Page 35 of 156

Posted: Sun Jan 31, 2010 7:19 am
by hoanghoa
'Triệu Vy đích thực đang mang bầu'

Đạo diễn phim “Cẩm Y Vệ” Lý Nhân Cảng xác nhận, “nàng Tiểu Yến Tử” đang nghỉ ngơi tĩnh dưỡng chờ ngày sinh con.

Image
Diễn viên Triệu Vy. Ảnh: Ent.
Theo Xinhua, ngày 29/1, đoàn phim Cẩm Y Vệ thực hiện buổi họp báo ở Thành Đô (Trung Quốc) chuẩn bị cho ngày tác phẩm điện ảnh ra mắt vào 4/2. Tuy nhiên, nữ diễn viên chính Triệu Vy (Zhao Wei) vắng mặt.

Giải thích lý do người đẹp họ Triệu không tham gia, đạo diễn Lý Nhân Cảng (Daniel Lee) lần đầu thừa nhận với giới truyền thông chuyện Triệu Vy mang bầu, nhưng đề nghị mọi người tôn trọng sự riêng tư của cô. Ông nói: “Hợp tác với Triệu Vy rất vui vẻ. Cô ấy là người thẳng thắn và thân thiện. Với tư cách bạn bè, chúng tôi muốn cho cô ấy một không gian riêng tư nên tôi mong mọi người cũng sẽ như vậy. Chúng tôi luôn ủng hộ cô ấy. Mọi người đều mong chờ đứa con của họ ra đời”.
Image
Tin đồn người đẹp mang bầu đã được xác nhận. Ảnh: Scol.
Hồi tháng 11/2009, báo chí Trung Quốc đồng loạt đưa tin Triệu Vy đã có người yêu là doanh nhân Huỳnh Hữu Long (Huang Long) - bồ cũ của Hoa hậu Hong Kong Diệp Thúy Thúy (Tracy Ip). Hai người có lần bị bắt gặp ra ngoài cùng nhau. Sau khi bộ phim Cẩm Y Vệ đóng máy, nàng Hoa đán “biến mất” và làm rộ lên tin đồn cô đã mang trong mình giọt máu của đại gia họ Huỳnh.

Thanh Hương

Posted: Mon Feb 01, 2010 2:26 am
by dailien
Image
Luân Vũ, Âm nhạc- sự thủy chung tuyệt đối
Dù quen biết anh đã khá lâu, giữa anh và tôi luôn có một khoảng cách vô hình khó hiểu. Tôi đổ tội cho bản tính bảo thủ, khô khan của mình đã không chấp nhận được cách phục sức táo bạo của anh. Và cũng chính sự cố chấp, độc đoán, tôi đã đánh mất cả một thời gian quá dài để có cơ hội biết được một con người, một đời sống đầy thanh âm, sắc màu.

Anh sinh ra trong gia đình nghệ sĩ. Bố anh là một họa sĩ nổi tiếng. Tuy nhiên, ông không muốn cho con mình nối nghiệp hội họa, sợ ông trời sẽ không bao dung cho cả hai thế hệ cùng một lúc. Bố Luân Vũ muốn anh phải tìm cho mình một chỗ đứng trong nghệ thuật, bất cứ lãnh vực nào.

Khi anh vừa chào đời, trên con đường từ bệnh viện về nhà, ôm đứa con trai chờ mong vào lòng, ông hân hoan, hớn hở... Một điệu luân vũ nhảy múa trong ông. Và, anh đã được mang tên Luân Vũ khởi đi từ thanh âm rộn rã, vòng quay nối nhau, bước chân mở hội, đón chào đứa con khởi từ tình yêu của một tài hoa Trịnh Cung và một người đàn bà yêu mê âm nhạc là Mẹ anh.

Trước ngày Luân Vũ đón chào cuộc đời, cha mẹ anh đã có một cháu gái. Khi hai chị em vừa tập tễnh bước vào trường học cũng là lúc họ đã được làm quen với những nốt nhạc đầu tiên. Bố anh đã có công mở cánh cửa tinh khôi dắt tay anh bước vào thế giới âm nhạc, nhưng người đã giúp anh sống trong thế giới đó thật thủy chung lại chính là Mẹ anh.

“Em biết không, Việt Nam muỗi quá nhiều nên mỗi lần anh tập đàn, Mẹ anh đã ngồi bên cạnh để quạt cho anh.” Hình ảnh đó đã đi theo anh suốt 30 năm. Luân Vũ kể lại thời thơ ấu của mình. Khác với những đứa trẻ khác, thời thơ ấu của anh không có trò chơi trẻ thơ, không có tiếng cười đùa nghịch ngợm. Luân Vũ rất thích đá banh, anh kể, khi còn bé, mỗi lần bạn anh đứng ngoài cửa rủ đi chơi, thì lập tức trong nhà vang lên tiếng nài nỉ, “Tụi con đi chỗ khác chơi, bác xin tụi con, tụi con để yên cho thằng Bờm tập đàn!” Ðiểm đáng ngạc nhiên là, khi kể lại những chuyện này, Luân Vũ không hề tỏ vẻ tiếc nuối một tuổi thơ, Bờm có vẻ rất hài lòng, hãnh diện với những lời rầy la của Mẹ.

Tiếng đàn ò e ò e mỗi sáng, là nỗi phiền hà của lối xóm. Mẹ anh phải tìm cách làm dịu sự bực tức của láng giềng. Phần anh, lúc ấy còn rất bé, nhưng cũng ý thức, và nhiều nhất là lòng thương Mẹ phải áy náy với những người chung quanh. Cái đứa bé 7 tuổi kia đã nghĩ ra được một cách.

Anh nói, “Em biết không, anh đã tìm được một chỗ thích hợp cho việc tập đàn, trong phòng tắm! anh vào phòng tắm, đóng kín cửa lại, nhúng chân vào xô nước, để trừ việc bị muỗi cắn, mà tiếng đàn lại càng hay hơn vì có tiếng echo.”

Anh kể lại giọng bình thản, trong khi tôi nghe như có muối xát vào lòng. Anh làm tôi thương cảm, tội nghiệp. Tôi chỉ mong anh nhỏ lại, còn tôi thì già đi, để có thể ôm anh vào lòng, thương mến, chở che. Cái sáng kiến vào phòng tắm tập đàn, chẳng giúp được anh dài lâu, anh cũng chỉ được an ổn trong một thời gian ngắn, cho đến một hôm, anh chưa kịp tập đàn thì ngoài cửa nhà anh, có ai đó treo một tờ giấy, “Bờm, nếu mày còn đàn lớn, tụi tao sẽ đánh cho mày chết luôn.”

Cũng may bản án của lũ trẻ trong xóm đã không được thực hiện. Năm 1982 Luân Vũ và chị thi đậu vào Nhạc Viện với số điểm khá cao. Tuy nhiên, đến năm 1989 khi bước vào bậc trung cấp, dù đạt điểm rất cao, anh vẫn không được vào bảng A, lý do đơn giản, theo đúng chữ của họ, anh là con Mỹ Ngụy. Và, đó cũng chính là ngày buồn bã nhất trong cuộc đời của anh. Luân Vũ được tin mẹ anh mang bịnh ung thư. Hai tình yêu lớn nhất trong đời anh, Âm Nhạc và Mẹ, vụt khỏi tầm tay.

Dù gì thì anh vẫn không bỏ cuộc. “Mẹ anh đã quá khó nhọc để cho anh học đàn, anh đâu thể bỏ được!” Luân Vũ nhấn mạnh với tôi. “Như vậy, phải chăng anh yêu đàn, vì anh quá yêu Mẹ?” Tôi hỏi. Anh cười.

Người Việt Nam thường nhắc đến những đứa trẻ chào đời trong thời chinh chiến, lớn lên trong một xã hội đổ nát nghèo nàn, ít nhiều, chúng cũng bị ảnh hưởng cuộc sống mà chúng không hề lựa chọn. Tuy nhiên, theo tôi, Luân Vũ là một người may mắn. Dù Luân Vũ đã sinh ra và lớn lên trong giai đoạn đó, nhưng anh lại tìm được cho mình một nơi ẩn trú, rất riêng, trong âm nhạc.

“Lúc vui cũng như khi buồn, cây đàn luôn bên cạnh anh. Cây đàn đã chia sẻ với anh biết bao nhiêu kỷ niệm trong cuộc sống!”

Cây đàn của Luân Vũ, một vật, mà, không ít người, trong thời điểm sau chiến tranh, cho đó là món xa xỉ phẩm. Món hàng xa xỉ phẩm đã là người tình, thật thủy chung, đối với Luân Vũ trong suốt ba mươi năm. Luân Vũ kể, “Bố mẹ anh đã khó nhọc tiết kiệm từng đồng để mua cho anh cây đàn, hỏi sao anh không quý cho được.”

Ðược hỏi về kỷ niệm với cây đàn, Luân Vũ kể, “Hồi anh 7 tuổi, một hôm ra sân xem đá banh, đến khi quay lại không thấy cây đàn đâu cả. Anh nghĩ chỉ có cách bỏ nhà đi mà thôi, anh không dám quay về nhà. Thế rồi anh lang thang, và thật là kỳ diệu, lúc đi ngang hàng bán đồ cũ, anh thấy một người đàn ông đang lau chùi cây đàn của mình. Anh đến xin lại nhưng ông kia đòi một cây vàng, trong khi gia đình anh lúc bấy giờ cơm không có ăn. Bố anh gom góp đồ trong nhà giá trị chỉ một chỉ vàng để chuộc lại cho con. Nhà coi như bó tay thì may quá, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn nói để ông can thiệp. Vậy là anh có lại cây đàn, và điều quan trọng nhất là anh không phải bỏ nhà ra đi, không phải xa Mẹ. Anh mang ơn người nhạc sĩ tài hoa.”

Hình như đối với anh, đàn không những là cầu nối cho anh đến với âm nhạc, mà nó như một hình tượng thiêng liêng đưa anh đến gần với Ðạo. Cách anh nói khiến tôi hiểu âm nhạc là Ðạo. Nói chuyện với anh, quanh co gì thì anh cũng quay câu chuyện về âm nhạc, Ðàn và Mẹ. Ðôi khi chuyện anh kể đầy huyền bí, khó tin...

“Em biết không, có lần trên đường đi học về, trong lúc đạp xe, dây đeo đàn của anh bị đứt. Anh hoảng quá, sợ đàn rơi, anh buông tay xe, chụp lấy đàn, anh mất thăng bằng té xuống. Một chiếc xe sà tới, xém chút xíu nữa là đâm thẳng vào người anh. Ông lái xe chửi anh như tát nước. Một người đi đường thấy vậy cũng năn nỉ giùm anh, “Thôi anh tha cho thằng nhỏ đi, nó té mà không lo thân chỉ lo chụp cây đàn, như vậy là biết nó nghệ sĩ đến mức nào rồi.” Luân Vũ như sợ tôi không nhận ra phép lạ trong câu chuyện của anh. Anh giải thích thêm, “Em thấy không, nhờ cây đàn mà ổng tha cho anh, rõ ràng cây đàn cứu anh!”

Tôi bật cười vì câu giải thích của anh. Tôi tiếp nhận câu chuyện hoàn toàn khác hẳn lời anh. Theo tôi, cây đàn không hề cứu anh, cũng chính vì cây đàn mà anh xém toi mạng. Và, cũng chính ý nghĩ này làm tôi vừa hổ thẹn, vừa tội nghiệp chính mình. Tôi đã không có được một tình yêu âm nhạc mãnh liệt như anh. Anh quá hồn nhiên, trong sáng, và nhân hậu biết bao! Tình yêu của anh dành cho cây đàn, dành cho âm nhạc biến anh thành một người cuồng tín. Phải vậy không? Trong ý nghĩ của tôi, hay là tôi quá thực tế, quá cằn cỗi. Ðối với anh, cây đàn là phép lạ, nó có khả năng biến tất cả tai ương trong đời anh thành ân phúc.

Bằng giọng nói đều, rất bình thản, như là nói về một chuyện cổ tích nào đó. Anh kể, có người con gái, thân thiết lắm! xinh đẹp vô cùng và anh cũng yêu thương vô cùng. Cô muốn có một cuộc sống an tâm, vững chắc, cô muốn có một gia đình bình an... Sự bình an, theo cô không đi cùng đường với âm nhạc. Ðêm tưởng niệm một nhạc sĩ vừa mới qua đời. Người nhạc sĩ anh ngưỡng mộ và yêu mến, cô gái khóc lóc, nài nỉ xin anh đừng đi. Cô ra tối hậu thư, nếu anh bước ra khỏi nhà với cây đàn, là..., anh đã lựa chọn!

Và, anh đã chọn. Anh, với chỉ cây đàn trên tay, cắm cúi đi. Ðêm đó anh đi bộ trên con đường Garden Grove đến tận nơi trình diễn. “Hôm đó trong lúc đàn, anh đã khóc, Anh đã khóc cho người nhạc sĩ tài ba mà anh yêu mến vừa qua đời. Anh khóc tình yêu dành cho âm nhạc của anh bị tổn thương. Ðiều anh biết rất rõ, rất rõ là anh không hề khóc cho tình yêu vừa chấm dứt.”

-Cuối cùng, tôi cũng hiểu được rằng, anh đã “lựa” rất nhiều, nhưng anh chỉ “chọn” một: Âm nhạc - Cây đàn, mà anh đã theo nó suốt cuộc đời anh. Thế đó ai dám nói “Ðàn ông không thủy chung?!”

Orchid Lâm Quỳnh

Posted: Tue Feb 02, 2010 7:33 am
by vuphong
Bài viết dưới đây của Du Tử Lê đã mang đến một số phản ứng đối với nhà thơ nổi tiếng này sau bài phản bác của Nguyễn Thị Minh Thuỷ.


Image

Trường hợp Nguyễn Tất Nhiên, những ngày tháng, cũ.
Du Tử Lê.
Cuối năm 1970, một buổi sáng khi tôi đang ngồi ở chiếc bàn quen thuộc, kê gần một cây cột của café La Pagode, ở ngã tư đường Tự Do và Lê Thánh Tôn, Saigòn cũ, với Nguyễn Đình Toàn, Nguyễn Quốc Trụ, Huỳnh Phan Anh…thì, một học sinh khẳng khiu, lênh khênh đẩy cửa bước thẳng vào. Cậu tiến thẳng tới bàn chúng tôi. Không chào hỏi ai, cậu hỏi tôi có phải là Du Tử Lê. Tôi gật đầu, thoáng nghĩ, có chuyện bất thường?
Thời gian đó, thỉnh thoảng một vài học sinh,sinh viên đi tìm tôi, ở La Pagode, không phải là chuyện hiếm. Nhưng cậu học trò này, với dáng vẻ ngơ ngáo, hiển nhiên không phải là học sinh hay, sinh viên ở Saigòn.
Với chiếc quần tây mầu xanh dài, cao trên mắt cá đã ngả màu, trên ngực áo chemise trắng khâu huy hiệu “Ngô Quyền,” chân đi dẹp Nhật, tay cầm tờ báo Văn và một cuốn sách nhỏ, cậu là khuôn mặt lạ, xuất hiện lần thứ nhất.

