực tại của dân chúng Việt Nam


Phạm Quang Trình

Bốn nhu cầu căn bản của con người là: ăn, mặc, ở, và đi cũng gọi là di chuyển.

Ở mức độ sơ khai, con người mong được ăn no, mặc ấm, ở sạch, đi mau.

Khi văn minh tiến bộ, con người mong được ăn ngon, mặc đẹp, nhà ở có đủ tiện nghi và di chuyển mau lẹ hơn nhờ phương tiện xe cộ, tàu bè, chạy bằng máy móc.

Thời văn minh hiện đại- nhờ khoa học kỹ thuật tiến bộ, đời sốngcon người sung sướng hơn nữa. Vẫn ăn ngon, mặc đẹp, nhà đầy đủ tiện nghi, Di chuyển mau lẹ hơn nữa bằng đủ mọi phương tiện máy móc trên bộ, trên không, dưới biển. Đó là chưa kể đến những tiến bộ về truyền thông và không gian giúp loài người liên lạc với nhau trong nháy mắt, tạo cho người ta có cảm tưởng rằng trái đất đã nhỏ lại nhiều lần.

Dân tộc Việt Nam cũng như các dân tộc khác trên địa cầu đều có những nhu cầu tương tự. Thỏa mãn nhu cầu đó cũng chính là ước mơ của dân chúng VN. Nhưng việc thỏa mãn các nhu cầu đó ở mức độ sơ khởi, văn minh cao thấp tùy thuộc vào khả năng vận dụng sáng tạo của mỗi dân tộc, vào khả năng và thiện chí của giới lãnh đạo. Bất hạnh thay, dưới chế độ Cộng sản, Việt Nam đã trở thành một trong những quốc gia đói nghèo và lạc hậu nhất thuộc thế giới thứ ba trong khi bọn cầm quyền Hà Nội vẫn rêu rao tuyên truyền bằng những sáo ngữ: Độc lập, Tự do, Hạnh phúc.


Nhìn lại chặng đường lịch sử, từ thế kỷ thứ 19, khi chủ nghĩa thực dân đế quốc thịnh hành, VN đã là nạn nhân của chế độ Pháp thuộc (1858-1954). Khi Thế Chiến thứ 2 (1939-1945) vừa kết thúc thì phong trào giải phóng các dân tộc nhược tiểu bị đô hộ đã phát khởi mạnh mẽ. Lợi dụng cơ hội đó, Nhân dân Việt Nam đã mạnh bạo đứng lên đấu tranh giành lại chủ quyền. Mặc dầu nêu cao chiêu bài Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc, nhưng tập đoàn Cộng sản Hồ Chí Minh đã không đáp ứng đích thực nguyện vọng, cũng là ước mơ của nhân dân Việt Nam. Thay vào đó, ho. Hồ đã công khai du nhập chủ nghĩa Mác Lê vào đất nước, gây nên cảnh nồi da xáo thịt. Theo lệnh của quan thầy Nga-Hoa, CSVN đã quyết tâm giành chính quyền bằng mọi cách đồng thời ra tay tiêu diệt các đảng phái quốc gia, thanh toán các thành phần đối lập gây nên cuộc chiến Quốc-Cộng đằng đẵng 30 năm trời (1945-1975), hy sinh trên 3 triệu sinh mạng một cách tức tưởi. Hơn thế nữa, Hồ Chí Minh còn đích thân sang Nga và Trung Cộng lãnh nhận chỉ thị của Staline và Mao Trạch Động thực hiện cái gọi là cuộc Cải Cách Ruộng Đất long trời lở đất từ 1953-1956, giết hại trên 300 ngàn người bị quy chụp là địa chủ hay người quốc gia, kẻ thù của giai cấp. Vẫn chưa hết, với sự hỗ trợ của Nga-Hoa và CSQT, tập đoàn Cộng sản Hà Nội còn thực hiện âm mưu thôn tính miền Nam qua công cụ bù nhìn Mặt Trận Giải Phóng và đích thân xua quân tấn chiếm, biến cả nước thành một nhà tù vĩ đại trong lịch sử dân tộc.


Kết quả dưới chế độ độc tài đảng trị là nhân quyền bị tước bỏ, Tôn giáo bị đàn áp, tài sản nhân dân bị cướp đoạt, hàng triệu người bị sung vào trong các Trại Học Tập Cải Tạo. Không chịu nổi ách thống trị tàn ác đó, hàng triệu người đã âm thầm tìm đường vượt biên, bất kể những gian nguy đến tính mạng, trong đó hơn nửa triệu người đã biến thành mồi cho tôm cá. Nhưng không phải chỉ đến ngày 30-04-1975 mới có hàng triệu người bỏ nước ra đi, mà ngay từ năm 1954 sau Hiệp Định Genève, gần một triệu người từ miền Bắc đã di cư vào Nam để tị nạn Cộng sản. Bởi đó, quý vị sẽ không ngạc nhiên khi Cộng sản tấn chiếm miền Nam thì có hàng triệu người vượt biên ra nước ngoài để tìm tự do, tạo thành một Cộng Đồng Hải Ngoại với trên 3 triệu người rải rác khắp hoàn cầu.


Câu hỏi được đặt ra: Cộng sản là gì mà dân chúng sợ đến thế? Tại sao chỉ có dân chúng từ các nước bị CS thống trị mới vượt biên tìm tự do bên các nước tư bản mà không thấy những cuộc vượt biên hàng loạt nào từ Bắc Mỹ hay Tây Âu chay qua Liên Sô và Trung Cộng? .

Suốt 57 năm thống trị miền Bắc và sau 35 năm tấn chiếm miền Nam, ngụy quyền Cộng sản Hà Nội đã biến Việt Nam trở thành một trong những nước đói nghèo lạc hậu trong khi các quốc gia khác không Cộng sản như Nhật Bản, Đài Loan, Singapore, Nam Hàn, Hồng Kong đã trở thành những Con Rồng Kinh Tế Á Châu. Vậy thì nguyên nhân nào đã kiềm hãm dân chúng, đất nước Việt Nam trong vòng đói khổ? Câu trả lời đơn giản và dễ dàng: chính chế độ Cộng sản! Thật vậy, sau biến cố Đông Âu (1989) và Liên Sô bị sụp đổ (1991), tập đoàn CSVN vẫn chưa mở mắt. Ngược lại chúng vấn ngoan cố bám vào chiêu bài Mác-xít để thống trị nhân dân và tự biến thành những tên tư bản Đỏ. Chính chế độ độc tài toàn trị của chúng đã bị thế giới cũng như các tổ chức nhân quyền như Văn Bút Quốc Tế, và Hội Ân Xá Quốc Tế lên án mạnh mẽ.


Ước mơ của nhân dân VN vẫn không thay đổi. Vẫn là độc lập, tự do, cơm áo, hòa bình, Vẫn là nhân quyền và công lý. Ước mơ của dân chúng VN cũng là ước mơ của các dân tộc trên thế giới, những điều rất bình thường, mà bất cứ dân tộc nào cũng có quyền được hưởng. Vả lại, dân chúng VN không đòi những gì quá đáng hơn các dân tộc khác. Dân chúng VN cũng không đòi tập đoàn Cộng Sản phải làm hơn những nhà cầm quyền các dân tộc khác đã và đang làm cho dân tộc họ. Nếu như tập đoàn CSVN biết tôn trọng những điều cơ bản ấy thời nhân dân VN hạnh phúc biết bao. Và chắc chắn hằng năm, VBQT trong mỗi lần Đại Hội đã không phải ra một Nghị quyết lên án mạnh mẽ CSVN vi phạm nhân quyền, đàn áp những người bất đồng chính kiến.


Thực trạng bi thảm đó cho thấy Hồ Chí Minh cùng tập đoàn đã sai lầm khi du nhập chủ nghĩa CS vào VN, đã sai lầm khi thực hiện Cải Cách Ruộng Đất, đã sai lầm khi gây chiến tranh xâm chiếm miền Nam, chà đạp thô bạo những Hiệp Định mà chúng đã long trọng ký kết trước quốc tế. Chiến tranh quả là điều nguy hiểm và không cần thiết, bởi vì dân chúng VN yêu hòa bình, mơ hạnh phúc. Nhưng một nền hòa bình trong đói khổ, áp bức tù đày, nhân quyền không được tôn trọng, văn nghệ sĩ, trí thức bị đàn áp… thời còn tồi tệ hơn một cuốc chiến tàn khốc. Bởi vì trước 1975, chỉ có miền Bắc bị chúng kiềm tỏa. Miền Nam vẫn là một quốc gia tự do tôn trọng nhân quyền, trong đó cuộc sống nhân dân luôn được bảo vệ trên mọi phương diện, Ngược lại, tập đoàn CSVN là thứ tay sai của Cộng sản Quốc tế. Chúng coi Đảng hơn Tổ Quốc; coi quan thày Nga Hoa hơn dân tộc; coi quyền lợi của phe nhóm hơn quyền lợi của người dân. Trong khi nhân dân đói khổ thì chúng biến thành những đại gia giàu sụ, những tên tư bản Đỏ ăn sung mặc sướng, nhà cao cửa rộng.

Thật ra thì Cộng sản cũng ước mơ, nhưng ước mơ của chúng là ước mơ của tối tăm ngục tù, ước mơ của sự thống trị lâu dài bằng đàn áp, bóc lột. Chúng là chuyên viên lừa lọc, nói một đàng, làm một nẻo đề một khi chúng nắm được quyền thống trị thì dân chúng rất khó vùng lên đòi lại tự do. Bởi đó, dưới sự thống trị tàn ác của chúng, đạo lý trở nên suy đồi, tội ác và tệ đoan xã hội tràn lan, tham nhũng bóc lôt lên đến tột đỉnh. Bao dự án viện trợ cho VN đã bị chúng đục khoét. Thực trạng thê thảm đó làm cho dân chúng và dư luận khắp nơi nhớ lại nhận định của CTT Nguyễn Văn Thiệu: “Đừng nghe những gì Cộng Sản nói mà hãy nhìn kỹ những gì Cộng Sản làm”.

Quê hương yêu dấu Việt Nam đã được hình thành bằng những trang sử máu của tiền nhân, đáng lý CSVN phải biết trân trọng gìn giữ. Thay vào đó, chúng đã hiện nguyên hình làm tay sai cho quan thày Bắc Kinh, cắt đất dâng biển (Hoàng Sa va Trường Sa) cho quan thày để trả nợ khiến kẻ thù phương Bắc được thể tràn xuống phương Nam, mở rộng biên cương bờ cỏi ở biển Đông gây bất ổn va` xáo trộn cho cả vùng Đông Nam Á.

Thật bất hạnh cho một dân tộc từng đánh bại bao thứ giặc ngoại xâm từ phương Bắc như Hán, Tống, Minh, Nguyên, Thanh và từng bị giặc Tàu đô hộ một ngàn năm (111BC – 939AD) mà vẫn vùng lên giành lại quyền độc lập tự chủ, mà nay bị đặt dưới ách thống trị của tập đoàn Cộng sản ác ôn côn đồ, tay sai của quan thày phương Bắc.


Tôi xin kết thúc bài nói chuyện hôm nay bằng một nhận định đơn sơ:

Dân chúng Việt Nam vẫn ước mơ, ước mơ một cách chân thành là được cơm no, áo ấm, có nhà ở và đi lại tự do như bất cứ dân tộc nào trên thế giới Ước mơ đó đã có từ lâu nhưng vẫn chưa được toại nguyện. Phải chăng như nhà thơ Nguyễn Chí Thiện từng viết:

Nếu nhân loại mọi người đều biết

Cộng sản là gì, tự nó sẽ tan đi….

Nhân loại hôm nay đã biết. Dân chúng dưới các chế độ Cộng sản như Việt Nam , Trung Hoa, Cu Ba., Bắc Hàn cũng đã biết. Nhưng những cái biết đó vẫn chưa đủ để quật đổ chế đô độc tài ác ôn như dân chúng các nước Đông Âu và Liên Sô đã làm. Quả thật, họ đang cần tiếng nói bênh vực công lý và sự thật của chúng ta - những nhà văn vì hòa bình đích thực- để một khi họ đứng lên vì chính nghĩa đấu tranh, họ hết sợ đàn áp thì ước mơ đó sẽ thành hiện thực.

Posted: Tue Mar 30, 2010 12:41 am
by caubennoc
Nếu Trung Quốc loại bỏ Google, chúng ta sẽ loại bỏ máy tính của họ



Dịch theo gợi ý của anhbasam.com: Các báo nên cho dịch ngay bài nầy: If China Throws Out Google, We Should Throw Out their Computers (The Huffington Post) Khái niệm bình đẳng song phương trong kinh doanh có một lịch sử lâu dài, và là một khái niệm mà ngày nay ta vẫn phải nhớ. Chẳng hạn, nếu chúng ta cho phép sản phẩm của cỗ máy công nghiệp khổng lồ Trung Quốc xâm nhập thị trường,

mang lại việc làm cho 100 triệu công nhân Trung Quốc (số dân Trung Quốc làm việc trong lĩnh vực sản xuất) thì họ cần phải cho phép những công ty sáng tạo của chúng ta xâm nhập thị trường, ví dụ như Google.
Nhưng không chỉ riêng Google đang bị ép ra ngoài bởi một chuỗi những hành động và âm mưu của chính quyền Trung Quốc, mà YouTube, một nhánh của Google, không bao giờ được cho phép tại Trung Quốc. Nó đã bị khóa thường trực bởi tường lửa. Phần lớn các website khác của Hoa Kỳ cũng không được tự do trên thị trường Trung Quốc. eBay đã rời Trung Quốc. Nhiều tờ báo mạng thường xuyên bị kiểm duyệt. Những công ty Trung Quốc sẵn lòng chấp nhận sự kiểm duyệt và độc tài của chính quyền Trung Quốc, như Baidu và Alibaba, là những tay chơi máu mặt trên thế giới mạng của nước này. Đây không chỉ là một vấn đề về tự do ngôn luận. Nó còn là một hàng rào mậu dịch và một vấn đề kinh tế nghiêm trọng đối với Hoa Kỳ. Chỉ riêng Google đã có trên 20,000 nhân viên, nhiều người ở ngay Hoa Kỳ, và họ và công ty đã bị cắt giảm vì những hành động trên, cũng giống như nhân viên tại eBay và các công ty website khác.

Chúng ta đang chiến đấu để xây dựng lại lĩnh vực sản xuất của chúng ta, nhưng mặt khác, chúng ta cần phải đảm bảo các công ty như Google được hoạt động toàn vẹn trên thị trường lớn nhất thế giới, Trung Quốc. Nếu một công ty không thể xâm nhập vào thị trường lớn nhất thế giới để bán sản phẩm của mình, nó sẽ mất đi khoản thu khổng lồ. Và vì quy luật lợi thế kinh tế theo quy mô (economy of scale) và khả năng đi xuống trên đường học hỏi (learning curve) công ty sẽ chịu những bất lợi so với các địch thủ khác đang ngoi lên.

