Page 35 of 85

Posted: Sun Dec 11, 2011 7:32 am
by tranphuongdong

Image

CÁI BẪY CHUỘT

Viết bởi Thạch Nguyên

Một chú chuột nhìn qua khe tường, để ý thấy vợ chồng chủ nhà đang loay hoay mở cái hộp to. Chú nhủ thầm không biết trong đó đựng gì: bơ sữa, thịt bánh? Chú bàng hoàng suýt té ngửa khi thấy chủ nhà lấy ra một cái bẫy chuột thật to. Chú run rẩy, lần mò chạy ra phía sau trang trại và nói to cho các gia súc nghe:

- Các bạn ơi, chủ nhà vừa mua một cái bẫy chuột. Cái bẫy to lắm!

Cặp vợ chồng gà vẫn nhẩn nha nhặt thóc, cục tác vài tiếng rồi đáp:

- Xin lỗi chú, chúng tôi thông cảm vì đó là mối quan tâm sinh tử của chú. Nhưng việc gì đến chúng tôi. Xin chú đừng quấy rầy nữa, và hãy để chúng tôi yên.

Chú chuột rầu rĩ quay sang than khóc với bác lợn:

- Bác lợn ơi, có một cái bẫy chuột trong nhà. Cháu lo lắm.

Bác lợn tỏ ý cảm thông nhưng cũng chỉ trả lời:

- Tôi biết làm sao bây giờ. Tôi sẽ nhớ đến chú trong kinh nguyện hằng ngày của tôi.

Chú chuột bèn chạy đến cô bò đang chậm rãi nhai cỏ. Cô bò phán:

- Cái anh này lạ chưa, việc ấy có liên can gì đến tôi mà tôi phải bận tâm.

Chú chuột buồn bã bỏ đi. Bây giờ chú biết phải tìm cách đối phó với cái bẫy một mình. Đèn nhà ai nấy sáng! Việc của chú, chú phải tự lo. Ngay đêm đó, trong nhà có tiếng bẫy sập. Bà chủ nhà vội vã chạy ra để xem xét sự tình. Trong đêm tối bà không biết là chiếc bẫy đã sập vào đuôi một con rắn độc. Con rắn đã cắn người vợ. Sau đó người chồng vội vã đưa bà tới bệnh viện, bà trở về nhà với cơn sốt miên man.

Trong thời gian bà lên cơn sốt vì nọc độc, người chủ nhà giết cặp gà để nấu cháo cho vợ ăn. Bịnh tình bà trở nên trầm trọng, hàng xóm đến chăm sóc, phụ giúp gia đình. Chủ nhà giết chú lợn để đãi khách.

Nhưng người vợ vẫn ốm, bệnh tình dường như nặng thêm, vậy là bạn bè và láng giếng kéo đến thăm bà suốt ngày. Để tỏ lòng cám ơn và thết đãi họ, người chồng đã giết bác lợn.

Nhưng người vợ vẫn không khoẻ hơn, và cuối cùng bà đã chết. Mọi người kéo tới dự đám tang bà và người chồng chỉ còn duy nhất cô bò để thết đãi bạn bè, láng giềng trong ngày tang lễ. Người nông dân quyết định mổ nốt cô bò.

Chú chuột nhìn qua khe hở của bức vách với với nỗi buồn vô hạn.


***********************

Tất cả chúng ta đang đồng hành trên chuyến hành trình mang tên Cuộc Đời. Hãy để mắt tới mọi người, nhất là những người kém may mắn và bị thiệt thòi nhất. Hãy sẵn sàng chia sẻ với họ.

Bạn và gia đình đang sống bình an. Nhà hàng xóm bị cướp. Không can chi... vì nhà bạn xây cất kiên cố, có rào cao, cổng chắc, có chó dữ canh gác, có hệ thống báo động tối tân. Hãy coi chừng, nhà bạn sắp trở thành nạn nhân kế tiếp, không sớm thì muộn. Số phận của gia đình bạn sẽ giống như cặp vợ chồng gà nếu bạn chỉ biết lo cho bản thân mình, gia đình mình và để mặc chuyện thế sự cho người khác giải quyết!

Xóm làng bị nạn cường hào, ác bá, tham nhũng cửa quyền. Nhưng gia đình bạn an bình vì bạn khéo luồn cúi, móc ngoặc, biết điều với quan chức địa phương. Hãy coi chừng, bạn và gia đình sẽ trở thành nạn nhân kế tiếp nếu vì lý do nào đó bạn không còn biết điều, không thể làm con bò cho quan chức vắt sữa nữa (vì hết sữa!). Số phận của gia đình bạn trước sau cũng sẽ giống như chú heo, nếu bạn nghĩ mình khôn ngoan biết sống hơn người khác, bỏ ngoài tai chuyện thiên hạ, gió thổi chiều nào ngả theo chiều đó để được yên thân!

Hàng xóm bị ngăn cấm sống đức tin, sinh hoạt tôn giáo bị hạn chế, tín hữu bị bắt bỏ đạo. Không hề gì, bạn vẫn còn tự do đi đây đi đó, thăm viếng bạn hữu, phụng tự tổ chức linh đình. Để tỏ lòng thương cảm cho pháp nạn của người khác, bạn nhớ đến họ trong kinh nguyện hằng ngày. Bạn nghĩ vậy là đủ. Hãy coi chừng vì bạn sẽ là nạn nhân kế tiếp và sau cùng (!). Đặc ân bạn đang hưởng có thể bị rút lại bất cứ lúc nào. Số phận bạn rồi cũng sẽ giống như con bò... bị giết trong đám tang của người khác, dù bạn là người tu hành chỉ biết lo chuyện đạo và nhắm mắt không dám nghĩ đến chuyện đời!

Bạn thấy không, sự khác biệt chỉ là thời gian ngắn dài chờ đợi tới phiên mình. Dù “khôn ngoan biết sống” hơn người, cuối cùng số phận của bạn cũng không khác ai: Chủ nhà lần lượt làm thịt cặp gà, rồi đến phiên chú heo và cuối cùng cô bò. Cô bò may mắn nhất, sống lâu, nhưng cũng chết!

Chuyện công an cộng sản đàn áp Tòa Khâm Sứ, Giáo xứ Thái Hà, Đồng Chiêm, Cồn Dầu không chỉ là chuyện của Tổng giáo phận Hà Nội, nhưng cũng là chuyện của Tổng giáo phận Huế, Tổng giáo phận Sàigòn.

Khi cái bẫy được đặt ở trong nhà thì vấn đề không phải là của riêng ai, mà là của tất cả mọi người cùng chung sống dưới mái nhà đó. Cho nên, chỉ có một cách, và là cách duy nhất...

Đồng Lòng và Đồng Loạt Phản Ứng
Hợp quần gây sức mạnh. Đoàn kết là sống, chia rẽ là chết.
Khôn ngoan biết sống để thủ lợi cho riêng mình là... tự diệt, chỉ kéo dài thời gian chờ bị thọc tiết thôi!



Posted: Thu Dec 15, 2011 6:36 am
by TranAnhDung
Image

Thà Thắp Lên Một Ngọn Nến...

Chu Thập
Tháng 12 mỗi năm, tôi có nhiều Lễ Giáng Sinh để mừng.

Trước hết, dĩ nhiên, phải nói đến Lễ Giáng Sinh trong các siêu thị. Chỗ nào cũng thấy có Ông già Noel và Cây thông Giáng Sinh. Chỗ nào cũng thấy bán hạ giá. Dù chỉ vào các siêu thị để nghe nhạc Giáng Sinh, hòa mình với đám đông đi mua sắm hay chuẩn bị quà cáp cho nhau, tôi cũng thấy đủ vui rồi. Đây là Lễ Giáng Sinh mà bất luận thuộc văn hóa, ngôn ngữ, phái tính và nhứt là tôn giáo nào, ai cũng đều tham gia mừng cả. Rõ ràng là ông Già Noel hay Santa Claus không có kỳ thị. Tôi tin rằng dù cho Chúa Kitô không còn “giáng sinh” nữa, và ngay cả dù ngày nay người ta thường hay “làm lơ” ý nghĩa đích thực của Giáng sinh thì Lễ Giáng Sinh vẫn cứ còn đó!

Lễ Giáng Sinh thứ hai mà năm nào tôi cũng mừng là buổi tiệc trong khu xóm của tôi. Tôi không biết có bao nhiêu người theo Kitô giáo, nhưng năm nào mọi cư dân trong cái xóm nhỏ của tôi cũng đều gặp nhau trong một bữa tiệc đơn sơ mà thực đơn gồm các món do mỗi người tự đóng góp. Mục đích chính không phải là ăn uống, mà là để ít nhứt mỗi năm một lần, mọi người trong xóm “nhận diện” nhau và cố gắng nhớ tên nhau để khỏi lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia. Chính nhờ mấy cái lễ Giáng Sinh này mà tôi đã thuộc được tên của hầu hết mọi cư dân trong khu xóm. Ra ngõ, được ai đó gọi đúng tên và nhứt là chính mình gọi được tên của ai đó cũng đã là một món quà Giáng Sinh lớn đối với tôi.

Kế đó, không thể thiếu sót được là Lễ Giáng Sinh trong gia đình tôi. Trong năm, thỉnh thoảng cũng có những cuộc gặp gỡ trong hàng quán hay trao đổi với nhau trên điện thoại. Nhưng “hơi ấm” của tình gia đình chỉ thực sự có trong Ngày Giáng Sinh mà thôi. Lễ Giáng Sinh thiết yếu vẫn là lễ của Gia đình.

Nhưng với riêng tôi là một tín hữu Kitô, thì lễ Giáng Sinh quan trọng nhứt vẫn là Lễ “Christmas”, tức “Lễ của Chúa Kitô” được cử hành như một nghi thức tôn giáo. Không có lễ tôn giáo thì mọi thứ “lễ lạc” khác đều vô nghĩa. Chính vì tầm quan trọng của Ngày Lễ này mà hằng năm Giáo hội của tôi dành gần cả tháng trời để chuẩn bị. Thời gian chuẩn bị ấy thường được gọi là “Mùa Vọng”. Vọng là hy vọng, là chờ đợi. “Mùa Vọng” là nói theo tiếng Việt. Còn trong các ngôn ngữ Tây phương bắt nguồn từ tiếng Latin thì mùa chuẩn bị Lễ Giáng Sinh được gọi là “Mùa Đến” (Adventus, Advent hay Avent). Kết hợp ngôn ngữ Tây phương với tiếng Việt, tôi hiểu được rằng thời gian chuẩn bị mừng Lễ Giáng Sinh là Mùa chuẩn bị tinh thần để đón rước Chúa Kitô là “Đấng Đang Đến”. Đây là điểm giáo lý nòng cốt mà năm nào trong các thánh lễ Mùa Vọng, các linh mục cũng nhắc nhở để qua đó mời gọi các tín hữu chúng tôi luôn trong tư thế sẵn sàng để nhận biết và đón tiếp Ngài là Đấng đang đến trong mọi biến cố, hoàn cảnh, con người và từng phút giây của cuộc sống. Luôn tỉnh thức như thế quả là một thách đố quá lớn đối với tôi. Cứ ngẫm nghĩ và “xét mình”, quả thực tôi thấy không biết bao nhiêu lần Ngài đã “đi qua” mà tôi không nhận ra hay cố tình không muốn nhận biết hoặc ngay cả khước từ Ngài.

Tôi nhận ra thái độ của mình trong nhân vật Đại phán quan trong quyển tiểu thuyết có tựa đề “Anh em nhà Karamazov” của văn hào Nga Fyodor Dostoyeski vào thế kỷ 19. Bối cảnh của câu chuyện là những vụ xử án của Tòa Điều Tra vào thời Trung cổ tại Âu Châu. Tác giả cho Chúa Kitô “đến” tại thành phố Sevilla, Tây ban nha, chỉ một ngày sau khi có 100 người bị kết án là “lạc giáo” và bị đưa lên giàn hỏa thiêu. Tác giả viết: “Mặt trời yêu thương bùng cháy trong trái tim Ngài” khi Ngài đi qua giữa dân chúng với một nụ cười cảm thông vô biên. Tất cả mọi người đều nhận ra Ngài; họ khóc lóc và hôn từng bước chân Ngài đi qua. “Trẻ em rải hoa trên lối đi của Ngài; chúng ca hát và hô lớn “Hosanna”.

Chúa Giêsu đi ngang qua một nhà thờ chính tòa khi người ta khiêng vào đó quan tài của một thiếu nữ 17 tuổi. Người mẹ của cô gái đến sụp lạy dưới chân Ngài và van nài: “Nếu Ngài là Chúa Giêsu, xin hãy làm cho con tôi được sống lại”. Ngài đưa mắt nhìn vào thi hài bất động với tất cả sự cảm thương và thốt lên: “Hãy trỗi dậy”. Lập tức cô gái ngồi dậy, bước ra khỏi quan tài, trên tay cầm một bó hoa hồng trắng.

Chính ngay lúc đó, vị đại phán quan là một vị hồng y già 90 tuổi cũng đi ngang qua nhà thờ chính tòa. Do tận mắt chứng kiến cảnh người chết sống lại cho nên ông ra lệnh bắt giữ Chúa Giêsu. Đêm hôm đó, ông vào nhà tù để gặp gỡ Tù Nhân. Vị đại phán quan nhìn rất lâu vào mặt Chúa Giêsu, rồi lên tiếng hỏi: “Có phải Ngài không?” Nhưng Người Tù chưa kịp trả lời thì ông lại nói: “Thôi, đừng nói gì cả. Dù thế nào thì ta cũng biết Ngài muốn nói gì rồi. Và Ngài không có quyền thêm bất cứ điều gì vào những gì Ngài đã nói lúc sinh thời. Tại sao Ngài trở lại để xen vào chuyện của chúng tôi?”

Vị hồng y đại phán quan đã độc thoại rất lâu trước mặt Chúa Giêsu và đe dọa sẽ đưa Ngài lên giàn hỏa thiêu bởi vì Ngài là “kẻ lạc giáo độc hại nhứt trong những kẻ lạc giáo”. Nhưng vị hồng y già không cảm thấy thoải mái lắm bởi vì “Người Tù” lúc nào cũng nhìn thẳng vào mắt ông, chăm chỉ lắng nghe mà cũng chẳng muốn nói một lời nào. Ông muốn cho Tù nhân nói một lời nào đó, dù là một lời cay đắng hay khủng khiếp. Nhưng Tù Nhân bỗng tiến gần đến Cụ Già và không nói không rằng, đặt một cái hôn lên đôi môi vô cảm của ông. Ông rùng mình. Một cái gì đó làm cho khóe miệng ông co giựt. Ông lùi lại phía trước, mở cửa ngục và nói với Chúa Giêsu: “Xin Ngài hãy đi và đừng trở lại nữa... Đừng bao giờ, đừng bao giờ trở lại nữa. ” (Geoffrey Plant, Tell Me a Story, Harper Collins religious, Australia 2000, trg 45-46)

“Đừng bao giờ, đừng bao giờ trở lại nữa”: có lẽ đây cũng là câu nói tàn nhẫn mà biết bao nhiêu lần, vì không tỉnh thức hay vì ác ý, tôi cũng đã vô tình thốt lên với “Đấng Đang Đến” dưới hình dáng của vô số những người mà tôi gặp gỡ mỗi ngày, nhứt là những người cần được tôi giúp đỡ và cảm thông.

Tôi vẫn thường gẫm suy về câu chuyện được chuyên gia tâm lý Scott Peck ghi lại trong cuốn sách nổi tiếng có tựa đề “Con Đường Ít Được Đi” (The road less travelled, do nhà xuất bản Random House phát hành năm 1978). Theo câu chuyện, tại một vùng hẻo lánh nọ, có một tu viện rất nổi tiếng. Cuộc sống thánh thiện của các tu sĩ đã thu hút được rất nhiều người. Không bao lâu, tu viện biến thành một trung tâm hành hương. Nhưng không rõ vì một nguyên nhân nào đó, số người tìm đến tu viện ngày càng thưa thớt. Vị tu viện trưởng mới tìm đến một giáo trưởng Do thái thông thái để vấn kiến. Sau khi lắng nghe câu chuyện, giáo trưởng Do thái mới nói với bề trên tu viện rằng “một tu sĩ trong cộng đồng của ngài là Đấng Cứu Thế”. Vị tu viện trưởng liền tức tốc trở về tu viện và tập trung các tu sĩ lại để loan báo cái tin khủng khiếp đó. Kể từ hôm đó, mọi tu sĩ đều bắt đầu nhìn và đối xử với người bên cạnh mình như Đấng Cứu Thế. Cuộc sống trong tu viện thay đổi hẳn và dĩ nhiên cũng được lan truyền ra bên ngoài. Khách hành hương bắt đầu trở lại tu viện.

