Bình Luận , Quan Điểm

thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Ba Lan: Bỏ Cộng Sản, và thành công

Ngô Nhân Dụng
Trong khi dân chúng Ba Lan trải qua một tuần lễ tang tóc thì chúng ta có dịp nhìn lại thành tựu của nước này trong 20 năm qua, sau khi rũ bỏ chế độ cộng sản. Ông Tổng Thống Lech Kaczinsky, ông Thống Ðốc Ngân Hàng Trung Ương Slawomir Skrzypek, mấy vị tướng lãnh và nhiều nhà lãnh đạo tử nạn trong chuyến máy bay oan nghiệt đã ra đi, nhưng họ để lại cho nước Ba Lan những di sản đáng hãnh diện.

Ba Lan hiện đang là một nền kinh tế phát triển tốt nhất ở Âu Châu; năm ngoái đã tăng trưởng 1.7% trong khi GDP trung bình của 28 quốc gia dùng đồng Euro bị giảm hơn 4%, và tất cả các nước khác đều suy thoái. Sự thành công của Ba Lan là nhờ một hệ thống ngân hàng vững chắc không bị lôi cuốn vào cơn khủng hoảng tài chánh thế giới; ngân sách quốc gia chỉ thâm thủng nhẹ trong khi giới đầu tư quốc tế sẵn sàng mang tiền đến cho chính phủ Ba Lan vay. Và điều đáng hãnh diện nhất là 20 năm sau khi tự giải thoát khỏi chế độ cộng sản, các định chế chính trị dân chủ đã bén rễ ngày càng bền chặt, sau một tai nạn thảm khốc khi nhiều nhà lãnh đạo dân sự và quân sự cùng qua đời một lúc, mà guồng máy chính trị của quốc gia tiếp tục điều hành một cách bình thường theo đúng các thủ tục dự trù trong hiến pháp.

Vị chủ tịch Hạ Viện (Sejm) đã nhận xử lý thường vụ chức quốc trưởng và tuyên bố sẽ tổ chức bầu cử sớm để chọn người làm tổng thống. Phó thống đốc Ngân Hàng Trung Ương đã lên làm quyền thống đốc. Mặc dù có mấy vị tướng lãnh tử nạn nhưng quân đội đã chính thức cải chính tin sẽ có những biện pháp đặc biệt vì tình trạng khẩn cấp, hay hoãn thi hành hiến pháp lấy lý do an ninh bị đe dọa. Năm 1922, một thủ tướng Ba Lan, ông Gabriel Narutowicz cũng chết vì một tai nạn máy bay khó hiểu, sau đó quốc gia đã rơi vào hỗn loạn với các cuộc đảo chính, và đưa tới một chế độ quân phiệt.

Cái chết của gần 100 nhân vật ưu tú nước Ba Lan khiến người ta phải nhớ tới cuộc tàn sát 22,000 sĩ quan quân đội Ba Lan tự do ở Katyn vào năm 1940 do lãnh tụ Cộng Sản Stalin chủ mưu. Lực lượng sĩ quan này quy tụ những thành phần trí thức giường cột của nước Ba Lan lúc đó, với hàng chục ngàn nhà trí thức, giáo sư, luật sư, kỹ sư, bác sĩ, vân vân, đã bị động viên trước đó. Stalin đã tiêu diệt những người con ưu tú của nước Ba Lan để mở đường cho đảng Cộng Sản Ba Lan cướp chính quyền sau này và biến quốc gia thành một chư hầu của Nga. Tai nạn tuần qua cũng làm mất của Ba Lan những đứa con ưu tú nhưng đã khiến cả nước đoàn kết với nhau trong tang tóc. Nhiều người Ba Lan tỏ ý nghi ngờ tai nạn này có vẻ một âm mưu ám sát do mật vụ Nga thi hành; nhưng nói chung cả quốc gia đã cư xử một cách đứng đắn, báo chí không ai đổ tội cho chính quyền Nga.

Ðiều gì đã giúp nước Ba Lan tạo được một hình ảnh ổn định và trưởng thành đáng kính như vậy? Ðó chính là do các vận động chính trị và kinh tế của 38 triệu người dân trong 20 năm qua đã tạo nên những nền tảng vững chắc. Các định chế quốc gia đóng đúng vai trò của mình. Các nhà chính trị tôn trọng “luật chơi dân chủ” và những người dân biết bầy tỏ ý kiến qua lá phiếu tự do. Chủ trương kinh tế thị trường không còn dính đến kinh tế cộng sản cũ đã giúp dân giàu nước mạnh thật sự. Ba Lan là một tấm gương cho thấy khi người dân một nước đã quyết tâm từ bỏ chủ nghĩa cộng sản thì họ xây dựng được một quốc gia vững mạnh về kinh tế và chính trị.

Năm 1989, khi một người thuộc Công Ðoàn Ðoàn Kết đứng ra lập chính phủ đầu tiên không cộng sản vào Tháng Tám, đảng Cộng Sản Việt Nam đã tổ chức biểu tình trước tòa đại sứ Ba Lan ở Hà Nội để hô khẩu hiệu ủng hộ đảng Cộng Sản Ba Lan, chống lại vụ “cướp chính quyền” của “lực lượng thù nghịch” tay sai tư bản! Lúc đó, nhân viên tòa đại sứ đã ra yêu cầu nhóm người biểu tình giải tán, giải thích rằng việc chuyển giao quyền hành này là nguyện vọng của nhân dân Ba Lan chứ không có “thế lực thù nghịch” nào tạo ra cả. Tháng Mười Hai năm đó, Quốc Hội Ba Lan cởi trói cho nền kinh tế khỏi chế độ tập thể quốc doanh; xóa bỏ dấu tích cộng sản trong quốc hiệu, đổi tên nước thành Cộng Hòa Ba Lan. Tháng Giêng năm sau, đảng Cộng Sản Ba Lan đã tự ý giải tán, đổi tên thành một đảng Dân Chủ Xã Hội. Sau đó họ còn hóa thân vài lần nữa biến thành một Liên Minh Tả Phái (SLD). Ðảng SLD đã hai lần được các cử tri tín nhiệm đưa lên cầm quyền trong những năm 1993 và 2001, nhưng rồi lại bị người dân bỏ phiếu gạt ra khỏi chính quyền vào những năm 1997 và 2005.

Nhìn vào kết quả các cuộc bầu cử trên (hai lần nghiêng sang tả, hai lần ngả sang hữu) người ta có thể thấy các cử tri Ba Lan rất dễ thay đổi. Có người sẽ “lo lắng” là nền chính trị xứ này “không ổn định” theo lối cộng sản cũ. Nhưng trái lại, chính trị Ba Lan rất ổn định, nhờ người dân đã trưởng thành trong lối sống tự do. Chính vì người dân được tự do chọn lựa người cầm quyền, và sử dụng quyền tự do đó một cách thẳng thắn, không kiêng dè, họ thay đổi chính quyền một các dễ dàng, cho nên chính trị trở thành ổn định. Nhân dân Ba Lan có thể tự mình thí nghiệm với các chương trình trị quốc khác nhau, với các nhóm chính khách thuộc các đảng khác nhau. Năm 2005, đảng Luật Pháp và Công Lý (PiS) với chủ trương khuynh hữu và bài Nga của anh em cố Tổng Thống Kaczinsky thắng thế, vì dân chúng đã chán chính phủ cánh tả SLD tham nhũng. Nhưng hai năm sau đảng PiS lại thua trong cuộc bầu cử Quốc Hội, vì họ thất bại về kinh tế, đảng Diễn Ðàn Công Dân (PO) lên lập chính phủ mới. Nhiệm kỳ của Tổng Thống Kaxzinsky vẫn kéo dài cho hết năm nay, cho nên trong hai năm qua giữa ông tổng thống PiS và Thủ Tướng Donald Tusk thuộc đảng PO luôn luôn xung đột! Ðây lại là một tình trạng bình thường trong một chế độ dân chủ tự do, mọi người đều tôn trọng hiến pháp và luật pháp. Chính sách kinh tế cởi mở và chủ trương ngoại giao hòa hoãn với lân bang của đương kim Thủ Tướng Tusk thành công, cho nên đảng này hy vọng sẽ đưa được người lên thay thế cố Tổng Thống Kaczinsky trong cuộc bầu cử sắp tới, người đó chính là vị quốc trưởng xử lý thường vụ hiện nay.

Kinh nghiệm Ba Lan cho thấy khi người dân một quốc gia quyết tâm từ bỏ cộng sản độc tài để xây dựng dân chủ, người ta đã thành công. Chính nhờ can đảm dứt khoát bỏ chủ nghĩa cộng sản và chế độ chuyên chế do Stalin lập ra mà các lãnh tụ đảng Cộng Sản Ba Lan năm 1989 đã mở đường cho quốc gia họ bước vào một thời kỳ mới. Năm 1988 khi đảng Cộng Sản đưa kinh tế Ba Lan vào bế tắc, các công nhân Ba Lan theo Công Ðoàn Ðoàn Kết tổ chức đình công và biểu tình suốt từ Tháng Tư, đảng Cộng Sản Ba Lan đã cải tổ luật bầu cử thay vì tham quyền cố vị đến cùng. Họ tự tước bỏ độc quyền của đảng cộng sản, cho dân chúng được tự do bầu Thượng Viện và một phần ba Hạ Viện (Sejm). Chính Quốc Hội mới đó đã đưa Tướng Wojciech Jaruzelski lên làm chủ tịch nước vào Tháng Bảy năm 1989. Một tháng sau, ông đã mời một nhà báo, trong nhóm lãnh đạo Công Ðoàn Ðoàn Kết ra lập chính phủ mới. Ðến nay, ông Jaruzelski vẫn còn được nhiều người dân Ba Lan kính trọng, chứ không bị xử tử hình và bị nguyền rủa như lãnh tụ cộng sản ở Rumani.

Bên cạnh một nền chính trị tương đối ổn định, điều đáng ca ngợi ở Ba Lan là nền kinh tế sinh động. Trong lịch sử nước Ba Lan, người dân chưa bao giờ giàu như hiện nay. Sau 40 năm dưới chế độ cộng sản, kinh tế Ba Lan đã đi tới kiệt quệ, từ 20 năm qua các chính quyền đã thay đổi, thí nghiệm nhiều chính sách khác nhau nhưng đều hướng về thị trường hóa tối đa. Mặc dù có những khúc quanh, nhưng sau cùng người ta vẫn tìm ra con đường tốt nhất. Ông Bộ Trưởng Tài Chánh Jacek Rostowski cho biết trong năm 2009, lợi tức theo đầu người của người Ba Lan đã tiến nhanh vượt bực, từ tình trạng bằng một nửa (50%) tiến lên bằng 56% lợi tức bình quân của Liên Hiệp Âu Châu. Ba Lan hiện là nền kinh tế đứng hàng thứ sáu ở Âu Châu. Ðầu năm nay, trong lúc chính phủ Hy Lạp đang lo phá sản và không đi vay nợ được phải nhờ Âu Châu cứu trợ, thì chính phủ Ba Lan vì được tín nhiệm đã vay được ba tỷ Euro, hơn 4 tỷ đô la Mỹ, với lãi suất thấp.

Nhờ vay nợ dễ dàng, Ba Lan đang cải thiện hệ thống đường xa lộ và hỏa xa, thay thế những di sản hạ tầng cơ sở mục nát thời cộng sản để lại, chuẩn bị cùng Ukraine tổ chức Giải Túc Cầu Âu Châu vào năm 2012. Trong các năm qua, Ba Lan đã bước những bước dài cải tổ hệ thống hành chánh, vì các chính quyền dân chủ không sợ dân mà tin tưởng dân, kính trọng dân. Sau khi chế độ hộ khẩu được bãi bỏ, chính sách gia cư thay đổi đã giúp các công nhân di chuyển, đổi chỗ ở và nơi làm việc trong nước một cách dễ dàng hơn. Chính phủ đã giản dị hóa thủ tục, các công dân có quyền làm bản tự khai các giấy tờ của mình (oswiadczenia) thay vì phải đi xin chưởng khế (giống như công an phường) thị thực công chứng (zaswiadczenia). Nhờ lối làm việc mới đó mà đời sống kinh tế của người dân bình thường được khai thông nhanh chóng hơn. Ông Bộ Trưởng Rostowski nói, “Chúng tôi cứ giả thiết là người dân nói sự thật, cho đến khi nào có bằng chứng là họ nói dối. Trong quá khứ, chế độ cộng sản nghĩ theo lối ngược lại.”

Nếu nước Việt Nam thay đổi chế độ, từ bỏ chủ nghĩa cộng sản như dân Ba Lan đã làm, thì trong vòng mười năm đến 20 năm, chúng ta cũng sẽ tiến không kém gì nước Ba Lan. Bởi vì không có lý gì mà người dân Việt Nam lại thua kém dân Ba Lan.
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Nhờ đâu bà Tisdale có thể làm việc thiện?

Ngô Nhân Dụng
Chúng ta mới có dịp gặp gỡ, trên tờ báo này, những nhân vật đã bị quên lãng trong 35 năm qua, kể từ sau biến cố năm 1975, như em Vũ Tiến Kính và bà Betty Tisdale. Nhiều độc giả Người Việt đã bày tỏ nỗi xúc động sau khi đọc câu chuyện em Kính đi tìm nguồn cội Việt Nam của mình. Nhờ duyên lành được một bác sĩ của trường UCLA chăm sóc em khi mới đến Mỹ, em bé mồ côi Vũ Tiến Kính đã được phóng viên Người Việt đưa về Little Sài Gòn hòa nhập trong cộng đồng người Việt. Vào cuối Tháng Tư này, em sẽ trở lại đây hội ngộ với đồng bào, bao nhiêu cánh tay đang chờ ôm lấy đứa con bị thất lạc suốt 35 năm, đang tìm về cùng cô dì, chú bác, anh chị em.

Ðầu tuần này, cũng trên mặt báo Người Việt, chúng ta lại được nghe Hà Giang kể câu chuyện bà Tisdale, người đã vận động mang được 2 trăm trẻ em mồ côi Việt Nam sang Mỹ vào những ngày cuối Tháng Tư năm đó, mà em Kính là một trong số trẻ may mắn này. Cùng lúc đó, ở Sài Gòn, báo Tuổi Trẻ đã kể câu chuyện cô Trista Goldberg, một trẻ mồ côi được bốc khỏi Sài Gòn vào cuối Tháng Tư 1975, lúc cô mới lên 4 tuổi. Cô Trista đã tìm lại được cha mẹ nuôi cũ hồi cô ở Việt Nam, rồi tìm được cả cha mẹ ruột và anh chị em, sau khi cả hai gia đình đã sang Mỹ sống. Cô Trista dùng mạng lưới Internet liên lạc với trên 50 trẻ em mồ côi khác, cũng ra đi trong những chuyến không vận năm 1975. Cô đã lập một tổ chức giúp họ tìm cha mẹ, thân nhân. Tổ chức tên là Operation Reunite, Chiến dịch Tái Ngộ, dùng Facebook để nói chuyện với nhau, trao đổi tin tức. Dù có người giúp hay không, những đứa trẻ bị quên lãng trong suốt 35 năm qua vẫn muốn về tận nguồn gốc, tìm hiểu tổ tiên và nhận họ hàng.

Cuối Tháng Tư này, quý vị trong vùng Little Saigon sẽ có cơ hội gặp bà Betty Tisdale, một người xả thân vì việc nghĩa, mà sau khi đọc bài báo của Hà Giang nhiều độc giả đã gọi bà là một vị tiểu bồ tát. Nhưng trong cùng bài báo trên, Hà Giang cho biết chính bà Betty Tisdale đã gọi bà Vũ Thị Ngãi, và Bác Sĩ Tom Dooley là những vị “thánh.” Bà Ngãi là người trông nom cô nhi viện An Lạc ở Sài Gòn trước 30 Tháng Tư, năm 1975, sau khi đã đưa 80 em trẻ mồ côi từ Bắc di cư vào Nam năm 1954. Betty Tisdale đã đọc sách của Bác Sĩ Thomas Dooley nên biết đến bà Ngãi và công cuộc nuôi cô nhi của bà tại Việt Nam. Bác sĩ là người đã khuyên bà Tisdale hãy đi Việt Nam, hãy tới thăm Cô nhi viện An Lạc. Những lời ông khuyên, trên giường bệnh, trước khi ông qua đời vì ung thư khi mới 34 tuổi, đã thay đổi cuộc đời của người phụ nữ này. Bà Tisdale đã gặp các cô nhi, hàng ngàn “đứa con” của bà Vũ Thị Ngãi, từ năm 1961 đến năm 1975. Bà đã dùng cuộc đời sau đó của mình để đi tìm các nguồn tài trợ giúp nuôi các trẻ em mồ côi này, mặc dù bà vẫn sống và làm việc như mọi phụ nữ Mỹ bình thường khác. Và Tháng Tư năm 1975 bà Tisdale đã vận động để đưa được 219 trẻ em mồ côi qua tới Los Angeles, rồi dần dần trao các em cho các gia đình cha mẹ nuôi. Ðã 35 năm qua, năm nay là lần đầu tiên bà Betty Tisdale, nay 87 tuổi, sẽ chính thức “tái ngộ” với cộng đồng người Việt Nam, ở California. Ðể người Việt Nam bày tỏ lòng biết ơn với một con người có tấm lòng từ bi vô lượng và một ý chí phi thường khi muốn làm việc nghĩa.

Trên thế giới không thiếu gì những người giầu lòng từ bi. Cũng trong số báo Người Việt đầu tuần này, quý vị đã đọc chuyện một gia đình người Việt ở Mỹ hàng năm vẫn về làm việc thiện tại một ngôi chùa ở Huế. Phóng viên Trần Tiến Dũng đã chứng kiến cảnh hàng trăm người kém mắt được Ni Sư Minh Tú mời về chùa nhận những món quà do lòng từ thiện của người Việt giúp đỡ người Việt. Có những cụ già 90 tuổi, hoàn toàn mù lòa, tai không còn nghe được nữa; có cả những em mù từ tấm bé, được mẹ ôm tới chùa. Mỗi lần trên báo này kể một câu chuyện thương tâm ở trong nước, rất nhiều độc giả đã viết thư xin địa chỉ các nạn nhân để trực tiếp giúp.

Trong xã hội người Việt, ở ngoại quốc cũng như ở trong nước, có bao nhiêu người muốn làm việc thiện, và rất nhiều người có thể sẵn sàng xả thân vì đạo nghĩa. Một điều khác biệt, là ở những nơi con người được sống tự do thì người ta có thể làm việc thiện hiệu quả hơn. Bởi vì một người làm việc thiện một mình đã là rất tốt, nhưng nếu 10 người, 100 người cùng góp sức, cùng tổ chức chung để làm việc thiện thì kết quả không phải chỉ nhân lên 10 lần hay tăng lên gấp 100 lần, mà có thể tăng lên hàng vạn, hàng triệu lần sức của một cá nhân.

Ðọc câu chuyện về bà Betty Tisdale, chúng ta thấy công việc bà làm đã sử dụng tới nhiều tổ chức trong xã hội công dân ở Việt Nam cũng như ở Mỹ. Bà Tisdale không thể thực hiện được ý nguyện độ sinh của mình dễ dàng, nếu không có bà Vũ Thị Ngãi và những người khác, đã tổ chức ra cô nhi viện An Lạc ở Việt Nam. Chính các tổ chức tư nhân, trong đó có nhiều tôn giáo tham dự, đã lo hàn gắn các “vết thương xã hội” trong thời chiến tranh ở miền Nam. Chính quyền không đủ sức lo tất cả, các công dân tự động đứng ra làm các việc đó. Ðó là ý nghĩa của sự thành hình xã hội công dân. Trong chế độ Việt Nam Cộng Hòa, mọi người dân cũng được tự do làm việc từ thiện, tổ chức các hội thiện nguyện, mà không bị các cán bộ trong một “Mặt trận Tổ quốc” nào theo dõi, kiểm soát tư tưởng chính trị!

Ở nước Mỹ, xã hội công dân còn mạnh hơn nữa. Khi cần giúp các em cô nhi ở Sài Gòn, bà Tisdale trở về Mỹ vận động các hội thiện, các nhà thờ, bệnh viện, để xin thuốc men, tiền bạc, thực phẩm. Các tổ chức tư nhân, tự nguyện này, tạo thành một xã hội công dân Mỹ, hoàn toàn độc lập với chính quyền Mỹ. Ðây là một truyền thống trong xã hội Mỹ từ thời lập quốc, mà các nhà quan sát nước ngoài như Alexis de Tocqueville đã khen ngợi. Xã hội công dân năng động chính là một nền tảng giúp cho chế độ tự do dân chủ ở nước Mỹ được bền chặt, không qua những cảnh thăng trầm như ở Âu Châu.

Bà Tisdale không bao giờ quên một câu Bác Sĩ Tom Dooley khuyên bà, khi ông nằm chờ chết trên giường bệnh, “Ðừng bao giờ quên rằng một người bình thường cũng có thể làm được những việc phi thường.”

Trên thế giới, và trong nước Việt Nam của chúng ta, có biết bao nhiêu người bình thường với tấm lòng từ bi. Họ có thể làm được những việc phi thường, như bà Tisdale, nếu có hoàn cảnh thuận tiện. Chúng ta có thể tạo ra được những hoàn cảnh thuận lợi, bằng cách xây dựng một xã hội trong đó mọi công dân đều được tự do hội họp lại để cùng làm việc công ích, mà không cần phải xin giấy phép, không bị điều tra lý lịch chính trị - chắc chắn không bị điều tra từ ông bà tổ tiên ba đời trước! Mẹ Teresa đáng được phong thánh, dù bà theo bất cứ tôn giáo nào. Nhưng nếu bà Agnès Gonxhe Bojaxhiu sống ở trong một nước thiếu tự do, như tại quê hương bà ở Albanie, thì bà không thể thực hiện được những công trình lớn lao như bà đã làm được tại Ấn Ðộ. May mắn, quê hương thứ hai của bà là một nước tự do dân chủ, cho nên bà mới được tự do dựng trường học, lập nhà thương, khuyến khích mọi người tự động đứng ra tổ chức làm công việc thiện nguyện chung với nhau, mà không bị một chính quyền độc tài nghi ngờ rồi ngăn cản. Năm 1950, Mẹ Teresa lập Hội Truyền Giáo Bác Ái. Năm 1952, bà thành lập Nhà của Những Người Ðang Chết. Nếu Mẹ Teresa không đến Ấn Ðộ mà lại tới Trung Hoa để làm việc thiện, thì chắc chắn sau năm 1949 bà sẽ phải bó tay. Vì Mao Trạch Ðông cũng như Stalin không bao giờ cho phép xã hội công dân được phát triển độc lập ngoài tầm kiểm soát của đảng cộng sản.

Các chế độ độc tài thường ngăn cấm người dân không cho tự do lập hội. Họ có thể cho phép những người bất mãn ngồi quán chửi chế độ mà không ai bị bắt. Nhưng nếu có 3 người, 5 người muốn họp nhau lại làm một việc gì chung, mà chính quyền thấy không kiểm soát được về mặt chính trị là họ sẽ cấm ngay. Trong các chế độ độc tài người ta đặt ra đủ các thứ “giấy phép” để ngăn cấm những hoạt động mà họ nghi ngờ. Mà các chế độ độc tài thì nghi ngờ tất cả mọi người dân. Trong bài trước, mục này đã kể tại Ba Lan chính quyền chấp nhận những lời khai của công dân mà không cần phải thị thực chữ ký, một cách giản dị hóa thủ tục hành chánh đỡ làm mất thời giờ của dân. Ông bộ trưởng Tài Chánh Ba Lan giải thích: Nguyên tắc là hãy tin dân đã; bao giờ có bằng cớ họ nói dối thì sẽ dùng luật pháp trừng phạt. Ở các chế độ độc tài thì ngược lại, chính quyền bao giờ cũng nghi ngờ dân trước đã. Xã hội công dân không phát triển được vì không có quyền tự do hội họp và lập hội. Một cách ngăn cản các quyền tự do của dân là thiết lập những hàng rào giấy phép! Trên mặt kinh tế, hậu quả của chính sách độc tài vẫn còn tác hại. Trong một bài phỏng vấn gần đây trên báo Tiền Phong, Tiến Sĩ Lê Ðăng Doanh nhận xét về nạn giấy phép sinh sôi, “Luật Doanh nghiệp khi ra đời đã xóa bỏ được 180 giấy phép con, chuyển đổi 286 giấy phép khác. Nhưng đến nay, giấy phép đã mọc thêm hơn 400 cái. Những giấy phép này được quy định trong luật, trong nghị định.”

Nhiều vị độc giả Người Việt ở trong nước chắc cũng rất cảm động đọc những câu chuyện các em Vũ Tiến Kính, Trista Goldberg, chuyện bà Tisdale. Năm 1975, bà Tisdale chắc khó lòng tìm được nơi an trú cho 219 trẻ em mồ côi người Việt, nếu không nhờ một tổ chức thiện nguyện là Tressler Lutheran ở tiểu bang Pennsylvania đứng ra giúp các thủ tục giấy tờ tìm cha mẹ nuôi. Ðó là một tổ chức độc lập với chính quyền nước Mỹ, một trong hàng trăm ngàn, hàng triệu tổ chức tư nhân ở Mỹ, giường cột của xã hội Mỹ. Cô Trista cũng không thể thành lập một tổ chức như Operation Reunite quy tục các trẻ em mồ côi 1975, nếu cô không sống trong một nước với xã hội công dân năng động như ở nước Mỹ. Nếu sống ở một nơi mà Facebook bị cấm, Internet bị kiểm duyệt, thì cô làm sao gặp gỡ được 50 người cùng cảnh ngộ? Chính nhờ có tự do, cho phép xã hội công dân phát triển, mà “những người bình thường cũng có thể làm được những việc phi thường.”
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

GIÁO HỘI PHÁ SẢN?

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất


Cách đây mấy bữa, ông lang tây NTC gởi riêng cho người viết một bài bình luận có tiêu đề là “Phá Sản”. Sau đó, người viết lại đọc được trên vài ba website bài “Giáo Hội phá sản”, nội dung không có gì khác. Người viết hiểu rằng đây là một sự việc quan trọng mà ông thầy lang, một tín hữu luôn quan tâm đến các vấn đề của Giáo Hội, muốn lưu ý đặc biệt người viết. Chúng tôi căn cứ vào nội dung bài bình luận, và mượn luôn cái tiêu đề “Giáo Hội Phá Sản” với dấu hỏi (?) kèm theo, tức là câu hỏi Giáo Hội có phá sản không, để làm đề tài cho bài viết này.

Quo Vadis Juse?

Vào thời Giáo Hội sơ khai, trong lúc Nero, hoàng đế La Mã, cấm đạo hết sức gắt gao, tín hữu tại Roma bị giết như ngả rạ, Thánh Phêrô lại bỏ thành để đi lánh nạn nơi khác. Trên đường đi tỵ nạn, Phêrô bất chợt thấy Chúa cũng đang đi tới. Nhận ra Chúa, Phêrô hỏi Ngài: Quo vadis Domine (Lord, where are you going = Thưa Chúa, Ngài đi đâu). Chúa đáp: Khi con bỏ dân ta mà đi thì ta phải trở lại Roma để chịu đóng đinh một lần nữa. Phêrô hiểu ý Chúa, ông trở lại thành, rồi bị bắt, bị đóng đinh ngược, và chết vì đạo

Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt đi Roma chữa bệnh mới một tháng, bất thình lình ngài trở về Hànội làm ngạc nhiên rất nhiều người. Người viết tưởng tượng có lẽ Đức TGM đã gặp Chúa ở Roma, và Chúa đã hỏi ngài: Giuse, con đi đâu? (Quo vadis Juse). Đức TGM hiểu ý Chúa, nên ngài mới vội vã trở về nhanh như thế. Ý Chúa như thế nào thì bài bình luận nói trên cho biết là: Chúa Thánh Thần ra tay . Sau đây, chúng tôi xin tóm lược việc Chúa Thánh Thần ra tay như thế nào.

Nhà nước VGCS nhất định đẩy Đức TGM Ngô Quang Kiệt ra khỏi Hànội là chuyện rõ như ban ngày, khỏi cần phải tranh cãi. Vấn đề chỉ còn là đẩy bằng cách nào. Đẩy bằng cách dùng quyền lực cưỡng bức thì mất mặt bầu cua lắm. Nếu làm được thì chúng đã làm rồi. Bằng cách nào khác thì đây là cơ hội đã đến. Vào đầu tháng 4-2010, Hội Đồng Giám Mục (HĐGM) VN họp thường niên tại Vũng Tầu để bàn về các vấn đề mục vụ của Giáo Hội. Nghị trình là thư thế, nhưng có một vấn đề còn quan trọng hơn nghị trình là bàn về vấn đề sắp xếp nhân sự trong cơ chế lãnh đạo, để ai lên thay thế Đức TGM Ngô Quang Kiệt tại Hànội, và chuẩn bị người kế vị HY Phạm Minh Mẫn tại Saigon, vì ông cũng sắp sửa về hưu đến nơi rồi. Vấn đề đặt để một giám mục, hồng y trên thượng tầng lãnh đạo trong GH hoàn toàn thuộc thẩm quyền của Đức Giáo Hoàng, và là chuyện mật để tránh việc mua quan bán tước. Chỉ có tại các nước CS, bọn giám mục hồng y quốc doanh mới tự quyền truyền chức và đặt để các giám mục mà thôi. HĐGMVN nay muốn tự ý đặt người thay thế Đức TGM Ngô Quang Kiệt, và chuẩn bị nhân vật kế vị HY Phạm Minh Mẫn là chuyện bất thường, nếu không muốn nói là tiếm quyền.

