Page 36 of 85

Posted: Tue Feb 07, 2012 8:25 am
by KýCóp
Image

Ghiền Internet

Ngày nay việc sử dụng Internet được xem như là một phần trong sinh hoạt hằng ngày của đa số chúng ta. Internet là tai mắt và đồng thời cũng là sợi dây liên lạc (email, chat) giữa mọi người với nhau.

Chúng ta, trong đó có bạn và cả tôi nữa, đều ít nhiều đều ghiền Internet chẳng khác nào mình ghiền...một loại ma túy tinh thần nào đó.
Lợi ích của Internet thì đã quá rõ ràng rồi, tuy nhiên nó cũng đã bị một số người chỉ trích và kết án thậm tệ như là một trong nhiều nguyên nhân gây nên tội phạm trong xã hội.

Ngoài ra, nó còn bị American Psychiatric Association gán thêm cho một tội khác nữa, đó là việc lạm dụng Internet một cách thái quá có thể làm cho người sử dụng bị xáo trộn về tâm thần, một hiện tượng mà các nhà tâm lý học gọi là Internet addiction disorder hay IAD. Cũng may là American Medical Association đã không nhìn nhận IAD là chẩn đoán của một bệnh lý thật thụ.

ĐÚNG LÀ GHIỀN RỒI

Gần đây, một khảo cứu về việc sử dụng Internet và cell phone do JWT survey thực hiện trên 1011 người Hoa kỳ từ 18 tuổi trở lên gồm có 42% đàn ông và 58% đàn bà, đã đi đến kết luận là dân Mỹ đứng đầu thế giới về vụ ghiền Internet.

Cell phone và Internet chiếm một chỗ đứng quan trọng trong đời sống của người Mỹ, bởi vậy nếu hỏi họ có thể chịu đựng được bao lâu nếu không có Internet thì, 21% trả lời hai ngày, 19% trả lời vài ngày, một trong năm người trả lời là có thể chịu đựng được một tuần lễ.

Bất luận tuổi tác, 59% đàn ông và 50% đàn bà đều có thể chịu đựng tình trạng thiếu Internet chỉ trong vài ba ngày mà thôi. Cảm giác chung của họ là nếu vì lý do nào đó mà không có Internet khi họ muốn, thì họ có cảm tưởng như thiêu thiếu một cái gì đó rất quan trọng.

Nói chung, 28% người được thăm dò cho biết họ nhìn nhận họ để rất ít thời gian cho những sự tiếp xúc trực tiếp mặt đối mặt, vì họ bận xem Internet hoặc Cell phone hoặc nghe nhạc mp3 hay bận chơi games điện tử. Còn 20% thú nhận dành ít thời gian hơn lúc xưa cho những chuyện vợ chồng!

XEM EMAIL BẤT CỨ CHỖ NÀO

- 25% thú nhận thường đem Internet lên tận giường ngủ (laptop hoặc cell phone) để xem.

Trước khi ngủ, họ check email cuối cùng và đôi khi họ ngủ quên mà trong tay vẫn còn cầm cái cell phone.

- 43% cho biết họ để email mở thường trực cạnh bên giường để có thể nhận biết giữa đêm nếu có ai gởi mail đến.
- 59% người Mỹ đọc email khi vừa về tới nhà.
- Đọc ở nhà chưa đủ, một số 12% còn xách laptop hoặc mang cell phone theo vô nhà thờ để check email trong lúc Cha đang làm lễ ở phía trước.
- 37% check email lúc họ đang lái xe.
- 53% check email luôn cả lúc họ đang ở trong phòng tắm.

CHƠI GAMES VÀ NGHE NHẠC

Thật không ngờ chính phái nữ có nhiều máy để chơi games nhất: 44% ở phụ nữ so với 39% ở nam giới.
34% người được thăm dò cho biết họ có iPod hoặc dụng cụ cá nhân khác để nghe nhạc.
Đa số là giới trẻ chiếm 49% so với 15% những người trên 55 tuổi.

INTERNET THAY ĐỔI LỐI SỐNG CỦA NHIỀU NGƯỜI

- 73% người được thăm dò cho biết họ đã thay đổi cách mua sắm của họ. Càng ngày họ càng có khuynh hướng mua sắm kiểu online nghĩa là qua Internet.
- Internet được rất nhiều người ưa thích vì tính tiện dụng của nó.
- Internet giúp chúng ta phương tiện trau dồi kiến thức và sự hiểu biết qua hai công cụ tìm kiếm rất thực tiển đó là Google và Yahoo. Kế đến, email cá nhân thường được tham khảo qua cái computer cá nhân ở nhà.
Có một điểm tiện lợi là các địa chỉ Hotmail và Gmail có thể được mở ra xem ở bất cứ một computer nào khác hoặc kể cả qua cell phone. Giới trẻ thường trau đổi tin tức cho nhau qua email.
Các sites Facebook, MySpace không được dân Mỹ chiếu cố cho lắm nên được xếp vào hàng thứ 7 sau những sites như MyYahoo hay iGoogle và những sites có chuyên đề cá nhân như thể thao, nhạc, chụp ảnh, kỹ thuật, nhật báo và tạp chí điện tử, v.v…

KẾT LUẬN

Gọi là Ghiền Internet có đúng hay không? Chắc là đúng thôi, nhưng không phải là một loại ghiền ghê gớm bệnh hoạn như ghiền rượu, ghiền thuốc lá, ghiền đi casino, v.v…
Ghiền Internet có thể giúp chúng ta giải tỏa stress, giải khuây, thoát ly, thêm nhiều bạn bè mới, du lịch trong không gian, giúp chúng ta mở rộng tầm nhìn, tăng thêm kiến thức,v.v…

Nhờ đó, nó còn giúp chúng ta hiểu được thêm nhiều khía cạnh của nhân sinh cũng như các hỉ nộ ái ố cay đắng ngọt bùi trong cuộc sống! Nhưng cũng đôi khi có một số bà vợ lại ghen với cái computer mới là lạ chớ.
Internet là con dao hai lưỡi, có mặt tốt nhưng cũng có mặt xấu của nó, điều quan trọng là chúng ta phải biết lựa chọn nó cho đúng mà thôi…Mà thế nào là đúng, thật khó biết?
Câu trả lời là cũng còn tùy theo hoàn cảnh và cá tánh của mỗi người nữa.
Thôi, nếu thích thì cứ việc…ghiền, nhưng hãy nhớ câu...cái gì thái quá đều không tốt…hay nói theo Tây là «Toutes les extrêmes sont mauvais».

Posted: Wed Feb 08, 2012 5:40 am
by KýCóp
CHUYỆN NƯỚC PHÁP

Nước Pháp đứng nhất về nhiều phương diện:
1- Thiếu nữ và phụ nữ nào cũng có thân hình thon gọn, nhưng không đẹp như tượng.

Lý do: Ai đi làm, đi học cũng phải chạy thật nhanh để kịp xe điện ngầm! Không có người nào tà tà đi nhởn nhơ, do đó, không có người mập ú, núng na núng nính những khối bưởi, khối bầu...

Thứ hai, thức ăn mắc quá, nên ai cũng ăn ít. Một ổ bánh mì 7 Euro, tương đương US $11,50 một ổ! Một ly cà phê nhỏ xíu xìu xiu cũng 4, 5 Euro, tương đương US $8, 9.00! Môt tô phở 9 hay 10 Euro, gần US $15.00! Ai có đủ tiền ăn nhiều? Một tờ giấy "napkin" giá 1 Euro, nghĩa là US $1.60! (Không phải một lố đâu!) Serious! Nói chung, đồ gì cũng mắc.

2 - Đường xá dơ nhất. Quanh Paris, chỗ nào cũng có phân chó! Tôi từng ở chung với một bà từng làm Tổng Giám Đốc ở Mỹ, bà có 3 con chó, sáng nào cũng dắt chúng đi ... chơi và không bao giờ mang theo bao nylong để đựng phân chó!

3 - Nước Pháp ăn cắp như rươi. Đi chơi ở mấy chỗ công cộng đều được nhắn nhủ là coi chứng móc túi. Dân Parisien móc túi nhanh như điện!

4 - Đường xá thì hẹp. Thang máy nhỏ xíu như cái hộp đồ chơi, chỉ chứa được hai người là nhiều. Xe hơi thì nhỏ xíu để tiện "parking" nửa trên đường, nửa dưới đường! Phòng khách sạn cũng nhỏ. Phòng "toilet" chỉ vừa cho người ốm nhách. Bà nào to con, vào toilet phải đi nghiêng!

5 - Thiếu nước tắm. Các appartment ở Paris không có toilet và phòng tắm cho từng hộ, phải xài chung ở dưới nhà, nên đa số lười. Đi tiểu trong bô dấu dưới giường.
Vậy mà nước Pháp nhất cái gì?

CTT
Những lý do để bạn không nên tới Hà Nội :
1. Tất cả những gì mua ở chợ̣ Đồng Xuân, bạn đều có khả năng mua ở chợ Bến Thành.

2. Khi có một kế hoạch được thông báo, chỉ cần năm phút nữa là xong, bạn cứ yên tâm là ít nhất năm năm nữa.

3. Khi vào tiệm mua một món nào đấy, bạn có thể bị mắng là đừng cậy có tiền.

4. Khi có việc đi xa, bạn không sợ đường xá, mà hãy sợ ông lái xe!

5. Đi bộ trên vỉa hè phải cẩn thận, vì đó là đi trên quầy hàng của người ta. Hoặc đi trong bãi đậu xe máy.

6. Khi ăn bánh cuốn Thanh Trì, phải biết nó được làm ở nhiều nơi, trừ Thanh Trì.

7. Người mặc quần áo đẹp, cả nam lẫn nữ, chưa chắc đã là người không văng tục.

8. Bạn sẽ được gọi là “sếp”, mặc dù chả lãnh đạo ai cả, chỉ cần bước vào một quán karaoke.

9. Bạn sẽ phải bỏ giày hay dép khi vào nhà, nhưng không có gì chắc chắn bạn sẽ nhận lại đúng dép và giày của mình khi đi ra. Hoặc giầy dép biến mất; chủ nhà phải cho mượn sỏ đỡ để khỏi phải đi chân không về nhà.

10. Khi bị ai đó đụng vào – nhất là thanh niên –, để an toàn, bạn nên xin lỗi trước.

11. Ghế đá công viên không phải để ngồi. Nó để nằm. Hoặc ngồi xổm kiểu nước lụt truyền thống.

12. Giấy vệ sinh là giấy chùi đũa hoặc chùi mồm.

13. Đừng nhìn đồng hồ taxi! Hãy nhìn vào túi tiền mình!

14. Đừng tưởng gặp họ hàng, khi có ai đó gọi mình là “anh giai”!

Posted: Sat Feb 18, 2012 4:14 am
by hoanghoa
TÂM SỰ TUỔI GIÀ.
(Đỗ Hữu Phương)
Từ khi người Việt tị nạn trên thế giới vào năm 1975 đến nay thì thế hệ Cha Mẹ chúng ta, bậc Anh Chị chúng ta đang vui hưởng tuổi già và bây giờ đến lứa tuổi mà người ta gọi là baby boomer cũng đã và đang bắt đầu về hưu rồi.

Đời người thật ngắn ngủi. Nhớ lại vào lứa tuổi đôi mươi, chúng ta
lang thang trong khung viên trường đại học, vui cười vô tư và bây giờ
đã hơn 40 năm trôi qua rồi. Đời người thoáng chốc đã già. Hơn bốn mươi
năm trôi qua, chúng ta đã trải qua một đoạn đời trai trẻ trong một đất
nước chiến tranh. Dầu trực tiếp cầm súng chiến đấu tại mặt trận, hay
gián tiếp chống lại kẻ thù chung, chúng ta đã trải qua những năm tháng
sống nay, chết mai và cuộc sống không có tương lai. Và rồi, những năm
bị đầy đọa cực kỳ gian khổ trong các trại tù hay những ngày lo sợ vì
đói khát, chết chóc trong khi tìm cách vượt biên tìm tự do. Đến được
đất nước thanh bình với một thân thể đã yếu, tinh thần còn vương vấn
những khổ đau trong quá khứ, và rồi phải tiếp tục đi “cầy” để lo cho
cuộc sống trên xứ lạ quê người…