Từng có một sự thỏa thuận bất thành văn giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ về internet. Hoa Kỳ đồng ý giảm tất cả các khoản thuế đối với các sản phẩm công nghệ cao xuống mức zero, và chúng ta từng cho phép tất cả những gì Trung Quốc có thể mang sang đây bán, không vấn đề gì. Và kết quả là gì? Kết quả là một số lượng lớn máy tính ở Hoa Kỳ là hàng Trung Quốc. Chúng ta thậm chí còn cho phép nhà sản xuất máy tính đầu tiên của Hoa Kỳ, IBM, bán nhánh PC của mình cho Levono, một công ty Trung Quốc. Lẽ ra vụ mua bán này có thể bị ngăn chặn, dưới một luật Hoa Kỳ gọi là luật Exon-Florio, nhưng chúng ta không những không ngăn chặn nó, mà chúng ta thậm chí còn không đặt vấn đề về nó.

Tại sao? Bởi vì chúng ta từng tin rằng, vì Trung Quốc trên quá trình công nghiệp hóa và đi trên xa lộ kinh tế và tri thức, họ sẽ trở thành một thị trường lớn đối với những sản phẩm vốn là lợi thế của chúng ta, như công cụ tìm kiếm, video phát trực tiếp (streaming video), và các trang web sáng tạo (innovative website).

Nhưng họ lại không phải như vậy. Vì vậy chúng ta đang ở thế hoàn toàn không cố thủ được. Phần cứng internet, máy vi tính, ổ đĩa, đồ bán dẫn… toàn bộ là sản xuất tại Trung Quốc, không phải tại đây. Rất nhiều phần mềm internet, được sản xuất, nâng cao và liên tục cải tiến ở đây thì bị cấm tại Trung Quốc. Bởi vậy các ngành công nghiệp của họ phát triển, họ có thêm nhiều việc làm, nền kinh tế của họ tránh khỏi khủng hoảng. Nền kinh tế của chúng ta co lại, số việc làm giảm xuống, và những công ty sáng tạo của chúng ta bị ảnh hưởng vì không được phép xâm nhập vào thị trường internet lớn nhất thế giới.

Và tình hình ngày càng tệ hơn. Ngày càng nhiều nhà sản xuất chuyển xưởng của họ sang Trung Quốc, do các khoản trợ cấp, lao động rẻ mạt, tiêu chuẩn vệ sinh môi trường thấp. Thật mỉa mai, chỉ cách đây ít lâu chúng ta còn nghĩ rằng máy tính và đồ bán dẫn là những ngành công nghiệp sáng tạo mà chúng ta sẽ luôn giữ tại Mỹ. Nhưng về cơ bản các ngành này đã rời khỏi bờ biển của chúng ta, mặc dù phần sáng tạo hơn thì vẫn chưa. Khu vực sản xuất máy tính lớn nhất thế giới là tại tỉnh Quảng Đông, phía bắc Hồng Kông, nơi Foxconn có 200,000 người làm nhà thầu phụ cho nhiều nhãn hiệu Hoa Kỳ và các nước khác. Trong khi đó, hàng nghìn kỹ sư và công nhân dây chuyền lắp ráp Hoa Kỳ bị thất nghiệp.

Chính phủ Trung Quốc muốn thương mại hoàn toàn một chiều, trong đó Trung Quốc tích lũy kiến thức và tiềm lực công nghiệp và dự trữ thương mại còn chúng ta thì không được gì. Nếu có bất cứ một lĩnh vực nào đó mà chúng ta có lợi thế rõ rệt thì đó là địa hạt phức tạp và đòi hỏi sáng tạo cao của Google.

Năm 2009 Trung Quốc xuất khẩu 126 tỷ dollar Mỹ máy tính và thiết bị điện sang Hoa Kỳ. Chúng ta chỉ xuất khẩu một khoản khá bèo, 14 tỷ dollar Mỹ sang nước họ. Khi xem xét những lợi thế thương mại này, người ta có thể cho rằng họ sẽ nể mặt các công ty internet của chúng ta, nhưng họ lại không.

Đòi hỏi bình đẳng song phương không phải là bảo hộ thương mại và không thể vấp phải sự chỉ trích nào từ phía Trung Quốc, WTO hay ngay cả những thành phần tự do nhất. Bình đẳng song phương là quy luật chung của tất cả các thỏa thuận thương mại trên thế giới. Chúng tôi để anh bán trên thị trường của chúng tôi những hàng hóa mà anh có thể sản xuất hiệu quả hơn. Anh để cho chúng tôi bán trên thị trường của anh những hàng hóa và dịch vụ mà chúng tôi sản xuất. Nếu Trung Quốc loại bỏ những công ty internet của chúng ta, chúng ta cần loại bỏ phần cứng của họ.

Nguồn: http://www.huffingtonpost.com/gilbert-b ... 01217.html

Posted: Thu Apr 01, 2010 12:49 am
by vuphong
Ðồng minh khác, chư hầu khác

Ngô Nhân Dụng

Tình hữu nghị giữa Israel với Hoa Kỳ tuy không có “16 chữ vàng” thề ước như giữa Việt Nam và Trung Quốc, nhưng chắc chắn còn thắm thiết hơn. Vậy mà, trong khi chế độ Cộng Sản ở Việt Nam lúc nào cũng sợ hãi, tránh né không dám nói một câu sợ có thể làm mất lòng Trung Cộng, thì mối bang giao giữa hai nước Mỹ và Israel vừa mới trải qua nhiều cuộc đụng độ công khai, có thể gọi là “lăng nhục” lẫn nhau. Bởi vì Israel là một đồng minh của nước Mỹ, nhưng quốc gia nhỏ bé hơn 7 triệu dân này nhất định không chịu đóng vai một chư hầu.

Giữa Tháng Ba 2010, đúng lúc Phó Tổng Thống Mỹ Joe Biden đến Jerusalem, chính phủ Israel công bố một chương trình xây thêm 1,600 đơn vị gia cư cho một nơi định cư mới của người Do Thái tại miền Ðông Jerusalem, xây giữa một khu sinh sống của người Á rập. Ông Biden phản đối ngay là khu định cư mới này gây trở ngại cho hòa bình. Bà Ngoại Trưởng Hillary Clinton tuyên bố hành động của Israel có tính cách cố tình hạ nhục (insult) chính phủ Mỹ. Ít khi có một nhân viên chính phủ Mỹ nói những lời lẽ nặng nề như vậy với một chính phủ Israel.

Thủ tướng Israel, Benjamin Netanyahu lập tức ngỏ lời xin lỗi phó tổng thống Mỹ, đổ tội cho ông bộ trưởng nội vụ công bố không đúng lúc, và không hỏi ý chính phủ. Nhưng ông Netanyahu nói ông vẫn tiếp tục khu định cư mới chứ không chịu bỏ, Mỹ thích hay không cũng mặc.

Sau đó, Tổng Thống Barack Obama muốn làm giảm bớt căng thẳng, tuyên bố mối bang giao giữa hai nước vẫn bền chặt không thay đổi vì biến cố trên. Nhưng ông Netanyahu lại đổ thêm dầu vào lửa, một tuần sau, khi ông bay sang Washington theo lời mời của Hội AIPAC, một tổ chức lớn của người gốc Do Thái ở Mỹ, vẫn giúp vận động cho chính phủ Israel.

Tại sao chính phủ Mỹ lại tỏ ra giận dữ khi Israel xây khu định cư mới? Vì mới Tháng Sáu năm ngoái, Tổng Thống Obama đã tới Ai Cập nêu lên một chương trình tìm kiếm hòa bình ở vùng Trung Ðông, trong đó một mấu chốt là phải giải quyết những xung đột còn lại giữa nước Israel và người Palestine. Một trong những điều kiện để Israel và Palestine có thể ngồi xuống nói chuyện hòa bình lâu dài, ông Obama nói, là chính phủ Israel phải ngưng không lập thêm những khu định cư mới trên các vùng đất mà họ chiếm đóng từ năm 1967, đặc biệt là tại phía Ðông Jerusalem.

Từ khi nước Israel tự thành lập năm 1947, hàng triệu người Palestine thuộc giống dân Á rập đã phải di cư và cho tới nay vẫn chưa thành lập được một quốc gia của họ; trong khi chính phủ các nước Á rập chung quanh thì không công nhận quốc gia Israel. Iran, một nước Hồi Giáo không thuộc giống Á rập thì vẫn chủ trương phải xóa bỏ quốc gia Israel. Liên Hiệp Quốc và các nước lớn đều đồng ý miền đất này phải lập ra hai quốc gia riêng biệt, Israel cho người Do Thái và Palestine cho người Á rập.

Từ năm 1967, Israel đã chiếm đóng một phần lớn đất đai của các nước Á rập chung quanh, kể cả phía Ðông của thành phố Jerusalem trước thuộc nước Jordan. Các chính phủ Israel sau đó đã cho người Do Thái tới định cư ở các nơi trong vùng đất chiếm đóng, để đặt ra một tình trạng đã rồi trước khi có những thỏa hiệp phân chia địa giới tạo hòa bình lâu dài. Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc đã làm nghị quyết yêu cầu Israel ngưng hành động trái với luật pháp quốc tế này, nhưng các chính phủ Israel thường làm ngơ. Jerusalem là một trường hợp đặc biệt. Ðây là vùng thánh địa của ba tôn giáo lớn: Do Thái Giáo, Thiên Chúa Giáo, và Hồi Giáo. Chính phủ Israel đã thiết lập thủ đô tại Jerusalem nhưng nhiều nước không công nhận. Các chính phủ Mỹ và Liên Hiệp Quốc đều chủ trương quy chế của thành phố thánh địa này phải được một hội nghị quốc tế thảo luận.

Chính vì vậy, việc chính phủ Netanyahu công bố xây thêm 1,600 đơn vị nhà ở được coi là một hành động khiêu khích. Việc xây khu định cư này có tính cách thách đố đối với chính phủ Mỹ. Công bố chương trình đó đúng lúc ông phó tổng thống Mỹ sang Jerusalem để làm trung gian hòa bình, phải coi đó là một hành động chứng tỏ chính phủ Israel bất chấp ý kiến của chính phủ nước đồng minh thân thiết nhất của họ.

Nhiều tờ báo ở Israel giải thích hành động trên là do chính phủ Netanyahu bắt đầu coi thường chính quyền Obama, khi thấy ông Obama đang thất thế. Lúc đó, đảng Dân Chủ vừa mới mất một ghế nghị sĩ và mất ưu thế 60 phiếu ở Thượng Viện. Dự luật Cải tổ Y tế coi như sắp chết yểu. Uy tín của ông tổng thống Mỹ đang xuống, nhiều đại biểu Quốc Hội đảng Dân Chủ đang lo sẽ thất cử năm nay. Tại thủ đô Israel người ta đang chờ ông Obama sẽ trở thành một “Carter thứ hai,” một vị tổng thống Dân Chủ thất bại và chỉ nắm quyền một nhiệm kỳ.

Cho nên, ông Netanyahu đã tìm cơ hội, trong lúc chính phủ Mỹ đang yếu thì cứ “làm tới” để bảo vệ quyền lợi của dân Israel!

Từ khi lập quốc, Israel đã phải đối đầu với hơn 200 triệu người Á rập ở các nước chung quanh. Họ được Mỹ giúp, không có nước Mỹ thì họ chết. Hiện nay mỗi năm nước Mỹ viện trợ Israel trên 3 tỷ Mỹ kim, ngay trong lúc kinh tế Mỹ đang xuống cũng không bỏ được. Cho nên họ phải thỏa hiệp với các chính phủ Mỹ trong bất cứ hành động nào, khi chiến tranh cũng như khi tìm hòa bình. Nhưng các chính phủ Israel không bao giờ theo đúng các kế hoạch hòa bình của các chính phủ Mỹ. Họ không thể tin vào người Á rập như các chính phủ Mỹ có thể tin. Nếu chính phủ Mỹ tin, rồi bị lừa, thì sự thiệt hại cho nước Mỹ cũng chỉ thu nhỏ trong một khu vực trên thế giới mà thôi. Ngược lại, nếu Israel cũng tin, rồi bị lừa, thì có thể mất nước! Người Việt Nam đã có kinh nghiệm này, hồi trước năm 1975. Mỹ có thể tin lời hứa của những Lê Ðức Thọ, Nguyễn Thị Bình; sau đó có bị Việt Cộng lừa thì nước Mỹ cũng chỉ cần đợi mấy chục năm sẽ trở lại Việt Nam và được Việt Cộng hoan nghênh hơn cả Việt Nam Cộng Hòa thời trước. Nhưng những người Việt dân chủ tự do thì nếu bị lừa là mất tất cả! Nước Israel không muốn lâm vào tình trạng đó! Mặt khác, họ biết các chính phủ Mỹ, dù thuộc đảng nào, cũng vẫn phải là đồng minh của Israel.

Cho nên, bất cứ khi nào có thể làm được là chính phủ Israel lại đi chệch ngoài con đường của Mỹ, để tự lo lấy thân mình. Ðối với quốc gia Israel, gài được thêm một khu định cư mới nào vào vùng đất người Á rập sinh sống, là lấn được một bước mới. Vì khuynh hướng của Liên Hiệp Quốc là chia Jerusalem làm đôi, nửa phía Ðông sẽ cho người Á rập dùng làm thủ đô, phía Tây cho Israel, còn một vùng nhiều thánh tích sẽ được quốc tế hóa cho tín đồ các tôn giáo tự do tới. Israel thì chủ trương tất cả Jerusalem sẽ là thủ đô của nước họ. Cho nên càng nhiều người Israel sinh sống, định cư ở Ðông Jerusalem càng có lợi cho Israel. Lập thêm một khu định cư, cũng có thể dùng như một quân cờ để mặc cả với các nước Á rập (và với Mỹ) sau này trong các cuộc thương thuyết.

Cho nên, khi tới Washington D.C. tuần trước, Thủ Tướng Netanyahu đã nói trước hội AIPAC rằng: “Jerusalem không phải là một khu định cư. Ðó là thủ đô của chúng ta từ 3000 năm trước!”

Tuyên bố như trên, ở giữa thủ đô nước Mỹ! Ngay sau khi ngoại trưởng Mỹ đã lên tiếng cho là chính phủ Israel đã “hạ nhục” nước Mỹ trong hành động công bố việc lập thêm khu định cư! Ông Netanyahu quả thật đã đánh một nước bài táo bạo!