Nhìn thấy, tôn trọng và yêu thương mỗi một tha nhân như “Đấng Cứu Thế”: đây chính là “chìa khóa” của Mẹ Têrêxa Calcutta đã và đang dùng để xoa dịu được phần nào nỗi khổ đau của vô số người dân nghèo khổ tại Ấn độ và trên khắp thế giới. Người nữ tu này không phải là một nhân viên xã hội lại càng không phải là một chính trị gia, một nhà kinh tế học hay một chuyên gia thảo kế hoạch. Một số người trách cứ Mẹ Têrêxa chỉ giải quyết vấn đề trong đoản kỳ, mà không tìm cách chữa trị căn bệnh tự trong gốc rễ. Chúng ta thường nghĩ rằng những thách đố “toàn cầu” chỉ có thể giải quyết được bởi những nhà lãnh đạo có viễn kiến, những tài nguyên vô giới hạn và những cuộc họp thượng đỉnh. Thật ra, mỗi người trong chúng ta, ai cũng có thể đóng góp để làm cho thế giới này trở thành một nơi tốt đẹp và đáng sống hơn. Chúng ta không cần phải đóng góp bằng những chương trình vĩ đại hay tham gia một phong trào vĩ đại, mà bằng những hành động nhỏ mỗi ngày và những quyết định qua đó, cùng với hành động của triệu triệu người khác trên thế giới, có thể thay đổi bộ mặt thế giới. Đây chính là niềm xác tín của Mẹ Terexa Calcutta, một niềm xác tín được xây dựng trên niềm tin là: bất cứ nghĩa cử nào, dù nhỏ bé đến đâu, được làm cho tha nhân cũng chính là làm cho Đấng Cứu Thế.

Tôi đặc biệt nghĩ đến người nữ tu được trao tặng Giải Nobel Hòa bình năm 1979 này mỗi lần nhìn thấy những gói quà Giáng Sinh được mang đến nhà thờ trong các ngày chúa nhựt Mùa Vọng. Năm nay, giáo xứ nơi tôi thường đi lễ sẽ gởi những món quà Giáng Sinh này đến những gia đình nghèo tại Mount Druit, miền Tây Sydney. Nhìn những gói quà với đủ mọi nhu yếu phẩm kèm theo được gói ghém cẩn thận, tôi đoán được rằng những người trao tặng muốn đặt vào đó tất cả tình thương của mình dành cho những người kém may mắn. Tôi chợt nhớ đến câu nói rất quen thuộc của Mẹ Têrêxa Calcutta: “Hãy làm một cái gì đẹp cho Thiên Chúa”. Đây là câu nói đã được ký giả người Anh Malcolm Muggeridge mượn làm tựa đề cho một cuốn sách để giới thiệu cho thế giới về Mẹ Têrêxa và công cuộc từ thiện của các nữ tu Dòng Thừa Sai Bác Ái do Mẹ thành lập. Hiện nay các nữ tu của Mẹ đang có mặt tại 123 nước trên thế giới. Họ ưu tiên phục vụ cho những người cùng khổ và những thành phần bị đẩy ra bên lề xã hội như các bệnh nhân phong cùi, những người mắc bệnh Aids.

“Triết lý” và chủ trương của Mẹ Têrêxa vẫn tiếp tục bị chỉ trích. Luận điệu quen thuộc vẫn là: Mẹ chỉ giúp cho người nghèo được sống cầm hơi chứ không nhỗ tận gốc rễ căn nguyên của sự nghèo đói. Chủ trương của Karl Marx và chủ nghĩa cộng sản thì hoàn toàn ngược lại: Họ chủ trương giải quyết tận căn nguyên. “Rằng hay thì thật là hay”. Nhưng rõ ràng cái thiên đường cộng sản chỉ là một thứ không tưởng mỵ dân bằng những chiếc bánh vẽ. Biết bao lần trong lịch sử đã chứng minh rằng con đường dẫn xuống hỏa ngục thường được lát toàn bằng những “thiện ý”! Ngày nay, chủ nghĩa cộng sản đã bị quăng vào hố rác của lịch sử, nhưng những ý tưởng, chương trình và kế hoạch “vĩ đại” vẫn còn đó và những mục tiêu lớn được đề ra vẫn mãi mãi là những “chữ chết” trong các tuyên ngôn quốc tế. Một hành động nhỏ luôn vĩ đại hơn một lý thuyết hay ho.

Trong các thánh lễ Mùa Vọng bằng Anh ngữ, tôi thấy ở mỗi đầu thánh lễ, vị linh mục chủ tế có thắp lên một ngọn nến được đặt trên một vòng hoa. Tôi không rõ nguồn gốc của vòng hoa và việc đốt nến này. Đây có lẽ chỉ là truyền thống riêng của các dân tộc “Anglo Saxon”. Mùa Vọng ở các nước Tây phương thường cũng đã là Mùa Đông. Giữa mùa Đông lạnh lẽo, một ánh nến được đốt lên như để hâm nóng niềm hy vọng của con người. Giữa mùa giá rét, hoa của hy vọng vẫn có thể nở rộ.

Riêng với tôi, ý tưởng thường xuất hiện trong đầu tôi mỗi khi tham dự vào nghi thức đốt nến ở đầu thánh lễ vẫn là câu nói mà ông Peter Benenson, một luật sư người Anh sáng lập Tổ chức Ân Xá Quốc Tế đã nói tại một buổi lễ cử hành Ngày Quốc Tế Nhân Quyền 10 tháng 12 năm 1961: “Thà đốt lên một ngọn nến hơn là ngồi đó mà nguyền rủa bóng tối. ” (better to light one candle than to curse the darkness)

Mỗi khi gặp gỡ một ánh mắt nhìn thân thiện, tôi luôn cảm thấy như được sưởi ấm. Và tôi tin rằng ai cũng có cùng một cảm nhận tương tự từ những cử chỉ thân ái nhỏ nhặt từ người khác. Thực tình mà nói, ngọn nến không khó để thắp lên, vấn đề là tôi có đủ can đảm bỏ bớt thì giờ dành riêng cho mình để bước ra hòa mình và chia sẻ với người khác hay không.

Một Lễ Giáng Sinh trọn vẹn không thể không có thật nhiều những ngọn nến yêu thương như thế.

Posted: Fri Dec 16, 2011 5:16 am
by vuphong
Phải chi ngày ấy
Tạp Ghi Huy Phương
Chưa lúc nào ở trong nước lại rộ lên phong trào truy tầm, cải táng những nấm mộ tập thể của Quân Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa đã vị vùi dập trong những ngày đầu khi miền Nam bị thất thủ như hiện nay, tất cả đều do thân nhân nóng lòng đi tìm hoặc dân chúng vì lòng trắc ẩn hướng dẫn. Tháng 5, 1994 tại Bình Dương, một ngôi mộ tập thể chôn 37 người đã được bà quả phụ Nguyễn Viết Thông vì theo dấu vết chồng mà tìm ra, cuối cùng chỉ tìm được 17 người nhờ số thẻ bài, căn cước nhựa còn lại. Tháng 12, 2010 dân làng An Dương, huyện Phú Vang, Thừa Thiên đã cải táng và xây lăng mộ cho 128 tử sĩ VNCH gồm TQLC và quân nhân các binh chủng khác cũng như dân chúng chết trên bãi biển Thuận An vào những ngày cuối tháng 3, 1975. Tại bãi biển Tư Hiền, dân chúng cũng đã chôn cất nhiều anh em binh sĩ TQLC, nhưng hiện nay rất khó tìm ra dấu vết đã trên 35 năm.

Nhân nghe nguồn tin này anh Dương Công-An, nguyên là một hạ sĩ quan thuộc tiểu đoàn 223 Pháo Binh, hiện sống tại Ðức Quốc, đã cho biết tại Quân Y Viện Qui Nhơn, có một hầm chôn tập thể của 47 thi hài tử sĩ vào cuối tháng 3, 1975, trong số này có Ðại Tá Nguyễn Hữu Thông, trung đoàn trưởng Trung Ðoàn 42, SÐ 22BB. Dù nóng lòng biết có thân nhân trong hầm chôn, nhưng không ai có khả năng gõ cửa chính quyền để xin khai quật nấm mộ này.

Tại Chu Lai, Quảng Nam trong khi người ta dùng xe ủi đất để xây cảng Kỳ Hà, người lái máy cày đã gom được một số xương và vật dụng của các binh sĩ thuộc Trung Ðoàn 4, SÐ2BB. Tại chùa Dương Lâm, xã Tam Dân, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam, người ta cũng tìm ra trên 100 hài cốt của các chiến sĩ trong đó chỉ tìm được 6 người còn có thẻ bài vì dân chúng cho biết khi vùi lấp các chiến sĩ này, Việt Cộng đã giựt hết thẻ bài, một số thẻ bài còn lại nhờ các binh sĩ đã giấu trong giầy trận của họ.

Nghĩa trang của các quân nhân Sư Ðoàn 18BB tại An Lộc bị san bằng, trồng cây cao su lên xác lính, bia lấy về lót chuồng nuôi heo, dân chúng dò tìm theo mương suối đào tìm được 25 tấm bia đem về chùa hương khói. Cũng tại An Lộc, nghĩa trang của các quân nhân Liên Ðoàn 81 Biệt Kích Dù đã bị san bằng, hiện nay không biết xương cốt của các binh sĩ này ở đâu.

Tại xã Sơn Quang, quận Sơn Tịnh, Quảng Ngãi, con gái của một nạn nhân trước đây là đảng viên Quốc Dân Ðảng, tiết lộ với chương trình Huynh Ðệ Chi Binh của chúng tôi, là cha cô bị cộng sản chôn sống vào tháng 4, 1975. Dò theo đường đi của cha, cô được đồng bào địa phương cho biết nấm mộ tập thể này chôn 30 người nhưng không dám lên tiếng vì sợ hãi, đồng thời cũng lo ngại khu mộ này sẽ bị sóng cuốn mất vì ở sát biển.

Nguồn tin từ gia đình 81 Biệt Kích Dù, hai toán hoạt động ở Long Thành, tháng 5, 1975, sau khi ra hàng đã bị bắn và vứt xác xuống giếng cạn, người dân có đánh dấu nhưng không dám tiết lộ cho ai.

Trong nhiều trại “cải tạo” từ Nam ra Bắc, nhiều người miền Nam chết vì bệnh tật hay bị xử bắn đã bị chôn cất sơ sài, xiêu lạc mồ mả hiện nay không còn dấu vết. Nhiều gia đình đã nhờ các “nhà ngoại cảm” trong nước giúp đi tìm mộ, nhưng người chết cũng còn bị phân biệt đối xử nên nhiều nhà ngoại cảm từ chối không giúp thân nhân tìm hài cốt lính “ngụy.” Không khuyến khích việc truy tầm những nấm mộ “oán thù” trong những ngày cuối của cuộc chiến, chính quyền cộng sản còn làm khó khăn cho thân nhân người chết và dân chúng địa phương khi muốn tiến hành các nghi thức cầu siêu hay tế lễ, hình như chúng sợ đám đông, sợ sự liên tưởng, sợ sự hoài niệm đến một hình ảnh người lính miền Nam đã khuất. An Dương là một bài học như thế! Khi người quả phụ cùng con, đem hương hoa, lễ vật cúng cho người chồng chết từ ba mươi lăm năm về trước, trong trận chiến rút lui cuối cùng, đã bị công an mời vào đồn làm việc, sau đó bị đuổi về không cho vào thăm phần mộ!

36 năm sau, tiến súng đã ngưng, nhưng “hòa hợp, hòa giải” chỉ là lời nói đầu môi chót lưỡi, ngay cả với ngân khoản của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ dành cho việc kiếm người mất tích, Hà Nội không chấp nhận tìm kiếm quân nhân Việt Nam Cộng Hòa, với lý do “đã nhân đạo thì không có điều kiện.” Thượng Nghị Sĩ Jim Webb, chủ tịch Tiểu Ban Ðông Á-Thái Bình Dương tuyên bố Mỹ sẽ ngưng tiền viện trợ tìm kiếm quân nhân mất tích tại Việt Nam “cho đến khi chúng ta được bảo đảm chắc chắn rằng chương trình viện trợ áp dụng đồng đều cho tất cả những ai chiến đấu ở tất cả các bên.”

Chính ông Võ Văn Kiệt, cựu thủ tướng CSVN, trong một cuộc phỏng vấn của đài BBC hồi 30 tháng 4, 2007, cho hay Việt Nam nay đã bắt tay với tất cả các kẻ thù trong quá khứ, Pháp trước đây, Mỹ sau này, và mới đây Trung Cộng đã tàn phá ba tỉnh biên giới, nhưng đối với người lính miền Nam, hận thù không thể quên.

Hôm nay, những dòng nước mắt chưa ngừng chảy vì những oan khuất chưa được giãi bày, những linh hồn chưa được siêu thoát. 36 năm là một thời gian quá dài, trên mặt đất, địa hình không còn để lại dấu vết, bia mộ xiêu lạc, dưới mộ sâu xương đã tàn cốt đã mục. Nếu có, thân nhân may mắn chỉ tìm ra nắm xương tàn hay chút di vật nhỏ nhoi.

Ðã có những bà mẹ, những người vợ sau chiến tranh, tuyệt vọng vì không tìm được tin tức thân nhân của mình, chết sống ra sao, hài cốt xiêu lạc nơi nào. Cộng Sản Hà Nội vẫn căm thù dai dẳng, đối xử tàn tệ cả với người đã chết, từ nghĩa trang quân đội hoang tàn, đổ nát đến hàng nghìn địa điểm chôn người chưa được khai quật. Cuối cùng tất cả đều tan nát với cỏ cây, xóa nhòa theo thời gian, như nỗi buồn của những bà mẹ già đã đem theo nỗi trông ngóng xuống mộ sâu, chờ nắm xương xiêu lạc của đứa con chưa trở về.

Phải chi ngày ấy, sau khi chiến thắng, miền Bắc đã có chính sách kêu gọi dân chúng, cán bộ trong nước, ai biết tin tức gì về những nấm mộ tập thể của những người lính miền Nam, dù là kẻ thù trước đây, hãy khai báo, để giúp đào xới, kiểm kê, nhận dạng cho thân nhân cải táng, đem về quê quán cho đúng với truyền thống đạo lý của Ðông phương “nghĩa tử là nghĩa tận,” “không có ai thắng ai thua.”

Nhưng không!

Ðược như thế thì họ đã là con người, còn nói làm gì nữa!

Posted: Sat Dec 17, 2011 7:00 am
by caubennoc
Image
1. Chiếc Gương và Cửa Sổ
Có một phú ông tên Hạo Tường luôn cảm thấy trong cuộc sống của mình thiếu thốn một cái gì đó, nên ông quyết định lên đường tìm Thiền sư để tham hỏi.


Khi gặp Thiền sư: “Thưa ngài! Tôi có rất nhiều tiền, muốn thứ gì thì có thứ đó nhưng lại không cảm thấy vui và hạnh phúc được”. Vị thiền sư mời ông ta đứng trước một cửa sổ được làm bằng kính và hỏi ông thấy được những gì qua ô cửa kính đó. “Dạ, con thấy những đoàn người tất bật, hối hả qua lại trên những con đường, có khi bằng phẳng, có khi gập gềnh, khúc khủyu nữa”


Thiền sư chẳng nói gì và mời ông ta đứng trước một chiếc gương soi, hỏi ông thấy gì qua chiếc gương đó. “Con thấy chính mình…”


Thiền sư ôn tồn nói: “Chiếc gương được làm bằng kính, cửa sổ cũng được làm bằng kính, nhưng cửa sổ thì trong suốt nên có thể thấy được bên ngoài, có thể nhìn được người, cảnh vật xung quanh ta nhưng chiếc gương thì phủ một lớp sơn phía sau hoặc một tấm gỗ nên chỉ có thể nhìn được mình mà thôi, khi trong con người mình có thể gỡ bỏ đi lớp sơn hay tấm gỗ kia thì lúc đó con sẽ nhìn thấy người khác, lúc con nhìn thấy người khác con sẽ cảm thấy hạnh phúc với những gì đang có”.


Lời bạt: Bạn có là người hạnh phúc không? hay là người luôn bận rộn với cuộc sống hiện đại này? Hoặc ta cảm nhận cuộc sống mình mỗi ngày một vui hơn? Mỗi ngày chúng ta chạy danh cầu lợi. Ở đâu đó, chúng ta đã có một góc của sự bình yên và hạnh phúc nhưng chưa bao giờ thay đổi góc độ nhìn để dung nạp, tha thứ cho người khác. Chỉ khi nào ta hiểu được hai chữ "dừng bước". Ta đứng lại để tiếp nhận người khác đang tồn tại, họ hiện hữu trong sự tương quan của ta, ta dừng lại để nhìn, để hiểu và để thương. Khi thương được mọi người ta sẽ thương chính mình.

Posted: Mon Dec 19, 2011 2:08 am
by nguyenvsau
Lễ Giáng Sinh là Một Sự Xúc Phạm?
Cọng Rơm
Trước lễ Giáng sinh mấy năm trước, một người bạn khoe với tôi rằng con của chị đang học lớp Vườn Trẻ trường công được một Giáo Xứ Công Giáo tại Beaverton, Oregon cho quà. Nhưng rồi chị thắc mắc về cách họ gói quà với mẫu giấy nho nhỏ kèm theo: “Please buy only non-Christian items, and wrap the gift in the non-Christmas paper, for non-Christian receivers may get offended. We need to respect their religions.” (Tạm dịch là, “Xin đừng mua những món đồ mang tính cách Kitô Giáo, và đừng gói quà bằng giấy của mùa Giáng Sinh, vì người nhận không phải Kitô hữu có thể cảm thấy xúc phạm. Chúng ta cần phải tôn trọng tôn giáo của họ.”)