Bây giờ, những năm còn lại trong cuộc đời của một người, chúng ta
cần sống thanh thản, sống thoải mái, sống hạnh phúc. Vì qua một ngày,
chúng ta đã mất một ngày. Vì vậy, một ngày đến, chúng ta vui một
ngày. Vui một ngày…rồi không biết được bao nhiêu ngày nửa. Hạnh phúc
là do chính mình tạo ra, vui sướng cũng do chính mình tìm lấy vì những
niềm vui ấy đã ẩn chứa trong những sự việc nhỏ nhặt xãy ra trong đời
sống. Hạnh phúc là những gì hiện đang ở chung quanh chúng ta, trong
tầm tay chúng ta. Nhà nho Nguyễn Công Trứ quan niệm “ Tri túc, đãi
túc, tiện túc, hà thời túc. Tri nhàn, đãi nhàn, tiện nhàn, hà thời
nhàn”…
Tiền rất quan trọng trong đời sống của con người, nhưng tiền không
phải là tất cả. Đừng quá coi trọng đồng tiền, và cũng đừng lệ thuộc
vào đồng tiền, mặc dù biết rằng nếu không có tiền thi làm sao chúng ta
sống, làm sao để được thoải mái. Ta vẫn biết khi ta ra đời ta đâu có
mang nó đến, và khi ra đi chúng ta cũng không mang nó theo. Đồng tiền
có thể mua một lâu đài to lớn, nhưng đồng tiền không mua được mái ấm
gia đình. Đồng tiền giúp chúng ta mua được nhiều thứ tiện nghi trong
cuộc sống, nhưng đồng tiền không mua được sức khỏe cũng như hạnh phúc
trong đời sống. Quảng đời còn lại thì quá ngắn ngủi, ta phải sống
những ngày tháng cho đáng sống, ta phải làm cho cuộc đời thêm phong
phú. Chúng ta phải thay đổi cuộc sống khổ hạnh thời xa xưa, đừng nghĩ
đến những năm tháng đói, lao động khổ cực trong các trại tù miền Bắc,
hay những ngày tháng đói, khát trên biển cả trong khi đi tìm tự do.
Những gì cần ăn thì cứ ăn, cần mặc thì cứ mua sắm, muốn đi du lịch thì
cứ đi. Tập cho mình có nhiều đam mê, tự tìm niềm vui cho chính mình.
Vào trong internet để gửi thư cho bạn bè, để chia sẻ một tin hay, một
chuyện vui, một bản nhạc, đọc những bài viết có giá trị, hay “chat”
với người quen biết. Chúng ta cần trao dồi bộ óc để trí nhớ vẫn còn
sáng suốt. Nếu có người bạn cần giúp, ta cứ mở lòng nhân ái, tốt bụng
với mọi người. Rảnh rổi đi làm những việc từ thiện ngoài xã hội, giúp
một tay tại những nơi tôn kính như nhà Chùa, nhà Thờ,… lấy việc giúp
người làm niềm vui, đó là những thú vui trong tuổi già.
Hơn nửa đời, chúng ta dành khá nhiều cho sự nghiệp, cho gia đình,
cho con cái, bây giờ thời gian còn lại chẳng bao nhiêu nên dành cho
chính mình, quan tâm bản thân, sống thế nào cho thanh thản, vui vẽ.
Việc gì muốn thì làm, ai nói sao thì mặc kệ vì mình đâu phải sống để
người khác thích hay không thích, nên sống thật với mình. Sống phải
năng hoạt động nhưng đừng quá mức, ăn uống quá kiêng cử thì không đủ
chất bổ dưởng, quá nhàn rổi thì buồn tẻ, quá ồn ào thì khó chịu…
Cuộc sống tuổi già thật đa nguyên, đa dạng, nhiều màu sắc nên ta
cần có nhiều bạn bè, nhiều nhóm bạn bè hoặc tham dự vào những sinh
hoạt trong các Hội đoàn ái hữu lành mạnh. Gặp bạn, nói ra những điều
phiền muộn cho nhau nghe. Hãy tìm cách gặp gở bạn bè và người thân vì
không còn nhiều thời gian nửa. Một người lớn tuổi, sống cô đơn, biệt
lập, không đi ra ngoài, không giao thiệp với bạn hữu, thế nào cũng đi
đến chổ tự than thân trách phận, bất an, lo âu, ủ dột và tuyệt vọng.
Từ đó bắt nguồn của bao nhiêu căn bệnh. Đừng bao giờ nói, hay nghỉ
là: “ Tôi già rồi, tôi không giúp ích được cho ai nửa”. Đừng nói những
lời hay những tư tưởng có ý tuyệt vọng. Người già chỉ sảng khoái khi
được có bạn tâm giao, đó là một lều thuốc bổ mà không Bác sĩ nào có
thể biên toa cho ta mua được.
Ở tuổi hiện tại, chúng ta đừng nghỉ đến đồng tiền, đừng nghỉ đến giàu
hay nghèo nửa và cũng đừng than trách hay hối hận vì những lầm lỗi
trong quá khứ và cũng đừng tự hỏi là tại sao bây giờ ta không có nhiều
tiền. Đừng nói ta không có tiền. Có những thứ hiện đang chung quanh ta
rất quí giá mà có nhiều tiền cũng không mua được, đó là người phối
ngẩu của chúng ta. Nếu có chút ít đồng tiền thì cứ tiêu xài những gì
ta cần vì sẽ có lúc chúng ta để lại cho người khác xài. Nếu hôm nay ta
còn khoẻ mạnh, còn ăn được những món ăn ta thích và ăn biết ngon là ta
đã có một khối tài sản to lớn trong tuổi già. Rồi ta tìm đến những
người bạn cùng nhau uống tách trà nóng, ly cà phê buổi sáng, kể chuyện
năm xưa hay trao đổi những kinh nghiệm trong cuộc sống hiện tại. Cuối
tuần, hẹn nhau với người bạn đi câu cá, hưởng không khí trong lành của
thiên nhiên và cũng để cho tâm tư lắng đọng, tinh thần thanh thản. Đó
là những niềm vui trong cuộc sống cuả tuổi già.



Tứ khoái của tuổi già là: Ăn, ngủ, thể dục và du lịch. Ăn được ngủ được là Tiên. Ăn và ngủ đi đôi với nhau. Người lớn tuổi có nhiều thì giờ nghỉ ngơi, cần có chế độ ăn uống bổ dưởng, cung cấp đủ calories cho cơ thể. Sự luyện tập thể dục là thỏi nam châm của cuộc sống và là kim chỉ nam của tuổi thọ. Đi du lịch để cho cuộc đời thoải mái, trí óc thanh thản và vui sống.
Khi về già, chúng ta thường hay sống về quá khứ, hay nhớ lại chuyện
xưa. Sự nghiệp, vinh quang xưa kia đã trở thành mây khói, xa vời. Hẹn
nhau trong những buổi họp mặt để ta có nhiều người bạn tâm tình, kể
lại những kỷ niệm đẹp trong quá khứ…vui cười thích thú. Vợ chồng sống
hạnh phúc bên nhau, luôn luôn yêu thương người bạn đời, gắn bó với nửa
kia của mình, là điều mà chúng ta mong ước. Đưa các cháu đi học, đi
ăn, chơi đùa với các cháu… là thú vui của tuổi già. Ta phải làm thế
nào tuổi già mà tâm không già, thế là già mà không già. Nụ cười là lều
thuốc bổ quí nhất. Chúng ta cần tránh đi những sự cải vã, tranh dành
hơn thua từng lời nói hoặc những tranh chấp vô ích với bất cứ ai.
Chính những lúc cải vã, giận dữ đó đã đánh mất đi những niềm vui trong
cuộc sống, không thích hợp trong tuổi chúng ta, nhất là những người
đang đau yếu. Chúng ta phải đối diện với bệnh tật một cách lạc quan,
tự tin, đừng quá lo âu. Khi đã làm hết khả năng theo tầm tay, sẽ có
thể ra đi mà không hối tiếc. Hãy để Bác Sĩ chăm sóc, luôn luôn giử
bình an trong tâm hồn.
Chúng ta có thể nói là mình có hạnh phúc thật sự khi có sức khỏe tốt,
chịu đi tập thể dục, có cơ hội du lịch thường xuyên, ngủ ngon, ăn uống
ít kiêng cử khi vào tuổi hoàng hôn. Thiên đàng không phải đi tìm đâu
cho xa mà thiên đàng do ta dựng lên và chui vào đó mà hưởng hạnh phúc.
Sự sung sướng và hạnh phúc trong cuộc đời tùy thuộc vào sự thưởng thức
nó ra sao. Người hiểu đời rất quí trọng và biết thưởng thức những gì
mình đã có, và không ngừng phát hiện thêm ý nghiã của nó làm cho cuộc
sống vui hơn, giầu ý nghiã hơn.
Hoàn toàn khoẻ mạnh, đó là thân thể khoẻ mạnh, tâm lý khoẻ mạnh và
đạo đức khoẻ mạnh…Tâm lý khoẻ mạnh là biết chịu đựng, biết tự chủ,
biết giao tiếp; Đạo đức khoẻ mạnh là có tình yêu thương, sẳn lòng giúp
người, có lòng khoan dung. Người thích làm điều thiện sẽ sống lâu. Con
người là con người xã hội, không thể sống biệt lập, bưng tai, bịt mắt,
nên chủ động tham gia hoạt động công ích, hoàn thiện bản thân trong xã
hội, thể hiện giá trị cuả mình đó là cách sống lành mạnh.

SINH, LÃO, BỆNH, TỬ là qui luật ở đời, không ai chống lại được. Khi
thần chết gọi thì thanh thản mà đi. Cốt sao sống ngay thẳng không hổ
thẹn với lương tâm và cuối cùng cuộc đời của một người cũng chỉ là con số không to lớn.

Đỗ Hữu Phương

Posted: Sun Feb 19, 2012 5:46 pm
by caubennoc
“
Nhà Sư & Nhà Mước

Một hệ thống truyền thông do chính quyền kiểm soát có thể tạo ra một làn sóng thông tin sai lệch, nhưng sẽ chỉ làm gia tăng hiệu ứng ngược khi chính quyền đó đã mất tín nhiệm nơi dân chúng.”

Cái gì chứ chùa chiền, thánh thất là những nơi tôi rất ít khi lai vãng. Nghiêm và buồn thấy mẹ. Tam Bảo, Phật - Pháp - Tăng, tôi cũng đều né tuốt. Vậy mà cả đêm qua tôi lo muốn chết luôn, không ngủ được, nên phải lồm cồm bò dậy - viết vội vài hàng - sau khi đọc bài viết của nhà bình luận thời cuộc Nguyễn Ngọc Già (về một vị tu sĩ) trên diễn đàn Dân Luận:

“Vừa qua, theo loan báo của đài RFA và VOA, bà Loretta Sanchez - dân biểu Mỹ và phóng viên Ỷ Lan (đài RFA) thực hiện cuộc phỏng vấn dân biểu Ramon Tremosa I Balcells - Châu Âu, cả hai vị này đều lên tiếng đề nghị và ủng hộ trao giải thưởng uy tín - giải Nobel Hòa Bình cho người Việt Nam - Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ - nhà đấu tranh cho tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền trong nước không mệt mỏi suốt gần 40 năm qua. Đó là một tin rất đáng mừng cho người Việt Nam. Nhiều người vẫn không quên Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ đã từng nhận giải tưởng niệm Thorolf Rafto năm 2006 và là một người được đề cử cho giải Nobel Hòa bình nhiều lần, tuy vậy cho đến nay giải thưởng cao quý đó vẫn chưa đến tay Ngài...”

“Giải thưởng cao quý này nhất định sẽ trở thành một cánh quân quả cảm để người Việt Nam cùng nhau tập hợp lại, phất cao "Lá cờ - Nobel Hòa Bình" mà thế giới trao cho chúng ta như một niềm cổ vũ, như một lời cảm thông và trên hết như một lời hiệu triệu người Việt Nam hãy nắm chặt tay nhau và cùng chuyển thông điệp quan trọng, cấp thiết và dứt khoát đến ĐCSVN rằng: HÃY QUAY VỀ VỚI DÂN TỘC, TỔ QUỐC TRƯỚC KHI QUÁ MUỘN!”

“Thật lòng, ngoài Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ - Người rất xứng đáng nhận giải thưởng này, tôi mong Ủy ban trao giải tại Oslo hay xem xét, cân nhắc và quan tâm đến một người đủ cả tâm, tài, tuệ, đó chính là ông TRẦN HUỲNH DUY THỨC.”

“Giá như tôi có được một lá phiếu trong tay, người tôi đề cử sẽ là TRẦN HUỲNH DUY THỨC. Bởi xét về quá trình cống hiến có lẽ anh còn thua xa Ngài Thích Quảng Độ, nhưng xét về sức bật và sự đóng góp cho tương lai Việt Nam hòa bình (tôi tin một ngày không xa), anh còn thừa năng lượng để cống hiến cho Việt Nam tất cả tâm, trí, lực với tuổi đời còn đủ trẻ, với khối óc thông minh cùng một tấm lòng lương thiện, yêu nước không mảy may ngờ vực cho bất kỳ ai.”

Tôi tin giải Nobel hòa Bình 2012 sẽ được trao cho người Việt Nam. Tôi tin ngày ấy đang đến. Khởi từ giải thưởng Nobel Hòa Bình trong năm nay - cho TRẦN HUỲNH DUY THỨC HAY ĐẠI LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH QUẢNG ĐỘ - chính là cho VIỆT NAM.”

“Miến Điện đang đổi thay từng ngày bởi lòng yêu nước, thương dân nồng nàn của bà Aun Sang Suu Kyi cùng sự quay đầu hối cải của nội các Thein Sein. Sao người Việt Nam không có quyền nghĩ đến điều này và... sớm hơn?”

Chuyện tuốt luốt bên Lèo, bên Miên, hay bên Miến “thay đổi từng ngày” ra sao - nói nào ngay - tôi hoàn toàn mù tịt nên không dám lạm bàn. Còn chuyện giải Nobel đối với với nhà sư và nhà nước ở ta thì (ôi thôi) phiền toái lắm, cho cả hai bên, và cũng cho rất nhiều người!

Mấy năm trước, khi HT Quảng Độ vừa mới nhận giải Thorolf Rafto là báo Nhân Dân đã rẫy nẩy lên như đỉa (phải vôi) rồi: “Đây là một việc hoàn toàn không thích hợp.”

Ủa, sao lại không thích hợp cà?

Phản ứng của Đảng và Nhà Nước, rõ ràng, yếu ớt. Phản bác khơi khơi như vậy (nghe) thiệt là ... trớt qướt, không chỉ mơ hồ mà còn có vẻ hàm hồ nữa. Do đó, để đối phó với tình thế - sau đó - Ban Tuyên Giáo Trung Ương đã ra một công điện khẩn và mật (nguyên con) như sau:

- Trời, tưởng gì chớ “ngậm máu phun người” là hoạt động thường trực của những cây bút trong Hợp Tác Xã Tư Tưởng, ở Việt Nam. Ông vụ trưởng Nguyễn Thế Kỷ còn bầy đặt đóng dấu “khẩn” hay “mật” làm chi, trông cho nó thêm ... kỳ! Không tin thử lật lại vài trang báo cũ coi:

- Thích Quảng Độ kẻ đi ngược lợi ích dân tộc, luôn có thái độ bất mãn, chống đối chính quyền nhân dân, dọa tự thiêu và lợi dụng việc tổ chức “Đại giới đàn” để thuyết giảng, vu cáo chính quyền đàn áp Phật giáo. Đặc biệt nhân vụ sư cô Như Hiền tự vẫn vì có hoang thai, Thích Quảng Độ cùng một số đối tượng khác đã tung tin sai sự thật để phản đối chính quyền. Báo An Ninh Thủ Đô, ngày 26 tháng 8 năm 2007.

- Thích Quảng Độ xuyên tạc thô bạo tình hình dân chủ, nhân quyền, tự do tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam, tạo cớ và tiếp tay của các thế lực hoạt động chống phá Việt Nam từ bên ngoài. Báo Công An Nhân Dân, ngày 27 tháng 8 năm 2007.

- Thích Quảng Độ móc nối các tổ chức cực đoan lưu vong ở hải ngoại để dùng “oán trả ơn” bằng cách thông tin vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền, không cho tự do tôn giáo. Báo Sài Gòn Giải Phóng, ngày 28 tháng 8 năm 2007.

- Hành trình 30 năm nay của ông Thích Quảng Độ là một xâu chuỗi những hành vi vu khống, “nằm vạ”, hối lỗi, van xin và sáng nắng chiều mưa, thay đổi chính kiến ngay sau khi được khoan hồng... Lợi dụng những thời điểm thuận tiện để xuất hiện và khoa trương nhằm phục vụ cho lợi ích cá nhân. Báo Tuổi Trẻ, ngày 31 tháng 8 năm 2007.

- Thích Quảng Độ, con người tráo trở, ngựa quen đường cũ. Báo Người Lao Động, ngày 31 tháng 8 năm 2007.