Hậu quả đầu tiên là ông Obama trả đũa. Tổng thống Mỹ đã tiếp thủ tướng Israel tại Tòa Bạch Ốc, nhưng không cho chụp hình. Cũng không có họp báo chung, không có thông cáo chung, không một bản tin nào được phát ra. Chưa một vị thủ tướng nước nào tới Tòa Bạch Ốc mà lại được ông tổng thống Mỹ tiếp đãi như vậy. Gặp nhau 90 phút, chắc không ai nhượng bộ ai, ông Obama đã rút khỏi phòng bầu dục, trở về nhà ăn cơm tối một mình! Ông Netanyahu được đưa vào một phòng khác, họp riêng với các cố vấn. Hơn 80 phút sau, ông Netanyahu xin được gặp lại, ông Obama tiếp, thêm 35 phút nữa; nhưng cũng không có kết quả nào!

Phe của Thủ Tướng Netanyahu ở Israel, và những người ủng hộ ông ở Mỹ, đã ào ào phản đối ông Barack Obama, coi là ông đã “cố tình hạ nhục” vị thủ tướng của một nước đồng minh của Mỹ. Phe đối lập với ông Netanyahu thì coi chính ông thủ tướng mình đã gây sự trước và chỉ làm hại quyền lợi cho quốc gia. Việc ngưng thiết lập các khu định cư mới đã được thỏa hiệp với chính phủ Mỹ tiền nhiệm của Tổng Thống George W. Bush, để tiến tới hòa bình. Chính phủ Netanyahu đã vi phạm thỏa thuận đó, vì tưởng có thể “bắt nạt” được một ông Obama đang yếu. Nhưng sau khi đã ký đạo luật Cải tổ Y tế, sau khi thỏa hiệp được với Nga về giảm vũ khí nguyên tử, thì các chính phủ ngoại quốc rất khó bắt nạt ông Obama!

Những người đối lập với ông Netanyahu coi hành động của tổng thống Mỹ là hợp lý. Nếu muốn đi tới một thỏa hiệp giữa Israel và Palestine thì không có nước Mỹ không được. Mỹ phải đóng vai trò trung gian, nhưng chính phủ Mỹ chỉ được tin cậy trong vai trò này nếu chứng tỏ là không thiên vị. Và phải đủ mạnh để không bị Israel lấn. Mai mốt, nếu chính phủ Mỹ cứng rắn hơn khi yêu cầu phe Palestine phải nhượng bộ, thì ông Obama sẽ lấy câu chuyện tiếp ông Netanyahu ở Tòa Bạch Ốc vừa qua làm một thí dụ cho thấy nước Mỹ không phải lúc nào cũng làm theo ý chính phủ Israel. Phe Palestine sẽ khó từ chối. Quyền lợi của nước Mỹ sẽ chỉ bị hại nếu vấn đề Palestine không được giải quyết. Cuộc xung đột này là một khích động giúp cho các nhóm khủng bố tuyển thêm các thanh niên chống Mỹ ở khắp thế giới Hồi Giáo và Á rập.

Phe đối lập với ông Netanyahu đang hy vọng sẽ thay thế ông trong mùa bầu cử tới. Nhưng chính phủ Mỹ cũng không thể nghĩ rằng người thay thế ông Netanyahu sẽ “dễ bảo” hơn. Israel là một quốc gia có hàng chục đảng chính trị chia ghế trong Quốc Hội, chính phủ bây giờ đang là một chính phủ liên hiệp rất phức tạp và mong manh, có thể tan rã bất cứ lúc nào. Nhưng khi phải đối phó với các nước ngoài, kể cả nước đồng minh số một của họ là Hoa Kỳ, các chính phủ Israel lúc nào cũng bảo vệ quyền lợi quốc gia trước hết. Và lúc nào lấn được chính phủ Mỹ là họ cứ tìm cách lấn, nếu lấn không được sẽ tính lại sau.

Dân chúng và các nhà chính trị Israel không bao giờ chấp nhận vai trò một chư hầu của Mỹ. Ðịa vị Trung Quốc đối với Việt Nam không quan trọng bằng Mỹ đối với Israel. Nhưng không hiểu sao các ông tổng bí thư, chủ tịch, thủ tướng Việt Nam đối với các chính phủ Trung Quốc lại quá ngoan ngoãn! Không biết bao giờ mới có người dám đứng lên như ông Netanyahu?

Posted: Sat Apr 03, 2010 12:10 am
by thienthanh
Biểu Tình Chống Cộng

Vi Anh
Có người nói bây giờ mà nói chống Cộng là lỗi thời. Bây giờ dùng chữ đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN hợp thời trang và xu thế thời đại hơn vì khi VN có tự do, dân chủ, nhân quyền khắc tinh của CS, là CS đã bị giải trừ. Nhưng cũng có người nghĩ có chính danh thì mới thành đạo, chống CS thì cứ nói chống Cộng, hà cớ gì phải tránh né.

Có thể mạnh dạn và đầy đủ bằng cớù để nói biểu tình chống Cộng là một sự kiện, một sự thật mà ngườI Việt hải ngọai tập họp đông đảo nhứt - ở Tây Âu, Bắc Mỹ và Úc châu. Những người cầm đầu Đảng Nhà Nước CSVN đi công du, những sứ quán của CSVN khai trương là những người, những cơ quan bị ngườI Việt hảI ngọai mình biểu tình chống mạnh nhứt, đông nhứt. Hầu hết CS họ phải vào cửa hông, ra cửa hậu và không dám cắt băng khánh thành dù trong lễ gọi là khai trương.

Và cây cờ của CS Hà nội dù có bang giao và giao thương với Mỹ vẫn bị người Việt ở Mỹ là công dân hay thường trú nhân họp pháp của Mỹ lùa vào nội bộ tòa đại sứ và lãnh sứ quán của CSVN, ru rú như con gián ngày. Và quốc kỳ VNCH tuy không còn bang giao với chánh quyền liên bang Mỹ nhưng vẫn tung bay khăp cả chục tiểu bang và hàng trăm quận hạt, thành phố Mỹ do chánh quyền địa phương Mỹ thừa nhận. Có thể minh họa sự kiện này qua thời sự, sự kiện và sự thật này qua cuộc biểu tình chống Cộng của người Việt phản đối Việt Cộng khai trương lãnh sự quán tại thành phố Houston, tiểu bang Texas.

Tin Đài Á châu Tự do phát đi từ Mỹ, cả ngàn ngườI Mỹ gốc Việt đã tập họp trên đường phố, trước cao ốc số 5251 tầng lầu thứ 11 trên đại lộ Westheimer, bên cạnh khu thương mại sang trọng, nơi CS Hà nội mướn làm lãnh sự quán. Hàng ngàn cánh tay giơ lên hàng vạn tiếng hô to đả đảo CS, đòi hỏI CSVN phải tôn trọng Tự do, Dân chủ và Nhân Quyền cho người dân trong nước.

Lâu nay CS dấu địa điểm của lãnh sự quán này, nhưng không qua mắt được người Mỹ gốc Việt. Cộng đồng người Việt có tin CS sẽ khai trương lãnh sự quán lúc 11 giờ. Nhưng mới 9 giờ cả ngàn người gốc Việt đã tụ họp để biều tình chống CS.

Cảm kích vô cùng. Già, trẻ, bé, lớn đều có đủ cả; từ một cụ bà ngồi xe lăn 98 tuổi đến những sinh viên đầy nhựa sống đều có mặt. Gần xa đều đến. Người Việt từ Cali cũng bay đến. NgườI Việt từ Dallas cũng lái đến quyết tâm và hăng hái tham dự cuộc biểu tình chống Cộng ở đây.

Chẳng ai thấy cây cờ máu của lãnh sự quán VC. Mà tòan vùng ngập trời quốc kỳ VNCH nền vàng ba sọc đỏ phất phới tung bay, tượng trưng cho giá trị và chánh nghĩa tự do dân chủ mà quân dân cán chính VN Cộng Hòa đã giương cao khi vì dân chiến đấu và phủ lên quan tài khi hy sinh cho Tổ Quốc VN. Và sau ngày Quốc Hận 30-4-75, do địa lý chánh trị tòan cầu thay đổi VNCH không còn, quân dân cán chính VNCH và đàn hậu duệ không chấp nhận sống chung với CS ở VN. Hàng ba triệu ngườI ra đi, đem quốc kỳ VNCH như đem hồn thiêng sông núi theo mình. Và muờI mấy năm sau đã khéo léo vận động chánh quyền tiểu bang, quận hạt và thàng phố thừa nhận và giương lên trên bầu trờI tự do của Mỹ. Có người còn vận động bạn bè ngườI Mỹ chuyên leo núi đem treo lên Hy mã lạp sơn, nóc nhà của thế giới và mang đi khắp chiến trường Iraq và treo ở đơn vị hành quân ở Iraq khi cùng Quân Lực Mỹ ra tay lật dổ chế độ độc tài.

Đến từ nhiều địa phương Texas, nhiều tiểu bang Mỹ, nhưng những người Việt biểu tình chống Cộng đứng dưới một bóng cờ nền vàng ba sọc đỏ, và đồng thanh tương ứng, đồng khi tương cầu nói lên những lời giống nhau: đả đảo CS bán đất dâng biển cho TC, độc tài đảng trị và đòi hỏi tự do, dân chủ, nhân quyền cho VN.

Tin của Đài RFA, truyền thông trong luồng và nhiều youtube, trang webs ngòai luồng của những nhà báo dân gian – tất cả đều có hình ảnh và âm chứng. Nhiều ngườI Việt như Cô Phạm Lưu Giang cư dân của thành phố Houston nói với Đài RFA, “Em đến đây để tham gia vào buổi chống lại tòa lãnh sự cộng sản Việt Nam và em đứng đây với mọi người để kêu gọi nhân quyền cho Việt Nam”. Nhiều ngườI khác, như Anh Tú thì nói sở dĩ anh tham dự biểu tình vì anh được tin là nhà nước Việt Nam đã cho nhiều người Trung quốc đến cư ngụ trên quê hương của anh nên anh phải đến để phản đối và anh mong rằng thế hệ trẻ của anh sau này sẽ tiếp nối con đường đấu tranh của thế hệ cha chú:“Em được nghe chú bác nói là họ đã cho 50 ngàn dân Trung quốc vào nước của em ở, và em cũng có nghe về chuyện đảo Trường Sa nên em đến đây để phản đối nhà nước Việt Nam. Em rất là cảm kích các chú bác và hy vọng lớp của tụi em sau này sẽ tiếp nối các chú bác”.

Nhiều những bô lão như cụ bà Trần thị Muôn, ngồi trên xe lăn thì nói là cụ phải tham dự biểu tình để phản đối nhà cầm quyền Việt Nam đương thời: “Tôi qua đây năm 1975, năm ni tôi 98 tuổi, tôi đi đây để đả đảo cộng sản Việt Nam…”

Và có kinh nghiệm CS như “Ông Cooley, một cựu chiến binh Hoa Kỳ, từng chiến đấu tại Việt Nam trước năm 1975 chia sẻ rằng, ông tham dự biểu tình là để tưởng nhớ những đồng đội đã hy sinh để bảo vệ Tự do trong cuộc chiến Việt Nam, và ông cho rằng việc Hoa Kỳ cho phép tòa Tổng lãnh sự Việt Nam thành lập tại đây là sự phản bội các chiến sĩ đã hy sinh.
Ông Cooley cũng cho rằng tòa Lãnh sự Việt Nam tại Mỹ chỉ là một cơ quan gián điệp nhằm gây khó khăn cho người Mỹ gốc Việt cũng như cho gia đình họ còn đang ở Việt Nam.

Như Cô Thu Nga cùng với em gái tham dự cuộc biểu tình, cũng lo ngại là tòa Tổng lãnh sự có thể làm chia rẽ cộng đồng người Việt tị nạn:“Tụi em đến đây để biểu tình phản đối nhà nước cộng sản về chuyện nhân quyền, bỏ tù những nhà tranh đấu với là đã dâng đất dâng biển cho Tàu. Cộng đồng Việt Nam đang sinh sống an lành ở đây, bây giờ đặt tòa Tổng lãnh sự ở đây thì họ sẽ len lỏi để phá hoại cộng đồng Việt Nam”.

Với một ngàn người quyết tâm chống Cộng như vậy, CS Hà nội đành phảI chịu thua. Tin cho biết CS “đã phải âm thầm khánh thành lúc 9 giờ sáng, trên tầng lầu thứ 11 của cao ốc để tránh đối diện với đoàn người biểu tình và tất cả nhân viên của tòa lãnh sự đã đi cửa sau của cao ốc để đến một nhà hàng trong khách sạn Westin Oaks gần đó để dự tiệc mừng.” Đoàn người biểu tình đã cùng nhau kéo sang trước mặt khách sạn để hô hào phản đối.

CS Hà nội biết sẽ có biểu tình lớn nên khai trương mà giữ bí mật. Theo nhận định của Luật sư Hoàng Duy Hùng có mặt tại chỗ, nói “Theo thủ tục ngoại giao thì nhà nước Việt Nam phải gửi thiệp mời đến các cơ quan truyền thông báo chí của Hoa Kỳ cũng như là gửi thiệp mời đến hội đồng thành phố, gửi thiệp mời đến chính quyền liên bang và tiểu bang. Rồi sau đó đến ngày giờ thì người ta đến chung vui thì có các vị dân cử có mật để cắt băng khánh thành, Nhưng mà ngày hôm nay cộng sản Việt Nam không có chuyện đó.

Cộng sản Việt Nam không có một viên chức ngoại giao nào đến để cắt băng khánh thành. Không có 1 viên chức nào trong hội đồng thành phố đến vì không ai được mời. Báo chí Hoa Kỳ cũng không có. Cho nên nếu nói đây là một sự khai trương thì không được mà phải nói đây là sự mở cửa lén lút, chui rúc của một nhà nước phi nhân quyền tại Việt Nam”.
Đến đây thiết nghĩ đã khá đủ để chứng minh những nhận định trong phần nhập đề là sát thực tế.