Mấy người bạn ngồi cùng bàn, im lặng. Tôi đứng dậy, chỉ cậu qua chiếc bàn trống kê sát khung kính lớn, trông vào đường Tự Do.
Sau khi cậu cho biết cậu tên “Hải,” tôi hỏi cậu uống gì, trong lúc tiếp tục kín đáo quan sát… Lúc người phục vụ lấy xong “order” đi khuất, tôi hỏi, ai chỉ Hải tới đây?
Cậu học trò tỉnh lẻ ngập ngừng:
“Em tìm anh đã lâu, viết thư cho báo Văn hỏi xin địa chỉ của anh, nhưng họ từ chối. Hỏi nơi anh làm việc, họ nói không biết…Sáng nay em phải tới thẳng toà soạn Văn. Em nói, em từ Biên Hoà lên, cho em gặp anh. Họ bảo, ‘ông Lê không có ở đây.’ ”
“Ai trả lời câu đó?”
“Cái ông mập, đen, ngồi bàn trong. Không phải ông ngồi bàn ngoài ốm, cao. Hình như đó là ông Trần Phong Giao.”
Tôi nói, đúng rồi. Đó là ông Trần Phong Giao. Người ngồi bàn ngoài, ốm, hơi cao là ông Gia Tuấn.
“Nói xong, ông ấy lại cúi xuống làm việc. Coi như không có em. Nhưng em cứ đứng nguyên. Chập sau, ông ngước lên, lại nhìn em. Ý hỏi em có còn cần gì nữa không? Em nói, em muốn mua một tờ Văn số mới và, có cách nào chỉ cho em địa chỉ hoặc, chỗ làm của anh, để em đi tìm anh vì em ở rất xa, Biên Hoà, chứ không phải ở đây…”
Vừa nói, Hải vừa rất tự nhiên rút một điếu thuốc của tôi, trên bàn, chấm lửa hút, tựa hơi thuốc giúp cho nhịp tim của cậu dập lại bình thường hơn, sau quãng đường dài. Hải tiếp, giọng có phần phàn nàn:
“Ông ấy vẫn cứ nhìn em, không nói. Cũng không nhúc nhích. Tới lúc đó, em mới chợt nghĩ ra, có thể ông ấy ngại em gây phiền hà anh hay, sao đó. Em bèn đưa cuốn thơ em có cầm theo đây, cho ổng thấy rằng, em chỉ muốn gặp anh để tặng anh tập thơ mà thôi.”
Hải đẩy cuốn thơ mỏng, khổ giấy viết thư gấp đôi, bìa đóng kim…về phía tôi. Nhan đề của cuốn thơ in dạng copy đó là “Thiên Tai.” Chữ lớn, đậm. Tên tác giả “Hoài Thi Yên Thy” chữ nhỏ, mảnh. Hải tiếp:
“Ông ấy không cầm xem, chỉ lên liếc nhìn. Cuối cùng, ông xoay người vói tay qua dẫy kệ phía sau, lấy cho em tờ Văn. Ông bảo, không lấy tiền, ‘cầm về Biên Hoà mà đọc.’ Rồi chỉ đường cho em ra đây. Ông dặn thêm rằng: ‘Ông DTL mặc đồ lính…Thường ngồi nơi chiếc bàn kê sát cột, nếu cậu đi vào tiệm café, từ phía đường Lê Thánh Tôn. Nhớ là cửa ở đường Lê Thánh Tôn chứ không phải Tự Do…’ ”
Những tưởng mục đích của Hải chỉ là muốn trao tận tay tôi, tập thơ. Khi tôi nhắc Hải nên trở lại Biên Hoà sớm, để đi học thì, Hải cho biết thêm: Cậu được nghỉ học nguyên ngày. Và, ngập ngừng ngỏ ý nhờ tôi đưa tập thơ cũng như mấy bài thơ của cậu cho báo Văn.
“Em gửi bài cho Văn bao giờ chưa?” Tôi hỏi.
Hải đáp, có. Nhiều lần. Nhưng Văn không đăng một bài nào.
Cầm lên tập thơ mỏng của Hải, lật vài trang, tôi nghĩ, ngay cái bút hiệu “Hoài Thi Yên Thy” của cậu, đã tố cáo tính cách văn nghệ học sinh, thành viên thi văn đoàn tỉnh lẻ rồi! Ngay cai tên, tự nó cũng đủ khiến những người phụ trách việc chọn thơ cho Văn, không tin tưởng!
Tôi nói ra ý nghĩ của mình với Hải. Tôi bảo, tốt nhất Hải nên chọn tên thật. Vì cái tên “Hoài Thi Yên Thy” nghe cải lương, học trò. Không ổn.
Thời gian đó, tại Saigòn cũng như ở các tỉnh, phong trào thành lập thi văn đoàn được mùa, nhiều như cỏ sau mưa. Tôi biết, có những thi văn đoàn chỉ một hai người. Thậm chí, một người cũng có thể nghĩ ra tới hai, ba tên thi văn đoàn khác nhau.
Tôi chờ đợi Hải sẽ tỏ dấu khó chịu trước lời nói thẳng của mình. Nhưng không. Hải mím môi. Im Lặng. Bất ngờ Hải nói:
“Vậy anh nghĩ cho em một cái tên đi!”
Tôi cho Hải biết, cách tốt nhất là nên lấy tên thật của mình. Hay, dở gì, nó vẫn là cái tên bố mẹ đặt. Còn đã chọn bút hiệu thì, việc đầu tiên, bút hiệu đó phải lạ; dù vô nghĩa. Bút hiệu lạ sẽ dễ gây nhiều chú ý cho người đọc, tôi giải thích.
Nêu bút hiệu và, nghệ danh vài nhà văn, ca sĩ làm thí dụ, tôi nói:
“Đó là những cái tên vô nghĩa. Nhưng trước khi trở thành quen thuộc thì, nó là những cái tên lạ…” Tôi thêm:
“Có khi nó lạ ở chính sự…vô nghĩa của nó!”
Hải bật cười lớn. Tiếng cười của hải khá đặc biệt. Nó có thể khiến người chung quanh giật mình. Hải nói ngay:
“Vậy anh nghĩ cho em một cái tên…lạ đi. Không có nghĩa cũng được…”
“Em để vài bữa nữa được không?
Hải năn nỉ:
“Không anh. Em ở tuốt Biên Hoà, lại không có xe, đâu thể chạy lên, chạy xuống thường xuyên được. Em nói rồi, một cái tên không có nghĩa gì cũng được…”
Tôi nhìn đồng hồ. Đã hơn 10 giờ. Tôi biết tôi phải có mặt ở chỗ làm việc, trước 11 giờ, là chậm nhất. Nhưng, Hải không cho tôi cảm tưởng Hải sẽ buông tha tôi sớm. Như thể, việc tôi phải nghĩ cho cậu một cái tên là chuyện đương nhiên. Chẳng biết có phải hai chữ “đương nhiên” thoáng hiện ra, đã dẫn tôi tới hai chữ …“tất nhiên”?
Tôi hỏi Hải:
“Em họ gì?
“Em họ Nguyễn.”
Tôi mượn Hải cây bút, viết ba chữ xuống bìa sau tập “Thiên tai”:
“Nguyễn-Tất-Nhiên.”
Hải cười rộ. (Vẫn tiếng cười có thể làm giật mình, chung quanh.) Tôi hỏi có hiểu hai chữ “tất nhiên,” Hải gật đầu. Tôi tiếp:
“Tất nhiên là…như thế….Mặc dù “tất nhiên như thế” nào thì chỉ có thời gian mới trả lời được. Có khi, cuối cùng, câu trả lời mà em sẽ nhận được, là …tất nhiên một …thiên tai!”
Tới bây giờ, tôi cũng không hiểu bắt nguồn từ động lực nào mà, chẳng những tôi không dị ứng với cung cách ứng xử tự nhiên, không phép tắc của người Nam như Nguyễn Tất Nhiên mà, tôi còn chiều ý Nhiên, trước nhiều bất ngờ, phiền toái Nhiên mang đến cho tôi.
Bất ngờ đầu tiên là, ngay ngày hôm sau (chứ không phải nhiều ngày như Nhiên nói,) Nhiên tìm tôi ở phòng Báo Chí, cục Tâm Lý Chiến, giữa lúc tôi đang làm việc. Lần này, Nhiên đưa tôi một xấp thơ viết tay, với bút hiệu Nguyễn Tất Nhiên. Nhiên muốn tôi mang ngay ra báo Văn, cho Trần Phong Giao. Tôi hứa tôi sẽ làm. Nhưng:
“Em về đi. Anh đang phải làm việc. Thêm nữa, không thể có kết quả ngay. Và, cũng đừng hy vọng, nhiều ở lần gửi này.”
Nhiên đồng ý:
“Nhưng em vẫn chờ anh. Đằng nào anh cũng đi ăn trưa phải không?”
“Em chờ ở đâu?
“Bên kia đường.”
Không biết từ lúc nào mà Nhiên biết bên kia cục Tâm Lý Chiến, ở cuối đường Hồng Thập Tự, có một quán nhỏ, do một người lính trong cục mở, cho vợ đứng bán.
Hôm đó, mãi quá trưa tôi mới tạm xong công việc của mình. Những tưởng khi đi ra, Nhiên sẽ không còn đó. Nhưng tôi nhầm!
Bất ngờ kế tiếp, là sau này, gần như ngày nào Nhiên cũng tìm tôi. Chờ đợi. Khi ở tiệm café. Khi ngay trong căn phòng nhỏ mà chúng tôi thuê gần chỗ làm. Với thời gian, Nhiên trở thành một “thành viên” trong gia đình nhỏ của chúng tôi từ lúc nào, tôi cũng không nhớ nữa.
Khổ nỗi, khi số ngày, đêm Nhiên ở trong căn phòng nhỏ của chúng tôi gia tăng bao nhiêu, thì số lần mẹ tôi đến thăm chúng tôi, lại giảm đi bấy nhiêu.
Số là mẹ tôi, vốn là người Bắc thuộc loại cổ xưa. Rất cực đoan! Bà không chịu nổi Nhiên. Nhất là những lần bà ghé thăm chúng tôi, nếu Nhiên đang có mặt thì, bao giờ Nhiên cũng giương mắt nhìn mẹ tôi như muốn hỏi:
“Bà tìm ai?”
Tôi nhắc Nhiên nhiều lần, nên chào mẹ tôi một tiếng. Tôi cũng từng nói với mẹ tôi rằng, Nhiên là người Nam không quen chào hỏi, chứ không phải cố tình hỗn láo!
Tuy nhiên, nói cách nào thì, mẹ tôi cũng không chịu nổi Nhiên. Bà không thể hình dung mỗi lần đi thăm con cháu của bà, là một lần bà phải gặp một thằng nhỏ giương mắt hỏi bà “muốn tìm ai?!”
Ngoài thói quen nhìn mẹ tôi như “tra khảo,” Nhiên còn là người cực kỳ bừa bãi. Những khi bận làm…thơ, Nhiên dùng hết tất cả 5 chiếc phin pha café có sẵn trong nhà, xong vứt chúng vào bồn rửa mặt. Tàn huốc lá và “bản thảo,” những tờ giấy viết nháp của Nhiên thì…khỏi nói. Nhiên không chỉ vung vãi khắp bàn viết của tôi mà, còn phủ…đầy sàn gạch…
Nhiều lần mẹ tôi nói, bà rất ngứa mắt! bà đi thăm con cháu chứ không phải để “hầu” cái ông “đầu gối cao quá mang tai” kia.
Chẳng là, khi làm thơ, Nhiên thường ngồi co một trên trên ghế. Thỉnh thoảng Nhiên cũng co cả hai chân, như kiểu ngồi nước lụt. Mà, chân của Nhiên thì dài thật!
Cũng lại là một bất ngờ nữa, với tôi (dù chưa phải là bất ngờ sau cùng!) - - Khi một hôm Nhiên ngỏ ý nhờ tôi chuyển thơ của Nhiên cho nhạc sĩ Phạm Duy, phổ nhạc. (Trước đó, Nhiên cũng đã có một bài thơ do Nguyễn Đức Quang soạn thành ca khúc. Đó là bài “Vì tôi là linh mục.” Nhưng không ai biết. Có thể nó không hay, ít được hát?)
Thời gian kể từ đầu năm 1970 tới giữa năm 1974, với sự đồng ý của Thành “Hiện Đại,” tôi là người xuất bản gần như tất cả những tập nhạc của họ Phạm. Ngay tập “Ngày đó chúng mình” của ông, tôi cũng là người tái bản, khi ông ngỏ ý muốn được in lại. Thuở đó, hai hoạ sĩ tôi nhờ trình bày bìa các tập nhạc nhiều nhất là Hồ Thành Đức và Nguyên Khai. (Cả hai người này, hiện cư ngụ tại quận hạt Orange County .)
Vì công việc đòi hỏi, tôi thường phải liên lạc với nhạc sĩ Phạm Duy. Sự gặp gỡ của chúng tôi, không chỉ là chuyện bản quyền mà, còn là nhu cầu thoả thuận với nhau, trong việc chọn lựa các bản nhạc cho từng chủ đề hoặc, chia đều những bản nhạc “ăn khách” cho nhiều tuyển tập khác nhau.
Một buổi tối, tôi đến gặp họ Phạm ở cư xá Chu mạnh Trinh, Phú Nhuận. Sau khi giao cho ông bản lay out một tập nhạc mới (để ông dò lại phần nốt nhạc, trước khi bỏ in;) tôi đưa ông cuốn thơ “Thiên Tai” của Nguyễn Tất Nhiên. Nhờ ông, nếu được, phổ nhạc hộ một bài cho Nhiên. Tôi kể thật với ông rằng, từ nhiều tháng qua, Nhiên mơ ước một lần có thơ đăng trên tạp chí Văn. Nhưng tôi không giúp được. Tôi thất bại. Lần nào Trần Phong Giao cũng bảo tôi, thơ học trò. Không đăng được. Có lần họ Trần còn nói thẳng với tôi rằng:
“Mày đừng đưa thơ thằng này cho tao nữa. Thơ của nó không thích hợp với báo Văn…”
Nhạc sĩ Phạm Duy nhận lời. Tôi biết, ngoài những bài thơ chọn để phổ nhạc, ông còn có tài phổ nhạc bất cứ một bài thơ nào, nếu tác giả tìm đến, nhờ cậy, và trả tiền đúng giá. Vấn đề còn lại, như phổ biến, in ấn… thuộc về nhà thơ đó. Ông hoàn toàn “vô can.”
Ba ngày sau, trong một lần gặp lại nhau vì công việc, nhạc sĩ Phạm Duy cho biết, ông đã phổ gần xong, bài “Thà như giọt mưa.” Ông nhờ tôi nhắn Nhiên lên gặp ông. Trước khi tôi về, ông nói, nán lại chút, để ông hát thử cho nghe. Những chỗ chưa có ca từ thì ông “ư…ư…” Hát xong, ông cười, bảo, kinh nghiệm của ông, cho biết nó sẽ là một bản nhạc “ăn khách.”
“Tôi nghĩ, tụi trẻ sẽ thích lắm, với cái ‘triết lý nôm na’… “Có còn hơn…không. Có còn hơn…không” này.
Ngay hôm sau, Nhiên từ Biên Hoà về, “bay” thẳng đến nhà họ Phạm.
Bản nhạc ra đời với những chi tiết không hề có trong bài thơ. Cụ thể như câu “Khiến người tên Duyên đau khổ muôn niên,” cùng nhiều câu khác.
Đó là phần lời thêm vào do nhạc sĩ viết, căn cứ vào những gì Nhiên kể.
Đúng như nhạc sĩ Phạm Duy tiên đoán, chỉ trong một thời gian rất ngắn, bản nhạc đã trở thành “top hit.”
Về khả năng “bắt mạch thị trường,” các nhạc sĩ thời đó, đã “bầu” nhạc sĩ Phạm Duy là “Vua của các vua.” Nên không ai ngạc nhiên, khi thấy họ Phạm liên tiếp phổ thêm một số thơ của Nguyễn Tất Nhiên, như “Hai năm tình lận đận,” “Em hiền như ma Sơ”…
Qua những ca khúc vừa kể, một sớm một chiều, Nguyễn Tất Nhiên nổi tiếng khắp nơi - - Như một hiện tượng, chưa từng xẩy ra. Ngược hẳn với sự “yên ắng” của các diễn đàn văn học: Không một bài thơ nào của Nhiên, xuất hiện.
Sự nổi tiếng mau chóng và ồn ào này, đưa Nhiên tới việc được Đinh Tiến Luyện, Phạm Chu Sa ở tuần báo “Tuổi Ngọc” (của Duyên Anh) xin thơ.
Sự “bộc phát” giao thiệp của Nhiên, từ cá I “gốc” là toà soạn Tuổi Ngọc, đã dẫn tới những bất ngờ khác cho tôi. Đó là sự kiện, Nhiên đem về nhà, giới thiệu với tôi, rất nhiều người bạn mới của Nhiên! Khi thì đó là Vũ Hữu Định, Phạm Chu Sa. Khi thì Nguỵ Ngữ, Nguyễn Đăng Hà. Lúc thì Hoàng Yên Trang, Hạc Thành Hoa (về từ Sa Đéc.) Khi thì Bùi Thuận, Vũ Hà Du, về từ Vũng Tầu…
Căn phòng nhỏ xíu của chúng tôi, nhiều ngày không đủ chỗ ngồi cho Nhiên và các bạn của Nhiên.
Năm 1972, khi nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng thay thế nhà văn Trần Phong Giao trong vai trò Thư ký toà soạn Văn, Nguyễn Tất Nhiên lại nhờ tôi đưa bài cho Văn. Tôi cũng kể thật với Hoàng về ước mơ của Nhiên, ít nhất một lần, thấy thơ mình được đăng trên Văn. Ông nhận lời giúp.
Sau khi Nguyễn Tất Nhiên mất ngày 3 tháng 8 năm 1992 tại miền nam California (*), nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng (hiện cư ngụ tại thành phố San Jose,) đã kể lại chuyện này, trong một bài viết có tính cách tưởng niệm Nguyễn Tất Nhiên.
Nhưng, khi nhà văn Mai Thảo, thay thế Nguyễn Xuân Hoàng, trông nom bài vở tạp chí Văn thì, Mai Thảo lại có cùng quan điểm với Trần Phong Giao...
Để chấm dứt bài viết này, tôi muốn bước nhanh tới cái mà, tôi tạm gọi là “bất ngờ cuối cùng,” xẩy ra một buổi trưa ở phòng Báo Chí, cục Tâm Lý Chiến, Saigòn đầu năm 1974.
Đó là khi tôi được mời qua phòng làm việc của Trung tá Nguyễn Đạt Thịnh, (hiện cư ngụ tại Houston , Texas ,) trưởng phòng Báo Chí mà, tôi là nhân viên.
Ông kể, nhạc sĩ Phạm Duy mới gặp ông, cho biết, Nguyễn Tất Nhiên đòi Phạm Duy phải đưa cho Nhiên 1 triệu đồng. Nhiên cần tiền mua một chiếc xe Honda, đi học. Nếu không, Nhiên sẽ nhờ luật sư đưa họ Phạm ra toà.
Sau đó, Trung tá Thịnh thuật lại lời của nhạc sĩ Phạm Duy cho rằng, tôi là người “gây hoạ” cho ông. Bởi vì, nếu tôi không năn nỉ ông phổ nhạc thơ của Nhiên, thì đã không có vụ đòi tiền này. Chưa kể, ngoài phần nhạc, chiếm 50% một ca khúc, của Phạm Duy; ông còn là người viết thêm nhiều câu không có trong nguyên bản bài thơ. Điều đó có nghĩa, ngay ở phần ca từ, ông cũng đã chiếm tới 25%. Tóm tắt, mỗi ca khúc phổ từ thơ Nguyễn Tất Nhiên, phần của Phạm Duy là 75%. Phần Nguyễn Tất Nhiên chỉ có 25%. Chưa kể:
“Nếu không có Phạm Duy thì ai biết Nguyễn Tất Nhiên là ai?!”
Đấy là câu hỏi nhạc sĩ Phạm Duy nhờ trung tá Thịnh chuyển cho tôi, để tôi chuyển cho Nhiên.
Người xếp trực tiếp của tôi kết luận:
“…Đã không phải trả tiền cho nhạc sĩ thì thôi, nay lại đòi tiền bản quyền thì…đó điều có phần quá đáng…”
Kết thúc câu chuyện, trung tá Nguyễn Đạt Thịnh muốn tôi thuyết phục Nhiên, huỷ bỏ vụ đe doạ kiện cáo. Nhạc sĩ Phạm Duy đồng ý sẽ đưa Nhiên một khoản tiền, ít hơn con số đòi hỏi. Như một quà tặng chứ không phải là chia tiền tác quyền…
Trước khi trả lời, tôi hỏi trung tá Nguyễn Đạt Thịnh rằng:
“Thưa Trung tá, tôi nghĩ không biết có đúng không rằng, chuyện này nằm ngoài công việc của phòng Báo Chí?”
Ông gật đầu:
“Đúng. Chuyện này nằm ngoài công việc của phòng. Nhưng tôi thấy anh Nguyễn Tất Nhiên đó, đối xử với ông Phạm Duy như thế, có phần không đúng. Và, tôi cũng nghĩ như ông Phạm Duy, anh là người duy nhất có thể can thiệp. Vì thế mà ông ấy tìm đến đây.…”
Tôi cũng gật đầu:
“Vâng. Thưa trung tá, nhưng đó là việc riêng giữa cá nhân tôi với ông Phạm Duy và Nguyễn Tất Nhiên…”
“Nhưng ý anh ra làm sao?” Trung tá Thịnh sốt ruột, hỏi.
Tôi đáp:
“Xin trung tá nói hộ với nhạc sĩ Phạm Duy rằng, ông ấy nên đưa Nguyễn Tất Nhiên số tiền mà Nhiên nó đòi. Nếu không, tôi cũng sẽ đứng về phía nó!”
Hôm nay, khi viết những dòng chữ này, nhớ lại, phản ứng của mình, tôi thấy, ít nhiều bắt nguồn từ tự ái! Phản ứng tâm lý tức thời của tôi lúc đó là, tại sao nhạc sĩ Phạm Duy không nói chuyện thẳng với tôi mà lại nói qua ông xếp của tôi, như một “áp lực” hay “doạ nạt!” Tới thời điểm đó, giao tình giữa tôi và họ Phạm vẫn tốt đẹp.
Tuy nhiên, cuối cùng, dường như nhạc sĩ Phạm Duy đã trả cho Nhiên một khoản tiền…Tôi không biết, cũng không hề hỏi con số. Nhưng tôi nghĩ, nhiều phần, là con số không nhỏ.
Tôi dùng hai chữ “dường như’ vì kể từ khi chúng tôi dọn nhà về Làng Báo Chí, phía bên kia cầu Xa Lộ (trước khi vụ Nhiên đòi chia bản quyền trở thành ồn ào,) Nhiên rất ít tìm tôi.
Trước 30 tháng 4 - 1975, tôi có gặp lại Nhiên một lần, ngay trước phòng Báo Chí, cục Tâm Lý Chiến. Nhiên đến tìm tôi, với chiếc xe Honda, còn rất mới.

Du Tử Lê,
( Calif. Nov. 09)
Chú thích:
(*) Nguyễn Tất Nhiên tên thật Nguyễn Hoàng Hải, sinh ngày 30 tháng 5 năm 1952, tại quận Đức Tu, tỉnh Biên Hoà. ___

Posted: Wed Feb 03, 2010 4:42 pm
by thienthanh

Image

Uống trà một cách khoa học - Những trường hợp nên uống trà :

1. Sau khi thức dậy nên uống một tách trà thanh đạm

Vì sau một đêm dài cơ thể đã tiêu hao một lượng nước đáng kể, uống một tách trà thanh đạm vào buổi sáng, không những kịp thời bổ sung lượng nước mà còn có thể hạ huyết áp. Nhất là người cao tuổi, sau khi thức dậy vào sáng sớm, uống một tách trà thanh đạm, sẽ có lợi cho sức khỏe. Lý do phải pha trà thanh đạm, là để tránh màng lót dạ dày bị tổn hại.

2. Sau khi ăn nhiều dầu mỡ nên uống trà

Đản bạch chất trong những thức ăn nhiều dầu mỡ thường rất phong phú, thời gian tiêu hóa chậm khoảng bốn tiếng đồng hồ, vì thế sau khi ăn sẽ không thấy đói. Thức ăn tồn tại quá lâu trong dạ dày, sẽ làm cho chúng ta cảm thấy khát nước. Lúc này uống trà đậm sẽ có lợi trong việc nhanh chóng đưa thức ăn vào đường ruột, làm cho dạ dày dễ chịu hơn. Nên uống trà nóng và không quá nhiều, nếu không sẽ làm loãng dịch dạ dày, ảnh hưởng đến tiêu hóa.

3. Sau khi ăn mặn nên uống trà

Ăn mặn không có lợi cho sức khỏe, nên nhanh chóng uống trà để lợi tiểu, bài tiết lượng muối dư thừa. Uống trà, nhất là loại trà xanh có hàm lượng catechins cao, có thể ức chế sự hình thành những chất dẫn đến ung thư, tăng cường khả năng miễn dịch.

4. Sau khi ra nhiều mồ hôi nên uống trà

Lao động thể lực quá sức và làm việc trong nhiệt độ cao, sẽ tiết ra lượng mồ hôi rất lớn, lúc này uống trà có thể nhanh chóng bổ sung lượng nước cho cơ thể, giảm nồng độ của máu và sự đau nhói của bắp thịt, từng bước loại trừ cảm giác mệt mỏi.

5. Làm việc trong hoàn cảnh bức xạ nên uống trà

Công nhân khai thác quặng mỏ, bác sĩ y tá làm việc trong bộ phận chụp X quang, người làm việc thường xuyên trước máy tính hay ngồi xem tivi trong một thời gian dài và những ai làm việc với máy photocopy nên uống trà. Vì những công việc trên ít nhiều bị tác dụng bức xạ, trà có tác dụng chống bức xạ nhất định, uống trà thường xuyên có lợi trong việc phòng hộ.

6. Những người làm việc về khuya và lao động trí óc nên uống trà

Trong trà có caffeine, giúp cho đầu óc tỉnh táo, vì thế nhà văn, học giả và người hoạt động trí óc vào ban đêm nên uống trà, sẽ có lợi cho hoạt động tư duy, tăng cường trí nhớ, nâng cao hiệu quả công việc.

7. Ca sĩ và người thuyết trình nên uống trà

Làm việc một thời gian dài với cổ họng của mình, nên nhấp những ngụm trà để dưỡng cổ họng và thanh quản, cũng có thể phòng chống bị khàn giọng và xảy ra tình trạng viêm họng.