- Đất nước thống nhất mấy mươi năm nhưng ông không mong muốn hòa hợp, cứ muốn tách mình ra khỏi dòng chảy chung chỉ vì những cuồng vọng. Báo Pháp Luật, ngày 16 tháng 5 năm 2009.

- Ông Thích Quảng Độ, người đứng đầu tổ chức không được các tăng ni, phật tử ở Việt Nam công nhận, là "Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất", chẳng hiểu căn cứ vào đâu mà cho rằng việc khai thác bôxít sẽ dẫn đến "nguy cơ huỷ hoại màu xanh Tây Nguyên và đời sống của người Việt cũng như hàng chục dân tộc ít người". Tiếp theo, ông ta "khẩn cấp báo động công luận thế giới về đại nạn sinh thái Tây Nguyên Quả là không thể hiểu nổi, một vị tu hành đến chức Hoà thượng mà lại làm những việc phản dân hại nước đến vậy. Công An Nhân Dân, ngày 18 tháng 4 năm 2009.

Năm nay, dù không phải là thầy bói, tôi cũng đoán được rằng ông Vụ/ hay bà Trưởng Vụ Báo Chí - Xuất Bản đương nhiệm lại sắp sửa ký một công điện (“khẩn” và “mật”) mới, với nội dung y như cũ: “Chuẩn bị sẵn bài viết, phóng sự, hình ảnh, tư liệu về vấn đề này để đấu tranh. Chú ý phỏng vấn, lấy ý kiến người dân, ý kiến các bậc chân tu phản đối việc trao giải, lên án Thích Quảng Độ và các thế lực đen tối khác.”

Thế là “các cơ quan báo chí trong nước” lại sắp phải vất vả “chuẩn bị” để ... ngậm cứt phun người. Uy danh của HT Thích Quảng Độ, tất nhiên, không thể bị ô uế bởi những lời lẽ bẩn thỉu thượng dẫn. Tuy thế, cứ nghĩ đến những cây rừng sẽ phải bị hạ (để tạo ra giấy mực cho chiến dịch bôi bác sắp tới) và tiền thuế của dân chúng (dùng để nuôi sống một đám bồi bút côn đồ) thì tôi không thể nào không cảm thấy vô cùng... sót ruột!

Do vậy, tôi hoàn toàn đồng ý với ông Nguyễn Ngọc Già rằng “mong Ủy ban trao giải tại Oslo hay xem xét, cân nhắc và quan tâm đến một người đủ cả tâm, tài, tuệ, đó chính là ông TRẦN HUỲNH DUY THỨC.”

Cũng như trường hợp của ông Lưu Hiểu Ba, người nhận giải Nobel Hoà Bình năm 2010, ông Trần Huỳnh Duy Thức đang ở trong tù. Việc trao giải thưởng này cho nhân vật này, do đó, sẽ khiến cho công việc bôi bẩn ông sẽ bớt tốn kém hơn. Nhờ vậy, môi sinh cũng đỡ bị tàn phá hơn, và tiền thuế của người dân cũng sẽ đỡ phải tiêu phí hơn - chút xíu!

Tưởng Năng Tiến

Posted: Wed Feb 29, 2012 5:29 am
by dailien

Image

Sắc màu của tình bạn

Có một ngày sắc màu của thế giới này bắt đầu tranh luận với nhau xem ai có gam màu đẹp nhất, quan trọng nhất, hữu dụng nhất và được yêu thích nhất.

Xanh lá cây nói: "Tôi quan trọng nhất. Tôi là dấu hiệu của sự sống và hy vọng. Tôi được chọn màu cho cỏ cây, hoa lá. Không có tôi, tất cả mọi loài trên thế gian này sẽ không thể tồn tại. Cứ hãy nhìn về cánh đồng kia, bạn sẽ thấy một màu xanh bạt ngàn của tôi".

Xanh dương chen vào: "Bạn có nghĩ về trái đất. Vậy bạn hãy nghĩ về bầu trời và đại dương xem sao. Nước chính là nguồn sống cơ bản nhất, được tạo ra bởi những đám mây hình thành bởi những vùng biển rộng lớn này. Hơn nữa, bầu trời sẽ cho khoảng không rộng lớn, hòa bình và sự êm ả".

Màu vàng cười lớn: "Ôi các bạn cứ quan trọng hóa. Tôi thì thực tế hơn, tôi đem lạ tiếng cười, hạnh phúc và sự ấm áp cho thế giới này. Này nhé, mặt trời màu vàng, mặt trăng màu vàng và các vì sao cũng màu vàng. Mỗi khi bạn nhìn vào một đóa hướng dương, bạn sẽ cảm thấy cả thế giới này đang mỉm cười. Không có tôi cả thế giới này sẽ không có niềm vui".

Màu cam lên tiếng: "Tôi là gam màu của sự mạnh khoẻ và sức mạnh. Mặc dù lượng màu của tôi không nhiều bằng các bạn, nhưng tôi mới đáng giá nhất vì tôi là nhu cầu của sự sống. Tôi mang đến hầu hết các vitamin tối quan trọng như cà rốt, cam, xoài, bí ngô, đu đủ ...Tôi không ở bên ngoài nhiều nhưng khi bình minh hay hoàng hôn xuất hiện là màu sắc của tôi. Ở đây có bạn nào sánh kịp được với vẻ đẹp ấy không ?".

Màu đỏ không thể nhịn được cũng nhảy vào cuộc: "Tôi là máu, cuộc sống này là máu. Tôi là màu sắc của sự đe dọa nhưng cũng là biểu tượng của lòng dũng cảm. Tôi mang lửa đến cho con người. Tôi sẵn sàng chiến đấu vì mục đích cao cả. Không có tôi, trái đất này sẽ trống rỗng như mặt trăng. Tôi là sắc màu của tình yêu và đam mê, của hoa hồng đỏ, của hoa anh túc".

Màu tím bắt đầu vươn lên góp tiếng: "Tôi tượng trưng cho quyền lực và lòng trung thành. Vua chúa thường chọn tôi vì tôi là dấu hiệu của quyền năng và sự xuất chúng. Không ai dám chất vấn tôi. Họ chỉ nghe lệnh và thi hành!".

Cuối cùng, màu chàm lên tiếng, không ồn ào nhưng đầy quyết đoán: "Hãy nghĩ đến tôi. Tôi là sắc màu im lặng và hầu như không ai chú ý đến tôi. Nhưng nếu không có tôi thì các bạn cũng chỉ là vẻ đẹp bên ngoài. Tôi tượng trưng cho suy nghĩ và sự tương phản, bình minh và đáy sâu cả biển cả. Các bạn phải cần đến tôi để cân bằng cho bề ngoài của các bạn. Tôi chính là vẻ đẹp bên trong".

Và cứ thế các sắc màu cứ tiếp tục tranh luận, thuyết phục màu khác về sự trội hơn của mình. Bỗng một ánh chớp sáng lóe trên nền trời, âm thanh dữ dội của sấm sét và mưa bắt đầu nặng hạt. Các sắc màu sợ hãi đứng nép sát vào nhau để tìm sự ấm áp.

Mưa nghiêm nghị nói: "Các bạn thật là ngớ ngẩn khi chỉ cố gắng vật lộn với chính các bạn. Các bạn không biết các bạn được tạo ra từ một mục đính thật đặc biệt, đồng nhất nhưng cũng khác nhau? Các bạn là những màu sắc thật tuyệt vời. Thế giới này sẽ trở nên nhàm chán nếu thiếu một trong các bạn. Nào, bây giờ hãy nắm lấy tay nhau và bước nhanh đến tôi".

Các màu sắc cùng nắm lấy tay nhau và tạo thành những màu sắc đa dạng.

Mưa tiếp tục: "Và từ bây giờ, mỗi khi trời mưa tất cả các bạn sẽ vươn ra bầu trời bằng chính màu sắc của mình và phải hợp lại thành vòng để nhắc nhở rằng các bạn phải luôn sống trong hòa thuận, và ta gọi đó là cầu vồng. Cầu vồng tượng trưng cho niềm hy vọng của ngày mai".

Và cứ như thế mỗi khi trời mưa, để gội rửa thế giới này, trên nền trời sẽ ánh lên những sắc cầu vồng làm đẹp thêm cho cuộc sống, để nhắc nhở chúng ta phải luôn luôn tôn trọng lẫn nhau.

Posted: Fri Mar 02, 2012 6:26 am
by quangminh
Hãy nhìn vào tấm lưng ấy một lần...

Chỉ một quãng đường ngắn lặng lẽ theo sau lưng vợ về nhà mà tôi đã suy nghĩ biết bao nhiêu điều. Thú thật, tôi đã chảy nước mắt khi nhìn cái dáng tảo tần của vợ.

Hôm ấy thằng út vẫn còn nghỉ Tết. Không phải rước con nên tôi về sớm hơn mọi ngày. Thay vì đi đường Nguyễn Thị Minh Khai thì tôi đi Nguyễn Đình Chiểu để về nhà cho gần. Đang chạy ngon trớn, đầu óc lơ mơ nghĩ đến bữa cơm nóng sốt của vợ đang chờ ở nhà thì một chiếc xe từ trong hẻm Ve Chai băng ra, tôi giật mình lách xe sang phải, lầm bầm: “Chạy vậy đó hả?”. Nhưng ngay lập tức, tôi há hốc mồm nói không nên lời khi trông thấy cái biển số xe…

Trước mặt tôi là một người phụ nữ mặc chiếc áo khoác đã sỉn màu. Chiếc nón bảo hiểm cũng cũ. Điều khiến tôi chú ý là chiếc xe cúp 86 của chị ta trông rất tội nghiệp. Nó phải gồng mình chở trên đó đủ thứ: Rổ xe một bọc vú sữa, mấy trái xoài, một túm dâu Đà Lạt; hai bên xe máng lủ khủ nào thịt, cá, rau, trứng và không biết bao nhiêu thứ có tên và không tên khác cho những bữa cơm gia đình…

Bình thường nếu nhìn hình ảnh ấy, tôi sẽ nghĩ, cái gã nào đó làm chồng chị ta thật sướng. Bởi trong nhịp sống tất bật hiện nay, còn có mấy người phụ nữ chí thú chuyện bếp núc cho gia đình như vậy?

Nhưng trong hoàn cảnh này thì tôi thấy nghẹn đắng cổ họng. Một cảm xúc thật khó tả dâng đầy trong lòng. Vừa xót thương, vừa tội nghiệp, vừa cảm phục lại vừa thấy mình thật có lỗi…

Tôi cưới vợ hai mươi năm, có hai mặt con nhưng chưa bao giờ chú ý xem vợ đi xe gì, mặc áo gì, mang giày dép thế nào… Đó là vì trước mặt tôi, vợ lúc nào cũng chỉn chu. Buổi sáng vợ ra khỏi nhà trước, buổi trưa cũng về nhà trước để lo cơm nước. Khi cha con tôi về tới thì cơm canh nóng sốt đã sẵn sàng. Tuy làm trưởng phòng nhân sự của một công ty lớn nhưng chỉ trừ những hôm vợ tôi bệnh hoạn hoặc đi công tác xa thì cha con tôi mới phải mò vô bếp.

Đôi khi tôi cũng tự hỏi, làm sao mà vợ tôi có thể làm hết mọi việc trong ngoài như thế, nhưng rồi tôi cũng tự trả lời là do vợ tôi vốn xuất thân trong một gia đình lao động nghèo, quen vất vả từ thuở nhỏ nên chuyện cơm nước trong nhà có đáng gì đâu!

Chỉ đến khi bạn bè trong cơ quan than phiền vợ con bê trễ, lười nhác chuyện nhà, tôi mới thấy mình có phúc. Nhưng tôi nghĩ thì nghĩ vậy thôi chứ chưa bao giờ nói ra… Thậm chí có lần, vợ tôi nhờ coi dùm cái xe sao lên ga không vọt nữa, tôi ậm ừ rồi cũng quên luôn. Vợ tôi lại lẵng lặng dắt xe ra tiệm…

Chỉ một quãng đường ngắn theo sau lưng vợ về nhà mà tôi đã suy nghĩ biết bao nhiêu điều. Thú thật, tôi đã chảy nước mắt khi nhìn cái dáng tảo tần của vợ.

Trước nay, tôi đã nhìn ngắm, trầm trồ trước biết bao tấm lưng trần tươi mát của những cô gái trẻ, nhưng tôi chưa bao giờ ngắm nhìn chiếc lưng của người phụ nữ đã gắn bó với mình suốt hai mươi năm trong một khoảnh khắc tảo tần vì chồng con như thế này.

Hôm đó, lần đầu tiên tôi xách phụ vợ những thứ lỉnh kỉnh ấy. Thật sự là nó rất nặng, lại phải đi một quãng khá xa từ bãi giữ xe chung cư về nhà. Vợ tôi xách mọi thứ đi trước, tôi lẽo đẽo đuổi theo. “Làm sao mà em có thể mang hết từng ấy thứ mà vẫn đi ào ào như giông, như gió vậy?”- tôi buộc miệng. Vợ tôi hơi ngoái lại: “Vì anh với con thôi chứ em cũng mệt lắm rồi…”.

Tôi cúi mặt, một nỗi hỗ thẹn vô cớ đầy lên trong lòng.

Nếu giờ đây có ai hỏi tôi, người phụ nữ nào trên thế gian này có tấm lưng đẹp nhất, đáng yêu nhất, tôi sẽ nói ngay đó là tấm lưng gầy gò, tần tảo của vợ tôi.

Các đấng mày râu hãy thử một lần nhìn vào tấm lưng người bạn đời của mình để thấy là tôi nói rất thật lòng…

Quang Minh

Posted: Tue Mar 13, 2012 3:22 am
by khieulong
10 "Kỷ Lục" ngược của Việt Nam
Thông thường, kỷ lục được thiết lập thì đó là niềm vinh quang, tự hào của một cá nhân hay cộng đồng. Bởi đó là sự nỗ lực và thành tích phi thường được cộng đồng, thế giới công nhận và tôn vinh. Những kỷ lục đó mang lại lợi ích và niềm hy vọng mới cho xã hội loài người, nhận được sự khâm phục của tất cả mọi người. Tuy nhiên bên cạnh những kỷ lục mang yếu tố tích cực đó lại cũng có những kỷ lục do người ta vô tình hay cố ý lập nên để lòe bịp mọi người, gây nên những hệ quả tệ hại. Điều tôi muốn nói ở đây là những kỷ lục do nhà nước Việt Nam lập nên. Những kỷ lục mà mới nghe qua, người dân Việt Nam chỉ biết âm thầm khóc than, người lạc quan hơn thì cười ra nước mắt.