Posted: Sun Apr 04, 2010 3:04 am
by tankhoasinh
Shana Alexander và Meg Greenfield
TX2 Nguyễn Văn Sơn

Mỗi năm vào tháng Tư oan trái của đất nước, tôi lại nhớ đến muôn triệu điều thương đau của đất nước chúng ta, của hàng triệu những con người còn kẹt lại ở quê nhà, của hàng triệu con người chạy trốn một chế độ phi nhân, tàn độc, để đi tìm Tự Do. Năm nay, năm 2010, đã 35 năm trôi qua, vết thương lại tiếp tục trở về rỉ máu, bưng mủ từ những trái tim của những người Việt lưu vong trên toàn cầu, một vết thương không bao giờ có thể lành lặn lại được, của những trái tim còn nặng lòng với đất nước, của những con người còn chút liêm sĩ.
Rời bỏ quê hương đất nước, mồ mả ông bà, ruộng vườn, nhà cửa, cha mẹ, vợ con,anh em, bạn bè... để chạy trốn một chế độ man rợ….cùng với những lời thóa mạ, chửi rủa của kẻ thù xâm lược phương bắc rượt đuổi, bám theo sau lưng, đứng đầu là những lời chửi bới của tên Thủ Tướng Cộng Sản Phạm văn Đồng, hắn cho rằng ….đây là toàn những kẻ bồi bếp, là bọn bán nước chạy theo bơ thừa sữa căn của đế quốc Mỹ !!.…
Trong muôn triệu điều thương đau đó, có cả những lời của những kẻ thóa mạ ở ngay trên những vùng đất cho người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản dung thân – (dù bên cạnh đó vẫn có hàng triệu trái tim nhân ái khác của những con người không cùng màu da với chúng ta, như của Tổng Thống Gerald Ford, của Tổng Thống Jimmy Carter, của biết bao người trong các tổ chức nhân đạo khác …)
Mỗi năm, đến cái ngày đau thương, oan trái nầy, tôi lại nhớ đến….Shana Alexander, nhớ đến câu nói của “ nàng ” trong một bài viết trên tờ Newsweek, số tháng 5 năm 1975, mà mổi năm vào tháng 4 buôn thảm này , tôi thương vào thư viện tìm lại để đọc…
“ Nàng ” viết …. : “ Tôi không biết….rồi những người tỵ nạn Việt Nam được chính phủ mang vào lục địa nầy sẽ sống ra sao khi cả đời họ chưa nghe, chưa thấy, chưa biết Michelanlego là ai, cũng chưa bao giờ dung đến cái máy giặt..v.v…và ..v..v ” .
Và theo “ nàng ”, đám người di tản toàn là một bọn mọi rợ, bán khai, ngu dốt… “ Nàng ” tỏ ra ….lo lắng cho đám người nầy khi họ đến sống ở nước Mỹ. Nghe thật là buồn thảm cho thân phận con người đi tìm Tự Do và tìm đất dung thân, dù những lời nói đó chỉ xuất phát từ một thiểu số người.
Bài viết nầy sẽ không đi sâu vào “ tiểu sử ” của hai nàng, nếu không sẽ là vô tình ….quảng cáo không công cho các nàng… dù rằng những điều nầy ( tiểu sử của hai nàng) cũng không có gì gọi là sáng chói và ghê gớm cho lắm.
Shana Alexander, viết những lời nầy vào năm 1975, khi đó “ nàng ”….( mới )…50 tuổi, ở tuồi nầy đàn bà Mỹ đã trở thành… “ Bà già giết giặc ”, đâu còn cái “ mơn mởn ”, “ mặn mà ”, “ mũm mĩm ” như đàn bà Việt Nam cũng vào tuổi nầy. Gọi nàng là “ nàng ” là….lịch sự…. có thừa đó chứ ! Không gọi nàng như vậy….e nàng giận - Nàng là cư dân của New York, tốt nghiệp Vassar College năm 1945, khoa Anthropology ( Nhân chủng học ), một đại học tư tại Poughkeepsie, New York. Bước vào nghề báo chí thật tình cờ, khi nàng nhận một cái job part time làm việc vào mùa hè khi nàng còn đi học ở Vassar, tại tòa báo “ Nhật báo New York ” với chân thư ký để các xếp lớn, các đàn anh đàn chị ký giả khác…. sai vặt. Sau đó làm việc cho các tờ báo nhỏ như tờ New York PM , tờ Mademoiselle rồi đến các tạp chí … Life, Mc Call’s, Newsweek. Năm 1969, nàng là chủ bút của tờ McCall’s, đến năm 1975 nàng chuyển sang chuyên viết những mục bình luận cho tờ tuần báo Newsweek, đây là tờ báo mà từ trên xuống dưới, từ Publisher , Editor, Managing, Associate Managing Editor, đến các Columnist và các nhân viên trong Staff writer đều là những người Mỹ gốc Do Thái. Sau bài viết miệt thị đó, “ nàng ”….biến mất, không còn viết gì nữa, tính đến nay đã hơn ba thập niên trôi qua. Bài viết của một kẻ kiêu ngạo qúa mức, cái Bachelor bốn năm về Anthropology ở Vassar College thì có gì là ghê gớm lắm đâu, chỉ cần nửa [ (1/2) thế hệ những người mà nàng nói là : “ không biết Michelangelo là ai ” , những người mà nàng miệt thị là mọi rợ, không biết cái máy giặc là cái gì….
Nửa thế hệ ( 10 năm ) đã có biết bao người mang những cái họ Nguyễn, Trần, Lê, Phạm, Trương, Trịnh, Đinh, Dương,Cao,Bùi, Vũ, Võ….và rất nhiều những cái tên họ Việt Nam đã làm biết bao nhiêu kỳ tích trong học đường và xã hội, những con số nầy không phải là con số nhỏ và con số nầy càng ngày càng không đếm xuể, từ “ trên trời xuống dưới đất ”, từ những tổ chức chính quyền đến văn hóa, xã hội qua phạm vi văn học nghệ thuật- kể cả ngành truyền thông .Thử hỏi Shana, có biết người có 7 bằng PhD một lúc của đại học MIT là ai không, có biết người phi công trưởng của phi thuyền con thoi Columbia, trong chuyến đi đầu tiên của phi thuyền nầy là người như thế nào không, có biết người phụ nữ duyên dáng đứng đầu toán chuyên gia phát minh ra bom nhiệt áp, có first name là gì không, có biết người soạn thảo Patriot Act tên là gì không, có biết rằng sĩ số sinh viên xuất sắc tại các hệ thống đại học Ivy- League và các đại học nổi tiếng ở Hoa Kỳ xuất thân từ đâu hay không, và….Bây giờ, cái Bachelor như cái Bachelor của…. Shana ...- ( bây giờ đối với con cháu của những người mà Shana cho rằng….họ không biết Michelagelo …là ai, đối với đám con cháu nầy…cái Bachelor đó là…chuyện nhỏ…. như con…chim (?)…như …cánh bướm (?) của họ !!! ) – So sánh như thế chắc cũng …tội nghiệp cho nàng – thôi thì lấy chuyện viết văn ( phạm vi của nàng – vì nàng cũng có viết sách…. chứ bộ !!! )– như vậy sẽ công bình với nàng hơn - cuốn sách nàng viết, có tựa đề là “ Happy days : My Mother, My Father, My Sister & Me ” .
Nói là “ truyện ”, thực sự đây chỉ là cuốn “ tự họa chân dung ” của nàng – ( một loại autobiography tự đề cao tự "đánh bóng " )- làm sao so được với các nhà văn trẻ Việt Nam viết bằng Anh Ngữ như The Unwanted ,của Kiên Nguyễn, như “Salt ” của Monique Trương, và nhiều cây viết khác nữa . Nghề báo giống như nàng ?? , cũng không ít, những cái họ như Đỗ, Nguyễn, Lâm, Trần…cũng không thiếu.
Thôi bấy nhiêu …cũng đủ với nàng, bây giờ chúng ta tiếp tục… đến….một “ em ” khác : - Em….Meg Greenfield – tên đầy đũ của “ em ” là Mary Ellen Greenfield – nhưng “em ” thích người đời gọi em là “ Meg ”, nó là chữ viết tắt của hai chữ đầu của em ( Mary và Ellen ), sinh ra tại Seattle, tốt nghiệp thủ khoa tại Smith College khoa báo chí năm 1952. Smith College là một đại học tư dành riêng cho nữ giới tại Northampton, Masschusetts. Sau đó nhờ có học bổng Fullbright, em đi học tiếp tại Cambridge University. Ra trường, em làm việc cho tờ báo “ Post ”, giữ mục “ Giải đáp tâm tình cho đàn bà, con gái Mỹ ”, chính ở đây, em nổi được nổi tiếng là người đi tiên phong trong việc “ giải phóng phụ nữ thoát khỏi sự đè ép (?) của đàn ông ”. Nhờ làm bạn và quen biết với Norman Podhoretz và với sự đề bạt của Norman- một người Mỹ gốc Do Thái - một lý thuyết gia của phái Tân Bảo thủ Mỹ - một người nổi tiếng xuất sắc trong làng báo Mỹ - Sau đó, “ em ” về làm chủ bút cho tờ Washington Post và kế đó là cây viết chủ lực của tờ Newsweek. Năm 1978, em được nhận giải thưởng Pulitzer về những bài viết của em . Nhìn lại từ đầù cuộc đời em đến khi “em” viết lên những giòng chữ này trên tờ Newsweek thì ….em cũng chẵng có gì gọi sáng gía và kiêu hãnh cho lắm, để mà nói lên những lời lếu láo với những người tỵ nạn Cộng Sản Việt Nam đang tìm chốn dung thân. Tháng 04 năm 1975, em …chỉ vừa….đúng có…45 tuổi rưỡi, lúc nầy em cũng…. còn….“chổng mông ” , hay nói một cách…nhẹ nhàng hơn là em…. chưa chồng. Gọi em bằng …“ em ” là cách gọi đầy…. tình cảm đấy chứ. Nhìn hình của Shana Alexander, đã thấy….chán đời rồi, Meg thì trẻ hơn Shana 5 tuổi, nhưng tôi cam đoan với tất cả mọi người đàn ông trên thế gian nầy rằng…. đàn ông vẫn cảm thấy….không muốn… sống nữa…. nếu có phải cùng lúc lạc trên một hoang đảo nào đó với “em”, dù… tấm hình của Meg để ở đầu bài viết đã được Meg chọn lựa và làm dáng rất nhiều.
Cái ( người ) mà em “ hẩu ” ( hão ) nhất trên đời chính là …Kít !!!. Người Việt Nam phát âm chữ Kissinger là…Kít . Một người mà nữ tài tử điện ảnh nổi tiếng Ali Mc Graw ( đóng vai chính trong phim Love Story….ghét Kít như ghét…..kít !!- một người mà Kissingger vô cùng si mê ( Kiss là ngoại trưởng dưới thời của Nixon, một người Mỹ gốc Do Thái, người đã nói lên câu nguyền rủa vô lương, đúng là một bọn…. ngưu tầm ngưu, mã tầm mã !!!.…-“ Why don’t these people ( people: dân chúng Miền Nam Việt Nam ) …die fast – [ Sao chúng không chết phứt đi cho rồi ! ] và “ The worst thing that could happen would be for them to linger on ” [ Điều tệ hại là chúng cứ sống dai hoài ] - Kít phát ra câu nầy vào ngày 30/03/75 tại Washington D.C.
Bài viết của Meg Greenfield thì viết rằng….-“ Hãy để lại những người đó ( tỵ nạn Cộng Sản ) ở lại Việt Nam, vì chính phủ Cộng Sản sẽ giải quyết được những vấn đề y tế, giáo dục vì Cộng Sản luôn xuất sắc về hai lãnh vực đó .” ….
Ôi ! đúng là một bài hợp ca ngu si và thật vô lương – trong một âm mưu đen tốí . – Hôm nay, một ngày cuối tháng 03, vết thương cũ đã bắt đầu trở mình ung máu, một tháng 04 ưu buồn, sầu thảm, một tháng của biết bao bi thương của toàn thể người Việt Nam, vết thương cũ lại trở mính đau nhói, lại trở về rỉ máu, nhức nhối, quặn đau trong trái tim của người Việt Nam, vết thương không thể nào lành lặn và nguôi ngoai được, dù đã 35 năm trôi qua, nó vẫn như mới ngày hôm qua, nó vẫn như là… vừa như là… xẫy ra vào buổi sáng hôm nay khi tôi ngồi vào bàn viết và đang nhớ đến biết bao các biến cố tang thương cũ của đất nước . Nhớ cả những nhục nhằn cũ, những oan khiên của dân tộc Việt Nam, tôi nhớ cả đến những lời phát ngôn ngu si và vô lương của một bọn được gọi là….“ trí thức nhưng đầu óc chỉ chứa toàn bã đậu ” nhưng lại có những phương tiện truyền thông và những cái loa kêu thật lớn.
Shanna Alexander, “ nàng ”chết năm 2005, tại bệnh viện Hermosa Beach- California, sau một thời gian dài bị bệnh. Tức nàng sống…. dai đến 80 năm .Cuộc sống tình cảm gia đình không có gì gọi là hạnh phúc, sau hai lần đổ vỡ và đứa con gái duy nhất của nàng tự tử chết năm 1987. “ Nàng ” ra đi không một giọt nước mắt thương tiếc của người thân, bạn bè . Điều nầy cũng có nghĩa là lúc nàng còn sống, nàng sống quá …bad… và cái miệng ăn mắm ăn muối của nàng, và cái “ tâm ” của nàng…. qúa…tàn độc và qúa vô lương.


Meg Greenfield, “ Em ” chết …trẻ lúc đó em …chỉ mới….69 tuổi, lúc chết hãy còn …..“dzin” ( không có gì bảo đảm, nhưng dzin ở đây chỉ có nghĩa là ….vẫn chưa chồng cho đến nàng chết ). Điều nầy cũng có nghĩ là … khi “ em ”… ra đi không có một giọt nước mắt tiếc thương nào của gia đình và…. của cả bạn bè chung quanh, điều nầy có nghĩa là lúc “ em ” còn sinh tiền… em “sống ” ….quá cheap và cái…tâm của em, nó qúa vô lương và qúa độc ác !!!

Hai em ra đi…..mà không một lời …từ giã….“ra đi mà không …bảo gì nhau ” với những người Việt Nam tỵ nạn Cộng Sản, những người đã bị các em….khinh rẽ, miệt thị. Thôi thì…Nghĩa tử là nghĩa tận….-Tôi muốn đến thăm mộ của các nàng ở Hermosa Beach- California và ở Seattle - Washington để đọc cho các nàng nghe những bài viết trong các cuốn …..-“ Vẻ Vang Dân Việt ”, nhưng tôi lại sợ….khi tôi đọc xong thì các nàng lại….uất khí đội mồ sống lại và lăn đùng…. ra chết một lần nữa …thì phiền lắm !!! -
Thôi thì đành phải đọc vài câu Kiều của Cụ Nguyễn Du khi đến trước mộ của các nàng vậy thôi …..
Thiện căn ở tại lòng ta
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.
Lời quê ( những lời của hai nàng trên Newsweek ) chắp nhặt dong dài
Mua vui cũng được một vài trống canh

Một ngày cuối tháng 03 buồn, vết thương tháng 04 đã bắt đầu ung mủ
TX2 Nguyễn văn Sơn

Posted: Mon Apr 05, 2010 7:37 pm
by quaichao
DÂN BIỂU SANCHEZ LÊN ÁN NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TẤN CÔNG CÁC TRANG MẠNG ĐỂ BÓP NGHẸT TIẾNG NÓI BẤT ĐỒNG CHÍNH KIẾN
WASHINGTON, D.C. – Dân Biểu Liên Bang Loretta Sanchez (CA-47), Đồng Chủ tịch Nhóm Việt Nam Caucus và Chủ tịch của Subcommittee về Terrorism, Unconventional Threats and Capabilities (tạm dịch là Tiểu Ban Hạ Viện chống khủng bố và mối đe dọa về an ninh không gian mạng), lên án nhà cầm quyền Việt Nam về việc sử dụng phần mềm ác tính (malware) để kiểm duyệt hoạt động Internet của các nhà dân chủ và dân báo. Cuộc tấn công mạng được dịch vụ cung cấp Internet Google báo cáo, sau vụ công ty này phải đối đầu với chính quyền Bắc Kinh về việc tài khoản e-mail của các nhà hoạt động nhân quyền Trung Quốc bị tấn công.

