Page 35 of 187

Posted: Mon Mar 22, 2010 3:27 am
by lilac2010

Image

TRƯỜNG XUÂN

Giao Chỉ


Tháng 4 năm 1975-Saigon / “ Một con tàu ngơ ngác ra khơi ” (Nam Lộc) / Một thuyền trưởng tuyệt vọng / Gần 4 ngàn hành khách của định mệnh / Cuộc hành trình không bờ bến / Vỏn vẹn 3 ngày hải hành trôi nổi / Hai người tự tử thủy táng / Hai đứa trẻ ra đời / Con tàu kéo Song An, cứu tinh số 1 / Thương thuyền nhân đạo Ðan Mạch, cứu tinh số 2 / Sau cùng, tàu Trường Xuân không chìm được kéo về Hồng Kông với thi hài của người khách cuối cùng:

Ðại tá Wong A Sáng, sư đoàn 5 bộ binh / Câu chuyện 34 năm trước được kể lại vào dịp ghi dấu 35 năm sau (1975-2010 ). / Và giới thiệu người con gái của biển Ðông: Chiêu Anh. (Shining Light).
Có con tầu nằm trên bến đỗ...
Ngày xưa tại Việt Nam gần như chỉ có 1 hãng thương thuyền hàng hải lớn nhất là Vishipcoline của chủ nhân Trần đình Trường. Hiện ông Trường là nhà tư bản có nhiều tài sản và hotel tại Nữu Ước.
Một trong các thương thuyền của hãng là tàu Trường Xuân, vị thuyền trưởng lúc đó là ông Phạm Ngọc Lũy. Ông Lũy sinh quán tại Nam Ðịnh, ra đời năm 1919. Vào tháng 5-1975 thuyền trưởng Phạm Ngọc Lũy đã có 30 năm kinh nghiệm hàng hải.

Ngày 26 tháng 4 năm 1975, Trường Xuân đã xuống hàng hoàn tất chuẩn bị chở sắt vụn đi Manila. Một chuyến đi vô thưởng vô phạt. Thuyền trưởng Phạm Ngọc Lũy lúc đó 56 tuổi, Bắc kỳ di cư, quyết không ở lại sống với cộng sản. Ông tìm đường ra đi bằng mọi giá. Ông ước mong dùng được Trường Xuân chở đồng bào tỵ nạn. Trên đống sắt vụn của Trường Xuân lần này phải là sinh mệnh của những con người. Ông cần có thủy thủ đoàn và ông cần cả hành khách. Trải qua bao nhiêu là gian nan phức tạp vào cái tuần lễ cuối cùng của cái tháng 4 đen oan nghiệt. Sau cùng tới 29 tháng 4-1975 thuyền trưởng Phạm Ngọc Lũy viết lên tàu hàng chữ định mệnh. Tàu Trường Xuân khởi hành 12 giờ trưa 30/4/75.
Image
Thuyền trưởng Phạm Ngọc Lũy.

Lúc đó thủy thủ đoàn gần 30 người nhưng ông chỉ có vỏn vẹn 5 người. Có lẽ ông cần chừng 300 hay 400 hành khách, nhưng chưa có người nào.

Con tàu Trường Xuân ngủ yên trên bến Saigon giữa đêm 29 rạng ngày 30 tháng 4-1975.

Saigon hấp hối
Tại Saigon mặt trận Long Khánh đã tan vỡ, tất cã 3 quân khu đều nằm trong tay giặc. Chỉ còn miền tây vẫn yên tĩnh. Sáu sư đoàn cộng quân 3 mặt tiến về Saigon. Các đơn vị pháo của Bắc quân đã chuẩn bị trận địa pháo vào thủ đô. Các tiền sát viên chỉ điểm cộng sản đã có mặt tại các vị trí quân sự.

Phi cơ trực thăng Hoa Kỳ đang bay di tản những phi vụ cuối cùng. Nội các mới của Việt Nam Cộng Hòa họp bàn về việc bỏ súng và bàn giao. Ðài phát thanh Saigon chuẩn bị đọc những lời tuyên bố đau thương của tổng thống Dương văn Minh gửi người anh em phía bên kia , xin mời vào nói chuyện. Thủ tướng Vũ văn Mẫu kêu gọi người anh em đồng minh Hoa Kỳ phía bên này, xin vui lòng ra đi.

Giữa mùa hè chói chang, radio của quân đội Hoa Kỳ chơi bài Tuyết Trắng, một ám hiệu kêu gọi ra đi lúc trái gió trở trời. Ðài quân đội Việt Nam Cộng Hòa hát nhạc quân hành trong tuyệt vọng.

Ðó là Saigon của đêm 29 rạng ngày 30 tháng 4-1975. Con tầu Trường Xuân bụng đầy sắt vụn vẫn nằm ngủ yên trên bến sông Khánh Hội. Lửa bắt đầu bốc cháy bên kho đạn Thành Tuy Hạ.

Cô gái thuyền nhân trong bụng mẹ
Cũng vào cái tuần lễ sau cùng của tháng 4 nghiệt ngã đó, có bà sản phụ vào nhà thương ngày 27/4/1975 để chuẩn bị sanh đứa con thứ hai.
Image
Bà dược sĩ trẻ tuổi có mang 9 tháng 10 ngày. Ðứa bé sẽ ra đời bất cứ lúc nào. Bây giờ tính sao đây. Xin mổ để sanh sớm rồi chạy, hay là tìm đường chạy rồi muốn ra sao thì ra. Chợt có được giấy phép di tản bèn bỏ nhà thương vào tòa đại sứ Mỹ. Nhưng rồi máy bay không trở lại. Cộng sản vào đến cửa ngõ Saigon. Gia đình tìm đường xuống Khánh Hội. Tìm ghe chạy ra tàu Trường Xuân sáng 30 tháng 4-75. Bà bầu cùng gia đình, mẹ già, con trai nhỏ 2 tuổi leo giây lên Trường Xuân.



MS Clara Maersk (Denmark) Mother and children.

Gia đình bà dược sĩ Saigon, mới ra trường năm 1972 đã thành những người khách không mời của chuyến hải hành vô định trên tàu Trường Xuân, ra đi xế chiều 30 tháng 4-1975.
Ðứa bé gái hoài thai từ Saigon tự do, nhưng gan lì nằm trong bụng mẹ hay sợ súng đạn nên không chịu chào đời. Cho đến khi Trường Xuân ra đến hải phận quốc tế. Ðứa bé mới chịu ra đời. Ðó là câu chuyện 34 năm trước viết lại cho ngày kỷ niệm 35 năm sau vào tháng năm 2010.

Trở lại với Trường Xuân
Vào chiều 30 tháng 4-1975, con tàu Trường Xuân sau khi đã thành lập xong 1 thủy thủ đoàn tình nguyện và có gần 4,000 hành khách ngẫu nhiên đã lên đường hết sức vất vả trong điều kiện kỹ thuật tồi tệ và bị phá hoại mọi bề.

Hành khách không vé của Trường Xuân gồm đủ tất cả hai ba thế hệ Việt Nam Cộng Hòa, mọi thành phần, mọi giai cấp, mọi hoàn cảnh. Ðủ cả ba ngành lập, hành và tư pháp. Có mặt sĩ nông công thương binh. Không hề thiếu nam phụ lão ấu. Các nghệ sĩ sáng tác và nghệ sĩ trình diễn. Chuyến hải hành vào chân trời vô định với một ông thuyền trưởng nhân đạo và hết sức kiên định. Những tay phụ tá tình nguyện rất xuất sắc và sau cùng định mệnh đã đưa 3,628 con người đi tìm tự do đến được bến tự do.

Thuyền trưởng Phạm Ngọc Lũy đã nói rằng Trường Xuân sẽ không thoát được nếu không có Song An. Song An là ai ? Ðây chỉ là tên con tàu kéo nhỏ bé đang trên đường từ Vũng Tàu về cảng Saigon. Anh già Trường Xuân đang mắc cạn bèn túm lấy đứa bé Song An đòi nó kéo. Vậy mà nó kéo được. Ra đến hải phận, cho đến lúc anh già Trường Xuân tự chạy được bác cháu mới chia tay. Lẽ dĩ nhiên câu chuyện hải hành của đêm dài 30 tháng 4-75 không giản dị như thế ! Với lửa cháy ngập trời Thành Tuy Hạ và tiếng súng đuổi theo trên sông Lòng Tào, đêm hôm đó là đêm dài nhất của cuộc đời Trường Xuân.

Khi anh già Trường Xuân từ giã cậu bé Song An trên đại dương, khách Trường Xuân góp tiền cho Song An trở về Saigon. Hai, ba bị tiền hàng chục triệu đồng Việt Nam đưa qua. Lái tàu Song An nói 1 câu kỳ diệu “ Thôi ! tiền nhiều quá, đủ rồi. Ðừng đưa nữa “.Trong đời chúng ta hiếm khi nào nghe được những lời nói đó.

Với tâm tình như vậy, tàu kéo Song An từ giã Trường Xuân. Tiếng còi tạm biệt trên trùng khơi nghe những nghẹn ngào.

Có vài hành khách bỏ Trường Xuân nhẩy theo Song An trở về Saigon. Trên 3,600 khách Trường Xuân ngó theo Song An nhỏ dần trên đường trở lại quê hương. Khóe miệng chợt thấy vị mặn. Ðây là nước biển sóng đánh bên thành tàu hay là nước mắt biệt ly.

Rồi con tàu Trường Xuân chạy 1 mình. Gần 4,000 hành khách. Không đủ nước, không có thức ăn. Máy móc trục trặc. Nước tràn vào khoang tàu. Sắt vụn vô tri dưới hầm tầu. Con người tuyệt vọng ở trên boong.

Hai người tự tử được thủy táng. Việt cộng phá hoại chỗ này. Máy tàu hư hỏng chỗ kia.

Con tàu vô định có thể sẽ là quan tài nổi. Một hỏa diệm sơn chưa nổ. Các tin tức bi quan được lệnh của thuyền trưởng phải dấu kín. Trường Xuân nín thở, ỳ ạch tiếp tục chạy. Chợt có tiếng kêu : “Có người rớt xuống biển.”

Ông thuyền trưởng Nam Ðịnh đứng im trên đài chỉ huy lặng người bất động. Nửa giờ trôi qua như 1 thế kỷ. Captain Phạm ngọc Lũy sau cùng ra lệnh quay tàu lại vớt người. Một quyết định vô vọng. Hành khách nói. Một quyết định sai lầm. Hành khách nói. Hy sinh 4,000 người để cứu 1 người là nhầm lẫn. Hành khách nói. Captain điên rồi.

Tại sao ? Thuyền trưởng sau này trả lời. Tìm vớt 1 người để cứu 4,000 người.

Như vậy có thể hiểu rằng con tàu Trường Xuân đang là một hỏa diệm sơn sẵn sàng phun lửa nổi loạn. Hành động bình tĩnh quay tầu lại tìm 1 người là bài học nhân đạo cho mọi người và giữ cho được sự bình an của toàn thể con tàu.

Có thể Thượng Ðế trên cao đã nhìn thấy chuyện vớt người giửa biển của Trường Xuân nên đã đem lại vị cứu tinh số hai. Ðó là con tàu Ðan Mạch. Tiếng Trường Xuân kêu cứu vọng trên đại dương. Tàu Ðan Mạch trên đường viễn du hỏi rằng thế đã kêu hạm đội Mỹ chưa? Trả lời : “Có số đâu mà kêu.” Ðan Mạch thở dài. “Thôi chờ đó, chúng tôi sẽ đến tiếp tế và rước chừng 1,500 đàn bà trẻ con.”