8. Người hút thuốc nên uống trà

Người hút thuốc nên thường xuyên uống trà, chủ yếu có bốn lợi ích:

(1) Giảm nguy cơ bị ung thư do hút thuốc: Hàm lượng catechins trong trà có thể ức chế chất Freeradical do thuốc lá gây ra, phòng ngừa khối u.

(2) Có thể giảm nhẹ ô nhiễm bức xạ do hút thuốc: Chất catechins và lipoxygenase trong trà có thể giảm nhẹ sự gây hại của bức xạ đối với cơ thể con người, có tác dụng bảo vệ chức năng tạo máu. Kết quả của những lần thí nghiệm cho thấy, dùng trà để trị bệnh bức xạ nhẹ do phóng xạ gây ra hiệu quả của nó đạt đến 90%.

(3) Phòng chống bạch nội chướng phát sinh do hút thuốc: Hút thuốc là kẻ thù lớn trong việc làm tổn hại mắt, thúc đẩy phát sinh bạch nội chướng. Carrotere trong trà cao hơn gấp nhiều lần so với rau cải và trái cây thông thường, Carrotere không chỉ có tác dụng phòng chống bạch nội chướng và bảo vệ mắt, đồng thời còn có thể ngừa ung thư, giải độc thuốc lá.

(4) Bổ sung vitamin C bị tiêu hao khi hút thuốc: Vitamin C trong trà khá phong phú, nhất là trà xanh, người hút thuốc uống trà xanh có thể hấp thu lượng vitamin C thích hợp, đặc biệt là khi bạn kiên trì dùng trà xanh, hoàn toàn có thể bổ sung sự thiếu hụt vitamin C do hút thuốc gây ra, duy trì được trạng thái cân bằng, loại trừ chất Freeradical, tăng cường khả năng đề kháng của cơ thể.

9. Người bị bệnh tiểu đường nên thường xuyên uống trà

Triệu chứng của bệnh tiểu đường là đường huyết quá cao, khát nước, mất sức. Uống trà có thể hạ đường huyết một cách hiệu quả, có tác dụng giải khát và tăng cường thể lực. Bệnh nhân thông thường nên uống trà xanh, lượng trà có thể tăng dần một ít và pha uống mấy lần trong một ngày.

10. Khi tháo dạ (tiêu chảy) nên uống trà

Tháo dạ rất dễ làm cho cơ thể thiếu nước, uống nhiều trà đậm, hóa chất hỗn hợp trong trà có thể kích thích màng lót dạ dày, giúp hấp thu lượng nước nhanh hơn so với uống nước thông thường, nhằm nhanh chóng bổ sung lượng nước cần thiết cho cơ thể.



Never Look Down on Anybody Unless You're helping Them up.
-Jesse Jackson-

Posted: Thu Feb 04, 2010 3:08 am
by vuphong
Image


Hotmail story

Quả là danh bất hư truyền. Hiện nay trên thế giới hầu như có trên 22 triệu người xử dụng hộp thư điện tử email của Microsoft Company trong phần Internet Exlporer, mà ai ai cũng biết danh, chúng ta gọi là "HotMail".. Ai ai cũng thích danh từ: "Hot Meal" (thức ăn nóng hổi vừa thổi vừa ăn), dĩ nhiên ngon lành hơn "Cool Meal" (thức ăn nguội ngắt). Khi nhóm Internet Explorer tung ra thị trường vi tính computer thì công ty Microsoft của Bill Gates từ hạng 5 nhảy lên hạng nhất rồi. Trước đó thì Microsoft phải nhường bước cho sư tổ sáng chế phần vụ Internet hay gọi là www (nghĩa là World Wide Web) mà ta gọi là: "Netscape". Netscape vang danh thiên hạ nhờ phần gửi thư điện tử email rất dễ dàng.

Rồi vật đổi sao dời Microsoft nhào lên thị trường mà dịch vụ thu hoạch hàng năm về phần nay lên đến cả chục tỉ USD... Làm trùm những hạt kim cương lóng lánh, hãng De Beers tại Nam Phi số thu hoạch hàng năm vẫn còn là một con số khiêm nhường, rất tốn công đào mỏ, rồi cắt gọt, rồi đánh bóng.... Nhiều khi thị trường bị đứng lại rồi nhiều mỏ khai ra của nhiều tư nhân tại Brazil , Peru , Siberia Nga , Indonesia v.v... Làm trùm sản xuất xăng dầu hiện nay là BP, cái mà dân Việt Nam gọi là British Petroleum mà hiện nay đẩy Côngty nhãn hiệu con sò Shell sang một bên, một góc vách tường, lợi tức cũng không dễ dàng như vậy.

Khi Internet Explorer của Microsoft tung ra chưởng độc địa mang tên là "HotMail", thì quần hùng đều kinh ngạc. Thư điện tử mang danh "HotMail" này quả là tuyệt chiêu, thiên hạ vô địch.
Bill Gates lúc đó dang sầu lo vì trên giang hồ có nhiều tay quá mạnh về công phu và chưởng lực như Yahoo, AOL (American Online), Netscape, Oracle, Linux và tại Đại Hàn, Tokyo, Singapore, Paris nữa và nữa... Họ ra đời lâu hơn mình, thiên hạ ai ai cũng nể phục còn mình thiên hạ chỉ nể phục về phần mềm Window mà thôi. Khi mình mới nhảy vào thị trường vô tận Internet thì bị thiên hạ xúm nhau thưa kiện rồi. Mà quan tòa tại Washington DC đang có mòi không ưa bản mặt mình. Bạn bè mình nói không phải tại Explorer mà tại mình giàu quá. Rồi còn màn dịch vụ thư điện tử eMail của mình bị thiên hạ complain quá nhiều đến nỗi quá tải. Nhóm "technical support" của ban Department Service trong công ty Microsoft ngày đêm ăn ngủ không yên vì phần email của mình không ngon có nhiều lổ hổng.

Nhiều khi chạy email thì bị "hang" (bị treo giò) ngang xương. Phần "encryption" (chuyển mã font) hay bị xào xáo. Bill Gates nhiều khi ngao ngán mình cho không (free) phần dịch vụ Internet gọi là Explorer cho thiên hạ mà vẫn chưa yên. Mặc dầu Netsscape 4.0 đang tính tiền thiên hạ mà thiên hạ vẫn khoái. Mình nghe tại Việt Nam Netscape 3.0 dân Việt đang surf web loại này vẫn còn linh nghiệm còn mình tung Explorer thì bị dân Việt gửi thư than phiền là "thư đọc không được" vì font chuyển mã không chịu làm việc trong phần View không làm việc với thứ chữ vừa viết theo kiểu alphabet mà lại có dấu nữa.
Nhưng khi bảo kiếm "HotMail" ra đời thì tung hoành thiên hạ. Thiên hạ võ lâm bị chấn thương trầm trọng. Rồi nhiều tay "Tin tặc" Hacker trên quả địa cầu ráng tung vi trùng virus mà giết cho bằng được HotMail cũng chưa thành công phỉ chí cho tụi nó.
Vậy "HotMail" quả là bảo kiếm thống trị giang hồ. Vậy HotMail là gì mà hay quá vậy?

Anh chàng da đen thui, người Ấn Độ mang tên khó đọc "Sabeer Bhatia" anh từ phi cơ 747 Air India, bay ngót 22 tiếng đồng hồ, đáp xuống phi trường quốc tế Tom Bradley tại Los Angeles, California. Tưởng mọi người tung hô khi anh đáp xuống xứ lạ này nhưng tại sao thiên hạ vô tình với mình quá vậy? Hành lý của anh nhẹ hều trong đó có vài bộ áo quần cho hợp thời trang Tây Phương. Chớ tại Calcutta anh dùng nhất bộ nhất phẩm là xà rông quanh năm màu trắng mà vẫn thấy văn minh như thường. Còn tại đây, cà vạt và bộ veste nhạt màu làm anh đổ mồ hôi, mặc dầu người Mỹ nói rằng vừa vào mùa Thu.

Anh khát nước, nhưng anh thấy góc tường có một thằng Mỹ đang đá ình ình vào cái máy bán nước ngọt rồi nó chưởi là "đồ ăn cướp tiền của tao". Máy bán nước ngọt Coca Cola có 3 cái góc tường, một cái đang bị đá ình ình còn cái kia tắt điện cái kia có điện sáng chói... nhưng anh Sabeer Bhatia đâu dám thọt giấy bill 100 đô của anh mà mua nước lỡ máy nó giựt luôn... thì biết ai mà thưa kiện? Trong túi anh chỉ có duy nhất giấy 100 bill dolar này và tờ giấy nhập học "không phải trả tiền học phí" mà cha mẹ anh gọi là "scholarship" của trường U.C.L.A cho anh học 2 năm mà thôi. Ngày mà anh đáp xuống phi trường Los Angeles , mọi chuyện bỡ ngỡ hết. Ngày đó là ngày 23 tháng 9 năm 1989. Anh vừa đúng 19 tuổi 3 tuần.

Anh vào học được 2 năm thì xong rồi, nhưng còn 2 năm để lấy bằng Bachelor Science thì cần thêm 2 năm mới được. Môn mới ra đời là "Computer Science" rất ít người học, thày giáo thì dạy đằng trời học trò hiểu đằng nẽo. Anh đành phải làm giấy tờ loan tiền học phí mà học cho xong. Chớ bằng kỹ sư vi tính Computer nửa vời 2 năm thì ai dám mướn? Phải 4 năm mới được chớ? Nhưng vì anh không phải là cư dân Resident tại California , anh mang quốc tịch Cộng Hòa Ấn Độ mà. Như vậy tiền học phí phải đắt gấp 2 lần cho sinh viên ngoại quốc như anh mới được. Anh thầm nghĩ như vậy tụi Mỹ nó cho mình tay mặt rồi lấy lại tay trái rồi. Như vậy nợ nần rồi ai trả đây? Họ nói ra trường rồi trả không sao. Nhưng ra trường mình đâu có muốn ở tại đây? Mình được người cậu họ tại Bangalore Ấn hứa dẫn mình vào một hãng vi tính nổi tiếng của tụi IBM ngay trung tâm Thủ đô New Dehli rồi mà, nhưng nếu tình tiền nợ nần này và lương tại Ấn Độ thì mình trả đến 25 năm mới xong với điều kiện đừng lấy vợ. Lấy vợ có con thì không trả nỗi đâu. Sao mà càng lúc càng thấy nguy quá vậy?

Bốn năm sau, Sabeer Bhatia tốt nghiệp hạng... không rớt, nghĩa là hạng C là quá may mắn rồi. Anh học được, nhưng vì tụi UCLA bắt mình lấy môn thể thao nhiệm ý, mình không biết chọn môn nào vì mình thích đá banh từ nhỏ tới lớn là nghề của chàng, còn đây tụi Mỹ nó không đá banh mà nó ôm banh chạy, rồi bị chận giò giật banh lại rồi thổi còi tu huýt đếm lại. Mà ôm banh dành banh, rồi chạy, rồi bị chận giò, rồi thổi còi tu huýt tụ lại, rồi ôm banh dành chạy... như vậy đâu phải thể thao? Họ cho mình vào môn thể thao nhiệm ý gọi là "foot ball" như vậy anh thua rồi. Môn này bị thua, nó làm anh hao điểm ra trường hết sức. Cộng tới lui anh được ra trường kỹ sư hạng C cũng là may lắm rồi. Nếu rớt thì bị rớt về môn Football này, đem về tổ quốc thì không vinh quang tí nào đâu.

Sau cùng mọi chuyện cũng xong. Ra trường. Anh và anh bạn Alvador Bohita người Mễ được hãng Apple mướn vào với lương vô cùng khiêm nhượng không dám khoe ai hết.
Thung lũng Silicon anh được nghe rất nhiều. Nơi nầy biến nhiều người lọ lem thành Hoàng hậu trong vòng một đêm, nhưng lọ lem là cô bé gái còn mình là anh chàng da đen thui nói tiếng Anh líu lo theo giọng Ấn độ, nhiều người bạn nói tại "mầy ăn càri quá cay, nên cái lưỡi của mày nóng quá, nói lẹ tụi tao nghe không kịp".

Sabeer Bhatia và Alvador làm chung một hãng, cùng nhau chia tiền phòng 2 bedroom tại Thung lũng Silicon Valley . Tiền nhà ở đây họ tính cho toàn tụi tỉ phú mướn mà tụi mình ăn uống rất khiêm tốn. Né hầu hết những tiệm Seafood Restaurant của tụi Chinese tại Sanfrancisco, còn thằng bạn mình Alvador thì khoái ra mặt món hamburger, nó nói món này ăn bổ lắm, ai cũng thích hết. Còn mình không ăn được món này, vì mình trọng con bò mà. Đành ăn fried chicken mệt nghỉ luôn.
Hàng ngày tan sở thì thằng Mễ nói luôn miệng là sẽ làm sao mà thoát khỏi kiếp nghèo này mới được. Chẳng lẽ mướn apartment trọn đời? Còn làm kỹ sư cho một hãng lớn vô cùng như Apple nhiều sao bắc đẩu quá. Thằng xếp của mình là Chief Engineer, nó là thằng Việt Nam . Nó thường khoe là ngày xưa nó từng đánh giày tại Saigon, rồi nó chạy đại lên tàu chơi, nhưng không dè tàu không cho nó xuống mà sang Indonesia luôn. Nó phải làm lại từ đầu.. Mình nghĩ cái thằng Việt Nam này sao mà xạo quá "nó có cái gì đâu mà làm lại từ đầu?"

Nhưng mình phải nể thôi, trong sở nó có nhiều bằng sáng chế mà người ta gọi là "patent". Nó treo nhiều bằng patents như vậy trên vách tường văn phòng của nó. Nó có thư ký tóc vàng làm việc cho nó, còn mình thì làm chung phòng với thằng bạn và hai thằng Mỹ tóc đỏ khác. Nhà của thằng Việt Nam này đáng nể thật. Nó có lần tổ chức party mời cả Xếp Chúa hãng Apple đến dự sinh nhật con thứ năm của nó, chỉ còn thiếu sư tổ Apple là Steve Jobs là xong. Thằng Việt Nam này nói cái nhà nó mua rất rẻ nhờ thằng bán nhà Realtor cũng là thằng "boat people" quen trên tàu... chớ ngời lạ thì trên 800 cũng không được. Mình biếu quà cho nó mà nó đâu có vui vì trùng quà rồi. Cái áo da mình thèm lắm, nhưng mua cái áo da đẹp cho nó thì thua hẳn cái áo da của các người bạn trong sở khác nên nó đâu có vui vì trùng quà mà quà mình thì rẻ tiền mà! Xứ mình có ai mặc áo da đâu mà có kinh nghiệm toàn là ở trần quần xà rông quanh năm suốt tháng trong nhà. Khi ra ngoài đường là mặc đại một cái áo vest dưới là xà rông, thiên hạ cũng nể rồi. Đó là tại India . Còn về nhà, Santa Clara, Cailfornia, về tổ ấm tạm thời thì thằng Mễ Alvador luôn luôn nói "mình phải giàu mới được" nghe riết hết muốn vô sở luôn.

Một hôm, mình nhớ khoảng tháng 12 năm 1995 thì thằng Mễ gọi khẩn trong máy điện thoại là cần gặp mình gấp trong vòng 15 phút tại Mc Donald đường Euclid gần sở mới được. Bỏ sở, nói dối với Chief Engineer là thằng ViệtNam là mình "nhức đầu quá", nó OK. nhưng mình biết nó đâu có tin, nó còn nói nheo nhéo "good luck". Bộ nó tưởng mình bỏ sở này nhảy sang sở khác sao? Kệ nó, nó nghĩ gì thì nghĩ mình phải theo thằng bạn luôn miệng nói "Mình phải làm giàu mới được".

Bạn mình Alsavador Bhohita có từng nói sẽ làm một hộp thư dành cho tụi web surfer, nghĩa là tụi chơi Internet mới được. Nhiều đêm nó bật đèn sáng trong phòng, ngồi ngồi viết viết, hút thuốc lá liên miên, đi tới đi lui trong phòng, lẩm nhẩm như thằng điên làm mình không ngủ được, bỏ nó ra mướn riêng thì đâu có tiền. Còn ở chung thì cứ nghe nó nói mình phải làm giàu mới được, rồi nửa đêm thức dậy, đi tới đi lui... như vậy lá số Tử vi của mình đâu có may mắn đâu? Lo kiếm cơm chưa xong còn mong làm triệu phú nữa.

Gặp tại quán Mc Donald, nhìn nó ăn Hamburger mà thèm, còn mình ăn french fried uống coca ừng ực. Nó nói rồi mình bàn rồi phố lên đèn. Lúc đó tháng 12 cuối năm, trời mau tối lắm, ngoài đường thiên hạ đang nhộn nhịp mua quà Noel Christmas tấp nập. Không biết Noel năm nay mua quà loại gì cho thằng Chief Engineer Việtnam này cho nó hài lòng?
Anh và Alsavador bàn kế hoạch cho eMail tương lai. Anh nói với Alsavador cần phải điều chỉnh vài phần command trong software này mới được. Và Sabeer Bhatia kết luận mình cần phải có ít nhất là "300 ngàn đồng" mới được. Sabeer và Alsavador sáng hôm sau phone vào Sở Apple Corp cho Chief Engineer là "vẫn còn bị bệnh" thì được thằng Việt Nam này cười khì khì "good luck"... Sao thằng Việt Nam này nó khôn quá vậy?

Hai người lái xe đi khắp nơi, từ Silicon Valley, đến Santa Clara, đến North San Jose, South San Jose, đến tận San Francisco... gõ cửa hơn 35 hãng chuyên về phần mềm nhưng chỉ được một đống business cards của họ đem về nhà mà thôi. Họ nói món email này có nhiều người làm rồi, đâu cần nữa. Tụi Netscape làm email này từ lâu rồi còn Yahooh cho không, AOL (American On Line) cũng vậy.

Sau cùng hai người này gặp một tay chịu chơi tại Vùng Vịnh San Francisco Bay, hãng này nhỏ không lớn, chuyên về phần mềm. Chủ hãng là anh chàng Mỹ tóc vàng trẻ tuổi, anh tên Steve Jurvetson. Anh này nghe hai người gần nửa buổi nhưng chưa chịu tâm phục khẩu phục ý kiến của mình. Sau cùng anh chịu cho mượn tiền 300 ngàn USD, nhưng phải chia cho hãng anh 30% thì mới OK. Hai người năn nỉ quá trời, thiếu điều muốn rớt nước mắt thì Steve Juvetson mới OK với 15%. Chủ công ty bấm chuông gọi cô thư ký tóc vàng người New Jersey đem chút bánh sandwich ham mà ăn chơi, rồi luôn tiện ký giao kèo luôn tại chỗ cho gọn.

Cầm check hết sức bự là Pay to order "Mr. Sabeer Bahtia and Alsavador Bhatia" amount "$300,000.00. Three hundred thousand dollars only" dưới là ký tên đọc không được đem về nhà.
Rồi sáng mai hai người làm bộ buồn rầu vào trình diện thằng Việtnam, Chief Engineer là hai người muốn nghỉ sở một thời gian. Chief Engineer cười khì khì "Đó tui nói đâu có sai. Vậy tui mong hai người good luck nghen. Nhưng tôi hỏi thiệt tụi nó mướn hai anh bao nhiêu tiền salary năm vậy? Hãng nào vậy? Sao mà hãng đó hay quá vậy?"
Thây kệ thằng chief engineer nói móc gì thì nói miễn là Apple Corp trả đúng tiền lương đừng làm lộn là được rồi.

Hai người mướn một văn phòng rất nhỏ tại Freemont, cách sở độ 1 giờ 25 phút lái xe. Mướn tại Santa Clara đâu nỗi giá tiền rent, đành chọn một nơi không nổi danh mà tìm danh vậy.
Hai người có gọi 15 nhân viên trong hãng Apple vào làm chung với hãng mới ra lò của hai người với điều kiện là được chia phần hùn bù lại sở không trả lương. Chịu không? Kết quả có 4 người trong hãng Apple đồng ý vác cuốc đi tìm vàng tương lai lời ăn lỗ chịu là nếu bù trớt lỗ sạt máu là vác bản mặt vào Đại Công ty đứng xếp hàng mệt nghỉ mà xin tiền Đại Công Ty này. Đó là Sở Welfare.

Đến tháng thứ 6 thì hai ông chủ bự hết sạch tiền, đành làm liều mà thôi. Nhóm anh có một công ty phần mềm tên là Dough Castile Company, tại Santa Clara, California muốn ứng cho tụi anh một số tiền nho nhỏ để được phần hùn lơn lớn. Hai anh không chịu đành phải làm liều là nhờ người làm giấy tờ loan một ngân hàng xa lạ là Shanghai Bank tại San Francisco với số tiền lời quá cao, muốn lời rẻ thì không ngân hàng nào cho mượn hết, họ đòi phải có giấy tờ 3 năm business thành công mới được. Sao mà tụi ngân hàng ngu quá vậy? Ba năm business thành công thì mượn làm cóc khô gì cho mệt? Sau cùng Shanghai Bank của tại China đồng ý cho mượn $100 ngàn lây lất chờ sản phẩm Trí Tuệ chào đời trong tháng tới.