Tôi nhìn mảnh giấy mà ngỡ ngàng! Offended! Xúc phạm! Tại sao lại bị xúc phạm? Ngày lễ của Thiên Chúa mình, mình hân hoan chào đón những người mình quý mến, mình mang niềm vui đó trao đến họ qua sự tặng quà. Mình mang niềm vui về Thiên Chúa của mình đến chia xẻ với người khác tại sao lại xúc phạm đến họ được. Tỏ ra ta một Kitô hữu là một sự xúc phạm đến người khác ư? Tỏ ra ta là một Kitô hữu là không tôn trọng tôn giáo bạn ư? Tôi cảm thấy có cái gì không ổn trong sư suy nghĩ này.

Một hôm, trong khi chờ đón con tôi tại hồ bơi, tôi nghe một thầy giáo dạy bơi nói với học trò mình, “Merry Christmas!” Ngay lập tức, một cô giáo đang đứng dưới hồ la vọng lên, chỉnh lại, “Happy holiday!” Câu phản đối của cô giáo ấy theo tôi suốt quãng đường đi trên chuyến bay về ngoại. Từ phi trường Portland, Oregon bay về Atlanta, Georgia, tôi chỉ nghe những âm thanh thật lạt lẽo, vô vị. Không có cảnh trang hoàng cho ngày đại lễ. Không có nhạc mừng Chúa ra đời. Không có không khí tưng bừng, nao nức đón mừng ngày vui nhất trong năm. Cho đến khi về đến phi trường Huntsville, Alabama, tôi bắt đầu thấy lòng mình ấm lên niềm vui với cảnh trang hoàng Noel và các bài hát của mùa Giáng Sinh. “… It’s the most wonderful time of the year! It’s the hap, happiest time of the year!…” Và “Have a holly, jolly Christmas. It’s the best time of the year… ” Đi ngang qua hai em nhỏ mặc áo mang hiệu trường Công Giáo, tôi buộc miệng, “Merry Christmas!” Bà mẹ của hai em chạy đến tôi mừng rỡ, “Thanks goodness! Merry Christmas to you too!” Ngày nay, người ta chống Thiên Chúa đến mức độ trầm trọng. Người ta gạt bỏ đi những gì có liên quan đến Thiên Chúa. Nhưng chẳng lẽ chúng ta lại dễ dàng bị cuốn theo trào lưu đó sao? Niềm tin và sự tự hào làm con cái Thiên Chúa phải vượt thắng tất cả chứ.

Nhân ngày lễ Tạ Ơn, cô giáo lớp Mẫu Giáo khuyến khích các em nói lên những lời cám ơn. Phần nhiều các em nói, “Em cám ơn ba mẹ em cho em gameboy,” hoặc “Em cám ơn con chó nhà em,” hay là “Em cám ơn con mèo nhà em,” vv … Riêng cu Quang nhà tôi nói “Em cám ơn Thiên Chúa của em.” Và cháu đã bị chúng bạn cười ồ! Cu Quang đi học về buồn lắm. Hỏi mãi cháu mới kể hết sự việc. Tôi tâm tình, “Ô sao con lại buồn vì con đã nói đúng? Con nên biết cám ơn Chúa là con đã biết Chúa, còn những người khác thì chưa được ơn đó. Ơn được biết Chúa là vô giá. Không có Chúa thì chẳng có gameboy, con chó, hay con mèo gì cả con à! Ba mẹ rất mừng khi thấy con hãnh diện tuyên xưng Chúa cho bạn con.” Đức tin của người Công Giáo không được đến từ một sớm một chiều. Đức tin phải được truyền đi trước nhất cho tâm hồn trẻ thơ hồn nhiên trong trắng. Bao nhiêu anh hùng đã đổ mồ hôi và xương máu để chứng minh niềm tin ấy. Và Ơn Chúa đổ tràn cho những ai tin tưởng vào Người.

Trẻ con rất vui khi nhận được quà. Có thể có nhiều em chỉ biết mở nhìn bên trong gói quà. Nhưng chắc chắn sẽ có vài em thắc mắc vì sao mùa Giáng Sinh mà không được nhận quà mang ý nghĩa Giáng Sinh? Vì sao ngày lễ Halloween thì được nhận kẹo bánh và đồ chơi với hình ma quái dị hợm? Vì sao ngày lễ Valentine thì được trao và nhận kẹo bánh với lời yêu thương bạn bè hay những người mình thấy chung quanh mà thôi? Những thắc mắc đó ai là người có trách nhiệm giải đáp một cách khôn ngoan ngoài cha mẹ các em ra? Nếu mang danh là một Giáo Xứ Công Giáo mà không dám mang tin mừng đến cho những trẻ em ngoại giáo, vì sợ họ cảm thấy xúc phạm, thì thật là một điều đáng buồn! Khi các tôn giáo khác mừng ngày lễ Phật Đản hoặc lễ Hanukah (lễ Đèn của người Do Thái), tôi cảm thấy vui với họ. Niềm vui của họ dĩ nhiên không làm cho tôi tự ái tổn thương. Tôi vui với niềm tự hào hãnh diện của họ. Cũng vậy, tôi tự hào chứng tỏ tôi là con của Thiên Chúa tôi như những người đạo giáo khác làm.

Ông Ben Stein, một tài tử khôi hài, và là một luật sư thông minh danh tiếng, người đã từng làm việc với tổng thống Richard Nixon và Gerald Ford, đã lên tiếng với đài CBS Sunday ngày 18 tháng 12 năm 2005:

“Tôi là người Do Thái, và mỗi một người trong tổ tiên tôi là Do Thái. Không có gì đụng chạm đến tôi cả khi người ta gọi những cây trang hoàng ánh đèn đẹp mắt là cây Giáng Sinh (Christmas tree). Tôi không cảm thấy bị đe dọa. Tôi không cảm thấy bị biệt đãi. Không có gì đụng chạm đến tôi cả khi người ta chúc tôi “Mừng Giáng Sinh”. Tôi không nghĩ người ta đang khinh thường tôi, hoặc sắp sửa đưa tôi vào ố chuột dành cho người Do Thái. Thật ra, tôi thích như vậy. Điều đó chứng tỏ rằng chúng ta là anh chị em đang mừng đón thời gian vui vẻ nhất trong năm. Không có gì đụng chạm đến tôi cả khi thấy một máng cỏ trưng bày ngay trên đường giao thông chính gần khu nhà tôi tại Malibu. Nếu người ta muốn một hang đá, thì đối với tôi chuyện đó giống như cây đèn chín ngọn của Do Thái giáo cách đó vài trăm dặm.

Tôi không thích bị lấn áp vì làm người Do Thái, và tôi cũng không nghĩ Kitô hữu thích bị lấn áp vì làm Kitô hữu. Tôi nghĩ những người tin vào Thiên Chúa chán ghét bị xô đẩy, chấm hết. Tôi không hiểu từ đâu ra cái khái niệm cho rằng nước Mỹ là một quốc gia dứt khoát vô thần. Tôi không tìm được điều đó trong Hiến Chương và tôi không thích bị dồn nhét khái niệm đó vào cuống họng tôi.”

Khi con gái ông Billy Grahm, một mục sư trứ danh người Tin Lành, được hỏi “Tại sao Thiên Chúa lại để những thiên tai xảy ra? “ (nói về trận bão Katrina ngày 29 tháng 8 năm 2005), bà Anne Graham Lotz trả lời:

“Tôi tin rằng Thiên Chúa rất buồn vì sự việc này, giống như chúng ta vậy. Nhưng bao nhiêu năm nay, chúng ta xua đuổi Chúa ra khỏi trường học, xua đuổi Chúa ra khỏi chính phủ, và xua đuổi Chúa ra khỏi cuộc đời của chúng ta. Là một Đấng quân tử, Ngài từ tốn rút lui. Làm sao chúng ta đòi hỏi Thiên Chúa ban phép lành và bảo vệ của Ngài trong khi chúng ta đòi hỏi Ngài để mặc kệ chúng ta?

Trong những sự việc xảy ra gần đây … khủng bố hành hung, bắn giết ở trường học, v.v… Tôi nghĩ rằng mọi việc bắt đẩu khi Madeleine Murray O’Hare (cô ta bị ám sát, thi thể mới được tìm ra) than phiền rằng cô ta không muốn cầu nguyện trong trường học, chúng ta đồng ý. Rồi có người nói chúng ta không được đọc Kinh Thánh trong trường học, Kinh Thánh khuyên không được giết người, không được trộm cắp, và thương yêu đồng loại, và chúng ta đồng ý.

Rồi khi Tiến Sĩ Benjamin Spock nói chúng ta không được đánh phạt con cái khi chúng làm sai, vì như vậy sẽ ung nhọt cá tính con trẻ và tổn thương lòng tự trọng của chúng (con trai của Tiến Sĩ Spock đã chết vì tự tử). Chúng ta bảo rằng người có kinh nghiệm biết mình nói gì. Và chúng ta đã đồng ý.

Bây giờ chúng ta tự hỏi tại sao con cái chúng ta không có lương tri, không phân biệt phải trái, và không cảm thấy đau buồn để giết khách lạ, bạn học, và cả chính chúng nữa.

Có thể, nếu chúng ta suy nghĩ kỹ, chúng ta sẽ nhận ra. Tôi nghĩ mọi chuyện bắt nguồn từ chỗ “CHÚNG TA GẶT NHỮNG GÌ CHÚNG TA GIEO.”

Buồn cười thay khi thật đơn giản cho nhiều người chối bỏ Chúa và tự hỏi tại sao thế giới đang đi vào địa ngục.

Buồn cười thay khi chúng ta tin vào truyền thanh và truyền tin nhưng lại đánh dấu hỏi về Kinh Thánh.

Buồn cười thay khi chúng ta gởi chuyện cười qua điện thư và những chuyệc cười đó loan nhanh như lửa rừng, nhưng lại suy đi nghĩ lại về việc loan báo những mẫu tin về Thiên Chúa.

Buồn cười thay khi những trang báo dâm dật, tàn bạo, thô bỉ, và khiêu dâm lan tràn tự do trên mạng lưới thế giới, nhưng chuyện bàn tán công khai về Thiên Chúa lại bị đè nén nơi trường học và công sở.”

Dù sao tôi cũng biết ơn Giáo Xứ đó đã cho tôi một cái nhìn lại về đức tin của tôi. Xin cảm tạ Thiên Chúa mang đến cho nước Mỹ nói riêng những ngày nghỉ lễ lớn nhất và rộn ràng nhất trong năm. Xin cảm tạ người người cùng tôi nô nức đón mừng ngày đại lễ. Trong tâm tình đó, tôi không còn khó chịu khi nghe nói “Happy Holidays” nữa, vì “Holidays” nghĩa là “Holy Days.” Xin gởi đến quý bạn xa gần lời chúc được hân hoan gói ghém trong mảnh giấy của mùa Giáng Sinh:

Happy Holy Days! Mừng Ngày Thánh Thiêng!
Merry Christmas! Chúc Mừng Giáng Sinh!


Cọng Rơm
Is Christmas an Offense?

Posted: Wed Dec 21, 2011 3:12 am
by hoanghoa
KHÔNG CHO MỘT CẮC

Hoàng Nguyên

Kính thưa qúy vị,

Trong những năm gần đây, nhiều tổ chức phi chính phủ, tổ chức từ thiện, ngay cả tổ chức chính trị, đă có nhiều hoạt động giúp đỡ nhân đạo cho đồng bào trong nước. Người thì giúp cô nhi, kẻ mổ mắt mổ miệng, có vị thì góp tiền xây nhà thương, xây trường học, cứu trợ thiên tai. Chúng tôi có một anh bạn, thật hào phóng, sẵn sàng vung tay gấp đôi người tặng số tiền quyên góp cao nhất trong đêm gây quỹ. Thưa qúy vị, nhưng riêng cá nhân chúng tôi thì một cắc tôi cũng chưa từng cho, và cũng không định sẽ cho một cắc bạc nào cả.


Thưa qúy vị, không quyên góp từ thiện, giúp đỡ đồng bào, nghe qua thật là keo kiệt, nếu không muốn nói là vô nhân đạo, vô nhân tính, nhưng chuyện vô nhân như vậy thì sao không giấu kín trong bụng mà lại mang ra công bố cùng thiên hạ? Chẳng lẽ tôi muốn bị người đời nguyền rủa ư? Dĩ nhiên là không, và tôi cũng chẳng đến nỗi vô nhân tính như vậy, vì tôi sẵn sàng giúp đỡ cho một số đồng hương, nhưng không phải là đối tượng nhân đạo bên trên.


Thưa qúy vị, nếu ông Nguyễn Minh Triết, nếu những đảng viên lănh đạo có hàng trăm triệu đô la chịu bỏ nửa gia tài của họ ra quyên góp cho đồng bào lầm than, thì cá nhân chúng tôi sẵn sàng bỏ hết cả gia tài ra góp chung với họ. Những nhà lănh đạo VN hiện nay là những người có trách nhiệm cao nhất trong việc cứu dân, nhưng trong khi dân chúng cùng khổ, thì các cậu ấm cô chiêu con cái của họ ăn chơi một đêm bằng số tiền người thường kiếm trong một năm. Từ đâu mà các nhà lănh đạo VN có hàng trăm triệu đô la đầu tư ở ngoại quốc và cho con cháu ăn chơi xả dàn như vậy? Không có một người nào, dù nhịn ăn nhịn mặc, có thể dành dụm số tiền kếch sù đó, nếu không tham nhũng.


Kính thưa qúy vị, số tiền triệu tỉ của những nhà lănh đạo tham nhũng đó đáng lẽ phải được dùng để nuôi trẻ mồ côi, để mổ mắt người mù, để xây nhà thương, để mở trường học, nhưng nó lại nằm rủng rỉnh trong trương mục ngân hàng Thụy Sĩ, hay chôn vào những bất động sản, chứng khoán ngoại quốc. Còn chúng ta, những người từ tâm, thì nai lưng ra làm thay điều mà các nhà lănh đạo CSVN phải làm. Mỗi một đồng bạc chúng ta giúp đồng bào, là một đồng bạc rớt thêm vào túi của tập đoàn lănh đạo tham nhũng.


Các nhà lănh đạo CSVN lập luận rằng nước ta còn nghèo, và kêu gọi người Việt hải ngoại góp tay giúp đồng bào trong tinh thần nhân đạo. Tôi xin hỏi lại, nước ta còn nghèo sao các ông bà Việt Cộng lại giàu như vậy?


Nhưng kính thưa qúy vị, nhiều người quan niệm rằng tinh thần nhân đạo không có biên giới, nó vượt trên chính trị, trên tất cả. Nếu CSVN không giúp đồng bào, mà ta cũng không giúp, thì ai giúp họ?


Thưa qúy vị, câu trả lời của chúng tôi là "họ phải tự giúp họ". Họ đây không phải là cô nhi, người tàn tật, mà tất cả đồng bào trong nước. Chỉ cần đồng bào có được số tiền mà các quan chức VN đă tham nhũng, thì có lẽ đủ xây cả ngàn nhà thương và trường học. Lúc ấy, không cần các bác sĩ hải ngoại về VN mổ mắt mổ miệng cho năm bảy xóm, không cần chúng ta chắt mót gởi tiền về xây một vài trường làng, mà toàn dân VN đều có nhà thương, trường học. Nhưng có ông cán bộ nào dốc túi đâu, họ đă và vẫn đang tận tình vơ vét.


Kính thưa qúy vị, chính người CS đă dạy rằng ở đâu có áp bức, thì ở đó có đấu tranh. Người ta càng cùng khổ, uất hận thì sức đấu tranh càng mănh liệt. Giúp đỡ đồng bào tức là giảm sự đau khổ của họ, đồng thời cũng làm giảm sức đấu tranh. Và rồi các bố già Bắc Bộ Phủ ngày càng giàu "nức rún", ngồi trên đầu trên cổ đồng bào mà phè phỡn, còn chúng ta thì đi cày để làm thiện nguyện thay cho họ. Chừng nào đồng bào mới hết khổ? Một vài phái đoàn bác sĩ có đủ để cho tất cả người mù VN sang mắt chăng? Chắc chắn là không.


Thưa qúy vị, anh bạn hào phóng trong việc quyên góp từ thiện cho biết là anh không hứng thú với việc góp tiền liên quan đến chính trị, song cá nhân chúng tôi thì ngược lại. Bên trên chúng tôi có nói sẵn sàng giúp đỡ một số đồng bào, và kính thưa qúy vị, chỉ có hai giới người mà chúng tôi sẵn sàng giúp đỡ, một là các nhà đấu tranh cho dân chủ VN, hai là các thương phế binh VNCH.