“Tôi thấy đây là một cuộc tấn công trắng trợn mà Nhà cầm quyền Việt Nam đã dùng phương tiện Internet để đàn áp người dân của họ.” Dân Biểu Sanchez phát biểu. "Đã nhiều lần này sang lần khác, Chủ tịch nước, ông Nguyễn Minh Triết đã chứng minh rằng nhà nước Việt Nam sẽ bất chấp tất cả để dập tắt các tiếng nói lương tâm chống lại chế độ và kiểm soát nguồn thông tin và truyền thông tại Việt Nam. Trong thời gian qua, nhà cầm quyền Việt Nam đã tăng cường nhiều biện pháp kiểm duyệt và ngăn chặn các trang mạng giao lưu như Facebook và nhiều diễn đàn Internet có nội dung về chính trị qua các cuộc tấn công từ chối dịch vụ (tấn công Denial of Service) hoặc tải tin tặc cải biến phần mềm của các máy tính có font tiếng Việt VPSKeys để theo dõi người sử dụng Internet. Đây là một hành động không thể chấp nhận được đối với một quốc gia muốn trở thành một thành viên chính trị quốc tế, đặc biệt là khi họ đã nhiều lần cam kết sẽ cải thiện tình trạng nhân quyền và tôn trọng luật pháp.

“Đây là thời điểm quan trọng mà Hoa Kỳ, cộng đồng quốc tế và các dịch vụ cung cấp Internet quan tâm về các cuộc tấn công tin tặc nên nói rằng ‘enough is enough!’ nghĩa là “quá đủ rồi”. Ngày hôm qua tôi vừa nộp đơn visa xin nhập cảnh vào Việt Nam và tôi hy vọng rằng sẽ có thể được gặp gỡ các nhà dân chủ để tự tai nghe những câu chuyện của họ. Các báo cáo và bản tường trình về tình hình nhân quyền chỉ có thể cho chúng ta biết phần nào thôi, đó là lý do quan trọng mà các nhà lãnh đạo của chúng ta cần phải tự họ quan sát để có thể đánh giá tình trạng nhân quyền tại Việt Nam. Nếu được chấp thuận visa, tôi dự định sẽ có cuộc họp với Bộ Thông Tin và Truyền Thông Việt Nam để thảo luận về tầm quan trọng của tự do ngôn luận, tự do thông tin mạng và lên án các cuộc tấn công tin tặc gần đây. "

Ngoài việc xâm nhập tài khoản internet cá nhân của các nhà bất đồng chính kiến địa phương, nhà nước Việt Nam cũng đã tiếp tục đàn áp tự do tôn giáo đối với nhiều giáo phái khác nhau tại Việt Nam. Đối diện với các vụ đàn áp này, Dân Biểu Sanchez đã kêu gọi Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đặt Việt Nam vào lại danh sách các quốc gia cần quan tâm đặc biệt (CPC List) và xem xét lại quan hệ giao thương giữa hai quốc gia đến khi ông Chủ tịch Triết và nhà nước ông có những hành động cụ thể để cải thiện tình trạng nhân quyền.

Dân Biểu Loretta SanchezĐịa Hạt Liên Bang 47th, California www.house.gov/ sanchez


March 31, 2010:
Rep. Loretta Sanchez Condemns Vietnam
for Using Cyberattacks to Stifle Dissent


WASHINGTON, D.C. – Congresswoman Loretta Sanchez (CA-47), Co-Chair of the Congressional Caucus on Vietnam and Chair of the House Armed Services subcommittee with primary jurisdiction over the nation’s cybersecurity, today condemned Vietnam for using malware to illicitly monitor the internet activity of human rights and democracy activists. The cyberattacks were first reported by internet service provider Google, which recently shut down its search operations in China after the government attempted to hack into the e-mail accounts of local dissidents.

“I am outraged by new reports that Vietnam’s government has been using the internet as a weapon against its own people,” said Rep. Sanchez. “Time and time again, President Nguyen Minh Triet has proven he will stop at nothing to silence critics of his regime and shut down the free flow of information and communication in Vietnam. He and his government have taken steps to block access to a number of websites, including Facebook and other popular internet forums, in the form of denial-of-service attacks. This is unacceptable conduct from a country that wants to be an international political player, especially one that has promised to adhere to basic human rights standards and the rule of law.

“It’s time for the U.S. and international communities, and any internet service providers that are concerned by these attacks, to say ‘enough is enough!’ Yesterday, I applied for a visa to visit Vietnam in the hopes that I will be able to meet with human rights activists to get their side of the story. Press reports can only tell us so much, which is why it’s important for our leaders to assess the extent of Vietnam’s abuses for themselves. If my application is approved, I also intend to meet with Vietnam’s Ministry of Information and Communications to discuss the importance of free speech and personally condemn these recent cyberattacks.”

The need for action in Vietnam has never been greater. In addition to infiltrating the private internet accounts of local dissidents, the government has continued to crack down on religious freedoms, most recently by authorizing the desecration of a crucifix in Vietnam’s historic Dong Chiem parish cemetery. For these and other abuses, Rep. Sanchez has urged the State Department to re-designate Vietnam as a Country of Particular Concern (CPC) and reassess its trade relations until President Triet takes concrete action to improve its human rights record.

Nguồn: http://tiengnoitudo danchu.org/ modules.php? name=News&file=article&sid=8844

Posted: Thu Apr 08, 2010 2:24 am
by vuphong
Đại hội Đảng 11:
Nguyễn Chí Vịnh, một mầm mống đại họa


Những ai theo dõi sát nội tình chính trị Việt Nam những năm gần đây hẳn không có gì xa lạ với cái tên Nguyễn Chí Vịnh, con trai đại tướng Nguyễn Chí Thanh,
con nuôi đại tướng Lê Đức Anh, con rể tướng Đặng Vũ Chính, Tổng cục Trưởng Tổng cục Tình báo quốc phòng (TC2) siêu quyền lực (từ 2002 đến tháng 8/2009)
và hiện là Trung tướng Thứ Trưởng quốc phòng (từ tháng 2/2009) quyền lấn át đại tướng Phùng Quang Thanh.

Image
Tướng Nguyễn Chí Vịnh - Ảnh: OnTheNet
Những ai theo dõi sát nội tình chính trị Việt Nam những năm gần đây hẳn không có gì xa lạ với cái tên Nguyễn Chí Vịnh, con trai đại tướng Nguyễn Chí Thanh, con nuôi đại tướng Lê Đức Anh, con rể tướng Đặng Vũ Chính, Tổng cục Trưởng Tổng cục Tình báo quốc phòng (TC2) siêu quyền lực (từ 2002 đến tháng 8/2009) và hiện là Trung tướng Thứ Trưởng quốc phòng (từ tháng 2/2009) quyền lấn át đại tướng Phùng Quang Thanh.

Nói “quyền lấn át đại tướng Phùng Quang Thanh” là kể từ khi ông Vịnh chủ trì cuộc họp báo công bố Sách trắng Quốc phòng Việt Nam lần thứ ba hồi tháng 12/2009, và sau đó, chủ toạ một cuộc họp báo công bố chính sách đối ngoại quốc phòng của Việt Nam đầu tháng 2/2010. Đầu tháng 3/2010, trung tướng Vịnh lại cầm đầu phái đoàn bộ Quốc phòng gặp gỡ trao đổi với Bộ trưởng quốc phòng Lương Quang Liệt nhân dịp kỷ niệm 60 năm quan hệ song phương. Trong khi phía Việt Nam hầu như không đề cập thì Tân Hoa Xã và báo chí Trung Quốc lại làm rùm beng. Theo Tân Hoa Xã, Trung tướng Vịnh nói: Việt Nam hy vọng sẽ thu gặt nhiều lợi ích từ quan hệ hữu nghị và hiệu quả giữa hai quân đội, vì an ninh khu vực. Trong hoàn cảnh của Việt Nam, khi mà mối nguy thật sự chỉ phát xuất từ Trung Quốc và tranh chấp Biển Đông, người ta có thể hiểu rằng chiến lược quốc phòng của Việt Nam đã mất tính chất độc lập tự chủ như vẫn rêu rao, và hoàn toàn lệ thuộc vào Trung Quốc với tất cả những hệ quả tai hại của nó. Ngoài ra, với tư cách Thứ trưởng đặc trách tình báo quốc phòng bao trùm TC2 (với Trung tướng Tổng cục trưởng Lưu Đức Huy vốn là tay chân), ông Vịnh có thể cho phía Trung Quốc biết rõ nội tình các nhân vật hiện đang tranh chức Tổng bí thư và chờ phía Trung Quốc cho ý kiến. Đó đã từng là công tác của ông cách đây 5 năm (cuối 2005) trong chuyến đi bí mật sang Bắc Kinh trước khi đại hội 10 nhóm họp năm 2006.

Một chỉ dấu về khả năng can thiệp này (qua TC2 và Nguyễn Chí Vịnh) là trường hợp ông Nguyễn Tấn Dũng có thể đã phải chịu sức ép để rút khỏi cuộc đua chứcTổng bí thư. Cách đây không lâu, ông Dũng đã được dự đoán sẽ được bầu làm Tổng bí thư qua một số biện pháp trình diễn trên thông tấn nhà nước. Ông Dũng còn tuyên bố lấy lòng phe tham nhũng đương quyền “Trong 7 năm làm thủ tướng, tôi chưa từng kỷ luật ai !”. Đây là một câu nói “lịch sử” của một thủ tướng “quyết tâm” chống tham nhũng, phù hợp với bản chất tham tiền cố hữu của ông. Chuyện ông Dũng nhận phong bì 5, 10 triệu đồng một cách thoải mái là điều ít ai không biết. Kể cả chuyện nhận 150 triệu đô của Trung Quốc về việc khai thác bô-xít.. Tuy nhiên, việc mất điểm gần đây của ông Dũng (với Trung Quốc) liên quan đến câu trả lời có vẻ mạnh miệng của ông với một giáo sư Harvard đến phỏng vấn về mối quan hệ Hoa-Việt: “Thời đại nước lớn bắt nạt nước bé đã lỗi thời!”. Báo điện tử VietnamNet đã phải cắt đoạn này chỉ it phút sau khi đăng. Chưa kể việc yêu cầu “báo chí cần chủ động thông tin bảo vệ chủ quyền”. Nhân dịp khai mạc Hội nghị Uỷ ban Trung ương đảng lần thứ 12 để bàn về nhân sự và các văn kiện, giới thạo tin trong đó có giáo sư Carlyle Thayer đã đề cập đến 5 uỷ viên Bộ Chính trị trong tầm ngắm chức Tổng bí thư (không có tên ông Dũng) mà nổi bật làTrương Tấn Sang (nhân vật mới lên số 2 Bộ chính trị) và chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng, một người có hỗn danh là “Trọng lú”, rất thân cận với Bắc Kinh.

Nguyễn Chí Vịnh là thứ trưởng Quốc phòng duy nhất không có chân trong Uỷ ban Trung ương đảng. Về cấp bậc cũng thua tất cả các thứ trưởng khác (Thượng tướng) và hiện đang được chuẩn bị để được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương khoá 11 cùng nắm giữ những chức vụ quan trọng.

Trong thực tế, Nguyễn Chí Vịnh hiện nay là nhân vật quyền uy nhất trong bóng tối của đảng cộng sản Việt Nam chủ yếu vì đã “bỏ túi” và nắm trong tay toàn bộ hồ sơ với những tì vết của các uỷ viên Bộ chính trị. Nhân vật quyền uy nhất đó lại là tay sai của cộng sản Trung Quốc. Đó là một khẳng định tuyệt đối. Người ta không quên Báo cáo của Bộ Quốc phòng tại Hội nghị Quân uỷ Trung ương mở rộng ngày 24 tháng 8 năm 2004 do Nguyễn Chí Vịnh soạn thảo: “Cơ quan tình báo Hoa hải ngoại nhận định: Việt Nam không nên sốt sắng gia nhập WTO vì, nếu Việt Nam xem việc gia nhập WTO là một mục tiêu ưu tiên, đồng nghĩa với sự “đổi màu” của xu hướng chính trị ngày một gia tăng, do những điều kiện gia nhập WTO đưa ra về mặt cải cách”. Chúng ta đã biết hậu quả của chính sách lệ thuộc này như thế nào. Cũng không nên quên về chiến dịch bắt bớ những nhân vật đấu tranh cho dân chủ gần đây như Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức… có bàn tay của TC2 và Cục Tình báo Hoa Nam.

Nguyễn Chí Vịnh và vương triều Vũ Chính

Nguyễn Chí Vịnh đã được biết đến nhiều kể từ khi thành tích lưu manh (bị đuổi học Đại học kỹ thuật quân sự năm 1977 vì ăn cắp quân trang nhà kho) và bước đường làm ăn lem nhem (chiếm đoạt bất động sản, hợp đồng thương mại quân sự bi-đông và các công ty thương mại bình phong…), thủ đoạn mua chuộc, khống chế (kể cả Lê Khả Phiêu) và chỗ dựa vững chắc (nhóm G7, bố vợ, bố nuôi…), tất cả được phơi bày qua bài viết của Võ Đồng Đội và phổ biến tràn lan trên mạng qua điện thư số 41 (tháng 3/2005) của Câu lạc bộ Dân chủ (1). Điện thư số 43 của CLBDC còn đưa ra nhận xét từ một thầy giáo trực tiếp của Nguyễn Chí Vịnh: “Học sinh Vịnh học lực yếu, ý thức tổ chức xấu, tính tự do vô kỷ luật, lại hay cầm đầu các vi phạm, tư cách riêng khác là rất thích giao du với con gái, và hay thông qua sinh hoạt ca hát, ăn uống để tiếp cận họ là một gánh nặng thêm cho nhiệm vụ đào tạo và rèn luyện của nhà trường, đặc biệt của khoa quân sự”.