Bài bình luận cho biết cuộc họp của HĐGM có những màn mặc cả gay gắt và phức tạp. Sự thể cho thấy, HĐGM đã chia rẽ, ít nhất là có hai phe. Sự chia rẽ này phát sinh từ xu hướng chính trị của các giám mục chủ trương đối thoại và thỏa hiệp với VGCS. Cái mồi VGCS thẩy ra để câu các giám mục phe đối thoại, thứ nhất là hứa hẹn các chức vụ và ngôi vị béo bở, và thứ hai là thiết lập bang giao với Tòa Thánh và mời Đức Giáo Hoàng sang thăm VN. Âm mưu đã được sắp sẵn từ trước. Cả VGCS lẫn phe giám mục đối thoại tưởng chắc ăn, nên bọn đầu sỏ Hànội đã chuẩn bị chu đáo cả trong lẫn ngoài. Đối với Tòa Thánh, bài bình luận cho biết: “Tưởng rằng con mồi đã cắn câu, nhà cầm quyền VN bằng con đường bí mật thông báo với Vatican rằng: "Mọi vấn đề đón tiếp Giáo Hoàng không có gì khó khăn với VN, chỉ còn một sự "tắc nghẽn nhỏ" là quan hệ giữa Tòa TGMHN do TGM Ngô Quang Kiệt dẫn đầu và chính quyền Hà Nội. Nếu vấn đề này khai thông được thì Giáo Hoàng có thể đến thăm Việt Nam và được dành cho sự đón tiếp trọng thị". Còn đối với dư luận trong nước, VGCS cũng đã chỉ thị cho báo chí của chúng như sau: “Vì vậy, trong cuộc họp giao ban báo chí sáng thứ 3 hàng tuần vào sáng 6/4/2010 (khi hội nghị bắt đầu khai mạc), Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương đã chỉ thị cho báo chí "sắp tới khi ông TGMHN Ngô Quang Kiệt thôi chức, báo chí không được đưa tin mà cứ coi đó là việc nội bộ riêng của công giáo.”

Không ai ngờ, đến lúc này thì Chúa Thánh Thần ra tay. Sáng ngày 9-4-2010, Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt bất ngờ trở về Hanội trước sự ngỡ ngàng của tất cả mọi người, dĩ nhiên là của cả bọn lãnh đạo Hànội và các ông giám mục quốc doanh phe chủ trương đối thoại. Sự trở về bất ngờ của Đức TGM tức khắc làm thất bại cái âm mưu đáng ghê tởm kia. Bài bình luận viết: “Sau khi Đức TGM Giuse về Hà Nội, HĐGMVN đang dự tính cuộc họp bàn về nhân sự sáng 9/4/2010 đã nhận được thông tin và cuộc họp đã không được tiến hành như dự định và việc mời Đức Giáo Hoàng sang thăm Việt Nam cũng đã không được nhắc đến dù HĐGMVN đã có lời mời chính thức.”

Giáo Hội Phá Sản?

Như trên chúng tôi đã trình bầy, tiêu đề của bài bình luận tôi nhận được từ một người bạn vỏn vẹn chỉ có hai chữ “Phá Sản”. Lên đến các trang web nó biến thành “Giáo Hội Phá Sản”. Nhưng khi truy tìm đến tận ngọn nguồn của bài bình luận thì mới thấy cái tiêu đề thực sự là: Phá Sản Một Âm Mưu “Tự Diễn Biến” của CSVN Đối Với Giáo Hội Việt Nam . Từ chỗ một cái âm mưu của VGCS bị phá sản đến chỗ GHVN bị phá sản là một khoảng cách vạn lý. Rút gọn tiêu đề, nhưng gọn quá mức nên trở thành tai hại. Rõ ràng là sai một ly đi một dặm. Âm mưu đó thế nào thì chúng tôi đã trình bầy ở trên. Từ chuyện dễ ra gây ngộ nhận đó, chúng tôi xin được góp một vài ý kiến thô thiển để làm sáng tỏ vấn đề GHCGVN có bị Phá Sản hay không.

1. Khả Tín hay Bất Khả Tín - Đặt ra vấn đề những tin tức phổ biến trong bài bình luận Phá Sản có đáng tin không là việc phải làm trước, bởi vì nếu đó là những tin tức thất thiệt thì ngay bài viết của chúng tôi đây cũng trở thành ba láp, vô giá trị.


Những ai đọc bài Giáo Hội Phá Sản đều thấy ở cuối bài viết, tác giả ký tên là “Nữ Vương Công Lý.” Chúng tôi dám chắc đây là một cái tên lạ hoắc đối với đa số độc giả trên internet, là một nick name thì đúng hơn. Người không công giáo gặp cái tên này thì cầm chắc sẽ cho rằng đó là một cái tên ma, và cho rằng bài bình luận sẽ không có giá trị. Thực ra, Nữ Vương Công Lý là tên của một Website hình như mới xuất hiện trong cõi “hư vô”. Mặc dù là của ai, có ý xấu muốn đánh phá GHCGVN như có người đặt nghi vấn hay không, nhưng những sự việc được nói đến trong bài bình luận của Nữ Vương Công Lý đều phù hợp với thực tế xẩy ra lâu nay. Tìm vào cái website này, bạn đọc là người công giáo lương thiện, sẽ hiểu khác, và lý giải theo cách khác. Trong GHCGVN, danh hiệu Nữ Vương ( Regina ) chỉ dùng để chỉ Đức Mẹ Maria. Thường đi sau danh hiệu Nữ Vương còn có một từ ngữ nữa như Hòa Bình (Pacis, genitive of Pax) chẳng hạn, nên thành ra là Nữ Vương Hòa Bình (Regina Pacis) v.v. Trong tiếng Anh, người ta không dùng danh hiệu Nữ Vương (Queen) để gọi Đức Maria mà chỉ dùng chữ Lady (Nữ Vương Hòa Bình = Regina Pacis = Lady of Peace). Như vậy khi người công giáo đọc bài nhận định mà thấy tác giả ký tên là Nữ Vương Công Lý thì sẽ hiểu đây là một bài viết hoàn toàn nghiêm chỉnh, vì không có người công giáo nào dám dùng tước hiệu của Đức Maria để viết chuyện xằng bậy, làm điều dối trá. Bài nhận định phải được viết do một người, hay một nhóm người công giáo chân chính, có lòng đạo sâu sắc, có lương tri, và có một mục đích chính đáng.

2. Chữ Phá Sản - Người viết không biết luật, nhưng hiểu sơ rằng phá sản (bankrupt) là một từ ngữ trong luật học. Bankruptcy, sự phá sản, là một phán quyết của tòa án buộc một cá nhân hay một pháp nhân không còn khả năng trả nợ, phải phát mãi tài sản của mình để trả số tiền còn thiếu cho các chủ nợ. Như vậy thì trong luật pháp, phá sản trước hết phải là một quyết định của tòa án. Và thứ hai, phá sản chỉ là biện pháp áp dụng trong lãnh vực tài sản là những của cải vật chất. Có lẽ chưa có luật pháp nước nào qui định thế nào là phá sản tinh thần. Thế nhưng trong bài bình luận trên website Nữ Vương Công Lý, chúng ta thấy toàn đề cập đến những vấn đề phi vật chất. Lại chẳng cần đến ông quan tòa nào ra lệnh cả. Có lẽ lạc quẻ một tí nhưng cũng không sao. Tuy nhiên theo chúng tôi, Nữ Vương Công Lý dùng từ Phá Sản ở đây có lẽ không được chỉnh lắm. Nói: làm phá sản một âm mưu có lẽ không được chỉnh bằng nói: làm thất bại hay phá hỏng một âm mưu. Nhưng làm phá sản một chính sách có vẻ hợp lý hơn là làm thất bại một chính sách.

3. Giáo Hội Phá Sản - Việc đọc bài vội vã, việc quá hấp tấp rút gọn tiêu đề đã đưa đến vấn đề GHCGVN bị phá sản. GHCGVN bị phá sản là chuyện quan trọng thật đấy chứ không chơi. GHCGVN bị khánh kiệt không còn khả năng trả các món nợ tiền bạc nữa thì còn đỡ, vì hy vọng còn có thuốc chữa. Nhưng nếu GH phá sản về các mặt phi vật chất thì quả thật là thầy chạy rồi. Câu hỏi đặt ra là GHCGVN có bị phá sản theo nghĩa thứ hai không? Phá sản toàn diện, hay chỉ phá sản một số mặt trong đời sống?

Đi sâu vào các sinh hoạt của GH hiện nay, chúng tôi dám khẳng định rằng GHCGVN không hề bị phá sản, nhưng, ở tầng lớp lãnh đạo, từ trung ương đến địa phưong, đang có sự phân hóa trầm trọng, lối sống tha hóa, cá nhân vong thân, đưa đến tình trạng mất phương hướng. Tính ham mê tiền bạc và lỏng lẻo kỷ luật của nhiều ông linh mục trở thành cái tẩy cho bọn cán bộ CS địa phương nắm để sai khiến là chuyện nhan nhản khắp nơi. Nhưng chuyện lớn ở tầng lớp lãnh đạo cao mới là đáng nói. Việc chia bè kéo cánh để chia chác chức quyền trong HĐGM mà bài bình luận trên Website Nữ Vương Công Lý đề cấp đến là chuyện đáng xấu hổ. Người giáo dân thực sự không tưởng tượng nổi. Xưa nay họ cứ tưởng những tông đồ của Chúa toàn là những tâm hồn khiêm nhu, bé nhỏ, không bao giờ màng danh lợi. Nhưng sự thể cho thấy mấy ông có khác gì bọn chính khách xôi thịt trong các phòng khách lịch sự và sang trọng. Khi hành xử những công việc thế tục, nhiều ông hồng y, giám mục đã quên đi mình cũng là công dân, có quyền và có bổn phận của người công dân, nhưng lại không có được lòng tự trọng và đức tính can đảm của những người dân oan trên khắp nẻo đường đất nước hiện nay. Các ông đại diện GH để thi hành sứ mệnh của Thiên Chúa, nhưng lại dùng cái mặt nạ “đối thoại” để che dấu thái độ khiếp nhược, lòn cúi lũ cầm quyền bán nước VGCS như những thứ dân cái bang ngoài chợ búa. Hồng y gì mà trong đại lễ kính Lòng Thương Xót Chúa lại ngang nhiên khiêu khích và thách thức một cách cao ngạo sự vâng phục của những con chiên có tâm hồm đạo đức và lòng yêu nuớc hăng say. Kết quả là, lối sống và cung cách hành xử trách nhiệm đối với xã hội của các ông đang có nguy cơ tạo ra những Luther mới trong lòng Giáo Hội VN, biến Đạo Cứu Độ thành tôn giáo chuyên trị cúng bái, làm chậu kiểng cho một thứ quyền bính bất nhân và tàn bạo.

Tình trạng có vẻ thê thảm thật, nhưng không vì thế mà kết luận GHCGVN đã phá sản. Có thể nói, tuyệt đại đa số giáo dân VN, trong cũng như ngoài nước, vẫn luôn luôn là những con chiên trung kiên, vừa ngoan đạo, vừa sắt son yêu Tổ Quốc. Chỉ trên thượng tầng lãnh đạo, một phần nhỏ vong thân và vong bản bán thân cho Việt gian thôi. Đa số vẫn là những chủ chiên hiền lành và mẫu mực, việc đời cũng như việc đạo. Xưa nay, CGVN là một lực lượng luôn đứng đầu sóng ngọn gió trong công cuộc đấu tranh chống lại bạo quyền cộng sản tại VN. Nói thế xin đừng vội kết tội, người viết vốn là một tín hữu công giáo, nhưng chắc chắn không có thói quen mẹ hát con khen hay. Xin cứ lấy công tâm để mắt vào lịch sử đấu tranh chống VGCS từ 60 năm qua (1950-2010), bạn đọc sẽ nhìn thấy sự thật. Tình trạng bi thảm hiện nay đáng ngại, nhưng tuyệt đối không phải là tuyệt vọng. Nhìn vào cuộc cách mạng của Công Đoàn Đoàn Kết Balan có thể học hỏi được nhiều điều tốt. Chỉ cần có chủ chăn lớp thượng tầng lãnh đạo là ánh sáng soi đường. Đàn chiên mới là yếu tố quyết định thành bại. Lãnh đạo cấp trung gian là các linh mục chỉ nên giữ vai trò linh hướng như cố linh mục Jerjy Popueluszko của Balan. Chỉ làm tuyên úy thôi thì sẽ xứng đáng được tôn kính như bậc thánh, nhưng mưu đồ thu tóm quyền hành để trở thành một thứ Lã Bất Vi buôn vua, dùng thủ đoạn để lừa gạt và phản bội đồng chí, nhận tiền của bọn đón gió để bị chúng sai khiến, tin tưởng lũ đầu sỏ Hànội ủng hộ và đi theo mình v.v., nếu không thành quỉ thì cũng sẽ trở thành hồn ma vất vưởng, chứ không thể là thánh được.

Xin Cho Một Lời Cuối

Đang lúc viết dở bài này thì Website Nữ Vương Công Lý lại đưa lên mạng một bản tin nói rằng GM Nguyễn Văn Nhơn có thể sẽ ra Hànội làm TGM phó, và rồi sẽ thay thế Đức TGM Ngô Quang Kiệt trong một thời gian ngắn. Nghĩa là mọi việc sẽ diễn ra theo đúng đòi hỏi của VGCS là Đức TGM Ngô Quang Kiệt phải rời bỏ Hànội, nhưng theo một phương án khác. Vì thế, đáng lẽ bài viết này đã trở thành lỗi thời, nhưng xin cho được có một lời cuối: Dù tình thế có biến đổi thế nào thì cuộc đấu tranh dành lại công lý và công bình cho toàn dân cũng phải được tiến hành. Không có giải pháp nào là giải pháp “đối thoại” cả. Chúng ta phải tự tin vào mình, vào tiền đồ của dân Tộc. Nước Mỹ không làm thay cho chúng ta. Người Mỹ đã một lần phản bội chúng ta. Tòa Thánh không có quyền áp đặt đường lối chính sách vào việc giải quyết vấn đề đất nước của người VN. Cần phân biệt đạo ra đạo, và đời ra đời. Bất cứ kẻ nào vâng lệnh ngoại bang đều là tay sai của ngoại bang. Nuôi dưỡng ý tưởng đối thoại với VGCS là hoang tưởng. Lịch sử đã chứng minh nhiều lắm rồi. Đừng u mê nữa. Kẻ nào tự nguyện công nhận và tùng phục chế độ VGCS phải share chung tội làm Việt gian và tội bán nước với chúng. Bất cứ tội gì lịch sử và nhân dân VN cũng tha thứ được, trừ ra tội bán nước thì không.

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất
caubennoc
Posts: 553
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:43 pm
Contact:

Post by caubennoc »

Kiếm hàng tỷ Mỹ kim khi thị trường sụp đổ
Tuesday, April 20, 2010

Ngô Nhân Dụng

Cuối tuần qua, chính phủ Mỹ đã khởi tố Goldman Sachs, một đại công ty tài chánh ở Wall Street, New York, về tội đã “đánh lừa” nhiều người trong khi đó tạo cơ hội cho công ty đầu tư của ông John Paulson thành công. Công ty Paulson kiếm lời khoảng 15 đến 20 tỷ Mỹ kim trong cuộc đánh cá đoán trước (và đoán trúng) cơn khủng hoảng kinh tế hiện nay. Riêng ông John Paulson kiếm được 4 tỷ. Nhưng công ty này không bị truy tố vì họ không làm công việc “cố vấn” cho các nhà tư bản dại dột; việc “đánh lừa” đó lại do Goldman Sachs phụ trách với tư cách một “ngân hàng đầu tư,” tức là làm môi giới và cố vấn cho các nhà tư bản.

Công ty Paulson là một quỹ đối xung (dịch chữ hedge fund, theo lối gọi ở Hồng Kông và Ðài Loan), nhận quản lý tiền đầu tư cho các thân chủ. Năm 2006 quỹ này nhận thấy thị trường địa ốc sắp lung lay. Có quá nhiều món nợ cho vay mua nhà mà tiêu chuẩn người đi vay quá thấp (subprime), chắc chắn sẽ có ngày người vay không trả góp được nữa. Công ty Paulson nghiên cứu thấy có 123 loại trái khoán dựa trên những món nợ địa ốc tiêu chuẩn thấp, mà họ tin rằng thế nào giá trị cũng hạ xuống, khi lãi suất bắt đầu lên và nhiều người vay bị vỡ nợ. Paulson tới đề nghị Goldman Sachs tạo ra những trái phiếu (giấy nợ) mới dùng các món nợ địa ốc tiêu chuẩn thấp này làm thế chấp, tiếng chuyên môn gọi là CDO. Người mua các trái phiếu CDO này, trong đó có những ngân hàng lớn ở Âu Châu, biết các CDO đó được những món nợ địa ốc bảo đảm. Vì thế họ tin rằng sẽ có các khoản tiền đóng góp hàng tháng của người vay mua nhà, để người phát hành trái phiếu CDO có tiền trả cho mình đều đặn. Vì vậy nên Goldman Sachs đã bán được rất nhiều trái phiếu CDO cho các ngân hàng, các công ty đầu tư ở Mỹ và trên thế giới.

Lúc đó, công ty Paulson mới bắt đầu vụ đánh cá là thị trường địa ốc sẽ bị khủng hoảng với các món nợ không trả được, khi đó các giấy nợ CDO thế nào cũng có ngày xuống giá. Ðể “đánh cá,” họ đứng mua những hợp đồng với hình thức giống như các giấy bảo hiểm do chính Goldman Sachs trung gian. Theo những hợp đồng này (gọi là credit default swaps, một thứ “đê ri va ti,” derivatives) thì người đứng “bảo hiểm” (những người bán bản hợp đồng) phải bồi thường cho “thân chủ” mua hợp đồng tức là Paulson, nếu giá trị của các CDO bị giảm xuống. Giá càng xuống nhiều thì thân chủ càng được “bồi thường” nhiều hơn.

Quả nhiên, trong năm 2007 các CDO dựa trên những món nợ địa ốc tiêu chuẩn thấp bắt đầu xuống giá, tới Tháng Giêng năm 2008 thì 99% đã bị mất giá nhiều hay ít. Những người tin lời Goldman Sachs mà đi mua các CDO trên bị mất một tỷ Mỹ kim trong năm 2007, còn công ty Paulson được lời một tỷ Mỹ kim nhờ những đê ri va ti bảo hiểm!

Thứ Sáu vừa qua Cơ quan Chứng khoán Mỹ SEC đã truy tố ngân hàng Goldman Sachs tội thiếu minh bạch, vì không thông báo đầy đủ thông tin cho các người mua CDO của họ. Cũng giống như người bán thực phẩm đóng hộp phải kê khai đầy đủ các vật liệu và gia vị bên trong hộp thịt hay cá, luật pháp buộc các ngân hàng đầu tư phải trình bày đầy đủ các tin tức liên can tới những thứ chứng khoán mà mình giới thiệu cho thân chủ mua. Công ty Goldman Sachs đã chối tội trên, nói rằng họ đã thông báo đầy đủ tin tức về các CDO mà họ bán cho giới đầu tư. Khi ra tòa, luật sư của Goldman Sachs có thể chứng minh rằng công ty làm đúng các thứ luật lệ hiện hành. Khi đó, mọi người sẽ càng thấy rằng các luật lệ hiện hành hoặc đã lỗi thời, hoặc không đầy đủ!

Nhưng cơ quan SEC cho biết các thân chủ của Goldman Sachs không hề được biết là chính công ty này liên hệ với cuộc đánh cá của công ty Paulson. Goldman Sachs đã làm hai việc có lợi ích mâu thuẫn: Một mặt tạo ra các CDO và bán cho người ta; trong lúc đó cũng biết là Paulson góp ý kiến dựng lên các CDO này để đánh cá là chúng sẽ mất giá trị! Ðối với nhiều người thì hành động của Goldman Sachs giống như là lừa đảo. Còn chính công ty Paulson thì không bị truy tố vì họ không dính vào việc rao bán hay khuyến khích ai mua các CDO mà họ đánh cá là sẽ xuống giá, mặc dù chính họ đã giúp tạo ra các CDO đó. Việc rao bán các CDO này do Goldman Sachs phụ trách. Một nhân viên được công ty Paulson thuê, đầu năm 2007 còn đang thất nghiệp, chỉ làm công việc vẽ ra các CDO này và khuyến khích Goldman Sachs hợp tác, đã được trả thù lao 175 triệu Mỹ kim.

Vụ truy tố Goldman Sachs được đưa ra trong lúc Thượng Viện Mỹ đang chuẩn bị thảo luận về dự luật cải tổ hệ thống tài chánh để tránh những vụ khủng hoảng như đang diễn ra. Tháng Mười Hai năm 2009 Hạ Viện Mỹ đã thông qua một dự luật Cải tổ Tài chánh, nhưng quyết định sau cùng sẽ phải chờ Thượng Viện. Với câu chuyện lừa đảo mà Goldman Sachs đang bị truy tố, nhiều người nhớ lại rằng cơn khủng hoảng kinh tế hiện nay bắt nguồn từ các ngân hàng và những công ty tài chánh gây nên, với các món nợ địa ốc tiêu chuẩn thấp.

Các ngân hàng ở Mỹ thường bị kiểm soát rất ngặt nghèo, sau khi người Mỹ rút kinh nghiệm vụ đại khủng hoảng kinh tế thời 1930. Từ thời đó, thị trường chứng khoán cũng bị chính quyền theo dõi chặt chẽ để bảo đảm không xẩy ra lừa đảo, bịp bợm. Nhưng còn rất nhiều loại công ty tài chánh và các loại chứng khoán mới vẫn chưa có luật lệ nào ràng buộc. Trong đó có những món đầu tư gọi là đê ri va ti, và những quỹ đối xung, nằm ngoài tầm kiểm soát của các cơ quan công quyền.

Ở nước Mỹ lúc nào cũng có hai khuynh hướng đối chọi: Nhiều người muốn thị trường càng tự do nhiều càng tốt, chính phủ không nên can thiệp vào. Nhiều người thì nghĩ ngược lại, thấy cần phải có thêm nhiều luật lệ (tức là cũng có thêm các cơ quan chính quyền để thi hành luật) để cho thị trường tránh không gây ra khủng hoảng. Cuộc tranh luận về cải tổ tài chánh trong tháng này là một cơ hội để hai khuynh hướng trên đấu trí với nhau, trên các diễn đàn công luận và trong Quốc Hội Mỹ.

Nước Mỹ vẫn còn chìm trong ảnh hưởng cơn suy thoái kinh tế nặng nề nhất kể từ sau cuộc đại khủng hoảng thời 1930. Hàng triệu gia đình mất nhà ở, hàng chục triệu người mất việc. Các nhà đầu tư, các ngân hàng phải nhờ chính phủ cứu giúp hàng trăm tỷ Mỹ kim. Nguyên nhân gây ra cơn khủng hoảng này là do thị trường tài chánh gây nên. Khi kinh tế khủng hoảng vì cung và cầu hàng hóa thiếu quân bình thì sức phục hồi sẽ nhanh hơn và mạnh hơn. Còn khi cuộc khủng hoảng bắt nguồn từ hệ thống ngân hàng thì việc hồi phục bao giờ cũng chậm chạp và sức lên yếu ớt. Tuy Tổng Sản Lượng Nội Ðịa Mỹ đã bắt đầu tăng lên từ năm ngoái nhưng tỷ lệ thất nghiệp sẽ tiếp tục mấp mé 10% ít nhất trong năm nay. Tất cả mọi người đồng ý phải cải tổ hệ thống tài chánh không cho rơi vào những lầm lẫn của những năm trước 2007. Nhưng cải tổ như thế nào, hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ còn đang tranh cãi trong Quốc Hội Mỹ.

Khi ra trước Quốc Hội điều trần về nguyên nhân cuộc khủng hoảng, năm ngoái ông Alan Greenspan, cựu chủ tịch Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang đã thú nhận rằng chính ông trước đây không ngờ những người lãnh đạo các xí nghiệp và ngân hàng lại không nghĩ biết tự bảo vệ giá trị của công ty mà họ được trao cho quản lý. Các hành động liều lĩnh của các ngân hàng khi cho vay nợ mua nhà đã là đầu mối gây ra cuộc khủng hoảng hiện nay.

Ông Greenspan đã nhầm khi tin rằng những người lãnh đạo các ngân hàng đều lo cho cổ đông, tức là chủ nhân của họ. Trong thực tế, lúc nào cũng có xung khắc quyền lợi giữa các cổ đông (những người ủy nhiệm, principal) và các quản đốc (agent, được ủy nhiệm). Khi hai nhà quản đốc đại công ty ngân hàng và tài chánh Citigroup ra điều trần trước Quốc Hội, người ta mới được nghe rằng cả hai đều được thù lao trọng hậu trong khi ngân hàng của họ thua lỗ. Ông Charles Prince được thù lao 120 triệu Mỹ kim trong 4 năm làm việc, cùng thời gian đó giá trị các cổ phần của ngân hàng Citi bị giảm mất 64 tỷ Mỹ kim. Trong 10 năm ông Bob Rubin làm cho Citi, ông lãnh 115 triệu Mỹ kim, chưa kể các cổ phần được mua với giá rẻ, nhưng đến năm 2008 ngân hàng Citi phải được chính phủ cứu cấp với 45 tỷ Mỹ kim, và sau đó lên 300 tỷ, gần như chính phủ phải đứng ra làm chủ ngân hàng này. Khi quyền lợi của những người quản đốc các công ty tài chánh và ngân hàng lại xung khắc với chính các cổ đông thì đồng thời quyền lợi của họ cũng có thể trái ngược với quyền lợi chung của cả xã hội. Chính vì vậy, xã hội phải đặt ra luật lệ kiểm soát các hoạt động trong thị trường tài chánh. Một lãnh vực mà Quốc Hội Mỹ sẽ tấn công ráo riết là thị trường các “đê ri va ti” (derivatives) tức là những chứng khoán có dạng những hợp đồng có tính cách đánh cá để chia sẻ bớt may rủi. Những đê ri va ti rất cần thiết cho thị trường tài chánh (ở Thượng Hải, Thẩm Quyến trong lục địa cũng đã thành lập các thị trường đê ri va ti, người Trung Hoa gọi đê ri va ti là Diễn Sinh), nhưng khi một công ty như AIG đánh cá trên các đê ri va ti rồi thất bại khiến chính phủ Mỹ phải bỏ ra hàng trăm tỷ Mỹ kim để cứu, thì xã hội có quyền kiểm soát loại sản phẩm tài chánh này để ngăn ngừa không cho quản đốc các công ty làm liều rồi khi thất bại thì chính phủ phải cứu, để tránh họa cho cả xã hội.

Những người như ông John Paulson biết đánh cá đúng đã làm giàu một cách hợp pháp và lương thiện. Trong thị trường tài chánh, thường vẫn có những người mất hàng tỷ Mỹ kim và những người khác lời bạc tỷ, điều đó không liên can gì đến người ngoài phố, đến xã hội. Nhưng xã hội sẽ thấy phải can thiệp khi có những người lừa đảo hoặc bịp bợm, làm giàu nhờ lợi dụng tình trạng thiếu hiểu biết hoặc yếu thế của người khác. Khi đó, xã hội phải đặt ra luật lệ để bảo đảm sự công bằng. Ðồng thời, xã hội cũng cần ngăn cấm những hành động đánh cá bằng tiền của bách tính, theo lối “được thì tôi ăn, thua thì đã có chính phủ chịu” - tức là người dân đóng thuế phải chịu! Giữ đạo công bằng và bảo đảm an toàn cũng là giữ tín nhiệm cho cả hệ thống kinh tế, bảo đảm sự tồn tại của các thị trường. Vì chỉ có thị trường hữu hiệu khi nào người ta có lòng tin tưởng
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Thời buổi ‘31 Tháng Tư’ của Vương Hồng Sển

Ngô Nhân Dụng

Nhà văn Vương Hồng Sển không hay bàn chuyện chính trị. Cụ thường kể chuyện Sài Gòn năm xưa, rỉ rả về thú chơi đồ cổ, tự chế nhạo mình sống “Hơn Nửa Ðời Hư.” Năm 1993, đã ngoài 90 tuổi, cụ vẫn gắng sức ngồi viết kể tiếp những chuyện mình đã từng trải qua cuốn “Nửa Ðời Còn Lại” (Văn Nghệ xuất bản, California, 1996). Trong sách này, có hai chỗ Vương Hồng Sển nhắc đến ngày 31 (sic) Tháng Tư năm 1975! Lần đầu, ở trang 285, cụ viết: “...tôi xin được lẩn thẩn lấy theo sức học đáy giếng mà luận việc trên cao để được tỏ chút nỗi lòng một dân Nam thấp hèn buổi 31-4-1975.” Nhắc lại: một dân Nam thấp hèn buổi 31 Tháng Tư 1975!

Ai cũng biết Tháng Tư chỉ có 30 ngày. Riêng cái ngày 30 Tháng Tư năm 1975 là một ngày mà người dân Việt Nam thuộc thế hệ trên 40 tuổi không thể nào nhớ lộn, không thể nào lầm lẫn được. Cụ còn viết một lần nữa, trang 291: “...tôi đây đã trải cảnh chịu đựng sau ngày 31-4-1975 ở Sài Gòn, làm tôi bắt nhớ Nguyễn Du năm 1802,...”

Có phải cụ Vương Hồng Sển tuổi già viết lộn hay người đánh máy bấm lộn một nút? Giả thiết tác giả đã lẫn, viết sai 2 lần, khó tin. Vì đọc cả cuốn hồi ký, tự sự này, chúng ta thấy ông còn rất minh mẫn. Ông nhắc lại những chuyện thời 1922, 1946, vẫn nhớ và ghi lại từng chi tiết. Vương Hồng Sển nổi tiếng là người có thói quen ky cóp cất giữ các kỷ vật, ghi chép các biến cố trong đời mình rất cẩn thận. Ông còn giữ cái toa thuốc của Bác Sĩ Nguyễn Văn Thinh viết ngày 17 Septembre 1924. Còn người đánh máy, nếu ngón tay bấm sai thì chỉ lộn zero sang số 9 chứ không phải số 1, vì trên bàn máy hai số zero và số một rất xa nhau.