Các nhà đấu tranh dân chủ là những người đang cố gắng giải quyết tận gốc sự lầm than của cả dân tộc. Muốn nước Việt giàu thì tiền của phải phân chia công bằng. Không thể nào một người làm trong chính quyền thì có thể làm ra hàng trăm triệu, còn một người dân đen cày quần quật cả đời cũng không mua nổi một miếng đất cắm dùi. Ở đây tôi chưa đ̣i hỏi tự do hay dân chủ, mà tôi đ̣i hỏi một sự công bằng. Sự công bằng này người CS đă hứa hẹn, và đă thực hiện ngược lại lời hứa. Người Việt trong nước không tự đứng lên cứu mình trước, thì không ai giúp nổi họ. Tôi tôn trọng và muốn góp tay với những người có hoài băo cho dân tộc.


Các phế binh VNCH là những cựu thù của Việt Cộng, cũng là những người đă đổ xương máu cho chính nghĩa tự do. Tôi không kỳ vọng Việt Cộng đối xử nhân đạo với họ, và cảm thấy có bổn phận đối với những người đă hy sinh một phần thân thể cho tự do của chúng ta.


Ðó là về phần cá nhân chúng tôi. Còn nếu tôi tự đặt mình vào vị trí của những anh Việt Cộng, thì tôi sẽ mở và khuyến khích thật nhiều tổ chức phi chính phủ, tổ chức từ thiện, và hí hửng xem họ bỏ công bỏ của xoa dịu đồng bào, để làm giảm sức bật đấu tranh. Biết đâu chừng trong số tiền từ thiện giúp nước của khúc ruột dư ngoài ngàn dặm, tôi lại chẳng chấm mút thêm được chút đỉnh nữa.


Kính thưa qúy vị, chúng tôi kính trọng các vị bác sĩ đă về giúp đồng bào tàn tật một cách thiện nguyện, chúng tôi qúy trọng các tấm lòng nhân của bà con của chúng ta ở hải ngoại, cũng như anh bạn hào phóng được nhắc bên trên. Song một cắc tôi cũng không bỏ ra, cho tới khi nào ông Phan văn Khải, ông Võ văn Kiệt, ông Nguyễn Minh Triết, đám con cháu, dòng họ và lâu la của mấy ổng bỏ ra nửa gia tài, tôi sẽ bỏ hết gia tài ra cứu khổ. Tôi tính vậy cũng hơi khôn, vì nửa gia tài của một vị lănh đạo Việt Cộng chắc cũng vài ngàn lần lớn hơn gia tài khiêm nhường của tôi.

Posted: Tue Dec 27, 2011 4:32 am
by tramthaiha
Khóc Như Mưa

Tác giả : Bùi Tín

Ông Kim Jong Il chết trên chuyến xe lửa đặc biệt vì cơn đau tim. Cậu con thứ ba Kim Jong Un mới 27 tuổi lên nối ngôi. Theo tiếng Việt, ông «Ủn” nối ngôi ông «Ỉn». Quả thật, hai cha con đều nặng cân, ủn ỉn …

Đây là kiểu cha truyền con nối 3 đời liền trong một triều đình phong kiến cộng sản. Ông, cha và con đều là chủ tịch nước, chủ tịch đảng CS, tổng tư lệnh quân đội.

Đài truyền hình Bình Nhưỡng liên tiếp truyền cảnh người Triều Tiên, già trẻ lớn bé khóc còn hơn cha chết. Người ta khóc thảm thiết, gào thét, gục xuống đất, nức nở, mồm méo xệch, cứ như đua nhau xem ai khóc to nhất, đau đớn nhất, chân thật nhất.

Trên thế giới nhiều báo chí nhận xét, bình luận, hỏi vì sao người Bắc Triều Tiên khóc tập thể thảm thiết đến thế, có thật tự đáy lòng không? Sao lại như một cơn lên đồng lớn, một căn bệnh tâm thần nặng lây lan cực nhanh, khó hiểu cho người ngoài cuộc, người nước ngoài.

Nhớ lại khi ông Hồ Chí Minh chết, dân miền Bắc cũng khóc tập thể thê thảm như thế.
Tố Hữu mô tả: «Người tuôn nước mắt, trời tuôn mưa...»;
Và khi ông Staline chết, Tố Hữu cũng khóc:
Thương cha, thương mẹ, thương chồng
Thương mình thương một, thương Ông thương mười.
Lại còn:
Hôm qua loa gọi ngoài đồng
Tiếng loa xé ruột xé lòng biết bao!

Vì sao như vậy? Khóc thật hay khóc giả? Bình thường hay lâm bệnh thần kinh? Khác gì những người làm nghề khóc thuê khóc mướn? Cố gào thét lên, cố rặn ra mà khóc ư?

Để góp phần giải đáp những câu hỏi ấy, tôi kể lại dưới đây một vài kinh nghiệm, tai nghe mắt thấy, trên đất Bắc Triều Tiên, từ hồi năm 1987, khi dự Hội nghị các nước không liên kết trong 1 tuần lễ ở Bình Nhưỡng, rồi đi thăm một số địa phương như khu phi quân sự Bàn Môn Điếm, đập nước lớn phía đông và vùng sông Áp Lục.

Phụ nữ Bắc Triều Tiên ở bất cứ đâu khi có mang đến tháng thứ 8 là đại diện chính quyền địa phương, cấp khu phố hay quận, huyện đến thăm tại nhà, làm lễ trao tặng thư và quà của «Lãnh tụ Vĩ đại» gồm có một thùng tã lót, khăn bông, nôi bằng mây hay nhựa, với lời chúc mẹ tròn con vuông.
Đến tuổi nhập học, trước buổi học vỡ lòng đầu tiên khi nhập trường,cũng như mỗi lần khai giảng, đều làm lễ đón nhận quà khai giảng của «Lãnh tụ Vĩ đại», gồm có bút, sách vở, cặp sách và 2 bộ đồng phục bằng vải tốt, lụa màu cho mỗi học sinh và sinh viên.

Khi vào đội Thiếu niên và vào Đoàn Thanh niên Kim Il Sung, các em đều tham dự lễ đón nhận khăn quàng xanh và đỏ do «Lãnh tụ Vĩ đại» ban tặng.
Hệ thống Bảo tàng Kim Il Sung và Phòng Lưu niệm Kim Il Sung là hệ thống to lớn, rộng khắp nhất, gây ấn tướng nhất trên đất Bắc Triều Tiên. Mỗi nhà máy, mỗi xí nghiệp lớn nhỏ, mỗi trường học từ tiểu học đến đại học, mỗi bộ, viện nghiên cứu, mỗi bệnh viện đều có bảo tàng, cho đến mỗi nhà trẻ cũng có phòng lưu niệm ghi rất rõ, rất cụ thể công ơn của «Lãnh tụ Vĩ đại». Tại đó có ảnh phóng cực lớn, tranh, một loạt sách trước tác của ông Kim, mang chữ ký đích thân ông Kim đề tặng và ký tên. Ông Kim đến đâu, đi qua cổng nào, qua con đường nào, ngồi vào chiếc ghế nào, cầm chiếc micrô nào, uống nước ở chén nước, cốc nước nào, cầm chiếc bút nào, nói những gì, gợi ý những gì, nhận xét gì, chỉ thị những gì… thực hiện ra sao, đều ghi rất kỹ, tỷ mỷ trong bảo tàng và phòng lưu niệm. Có nơi như Đại học Kim Il Sung, ông Kim đến 8 lần, đều ghi tỷ mỷ những nội dung và tác động của mỗi lần đến thăm.
Ở mỗi tỉnh, huyện và quận cũng thế. Những thành tựu làm đường mới, xây cầu mới, mở rộng bệnh viện, xây nhà trẻ, trường học, sân vận động, đắp đập, mở rộng diện tích canh tác, thay giống lúa mới… đều ghi công lãnh tụ Kim trong các bảo tàng và nhà lưu niệm Kim Il Sung, cũng như trên sách, báo, trên bia, bảng tuyên truyền ở khắp nơi.

Bức tượng cao nhất thủ đô là tượng đuốc lửa Juche - Tự Chủ - do «Lãnh tụ Vĩ đại» giương cao cho toàn thế giới, ở dưới chân có ghi tên hơn một trăm nước có Câu lạc bộ Juche ở khắp 5 châu, suy tôn ông Kim là lãnh tụ quốc tế chỉ đường cho nhân loại. Bức tượng toàn thân ông Kim cũng là bức tượng bề thế nhất bên sân rộng để hàng ngàn diễn viên có thể nhảy múa dưới chân «Lãnh tụ Vĩ đại».

Trong tâm tưởng, suy nghĩ của người dân Bắc Triều Tiên, từ khi sinh ra đến khi khôn lớn, từ sáng sớm ngủ dậy đến đêm vào giấc ngủ, từ khi ở nhà, đi học, đi làm đâu đâu cũng nghe ra rả về công ơn như trời biển của «Lãnh tụ Vĩ đại». Việc tôn sùng bị điều kiện hóa tuyệt đối đến thế thì khi ông chết, làm sao người ta không khóc thê thảm còn hơn cha mình chết.
Ông Kim Jong Il cũng kế thừa bộ máy tuyên truyền nhồi nhét như thế, cũng là dễ hiểu. Xin chớ hiểu sai rằng họ khóc lóc thảm thê chỉ là giả vờ, là đóng kịch, vì sợ bị đưa đi cải tạo.

Với một số người bị nghi vấn, bị theo dõi, bị ghi vào sổ đen, có thể là thế.
Xin nhớ Bắc Triều Tiên vẫn còn là quốc gia riêng biệt, cô lập với thế giới. Dân thường không ai có hộ chiếu. Nghe đài «địch», xem vô tuyến truyền hình «địch» là tội nặng.

Có những nghịch lý rất kỳ lạ. Dân nghèo nhất, đói nhất, rét nhất, nông thôn có hồi chết la liệt vào rừng đào củ, ăn dun, chuột, dán, châu chấu, lạnh cóng xuống đồng không có ủng, nhưng bộ mặt thủ đô thì tráng lệ, khách sạn cao 104 tầng, vỉa hè sạch bóng hơn cả Singapore, học sinh đi học bằng xe bus, áo quần tơ lụa đủ màu, 6 ngàn nghệ sỹ đồng diễn múa với dàn nhạc 400 cây đàn, đèn chiếu sáng rực, lộng lẫy như cảnh tiên sa.

Trong khách sạn cao cấp, các máy vô tuyến truyền hình Nhật Bản hay Hà Lan đều thay bằng nhãn hiệu Triều Tiên, các xe bus Nhật, Đức, Tiệp Khắc cũng đều mang nhãn Triều Tiên :
Thiên Lý Mã, Juche, Núi Bạch Vân, Thượng Cam Lĩnh …Tôi hỏi thế có vi phạm bản quyền nhà chế tạo không, anh phiên dịch cười nói nhỏ: không đâu, chúng tôi bỏ ngoại tệ ra mua bản quyền rồi. Một kiểu ăn gian ở trong nước, được thuận mua vừa bán, không giống ai.

Thật ra công ơn của lãnh tụ đều là từ ngân sách quốc gia, từ tiền thuế của dân. Tiền mua tã lót, nôi cho trẻ sơ sinh, đến hòm an táng cho người chết đều là của xã hội trả lại cho xã hội, xét cho cùng là «của người phúc ta», nhưng bộ máy tuyên truyền tinh vi ma quái, cực kỳ nham hiểm đã xáo trộn trắng đen, đảo lộn phải trái, biến một chế độ phong kiến cộng sản thối nát cực kỳ lạc hậu thành những vị đại minh quân, những ông hoàng đế thời hiện đại.

Bùi Tín -
VOA’s Blog.

Posted: Tue Jan 03, 2012 4:45 am
by hoanghoa
Việt cộng, Việt cộng

Lê Dinh
(01/01/2012)

http://www.ledinh.ca/2012%20Bai%20Le%20 ... 0Cong.html

Hai tiếng này, tôi không hiểu sao, cho đến ngày nay, nó trở thành hai tiếng xấu xa, kinh tởm nhất trong số những danh từ để ám chỉ những hạng người mà ai ai cũng oán ghét, hận thù và muốn xa lánh. Nhưng hai tiếng Việt Cộng nguyên thủy đâu có gì là xấu xa, nó chỉ là một danh từ ghép thường thôi, như rừng núi, biển khơi, đồng áng… nhưng theo thời gian biến đổi, nó trở thành một danh từ ghê tởm và rùng rợn lúc nào chúng ta không hay.

Nếu ai chỉ một tên nào đó mà nói “ Mầy là thằng Việt Cộng” thì có nghĩa người đó là một người xấu xa nhất trong xã hội hiện nay. Chẳng thà chửi cha người ta, người ta không giận bằng chủi “Mầy là thằng Việt Cộng”. Như vậy đủ biết hai chữ Việt Cộng bị người đời thù ghét như thế nào rồi. Mà nghĩ cũng đúng thôi.

Nhớ lúc tôi còn nhỏ, năm tôi 11 tuổi, còn học ở trường Tiểu học Vĩnh Lợi, cách làng Vĩnh Hựu của tôi chừng ba cây số. Mỗi sáng thứ hai đầu tuần, mẹ tôi phải đưa tôi đến trường và tôi lưu trú tại nhà dì tôi cho đến cuối tuần mới trở về Vĩnh Hựu. Một buổi sáng thứ hai đầu tuần, cũng như mọi khi, mẹ tôi xếp đâu 2 chục trứng gà vào một cái giỏ để khi đưa tôi đến trường xong là mẹ tôi ra chơ bán 2 chục trứng gà đó, lấy tiền mua các thức ăn khô khác. Hai mẹ con đang đi, độ còn nửa đường là tới làng Vĩnh Lợi, thình lình trong một bụi cây rậm rạp, có một người mặc đồ đen, tay cầm khẩu súng ngắn sáng loáng, nhảy ra chận mẹ con tôi lại, quát to: Đứng lại! Anh ta đưa họng súng ngay truớc trán mẹ tôi, rồi đưa sang qua tôi, quơ qua quơ lại trên đầu tôi, hỏi mẹ con tôi có phải đem trứng ra chợ để bán cho Tây không? (Lúc đó, ở tại chợ Vĩnh Lợi, ngay phía bên kia đầu cầu sắt, có một cái đồn của người Pháp đóng tại đó). Mẹ tôi run run nói:

- Dạ thưa ông, đâu phải, tôi đem trứng này ra chợ bán để lấy tiền mua thức ăn.

- Chứ không phải mẹ con bà đem lương thực cung cấp cho Tây sao?

- Dạ thưa ông, đâu có phải như vậy.

- Thôi lần này tôi tha cho mẹ con bà đó, nhưng giỏ trứng thì bị Ủy ban tịch thu. Nhớ lần sau, còn gặp mẹ con bà đem trứng ra chợ như vậy nữa là tôi sẽ bắn bỏ.

- Dạ mẹ con tôi đội ơn ông.

Thật hú hồn hú vía. Lần đầu tiên trong đời, tôi mới nhìn thấy khẩu súng lục. Sao nó uy dũng, hiên ngang, trông rất dễ sợ. Và cũng lần đầu tiên trong đời tôi mới biết đó là những kẻ gọi là Việt Minh, những người mặc đồ đen, đầu quấn khăn rằn, rồi sau này trở thành Việt Cộng và hai chữ Việt Cộng đã ám ảnh tôi từ suốt thời bé thơ cho đến khi khôn lớn.

Nếu không có lần bị đón đường, bị đe dọa bắn bỏ hôm đó, tôi đã trở thành một tên Việt Minh từ thời trẻ dại này rồi. Tôi còn nhớ rất rõ, ở tuổi 11, 12, tôi say mê những bài hát êm đềm, như:

“ Còn đâu trên chiên khu trong rừng chiều
Bên đèo lắng suối reo, ngàn thông reo
Còn đâu trên chiến khu trong rừng chiều
Bên đèo đoàn quân réo, đạn bay vèo…”

Hay hùng dũng, như:

“ Mùa thu rồi ngày hăm ba, ta ra đi theo tiếng gọi sơn hà nguy biến…”

Hoặc:

“Đoàn giải phóng quân một lòng ra đi
Nào có sá chi đâu ngày trở về…”

Và còn nữa:

“Nào anh em ta cùng nhau xông pha lên đàng
Kiếm nguồn tươi sáng…”

Hay là những bài thơ mà giờ đây hơn 60 năm qua, tôi vẫn còn nguyên trong trí nhớ:

“Tôi muốn tôi là một cứu thương
Cạnh theo chiến sĩ đến sa trường
Nằm lăn trên lá hay rơm ủ
Băng trắng đầu mình những vết thương”

Thật là lãng mạn, thât là dễ thương. Làm sao mà tôi không bị quyến rũ bởi nét nhạc, lời thơ như vậy được. Cho nên tôi có ý nghĩ là mình sẽ phải theo mấy anh lớn để được vào bưng, được nghe tiếng suối reo, ngàn thông reo, được nằm lăn trên lá hay rơm ủ, được nữ y tá săn sóc vết thương… Rồi một ngày nọ, tôi được theo đoàn biểu tình đi bộ từ làng Vĩnh Hựu của tôi lên tới tỉnh Gò Công, cách xa làng tôi 14 cây số, để gọi là… ủng hộ Việt Minh. Thức dậy từ 3 giờ khuya, chuẩn bị cơm vắt muối mè, tập hợp lại rồi tháp tùng đoàn người, đi theo nhịp trống quân hành “rập rập thùng, rập rập thùng”… lội bộ suốt 14 cây số, nhờ vừa đi vừa hát “Nào anh em ta cùng nhau xông pha lên đàng”, cho nên thằng con nít 11 tuổi như tôi, khi đến nơi, nào có thấy chút mệt mỏi gì đâu? Nhưng sau lần gặp gã Việt Minh với khẩu súng giết người đó, tôi đã bừng tỉnh giấc mơ bỏ học, trốn cha mẹ để ra bưng biền.