Ra đời giữa trời biển mênh mông
Trước đó vài giờ đồng hồ, sáng ngày 2/5/75, bà dược sĩ họ Bùi đau đẻ. Gần 4,000 con người phải chừa ra 1 chỗ trống cho sản phụ. Ðứa bé gái ra đời khoảng 2 giờ sáng. Con bé gốc Saigon Việt Nam, nằm trong bụng mẹ trên Trường Xuân, được kéo đi bởi Song An. Sanh ra giữa biển Ðông, Thái bình dương. Không sữa, không nước, không cơm, không cháo. Một người dúi vào tay sản phụ miếng cam thảo.

Bà nhai ra rồi lấy nước miếng bôi vào miệng con gái. Tiếng khóc chào đời vang trên biển rộng mênh mông. Một thanh niên nhấc bổng đứa bé đưa qua tàu Ðan Mạch. Bà mẹ nhìn theo bóng con vươn lên trời xanh, nước mắt một lần nữa lại như vị mặn của biển khơi.

Khai sanh của cháu đề ngày 2/5/1975 trên tàu Ðan Mạch, tên cháu là Chiêu Anh.

Trường Xuân: Ôi, Trường Xuân !
Như vậy là tổng cộng ba ngàn sáu trăm hai mươi tám người đến bến tự do, bây giờ định cư ở bốn phương trời. Một thế hệ Trường Xuân ra đời và nối tiếp.

Thoạt tiên tất cả được đưa về tạm trú ở Hồng Kông. Nhà chức trách Hương Cảng hứa hẹn sẽ không trả về Việt Nam.

Trước khi rời con tàu, thuyền trưởng Phạm Ngọc Lũy đi thanh sát một vòng. Hình ảnh cảm động sau cùng là một người đàn ông mệt mỏi cúi xuống cõng bà mẹ già tê liệt. Trên khoang tàu mênh mông hiện chỉ còn là bãi rác. Một người đàn ông ạch đụi cõng mẹ qua tàu Ðan Mạch, quả thực là hình ảnh hết sức ngậm ngùi. Ðó là ông thiếu tá nhẩy dù Phan Huy Hoàng, sau này đưa mẹ về định cư tại Texas.

Khi vị thuyền trưởng rời tàu Trường Xuân thì nước đã tràn vào khoang máy. Vẫn còn dưới hầm, thân xác 1 ông già sẽ thủy táng theo con tàu.

Nhưng sau này được biết, khi người lên hết tàu Ðan Mạch, Trường Xuân ngập nước nhưng không chìm. Hai tháng sau được kéo về Hồng Kông, đi theo hành khách của nó.

Con rể của ông già nằm trên Trường Xuân đã nhận xác cha. Di hài vị dân biểu gốc Nùng của Việt Nam Cộng Hòa: Ðại tá Wong A Sáng của sư đoàn 5 bộ binh, một thời đồn trú tại Sông Mao. Con người và con tàu, cả hai đều làm xong nhiệm vụ cuối cùng cho hai chữ tự do.

Một thế hệ tương lai

Bà dược sĩ trẻ tuổi họ Bùi bây giờ định cư tại Montreal, Canada và học lại nghề cũ từ 1977. Pharmacie BUI tại Gia nã Ðại có từ ngày đó.

Ðứa bé gái Chiêu Anh ra đời giữa Thái Bình Dương tháng 5-75, hai mươi tư năm sau vẽ 1 bức tranh họa cảnh tàu Trường Xuân nộp cho trường đại học Parkson school of Design, New York. Cô được nhận vào học và tốt nghiệp danh dự với huy chương vàng về ngành sáng tạo y phục thời trang. Hiện Chiêu Anh còn độc thân và làm việc tại San Francisco Hoa Kỳ. Trong một bản văn tự thuật bằng Anh ngữ, Chiêu Anh kể chuyện mình như sau.

“Con là Trường Xuân Baby. Từ biển cả, con là một thuyền nhân sống sót. Khi Sài Gòn thất thủ, cha mẹ chạy xuống tầu Trường Xuân của thuyền trưởng Phạm Ngọc Lũy. Trong cái đêm dài sâu thẳm, vào lúc 2 giờ sáng 2 tháng 5-75 con sanh ra đời. Ðó là giây phút của hãi hùng và hy vọng. Ðời con khởi sự vất vả. Mắt hài nhi không mở. Xương quai bị gẫy, vai bị cụp. Mẹ đói không có sữa cho con. Vị cam thảo ngọt bôi vào miệng sơ sinh vẫn còn ghi nhận cho đến ngày nay. Tầu Danish của thuyền trưởng Ðan Mạch Anton Martin Olsen đã cứu gia đình con và đưa vào nhà thương Anh Quốc tại Hồng Kông. Khai sanh của con với chứng chỉ công dân Denmark trên tầu MS Clara Maersk. Vì những giấy tờ này, tòa đại sứ Ðan Mạch lo cho cả gia đình định cư tại Canada trong 21 ngày. Con đã tiếp tục sống trong những ngày thơ ấu khó khăn vất vả như những gia đình tỵ nạn khác. Cùng với người anh hơn con 2 tuổi, chúng con cố sức học hành để xây dựng tương lai. Con xin được học bổng để theo ngành sáng tạo thời trang và tốt nghiệp 1998 với bằng danh dự tại đại học hàng đầu New York. Con bắt đầu làm việc cho các hãng thời trang nổi tiếng tại Paris, New York và San Francisco. Con đã có dịp đi đến tất cả các đô thị lớn nhỏ từ Âu châu, Á châu, Mỹ châu trong thế giới của ngành sáng tạo thời trang. Nhưng con luôn luôn nhớ rằng mãi mãi vẫn là một thuyền nhân sống sót, một Trường Xuân Baby.”

35 năm nhìn lại

Kể từ tháng 4-75 cho đến tháng 4-2010 chúng ta có 35 năm nhìn lại. Mỗi năm chúng tôi sẽ chọn 1 nhân vật hay 1 sự kiện để giới thiệu.

Trên sân khấu CPA của San Jose tháng 5-2010, người đầu tiên được giới thiệu sẽ là cô Chiêu Anh, Shining Light.

Cô sẽ hiện diện với thân mẫu từ Canada, với bác thuyền trưởng Phạm ngọc Lũy 91 tuổi, với hình ảnh của Trường Xuân, của Song An, và của con tàu Ðan Mạch.
Khởi đầu từ năm 75 trở đi, qua 76, 77 cho đến 2009 và 2010. Lịch sử giở lại từng trang. Bi thảm, hào hùng, tuyệt vọng và hy vọng. Nhưng mở đầu vẫn là chuyến hải hành ngắn ngủi nhưng hết sức đặc thù.

Chuyến đi của Trường Xuân

Trường Xuân, ơi Trường Xuân, Saigon tháng 4 đen
Bốn ngàn người vượt biển, Bỏ đất nước điêu linh. Trên con tàu vô định

Trường Xuân, ơi Trường Xuân. 35 năm nhìn lại
Xem ai còn ai mất, Lệ tuôn khắp dặm trường. Bốn phương trời thế giới

Trường Xuân, ơi Trường Xuân. Gần bốn ngàn người sống.
Với ba mạng tử vong. 2 đứa bé lọt lòng. Giữa mênh mông trời biển

Trường Xuân, ơi Trường Xuân. Một thế kỷ vừa qua...
Tương lai rồi sáng chói. Chuyện này cần kể lại...

Trường Xuân, ơi Trường Xuân, Ngàn năm còn nhớ mãi...

Giao Chỉ-San Jose

Image
Thuyền trưởng Phạm Ngọc Lũy.
Một trong các thương thuyền của hãng là tàu Trường Xuân, vị thuyền trưởng lúc đó là ông Phạm Ngọc Lũy. Ông Lũy sinh quán tại Nam Ðịnh, ra đời năm 1919. Vào tháng 5-1975 thuyền trưởng Phạm Ngọc Lũy đã có 30 năm kinh nghiệm hàng hải.

Ngày 26 tháng 4 năm 1975, Trường Xuân đã xuống hàng hoàn tất chuẩn bị chở sắt vụn đi Manila. Một chuyến đi vô thưởng vô phạt. Thuyền trưởng Phạm Ngọc Lũy lúc đó 56 tuổi, Bắc kỳ di cư, quyết không ở lại sống với cộng sản. Ông tìm đường ra đi bằng mọi giá. Ông ước mong dùng được Trường Xuân chở đồng bào tỵ nạn. Trên đống sắt vụn của Trường Xuân lần này phải là sinh mệnh của những con người. Ông cần có thủy thủ đoàn và ông cần cả hành khách. Trải qua bao nhiêu là gian nan phức tạp vào cái tuần lễ cuối cùng của cái tháng 4 đen oan nghiệt. Sau cùng tới 29 tháng 4-1975 thuyền trưởng Phạm Ngọc Lũy viết lên tàu hàng chữ định mệnh. Tàu Trường Xuân khởi hành 12 giờ trưa 30/4/75.

Posted: Wed Mar 24, 2010 1:11 am
by tankhoasinh
Tiếc Cho Một Người Lầm Lỡ Vừa Nằm Xuống

Thân tặng tất cả những người Việt còn có tấm lòng yêu quê hương.


Bà Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa (DQH) vừa nằm xuống ngày thứ bảy 25–2–2006 tại Sài Gòn, và cũng vừa được hỏa táng vào ngày thứ ba 28/2. Báo chí trong nước cho đến hôm nay, không hề loan tải tin tức trên. Đài BBC có phỏng vấn Ông Võ Nhơn Trí ở Pháp về tin nầy và phát đi ngày 28/2.

Sự im lặng của Việt Nam khiến cho người viết thấy có nhu cầu trang trãi và chia xẻ một số suy nghĩ về cái chết của BS DQH để từ đó rút ra thêm một kinh nghiệm sống về tính chất “chuyên chính vô sản” của những người cầm quyền tại Việt Nam hiện tại.

Ô. Bà DQH và Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam

BS DQH là một người sống trong một gia đình theo Tây học, có uy tín và thế lực trong giới giàu có ở Sài Gòn từ thập niên 40. Cha là GS Dương Minh Thới và anh là LS Dương Trung Tín; gia đình sống trong một biệt thự tại đường Bà Huyện Thanh Quan xéo góc Bộ Y tế (VNCH) nằm trên

đường Hồng Thập Tự. LS Tín đã bị ám sát tại Đà Lạt trong đó cái chết của ông cũng không được soi sáng, nhưng đa phần có nhiều nghi vấn là do lý do chính trị vì ông có khuynh hướng thân Pháp thời bấy giờ.

Về phần Bà Hoa, được đi du học tại Pháp vào cuối thập niên 40, đã đỗ bằng Bác sĩ Y khoa tại Paris và về lại Việt Nam vào khoảng 1957 (?). Bà có quan niệm cấp tiến và xã hội, do đó Bà đã gia nhập vào Đảng CS Pháp năm 1956 trước khi về nước.

Từ những suy nghĩ trên, Bà hoạt động trong lãnh vực y tế và lần lần được móc nối và gia nhập vào Đảng CSVN. Tháng 12/1960, Bà trở thành một thành viên sáng lập của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam VN dưới bí danh Thùy Dương, nhưng còn giữ bí mật cho đến khi Bà chạy vô “bưng” qua ngõ Ba Thu –Mõ Vẹt xuyên qua Đồng Chó Ngáp. Ngay sau biến cố Tết Mậu Thân, tin tức trên mới được loan tải qua đài phát thanh của Mặt Trận.

Khi vào trong bưng, Bà gặp GS Huỳnh Văn Nghị (HVN) và kết hôn với GS. Trở qua GS Huỳnh Văn Nghị, Ông cũng là một sinh viên du học tại Pháp, đỗ bằng Cao học (DES) Toán. Về VN năm 1957, ông dạy học tại trường Petrus Ký trong hai năm, sau đó qua làm ở Nha Ngân sách và Tài chánh. Ông cũng có tinh thần thân Cộng, chạy vô “bưng” năm 1968 và được kết nạp vào đảng sau đó.