Cho nên, có thể đoán khi cụ Vương viết hai lần ngày 30 ra 31 như vậy, chắc là cố ý. Ðó là một cách phát biểu ý kiến về chính trị. Cuốn sách vẫn theo lối văn “rất Vương Hồng Sển!” Tức là cụ kể chuyện miên man, chuyện nọ xọ chuyện kia, lối văn “cà rỡn, cà tửng” theo phong thái miệt Vườn hay nhái giọng Triều Châu. Lâu lâu, tác giả “đánh du kích” một câu thấm thía, đó là lúc bàn xéo về chính trị! Viết 30 thành 31 là một lối cà tửng rỡn chơi, gửi một thông điệp cho người hiểu văn mình!

Hai lần “cố ý” viết ngày 30 ra ngày 31, là hai lần tác giả Sài Gòn Năm Xưa viết với tấm lòng đầy cảm khái, kể tâm tình như đang muốn trút ra những “nỗi riêng lớp lớp sóng vùi.” Lần thứ nhất, cụ nói đến thân phận “một dân Nam thấp hèn buổi 31-4-1975!” Tự nhận mình thấp hèn như ốc ngồi “đáy giếng” đòi bàn luận việc “trên cao,” dù chỉ bàn một chuyện văn học, người miền Bắc gọi là “nói kháy.” Lần viết lộn thứ hai là đoạn Vương Hồng Sển tự so sánh mình với kiếp “hàng thần lơ láo phận mình ra đâu” của Nguyễn Du khi phải về làm tôi triều Nguyễn. Vương Hồng Sển đã viết rất dài về tâm sự Nguyễn Du trong thời gian đầu thế kỷ 19, để biện luận rằng trong thân phận “hàng thần” đó Tố Như không thể bình tâm mà sáng tác truyện Kiều được. Ðó là ngẫm mình mà suy ra tâm trạng người xưa. Còn lần thứ ba, ở trang 333 khi chỉ mô tả khách quan quang cảnh một khu phố Sài Gòn thay đổi, thì Vương Hồng Sển viết đúng, “...từ ngày 30-4-1975 và hiện nay đã trở nên phố xá tấp nập lớp buôn bán, lớp làm cửa hàng to...” Ba lần viết đến ngày 30 Tháng Tư, hai lần viết lộn. Phải nghi là nhà văn cố ý.

Cố ý, nhưng là ý gì? Hàng chữ “buổi 31-4-1975” của Vương Hồng Sển đã tóm gọn tất cả những năm tháng sau ngày 30 Tháng Tư năm cũ, sau cuộc đổi đời! Bây giờ đọc cụ Sển, độc giả vẫn chia sẻ được nỗi niềm của người dân miền Nam, đặc biệt là người Sài Gòn, ngậm ngùi nghĩ tới “buổi sau ngày 30 Tháng Tư!” Vương Hồng Sển là một nhân chứng, một nhà viết sử dân gian của thành phố Sài Gòn với 70 năm bao kinh nghiệm biển dâu. Với con mắt tinh tế, ngòi bút hóm hỉnh, mặc dù nhất định không bàn chuyện chính trị, tìm cách tránh né lưỡi kéo kiểm duyệt của các nhà xuất bản, cụ Vương vẫn ghi cho chúng ta những nét chấm phá về thế cuộc để các sử gia sau này phải tinh ý chăm chú mà gạn lọc.

Vương Hồng Sển không bị rơi vào cảnh tù cải tạo, nhưng đã nhắc đến thời đoàn quân của Nguyễn Ánh ra chiếm Bắc Hà, chỉ có hai người trong giới sĩ phu của Nhà Lê và Nhà Tây Sơn bị chế độ mới hành hạ, là Phan Huy Ích bị bỏ tù và Cống Chỉnh bị đánh đến chết vì thù riêng. Nhắc chuyện cũ, chính là để so sánh với chính sách lừa bắt hàng trăm ngàn người đi tù mút mùa gọi là “cải tạo”!

Thân phận người trí thức miền Nam có những nỗi đau đớn vì mất tự do. Có đoạn đang bàn chuyện Phạm Quỳnh, cụ Vương đánh một câu: “trong nầy (tức là trong miền Nam) ngày nay (tức là khác trước 1975) có miệng mà khó nói nên lời, có tay cầm viết mà khó ghi lời nào khỏi bị sửa chữa, cắt xén - vả lại tôi là người gì mà được phép nói...” (trang 267). Tôi là người gì mà dám nói? Cụ Vương có lúc bỗng trở nên nồng nhiệt, dầu vẫn rụt rè nhưng nhất quyết phải nói, khi cụ lên tiếng bênh vực Phan Thanh Giản, một danh nhân miền Nam vẫn bị đảng Cộng Sản buộc tội và bêu riếu một cách thô bạo, bất công. Sau khi biện luận để phục hồi danh dự Phan Thanh Giản, Vương Hồng Sển viết: “...người đời nay học thuyết mới, tư tưởng theo mới, quên ơn kẻ trồng cây, quên ơn sanh thành đào tạo,...” Ý nói: Người đời nay theo Mác xít, quên cả ơn cha mẹ, quên cả ơn thầy!

Mặc dù tự nhận thân phận thấp hèn của một người dân miền Nam trước đoàn quân chiếm đóng, nhưng khí phách miền Nam vẫn không để phai mờ. Chống lại cả guồng máy “tuyên giáo” của đảng Cộng Sản, nhưng vẫn đứng lên bênh vực Phan Thanh Giản! Ai cũng biết, sau ngày 30 Tháng Tư 75, lẫn trong đám các nhà văn, nhà thơ và học giả miền Bắc vào Sài Gòn, có nhiều người mang thái độ kiêu ngạo của đoàn quân thắng trận, lên mặt “dạy dỗ, cải tạo” giới văn nghệ và học thuật miền Nam theo đúng đường lối đảng, cùng với bọn văn nghệ cách mạng 30 nhi nhô đóng cai chỉ điểm. Cảnh tiếp xúc hai miền Nam Bắc lúc đó, Vũ Hoàng Chương đã diễn tả qua hai câu: “Rằng vách có tai, thơ có họa - Biết lòng ai đỏ, mắt ai xanh!” Những người trí thức Sài Gòn như Vương Hồng Sển (hoặc Nguyễn Hiến Lê, Dương Nghiễm Mậu,...) chọn sống ẩn dật chứ không chịu ra làm tay sai cho bọn vua quan mới. Cụ Vương viết: “Tôi dư biết cho thân, thà làm dế sống trong hang, có lẽ được yên thân hơn là múa gáy cho trẻ nhỏ nó biết chỗ trốn, chúng đổ nước ngập hang, bắt dế về nuôi trong hộp diêm, hộp quẹt, thỉnh thoảng bắt ra đá độ, gãy càng queo râu toi mạng.” (trang 84)

Sống trong một xã hội đầy những “vách có tai, thơ có họa” nhìn chung quanh không “biết lòng ai đỏ, mắt ai xanh,” Vương Hồng Sển không dám nói thẳng mà chỉ dùng mật ngữ. Có lúc cụ kể chuyện Sài Gòn đời xưa từ 1867, qua trào Tây, trào Nhật, quay qua nói chuyện vua Napoleon III bên Pháp, rồi chợt cảm khái: “Trở lại người dân đất Sài Gòn, như tôi đã nói, dám chắc không dân nào trí lanh tay xảo hơn. Khi bỏ áo giáp, tuột giầy trận, chịu đi đày, bán từ bàn thờ tổ tiên, bán ván gõ để nằm dưới gạch, căn đầy kiếp đọa, tiếc đã muộn...” (trang 55). Trong mấy dòng này là những ám hiệu chỉ cốt cho “dân Sài Gòn” hiểu với nhau thôi! Những nét chấm phá độc đáo: Kẻ thì “bỏ áo giáp, tuột giầy trận, chịu đi đày;” người ở lại nhà thì “bán bàn thờ tổ tiên, căn đầy kiếp đọa!” Và tất cả đều “tiếc đã muộn!”

Tiếc đã muộn! Chỉ ba chữ, ba chữ gói ghém bao nhiêu nỗi đoạn trường của cái thời buổi “31 Tháng Tư!”

Chỉ mấy trang tiếp, sau khi kể chuyện cà kê Kép Tư Út hát bài Anh Khóa đời xưa, tiếp đến chuyện ngôi nhà Tổng Ðốc Phương bị tháo gỡ bán qua Ðài Loan bây giờ, bỗng nhiên Vương Hồng Sển lại viết: “Dân Sài Gòn tự khoe tiến bộ ký quỹ, gửi tiền nhà băng, Giải Phóng vào, hốt sạch sành sanh, thua xa dân Thổ Trà Vinh, Sóc Trăng... bán lúa mùa nầy xong, chôn bạc giữa lẫm rồi đổ lúa mới lên trên...” (trang 57). Nhắc lại phương cách cất giấu tiền của dân Thổ đời xưa, để so sánh với dân Sài Gòn thời 1975, chỉ cốt viết một câu kết án: “Giải phóng vào, hốt sạch sành sanh!” Trong 7 chữ, Vương Hồng Sển cực tả một vụ cướp bóc đại quy mô, bây giờ còn gọi là “ăn cướp hoành tráng.” Hốt sạch sành sanh! Như vậy gọi là “giải phóng” đó! Ai đọc tới câu này mà không nghĩ ra, là phụ lòng Vương Hồng Sển!

Vào cái buổi 31 Tháng Tư, người miền Nam sống ra sao? Có lúc cụ Vương đang kể miên man những chuyện lẩm cẩm ở Sài Gòn từ thời Tây qua thời Nhật, bỗng tóm gọn một câu: “Kẻ trí đi ra nước ngoài, người ở lại phải giả dại qua ải” (trang 58). Phải sống “giả dại qua ải” nhưng Vương Hồng Sển cũng sống đủ lâu, được chứng kiến bản lãnh dân miền Nam vẫn vững vàng. Cụ viết: “Nói chi thì nói, phải nhìn nhận dân Sài Gòn vẫn có bản lĩnh - nước dưới sông thấy đó mà chặt không đứt, dứt không rời...” (trang 80). Dân Sài Gòn, và người dân miền Nam nói chung, quả thật có bản lãnh “chặt không đứt, dứt không rời,” cho nên “trải mấy trào liên tiếp mà dân vẫn là dân, cảnh có đổi mà dân không đổi...” Thơ Ðỗ Phủ viết: “Quốc phá, sơn hà tại,” chế độ vỡ, núi sông vẫn còn. Vương Hồng Sển không quan tâm đến núi sông, mà chú ý tới bản lãnh dân Sài Gon bền bỉ, vững chãi!

Ai cũng biết rằng sau năm 1975, vào cái “buổi 31 Tháng Tư” thì xã hội miền Nam đã thay đổi vì chịu ảnh hưởng của lối sống do chế độ mới tạo ra. Ai cũng có thể so sánh cách sống của dân Sài Gòn “trước ngày 30” và sau “buổi 31 Tháng Tư.”

Trước ngày 30 Tháng Tư năm 1975, trẻ em miền Nam có những lời nói, cử chỉ kính trọng các thầy cô giáo hơn bây giờ. Mà các thầy cô hồi đó cũng nhiều người giữ được tư cách đạo đức hơn buổi 31 Tháng Tư.

Trước ngày 30 Tháng Tư 75 ở miền Nam trai thiếu gái thừa, nhưng chưa có người mẹ nào bán con đi lấy những người chồng ngoại quốc không hề quen biết, với giá mấy trăm đô la Mỹ. Không có những cô gái xếp hàng trưng bày cho đàn ông ngoại quốc chọn. Không có người mẹ nào đem con gái bán cho các mụ Tú Bà. Bây giờ phong cảnh đã khác.

Trước ngày 30 Tháng Tư 75, mặc dù đang có chiến tranh dân miền Nam vẫn dám biểu tình phản đối chính phủ, không thua gì dân Nam Hàn, Ðài Loan cùng thời gian đó. Sinh viên Sài Gòn biểu tình đòi giáo sư Y khoa phải dạy bằng tiếng Việt, ký giả biểu tình phản đối Bộ Thông Tin đóng cửa báo, các công nhân đình công, bãi thị, các học sinh bãi khóa. Tinh thần độc lập, tự chủ của người dân rất cao, chính quyền không dám tiêu diệt xã hội công dân. Ngày nay những người như Ðiếu Cầy chỉ cần viết cho nhau bằng Internet, nói chuyện tự do dân chủ, chống Trung Cộng xâm chiếm Hoàng Sa, cũng bị ghép tội rồi bỏ tù.

Nhưng chúng ta có thể tin tưởng như Vương Hồng Sển, là dân Việt Nam rất có bản lãnh. Dân vẫn là dân, các chế độ đi qua rồi sẽ biến mất. Chính Vương Hồng Sển cũng có lúc tỏ ý lạc quan. Ðọc lại cuốn Hơn Nửa Ðời Hư in ở Sài Gòn, cụ đã cải chính mấy đoạn bị nhà xuất bản trong nước cắt xén. Nhân dịp đó, cụ còn tỏ ý tha thứ và hy vọng: “...tự xét tuổi gần đất xa trời, cũng nên hỉ xả họa may nối thêm được một ít lâu để chờ xem mãn cuộc... cuộc gì cũng chưa dám nói và nên hiểu ngầm...” (trang 277). Mãn cuộc gì, ai cũng hiểu! Cụ đã qua đời, không “nối thêm được ít lâu.” Cụ chưa được thấy hồi “mãn cuộc.” Nhưng cũng sắp tới rồi! Cái buổi 31 Tháng Tư sẽ đến hồi kết thúc, người Việt Nam có ngày lại trở về làm người Việt Nam, giống như “trước 30 Tháng Tư!”
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Những chuyện khó lường khi Đức TGM Ngô Quang Kiệt bị thay thế

Vatican có thể hối không kịp.
HĐGMVN có thể khóc hết nước mắt.
Chỉ có CSVN là cười cợt ngạo nghễ!

Ít lâu nay, tin tức loan truyền quanh sự việc Đức TGM Ngô Quang Kiệt có bị thuyên chuyển khỏi Hà Nội theo yêu sách của Cộng Sản Việt Nam (CSVN) hay không đã được tranh luận khá gay gắt.

Tựu trung có hai nhận định: Một là trước sau gì Satan (Đảng CSVN) cũng thắng thế gian, vì sau bao nhiêu năm trồng cấy Giám Mục VN, nay là thời gian đâm hoa kết trái để CSVN hưởng lộc. Những Giám Mục VN thiên Cộng dần dần lộ dạng và đang toa rập theo mệnh lệnh của CSVN để bứng Đức TGM Kiệt ra khỏi Hà Nội bằng bất cứ giá nào. Không những thế, cả một kế hoạch khuynh đảo Giáo Hội Việt Nam quy mô đã được giàn dựng: Hà Nội sẽ có GM Nguyễn Văn Nhơn từ Đà Lạt ra trụ trì, thay thế Đức TGM Kiệt cáo bệnh. Saigon sẽ có GM. Bùi Văn Đọc từ Mỹ Tho lên thay thế, khi Đức HY Mẫn đến tuổi về hưu. Thành tích của hai chức sắc mới này qua hành động và các lời tuyên bố trong thời gian gần đây có vẻ được CSVN tâm đắc.
Ngược lại, ý kiến thứ hai chủ trương rằng việc bổ nhiệm và thuyên chuyển các giám mục trên thế giới thuộc quyền chuyên biệt của Tòa Thánh La Mã, không một HĐGM nào có thể đem ra bàn bạc công khai. Toà Thánh làm việc hoàn toàn kín đáo, ngay đến các đương sự được bổ nhiệm cũng không thể biết trước được. Do đó, nhận định thứ nhất chỉ là một loại tin vịt, không đáng tin.

Theo ý kiến chúng tôi, điều không thể chối cãi được là truyền thống bổ nhiệm và thuyên chuyển hàng giám mục hoàn toàn thuộc quyền Đức Giáo Hoàng, nên rất kín đáo. Nhưng thủ tục này chỉ được áp dụng tại các quốc gia thuộc thế giới tự do. Còn tại các nước Cộng Sản, như Trung quốc và Việt Nam hiện nay, thủ tục có khác. Điểm khác này quan trọng hay không tùy nhãn quan mỗi người. Đó là trước khi bổ nhiệm chức vị Giám Mục, Tòa Thánh phải gửi danh sách các ứng viên mà Tòa Thánh đã chọn cho Nhà Nước Cộng Sản để "xin ý kiến" hoặc nói cụ thể hơn là "xin sự phê chuẩn". Hiển nhiên, Nhà Nước bác bỏ ai thì Toà Thánh cũng không thể nào dám bổ nhiệm người đó. Thủ tục này không có dưới thời VNCH, nhưng vẫn được áp dụng kể từ ngày CSVN thống trị đất nước. Người bênh Toà Thánh thì coi thủ tục này chẳng quan trọng gì. Nhưng ý kiến trái ngược thì cho rằng Satan đang điều khiển Giáo Hội bằng thủ tục này.

Trở về trường hợp Đức TGM Ngô Quang Kiệt, vấn đề mang tính cách hết sức đặc biệt, vượt ra khỏi các thủ tục thường lệ. Sau khi Đức TGM Kiệt cùng với giáo dân Hà Nội đứng lên đòi Hoà Bình và Công Lý thì các viên chức cao cấp của CSVN lồng lộn, phẫn nộ và dõng dạc công khai đòi Giáo Hội phải thuyên chuyển ngài ra khỏi chức vụ cai quản Tổng Giáo Phận Hà Nội ngay tức khắc. Mặc dù ai cũng biết HĐGMVN không có quyền hạn gì trong việc này, nhưng điều đó không có nghĩa rằng Toà Thánh không tham khảo ý kiến "mật" với tất cả hay một số Giám Mục VN. Và chính từ điểm "bí mật" này mà sự thật lại được "bật mí". Tức là có một số Giám Mục VN đã hỗ trợ lập trường của CSVN là phải thuyên chuyển Đức TGM Kiệt. Chính ở điểm này mà nguồn tin thứ nhất lại có cơ sở đáng tin.
Trước một tình huống bị anh em đồng hội đồng thuyền bỏ rơi, lại còn bị Toà Thánh hạch hỏi, bị Nhà Nước cho côn đồ quậy phá, Đức Tổng Kiệt đáng lẽ phải ngã bệnh nặng, có thể chết đi được, may mà ngài mới chỉ bị mất ngủ thôi.

Trong hai quan điểm trên, cái nào đúng, cái nào sai? Khi Giáo Hội làm việc bằng "chính đạo" thì lập trường hai là đúng. Nhưng khi Giáo Hội đã chia sẻ quyền lực với "bá đạo" rồi thì lập trường một không phải là không có lý. Giáo Hội khi để Satan lấn át thì việc "mua chuộc, đổi chác" có xảy ra cũng là lẽ thường tình, vì đó là chuyện "thế gian". Thế thì phải gian. Chuyện "vương đạo" rất dễ giữ kín, nhưng chuyện "bá đạo" đương nhiên phải có sự mặc cả, đổi chác và đi đêm. Đó là lý do tính cách bí mật không còn giữ được nữa.

Chẳng lẽ chuyện bang giao giữa Vatican và VN quan trọng đến nỗi Vatican để cho HĐGMVN rơi vào hoàn cảnh chia rẽ, tan nát thế này sao? Vatican hẳn phải tiên liệu những lộn xộn khó lường khi GM Nguyễn Văn Nhơn đặt chân đến Toà Giám Mục Hà Nội chứ. Chẳng lẽ bước chân của Đức Giáo Hoàng quá thần linh đến nỗi ngài đặt chân tới VN là lập tức VN có ngay tự do, dân chủ, để phải hy sinh Đức TGM Kiệt, khiến cho Giáo Hội VN bị mang tiếng với lịch sử là "lọt bẫy CS" hay sao?
Không ai muốn tin như vậy. Nhưng tin tức vẫn là tin tức. Thực tế vẫn là thực tế.

Hãy chờ những gì sắp xảy ra tại khuôn viên nhà thờ Hà Nội và Saigon trong những ngày sắp tới. Vatican có thể hối không kịp. HĐGMVN có thể khóc hết nước mắt. Chỉ có CSVN là cười cợt ngạo nghễ!

Ts. Trần An Bài
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »

Ngày 30 Tháng Tư Nhìn Lại

Nguyên Thạch
Sau ba mươi lăm năm Việt Nam thống nhất,đất nước gom về một mối mà tập thơ “Vô Đề“ có diễn đạt “Một mối hận thù, một mối đau thương“.

Trong suốt chiều dài của lịch sử dân tộc,từ đời các vua Hùng dựng nước cho tới thời điểm này, đất nước ta chưa bao giờ thảm bại như hôm nay. Hãy ôn lại qua từng thời kỳ và sự di hại của nó để hiểu rằng Việt nam là một đất nước cô đơn và dân tộc Việt là một dân tộc bất hạnh.

1975-1986. Giai đoạn
của sự hoang man
và tàn phá khủng khiếp


Để thực thi cái gọi là kinh tế tập trung, một trong những lý thuyết cơ bản của chủ nghĩa xã hội hoang tưởng, bọn mù quáng ngông cuồng đã cho ra đời chủ trương hợp tác xã, cho mọi ngành mọi nghề, đẩy toàn bộ xã hội gần như là thụt lùi về thời công xã, gây bao hoang man lo sợ cho cả nước. giai đoạn mà những thứ vô tri vô giác như cây cột điện cũng muốn ra đi. Một giai đoạn mà trong lịch sử chưa hề có số lượng người bỏ nước lánh nạn đông đảo, làm rung động trái tim của cả thế giới.

Một thời, mà chính người cộng sản cũng phải hổ thẹn, nhục nhã,cố tình lẫn tránh, không dám đề cập hoặc nhắc tới hình ảnh đen tối này. Nhưng với bản chất gian dối và kiêu ngạo,họ không hề có một lời xin lỗi trước quốc dân đồng bào về những sai lầm nghiêm trọng đó.

Đổi mới

Sau chuỗi dài những bài học thất bại thê thảm, để cứu vãn chế độ,nhà cầm quyền cho áp dụng nền “Kinh tế thị trường“ với cái đuôi “Theo định hướng xã hội chủ nghĩa“, một thứ lý luận lấp liếm, ngụy biện vu vơ. Điều này,đã nói lên rằng kinh tế XHCN là một nền kinh tế què quặt, thảm bại. Câu dân gian “Xuống Hố Cả Nút“, đã nói lên trọn vẹn cái ý nghĩa của nó.

Đất nước hẹp dần

Độc đảng cộng sản mà quyền lực được thu gọn trong tay chính trị bộ,15 khuôn mặt đần độn, má bỉnh da chì, sẵn sàn cúi đầu quì gối trước thiên triều đại Hán để mong được sự bao che và ban ân huệ. Ải Nam Quan, thác Bản Giốc, Hoàng-Trường Sa, vịnh Bắc Bộ, đất rừng các tỉnh dọc biên thùy và sâu trong nội địa, Beauxite Tây Nguyên đều bị hiến dâng cho ngoại bang để được nắm giữ quyền lợi cho cá nhân và băng đảng.

Kinh tế tụt hậu

Dưới sự lãnh đạo của một guồng máy nhà nước trì trệ, u muội, quan liêu, sau ba mươi lăm năm không chiến tranh mà nền kinh tế vẫn lẽo đẽo mò mẩm theo đuôi các nước lân bang trong khu vực, xa tít từ ba đến năm mươi năm, thì việc sánh vai với các nước tiên tiến là chuyện hoang tưởng xa vời.

Đó là chưa nói đến nguồn tài trợ lớn mà nhà nước Việt Nam không cần phải trả lại cả vốn lẫn lời. Một số tiền cho không, nhờ vậy mà đảng đã cầm được hơi cho tới hôm nay.

Chính trị độc tài

Mang trong đầu tư duy của phong kiến Tàu và tư tưởng Mác-Lê, bằng mọi cách phải cướp chính quyền, hùng cứ giang sơn mỗi nhóm một tỉnh, một huyện để chia nhau hưởng lợi hầu bù lại những tháng năm gian nan khổ nhọc. Ban tư tưởng văn hóa trung ương cùng các báo đài ra rã hằng ngày, chẳng qua chỉ là một lối mị dân, chứ chẳng phải vì đất nước, vì dân tộc gì cả. Phương thức ngụy biện nhằm che dấu ý đồ của gián điệp của Trung Cộng mà ngay cả những năm tháng khởi đầu dậy binh, Hồ Chí Minh đã ra lệnh cho Phạm Văn Đồng dâng bản công hàm ngày 14 tháng 09/1958, một văn kiện công nhận Hoàng Sa ( Tây Sa )- Trường Sa ( Nam Sa ) thuộc quyền Trung Cộng. Cuộc hải chiến oai hùng của hải quân VNCH từ ngày 17 đến ngày 19 tháng 01/1974 trong sự làm ngơ của Bắc Việt là những minh chứng hùng hồn nhất cho hành động bán nước. Còn nữa, chẳng phải Tố Hữu tự phát mà có những câu nô dịch như: “Bên nay biên giới là nhà, bên kia biên giới cũng là quê hương“, hoặc:

“Giết, giết nữa đi bàn tay không phút nghỉ,
Cho ruộng đồng lúa tốt thuế mau xong
Cho đảng bền lâu cùng rập bước chung lòng,
Thờ Mao chủ tịch, thờ Xì ta Lin bất diệt“.

Theo đuổi một nền chính trị bưng bít, hẹp hòi,sắt máu, không chấp nhận đối lập, không quan tâm đến ý kiến của dân chúng,cũng chỉ nhằm mục đích che dấu mưu lược thâm độc đó.

Một thể chế chính trị cấm người dân nêu cao tinh thần yêu nước, cấm phê phán những tiêu cực của nhà cầm quyền, bởi cho đó là “ bí mật quốc gia “!. Thử hỏi,có quốc gia nào trên thế giới lại đi cầm tù hoặc đánh đập, ngăn cấm sinh viên học sinh cùng những nhà tranh đấu thể hiện lòng ái quốc, chống kẻ thù nghìn năm phương Bắc?. Ngoại trừ Bắc Hàn, Trung Cộng và Việt Nam. Ngày nào còn sự hiện hữu của đảng cộng sản, ngày ấy Trung Cộng còn có nhiều cơ hội tốt để thực thi mưu định chiếm cứ Việt Nam.

Xã hội lừa lọc và tham nhũng

Người ta thường ví rằng “Nhà nước nào, dân chúng nấy“ hoặc “Cha nào con nấy“. Bắt nguồn từ sự gian dối của đảng cộng sản, qua những cuộc đấu tố 1953-1956, người dân bị tiêm nhiễm rằng phải thủ đoạn,phải gian dối mới được tồn tại. Ở Việt Nam, rất nhiều người nói dối tài tình y như nói thật mà không hề biết chớp mắt ngượng miệng.

Một xã hội mà sự hối lộ, tham nhũng dường như bất trị. Các quan chức từ trung ương cho đến địa phương, mọi ngành, mọi cấp, đa số đều có dính líu đến tham nhũng. Tham ô một cách có hệ thống và có bao che, nếu có chăng những vụ án thì chỉ là dơ cao đánh khẽ, rồi cuối cùng cũng được “hạ cánh an toàn“.

Đạo lý suy đồi

Là những người còn lương tri,không ai không tránh khỏi đau lòng khi nhìn thấy bao tinh hoa quí báo, tình tự tốt đẹp của khối dân tộc, được truyền giữ qua bao ngàn năm, nay đã bị đảng cộng sản hủy hoại một cách vô tâm oan uổng. Vì tranh giành với nhau để được sinh tồn, vì miếng cơm manh áo, vì tư lợi cá nhân trong một bối cảnh nghèo đói mà người ta sẵn sàng tố giác, đạp đổ lên nhau để tiến thân.Trong một xã hội mà con người chỉ biết giành giựt, thu ghém cho riêng mình, vô cảm, thờ ơ trước bao cảnh đời khốn khổ hoạn nạn khác. Một xã hội mà lương tâm không giá trị bằng “lương thực“.

Dưới sự làm ngơ của nhà nước hoặc tiếp tay chia chát với những tên tội phạm buôn người, tệ nạn buôn bán phụ nữ, trẻ em Việt Nam qua Trung Cộng, Campuchia cùng các nước khác đầy ải thanh niên đi lao nô khắp thế giới để bòn rút ngoại tệ là những câu chuyện, những hình ảnh nhức nhối, đau thương cho cả một dân tộc. Chưa bao giờ người con gái Việt Nam phải bỏ xứ, xa cha mẹ,người thân để đi lấy chồng nước ngoài Đài Loan, Nam Hàn, Singapore… và bị ngược đãi nhiều như thế. Rồi đây Việt Nam sẽ là Bò Tèn ( Botel City ) thứ hai. Người dân bản xứ sẽ là những đám nô lệ trên chính quê hương mình để phục tùng cho những chủ nhân ngoại quốc.

Đối diện với những sự thật

Trong hiện tình của đất nước, đây là một thời kỳ đen tối nhất của Tổ Quốc,15 tên thái thú đã và đang sẵn sàn bán đứng Quê Hương. Và đây cũng là cơ hội thuận tiện nhất cho ngoại bang Hán phiệt thôn tính Việt Nam. Tất cả người Việt chúng ta hãy sớm nhận thức nguy cơ và hãy sớm hành động trước khi quá muộn.

Chúng ta sẽ không chấp nhận và cũng không muốn nhìn thấy Việt Nam là Tây Tạng thứ hai. Còn gì ghê rợn, đau đớn bằng khi chứng kiến phụ nữ Việt Nam và con cháu của chúng ta lâm vào hoàn cảnh khủng khiếp như thế.