Với một chế độ nhà nước ngược đời như vậy thì những câu chuyện phi lý xảy ra hàng ngày hàng giờ, không thể kể ra hết. Cùng với thời gian, những điều phi lý kia tích tụ để tạo nên những kỷ lục mà chỉ ở Việt Nam mới có, thế giới không thể bắt chước được. Sau đây người viết chỉ cố gắng đưa ra 10 kỷ lục tiêu biểu trong số trên, mà tạm gọi là những kỷ lục ngược:


1. Đảng cầm quyền đại diện cho nhiều tầng lớp, giai cấp nhất: Mà cụ thể ở đây là toàn thể dân tộc. Điều đó được ghi nhận tại điều 4 Hiến pháp năm 1992 của Việt Nam. Theo đó, đảng Cộng sản là người đại diện cho toàn thể dân tộc để lãnh đạo đất nước. Thông thường thì một đảng phái chỉ có thể đại diện cho những giai cấp và tầng lớp nhất định, vì vậy mà một đất nước có nhiều đảng phái khác nhau cùng tồn tại bình đẳng. Vì rằng, ở trên đời không có sự vật nào là vẹn toàn, là tất cả được. Ngay cả Albert Einstein cũng chỉ dám đưa ra Thuyết tương đối mà thôi. Nhưng vì ở Việt Nam, để duy trì chế độ độc tài toàn trị nên người ta mới đưa ra quy định ngược đời trên, và nó xứng đáng đứng đầu trong bảng xếp hạng 10 kỷ lục. Bởi từ đó mà sản sinh ra tất cả những kỷ lục còn lại.


2. Đất nước có nhiều thắng lợi nhất: Đảng Cộng Sản tuyên bố là trong suốt thời gian cầm quyền, họ đã đưa đất nước và nhân dân “Đi từ hết thắng lợi này đến thắng lợi khác”. Nhưng sự thật là họ đã đưa đất nước “Đi từ hết thất bại này đến thất bại khác”. Mấy ví dụ tiêu biểu sau: Cải cách ruộng đất, xây dựng hợp tác xã bình quân, kinh tế tập thể, xóa bỏ tư hữu, phân biệt giai cấp và ý thức hệ, quốc hữu hóa tài sản cá nhân và tổ chức, và bây giờ là xây dựng kinh tế thị trường hoang dã. Hậu quả là Việt Nam trở nên một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới, các giá trị văn hóa và tinh thần bị đảo lộn nghiêm trọng.


3. Nhà nước có lý luận và thực tiễn mâu thuẫn nhất: Nếu không muốn nói là mâu thuẫn một cách tuyệt đối. Lịch sử thế giới và Việt Nam đã chứng minh cho sự phi lý và hoang tưởng của hệ tư tưởng Cộng sản. Chính vì đi theo và áp dụng cái học thuyết ngược đời đó mà nhà nước Việt Nam đã gây nên những mâu thuẫn tuyệt đối giữa lời nói và việc làm của mình: Trước đây họ đấu tố và đả phá giai cấp Tư sản, coi đó là kẻ thù của giai cấp vô sản, phải tiêu diệt tận gốc. Giờ đây họ lại chấp nhận giai cấp tư sản và quay sáng bóc lột giai cấp vô sản. Trước đây họ chỉ chấp nhận nền kinh tế tập thể, cấm đoán mọi hình thức kinh tế tư nhân, giờ đây lại chấp nhận thành phần kinh tế tư nhân. Trước đây họ lên án các nước Tư bản, coi đó là kẻ thù của các nước Xã hội chủ nghĩa anh em, nay lại đi quỵ lụy và van xin các nước Tư bản. Họ nói họ là nhà nước “Của dân, do dân, vì dân, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân” nhưng người dân không có quyền gì cả...


4. Vinh Quang và Vĩ đại nhất: Ở đâu trên khắp đất nước Việt Nam chúng ta cũng bắt gặp nhan nhản những khẩu hiệu đỏ chót: “Đảng Cộng Sản Việt Nam quang vinh muôn năm”. Ngày xưa thì còn có cả khẩu hiệu: “Chủ nghĩa Mác – Lê nin vô địch muôn năm”, nhưng từ khi hệ thống các nước cộng sản sụp đổ thì không thấy xuất hiện nữa.


5. Đất nước có nhiều Làng Văn hóa và Gia đình Văn hóa nhất: Trong các cuộc họp của chính quyền người ta đưa ra những phấn đấu để địa phương mình có nhiều làng và gia đình văn hóa. Với những tiêu chuẩn mà nếu xét thực ra thì chỉ có tìm ở hành tinh khác thì may ra mới có thể đạt được, chứ những con người trên trái đất thì khó mà thực hiện. Ấy vậy mà cũng có rất nhiều làng và gia đình văn hóa được bình bầu. Làng nào được bầu chọn sẽ được dựng một chiếc cổng chào, trên đó có ghi rõ “Làng Văn hóa”, hai bên cổng chào có hình sao vàng và búa liềm. Cũng đúng thôi, vì đây là sản phẩm của chế độ Cộng sản mà. Những chiếc cổng “Làng Văn hóa” đứng ngạo nghễ, trơ gan cùng tuế nguyệt.


6. Lạm phát cao nhất: Lạm phát cao đến nổi mọi nỗ lực tiến lên của xã hội không nhúc nhích được một chút nào, nếu không muốn nói là đi thụt lùi. Ví dụ lương của công chức tăng 1 đồng thì giá cả hàng hóa lại tăng ít nhất một đồng. Nghe đâu có một nước Châu Phi nào đó phải phát hành những đồng có bạc mệnh giá cao ngất ngưỡng, mấy triệu bạc mới mua được một mớ rau. Tuy vậy nước này cũng phải nhường kỷ lục cho Việt Nam, bởi tính độc đáo của một nước Cộng sản chủ nghĩa.

7. Giao thông tệ hại nhất: Điểm độc đáo của giao thông Việt Nam là không có luật lệ và quy luật. Người tham gia giao thông phải có đầu óc tính toán của một nhà Toán học thiên tài để có thể lường được những tình huống có thể xảy ra đối với mình. Bởi vậy mà thế giới công nhận người Việt Nam thông minh nhất. Một câu chuyện để chứng minh kỷ lục tệ hại của giao thông Việt Nam: Ở Hà Nội (Thủ đô Việt Nam), đường phố có sự tham gia giao thông của tất cả các phương tiện. Khi bạn ngồi trên ô tô thì có thể thấy những chiếc xe máy lao thẳng vào xe từ đủ mọi hướng, người và xe ken chặt vào nhau, cảnh sát giao thông có phát điên cũng không thể giải quyết được nạn kẹt xe giờ cao điểm. Có một Bà người Đức sang Việt Nam công tác, ngồi trên ô tô trên đường phố Hà Nội, bà liên tục đưa tay bưng mặt bởi thấy những chiếc xe máy cứ lao về phía mình từ mọi hướng như là đánh bom cảm tử. Ngay lập tức bà gọi điện về Đức cảnh báo: “Những người yếu tim thì nhất định không được sang Việt Nam”.

8. Tham nhũng phổ biến và trắng trợn nhất: Tham nhũng là ăn trộm, là ăn cướp và phải bị pháp luật và người dân trừng trị. Chí ít thì người tham nhũng cũng phải biết xấu hổ. Nhưng ở Việt Nam thì tham nhũng đã trở thành một lẽ đương nhiên, trở thành mốt và là niềm tự hào. Bởi những kẻ tham nhũng thì giàu có và được vênh vang, trong khi người dân thì không dám làm gì cả, không ai dám tố cáo hay phản đối. Nói theo ngôn ngữ chính trị thì tham nhũng ở Việt Nam trở thành một cơ chế, bởi có sự tham gia vận hành của cả một hệ thống chính trị. Điểm khác biệt ở Việt Nam là những kẻ tham nhũng lại được vẻ vang, vinh quang và được coi là thức thời.


9. Giữ hình thức canh tác nguyên thủy được lâu nhất: Với nền văn minh lúa nước thì quy trình canh tác từ xa xưa là: Ngâm giống, gieo mạ, nhổ mạ, cấy lúa, rồi đến chăm bón và thu hoạch. Ngày nay (thế kỷ 21), người Việt Nam vẫn trung thành với quy trình và lối canh tác này, đây là hình thức tồn tại ít nhất cũng mấy ngàn năm nay rồi. Trong khi người dân ở các nước họ đã cơ giới hóa nông nghiệp từ lâu. Có lẽ Việt Nam vẫn giữ hình thức canh tác này để phục vụ cho những chuyến du lịch tìm về cội nguồn?

10. Lãnh đạo ngồi ghế được lâu nhất: Hi hữu lắm mới có việc một ông lãnh đạo nào đó bị huyền chức, cũng do bởi ông ta ngồi nhầm phải cái ghế bị mối mọt, còn lại lãnh đạo ở Việt Nam yên trí lớn với cái ghế của mình. Khác với ở các quốc gia dân chủ là lãnh đạo do dân bầu nên, ở Việt Nam việc ngồi chiếc ghế lãnh đạo là do dây rợ và bè phái. Người dân không can thiệp được vào quy trình phân chia quyền lực lãnh đạo này. Vì vậy mới có chuyện cứ vị lãnh đạo nào bị phát hiện tham nhũng và làm sai thì lại leo lên làm chức lớn hơn, ngồi ghế cao hơn.

Cho dù Nhà nước hiện nay có cố gắng sửa chữa và thay đổi thế nào đi nữa, mà vẫn giữ nguyên chế độ độc tài Cộng sản thì đất nước vẫn không có lối thoát. Không những vậy mà ngày càng có nhiều “Kỷ lục” ngược sẽ được thiết lập. Vì rằng cái kiểu nhà nước này nó ngược đời quá, nói thẳng ra là không thể chấp nhận được. Nếu các vị sớm tỉnh ngộ và bớt đi lòng tham quyền lực thì thật may mắn cho đất nước. Khi không còn thể chế chính trị phi lý và ngược đời đó nữa thì nhân dân Việt Nam ắt sẽ lập nên những kỷ lục mới đúng với ý nghĩa tích cực và đáng tự hào.


Minh Văn

Posted: Mon Mar 19, 2012 12:52 am
by quangminh
Vợ, Người Tình & Hồng Nhan Tri Kỷ
Thế nào là Vợ ? Vợ là người con gái mà bạn tình nguyện giao cả gia tài cho cô ấy cất giữ.

Thế nào là Người Tình ? Người Tình là người con gái mà bạn hẹn hò vụng trộm với cô ấy và sợ Vợ phát hiện.

Thế nào là Hồng Nhan Tri Kỷ ? Hồng Nhan Tri Kỷ là người con gái mà bạn có thể nói với cô ấy tất cả mọi bí mật kể cả điều mà bạn không thể nói được với Vợ hay Người Tình.

Vợ là một sự ràng buộc, ràng buộc bạn không thể tuỳ tiện cặp bồ với một người con gái khác ; Người Tình là một sự bù đắp, bù đắp cho bạn những tình cảm mãnh liệt mà ở người Vợ còn thiếu hoặc bạn không tìm được ở người Vợ ; Hồng Nhan Tri Kỷ là sự chỉ rõ, chỉ rõ sự mê say trong trái tim bạn.

Vợ sống cùng bạn từng ngày, Người Tình tiêu tiền cùng bạn, Hồng Nhan Tri Kỷ nói chuyện cùng bạn. Vợ không thể thay thế Người Tình, vì Vợ không điều khiển được tình cảm như Người Tình ; Người Tình không thể thay thế Vợ, vì Người Tình không có được tình thân như Vợ ; Vợ và Người Tình đều không thay thế được Hồng Nhan Tri Kỷ, vì đó nhu cầu của tâm linh.

Vợ là người con gái không hề có chút quan hệ máu mủ nào với bạn nhưng lại bồn chồn mong nhớ mỗi khi màn đêm đã xuống mà bạn chưa về nhà ; Người Tình là người con gái không hề có chút quan hệ gia đình với bạn nhưng lại làm cho bạn thoả mãn mùi vị ái tình của đấng nam giới ; Hồng Nhan Tri Kỷ là người con gái chẳng có quan hệ gì với bạn cả nhưng lại có thể chia sẻ với bạn những vui buồn phiền muộn, Vợ là một ngôi nhà, là một bến cảng mang cho trái tim nông nổi của bạn sự vỗ về an ủi ; Người Tình là gánh nặng của ngôi nhà, chẳng qua chưa đến nỗi vạn bất đắc kỷ, bạn không muốn vứt bỏ ; Hồng Nhan Tri Kỷ là vật tô điểm cho ngôi nhà, không có cô ấy bạn không thấy cô đơn, nhưng bạn sẽ cảm thấy cuộc sống chẳng có ý nghĩa gì.

Sự quan tâm của người Vợ như một ly nước lọc, có lúc trở thành sự lảm nhảm, chỉ khi bị ốm mới trở thành sự ôn hoà ; sự quan tâm của Người Tình như cốc nước lọc đó bỏ thêm chút đường, dần dần qua một đêm rồi mà vẫn chưa thoả mãn ; sự quan tâm của Hồng Nhan Tri Kỷ giống như cốc cafe khi bạn đang làm việc lúc nửa đêm, càng uống càng tỉnh.

Khi Vợ có bầu thì sẽ hỏi bạn muốn có con gái hay con trai một cách rất tình cảm ; khi Người Tình có bầu với bạn thì sẽ khóc và hỏi bạn phải làm sao bây giờ ? đối với Hồng Nhan Tri Kỷ, bạn sẽ kể cho cô ấy nghe chuyện Người Tình của bạn có bầu và sẽ hỏi cô ấy bạn nên làm thế nào. Ngay đối với người Vợ, chỉ sau khi bị cô ấy phát hiện bạn mới nói rằng "Thật ra, anh đã muốn nói với em sớm hơn" sau đó cố gắng hết sức để giải thích, và giả bộ rất đáng thương.

Khi Vợ về nhà mẹ đẻ một tuần không quay lại bạn cũng không thấy nhớ ; khi Người Tình mới 3 ngày không gặp bạn liền gọi điện cho cô ấy : Em đi đâu đó ? Tối nay chúng mình đến nơi cũ uống cafe được không ? Khi trong lòng cảm thấy buồn khổ, bạn chỉ muốn tìm Hồng Nhan Tri Kỷ để trò chuyện, nói với cô ấy chuyện vận mệnh của bạn giữa Vợ và Người Tình, thực tế không thể chịu đựng được nữa.