Do “uy tín” chính trị quốc tế của Bà Hoa thời bấy giờ rất cao, Mặt Trận, một lá bài của CS Bắc Việt, muốn tận dụng uy tín nầy để tạo sự đồng thuận với chính phủ Pháp hầu gây rối về mặt ngoại giao cho VNCH và đồng minh Hoa Kỳ. Từ những lý do trên, Bà Hoa là một người rất được lòng Bắc Việt, cũng như Ông Chồng là GS HVN cũng được nâng đở theo. Vào đầu thập niên 70, Ông được chuyển ra Bắc và được huấn luyện trong trường đảng. Tại đây, với một tinh

thần thông thoáng dân tộc, cộng thêm nhiều lý luận toán học, Ông đã phân tích và chứng minh những lý thuyết giảng dạy ở trường đảng đều không có căn bản lý luận vững chắc và Ông tự quyết định rời bõ không tiếp tục theo học trường nầy nữa.

Nhưng chính nhờ uy tín của Bà DQH trong thời gian nầy cho nên ông không bị trở ngại về an ninh. Cũng cần nên nói thêm là ông đã từng được đề cử vào chức vụ Bộ trưởng Kinh tế nhưng ông từ chối.

Ô.B DQH và Đảng Cộng sản VN

Chỉ một thời gian ngắn sau khi CS Bắc Việt giải tán Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam, Ô Bà lúc đó mới vở lẽ ra. Về phần Ô HVN, ông hoàn toàn không hợp tác với chế độ. Năm 1976, trong một buổi ăn tối với 5 người bạn thân thiết, có tinh thần “tiến bộ”, Ông đã công khai tuyên bố với các bạn như sau:”Các “toi” muốn trốn thì trốn đi trong lúc nầy. Đừng chần chờ mà đi không kịp. Nếu ở lại, đừng nghĩ rằng mình đã có công với “cách mạng” mà “góp ý” với đảng”. Ngay sau đó, một trong người bạn thân là Nguyễn Bá Nhẫn vượt biên và hiện cư ngụ tại Pháp. Còn 4 người còn lại là Lý Chánh Trung (giáo sư văn khoa Sài Gòn), Trần Quang Diệu (TTKý Viện Đại học Đà Lạt), Nguyễn Đình Long (Nha Hàn..g không Dân sự), và một người nữa người viết không nhớ tên không đi. Ông Trung và Long hiện còn ở Việt Nam, còn ông Diệu đang cư ngụ ở Canada.

Trở lại BS DQH, sau khi CS chiếm đóng miền Nam tháng 4/1975, Bà Hoa được “đặt để” vào chức vụ Tổng trưởng Y tế, Xã hội, và Thương binh trong nội các chính phủ. Vào tháng 7/75, Hà Nội chính thức giải thể chính phủ Lâm thời và nắm quyền điều hành toàn quốc, chuyển Bà xuống hàng Thứ trưởng và làm bù nhìn như Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn

Thị Bình, Nguyễn Thị Định… Chính trong thời gian nầy Bà lần lần thấy được bộ mặt thật của đảng CS và mục tiêu của họ không phải là phục vụ đất nước Việt Nam mà chính là làm nhiệm vụ của CS quốc tế là âm mưu nhuộm đỏ vùng Đông Nam Á.

Vào khoảng cuối thập niên 70, Bà đã trao đổi cùng Ô Nguyễn Hữu Thọ:”Anh và tôi chỉ đóng vai trò bù nhìn và chỉ là món đồ trang sức rẻ tiền cho chế độ. Chúng ta không thể phục vụ cho một chế độ thiếu dân chủ và không luật lệ. Vì vậy tôi thông báo cho anh biết là tôi sẽ trả lại thẻ Đảng và không nhận bất cứ nhiệm vụ nào trong chính phủ cả”. Đến năm 1979, Bà chính thức từ bỏ tư cách đảng viên và chức vụ Thứ trưởng. Dĩ nhiên là Đảng không hài lòng với quyết định nầy; nhưng vì để tránh những chuyện từ nhiệm tập thể của các đảng viên gốc miền Nam, họ đề nghị Bà sang Pháp. Nhưng sau cùng, họ đã lấy lại quyết định trên và yêu cầu Bà im lặng trong vòng 10 năm.

Mười năm sau đó, sau khi được “phép” nói, Bà nhận định rằng Đảng CS Việt Nam tiếp tục xuất cảng gạo trong khi dân chúng cả nước đang đi dần đến nạn đói. Và nghịch lý thay, họ lại yêu cầu thế giới giúp đỡ để giải quyết nạn nghèo đói trong nước. Trong thời gian nầy Bà tuyên bố :” Trong hiện trạng của Đất Nước hiện tại (thời bấy giờ), xuất cảng gạo tức là xuất cảng sức khỏe của người dân” Và Bà cũng là một trong những người đầu tiên lên tiếng báo động vào năm 1989 cho thế giới biết tệ trạng bán trẻ em Việt Nam ngay từ 9,10 tuổi cho các dịch vụ tình dục trong khách sạn và các khu giải trí dành cho người ngoại quốc do các cơ quan chính phủ và quân đội điều hành.

Sau khi rời nhiệm vụ trong chính phủ, Bà trở về vị trí của một BS nhi khoa. Qua sự quen biết với giới trí thức và y khoa Pháp, Bà đã vận động được sự giúp đở của hai giới trên để thành lập Trung Tâm Nhi Khoa chuyên khám và chữa trị

trẻ em không lấy tiền và Bà cũng được viện trợ thuốc men cho trẻ em Việt Nam suy dinh dưỡng nhất là acid folic và các lọai vitamin. Nhưng tiếc thay, số thuốc trên khi về Việt Nam đã không đến tay Bà mà tất cả được chuyển về Bắc. Bà xin chấm dứt viện trợ, nhưng lại được “yêu cầu” phải xin lại viện trợ vì…nhân dân (của Đảng!). Về tình trạng trẻ con suy dinh dưỡng, với tính cách thông tin, chúng tôi xin đưa ra đây báo cáo của Bà Anneke Maarse, chuyên gia tư vấn của UNICEF trong hội nghị ngày 1/12/03 tại Hà Nội :” Hiện Việt Nam có 5,1 triệu người khuyết tật chiếm 6,3% trên tổng số 81 triệu dân. Qua khảo sát tại 648 gia đình tại ba vùng Phú Thọ, Quảng Nam và Tp HCM cho thấy có tới 24% trẻ em tàn tật dạng vận động, 92,3% khuyết tật trí tuệ, và 19% khuyết tật thị giác lẫn ngôn ngữ. Trong số đó tỷ lệ trẻ em khuyết tật bẩm sinh chiếm tới 72%.

Vào năm 1989, Bà đã được ký giả Morley Safer, phóng viên của đài truyền hình CBS phỏng vấn. Những lời phỏng vấn đã được ghi lại trong cuốn sách của ông dưới tựa đề Flashbacks on Returning to Việt Nam do Random House, Inc. NY, 1990 xuất bản. Qua đó, một sự thật càng sáng tỏ là con của Bà, Huỳng Trung Sơn bị bịnh viêm màng não mà Bà không có thuốc để chữa trị khi còn ở trong bưng và đây cũng là một sự kiện đau buồn nhất trong đời Bà. Cũng trong cuốn sách vưà kể trên, Bà cũng đã tự thú là đã sai lầm ở một khoảng thời gian nào đó. Nhưng Bà không luyến tiếc vì Bà đã đạt được mục đích là làm cho những người ngoại quốc ra khỏi đất nước Việt Nam.

Sau cùng, chúng tôi xin liệt kê ra đây hai trong những nhận định bất hủ của BS DQH là :”Trong chiến tranh, chúng tôi sống gần nhân dân, sống trong lòng nhân dân. Ngày nay, khi quyền lực nằm an toàn trong tay rồi, đảng đã xem nhân dân như là một kẽ thù tiềm ẩn”. Và khi nhận định về bức tường Bá Linh, Bà nói:” Đây là ngày tàn của một ảo tưởng vĩ đại”.

BS DQH và Vụ kiện Da Cam

Theo nhiều nguồn dư luận hải ngoại, trước khi ký kết Thương ước Mỹ-Việt dưới nhiệm kỳ của Tổng thống Clinton, hai chính phủ đã đồng ý trong một cam kết riêng không phổ biến là Việt Nam sẽ không đưa vụ Chất độc màu Da cam để kiện Hoa Kỳ, và đối lại, Mỹ sẽ ký thương ước với Việt Nam và sẽ không phủ quyết để Việt Nam có thể gia nhập vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) trong t ương lai.

Có lẽ vì “mật ước” Mỹ-Việt vừa nêu trên, nên Việt Nam cho thành lập Hội Nạn nhân chất Độc Da cam/Dioxin Việt Nam ngày 10/1/2004 ngay sau khi có quyết định chấp thuận của Bộ Nội vụ ngày 17/12/2003. Đây là một Hội dưới danh nghĩa thiện nguyện nhưng do Nhà Nước trợ cấp tài chính và kiểm soát. Ban chấp hành tạm thời của Hội lúc ban đầu gồm:

- Bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó chủ tịch nước làm Chủ tịch danh dự;

- Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp, nguyên Phó chủ nhiệm Tổng cục chính trị QĐND làm Chủ tịch;

- GS,BS Nguyễn Trọng Nhân, nguyên Bộ trưởng Y tế, Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ Việt Nam làm Phó Chủ tịch;

- Ô Trần Văn Thụ làm Thư ký.

Trong buổi lễ ra mắt, Bà Bình đã khẳng định rõ ràng rằng:”Chính phủ Mỹ và các công ty sản xuất chất độc hoá học da cam phải thừa nhận trách nhiệm tinh thần, đạo đức và pháp lý. Những người phục vụ chính thể Việt NamCộng Hòa cũ ở miền Nam không được đưa vào danh sách trợ cấp”. Theo một bản tin của Thông tấn xã Việt Nam thì đây là một tổ chức của những nạn nhân chất Da cam, cũng như các cá nhân, tập thể tự nguyện đóng góp để giúp các nạn nhân khắc phục hậu quả chất độc hoá học và là đại diện pháp lý của các nạn nhân Việt Nam trong các quan hệ với các tổ chức và cơ quan trong cũng như ngoài nước. Thế nhưng, trong danh sách nạn nhân chất da cam trong cả nước được Việt Nam ước tính trên 3 triệu mà chính phủ đã thiết lập năm 2003 để cung cấp tiền trợ cấp hàng tháng, những nạn nhân đã từng phục vụ cho VNCH trước đây thì không được đưa vào danh sách nầy (Được biết năm 2001, trong Hội nghị Quốc tế tại Hà Nội, số nạn nhân được Việt Nam nêu ra là 2 triệu!). Do đó có thể nói rằng, việc thành lập Hội chỉ có mục đích duy nhất là hỗ trợ cho việc kiện tụng mà thôi.

Vào ngày 30/1/2004, Hội đã nộp đơn kiện 37 công ty hóa chất ở Hoa Kỳ tại tòa án liên bang Brooklyn, New York do luật sư đại diện cho phía Việt Nam là Constantine P. Kokkoris. (Được biết LS Kokkoris là một người Mỹ gốc Nga, đã từng phục vụ cho tòa Đại sứ Việt ở Nga Sô và có vợ là người Việt Nam họ Bùi). Hồ sơ thụ lý gồm 49 trang trong đó có 240 điều khoảng. Danh sách nguyên đơn liệt kê như sau:

- Hội Nạn nhân Chất Da cam/Dioxin Việt Nam;

- Bà Phan Thị Phi Phi, giáo sư Đại học Hà Nội;

- Ông Nguyễn Văn Quý, cựu chiến binh tham chiến ở miền Nam trước 1975, cùng với hai người con là Nguyễn Quang Trung (1988) và Nguyễn Thị Thu Nga (1989);

- Bà Dương Quỳnh Hoa, Bác sĩ, nguyên Bộ trưởng Y tế Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam, và con là Huỳnh Trung Sơn; và

- Những người cùng cảnh ngộ.