Trung cộng sẽ nhân cơ hội thuận tiện do đảng csVN nối giáo mà có những bước tiến nhanh, rõ nét nhất là mới đây, nhà nước công bộc chuẩn bị thỏa hiệp cho quân đội sát nhập với lực lượng vũ trang của Trung Cộng trong cái gọi là hiệp tác toàn diện, song phương quốc phòng. Thử tưởng tượng, hai binh đội, ngoại công nội đàn áp thì người dân sao gánh chịu nổi,khi trong tay không một tất sắt.

Quân đội nhân dân Việt Nam

Các anh chị mau thức tỉnh. Tổ quốc đã lâm nguy. Khi mà nền trật tự của thế giới vẫn còn hiệu lực thì việc xua hàng triệu quân đánh chiếm, tiêu diệt đội quân của quốc gia khác là điều khó mà thực hiện, nhưng việc giết từ từ, giết dần mòn cho đến hết sạch các anh chị là hành vi có thể xảy ra. Tuy nhiên,trong tương lai, cuộc tiến quân để quét sạch đối phương trong cùng một lúc thì không ai dám hứa hẹn và bảo đảm.

Có lợi thế dân số đông đảo nhất thế giới, và đường hải giới lưỡi bò, cùng lực lượng đặc công Tây Nguyên, cộng với đạo quân thứ năm trên khắp hang cùng ngõ tận của ba miền đất nước, đạo quân này với tiền bạc và uy lực,chúng sẽ nắm toàn bộ nền kinh tế và là lực lượng nội gián nồng cốt cho người anh em đồng chủng, viêc thôn tính toàn bộ Việt Nam là chuyện thời gian. Với con số khổng lồ, gần 1.500.000.000 người thì vấn đề thí vài triệu quân để hốt sạch các anh chị để bù vào đó là quân đội mẫu quốc, đó không là chuyện lạ. Họ mơ ước được di dời 50 triệu thanh niên sang mảnh đất này, lấy vợ Việt để gây giống và thuần hóa giòng máu đại Hán. Như nêu trên, thế thì đàng nào cũng sẽ chết, nếu được chết cho quê hương sinh tồn, hẳn là có ý nghĩa hơn là chết trong vô nghĩa, tủi nhục.

Công an

Các anh chị hãy sống cho tròn đạo nghĩa, là con dân thì không bao giờ quay lại bắt bớ đánh đập cha mẹ, anh em, đồng bào ruột thịt của mình. Bảo vệ trật tự an toàn xã hội là việc phải làm, nhưng quay mũi súng vào nhân dân vô tội là hành động phi luân lý. Các anh chị nên biết ơn những người hy sinh bản thân để kêu gọi toàn dân đứng lên chống giặc ngoại xâm, bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ, sự độc lập của dân tộc mà các anh chị là những thành viên trong lòng dân tộc ấy.

Sau ba mươi lăm năm, đất nước vẫn hiện hữu một đảng vong nô, phản quốc. Một nhà nước ươn hèn quì gối. Một quốc hội bù nhìn, đốn mạt. Một nền luật pháp độc đoán, tùy tiện. Mười lăm tên ở bắc bộ phủ chỉ là một khối thịt rữa tanh hôi, chúng không mạnh như ta lầm tưởng, nếu chúng ta, tất cả đều đồng lòng đứng dậy đạp đổ chúng ra khỏi quyền lực.

Nhìn lại đất nước sau ba mươi lăm năm, giờ Tổ Quốc đang đứng bên bờ vực thẳm. Lòng người tan tác với bao nỗi hoang man lo sợ, một cuộc sống với tương lai bấp bênh vô định. Trước hiện trạng dường như vô vọng ấy, 85 triệu người Việt quốc nội cùng hơn 3 triệu người Việt hải ngoại, chúng ta phải làm gì ?. Đó là câu hỏi cho những ai còn có tấm lòng cho quê hương Việt Nam thân yêu.

Tuy ba mươi lăm năm trôi qua, một chuỗi thời gian dài đầy bi đát và oan nghiệt, nhưng không vì thế mà chúng ta đánh mất niềm tin. Cả thế giới văn minh, hiện đang tập trung cô lập Trung Cộng mà Mỹ là quốc gia có chiến lược dẫn đầu. Bởi Trung Cộng là hiểm họa, là mối đe dọa cho sự ổn định của toàn thế giới. Hãy nung nấu ý chí quật cường, khi cơ hội đến, chúng ta sẽ đứng lên giành lại những gì đã mất. Ngày quang phục Quê Hương không còn xa nữa.

Nguyên Thạch
caolynh
Posts: 317
Joined: Wed Dec 17, 2008 7:21 pm
Contact:

Post by caolynh »

Mục Tiêu Cao Cả của Bậc Cao Tăng Đất Việt
Thor Halvorssen viết về Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ
PARIS, ngày 27.4.2010 (PTTPGQT) - Ngày 16.3 vừa qua, ông Thor Halvorssen, Chủ tịch Sáng hội Nhân quyền nổi danh có trụ sở đặt tại thành phố New York, Hoa Kỳ (New York-based Human Rights Foundation), đồng thời cũng là người sáng lập Diễn Đàn Tự do Oslo (The Oslo Freedom Forum) đến Thanh Minh Thiền Viện ở Saigon vấn an Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ, mời Hòa thượng sang dự Hội nghị Diễn Đàn Tự do Oslo tổ chức tại thủ đô Oslo, Vương quốc Na Uy ngày 28.4. Nhưng hiển nhiên trong tình trạng quản chế hiện nay, Hòa thượng không thể rời nước.
Image
Ông Thor Halvorssen.
Do đó, ông đã có dịp hàn huyên với Hòa thượng trong vòng ba tiếng đồng hồ về hiện trạng nhân quyền và đàn áp tôn giáo tại Việt Nam. Cuộc nói chuyện đã biến thành cuộc phỏng vấn có ghi hình.

Thế nhưng vào lúc xế trưa, vừa ra khỏi Thanh Minh Thiền viện, ông Thor Halvorssen liền bị bốn công an mặc thường phục nhảy xô đến, miệng vừa la hét “Tại sao mày vào chùa ? Mày vào chùa làm gì?” tay vừa thụi vào lưng ông đến bầm tím. Chúng áp giải ông về đồn công an quận Phú Nhuận. Tại đây một sĩ quan vai đeo lon năm sao thẩm vấn suốt 90 phút bằng tiếng Anh, vẫn là những câu hỏi không ngừng : “Tại sao vào chùa… Vào chùa để làm gì ?, v.v…”. Ông Thor Halvorssen giải thích rằng ông là Phật tử, nên thấy chùa là ông vào thăm. Sĩ quan Công an bảo rằng : “Thanh Minh Thiền viện không phải là chùa thật, không được Nhà nước công nhận, tại sao không vào các chùa khác?”. Ông Thor Halvorssen chỉ được trả tự do khi ông nói thẳng với Công an rằng “Không thả tôi ra các ông sẽ gặp khó chứ tôi chẳng bị khó khăn gì đâu”. Qua cuộc điện đàm ông cho Phòng Thông tin Phật giáo Quốc biết là rất đông công an mặc thường phục cũng như sắc phục theo dõi thường trực trước mặt tiền Thanh Minh Thiền Viện.

Sự kiện nói trên đã được ông Võ Văn Ái ghi nhận trong văn bản gửi đến cuộc điều trần của Ủy hội Nhân quyền Tom Lantos tổ chức tại Quốc hội Hoa Kỳ ở thủ đô Hoa Thịnh Đốn hôm 23.3.2010 dưới đề tài “Nhân quyền và Tự do tôn giáo tại Việt Nam”, mà ông Ái đã bình luận rằng :

“Sự kiện hôm 16.3 đối với ông Thor Halvorssen cho thấy chính sách tôn giáo hai mặt của Hà Nội đối với Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ bị quản chế không hề được xét xử, chưa có tòa án nào phán xét tội danh ngài. Tại diễn đàn LHQ hay trên các diễn đàn quốc tế, Hà Nội không ngừng khẳng định Hòa thượng không bị giam giữ, quản chế, Hòa thượng “hoàn toàn tự do”. Thế mà nay sự thăm viếng của một người ngoại quốc - ông Thor Halvorssen - bị xem như phạm pháp, bị câu lưu, hăm dọa, hành hung và thẩm vấn ?! Nếu Việt Nam cư xử với một người ngoại quốc như thế, thử hỏi sự hành xử miệt thị của nhà cầm quyền Cộng sản còn bi thiết như thế nào đối với 86 triệu công dân Việt Nam ?”.

Cuộc thăm viếng đã được ông Thor Halvorssen viết thành bài “Mục tiêu cao cả của bậc Cao tăng đất Việt” (The Noble Prupose of a Vietnamese Monk) đăng trên tờ The Huffinton Post và cũng là lời dẫn nhập cho cuốn phim phỏng vấn Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ sẽ trình chiếu tại Hội nghị Diễn Đàn Tự do Oslo vào ngày 28.4.2010.

Bài viết được Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế Việt dịch sau đây :

Mục tiêu cao cả của bậc Cao Tăng đất Việt

Viết từ Saigon, Việt Nam – Nhắc tới Việt Nam, đa số khách bàng quan chỉ nghĩ đến máy bay trực thăng Mỹ trang bị súng ống lượn vòng trên đồng bằng sông Cửu Long truy kích lính Việt Cộng. Cuộc chiến đó chấm dứt vào cuối tháng Tư năm 1975 khi bộ đội Hồ Chí Minh chiến thắng bước vào Saigon. Mẫu trực thăng Mỹ vẫn còn đó và được chưng trong Viện bảo tàn di sản chiến tranh, cạnh những hình ảnh sưu tập hằn bóng chiến tranh. Buồn thay, vẫn còn ở đây một chính quyền Cộng sản rêu rao giải phóng cho một dân tộc 82 triệu người.

Đã 35 năm hơn cho lời hứa hẹn giải phóng ấy, nhưng Việt Nam vẫn còn bị một đảng thống trị. Không ai được quyền phê phán nhà nước, và những xã hội dân sự chính yếu đều phải hoạt động trong vòng kiểm soát của cơ cấu chính quyền. Báo chí đăng tải những tin tức chính trị xẩy ra bên Thái Lan hay ở Úc châu hơn là những chuyện đang xẩy ra tại Việt Nam. Chẳng thấy đâu công đoàn độc lập, và bất cứ ai kêu gọi cho nhân quyền hay dân chủ đều bị tống giam - thường quy cho tội “xâm phạm an ninh quốc gia”. Hàng trăm nhà bất đồng chính kiến chính trị và tôn giáo bị cầm tù, nơi diễn ra những cuộc tra tấn.

Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ, vị cao tăng Phật giáo 81 tuổi, là một trong những nhà bất đồng chính kiến ấy. Chuyện đời Hòa thượng là một chuỗi đấu tranh ôn hòa cho tự do và dân chủ Việt Nam - mà cũng là sự kiên trì nhẫn nại trước cuộc đàn áp khắc nghiệt của nhà nước như lời đáp-trả bức thông điệp của Hòa thượng.

Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ là Tăng thống của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, tổ chức bị chính quyền cấm đoán. Hòa thượng là biểu tượng kết liên của phong trào dân chủ sôi sục dưới đáy tầng đàn áp của chế độ độc tài Việt Nam. Hòa thượng đã trở thành một trong những người bảo vệ chính trực cho dân chủ và nhân quyền, và đang thách thức chính quyền thông qua những kiến nghị gọi kêu cuộc thảo luận trên lĩnh vực cải cách dân chủ và nhân quyền.

Tôi đã gặp Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ tại ngôi thiền viện ngài bị chính quyền quản chế. Tôi đến để thu âm lời chứng của ngài cho hội nghị nhân quyền mà ngài không được phép sang tham dự.

Câu chuyện của đời ngài giàu ấn tượng

Vào năm 17 tuổi, Hòa thượng chứng kiến bổn sư ngài bị bộ đội Hồ Chí Minh bắt nơi ngôi chùa Linh Quang là ngôi chùa đầu đời của ngài. Một tấm biển treo trên cổ với chữ “Bán nước”, rồi ba phát súng lục bắn vào màng tai sư phụ ngài. Hòa thượng nói với tôi rằng kể từ giây phút ấy, ngài cảm nhận chế độ độc tài cộng sản sẽ không tồn tại lâu dài. Hòa thượng nói “Họ thảm sát, họ ly tán gia đình, họ bóp nghẹt tự do, và xử tội tình yêu… một cách dã man, thì đó không thể là nền tảng xây dựng nên thể chế chính trị. Nhân dân ruồng bỏ sự vô đạo và ác độc”. Hòa thượng đoan quyết rằng, người cộng sản có đề cao mục tiêu phục vụ cao cả nào chăng nữa, ngài chẳng bao giờ chấp nhận bạo lực, thù hận và sự kỳ thị. Hòa thượng bỏ cả đời mình đấu tranh chống lại sự bất bao dung. Hòa thượng giải thích rằng, “Những chi lợi ích cho nhân loại mới có thể tồn tại. Đó là lý do vì sao Phật giáo tồn tại từ hai nghìn năm trên đất nước này. Và vì sao độc tài sẽ chấm dứt một ngày gần đây”.
Image
Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ, ảnh của Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế.
Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ đã phải trả giá đắt cho cuộc hành hoạt của ngài. Tổng cộng 28 năm trong cảnh tù đày - dài hơn những ngày tù của Nelson Mandela ở Nam Phi. Trải hơn chục lần ngài bị đánh đập, tra khảo, và biệt giam. Ngày nay, chính quyền thường rêu rao ngài được tự do, nhưng ngài ví cuộc quản chế ngày nay như “con cá trong chậu - tôi có thể đi đứng quanh liêu phòng của tôi - nhưng hãy liệu hồn nếu tôi muốn nhảy thoát hòng nếm mùi vị tự do bên ngoài”.

Sự dấn thân kiên định của Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ cho sự thật, là lý do làm cho thế giới biết đến hoàn cảnh của một triệu người tù gửi vào các Trại Cải tạo Việt Nam, mà chẳng bao giờ được xét xử trước tòa án. Sự phản kháng và lên tiếng của Hòa thượng đã đưa ngài tới chốn lưu đày trong ngôi chùa hoang lạnh lẽo ở miền Bắc. Chính quyền đưa cả bà mẹ già 84 tuổi của ngài cùng ngài đến đấy. Bà đã chết trong cái chết khủng khiếp vì lạnh và đói năm 1985. Hòa thượng cảm thấy trách nhiệm trong sự khổ đau của mẹ mình. Hầu như mọi thành viên của gia đình ngài đều chết trong tay của quyền chính - vì họ chẳng chịu chối từ nguồn đạo Phật họ tôn thờ.

Trong thông điệp bí mật chuyền ra nước ngoài Hòa thượng nói rằng :

“Nhân quyền là quyền của mỗi con người được sống tự do và được tôn trọng như những thành viên của xã hội. Nhưng Việt Nam ngày nay không có tự do. Chúng tôi là những người tù ngay trên quê hương của chúng tôi, ngay trong ngôi chùa, trong mỗi căn nhà của chúng tôi - tù nhân của một chế độ giữ độc quyền cho phép chúng tôi ăn nói hay bắt chúng tôi cầm mồm, ban phát cho chúng tội quyền tự do hay bắt chúng tôi bỏ tù. Tất cả chúng tôi là tù nhân của chế độ từ sau 35 năm chiến tranh chấm dứt, một chế độ tiếp tục cuộc chiến tranh chống lại nhân dân họ, đồng thời cướp giật mọi nhân quyền cơ bản của người công dân. Thiếu dân chủ và đa nguyên, chúng tôi chẳng sao diệt trừ sự nghèo đói và bất công, cũng không sao phát triển thực hữu và đem lại tiến bộ cho dân nước tôi. Thiếu dân chủ và đa nguyên, chúng tôi không thể bảo đảm cho quyền con người, vì nhân quyền không thể bảo đảm khi chưa được những thiết chế dân chủ và pháp quyền bảo vệ”.

Trong quá khứ, những khách ngoại quốc như bà Dân biểu bang California, Loretta Sanchez, bị chận bắt khi vào Thanh Minh Thiền viện. Năm 2006, Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ nhận được Giải Nhân quyền Quốc tế Rafto, một giải nhân quyền ở Vương quốc Na Uy thường dễ trở thành Giải Nobel Hòa bình trong tương lai (như trường hợp đã xẩy ra đối với bà Aung San Suu Kyi ở Miến Điện, ông José Ramos Horta ở Đông Timor, bà Shirin Ebadi ở Iran, ông Kim Dae-jung ở Đại Hàn). Vị Giám đốc Điều hành của Sáng hội Rafto đã bị bắt khi bước vào Thanh Minh Thiền viện để trao giải cho Hòa thượng.

Còn trường hợp của tôi, thì bị bắt khi vừa ra khỏi Thanh Minh Thiền viện. Công an mặc thường phục đứng chờ bên kia đường trước mặt Thiền viện, họ đã bắt tôi đưa về đồn công an. Rốt cuộc tôi cũng được trả tự do - nhưng chỉ sau khi họ thẩm vấn tôi suốt một giờ đồng hồ về sự kiện vì sao tôi đến chùa. May mắn thay, một sự lơ là khiến cho người bạn đồng nghiệp của tôi, người điều khiển máy quay phim, đã kịp trốn thoát qua một cửa cạnh chùa.

Đoạn phim mà chúng tôi ghi được ở Thanh Minh Thiền viện sẽ được trình chiếu ở thủ đô Oslo, Vương quốc Na Uy, vào ngày 28.4, tại Đại hội Diễn Đàn Tự do Oslo. Và cũng sẽ được đưa trực tuyến lên Trang nhà www.oslofreedomforum.com.
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Nhu cầu phục hồi tín nhiệm

Nguyễn Ðạt Thịnh

Tương quan giữa người dân Việt Nam và quan chức Việt Cộng là tương quan chủ-tớ, nhân dân là chủ, quan chức Việt Cộng là đầy tớ; tiếng bình dân của Sài Gòn gọi đầy tớ là mọi. Việt Cộng mê cái chữ “mọi” không mấy dễ thương này; chúng quảng bá, ca tụng tương quan giữa chủ với mọi, chúng còn van vái ông thủy tổ Hồ Chí Minh của chúng cho chúng được vĩnh viễn làm mọi của nhân dân. Hẳn nhiên Vẹm có nguyên nhân để thích làm mọi.

Nhưng nhân dân lại không hép pi với tên mọi gian manh này: nấu nướng dưới bếp, chúng ăn vụng hết mọi miếng thịt ngon, mọi khoanh cá tươi, rồi dọn lên nhân dân đại sảnh toàn là xương xẩu. Dó đó nhân dân mất tín nhiệm với tên mọi gian manh, và chỉ muốn đuổi hắn ra khỏi nhà càng sớm càng tốt.

Chính vì việc chủ không hép pi, muốn cho mọi nghỉ việc mà vài năm một lần, nhà nước Việt Cộng có nhu cầu phục hồi tín nhiệm của chủ: chúng chờ thời điểm sắp đến ngày đại hội Ðảng, để nới lỏng kiểm soát cho nhân dân thả dàn, thả cửa chỉ trích chúng.

Ngây thơ tưởng mùa tự do ngôn luận đã trở thành một giá trị miên viễn, nhiều ký giả thẳng tay viết bài chỉ trích; hậu quả là ký giả Nguyễn Việt Chiến ngồi gỡ 2 quyển lịch trong ngục tối, và nhiều ký giả khác về vườn đuổi gà cho vợ.

Sang năm, 2011, đảng Việt Cộng lại họp đại hội, và lại như mọi khi, Việt Cộng mở khóa miệng cho mọi người thỏa thích chửi chúng.
Học kinh nghiệm Nguyễn Việt Chiến, lần này các bạn đồng nghiệp của anh tỏ ra dè dặt hơn: họ ký những bút hiệu mới, và sẵn sàng phủ nhận “hổng phải tui”; nhưng dù viết theo kiểu “ghost writer” họ cũng chỉ đề nghị những cuộc dân chủ thử nghiệm, chứ không chống tham nhũng thật như anh Chiến nữa.

Anh Trực Ngôn, một ghost writer, đề nghị chính phủ “giả vờ” cho phép nhân dân phê bình cung cách làm việc của nhà nước; anh viết, “Việc phê bình chỉ đơn giản như cách người ta vẫn làm phiếu điều tra xã hội học. Chính quyền phát phiếu cho từng người dân một. Nhưng cho dù chỉ là phê bình thử thì cũng phải làm sao để nhân dân không... sợ Chính quyền mà dám nói thật lòng mình.”

Trực Ngôn gạt bỏ phương pháp trả lời đơn giản “yét” hay “nô”, vì phương pháp này có thể đưa đến một kết quả “toàn nô” vô cùng khó coi, nếu câu hỏi là “nhà nước có phục vụ nhân dân không?”

Ðề nghị “multiple choices”, Trực Ngôn viết, “Ví dụ phiếu đó có các ô để nhân dân nhận xét bằng cách đánh dấu đơn giản về các mức độ nhân cách của các "quan cách mạng". Các ô đó có thể như sau: ưu tú, tốt, trung bình, tham danh, tham tiền, hư hỏng, biến chất...”

“Chấm điểm các quan” là một hình thức thực hiện dân chủ trong mùa đại hội Ðảng; một hình thức khác là hỏi thăm sức khỏe các “anh cả đỏ”, hỗn danh nhân dân tặng cho các tập đoàn kinh tế Nhà nước.
Việt Cộng trình bày chính sách “anh cả đỏ” là hợp lý và cần thiết nhằm tạo ra những tập đoàn kinh tế hùng mạnh với sứ mệnh làm đầu tàu kéo nền kinh tế Việt Nam cất cánh. Để thực hiện chiến lược đó, những tập đoàn kinh tế Nhà Nước được nhận những ưu tiên đặc biệt về nguồn vốn, đất đai và những điều kiện khác.

Tờ Tiền Phong viết, “… cho đến lúc này, không ít những tập đoàn với cơn mơ hùng mạnh bay lên tựa rồng lại trở thành nỗi lo khổng lồ của chúng ta, như chuyện Tập đoàn Than Khoáng sản (TKV), cũng thuộc diện "anh cả đỏ" của Nhà nước lãng phí mỗi năm 5.000 tỷ đồng. Tôi nói thật là cho đến bây giờ số tiền mà TKV lãng phí dù đã được công bố, tôi vẫn không tin. Vì một Tập đoàn lãng phí mỗi năm từng đó tiền mà hình như xã hội mình vẫn cứ tươi cười hoan hỉ chẳng thấy gương mặt nào âu lo.
Tôi là kẻ chỉ nghĩ được cái trước mắt chứ không nghĩ được cái lâu dài nên tìm cách so sánh cụ thể giá trị 5.000 tỷ có giá trị cụ thể như thế nào. Thôi thì lấy giá một ngôi nhà tình nghĩa mà xã hội vẫn xây cho những người có công với cách mạng, những gia đình khó khăn cần được trợ giúp vậy.
Theo giá một ngôi nhà tình nghĩa tôi biết khoảng 20 triệu đồng thì số tiền mỗi năm TKV lãng phí sẽ xây được 25.000 ngôi nhà. Thế là, cứ 12 tháng nhân dân cúi mặt cấy lúa trồng khoai, cóp nhặt như cố nhà thơ Tố Hữu viết: "Mỗi hòn than, mẩu sắt, cân ngô/ Ta nâng niu, gom góp dựng cơ đồ" cho đến khi ngẩng mặt lên thì thấy 25.000 ngôi nhà vụt biến mất.
Rồi lại cái "anh cả đỏ" EVN được đầu tư vốn Nhà nước như nước sông Hồng mùa lũ và nhân dân bền bỉ chấp nhận giá điện tăng, tăng và tăng để anh EVN bền bỉ thiếu điện và cúp điện.

Thế nhưng, những chuyện dùng tiền đầu tư Nhà nước thoải mái như dùng không khí trời ban rồi lại cái sự hay quên đến cái sự lãng phí... hình như lại là những câu chuyện bình thường hay sao ấy. Hỡi các nhà kinh tế học, xin các ngài dự báo con rồng kinh tế Việt Nam đang ở dạng nào? Dạng phôi, dạng "trứng vịt lộn", dạng "mọc lông măng" hay dạng đã bay vù vù?

Bí quyết giữ cho nồi nước chaudière không nổ vì áp xuất quá mạnh là xả xú páp, nhưng những cái xú páp vài năm mới mở một lần có đủ làm thoát hết áp xuất không? Và người dân Việt Nam có đủ kiên nhẫn để tin mãi vào những lời láo khoét của chú mọi gian hùng
không?

Nguyễn Ðạt Thịnh
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Ai được giải phóng?

Ngô Nhân Dụng
Một bức hình mới được truyền tay trên Internet trong ngày hôm qua; hình chụp một tấm biểu ngữ đỏ treo trên bao lơn một tòa nhà ở Hà Nội theo kiến trúc mới mẻ; phía dưới thấy tấm biển quảng cáo của một “Công ty Bảo hiểm Nhân thọ lớn nhất...” Biểu ngữ này có hai hàng chữ mầu vàng, nói về hai ngày kỷ niệm, 30 tháng 4 và mùng 1 tháng 5. Lý do khiến tấm hình được mọi người gửi cho nhau qua mạng lưới là nội dung của nó không bình thường. Hàng dưới chào mừng ngày quốc tế lao động, còn hàng trên của tấm biểu ngữ viết: “Chào Mừng Ngày Giải Phóng Thủ Ðô 30-4”.

Chắc tấm biểu ngữ này được treo ở Hà Nội, và người viết biểu ngữ đã viết nhầm. Bình thường thì bộ máy tuyên truyền của đảng Cộng Sản vẫn gọi 30 Tháng Tư là Ngày Giải Phóng, nhưng nơi được giải phóng là Sài Gòn chứ không phải Hà Nội. Mà hiện nay thì Sài Gòn không được coi là thủ đô của nữa. Giờ này ai muốn biến Sài Gòn thành thủ đô thì khó sống!

Chỉ vài tiếng đồng hồ sau khi nhận được bức hình trên, mọi người lại nhận được bức hình thứ hai qua email. Hình này chụp cảnh hai thanh niên đứng trong bao lơn kéo tấm biểu ngữ trên, đang gấp lại được gần một nửa, vẫn còn nhìn thấy các chữ “Ngày giải phóng thủ đô 30-4”.

Coi hai bức hình, phải đoán là cùng một người chụp! Tức là một người nào đó ở Hà Nội biết tấm biểu ngữ sắp bị tháo gỡ, vội vã lấy máy đi chụp, trước và trong khi đang tháo! Và, cũng người Hà Nội này, đã gửi hình lên mạng lưới làm trò giải trí cho người Việt Nam khắp thế giới!

Phải tự hỏi tại sao người viết tấm biểu ngữ này lại nhầm, đổi Sài Gòn thành ra Hà Nội? Bà con có thể đoán người viết biểu ngữ cố ý chống Cộng, nói “Ngày 30 Tháng Tư chính là người Hà Nội được giải phóng, chứ không phải Sài Gòn.” Nhưng trò chơi chữ này rất nguy hiểm, khó giấu diếm và hình phạt sẽ rất nặng, chắc không ai dám chơi!

Cho nên, có thể giả thiết là người viết tấm biểu ngữ này chẳng còn nhớ ngày 30 Tháng Tư xẩy ra chuyện gì nữa! Lệnh trên bảo: “Ði trương biểu ngữ chào mừng ngày giải phóng 30 Tháng Tư nhé!” Cấp dưới, một bạn trẻ dưới 40, bèn viết đúng theo ý đó, nhưng viết đủ 4 chữ “giải phóng thủ đô.” Vì mấy chữ này nghe nó quen quen!

Nhưng 2 tấm hình được truyền đi là cơ hội cho nhiều người bàn luận. Một nhà báo cho là tấm biểu ngữ đó viết đúng sự thật. Ngày 30 Tháng Tư năm 1975, chính người dân Hà Nội được giải phóng! Người Hà Nội được giải phóng khỏi một tấn tuồng gian dối! Vì sau ngày 30 Tháng Tư đồng bào miền Bắc bắt đầu thấy được sự thực xã hội miền Nam đã sống như thế nào; bộ mặt gian trá của đảng Cộng Sản càng lộ rõ hơn.

Nói như vậy không phải là coi thường khả năng phán đoán chính trị của bà con miền Bắc. Thật ra, không cần phải chờ đến ngày 30 Tháng Tư năm 1975 đồng bào ta mới biết cả chế độ Cộng Sản là “Một quả lừa vĩ đại trong lịch sử!”

Nhưng ngày 30 Tháng Tư năm 1975 vẫn đánh dấu một khúc quanh lịch sử, bởi vì sau ngày đó thì rất nhiều sự thật hiện rõ ra, hiện ra một cách tự nhiên, không cần ai xếp đặt cả. Những sự thật đó lớn quá, không thể che giấu được. Chúng khiến cho đảng Cộng Sản mất chủ động, lâm vào thế phải chống đỡ, ngày càng yếu đi.

Cảnh suy yếu của đảng Cộng Sản Việt Nam diễn ra chậm chạp, tới nay vẫn chưa kết thúc; nhưng quá trình tàn lụi không có cách nào quay ngược lại được. Ai có thể bảo vệ một cái chủ nghĩa viển vông, không tưởng mà chính tại quê hương của nó người ta đã đem chôn? Ai có thể che đậy những tội ác trồng chất lâu hàng thế kỷ bằng cách cấm người ta nói? Sau ngày 30 Tháng Tư năm 1975, tình trạng suy nhược của đảng Cộng Sản Việt Nam bắt đầu, vì môi trường khách quan ở Việt Nam và trên thế giới đã thay đổi mà họ không đủ sức ứng biến mà đối phó với đời sống phức tạp trong thời bình.