Việt Cộng! Chỉ hai tiếng thôi, nhưng sao thiên hạ hoảng hốt, kinh hoàng khi nghe đến nó. Năm 1954, gần một triệu đồng bào miền Bắc, cũng vì hai tiếng này mà phải bỏ hết của cải, quê hương, làng xóm, mồ mả ông bà để chạy vô miền Nam xa lắc xa lơ, trốn khỏi bè lũ Việt Cộng. Năm 1975 cũng vậy, vì hai tiếng này mà hơn hai triệu người dân miền Nam phải liều chết, bằng đủ mọi cách để lánh xa loài quỷ dữ. Ở thôn quê miền Nam, khi nghe mấy tiếng “Việt Cộng về” hay “Mấy ổng về” là bà con gồng gánh, già trẻ, bé lớn chạy trối chết về phía thành phố để trốn khỏi bọn Việt Cộng. Rồi nào Việt Cộng pháo kích vào thành phố, vào quận lỵ giết hại dân lành, giết hại trẻ thơ nơi trường học. Việt Cộng đào lộ, đấp mô, đặt mìn, phá cầu… Còn Việt Cộng ngày nay thì ngoài tham nhũng còn tôi bán nước, buôn dân, bàn tay chúng phạm trăm ngàn thứ tội ác. Việt Cộng ngày nay bán rừng, bán biển, bán giang sơn cha ông cho Tàu, Việt Cộng ngày nay độc ác, tàn nhẫn với dân chúng, nhưng co ro, cúm rúm trước thằng Tàu như sợ ông nội, ông cố của chúng, bắt dân bỏ tù nếu dân đứng lên yêu nước chống lại lũ Hán xâm lăng.

Rồi tôi miên man suy gẫm, không biết những tên như Nguyễn Tấn Dũng, Trương Tấn Sang, Nguyễn Phú Trọng nghĩ sao - nhưng không biết những tên này có biết suy nghĩ không – chúng có thấy rằng sao mình đi đến đâu, thiên hạ bỏ chạy hết vậy? Mình giành được phân nửa xứ sở miền Bắc, đáng lẽ dân chúng phải ở lại với mình để kiến thiết xứ sở chứ, sao gần cả triệu người lại bỏ chạy vào Nam. Rồi mình cướp được luôn phân nửa miền Nam còn lại, thiên hạ lại ùn ùn bò chạy nữa, cả hơn hai triệu người xa lánh mình. Tại sao và tại sao? Chúng không tự đặt câu hỏi đó với chính chúng sao? Mình đi đến đâu thì người ta chạy trối chết khỏi nơi đó. Mình là thứ gì vậy? Nhìn hình ảnh cuộc di cư năm 1954, trên những chiếc tàu há mồm, nhìn những gương mặt hớt hơ hớt hãi, mất hồn, chạy đôn chạy đáo để rời khỏi Saigon tháng tư năm 1975, rồi nhìn những cảnh liều chết vượt biên lên đến cao điểm, từ năm 1975- 1980, nếu chúng là người, chúng phải suy nghĩ chứ? Mình cũng là người như họ, đầu, mắt tay chân cũng đầy đủ như họ, tại sao họ sợ mình mà chạy hết như thế? Mình có phải là quỷ dữ hay ác thú gì đâu?

Nhưng tôi nghĩ, Việt Cộng còn đáng sợ hơn là quỷ dữ nữa. Nhìn lại, từ cái thời bé thơ, thuở mà mẹ con tôi đem hai chục trứng gà ra chợ bán để có tiền mua thức ăn cho gia đình, đến ngày nay, đã hơn 60 năm trôi qua, tôi cảm thấy rùng mình, ghê sợ. Từ những việc bắt người cho mò tôm, thả xác trôi sông thuở đó, cho đến những vụ lường gạt, gian dối cướp giật của Việt Cộng ngày nay, nhìn sự dã man tàn ác của Việt Cộng đối với người dân cùng chung máu mủ … thật không thể nào tưởng tượng nổi. Quỷ chỉ nhát, chỉ hù người ta thôi, chứ không hại người ta, mà nếu quỷ có hại thì chỉ hại một người thôi. Còn Việt Cộng hại cả một dân tộc, tiệu diệt tất cả, đất đai, sông biển, núi rừng không còn, nhưng đó là nói về mặt những gì còn nhìn thấy được. Còn về mặt không nhìn thấy được thì là Việt Cộng tàn phá cả đạo đức, dung dưỡng tội ác, giết chết sự trong trắng trong lòng trẻ thơ, đưa nhiều thế hệ con em chúng ta vào vòng tối ám, dạy chúng dối trá, dạy chúng tội ác…

Nhưng như vậy cũng chưa đủ. Những nguời đã quá sợ chúng mà bỏ xứ ra đi, để xứ cho chúng ở cũng chưa được yên thân. Chúng còn cho tay chân bộ hạ, núp bóng dưới danh nghĩa này, danh nghĩa nọ, chạy theo ra ngọai quốc để quyết hành hạ những người tỵ nạn Cộng sản này cho đủ… 36 kiểu của chúng. Thật trời không dung, đất không tha. Ngày xưa, chúng đã chiếm được phân nửa nước Việt Nam, tưởng đâu rằng chúng cùng miền Nam thi đua làm cho dân giàu nước mạnh, nhưng như chúng ta đã biết, Việt Cộng cho đến 1975, còn chưa thấy cái thang máy “biết tàng hình” là gì, chưa được nhìn chiếc đồng hồ “12 trụ, 2 cửa sổ, không người lái” là gì, không hiểu cái bồn cầu “để rửa rau” hay để làm gì, trong khi miến Nam lúc đó đã là một trong những quốc gia tân tiến ở Đông Nam Á châu. Rồi lòng tham vô đáy, thực hành chủ nghĩa Cộng sản toàn cầu của chúng, chúng cướp luôn miền Nam. Thiên hạ lại bỏ chạy, chúng rượt theo ra đến ngọai quốc để áp dụng… 36 kiểu lên đầu lên cổ người đã sợ chúng mà bỏ chạy 36 năm trước.

Nếu tôi có làm anh muôn vàn bực tức, xin anh cứ chửi tôi là thằng mất dạy, thằng láu cá, thằng bỉ ổi, thằng đê tiện, thằng vô học, thằng… thằng gì cũng được, hay bảo tôi là thằng không cha không mẹ, hay là thằng do… con gì sanh ra cũng được nốt, nhưng xin đừng bảo tôi là Việt Cộng. Mầy là thằng “Việt Cộng”, hai tiếng này nặng lắm, anh biết không? Nói như thế là anh chửi tôi đấy, mà chửi tôi thât nặng, đó là tiếng chửi ghê gớm nhất, đáng sợ nhất trong những tiêng chửi đương thời. Vì hai tiếng này đồng nghĩa với ác nhân, hung đảng, ác quỷ, ác tinh, man di, mọi rợ, lưu manh, gian xảo, côn đồ, thảo khấu… , lọai quỷ quái tinh ma, nghĩa là bọn trời đánh thánh đâm, trời tru đất diệt.

Ngày đầu năm 2012

Posted: Sat Jan 07, 2012 7:06 am
by quaichao
Thời gian tựa cánh chim bay...
Tạp ghi Quỳnh Giao

Không biết là tự bao giờ, mỗi khi bước vào một nơi chốn lạ hoặc một năm mới,
con người ta cứ hay để ý đến cái điềm xấu tốt ở một vài chi tiết bâng quơ.

Image
Tippi Hedren trong phim “The Birds” của Alfred Hitchcock.

Có thể là vì trong tiềm thức, loài người cảm nhận được những giới hạn của mình nên cố tìm ra dấu hiệu để suy đoán ra tương lai bất định trước mặt.

Một phản ứng rất phổ biến là khi cầm lấy tờ báo Xuân, người ta cứ hay liếc vào trang Tử Vi. Có lười lắm thì cũng nhìn xem ngày Tết mà xuất hành hướng nào là tốt nhất. Nghĩ cũng thật lạ! Nếu cả nhân loại mà cùng xuất hành về một hướng vào đêm Giao Thừa hoặc ngày đầu năm thì sẽ kẹt xe kẹt cộ đến thế nào!

Nhưng Tết Dương lịch vừa rồi, có một điềm lạ khiến người viết này không nhìn về phía trước mà lại ngó về sau lưng. Về tận nửa thế kỷ trước chứ không gần đâu! Cái điềm lạ này, có lẽ nhiều người không để ý, là không hiểu sao cả trăm con chim bỗng rơi rụng và chết hàng đàn.

Chẳng là thầy bói thầy tướng gì, Quỳnh Giao nghĩ đến Alfred Hitchcock, Tippi Hedren và phim “The Birds”!

Cuốn phim xuất hiện từ nửa thế kỷ trước, vào đến Sàigon với tên Pháp là “Les Oiseaux”. Khi ấy khán giả lõm bõm tiếng Tây thì được biết là do Alfred Hitchcock lấy cốt truyện của bà Daphné du Maurier dựng thành một phim kinh dị. Loại khán giả còn bé xíu thì giữ mãi ấn tượng rờn rợn mỗi khi thấy có quá nhiều chim chóc xuất hiện! Xem xong thì hết dám bén mảng đến khu Chợ Cũ, quanh vỉa hè thấy bán nhiều loại chim khác nhau. Nếu có đi xích lô qua đó thì vội ngó qua bên kia đường, nơi có nhiều hàng quán coi bộ yên lành ấm áp hơn!

Tuổi thơ của chúng ta hay có những cái sợ vô cớ như vậy, cho nên càng hay bị người lớn dọa nạt.

Khi đã thành người lớn thì mới biết tác giả là một nữ văn sĩ Anh, với cách đọc tên hơi khác. Mà cuốn phim thật ra cũng chẳng được dàn dựng từ một đoản văn của du Maurier. Alfred Hitchcock chỉ lấy ý trong truyện là bầy chim tấn công con người, rồi dựng lại kịch bản tại một vùng ven biển gần thành phố San Francisco.

Bậc thiên tài về nghệ thuật dọa nạt này có thể gây hãi sợ từ những chuyện vu vơ nhất!

Thế rồi khi khôn lớn hơn nữa thì mình mới biết rằng đại đạo diễn này chụp lấy thời sự tại Hoa Kỳ để làm thành phim. “The Birds” xuất phát từ một hiện tượng có thật!

Vào năm 1961, khi con nít tại Sàigon còn leo lên cây ổi ngoài vườn để ăn những trái ổi chát, thì vùng Vịnh Monterey ở ven biển có sự lạ. Ðó là cả trăm con hải âu cứ ập vào các ngôi nhà ven biển mà rơi rụng hàng chùm. Sự kiện kỳ quái ấy được báo chí loan tải và đập vào trí tưởng tượng của Alfred Hitchcock.

Từ một truyện ngắn của nữ sĩ người Anh, đạo diễn cũng là người Anh đã lấy thời sự tại Mỹ dựng thành truyện tình lồng trong một khunh cảnh rợn người.

Khi cái điềm chim chết của đầu năm nay lại trở thành thời sự thì mình mới biết thêm về biến cố năm 1961 tại Monterey.

Năm đó, bầy chim hóa điên vì ngộ độc khi ăn nghêu sò ven biển. Mà nguyên nhân là rong biển nơi ấy bị nhiễm độc do hóa chất thải ra từ cống rãnh của một khu gia cư mới được xây dựng trong vùng! Loài chim không là thủ phạm của những thế lực ma quái mà chỉ là nạn nhân của con người thôi.

Chúng ta gây ra ô nhiễm môi sinh và gánh chịu hậu quả. Ðấy là cách giải thích của khoa học.

Nó đóng lại những nghi vấn của con người trước sự việc mình không hiểu được. Có lẽ chỉ ít năm nữa thôi, chúng ta cũng sẽ được biết về những nguyên nhân khiến cho chim chết hàng đàn vào đầu năm nay. Thế rồi khi hiểu ra thì mình hết luôn mơ mộng, có khi lại thấy ngậm ngùi.

Sinh năm 1930, năm nay, Tippi Hedren là một bà cụ trên bát tuần.

Trong thế giới phim ảnh, nữ nghệ sĩ này xuất hiện không nhiều và chấm dứt sự nghiệp khá sớm nhưng vẫn là khuôn mặt tiêu biểu của kiều nữ tóc vàng trong các tác phẩm nhức tim của Hitchcock, bên cạnh Grace Kelly, Kim Novak, Eva Marie Saint hay Joan Fontaine. Là thân mẫu của Melanie Griffith, Tippi Hedren lập ra một trang trại lạ tại miền Nam California để chỉ nuôi hổ báo. Ðó là khu Shambala khá nổi tiếng với những ai ưa thích muông thú.

Ðấy là chuyện đời thường.

Trong thế giới của chúng ta, Tippi Hedren là bạn thân và ân nhân của nữ tài tử Kiều Chinh khi giúp bà định cư tại Hoa Kỳ để dựng lại sự nghiệp điện ảnh. Sau biến cố 1975, Tippi Hedren còn tích cực cứu vớt thuyền nhân của chúng ta ngoài Ðông hải. Khi được biết về cuộc sống của những người tỵ nạn đầu tiên tại California, bà dàn xếp để người cố vấn về thẩm mỹ của mình trợ giúp họ. Tippi Hedren là người có công phát triển ngành nail cho người Việt mình tại Hoa Kỳ!

Nhớ lại phim “The Birds” làm tuổi thơ của mình ớn lạnh với chim và quạ, người viết lại nghĩ đến những sự thật còn thật hơn sức sáng tạo của nghệ thuật.

Cũng thế, khi nhớ đến bầy hổ báo của Tippi Hedren trong khu Shambala, người viết nhớ lại loạt phim đường rừng về Tarzan. Bên cạnh nhân vật ấy, ngày xưa chúng ta còn có một nàng Jane.

Trong mấy bộ phim về Tarzan do Johnny Weissmuller thủ diễn, có Maureen O'Sullivan với mái tóc đen là ấn tượng khó phai mờ trong tâm trí của trẻ em. Sau này, khi bầy trẻ khôn lớn hơn thì mới biết rằng nàng Jane của tuổi ấu thơ chính là thân mẫu của Mia Farrow ngày nay. Nhưng ít ai trong chúng ta được biết rằng Maureen O'Sullivan cũng là ân nhân của người tỵ nạn khi bà đổi tên là làm việc trong một cơ quan từ thiện đã giúp người mình tái định cư tại Hoa Kỳ. Sinh năm 1911 và mất năm 1998, nàng Jane này cũng là người mà chúng ta không nên quên.

Vào những ngày đầu năm, khi thấy chim chết hàng đàn, mỗi người lại có một cảm nghĩ khác. “Thời gian tựa cánh chim bay” mình có thể hát như vậy với tháng cùng ngày.

Riêng người viết lại nhớ đến những bầy chim bị vỡ tổ vào năm 1975 và tạp ghi lại nơi đây một số việc làm có ý nghĩa của Tippi Hedren hay Maureen O'Sullivan. Cũng là một cách ôn lại kỷ niệm.

Posted: Mon Jan 09, 2012 9:40 pm
by nguyenvsau
Thằng nghiện, con đĩ và ngài thủ tướng

Báo Pháp Luật trong nước vừa qua đưa tin thủ tướng CS Nguyễn Tấn Dũng lại vừa được tờ báo Hàn quốc chọn là vị thủ tướng xuất sắc nhất châu Á năm 2011. Trước đây không lâu, ông cũng "được" một tờ báo bên Đức tôn vinh là lãnh tụ xuất sắc. Cách "PR" theo sách "Trần Dân Tiên" coi bộ không có hiệu quả khả quan ở thời đại internet này. Mời bạn đọc xem một phản ứng từ một facebookian.

Ở khu nhà mình có hai nhân vật đặc biệt, một thằng nghiện và một con đĩ.

Thằng nghiện này nghiện lắm. Mỗi khi cơn vật nó nổi lên thì tìm mọi cách để xoay bằng được một liều. Mới đầu nó “chà đồ nhôm”(Cho^m do nha). Khi đồ nhà hết thì nó lần mò đến đồ đạc của hàng xóm.