Đây là một vụ kiện tập thể (class action) và yêu cầu được xét xử có bồi thẩm đoàn. Các đương đơn tố các công ty Hoa Kỳ đã vi phạm luật pháp quốc tế và tội ác chiến tranh, vi phạm luật an toàn sản phẩm, cẩu thả và cố ý đả thương, âm mưu phạm pháp, quấy nhiễu nơi công cộng và làm giàu bất

chánh để (1) đòi bồi thường bằng tiền do thương tật cá nhân, tử vong, và dị thai và (2) yêu cầu tòa bắt buộc làm giảm ô nhiễm môi trường, và (3) để hoàn trả lại lợi nhuận mà các công ty đã kiếm được qua việc sản xuất thuốc khai quang.

Không có một bằng chứng nào được đính kèm theo để biện hộ cho các cáo buộc, mà chỉ dựa vào tin tức và niềm tin (nguyên văn là upon information and belief). Tuy nhiên, đơn kiện có nêu đích danh một số nghiên cứu mới nhất về dioxin của Viện Y khoa thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Hoa Kỳ, công ty cố vấn Hatfield Consultants của Canada, Bác sĩ Arnold Schecter của trường Y tế Công cộng Houston thuộc trường Đại học Texas, và Tiến sĩ Jeanne Mager Stellman của trường Đại học Columbia, New York.

Chúng tôi đặc biệt quan tâm đến trường hợp của BS Dương Quỳnh Hoa cũng như quá trình hoạt động của Bà từ những năm 50 cho đến hiện tại. Tên Bà nằm trong danh sách nguyên đơn cũng là một nghi vấn cần phải nghiên cứu cặn kẽ.

Theo nội dung của hồ sơ kiện tụng, từ năm 1964 trở đi, Bà thường xuyên đi đến thành phố Biên Hòa và Sông Bé (?) là những nơi đã bị phun xịt thuốc khai quang nặng nề. Từ năm 1968 đến 1976, nguyên đơn BS Hoa là Tổng trưởng Y tế của Chính phủ Lâm thời Cộng hòa miền Nam và ngụ tại Tây Ninh. Trong thời gian nầy Bà phải che phủ trên đầu bằng bao nylon và đã đi ngang qua một thùng chứa thuốc khai quang mà máy bay Mỹ đã đánh rơi. (Cũng xin nói ở đây là chất da cam được chứa trong những thùng phuy 200L và có sơn màu da cam. Chất nầy được pha trộn với nước hay dầu theo tỷ lệ 1/20 hay hơn nữa và được bơm vào bồn chứa cố định trên máy bay trước khi được phun xịt. Như vậy làm gì có cảnh thùng phuy rơi rớt!?).

Năm 1970, Bà hạ sinh đứa con trai tên Huỳnh Trung Sơn (cũng có tên trong đơn kiện như một nguyên đơn, tuy đã mất) bị phát triển không bình thường và hay bị chứng co giật cơ thể. Sơn chết vào lúc 8 tháng tuổi.

Trong thời gian chấm dứt chiến tranh, BS Hoa bắt đần bị chứng ngứa ngáy ngoài da. Năm 1971, Bà có mang và bị sẩy thai sau 8 tuần le.ã Năm 1972, Bà lại bị sẩy thai một lần nữa, lúc 6 tuần mang thai. Năm 1985, BS Hoa đã được chẩn bịnh tiểu đường. Và sau cùng năm 1998 Bà bị ung thư vú và đã được giải phẩu. Năm 1999, Bà được thử nghiệm máu và BS Schecter (Hoa Kỳ) cho biết là lượng Dioxin trong máu của Bà có nồng độ là 20 ppt (phần ức).

Và sau cùng, kết luận trong hồ sơ kiện tụng là: Bà BS Hoa và con là nạn nhân của chất độc Da cam.

Qua những sự kiện trên chúng ta thấy có nhiều điều nghịch lý và mâu thuẫn về sự hiện diện của tên Bà trong vụ kiện ở Brooklyn?

Để tìm giải đáp cho những điều nghịch lý trên, chúng tôi xin trích dẫn những phát biểu của Bà trong một cuộc tiếp xúc thân hữu tại Paris trung tuần tháng 5/2004. Theo lời Bà (từ miệng Bà nói, lời của một người bạn tên VNT có mặt trong buổi tiếp xúc trên) thì “người ta đã đặt tôi vào một sự đã rồi (fait accompli).

Tên tôi đã được ghi vào hồ sơ kiện không có sự đồng ý của tôi cũng như hoàn toàn không thông báo cho tôi biết. Người ta chỉ đến mời tôi hợp tác khi có một ký giả người Uùc thấy tên tôi trong vụ kiện yêu cầu được phỏng vấn tôi. Tôi chấp nhận cuộc gặp gỡ với một điều kiện duy nhất là tôi có quyền nói sự thật, nghĩa là tôi không là người khởi xướng vụ kiện cũng như không có ý muốn kiện Hoa Kỳ trong vấn đề chất độc da cam.” Dĩ nhiên cuộc gặp gỡ giữa Bà Hoa và phóng viên người Uùc không bao giờ xảy ra.

Bà còn thêm rằng:” Trong thời gian mà tất cả mọi người nhất là đảng CS bị ám ảnh về việc nhiễm độc dioxin, tôi cũng đã nhờ một BS Hoa Kỳ khám nghiệm (khoảng 1971) tại Pháp và kết quả cho thấy là lượng dioxin trong máu của tôi dưới mức trung bình (2ppt).”

Đến đây, chúng ta có thể hình dung được kết quả của vụ kiện.Và ngày 10 tháng 3 năm 2005, Ông chánh án Jack Weinstein đã tuyên bố hủy bõ hoàn toàn vụ kiện tại tòa án Brooklyn, New York.

Bài học được rút ra từ cái chết của BS DQH

Từ những tin tức về đời sống qua nhiều giai đoạn của Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa, hôm nay Bà đã đi trọn quảng đường của cuộc đời Bà. Những bước đầu đời của Bà bắt đầu với bầu nhiệt huyết của tuổi thanh niên, lý tưởng phục vụ cho tổ quốc trong sáng. Nhưng chính vì sự trong sáng đó Bà đã không phân biệt và bị mê hoặc bởi những lý thuyết không tưởng của hệ thống cộng sản thế giới. Do đó Bà đã bị lôi cuốn vào cơn gió lốc của cuộc chiến VN. Và Bà đã đứng về phía người Cộng sản.

Khi đã nhận diện được chân tướng của họ, Bà bị vỡ mộng và có phản ứng ngược lại. Nhưng vì thế cô, Bà không thể nào đi ngược lại hay “cải sửa” chế độ. Rất may cho Bà là Bà chưa bị chế độ nghiền nát. Không phải vì họ sợ hay thương tình một người đã từng đóng góp cho chế độ (trong xã hội CS, loại tình cảm tiểu tư sản như thế không thể nào hiện hữu được), nhưng chính vì họ nghĩ còn có thể lợi dụng được Bà trong những mặc cả kinh tế – chính trị giữa các đối cực như Pháp và Hoa Kỳ, trong đó họ chiếm vị thế ngư ông đắc lợi. Vì vậy, họ không triệt tiêu Bà.

Hôm nay, chúng ta có thể tiếc cho Bà, một người Việt Nam có tấm lòng yêu nước nhưng không đặt đúng chỗ và đúng thời điểm; do đó, khi đã phản tỉnh lại bị chế độ đối xử tệ bạc. Tuy nhiên, với một cái chết trong im lặng, không kèn không trống, không một thông tin trên truyền thông về một người đã từng có công đóng góp một phần cho sự thành tựu của chế độ như Bà đã khiến cho chúng ta phải suy nghĩ, suy nghĩ về tính vô cảm của người cộng sản, cũng như suy nghĩ về tính chuyên chính vô sản của hệ thống xã hội chủ nghĩa. Đối với chế độ hiện hành, sẽ không bao giờ có được sự đối thoại bình đẳng, trong đó tinh thần tôn trọng dân chủ dứt khoát không hề hiện hữu như các sinh hoạt chính trị của những quốc gia tôn trọng nhân quyền trên thế giới. Vì vậy, với cơ chế trên, hệ thống XHCN sẽ không bao giờ biết lắng nghe những tiếng nói “đóng góp” đích thực cho công cuộc xây dựng Đất và Nước cả.

Bài học DQH là một bài học lớn cho những ai còn hy vọng rằng cơ hội ngày hôm nay đã đến cho những người còn tâm huyết ở hải ngoại ngõ hầu mang hết khả năng và kỹ năng về xây dựng quê hương. Hãy hình dung một đóng góp nhỏ nhặt như việc cung cấp những thông tin về nguồn nước ở các sông ngòi ở Việt Nam đã bị kết án là vi phạm “bí mật quốc gia” theo Quyết định của Thủ tướng Việt Nam số 212/203/QĐ-TTg ký ngày 21/10/2003. Như vậy, dù là “cùng là máu đỏ Việt Nam” nhưng phải là máu đã “cưu mang” một chủ thuyết ngoại lai mới có thể được xem là chính danh để xây dựng quê hương Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Chúng ta, những người Việt trong và ngòai nước, còn nặng lòng với đất nước, tưởng cũng cần suy gẫm trường hợp Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa ngõ hầu phục vụ tổ quốc và d dân tộc trong sự thức tỉnh, đừng để bị mê hoặc bởi chủ thuyết cưỡng quyền.

Tổ quốc là đất nước chung - Dân tộc là tất cả thành tố cần phải được bảo vệ và thừa hưởng phúc họa bình đẳng với nhau. Rất tiếc điều này không xảy ra cho Việt Nam hiện tại

Ghi chú: Ngày 3/3/2006, trên báo SGGP, GS Trần Cửu Kiếm, nguyên ủy viên Ban Quân y miền Nam, một người bạn chiến đầu của Bà trong MTDTGPMN, có viết một bài ngắn để kỷ niệm về BS DQH. Chỉ một bài duy nhứt từ đó đến nay.

Mong tất cả trí thức Việt Nam đặc biệt là trí thức miền Nam học và thấm thía bài học nầy qua trường hợp của BS Dương Quỳnh Hoa.

Mai Thanh Truyết

Posted: Thu Mar 25, 2010 2:54 am
by caubennoc
Image


Tổn phí y tế vẫn quá cao
Tuesday, March 23, 2010


Ngô Nhân Dụng

Ðạo luật Cải tổ Hệ thống Y tế mà Tổng Thống Barack Obama mới ký hôm qua là một biến cố lớn trong lịch sử chính trị nước Mỹ, đã được so sánh với các đạo luật thiết lập hệ thống An Sinh Xã Hội (Social Security) mà Tổng Thống Franklin D. Roosevelt ký năm 1935 và thành lập hệ thống Medicare lo sức khỏe người về hưu được Tổng Thống Lyndon Johnson ký năm 1965.