Cái mà làm đàn ông không chịu nổi đó là sự lảm nhảm của người Vợ, nước mắt của Người Tình và sự hiểu lầm của Hồng Nhan Tri Kỷ. Sự lảm nhảm của người Vợ làm đàn ông thấy đã rối cả lòng lại càng thêm rối hơn, nước mắt của Người Tình làm cho trái tim của đàn ông mềm yếu hơn, sự hiểu lầm của Hồng Nhan Tri Kỷ làm cho đàn ông thấy bị tổn thương, hụt hẫng.

Người Vợ tốt nhất là người mà đàn ông có thể tìm thấy ở cô ấy Người Tình và Hồng Nhan Tri Kỷ, chỉ là cảm giác thôi mà đàn ông khó có thể tìm thấy. Người Tình tốt nhất là người mà khi mối quan hệ của bạn và cô ấy bị Vợ bạn phát hiện, cô ấy sẽ chủ động rút lui mà không có một yêu cầu gì hết, nhưng khó mà tìm được điểm này của Người Tình. Hồng Nhan Tri Kỷ tốt nhất là người đến một ngày nào đó sẽ trở thành Người Tình, thậm chí thành Vợ của bạn, chỉ là cái suy nghĩ này chẳng có chút hiện thực gì cả.

Nếu như có thể, đàn ông rất muốn biến Hồng Nhan Tri Kỷ thành Người Tình, nếu có thể nữa thì sẽ muốn cô ấy thành người Vợ. Nhưng nếu Hồng Nhan Tri Kỷ trở thành Vợ rồi thì sẽ không còn là tri kỷ nữa, bởi vì rất ít đàn ông muốn biến Vợ thành tri kỷ. Trái tim đàn ông có rất nhiều bí mật không thể tuỳ tiện nói cho Vợ nghe, không thế thì làm sao gọi là đàn ông nữa.

Lấy Vợ là vì sợ người khác nói ra nói vào, tìm một Người Tình là vì muốn thêm chút gia vị vào để điều chỉnh cái cuộc sống tẻ nhạt, muốn có Hồng Nhan Tri Kỷ vì muốn tưới cho tâm hồn trống rỗng của họ một chút canh tươi.

Đàn ông cả đời đi tìm không phải là Vợ, cũng không phải là Người Tình mà là Hồng Nhan Tri Kỷ .

Trên Net

Posted: Thu Mar 22, 2012 6:36 am
by dailien
Việt Tân

Trịnh Hội

Thiệt chán dễ sợ. Nói theo kiểu bây giờ là “chán hơn con gián, ngán hơn bột bán”. Chán vì cách xử sự của những người có quyền, có chức ở Việt Nam bây giờ. Và ngán vì họ có thể chụp mũ bất cứ ai đang tranh đấu cho một tương lai tươi sáng cho đất nước bằng cách gán cho họ cái nhãn “‘Việt Tân”. Không cần biết là đương sự có biết đếch gì về tổ chức này hay không. Thích hay không thích. Đã từng tham gia một vài hội nghị do Việt Tân tổ chức hay không. Hay chỉ biết sơ qua các hoạt động của tổ chức này. Như tôi chẳng hạn.


Còn nhớ cách đây đúng 4 năm khi tôi bắt đầu bị các nhân viên công an người Bắc để ý đến để rồi sau đó liên tục bị chất vấn về các hoạt động xã hội mà tôi đã từng tham gia. Cũng như những gì tôi biết về Việt Tân và một số nhà hoạt động xã hội có tiếng trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại như anh Nam Lộc, Nhạc sĩ Trúc Hồ, Bác sĩ Nguyễn Mạnh Tiến ở Úc, v.v…

Và dĩ nhiên trong đó bao gồm cả những người tôi quen biết hiện đang là thành viên của đảng Việt Tân. Như phát ngôn viên của đảng: Hoàng Tứ Duy.

Thật ra trước đây tôi không quen thân với Duy cho lắm. Duy lớn lên và sống ở Mỹ. Còn tôi thì ở tuốt bên Úc, sau này học ra trường lại sang Philippines làm việc. Vì vậy tôi đã không biết gì nhiều về Duy, nói chi đến các đảng phái, hội đoàn chính trị.

Ngay cả sau này khi tôi lấy vợ, sang Mỹ lập nghiệp tôi cũng không biết rõ hơn về Duy là bao. Ngày tôi chuyển về Việt Nam đi làm vào năm 2007 thật tình tôi cũng chẳng biết Duy là đảng viên của đảng Việt Tân (và ít lâu sau là phát ngôn viên của đảng). Thậm chí tôi cũng chẳng biết Duy sinh năm nào hay đảng Việt Tân hoạt động ra sao. Lúc ấy tôi chỉ có thể đoán chừng Duy khoảng độ tuổi tôi hay nhỏ hơn tôi một, hai tuổi gì đó. Và đảng Việt Tân có khá nhiều đảng viên trẻ tuổi. Họ hoạt động mạnh hơn so với những tổ chức khác.

Tôi chỉ biết có từng ấy. Chỉ quan tâm đến từng ấy.

Vậy mà trong suốt thời gian tôi bị công an Việt Nam tra vấn, họ hỏi về những tổ chức khác thì ít. Nhưng về Duy và đảng Việt Tân thì… hơi bị nhiều. Họ hỏi đi hỏi lại tôi tháng này sang tháng khác về đảng Việt Tân và những hoạt động của họ. Hôm thì nhân viên công an này, sang hôm sau một nhân viên khác cũng hỏi y như thế nên cuối cùng tôi đâm bực.

Một hôm chịu không nổi tôi xẵn giọng: “Mấy anh có thể hỏi tôi về những thằng bạn khác của tôi được không? Duy không phải là thằng bạn thân nhất của tôi. Lại càng không phải là thằng bạn duy nhất. Tôi chỉ có thể trả lời là tôi không biết chính xác Duy bao nhiêu tuổi và hiện có phải là đảng viên của đảng Việt Tân hay không!”

Đáp lại lời tôi là cái giọng Bắc rặt nhà nòi của viên công an đang ngồi trước mặt:

“Anh nói thế mà anh nghĩ chúng tôi tin anh à?”

Tôi ngây thơ đáp: “Tin hay không là quyền của mấy anh. Còn tôi chỉ có thể trả lời những gì tôi biết chắc”.

Thế là chúng tôi lại tiếp tục đối chất, lẩn quẩn với cái mũ Việt Tân. Quay mãi nhưng không thấy tôi chịu đổi ý, họ quay sang hù:

“Anh phải thành thật khai báo đi. Chúng tôi đã có bằng chứng hẳn hoi cả rồi. Cả anh và Hoàng Tứ Duy đều là ủy viên trung ương của đảng Việt Tân. Họ đã khai anh ra hết rồi. Phải biết điều một chút thì chúng tôi mới giúp anh được!”.

Trời! Có thiệt vậy sao? Từ thuở cha sanh mẹ đẻ đến giờ mình chưa bao giờ tham gia vào tổ chức chính trị nào. Bỗng nhiên vào một ngày đẹp trời đùng một cái 2 viên công an cho mình nhảy xổm ngay vào Trung Ương Đảng Việt Tân để làm ủy viên trung ương đảng. Sao số phận mình may mắn được sớm làm lãnh tụ đến thế?

Rất tiếc lúc ấy tôi đã không nói được như vậy. Tôi chỉ biết chống đỡ bằng cách khai báo rất thành khẩn:

“Thưa mấy anh tôi chưa bao giờ vô bất kỳ đảng nào, nói chi đến việc tôi lên làm đến ủy viên. Nếu các anh có bằng chứng thì cứ đưa ra. Xin đừng chụp mũ tôi một cách quá trắng trợn như vậy”.

Nhiều khi nghĩ lại chuyện cũ, tôi thấy quả thật là buồn cười (mặc dù thành tâm mà nói lúc ấy tôi buồn nhiều hơn cười). Một anh luật sư cù bơ cù bất như tôi, chưa bao giờ được ai mời vô đảng nào để làm đảng viên bỗng nhiên từ trên trời rơi xuống được chính các đồng chí công an Việt Nam “chí công vô tư” cho ngồi xổm vào trung ương làm lãnh tụ của một đảng lớn. Thế mới thấy cách làm việc quá ư là nghiêm túc của bộ máy nhà nước Việt Nam hiện tại!

Chụp cái mũ Việt Tân hình như là sự lựa chọn tiện nhất cho các đồng chí điều tra. Vừa dễ chụp vì hầu như ai cũng đã nghe qua cái tên này. Lại dễ làm vừa lòng cấp trên vì đã có điều tra hẳn hoi với nhiều chi tiết cũng nhiều người (nhất là công an) đã nắm rõ.

Có lẽ đó là lý do tại sao phần lớn đối với những ai bị công an theo dõi, rình rập, người Việt ở Việt Nam hay Việt kiều từ nước ngoài về, tất tần tật đều bị dán hai chữ “Việt Tân” lên trán.

Nói thật nếu tôi làm xếp lớn trong Bộ Công an hiện nay thì điều mà tôi thay đổi đầu tiên sẽ là cách điều tra của các cục quản lý, phản gián, v.v…Vì thử hỏi xem nếu như ai cũng bị chụp lên cái mũ “Việt Tân”, bất kể điều đó đúng hay sai, thì sau này nếu thật sự có đảng viên của Đảng Việt Tân bị bắt nhưng không có bằng chứng rõ ràng thì công an phải làm gì? Chả nhẽ cứ tiếp tục nghi ngờ và…chỉ có thế? Nếu vậy thì đến khi nào ông Bộ trưởng Công An mới biết được thật sự thực lực của Đảng Việt Tân nằm ở đâu? Nhờ vào những yếu tố nào mà họ đã và đang thu nạp được rất nhiều những gương mặt trẻ lớn lên ở hải ngoại?

Hơn thế nữa, sự chụp mũ vô tội vạ càng làm cho thanh thế và danh tiếng của Việt Tân đi xa hơn. Hơn cả những gì đảng Việt Tân đang cố gắng tạo dựng. Như trường hợp cá nhân tôi, cũng “nhờ” bị hỏi quá nhiều mà sau này trở qua Mỹ tôi đã muốn tìm hiểu thêm về đảng Việt Tân cũng như chơi thân với Duy hơn.

Khác với sự gán ghép của nhà cầm quyền Việt Nam cho Việt Tân là “tổ chức khủng bố”, tất cả những đảng viên của Đảng Việt Tân mà tôi đã gặp đều là các bạn trẻ gốc Việt lớn lên ở hải ngoại. Họ là những người có lòng, nặng tình, nặng nghĩa nhất đối với với quê hương, với tương lai dân tộc. Duy là một trong những người bạn mà tôi mến trọng nhất. Không chỉ vì Duy có tài, có trí - đặc biệt là cách anh nghiên cứu và phân tích vấn đề - mà hơn thế nữa, Duy là một trong những người bạn trẻ của tôi mà mãi cho đến bây giờ vẫn còn giữ vững một niềm tin mãnh liệt vào lý tưởng cao đẹp.

Đối với riêng tôi, thật lòng mà nói tôi rất mến trọng những ai sống có lý tưởng và vẫn luôn theo đuổi lý tưởng của mình bất kể là có gặp khó khăn đến đâu trong cuộc sống. Hay con đường trước mắt nó có xa đến dường nào.

Cũng thật lòng mà nói nếu như một ngày nào đó tôi quyết định chọn con đường hoạt động chính trị bằng cách xin tham gia vào đảng Việt Tân, tôi sẽ rất hãnh diện với sự lựa chọn của mình. Và sẽ luôn sẵn sàng xác nhận tôi đang làm gì, cho ai.

Chứ chẳng cần phải đợi các đồng chí công an đội lên cho tôi một cái mũ trên đầu là Việt Tân, Việt Kiều hay Việt phản động!

Thế đã nhé.

* Blog của Luật sư Trịnh Hội là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

Posted: Tue Mar 27, 2012 4:32 pm
by khieulong
Image

Ăn ít ngon nhiều

Chu Thập


Hưởng được nhiều lợi ích nhứt của thời đại thông tin toàn cầu này có lẽ là tuổi già. Tôi biết có các cụ Việt nam ở đây tuổi quá “thất thập cổ lai hy”, không những có riêng cho mình một trang Facebook mà còn “rủ rê” bạn bè, con cháu chia sẻ hình ảnh rất sôi nổi. Riêng tôi nhận thấy ích lợi của Internet qua kinh nghiệm của các “bạn già” của tôi. Sau mấy chục năm lưu lạc, nhứt là sau biến cố tan đàn xẻ nghé năm 75, mỗi người một nẻo, tưởng chỉ còn hy vọng gặp nhau “trên nước thiên đàng”. Vậy mà đùng một cái, nhờ Internet, những người học trò dưới mái trường xưa “hồi nẳm” khắp thế giới lại bắt liên lạc được với nhau. Đêm ngày rảnh rỗi, chẳng biết làm gì cho hết giờ cho nên vào “meo đàn” để tán gẫu về đủ thứ chuyện, từ kỷ niệm xưa, văn chương, chính trị, tôn giáo, bù khú đến y tế, sức khỏe và tiếu lâm. Văn chương, chính trị, tôn giáo...thì đầy dẫy trên các trang mạng. Tôi chỉ đơn giản bấm vào “delete” cho khỏi mất giờ. Nhưng chuyện y tế, sức khỏe và nhứt là tiếu lâm thì tôi không bao giờ bỏ qua. Xét cho cùng cười vẫn là liều thuốc bổ tốt nhứt.

Mới đây, một ông bạn già của tôi đưa lên “meo đàn” một bài viết về giá trị của trứng gà. Tôi không rõ bài viết xuất xứ từ đâu; không thấy tên tác giả mà cũng chẳng tìm được tạp chí đăng bài viết. Nhưng cách trình bày, lập luận và dẫn chứng cũng khá thuyết phục. Trong vài hàng giới thiệu bài viết, ông bạn già của tôi viết rằng ổng thấy “quá đã” khi đọc bài. Tôi cũng thấy “quá đã” sau khi đọc biết về lợi ích của trứng gà.

Tôi có nuôi năm bảy con gà mái đẻ, loại gà suốt đời “đồng trinh sạch sẽ” chỉ biết đẻ mà không bao giờ biết đến gà trống. Gà mái của tôi không những “chạy bộ” mà còn “leo rừng” nữa. Giáp giới với vườn nhà tôi là lâm viên quốc gia. Năm nay, gặp thời “La Nĩna” kéo dài, mưa liên tu bất tận, cho nên giun dế lúc nhúc, các chị gà của tôi tha hồ đánh chén. Tôi không nhớ rõ đã đọc được ở đâu đó, giống vật nào được nuôi một cách lành mạnh thì thịt của chúng cũng lành mạnh. Gà mái của tôi có một cuộc sống “tốt” cho nên không chỉ thịt mà trứng cũng “tốt”. Nhìn cái lòng đỏ “đỏ au” thì đủ biết trứng gà của tôi lành biết chừng nào. Chỉ có điều, dù cho trứng có ngon đến đâu, từ lâu nay, kể từ khi thế giới bị “ám ảnh” bởi mấy chữ “Cholesterol” (mỡ trong máu) và tôi bắt đầu ý thức về sức khỏe, thì tôi nhìn trứng chẳng khác nào mèo thấy mỡ. Thèm lắm, nhưng thèm mà lại không được và cũng không dám ăn thả cửa.