Một thời, mỗi khi nó vào nhà ai chơi, chủ nhà có buồn đi đái đến cứng người vẫn phải ngồi mà tiếp nó. Ai không nhịn được trót dại vào nhà vệ sinh một lát tất không mất cái này cũng mất cái khác. Mãi người ta biết mà cảnh giác nó đành lân la tỉ tê trò chuyện để mượn tiền. Chuyện nó nói rặt những điều tử tế cả. Cứ ngọt như mía lùi. Khiến cho nhiều người biết rành rành nó mượn tiền để hút chích vẫn cứ cho nó mượn tiền như thường. Tuy là thằng nghiện, lại hay ăn cắp vặt nhưng những người mới gặp hay quen biết sơ sơ đều khen nó là kẻ biết điều lễ phép và ngoan ngoãn cả. Trong số ấy có cả con đĩ.

Con đĩ này không phải là loại đĩ rầy đĩ rạc có cơ quan ở gốc cây bờ hồ. Nhìn nó không ai bảo là đĩ. Chân nó dài, eo nó thon, ngực nó căng, mặt nó xinh và mắt nó rất lẳng.

Nó cũng không treo cái biển quảng cáo món hàng của nó mà mở một quán bán cà phê. Từ ông bụng phệ, bác rậm râu đến anh đầu trọc … ai cũng mê nó cả. Nó nói chuyện có duyên. Nửa nũng nịu nửa gợi tình mà lại rất đứng đắn. Không thấy nó mặc cả “đi khách” với ai bao giờ. Với ông hay với tôi đều có một bài ca vì tình cảm mà ngủ với nhau chứ không phải vì tiền. Mới hay, đây là một khuôn mẫu của nghề làm đĩ “nghệ thuật vị nghệ thuật” vậy. Truyện trò chán chê mới thấy than thở mỗi ly cà phê lãi được 7000 đồng bạc. Tháng này chưa biết xoay đâu ra 5 triệu trả tiền thuê nhà. Không khéo phen này phải về quê làm ruộng… Bợm thế đấy! Thế mà khối anh mắc. Chả mấy buổi không thấy có đấng mày râu vặn ô tô đến đón nó đi chơi. Mà anh nào về cũng thoả mãn, cũng đinh ninh mình là chủ trái tim bé bỏng của nàng. Và với các ông, nó là kẻ chung tình bậc nhất, chính chuyên có thừa.

Cả thằng nghiện, con đĩ này và mấy mươi triệu người nữa là con dân của một ngài thủ tướng. Ngài này tướng tá cao lớn, điển trai và rất là sốt sắng với công việc. Chả hiểu tại sao ngài càng sốt sắng thì xã hội càng bết bát. Quả đấm thép của ngài thua lỗ hơn 5 tỷ mỹ kim. Thời ngài trị vì lạm phát phi mã, giá cả tăng chóng mặt. Lính tráng của ngài chơi những món chơi nổi tiếng trong khi nhiều thằng dân lo ăn méo mặt. Thằng con ngài vốn vô danh tiểu tốt được ngài thổi một cái bay lên tận mây xanh, thổi một cái nữa là ngồi chễm chệ trên một cái ghế rất sang rất êm của một bộ rất mầu mỡ. Ngoại bang lăm le, quốc dân phẫn uất, Người ta đào bới cha ông ngài lên mà chửi, cho ăn những của chẳng ngon. Cho bõ cái tội ngài gây ra cho quốc dân. Tuy vậy ngài vẫn nhởn nhơ, ngồi lim dim mắt, tay đánh nhịp trong khi thằng phó của ngài công bố kết quả điều tra sự thua lỗ mà ngài phải chịu trách nhiệm chính. Ngài vẫn tuyên bó những lời đao to búa lớn, hoặc để tự trấn an, hoặc để lừa bịp thiên hạ.

Rồi thiên hạ cũng có kẻ tin hay giả vờ tin. Chúng thổi ống cho ngài danh hiệu xuất sắc nhất châu Á. Lần đầu, giống như con đĩ được khen chính chuyên, như thằng nghiện được khen thật thà, ngài cũng ngượng, ra lệnh gỡ những bài báo nâng bi quá lố ấy.

Nhưng ở đời, sự quá lố mà diễn ra thường xuyên thời cái lố cũng bớt đi và mặt ngài thủ tướng cũng dần trơ ra như con đĩ hoặc thằng nghiện. Lần này bọn thổi ống lại tiếp tục nâng cho ngài lần nữa. Cái tin ngài được bầu xuất sắc nhất châu Á lại lần nữa được chình ình trên mặt báo.

Chỉ khổ cho con mẹ hàng cá. Mất công chửi: “làm TT như cái l. bà ấy”

Posted: Wed Jan 11, 2012 3:21 am
by tiendung
Bản Án Treo Cổ

Nguyễn Đạt Thịnh


Có thể không cố tình chạy đua với tổng thống George W. Bush, nhưng tổng thống Barack Obama cũng vừa đoạt được thành tích treo cổ một tổng thống Ả Rập: ông Mahmoud Ahmadinejad, tổng thống Iran.

Độc hơn Bush, ông Obama chọn Kailua, bãi biển đẹp nhất Hawaii, và chọn đêm giao thừa, thời điểm yên bình nhất trong một năm, để ký lệnh treo cổ tử tội Ahmadinejad.

Đạo luật ông ký ấn định những biện pháp trừng phạt mọi tổ chức ngân hàng, kể cả ngân hàng trung ương (ngân khố) của mọi quốc gia, nếu những ngân hàng này trang trải, hay làm trung gian trang trải tiền mua dầu của Iran.

Sở dĩ phải đánh giá đạo luật này là tàn độc vì chữ ký của ông Obama bên dưới trang thứ 500 của đạo luật dầy 500 trang này, đột ngột biến dầu thô, món hàng lúc nào cũng đắt hơn tôm tươi, lại trở thành ế thiu, ế chẩy trên thị trường thế giới, nếu những thùng dầu đó bơm lên từ giếng dầu Iran.

Chỉ cần hình dung một đạo luật khác cấm không cho Trung Quốc bán mồ hôi người Trung Hoa là có thể hiểu chính xác mức tàn độc của đạo luật "đêm giao thừa 2011"; tàn độc vì chỉ vài tiếng đồng hồ trước, tổng trưởng Dầu Hỏa Iran, ông Rostam Qasemi, còn mạnh miệng tuyên bố, "Nếu Hoa Kỳ phong tỏa dầu Iran thì hậu quả là giá dầu sẽ vọt lên tới trần nhà, vọt cao hơn mức $200 mỗi thùng."

Nhưng Qasemi đã xủ quẻ trật lấc: giá dầu trước và sau đêm giao thừa 2011, vẫn nằm ở mức $100 mỗi thùng. Bí quyết: Hoa Kỳ đã yêu cầu và đã được Saudi Arabia cam kết gia tăng bơm dầu trên mức sản xuất dầu của Iran, để thị trường vẫn có đủ số lượng dầu như thường ngày.

Đạo luật của Hoa Kỳ còn dự trù một ân hạn từ 2 tới 6 tháng miễn trừ không thi hành hình phạt, đối với các ngân hàng trung ương của vài quốc gia có những liên hệ đặc biệt trên thị trường dầu hỏa đối với Iran, nhưng những quốc gia này phải chứng minh là họ đang giảm giao thương với Iran đến mức tối đa.

Hình thức trừng phạt những ngân hàng ngoan cố là họ sẽ bị tẩy chay ra khỏi thị trường giao thương với Hoa Kỳ.

Hình phạt nghe "nhẹ như bấc" nhưng lại nặng hơn chì, vì xuất cảng sang Hoa Kỳ là lối sống của nhiều quốc gia hiện nay; những nước kỹ nghệ như Trung Quốc, Nhật, Anh, hay Pháp, không thể bất chấp luật "tẩy chay dầu Iran" vừa ký, dù Iran có đại hạ giá có rao to khẩu hiệu khuyến mải "buy one, get one free".

Một nhân vật khác, phó tổng thống Iran Mohammad Reza Rahimi, cũng không nuốt trở vào được lời ông cảnh cáo là sẽ không cho một giọt dầu nào qua lọt eo biển Hormuz, nếu Hoa Kỳ phong tỏa thị trường xuất cảng dầu Iran.

Đô đốc Habibollah Sayyari, tư lệnh hải quân Iran, còn khoe , "Chúng tôi có khả năng theo dõi hoạt động của hải quân Hoa Kỳ." Ý Sayyari nhắc lại việc Iran cho trinh sát cơ bám sát mọi hoạt động của chiếc hàng không mẫu hạm USS John C. Stennis khi chiến hạm này vào vùng biển Oman quan sát cuộc thao dượt 10 ngày của hải quân Iran.

Tiếp xúc với truyền thông, Sayyari nói, "ngôn ngữ Iran có câu 'dễ như uống ly nước' để mô tả những việc làm không đòi hỏi nhiều nỗ lực; tôi muốn dùng câu này để nói về việc phong tỏa eo biển Hormuz -việc không khó hơn uống ly nước. Sở dĩ chúng tôi không phong tỏa Hormuz vì eo biển này cũng như Vịnh Persian đều nằm trong khả năng kiểm soát của Iran."

Đô đốc Sayyari muốn nói về khả năng quân sự, cái khả năng mà bọn cướp biển Somalia cũng có khi chúng dùng vũ khí uy hiếp và bắt giam những chiếc tầu chở dầu quốc tế để đòi tiền chuộc.

Phát ngôn viên George Little của Ngũ Giác Đài tái khẳng định lập trường Hoa Kỳ "không tha thứ việc Iran 'khóa biển'." Ông nói thêm, " ... vấn đề không chỉ gói gọn vào góc cạnh an ninh và ổn định của Trung Đông, mà vấn đề còn là cuộc sống kinh tế của mọi quốc gia trong địa phương này."

Lên tiếng nhân danh bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, một phát ngôn viên khác, ông Mark Toner, nhận định là các tướng lãnh Iran đang ... thả bong bóng thăm dò.

Tất cả những giao động đó đều xẩy ra trước đêm giao thừa, thời điểm tổng thống Obama đang bơi lội, vui đùa với vợ con giữa những lớp sóng hiền hòa của biển Thái Bình.

Phản ứng của Iran sau đạo luật Obama ký ngăn cấm các nước khác mua dầu của Iran, vẫn chỉ giới hạn trên địa hạt chiến tranh ngôn từ, đánh võ miệng.

Họp báo tại thủ đô Tehran, đô đốc Sayyari vẫn chỉ trình diễn những tấm ảnh phô trương khả năng hỏa tiễn của hải quân Iran -hỏa tiễn Shahab-3, tầm bắn 1,000 cây số, hỏa tiễn Ghadr-1, tầm bắn 1,600 cây số, và hỏa tiễn Sajjil-2, tầm bắn 2,400 cây số.

Báo chí và truyền thanh, truyền hình Iran ra rả phổ biến những con số phô trương sức mạnh của quân đội; một phóng viên của hãng thông tấn Pháp AFP viết lại lời nhận xét của ông thương gia Mohsen Sanaie, 62 tuổi, cư dân Tehran.

"Tôi đã chứng kiến cuộc chiến tranh giữa Iran với Iraq trong thập niên 1980," Sanaie nói. Trước khi súng giao tranh nổ trên chiến trường, thì nhạc quân hành cũng vang dội trên những làn sóng truyền thanh, truyền hình như hiện nay."

Nghe và đọc những luận điệu hiếu chiến của chính quyền, người Iran lo chiến tranh sẽ là điều không tránh khỏi; và họ biết chiến tranh sẽ xẩy ra ngay khi Iran áp dụng những biện pháp khóa eo biển Hormuz.

Trong khoảng hẹp nhất, eo biển này rộng 34 cây số, chiều rộng không lấy gì làm rộng này giúp hải quân Iran khóa biển "dễ như uống ly nước," nếu Hạm Đội 5 của Hoa Kỳ án binh bất động. Nhưng phó đô đốc Mark I. Fox lại không được lệnh ngồi yên nhìn Iran ngăn cấm việc tiếp tế dầu cho thế giới. Ông đô đốc có ria mép và có nụ cười tống tình, đang quan sát màn ảnh radar, chờ đợi để phản ứng ngay khi Iran có hành động khóa biển.

Chiến tranh có xẩy ra hay không đang tùy thuộc vào thái độ của hải quân Iran. Hãng thông tấn Iran ISNA phổ biến lời tuyên bố của phát ngôn viên hải quân, ông Mahmoud Mousavi, "Ngay khi được lệnh, mọi đơn vị hải quân, gồm tầu nổi, tầu ngầm, không lực hải quân sẽ dàn kín eo biển Hormuz, và từ phút đó, không một tầu dầu nào vượt qua Hormuz được nữa."

Không khí căng thẳng đến nghẹt thở, và Iran nói là họ đã sẵn sàng.

Sẵn sàng là những căn cứ hỏa tiễn với tầm bắn được điều chỉnh trước, và sẵn sàng còn là những hạm đội tuần dương, những giây thủy lôi dài hàng chục cây số, chờ lệnh để giăng ra khóa kín eo biển Hormuz. Điều duy nhất chưa sẵn sàng là lệnh của Teheran, phát động cuộc phong tỏa.

Lệnh chỉ đến từ những nhân vật nắm giữ quyền lực tối cao của Iran, nhưng cả giáo chủ Ali Khamenei lẫn tổng thống Mahmoud Ahmadinejad đều không dám tự chuyên quyết định; mọi người đều ý thức được hậu quả khiếp đảm của một quyết định thiếu cân nhắc.

Không dám ra lệnh phong tỏa Hormuz, nhưng họ cũng không thể ngồi đó, chết điếng, và không có phản ứng trước việc Hoa Kỳ phong tỏa không cho Iran xuất cảng dầu.

Nuốt bồ hòn làm ngọt, tử tội Ahmadinejadadinejad đang ngồi thừ ra nhìn đoàn tầu dầu an toàn nối đua nhau vượt eo biển Hornuz.

Nhưng Obama có biết nắm thời cơ để vươn tay dài ra thêm một đoạn nữa hầu dứt khoát giải quyết nguy cơ Iran, một trong vài mối đe dọa cuối cùng của nền hòa bình thế giới không?

Và nếu giải quyết được, ông có xứng đáng lãnh giải thưởng Nobel hòa bình thêm một lần nữa vì ngón tối độc chưởng ông đánh ra giết chết một người ngay vào đêm giao thừa, trong cảnh vacation đề huề bên vợ, bên con, và bên bờ biển Thái Bình không?

Nguyễn đạt Thịnh

Posted: Thu Jan 12, 2012 6:00 am
by khieulong
Image

PHIẾM NĂM RỒNG
Thái Quốc Mưu

Long hay Rồng, đứng đầu trong Tứ Linh: Long, Lân, Quy, Phụng. Những con vật huyền thoại, chỉ có tên theo huyền thuyết, không có thật trong các loài sinh vật.

Thời trước, trong chế độ phong kiến, Rồng được lấy làm biểu tượng của các vì vua chịu ảnh hưởng nặng về văn hóa Trung Hoa.

Bất cứ thứ gì trên thân thể hoặc liên quan đến nhà vua đều khởi đầu bằng chữ Long. Cơ thể vua được gọi bằng Long thể, mắt vua Long nhãn (và cũng là cơm trái nhãn phơi khô, dùng làm thuốc bổ trong ngành Đông Y) râu vua Long tu,… Nơi vua ngồi làm việc Long ngai, giường vua ngủ Long sàng, xe vua đi Long xa, Long giá, áo vua Long cổn, Long bào, kiệu vua Long đình, gậy vua Long trượng,… vua đến nơi nào đó được gọi là Long ngự.

Chữ Long gắn liền với nhà vua như vậy, nhưng vợ chánh của vua gọi là gì?

Thời cổ Trung Quốc đến đời Tần Thủy Hoàng, vua gọi vợ chánh của ông ta bằng Hậu; giới quần thần gọi là Vương Hậu.

Đến đời Hán về sau mới gọi vợ vua là Hoàng Hậu, và Hoàng Hậu là chức vị được vua phong. Bà Lữ Hậu là người phụ nữ Trung Quốc đầu tiên được thụ phong chức danh Hoàng Hậu.

Chức danh Hoàng Hậu là “Đệ nhất, vộ nhi”, chỉ khi nào Hoàng Hậu tại chức bị phế hoặc chết mới được phong cho người kế nhiệm. Kỳ dư, những bà vợ thứ của vua chỉ được gọi bằng Phi.

Nhưng, cái nguyên tắc “Duy nhất Hoàng Hậu” của Trung Quốc bị những vì vua trên đất nước ta đánh gục, các vì vua: Đinh Tiên Hoàng có 5 hoàng hậu; Lê Đại Hành có 5 hoàng hậu; Lý Thái Tổ có 9 hoàng hậu, Lý Thái Tông có 8 hoàng hậu.

Khi Nhà Nguyễn Gia Long lập quốc, thì chức danh cao nhất, quyền uy nhất trong giới nữ ở cung đình, ngoài xã hội là Phi. Đến đời Bảo Đại mới có Hoàng Hậu. (Nam Phương Hoàng Hậu)

Như vậy, các bà vợ Vua đều không có “long”, cho dù “Long thê” hay “Long nữ”.

Nếu có ai hỏi: Vua gọi vợ ông ta bằng gì? Đa số sẽ trả lời: Hậu, Ái hậu, Ái khanh, Ái nương,… Nhưng chính xác nhất là: Vua gọi vợ ông ta bằng MIỆNG (mồm).