Cũng giống hai đạo luật quan trọng trên, Luật Cải tổ Y tế mới này gia tăng ảnh hưởng của chính phủ liên bang Mỹ trong đời sống người dân. Vì thế, cả ba đạo luật đã chia dân Mỹ làm hai phe, chống đối và ủng hộ. Khác hai đạo luật trước, khi đó các vị tổng thống đảng Dân Chủ được nhiều đại biểu Quốc Hội Cộng Hòa ủng hộ, lần này đảng Cộng Hòa tẩy chay hoàn toàn. Cho nên đạo luật mới này chắc chắn sẽ là đề tài chính cho các cử tri Mỹ phán đoán khi họ đi bỏ phiếu chọn đại biểu Quốc Hội vào Tháng Mười Một năm nay, mặc dù phần nhiều các điều khoản phải đợi tới những năm 2014 hoặc 2018 mới được thi hành.

Bên cạnh các trận đấu chính trị đó, có hai vấn đề mà các cuộc vận động cải tổ y tế vẫn nhắm tới. Thứ nhất là mở rộng mạng lưới bảo hiểm y tế cho hầu hết, nếu chưa phải là tất cả mọi người Mỹ. Thứ hai là kiểm soát không cho chi phí về y tế tăng lên quá cao.

Ðối với mục tiêu thứ nhất đạo luật mới đã thành công một phần, sau nhiều lần cố gắng từ 36 năm nay. Năm 1974 Tổng Thống Cộng Hòa Richard Nixon đã tính làm luật để mọi người Mỹ đều có bảo hiểm y tế, nhưng khi đó đảng Dân Chủ đã bỏ lỡ cơ hội, không ủng hộ ông Nixon vì họ tưởng sẽ có thể đòi hỏi nhiều điều hơn nữa. Hai chục năm sau Tổng Thống Bill Clinton lại muốn thực hiện y tế cho toàn dân, nhưng cũng vì muốn đạt được nhiều quá cho nên nhiều người chống lại, ngay trong đảng Dân Chủ. Ðạo luật năm 2010, đến năm 2019, sẽ cung cấp bảo hiểm y tế cho thêm 32 triệu người Mỹ nữa, bằng 2 phần 3 số người hiện nay không có bảo hiểm. Từ nay, trong số các nước tiến bộ kinh tế thuộc khối OECD, chỉ còn 2 quốc gia chưa thực hiện y tế cho toàn dân là Mexico và Thổ Nhĩ Kỳ.

Nhưng mục tiêu thứ nhì mà tất cả mọi cuộc cải tổ y tế đều phải nhắm tới là giảm bớt tốc độ chi phí y tế gia tăng, thì đạo luật mới không hứa hẹn sẽ đạt được điều gì đáng kể. Các cuộc bàn cãi chính trị chỉ chú ý nhấn mạnh đến số tiền chính phủ Mỹ sẽ chi. Bây giờ chúng ta có thể bỏ qua các cuộc tranh cãi có tính chất đảng phái để nhìn vào khía cạnh kinh tế. Một điều hiển nhiên là dân Mỹ chi tiêu quá nhiều về y tế mà không được hưởng những lợi ích tương xứng.

Năm 2007, trung bình mỗi người dân Mỹ chi 7,421 đô la về y tế. Trong năm 2006 bình quân chi 6,567 đô la một người, cao gấp 2 lần các nước như Úc (US$ 2,960), Ðức (3,247), Pháp (3,353), Canada (3,505), hoặc Nhật Bản (2,529 đô la) trong cùng năm đó. Trong khi đó, kết quả cho thấy dân Mỹ không khỏe mạnh hơn người dân các nước khác, khi tính đến tuổi thọ trung bình, số trẻ em chết yểu, vân vân. Cuộc nghiên cứu của một nhóm giáo sư Ðại Học Johns Hopkins đã so sánh Mỹ và bốn nước trong khối Thịnh vượng chung Anh. Họ dùng 21 chỉ số phẩm chất về săn sóc sức khỏe để đo lường, thí dụ tỷ lệ người bị ung thư thoát chết, tỷ số người còn sống năm năm sau khi trị bịnh, vân vân. Kết quả cho thấy nước Mỹ không hơn gì các nước khác. Thí dụ, ở Mỹ tỷ số người còn sống 5 năm sau khi thay thận là thấp nhất so với 4 nước kia. Bệnh nhân bị Hepatitis B. ở Mỹ có tỷ số cao nhất, một thứ bệnh mà các tác giả cho là có thể tránh được. Ngược lại, nước Mỹ đứng hạng nhất về tỷ số bệnh nhân còn sống 5 năm sau khi chữa ung thư ngực.

Một bản nghiên cứu của Henry J. Kaiser Family Foundation cho biết trong tổng số chi tiêu về y tế, công quỹ các cấp chính phủ Mỹ đã chi trả 46% - với các chương trình Medicare, Medicaid (hay Medical) và chương trình cho trẻ em CHIP. Các quỹ tư nhân trả 54%, trong đó các công ty bảo hiểm chiếm 35%. Ðến năm 2018, dù chưa có đạo luật cải tổ y tế năm nay, số tiền chi về y tế do công quỹ đài thọ sẽ lên trên 51%, phần của tư nhân sẽ xuống chỉ còn 49%. Có đạo luật Obama hay không, y tế Mỹ đã đi trên con đường ngày càng tùy thuộc vào chính phủ nhiều hơn tư nhân.

Mỗi năm, số tiền mua bảo hiểm y tế tăng nhanh hơn tỷ lệ tăng lương bổng. Từ năm 2000, tiền đóng (premium) bảo hiểm y tế tăng ít nhất 5%, tăng nhiều nhất là 14% trong vòng 7 năm; trong khi đó lương bổng chỉ tăng từ 2% đến 4%. Tính chung lợi tức cả quốc gia, vào năm 1960 dân Mỹ làm ra 100 đồng thì chỉ tiêu hơn 5 đồng vào y tế. Tới năm 2007, dân Mỹ làm ra 100 đồng thì chi hơn 16 đồng về sức khỏe. Ước tính đến năm 2018 tỷ lệ đó sẽ lên tới hơn 20%, một phần năm lợi tức toàn dân.

Tại sao người Mỹ chi về y tế nhiều như vậy, và chi vượt hẳn trên các nước tiên tiến khác? Có nhiều nguyên nhân khách quan. Một là tỷ số người già tăng lên, số người bị mập phì tăng, và nhiều chứng như bệnh tiểu đường, suyễn, bệnh tim hơn trước. Khi dân một nước giàu hơn thì thường họ cũng chi về y tế nhiều hơn, vì có những phương pháp điều trị và thuốc men mới, đắt tiền hơn.

Nhưng bên cạnh các nguyên nhân khách quan đó, có những nguyên nhân nằm trong hệ thống tổ chức y tế ở Mỹ khiến chi phí tăng. Lý do vì người ta “tiêu thụ” các sản phẩm và dịch vụ y tế nhiều hơn mặc dù không cần thiết. Ðó là những nguyên nhân gây ra phí phạm trong hệ thống, và có thể thay đổi được chúng, để tiết kiệm.

Thí dụ: Khi người tiêu thụ không phải trực tiếp trả tiền túi của mình ra trả thì họ dễ “mua hàng” nhiều hơn. Ðây là một định luật kinh tế ai cũng có thể hiểu được. Người ta “tiêu thụ” thêm những sản phẩm y tế như thuốc men, hoặc các dịch vụ y tế như thử nghiệm (tests), thời gian nằm bệnh viện, đòi gặp các chuyên gia thay vì chỉ gặp các bác sĩ tổng quát, và đòi các dịch vụ đắt tiền dù không chắc cần thiết. Các chương trình do chính phủ trả (Medicare, MediCal, CHIP, vân vân) đều có thể đưa tới hành vi “tiêu thụ quá mức cần thiết” này. Những người mua bảo hiểm y tế trong sở làm cũng chỉ đóng một phần tiền bảo hiểm, và thường không phải tự mình móc tiền túi trả thêm. Khi đó, họ cũng có khuynh hướng “tiêu thụ quá nhiều” các dịch vụ y tế.

Tình trạng trên đây đã gia tăng trong thời gian qua. Năm 1970, trung bình một người Mỹ phải móc túi trả 40% chi phí y tế cho mình, 60% còn lại do công ty bảo hiểm hoặc chính phủ trả. Tới năm 2007, người Mỹ chỉ còn trả 14% chi phí y tế bằng tiền túi mà thôi, 86% là do “đệ tam nhân” trả. Ðây là một nguyên nhân khiến số chi tiêu về y tế ở Mỹ tăng vọt trong gần 40 năm đó.

Hiện nay những người mua bảo hiểm y tế ở sở làm chỉ phải trả khoảng 30%, được chủ nhân trả trung bình 70% tiền mua bảo hiểm. Số tiền chủ nhân trả đó có thể coi như phụ cấp bên cạnh lương bổng, chỉ khác là người được hưởng không phải đóng thuế lợi tức trên số tiền được hưởng. Nếu số tiền đó được trả như lương bổng thì chính phủ có thể đánh thuế, sẽ thu được 250 tỷ Mỹ kim mỗi năm. Nói cách khác, hệ thống y tế hiện nay đã buộc chính phủ Mỹ trợ cấp 250 tỷ đô la cho các người may mắn có việc làm tốt. Tức là tất cả mọi người đóng thuế phải trợ cấp cho họ. Những người được thụ hưởng số tiền trợ cấp này không biết họ được trợ cấp. Và vì không phải trả tiền túi nên họ có thể sẽ tiêu thụ “quá nhiều” các dịch vụ y tế, đặc biệt là những người được hưởng “bảo hiểm cadillac” tốt nhất, vì họ làm ở các công ty lớn với các địa vị quan trọng. Họ có thể được dùng nhiều dịch vụ đắt tiền mà khỏi phải bỏ tiền túi.

Ðạo luật cải tổ y tế đã nhằm gây tác dụng bằng cách đánh thuế một nhóm người trong số này. Kể từ năm 2018, những người được công ty trợ cấp mua bảo hiểm y tế giá trên 27,500 đô la một năm sẽ phải đóng 40% thuế trên số tiền cao hơn con số đó. Từ nay đến năm 2018, các công ty bảo hiểm sẽ tìm cách giảm giá để không ai có bảo hiểm trên 27,500 đô la, để không ai phải trả thuế. Các công ty bảo hiểm sẽ cạnh tranh nhau để bán những chương trình bảo hiểm tốt nhưng dưới 27,500 đô la! Ðây là một hậu quả giúp tiết giảm chi phí y tế một cách gián tiếp, bằng khích lệ về kinh tế!

Không cần phải chuyên về kinh tế học chúng ta cũng biết có cạnh tranh là có lợi cho người tiêu thụ để tiết kiệm tiền chi tiêu. Trong thị trường bảo hiểm y tế hiện nay các công ty bảo hiểm chỉ cạnh tranh nhau để thu hút được những thân chủ khỏe mạnh nhất, tránh xa những thân chủ có nhiều bệnh, không thuộc loại cạnh tranh về giá cả và dịch vụ! Với điều luật cấm họ từ chối những người mua bảo hiểm có bệnh sẵn, việc cạnh tranh sẽ được hướng sang phía lành mạnh hơn. Tức là sẽ giảm giá và tăng số và phẩm chất các dịch vụ cung ứng. Người tiêu thụ hiện nay rất khó biết đủ tin tức để so sánh các chương trình bảo hiểm. Cho nên không thể so sánh cả hai yếu tố: giá cả và phẩm chất, như họ vẫn làm khi đi mua xe hơi hay chọn trường đại học cho con. Từ năm 2014 đạo luật cải tổ y tế sẽ lập ra một “thị trường bảo hiểm y tế” để mọi người có thể vào đó so sánh giá cả và các dịch vụ y tế do mỗi công ty bảo hiểm cung cấp, giống như các công chức chính phủ liên bang và Quốc Hội đang được hưởng.