Thuở nhỏ, cái món trong nhà thường bị tôi ăn cắp nhứt là trứng gà. Nhiều chị gà đẻ một lúc cho nên thỉnh thoảng tôi có chôm một vài cái trứng, mẹ tôi cũng chẳng hay biết. Tôi thèm trứng không chỉ vì thiếu dinh dưỡng, mà vì thấy hễ cứ có trứng gà so thì mẹ tôi lại dành để biếu ông cha sở. Với bà, hễ của ngon vật lạ thì phải dành cho nhà lãnh đạo tinh thần. Trứng gà quả là của ngon vật lạ thật, bởi vì, với tôi, ăn trứng theo dạng nào cũng thấy ngon. Ăn cắp một cái trứng, dùng một cây kim chích vào trứng, bất kể vỏ trứng có được sạch hay không, đưa miệng hút ra cái lòng đỏ thì phải nói như nhà văn Duyên Anh là “sướng rên mé đìu hiu” thôi. Lúc mới đến trại tỵ nạn, chưa nghe người ta đe dọa về cholesterol trong trứng, tôi thích mua trứng, đập vỡ ra, gạn lòng trắng sang một bên, cho lòng đỏ vào một ly “bảy úp” (7 Up), quậy đều rồi thưởng thức. Vừa thấy ngon miệng lại vừa tin rằng đây là thức uống bổ dưỡng nhứt.

Cho tới nay, món ăn vật lạ nào tôi cũng có nếm qua và sẵn sàng từ bỏ vì lý do sức khỏe. Nhưng riêng trứng gà thì phải nói là lúc nào tôi cũng thèm “nhỏ rãi”. Đặc biệt, cái món trứng gà luộc, dầm mắm nêm và chấm với các thứ đọt rau luộc thì chẳng có sơn hào hải vị nào bằng. Vậy mà nhà tôi lúc nào cũng đóng vai “thiên thần hộ thủ” để canh giữ kẻo tôi bị “sa chước cám dỗ” với trứng gà. Mỗi tuần nhà tôi chỉ cho tôi ăn đúng 3 cái trứng mà thôi! Có gân cổ cãi đến đâu cũng không bao giờ được phép vượt qua giới hạn đó!

Tôi thấy “quá đã” khi đọc bài viết về lợi ích của trứng gà mà ông bạn già vừa chia sẻ trên meo đàn. Đọc xong, tôi “mời” nhà tôi lại bên máy vi tính, khoe bài viết và thấy như mình vừa làm được một khám phá mới trong y học.

Tất cả những dữ kiện được đưa ra trong bài viết đều phủ nhận cái mớ kiến thức mà tôi đã tiếp thu được về trứng gà. Chẳng hạn, bài viết khẳng định rằng trứng gà không phải là loại thực phẩm giàu cholesterol. Cholesterol tập trung ở lòng đỏ trứng gà, nhưng là loại cholesterol tốt, rất cần thiết cho cơ thể, nhứt là trong việc sinh sản tế bào. Vậy mà lâu nay tôi cứ tưởng trứng gà là thủ phạm chính tạo ra “máu trong mỡ” dẫn đến các bệnh về tim mạch.

Điểm nhấn trong bài viết mà tôi muốn nhà tôi phải chú ý là số lượng trứng được phép tiêu thụ mỗi ngày. Tác giả bài viết cho biết: theo thống kê hàng năm, trung bình mỗi người Mỹ tiêu thụ 300 quả trứng trong một năm...Cholesterol trong lòng đỏ trứng gà kết hợp với một số yếu tố khác như glycerol, cholin, phosphor và các thứ acid béo để tạo ra lecithin. Lecithin có đặc tính “nhũ tương hóa” rất mạnh, nghĩa là có sức giúp chất béo hòa tan được trong máu cho nên cholesterol hòa vào máu để đi đến những chỗ tế bào bị hư hại và sửa chữa lại, nhờ vậy mà cơ thể không bị tổn thương. Còn lượng cholesterol dư thừa thì lại được đưa về gan để giúp tạo ra muối mật và các nội tiết tố điều hành cơ thể. Như vậy, mỗi ngày ta nên ăn một cái trứng là vừa. Nhưng các chuyên gia dinh dưỡng khuyên mỗi tuần chỉ nên dùng 5 trứng.

Còn một chi tiết khác trong bài viết mà tôi lấy làm đắc ý nhứt đó là: trứng không có hại cho gan. Ngày xưa, khi khoa học còn sơ khai, người ta thí nghiệm bằng cách lấy lòng trắng trứng tiêm vào da thỏ thì thấy da thỏ bị phù, nổi mẩn ngứa cho nên bảo rằng trứng gây dị ứng. Và vì thời đó người ta nghĩ rằng dị ứng là do yếu gan nên qui cho trứng là thủ phạm tác hại đến gan. Gần đây, ở thập niên 1960 trở về trước, các hiểu biết về cholesterol chưa rõ ràng cho nên thấy lòng đỏ trứng có chứa cholesterol thì cho rằng trứng không tốt. Thật ra, từ đầu thập niên 1980 đến nay, người ta đã chứng minh rằng cholesterol của trứng là cholesterol tốt và trứng chẳng những không hại, mà còn có lợi cho gan nữa vì trứng có chứa chất cholin giúp bảo vệ gan.

Cuối cùng, tôi cũng rất lấy làm tâm đắc khi tác giả bài viết khẳng định rằng trứng không làm cho nóng và khó tiêu. Tự nó, trứng không tạo ra cảm giác nóng. Có “nóng” chăng là bởi vì trứng được chiên với nhiều dầu mỡ và nhứt là thức ăn thiếu rau quả và không đa dạng mà thôi.

Bài viết đã hầu như đánh tan được cái mặc cảm “thèm trứng” của tôi. Tôi nghĩ bụng: từ nay tha hồ ăn trứng mà chẳng sợ bất cứ di hại nào! Tôi nhìn nhà tôi với ánh mắt “van lơn”: xin nâng số lượng trứng được phép ăn mỗi tuần cho tôi! Nhưng lạ quá, tôi thấy bài viết chả lay động được nhà tôi một ly ông cụ nào. Trước sau như một, nhà tôi vẫn giữ nguyên cái liều lượng trứng dành cho tôi: mỗi tuần không được quá 3 trứng!

Trong quan hệ vợ chồng, để bảo vệ hạnh phúc lứa đôi, mấy ông bạn già của tôi luôn ứng xử theo hai nguyên tắc: nguyên tắc một, vợ luôn luôn đúng; nguyên tắc hai: nếu vợ sai, hãy trở về nguyên tắc một. Nghe như đùa, nhưng về chuyện vệ sinh, ăn uống và giữ gìn sức khỏe, tôi thấy hai cái nguyên tắc “quái gở” trên đây lại đúng phóc!

Thật ra, bài viết về giá trị của trứng gà trên đây có giải tỏa được nơi tôi một vài “ẩn ức”, nhưng vẫn không có đủ sức thuyết phục tôi từ bỏ cái khuôn vàng thước ngọc của cha ông chúng ta là “liệu cơm mà gắp mắm”. Về sức khỏe và ăn uống thì chẳng có thước đo hay liều lượng chung nào cả. Mỗi cơ thể mỗi khác. Sức chịu đựng và đòi hỏi của cơ thể ông tây bà đầm có khi cũng khác với người Á đông da vàng. Họ ăn bơ sữa và uống rượu “từ trong bụng mẹ” chẳng sao cả. Mình chạy theo là ngất ngư luôn!

Có người uống rượu như hũ chìm. Có người đụng vào là thấy 36 ông sao ngay. Có người uống cà phê thế nước. Có người uống một hớp vào là thấy nóng bụng và trằn trọc suốt đêm. Có người mỗi tháng rước vào cơ thể vài ký lô đường chẳng sao cả. Nhưng có người, chỉ cần mỗi ngày một hai muỗng cà phê đường là thấy có chuyện. Cũng có người cuối tuần nào cũng đình đám hội hè mà người cứ còm nhom. Nhưng có người sau một tiệc cưới là tăng nửa ký lô ngay vòng số 2 ngay lập tức...Nói chung, về sở thích thì không nên tranh luận và cũng chẳng nên thúc ép người ta phải như mình. Về sức khỏe cũng vậy, mỗi người tự “đi guốc” trong bụng dạ mình mà lo kiêng cữ hay tự đặt ra một ranh giới phải tuân giữ.

Thời nào và ở đâu cũng thế, điều độ vẫn được xem là một nhân đức. Minh triết Đông Tây đều dạy rằng “nhân đức nằm ở bậc trung dung” (virtus in medio stat). Có lẽ triết gia Pháp Blaise Pascal cũng nghĩ đến cái mức “trung dung” này chăng khi ông bảo rằng người ở giữa thú vật và thiên thần: “Con người không phải là thiên thần, mà cũng chẳng là thú vật. Ai muốn làm thiên thần đều trở thành thú vật”. Nhân loại bao phen khốn đốn có lẽ cũng vì những người muốn chối bỏ nhân tính để làm thiên thần và cưỡng bách mọi người cũng phải lột xác như thế. Những thiên đường mù hay những quần đảo Gulag là điểm đến tất yếu của những “thiện ý” muốn cải tạo con người như thế.

Là một tín hữu Kitô, tôi thường được khuyên bảo hãy sống tiết độ. Tôi cho rằng tiết độ hoàn toàn khác với khổ chế. Khổ chế là từ bỏ và trốn chạy khỏi cái thế giới vật chất này để đi tìm tự do và niềm vui tinh thần. Tiết độ không hề có nghĩa là từ bỏ hưởng thụ hay là tìm cách hưởng thụ càng ít càng tốt. Người biết sống tiết độ là người vẫn yêu mến cái thế giới vật chất mà Thượng Đế đã xem là “tốt đẹp” khi tạo dựng ra nó. Người biết sống tiết độ là người vui hưởng cuộc sống mà vẫn cố gắng đi tìm sự tự do tinh thần. Với người tiết độ thì như người Việt nam chúng ta vẫn nói “ăn ít ngon nhiều”.

Ba cái trứng mà nhà tôi quy định cho tôi được phép “hưởng dùng” mỗi tuần quả là thước đo của sự tiết độ mà tôi thấy cần phải tuân giữ. Có tiết độ mới thấy được vẻ đẹp và giá trị của cuộc sống. Cuộc sống còn đáng sống là bởi ta còn muốn thèm sống.

Trong Mùa Chay của Kitô giáo, tôi cũng nhận thấy rằng tiết độ trong việc ăn uống không phải là điểm đích mà chỉ là một “thử thách” nhỏ để tập “sống đạo” hay đúng hơn là phương thế, là “bài học vỡ lòng” để đạt được những giá trị khác cao cả hơn. Có những điều cần tập tiết độ hơn như tiết độ trong suy nghĩ, lời nói và nhứt là cái nhìn, nhận thức về người khác. Về mặt này, tiết độ quả là rất khó nhưng thật cần thiết để tạo một bầu khí trong lành cho chính mình và với người khác. Chỉ cần một chút quá đà trong suy nghĩ, người ta dễ rơi vào thành kiến và chủ quan. Mà đã thành kiến và chủ quan thì người khác là zê-rô còn “tui” phải là con số một. Và đó cũng là con đường ngắn nhứt để dẫn đến quá khích, cuồng tín và cực đoan. Cuồng tín và cực đoan trong chính trị và nhứt là trong tôn giáo, xét cho cùng, cũng là một thái độ thiếu tiết độ. Thiếu tiết độ trong suy nghĩ và ứng xử cho nên mới thiếu khoan nhượng, cảm thông, dung hòa và tha thứ.

Tôi vẫn nghĩ: đi hết con đường Mùa Chay mà vẫn không thấy mình suy nghĩ và sống trong tinh thần khoan nhượng, cảm thông và tha thứ hơn thì dù có kiêng khem, dù có luôn ngoan ngoãn “tuân thủ” quy định “ba cái trứng mỗi tuần” cho đến chết đi nữa cũng chẳng “có đạo” hơn!

Chu Thập

Posted: Sun Apr 01, 2012 4:56 pm
by caubennoc
Hậu quả của một câu chuyện ‘Cá Tháng Tư’
Tạp ghi Huy Phương

Image
Cá tháng Tư

Trên Người Việt ngày Chủ Nhật 2 tháng 4 năm 2011 năm ngoái, theo truyền thống “Cá Tháng Tư” (April's Fool - Poisson d'Avril), chúng tôi có đùa giỡn thả một con cá nhan đề: “Cao Niên và Câu Chuyện Tháng 4” và đưa tin rằng: “Công dân cao niên nhận lãnh một lần số tiền $30,000 nếu đồng ý trở về sinh sống tại quốc gia nguyên thủy của họ.”

Ðây không phải là một câu chuyện đùa nổi tiếng như đài BBC năm 1980, đã loan tin rằng tháp đồng hồ Big Ben ở Luân Ðôn sẽ bị thay thế bằng một chiếc đồng hồ điện tử hay năm 1986, tờ The Parisien “thả cá tháng 4” cho rằng chính phủ sẽ tháo gỡ tháp Eiffel để cho công ty Disney của Mỹ xây công viên Euro Disney, làm cho dân Pháp và Anh vào các thời điểm ấy điên lên vài ngày, sau đó mới biết mình mắc lởm.

Theo suy nghĩ và điều giả tưởng của chúng tôi, nếu có một đạo luật được Quốc Hội thông qua, cho các cụ được lãnh trọn số tiền $30,000 nếu đồng ý “quy cố hương,” sẽ đỡ gánh nặng cho nước Mỹ rất nhiều, vì nếu các cụ sống thêm vài năm hay vài chục năm trên xứ này sẽ tốn phí cho ngân sách nước Mỹ hơn cả trăm lần vì các món tiền trợ cấp y tế, (thuốc men, bệnh viện, săn sóc tại gia, các chi phí cho dịch vụ cấp cứu), tiền day-care cho các cụ (đến ăn trưa, tập thể dục, chơi bài, đấm bóp, xem TV, vào Internet), chi phí về housing... Viết bài này, chúng tôi chỉ muốn chân thành góp ý với quý vị cao niên, nhịn bớt tiêu xài, phá phách, đừng đem tiền ra khỏi nước Mỹ nữa, xin hãy sống với nước Mỹ và yêu nước Mỹ hơn, xin đừng xem đây là nhà trọ, là nơi “share” phòng nữa! Ðùa với chuyện “Cá Tháng Tư”, chúng tôi chọn con số $30,000 là con số vừa phải, nhiều quá thì khó tin, ít quá thì không “bõ” cho các cụ quyết định giã từ nước Mỹ. Chúng tôi cũng chọn thời gian vừa phải (có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1, 2012) để các cụ có thời giờ quyết định và làm đơn “bỏ nước Mỹ”.