“Bửu bối” nhà vua thì gọi là “Ngọc Cốt” hoặc “Long cốt”. Còn “cái đầu trọc bẩm sinh” của nam giới, trong giới bình dân gọi là Quy đầu. “Cái ấy” của vua cũng gọi “Quy đầu”, nếu ai gọi là “Long đầu” (đầu rồng = đầu vua”) thì chỉ có nước bị chết chém. Đúng là rắc rối lôi thôi!

Có người cắc cớ hỏi: “Khi vua “làm chuyện nọ chuyện kia” được gọi là Long gì?” Câu hỏi được một tay “chọc trời khuấy nước” đáp: Hoàng Thượng làm vệ sinh cho Hoàng Hậu.

Còn khi vua bài tiết, người ta nói đùa là “Long ị”, thực tế như thế nào người viết chẳng biết. Vị nào biết xin vui lòng chỉ giáo!

Khi nói về nhà vua, không thể nói Long Vương mà phải nói Long nhan, trong khi Long nhan chỉ là cái mặt vua. Còn Long Vương, chỉ để gọi vị vua cai trị dưới nước. Cũng vậy, nơi vua và hoàng thân quốc thích trú ngụ không thể gọi Long Cung, mà phải gọi Hoàng Cung. Còn Long Cung là nơi ở của Long Vương.

Tất cả những tiếng có chữ Long dùng để gọi cơ thể nhà vua chỉ với mục đích trừu tượng, do sự tôn sùng thái quá. Giả như đó là một thực tế, chúng ta thử hình dung một con người có đầu rồng, râu rồng, mắt mũi giống mắt rồng,… thì khủng khiếp đến dường nào!

Có những từ kép hoặc cụm từ có chữ Long “hổn láo, ngang tàng” đứng trước, nhưng chẳng “ăn nhậu” gì đến nhà vua, như: long nhong, long đong, long tong, long lanh, long loc, long trời chuyển hoặc lở đất,…

Trong Tam Quốc Chí có đoạn, khi Tào Tháo bị bệnh nặng thèm ăn gan rồng. Tạ Từ xin diện kiến, lấy bút vẽ một con rồng trên lụa, giống y như thật, xong dùng dao mỗ bụng máu chảy dầm dề, đoạn Tạ Từ móc gan rồng ra dâng Tháo. Tào Tháo kinh hoàng, cho là ma thuật truyền lệnh bắt, Tạ Từ leo lên lưng rồng bay mất.

Vua Huỳnh Đế và hoàng hậu được vị tiên tên Quảng Thành Tử truyền cho phép tiên, khi thành đạo, có rồng vàng sa xuống, hai vợ chồng cỡi về trời. Thời Chiến Quốc, Tiêu Sử và Lộng Ngọc (con gái út của Tần Mục Công) tu tiên, khi thành đạo, Tiêu Sử cỡi rồng, vợ cỡi phụng bay lên trời (truyện Đông Châu Liệt Quốc, có nói rõ chuyện nầy)

Truyền thuyết Trung Quốc có câu chuyện: “Xưa có một vì vua muốn vẽ hai con rồng để treo hai bên ngai vàng, bèn rao truyền khắp dân gian, ai vẽ tranh rồng đẹp nhất sẽ được trọng thưởng, những họa sĩ tài ba trong nước ùn ùn kéo về kinh đô nhiều như mây, nhưng không ai vẽ vừa lòng đức vua. Bỗng có một họa sĩ trẻ đến, tâu: - “Bệ hạ muốn vẽ bức tranh ấy, thì xin cho hạ thần một loại lụa quý, dệt bằng 10 thứ tơ của loài tằm được ăn loại lá dâu ở trên độ cao 7000 thước (một thước Tàu bằng bốn tấc thước Tây) ở Tần Sơn. Khi có tơ, phải tuyển những tay thợ dệt xuất sắc để khi dệt không để lỗi một sợi tơ nào trên mặt lụa...” Nhà vua đồng ý, hẹn năm sau. Đến hẹn, chàng họa sĩ đem lụa về hang núi, hẹn 3 năm sau mới hoàn thành, và lấy cái đầu bảo đảm cho sáng tác của mình!

Ba năm sau, chàng họa sĩ trẻ trung ngày trước bỗng trở nên tóc trắng như bông, đến dâng vua hai bức tranh. Nhà vua hớn hở mở ra xem, chỉ thấy mỗi bên tấm lụa chỉ có hai đường xổ dài từ trên xuống dưới! Vua và triều thần cùng ngơ ngác. Tức giận, không cần tra vấn lời nào, vua truyền lệnh chém đầu người họa sĩ.

Từ đó nhà vua buồn không nguôi, tìm vui trong thú đi săn. Đến một hang núi, hỏi ra thì đó là hang động của người họa sĩ nọ. Vua tò mò vào xem. Vừa vào cửa động, nhà vua thấy hai bức tranh vẽ rồng treo trên hai bên vách đá, nét vẽ cực kỳ sống động. Rồng vẽ trên bức tranh như đang nhe nanh vờn vuốt!

Gió lay, hai tấm lụa chao động, nhà vua tưởng chừng hai con rồng đang lượn khúc, chào đón đấng chí tôn! Vua buột miệng: - “Thật là hảo tài hoa! phải chi nhà ngươi dâng hai bức tranh nầy cho trẫm, thì công sức đáng phong hầu!” Nói xong, bùi ngùi thương tiếc... Vào bên trong nữa,vua lại thấy hai bức tranh rồng y như hai bức tranh trước, nhưng đường nét ít hơn, vẫn không kém phần linh động. Vua nói: - “Thần bút diệu kỳ! tài ba nầy nghĩ đáng được phong vương!” Ngậm ngùi một lúc rồi đi vào tiếp, lại thấy hai bức tranh vẽ rồng y như hai lần trước, nhưng lại càng ít đường nét hơn, song, tranh toát ra sự thoát tục phi thường. Hai con rồng như ẩn, như hiện, như thăng, như giáng.

Nhà vua rụng rời tay chân, nghẹn lòng thốt lên: - Ôi! tài hoa nghìn năm khó thấy, chia đôi thiên hạ cũng chưa vừa! Ta đã hại lầm người rồi!” Lại bước vào thêm nữa thì.... vua thấy hai tấm lụa, nhưng trên đó không vẽ hai con rồng như 3 lần trước, mà chỉ vẽ có hai sọc dài từ trên xuống dưới y như hai “bức tranh” mà họa sĩ dâng vua ngày nào! Thấy thế, nhà vua suy nghĩ, tần ngần nhìn mãi, nhìn lâu thấy hai lằn vẽ ấy hóa ra hai con rồng đang bay lượn trên lụa. Vua lắc đầu, thở dài ngao ngán cho sự kém hiểu biết của mình!

Từ đó, người ta mới hiểu thêm rằng, cái NGU không chỉ có ở hàng dân giả mà còn hiện diện ở nhiều giai tầng khác trong xã hội con người.

Thái Quốc Mưu

Posted: Wed Jan 18, 2012 4:02 am
by caolynh
Tại sao đàn ông thích của lạ

BS NĐĐ đã có 20 năm kinh nghiệm trong ngành y dặn sinh viên: "Khi chữa bệnh liệt dương cho người ta, trước hết các anh phải hỏi liệt dương với ai?".

Học trò ngơ ngác bảo nhau: "Tưởng đã bị liệt dương thì với ai chả liệt?".

BS Đội cười: "Liệt dương với vợ thì đừng chữa cho phí thuốc.
Bởi vì với vợ thì ai chả liệt. Kể cả tôi".

Nhiều bà vợ vô cùng kinh ngạc khi phát hiện chồng có bồ. Có bà theo dõi phục kích bắt quả tang ở nhà nghỉ. Cô bồ trẻ nhanh chân chuồn mất chỉ còn ông chồng già lúng túng bị bà tóm được. Một tay bà túm cổ áo chồng, một tay vỗ đồm độp: "Của nhà không có à? Tôi có để ông thiếu thốn gì không? Tại sao máy nhà chạy chưa hết công suất lại đi chạy máy người?".

Ông chồng cứ đứng ngây ra miệng há hốc không trả lời được.
Có bà đến tận nơi, gặp tận mắt kẻ địch, lại càng không thể nào hiểu nổi. Giá như chồng họ kiếm được người nào tài giỏi hơn, nhan sắc hơn, đã đi một nhẽ.

Họ lạ lùng tự hỏi: "Nó hơn mình ở chỗ nào?".

Nhan sắc không, tài cán không, tiền bạc không, mà có khi cả tuổi trẻ cũng không. Có chị vừa uất ức vì bị chồng phản bội, vừa thấy mình bị xúc phạm ghê gớm. Họ đề nghị chuyên gia tâm lý giải thích tại sao lại như vậy? Phần lớn phụ nữ không thể lý giải được điều này nhưng bất cứ ai là đàn ông đều không lấy thế làm lạ.

Nhà tâm lý học Trung Hoa, Điều Vũ Canh, trong cuốn "Những bí mật của đàn ông" khẳng định:

"Một người đàn ông dù đã có người yêu hay vợ đẹp vẫn có thể ngủ với người đàn bà không lấy gì làm đẹp. Khi nghe nói hoặc những trường hợp như vậy, bạn thường quy nguyên nhân là do mối quan hệ vợ chồng đã xấu đi. Nhưng đó không phải là nguyên nhân thực sự của vấn đề. Sở dĩ một người đàn ông có thể lên giường với đối tác khác, không phải vì người đó hơn vợ anh ta mà chỉ vì đó là... người khác".

Ông cho rằng: "Mới lạ là chất xúc tác cực mạnh với ham muốn tình dục của đàn ông. Rất nhiều người có lối suy nghĩ đó, không loại trừ người đàn ông của bạn. Hãy tin điều tôi nói, vì tôi cũng là đàn ông".

Phải chăng thám hiểm, khám phá là gien di truyền của đàn ông?.

Từ Magielan đi vòng quanh thế giới đến Christophe Colomb phát hiện ra châu Mỹ không có ai là đàn bà. Ham thích khám phá cái lạ như ngấm vào trong máu đàn ông. Từ đứa trẻ con trai mới nứt mắt ra đã phá cả đồ chơi ra xem bên trong có gì mà lại chạy được? Trong khi hầu như chẳng có bé gái nào làm thế với đồ chơi của mình. Hiếm khi có phụ nữ đang hạnh phúc đủ đầy trong hôn nhân mà còn ngoại tình. Thường họ chỉ "ăn nem" khi không có tình yêu trong hôn nhân hoặc bị chồng "ăn chả" nên cũng làm thế để "trả thù". Thế nhưng có người bắt gặp đàn ông ngoại tình rành rành vẫn cố cãi: "Vô lý, vợ anh ta trông "ngon" thế, đời nào anh ta lại ngoại tình với một kẻ như thế". Họ chưa hiểu gì về đàn ông cả.

Có một ông kiến trúc sư nổi tiếng nuôi một thằng bé để nó giúp việc nấu nướng vì vợ ông cũng bận đi công việc suốt ngày. Một hôm nhân lúc vắng vẻ chỉ có hai thầy trò ngồi chơi với nhau, thằng bé hỏi thật:

-"Con thấy bà nhà đẹp thế mà sao ông còn cứ bồ bịch lăng nhăng bắt con nói dối bà, nhỡ bà biết thì con chết".

Ông ta hỏi nó:

-"Theo mày thì các món ăn mày làm hàng ngày, món nào tao thích nhất?".
Thằng bé trả lời ngay:
-"Món gà rán".
-"Thế thì chiều nay cho tao ăn gà rán".
Hôm sau thằng bé lại hỏi:
-"Bữa nay ông muốn ăn món gì?".
Chủ lại nói:
-"Gà rán".
Được 3 hôm ăn toàn gà rán thì thằng bé phải thốt lên kinh ngạc:
-"Ông ăn mãi gà rán mà không biết chán à?".
Lúc bấy giờ ông ta mới nhìn nó:
- "Mày thấy chưa? Đó là chính mày đã trả lời câu hỏi của mày mấy hôm trước đấy!".

Lăng nhăng cũng chỉ nhất thời. Suy cho cùng sống ở trên đời chẳng ai không thích cái mới lạ. Nhưng có lẽ đàn bà thích áo quần, giày dép, giỏ xách, trang sức mới nhiều hơn, còn cái thích nhất của đàn ông là của lạ.

Làm ăn chiêu đãi nhau, cho dù cao lương mỹ vị gì nhưng chưa có cái đó thì như vẫn còn thiếu.

Từ lâu, một nhà nho có tên tuổi ở nước ta đã tự bạch:

"Một trà, một rượu, một đàn bà
Ba cái lăng nhăng nó hại ta
Chừa được thứ nào hay thứ ấy
Có chăng chừa rượu với chừa trà?"

Có chị đứng soi gương một lúc lấy làm tự mãn, quay ra thách chồng:

"Có giỏi tìm đâu được đứa nào hơn gái này thì cho đi đấy!". Có lẽ chị nghĩ rằng, chồng mình lấy được mình đã là tốt số quá rồi, làm gì anh ta có sức với cao hơn được nữa. Chị không biết rằng, đàn ông có thể không với cao hơn được nhưng biết đâu họ lại với... xuống.

Một chị có chồng làm giám đốc một doanh nghiệp. Thấy chồng có những biểu hiện khả nghi trong mối quan hệ với một bạn hàng nữ, chị đã ngờ ngợ. Nhưng lại nghĩ có lẽ chỉ vì mình quá yêu chồng nên sinh ra ghen tuông vớ vẩn thế thôi. Tuy nhiên chị cũng trút niềm tâm sự với cô em ruột. Nghe xong, cô em bật cười khanh khách: "Có mà điên! Vô tư mà nói, mụ ấy không thể sánh với chị về bất cứ mặt nào". Thế mà đến khi bắt được quả tang mới biết chuyện phi lý đó lại có thật.

Hẳn bạn sẽ thất vọng trước phẩm chất thấp hèn này của đàn ông, vì nó rất gần với bản năng sinh dục của động vật. Nhưng trong thế giới tự nhiên, chính nhờ dục vọng vô cùng tận của giống đực khiến nó giao phối với càng nhiều con cái càng tốt mà giống loài mới nảy nở sinh sôi, tồn tại đến bây giờ. Nếu mỗi con đực cứ chung thủy suốt đời vói một con cái thì biết đâu nhiều loài đã tuyệt chủng từ lâu rồi.

Tuy nhiên do xã hội loài người có những quy tắc đạo đức khiến đàn ông không thể hành động tùy tiện như động vật nhưng dầu sao tính hiếu kỳ về giới, cũng như sự ham muốn của lạ vẫn là những đặc tính di truyền đã được tạo hoá cài đặt trong gien của họ từ thượng cổ rồi.

Tính hiếu kỳ mãnh liệt này với tình yêu là hai lĩnh vực khác nhau, nhiều khi giữa chúng không có liên hệ nào hết.

Sống ở đời không có cái gì mới mà cứ mới mãi. Phần lớn chuyện lăng nhăng của đàn ông chỉ có tính nhất thời. Các nhà tâm lý cũng gọi là ngoại tình nhưng xếp vào dạng ngoại tình đột xuất.

Những người đàn ông này không phải là chán vợ hay có ý định "đổi đời" mà thực ra chỉ là có cơ hội thì "ăn vụng" và nếu bị vợ phát hiện, họ thường tỏ ra rất ăn năn hối lỗi.

Tuy nhiên, có những người vợ không chấp nhận sự hối cải đó, kiên quyết đòi ly hôn và không ít cuộc hôn nhân đã tan vỡ vì thế.

Tất nhiên, nếu cho qua chuyện này một cách dễ dàng, e có ngày ngựa lại quen đường cũ. Bởi vậy, cách ứng xử của người vợ như thế nào còn tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể, vào mức độ khoan dung của người phụ nữ cũng như người chồng có sự hối cải hay không?

Điều quan trọng là đừng để sau một thời gian, cơn nóng giận lắng xuống mới thấy mình khờ khạo, đem chồng nộp cho đối phương hoặc để mất người đàn ông về cơ bản là người chồng, người cha tốt, làm cho con cái cũng phải hứng chịu nhiều nỗi thiệt thòi.

Posted: Fri Jan 20, 2012 1:39 am
by hoanghoa
Bất đồng chính kiến?

Người Buôn Gió
(Nguồn: nguoibuongio1972.multiply.com)

Nước Vệ nói rằng ở nước họ không ai bị bắt vì bất đồng chính kiến.

Các nước khác chả ai tin, thật oan uổng cho Vệ. Vì sự thật đúng là như Vệ nói.

Nước Vệ từ thời lập quốc đến nay, trải qua 67 mùa Xuân, bao lần bầu cử lần nào dân chúng cũng ủng hộ triều đình tuyệt đối. Người dân Vệ ai cũng đời đời ghi ơn công lao nhà Sản đã đổ xương máu của mọi người ra giành được triều đình về nhà Sản từ tay triều đình khác, ơn ấy dân chúng ghi lòng tạc da, dẫu thời thế đôi khi kém cơm, đói gạo cũng không vì thế mà có bụng khác.