Khung cảnh khách quan đã thay đổi như thế nào? Ðất nước hòa bình và thống nhất khiến đảng Cộng Sản không còn sử dụng được các chiêu bài “yêu nước, cứu nước” mà ông Hồ Chí Minh và đồng đảng của ông vẫn sử dụng để khích động dân Việt Nam trong 30 năm trước đó. Nhiều thanh niên tin chiêu bài đó, cho nên chịu chết cho họ củng cố quyền hành. Nói như nhà văn Dương Thu Hương, đảng Cộng Sản Việt Nam đã “khai thác được cả một mỏ vàng ròng” là lòng yêu nước của người Việt Nam. Nhưng sau ngày 30 Tháng Tư 1975, chiêu bài “yêu nước, cứu nước” đó không còn hiệu nghiệm nữa.

Chính Dương Thu Hương, khi vào thăm Sài Gòn lần thứ nhất, đã ngạc nhiên khi thấy trong chế độ “tay sai tư bản Mỹ” ở đó người ta vẫn dịch Lev Tolstoi. Tchekov, Pasternak, những tác giả Nga, nước đứng đầu khối Cộng Sản - trong khi ở miền Bắc tất cả mọi thứ về nước Mỹ đều bị cấm đoán hoặc bị bôi nhọ. Cô cũng thấy những cuốn sách nghiên cứu chủ nghĩa Mác xít của các tác giả Hung, Tiệp được bầy bán trong tiệm sách và ngoài lề đường. Nhà văn đã chạm tay vào, đã được nếm hương vị một thứ mới lạ, là Suy Nghĩ Tự Do. Tất cả những người quen dùng đầu óc để suy nghĩ, quen sống với trái tim rung động, khi từ Bắc vào Nam sau năm 1975 đều trải qua một kinh nghiệm mới. Họ phải cảm thấy cuộc chiến tranh có một mầu sắc khác, một nguyên nhân khác. Cuộc chiến chấm dứt năm 1975 không phải là “Chống Mỹ Cứu Nước” như đảng Cộng Sản vẫn hô hoán. Ðó còn là một cuộc chiến tranh ý thức hệ. Cuộc nội chiến biểu hiện cuộc tranh chấp giữa hai chủ trương quản trị xã hội loài người; hai hệ thống kinh tế, hai trào lưu triết học; hai đường lối liên minh ngoại giao của các dân tộc Á Phi, hoặc theo phe Cộng Sản, hoặc theo khối tư bản. Mối nghi ngờ đã nẩy mầm.

Năm 1975 mở đầu một giai đoạn mới trong cuộc chiến ý thức hệ, đã bắt đầu từ những năm 1930, nổ bùng lên năm 1945 và trở thành đẫm máu nhất trong cuộc chiến tranh Nam Bắc từ năm 1960 đến 1975, khi những đoàn bộ đội mở đường phía Tây Trường Sơn tiến vào miền Nam. Sau năm 1975, trên đồng bằng phía Ðông Trường Sơn một dòng lưu chuyển mới chạy từ Nam ra Bắc. Không những nhiều người mang về Bắc các xe gắn máy, radio, tủ lạnh, đồng hồ, có những anh bộ đội chỉ mang về cho con một hình búp bê nhựa rẻ triền; mà trong năm, mười năm sau đó đoàn người Bắc tiến này còn mang theo những mốt quần áo mới, những băng nhạc, sách vở, cách nói năng, nếp sống hàng ngày; họ đem về Bắc cả những tập tục, phong hóa thuần hậu của người miền Nam. Người miền Bắc bắt đầu tập nói giọng miền Nam, nhất là câu: “Nói dzậy mà không phải dzậy!” Các huyền thoại tan rã dần. Nhà văn bắt đầu ý thức mình và dân tộc mình là nạn nhân của một vụ lừa đảo quốc tế.

“Quả bịp vĩ đại của Ðảng” bắt đầu nứt vỡ.

Không phải người dân miền Bắc nào vào Sài Gòn cũng bén nhậy như Dương Thu Hương. Phải đợi thời gian trôi qua, dần dần mọi người đều nhìn thấy những sự thật được phơi bầy. Chiến tranh chấm dứt, đảng Cộng Sản phải đóng vai trò quản lý một quốc gia trong thời bình. Và họ đã thất bại. Thất bại về kinh tế khiến hàng triệu người đói rách thiếu ăn. Những quyết định dại dột về ngoại giao đưa tới 2 cuộc chiến tranh ở Cam Pu Chia và biên giới Trung Quốc làm chết thêm hàng trăm ngàn thanh niên Việt Nam một cách vô ích. Chế độ độc tài chuyên chế khiến hàng triệu người liều mình bỏ nước ra đi, kể cả những người dân đã sống bao nhiêu năm trong chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Xã hội ngày càng bất công, dân oan kêu khóc khắp nước. Những thất bại trên buộc đảng Cộng Sản lộ nguyên hình là một nhóm người không xứng đáng lãnh đạo một quốc gia trong thời đại mới.

Các “thiên đường mù” ở Nga và Ðông Âu tan vỡ năm 1990 là những cái đinh sau cùng đóng trên chiếc quan tài ý thức hệ Cộng Sản. Ðảng Cộng Sản bây giờ chỉ còn là một cái xác không hồn, được nhóm người lãnh đạo sử dụng để “chia quả thực” với nhau, trước khi giải tán. Mà sớm muộn thế nào rồi cũng sẽ giải tán.

Cho nên ngày 30 Tháng Tư năm 1975 đảng Cộng Sản Việt Nam “đại thắng” trên mặt trận quân sự nhưng bắt đầu thua trên tất cả các mặt khác. Nhiều người Việt Nam bây giờ vẫn tranh đấu đòi xây dựng một chế độ dân chủ, đòi cho nước ta được sống tự do, kinh tế thị trường được phát triển và chủ quyền quốc gia được tôn trọng. Họ đang tiếp tục cuộc đấu tranh của những Nhượng Tống, Trương Tử Anh, Khái Hưng, Huỳnh Phú Sổ, Phan Văn Hùm thời 1945, những người đã bị Cộng Sản sát hại. Ðảng Cộng Sản sẽ phải lùi bước để dân Việt Nam được sống tự do như các dân tộc văn minh khác.

Cuộc đấu tranh đòi tự do dân chủ cho nước Việt Nam bây giờ cũng chính là một hình thức tiếp tục cuộc chiến đấu của những chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa trước khi họ phải buông súng ngày 30 Tháng Tư năm 1975. Nhờ sự hy sinh của các chiến sĩ đó suốt thời chiến, miền Nam Việt Nam tồn tại được cho đến 1975, thay vì bị đảng Cộng Sản nuốt gọn từ 15 năm trước. Mười lăm năm lúc nào cũng bị Cộng Sản phá phách ám sát, phá hoại rồi gây chiến, tổng tấn công! Trong thời gian ngắn ngủi này người dân miền Nam chưa đủ thời giờ xây dựng một chế độ tự do dân chủ như lòng mong muốn. Nhưng cuộc sống ở miền Nam cũng đủ không khí tự do, đủ tinh thần nhân bản. Ðồng bào miền Nam đã bảo vệ được truyền thống đạo lý của tổ tiên, đồng thời biết tập thói quen tôn trọng luật pháp và tôn trọng nhân quyền của văn minh nhân loại. Chính nếp sống thuần hậu đó đã tạo được những nhân lành, những hạt giống chôn lấp dưới bề sâu xã hội miền Nam sau năm 1975. Chúng chỉ chờ ngày gặp mưa thuận gió hòa sẽ nẩy mầm rồi sinh hoa, kết trái. Khi đồng bào miền Bắc tiếp xúc được với nếp sống thuần hậu đó, những luống đất lành đã mở ra tiếp nhận. Nếu nói rằng đồng bào miền Bắc được “giải phóng” nhờ có ngày 30 Tháng Tư, điều này cũng đúng. Còn đối với những chiến sĩ Cộng Hòa đã hy sinh, phải khẳng định: Họ đã không hy sinh vô ích. Chính họ đã bảo vệ những hạt giống lành đó trong suốt những năm chiến tranh, để các thế hệ người Việt mai sau sẽ vun trồng. Nhờ thế, dân tộc Việt Nam sẽ được giải phóng!
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Lằn Ranh Quốc Cộng Cần Ðược Tô Ðậm Hơn

Sơn Hà
Trên các phương tiện truyền thông, bỗng có những người tránh nói chuyện chống cộng. Càng ngày, có thêm người Việt ở hải ngoại tỏ ra ngại ngùng khi nói đến những chữ lằn ranh quốc cộng. Ðã vậy, họ còn cùng với tập đoàn cộng sản Hà Nội, hò hát đong đưa, đòi "xóa bỏ hận thù, quên quá khứ, hướng đến tương lai...". Một thứ ca kệ lả lướt, bay bổng nhẹ nhàng như tiếng lá thu rơi, như đêm trăng thanh gió mát! Nó như một thứ tà thuật thôi miên, du "Việt kiều" vào chốn mê muội, đem tiền về ăn chơi, du hí,... gọi là góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội, để quên đi cái căn gốc người Việt Nam tỵ nạn cộng sản; quên mất bổn phận đối với tổ quốc Việt Nam! Trong khi đó, rất nhiều người dân Việt Nam ở trong nước thì tối mặt tối mày với cuộc sống cơ cực, chẳng còn biết thế nào là bảo vệ quốc gia, thế nào là tiếp tay với bọn gian tà cộng sản tàn phá đất nước.

Phải chăng công việc chống cộng sản không còn cần thiết nữa? Phải chăng đảng cộng sản ngày nay bỗng trở thành những người tử tế, yêu thương hết thảy mọi người? Những câu hỏi này tự nó trở thành câu trả lời cho mỗi người.

Dù sao, từ phía đảng cộng sản nắm quyền cai trị, thường xuyên tung ra các đợt tuyên truyền cùng với đám tay sai lên gân cổ rằng đảng cộng sản ngày nay đã cởi mở và không còn gian ác như ngày xưa nữa. Phía bên kia, người ta vẫn còn tin rằng bản chất của đảng cộng sản là độc ác, gian tà,... từ ngày đầu mới thành lập cho đến ngày hôm nay. Họ vẫn lên án bọn cộng sản cầm quyền đang bóc lột nhân dân, tàn phá con người và xã hội, bán rẻ đất nước cho ngoại bang. Ðiều ấy hiển nhiên rằng, trong xã hội Việt Nam có hai khối người, mang hai khuynh hướng đối nghịch nhau rõ rệt: một bên là thiểu số theo cộng sản dùng bạo lực khống chế bên kia là đại đa số nhân dân là những người chống cộng sản. Dù nhìn từ góc cạnh trong nước hay ngoài nước, hai phe ấy là: cộng sản và quốc gia. Chính giữa là lằn ranh. Lằn ranh này không phải chỉ để phân chia đất đứng của hai phe. Nó là ranh giới giữa bóng tối và ánh sáng; giữa chánh trực và gian tà; giữa thiện và ác!

Nhiều thế hệ Việt Nam đã sống trong từng thời kỳ đảng cộng sản cai trị nước Việt Nam , đã chứng kiến những cảnh tượng đảng cộng sản tiêu diệt đối thủ bằng những phương tiện rất dã man. Các chứng tích được ghi trong sách và tài liệu phim ảnh, được xác nhận bởi nhiều nhân chứng và vật chứng qua các cuộc tiêu diệt những người bị xem là tư sản, tiểu tư sản và trí thức Việt Nam . Các cuộc tiêu diệt này được lồng dưới những danh từ đẹp đẽ như "cải tạo nông nghiệp, cải cách điền địa, cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh", đấu tranh cách mạng, giải phóng dân tộc,... rồi cho đến các cuộc cuồng sát năm 1962, Tết Mậu Thân 1968, 1972, 1975,… xương chất thành núi, máu chảy thành sông. Mục tiêu của đảng cộng sản là chiếm cả nước để đưa Việt Nam vào quỹ đạo cộng sản quốc tế.

Từ 80 năm qua, Cộng Sản Trước Sau Vẫn Tàn Ác
Vào giai đoạn ban đầu của đảng cộng sản, tài liệu "Cuộc Cải Tạo Nông Nghiệp tại Miền Bắc" của giáo sư Vũ Quý Kỳ, trích lời một hồi chánh viên tên Nguyễn Văn Thân, Kỹ sư Thủy Lợi, thuộc Bộ Thủy Lợi Bắc Việt, trước kia đã tham gia cải cách ruộng đất tại Xóm Chuối tỉnh Ninh Bình, tóm tắt quan niệm chiến lược của Việt cộng (VC) như sau:

"Theo tài liệu của Ðại hội Ðảng chuẩn bị cho cải cách ruộng đất thì việc đấu tranh giai cấp giữa địa chủ và nông dân đã được đặt ra ngay từ khi thành lập Ðảng Cộng Sản Việt Nam . Họ nhận xét rằng từ 90% đến 95% dân chúng Việt Nam là nông gia chuyên nghiệp, và trong số này thì chỉ có khoảng 5% là địa chủ phú nông, còn đa số đều là kẻ làm thuê, làm mướn, tá canh, tá điền; do đó, nếu muốn làm cách mạng xã hội, họ phải lôi cuốn được khối đa số đó, phải thỏa mãn khối đa số đó bằng quyền lợi để sau này nắm chặt khối đa số đó bằng sắt máu...".
...
"Chiến lược là toàn bộ một kế hoạch nhằm vận dụng sức mạnh căn bản để đánh trúng địch bằng những đòn chí tử cho tới khi nó gục ngã...".

Từ nông thôn cho đến thành thị, trước tiên, những người có tài sản đều là kẻ thù của đảng cộng sản. Có vốn trí thức cũng bị xem là tư sản trí thức và bị xem kẻ thù giai cấp. Ðảng cộng sản thường trực tiến hành cuộc đấu tranh giai cấp để tiêu diệt kẻ thù. Ở bất cứ nơi nào, cộng sản đánh những người trí thức bằng "những đòn chí tử cho tới khi gục ngã".

Bởi vì, những người không theo cộng sản là kẻ thù của đảng và phải bị tiêu diệt!

Cũng vào giai đoạn đầu, khi đảng cộng sản mới thành lập và hoạt động ở Việt Nam , chiến dịch tiêu thổ kháng chiến để làm gì? Có phải để Tây và những người theo Tây không có cơ sở đặt chân, hay đó chỉ là cái cớ để đảng cộng sản tiêu diệt sức đề kháng của dân chúng. Trong hồi ký Chứng Từ của một Giám Mục, của Ðức Giám Mục Lê Ðắc Trọng mới được tái bản tại hải ngoại, ÐGM Lê Ðắc Trọng viết: "Họ phát động chiến tranh chống Pháp, và để thế giới và các giới có cảm tình, dễ đồng tình hơn. Cuộc chiến được khoác danh nghĩa 'kháng chiến'".

"...Tôi biết được điều ấy nhờ vào các tài liệu mà em rể tôi là Ban cho xem. Tôi biết một nửa đó là thế nào. Ðây, các nhà giàu, tư sản ở thành phố, họ phải bỏ nhà cửa, đồ đạt, tay không mà chạy. Thế là họ mất một nửa (họ đây lại là đối tượng cuộc chiến đấu). Thế rồi, họ ra ngoài. Ta không để họ yên một chỗ, họ mang vàng bạc, tiền của đi. Thực ra cũng khó mà mang đi hết, vì phải đi vội vàng, cấp bách để tránh đạn, và có người chắc chắn khâu tiền vào áo ba-đờ-suy. Rồi tủ, bàn ghế, các đồ quý, có người cố gắng đem đi. Bây giờ ta đưa họ đến chỗ an toàn. Tiền tiêu cũng như núi lở, rồi hết, đồ đạt cồng kềnh phải bán đi. Thế là chẳng mấy chốc họ trắng tay...

...Cái "chiến lược vườn không nhà trống" không phải chỉ để đối phương không còn chỗ đặt chân, mà nhất là dân cư của vườn của nhà không còn gì!" (trang 307)

Ngay từ khởi đầu, đảng cộng sản đã vạch rõ ta và thù. Ðối với đảng cộng sản, những ai theo đảng cộng sản là ta, còn lại là kẻ thù, bất kể là nông dân, trí thức, giàu hay nghèo. Mà đã là kẻ thù của đảng thì đảng làm cho trắng tay và không còn sức đề kháng.

Trong tài liệu "Trăm Hoa Ðua Nở Trên Ðất Bắc" của cụ Hoàng Văn Chí có kể về chuyện Thượng Thư Lý Tư của Tần Thủy Hoàng làm sớ tâu rằng: "Từ trước tới nay, thiên hạ sống trong cảnh phân chia, nên tư tưởng bị hỗn loạn… Ngày nay Bệ hạ đã thống nhất sơn hà mà vẫn còn nhiều người ngang nhiên mở trường dạy học, mang ý kiến riêng của mình ra chê bai luật pháp và chính sách của triều đình… Nếu Bệ hạ không mau ngăn cấm thì kỷ cương sẽ sụp đổ từ trên xuống dưới và đảng phái sẽ mọc từ dưới lên trên".

Theo cụ Hoàng Văn Chí, khi cộng sản chiếm trọn nước Trung Hoa thì Mao Trạch Ðông đã rập khuôn Tần Thủy Hoàng tiến hành cuộc "cách mạng văn hóa", đốt sách, bắt giam trí thức vì sợ giới trí thức này đòi tự do báo chí, đòi tự do ngôn luận và cho mọc lên những thứ "cỏ độc" trong dân gian. Rồi "cải cách ruộng đất" và "cải tạo công thương nghiệp" để chiếm đất ruộng và tài sản của nhân dân. Hồ Chí Minh và cộng sản Việt Nam bắt chước rập khuôn Mao Trạch Ðông, cũng dùng những thủ đoạn gian tà, cũng "cải cách ruộng đất", cũng "cách mạng văn hóa", để cướp nhà cướp đất của nhân dân, để tiêu diệt tầng lớp tư bản và trí thức Việt Nam. Bọn cộng sản dùng bạo lực để ăn cướp và đàn áp những người không theo cộng sản.

Thật vậy, đảng cộng sản không chấp nhận bất cứ ai xây trường học, in sách; không ai được quyền lập đảng, lập hội. Chỉ có đảng cộng sản mới có quyền làm báo, in báo, kiểm soát truyền thông báo chí. Chỉ có đảng cộng sản mới có quyền xây trường học, lập ra mặt trận và lập ra các tổ chức ngoại vi của đảng cộng sản. Vì đảng cộng sản không muốn thấy hoa dân chủ mọc "từ dưới lên trên", sẽ làm "sụp đổ từ trên xuống dưới".

Trải gần 80 năm qua, biết bao nhiêu cuộc truy quét cũng với mục tiêu duy nhất là làm cho nhân dân trắng tay, không còn sức đề kháng. Ai không theo đảng cộng sản thì vẫn là kẻ thù của đảng. Không thay đổi!

Cuối năm 2007, trong dịp sinh hoạt với Quân ủy Trung ương - Bộ Quốc phòng VC, chủ tịch VC Nguyễn Minh Triết nói rằng: "Dù ai nói ngả nói nghiêng, dù ai muốn bỏ điều 4 Hiến Pháp gì đó thì không có chuyện đó, bỏ cái đó đồng nghĩa với việc chúng ta tuyên bố tự sát". Tập đoàn cầm quyền VC khi lập ra Hiến Pháp, ghi điều 4 vào đó để bảo đảm độc quyền cai trị đất nước. Cho nên, nếu chấp nhận dân chủ thì giống như đảng tự sát. Ðến nay, bản chất của cộng sản vẫn còn y nguyên, vừa được chủ tịch nước VC khẳng định như thế.

Gần 80 năm qua, đảng cộng sản vẫn tiếp tục theo đuổi con đường độc tài và độc quyền cai trị đất nước Việt Nam , không hề thay đổi. Ðầu năm 2010, trong "Ðề cương tuyên truyền Kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Ðảng Cộng sản Việt Nam", đảng cộng sản vẫn còn xác quyết con đường này:

"Là Ðảng cầm quyền duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam trong suốt 80 năm qua...

- Kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, không đa nguyên, đa đảng..."

Còn Cộng Sản Là Còn Oan Khiên
Chuyện xảy ra mới đây không quá ba tháng, là những cuộc đàn áp tôn giáo tại nhiều nơi trên cả nước: tại Ðồng Chiêm, Thái Hà, Loan Lý, Lâm Ðồng, Long An, Cần Thơ, Quảng Nam , Quảng Ngãi,... Ðảng cộng sản thuê mướn bọn côn đồ ném bùn và cứt trâu vào những nhà tu và Phật tử ở Chùa Bát Nhã tại Lâm Ðồng. Trói gô, đánh đập, bắt đem đi các tu sinh với những lý do vu vơ. Ở các giáo xứ Thái Hà, Tam Tòa cũng là cảnh dựng đứng để vu oan giá họa cho giáo dân để bắt nhốt tù. Ở Ðồng Chiêm, cộng sản đem công an và chó săn đến bao vây và dùng chất nổ phá sập Thánh Giá trên Núi Thờ! Ở Long An, An Xuyên, công an VC xông vào nhà tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo tịch thu ảnh thờ Ðức Huỳnh Giáo Chủ, tịch thu băng thu âm bài giảng của Ðức Thầy. Ở Quảng Nam tín đồ của đạo Cao Ðài cũng bị giải tán trong lúc đang cử hành cuộc lễ. Ở Kontum, và các nơi khác ở cao nguyên, VC đã giật sập nhà nguyện và giải tán bà con theo đạo Tin Lành và bắt giam các giáo sĩ và kết tội họ làm gián điệp cho đế quốc Mỹ. VC không cho nhân dân Việt Nam có quyền tự do tôn giáo.

Kể tội ác của cộng sản sao lại bảo là kể chuyện cũ? Chuyện vẫn còn đang xảy ra hôm nay thì sao bảo là chuyện cũ được? Ðảng cộng sản Việt Nam mới vừa tống giam hàng loạt những người bất đồng chính kiến dù chỉ hành động ôn hòa. Những người còn rất trẻ, không thù hận cá nhân, không ân oán với đảng cộng sản như luật sư Lê Thị Công Nhân, nhà giáo nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, các luật sư, các nhà trí thức Nguyễn Văn Ðài, Lê Công Ðịnh, Lê Trần Luật, Lê Thăng Long, Ðỗ Nam Hải, Nguyễn Xuân Nghĩa, ... các nhà báo Ðiếu Cày Nguyễn Văn Hải, Phạm Toàn,... Họ là những người ôn hòa đòi hỏi nhà nước và đảng cộng sản Việt Nam tôn trọng quyền làm người của nhân dân Việt Nam . Họ bày tỏ lòng yêu nước và không chấp nhận hành động bán nước của đảng cộng sản, dâng cho Trung cộng những phần lãnh thổ Việt Nam ; đã bị đảng cộng sản trả thù bằng cách bắt giam. Các vị lãnh đạo các tôn giáo như linh mục Nguyễn Văn Lý, Hòa thượng Thích Quảng Ðộ và vô số các nhà tu hành còn ở trong nhà tù cộng sản hay bị cầm tù tại gia cho đến ngày hôm nay, với tội danh "làm việc tôn giáo cũng là làm chính trị".

Hành động bạo ngược của bọn cộng sản bất lương đang cầm quyền tại Việt Nam vẫn diễn ra mỗi ngày. Ðảng cộng sản là mầm móng của bao tang tóc, lầm than ở Việt Nam . Không ai có thể chờ đợi ở bọn bất lương này trở thành người tử tế. Bởi vì ai không theo đảng cộng sản sẽ bị xem là kẻ thù và lãnh những đòn thù "chí tử cho tới khi gục ngã".

Trong tài liệu "Nhận Ðịnh Về Những Sai Lầm Tai Hại Của Ðảng Cộng Sản Việt Nam Ðối Với Dân Tộc Và Phật Giáo Việt Nam" của Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ, có đoạn viết rằng:

Một người ở xã Vũ Ðoài ra chùa, xin tôi mấy chữ Hán về treo trước bàn thờ tổ tiên trong ba ngày tết. Tôi nghĩ treo trước bàn thờ tổ tiên thì không có chữ nào hợp tình hợp cảnh bằng bốn chữ xưa nay rất thông dụng, đó là bốn chữ ... Ẩm Thủy Tư Nguyên, nghĩa là uống nước nhớ nguồn. Vậy mà công an đến hỏi người chủ nhà những chữ gì, vì anh ta không biết chữ Hán. Sau khi nghe chủ nhà giải nghĩa, anh công an nói : "Coi chừng hắn (tức là tôi) định nói chính trị trong đó đấy !". Sống trong một xã hội luôn luôn bị rình rập và nghi kỵ như vậy, đến mấy chữ uống nước nhớ nguồn mà cũng nghi là chính trị, cũng như tôi bị quản thúc lưu đày đã mười năm nay (1982-1992) chỉ vì cái tội "làm việc tôn giáo cũng là làm chính trị", thì tôi thiết nghĩ dù có ngồi trên đống vàng cũng chẳng cảm thấy hạnh phúc. Bởi vậy bất cứ lúc nào có cơ hội là người Việt Nam sẵn sàng bỏ nước ra đi, chứ không phải vì nguyên do nghèo khó, kinh tế thiếu thốn đâu. Tôi xin kể một câu truyện cổ để chứng minh. Ðức Khổng Tử sang nước Tề, đi qua núi Thái Sơn, thấy một người đàn bà đang khóc ở ngoài đồng, nghe thảm thiết lắm. Ngài nói với đoàn tùy tùng : "Người đàn bà kia hình như trong nhà có trùng tang". Rồi sai Tử cống đến hỏi. Người đàn bà nói : "Ở đây lắm hổ (cọp), bố chồng tôi chết vì hổ, chồng tôi chết vì hổ, bây giờ đến lượt con tôi cũng lại chết vì hổ. Thảm lắm ông ơi !". Tử cống bảo : "Thế sao không bỏ chỗ này đi ở chỗ khác ?". Người đàn bà trả lời : "Tuy vậy nhưng ở đây chính sách quan trên không đến nỗi hà khắc như ở các nơi khác".

Tử cống đem chuyện thưa lại với đức Khổng Tử. Ngài nói : "Các ngươi nhớ đấy: chính trị hà khắc khốc hại hơn mãnh hổ !".

Cũng thế, hàng triệu người Việt Nam ngày nay bỏ nước ra đi là vì sợ một chế độ chính trị hà khắc chứ không phải vì sợ đói khổ, như tôi đã trình bày ở trên, có những người ăn đến mấy đời không hết của mà vẫn bỏ nước ra đi và có chết ngoài biển cũng vui lòng, như vậy chứng tỏ họ sợ chính trị hà khắc còn hơn cả sợ chết, cho nên ngài Khổng Tử mới nói "chính trị hà khắc khốc hại hơn mãnh hổ" là thế."

Ðến ngày hôm nay, đại lão Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ vẫn còn bị giam giữ, không cho ra khỏi Thanh Minh Thiền Viện ở Sài Gòn và bị buộc tội "làm việc tôn giáo cũng là làm chính trị". Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ là Viện trưởng Viện Hóa Ðạo của Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Vì không cho đảng cộng sản kiểm soát nên Giáo hội này đã bị cộng sản Việt Nam cấm hoạt động. Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ đã liệt chế độ cộng sản vào thứ "Chính trị hà khắc khốc hại hơn mãnh hổ" và cộng sản đã xem những vị lãnh đạo bất cứ tôn giáo nào, đều là những người "làm việc tôn giáo cũng là làm chính trị", chống lại đảng cộng sản.

Linh mục Nguyễn Văn Lý đòi tự do tôn giáo đã bị bắt và đưa ra tòa cộng sản với bản án nặng nề vì Ngài quyết tâm "Tự Do hay là Chết". Chính ngay tại phiên tòa, linh mục Nguyễn Văn Lý tố cáo bọn cộng sản gian tà và lên án tòa án căng-ku-ru vi phạm công pháp quốc tế. Công an bịt miệng linh mục Nguyễn Văn Lý rồi kéo đi trước ống kính của các nhà báo thế giới. Hình ảnh này được phổ biến khắp thế giới. Linh mục Nguyễn Văn Lý bị cộng sản trả thù bằng khủng bố tinh thần và đầy đọa thân xác đói lạnh, khiến ông phải bị ba lần tai biến mạnh máu não tưởng đã bỏ mạng trong nhà tù. Mới đây, cộng sản đã yêu cầu gia đình ông tạm thời đem về để chữa bệnh trong vòng một năm.

Lằn ranh rõ rệt, một bên là cộng sản gian tà, một bên là quốc gia không chấp nhận cộng sản. Không theo cộng sản thì trở thành kẻ thù của đảng, không có ngoại lệ!

Còn Việt cộng Là Còn Khốn Khổ
Việt cộng còn cai trị Việt Nam ngày nào thì nhân dân còn khốn khổ ngày đó. Chế độ cộng sản Việt Nam ở ngôi vị thống trị trở thành cơ hội tốt nhất cho Trung cộng xâm chiếm đất nước Việt Nam . Sự việc cộng sản Bắc Việt đứng về phe Trung cộng để cùng xâm lăng và chiếm trọn cả nước Việt Nam , mở ra những trang sử đen tối nhất của dân tộc Việt Nam. Việt cộng dâng một phần đất ở biên giới, những vùng hải đảo ở Hoàng Sa, Trường Sa và biển Ðông. Việt cộng mời Trung cộng sang Việt Nam khai thác bô-xít và chiếm hữu đất đai xem như đất của Tàu. Trung cộng ngang nhiên ngăn cấm ngư dân Việt Nam đánh cá ngay trên vùng biển của mình. Ngày nay đã quá rõ ràng: Việt cộng ở ngôi vị cai trị đang rước Trung cộng về dày xéo đất nước Việt Nam.