Mặc dầu tác giả đã cẩn thận ghi rõ ràng ở cuối bài là “bài viết này là chuyện ‘Cá Tháng Tư’ hy vọng không ai mừng hụt và cũng không hy vọng đạo luật này sẽ thành hình”, nhưng không ngờ câu chuyện của chúng tôi đã gây tác dụng nặng nề, một phần vì quý vị cao niên người Việt không quen với trò “Cá Tháng Tư,” một mặt con số $30,000 chúng tôi đưa ra có vẻ khả tín, đáp ứng lại nguyện vọng của một số người già trên khắp nước Mỹ trong hoàn cảnh bệnh tật, neo đơn, nếu có số tiền $30,000, sẽ không ngần ngại “qui cố hương” để sống nốt những ngày cuối đời.

Chỉ tiếc rằng, không chỉ các cụ vì cả tin nên đã cho chuyện cá thành chuyện thật, mà một ông nào tên là An Pham trên net đã dùng bài báo này của chúng tôi, lắp ráp thêm lời bình luận “Mao Tôn Cương” ở đầu và cuối bài, và đã trích trọn bài tạp ghi “Cá Tháng Tư” của chúng tôi bằng câu giới thiệu: “Sau đây là thông cáo của chính phủ Obama.” Ðây không còn là một trò đùa nữa mà trở thành một bài viết vô trách nhiệm, có thể gây ngộ nhận trầm trọng cho giới cao niên. Buồn cười là trong “thông cáo của chính phủ Obama”, người tác giả này còn sơ ý để nguyên câu văn của chúng tôi là: “Nửa phần bài tạp ghi hôm nay, viết vào những ngày đầu tháng tư theo truyền thống ‘Cá Tháng Tư.’”

Có ít nhất hai tờ tuần báo phát hành tại Little Saigon đã vô ý không xem kỹ, in lại bài này và một đài truyền hình địa phương đã đưa câu chuyện “Cá Tháng Tư” này lên thảo luận như là một bản tin đặc biệt. Hiện nay có nhiều người vẫn còn tin tưởng đây câu chuyện có thật nên gọi điện thoại cho bạn bè ở Mỹ và Việt Nam để loan “tin mừng” này. Vì không được tận mắt đọc bài báo này, nên nhiều vị cao niên vẫn nửa tin, nửa ngờ, có người lại đi tìm giấy tờ hầu điền đơn xin nhận $30,000 và sẵn sàng rời nước Mỹ.

Chúng tôi tìm hiểu quý vị cao niên xem, nếu được lãnh trọn số tiền $30,000 một lần, quý cụ có sẵn sàng bỏ housing, bỏ trợ cấp, bỏ medi-care... để trở về Việt Nam sinh sống những chuỗi ngày còn lại hay không? Ông Phan Quang Mười, 81 tuổi, H.O.14, đến Mỹ năm 1992, ông có bốn con, một ở Việt Nam, ba ở Mỹ, vợ mất năm 2005: “Tôi biết đây là chuyện ‘Cá Tháng Tư’, mà giả dụ, chính phủ có cho $30,000 tôi cũng không về Việt Nam. Sống với CS nhiều năm, tôi đã quá ngán ngẩm rồi. Bây giờ đã có cơ hội sang Mỹ, đã nhận nơi này làm quê hương, thì chết sống cũng ở đây. Hồi nhà tôi còn sống, chúng tôi đã mua đất trong nghĩa trang và dự định chết sẽ nằm bên nhau. Con tôi nói rằng nếu tôi có lỡ về Việt Nam chơi mà chết bên đó, thì chúng cũng mang xác tôi trở lại Mỹ, chôn bên má nó.”

Trái lại với ý kiến này trên, một vị cao niên khác, cựu quân nhân, tuy có ba con thành đạt ở Mỹ, hiện vào nursing home đã hơn năm nay, cho rằng: “Nếu vụ $30,000 có thật thì vợ chồng tôi cũng xin về Việt Nam, giúp đỡ bà con chút đỉnh, rồi chết bên đó cho yên!”

Khi viết bài tạp ghi này trong dịp đầu tháng 4-2011, tác giả chỉ muốn theo truyền thống báo chí “Cá Tháng Tư”, đùa cợt với các cụ một tí, không ngờ đã gây sự tổn thương và hụt hẫng cho nhiều vị, nhất là nhiều vị hiện nay đang lâm cảnh đau ốm, con cái không quan tâm, hay cô đơn trong tuổi già, vui mừng khi nghe tin này nhưng sau đó thất vọng khi biết đây chỉ là một trò đùa. Mặc đầu không hề có ác ý, nhưng hậu quả của bài báo đã làm buồn lòng một số người. Và cũng từ ý tưởng này, xét ra cũng có cơ sở, thì chúng ta sẽ vận động quý vị dân cử làm dự luật trình lên Quốc Hội. Trong tình trạng ngân sách cạn kiệt, bất cứ một sáng kiến nào đưa ra nhằm cứu nước Mỹ qua cơn hoạn nạn, chắc chắn đều được tán thưởng.

Posted: Thu Apr 05, 2012 5:59 am
by tramthaiha
Bốn Bà Vợ
Một thương nhân giàu có có 4 bà vợ. Ông yêu người vợ thứ tư nhất, ông tự hào về người vợ thứ ba, ông tìm đến người vợ thứ hai như một người bạn tâm tình nhưng hầu như chẳng bao giờ chú ý đến người vợ thứ nhất…

Ông nâng niu chiều chuộng, coi người vợ thứ tư như một món đồ trang sức quý, luôn mua sắm cho bà ta những bộ đồ sang trọng đắt tiền.

Ông cũng rất yêu người vợ thứ ba. Ông tự hào về người vợ này và luôn muốn “khoe” vợ với bạn bè. Tuy nhiên, trong ông luôn thường trực nỗi lo sợ bà bỏ đi với người đàn ông khác.

Ông cũng yêu người vợ thứ hai. Ông coi bà như người bạn tâm tình, người giúp ông vượt qua những khó khăn trong cuộc sống. Bất cứ khi nào gặp khúc mắc, ông đều tìm đến bà.

Người vợ thứ nhất lại là người rất chân thành, chung thuỷ, luôn kề vai sát cánh bên ông lo toan chu đáo chuyện gia đình. Tuy nhiên, ông lại không yêu bà vợ thứ nhất. Mặc dù bà rất yêu ông, ông hầu như chẳng bao giờ chú ý đến bà.

Một ngày, ông ngã bệnh. Ông tự biết rằng mình sắp từ giã cõi trần. Ông nghĩ về cuộc sống giàu sang xa hoa và tự nhủ: “Hiện mình có 4 bà vợ. Nhưng khi mình chết, lại chỉ có một mình. Thật cô đơn làm sao!”.

Ông ta hỏi bà vợ thứ tư: “Tôi yêu mình nhất, luôn dành cho mình sự quan tâm đặc biệt và những điều tốt đẹp nhất. Tôi chẳng còn sống được bao lâu nữa, liệu khi tôi chết, mình có nguyện đi theo tôi không?”.
“Không đâu” – Bà vợ thứ tư đáp lại và bước đi.

Người vợ thứ ba vốn là niềm tự hào của ta, rồi cũng sẽ bước đi theo người khác, bỏ mặc ta mà thôi
Câu trả lời như một nhát dao cứa vào. Ông hỏi người vợ thứ ba: “Tôi yêu bà nhiều lắm, tôi sắp chết rồi, bà có nguyện theo tôi không?”.
“Không, cuộc sống vẫn đang đẹp mà. Sau khi ông chết, tôi sẽ tái hôn”. Trái tim ông run lên đau đớn.

Sau đó, ông hỏi người vợ thứ hai: “Bất cứ khi nào gặp vấn đề khó khăn rắc rối gì tôi cũng đều tìm đến bà. Bây giờ tôi xin bà hãy kề vai sát cánh cùng tôi lần cuối cùng. Khi tôi chết, bà có nguyện đi theo tôi không?”.
Bà vợ thứ hai trả lời: “Xin lỗi, lúc này tôi không thể giúp ông được. Nếu có, tôi chỉ đưa linh cữu ông ra mộ thôi”.
Người vợ thứ hai – người bạn tâm tình thân thiết thủy chung của ta cũng chỉ khóc khi ta chết, đưa ta ra đến mộ rồi quay đầu

Ông nghe câu trả lời mà như sét đánh ngang tai. Ông thực sự quá đau đớn vì người mà ông nghĩ có thể tin tưởng nhất cũng bỏ rơi ông. Bỗng có một giọng nói cất lên: “Tôi sẽ đi cùng ông, đi đến bất cứ nơi nào ông tới”. Ông dáo dác tìm kiếm chủ nhân của giọng nói và nhận ra đó chính là người vợ thứ nhất, người mà chẳng mấy khi ông để ý tới.
Trông bà gầy và xanh xao quá. Rưng rưng xúc động, ông nói: “Đáng lẽ ra trước đây tôi phải chăm sóc bà nhiều hơn nữa”. Chỉ có duy nhất người vợ cả, người thường bị ta bỏ mặc, lãng quên khi sống… là kiên quyết đi theo, yêu thương ta cả cuộc đời.

Mỗi chúng ta ai cũng có 4 bà vợ.

Bà vợ thứ tư chính là thân thể của chúng ta. Cho dù ta có chăm chút, trau chuốt đến mấy, rồi nó cũng rời bỏ ta khi ta chết.

Còn bà vợ thứ ba? Đó chính là của cải, địa vị. Khi chúng ta chết, chúng sẵn sàng đi theo người khác.

Bà vợ thứ hai chính là gia đình và bạn bè. Cho dù có thân thiết đến mức độ nào, khi ta chết, họ cũng chỉ khóc đưa ta ra mộ mà thôi.

Bà vợ thứ nhất chính là tâm hồn ta, thường bị lãng quên khi ta chạy theo tiền tài, địa vị, danh vọng, của cải, nhưng nó sẽ theo ta suốt cuộc đời.
Tốt hơn hết là nuôi dưỡng tâm hồn ngay từ bây giờ, vì đó là “người” thân tín nhất bên ta. Đừng để phải hối hận vì đã lãng quên nó.

Posted: Fri Apr 06, 2012 2:15 am
by KýCóp
Hãy cho tôi biết bạn của bạn là ai...

Nguồn: Nguyễn Hưng Quốc (Blog VOA)
“Hãy cho tôi biết bạn của bạn là ai, tôi sẽ cho bạn biết bạn là người như thế nào.” Ðó là một câu danh ngôn mà có lẽ ai cũng biết. Và có lẽ, phần lớn đều đồng ý.

Vượt lên trên bình diện cá nhân, trong quan hệ đối ngoại của các quốc gia, người ta cũng có thể nói điều đó: quan hệ đối ngoại tiết lộ rất nhiều bản sắc và bản chất của một chế độ.

Trong bài này, tôi muốn nói đến quan hệ đối ngoại của Trung Quốc trong một hai thập niên vừa qua. Trên lý thuyết và về mặt tuyên truyền, Trung Quốc lúc nào cũng muốn trấn an thế giới: Sự phát triển của họ là một sự “phát triển hòa bình.” Họ không uy hiếp ai và cũng không có tham vọng bá quyền gì cả. Họ chỉ muốn xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với tất cả mọi người.

Tuy nhiên, không mấy ai tin vào những lời lẽ tuyên truyền ấy. Có nhiều lý do. Một số lý do tôi đã nêu trong các bài trước: một, Trung Quốc không thể giấu diếm tham vọng làm bá chủ của họ qua việc không ngừng gia tăng ngân sách quốc phòng; hai, Trung Quốc cũng không thể lừa dối dư luận khi họ thường xuyên trấn áp Tây Tạng và cũng thường xuyên gây hấn với các nước láng giềng, từ Việt Nam đến Nhật Bản và Philippines. Cần thêm một lý do này nữa: cách thức tiến hành các chính sách đối ngoại của Trung Quốc.

Trừ với Việt Nam, Lào, Cam Bốt và Miến Ðiện, quả thật, phải công nhận là Trung Quốc hiếm khi can thiệp vào nội bộ các nước khác. Từ một hai thập niên vừa qua, họ gia tăng các mối hợp tác song phương cũng như nâng cao mức viện trợ cho rất nhiều quốc gia ở Châu Phi, Châu Mỹ Latin và Trung Á. Thường, họ không đòi hỏi bất cứ điều kiện gì cả. Họ nhắm mắt làm ngơ trước tội ác của các chế độ độc tài, bất chấp việc các chế độ độc tài ấy nhũng nhiễu, thậm chí, giết hại dân chúng của họ như thế nào. Họ mặc kệ.

Ðó chính là sự khác biệt lớn nhất giữa Trung Quốc và Tây phương.

Hầu hết các quốc gia Tây phương, khi đặt quan hệ với một nước khác, đặc biệt khi đóng vai trò kẻ gia ân, thường nêu lên một số điều kiện nhất định, bao gồm, thứ nhất, chính quyền các nước ấy phải tôn trọng nhân quyền và từng bước tiến tới dân chủ; thứ hai, chính quyền các nước ấy phải chứng tỏ họ có khả năng quản trị để tiền viện trợ không bị lãng phí hay thất thoát vì tham nhũng. Trong trường hợp một số nước không đáp ứng được hai điều kiện đó, Tây phương sẽ tuyên bố cúp viện trợ, thậm chí, đôi khi gây sức ép hoặc trực tiếp tiến hành các cuộc thay đổi chế độ.