Chân dung của Nguyễn Chí Vịnh còn được mô tả đầy đủ hơn trong loạt bài về “Vương triều Vũ Chính” phổ biến tràn lan trên mạng. Vương triều này khởi đầu từ 1995 khi Cục 2 (Cục quân báo) được nâng lên thành Tổng cục tình báo quân đội (TC2) ngang hàng với Bộ Tổng Tham mưu, trực thuộc Bộ Quốc phòng . Vì được sự nâng đỡ của tướng Lê Đức Anh vốn là thượng cấp cũ tại Quân khu 9 và Campuchia, tướng Tổng cục trưởng Đặng Vũ Chính lên thay tướng Như Văn về hưu đã lợi dụng đặc quyền của Tổng cục để đưa hai con (Đặng Vũ Dũng, Đặng Thị Tuyết), vợ Nguyễn Thị Nhẫn và nhất là con rể Nguyễn Chí Vịnh thao túng, lũng đoạn, biến TC2 thành một vương triều phục vụ cho mưu đồ tư lợi và nối dõi của mình . Kể từ khi làm rể ông Chính, Nguyễn Chí Vịnh thăng cấp đều đều trước niên hạn mặc dù không thành tích hay thành tích ảo, về chức vụ cũng vậy. Nguyễn Chí Vịnh cũng lợi dụng đưa thủ túc lưu manh như Phạm Ngọc Hùng (Hùng Tút), cùng bị đuổi học Đại học Kỹ thuật quân sự vì trộm cắp như Nguyễn Chí Vịnh lên địa vị Phó Tổng Cục trưởng (ngoại giao) hiện nay. Quan trọng hơn cả, qua những trò làm ăn bất chính tham ô trong TC2, Nguyễn Chí Vịnh có một tài sản kếch sù cả nổi lẫn chìm được ước lượng nhiều trăm triệu đô, một tài liệu còn đưa ra con số 1,2 tỷ đô.

Ông Vũ Chính từng nói với người quen: “Cháu nó là con cán bộ cao cấp, phải nâng đỡ cháu… Tôi sẽ đưa cháu làm tổng cục trưởng, đại hội IX đưa cháu vào BCH TW, đến giữa nhiệm kỳ vào Bộ Chính trị, phải để cho cháu nên tướng”.

Mưu đồ này của ông Chính bị trục trặc tai đại hội IX do Đại hội đảng TC2 không tín nhiệm, vì lúc đó ông chưa gài được nhiều tay chân bộ hạ. Vả lại, lúc đó (2001) đang xảy ra vụ tai tiếng A10 doTC2 cài để nghe lén các uỷ viên BCT. Lê Khả Phiêu đã bị mất chức giữa nhiệm kỳ do cố vấn thái thượng hoàng Lê Đức Anh tung ra nội vụ. Đến thời kỷ trước Đại hội 10, thì nổi lên “Vụ án TC2” nổ tung trên mạng và trong dư luận khiến Nguyễn Chí Vịnh đành phải tạm thời “nín thở qua sông” tuy vẫn tiếp tục thăng tiến lên Trung tướng.

Vụ án TC2 và chân dung một tội phạm đích thực

Cái được coi là Vụ án Tổng Cục 2 bắt nguồn chủ yếu từ lá thư của tướng Giáp ngày 3/1/2004 tố cáo vai trò siêu quyền lực của cơ quan này đã đẻ ra vụ án siêu nghiêm trọng Sáu Sứ và T4. TC2, như đã nói, được tướng Lê Đức Anh cho phép thành lập năm 1995 từ Cục 2 (Quân báo) nhưng đã được nâng lên thành Tổng cục Tình báo quốc phòng ngang hàng Bộ Tổng tham mưu và trực thuộc Bộ quốc phòng. Tuy nhiên, với Pháp lệnh quốc phòng (tháng 12/96) do chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh ban hành và Nghị định 96/CP (tháng 7/97) do thủ tướng Võ Văn Kiệt ký (ông Kiệt nói là phải mất 6 tháng mới buông bút ký), TC2 đã trở thành một siêu quyền lực vượt qua Bộ quốc phòng. Bởi vì TC2 tuy thuộc Bộ quốc phòng nhưng quyền hạn bao trùm mọi lãnh vực như như chính trị, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, kinh tế, khoa học kỹ thuật, kỹ nghệ và môi trường, văn hóa xã hội. Đối tượng tin tức và nhất là quyền hạn của TC2 khiến cơ quan này không những vượt qua Tổng cục an ninh của Bộ Công an mà còn đi xa hơn. TC2 có quyền cài cắm nhân viên ở mọi cơ quan, quyền sử dụng con dấu của mọi cơ quan, quyền chi tiêu vượt mức (ngân sách lớn bằng nửa Bộ quốc phòng), quyền trực tiếp báo cáo Bộ Chính trị, Chủ tịch nước, Thủ tướng, quyền được thăng cấp đến trung tá…

Thực tế, TC2 đã lợi dụng ngụy tạo tài liệu và trở thành cơ quan phục vụ quyền lợi mưu đồ cá nhân của Lê Đức Anh trong tranh chấp nội bộ đảng thay vì nhắm vào các đối tượng cơ hữu của mình. Những vụ như Lý Tống thả truyền đơn trong khi người của TC2 bán bầu trời, rồi để xảy ra vụ Tây Nguyên nổi loạn, Thái Bình nổi sóng, Năm Cam vùng vẫy, chẳng thấy TC2 báo động. Từ đó, những vụ án Sáu Sứ, T4, báo cáo mật của Quân uỷ mở rộng do Nguyễn Chí Vịnh soạn thảo đã được thực hiện.

Lá thư của tướng Giáp đã được sự đồng tình của rất nhiều tướng lĩnh tên tuổi, mà nổi bật là Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh với 4 lá thư (2), trong đó lá thư ngày 17/06/2004 là đặc biệt quan trọng. Tướng Khánh đã trình bầy rõ vụ Siêm Riệp (1983), Sáu Sứ (1991) của Cục 2 và chủ yếu nhấn mạnh vụ T4 do Đặng Vũ Chính (Tổng cục trưởng TC2) và Nguyễn Chí Vịnh (Tổng cục phó) dàn dựng. Vụ T4 đã được mô tả là do TC2 bịa ra một đặc tình giả tưởng đã cài cắm vào CIA và đưa tin những tin tức ngụy tạo liên quan việc liên lạc, chỉ đạo của CIA trong mưu đồ đảo chính của hàng chục nhân vật quan trọng trong đó có: Võ Nguyên Giáp, Võ Văn Kiệt, Phan Văn Khải, Lê Khả Phiêu, Trương Tấn Sang, Trương Vĩnh Trọng, Phạm Gia Khiêm, Phan Diễn, Nguyễn Khánh Toàn, Lê Văn Dũng, Võ Thị Thắng…

Để có một ý niệm về tính chất nghiêm trọng của nội vụ, chúng ta thử đọc qua một số bản tin nêu trong lá thư ngày 17/6/2004 liên quan đến ông Trương Tấn Sang, nhân vật số 2 Bộ chính trị hiện nay:

“Nhóm Trương Tấn Sang đang có kế hoạch tác động, móc nối lôi kéo để liên kết ông Ngô Xuân Lộc, Nguyễn Khánh Toàn và một số tướng lĩnh Quân đội và Công an, giao chúng nắm giữ các vị trí quan trọng trong Chính phủ Việt Nam từ địa phương đến Trung ương.
(Bản tin số 497 ngày 24/3/99).

“Các chuyên gia CIA nhận định một cuộc đảo chính có thể xảy ra vào tháng 7, tháng 8/1999 ở Việt Nam. Vai trò chủ chốt là Trương Tấn Sang và Trần Văn Tạo.

“Tư Sang, Tư Tạo tập trung thu phục phái tù Côn Đảo ở Thành phố Hồ Chí Minh. Phái này có khả năng trở thành phe phái hợp pháp đối lập trong Đảng Cộng sản, lấy địa bàn Sài Gòn làm căn cứ”.

“Đã có sự liên kết mới giữa Ngô Xuân Lộc, Phạm Gia Khiêm, Nguyễn Khánh Toàn, Đoàn Mạnh Giao, Lê Vân Dũng, Phan Trung Kiên, Nguyễn Văn Rop. Việc đảo chính của phe nhóm này sẽ tập trung vào kỳ họp 2 Quốc hội” – (Bản tin ngày 2/8/1999)

“Tối 06/1/99 có một cuộc họp do Tư Sang tổ chức, tham dự có Võ Trần Chí, ông Đặng (giám đốc sở công nghiệp). Ba Ngộ và một nhân vật bí hiểm… Nội dung cuộc họp: Bàn mọi cách bảo vệ vị trí Bí thư thành uỷ cho ông Sang, bằng mọi cách lôi kéo vây cánh để cô lập ông Lê Khả Phiêu và tiến tới thay ông Lê Khả Phiêu bằng một hội nghị bất thường vì ông Phiêu không ủng hộ Thành uỷ và ông Tư Sang.

“Có một sự mưu tính từ một số phe phái chính trị. Trong Đảng Việt Nam đang mưu tính một cuộc cải cách chính trị, đảo chính chính trị. Có những kế hoạch tuyệt mật trên cơ sỏ báo cáo của Quốc nội do CIA gửi Văn phòng An ninh, Tổng thống. Phe phái chính trị này dự tính sẽ lôi kéo cả ông Lê Khả Phiêu và Phan Văn Khải đứng về phía họ …Lúc bấy giờ Phan Văn Khải và Lê Khả Phiêu cũng phải theo họ vì không còn con đường nào khác. CIA đã chỉ đạo sẽ thực hiện kế hoạch. (Bản tin số 223 ngày 19/1/98)”

Dàn dựng kịch bản của TC2 như trên thì thật vô tiền khoáng hậu trong lịch sử tình báo. Dàn dựng như thế phục vụ mưu đồ của ai? Không ai khác hơn là mưu đồ “lật án”, đảo chính của Lê Đức Anh với sự đồng tình của Trung Quốc.

Đây là một vụ án chính trị cự kỳ nghiêm trọng có liên quan đến toàn bộ cấp lãnh đạo cộng sản. Tướng Khánh đề nghị Bộ chính trị và Ban chấp hành TW nếu không muốn bao che thì phải đưa vấn đề ra giải quyết trước pháp luật về tội phá hoại đảng, chế độ và tổ quốc những người lãnh đạo TC2: Đặng Vũ Chính và Nguyễn Chí Vịnh. Chưa kể cần làm rõ những kẻ đứng sau. Nguyễn Chí Vịnh chính là một tội phạm. Tướng Khánh cũng đề nghị Bộ chính trị, Quốc hội phải sửa đổi hoàn toàn hay huỷ bỏ Pháp lệnh tình báo và Nghị định 96/CP.

Trong buổi họp ngày 15/7/2004 giữa tướng Khánh và ông Phan Diễn, bí thư thường vụ, ông Diễn đã đồng ý về đề nghị sửa đổi Pháp lệnh và Nghị định 96/CP nhưng chỉ muốn xử lý nội bộ Vũ Chính và Nguyễn Chí Vịnh. Sau phiên họp này, tướng Giáp quyết tâm đưa vấn đề ra trước Ban chấp hành TW. Hội nghị Trung ương 12 đành phải cho thành lập Ban điều tra liên ngành về vụ T4 và hàng chục vụ khác liên quan đến vu khống nội bộ. Nhưng sau đó Nông Đức Mạnh và Bộ chính trị đã giấu không cho đem ra thảo luận báo cáo 70 trang này trước khi đại hội đảng lần thứ 10 nhóm họp. Vụ án TC2 được coi như chìm xuồng vì sự ổn định của chế độ. Nhưng những tồn tại và hệ quả của nó liên quan đến Nguyễn Chí Vịnh và TC2 vẫn tiếp tục.

Từ bài viết “TC2: Vì ai nên nỗi?” đến quyết định kỷ luật Trung tá Vũ Minh Trí

Sau Đại hội 10, trước sự tiếp tục thao túng Tổng cục 2 (TC2) của Nguyễn Chí Vịnh và sự đồng loã- hay nói đúng ra là lo sợ- của Bộ chính trị, một làn sóng công phẫn lại nổi lên trong quân đội. Được nói nhiều và lan truyền trên mạng là hai lá thư “Thất trảm sớ” của Trung tá Vũ Minh Ngọc và nhất là lá thư ngày 16/12/2008 “TC2:Vì ai nên nỗi?” của Trung tá Vũ Minh Trí (3), một người đang làm việc tại Cục kỹ thuật TC2.

Lá thư tâm huyết 13.000 chữ của Trung tá Vũ Minh Trí là nỗi lòng của một người có tư cách, ở trong TC2 hơn 10 năm không thể làm ngơ trước những thao túng, tham ô, phe đảng, lừa gạt và bỏ túi cấp trên của Nguyễn Chí Vịnh và đồng bọn. Từ “mầm kết tinh” Nguyễn Chí Vịnh, những mạng lưới của cái xấu đã hình thành và lan rộng, những cán bộ tốt bị vô hiệu hoá, nhuộm đen, những thành phần lưu manh, vô học đã được thăng cấp vượt mức. Trong sinh hoạt, đã hình thành việc ngu hoá cán bộ một cách có hệ thống. Và với cuồng vọng nguy hiểm của Nguyễn Chí Vịnh đã đưa tới những hệ quả nghiêm trọng, đặc biệt là việc thiết lập một mạng lưới lấy “tin tức nội bộ” liên quan đến các nhân vật cao cấp, hoàn toàn ngoài chức năng của TC2.

Lá thư đã nêu những chi tiết xác minh và kết luận về TC2: “Nay đang ở trong tình trạng khủng hoảng trầm trọng và toàn diện, đang bị chuyển hóa thành khối u ác trong lòng quân đội, trong lòng Đảng, ít nhiều phát tác tới bộ óc của quân đội, của Đảng thì rõ ràng tình báo chiến lược về quân sự cần được mau chóng quét sạch, cắt bỏ, diệt trừ tận gốc những mạng lưới xấu xa, cần được mau chóng thay máu triệt để để trước hết là trong sạch về chính trị, sau đó là khỏe mạnh về nghiệp vụ chứ không phải thay màu da trên xác chết, duy trì một Tổng cục II của Nguyễn Chí Vịnh mà không có Nguyễn Chí Vịnh”. Đó là điều đã xảy ra.

Lá thư của trung tá Vũ Minh Trí đã được sự đồng tình ủng hộ của tướng Võ Nguyên Giáp. Trong lá thư ngày 10/6/2009 gửi Bộ Chính trị và Ban Bí thư, tướng Giáp đã ca ngợi tinh thần dũng cảm của Trung tá Trí khi tố cáo Nguyễn Chí Vịnh đã “phá hoại TC2 toàn diện”. Ông cho rằng sự tố cáo minh danh nói trên là phù hợp với điều lệ đảng và pháp luật Nhà nước nên cần được Uỷ ban Kiểm tra trung ương xem xét kiểm tra. Lá thư của tướng Giáp có nêu chi tiết: “Nguyễn Chí Vịnh trước có những khuyết điểm, đồng chí Nông Đức Mạnh nói với tôi là không thể lên trung tướng và không biết đưa đi đâu để rèn luyện, nhưng thực tế lại không làm như vậy mà tiếp tục thăng quân hàm và giao trọng trách Tổng cục trưởng và hiện nay vừa đề bạt là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng làm cho ai cũng ngạc nhiên, lo lắng, và nếu không làm rõ thì sẽ còn lên nữa”. Ở đây, chính thắc mắc của tướng Giáp về Nông Đức Mạnh cho thấy ông ta đã nằm trong vòng kim cô của Nguyễn Chí Vịnh từ lâu.