Chúng ta vẫn còn may mắn. Bên ngoài lãnh thổ Việt Nam có gần 3 triệu người Việt sống rải rác khắp nơi trên hoàn cầu, tiếp thu nhiều tinh hoa của thế giới làm thành tiềm năng của dân tộc Việt Nam. Tập thể người Việt hải ngoại là những người không chấp nhận cộng sản, không những tránh được hiểm họa bị tàn phá bởi chế độ mà còn là cơ hội duy trì văn hóa truyền thống của tổ tiên, trở thành tinh hoa của dân tộc. Chính tập thể này hàng năm gửi về đất nước 9, 10 tỷ Ðô La, giúp thân nhân sống còn. VC cũng lợi dụng đồng tiền này để kéo dài sự thống trị của chế độ. Một mặt VC ra sức lủng đoạn, tạo nhiều mâu thuẫn trong cộng đồng để tiêu diệt tiềm năng chống đối. Từ khi các phương tiện truyền thông điện tử được phát triển, đảng cộng sản mất dần sự kiểm soát và nhìn thấy "cỏ độc" mọc lan từ hải ngoại vào trong nước, rồi sẽ kéo đảng "sụp đổ từ trên xuống dưới".

Ngày nay, ai muốn đong đưa với cộng sản, đòi "xóa bỏ hận thù, xóa bỏ lằn ranh quốc cộng, quên quá khứ, hướng đến tương lai,...", chỉ là hành động mỵ dân, tiếp tay với kẻ thù cộng sản gian tà hãm hại đồng bào ruột thịt. Ngày nay, ai còn à ới ru ngủ người ta bằng những thủ thuật thôi miên, dụ người theo những chương trình "về nguồn, nối vòng tay lớn, xây dựng quê hương,...", là góp phần nuôi dưỡng bọn gian tà xã hội chủ nghĩa. Những ai cố tình làm hại tập thể người Việt hải ngoại thì chẳng khác nào tiếp tay với kẻ thù, phá hoại gia tài cuối cùng của dân tộc Việt Nam .

Giữ gìn tập thể người Việt tỵ nạn cộng sản là điều kiện sinh tử của dân tộc. Chống cộng sản là việc làm chính đáng, để ghi ơn những người đã hy sinh trong cuộc chiến chống cộng sản và để sống còn Yểm trợ những người tiếp tục chống cộng sản là điều cần thiết để giúp họ vững tinh thần theo đuổi mục đích cao thượng, và đáp ứng khát vọng chính đáng của toàn dân: giành lại quyền làm người Việt Nam trên đất nước Việt Nam.

Chúng ta hãy đòi lại cho lịch sử những điều chính đáng ấy. Những ai theo cộng sản thì hãy đứng hẳn về phía bên kia. Những ai bỏ cộng sản về với quốc gia thì hãy mạnh dạn bước qua bên này. Không ai có thể nhập nhằng đứng giữa hoặc đòi xóa bỏ lằn ranh!

Dù ở nơi nào trên thế giới, với bất cứ phương tiện nào, chúng ta phải kiên trì và tiếp tục phơi bày cho cả thế giới biết về tội ác của cộng sản. Trên mặt trận truyền thông và quốc tế vận, chúng ta phải làm chủ tình hình để ngăn chặn móng vuốt của cộng sản đang cố vươn đến vùng đất tự do, nơi chúng ta đang cư ngụ. Làm được như vậy, chắc chắn chúng ta sẽ tiếp tay hữu hiệu cho các chiến sĩ chống cộng sản đang hoạt động trong nước. Chúng ta cần phải tô đậm lằn ranh phân biệt thật rõ đâu là gian tà, đâu là chính nghĩa. Người Việt tỵ nạn cộng sản nhất quyết cô lập và đẩy bọn cộng sản vào xó tối lịch sử, để cùng với toàn dân vĩnh viễn tái lập hòa bình trên quê hương Việt Nam .

Sơn Hà
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Tại Sao Người Mỹ Lại Chiến Đấu Ở Việt-Nam?

GS MARK MOYAR
(Lời Việt Báo. Cuộc Hội Luận Kỷ Niệm 35 Năm Lưu Vong đã thực hiện hôm Thứ Tư 28-4-2010 tại Westminster, Calif. Sau đây là bài thuyết trình của Giáo sư Mark Moyar đã được dịch ra Việt ngữ. Giáo sư Tiến sĩ Mark Moyar là giáo sư bộ môn An Ninh Quốc Gia tại đại học quân sự Marine Corps University, là chuyên gia về chính sách ngoại giao và lịch sử quân sự. Ông cũng là tác giả nhiều sách về Chiến Tranh VN.)

Đây quả là một vinh-dự và cũng là một niềm vui đối với tôi khi được nói chuyện trước một số đông đảo cử-tọa cựu-chiến-binh, những người đã tham-dự vào cuộc chiến đấu chống lại Cộng-sản ở Việt-Nam trước đây. Tôi tin chắc là phần-đông quý-vị lúc ấy đều có cùng một quyết-tâm là chống lại cộng-sản và đã phải hy-sinh rất nhiều trong khi thực hiện quyết tâm này. Riêng tôi cũng đang theo đuổi một cuộc chiến nhằm trả lại sự-thật cho lịch-sử của Chiến-Tranh Việt-Nam (CTVN).
Cuộc chiến của tôi đang phải đương đầu chống lại những quan-điểm xuyên-tạc về CTVN của một số người Mỹ. Vì trong rất nhiều trường hợp, những người Mỹ này đã đưa ra các quan-điểm hoàn-toàn sai lạc, không khác gì luận-điệu tuyên-truyền của Cộng-sản Việt-Nam. Trong cuộc chiến này, họ không dùng đến súng-đạn mà chỉ xử-dụng sách vở và tài-nguyên của các trường Đại-Học.

Cho nên dù Chiến-Tranh Việt-Nam đã thật-sự chấm dứt hơn 35 năm rồi, đối với chúng tôi nó vẫn còn tiếp-diễn. Dĩ nhiên chúng tôi biết lúc đó quý-vị đã bị bắt buộc phải lìa bỏ quê cha đất tổ. Nhưng đối với chúng tôi CTVN vẫn còn đây khi nhìn vào cuộc chiến tại Iraq và Afghanistan hiện nay, ở đó những chàng trai-trẻ Hoa-Kỳ, bao gồm cả những chàng thanh-niên mang giòng máu Việt-Nam, đang hăng say tích-cực chiến đấu. Tướng David Petraeus, người đã dẫn đầu cuộc tấn-công Iraq, hiện nay là Tư-lệnh Bộ Chỉ-Huy Trung Ương của quân-đội Hoa-Kỳ, đã viết một luận-án tiến-sĩ về CTVN. Tướng George Casey, một vị Tư-lệnh thâm-niên của quân-đội Hoa-Kỳ tại Iraq từ 2004 đến 2006, là con trai của một sĩ-quan Hoa-Kỳ có nhiều thâm niên quân-vụ nhất đã tử trận tại Việt-Nam. Tướng Stanley McChrystal, hiện-thời là Tư-lệnh của quân-đội Hoa-Kỳ tại Afghanistan, là con của một cựu chiến-binh Hoa-Kỳ trong CTVN, tôi được biết rằng Ông này vẫn ao-ước tìm hiểu thêm về CTVN. Những vị Tư-lệnh quân-đội này đều muốn tìm hiểu để học hỏi từ CTVN, nhằm phát-triển thêm các ưu-điểm và tránh né những lỗi-lầm mà họ đã mắc phải.

Hiện nay hầu hết dân-chúng Mỹ đều tỏ ra nghi-ngờ cái lý do đã thúc đẩy Hoa-Kỳ tấn công Iraq hồi năm 2003. Bởi vì người ta đã không tìm đươc bất cứ một loại vũ-khí giết người tập-thể nào ở Iraq. Mặt khác, hầu hết dân chúng Mỹ đều cho rằng lý-do mà Hoa-Kỳ chiến-đấu tại Afghanistan rất chính-đáng. Bởi vì Afghanistan nuôi-dưỡng các tên khủng-bố đã tham dự vào biến-cố Ngày 11 Tháng 9. Còn đối với CTVN, dư-luận của dân-chúng Hoa-Kỳ lúc đó chia làm đôi. Những người theo Phe Hữu đều tin rằng CTVN là một cuộc chiến cần-thiết và với lý-do rất chính-đáng. Trong khi đó những người Mỹ theo Phe Tả thì cho rằng CTVN là một cuộc chiến không cần-thiết và không chính-đáng. Với tư cách là một người đã nhiều năm nghiên cứu về CTVN, hôm nay tôi muốn trình bầy với quý-vị câu hỏi, là “Thật-sự là có cần thiết và chính đáng để Chính-phủ Hoa-Kỳ phải sát cánh với Chính-phủ Ngô Đình Diệm và những người Việt quốc-gia chống lại Đảng Cộng-Sản Việt-Nam không?

Vì phần đông những người Mỹ và Việt-Nam thuộc các thế-hệ trẻ không hiểu biết nhiều về đề-tài này, nên tôi đề-nghị chúng ta hãy bắt đầu bài tham luận với vài nhận định về Phong-trào quốc-tế Cộng-sản trong hai thập-niên 40 và 50. Sau Thế-Chiến Thứ II, Liên-bang Xô-viết đã trở-thành một trong hai Siêu-Cường của thế-giới. Nhân danh Chủ-nghĩa Marxist – Leninist, Lãnh-tụ Joseph Stalin đã tiêu-diệt hàng chục triệu người dân Nga. Và sau khi Thế-Chiến II chấm dứt, Ông ta còn nuôi tham-vọng bành-trướng ý thức hệ Cộng-sản này trên toàn cầu. Trong giai-đoạn từ giữa thập niên 40 đến những năm cuối thập niên, Ông Stalin bắt đầu ủng-hộ quân-đôi Cộng-sản của Mao-Trạch-Đông trong cuộc nội-chiến ở Trung-Hoa trong khi siêu-cường Hoa-Kỳ ủng-hộ phe Trung-Hoa Quốc-Gia do Tưởng-Giới-Thạch lãnh-đạo. Nhưng đến năm 1947 Hoa-Kỳ lại quyết-định cắt-giảm viện-trợ cho Tưởng-Giới-Thạch vì sự thối-nát và tham-nhũng đang lan tràn trong hàng-ngũ quân-đội quốc-gia. Nhờ vậy mà Cộng-sản Trung-Hoa toàn thắng vào năm 1949.

Dù đã biết có phải giết hại hàng chục triệu mạng người đi nữa, nhưng Mao cũng nhất-định đi theo bước chân của Stalin, là bành-trướng Chủ-Nghĩa Cộng-Sản đến khắp nơi trên thế-giới. Cho nên sau khi củng-cố được quyền-lực tại Trung-quốc Mao liền gởi viện-trợ quân-sự và cố-vấn đến các đảng Cộng-sản Á-Châu, trong đó có đảng Cộng-sản Việt-Nam do Hồ-Chí-Minh lãnh-đạo. Bắt đầu từ năm 1946, đảng Cộng-sản Việt-Nam phát-động cuộc chiến-tranh chống Pháp.

Có rất nhiều sử-liệu của Tây-phương cho rằng Hồ-Chí-Minh quả thực là một người quốc-gia chân-chính, lúc nào cũng đặt quyền-lợi của dân tộc lên trên hết. Họ phủ-nhận quan-điểm của các nhà lãnh-đạo Tây-phương cáo buộc Hồ-Chí-Minh là một phần-tử của Tổ-chức Quốc-Tế Cộng-sản. Các sử-gia này tin rằng nếu Hoa-Kỳ đã thỏa-mãn yêu-cầu của Hồ-Chí-Minh, cho Ông ta lên nắm quyền cai-trị Việt-Nam thì Hồ-Chí-Minh chắc đã trở thành một Tito của Á-Châu rồi và chắc hẳn Ông ta đã không hợp tác với Trung-cộng và Liên-bang Xô-viết.

Luận-điệu này của các sử-gia Tây-phương thật ra xuất-phát từ chính miệng lưỡi của Hồ-Chí-Minh.
Ông Hồ lúc nào cũng lớn tiếng cho rằng mình và các đồng-chí của Ông ta đều là những người quốc-gia chứ không phải là cộng-sản. Tuy nhiên khi điều-tra một cách tỉ-mỉ hơn thì mới biết rõ ràng là những lời tuyên bố này của Hồ-Chí-Minh đều là những lời tuyên-truyền lừa bịp nhằm mục-đích dụ-dỗ những người Việt yêu-nước, nhưng lại “rất-dễ-tin”, gia-nhập vào hàng ngũ của mình đồng thời ngăn-ngừa những phản ứng bất lợi mà Hoa-Kỳ có-thể gây ra cho tổ-chức của mình. Rất tiếc là đã có rất nhiều trí-thức, Việt có, Mỹ có, tin vào những lời lừa bịp này của Hồ-Chí-Minh, mà không hề có một thắc mắc nhỏ nào.

Hồ-Chí-Minh và những cán-bộ trong tổ-chức của Ông ta lúc nào cũng là cộng-sản. Vì họ luôn luôn tin-tưởng triệt-để rằng công-cuộc “Cách-mạng của Quốc-tế Cộng-sản” phải đứng trước mọi quyền-lợi của quốc-gia dân-tộc. Niềm tin này đã được nhắc đi nhắc lại trong sách vở, trong các bài diễn văn, và ngay cả trong hành-động của Ông Hồ. Hồ-Chí-Minh và những người Cộng-sản Việt-Nam khác đồng nhất ủng hộ hành-động của Liên-bang Xô-viết đối với Ông Tito ở Yugoslavia. Họ còn ca-ngợi những người Xô-viết đã thẳng tay diệt-trừ Đảng Cộng-sản Hung-ga-ri khi đảng này đòi độc-lập vào năm 1956. Ông Hồ đã có một thời gian làm việc cho Cộng-sản Quốc-tế, một tổ-chức do người Xô-viết dựng lên để tiến-hành cuộc cách-mạng thế-giới. Ông Hồ còn phục-vụ trong quân-đội của Trung-Hoa Cộng-sản hồi Thế-Chiến Thứ Hai. Cuối cùng, chính quyền mà Ông Hồ dựng lên ở Miền Bắc Việt-Nam giống hệt như các chế-độ cộng-sản đã được thiết lập tại các quốc-gia khác trên thế-giới. Chính-quyền của Ông Hồ cũng rất tích-cực trong việc tiêu-diệt những tổ-chức chính-trị đối-lập và những phần-tử họ gọi là phản-động nằm trong các tầng lớp xã-hội.

Có một điều chắc chắn là Hồ-Chí-Minh đã không thể nào nắm được chính-quyền, nếu Ông ta không có một mối quan hệ mật thiết với đảng Cộng-sản Trung Quốc. Chiến-thắng của Cộng-sản Việt-Nam tại Điện Biên-Phủ vào năm 1954 là nhờ vào sự hiện diện của các cố-vấn quân-sự Tầu, nhờ vào một lực-lượng khổng lồ quân tiếp-vận Trung-cộng, và vô-số các chuyến hàng chở đầy vũ-khí và tiếp-liệu từ Trung-Hoa đến Điện-Biên-Phủ. Sau năm 1954, các cô-vấn Tầu còn giúp đảng Cộng-sản Việt-Nam thiết-lập cơ-cấu của chế-độ và họ đã đóng một vai trò then chốt trong việc tổ chức và thực hiện chương-trình Cải-cách Ruộng-đất tại miền Bắc, giết hại khoảng 32,000 người Việt-Nam. Trung-Cộng còn điều-động bảy sư-đoàn đến miền Bắc vào năm 1965 để giúp đảng Cộng-sản có thể rảnh tay, gởi thêm một số lớn bộ-đội chính-quy vào chiến đấu tại Miền Nam Việt-Nam.
Chính-phủ Hoa-Kỳ bắt đầu can thiệp mạnh mẽ vào Việt-Nam ngay khi Trung-Hoa bị rơi vào tay Cộng-sản. Người Mỹ lo ngại Cộng-sản sẽ bành trướng và Trung-cộng sẽ kiểm soát toàn bộ Á-châu. Tổng-thống Harry S. Truman, và các vị Tổng-thống Mỹ kế tiếp, đều ủng-hộ Lý-Thuyết Domino. Lý-thuyết này cho rằng “Nếu Việt-Nam rơi vào tay Cộng-sản thì những nước Á-Châu khác cũng sẽ bị rơi vào tay Cộng-sản. Trung-Cộng đã hỗ-trợ cho các lực-lượng Cộng-sản phiến-loạn tại Mã-lai, Miến-Điện, và Nam-Dương, cũng như Đông-Dương, và sự sụp-đổ của một quốc-gia sẽ trở thành cái bàn-đạp để Cộng-sản tiến chiếm các quốc-gia lân-cận.”
Ở vào cao-điểm của cuộc chiến giữa Pháp và Cộng-Sản Việt-Nam tại mặt-trận Điện-Biên-Phủ năm 1954, Tổng-Thống Eisenhower hy-vọng có thể ngăn chận không cho Cộng-sản Việt-Nam chiến-thắng vì tin tưởng vào Lý-Thuyết Domino. Ông đã cố gắng lôi kéo Anh-quốc nhập cuộc để giải-cứu Pháp tại Điện-Biên-Phủ. Nhưng khi Anh-quốc từ-chối thì TT Eisenhower quyết-định không can-thiệp nữa. Rốt cuộc Cộng-sản đã thắng. TT Eisenhower phải chọn-lựa giải-pháp chia đôi Việt-Nam, để Cộng-sản cai-trị ở miền Bắc và phe không Cộng-sản ở Miền Nam. Vì TT Eisenhower tin rằng chỉ có chủ-nghĩa quốc-gia mới có thể đương đầu được với Cộng-sản nên Ông muốn hỗ-trợ chính-quyền Nam Việt-Nam, một chính-quyền quốc-gia thuần-túy. Tuy nhiên Tổng-thống Eisenhower không chắc-chắn là mình sẽ có thể tìm được một chính-phủ như ý hay không.

Mặc-dầu guồng máy tuyên-truyền của Cộng-sản và những người Tây-phương cả-tin luôn cho rằng Hoa-Kỳ đã chọn lựa Ngô-Đình-Diệm để lãnh-đạo một chính-phủ mới ở Nam Việt-Nam hồi năm 1954, sự-thật là chính Bảo-Đại đã bổ-nhiệm Ngô-Đình-Diệm vào chức vị Thủ-Tướng chỉ vì uy-tín của Ông Diệm nổi bật trong hàng-ngũ những người quốc-gia. Lúc ấy người Mỹ không biết gì nhiều về Ông Diệm. Nhưng buồn cười là trong số này lại có những người tin rằng Diệm không phải là người thích-hợp cho trọng-trách lãnh-đạo một chính-quyền theo ý của Tổng-thống Eisenhower. Các viên-chức thâm-niên trong Bộ Ngoại-giao, bao gồm cả hai vị Đại-sứ Mỹ tại Nam Việt-Nam đều kịch-liệt phản-đối các biện-pháp cai-tri mà Ông Diệm đã sử-dụng, đặc biệt đối-với các giáo-phái trong cuộc khủng-hoảng 1955. Nhưng Tổng-thống Eisenhower và Ngoại-trưởng Foster Dulles lại cho rằng Ông Diệm là người có một lòng yêu-nước bất khoan nhượng. Nên họ đã đi đến quyết định ủng hộ Ông Diệm nhưng chỉ sau khi Ông ta chiến thắng Mặt-Trận Quốc-gia Thống-Nhất các Giáo-Phái.

Chỉ có bốn năm ngắn ngủi, từ năm 1955 đến năm 1959, mà lực-lượng an-ninh của Nam Việt-Nam đã tiêu-diệt hầu hết những tên cộng-sản nằm vùng được cài lại ở Miền Nam sau ngày ký-kết Hiệp-Định Đình-chiến Geneve 1954. Hà-Nội lo-lắng các cơ-sở cài lại đã bị phá vỡ, nên từ 1959, đã bắt đầu cho xâm-nhập vào Nam hàng ngàn lính du-kích võ-trang. Sau đó, vào năm 1960 họ bắt đầu xúi-giục các cuộc nổi loạn tại nông-thôn Miền-Nam. Quân-đội Việt-Nam Cộng-Hòa đã cắt đứt đường chuyển vận vũ-khi và lương-thực của Cộng-sản Bắc-việt, xuyên qua vùng Phi Quân-Sự ngăn cách hai miền Nam Bắc. Vì thế vào cuối năm 1960 bộ-đội chính-quy Bắc Việt phài xây-dựng những đường tiếp vận mới nằm trong lãnh thổ Lào. Đó chính là Đường Mòn Hồ-Chi-Minh. Năm 1961, nhiệm kỳ của Tổng-thống Eisenhower chấm dứt và Ông đã khuyến cáo Ông John F. Kenndy, vị Tổng-Thống kế-nhiệm, rằng can-thiệp vào Lào là một điều bắt buộc và nên làm, kể cả bằng quân-sự nếu cần. Nếu không thì toàn bộ Viễn Đông sẽ mất vào tay Cộng-sản.

Nhưng TT Kennedy đã không nghe theo lời khuyên của Eisenhower.
Tổng thống Kennedy chủ trương rằng khi Hoa-Kỳ can-thiệp vào nơi nào thì ở đó cần phải có một đồng-minh mạnh, chứ không phải đám quân trói gà không chặt của Lào-quốc. TT Kennedy chủ-trương giữ vững phòng tuyến Nam Việt-Nam, Ông tuyên bố: “Nếu chúng ta cần phải chiến-đấu ở Đông-Nam-Á vậy thì hãy chiến-đấu ngay ở Việt-Nam. Ít ra ở đó người Việt-Nam còn có quyết-tâm và ý-chí chiến đấu để tiêu diệt cộng-sản. Có đến một triệu người tị-nạn Cộng-sản đang ở tại miền Nam. Việt-Nam chính là nơi mà chúng ta muốn.” TT Kennedy lập tức gởi viện-trợ ào-ạt đến Nam Việt-Nam và tăng thêm số lượng cố-vấn từ khoảng gần1.000 lên đến 16.000 người. Kennedy còn nhờ Nga làm áp-lực buộc bộ-đội chính-quy Bắc-Việt phải rút khỏi Lào; đổi lại Hoa-Kỳ sẽ rút hết cố-vấn của họ ra khỏi Lào. Rồi TT Kennedy đơn phương rút hết cố vấn Mỹ ra khỏi Lào. Trong khi đó các lực lượng chính-quy Bắc-Việt vẫn án-binh bất động.

Mặc dù các lực lượng phiến-loạn Cộng-sản vào năm 1960 có gây được một số tiếng vang, nhưng vào năm 1962 Tổng-thống Diệm cũng đã thành-công chấn-chỉnh và làm hồi sinh lại tổ-chức quân lực Việt-Nam Cộng-Hòa; đồng thời ban-hành Quốc-sách Ấp-Chiến-Lược và cũng đạt được nhiều kết-qủa khả quan. Trong khi sưu-tầm tài-liệu để viết cuốn Triumph Forsaken, tôi đã phát-giác một tài liệu của Cộng-sản xác-nhận rằng Chính-phủ Ngô-Đình-Diệm liên-tục chiến thắng cộng-sản trong các năm 1962 và năm 1963, cho đến khi Tổng-Thống Diệm bị ám-sát vào ngày 2 tháng 11 năm 1963.

Cái thảm họa lật đổ chính-quyền của Tổng-Thống Diệm là lỗi lầm của một nhóm nhỏ người Mỹ có thể bắt đầu với ba tác-gỉa viết về Chiến-Tranh Việt-Nam, đó là David Halberstam, Neil Sheehan và Stanley Karnow. Là những ký-gỉa trẻ làm việc ở Sài-gòn vào năm 1963, ba người này đều cho rằng Diệm phải được thay thế vì lý do là đã nặng tay đàn áp đối-lập chính-trị, nhất là khi đối-xử với những người Phật-giáo đối lập. Những ký gỉa này hoàn toàn sai lầm khi nhận định rằng chính-trị của Việt-Nam cũng giống của Hoa-Kỳ. Và vì ba người này đã căn cứ vào những nguồn tin sai lạc do hai gián-điệp Cộng-sản và các lãnh-đạo trong phong-trào Phật-Giáo Đấu-tranh. Sự thật là trong nhóm Phật-giáo chống-đối có rất nhiều cán-bộ Cộng-sản và những nhân-vật thời-cơ. Những người này chủ-trương kéo dài các cuộc biểu-tình và tung ra những lời cáo buộc vô căn-cứ cho đến khi Diệm bị lật đổ. Báo-chí Mỹ đã thuyết-phục được Đại-sứ Hoa-Kỳ Henry Cabot Lodge khiến Ông này phải xúi-dục các tướng lãnh trong quân-đội VNCH đứng ra làm đảo chánh.

Gỉa sử Tổng-Thống Diệm không bị đảo chánh và sát hại, tôi tin rằng hầu hết các thính-gỉa ngồi đây đều đang ngồi ở Việt-Nam ngay lúc này chứ không phải ngồi trên đất Mỹ.
Và chẳng có ai phải đặt câu hỏi là tại sao Hoa-Kỳ phải gởi nửa triệu binh-sĩ sang chiến đấu ở Việt-Nam. Nếu không có cuộc ám-sát phản-phúc và cái hậu-quả thảm-khốc do cuộc đảo-chánh đem lại, thì chắc-chắn Bắc-Việt sẽ không bao gìơ dám leo-thang cuộc chiến một cách vũ-bão giống như họ đã làm, hồi năm 1965 và những năm sau đó. Và chắc cũng không có nhu cầu cấp thiết phải cần đến một số lượng khổng lồ binh-sĩ Hoa-Kỳ. Lý do đơn giản là vì dưới sự lãnh-đạo của TT Diệm, Quân-lực Việt-Nam Cộng-Hòa tỏ ra mạnh-mẽ và hữu-hiệu hơn là lúc quân Mỹ bắt đầu vào tham chiến năm 1965.

Tiếp theo sau cuộc lật-đổ TT Diệm, lãnh-đạo miền Nam chẳng làm được gì ngoài việc thanh trừng những viên-chức và sĩ-quan tài giỏi. Guồng máy của chính-phủ chống lại âm-mưu nổi-dậy của Cộng-sản cũng bị sụp-đổ hoàn toàn. Trong năm 1964, sự yếu kém của các chính-phủ mới trong miền Nam và sự nhút nhát của TT Lyndon B. Johnson đã khuyến khích Hà-Nội đi đến quyết định mở cuộc tổng công kích xâm chiếm Miền Nam. Một sư-đoàn Bắc-Việt với trang-bị đầy-đủ đã xâm-nhập vào Miền Nam hồi đầu năm 1965, và đến giữa năm thì tình hình quân-sự đã trở nên nghiêm-trọng đến nỗi Tổng-Thống Lyndon Johnson phải chọn lựa giữa việc gởi quân tác-chiến vào chiến-trường hoặc là để Nam Việt-Nam rơi vào tay Cộng-sản. Vì TT Johnson tin vào Lý-Thuyết Domino nên Ông đã quyết định chọn giải-pháp đem quân vào Nam Việt-Nam.

Có vô-số các giáo-sư và ký-giả lập luận rằng Lý-Thuyết Domino hoàn-toàn sai lầm vào năm 1965. Họ cho rằng cộng sản Tầu và Việt-Nam không có tham vọng nhuộm đỏ toàn bộ các quốc-gia Á-Châu, và các quốc-gia Á-châu khác cũng không muốn người Mỹ can thiệp vào Việt-Nam. Nhưng những tiết-lộ mới đây cho thấy Mao và Hồ-Chí-Minh đã coi việc chiếm-đóng miền Nam sẽ là bàn-đạp để tiến chiếm toàn vùng Đông-Nam-Á. Trong quá trình nghiên-cứu, tôi cũng tìm thấy chứng cớ cụ-thể là các chính-phủ không cộng-sản của các quốc-gia trong vùng, vì lo sợ sự bành-trướng của Cộng-sản, đều muốn Hoa-Kỳ can-thiệp vào Việt-Nam. Rất nhiều chính-phủ trong vùng mong mỏi được Hoa-Kỳ yêu cầu đem quân vào giúp đồng minh. Một số nước như Nam-Hàn, Úc Đại Lợi, và Thái-Lan, đã gởi quân đến tham chiến tại Việt-Nam. Những nước khác như Đài-Loan và Phi-Luật-Tân, có đề-nghị gởi quân nhưng Hoa-Kỳ đã từ chối. Ngoài ra trong năm 1965, lãnh-đạo quân-sự Nam-Dương đã khẩn-khoản yêu-cầu Hoa-Kỳ tấn công mạnh-mẽ Bắc-Việt. Họ tin rằng khi Hoa-Kỳ làm như vậy thì cán cân quyền-lực trong quân-lực Nam-Dương sẽ nghiêng hẳn về phe chống cộng-sản, vào đúng lúc Tổng-Thống Sukarno của Nam-Dương muốn đưa đất-nước vào tay Cộng-sản. Nhờ Hoa-Kỳ cứu-vãn Nam Việt-Nam vào năm 1965, mà các vị tướng lãnh chống Cộng-sản đã tiêu-diệt được toàn bộ Đảng Cộng-sản Nam-Dương vào cuối năm 1965 và dần dần đẩy Tổng-thống Sukarno ra ngoài chính-quyền.