Trung Quốc thì khác. Họ chỉ nhắm đến kinh tế. Các quốc gia họ tiến tới làm thân sớm và chặt chẽ nhất là các nước có nhiều dầu khí, từ Venezuela ở Nam Mỹ đến Nigeria và Sudan ở Châu Phi, Kazakhstan ở Trung Á, Yemen ở Tây Á và Iran ở Trung Ðông. Họ viện trợ và xóa nợ cho vô số các quốc gia Phi Châu với số tiền lên đến hàng tỉ đồng. Mới đây, Trung Quốc tài trợ hoàn toàn cho việc xây dựng tổng hành dinh của Liên Ðoàn Phi Châu (African Union) ở Ethiopia trị giá 200 triệu Mỹ kim; một ngôi đền Hồi Giáo cực lớn đủ chỗ cho 120,000 tín đồ cầu nguyện ở Algeria, trị giá đến 1.3 tỉ Mỹ kim; một cái đập khổng lồ ở Ghana trị giá 700 triệu Mỹ kim; một trung tâm hội nghị mênh mông và tráng lệ ở Equatorial Guinea trị giá 800 triệu Mỹ kim; một khu phố rộng lớn bao gồm 710 căn hộ đủ chỗ ở cho 120,000 người, trường học, trung tâm thương mại và các bãi đậu xe ở Angola trị giá đến 3.5 tỉ Mỹ kim; một xa lộ dài 50 cây số (31 miles), được xem là rộng nhất Ðông Phi, trị giá 300 triệu Mỹ kim ở Kenya.

Viện trợ một cách hào phóng như vậy, Trung Quốc đòi hỏi điều gì? Họ chỉ đòi hỏi hai điều kiện: Một, không đặt quan hệ chính thức với Ðài Loan và hai, ủng hộ các tổ chức quốc tế của Trung Quốc. Hết.

Còn chuyện các nước ấy tham nhũng ư? - Họ không cần biết. Các nước ấy đàn áp dân chúng nước họ một cách dã man ư? - Họ cũng không cần biết. Cũng như họ ngoảnh mặt không cần biết chính phủ Iran âm mưu chế tạo bom nguyên tử có thể gây hiểm họa trong khu vực như thế nào, và chính phủ Syria tàn sát dân chúng nước họ trong cuộc tranh đấu đòi hỏi dân chủ như thế nào. Họ không cần biết. Vấn đề nhân quyền không nằm trong bảng từ vựng đối ngoại của họ.

Chính vì thế một số học giả mới nhận định: Các chính phủ thất bại (failed states, hiểu theo cả hai nghĩa, quản trị tồi và không có dân chủ), với Tây phương là một vấn đề; với Trung Quốc, là một cơ hội.

Sự khác biệt ấy cho thấy một số điểm quan trọng trong các chính sách của Trung Quốc:

Thứ nhất, họ chỉ nhắm đến các lợi ích kinh tế chứ hoàn toàn không có một bản giá trị nhân văn nào cả. Thậm chí, họ cũng không chia sẻ với bản giá trị nhân văn phổ quát của nhân loại, trong đó, hai yếu tố quan trọng nhất là: tôn trọng quyền làm người và sự công chính. Chính vì điều này, nhiều người không tin là Trung Quốc có thể trở thành siêu cường quốc có khả năng thay thế Mỹ để lãnh đạo thế giới.

Thứ hai, trong việc theo đuổi cái lợi về kinh tế, họ chỉ nhắm đến những cái lợi gần gũi trước mắt. Vì thế họ dễ dàng kết giao với những quốc gia bị mọi người phê phán gay gắt và lúc nào cũng đứng trước nguy cơ bị sụp đổ, như Zimbabwe, Yemen, Sudan, Syria, Miến Ðiện và Bắc Hàn. Chính vì điều này, nhiều người không tin Trung Quốc có tầm nhìn chiến lược lâu dài trên phạm vi toàn cầu.

Thứ ba, không chia sẻ một bản giá trị và niềm tin chung, quan hệ giữa Trung Quốc và các nước khác chỉ dừng lại ở mức hòn bấc ném qua hòn chì ném lại chứ không dẫn đến bất cứ một quan hệ đồng minh nào cả.

Chính vì điều này, nhiều người, kể cả các học giả Trung Quốc, không tin là nếu xảy ra chiến tranh với Mỹ, Trung Quốc có thể nắm được ưu thế: Trong khi Mỹ có vô số đồng minh sẵn sàng lao ra chiến trường với họ, Trung Quốc không có ai cả.

Từ chính sách đối ngoại chung như thế, chúng ta không thể không nghĩ ngợi về quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam.

Cũng giống như trong quan hệ với các nước khác ở Nam Mỹ, Nam Phi và Trung Ðông, Trung Quốc xem cái “chính quyền thất bại” (failed state) ở Việt Nam là một cơ hội. Không những là cơ hội cho việc phát triển kinh tế mà cho cả việc phát triển chính trị cũng như lãnh thổ và lãnh hải của họ không chừng.

Posted: Thu Apr 12, 2012 3:26 am
by KýCóp
Câu chuyện về hai vị thiền sư

Có một vị thiền sư trú trong túp lều tranh ở trên núi, một buổi tối khi đi thiền hành trở về, nhìn thấy một tên trộm đang chiếu cố túp lều tranh của mình nhưng tìm không được vật gì cả. Ngài bèn cởi chiếc áo ngoài đang mặc trên người và đứng ngoài cửa đợi tên trộm ra, vì ngài sợ làm kinh động tên trộm.

Tên trộm vừa quay ra thì gặp thiền sư, trong lúc tên trộm hốt hoảng vị thiền sư liền nói: “Anh bạn! đường sá xa xôi vất vả lên núi thăm tôi, tôi không đành lòng để anh về tay không, đêm khuya rồi, khoác chiếc áo này mà về cho đỡ lạnh.

Nói xong ngài cầm chiếc áo khoác lên thân tên trộm.

Tên trộm xấu hổ, cúi đầu rồi chạy thẳng xuống núi không dám nhìn lại.

Thiền sư nhìn dáng tên trộm khuất dần trong núi rừng mờ mịt, không ngừng thương cảm nói: “ rất đáng thương, tôi muốn tặng cho anh cả vầng trăng để chiếu sáng con đường cho anh xuống núi.

Vài hôm sau, khi thiền sư đang mở to đôi mắt nhìn ánh bình minh xuất hiện, thì nhìn thấy chiếc áo mà ngài khoác lên thân tên trộm mấy hôm trước đó được xếp rất ngay ngắn đặt trước cổng, thiền sư vui vẻ nói :

“ Cuối cùng thì ta cũng đã tặng anh ta cả vầng trăng sáng rồi”.

Lại có câu chuyện khác cũng tương tự.

Trong thiền viện của thiền sư Tiên Nhai, có một vị học tăng rất ham chơi, vị này không chịu nổi cái cảnh vắng lặng yên bình của chốn thiền môn.

Vào những buổi tối vị tăng sinh này thường ra vách tường sau chùa, đặt một cái ghế để leo qua tường ra bên ngoài chơi.

Sau khi thiền sư biết được, ngài không nói với ai.

Một lần, vị tăng sinh này trèo tường trốn đi chơi, ngài đi theo phía sau và đem chiếc ghế để qua một bên rồi ngồi vào chỗ đó đợi vị học tăng trở về.

Đêm khuya vắng vẻ, vị học tăng trở về, không biết chiếc ghế đã bị di chuyển nên vẫn leo qua vách tường và thò chân xuống ghế như mọi khi để vào chùa, nhưng khi vừa đặt chân xuống thì cảm thấy chiếc ghế dưới chân mình sao mềm mại là lạ, cúi xuống nhìn thì hoá ra mình đang đứng trên vai vị thiền sư thầy mình.

Lập tức vị học tăng hồn bay phách tán quỳ xuống nói không ra lời.

Thiền sư liền đỡ vị học tăng đứng lên và nhẹ nhàng nói :

“Đêm khuya sương nhiều, cẩn thận chứ ướt lạnh hãy nhanh vào phòng nghỉ ngơi."

Sau khi về phòng vị tăng sinh cứ phập phồng lo sợ không yên, trắng đêm không ngủ, lo sợ thiền sư sẽ trách phạt mình trước mặt đại chúng.

Nhưng sự việc thì ngược lại, cứ ngày ngày trôi qua, thiền sư không nhắc đến chuyện, cũng không nói cho ai biết.

Vị tăng trẻ tự trong lòng cảm thấy rất hổ thẹn vô cùng, từ đó về sau không dám trốn ra ngoài chơi mà quyết chí tu học, cuối cùng trở thành một vị tăng nổi tiếng đương thời.

Nếu bạn là thiền sư bạn sẽ xử lý thế nào với hai sự việc như thế?

Tôi nghĩ, trong câu chuyện thứ nhất.

Những người bình thường thì sẽ cùng tên trộm vật lộn hoặc sẽ la lớn lên “Trộm, trộm…”. Câu chuyện thứ hai, đối những với người bình thường thì sẽ đem lỗi của vị học tăng nói trước mặt mọi người, sau đó sẽ có hình thức trách mắng quở phạt riêng cho vị ấy.

Nếu làm như vậy kết quả sẽ như thế nào nhỉ?

Tôi nghĩ có thể xảy ra hậu quả thế này, câu chuyện thứ nhất: Tên trộm sẽ đánh bị thương hoặc giết chết vị thiền sư hoặc có thể vị thiền sư đánh tên trộm bị thương và tên trộm sẽ trở lại trả thù thiền sư vào một ngày gần đó.

Câu chuyện thứ hai, sau khi vị học tăng bị quở phạt trước mọi người sẽ cảm thấy rất xấu hổ với bạn bè, trong lòng buồn phiền thối chí tu học cuối cùng trở thành con người bình thường, và có thể từ bỏ lối sống thiền môn.

Hai vị thiền sư này xử sự không giống những người bình thường như chúng ta, mà lấy sự khoan dung đại trí, đại bi để thay đổi một tên lãng tử thành vị danh tăng.

Con người không phải là thánh nhân nên tất nhiên có những sai trái, đối với những người phạm lỗi chúng ta nên có thái độ rộng lượng khoan dung. Im lặng mà hơn cả to tiếng trách móc đây là phương pháp giáo dục tốt nhất. Khoan dung là một phẩm chất đạo đức tốt, khoan hồng tha thứ lỗi cho người giống như ngọn gió mùa xuân mang mưa xuân đến thấm nhuần cây cỏ làm vạn vật thêm xanh tươi. Khoan dung còn hơn cả vàng, khoan dung là một phẩm chất không thể thiếu trong mỗi con người chúng ta.

Posted: Sat Apr 14, 2012 2:44 am
by tankhoasinh
VIẾT THẾ NÀO VÀ VIẾT CÁI GÌ ĐÂY?
Hà Văn Thịnh


Nếu không muốn dùng từ tuyệt vọng thì chắc hẳn cái từ ít đau đớn hơn, ít “xúc phạm” các bậc dân chi phụ mẫu của nước nhà ngày nay hơn, e là chỉ có từ chán ngán! Tại sao lại có thể dung thứ cho những quan chức gây nên bao tội ác – không thể có từ nào thay thế được – cho đất nước, giống nòi mà cứ tiếp tục nghênh ngang tồn tại và lộng hành khơi khơi như ở chốn chỉ có sa mạc và cừu?

Một kẻ sai từ A tới Z trong vụ Tiên Lãng là ông chủ tịch huyện, bị kỷ luật rồi bỗng nhiên ghế trên ngồi tót điếm đàng, “hóa thân” thành chuyên viên Sở Nội vụ? Ai chẳng biết cái sở đó là nơi cơ cấu quan chức, “sắp xếp, tổ chức” cán bộ? Chẳng lẽ cán bộ làm sai rồi lại được tiếp tục đi quy hoạch, đào tạo nguồn cho các sai phạm tiếp nối hay sao?

Một người chịu trách nhiệm chính trong công trình thế kỷ có tên gọi là Sông Đà, hàng chục năm chưa quyết toán xong, nhảy một phát thành Phó Bí thư tỉnh ủy rồi Tổng Giám đốc tập đoàn có năng lực duy nhất là vơ vét tài nguyên để bán, sai phạm đến 20.000 tỷ đồng lại tiếp tục, lại bỗng dưng thành Bộ trưởng và dõng dạc tuyên bố rằng đóng càng nhiều phí giao thông càng chứng tỏ có nhiều tinh thần yêu nước! Vậy, người dân nghĩ và tin chắc chắn vào cái logic không thể chối cãi là càng lấy của dân nhiều bao nhiêu thì càng yêu nước bấy nhiêu chăng?

Tại sao có thể ngang ngược đến mức bất chấp mọi điều khoản của luật pháp, cứ thích cưỡng chế ai, phạt tiền ai là phạt? Khẩu hiệu “Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật” bị biến thành trò hề tức tưởi của tất thảy nỗi ê chề. Đá bóng, cấm. Tổ chức liên hoan ngày 8.3, phạt. Dân khiếu kiện, người viết bài phê phán cái sai thì có “chế độ” chụp ảnh lưu hồ sơ, theo dõi và chờ… xử lý! Nếu là thực sự của dân, do dân thì vì sao hãi sợ đến mức ấy? Người dân Việt luôn sống, ứng xử trọn nghĩa, thấu tình, có lẽ nào không biết đúng sai, có thể nào bị u mê đến mức không phân biệt được trắng đen? Nếu đúng là như thế (như cách người cầm quyền nghĩ), thì từ nay về sau đừng ra rả những câu chữ tự hoan ca đau óc, nhọc lòng.

Tại sao Thủ tướng chỉ đạo đến gày 31.3 phải báo cáo rõ ràng vụ Tiên Lãng mà quan chức Hải Phòng không chấp hành cũng chẳng hề chi? Nếu kỷ cương, phép nước mà hành xử sự coi thường, khinh miệt như cách thói tục làng sống chết mặc bay thì làm sao tội ác, sai phạm không ngang nhiên bỡn cợt với cuộc đời?

Cả cái đập to đùng (730 triệu m3 hồng thủy) nứt chảy ào ào như thác mà cứ vô sỉ, càn rỡ bóp miệng dân bằng cụm từ “chẳng hề chi”? Thử hỏi, nhà các ông bị dột một chút thì có lo ngày lo đêm vì sợ sắt thép gỉ mục, nổ tung thành tai họa? Nói lấy được tức là khinh dân, xúc phạm đến nhân phẩm của 90 triệu người dân tới mức tột cùng. Từ cổ chí kim, từ đông sang tây, có bao giờ có chuyện nói hay như trời, mà làm như cóc nhảy, vậy không?

Tất cả những gì sai phạm (tội ác) của không ít kẻ đương chức đương quyền tôi đã viết và góp đôi dòng phê phán lâu nay. Viết nhiều đến mức khi đau hơn, cay đắng hơn, chẳng còn biết viết cái gì… Chẳng lẽ đến mức ấy mà những người có trách nhiệm vẫn không thể quên việc phủi quần, chùi ghế để tọa nhục, hành đau, coi dân như bèo bọt, nghênh ngang lộng hành, hoan lạc và dối trá mãi sao?

Huế, 11.4.2012.
Hà Văn Thịnh