Hai người chọn một tên nghe nóng hổi cho sản phẩm trí tuệ của mình, vừa thổi vừa ăn là "HotMail".
Ngày lịch sử đã điểm, mang thai lâu ngày cách mấy rồi cũng phải sanh đẻ thôi. Ngày lịch sử đó là ngày "July 4th, 1996". Sở dĩ hai người chọn ngày này vì ngày này là Lễ Độc Lập ra đời của United States of America .
Phần mềm Email của hãng anh cái gọi là "HotMail" là một bước cách mạng. Ai ai xử dụng Internet cũng đều biết email là gì. Nhưng muốn được email thì phải đăng ký vào nhóm Internet Providere Services gọi tắt là I.P.S thì họ mới cho một account mà có eMail, nghĩa là cần máy vi tính và dính liền với tụi IPS trọn đời, nếu không trả tiền hay nghỉ chơi với tụi IPS thì... thơ email sẽ được vứt thùng rác. Cái khó cho email là phải về Sở hay về tận nhà mới đọc được email còn đi chơi hay vacation thì NO Mail. Còn nếu về đến sở hay nhà mở máy vi tính đọc eMail rất lâu và toàn loại email đọc xong muốn chưởi thề. Toàn là người ta mời mua hàng, mua máy sấy tóc, mua máy giặt hay mua tờ báo lạ lùng. Cái bất tiện của eMail là ai muốn vào xả rác thì cứ tự tiện vì chủ hốt dùm rồi không hốt thì kẹt máy vi tính ráng chịu vì nó overload mà tụi IPS chỉ cho hộp thư eMail rất nhỏ, vài ba cái quảng cáo như máy giặt, máy cắt cỏ... là cứng thùng thư rồi. Muốn hộp thư eMail to rộng rãi thì mua account loại Gold hay Silver đi, trả thay vì mỗi tháng 20 đồng thì trả 100 đồng đi, sẽ được hộp hư lớn gấp 5 lần hộp thư cũ.

Đó là cái bất tiện của email. Còn HotMail của nhóm anh thì không bị kẹt IPS, đi vacation hay nằm nhà thương mà có computer thì có thể đọc thư email của mình dễ dàng. Lại có phần báo động cho chủ biết là thư nào cần đọc chậm rãi, thư nào không cần đọc chỉ cần delete vào thùng rác hay để software delete của phần HotMail vào thẳng Trash bin cũng được. Hotmai của nhóm anh có thể chạy cho chương trình của tụi Netscape, tụi AOL, tụi Window Explorer cũng được mà không sợ hãi gì.
Sau đó nhóm của anh cho đăng trên báo Computer Readers Digest là HotMail cho không tính tiền, hộp thư Email này rộng rãi và chận được tụi quảng cáo junkmail như quảng cáo máy giặt, máy cắt cỏ vv.vv.... có ai bao giờ mở máy email mà mua máy cắt cỏ hay máy sấy tóc không?
Tụi anh ban đầu có 100 khách hàng, sau đó lên 200... rồi lên đến 1000 người. Anh gửi thư Hotmail hỏi thân chủ là họ biết nhờ học lóm bạn bè vả lại free không tốn tiền lại đọc thư chỗ nào cũng được không cần vào Sở gặp xếp đâu. Hãng nho nhỏ 6 người cộng lại được công ty Doug gọi ngày đêm, nhưng hai người từ chối khéo.

Lúc này hãng anh đã có 6 triệu khách hàng đăng ký rồi (lập lại, sáu triệu nhân khẩu).
Bạn anh là Alsavador lỡ dại gọi chơi chơi vào tụi Microsoft Corp thì được họ hân hoan trả lời. Họ cho 8 luật sư danh tiếng, tổng cộng là 16 người, gồm đàn bà chủ Departments, gồm đàn ông chủ Department Development Software của Microsoft từ Seattle, Washington State xuống công ty hai anh mà thăm viếng. Chẳng lẽ họ đòi thăm hai người tại Mc Donald. Thế là thiếu ghế. Họ tới thật đông, áo quần màu đen tuyền, xe limoussin đen bóng. Tổng cộng 6 xe limousin cho 16 người đi gặp một hãng mới gồm chủ thợ tổng cộng 6 người. Một màn chìa business cards ra, say thank you rồi mời ngồi. Họ chăm chú nghe Sabeer trình bày sơ đồ rồi bảng báo cáo. Họ không nói một lời. Chỉ lắng nghe, có người đang thu băng lại về cho chủ bự hãng Microsoft nghe lại, có máy quay phim của đoàn Microsoft nữa. Sau cùng, Head Team of Transaction là Kirl Thompson, môt người đứng tuổi, đẹp lão đứng lên cho biết ý định của hãng Microsoft "Chúng tôi hoàn toàn ngưỡng mộ những chuyện quý ông đã làm. Đây là một sự thành công vĩ đại cho công chúng ta. Thưa quý ông! Hãng chúng tôi đồng ý và xin mua đứt bản quyền sản phẩm HotMail của côngty quý ông với giá là Một trăm năm chục triệu dollars bằng tiền cash."

Nghe cú đánh đầu tiên thì 4 nhân viên trong hãng của hai người, những người chịu hy sinh bỏ sở Apple Corp mà vào ăn mì gói uống nước lạnh không lương vào hãng Sabeer, đều ồ khoái trá, hân hoan ra mặt.
Nhưng Sabeer Bhatia vẫn kềm xúc động giữ nguyên giá. Nguyên giá mà không một ai hiểu được ý tưởng của Sabeer ra con số bao nhiêu. Đoàn thương lượng Kirl Thompson lịch sự cúi chào 6 người rồi cùng toàn ban lên xe limousin ra phi trường San Jose ngay ngày hôm đó.

Qua ngày mai một điện thoại gọi từ Seattle , Cali đến cũng giọng của Kirl xin tăng giá lên "Xin quý công ty chấp thuận đề nghị của chúng tôi, Microsoft Corp với số tiền cash là hai trăm năm chục triệu dollars". Nghĩa là trong vòng 24 giờ công ty của hai người có thể "Make money" lên đến 100 triệu USD. Nhưng Sabeer nhã nhặn từ chối.

Tuần sau họ được điện tín đánh vào HotMail của họ tại Freemont lúc 9 giờ đêm, cũng chữ ký của Kirl Thompson là: "Ông chủ xin hẹn hai người tại nhà riêng của ông chủ, Redmont, Washingon State lúc sáng thứ hai. Chúng tôi sẽ đón hai người tại văn phòng của hai người tại Freemont, Cali lúc 8: 30 a.m."

Hai người đúng hẹn, ăn mặc cũng theo kiểu của họ là màu đen veston. Họ được limousin đón tại sở của họ đúng 8:30 A.M. sáng thứ hai.
Phi cơ rời phi trường San Jose dúng 9 giờ sáng Cali và đến Redmont trong vòng 35 phút sau đó. Nhà của Bill Gates quả là kỳ quan thiên hạ về cơ ngơi. Nhìn xuống mặt hồ nước màu xanh blue, sau lưng là cánh rừng thông và rừng phong maple lá vàng rực. Xa nữa là núi mờ xa...
Hai người được ăn sáng chung với Bill Gate, trong phần ăn uống điểm tâm, tuyệt đối Bill Gates không nói điều gì đến software HotMail mà Bill Gates chỉ nói chuyện các anh thích môn football của đội nào? Liệu năm nay đội Texas có thể thắng đội Illinois không? Dĩ nhiên hai anh chàng này, một anh thích ăn Taco một anh thích ăn Gà Chiên da giòn đành ấp úng bọc đuôi.

Sau phần điểm tâm, thì Bill Gate lịch sự mời hai người lên văn phòng làm việc. Văn phòng Bill Gates, người giàu nhất hành tinh trái đất này rất đẹp chỉ thua văn phòng của Tổng thống Hoakỳ Goerge Bush tại Washingon DC mà thôi, mặc dầu hai người này chưa từng thấy văn phòng của Bush ra sao, họ chỉ thấy bằng hình pictures mà thôi.
Văn phòng Bill Gates có sẵn Kirl Thompson và một cô thư ký tóc vàng, cả hai người đó đều complet màu đen. Thả 3 người từ phòng khách lên phòng làm việc của Bill gate, thì hai người này đứng lên chào hỏi bắt tay nồng hậu. Họ gặp nhau lần trước tại văn phòng của Sabeer với ghế ngồi mượn thêm từ lối xóm.

Bill Gate hỏi chuyện với những chiến lược rất thông thường như họ đã từng nghe những công ty tại Silicon Valley nói chuyện hỏi chuyện họ, nghĩa là tầm thường mà thôi. Như vậy Sabeer và Alsavador bớt lo trong lòng. Nghĩa là Bill Gates không phải là siêu nhân như hai người thầm nghĩ, vẫn là một người Mỹ tóc vàng, cân thị bình thường như hàng triệu người Mỹ bình thường vậy. Bill Gate chưa phải là siêu nhân mà cái gì cũng biết hết. Bill Gates không phải là "Superman" như báo chí đồn đại. Nghĩa là người giàu nhất Trái đất về phần mềm cũng chưa thuộc bài của chúng tôi.

Bill Gate sau cùng cười thật tươi "Côngty chúng tôi ngỏ lời chào mừng quý công ty của hai anh về sự thành công vượt bực mà Microsoft chúng tôi phải ghen tị. Chúng tôi, và tôi Bill Gates xin đồng ý mua lại phần mềm HotMail của côngty hai anh với giá "Ba trăm hai chục triệu bằng tiền mặt". Anh chàng Alsavador lúc đó mặt tái nhợt, còn anh chàng Sabeer vì da đen thui Ấn độ nên không biết anh tái hay không tái đây. Sabeer cười lịch sự "Chúng tôi xin Ngài đừng bớt giá, vì đây là sản phẩm vô địch thiên hạ". Bill Gate vẫn tươi cười, xin hẹn gặp Quý Vị trong kỳ tới.

Trên đường bay về nhà Cailifornia, Freemont anh chàng Alsavador còn bị bá thở vì con số tiền Bill Gates đưa ra là "$320 triệu USD" một con số quá lớn nhất đời của anh. Alsavador không còn lảm nhảm câu nói quen thuộc của mình là "Tụi mình phải làm giàu mới được". Nhưng số tiền Ba trăm hai chục Triệu Dollars do Bill Gate chủ hãng Microsoft chính miệng đề nghị có thư ký ghi chép. Thế mà "Thằng Cà ry Ấn Độ" này nó say NO một cái rụp. Nếu Bill Gate không mua và thằng Ấn độ không bán thì mình mang 6 triệu khách hàng Hotmail đến bao giờ?

Còn anh chàng gốc Calcutta , Ấn Độ tên là Sabeer Bhatia đêm về là ác mộng kinh hoàng. Tại sao lúc đó mình lại thích kênh xì po với Bill Gates làm chi vậy? Nó không mua thì mình làm sao sống đây? Sở Welfare thất nghiệp đâu có cho tiền mỗi tháng $450 USD cho dân ngoại quốc như mình đây? Còn trở lại hãng cũ Apple để gặp thằng Chief Engineer gốc Việt thì never... never... never... còn 4 thằng tình nguyện bỏ sở bỏ benefit, bỏ profit sharing mà theo mình đến chân trời huy hoàng xán lạn mà Hotmail nếu Bill Gate không mua thì bán cho ai đây?

Tuần lễ trôi qua, nhóm 6 người vào Sở tại Freemont thấy không vui, ăn cơm hết ngon rồi. Không ai nói với ai điều gì, và cũng không ai dám nhờ ai điều gì. Mạnh ai nấy đi đổ rác, mạnh ai nấy chùi bàn ghế của mình... rồi ngồi ngáp. Lúc này có ai tỉnh trí mà chế tạo sản phẩm trí tuệ hay hơn Hotmail nữa không? Sáu người này như là sáu robot không trí não, không hồn vậy. Xem Tivi thì thấy Dow Jon hay Nasdaq đang xuống thê thảm, như vậy Hotmail sản phẩm trí tuệ phần mềm mà Bill Gate nói vô cùng kính phục mà đem về nấu cháo heo cho rồi. Mai này không biết xếp hàng sở Welfare điền đơn xin trợ cấp thất nghiệp ra sao đây? Mình đâu phải bị chủ đuổi mà mình đuổi chủ mà? Nghỉ ngang xương vì lý do gia đình làm sao Welfare cho tiền mình được? Mỗi tháng họ cho tối đa là $450 đồng cho độc thân, và cho đến 6 tháng thì thôi luôn. Còn Ba trăm năm chục triệu đô thì xài làm sao cho hết kiếp này đây?

Đến trưa thứ Ba, thì giọng nói của Kirl Thompson vẫn tươi cười gọi vào. Lúc đó 6 người đang ngáp vừa xong. Tất cả đều nghe trong telephone khuếch đại intercom là "Thứ Năm ông chủ chúng tôi xin gặp quý vị và đồng ý sự quyết định của quý vị về giá tiền nhượng lại sản phẩm Hotmail cho công ty chúng tôi. Xin quý vị đem theo luật sư chuyên về hợp đồng trong chuyến đi lên Redmont thứ Năm này. Xin quý vị cho chúng tôi biết ngày giờ, chuyến bay số mấy để ra phi trường đón quý vi.." Nói xong Kirl Thompson chúc 6 người một Merry Christmas vui vẻ nhất.

Tất cả đều là chung một tiếng "Trời ơi!" (Oh! My God) rồi tim ai nấy đập hết ga hết cở. Thằng thì ngồi cú rủ trong góc phòng, thằng thì ngồi lỳ trong toilet không chịu ra, thằng thì ra balcon trên lầu mà ngó ánh sáng mặt trời chói lọi trên cây... Như vậy điên hết rồi, mình điên hay là Bill Gates điên đây?

Thế là hai anh chàng chạy đi tìm luật sư từ trước đến giờ chỉ có thằng Alsavador rành luật sư mà thôi, vì nó bị đụng xe năm ngoái. Xe đụng là một Jaguar đắt tiền, đụng đít mới ăn tiền chiếc xe Toyota Camry đời Bảo Đại chưa lên ngôi của nó, rờ còn muốn rót cái cản xe bumper huống chi đụng mạnh, mà tay này lái Jaguar lại có mùi rượu nữa. Đền 100% cho nó kể luôn tiền đấm bóp vớ vẫn, lúc đó nó cho mình mượn vài trăm mà trả tiền student loan còn nhớ không?

Alsavador đến gặp luật sư chuyên về xe đụng của anh mà xin lên Redmont với anh vào thứ năm đến. Anh chàng luật sư nghe xong liền từ chối một cái rụp "Chuyện ký giao kèo công tra một hiệp định trị giá trên ba trăm triệu dollars tôi làm hổng được. Nó quá lớn mà. Thôi được để tôi kêu Thầy của tôi dùm cho anh nghe?" Kẹt quá mà Microsoft chỉ cho mình có 48 tiếng thì làm sao mà tìm cho ra luật sự hảo hạng đây?
Sau cùng Alsavador đành gật đầu vậy bằng không lên tay không với thằng Ấn độ cũng được, miễn là được ba trăm năm chục triệu là được rồi.

Tối thứ Ba thì Thầy của luật sư xe đụng, xin lỗi luật sư chuyên lo vụ xe đụng đến gỏ cửa phòng apartment của hai anh. Thầy của luật sư từ New York bay một mạch đến San Jose mà không kịp thay đồ. Giao kèo Ba trăm năm chục triệu đôla đâu phải giỡn mặt, vả lại mình gặp ngang hàng với Bill Gates xem sao.

Thế là chiều thứ Tư nhóm ba người, luật sư bậc Thầy và hai anh chàng Hotmail báo cho văn phòng Bill Gates là thứ Năm, chuyến máy bay Lear Cessna loại nhỏ 8 chỗ ngồi sẽ đến phi trường Seattle lúc 9 giờ sáng.
Thứ năm 10 giờ sáng ngày 23 tháng 12 năm 1997 Microsoft và hai anh chàng Hotmail ký biên bản bán bản quyền với giá $450 triệu dollars tiền cash (xin lập lại Bốn trăm Năm chục Triệu Dollars tiền mặt).

Qua thứ hai thì Microsoft loan báo lên thị trường chứng khoán New York Nasdaq là Internet Explorer của Microsoft có thêm phần miễn phí về dịch vụ eMail mang tên Hotmail for Internet Explorer users. Giờ mở cửa gõ chuông của New York Stock Echange về phần Nasdaq lúc đó giá trị Internet của Explorer đinh giá là $6 tỉ USD, chiều 2 giờ gõ búa bế mạc thì trị giá stock của Internet Explorer lên đến $12 tỉ USD.

Anh chàng Ấn Độ Sabeer Bhatia và Alsavador đến gõ cửa công ty phần mềm software do anh chàng trẻ tuổi chịu chơi là Steve Jurvetson một tấm check với con số "Pay to the order Mr. Steve Jurvetson for Seventy five million dollars only $75,000,000. 00 USD"

Trong vòng một năm 2 tháng Công ty phần mềm Steve Jurvetson đưa ra $300 ngàn dollars và thu lại $75 triệu USD tương tự mỗi tháng côngty Steve Jurvetson làm ra được gần 6 triệu dolars. Còn anh chàng gốc Mễ hay gốc Peru gì đó, hết còn lảm nhảm câu nghe đáng ghét "mình phải làm giàu mới được".

Một lời từ chối trị giá Ba Trăm Năm Chục Triệu Dollars với người Giàu nhất Thế Giới quả đáng vào lịch sử về Mần Ăn Thương Lượng. Đại học Havard, Stanford, và Paris hay London đều có câu chuyện này, nhằm hăm nóng những sinh viên thích nói "mình phải làm giàu mới được."
Hotmail ngày nay dính liền với Internet Explorer như bóng với hình, thân chủ về eMail chỉ tăng chớ không giảm, ngày nay Explorer qua mặt Netscape và AOL một cái vù rất xa.

Posted: Fri Feb 05, 2010 6:22 am
by vuphong
Thung Lũng Của Quý
Không phải ngẫu nhiên người ta gọi chúng bằng cái tên thơ mộng như vậy, xung quanh thung lũng là hệ thống những khối đá mang hình 'của quý'.


Thung lũng Tình yêu ở Cappadocia là một trong những địa điểm du lịch nổi tiếng nhất ở Thổ Nhĩ Kỳ. Không phải ngẫu nhiên mà người ta gọi chúng bằng cái tên thơ mộng đến như vậy, xung quanh thung lũng là một hệ thống những khối đá mang hình ... 'thứ quý giá nhất của người đàn ông' nằm rải rác ở khắp nơi. Ngoài vẻ đẹp tự nhiên trời phú, nơi đây còn nổi tiếng là một địa điểm leo núi tốt nhất ở Châu Á.

Những hòn đá mang hình ... 'của quý' là di tích của những ngọn núi lửa để lại, trải qua nhiều năm những trận sói mòn đã 'gọt dũa' chúng tạo nên những tảng đá kỳ quặc đó.

Giống như một thị trấn nhỏ, đến Thung lung Tình yêu bạn sẽ được hưởng bầu không khí trong lòng lành và thoải mái bởi vẻ đẹp sơ khai, gần như không bị thương mại hoá. Bạn có thể đi bộ, đi xe đạp để có thể ngắm nhìn tận mắt những tảng đá 'của quý' hoặc thuê hẳn một kinh khí cầu để ngắm nhìn toàn bộ khung cảnh thung lũng thơ mộng này từ trên cao.
Những người đến thăm thung lung thường là những vị khách hiếu kỳ muốn tận mắt nhìn thấy hình dáng kỳ lạ của những tảng đá, ngoài ra, có rất nhiều những cặp tình nhân, những đôi vợ chồng đến đây để cầu mong cho tình yêu của họ mãi mãi được bền vững.
Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Posted: Fri Feb 05, 2010 6:03 pm
by tankhoasinh
A Very Touching Story

Ngày 24/8/1998, một đám tang vô cùng đặc biệt được tổ chức tại huyện Gia Tường, tỉnh Sơn Đông (Trung Quốc). Người chết là một cô gái mới 16 tuổi tên là Thẩm Xuân Linh.

Nhưng cô được nhận những nghi lễ long trọng nhất của làng, những người anh trai của cô mặc tấm áo tang chỉ được mặc khi đưa tang cha đẻ. Anh trai cô quỳ rất lâu trước linh cữu em gái, người trong làng ai cũng đeo băng tang.

Nhưng không ai biết rằng, cô gái mười sáu tuổi này thực ra không hề có máu mủ ruột thịt gì với những người còn sống, cũng như với dân làng này, thậm chí cô chỉ là một đứa con gái riêng của mẹ kế mà ngay cả tên trong sổ hộ khẩu của làng cũng không có.