Image
Chúng tôi không bắt người bất đồng chính kiến, các quan nước Vệ bảo vậy.
(Hình: Ian Timberlake/AFP/Getty Images)



Sứ thần nước nọ vốn tính đa nghi, hiếu sự hay thóc mách chuyện lạ lùng. Nghe thấy người Vệ nói ở đó không có ai bất đồng chính kiến, mới sinh bụng ngờ vực. Bèn nhân chuyến bang giao sang Vệ, đóng giả làm thương gia lân la quán chợ hỏi chuyện nhân tình, thế thái.

Bấy giờ là mùa Ðông, miền Bắc nước Vệ lạnh dữ dội. Sứ thần nghe trong quán rượu xì xầm chuyện xe ngựa bốc cháy nhiều. Mới đến gần bàn đám đó hỏi sao mà xe cộ, nhà cửa cháy nhiều thế. Người Vệ thấy khách lạ hỏi chuyện ai nấy đều lảng đi không trả lời, chủ quán vì không muốn làm khách ngoại quốc hiểu sai về người Vệ không cởi mở bèn chỉ cho khách đến gặp văn thư ở bộ Lại mà hỏi chuyện.

Văn thư bộ Lại nói rằng, đó là do nhà Sản được lòng trời, nên cháy nổ mới nhiều như vậy.

Khách há hốc mồm ngạc nhiên, xin hỏi rõ nguồn cơn.

Văn thư nói:

- Ông đi xa, biết rộng đọc nhiều. Há không biết là âm dương phải hài hòa, cân đối là điều tốt sao?

Khách gật đầu, văn thư nói:

- Bởi năm nay thời tiết lạnh giá, trời thương nước Vệ mới ban lửa xuống để cân bằng, mà lửa trời ban thì bí hiểm lạ thường. Cho nên chuyện nguyên nhân cháy cũng khác thường vậy thôi. Nơi khác thì cháy từ bếp ra, nước Vệ thì cháy từ ngoài đường cháy vào. Phải cháy lạ như vậy mới đúng là trời làm để nước Vệ bớt lạnh giữa mùa Ðông khắc nghiệt này.

Khách vốn không phải tay vừa, vì bản chất lắm chuyện mới hỏi vặn rằng:

- Biết đâu nước Vệ làm gì thất đức, động đến lòng trời thì sao. Ví như trời thời tiết lạnh giá thế này lại đem bắt người oan uổng, bất đồng chính kiến vào ngục tối giam cầm. Trời thương những người ấy lạnh lẽo mà làm lửa khác lạ như thế có ý nhắc nhở chăng?

Văn thư nghiêm mặt nói:

- Ở nước Vệ không có ai vì bất đồng chính kiến mà bị bắt cả, không tin tôi cấp giấy cho ông đi hỏi khắp nơi, muốn hỏi ai cũng được cho khách quan.

Nói rồi đóng triện, cấp giấy cho khách đi hỏi.

Khách cầm giấy ra chợ gặp một nho sinh, mời vào quán hỏi có biết ở nước Vệ có ai bất đồng chính kiến mà bị bắt không. Nho sinh nói:

- Nước Vệ không có ai làm bất đồng chính kiến cả, vì làm được như thế là điều rất khó. Muốn làm được điều ấy phải vượt qua nhiều hiểm nguy. Mà những hiểm nguy này được ghi rõ thành luật là bộ luật hình sự. Cho nên những người bất đồng chính kiến đều bị bắt bởi vi phạm luật hình trước khi kịp trở thành nhà bất đồng chính kiến.

Ngừng nhìn quanh rồi nói tiếp:

-Ví như một người có gì không đồng ý với triều đình, thì phải làm đơn nói rõ những điều mình không đồng tình. Dán kín thư không cho ai biết nội dung và gửi đến bộ phận tiếp đơn của nhà Sản.

Khách hỏi:

- Sao phải giấu kín, như thế ai biết là bất đồng chính kiến.

Nho sinh cười sằng sặc:

- Hay là ở chỗ ấy, ông bất đồng chính kiến thì phải không để ai biết ông là bất đồng. Này nhé ở Vệ có tội cấm tán phát, tuyên truyền tài liệu nói xấu nhà Sản. Nếu ông ấm thâm gửi đơn cớ đến thẳng bộ phận quản lý triều đình, không ai biết ngoài cái nơi nhân thì được gọi là ý kiến đóng góp đa chiều. Ông trở thành nhà bất đồng chính kiến không ai biết. Nhưng nếu ông phán tán cái tờ cớ của ông, trong đó nói nhà Sản phải thay đổi, làm thế này, thế kia vì thế nọ... rõ ràng là ông sẽ bị khép vào tội lợi dụng quyền tự do ngôn luận phỉ báng triều đình. Thế là ông đi tù khi chưa kịp trở thành nhà bất đồng chính kiến là vậy. Ðương nhiên nếu thế thì đúng nước Vệ bắt người tuyên truyền, phỉ báng triều đình chứ có bắt người bất đồng chính kiến đâu.

Khách hặc:

- Thế gửi đơn đến họ không trả lời sao?

Nho sinh:

- Thì lại gửi đơn tiếp, gửi năm này sang năm khác, tháng này sang tháng khác.

Khách:

- Cứ gửi liên miên thế thôi à?

Nho sinh:

- Thưa vâng, cứ gửi âm thầm như thế thôi, được trả lời hay không, đơn mình có được xem hay không tuyệt không được bức xúc. Có thế mới là người bất đồng chính kiến thật sự.

Khách hậm hực:

- Thế xin ngài đưa tôi đi chứng kiến một người bất đồng chứng kiến thật sự như ngài nói.

Nho sinh cười hô hố nói rằng:

- Nói từ nãy ông không hiểu, nếu mà ông biết người ấy là bất đồng chính kiến thì họ đâu còn là vậy nữa. Thậm chí đơn của họ gửi người ta cũng không thèm đọc xếp vào xó, cho nên chính triều đình cũng không biết có bất đồng chính kiến vì có ai đọc họ viết gì đâu mà biết.

Khách:

- Thế là sao?

Nho sinh:

- Thì nếu ông biết họ, thì họ đã bị bắt vì tội liên tiếp gửi đơn thư khiếu nại sai sự thật, gây phiền hà cho cơ quan nhận đơn. Xét thấy hành vi chưa đủ đưa ra xét xử, nhưng vi phạm nhiều lần nên cho tập trung vào trải cải tạo để giáo dục.

Khách:

- Lại còn có chuyện thế nữa sao?

Nho sinh cười sằng sặc.

- Ấy thì ông chỉ gặp kẻ kém phẩm chất, cần phải giáo dục chứ đâu còn gặp nhà bất đồng chính kiến.

Khách nghe xong đầu óc ù ù như hàng trăm con ong, nghìn tiếng sấm trong đầu. Ngã lăn quay ra bất tỉnh.

Posted: Sun Jan 22, 2012 6:29 am
by TranAnhDung
Tết Nhâm Thìn: Vài tin vui
Bùi Tín (Nguồn: VOA)

Ngày Tết bạn bè gặp nhau thường hỏi: có gì vui? Xin thưa ngay, vâng, có nhiều niềm vui, vui thật là vui.

Từ Moscow, từ nước Nga vốn thân thiết một thời với Việt Nam, tin vui mới là hàng trăm ngàn nhân dân các thành phố lớn xuống đường đòi bầu lại nghị viện Duma, đòi cuộc bầu tổng thống tháng 3, 2012 phải được thực hiện một cách dân chủ và công bằng, không gian lận. Từ khi Liên Xô tan vỡ, đây là những cuộc đấu tranh đông đảo, mạnh mẽ và quyết liệt nhất - nhưng ôn hòa và có trật tự - đòi tự do dân chủ, với yêu cầu chính là đòi ông Putin rút lui sau 3 nhiệm kỳ làm tổng thống và thủ tướng, chấm dứt một chế độ độc đoán. Báo chí Pháp và Hoa Kỳ bình luận rằng những thành tựu của quá trình dân chủ hóa ở Ðông Âu như Ba Lan, Tiệp, Ðức... và phong trào Mùa Xuân Bắc Phi đã là động lực thúc đẩy sự bừng tỉnh của con Gấu Liên Bang Nga giàu tiềm năng ở Châu Âu. Nếu có dân chủ thật sự, có xã hội dân sự trưởng thành, thì Liên Bang Nga sẽ là một chuyển biến lớn rất sâu sắc trên bản đồ chính trị thế giới.
Image
Một trong những tin vui. (Hình: Olga Maltseva/AFP/Getty Images)
Ở Châu Á, Miến Ðiện vừa có những bước đi khá mạnh theo hướng dân chủ hóa. Hàng trăm tù nhân chính trị, trong đó có những nhà lãnh đạo tôn giáo, công đoàn, sinh viên, nhà văn, nhà báo được tự do. Bà Aung San Suu Kyi ra tranh cử, Liên minh toàn quốc vì dân chủ hoạt động công khai. Quan hệ ngoại giao Miến Ðiện-Hoa Kỳ và Miến Ðiện-Liên Âu được nối lại. Vị trí Miến Ðiện trong khối Ðông Nam Á được nâng cao, có tác động quan trọng đến so sánh lực lượng trong khối Ðông Nam Á. Trong số 10 quốc gia thành viên của ASEAN, đã có nhiều nước thực hiện dân chủ đa đảng như Thái Lan, Philippines, Singapore, Malaysia, Indonesia và nay thêm Miến Ðiện; đây là những nước có tiềm năng kinh tế phát triển mạnh mẽ nhất.Thế và lực của khối này sẽ khác hẳn. Thế thì Việt Nam nên ở trong nhóm nào, dân chủ hay độc đoán?

Theo tin từ Washington DC và New Delhi, Hoa Kỳ và Ấn Ðộ đã thỏa thuận cùng với chính phủ Nhật Bản chuẩn bị một cuộc thao diễn hải quân lớn phối hợp giữa 3 nước vào năm 2012, tiêu biểu cho mối liên minh toàn diện Hoa Kỳ-Ấn Ðộ-Nhật Bản đang được thắt chặt, trong khi Châu Á nổi lên là khu vực chiến lược trọng điểm của toàn thế giới.

Chỉ 3 tin tức nói trên cũng đủ mang thêm niềm vui sâu đậm cho hương vị Tết Nhâm Thìn, bánh chưng như ngon hơn, cốc rượu thêm nồng, cành đào cành mai thêm hương sắc, những cuộc đàm luận sôi nổi đầu Xuân về các chủ đề này có tác dụng khơi dậy niềm tin.

Vì 3 tin sốt dẻo trên đều có ảnh hưởng thuận lợi đến cuộc đấu tranh giành tự do của nhân dân ta, cũng là 3 tin rất chẳng lành cho thế lực bành trướng Trung Quốc đang bị ngăn chặn và bị cô lập hơn bao giờ.

Con Gấu Liên Bang Nga to lớn ngủ Ðông lâu ngày đang bừng tỉnh vươn dậy để sớm hòa nhập trọn vẹn với thế giới dân chủ, vĩnh biệt những di sản bi thảm của chế độ cộng sản. Ðây là một bước tiến lịch sử, có tác động chính trị sâu rộng đến Ðảng Cộng Sản Việt Nam từng coi Liên Xô là thần tượng.

Bộ Chính Trị và đảng viên Ðảng Cộng Sản Việt Nam không thể không suy nghĩ khi thấy những người cầm quyền cao nhất ở Miến Ðiện biết đi những nước cờ quả đoán theo hướng hòa hợp dân tộc, hòa giải với những người bất đồng chính kiến, công nhận chính thức và công khai một tổ chức chính trị từng bị ngăn cấm và giải tán. Nhân dân Miến Ðiện ghi công họ đã biết đặt quyền lợi dân tộc lên cao nhất, bằng hành động chứ không ở đầu lưỡi. Sao người ta có dũng khí để dám làm việc ích nước lợi dân mà nhà cầm quyền ở Việt Nam lại không dám làm như họ? Ðây là câu hỏi cay nghiệt sẽ còn chất vấn lương tâm của tổng bí thư và 14 ủy viên Bộ Chính Trị đảng cộng sản Việt Nam, cho đến khi nào dân chủ thực sự và hòa hợp dân tộc trở thành hiện thực trên đất nước ta. Tình hình mới ở Miến Ðiện gần sát nước ta cổ vũ mạnh mẽ nhân dân ta kiên quyết đòi tự do và dân chủ trong thời gian sớm nhất, không thể trì hoãn.

Liên minh tay ba Hoa Kỳ-Nhật Bản-Ấn Ðộ được thắt chặt là sự tiếp nối của việc củng cố các trục liên minh tay đôi Hoa Kỳ-Indonesia, Hoa Kỳ-Úc, Hoa Kỳ-Nhật Bản, Hoa Kỳ-Ấn Ðộ trong năm qua. Ðó là sự hợp tác giữa 3 nước lớn có tiềm nâng hùng hậu về quân sự, đặc biệt có hải quân và kỹ thuật công nghiệp về biển rất phát triển. Ðúng vào lúc Trung Quốc công khai mưu đồ phát triển hải quân thành lực lượng nòng cốt của một cường quốc đại dương, thì cuộc thao diễn hải quân phối hợp 3 nước trên là sự trả lời rõ ràng cho mưu toan của Trung Quốc. Vành đai ngăn chặn, bao vây Trung Quốc đang khép chặt.

Sự kiện trên đây thúc đẩy chính quyền nước ta đáp ứng gấp sự chìa tay hữu nghị của Hoa Kỳ, Nhật Bản và Ấn Ðộ; sự đáp ứng cần rõ ràng, ngay thật, chân thành, không thể cứ lấn cấn, nửa vời, dấm dớ như vừa qua. Không thể vừa bắt tay hẹn hò kết bạn chiến lược và toàn diện với Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ấn Ðộ xong lại đi chầu thiên triều, giở trò bắt tay lắc đi lắc lại hàng chục lần, bá vai bá cổ hôn hít, rồi xưng tụng nhau đồng chí đồng chóe “Bốn Tốt” lại còn xoen xoét “16 chữ vàng.” Mà ông “đồng chí tốt” nhất trên đời này của họ lại đang là đối tượng chính nguy hiểm nhất mà 3 ông bạn nói trên đang ra sức ngăn chặn và kiềm chế công khai.

Thử hỏi làm chính trị mà cứ úp mở, không nhất quán, lộ trò hai mặt như thế thì làm sao tạo được niềm tin trong quan hệ quốc tế rất phức tạp và tinh tế hiện nay. Ai còn muốn làm bạn, chưa nói gì đến kết liên minh. Hãy nhìn rộng ra ngoài. Tại sao Miến Ðiện dám mạnh dạn nói không với Bắc Kinh, đình lại việc xây đập khổng lồ Mytsone trị giá hơn 5 tỷ đôla? Tại sao Ấn Ðộ dám bác bỏ lập tức đe dọa của Bắc Kinh cấm không được tham gia việc thăm dò và khoan dầu trong vùng biển quốc tế mà Bắc Kinh nhận xằng là của họ? Tất cả vấn đề là chọn bạn liên minh tốt đáng tin cậy, không có dã tâm bành trướng xâm lược. Thời cơ đang thuận lợi cho sự lựa chọn mới, rõ ràng sòng phẳng. Bộ Chính Trị hãy dựa vào ý chí của nhân dân, có dũng cảm chính trị đi một nước cờ đối ngoại mới dựa trên quyền tự quyết thiêng liêng của dân tộc.

Ba tin vui từ Liên Bang Nga, Miến Ðiện, Hoa Kỳ, Nhật Bản và Ấn Ðộ chứng minh một nét khởi sắc sang năm mới. Thế giới đang chuyển động phức tạp nhưng vẫn theo chung một hướng: hòa bình, dân chủ, độc lập dân tộc, hợp tác quốc tế, phát triển và phân phối công bằng thành quả phát triển. Ðây là những giá trị và yêu cầu phổ quát của cộng đồng toàn thế giới ngày nay.

Những khó khăn kinh tế tài chính toàn cầu không làm lu mờ được nét son tươi đẹp trên đây.

Những tin vui đầu Xuân, vui thật là vui, làm ấm lòng các anh chị em dân chủ đang bị giam cầm phi lý.

Chúng ta nhớ đến các bạn Cù Huy Hà Vũ, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Tiến Trung, Bùi Minh Hằng, Phạm Thanh Nghiên, Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần, Phan Thanh Hải,... cùng nhiều thanh niên Công Giáo đang phải ăn Tết xa gia đình. Mọi người Việt Nam yêu nước cảm phục luôn nghĩ đến các bạn.

Lời cầu mong khẩn thiết và thiêng liêng đầu Xuân là nhóm lãnh đạo tự giành quyền cai trị đất nước hãy tỉnh táo nhận rõ thời cơ mới, nghe cho thật rõ nguyện vọng của nhân dân, cải cách có hệ thống đường lối cai trị, thực hiện dân chủ chân thực, hòa nhập trọn vẹn vào thế giới dân chủ, cùng dân tộc mở ra kỷ nguyên Dân Chủ vẻ vang có thực chất trong lịch sử của nước ta.