Với sự ra đời của thị trường y tế này, các công ty bảo hiểm và tổ chức y tế sẽ phải cải tổ để cắt giảm chi phí tổng quát không liên hệ gì đến việc trị bệnh, ngõ hầu cạnh tranh với nhau. Có những công ty bảo hiểm phải chi phí 40% vào việc hành chánh, quảng cáo, trả hoa hồng cho người trung gian bán bảo hiểm, vân vân. Chương trình y tế công cộng ở Canada không chi đến 2% vào những việc hành chánh như vậy! Ðây là một sự phí phạm có thể cắt giảm được. Ở Mỹ có những người chỉ làm việc “làm hóa đơn đòi tiền” giúp cho các bác sĩ làm sao tính được nhiều tiền nhất, các chuyên viên này có thể kiếm nhiều tiền hơn, có khi gấp hai, ba lần lương các bác sĩ. Tình trạng này sẽ phải chấm dứt khi các công ty bảo hiểm và tổ chức y tế phải cạnh tranh mạnh mẽ hơn. Hiện nay tại nhiều tiểu bang, chỉ có một hoặc hai công ty bảo hiểm y tế hoạt động, gần như độc quyền, cho nên họ không lo cắt giảm chi phí như khi họ phải cạnh tranh.

Một nguyên nhân khác khiến chi phí y tế tăng vọt là cách trả tiền những người cung cấp dịch vụ y tế. Phần lớn các chi tiêu y tế ở Mỹ là trả cho các bệnh viện (vào năm 2007 là 31%), trả cho y sĩ (21%). Hiện nay, họ thường được trả tiền nhiều ít tùy theo theo số việc họ làm, hơn là kết quả trị liệu của các công việc đó. Cũng giống như các người bán vé xe hơi, xe bán càng đắt tiền thì càng được hưởng hoa hồng cao hơn. Chúng ta có thể bác bỏ ý kiến của người bán xe, nhưng ít ai phản đối các bác sĩ của mình. Nhất là mình không phải bỏ thêm tiền túi ra trả! Ðây là một trong những nguyên nhân khiến chi phí y tế tăng vọt.

Ðạo luật cải tổ y tế sẽ thay đổi cách trả công nhà thương và bác sĩ cho những bệnh kinh niên. Không trả tiền mỗi lần một bệnh nhân tiểu đường được đưa đến nhà thương cấp cứu, mà trả cho kết quả công việc trị liệu trong một khoản thời gian dài. Một ủy ban (IMAC) sẽ nghiên cứu giá cả và hiệu quả y tế để đề nghị các biện pháp cắt giảm chi phí. Ủy ban độc lập này sẽ tránh cho các đại biểu Quốc Hội không phải quyết định. Các tổ chức cung cấp dịch vụ y tế, các công ty bảo hiểm sẽ phải cắt giảm chi phí để đáp ứng những đòi hỏi giảm giá của IMAC, thay vì chỉ lo “lóp bi” các đại biểu Quốc Hội. Hy vọng tổng số tiền chi về y tế do đó sẽ giảm bớt!

Trên đây chỉ là một số điều dễ nhìn thấy nhất về kinh tế để hiểu tại sao chi phí y tế ở nước Mỹ lại đắt nhất thế giới. Ngoài những nguyên nhân khách quan như số người già đông hơn, số bệnh nhiều hơn vì nạn mập phì, vân vân, có những lý do nằm trong hệ thống mua dịch vụ và cách trả tiền. Ðó là những nguyên nhân thuộc phạm vi tổ chức kinh tế. Thay đổi các nguyên nhân đó, có thể giảm bớt số chi tiêu y tế.

Ðạo luật mà Tổng Thống Barack Obama mới ký ngày hôm qua, và dự luật bổ sung mà Thượng Viện Mỹ sẽ bàn trong tuần này, chỉ tấn công một cách yếu ớt vào vấn đề giảm bớt chi phí trong hệ thống y tế của Mỹ. Ðảng Dân Chủ, cũng như đảng Cộng Hòa, đều chú trọng tới số chi tiêu của chính phủ nhiều hơn là tổng số chi của toàn dân và những nguyên nhân khiến số chi lên cao quá.

Theo bài nghiên cứu của Kaiser Family Foundation thì trong năm 2006 một nửa số chi phí y tế ở Mỹ đã trả cho việc trị bệnh của 5% tổng số dân. Và 1% những người “tiêu thụ” nhiều dịch vụ y tế nhất đã sử dụng hơn 21% tổng số chi tiêu của cả nước. Các chương trình tiết giảm chi tiêu bằng cách cắt bớt những phí phạm cần nhắm vào những người tiêu thụ nhiều nhất này! Nhưng phải chú ý thay đổi cách “mua” và cách “trả công” các dịch vụ y tế thì mới trừ được những phí phạm từ gốc.

Posted: Fri Mar 26, 2010 3:45 am
by khieulong
Tham Nhũng Chính Trị

NGUYỄN XUÂN NGHĨA


Hoa Kỳ đang bị khủng hoảng chính trị...

Cho đến khi bài này được viết thì chưa ai biết là kế hoạch cải tổ chế độ bảo dưỡng y tế có được thông qua không. Kết quả có khi chỉ là một hai hai lá phiếu tại Hạ viện. Chuyện ấy không là trọng điểm của bài viết này. Người viết chỉ nhớ đến… Otto Bismark của nước Đức ngày xưa, khi ông nói rằng giới chính trị mà làm luật thì cũng như làm dồi. Bẩn lắm.

Do đó, trên cột báo này, người viết thường tránh đề cập tới chuyện nội chính của Mỹ. Kỳ này thì có một ngoại lệ, hơi dài…

Chỉ vì “hội chứng Ôbamê” – Obamania – khiến nhiều người kịch liệt bênh vực ông Barack Obama dù thật ra chưa hiểu gì về những việc ông đề nghị. Nêu vấn đề là có khi bị độc giả than phiền là “bôi lọ Tổng thống Mỹ”, hoặc kỳ thị người da đen. Không chơi chữ về màu da, chứ người duy nhất có thể bôi lọ đương kim Tổng thống Mỹ chính là ông Obama. Và ông ta đang ráo riết làm như vậy nên gây thất vọng cho nhiều người, kể cả người viết.


Tuần hành CODE RED phản đối kế hoạch cải tổ y tế của TT Obama tại Washington DC ngày 17 tháng 3, 2010. Chip Somodevilla/Getty Images

***

Hơn một năm sau khi nhậm chức, tỷ lệ ủng hộ Obama đã chỉ còn khoảng 47-48%, thấp hơn tỷ lệ đắc cử là gần 53% và càng thấp hơn tỷ lệ tin tưởng khi ông tuyên thệ nhậm chức là khoảng hơn 65%. Một kỷ lục! Trong khi ấy, tỷ lệ tín nhiệm Quốc hội thì còn tệ hơn vậy, 17%. Nếu không gọi đó là khủng hoảng thì là gì? Bao nhiêu người đã đặt kỳ vọng vào ông Obama, vì sao ngày nay họ thất vọng và xuống đường bểu tình tứ tung? Để bênh bọn tài phiệt, phe cực hữu?

Nhìn lại xem, vì sao nhiều Dân biểu Nghị sĩ Dân chủ đã ngần ngại hoặc từ chối ủng hộ Tổng thống? Vì sao các vị dân cử Dân chủ đều thất cử, từ New Jersey tới Virginia hay Masachussetts? Vì sao, ngay trong vòng sơ bộ của đảng Cộng hoà tại Texas và Florida, các ứng viên tranh cử với khẩu hiệu chống lại lề thói chính trị của thủ đô Washington đều như ngựa về ngược, vọt lên thắng lớn? Câu trả lời là vì cử tri cả hai đảng đều bất mãn về sinh hoạt chính trị tại thủ đô.


TT Obama, giữa đang ký luật HIRE ngày 18 tháng 3, 2010 giúp 17,6 tỷ dollars kích thích các xí nghiệp thuê mướn rộng rãi nhân viên. Saul Loeb/Getty Images

Khi ráo riết vận động cho kế hoạch cải tổ y tế và lên đài truyền hình Fox hôm Thứ Tư 17, ông Obama nói nhiều người chưa biết hết về nội dung dự luật, ông cũng thế vì không đi vào chi tiết. Nhưng, ông nói tiếp, khi dự luật được Quốc hội thông qua và ông ban hành thì mọi người sẽ rõ lợi ích của nó. Nghĩa là cứ nhắm mắt mà tin vào thánh sống. Sau đó, may ra văn kiện mới được đưa lên mạng lưới điện toán để toàn dân tham khảo – như chính ông Obama đã hứa hẹn khi tranh cử: là bạch hóa mọi hồ sơ để toàn dân phán xét mấy ngày trước khi ban hành. Cuội!

Câu hỏi buồn cười là có ai đề nghị ký một văn kiện hơn hai ngàn trang và ảnh hưởng đến cả ngàn tỷ đô la mà không tham khảo trước không? Vì vậy, tranh luận về lẽ đúng sai là chuyện vô vọng. Nếu muốn rõ, độc giả có thể lên website của Đại học Annenberg (http://www.factcheck.org) thì sẽ biết các chính khách, của cả hai đảng và ông Obama, đã phóng đại hay xuyên tạc ra sao, đúng sai thế nào.

“Vẫn chưa ra khỏi hai chiến trường Afghanistan và Iraq, lại gây ra một cuộc khủng hoảng chính trị nghiêm trọng ngay giữa một vụ tổng suy trầm vì kế hoạch “cải tạo xã hội” theo tinh thần cực tả, Chính quyền Obama đang bị nguy khốn.” Người viết đã viết như vậy tuần trước và nay phải viết lại cho độc giả biết đọc: “chủ trương cải tạo xã hội gây ra khủng hoảng chính trị” chứ không phải cải tạo xã hội gây ra tổng suy trầm! Khủng hoảng kéo dài những hậu quả tệ hại của một chu kỳ suy trầm kinh tế khởi sự từ tháng 12 năm 2007.

Khủng hoảng chính trị vì Quốc hội phải dùng mọi thủ thuật để thông qua các dự luật bị đa số dân chúng không đồng ý. Khủng hoảng vì nghị trình làm việc của Tổng thống bị đảo lộn.

Về nghị trình, từ nhiều tháng trước, Hoa Kỳ chuẩn bị chuyến Á du của Tổng thống: ngày 18 này ông Obama sẽ đi Guam, Indonesia và Australia. Năm ngày trước đó Chính quyền Obama mới quyết định đình hoãn chuyến đi ba ngày vì Tổng thống phải ở lại giải quyết vụ cải tổ y tế. Các đồng minh của Hoa Kỳ nghĩ sao về lịch trình làm việc của Tổng thống khiến việc hội họp của Tổng thống Indonesia và Thủ tướng Úc bị đảo lộn?

Chỉ vì một kế hoạch được trù tính từ khi Nghị sĩ Obama đi tranh cử mà tại sao chưa giải quyết xong dù đảng Dân chủ đang giữ đa số cực lớn trong Quốc hội? Nhìn từ nước ngoài, có phải là Hoa Kỳ đang bị khủng hoảng chính trị không?

Cuộc khủng hoảng xảy ra giữa một nạn suy trầm kinh tế – không do ông Obama gây ra – nhưng suy trầm kéo dài và thất nghiệp vẫn quá cao trong khi bội chi ngân sách lên tới gần hai ngàn Mỹ kim. Chuyện kỷ lục ấy xảy ra một năm sau khi Chính quyền đã có kế hoạch kích thích kinh tế trị giá 787 tỷ đô la, chưa nói đến gần hai ngàn tỷ do Ngân hàng Trung ương bơm vào kinh tế bằng cách hạ lãi suất gần tới số không và cả cách in bạc gọi là “gia tăng mức lưu hoạt có định lượng” – quantitative easing. Suy trầm kinh tế xảy ra từ cuối năm 2007 và đến giữa năm ngoái mới đụng đáy mà bật lên rất chậm vì khủng hoảng chính trị cũng làm mất niềm tin của thị trường.