Tôi là con ruột của gia đình này

Tháng 6 năm 1994, mẹ của Thái Xuân Linh góa chồng, đem Xuân Linh và đứa em trai từ Long Châu Tập, huyện Phạm Trạch, tỉnh Sơn Đông (TQ) sang huyện Gia Tường với gia đình mới. Bố dượng của Xuân Linh làm nghề thợ mộc, tên là Thẩm Thụ Bình, tính tình hiền lành đôn hậu.

Bố dượng có cha mẹ già 70 tuổi, và bốn đứa con trai còn đang đi học. Trong đó anh con cả Thẩm Kiến Quốc đang học Đại học Giao thông ở Tây An. Ba cậu con trai còn lại học trường phổ thông trong huyện.

Gánh nặng gia đình quá lớn, nhưng bố dượng cô giỏi nghề thợ mộc, trong nhà cũng chỉ chi tiêu dè sẻn, nên cuộc sống gia đình cũng tạm đủ.

Khi ba mẹ con Thái Xuân Linh gia nhập đại gia đình ấy, cả nhà đều vui vẻ chào đón, hay có thể bởi nhà toàn đàn ông, giờ có một cô em gái mới, cả ông bà nội lẫn bố dượng đều rất yêu quý Xuân Linh.

Khi đó, Linh chỉ vì bố mất, nhà nghèo khó, cô đành bỏ học ở nhà. Bố dượng dứt khoát đưa tiền cho cô đi học trở lại. Trong nhà vốn đã bốn đứa con đi học, giờ thêm Xuân Linh, gánh nặng càng lớn. Ông bố dượng chỉ có cách dành thời gian làm thêm lúc nông nhàn mới đủ cho chi tiêu trong gia đình.

Xuân Linh vô cùng trân trọng cơ hội được đi học, ngay học kỳ đầu tiên quay lại trường, cô đứng thứ ba trong khối. Ngoài học tập, cô lo liệu việc nhà, lúc nào rảnh rỗi thì giặt quần áo cho các anh, vác gỗ cho bố dượng, ông bố dượng thường khen ngợi:

- Bố thật là có phúc mới có đứa con gái ngoan ngoãn thế này.

Thời gian hạnh phúc chẳng bao lâu, đầu mùa hạ năm 1995, bố dượng cô trong lúc làm công trình đã ngã từ tầng ba xuống, bị liệt giường. Cột trụ trong gia đình đã gẫy, nguồn kinh tế chính của gia đình bị cắt đứt, và tiền chữa bệnh của bố dượng cô đã mang lại một khoản nợ rất lớn cho gia đình.

Thật đáng tiếc, khi mẹ Xuân Linh được bác sĩ cho biết, bệnh của chồng mới sẽ không bao giờ khỏi, cả đời nằm liệt giường, mẹ cô đã rất đau khổ. Bà không thể chịu đựng nổi sự rủi ro liên tiếp từ hai đời chồng, lại biết không gánh vác được một gánh nặng quá lớn từ gia đình chồng, mất hết hy vọng và niềm tin vào cuộc sống.

Bà ôm đứa con trai nhỏ ra đi, bỏ lại một nhà đầy người già, bệnh tật, trẻ con cho dù Xuân Linh năn nỉ, cầu xin mẹ như thế nào.

Thấy bố như thế, người con trai thứ hai định xin nhập ngũ, ông bố không đồng ý bởi anh thứ hai và thứ ba sắp cùng thi tốt nghiệp phổ thông, thành tích luôn đứng đầu trường.

Người con thứ ba cũng đòi bỏ học, muốn đi làm để gánh vác gia đình.

Vào lúc cả nhà bàn cãi, Xuân Linh đề nghị cho em nghỉ học, thay mẹ chèo chống gia đình này. Bố dượng cô rơi nước mắt, ngay cả ông bà nội cũng khóc. Bố dượng cô đau khổ nói:

- Xuân Linh, bố xin lỗi con! Các anh con đã học chừng đó năm rồi, giờ bỏ đi uổng phí quá, bố biết là làm thế con sẽ thiệt thòi

Ba người anh trai đều nắm chặt tay em gái, cùng thề với bố, cho dù sau này ai thi đỗ đại học, cũng đều nhớ công người em gái.

Mẹ Xuân Linh bỏ đi, nguồn kinh tế của gia đình lại mất hẳn chút hỗ trợ cuối cùng. Ông bà nội đều thở dài, bố dượng gạt nước mắt, các anh trai Xuân Linh cũng lo âu, cả nhà rơi vào tình trạng thấp thỏm bất an, buồn thảm. Những người làng an ủi cô bé:

- Ở đây cháu không có người thân, hay là cháu quay về nhà ông bà ở bên Phạm Trạch đi!

- Không, cháu không đi được, mẹ cháu bỏ đi rồi cháu không thể cũng bỏ đi nốt!

Xuân Linh nói với bố dượng:

- Bố ạ, mẹ con bỏ đi rồi, là mẹ con nhẫn tâm; nhưng con hứa con không bao giờ bỏ nhà đi, con sẽ ở lại đây cùng vượt qua hoạn nạn với mọi người, từ hôm nay con xin được là con đẻ của bố!

Năm đó, Xuân Linh mới 12 tuổi, đổi từ họ Thái sang họ Thẩm.

Làm đồng, việc nhà, chăm sóc người lớn, tất cả mọi việc Xuân Linh đều gánh vác, cô bé làm việc như một phụ nữ thực thụ trong một gia đình nông dân, thức dậy lúc mặt trời mọc, trời tối hẳn mới nghỉ ngơi, cẩn trọng tính toán từng món một trong gia đình để lo liệu qua ngày.

Xuân Linh biết, để gia cảnh đỡ khó, thì sức khỏe của bố phải tốt lên, cho nên vào những lúc nông nhàn, cô bé không quên chăm sóc chu đáo cho bố. Mùa hè năm 1996, thời tiết nóng bức, bệnh tình bố dượng cô nặng lên, Xuân Linh quyết định đưa bố lên nằm viện trên thành phố Tề Ninh.

Thu xếp xong việc nhà, cô kéo bố lên thành phố chữa bệnh. Đường đất 80 km, cô kéo xe hết đúng hai ngày một đêm. Khi đến nơi, chân cô đã lở ra, vai kéo sưng u lên một cục lớn.

Để tiết kiệm tiền, Xuân Linh đã ngủ trong nhà để xe đạp của bệnh viện, người trông xe tưởng cô là ăn mày, đã mấy lần xua cô ra ngoài. Xuân Linh đành kể hết sự tình, ông già trông xe cảm động quá, không chỉ cho cô mang chiếc xe kéo đặt vào tận bên trong nhà xe, còn kiếm cho cô một cái màn chống muỗi.

Dưới sự chăm sóc của con gái nhỏ, bệnh của bố dượng cô dần ổn định hơn, cô lại kéo bố về quê trên chiếc xe ấy.

Vừa về đến quê, là vào vụ thu hoạch lúa mạch, các anh đều đang ở trường, ông bà nội chỉ có thể giúp cô nấu cơm và bó những túm lúa, thế là hơn bảy mẫu đất lúa mạch đang chín, lại một mình Xuân Linh cắt. Để kịp thu hoạch, suốt mấy ngày liên tục cô bé ngủ lại ngoài ruộng lúa, mệt tới mức không chống đỡ nổi nữa thì nằm ngủ luôn trên lúa mạch, ngủ dậy lại cắt tiếp.

Vì quá lo lắng, lại vì lao lực, miệng Xuân Linh nở những mụn nước nhỏ, tay chân xước máu. Thật sự cô bé đã kiệt sức, còn lại hai mẫu lúa mạch nữa.

Đều là lương thực gia đình trông vào đó!

Cô bé bất lực đứng giữa ruộng lúa mạch khóc nức nở không thành tiếng, khóc tới mức hàng xóm chung quanh thấy thương hại quá, bèn tới năm tay mười tay giúp cô gặt nốt mảnh ruộng.

Đợt thu hoạch khó nhọc đó đổi lại được lương thực đủ ăn cho cả gia đình.

Anh thứ hai đã đỗ kết quả rất cao trong kỳ thi tốt nghiệp trung học, nhờ kết quả đó, anh được tuyển vào trường đại học Đồng Tề ở tận Thượng Hải.

Cầm giấy báo nhập học của anh thứ hai, Xuân Linh chạy như bay về nhà quên hết mệt nhọc, nhảy lên vui sướng. Nhìn đứa em gái vừa bé vừa đen, người anh thứ ba là Thẩm Kiến Văn rớt nước mắt tủi thân vì thi trượt đại học.

Thẩm Kiến Văn buồn rầu nói:

- Anh xin lỗi, em đã vất vả vì cả gia đình, mà anh lại thi trượt!

Vừa nói anh ba vừa khóc. Xuân Linh hốt hoảng nắm lấy tay anh:

- Năm nay thi trượt thì năm sau thi tiếp, anh đừng nản chí như thế!

Thẩm Kiến Văn quyết định không thi đại học nữa, ở nhà kiếm sống giúp em gái. Xuân Linh không đồng tình:

- Em chịu vất vả cũng chỉ vì muốn các anh học lên đại học mà thôi! Anh thất bại là em cũng thất bại!

Ba nghìn Nhân dân tệ học phí là gánh nặng quá lớn với cả gia đình. Vào lúc bất lực ấy, Thẩm Xuân Linh nghĩ đến chuyện đi bán máu.

Lần thứ nhất đến nơi bán máu, vì quá nhỏ tuổi, bác sĩ không đồng ý!

Lần thứ hai, cô nói dối tuổi mình, cuối cùng được bán 200 ml máu. Cầm được 400 tệ tiền bán máu, nỗi buồn bã của cô vẫn không bớt đi. Vì 400 tệ so với 3.000 tệ thì còn quá ít ỏi. Như cốc nước hắt vào đống lửa, chả thấm vào đâu.

Ba ngày sau, cô quay trở lại trạm y tế. Lần này, nói kiểu gì bác sĩ cũng quyết không lấy máu của Xuân Linh. Quá lo lắng, cô đành quỳ xuống cầu xin bác sĩ, và kể cho ông biết lý do.

Bác sĩ trầm ngâm rất lâu, cuối cùng ông thở dài bảo:

- Thôi được, chỉ một lần này thôi nhé! Lần sau cháu đừng đến đây nữa, cháu còn quá nhỏ, cơ thể còn đang phải lớn nữa!

Ông bác sĩ chỉ rút một lượng máu rất nhỏ tượng trưng, rồi móc túi ra đưa cho cô 700 tệ, làm Xuân Linh vô cùng cảm động.

Về nhà, Xuân Linh đưa tiền cho bố dượng, bố vội hỏi tiền ở đâu ra mà nhiều thế này, cô nói dối là đi vay người ta.

Bố cô cầm tay con xem xét, lại móc từ túi cô ra hai tờ giấy bán máu.

Cả nhà cô đều kinh hãi.

Nhưng số tiền đó còn lâu mới đủ được, dù chỉ một nửa học phí cho người anh.

Bố dượng cô quyết định bán đi một phần mảnh đất từ ngôi nhà cũ của họ, ông bà nội cũng bán ba cây dương vốn định dành gỗ để đóng quan tài cho ông bà sau này. Khi bố dượng không đồng ý bán ba cây dương, ông bà nói:

- Máu của Xuân Linh còn không tiếc, chúng tôi còn cần quan tài để làm gì nữa!

Dưới sự nỗ lực của toàn gia đình, tiền học cho anh hai, anh ba cuối cùng đã thu xếp xong. Để anh Thẩm Tiến Quân có thứ để lên trường, suốt mấy tối liền Xuân Linh thức khuya khâu vỏ chăn mới và giầy vải cho anh.

Vào lúc lên đường, Xuân Linh ra bến xe tiễn anh, cô nói:

- Anh ạ, nhà mình tuy nghèo, nhưng khảng khái, anh phải học cho ra học, anh đừng lo lắng chuyện ở nhà, cũng đừng tự khắc nghiệt với bản thân mình quá, anh cần tiền tiêu cứ viết thư về cho nhà nhé, em sẽ lo cho anh!

Thẩm Tiến Quân không nén được, ôm lấy đứa em nhỏ vào lòng, cảm động trào nước mắt.

Có thể bỏ rơi cha, không được phép bỏ rơi em

Những người anh lên đường đi học rồi, Xuân Linh bắt đầu tính toán xem làm cách nào kiếm tiền để chữa bệnh cho bố, lo học phí cho các anh trai.. Ban đầu, cô định theo chân các chị trong làng ra ngoài đi làm kiếm tiền, nhưng ở nhà còn hai người già và một người bệnh đều cần chăm sóc, cô chỉ có thể ở lại. Cân nhắc kỹ, cô quyết định trồng bông.

Trồng bông không giống như trồng những cây khác, không chỉ phí sức trồng trọt, ngay khoản phun thuốc sâu cho bông cũng rất nguy hiểm, nhưng Xuân Linh tính nhẩm ra, một năm trồng bông có thể thu lãi được 8-9 nghìn Nhân dân tệ (16-18 triệu VND), cô không trù trừ bắt tay vào làm ngay.

Cô háo hức trồng xuống cây bông, nhưng chẳng mấy lâu, khu vực Lỗ Tây Nam (mấy huyện thuộc Sơn Đông) gặp dịch sâu xanh trên lá bông (Helicoverpa armigera) tràn tới, vụ dịch làm Xuân Linh cuống quýt, cô bé người còn chưa cao bằng ngọn cây bông đã cõng bình xịt thuốc sâu nặng hơn 20kg sau lưng đi dọc ruộng bông để xịt thuốc.

Cô nghe người ta nói, lúc chính ngọ thời tiết nóng nực nhất, là lúc trừ sâu có hiệu quả lớn nhất. Cô liền chọn lúc giữa trưa nắng to đi phun thuốc sâu, mặt trời rát bỏng trút nóng xuống cánh đồng bông hầm hập như một lò hấp khí nóng, làm Xuân Linh không thở nổi. Cô chỉ có thể chạy phun một hàng rồi chạy ra hít thở không khí. Một ngày vào lúc chính ngọ, vì thùng thuốc sâu bị rò chảy, cô trúng độc, ngất đi.

Người làng khiêng Xuân Linh về. Lúc tỉnh lại, cô không để ý đến sự ngăn cản của người bố nằm liệt giường, lại đòi chạy ra ruộng bông luôn. Năm đó, bông được mùa thu hoạch lớn, nhưng vì thế mà giá thu mua bị dìm xuống rất thấp, và Xuân Linh vẫn không thể kiếm được khoản tiền như cô mong muốn.

Đầu óc thông minh của Xuân Linh lại suy tính, cô đang nghĩ có cách nào kiếm được tiền nhanh nhất. Lúc nông nhàn, cô đã từng theo người làng đi thu mua hoa hòe, cành liễu (dùng như sợi bàng, sợi chiếu cói của VN), cũng từng đi bán mũ nan, đậu tương. Sau này, cô nghe người ta nói táo Tứ Thủy ở huyện bên rất rẻ, cô lại cùng ông bác trong làng đi Tứ Thủy buôn táo.

Hàng ngày, sau bữa tối, cô kéo xe kéo lên đường, lúc trời hơi rạng thì tới được vườn táo, chất đầy xe táo rồi quay về ngay. Đàn ông thanh niên kéo một xe, cô cũng kéo một xe. Dọc đường, người ta đều ăn táo giải khát, cô thì chưa từng ăn một quả táo nào, ngay cả những quả dập nát cũng giữ lại phần bố, cho ông bà ăn.

Anh thứ tư Thẩm Kiến Hoa thấy đứa em 14 tuổi vất vả như thế, quá áy náy, quyết định bỏ học và cũng trốn nghĩa vụ quân sự, ở nhà kiếm sống thay em.

Xuân Linh khuyên anh thế này:

- Em hâm mộ nhất trên đời này là quân nhân, anh ở nhà rồi sau này anh sẽ ra sao? Anh cứ đi đi, em vẫn còn chống đỡ gia đình này được.

Ngày anh tư lên đường, Xuân Linh rút từ trong túi ra một ít tiền lẻ nhàu nát dúi vào tay anh trai:

- Đây là 80 tệ, tiền em dành riêng ra, anh giữ lấy để tiêu vặt, vào bộ đội rồi anh nhớ cố gắng.

Thẩm Kiến Hoa mắt rưng rưng..

Mùa xuân năm 1997 là mùa xuân vui sướng hạnh phúc nhất của Xuân Linh. Tết năm đó, ngoài người anh thứ tư đang ở bộ đội, cả ba anh trai đều quay về nhà ăn tết. Và ai cũng mang quà về cho cô em gái. Người anh cả là sinh viên mang tặng em một bộ quần áo mới, người anh thứ hai cũng là sinh viên tặng em một chiếc khăn màu hồng, người anh thứ ba đang ôn thi cũng mua cho em một hộp kem trang điểm.

Xuân Linh ôm tất cả quà vào lòng vui sướng, nhảy lên cười, lúc đó cô bé quay trở lại vẻ ngây thơ con nít vốn có. Bố gọi ba đứa con trai đến bên giường:

- Các con phải báo đáp cho Linh, vì nó đã quá khổ sở rồi. Ngày sau các con trưởng thành, các con có quyền quên bố đi, nhưng không bao giờ được phép quên Xuân Linh.

Tình thân vĩnh viễn

Công việc nhà nông bận rộn, nhưng Xuân Linh không quên bệnh của bố dượng, hễ có hy vọng, ngại gì đường xa núi cao, cô đều kéo bố đi. Trời xanh không phụ người có công, bệnh của bố dượng đã đỡ hơn rất nhiều, đã có lúc ông chống được gậy đứng lên. Những người anh học hành tấn tới. Anh cả Thẩm Kiến Quốc sau khi tốt nghiệp đại học đã thi đỗ để học tiếp Thạc sĩ.

Người anh thứ tư Thẩm Kiến Hoa đã được vào Đảng trong quân ngũ, được đề bạt lên làm trung đội trưởng. Tháng 9/1997, người anh thứ ba Thẩm Kiến Văn cũng thi đỗ cao đẳng, được Học viện Đông y Sơn Đông nhận vào học.

Tháng 3/1998, bà nội bỗng dưng bệnh nặng, lúc lâm chung, bà cụ nắm chặt lấy tay Xuân Linh nói: “Xuân Linh, cả đời bà chẳng có gì tiếc nuối, vì đã có một đứa cháu ngoan như cháu, bà chỉ thương xót cháu thôi!” Nói rồi bà lần từ dưới gối ra một chiếc vòng tay bằng ngọc đưa cho Xuân Linh, Xuân Linh không dám cầm. Ông nội nói: “Xuân Linh, đấy là thứ bà nội định để dành cho cháu dâu đầu, nhưng bà nội nghĩ, cái vòng này nên để dành cho cháu, cháu hãy nhận cho bà mãn nguyện đi!”. Xuân Linh nuốt nước mắt rưng rưng nhận lấy.

Sau khi bà nội mất, người anh thứ tư viết thư về, nói sẽ chuẩn bị thi vào trường quân sự, nhưng khi biết bà nội vừa mất, trong nhà đã lo liệu hết tiền, anh bèn quyết định bỏ cuộc. Xuân Linh đọc thư, lo lắng, cô liền tìm người nhờ gửi thư cho anh trai khuyên ngăn, và gửi kèm theo đó 200 tệ, để anh trai mua sách vở ôn thi. Cô nói: “Anh ạ, thi vào trường quân sự là việc lớn cả đời anh, đừng để khó khăn trước mắt làm ngăn cản việc cả đời”.

Đúng lúc đó, mẹ Xuân Linh đã bỏ đi biệt tăm tích lâu nay, bỗng gửi thư về cho cô, thì ra mấy năm nay, mẹ cô bỏ đi rồi đã làm một tờ giấy li hôn giả mạo với bố dượng, rồi sang huyện Bình Dương ăn ở với một ông có tiệm thực phẩm, cuộc sống khá sung túc. Mẹ cô nghe qua người khác mới biết con gái mình mấy năm nay chịu cực khổ vô vàn, trong lòng bà rất ăn năn. Mẹ cô gửi thư tới muốn bảo con gái bỏ sang huyện Bình Dương, hứa sẽ tìm cho cô một gia đình đàng hoàng để gả chồng.

Đọc lá thư của mẹ, Xuân Linh nước mắt dào dạt, rất muốn được sống một cuộc sống đơn giản vô lo của một cô con gái bên cạnh mẹ. Nhưng cô cũng không thể nào bỏ rơi gia đình này, cái gia đình nghèo khổ hoạn nạn, nhưng cả nhà đều chân tình yêu thương cô!

Bố dượng biết con gái khó xử, khuyên cô:

- Xuân Linh, đi tìm mẹ con đi! Bố không trách con, cả nhà ta đã khổ, kéo theo cả đời con khổ theo thì bố không nỡ lòng nào!

Xuân Linh cắn chặt môi, quỳ xuống trước giường bệnh của bố:

- Bố ạ, khổ sở nữa con cũng chịu được, bố đừng đuổi con đi!