Những tố cáo của Trung tá Vũ Minh Trí với sự ủng hộ của tướng Giáp đã không làm cho tập đoàn Nguyễn Chí Vịnh nao núng. Và chuyện phải đến đã đến như chính Trung tá Trí dự phòng. Ngày 10/02/2010, Bộ Quốc phòng đã ký Quyết định tước quân hàm sĩ quan đối với Trung tá Vũ Minh Trí, Đảng uỷ TC2 cũng quyết định khai trừ ra khỏi đảng cộng sản đối với ông (4). Lý do nêu lên hoàn toàn chỉ có tính cách hình thức, che đậy: tố cáo sai (không xác định), gửi đơn đến các nơi không có chức năng giải quyết (không đúng, vì ông đã gửi 5 lá đơn tới Đảng uỷ quân sự trung ương,thủ trưởng bộ Quốc Phòng thậm chí với cả Uỷ ban kiểm tra trung ương) và tiết lộ bí mật Đảng (ngoài ý muốn).

Trong phát biểu sau khi nhận kỷ luật, Trung tá Trí xác định: Vì lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước chưa có kết luận và trả lời về các kiến nghị và bài viết “Tổng cục 2: Vì ai nên nỗi ?”, ông coi các quyết định kỷ luật nêu trên là vô giá trị, bất hợp pháp. Ông xác định sẽ tiếp tục đấu tranh. Ông cũng tin rằng “những kẻ đã nhen nhóm ngọn lửa độc hại với nhân dân, đối với đất nước, đã đổ thêm dầu hôi vào ngọn lửa ấy sẽ sớm bị chính ngọn lửa ấy thiêu huỷ, sẽ sớm bị nhân dân và đất nước đào thải”.

Vụ án Nguyễn Chí Vịnh và TC2 chưa kết thúc.

Đến đây, chúng ta có thể đưa ra một nhận định chung cục.

Chính vì vai trò siêu quyền lực nhưng lệ thuộc vào Trung Quốc của một tên lưu manh, gian ác như Nguyễn Chí Vịnh và TC2, đảng cộng sản Việt Nam đang mau chóng đi vào con đường tự huỷ diệt. Một mặt, nó cho thấy toàn bộ giới lãnh đạo hiện nay cũng như bất cứ nhân vật nào nắm giữ chức Tổng bí thư sau đai hội XI cũng chỉ là những con rối mờ nhạt, không bản lãnh, không có ao ước khác hơn là chia chác để sống còn. Những con rối đó không thể đưa ra những quyết định quan trọng liên quan đến quyền lợi và sự sống còn của đất nước trong hoàn cảnh khó khăn về mọi mặt hiện nay, đặc biệt là mức lạm phát tăng rất cao. Ông Đỗ Mười, một nhân vật vẫn còn ảnh hưởng trong giới lãnh đạo cộng sản, đã tỏ ra ngao ngán về tương lai của đảng trongmột phát biểu tâm sự với người thân: “Chỉ có một nhân vật kiệt xuất mới cứu được đảng mà thôi. Nếu không nó sẽ sụp đổ không lâu nữa”.

Về một mặt khác, trong trường hợp có biến động với Trung Quốc ở Biển Đông, Nguyễn Chí Vịnh và TC2 sẽ là «con ngựa Thành Troie”. Và đó chính là đại hoạ của đất nước.

Rennes 02/04/2010

(1) Võ Đồng Đội, “Chân dung một tội phạm: Nguyễn Chí Vịnh”. Thông Luận, 30/08/2007.

(2) Nguyễn Nam Khánh, “Bốn lá thư về vấn đề Tổng cục 2 và Lê Đức Anh”. Thông Luận, 08/02/2005.

(3) Vũ Minh Trí, “Tổng Cục 2: Vì ai nên nỗi?”. Thông Luận, 02/08/2009.

(4) Hồ sơ CSVN: Kỷ luật Trung tá Vũ Minh Trí:

Nguồn: Báo Tổ Quốc

Posted: Fri Apr 09, 2010 1:38 am
by vuphong
Giọt nước mắt...Vì niềm kiêu hảnh: Người Vietnam

Tác Giả : Bùi Bảo Trúc

Tôi là người thù dai. Thù dai có cái xấu và có cái tốt. Tôi nghĩ thù dai cũng có điểm tốt.

Thù dai để không quên những chuyện xấu người khác làm cho mình. Không thù dai thì làm sao Nguyễn Trãi nằm gai nếm mật suốt mười năm để trả thù nhà, để đền nợ xã tắc, giang sơn?

Thù từ năm 1975 đến nay thì có dai thật
Năm 1975, với đợt tị nạn đầu tiên đến Mỹ, tờ Newsweek đăng một bài viết của Shana Alexander về những người Việt được đưa sang Mỹ tị nạn. Người đàn bà này lo ngại là những người Việt Nam tị nạn chưa biết sử dụng cái máy giặt, cái máy sấy, không biết Michael Angelo là ai, thì làm sao sống được ở Mỹ.
Ðó là những câu nhục mạ những người Việt quá nặng.
Nhưng chuyện không biết dùng cái máy giặt thì cũng dễ hiểu. Kìa, như thái tử Naruhito của hoàng gia Nhật, mãi đến khi sang học tại Merton College ở Oxford, ông hoàng tử này mới biết dùng cái máy giặt để khoe nhắng lên. Vậy thì dùng cái máy giặt không phải là chuyện đáng kiêu hãnh. Không biết dùng cái máy giặt thì cũng không phải là điều xấu xa gì như bài báo ngu xuẩn của Shana Alexander đã úp mở.

Từ đó, năm nào, cứ đến tháng Tư là tôi lại nhớ đến bài báo của Shana Alexander, và cứ nghĩ đến những câu nhục mạ ấy là lại run người lên vì giận.
Nhưng người Pháp vẫn nói là trả thù cũng như thức ăn nguội, ăn lạnh mới ngon. Shana Alexander nghỉ viết từ lâu, không biết đang ở đâu để rảnh rang kiếm nàng, mời nàng đi đến thăm vài ba đại học Mỹ, ghé lại Little Saigon chơi cho bỏ những ngày cơ cực và để cho nàng thấy tận mắt những người nàng khinh bỉ ấy đã sống như thế nào.
Ðó là cách trả thù vậy.
Image
Nhưng chưa bao giờ tôi thấy hả dạ được như cuối tuần qua, khi nhận được tờ Newsweek, tờ báo 32 năm trước từng đăng bài báo của Shana Alexander, tôi đọc được bài viết của George Will trong mục The Last Word ở trang 84 số báo NewsWeek đề ngày 17 tháng 12 năm 2007.
George Will dùng nguyên một trang để nói về đóng góp của một người Việt Nam , một phụ nữ Việt, một trong những người Việt lếch thếch kéo nhau sang Mỹ và bị Shaan Alexander đem ra nhục mạ trong bài báo.

Tôi có thể nói là chưa bao giờ tôi đọc được một bài báo viết về một người khác như George Will đã viết.
Nếu bài báo ấy do một cây bút Việt Nam viết thì người đọc cũng dễ dàng coi đó là chuyện hai con mèo khen nhau có những cái đuôi dài.
Nhưng bài viết này là của George Will một trong những cây bút bình luận chính trị bảo thủ, lỗi lạc nhất của báo chí Mỹ, thì nó là một bài báo giá trị. Mười lần Shana Alexander cũng không thể bác được điều đó.

Bài báo của George Will viết về Dương Nguyệt Ánh, mẹ đẻ ra một loại bom mói tên là Thermobaric. Chương trình nghiên cứu được hạn cho ba năm để hoàn thành, nhưng chỉ sau 67 ngày, bà Ánh đã thành công , chế ra được loại bom mới để dùng cho mặt trận Afghanistan. Loại bom mới này công hiệu hơn tất cả các loại bom khác của thế giới. Bom ném vào hang đá ở Afghanistan không công phá ngay như các loại bom cũ, mà sức nóng và sức nổ của bom ở lại lâu, tiến sâu vào các hang hốc khiến khả năng công phá và hủy diệt của bom hơn hẳn mọi loại võ khí khác.

Nước Mỹ đã phải cám ơn bà Dương Nguyệt Ánh về loại võ khi mới này. Tờ Washington Post mới đây có viết một bài khá dài về bà Ánh nhân dịp bà được trao tặng một huy chương về những thành quả và đóng góp của bà cho nước Mỹ.
George Will kể lại cảnh bà tiến ra trước máy vi âm, không đọc một bài viết sẵn, mà ứng khẩu trước một cử tọa rất đông đảo smoking, nơ đen trang trọng. Bà Dương Nguyệt Ánh nói rằng 32 năm trước, bà tới nước Mỹ với tư cách một người tị nạn, hai bàn tay trắng và một túi hành trang đầy những ước mơ tan nát.

Nhưng nước Mỹ, với bà, là một thiên đàng, không phải vì vẻ đẹp và tài nguyên phong phú, mà vì người dân Mỹ vị tha, rộng lượng đã giúp gia đình của bà khi mới tới Nước Mỹ và giúp hàn gắn những thương tích trong tâm hồn, đem lại lòng tin vào con người và cảm hứng cho công việc của bà. Bà muốn tặng lại danh dự của tấm huân chương bà nhận được cho 58 ngàn người Mỹ đã tử trận tại Việt Nam và hơn 260 ngàn chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh để cho những người như bà có được cơ hội sống trong tự do. Bà xin Thượng đế ban phúc cho những người sẵn sàng chết cho tự do, và nhất là những người sẵn sàng chết cho tự do của những người khác. Bà cám ơn nước Mỹ.

George Will kết bài viết của ông bằng mấy câu này: Cám ơn Dương Nguyệt Ánh. Xin cô hiểu là cô đã trả món nợ mà cô nói cô nợ của nước Mỹ, cô đã hoàn trả đầy đủ, không thiếu một chút nào. Cô đã trả hết món nợ đó, và luôn cả tiền lời nữa.
Tiền lời, là đóng góp rất lớn của Dương Nguyệt Ánh cho tự do và an ninh của nước Mỹ, quốc gia đã mở cửa đón gia đình của bà.
Shana Alexander ở đâu, có đọc bài báo này chưa ?

Posted: Sun Apr 11, 2010 4:35 pm
by caubennoc
Thùng thuốc súng Á Châu

Nguyễn Ðạt Thịnh
Thùng thuốc súng Á Châu đầy ứ, với hàng chục ngòi nổ trong thế sẵn sàng, khiến chiến tranh có thể xẩy ra bất cứ lúc nào, không cần một lời tuyên chiến.

Giáo sư Zhu Feng, trường đại học Bắc Kinh, nói, “Các nước Á Châu đang chi tiêu nhiều khoản tiền khổng lồ để mua sắm vũ khí vì lo ngại trước súc lớn mạnh của Trung Quốc. Niềm lo ngại thái quá của họ không những không cần thiết mà còn tốn kém, vì họ đang chi tiêu về quốc phòng quá nhiều, nhiều hơn cả Trung Quốc.”

Câu nói này đúng một phần: nếu tính tổng cộng số tiền Việt Nam, Ðài Loan, Nam Hàn, Nhật, Ấn, Úc, Mã Lai, … đang chi tiêu để tăng cường quốc phòng, thì con số này nhiều hơn ngân sách quân sự của Trung Cộng.

Tôi dùng 4 chữ “ngân sách quân sự” vì những chữ “ngân sách quốc phòng”, mặc dù thông dụng, nhưng lại tạo ra ý niệm lầm lẫn là ngân sách 70 tỉ mỹ kim của Trung Cộng năm 2009 là để phòng thủ quốc gia, trong lúc sức mạnh quân sự của Trung Cộng đang thực sự đe dọa nền hòa bình Á Châu và thế giới.

Mặc dù các quốc gia Á Châu, trong đó có Việt Nam nghèo và đói, phải chi tiêu quá đáng vào việc mua sắm vũ khí, Trung Cộng vẫn có thể nuốt từng nước, nếu Ðông Á và Ðông Nam Á không tìm được một phương thức liên kết quân sự. Họ có nhu cầu liên kết để bài toán cộng khả năng tự vệ của họ trở thành một sự thật, như giáo sự Zhu Feng cộng số tiền nhiều chục tỉ họ đang đổ ra để mua sắm khu trục cơ, tiềm thủy đĩnh, và hệ thống hoả tiễn phòng không.

Phần sai trong câu nói của ông giáo sư Bắc Kinh là 4 chữ “lo ngại thái quá”. Chỉ cần nhìn cảnh ngư dân Việt Nam đang mất nghiệp trên Biển Ðông, và nhìn những hãng dầu ngoại quốc cúp đuôi rút khỏi những vùng biển Việt Nam mà họ đã ký khế ước với nhà nước Việt Cộng, đã đưa chuyên viên, và đã bỏ vốn ra để sẵn sàng khui giếng dầu, cũng đủ thấy là con số 4 tỉ rưỡi mỹ kim Việt Cộng bỏ ra mua tầu ngầm kilo, chiến hạm Gepart 3.9 và khu trục cơ Sukhoi 30 là cần thiết.

Toàn bộ số vũ khí mới này đều mua của Nga; nga còn cam kết giúp Việt Cộng xây dựng cơ sở quân sự cần thiết cho những lực lượng hải quân, không quân mới.

Bộ trưởng Quốc phòng Nga Anatoly Serdyukov hiện đang ở Hà Nội trong chuyến thăm chính thức nhằm tăng cường quan hệ song phương và thúc đẩy các hợp đồng mua vũ khí mới.



Việt Nam nay đã trở thành một trong các nước mua vũ khí nhiều nhất của Nga. Trị giá các hợp đồng quân sự giữa hai bên trong năm 2008 là vào khoảng hơn 1 tỷ đôla, năm 2009 là trên 4,5 tỷ, và trị giá hợp đồng ký đầu năm nay là gần 1 tỷ đôla.

Trong các hợp đồng ký năm 2009, Việt Cộng đặt mua 6 tàu ngầm hạng Kilo Project 636 trị giá 4 tỷ đôla, 8 chiến đấu cơ Su-30MK2 Flanker-C trị giá 400 triệu đôla, tháng Hai 2010, họ cũng đặt mua thêm 12 chiếc Su-30MK2.

Tác giả Stephen Blank của Jamestown Foundation nhận định việc Việt Nam trở thành khách hàng lớn nhất của Nga trong lĩnh vực mua bán vũ khí đã làm nhiều người ngạc nhiên.