Ưu tiên của lãnh đạo khi đó là gì nếu không phải là kinh tế và việc làm? Sau khi Hoa Kỳ hồi phục thì

Thay vào đó, Chính quyền Obama lo ba ưu tiên về xã hội – có thể chính đáng tùy quan điểm tả hữu – là “cải tạo xã hội” Hoa Kỳ cho nhiều thập niên tới. Ông chủ trương cải tạo môi trường và năng lượng (dự luật “cap and trade” nay chưa ra thành luật), cải tạo chế độ y tế và giáo dục. Theo khuynh hướng can thiệp mạnh hơn của nhà nước. Khuynh hướng bao cấp ấy thuộc cánh tả.

Nhưng ông còn thiên tả hơn Tổng thống Bill Clinton.

Nhắc lại thì Obama làm Nghị sĩ Illinois trong giai đoạn rất ngắn: tuyên thệ nhậm chức ngày bốn tháng Giêng năm 2005 là ông mau chóng chuẩn bị tranh cử tổng thống trước khi chính thức công bố ngày 10 tháng Hai năm 2007, với ban tham mưu tranh cử đã sẵn sàng. Trong giai đoạn ngắn ngủi trong Thượng viện, ông được tờ National Journal đánh giá là “the most liberal” – thiên tả nhất – trong các Nghị sĩ.

Tìm hiểu về xuất xứ và nếu đừng bị hội chứng Obamê mà đọc cho kỹ hai cuốn hồi ký của tác giả, ta còn thấy là từ bé cho đến khi trưởng thành ông chịu ảnh hưởng của nhiều nhà tư tưởng cực tả, thậm chí thân cộng – không sai rồi – thậm chí tự xưng Mác xít. Độc giả nào muốn biết thì khỏi cần nhắc đến mục sư Jeremiah Wright nổi tiếng chống Mỹ mà cứ gõ chữ Frank Marshall Davis thì ra. Một nhà thơ cộng sản da đen và tay “xây dựng cộng đồng” có ảnh hưởng đến tuổi ấu thơ của Obama tại Hawaii – mà trong cuốn “Dreams from my Fathers”, ông Obama chỉ viết tên là Frank chứ không kể hết họ.

Tổng thống Bill Clinton là chính khách thiên tả có tài. Khi áp dụng lý tưởng xã hội ông nuôi nấng từ tiểu bang Arkansas mà thấy phản ứng bất lợi và đảng Dân Chủ thất cử năm 1994, ông lập tức tiến vào khuynh hướng trung dung và tái đắc cử năm 1993. Obama không thuộc loại ấy vì càng gặp sự chống đối – không phải từ phe bảo thủ hay đảng Cộng hoà mà từ thành phần trung dung và độc lập – ông càng bám chặt lấy ý thức hệ của mình. Cực tả là như vậy.

***

Bây giờ hãy nói về vùng đất thiêng Chicago và Illinois.

Từ khi còn “xây dựng cộng đồng” tại Chicago cho tới ngày ra tranh cử chức vụ dân cử địa phương, ông Obama hiểu rõ thế nào là “Chicago Way”. Đòn chính trị kiểu Chicago mà ông rất thuộc. Cố vấn cao cấp nhất của ông cũng là một dân Chicago kỳ cựu, David Axelrod. Còn có ảnh hưởng hơn các Tổng trưởng trong nội các. Câu châm ngôn “không để lỡ cơ hội của một cuộc khủng hoảng để cải tạo xã hội” là của chính trị gia cực kỳ xuất sắc này từ đất Chicago. Ai thắc mắc về thế nào là Chicago Way thì xin…. lại lên Google mà tìm!

Thành phố này không chỉ nổi tiếng thời xưa về các tổ chức tội ác mà còn khét tiếng vì lề thói sinh hoạt của các đại gia có biệt tài chia chác quyền lợi. Đó là tệ nạn tham nhũng chính trị, đặc sản Chicago.

Tiểu bang xuất thân của ông Obama cũng thế. Khi viết Illinois là tiểu bang tham nhũng nhất nước thì người bình thường cũng có thể hiểu được – trừ phi là bị hội chứng Obamê.

Chỉ vì từ 1968 đến nay, Illinois có bốn Thống đốc bị bay chức, ra toà hoặc vào tù vì tội tham nhũng chính trị. Người sau cùng là Thống đốc Rod Blagojevich, một đại gia… Chicago. Ông này mất chức và chờ ngày ra toà vì âm mưu bán cái ghế Nghị sĩ để trống của ông Obama cho kẻ nào trả tiền cao nhất – cho ông! Vị tiền nhiệm Blagojevich là Thống đốc George Homer Ryan cũng đã có thành tích tham nhũng, gian lận và hối mại quyền thế và vào tù bóc lịch từ tháng 11 năm 2007. Cần nói thêm là Tổng thống Bush thời ấy từ chối giảm án cho ông Ryan như Nghị sĩ Dick Durbin của Illinois yêu cầu. Hai ông Ryan và Bush thuộc đảng Cộng hoà và ông Durbin thuộc đảng Dân chủ.

Sau vụ lem nhem của Thống đốc Blagojevich về việc bán ghế nghị sĩ, Bộ trưởng Tư pháp Tiểu bang là Roland Burris được tạm chỉ định vào chức Nghị sĩ thì cũng bị tai tiếng và nay đang bị điều tra! Không phải tiểu bang tham nhũng nhất nước thì làm sao có những hiện tượng như vậy?

Nếu nhìn lại, ta thấy thế nào? Chưa thấy hết đâu!

***

Đảng Cộng hoà thất cử năm 2004 và 2006 là đáng. Và chưa chắc đã đáng lấy lại đa số kỳ này.

Thời đó, Hành pháp của ông Bush không trình bày được mọi chuyện cho mạch lạc và Bush mà xuất hiện, rất ít, là ăn nói ngập ngọng. Lập pháp bên phía Cộng hoà thì chủ quan, kênh kiệu và tham nhũng tràn lan, không chỉ về tiền bạc mà về những xì căng đan tình dục rồi còn dùng quyền hành để che giấu. Những vụ bê bối của các ông Tom DeLay, Larry Craig, Mark Foley, hoặc tay lobby Jack Abramoff, đã khiến cử tri Mỹ nổi giận….

Sau đó, là bây giờ, họ lại nổi giận nữa, vì đảng Dân chủ.

Trang báo có hạn nên người viết chỉ xin liệt kê vài hàng để gọi là phê phán có cơ sở.

Nghị sĩ Obama hứa hẹn thay đổi, chính quyền ông sẽ minh bạch, trong sạch. Và không dung chứa các tay lobby, dân vận động hành lang cho các nhóm quyền lực.

Rồi bảy người được ông mời vào nội các hay các chức vụ quan trọng đã phải rút lui vì bê bối. Nổi tiếng nhất thì có một ứng viên tổng thống bên Dân chủ năm 2008, Thống đốc New Mexico là Bill Richardson mất cơ hội làm Tổng trưởng Thương mại vì lem nhem tiền bạc. Nghị sĩ thất cử Tom Daschle mất bộ Y tế (Health and Human Services) vì trốn thuế tới hơn 120 ngàn. Một bà được đề cử vào chức vụ mới lập ra là Kiểm soát Công vụ cũng rút chạy vì gian thuế. Ông Tim Geithner thì đỗ vớt vào bộ Tài chánh (nhờ cơn khủng hoảng tài chánh) dù đã quên trả thuế cả chục năm trước, và kịp nhớ lại nên xin đóng thuế hồi hiệu.

Ông Eric Holder được mời làm Tổng trưởng Tư pháp dù xưa kia, khi còn là Phụ tá Tổng trưởng Tư pháp cho Bill Clinton, là người vận động ông Clinton ký lệnh ân xá cho một can phạm tại đào, đang trốn bên Thụy Sĩ, là Mark Rich. Việc làm khuất lấp vì chỉ vài giờ trước khi ông Clinton mãn nhiệm năm 2001, và vì bà vợ Mark Rich đã chi tiền rất khoẻ cho đảng Dân chủ.

Trong những năm ra khỏi chính quyền, ông Holder mở văn phòng luật sư và văn phòng ông biện hộ cho 17 nghi can khủng bố! Mãi đến nay ông vẫn lỡ “quên” không khai báo mọi quan hệ kinh doanh hay luật pháp mà bình thường ông phải công bố trước khi ra điều trần trước Quốc hội để được phê chuẩn. Nếu khai hết thì liệu Holder có là Tổng trưởng Tư pháp để nay quyết định về thủ tục truy tố các nghi can khủng bố bị giam tại nhà tù Gitmo không?

Là người tuyên bố rất kỵ các tay lobby, ông Obama mời hai tay có môn bài là Tom Daschle – người quên trả thuế nên mất bộ Y tế – và William J. Lynn III, làm Thứ trưởng Quốc phòng. Dù ông Lynn đang làm chuyên gia vận động hành lang của Raytheon, một tổ hợp chuyên về sản xuất chiến cụ!

Còn chuyện ông bà Obama quá hoang phí công quỹ là trò không đáng nói, vì phải dành chỗ cho một bảng phong thần Dân chủ. Còn hơn đảng Cộng hoà thời trước.

***

Thống đốc Dân chủ Eliot Spitzer của New York bị bay chức vì... mua dâm xuyên bang. Ông Phó, cùng đảng, lên thay là David Paterson thì chờ ngày về sớm và hết dám tranh cử sau khi nhiệm kỳ của Spitzer kết thúc. Lý do là những lem nhem của đời tư và dùng quyền hành để bao che cho thuộc cấp phạm tội bạo hành.

Cũng tại New York, đại gia đầy thế lực là Dân biểu Charles Rangel vừa mất chức Chủ tịch Ủy ban Chuẩn chi Hạ viện. Ông này có đầy quyền thế vì quyết định về chi thu ngân sách nhưng mất ghế vì ngân sách gia đình lại gồm những khoản tiền thuộc loại “có niềm riêng”. Ông có những thụ đắc bất chính như biệt thự trong vùng biển Carribean, các cao ốc hay chung cư mua vào với giá quá rẻ so với giá thị trường và cũng lại… quên không đóng thuế.

Nói về thế lực thì Nghị sĩ Chris Dodd của Connecticut là Chủ tịch Ủy ban Tài chánh Ngân hàng dày dạn kinh nghiệm. Tháng Giêng vừa qua, ông tuyên bố không ra tái tranh cử. Những tai tiếng tiền bạc – hối lộ – liên quan đến hai cơ sở bán công Fannie Mae và Freddie Mac, đến công ty tài trợ gia cư Countrywide, đến tổ hợp bảo hiểm AIG, v.v… khiến ông có thể thất cử nên thà rút còn hơn!

Một Dân biểu khác, cũng của New York, là Eric Massa thì còn ly kỳ hơn vì khoái thanh niên tập sự trong văn phòng. Sở thích riêng tư ấy là chuyện cá nhân, nhưng khi ông diễn tả kịch liệt với nhân viên thuộc cấp trong công sở thì đấy là vấn đề pháp lý. Một chuyện riêng tư khác là phu nhân của Dân biểu John Conyers bỗng bị 37 tháng tù vì tội nhận tiền hối lộ. Là thường dân, và chỉ là vợ của Chủ tịch Ủy ban Tư pháp, thì bà ăn hối lộ của ai, để làm gì, mà đến nỗi vào tù?