Xuân Linh nhờ người viết thư trả lời mẹ rằng, cô không muốn theo mẹ.

Một ngày tháng 9/1998, vì muốn kiếm tiền cho anh trai thứ tư ôn thi, cô lại nghĩ đến việc đi bán máu. Sau rất nhiều lần cầu xin, cuối cùng bác sĩ đã đồng ý, lấy 300ml máu của cô. Vốn thân thể gầy gò yếu ớt vì thiếu dinh dưỡng, giờ Xuân Linh càng yếu.

Nhưng cô lấy lại tinh thần, đi ra bưu điện gửi mấy trăm tệ đó cho anh. Lúc liêu xiêu qua đường, vì không còn tinh thần để ý kỹ, cô bị một xe tải lớn chở các cuộn sắt gạt ngã, bánh xe lớn nghiến qua người Xuân Linh.

Tin dữ đến, ông nội cô không chịu đựng nổi, đổ bệnh liệt giường, bố dượng Xuân Linh cũng ngất đi nhiều lần. Người anh thứ ba Thẩm Kiến Văn là người đầu tiên biết tin này, anh chạy về nhà, chỉ còn biết khóc bên thi thể em.

Người anh thứ hai Thẩm Kiến Quân nhận được điện báo, suốt hai ngày đi tàu về không ăn không ngủ, khóc từ Thượng Hải về đến Sơn Đông.

Ở tít tận Tây An, người anh cả Thẩm Kiến Quốc đang học thạc sĩ được tin cũng khóc rụng rời, không thể về dự đám tang được, anh điện về nhà: “Em gái yêu quý, em dùng tấm lòng người mẹ để gánh vác cả gia đình này, dùng đôi vai yếu ớt để dựng lên một niềm hy vọng, cả gia đình mãi mãi yêu em.”

Vừa nhận được giấy báo nhập học của Học viện Lục quân Quế Lâm, người anh thứ tư Thẩm Kiến Hoa cũng đồng thời nhận tin em chết, anh ngã ngất đi trên thao trường. Tỉnh dậy liền vội vã về quê.

Nhưng ở quê, những người chết trẻ vị thành niên không được phép tổ chức đám ma, ngay cả nghĩa trang của dòng họ cũng không được phép vào chôn cùng.

Xuân Linh đến đây sống bốn năm, họ tên thì đã đổi, nhưng hộ khẩu thì không có, ngay cả tư cách là dân chúng của địa phương cũng không có, không được coi là người làng. Nhưng những người già trong làng cảm động trước cuộc đời hiếu nghĩa của Xuân Linh. Người già nói, đứa con gái tốt đẹp thế, chết rồi thì tại sao còn phải để nó phải chịu tức tưởi nữa.

Nhà văn Lưu Hồng, người đã từng đến viết bài phỏng vấn Xuân Linh hồi trước cũng đến dự tang lễ, và viết một bài ai điếu cho cô bé:

“Em, là một đóa hoa giữa thung lũng, một vệt mây ở bên trời, lặng lẽ đến, lại lặng lẽ đi.

Đôi vai nhỏ gánh đầy tình người, tâm hồn nhỏ nâng đỡ cả gia đình, tuổi còn trẻ như thơ như họa, như tơ như khói, lại đầy gian nan khốn khó vất vả.

Em đi rồi, nhẹ như thế, như đám mây bên trời xa, câu chuyện để lại nặng như thế, ân tình cao như núi Thái Sơn....”.

Những người con gái đều có những son phấn của riêng mình, có lẽ Xuân Linh cả đời chưa chạm vào son phấn, nhưng cô vẫn là người con gái đẹp nhất.

Năm 2007, Đài truyền hình Trung ương Trung Quốc dự định làm một bộ phim truyền hình 100 tập về 100 tấm gương tốt cảm động thời nay, lấy tên phim là “Câu chuyện của chúng tôi” để giáo dục thế hệ trẻ Trung Quốc, câu chuyện về Xuân Linh sẽ được dựng lại ở tập mười sáu.

Posted: Sat Feb 06, 2010 2:56 am
by thienthanh
Một Góc Bolsa
Phổ Lập
Nhắc đến tên gọi Bolsa, hầu hết người Việt hải ngoại đều đã nghe qua, thăm viếng, thậm chí sống theo từng "hơi thở" của Bolsa. Bolsa muôn màu, muôn vẽ. Bolsa, thủ đô tỵ nạn. Bolsa, gió tanh mưa máu. Bolsa làm biết bao nhiêu người trăn trở. Khách phương xa, nhất là người VIệt ở những tiểu bang xa xôi hay ở ngoại quốc (đối với Hoa Kỳ) đều có cái háo hức muốn một lần thăm viếng Bolsa.

Bolsa có đủ những sinh hoạt của người Việt; nơi đây là một trung tâm truyền thông, báo chí, truyền hình đông đảo nhất nước Mỹ. Mọi sinh hoạt từ thông tin, văn hóa, văn nghệ, chính trị, ra mắt sách, hội luận chính trị v.v…đều đổ dồn về đây. Bolsa quy tụ tất cả hỉ, nộ, ái, ố…của con người.
Tóm lại, có thể nói Bolsa là một xã hội Việt Nam thu hẹp ở ngoài đất nước. Tác giả Chu Tất Tiến đã từng viết "Bolsa có gì lạ không em", nói lên nhiều khía cạnh của cuộc sống, những dằn co, cọ sát giữa con người với nhau từ vợ chồng, con cái, đến bè bạn, thậm chí đến các bậc trường thượng, chức sắc tôn giáo cũng không tránh được những tiếng bấc tiếng chì…

Nhưng có một khía cạnh của Bolsa dường như không được người dân Bolsa lưu ý đến. Đó là người già, những người bất hạnh, hoặc tàn tật, hay vì một lý do nào khác… sống âm thầm trong hàng chục nursing home rãi rác chung quanh Bolsa. Đây là một thế giới đơn độc chen lẫn với cái hỗn độn của Bolsa.

Họ là ai?

Họ là những người già, không còn khả năng tự chăm sóc lấy mình, nhưng vì sống cô đơn, không thân nhân hoặc con cháu vì một lý do gì đó(?) không thể chăm sóc tại gia.

Họ là những người mất hết khả năng để làm một người bình thường do cuộc chiến Việt Nam, dù tuổi họ chưa già.

Họ là những người bị tàn phế vì bịnh nan y hay tai nạn xe cộ.
Nói cho cùng, dù dưới hoàn cảnh nào, họ đã và đang sống trong một xã hội khép kín, hầu như không còn biết đến thế giới bên ngoài, một Bolsa năng động.

Họ đã sống với cái "routine" ngày ba bữa ăn, mỗi sáng có y tá đến hỏi thăm, lấy nhiệt độ, cho uống thuốc. Thỉnh thoảng được ra phòng khách, phòng ăn, hay được đẩy ra sân cỏ… cho thoáng khí…

Những người còn có con cháu thì thỉnh thoảng được con cháu vào thăm trong giây lát, đút cho ăn một vài miếng cơm hay trái cây…Người viết đã từng chứng kiến một hoạt cảnh là một bà cụ khoảng 80 tuổi, ngồi xe lăn đang ngồi ở phòng khách lớn của một nhà dưỡng lão. Một thiếu phụ trạc độ 50 mang trái cây đã cắt sẳn vào cho mẹ (người viết biết được điều nầy là vì nghe tiếng gọi của thiếu phụ gọi bà cụ là mẹ). Thiếu phụ dường như có điều gì cần phải làm sau đó cho nên có vẻ hối hả trong việc cho bà cụ ăn, hối thúc bà cụ nhai cho mau…Người viết chứng kiến một cách đau lòng là nhiều lần bà cụ vì cố nuốt cho mau nên bị sặt và ói ra ngoài. Thế là một màn cằn nhằn xảy ra, thiếu phụ vội lau miệng bà cụ, và dọn dẹp đồ đạc. Sau đó cho bà cụ uống nước và vội vã chia tay mẹ..

Đây là một hoạt cảnh ở Bolsa, chúng ta cùng suy gẩm. Tình mẫu tử của một người con sống ở một xứ văn minh nhất thế giới như thế nầy sao?
Nhưng mục đích của bài viết nhân ngày Tết Con Cọp không nằm trong những hình ảnh tiêu cực của một số người Việt trong cộng đồng, người viết muốn nói đến một khía cạnh tích cực hơn, để chúng ta còn nhìn thấy, cảm được những hình ảnh đẹp còn vương vấn trong lòng người Việt xa xứ.
Đó là những nhóm, toán, cá nhân, hay tập thể bền bĩ và âm thầm đi thăm viếng các viện dưỡng lão vào dịp cuối tuần hay trong ngày làm việc.

Họ là ai?

Nói chung, họ là những người còn có tấm lòng nghĩ đến tha nhân. Họ có thể là một em học sinh, sinh viên, một người nội trợ, một anh thợ may, một người đang còn hoạt động, hay một người đã hưu trí. Tất cả họ gặp nhau ở cùng một điểm chung là xoa dịu nỗi đau của người bất hạnh. Họ không có tên của nhóm, của đoàn. Họ không đăng báo quảng cáo. Và họ cũng không cần lời giới thiệu tên tuổi mỗi khi đi viếng nơi nào. Họ âm thầm làm việc, hẹn hò nhau để tụ họp lại, cũng như chia phiên ra để đi thăm nhiều nhà dưỡng lão hơn.

Họ làm gì?

Việc làm của họ thật là giản dị, đem tấm lòng thành trang trãi qua lời ca tiếng hát, mặc dù họ không là ca sĩ hay nhạc sĩ. Nếu chúng ta có dịp đến thăm một nhà dưỡng lão vào ngày nầy, chúng ta sẽ thấy những cặp mắt tuy không còn rạng rỡ, đôi khi còn "nhìn mông lung", nhưng hầu như mọi người đều vui mừng cùng tham gia lời ca tiếng hát chung. Có đến đây thăm, rồi mới thấy được niềm vui của những người sống ở nhà dưỡng lão, mới thấy được giây phút "đợi chờ" của họ đối với những thiện nguyện viên vô danh. Có đến đây thăm mới thấy được không khí sống động, xóa tan sự im lặng và buồn tẽ của nhà dưỡng lão hàng ngày.

Một lời ca cũ, một khúc nhạc xưa làm cho họ gợi nhớ lại nhiều kỷ niệm cách xa từ thuở nào. Người viết đã từng chứng kiến một cụ ông 70 tuổi, chỉ lớn hơn một thiện nguyện viên 2 tuổi. Ông cụ nầy bị stroke, ngồi xe lăn, chỉ nói được một vài tiếng và từng là Sỉ quan quân đội VNCH. Khi anh thiện nguyện viên cầm bài hát Quyết tiến đứng bên cạnh cụ, thấy vẽ mặt cụ hân hoan và cùng hát theo tiếng nhạc với tiếng còn tiếng mất. Trong hoàn cảnh nấy, ai cũng thấy được nét hân hoan của cụ, một thoáng chốc sống lại với dỉ vãng oai hùng của mình khi xưa. Chính những giây phút ngắn ngũi ấy, mới cảm nhận được nhu cầu của những người bất hạnh phải sống trong viện dưỡng lão.

Những bài hát xa xưa, mặc dù được hát do những ca sĩ bất đắc dĩ nhưng cũng đem lại sự an ủi cho họ, cộng thêm những lời hỏi thăm sức khỏe, những lời trấn an mà họ đã thiếu vắng vì đơn chiếc hay vì con cháu "chậm" đến thăm..

Tất cả nói lên một tấm lòng giữa người và người mà họ đã không có được tùy theo hoàn cảnh.
Còn những người nằm bất động không còn khả năng ra ngoài hội trường để tham gia những buổi "ca nhạc" thì sao?
Thưa Quý bạn. Họ không bị lãng quên đâu. Còn có những Bà tiên, Ông hiền đến tận giường an ủi.

Một câu chuyện thương tâm xin được kể ra nơi đây có thể xem như là một phép lạ. Một anh lính VNCH, tuổi khoảng 50 ngoài, nằm bất động ở một nhà dưỡng lão do một tai nạn xe hơi.
Anh không có thân nhân, và đang ở trạng thái gần như coma từ nhiều tháng qua. Một thiện nguyện viên cũng tình cờ đến thăm, nói chuyện, trấn an anh, nhưng vẫn không được anh có cử chỉ nào báo hiệu cho biết là đã nghe. Vào một ngày khác, người thiện nguyện viên nầy đến thăm nữa. cũng nói bao nhiêu lời; nhưng lần nầy thấy mắt anh lính VNCH chớp chớp. Điều nầy làm chính cô y tá của viện cũng ngạc nhiên vì cô ta, người chăm sóc anh, chưa thấy bao giờ. Sau đó, anh lính, qua cách làm dấu thánh giá một cách vụng về và cặp mắt bắt đầu hé mở, chứng tỏ anh hiểu những gì người thiện nguyện viên nói. Mọi người vui mừng ra về.

Nhiều ngày sau đó, cô thiện nguyện viên lại đến thăm và được cô y tá cho biết là anh lính VNCH có vẻ mong chờ. Hôm nay, cô mang chiếc thánh giá, do một người bạn công giáo cho, đến biếu anh lính. Và phép lạ đã xảy ra khi tay anh cầm chiếc thánh giá: anh đã mở mắt lớn hơn và nói được hai tiếng cám ơn, tiếng nói, theo lời cô y tá, đã im bặt từ ngày anh được mang vào viện dưỡng lão. Anh còn cố gắng ra dấu để cho cô thiên nguyện viên biết là anh cần một quyển thánh kinh. Dĩ nhiên là ước nguyện của anh đã được chiếu cố. Và từ khi có quyển thanh kinh đặt trên ngực, khí sắc anh lính VNCH tươi hơn, và gương mặt không còn "đứng im" như trước nữa, mặc dù anh vẫn còn nằm bất động. Ở một lần khác, một thiện viên gốc Hải quân vào thăm anh. Khi anh lính Hải quân chào anh theo kiểu nhà binh, không biết anh có thấy được hay không, nhưng khi nghe tiếng hai chiếc đế giầy chạm vào nhau, anh lính VNCH khẽ nhết môi và viềng mắt anh chớp chớp. Thật cảm động!

Qua câu chuyện vừa kề trên, chúng ta thấy rằng tình tha nhân có thể biến đổi một phần nào tình trạng sống của con người. Chúng tôi không thể nói chắc chắn đây là một phép lạ, nhưng với một niềm tin vào sức mạnh tâm linh nào đó, có thể khơi dậy được tâm thức người bịnh và làm cho họ nhận thức được sự hiện hữu của họ.

Việc làm âm thầm của những thiện nguyện viên đáng được ghi công vào một góc Bolsa để từ đó mỗi người trong chúng ta tự chiêm nghiệm rằng mình đã "đóng góp" gì cho "đời" chưa, chứ chưa nói gì đến tổ quốc.
Bolsa có nhiều tệ trạng. Bolsa có nhiều hình ảnh đẹp. Bolsa cần nhiều bàn tay âm thầm có thể xoa dịu hay khỏa lấp được phần nào nỗi đau của đồng hương bất hạnh nơi đây. Bolsa cần sự tiếp tay của nhiều, nhiều hơn nữa thiện nguyện viên.

Xin hãy ghé thăm một lần bất cứ viện dưỡng lão nào, chúng ta cũng sẽ thấy biết bao khuôn mặt Việt Nam đau khổ, nằm bất động hay ngồi trên xe lăn, biết đâu trong số đó có bạn bè hay thân nhân của chính mình!. Một cử chỉ thân ái bằng vạn lời nói đầu môi chót lưỡi. Một nắm tay xiết nhẹ có thể làm cho họ quên đi nỗi buồn vì con cái không đến thăm viếng. Một lời ca cũng có thể làm sống lại một thời xa xưa.

Họ, những người bất hạnh trong các viện dưỡng lão đang cần chúng ta.
Mọi sự bất hạnh nào cũng cần được giúp đở. Quê nhà bị bão lụt, một đứa trẻ di tật, một ngôi làng thiếu mái trường…tất cả điều cần được giúp đở của chúng ta. Và thữ nghĩ, những chuyện thương tâm trên cần sự giúp đở của chúng ta trước hay là do trách nhiệm của những người quản lý đất nước. Tình thương cần phải đặt đúng vi trí , như vậy mới có đầy đủ ý nghĩa. Nhưng thiết nghĩ, bên cạnh chúng ta đây cũng còn có nhiều người bất hạnh chỉ cần một ít thì giờ cũng có thể xoa dịu được phần nào niềm u uẩn nơi họ.
Ưu tiên nào chúng ta phải làm?

Xin dành câu trả lời cho mỗi chúng ta và người viết hy vọng mỗi người trong chúng ta sẽ tự viết lên "New Year Resolution" cho năm Con Cọp nầy.

Phổ Lập
Kỷ niệm Năm Canh Dần-2010

Posted: Sat Feb 06, 2010 7:20 am
by caubennoc

Image


Tại Sao Cần Uống Nước?

BS. NGUYỄN Ý-ĐỨC
1-Nước là thành phần chính yếu cấu tạo cơ thể.

Thực vậy, khoảng 60-70% sức nặng của cơ thể là nước, phân phối ở khắp nơi như máu, cơ bắp, não bộ, phổi, xương khớp…

Con người có thể chịu đựng đói ăn trong vài tháng, nhưng thiếu nước trong dăm ba ngày là đã có nhiều nguy cơ tử vong.

Ngoài ra, mỗi ngày cơ thể mất đi khoảng 1,5 lit nước qua đại tiểu tiện, đổ mồ hôi, hơi thở. Làm việc, vận động cơ thể sẽ mất thêm nước.

Vì vậy, để giữ lượng nước của cơ thể bình thường, cần phải uống nước để thay thế phần mất đi.

2-Vai trò của nước trong cơ thể:

Nước có nhiều vai trò rất quan trọng trong:

a.Duy trì nhiệt độ trung bình của cơ thể, như nước trong bộ tản nhiệt (radiator) xe hơi, tầu bay.

b.Chuyên chở chất dinh dưỡng và oxy nuôi tất cả tế bào.

c.Giúp chuyển hóa thực phẩm ra năng lượng, cần thiết cho các chức năng cơ thể.

d.Giúp cơ thể hấp thụ các chất dinh dưỡng

e.Loại bỏ các chất thải của cơ thể qua hệ tiết niệu, da, ruột, hơi thở.

g.Bao che các cơ quan sinh tử trong cơ thể, tránh tổn thương do sự cọ xát, va chạm.

h.Bảo vệ các khớp xương, tránh viêm sưng, đau nhức vì nước là chất nhờn làm cho khớp cử động trơn tru.

i.Làm ẩm không khí để sự hô hấp dễ dàng, tránh dị ứng, ho khan.

k.Phòng chống sự đóng cục máu ở các động mạch của tim, não, giảm nguy cơ tai biến tim và não.

l.Cần thiết cho sự sản xuất các chất dẫn truyền thần kinh, các hormone cần thiết cho các chức năng và các phản ứng sinh hóa của cơ thể.

m.Là thành phần cấu tạo của các bộ phận quan trọng: não chứa 85% nước, xương 22%, cơ bắp 75%, máu 92%, dịch bao tử 95%, răng 10%...

3-Hậu quả của không uống nước đầy đủ:

Khi thiếu nước, cơ thể sẽ làm một cuộc tái phối trí: đưa nước tới các cơ quan sinh tử như não, tim, phổi, gan và thận và giảm nước tới các cơ quan ít quan trọng hơn như da, tiêu hóa, khớp. Do đó dấu hiệu thiếu nước xuất hiện sớm nhất ở các cơ quan hạng hai này.

Posted: Mon Feb 08, 2010 2:45 am
by tankhoasinh
Hôn nhân tốt cho sức khỏe tâm thần
WELLINGTON, New Zealand (Reuters) - Hôn nhân thực sự tốt cho bạn, với một cuộc nghiên cứu lớn có tầm mức quốc tế cho thấy rằng nó giảm bớt các nguy cơ buồn chán và lo lắng, nhưng những rối loạn này dễ xảy ra hơn một khi mối quan hệ chấm dứt.

Cuộc nghiên cứu 34,493 người tại 15 quốc gia, được cầm đầu bởi tâm lý gia lâm sàng Kate Scott thuộc Ðại Học Otago của New Zealand, và được căn cứ vào những cuộc khảo sát của cơ quan Sức Khỏe Tâm Thần Thế Giới (WMH) thuộc Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO), được thực hiện trong thập niên vừa qua.

Cuộc nghiên cứu thấy rằng việc chấm dứt hôn nhân qua sự ly thân, ly dị hoặc chết được liên kết với sự gia tăng nguy cơ rối loạn sức khỏe tâm thần, với phụ nữ dễ quay sang việc lạm dụng chất, như rượu và ma túy, và đàn ông dễ trở thành phiền muộn.