Nhưng thật không may mắn, vì Tổng-Thống Johnson quá mềm yếu, không chịu chấp-nhận một chiến-lược quân-sự mạnh mẽ đã được các tướng lãnh Hoa-Kỳ đề-nghị. Trong số các khuyến cáo tối quan-trọng, TT Johnson từ chối can thiệp vào Lào để chận đứng các hoạt động của Bắc-Việt trên đường mòn Hồ-Chí-Minh. Các tài-liệu của Cộng-sản thời hậu-chiến xác nhận rằng Việt-cộng (MTGPMN) và quân chính-quy Bắc-việt không thể sống-sót ở trong Miền Nam nếu không có tiếp-liệu đến từ đường mòn Hồ-Chí-Minh. Các nguồn tài-liệu của Nga-sô, Bắc-Việt và Hoa-Kỳ đều đồng ý với nhau rằng Hoa-Kỳ chỉ cần từ ba đến năm sư-đoàn là có thể ngăn chặn mọi con đường xâm nhập vào Nam - một số lượng quân quá nhỏ nhoi so với số-lượng quân-đội mà cuối cùng Hoa-Kỳ đã phải gởi đến Việt-Nam.
Mặc dầu các ông Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ nắm được chính-quyền vào tháng Năm năm 1965 và chấm dứt được các cuộc tranh-giành quyền lực giữa các lãnh-tụ của Nam-Việt-Nam, chính-phủ của Nam-Việt-Nam không thể tìm lại sức mạnh của nó như những năm trước kia cho đến những năm cuối của thập niên 60. Từ 1969 đến 1971, chính-phủ Nam Việt-Nam đã giành lại được quyền kiểm-soát hầu-hết miền quê và quét sạch phiến-loạn Việt-cộng. Vào năm 1972, quân-lực Việt-Nam Cộng-Hòa đã đẩy lui đợt tấn-công qui-mô của Bắc-Việt vào mùa Phục-sinh với sự trợ-giúp của không-lực Hoa-Kỳ. Nhưng vào lúc đó một số chính-trị-gia thiển-cận của Hoa-Kỳ đã cắt đứt viện-trợ cho Nam Việt-Nam vào đúng lúc mà tình-hình có nhiều hứa-hẹn nhất. Tôi và hàng triệu người Mỹ khác coi đây là một nỗi tủi-nhục khi chính-phủ của chúng tôi đã cắt đứt viện-trợ quân-sự và yểm-trợ không lực cho Nam Việt-Nam trong năm 1974 và 1975. Việc này vi-phạm những gì mà TT Nixon đã hứa hẹn và cũng chính vì thế đã cướp đi cái cơ hội giúp Nam Việt-Nam đẩy lui cuộc tổng tấn công xâm lược của Cộng-sản Bắc-Việt vào năm 1975.

Trong những năm gần đây Việt-Nam đã đi theo nền kinh-tế thị-trường. Vì thế, có một số người Mỹ sáng-giá đã lập-luận rằng việc Việt-Nam đi theo nền kinh-tế tư-bản là một cái “duyên tiền-định” dù đang bị cai-trị bởi cộng-sản. Như vậy cuộc chiến tranh trong những năm của thập niên 1960 rõ rang là không cần thiết. Lập-luận này đã bỏ quên thực tế là chính cuộc chiến-tranh đã làm cho Việt-Nam dễ-dàng lôi cuốn vào nền kinh-tế tư-bản vì chiến tranh Việt-Nam đã ngăn chận cộng-sản chiếm đóng các nước láng-giềng và phá-vỡ liên-minh giữa Trung-Quốc với Việt-Nam.

Lập -luận này cũng quên cả những tội phạm và sự nghèo đói do Cộng-sản Việt-Nam gây ra, và hàng trăm ngàn thường dân cũng đã bị sát-hại bởi chính-quyền Cộng-sản. Cuối cùng, lập-luận này còn bỏ qua tất cả những bất-công xã-hội do chế-độ Cộng-sản hiện thời gây ra. Nếu so với các chính-phủ Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu trước đó thì chế-độ này đàn-áp dân-chúng hơn nhiều và về mặt nhân đạo cũng không thể sánh kịp.
Không phải Hoa-Kỳ cũng không phải Nam Việt-Nam mà chính là Bắc Việt-Nam đã khởi đầu cuộc chiến-tranh không cần thiết này. Người Cộng-sản Bắc-việt đã xâm lăng miền Nam Việt-Nam với mục đích diệt-trừ chủ-nghĩa tư-bản để áp-đặt chủ-nghĩa cộng-sản, một loại ý-thức-hệ phi-nhân. Vào thời đó, họ đã giết hại hàng triêu người. Nam Việt-Nam và Hoa-Kỳ đã hành-động rất chính đáng khi đứng lên chống lại bạo-quyền chuyên-chế. Cho nên hôm nay chúng ta long-trọng vinh-danh nhưng người chiến binh trong cuộc chiến này. Đây là một nghĩa-cử không những hoàn toàn đúng đắn mà còn cao-đẹp nữa.

GS MARK MOYAR
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Image


Nữ Trung Tá Quân Lực Hoa Kỳ gốc Việt đầu tiên:

Trung Tá Lục Quân Phạm Phan Lang
là phu nhân của một cựu Thiếu Tá Hải Quân VNCH

Người Việt hải ngoại, có lẽ ít ai được biết: Người phụ nữ Mỹ gốc Việt mang cấp bậc Trung Tá đầu tiên của Quân Lực Hoa Kỳ, là phu nhân của một cựu Thiếu Tá Hải Quân VNCH, di tản sang Mỹ cùng chồng và ba đứa con vào những ngày cuối cùng của cuộc chiến Việt Nam : Trung Tá Lục Quân Lang Phan Phạm (đã nhận thông báo sẽ thăng cấp Đại Tá, trước khi xin về hưu).
Phạm Phan Lang sinh ra và cả một thời tuổi thơ sống cùng gia đình ở Nha Trang, theo học tại trường Nữ Trung Học và Võ Tánh. Nha Trang là thành phố biển thơ mộng, nơi có hai quân trường nổi tiếng: Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân và Hải Quân, với những chàng trai hào hoa theo nghiệp kiếm cung, chọn cuộc đời bay bổng và hải hành. Những chàng trai này đã một thời khốn khổ trái tim bởi bao nhiêu người đẹp của Nha Trang. Thời ấy, dường như những cặp tình nhân SVSQ Hải Quân và Nữ Sinh Trung Học Nha Trang là những đôi tình nhân làm đẹp phố phường nhất. Trong số đó có đôi uyên ương Phạm văn Diên và Phan Thị Lang. Ngày ấy Lang là một cô bé khá xinh, tính tình hiền dịu dễ thương, nên mới học Đệ lục là đã làm mê mệt chàng SVSQ họ Phạm. Cuộc tình kéo dài mãi đến khi Lang đậu xong tú tài 2 (năm1969) hai người mới làm đám cưới.
Anh Phạm văn Diên tốt nghiệp khóa 14 HQ (Đệ Nhị Kim Ngưu), trước ngày 30/4/75, mang cấp bậc Thiếu Tá và chỉ huy một chiến hạm PGM615 (loại nhỏ).

Vào nửa đêm 29.4.75, Thiếu Tá Diên đưa chiến hạm rời khỏi Việt Nam, mang theo vợ, 3 đứa con nhỏ, 1, 3 và 5 tuổi, cùng cha mẹ già trên tuổi 70 và cậu em vợ, đang theo học đại học Luật Khoa Sài Gòn. Ngoài gia đình, trên tàu còn có thủy thủ đoàn và khoảng hơn 150 người tị nạn khác. Chiến hạm của Thiếu Tá Diên vừa tham dự các cuộc hành quân tàn khốc cuối cùng tại Huế, Quảng Trị,Vùng I, chưa kịp sửa chữa, bảo trì, nên lúc ra khơi bị hư hỏng và nước tràn vào, nhưng may mắn đã được cứu bởi một tàu HQ khác mà Thiếu Tá Diên đã liên lạc được. Cũng trên chuyến đi này, gia đình bị mất hết tư trang, vàng bạc mang theo, nên lúc lên bờ chỉ còn hai bàn tay trắng.

Cũng như nhiều gia đình khác, thời gian đầu đến Mỹ rất vất vả, vợ chồng Thiếu Tá Diên phải làm đủ nghề để sống: thợ mộc,thợ hồ, rửa bát đĩa cho nhà hàng, tiệm ăn, dạy Anh ngữ cho trẻ em Việt Nam ở một trường Tiểu Học, nhổ cỏ trong những cánh đồng cà, hái trái cây, trông nom một trại gà với hơn 60.000 con. Với tính kiên nhẫn và nghị lực, cả hai vợ chồng và cậu em vừa làm vừa theo học chương trình đại học tại University of Maryland, Eastern Shore.

Đường Vào Binh Nghiệp

Năm 1980, chị Phạm Phan Lang đậu được cùng lúc hai bằng Cử nhân, trong đó có bằng Nutrition and Dietetics (Dinh Dưỡng Học). Muốn làm việc trong ngành này, cần phải qua một khóa Thực Tập Dinh Dưỡng ( Dietetic Internship). Chị Phạm Phan Lang đã nộp đơn xin thực tập ở một số trường đại học, trong đó có cả Chương Trình Thực Tập Dinh Dưỡng của Lục Quân Hoa Kỳ (US Army Dietetic Internship).

Lúc bấy giờ, chương trình Thực Tập Dinh Dưỡng của Army đòi hỏi khá nhiều điều kiện khó khăn: điểm trung bình tối thiểu là 3.5, phải là công dân Hoa Kỳ, phải dưới 30 tuổi, phải có ít nhất là 3 lá thư giới thiệu, cùng một số điều kiện khác. Trong số những điều kiện này, ít nhất có hai điều chị Phạm Phan Lang không có, đó là quốc tịch Hoa Kỳ và đã trên tuổi 30. Tuy nhiên, do trường hợp khá đặc biệt và có lẽ do thán phục nghị lực và khả năng của một người đàn bà tị nạn, cuối cùng chị đã được chấp nhận vào chương trình này. Đây là một trường hợp ngoại lệ đặc biệt mà theo chị, mãi đến sau này, vị Thiếu Tá Chỉ Huy Trưởng của Army Dietetic Internship đã cho chị biết.

Mặc dù lúc ấy, chị Phạm Phan Lang cũng được nhận vào thực tập ở một số trường đại học khác, nhưng chị đã chọn Chương Trình Army này. Chị cho biết, chị chọn Army không phải vì chị yêu đời lính, hay “muốn đi lính”, mà chỉ vì những lý do rất đơn giản: chương trình thực tập rất tốt, nổi tiếng, dễ dàng tìm việc làm sau khi rời quân đội, cả gia đình được hưởng quyền lợi, và nhất là chỉ phải “đội mũ lính và mang lon” có 3 năm. Sau đó, nếu muốn, có thể xin giải ngũ. Đã có hơn một trăm đơn xin vào chương trình này, nhưng cuối cùng chị nằm trong số 10 người được chọn. Chị khiêm nhường cho là may mắn, nhưng tất nhiên điều quyết định vẫn là do khả năng, kết quả bao năm kiên nhẫn học hành của chị.

Chị Phạm Phan Lang bắt đầu binh nghiệp bằng cấp bậc Thiếu Úy. Hai tháng đầu tiên được thực tập quân sự tại quân trường Fort Sam Houston (FSH), San Antonio, Texas. Vì là ngành Quân Y, nên những thực tập quân sự rất nhẹ so với những binh chủng khác. Tuy nhiên, chị cũng phải tập bắn các loại súng, trèo đồi, lội suối, tập trận, hành quân, đọc bản đồ, sử dụng địa bàn một mình giữa rừng sâu.

Sau một năm thực tập Dinh Dưỡng tại Brooks Army Medical Center (BAMC), FSH, San Antonio, TX, chị tốt ngiệp, được thăng cấp Trung Úy và nhận nhiệm sở đầu tiên tại Moncrief Army Medical Activity, Fort Jackson, Columbia, SC. Và cũng tại đây một biến cố lớn đã xảy ra mang đến điều bất hạnh lớn lao nhất cho cuộc đời của chị sau này...

Columbia là thủ phủ của Tiểu Bang South Carolina, có khoảng 300-400 người Việt định cư lúc bấy giờ. Thời ấy người Việt sống rải rác trong thành phố Columbia và các thành phố phụ cận như Greenville, Charleston, Myrtle Beach, Charlotte, Atlanta... Mọi người đều cố gắng làm việc để hội nhập và thích nghi với đời sống mới, nên chẳng ai quen biết, tiếp xúc nhiều với ai. Vợ chồng anh chị Phạm văn Diên & Phạm Phan Lang đã cùng một số thân hữu tích cực vận động thành lập Hội Ái Hữu Người Việt đầu tiên ở Columbia, mở trường dạy Việt Ngữ, tổ chức những ngày lễ hội truyền thống như Giỗ Tổ Hùng Vương, Tết Trung Thu, Tết Nguyên Đán v.v.., gây quỹ cứu trợ thuyền nhân, tranh đấu cho nhân quyền, tự do ở Việt Nam. Cựu Thiếu Tá Diên hoạt động rất hăng say (chị Phạm Phan Lang chỉ hỗ trợ tích cực sau lưng, vì Quân Đội Hoa Kỳ không cho phép quân nhân tham gia vào bất cứ hoạt động chính trị nào). Phu quân của chị, anh Diên, đi khắp các thành phố lân cận, giao kết bằng hữu, giúp thành lập các Hội Ái Hữu địa phương, nêu cao tinh thần chống Cộng…

Biến Cố Lớn Trong Đời

Hôm đó là ngày lễ Độc Lập Hoa Kỳ, July 4, 1985. Lúc này chị Phạm Phan Lang đang ở trong Quân Đội Hoa Kỳ được gần 5 năm và mang cấp bậc Đại Úy. Khi nhận được Sự Vụ Lệnh thuyên chuyển về lại BAMC, FSH, TX, chị dự định đây sẽ là nhiệm sở cuối cùng của chị. Sau khi chấm dứt quân vụ ở nhiệm sở này, chị sẽ xin giải ngũ. Mấy ngày trước Lễ July 4, gia đình anh chị rất bận rộn tham dự tiệc tùng do các bạn hữu ở Columbia và các thành phố lân cận tổ chức tiễn đưa, hơn nữa chị đang trong thời kỳ học thi tốt ngiệp Thạc sĩ (Master Degree), nên chị khá mệt mỏi. Nhưng vì nể lời mời của một người bạn, cựu Trung Tá HQ ở Charleston, SC, vợ chồng anh chị nhận lời tham dự một buổi tiệc picnic ở bờ biển Foley Beach, SC. Chỗ này cách Columbia, nơi gia đình anh chị ở, khoảng 3 giờ đồng hồ lái xe. Cùng với gia đình anh chị 5 người, còn có 4 gia đình khác. Tổng cộng có 5 cặp vợ chồng và 13 đứa trẻ con, tuổi từ 9-15. Lúc ấy trời còn sớm, khoảng 8 giờ sáng, trên biển không một bóng người, ngoại trừ họ. Và tại nơi đây tại nạn đã xảy ra.

Mười ba đứa trẻ con vừa thấy biển đã nao nức chạy ùa ra bơi lội. Nước bên bờ biển lúc ấy mới cao bằng đầu gối. Các ông bố cũng vội vàng theo mấy đứa nhỏ, vừa để trông chừng vừa sửa soạn mắc mồi câu cua. Đàn bà thì lê mê khiêng thức ăn, nước uống từ trên xe xuống. Bỗng có tiếng kêu cấp cứu từ biển vọng vào, chị hoảng hốt nhìn ra, thì hỡi ôi, 13 đứa trẻ đã bị sóng ngầm (undertow) cuốn ra xa, và mấy ông bố đang vội vàng bơi ra để cứu con. Chị Lang không biết bơi, nên vội vã chạy ngược vào bờ một quãng khá dài, kêu cứu. Nhưng trời còn sớm quá, và khu này vì nổi tiếng nguy hiểm sóng ngầm (sau này mọi người mới biết) nên chẳng có ai ra biển. Kêu cứu một lúc không được, chị vội chạy trở lại biển. Lúc ấy một vài đứa trẻ lớn tuổi hơn đã bơi vào hoặc được mấy ông bố đưa vào bờ. Đang lúc dáo dác tìm kiếm mấy đứa con, chị thấy một người đàn bà Mỹ, không biết ra biển lúc nào, đang hì hục kéo anh Diên, chồng chị, lên bờ. Hai mắt anh nhắm chặt, mặt tái nhợt, môi tím ngắt và dường như không còn thở nữa. Dù kinh hoàng, đớn đau và sợ hãi, nhưng với những kinh nghiệm và bình tĩnh của một người lính, chị đã cố gắng làm hô hấp nhân tạo cho anh, được một người bạn bác sĩ trong nhóm phụ giúp, nhưng phu quân của chị vẫn không hồi tỉnh. Khi đưa vào bệnh viện Charlerston, vị bác sĩ cấp cứu, sau khi khám và thử nghiệm EEG (electroencephalogram), đã buồn bã cho chị biết : “Ông nhà đã bị chìm xuống biển khá lâu, trên 10 phút, nên não bộ không còn làm việc nữa ( irreversible brain damage), xin chị đừng nuôi hy vọng”.

Một tháng sau, anh Diên đã trút hơi thở cuối cùng tại bệnh viên quân sự nơi chị làm việc ở Fort Jackson, SC. Anh ra đi để cho đứa con gái út, lúc ấy 11 tuổi, và hai đứa bé nữa, 9 và 12 tuổi, được sống. Nếu chỉ muốn cứu một mình đứa con gái của mình, anh đã có thể làm được, nhưng anh không nỡ lòng bỏ cả bốn đứa bé đang cố bám víu vào nhau để khỏi bị sóng đánh trôi đi. Anh đã cố cầm cự đưa bốn đứa bé vào gần bờ, nhưng bị các em ôm chặt lấy anh, vì uống nước quá nhiều và sợ hãi đến cùng cực, không chịu buông tay chân anh ra. Cuối cùng, không chống chọi được, anh từ từ chìm xuống lòng biển trước đôi mắt đớn đau kinh hoàng của đứa con gái. Và vì không còn chỗ để bám víu, nên một đứa bé gái khác, 11 tuổi, bị sóng biển đánh dạt ra xa, mãi đến mấy tiếng đồng hồ sau mới tìm thấy xác.

Báo chí đã ca tụng, mọi người đều ngậm ngùi ngưỡng mộ anh như một anh hùng. Thượng Nghị Sĩ South Carolina lúc bấy giờ, ông Strom Thurmond, đã ban bằng tưởng thưởng. Nhưng tất cả những thứ ấy đều vô nghĩa đối với chị Lang, bởi chị đã mất vĩnh viễn người chồng yêu quí của chị, ba đứa con trong tuổi dại khờ của chị đã không còn người cha thương yêu gương mẫu. Không có điều gì có thể thay thế được.

Một khúc quanh trong binh nghiệp:

Chị đã xin hủy bỏ Lệnh Thuyên Chuyển về Texas và xin ở lại Fort Jackson thêm một năm nữa để có thể sớm hôm lui tới mộ chồng. Trong quân đội Hoa Kỳ, kể cả ngành Quân Y, thông thường thì cứ mỗi 3 năm, một Sĩ Quan được chuyển đến nhiệm sở mới. Chị được ở lại Fort Jackson đến 5 năm. Đây cũng là một trường hợp ngoại lệ đặc biệt khác. Chị cũng bỏ ý định giã từ quân ngũ. Vì bây giờ, quân đội là nhà của chị, đã che chở và cưu mang chị, cho chị phương tiện tài chánh để nuôi các con ăn học nên người. Quân đội cũng đã rèn luyện chị trở thành một người có can đảm và nghị lực hơn để chống chọi với bao nhiêu thử thách của cuộc đời mà chị vừa mới trải qua cũng như đang chờ trước mặt.

Thời gian thấm thoát trôi qua, chị đã phục vụ trong ngành Quân Y Lục Quân Hoa Kỳ được 22 năm. Trong khoảng thời gian này chị đã thay đổi nhiệm sở 7 lần, Ngoài Fort Sam Houston, TX, và Fort Jackson, SC, chị đã đổi về các bệnh viện ở Fort Gordon,GA; Fort Huachuca,AZ; Fort Ord,CA; Madigan Army Medical Center, WA; Landstuhl Regional Medical Command, Germany; và cuối cùng là Tripler Army Medical Center ở Hawaii. Tại đây, công việc của chị là điều hành Phân Khoa Dinh Dưỡng (Director, Nutrition Care Division) với trên 100 nhân viên dưới quyền, vừa sĩ quan, hạ sĩ quan và dân sự. Ngoài ra, chị còn có nhiệm vụ Cố Vấn và Giám Sát những phần hành Dinh Dưỡng trong các đơn vị Lục Quân trú đóng ở Thái Bình Dương, đặc biệt là Nhật Bản và Nam Hàn ( Nutrition Consultant, Pacific Region). Và cũng ở nhiệm sở này, năm 2002, chị Phạm Phan Lang nhận được Thông Báo sẽ thăng cấp Đại Tá. Thông thường thời gian từ lúc nhận Thông Báo đến lúc được thực sự “ gắn lon” cho cấp bậc Đại tá trong ngành Quân Y là khoảng từ 6 tháng đến 1 năm. Đến lúc ấy chị đã làm việc tại nhiệm sở Hawaii được 3 năm, nên đã đến lúc phải thuyên chuyển đến một nhiệm sở mới, mà chị biết sẽ là Hoa Thịnh Đốn.

Trung tá Phạm Phan Lang không muốn phải về Hoa Thịnh Đốn, cũng chẳng muốn rời khỏi Hawaii. Bởi ở Hawaii có cây xoài, cây mít, cây mảng cầu, khế, ổi, nhãn lồng…Hawaii cũng có những hàng dừa xanh, biển ấm quanh năm và cư dân rất hiền hòa, hiếu khách. Hawaii đã cho chị sống lại với những hình ảnh yêu dấu của Nha Trang, nơi chôn nhau cắt rốn, cũng là nơi chị đã gặp, yêu và làm vợ người lính biển lãng mạn nhưng can đảm hào hùng Phạm văn Diên.

Cuối cùng chị đã không chọn cấp bậc đại tá, mà chọn Hawaii với biển ấm tình nồng, mang bóng dáng miền quê hương thùy dương cát trắng của chị..
Những Chuyện Bên Lề về Tuổi Thơ, Tình Yêu và Cuộc Đời của Cô Nữ Sinh Trường Nữ Trung Học và Võ Tánh Nha Trang.-

Phan Thị Lang chào đời vào một buổi sáng mùa thu năm 1950 tại thành phố Nha Trang. Cha mẹ và đặc biệt là bà nội rất đỗi vui mừng, vì đây là đứa con gái đầu tiên của gia đình và cũng là đứa cháu gái đầu tiên của giòng tộc họ Phan. Cha mẹ muốn đặt tên cho con gái mình là Linh Lan, tên một loài hoa mà ông bà rất thích, nhưng bà nội không chịu, vì bà tin rằng, đặt tên cho con gái bằng tên một loài hoa là không tốt, vì hoa sẽ “ sớm nở tối tàn”, cho nên bà nội bắt phải đổi tên Linh Lan thành Lang, để biến nghĩa thành cũ khoai… lang. Như vậy đời cô cháu gái sẽ tốt hơn.

Cha mẹ Lang sinh tất cả là 7 người con,nhưng mấy ông anh đầu đã mất đi trong chiến tranh loạn lạc, sau cùng chỉ còn lại ba anh em, người anh là Phan Ngọc Châu, cựu học sinh Võ Tánh ( 1B2/VT 63-64), rất chăm chỉ và học giỏi, sau này vào trường Sĩ Quan Thủ Đức và tử trận năm 1968 tại Bình Dương. Anh Phan Ngọc Châu có một chuyện tình thật buồn với một người đẹp ở trường Nữ Trung Học, quê cũng ở Vạn Giã, Hai người không lấy nhau được do một trắc trở về chuyện họ hàng. Anh Châu sống những ngày u buồn và khi chết đi đã mang theo mối u tình này xuống lòng huyệt mộ. Người em trai, Phan Hà, sau khi học xong ở Võ Tánh, theo vợ chồng Lang vào Sài gòn học luật, rồi cùng di tản sang Mỹ vào đêm 29.4.1975. Hiện Hà đang sống ở Columbia, SC.

Ba má Lang là người Vạn Giã. vào Nha Trang làm ăn sinh sống từ thuở thiếu thời, nối nghiệp xây cất của ông nội, rồi làm nghề thầu khoán. Sau này ông trở thành nhà thầu nổi tiếng ở Nha Trang, từng xây nhà cho các tướng Đỗ Mậu, Tôn Thất Đính, và nhiều ngôi biệt thự sang trọng khác trên đường Biệt Thự, Duy Tân.

Cô bé Lang lớn lên trong sự cưng chiều của cả gia đình, nhất là bà nội, nên cô bé rất “hư”, nhõng nhẽo và lười học.Trong nhà, cô bé chỉ sợ có mỗi anh Châu, vì lúc nào anh ấy cũng trầm tĩnh, nghiêm nghị, ít nói và rất chăm học. Cô bé thường cố tình lẫn tránh, vì hễ mỗi lần bắt gặp cô em gái, là anh bắt phải học, một điều mà lúc còn ở tiểu học, cô bé thấy như là một cực hình.

Vì lười học, nên năm lớp Nhì ở trường tiểu học Sinh Trung, cô bé bị ở lại lớp. Cả một năm ở lại lớp Nhì ấy, cô bé thật ê chề và xấu hổ.Vì hễ có một đứa học trò nào lười biếng là cô giáo lại đem Lang ra làm ví dụ. Nhờ vậy mà từ đó, Lang quyết tâm học cho giỏi. Mùa hè đến, Lang theo anh Châu về quê nội ở Vạn Giã, để được ông anh dạy kèm cùng với mấy đứa con ông chú, bà cô, đặc biệt các môn toán đố, hình học..

Sau hè, trở lại trường, Lang được lên lớp Nhất.Và suốt cả năm lớp Nhất, tháng nào Lang cũng được lãnh Bảng Danh Dự, và cuối năm khi thi vào lớp Đệ Thất trường Nữ Trung Học, cô bé đậu hạng thứ 10 trong số rất đông thí sinh ở Nha Trang và từ các nơi khác về dự thí. Lang vào Đệ Thất năm 12 tuổi. Lên Đệ Tam chọn Ban C. Năm 1968, Lang đỗ Tú Tài I hạng Bình Thứ. Anh Châu từ chiến trường xa xôi, nghe tin, vội vã xin phép về thăm gia đình và chúc mừng cô em gái. Không ngờ đó lại là lần cuối cùng hai anh em nhìn thấy mặt nhau. Anh Châu đã tử trận đúng một tuần sau khi trở về đơn vị. Năm Đệ Nhất C, Lang phải chuyển sang học bên trường Võ Tánh, vì trường Nữ Trung Học không đủ lớp. Sau khi đậu Tú Tài II năm 1969, Lang là người đầu tiên trong đám bạn bè cùng lớp “theo chồng bỏ cuộc chơi”. Anh Châu, người anh duy nhất và rất thương mến Lang, không còn nữa để dự đám cưới của em mình. Đó là sự mất mát và hụt hẫng to lớn của Lang trong ngày bước theo chồng.

Lang gặp anh Diên, Phạm văn Diên, lần đầu tiên vào ngày mồng 6 Tết Âm Lịch, lúc Lang chỉ mới tròn 13 tuổi , đang học lớp Đệ Lục. Hôm đó là ngày Thứ Bảy, nên phố xá đầy dẫy những anh chàng SVSQ Hải Quân và Không Quân. Không hiểu sao lúc ấy Lang “không ưa” Hải Quân, nên khi bị hai anh chàng HQ đi kèm hai bên Lang và một cô bạn, trong lúc dạo phố mua hàng, tán tỉnh, Lang vừa sợ vừa mắc cỡ, vừa ghét nữa, nên không mở miệng nói một lời. Anh Diên đi bên cạnh, biết Lang sợ và e thẹn, nên ôn tồn nhỏ nhẹ gợi chuyện. Anh Diên nói tiếng Bắc, gọi Lang bằng “bé”. Theo Lang về gần đến nhà cô bạn cùng đi, cũng là một tiệm ăn, Diên đã hỏi Lang : “ Bé ơi, đường nào ra biển, hở bé”. Nghe hỏi, Lang bỗng phì cười. Hải Quân mà hỏi đường nào ra biển. Nào ai có biết, đó lại là câu nói định mệnh của đời Diên sau này.

Kể từ hôm ấy, cứ mỗi lần “đi bờ” là anh Diên đến ngồi ở quán của cô bạn, chờ bé Lang đạp xe đi qua. Vì quán ăn nằm ngay góc đường đến nhà Lang. Cứ như thế cho mãi đến năm 1965, anh Diên tốt nghiệp Khóa 14 HQ/ Đệ Nhị Kim Ngưu.

Một hôm, Diên ngỏ ý xin phép Lang được đến nhà thăm ba má và ông anh, làm cô bé Lang hoảng sợ đến muốn khóc, lắc đầu lia lịa, vì nghĩ tới sự nghiêm khắc của cha mẹ, đặc biệt là anh Châu của mình, nên bảo là “Anh mà tới nhà, chắc thế nào Lang cũng bị đòn, không được đâu!” Nghe nói thế, Diên chỉ âu yếm nhìn Lang mỉm cười và bảo là “bé đừng sợ”. Cuối tuần sau, Diên đến nhà thật, gặp ba má và anh Châu của Lang. Và chẳng biết làm thế nào mà Diên thuyết phục được ông anh khó tính của Lang, để được “chính thức” tới thăm gia đình Lang . Dù vậy, Diên cũng chỉ dám tới nhà mỗi tháng một lần và cũng hiếm khi được ngồi riêng để nói chuyện với Lang. Hôm trước ngày tốt nghiệp ra trường, Diên đến thăm để từ giã gia đình Lang. Sau khi nói chuyện với ba má và anh Châu, Diên xin phép được lên lầu để từ giã Lang. Lúc ấy cô bé đang ngồi đan áo trên sân thượng, dưới giàn nho đầy quả chín. Lần đầu tiên, Diên nắm lấy tay Lang, nhìn thật sâu vào mắt Lang, dịu dàng nói “Bé ơi, anh rất yêu bé và muốn cưới bé làm vợ, nhưng bé hãy còn nhỏ quá, nên anh phải đợi cho bé lớn lên. Ngày mai anh đi rồi, không biết bao giờ mới về thăm bé được, nhưng anh sẽ viết cho Bé mỗi ngày một lá thư. Bé ráng đợi anh nghe!”. Nói xong, Diên cúi xuống, nhẹ nhàng hôn lên đôi bàn tay run rẩy và ướt đẫm nước mắt của Lang.