Bài báo nhận: định đối với Hà Nội, việc mua vũ khí không chỉ đơn giản để tăng số máy bay và tàu ngầm, mà còn đi kèm với việc xây dựng quân cảng, cơ sở bảo trì, hệ thống liên lạc và huấn luyện quân nhân...

Đây là một phần trong kế hoạch phát triển khả năng quốc phòng của Việt Nam, nhưng cũng là dấu hiệu đáng quan tâm cho thấy Hà Nội đang muốn củng cố lại quan hệ với Moscow để đối trọng với Trung Quốc.

Việt Nam đang muốn Nga tham gia một loạt dự án quan trọng của nước này và đang thúc đẩy việc ký kết một Hiệp định Tự do Thương mại song phương.

Còn có tin Việt Nam đang đề xuất cho tập đoàn khổng lồ Gazprom của Nga cổ phần trong công ty Petrovietnam.

Hà Nội cũng thiết tha muốn Nga tăng đầu tư vào Việt Nam, nhất là tham gia xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên ở tỉnh Ninh Thuận.

Về phía Nga, các hợp đồng với Việt Nam không chỉ là cơ hội làm ăn mà còn mang ý nghĩa chính trị to lớn.

Stephen Blank viết là từ lâu nay Nga đã tìm cách bán vũ khí tới các nước Đông Nam Á cũng như phát triển quan hệ năng lượng với các nước này.

Nga đã cung cấp khí tài cho Indonesia, thương thuyết hợp đồng với Brunei, Malaysia, Thái Lan và Miến Điện. Chính quyền quân phiệt ở Miến Điện hồi cuối 2009 đã mua 20 chiến đấu cơ MiG-29 và từ 6 tới 10 trực thăng Mi-35 của Nga.

Phản ánh không khí ngày càng lo lắng tại khu vực Ðông và Ðông Nam Á Châu trước sức mạnh của Trung Cộng, việc cung cấp vũ khí cũng mang lại cho Moscow cơ hội vươn trở lại vị trí siêu cường quốc tế.

Nga cũng đang muốn tìm khách hàng thay thế cho Trung Quốc, nước vốn mua nhiều vũ khí nhất từ Nga, vì Bắc Kinh không còn là khách hàng xộp nữa: họ chỉ muốn mua các mặt hàng công nghệ tân kỳ nhất, và bắt chước kỹ thuật để tự chế tạo những vũ khí còn phải mua của Nga.

Năm 2010 Nga giao hàng bốn chiếc chiến đấu cơ Sukhoi - 30MK2 cho Việt Nam, và bốn chiếc nữa vào năm sau. Đông Nam Á là thị trường tiềm năng của các loại chiến đấu cơ Sukhoi, mà các nước này đánh giá là hiện đại, dễ vận hành và lại rẻ hơn so với sản phẩm Âu Mỹ cùng loại. Malaysia đã mua 18 chiếc Su-30 của Nga và đang cân nhắc mua thêm chừng ấy chiến đấu cơ nữa trong tương lai. Singapore và Ấn Độ cũng bày tỏ quan tâm, Ấn Độ có thể mua tới 50 chiếc.

Trung Cộng và những học giả người Hoa nỗ lực thuyết phục thế giới tin rằng họ không có ý đồ lấn chiếm bằng võ lực. Ông Dean Cheng, thuộc Heritage Foundation, nói, “Quân đội của các nước Á châu đang phát triển vì nhiều lý do, trước nhất vì các nước này giàu có hơn xưa nhiều. Phú quý sinh ra trách nhiệm.

Họ nói họ e ngại mưu đồ của Trung Quốc? Hiện chưa ai rõ mưu đồ đó như thế nào, nhưng Trung quốc được ví như một con đười ươi nặng 800 cân, do đó, dù nó có đứng, có chạy lung tung hay thậm chí chỉ gãi lưng đi chăng nữa, thì nó cũng làm cho thế giới quan tâm".



Con đười ươi Trung Cộng không gãi lưng trên Biển Ðông, nó đang khống chế vùng biển này, tạo thiệt thòi và lo ngại cho nhiều nước, nhất là cho Việt Nam. Mua sắm vũ khí là thái độ Việt Cộng chuẩn bị chấp nhận chiến tranh, và từ chối (bằng bạch thư) không tham gia một liên minh phòng thủ Ðông Nam Á, là việc Việt Cộng khuyến khích Trung Cộng lấn ép Việt Nam.

Nguyễn Ðạt Thịnh

Posted: Wed Apr 14, 2010 4:24 am
by khieulong
DIỄN VĂN KHAI MẠC PHIÊN HỌP TỐI CAO
CỦA HỘI NGHỊ THƯỢNG ĐĨNH AN NINH NGUYÊN TỬ

Tại Washington Convention Center, Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn.
Tổng Thống Obma : Xin chào buổi sáng, tất cả quý vị. Tôi xin bắt đầu. Cho phép tôi cám ơn tất cả quý vị đã tham dự tối hôm qua. Tôi nghĩ đó đã là cuộc thảo luận rất quan trọng.

Trước khi tôi bắt đầu, tôi xin nhân giây phút nầy một lần nữa nói tới thảm kịch khủng khiếp đã tấn công vào nhân dân Ba-Lan vào cuối tuần rồi. Chúng ta họp nhau hôm nay có một phái đoàn đặc biệt từ Ba-Lan, hướng dẫn bởi ngài Đại Sứ Kupiecki. Thưa ngài Dại Sứ, tất cả chúng tôi đều sửng sốt và buồn thương tận cùng bởi sự mất mát lớn lao của ngài Tổng Thống Kaczynski, cùng Đệ I Phu Nhân, và nhiều nhà lãnh đạo dân sự cũng như quân sự đặc biệt của quý Quốc. Sự mất mát đó không chỉ là của riêng Ba-Lan, mà của toàn Thế Giới.

Với tư cách là bạn thân và là đồng minh, Hoa Kỳ luôn đứng bên cạnh đất nước Ba-Lan và nhân dân Ba-Lan bất cứ nơi đâu trong những ngày vô cùng khó khăn nầy. Là một cộng đồng quốc tế, tôi hiểu rằng chúng ta cùng tập hợp quanh nhân dân Ba-Lan là dân tộc chứng tỏ sức mạnh phi thường và đức tính kiên cường trong suốt lịch sử của họ. Vì vậy tất cả con tim chúng tôi xin hướng về nhân dân quý Quốc. Mọi suy tưởng và lời cầu nguyện của chúng tôi xin đến với họ. Chúng ta cùng với họ trong thời gian đau buồn nầy. Và nếu quý vị cùng đồng ý, tôi xin quý vị dành giây lát im lặng để tỏ ra tình đoàn kết và vinh danh những người đã mất.

(Nghỉ giây phút in lặng mặc niệm).

Xin cám ơn. Tôi xin đặc biệt chào mừng quý vị đến Hoa Thịnh Đốn và chính thức tham dự Hội Nghị Thượng Đĩnh lịch sử nầy. Chúng ta đại diện cho 47 Quốc Gia từ mọi miền Thế Giới, và tôi xin cám ơn mỗi quý vị hiện diện nơi đây. Đây quả là một cuộc tập hợp chưa từng thấy để cảnh báo một sự đe dọa đặc biệt.

Hai thập niên sau khi chấm dứt chiến tranh lạnh, chúng ta đối diện với sự tàn ác ghê gớm của lịch sử -- đó là sự rủi ro của nạn đối đầu nguyên tử giữa các Quốc Gia nay đã qua rồi, nhưng sự rủi ro của nạn tấn công nguyên tử hiện đang nổi lên.

Các nguyên liệu nguyên tử có thể được buôn bán và trộm cắp và được dùng vào số lượng vũ khí nguyên tử hiện tồn tại ở hằng chục Quốc Gia. Chỉ một số lượng nhỏ chất Plutonium - khoảng kích cỡ của một trái táo - có thể giết và làm bị thương hằng trăm nghìn người dân vô tội. Các mạng lưới khủng bố như al Qaeda đang cố gắng tìm kiếm nguyên liệu để sản xuất vũ khí nguyên tử, và nếu họ thành công, họ chắc chắn sẽ dùng nguyên tử. Nếu như họ làm thế, đó sẽ là tai họa khôn lường cho cả Thế Giới -- làm cho vô số sinh mạng sẽ mất, và tấn công tàn phá hòa bình và ổn định toàn cầu.

Nói tóm lại, xin nhấn mạnh rõ ràng rằng sự nguy hiểm của khủng bố nguyên tử là một trong những đe dọa lớn nhất cho an ninh toàn cầu -- theo như các tin tức an ninh chúng tôi thu nhận được.

Và đó là tại sao, đã một năm trước đây cho đến hôm nay -- một năm trước đây tại Prague, tôi đã kêu gọi một nổ lực quốc tế mới nhằm bảo đảm an toàn tất cả nguyên liệu nguyên tử có thể bị chiếm đoạt trên khắp thế giới trong 4 năm. Đây là một phần của kế hoạch rộng lớn, toàn diện mà Hoa Kỳ đang theo đuổi -- kể cả giảm bớt kho vũ khí nguyên tử của chúng tôi và chấm dứt việc phát tán vũ khí nguyên tử -- một chương trình sẽ đưa chúng ta gần lại với nhau vì mục đích chung là một Thế Giới không vũ khí nguyên tử.

Hơn một năm qua, chúng tôi đã tạo được sự tiến bộ. Tại cuộc họp của Hội Đồng An Ninh Liên Liệp Quốc khóa mùa thu vừa qua, chúng tôi đồng lòng thông qua Nghị Quyết 1887 chấp thuận chương trình toàn diện nầy, kể cả mục tiêu bảo đản an ninh tất cả nguyên liệu nguyên tử. Đêm qua, kết thúc phiên họp, tôi tin là chúng ta đã tạo thêm được sự tiến bộ nữa, đó là theo đuổi việc chia sẻ cho nhau cùng hiểu biết về sự chết chóc khủng khiếp đang đe dọa nhân dân của chúng ta.

Và hôm nay, tôi có được cơ hội để tiến lên những bước kế tiếp.

Chúng ta có được cơ hội, từng mỗi Quốc Gia một, nên hành động vững chắc và cụ thể nhằm bảo đản an toàn cho các nguyên liệu nguyên tử trong các quốc gia của chúng ta và ngăn ngừa nạn buôn bán bất hợp pháp và buôn lậu nguyên tử. Đó là vấn đề chúng ta nhắm tới trong buổi sáng nay.

Chúng ta có cơ hội tạo sức mạnh cho Cơ Quan Nguyên Tử Năng Quốc Tế, gọi là IAEA, với nguồn tài nguyên và thẩm quyền mà cơ quan nầy cần để đạt được trách nhiệm của họ. Đây là điều chúng ta nhắm tới tại buổi ăn trưa làm việc hôm nay.

Chúng ta có cơ hội, là một cộng đồng quốc tế, phải hợp tác chặt chẽ và tạo sức mạnh cho các tổ chức và các hợp tác nhằm giúp ngăn chặn các nguyên liệu nguyên tử từ những nơi bị suy sụp để không rơi vào tay bọn khủng bố. Đó là điều chúng ta nhắm tới vào chiều hôm nay.

Và chúng ta có cơ hội, là những bên hợp tác, cam chắc rằng những tiến bộ không phải là một chốc lát lướt qua, mà là phần quan trọng và nổ lực phải được duy trì. Và đó là lý do tại sao tôi rất hài lòng để công bố rằng Tổng Thống Lee (Lee, Mung-pak) đã đồng ý tổ chức Hội Nghị Thượng Đĩnh An Ninh Nguyên Tử tại Cộng Hòa Hàn Quốc trong hai năm tới. Điều nầy cho thấy sự lãnh đạo của Nam Hàn, trong khu vực và toàn cầu, và tôi xin cám ơn Tổng Thống Lee và nhân dân Hàn Quốc về sự tự nguyện của họ chấp nhận trách nhiệm nầy.

Tôi xin mời Tổng Thống Lee nói một vài lời.

Tổng Thống Lee : Cám ơn đã mời chúng tôi, về việc Hàn Quốc đăng cai tổ chức Hội Nghị Thượng Đĩnh sắp tới vào năm 2012.

Tôi xin cam kết với quý vị rằng tôi sẽ hành động tốt nhất để cho Hội Nghị Thượng Đĩnh thành công. Tôi hy vọng được chào đón tất cả quý vị tại Hàn Quốc. Xin cám ơn. (tiếng vỗ tay).

Image
Trung Tâm Hội Nghị Quốc Tế COEX lớn nhất của Hàn Quốc giữa trung tâm Thủ Đô Seoul, sẽ là nơi họp Thương Đĩnh Khối G-20
vào tháng 11-2010 và chắc sẽ là nơi họp Thượng Đĩnh An Ninh Nguyên Tử năm 2012 do TT Lee, Myung-Pak bảo trợ (ảnh của COEX).

Tổng Thống Obama: Xin cám ơn rất nhiều.

Vậy hôm nay là một cơ hội - không chỉ đơn giản để nói, nhưng để hành động. Không chỉ đơn giảm để hứa, mà phải đạt được các tiến bộ thực sự cho an ninh của nhân dân chúng ta. Tất cả những vấn đề nầy, lần lượt, còn đòi hỏi những điều khác nữa, đó là những điều căn bản hơn. Đó là đòi hỏi sự nhất trí mới - rằng chúng ta bày tỏ quyết chí, là các Quốc Gia hay các bên hợp tác, thực hiện những gì của giây phút nầy theo đòi hỏi của lịch sử.


Tôi vững tin rằng các vấn đề rắc rối của Thế Kỷ 21 không thể một quốc gia nào đơn lẻ tự giải quyết được. Các nan đề đó phải được giải quyết bởi tất cả chúng ta cùng họp lại với nhau.

Trong buổi hừng đông của kỷ nguyên nguyên tử mà ông đã giúp tìm ra, Albert Einstein đã nói rằng: “Nay tất cả mọi thứ được thay đổi…”. Và ông cũng cảnh báo rằng: “Chúng ta đang trôi về đại thảm họa không gì so sánh được. Chúng ta cần đòi hỏi tính cách suy nghĩ mới thực sự nếu nhân loại cần tồn tại”.

Sự thực đó kéo dài cho đến hôm nay. Vì an ninh chung của tất cả chúng ta, vì sự tồn tại cuộc sống của chúng ta, chúng ta không thể bỏ mặc buông trôi. Chúng ta cần một cách suy nghĩ mới - và hành động. Đó là mọi thách thức đặt ra trước chúng ta. Và tôi xin cám ơn tất cả quý vị đã có mặt nơi đây để cùng nhau đương đầu sự thách thức bằng sự hợp tác.

Và nay, tôi đề nghị chúng ta dành khoảng thời gian cho báo chí ra ngoài trước khi chúng ta đi vào phiên họp đầu tiên.

(Diễn văn của TT Barack Obama kết thúc lúc 9:52AN - EDT)