“Ðiều làm cho cuộc nghiên cứu này độc đáo và có giá trị hơn là mẫu khảo sát lớn như vậy và bao gồm nhiều nước như vậy và sự kiện rằng chúng ta có các dữ kiện không những về sự buồn chán mà còn cả sự lo âu và những rối loạn về lạm dụng chất,” bà Scott nói trong một bản tuyên bố.

“Ngoài ra, chúng ta có thể nhìn vào những gì xảy ra cho sức khỏe tâm thần trong hôn nhân, cả trong sự so sánh với những người chưa bao giờ kết hôn, và với những người chấm dứt hôn nhân.”

Bà Scott nói cuộc nghiên cứu thấy rằng việc kết hôn, so với việc không kết hôn, tốt cho sức khỏe tâm thần cho cả hai phái, không phải chỉ cho phụ nữ, như những cuộc nghiên cứu trước đây đã kết luận.

Tuy nhiên, cuộc nghiên cứu kết luận rằng đàn ông có thể ít trở nên buồn chán hơn so với phụ nữ trong cuộc hôn nhân đầu tiên của họ, một yếu tố mà bà Scott nói có thể liên hệ tới vai trò truyền thống của giới tính trong gia đình, như những cuộc thăm dò khác của WMH đã chứng tỏ rằng khi phụ nữ được giáo dục tốt hơn, tỉ lệ buồn chán có khuynh hướng giảm bớt.

Sự khác biệt giới tính khác mà cuộc nghiên cứu tìm thấy là việc kết hôn giảm bớt nguy cơ bị những rối loạn sử dụng chất ở đàn bà nhiều hơn ở đàn ông. Bà Scott nói điều này có thể giải thích bởi sự kiện rằng phụ nữ thường là người săn sóc chính cho con cái còn nhỏ.

Tuy nhiên, mặt xấu của hôn nhân, theo cuộc nghiên cứu của Ðại Học Otago, là chấm dứt nó có một hậu quả tiêu cực cho cả hai phái.

“Ðiều mà cuộc nghiên cứu của chúng tôi vạch ra là quan hệ hôn nhân cung cấp rất nhiều lợi ích sức khỏe tâm thần cho cả đàn ông lẫn đàn bà, và rằng sự buồn chán và rối loạn liên kết với việc chấm dứt hôn nhân có thể làm cho người ta dễ đi tới những rối loạn tâm thần,” bà Scott nói.

Cuộc nghiên cứu mới đây được đăng tải trên tạp chí Y Học Tâm Lý của Anh. Cuộc nghiên cứu được thực hiện với sự cộng tác với Tổ Chức Y Tế Thế Giới, Ðại Học Harvard và một số các tổ chức quốc tế khác. (n.n.)

Posted: Tue Feb 09, 2010 6:17 am
by quaichao
Cô đơn cũng dễ lây lan

Image
Sống giao thiệp với người khác cũng quan trọng cho sức khỏe công cộng không khác gì phải thường xuyên rửa tay và ho phải che miệng.
(Hình: Google)

Nicholas Christakis thuộc trường Ðại Học Y Khoa Havard ở Boston, đồng tác giả của bản nghiên cứu mới được đăng trong Journal of Personality and Social Psychology số Tháng Mười Hai, nói: “Người sống ở rìa của hệ thống gieo rắc nỗi cô đơn cho kẻ khác rồi cắt đứt dây liên hệ, cũng như khi ta kéo mép ngoài áo len, cả chiếc áo sẽ bị sổ tung.”

Khám phá mới cho thấy cô đơn cũng lây nhiễm như bệnh mập, hút thuốc và sung sướng mà người ta được biết gần đây. Cô đơn dễ lây nhiễm cho bạn bè hơn cho gia đình, lây lan trong giới phụ nữ nhiều hơn nam giới, và lây mạnh nhất nơi những người lân cận sống cách nhau trong vòng một dặm.

Nghiên cứu cũng khám phá thêm rằng cô đơn lây lan theo ba mức độ khác nhau. Một người bạn cô đơn có 40% đến 65% cơ hội làm bạn cô đơn theo. Nhưng một người bạn cô đơn của một người bạn lại gia tăng khả năng bạn bị cô đơn 14% đến 36%. Một người bạn của một người bạn của một người bạn càng tăng nguy cơ này thêm 6% đến 26% nữa.

Nghiên cứu của Christakis và James Fowler, thuộc trường Ðại Học UC San Diego kết luận rằng người cô đơn có khuynh hướng, hướng ra ngoài cùng của hệ thống xã hội. Nhưng thoạt đầu kẻ cô đơn ấy lại truyền một thông điệp về cảm giác lẻ loi của mình đến với bạn bè và hàng xóm.

Theo John Cacioppo thuộc trường Ðại Học Chicago, vì cô đơn cũng gây hại cho sức khỏe từ bệnh tim đến Alzheimer, mang người cô đơn trở lại với hệ thống cũng quan trọng cho sức khỏe cộng đồng. (TP)

Posted: Wed Feb 10, 2010 2:50 am
by thienthanh
Nhà báo Bill Hayton rung chuông báo động _

Bùi Tín
Một bài báo đầu năm 2010 trên tạp chí Mỹ Foreign Policy được độc giả khắp nơi chú ý, đọc và trích dẫn, nhan đề: "Vietnam New Money"- "Tài sản Mới ở Việt Nam". Người viết là Bill Hayton từng là phóng viên hãng BBC - Anh ở Đông Nam Á và Việt Nam. Ông viết hay, và viết khỏe, phân tích tình hình sâu, có những nhận định độc đáo, khác người.

Ngay từ những năm "ổn định", "huy hoàng" của người hùng Suharto ở Indonesia và của người hùng Marcos ở Philippines, B.Hayton đã chỉ ra kết thúc bi thảm không tránh khỏi của 2 chế độ độc tài phản dân chủ này.

Trong bài báo đầu năm về Việt Nam vừa kể, B.Hayton chỉ ra những đặc điểm về kinh tế tài chính ở Việt Nam những năm gần đây. Nổi bật nhất là sự câu kết giữa những cơ sở quốc doanh hùng mạnh với những cá nhân mang danh "tư nhân", nhưng hầu hết là đảng viên có quyền lực lớn qua con em, người thân của họ.

Theo luật, mọi tư nhân đều có quyền kinh doanh hợp pháp, và pháp luật bảo đảm sự bình đẳng giữa các kiểu sở hữu: quốc doanh, hợp doanh, tập thể (hợp tác xã) và tư nhân, nhưng trên thực tế không phải vậy.

Các tập đoàn quốc doanh (gần 20 Tổng công ty) và gần 100 công ty quốc doanh do nhà nước, chính phủ của đảng CS sở hữu và quản lý chi phối phần lớn nền kinh tế tài chính của quốc gia. Các ngành ngân hàng, điện, nước, khai khoáng, giao thông, vận tải đường bộ, biển, hàng không, bưu điện, giáo dục, y tế, xuất nhập khẩu, buôn bán lương thực, dịch vụ lớn các loại đều do các Tập đoàn tổng công ty và công ty quốc doanh nắm giữ, gần như độc quyền.

Còn phần của tư nhân? Đây mới là thực chất của vấn đề. Từ khi "đổi mới"chính quyền trong nước đã buộc phải từ bỏ độc quyền kinh tế-kinh doanh trong khi duy trì độc quyền chính trị quản lý đất nước, nhưng ngay trong lĩnh vực kinh tế-tài chính - kinh doanh, mọi người dân thường, mọi công dân, mọi nhà tư nhân đâu đã có thật sự quyền tự do kinh doanh, đâu đã có quyền cạnh tranh bình đẳng ngang nhau.

Từ khi "đổi mới" năm 1986, rồi từ khi vào WTO năm 2006, đúng là khu vực tư nhân phát triển khá, tỷ lệ giá trị ngày càng lớn trong nền kinh tế quốc dân, nhưng các doanh gia tư nhân ấy là ai? Họ đã được đảng CS chọn lọc kỹ.

Đó là những "con ông cháu cha" của giới quyền lực cấp cao, là phu nhân, họ hàng thân thiết của các quan chức cao cấp ở trung ương, ở các tỉnh, thành phố, là người nhà, bạn bè, phe cánh của anh Hai, chị Ba, chú Tư, dì Năm, bác Sáu, cụ Mười...trong Bộ chính trị, trong trung ương đảng, theo các kiểu quan hệ thư tay, điện thoại, gửi gắm, nhấm nháy, qua trung gian tin cậy và ám hiệu riêng, chỉ trỏ cho nhau các món làm ăn béo bở nhất, để chia chác, lại quả, hoa hồng...

Nhà báo Bill Hayton cảnh báo nguy cơ đất nước nằm ngay ở đó. Bất công ngày càng nặng, giàu nghèo càng mở rộng toang hoác vô độ là ở đó, tham ô ngày càng rộng tăng cao vô hạn là ở đó, tài sản quốc gia bị xà xẻo vô tội vạ là ở đó, bộ mặt quan chức lấm lem nhơ nhuốc là ở đó, "con cháu các cụ cả " phá nát đạo lý gia phong là ở đó. Đồng tiền, đồng đô la ngự trị, chi phối mọi mối quan hệ trong và ngoài nước là ở đó.

Mô hình đặc trưng nói trên của thời kỳ tư bản đỏ "hậu cộng sản" nhưng vẫn dính chặt với cái đuôi cộng sản là nền chuyên chính vô sản, là để giới cầm quyền lợi dụng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân phục vụ riêng cho họ - một tầng lớp cầm quyền mới cực kỳ tham lam và hung bạo - thẳng tay đàn áp mọi thế lực và cá nhân dám vạch mặt, can ngăn hành động phi pháp vô luân của họ.

Cái nền tảng xã hội đang rung rinh và có nguy cơ đổ sập bất cứ lúc nào là tình trạng bất công lan tràn như bão lụt, kẻ bất tài vô luân nắm cả 3 quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, những hiền tài yêu nước khảng khái bị trù dập, nhà kinh doanh tư nhân có tài kinh bang tế thế bị thất thế không sao dựng nghiệp nổi vì thiếu cạnh tranh bình đẳng trong pháp luật với các nhà tư bản đỏ gian manh.

Tạp chí Mỹ Forbes ước tính ở Trung Quốc, tư bản đỏ, còn gọi là "tư bản thân ôhữu", "tư bản bồ bịch","cộng sản phe cánh"- crony capitalism, crony commies - hiện chiếm 0,6 % số dân, tức là 5 triệu trên 1 tỷ 300 triệu dân, vậy mà chiếm đến 70 % tài sản quốc gia. Với tỷ lệ tương đương, ở Việt Nam, tầng lớp tư bản đỏ ước tính là 65 vạn người ngự trị trên sự thiếu thốn, nghèo đói, bệnh tật của trên 84 triệu đồng bào mà họ cai trị, bóc lột và thẳng tay đàn áp.

Nhà báo B. Hayton kết luận chế độ "tư bản đỏ" kiểu Việt Nam như hiện nay không thể đứng vững, nền tảng của nó đang lung lay, không sao tránh khỏi phá sản và lao xuống dốc do cái nền tảng bất công, phi pháp và hại dân của nó.

B. Hayton còn lật tẩy sự câu kết giữa tư bản đỏ Việt Nam với các nhà tư bản Mỹ tham lợi nhuận phi pháp, khi đưa ra dẫn chứng tiêu biểu là cuộc kết hôn tại Sài Gòn tháng 11-2008 của nhà tư bản Nguyễn Bảo Hoàng, Tổng giám đốc hãng IDG - Ventures ở Mỹ, với cô Nguyễn Thanh Phượng, Giám đốc hãng Viet Capital ở trong nước, con gái của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, vốn của 2 nhà tư bản xanh+đỏ này gộp lại là 150 triệu đô-la Mỹ.

Bài báo của B. Hayton rất nên được dịch cho các đảng viên CS trong nước đọc nhân đại hội đảng các cấp sắp tới, rất nên đến tay các sỹ quan và binh sỹ Quân đội nhân dân, Công an nhân dân... Cũng xin mời hơn 60 giáo sư, tiến sỹ Học viện chính trị và hành chính quốc gia Hồ Chí Minh vui lòng lên tiếng phản biện.

Posted: Thu Feb 11, 2010 4:11 am
by dailien
Cuộc sống tẻ nhạt có thể khiến ta chết sớm

Một nghiên cứu cho thấy những người có cuộc sống đơn điệu có nguy cơ chết sớm bởi bệnh tim và đột quỵ cao gấp hai lần người bình thường.

Image
Ảnh minh họa của workitmom.com.
Telegraph cho biết, các chuyên gia y tế của Đại học London, Anh, theo dõi 7.524 công chức nhà nước trong hơn 25 năm để tìm hiểu mối quan hệ giữa cuộc sống hàng ngày với tuổi thọ. Những người này có độ tuổi 35-55. Nhóm nghiên cứu hỏi họ về mức độ buồn tẻ trong công việc và cuộc sống riêng tư.

Kết quả cho thấy những người cảm thấy cuộc sống đơn điệu có xu hướng nhiễm những thói quen có hại cho sức khỏe – như nghiện thuốc lá, uống nhiều rượu. Những thói quen đó làm giảm tuổi thọ của họ. Cụ thể, gần 40% số người sống đơn điệu có nguy cơ qua đời sớm. Khả năng chết vì bệnh tim và đột quỵ của họ cao gấp hai lần mức trung bình của xã hội.

Nghiên cứu cũng cho thấy 10% số người được theo dõi cảm thấy cuộc sống nhạt nhẽo, trong đó phụ nữ chiếm tỷ lệ lớn hơn nam giới. Người lao động trẻ và những người làm công việc thấp kém dễ rơi vào tâm trạng buồn chán hơn.

Martin Shipley, một thành viên trong nhóm nghiên cứu, phát biểu: “Chúng tôi phát hiện những bằng chứng cho thấy có mối liên hệ giữa bệnh tim với sự buồn chán. Vì thế, những người có công việc tẻ nhạt nên tìm kiếm những sở thích khác để xua đuổi tâm trạng chán nản, chứ không nên tìm tới rượu và thuốc lá”.

Graham Price, một nhà tâm lý Anh, cho rằng những người có cuộc sống nhàm chán nên nâng cao cuộc sống tinh thần bằng cách nghĩ nhiều hơn tới việc giúp đỡ những người khác. Như thế họ sẽ cảm thấy cuộc sống trở nên vui vẻ và ý nghĩa hơn.

Minh Long

Posted: Fri Feb 12, 2010 6:17 am
by khieulong
Image

TÌNH TÔI DẠO ẤY
Nguyễn Khắp Nơi
Thân tặng những người sắp yêu, đang yêu và đã yêu

Là Lính hay là Dân sự, là quan cũng như là dân, ai cũng có một thời để YÊU và một thời để . . . CHẾT (không tính tới những thời ngồi bên nhau . . . để CÃI LỘN). Thần Ái Tình có thể đến với bạn bất cứ lúc nào, và ngược lại, Thần Chết cũng có thể ngoắc tay kêu bạn đi trong bất cứ thời gian, không gian nào.

Đúng dịp Valentine day, một Huynh Trưởng đã từ miền hái trái cây xa xôi Queensland đến thăm tôi.

Xin giải thích rõ : Huynh Trưởng là một “Đại Danh Từ” mà tôi dùng một cách trân trọng, để gọi những vị đã “Đăng Lính” Việt Nam Cộng Hoà để bảo vệ Tổ Quốc Miền Nam Việt Nam trước tôi. Từ thời đăng lính đó cho tới bây giờ, những quý vị này đã có một cuộc sống hoặc đã làm những điều gì mà tôi tâm phục, khẩu phục. Ngoài ra, những người bạn khác mà tôi đã quen hoặc chưa quen, đều là bạn lính và bạn dân sự của tôi cả, mà tôi cũng gọi một cách trân trọng là . . . Bạn Hiền.

Tôi phục huynh trưởng này là vì, từ khi định cư ở Úc cho đến bây giờ, ông ta đã chưa hề nằm nhà lãnh trợ cấp thất nghiệp một ngày, một giờ nào cả, chưa hề đến thăm văn phòng của hãng gạo này một lần nào, vì bất cứ lý do gì ! Sau vài câu chuyện, tôi đổi đề tài, hỏi huynh trưởng có ý kiến gì về “Ngày của Tình Yêu” ? “Ngày của Tình Yêu ?. . . Dẹp đi ! . . . Xưa rồi” !
Tôi vẫn tiếp tục hỏi : “Nhưng mà, chắc chắn anh cũng đã Yêu ? Và Yêu khờ dại ? Ít ra một lần ?”

Mặt huynh trường này bỗng thờ thẫn ra, để trở về với quá khứ hàng chục năm về trước. . .

“Hồi đó, tôi đang học lớp Đệ Nhị (lớp 11 bây giờ) trường Chu Văn An. Hằng ngày cong đuôi đạp xe đạp từ Thị Nghè tới Chợ Lớn. Đường xa, đạp xe ná thở, nhất là những buổi trưa hè, chạy ngang qua đuờng Hồng Thập Tự, tiếng ve sầu kêu rỉ rả buồn lắm. Ngày nào tôi cũng nhìn quanh nhỉn quẩn đế tìm bạn đồng hành, nói chuyện cho vui. Tình cờ, một hôm, tôi gặp một cô học sinh cũng đang đạp xe đạp đi học như tôi. Thấy cô là tôi cảm ngay, thích ngay ! Vì cô chính là mẫu người mà tôi đã tưởng tượng ra để mà thầm yêu. Thế là tôi cứ thế đạp xe theo đuôi cô nàng mà lòng bồi hồi thổn thức.”

Về phần cô gái, trong vài ngày đầu, có thể cô chưa để ý gì tới tôi, nhưng sau cả tuần lễ, cứ thấy một anh chàng đạp xe cặm cụi theo đuôi mình, thì cô dần dần cũng để ý, và có vẻ . . . thẹn thùng cảm động. Có khi cô đạp xe nhanh hơn lên tuốt về đằng trước, cũng có khi cô đạp chầm chậm lùi lại phía đằng sau tôi, chắc là để kiểm soát xem, có thật là tôi đang đeo cô ta hay chăng ?

Có hôm được nghỉ giờ đầu, tôi làm gan theo cô tới tận trường, mới biết cô học trường Nguyễn Bá Tòng, ở đường Bùi Thị Xuân (qua khỏi Ngã Sáu Sài Gòn). Thế là sau đó, mỗi buổi tan học, tôi đã phải đạp xe thật nhanh, đạp lè lưỡi, để tới chờ nàng ở trước cổng trường. Gập rồi, tôi chỉ dám đạp xe đi theo sau cô ta mà thôi, làm đủ mọi cách để cho cô biết là có tôi theo đằng sau, chỉ nhiêu đó thôi là tôi đã cảm thấy vui vẻ hạnh phúc lắm rồi !

Cả tháng sau (không phải ngày nào tôi cũng gập cô), sau khi đã suy nghĩ tới lui, uống đủ loại thuốc liều, tôi mới dám bạo gan . . . đạp xe lên song song với cô để nói chuyện làm quen. Mặc dù đã học thuộc lòng những câu nói xã giao, tôi cũng vẫn cứ lọng cọng, lúng túng như thường. Mặt tôi đỏ lên, miệng tôi ấp úng không ra lời, để rồi cuối cùng, cô gái, dù cũng đang đỏ mặt mắc cở giống tôi, nhưng cũng đã lên tiếng gỡ bí cho tôi : “Chào . . . ÔNG”
Tôi như người chết đuối vớ được cái phao, vội vàng ấp úng, lên tiếng :
“Chào . . . Chào . . . Chào . . . Chị”

Đáng lẽ, theo đúng sách vở, tôi phải gọi cô là CÔ, nhưng tôi quýnh quáng quá (nói theo kiểu các huynh trưởng trong Thủ Đức, tôi còn quờ quạng quá), nên đã kêu cô bằng . . . chị. Tôi chỉ nói duy nhất được có một câu nói đó rồi thôi. Bao nhiêu nhiệt điện, bao nhiêu năng lực của tôi đã tích tụ từ mấy tháng nay cũng chỉ giúp tôi nói được có một câu duy nhất đó thôi, rồi chết máy luôn, không nói được thêm lời nào nữa. Thậm chí tới khi cô rẽ phải đi về nhà, tôi cũng không làm sao đủ can đảm nói lời chào từ giã . . .

“Tại vì hai đứa ngây thơ,
Tình tôi dạo ấy là . . . ngơ ngẩn nhìn . . .”
(Thơ Nguyễn Tất Nhiên, nhạc Anh Bằng)

Về đến nhà, tôi đã vui suốt ngày hôm đó, vì đã được người đẹp nói chuyện với mình. Nhưng lại giận mình ghê gớm, vì đã không nói lên được câu nào làm quen cả. Tôi đi vấn kế một bạn thân đã từng . . . có bồ. Nó đã làm tôi lên tinh thần hết biết khi bật mí cho tôi hay rằng: Hồi mới làm quen với cô bạn gái, nó ăn nói còn lúng túng vụng về còn hơn tôi nữa ! Nó quờ quạng tới nỗi, khi được cô bồ nói …
“. . . Chào Ông”,
Nó đã hoảng hồn mà chào lại là “. . . Chào B . . . BÀ !!!”.