Và chàng đã giữ đúng lời hứa, mỗi ngày một lá thư gởi về cho Lang đều đặn, và chờ Lang lớn lên. Họ đã làm đám cưới vào mùa Thu 1969, sau khi Lang đỗ Tú Tài II. Lúc ấy Lang vừa 19 và Diên đã 27 tuổi đời. Hành trang về nhà chồng của Lang, ngoài một số áo quần, còn lại là một vali chứa đầy những lá thư của Diên.

Hơn mười năm, sau ngày cả nhà di tản sang Mỹ, anh Diên mất đi trong một tai nạn bi thảm, để lại cho Lang ba đứa con dại tuổi chỉ từ 11 đến 15. Lang đã chọn ở lại quân đội để có điều kiện lo lắng cho các con. Sau này cả ba cháu đều thành đạt. Cô gái út, ngày rời Việt Nam vừa đúng 1 năm 1 tháng tuổi. Năm 11 tuổi tận mắt chứng kiến cái chết đau đớn của cha mình. Sau này được vào Stanford University, một đại học nổi tiếng của Hoa Kỳ, và được bầu làm Chủ Tịch Hội Sinh Viên Việt Nam của trường. Sau khi đậu bằng Thạc sĩ ngành Kinh Tế/Phát Triển Điều Luật Quốc Tế (Economics/International Policy Development) năm 1997, cháu lấy thêm bằng Thạc Sĩ Quản Trị Thương Mại (Master of Business Administration) ở University of California at Berkeley (Haas School of Business). Hiện nay là Senior Product Marketing Manager của Google.

Năm 2002, sau khi chu toàn trách nhiệm của một người mẹ với các con, một sĩ quan cao cấp đối với Quân Lực Hoa kỳ, đúng một ngày sau khi về hưu, Phạm Phan Lang làm đám cưới với người chồng mới. Anh là môt người Mỹ, lớn hơn Lang 7 tuổi. Là một người hiền lành, thật thà và độ lương. Trước kia là một Sĩ Quan Không Quân trong Quân Lực Hoa Kỳ. Rời quân ngũ, anh đi học lại và lấy bằng Ph.D rồi dạy tại trường University of Hawaii, và sau này đã làm việc cho US Navy/Submarine, Pearl Harbor Hawaii trong hơn 30 năm với chức vụ Oceanographer/Technical Director cho đến ngày về hưu, cách đây hai năm.

Phạm Phan Lang cùng chồng đang sống những ngày tháng êm đềm ở thành phố Kaneohe trên hòn đảo Oahu / Hawaii thần tiên. Mỗi ngày, trong nắng ấm, nhìn biển trời, nghe sóng biển rì rào, Lang da diết nhớ về Nha Trang, về những ngày tuổi thơ cùng với gia đình, thầy bạn, và hồi tưởng về một quá khứ với biết bao thăng trầm biến đổi của quê hương, của gia đình và của cả một đời người.

(Ghi chú của người viết : Khi liên lạc với Phạm Phan Lang để viết bài này, bất ngờ người viết nhận ra Lang chính là cô em gái của Phan Ngọc Châu, người bạn thân cùng quê Vạn Giã, cùng lớp ở trường Văn Hóa Nha Trang, trong những năm đầu trung học.Cứ mỗi mùa hè, người viết lại gặp hai anh em, dắt díu nhau về thăm quê nội. Khi ấy Lang mới chỉ học lớp Nhì, nhưng đã là một cô bé rất thông minh và thật xinh xắn dễ thương)

Phạm Tín An Ninh
(viết theo lời tâm tình của Phạm Phan Lang)
*** Xin đón đọc Hồi Ký viết bằng Anh và Việt Ngữ của Phạm Phan Lang sẽ được xuất bản .
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Biến cố 1975, nhớ Di Cư 1954:
Ðọc 'Deliver Us from Evil' của Bác Sĩ Thomas A. Dooley


* Operation Passage To Freedom * Vai trò Hải Quân Hoa Kỳ * Chiến hạm USS Montague


Hà Giang/Người Việt
Tôi được biết đến cuốn “Deliver Us From Evil,” của tác giả Thomas A. Dooley, một bác sĩ quân y thuộc Hải Quân Hoa Kỳ, lần đầu tiên trong đời, ở phòng khách của người phụ nữ được giới truyền thông Hoa Kỳ mệnh danh “Angel of Saigon,” và người Việt tị nạn giờ đây bắt đầu đặt cho cái tên “Mẹ Của Cô Nhi Việt Nam,” trong chuyến đi thăm bà tại Seattle để thực hiện phóng sự đặc biệt cho dịp 35 năm kỷ niệm 30 Tháng Tư cách đây hai tuần.

Trao cho tôi cuốn sách bìa rách tả tơi, xuất bản năm 1956, cách đây đã hơn 50 năm, bà Betty Tisdale bảo “Deliver Us From Evil” với bà là một “định mệnh,” và tác giả của nó, Bác Sĩ Quân Y Tom Dooley, là “một phép lạ, người đã làm thay đổi hẳn cuộc đời” của mình.

Trân trọng nhận sách từ tay bà (với lời giới thiệu như thế thì không thể không trân trọng), tôi ngắm tấm bìa đã ố vàng in hình một người đàn ông đẹp trai trong y phục Hải Quân Hoa Kỳ, bên cạnh một đứa bé Á Ðông. Ðằng sau và tương phản với vẻ mặt tươi cười của hai người, là những ánh mắt hốt hoảng như nuốt chửng khuôn mặt âu lo của những người Việt Nam ngồi chen chúc bên nhau như cá hộp.


--------------------------------------------------------------------------------
Hành trình đến tự do của những người di cư không dễ dàng, vì tuy trên nguyên tắc, thì mọi người được tự do chọn nơi mình sống, và những ai muốn di cư vào Nam sẽ được hỗ trợ để ra đi cho đến hết đến Tháng Năm, 1955, trên thực tế, ở khắp các nẻo đường, Việt Minh luôn lén lút tìm cách ngăn cản, ruồng bắt họ, khiến họ phải liều chết để tìm đường lẩn trốn.
--------------------------------------------------------------------------------

Bà Betty bảo một chương trong cuốn sách nói về các trẻ em cô nhi của madame Vũ Thị Ngãi đã khiến bà rất xúc động, và thôi thúc bà đi thăm cô nhi viện An Lạc, một biến cố dẫn đến việc bà di tản hơn 200 cô nhi ra khỏi Việt Nam sau này.

Trực giác cho tôi biết cuốn sách này chứa đựng nhiều hơn thế nữa.

Lật vài trang, tôi như bị thôi miên bởi những tấm hình trắng đen ghi lại cuộc di cư của hơn một triệu người trốn chạy cộng sản từ Bắc vào Nam. Những hình ảnh trông còn thê thảm hơn cảnh vượt biên của “boat people” vào biến cố Tháng Tư, 1975.

Tôi lật thêm vài tấm hình nữa. Toàn là những khuôn mặt chứa đầy hãi hùng, đau thương. Nhưng tại sao những hình ảnh xa lạ này lại thân thuộc đến thế?

Một luồng điện chạy xẹt qua người. Phải chăng có hình ảnh cha mẹ tôi trong đám người hốt hoảng ấy kéo nhau di cư vào Nam năm ấy?

Ðột nhiên những câu chuyện mẹ tôi kể về cuộc di cư từ Bắc vào Nam của thế hệ bà, mà tôi đã nghe nhiều lần từ tấm bé ào ạt trở về.

Và những hình ảnh trước mắt chợt làm sống động những câu chuyện trước đây tôi chỉ được nghe mà không thể hình dung.

Lịch sử đang được phơi bày trước mắt. Những hình ảnh có thật, được ghi lại, kể lại bằng một nhân chứng sống, và một người ngoại quốc.


***


Sau hơn ba ngày chờ đợi, cuốn sách cũ tôi đặt mua trên Amazon.com cuối cùng cũng về đến thùng thư. Sách “paperback” nên mỏng quá, không “đẹp” như cuốn sách của bà Tisdale.

Nhưng không hề gì.

Tôi bỏ ra 4 tiếng đồng hồ, ngấu nghiến đọc.

“Deliver Us From Evil” là hồi ký của Bác Sĩ Tom Dooley kể lại một công tác mang ông đến Việt Nam vào cuối mùa Hè năm 1954. Vào mùa Xuân trước đó, quân Pháp đã bị Việt Minh đánh bại trong trận Ðiện Biên Phủ.

Hiệp Ðịnh Geneve ký kết vào Tháng Bảy, 1954 cho phép dân chúng miền hai miền được quyền chọn giữa thể chế tự do (miền Nam) và cộng sản (miền Bắc) và di cư qua vùng mình muốn. Khoảng thời gian thông thương này sẽ kéo dài đến Tháng Năm, 1955.

Hiệp định này tạo ra một luồng sóng người Bắc ào ạt di cư vào Nam trong những chuyến đi được chính phủ Hoa Kỳ hỗ trợ qua công tác gọi là Chiến Dịch Hành Trình Ðến Tự Do (Operation Passage To Freedom).

Bằng một giọng kể chuyện ngôi thứ nhất, tác giả Tom Dooley đã ghi lại sinh hoạt của ông trên hàng không mẫu hạm USS Montague, và công việc trong những trại tị nạn ở ngoại ô Hải Phòng, trong việc giúp người Bắc di cư vào Nam để trốn chạy chế độ cộng sản, vào khoảng năm 1954 đến đầu năm 1955.

“Deliver Us From Evil” là một hồi ký hấp dẫn, sinh động, chứa nhiều chi tiết gây ấn tượng sâu sắc về những phức tạp của việc xây dựng và duy trì một trại tị nạn, nơi những người di cư tạm trú trong thời gian đợi khám sức khỏe, chữa trị và chủng ngừa, trước khi được đưa vào Nam.

Qua lời kể của Tom Dooley, người đọc có thể hình dung được toàn cảnh cảng Hải Phòng, với những bến tàu, hai khách sạn xập xệ và vài cửa hàng tạp hóa đến những chi tiết cụ thể và thực tế trong trại như việc sử dụng nhà cầu, cũng như khó khăn tạo ra bởi sự khác biệt những về cả ngôn ngữ lẫn văn hóa.

Tác giả cũng giải thích những khó khăn của hải quân Hoa Kỳ trong việc đưa hàng trăm ngàn người dân, trong đó có nhiều người già, trẻ em, tàn tật, ghẻ lở ốm đau, những người đàn bà thai nghén, từ đồng bằng sông Hồng đến đồng bằng sông Cửu Long.

Hành trình đến tự do của những người di cư không dễ dàng, vì tuy trên nguyên tắc, thì mọi người được tự do chọn nơi mình sống, và những ai muốn di cư vào Nam sẽ được hỗ trợ để ra đi cho đến hết đến Tháng Năm, 1955, nhưng trên thực tế, ở khắp các nẻo đường, Việt Minh luôn lén lút tìm cách ngăn cản, ruồng bắt họ, khiến họ phải liều chết để tìm đường lẩn trốn.

Một đoạn văn tả lại cuộc đi trốn của người làng Cửa Lò:

“Trên những con thuyền chỉ chở tối đa là 25 người, đêm nay chúng tôi chất cả trăm người trên mỗi thuyền. Im lặng như màn đêm, thuyền chúng tôi lặng lẽ rời bờ hướng về phía biển Ðông.

Chuyến đi của chúng tôi kéo dài năm ngày năm đêm. Chúng tôi không thể đốt lửa vì củi quá ướt. Chúng tôi bắt buộc phải ăn cơm sống, trà thì bị ngập nước biển không còn uống được, chúng tôi hầu như không uống nước. Trẻ con và đàn bà chết lả vì đói và khát.”

Trong tình cảnh thật khốn khó, tình cảm tác giả cũng như những đồng đội của ông trong Hải Quân Hoa Kỳ dành cho người di cư xấu số được thể hiện rất rõ ràng, nhất là trong những đoạn tả cảnh họ săn sóc các trẻ em cô nhi, mà cha mẹ đã bị chết trên đường tị nạn.

Nhưng lẫn với những câu chuyện chứa đầy tình người, là những hình ảnh hãi hùng khiến người đọc phải rùng mình. Ðó là những chuyện mà tác giả cho là phải ghi lại như một tài liệu lịch sử để cho thế giới thấy rõ những hành vi man rợ của một chế độ bất nhân, đã xô đẩy hàng triệu người phải bỏ tất cả nhà cửa, ruộng vườn, làng mạc, mồ mả ông bà tổ tiên, những gì quý giá nhất để gồng gánh, bồng bế nhau đi.

Trong chương có tên là “Cải tạo của Cộng Sản,” Bác Sĩ Tom Dooley kể một hôm người ta đưa đến trại tị nạn bảy em trai bị thương ở hai tai máu chảy lênh láng, và một người đàn ông miệng bê bết máu đã ngất xỉu để cấp cứu.

Dùng thuốc trụ sinh, và mọi phương tiện khó khăn lúc đó, bác sĩ đã cứu sống được họ, nhưng họ vẫn bị tàn tật suốt đời.

Nguyên nhân thương tích của họ được Bác Sĩ Tom Dooley kể lại như sau:

“Một người được chứng kiến câu chuyện sau đó kể cho chúng tôi biết là hôm đó Việt Minh kéo vào làng, họ đến ngôi trường mà một thầy giáo bị tố cáo là đã lén lút tổ chức những lớp học giáo lý vào buổi tối.

“Bảy học sinh và thầy giáo bị lôi ra khỏi lớp. Tất cả bị bắt ngồi xuống đất và hai tay bị trói ra đằng sau.

“Hai người công an đi đến từng đứa trẻ. Một người dùng hai tay nắm chặt lấy đầu đứa bé. Người kia lấy một chiếc đũa bằng tre chọc mạnh sâu vào cả hai tai em, máu chảy ròng ròng, và cả làng có thể nghe thấy tiếng kêu la kinh hoàng của những người bị trừng trị.”

Sau khi đã phải chứng kiến cảnh từng học trò của mình bị chọc hỏng tai, thầy giáo bị trừng phạt bằng một hình phạt nặng nề hơn. Một công an nắm chặt đầu ông, còn người kia banh miệng ông ra, dùng kéo cắt đi chiếc lưỡi dám rao giảng những giáo điều đi ngược với chính sách của đảng. Những em học trò này từ nay không thể nghe được lời rao giảng nào nữa, và thầy giáo bị câm thì không còn bao giờ nói được những điều bị cấm.”

Hãi hùng, thê thảm, hỗn loạn, bẩn thỉu, bệnh tật, chết chóc, sự quỷ quyệt và tàn nhẫn, là những gì được ghi lại trong chuyến di cư từ Bắc vào Nam năm 1954, và công tác của ông gần đến ngày cuối thì lại càng khó khăn hơn vì vòng đai kiểm soát của Việt Minh ngày càng siết chặt.

Nhưng giữa những hình ảnh ảm đạm thê lương nhất, người đọc vẫn thấy thấp thoáng ánh sáng của hy vọng vào tình người, và sức mạnh mãnh liệt của niềm tin tôn giáo.

Ngay sau khi xuất bản, “Deliver Us From Evil” đã nhanh chóng trở thành cuốn sách bán chạy nhất, và được xem là một tài liệu lịch sử có giá trị ghi lại vai trò của hải quân Hoa Kỳ trong cuộc di tản hơn một triệu người Bắc di cư vào Nam để tìm tự do.
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Lú như Trọng

Ngô Nhân Dụng

Dân Hà Nội có câu tục ngữ nói về 4 nhân vật từng giữ các chức quan trọng nhất thành phố, là các ông Phùng Hữu Phú, chủ tịch; Nguyễn Phú Trọng, bí thư; Hoàng Văn Nghiên, phó chủ tịch và Nguyễn Quốc Triệu, phó bí thư. Câu tục ngữ là: “Giàu như Phú - Lú như Trọng - Lật lọng như Nghiên - Tiêu tiền như Triệu.’’ Lú, hay lú lẫn, tiếng miền Bắc, có nghĩa là không được thông minh lắm.

Ba ông kia không biết đã lên tiếng xác nhận hoặc cải chính lời đồn của người dân hay chưa. Riêng ông Nguyễn Phú Trọng mới đây đã tìm cách chứng tỏ rằng ông không “lú;” qua một bài viết mới xuất hiện vào đầu tháng 5, 2010, nhan đề “Sự phát triển nhận thức của Ðảng ta từ Cương lĩnh năm 1991 đến nay.” Trong bài này ông Nguyễn Phú Trọng muốn chứng tỏ ông rất thông minh, sáng suốt, ít nhất, ông sáng hơn hẳn “Hồ chủ tịch” của đảng ông.

Hiện nay ông Nguyễn Phú Trọng đang làm chủ tịch Quốc Hội, nhưng nhiều người đoán sang năm ông sẽ leo lên làm tổng bí thư Ðảng Cộng Sản Việt Nam. Muốn chứng tỏ mình xứng đáng được nối nghiệp Nông Ðức Mạnh, ông Trọng viết bài trên để cho thiên hạ thấy ông rất thông thái.

Bài viết của ông Trọng nhắm đề cao bản Cương Lĩnh 1991 của Ðảng đưa ra “quan niệm mới về chủ nghĩa xã hội.” Mới, tức là không còn là thứ chủ nghĩa xã hội của mấy thế hệ cộng sản cũ nữa. Nếu quý vị độc giả chưa biết chủ nghĩa xã hội là cái gì, thì xin giới thiệu đó là kim chỉ nam của Ðảng Cộng Sản Việt Nam từ gần một thế kỷ nay, qua ba bốn thế hệ rồi. Nhưng muốn đề cao cái cương lĩnh mới năm 1991 thì trước hết ông Nguyễn Phú Trọng phải vạch rõ là trước khi có cương lĩnh này, đảng Cộng Sản Việt Nam đã nhầm lẫn như thế nào.

Ông Trọng bèn kể tội các thế hệ lãnh đạo đảng ông trước năm 1991. Ông bảo trước đấy đảng của ông đã mang “những quan niệm đơn giản, ấu trĩ.” Ít người khấn vái tổ tiên đời trước của mình bằng hai chữ “ấu trĩ,” tức là con nít; hoặc “đầu óc đơn giản” ý nói là ngu ngốc, suy nghĩ nông cạn, hẹp hòi!

Bản kể tội của Nguyễn Phú Trọng rất dài, nhưng ai đã theo dõi lịch sử nước ta đều có thể thấy nhiều chuyện chứng tỏ trước đây Ðảng Cộng Sản Việt Nam đã suy nghĩ, hành động đơn giản và ấu trĩ thật. Thí dụ, theo ông Nguyễn Phú Trọng kể, trước đây đảng Cộng Sản đã “không phân biệt được mục tiêu sau cùng với nhiệm vụ trước mắt.” Ông không nói gì cụ thể, nhưng mọi người có thể thấy từ 1955, Ðảng Cộng Sản đã tìm cách tiêu diệt “địa chủ,” đánh tư sản, tính xây dựng chủ nghĩa xã hội ngay tại miền Bắc Việt Nam, mà không biết, như ông Nguyễn Phú Trọng bây giờ mới biết, rằng chủ nghĩa xã hội là một mục tiêu xa, rất xa. Trong bài viết kể trên, ông Nguyễn Phú Trọng nói là hiện nay đảng ông chỉ mới tính đi qua “thời kỳ quá độ,” tức là giai đoạn chuyển tiếp trước khi tới chủ nghĩa xã hội thôi. Mà ông lại khẳng định rằng, “Quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một sự nghiệp lâu dài, vô cùng khó khăn và phức tạp!” Bởi vì, ông mô tả: “Lịch sử thế giới đang trải qua nhưng bước quanh co!” Ở nước ta, ông nói thêm, công việc tiến tới chủ nghĩa đó “lại càng khó khăn, phức tạp, nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước đi,” vân vân.

Ông Nguyễn Phú Trọng không chịu tiết lộ cái “thời kỳ quá độ” này nó lâu dài tức là lâu đến bao nhiêu năm, 10 năm, 20 năm hay là phải 100 năm người dân mới thoát cái nợ quá độ? Nhưng đọc bài ông viết thì người đọc cũng thấy ông phê phán các lãnh tụ cộng sản trước năm 1991 là rõ ràng họ không biết gì hết, mà vẫn cứ đòi “xây dựng chủ nghĩa xã hội” ngay từ những năm 1950 cho đến những năm 1980 không chịu cho ai nghỉ mệt!

Những sai lầm ấu trĩ khác mà ông Trọng vạch ra, tóm gọn trong một ý là đảng ông đã không biết kính trọng chủ nghĩa tư bản! Ông viết, Ðảng đã “đồng nhất kinh tế thị trường với chủ nghĩa tư bản; coi nhẹ những thành tựu, giá trị mà nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản.” Vì lối nhìn một chiều hẹp hòi “ấu trĩ” đó cho nên, trước Cương Lĩnh 1991 Ðảng Cộng Sản đã “muốn nhanh chóng xóa bỏ sở hữu tư nhân và kinh tế tư nhân; đồng nhất nhà nước pháp quyền với nhà nước tư bản;” vân vân. Tóm lại ông Nguyễn Phú Trọng vạch rõ, Ðảng Ta đã sai lầm, toàn những sai lầm căn bản, làm cho cả nước chậm tiến lệt bệt đi sau các nước khác hàng nửa thế kỷ. Sai lầm lớn nhất, như ông Trọng nhấn mạnh, là Ðảng Cộng Sản đã “coi nhẹ các thành quả của chủ nghĩa tư bản!” Ðảng không chịu học tư bản, chỉ vì đầu óc “ấu trĩ” coi những định chế trong xã hội tư bản đều là xấu xa cả; thí dụ như “thị trường,” như guồng máy nhà nước tôn trọng luật pháp và “cai trị bằng luật pháp.”

Tại sao lại nhấn mạnh sai lầm cơ bản của đảng là không biết kính trọng “những thành tựu của chủ nghĩa tư bản” như vậy? Vì ông Nguyễn Phú Trọng muốn biện minh cho những “đổi mới” của đảng ông; thí dụ, bây giờ các đảng viên được đi kinh doanh kiếm lời, thuê mướn và sử dụng sức lao động của giai cấp công nhân. Họ làm giống hệt các nhà tư bản mà thế hệ lãnh tụ cộng sản trước đây, từ Hồ Chí Minh, Lê Duẩn tới Ðỗ Mười vẫn tìm cách tiêu diệt!

Ðọc xong bản kể tội của ông Nguyễn Phú Trọng như trên, bất cứ một đảng viên cộng sản nào, bất cứ người Việt Nam nào (nếu không lú), cũng phải đặt câu hỏi: “Ðảng Ta” đã sai lầm như vậy trong bao nhiêu lâu? Ai là cái đám người “lú lẫn” đưa Ðảng đến chỗ phạm những sai lầm như thế? Và, hậu quả của lú lẫn sai lầm như vậy đưa dân tộc tới đâu rồi?

Ông Trọng không nêu ra những câu hỏi trên. Bởi vì khi suy nghĩ về câu trả lời thì cả lịch sử Ðảng sẽ chỉ là một Quả Lừa vĩ đại!

Vì người đầu têu ra tất cả những quan niệm sai lầm, ấu trĩ đó; người hăng hái cổ xúy, biện minh cho những quan niệm ấu trĩ đó chính là ông Hồ Chí Minh! Cứ đọc các bài trong “Hồ Chí Minh Toàn Tập,” các đảng viên cộng sản sẽ thấy đúng như thế! Hồ Chí Minh đã “chửi bới” xã hội các nước tư bản không hết lời; đã hô hào người Việt Nam theo ông xây dựng chủ nghĩa xã hội “tốt đẹp gấp trăm ngàn lần xã hội tư bản” từ trước khi ông Nguyễn Phú Trọng ra đời năm 1944! Những người được ông Hồ chọn đưa lên kế nghiệp như Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Ðồng, Lê Ðức Thọ, vân vân, chỉ răm rắp đi theo những quan niệm “ấu trĩ, sai lầm” đó mà thôi, chứ có ai bày ra cái gì mới đâu!

Cho nên, khi ông Nguyễn Phú Trọng vạch ra những quan niệm đơn giản, ấu trĩ của Ðảng Cộng Sản trước năm 1991, ông đã chứng tỏ rằng Hồ Chí Minh và cả Ðảng Cộng Sản Việt Nam đã suy nghĩ đơn giản, ấu trĩ, sai lầm nghiêm trọng trong hơn nửa thế kỷ. Ai bảo “Lú như Trọng” là nói oan! Nguyễn Phú Trọng có lú thì cũng không đến nỗi lú như nhiều thằng “ấu trĩ” đời trước! Ðảng viên cộng sản nào vẫn nói với nhau câu “Lú như Trọng” bây giờ nên tỉnh lại.

Nhưng, sau khi nhìn thấy Ðảng Cộng Sản đã phạm các sai lầm tệ hại suốt 70 năm, vẫn không có gì bảo đảm là sau năm 1991 thì Ðảng Cộng Sản bắt đầu đúng! Cứ đọc bài văn của ông Nguyễn Phú Trọng thì rõ khi ông nêu ra và trả lời các câu hỏi “chủ nghĩa xã hội là gì và đi lên chủ nghĩa xã hội bằng cách nào?” Bởi vì câu trả lời của ông chỉ gồm toàn những khẩu hiệu y như cũ: xây dựng dân giàu nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh, cuộc sống no ấm, tự do, hạnh phúc, vân vân. Những khẩu hiệu trống rỗng như thế thì đứa bé con đứng ngoài đường cũng hô to lên được! Muốn cho nó giống Mỹ, cương lĩnh mới của đảng còn dùng những chữ của Tổng Thống Lincoln: “nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” nhưng ông Trọng không quên thòng thêm cái đuôi “dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng Sản!”

Tới đây ta lại nhìn thấy một sai lầm cốt lõi của Ðảng Cộng Sản, gây nên bao đau thương cho dân tộc Việt Nam. Ðó là chế độ độc quyền toàn trị mà Hồ Chí Minh đã học của Stalin, Mao Trạch Ðông, đem về áp đặt trên dân tộc ta.

Cứ suy nghĩ về 60 năm lãnh đạo cộng sản sai lầm, người đảng viên nào cũng phải tự hỏi: Tại sao những sai lầm căn bản đó mà suốt bấy nhiêu năm không ai biết và không ai sửa cả? Lý do chính là chế độ độc tài chuyên chế.

Trong một chế độ tự do dân chủ thì nếu một đảng chính trị theo đuổi những tư tưởng chỉ đạo sai lầm, dẫn đất nước vào con đường tai hại, họ cũng chỉ có thể phạm tội trong một, hai nhiệm kỳ, tức là từ 4 đến 8 năm, 10 năm là cùng. Dân sẽ dùng lá phiếu lật đổ một cách hòa bình. Nhưng khi một đảng chiếm độc quyền cai trị hết năm này sang năm khác, suốt thế hệ này sang thế hệ khác, thì họ có thể đưa cả dân tộc xuống vực sâu mà chính họ cũng không ngờ! Vì chế độ chuyên chế không cho phép ai phê phán cả. Ai đã đọc những bài phê bình cuộc cải cách ruộng đất của cố Luật Sư Nguyễn Mạnh Tường vào thời 1956 đều thấy rằng ông Tường đã nêu ra những hệ quả tai hại khi nhà nước cộng sản coi thường các nguyên tắc cơ bản của pháp luật, những nguyên tắc pháp lý thành hình trong lịch sử nhân loại và đã được áp dụng trong các nước tư bản từ hàng thế kỷ trước. Những Phan Khôi, Nguyễn Hữu Ðang, Nguyễn Mạnh Tường, Trần Ðức Thảo, vân vân, đã bị chế độ Hồ Chí Minh vùi dập, đầy đọa, chỉ vì không cúi đầu tuân phục các “quan niệm đơn giản, ấu trĩ” của những kẻ cầm quyền thời đó. Ngay cả những đảng viên cộng sản biết suy nghĩ, dám có ý muốn thay đổi như Hoàng Minh Chính, Lê Liêm; hoặc dám có sáng kiến làm khác với chính sách của bọn giáo điều ngu tối, như ủy viên Kim Ngọc, cũng đều bị trù dập hết cả. Cả nước Việt Nam bị Ðảng Cộng Sản đem dùng làm vật thí nghiệm cho những quan niệm sai lầm như thế trong hơn nửa thế kỷ mà cả dân tộc cứ phải cúi đầu chịu đựng. Chỉ vì chế độ độc tài đảng trị!

Nếu còn duy trì chế độ độc tài toàn trị của Ðảng Cộng Sản thì không có gì bảo đảm là những sai lầm của chính quyền bây giờ và mai sau có cơ hội được phơi bày ra và người dân được quyền thay đổi chính quyền bằng lá phiếu tự do!

Trong khi vạch ra các sai lầm của Ðảng Cộng Sản từ những ngày đầu năm 1930 đến năm 1991, ông Nguyễn Phú Trọng đã làm một bảng kết tội Ðảng Cộng Sản rất đáng suy nghĩ. Nhưng ông vẫn còn lú! Ðiều lú lẫn quan trọng nhất của ông là: Muốn duy trì chế độ chuyên chế độc quyền của Ðảng Cộng Sản! Dưới chế độ độc tài như thế, làm sao bảo đảm nhóm người cộng sản cầm quyền bây giờ không phạm những sai lầm nghiêm trọng khác, tiếp tục đưa đất nước vào con đường tối tăm lạc hậu thêm 10 năm, 20, 30 năm nữa?
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: Baidu [Spider] and 9 guests