Tôi và nó đã ngồi suốt buổi chiều để vẽ ra, đưa ra những câu nói làm quen mà tôi sẽ phải nói vào dịp tới. Trưa hôm sau, khi gập lại cô gái trên đường về, cả hai chúng tôi đều có vẻ ngượng ngùng mắc cở. Tôi vẫn lóc cóc đạp xe đi sau một lúc lâu mới dám đạp lên ngang hàng với cô. Tôi đã mang hết cả can đảm ra mà mở lời chào trước : “. . . Chào. . . Cô”
Tôi đã sung sướng hơn cả nằm mơ khi cô nàng đã mỉm cười lại với tôi và chào lại với giọng nói thật là dễ thương : “Chào . . . Anh”

Thế là chúng tôi quen nhau từ đó. Tên cô bạn gái của tôi (tạm gọi) là Khánh, học lớp Đệ Tứ, Trường Nguyễn Bá Tòng. Từ đó, mỗi ngày tan trường về, tôi phải đạp xe thật nhanh, đạp ná thở, đạp quên thôi, để kịp gập Khánh ở ngay cổng trường hoặc trên đường Hồng Thập Tự. Sau nhiều lần gập gỡ, tôi có xin địa chỉ để đến nhà thăm Khánh, và cũng đã được giới thiệu sơ qua với người anh trai của Khánh, cũng trạc tuổi tôi.

Gần tết, là dịp mọi người vui vẻ đi chợ hoa, sắm đồ tết. Tôi cũng đã dự tính sẽ một ngày nào đó mời Khánh đi xem xi nê, ăn kem rồi dạo chơi chợ hoa ngắm hàng tết. Vấn đề quan trọng nhất là phải làm sao kiếm ra TIỀN. Tôi phải có đủ số tiền tối thiểu để mua hai cái vé hát ở rạp Rex và hai ly kem ở Mỹ Hương. Mốt của thời đó là đưa đào đi xem xi nê xong là phải đưa nàng đi ăn kem, vì ở chỗ này mới nói chuyện hẹn hò được, chứ còn ở trong rạp xi nê thì nhiều lắm là nắm tay nhau xem phim thôi.

Lúc đó, tôi chỉ là một cậu học sinh thuần túy, ngoài bộ quần áo đồng phục học sinh (quần xanh biển, áo sơ mi trắng) mặc hằng ngày, thì tôi đâu còn có cái gì khác nữa đâu! Đào đâu ra tiền mà mời đào đi chơi? Không lẽ có đào mà đành phải ngồi nhà :
“Nhìn vầng trăng sáng lung linh,
Nhìn em mười sáu như cành hoa lê ???”

Bố tôi hồi đó làm thầy giáo, lương ba cọc ba đồng, còn mẹ tôi ở nhà làm việc nội trợ. Bố tôi lâu lâu lãnh tiền . . . ráp pen (tiền thưởng), cũng có cho tôi vài đồng uống nước, nếu để dành thì đến bao giờ tôi mới đủ tiền mời người đẹp đi chơi ? Nhưng nếu không đi chơi riêng với nhau thì làm sao mà tỏ tình ? Làm sao mà nói chuyện thương với yêu ? Khó quá ! Lỡ mà :
“Rồi mùa thu ấy qua đi,
Chợt em mười tám chợt nghe lạnh lùng.”
tôi chỉ dám nghĩ tới đây thôi, chứ không dám nghĩ tiếp nữa. . .

Dịp may đã tới ! Anh tôi xin được một chân dậy học ở một trường công lập ở ven đô, anh lãnh lương kỳ đầu, dúi cho thằng em ít tiền lẻ. Tôi giúp bố tôi soạn bài dậy học, được ông cho một ít nữa. Tôi chạy tới chạy lui mấy thằng bạn mượn thêm ít tiền, thế là đủ tiền mời Khánh đi chơi rồi. Tôi cầm tiền mà mừng hết lớn, nghĩ tới một chiều Chủ Nhật nào đó, được nắm tay Khánh dẫn đi trên con đường Nguyễn Huệ, hạnh phúc biết là chừng nào ! Tôi thiếu điều muốn nhẩy cỡn lên như cô Bê Rét khi nghĩ tới số tiền mình có sau khi đã bán xong liễn sữa bò.

Tôi đã phải dùng hết mười thành công lực mới có đủ nghị lực mời Khánh đi xi nê: Hết viện cớ đó là một phim thật hay, cả đời mới có một lần, đang chiếu ở rạp Rex, Sài Gòn, lại nói tới ngày hôm đó là Chủ Nhật gần tết, đi xem xi nê xong thì đi dạo chợ hoa, một công mà hai việc . . . Khánh đã rất cảm động khi nghe tôi mời đi chơi, nhưng cô đã hết viện dẫn lý do này tới lý do khác để từ chối :
“. . . Ba mẹ của Khánh khó lắm, Khánh không dám xin đâu !”Rồi lại :
“Hồi này thầy ra bài vở nhiều quá, Khánh phải làm bài, không thì bị phạt cấm túc.” Cuối cùng là : “. . . Khánh phải trông cháu cho chị bán hàng. . .”

Để từ chối lời mời chân thành của tôi. Tôi phải cong lưỡi mới tới mấy ngày, Khánh mới nhận lời, nói rằng : “May quá, Ba đi công tác, Khánh bạo gan xin phép Mẹ, nói dối rằng ”Tới thăm cô bạn gái”.
Được Khánh nhận lời đi xem xi nê, tôi mừng quá chừng quá đỗi. Bây giờ mới là giây phút gay go kế tiếp cho tôi : Tìm ra một bộ đồ chiến để diện với đào !

Hàng ngày đi học, tôi có quyền mang dép săng đan (sandal), mặc quần kaki, nhưng khi đi chơi với gái, lại đi xem xi nê ở rạp Rex nữa, ai lại mặc quần kaki xanh dương, mang dép bao giờ ? Quần mặc tết năm ngoái, tôi mặc thử, tuy ngắn một chút, nhưng cũng còn . . . được lắm ! Nhưng tìm đâu ra đôi giầy bây giờ ?Tôi thậm thụt ngó đôi giầy của anh tôi mới mua để đi dậy học. Lúc anh không có nhà, tôi đã mặc quần tết, mang thử đôi giầy của anh, đứng trước gương ngắm nghía cả nửa tiếng đồng hồ, thấy mình đẹp trai hẳn lên.

Hôm sau, lúc anh tôi đi dậy học về, tôi lấy sira đánh đôi giầy của anh bóng loáng lên, rồi làm gan . . . hỏi anh cho mượn đi chơi đỡ một buổi. Anh tôi cũng thông cảm cho mượn liền, chỉ nói đừng có chạy mà làm hư đôi giầy kiếm tiền của ảnh. Tôi ủi đi ủi lại cái áo sơ mi trắng và cái quần tết, lôi đôi giầy của anh tôi ra đánh nữa, bóng tới nỗi con ruồi đậu lên trên cũng bị té xuống đất, mà vẫn thấy chưa đủ! Thậm chí có mấy đồng tiền, tôi cũng đem ủi thẳng băng, móc ra bỏ vô túi thật nhiều lần cho nó có vẻ . . . dân biết xài tiền.

Ngày vui đã gần kề, tôi nhắc đi nhắc lại cho Khánh nhớ địa điểm hẹn, ở ngay trước cửa nhà sách Khai Trí, đường Lê Lợi, mà ai ai cũng biết. Khánh đã phải nói nhiều lần là nhớ rồi, tôi vẫn thấy không yên tâm. Giờ hẹn là hai giờ chiều Chủ Nhật, mà mới một giờ tôi đã có mặt ở nhà sách Khai Trí. Tôi đọc hết cuốn sách này tới sách khác mà vẫn chưa đến giờ hẹn, tôi ra ngoài đi vòng vòng ở khu đi bộ để chờ Khánh tới. Đây rồi, Khánh đã tới ! Đúng giờ gớm ! Tôi cảm động ra mặt, đang định bước ra để đón cô bạn gái, bất chợt tôi khựng lại thật nhanh.

Khánh của tôi không đi một mình, mà lại kèm theo cô em gái nữa ! Cả hai đang nhớn nhác nhìn quanh kiếm tôi. Tôi hoảng quá, vội vàng quay ngược lại, đi ra xa điểm hẹn, vừa đi vừa suy nghĩ thật nhanh :
“Trời hỡi ! Làm thế nào bây giờ ? Tôi chỉ có đủ tiền mua hai vé xi nê, hai ly kem mà thôi, không dư lấy một cắc. Tiền đâu ra mà mua thêm vé cho cô em gái này ? Không lẽ chỉ đi xin nê không thôi, rồi về, không đi ăn kem gì cả ? Hoặc là . . Chỉ đi ăn kem thôi, không đi xi nê nữa ? Tôi bối rối quá ! Tại sao Khánh đã nhận lời đi chơi với tôi rồi, lại còn dẫn theo cô em gái làm chi cho tôi kẹt giỏ như vầy ?

Phải chi tôi có việc làm nào đó, kiếm ra tiền, hoặc là tôi mượn thêm được ở đâu một ít tiền nữa, thì tôi đâu có phải suy nghĩ làm chi cho mệt ! Chán quá ! Tôi suy nghĩ lung lắm, rồi quyết định . . . đi về luôn, không hẹn hò gì nữa cả ! Đành phải cho Khánh . . . leo cây vậy !

Tôi tiếc buổi đi chơi như đứt ruột, nhưng không thể nào ra điểm hẹn để gập Khánh được, vì đi xi nê cũng không xong mà đi ăn kem suông cũng không ổn. Thôi thì . . . Tam thập lục kế, tẩu vi thượng sách ! Tôi không về nhà ngay, đạp xe đến thằng bạn đã có bồ mà kể lại câu chuyện và xin diệu kế. Thằng bạn không biết khuyên giải ra sao, đành thở dài giùm tôi mà thôi.
Tôi đem bộ mặt đưa đám về nhà. Anh tôi hỏi : “Đi chơi có vui không ?”

Tôi chẳng nói chẳng rằng, thay quần áo, trả đôi giầy lại cho anh rồi chui vào một góc nhà mà ngồi suy nghĩ miên man. Tôi không biết nên giận Khánh hay giận cô em gái đã “Kỳ đà cản muỗi”. Không biết Khánh đã tự ý dẫn cô em gái đi theo, hay là cô em thấy vui thì đòi đi ké ?Thôi thì đành phải để cho mùa thu qua đi thôi, chứ biết làm gì nữa bây giờ ?

“Rồi mùa thu ấy qua đi
Chợt em mười tám chợt nghe lạnh lùng
Thuyền đành xa bến sang sông
Hàng cây trút lá tình đi lấy chồng..

Lỡ Khánh mà đi lấy chồng thì tôi sống sao nổi ! Đã vậy, Khánh sẽ nghĩ gì về tôi ? Tôi đã năn nỉ Khánh biết bao nhiêu lần mới được cô nhận lời, tại sao hẹn mà lại lỡ hẹn ? Tôi rõ ràng là chơi không đúng mốt rồi. Mốt của tình yêu từ xưa tới nay, chỉ có con gái mới có quyền cho kép leo cây, chứ kép ít khi có dịp làm bảnh cho đào leo cây lắm.

Bằng chứng là, Hồ Dzếnh chỉ làm thơ kể lể :
“Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé,
Anh sẽ trách, cố nhiên, nhưng . . . rất nhẹ”

Còn Trần Thiện Thanh thì hát :
“Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé,
Để anh buồn như . . . anh chàng làm thơ.”

Khánh có còn muốn làm bạn với tôi nữa hay sẽ giận mà cho tôi đi luôn ?Tôi còn đủ can đảm để gập lại Khánh nữa hay chăng? Tôi sẽ ăn nói với Khánh như thế nào ? Dù là lỗi tại ai đi nữa, hôm nay tôi cũng đã mất mặt, và mất một ngày vui ! Đến tối, chị tôi mới đi làm về, thấy tôi chưa ăn cơm mà ngồi cú rũ một góc thì chị ngạc nhiên mà đến hỏi lý do? Tôi hậm hực trút giòng tâm sự. Chị nghe xong thì cười như nắc nẻ :

“Con gái ấy mà !
Khánh nó ngại là em sẽ coi thường nó, khi thấy nó nhận lời đi chơi với em dễ dàng quá (?), nên nó mới đưa đứa em đi theo cho có vẻ . . . con nhà lành ấy mà ! Nó cũng ngây thơ, cứ tưởng có đứa nhỏ đi theo, đâu có tốn kém bao nhiêu? Nó đâu có biết là em . . . chỉ đủ tiền cho hai đứa mà thôi !
Đừng giận Khánh, nó cũng . . . con nít như em vậy mà ! Nó cũng muốn đi chơi với em, nhưng lần đầu thì còn e ngại nên mới làm như vậy mà thôi ! Yên chí, lần sau cô ta sẽ không đưa cô em theo nữa đâu !

Tôi nghe chị giải thích thì cũng xiêu lòng, nhưng cũng không dám tin ngay để mời Khánh đi chơi lần khác. Biết đâu lần khác này, Khánh không dẫn cô em gái đi theo, nhưng lại dẫn . . . Mẹ đi theo trông chừng, thì tôi không biết độn thổ đi đâu ? Hai ngày sau tôi mới gặp Khánh, mặt cô buồn buồn, không thèm chào hỏi gì tôi cả. Tôi lờ đi, coi như không có chuỵên gì xẩy ra, mà can đảm nói dối :
“Xin lỗi Khánh, tôi đi tới chỗ hẹn sớm lắm ! Nhưng nửa đường thì . . . đau bụng quá, phải tìm chỗ đi. Tại vì buổi sáng, tôi có ăn cơm nguội mà lại không hâm nóng lại.”

Khánh nghe ra thì tin là thật, nên vui vẻ trở lại mà xuýt xoa tiếc cho buổi đi chơi không thành. Tôi vui vẻ kể lại cho Khánh sơ lược của cuốn phim mà chúng tôi đã dự định đi xem, càng làm cho Khánh tiếc rẻ thêm . . .

Tôi nhìn Huynh Trưởng bằng cặp mắt thông cảm, rồi xuống một câu vọng cổ thiệt là mùi :
“Rồi . . . sao nữa, Huynh Trưởng ?”
Huynh Trưởng của tôi uống cạn ly nước lạnh, đổi bộ mặt buồn so thành vui vẻ, mà rằng : “Tình . . . Học Sinh mà ! Ngây thơ, khờ dại và đẹp như vậy đó ! Nhưng rất tiếc là tôi đã mất cuộc tình đó rồi !”
- “Sao dzậy ? Cuộc tình tuy có tốn nhiều mồ hôi, tuy có . . . đau bụng một chút, nhưng là một cuộc tình đầy triển vọng, và rất là . . . Valentine. Sao lại kết thúc không đẹp tí nào hết vậy ?”

Huynh trưởng của tôi trầm ngâm kể tiếp : “Không, không, cuộc tình của tôi vẫn đẹp như thường, đẹp lắm chứ ! Tôi và Khánh thông cảm với nhau, và cùng hẹn một dịp khác, sẽ đi chơi xem xi nê lại. Thế nhưng thời thế nó không chiều lòng người : Tết đó bọn Việt Cộng nó tổng tấn công Sài Gòn, nhà tan cửa nát. Nhà tôi ở Thị Nghè, nên chạy ra vùng Xa Lộ xem đánh nhau.

Khu Hàng Xanh bị nặng nhất, mà nhà Khánh thì ở trong đó ! Toàn khu vực đã bị bọn VC chiếm, bên ta đang đánh lấy lại. Tôi chạy theo đám người tỵ nạn đang cuống cuồng tìm lối thoát ra khỏi vùng giao tranh, để hy vọng tìm được Khánh và gia đình cô. Tôi đã chính mắt trông thấy bọn VC cướp của giết người, tôi cũng chính mắt chứng kiến những chiến sĩ Biệt Động Quân kiêu hùng, đã vì dân mà trừ bạo, đánh trận ở đầu cầu Xa Lộ thật là oai hùng, nên từ đó đã có ý định làm “Anh Hùng Mũ Nâu” mà tòng chinh giúp nước.

Cuối năm, tôi đậu Tú Tài I, tình nguyện đi Thủ Đức liền. Trước ngày trình diện nhập ngũ, tôi có đến nhà tìm Khánh để nói cho cô nghe quyết định của tôi. Khánh tỏ vẻ ngạc nhiên, vì chưa bao giờ nghe tôi nói tới chuyện đi lính cả ! Tôi ngại ngùng không muốn mời Khánh đi chơi, vì sợ Cha Mẹ Khánh nghĩ rằng tôi lợi dụng ngày cuối để rủ cô đi.

Sau thời kỳ huấn nhục, tôi đuợc đi phép lần đầu tiên, có ghé nhà thăm Khánh, nhưng lại không gặp, vì cô bận đi với mẹ thăm mấy người bà con. Ra trường, tôi còn mấy ngày phép, nên mặc bộ quần áo dân sự và mượn chiếc xe Honda của người anh để tới nhà thăm Khánh. Tôi đã mời Khánh đi chơi lần thứ nhì, Khánh đồng ý ngay và tôi đã được giới thiệu với Cha Mẹ Khánh để xin đưa cô đi phố.

Khánh ngồi sau xe, ôm vai tôi thật là dịu dàng và thân mật. Hai chúng tôi cũng đi xi nê, rồi đi ăn kem, nói chuyện vu vơ. Tôi cho Khánh biết là đã tình nguyện đi Biệt Động Quân, và sẽ trình diện Bộ Tư Lệnh vào tuần sau. Khánh nhìn tôi từ đầu tới chân rồi cười mà nói :
“Anh tuy có tướng lính, nhưng . . . chưa có tướng làm lính Biệt Động ! Vì Khánh đã có vài lần gập những ông lính BĐQ, mấy ông này trông to lớn và . . . ngầu lắm !”
Tôi cũng cười, trả lời : “Vài tháng sau, Khánh sẽ biết, tôi sẽ có tướng BĐQ hơn cả những ông BĐQ mà Khánh đã từng gập đó !”Trước khi về, tôi có nói là : “Khi nào được phép, sẽ về thăm và mời Khánh đi chơi lần nữa?” Khánh nhìn tôi, cười thật tươi và trả lời :
“Khánh rất hãnh diện khi được ông lính BĐQ mời đi chơi phố”.

Thế rồi, như anh biết đó, cuộc đời người lính Biệt Động hành quân liên miên, tôi lại được đổi về vùng IV, nên mất liên lạc với Khánh từ đó. Một mùa thu ấy qua đi cũng là te tua cuộc đời rồi, huống chi đã bao mùa thu qua đi trong đời lính của tôi. . .

Sau khi tan hàng, tôi bị đi tù cải tạo. Năm năm sau mới được trở về. Mẹ tôi hối thúc và lo đường vượt biên cho tôi, tôi từ giã Việt Nam thật là vội vã, không có thời giờ đi tìm Khánh nữa. Qua tới Úc, tôi cũng có tìm kiếm hỏi thăm, nhưng không còn có tin tức gì của Khánh nữa cả !

Cho đến nay, mỗi lần đi xi nê ở đâu, nhìn những cặp trai gái trẻ trung ríu rít bên nhau, tôi lại nhớ đến người tình nho nhỏ thời học sinh trước đây :

“Tại vì hai đứa ngây thơ
Tình tôi dạo ấy là ngơ ngẩn nhìn . . .”

HAPPY VALENTINE’S DAY !

NGUYỄN KHẮP NƠI

Posted: Fri Feb 12, 2010 6:38 am
by thienthanh
Dưa hấu không ... tròn
Năm 2001 người Nhật lần đầu tiên tạo ra loại dưa hấu có hình khối vuông.

Ở Việt Nam, vào năm 2004 Đinh Trần Nguyễn, lúc đó là sinh viên năm thứ 4 ngành trồng trọt thuộc ĐH Cần Thơ, bắt đầu thử ngiệm, tìm cách ép qủa dưa hấu thành hình khối vuông, như người Nhật. Dịp Tết năm 2007 Nguyễn tung bán ra thị trường loại dưa hấu có hình thù mới lạ này với gía 500.000 đồng / cặp.
Image

Image

Image

Image

Mấy năm vừa qua người Nhật còn tạo ra những trái dưa hấu hình mặt người, trái tim ...

Image

Image

Từ vài tuần nay trên các siêu thị điện tử (online) ở Việt Nam thấy rao bán dưa hấu hình "thỏi vàng" với gía 5,5 - 6 triệu đồng / căp. Cuối tuần rồi tại "Hội chợ hoa" ở Phú Mỹ Hưng cũng có bầy bán dưa hấu dáng "thỏi vàng", gía rẻ hơn, khoảng 3,5 - 4 triệu đồng / cặp.


Image


Image
Thạch Bích