Hai nữ Dân biểu khác, của California, là Maxine Walters (đơn vị 35) và Laura Richardson (đơn vị 37) cũng bị điều tra vì hối mại quyền thế. Riêng người đẹp Nancy Pelosi của San Francsico thì đã hứa hẹn một Hạ viện trong sạch nhất lịch sử khi lên làm Chủ tịch Hạ viện sau cuộc bầu cử năm 2004. Nhưng người ta hoài nghi vì dù bà là tay phản chiến có hạng và bỏ phiếu chống lại việc dồn quân vào Iraq của ông Bush, doanh nghiệp của bà con lại bắt được hợp đồng với bộ Quốc phòng. Bà còn bị tố là cấu được vài chục triệu trong 787 tỷ kích thích kinh tế cho cơ sở làm ăn của ông chồng. Nói vậy cũng tội, vì Pelosi là loại Dân biểu giàu có nhất Hạ viện.

Vì thế mới thương dân nghèo….

***

Khi phải kiểm điểm lại chuyện tham nhũng chính trị, người viết thấy lợm giọng và càng không muốn viết về chuyện nội chính vì các chính khách ưa nói đến “thay đổi” để bịp dân. Chứ đổi người rồi thì đâu vẫn lại vào đấy.

Thương nhất là tiểu bang California này, một tiểu bang xưa kia thuộc loại tiên tiến với rất nhiều sáng kiến độc đáo. Nay là tiểu bang tụt hậu vì sưu cao thuế nặng, với thất nghiệp lên tới 12,5% – một trong năm tiểu bang cao nhất nước. Trong số này, có tám quận đang bị thất nghiệp từ 22 đến gần 30%. Có người hùng hồn bênh Obama và đảng Dân chủ. Không sao cả! Nhưng khi hãnh diện nói đảng Dân chủ chiếm đa số tại tiểu bang California và đang áp dụnh chánh sách của Obama thì quả là tuyệt vời: đấy mới là lý do giải thích tình trạng vỡ nợ và suy sụp của tiểu bang!

Kết luận ở đây là giá trị của một nền dân chủ có tùy vào dân trí. Mà dân trí cũng lại tùy vào dân khí. Nghĩa là phải dám phê phán những kẻ cầm quyền tham nhũng! Đảng nào cũng vậy mà thôi…[NXN]

Posted: Sat Mar 27, 2010 1:29 am
by tranphuongdong
Khốn Nạn Thay Nền Văn Hóa "Nhiệt Liệt" !

Trong tiếng Việt, "Nhiệt liệt" là một trợ động từ kiêm tính từ, dùng để thể hiện lòng hăng hái, nhiệt tình, biểu lộ thái độ hoan nghênh hết mình. Không rõ tự khi nào, người dân, các cơ sở làm ăn tư nhân, hay cơ quan công quyền bắt đầu sử dụng phổ thông "nhiệt liệt", nhưng có lẽ người cộng sản Việt Nam (xin gọi tắt là Việt Cộng) chính là kẻ đã lạm dụng ngôn từ này nhất.

Muôn màu muôn vẻ các hình thức "Nhiệt liệt".

Ở miền Bắc sau năm 1954, và ở miền Nam kể từ sau năm 1975, người dân phải làm quen với các khẩu hiệu, băng rôn với những hàng chữ màu vàng hoặc màu trắng trên nền vải đỏ, được treo, dán đầy rẫy khắp mọi nơi. Nội dung thì lúc nào cũng bắt đầu với chữ "Nhiệt liệt", chẳng hạn như "Nhiệt liệt chào mừng đại hội Đảng,...", "Nhiệt liệt ủng hộ nhân dân Campuchia,..." hay "Nhiệt liệt hưởng ứng phong trào thi đua,...".

“Nhiệt liệt chào mừng... bão lụt!”

Cho đến ngày hôm nay, sau mấy mươi năm thì "Nhiệt liệt" đã phát triển mạnh mẽ, trở thành một căn bệnh phổ thông, không thể không có ở hầu hết tất cả các cơ quan, công sở, trường học. Đi đâu người ta cũng thấy "Nhiệt liệt chào mừng", "Nhiệt liệt hưởng ứng". Trên văn đàn, báo chí, tin tức còn có "Nhiệt liệt biểu dương", "Nhiệt liệt hoan nghênh",... đủ thứ loại "nhiệt liệt", nhiều đến nỗi trở thành "nhiệt liệt" vô tội vạ, chẳng hạn như câu chuyện "Nhiệt liệt chào mừng ... bão lụt!" mà tác giả Trương Duy Nhất có nêu trên trang Blog của mình.

Đó là câu chuyện về bản tin do đài VTV trong nước tường thuật gần đây khi Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đi kiểm tra tình hình phòng chống bão lụt tại ... Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia. Hôm đó khi ông Hải đến cơ quan này thì người ta đã treo sẵn một cái băng rôn to đùng "Nhiệt liệt chào mừng Phó Thủ tướng,...". Khi đó đoạn phim trên Tivi chiếu cảnh ông Phó thủ tướng đang ngồi chễm chệ trước băng rôn khẩu hiệu "Nhiệt liệt", trong khi giáo huấn, ra chỉ thị về phòng chống bão!

Trách ông Phó thủ tướng cũng oan, bởi vì mấy ông cán bộ thuộc cấp đã quen xu nịnh cấp trên rồi, nay có một ông cán bộ gộc như vậy đến thăm mà không "Nhiệt liệt" thì đâu có được. Nhưng đáng trách hơn cả là người ta đã "nhiệt liệt" với nhau ngay trong lúc người dân gặp hoạn nạn bão lụt, chẳng ra thể thống gì cả.

Cho nên mới nói, nguyên văn của băng rôn "Nhiệt liệt chào mừng Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải đến thăm, đôn đốc kiểm tra công tác phòng chống bão lụt" cần được nói ngắn gọn lại là "Nhiệt liệt chào mừng ... bão lụt" cho hợp với ý tưởng "nhiệt liệt" của các quan chức tại Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia.

Rồi đến "Nhiệt liệt chào mừng đoàn lưu học sinh Trung Quốc sang học tiếng Việt"

Có lẽ khi nền văn hóa "Nhiệt liệt" đã phát triển cao độ, "nhiệt liệt" với nhau chán chê rồi thì người ta quay ra “nhiệt liệt” một cách vô duyên bợ đỡ khi có một nhúm nhỏ du học sinh Trung Quốc sang Việt Nam học tiếng Việt.

Image
(Ảnh trái) Tấm băng rôn to đùng "Nhiệt liệt chào mừng đoàn lưu học sinh Trung Quốc sang học tiếng Việt tại trường Đại học Văn hóa Hà Nội" -
(Ảnh phải) Ký Túc Xá dành riêng cho con cháu “Thiên tử” hơn hẳn KTX dành cho sinh viên VN.
Theo tác giả Người Nước Việt kể lại thì khoảng đầu tháng 3 này có một đoàn 40 lưu học sinh đến từ Học viện Nghề nghiệp Quảng Tây – Trung Quốc tham dự khóa học tiếng Việt tại Đại Học Văn Hóa Hà Nội.

Câu chuyện tưởng chừng như quá đơn giản, không có gì ... ầm ỹ, thế nhưng ban giám hiệu Đại Học Văn Hóa Hà Nội lại xem trọng nhóm lưu học sinh Trung Quốc này đến đỗi họ đã cho treo một băng rôn ngay sau cổng trường, hễ bất cứ ai đi vào khuôn viên của trường đều đi qua bên dưới và thấy rõ băng rôn với hàng chữ "Nhiệt liệt chào mừng đoàn lưu học sinh Trung Quốc sang học tiếng Việt tại trường Đại học Văn hóa Hà Nội".

Ối dào, quý hóa quá, năm thuở mười thì mới có con cháu Thiên tử sang chơi, ghé lại thăm trường, lại còn bỏ công học tiếng Việt nữa chứ. Thảo nào ban giám hiệu Đại Học Văn Hóa Hà Nội vui mừng, xum xoe lấy điểm đến độ hân hoan, "Nhiệt liệt" chào đón đến như thế.

Cũng theo lời kể của tác giả Người Nước Việt thì mặc dầu đoàn lưu học sinh Trung Quốc có mặt tại trường đã hơn 2 tuần mà chưa thấy trang web của nhà trường thông báo gì cả. Cũng vào thời điểm đó, xảy ra vụ việc "Tàu lạ" húc chìm một tàu đánh cá của ngư dân Việt Nam hôm 15/03, nhưng may mắn 7 ngư dân thoát chết.

Có phải vì tính "nhạy cảm" của vụ việc này nên nhà trường sợ sẽ xảy ra những chuyện không hay cho nhóm du học sinh Trung Quốc, nên mãi đến gần đây mới đưa tin lên trang web của nhà trường. Những hình ảnh tường thuật buổi lễ khai giảng khóa học cho thấy ngày tháng ghi trên băng rôn biểu ngữ là 13/03/2010, nhưng mãi đến 10 ngày sau, tức là hôm 23/03/2010, bản tin về buổi lễ khai giảng khóa học này mới được đưa lên trang web nhà trường.

Và, Hai Bà Trưng "nhiệt liệt" cầu an Mã Viện tại Đông Hưng, Trung Quốc
Gần đây nhất, qua bài "Hai Bà Trưng tế Mã Viện ở Đông Hưng", tác giả Chân Mây đã cho biết trong khi tại Việt Nam người ta nhộn nhịp tổ chức Lễ hội kỷ niệm 1970 năm khởi nghĩa Hai Bà Trưng hôm 21/03 thì tại "nước lạ" kế bên, tại Đông Hưng, Trung Quốc (thành phố giáp ranh với Móng Cái, Việt Nam) cũng tổ chức “Miếu Hội Phục Ba Tướng Quân” (tức là tên tướng Mã Viện của đoàn quân Đông Hán xâm lược).
Image
Nhật báo Đông Hưng ngày 17/02/2008 đưa tin “Kỷ Niệm Dân Tộc Anh Hùng, Quảng Dương Phục Ba Văn Hóa”, và giới thiệu Đoàn Nghệ Thuật VN (ghi chú trong khung đỏ.
Nói đến Hai Bà Trưng thì hễ là người Việt Nam, ai ai cũng đều biết hai Bà là anh hùng dân tộc, đã can đảm đứng lên đánh đuổi quân xâm lược Hán vào năm 40 sau Công Nguyên khiến viên Thái thú Tô Định tàn ác phải bỏ chạy về nước. Năm 42, nhà Hán sai Mã Viện sang đánh dẹp. Hai Bà yếu thế chống không lại, đến bước đường cùng đã gieo mình xuống sông Hát Giang tự vẫn. Sau khi đàn áp xong cuộc khởi nghĩa của Hai Bà, Mã Viện ra lệnh gom hết trống Đồng rồi nấu chảy, đúc thành một cột đồng to lớn, chôn xuống đất cùng với lời nguyền thâm độc "đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt" (cột đồng đổ, Giao Chỉ bị diệt).

Sử sách đã rành mạch như thế từ biết bao đời nay, thế nhưng nhà nước Việt Cộng lại gởi sang một đoàn văn công hát tuồng, để ghi lại "chiến công hiển hách của Phục Ba tướng quân". Theo tác giả Chân Mây cho biết thì thì đây không phải là lần đầu tiên, mà nhà nước VC đã "âm thầm" gởi Đoàn Nghệ Thuật Việt Nam sang tham dự "lễ hội" này từ năm 2008.

Không biết các ông các bà trong Bộ Chính Trị, Trung Ương ĐCSVN sẽ hãnh diện hay chột dạ tự ái khi báo chí Trung Quốc "ca ngợi" sự tham dự của Đoàn Nghệ Thuật Việt Nam là một "hiện tượng văn hóa" hiếm có xưa nay.

Mà đúng là một "hiện tượng văn hóa" hiếm có thật vì ai đời một dân tộc từng đánh đuổi ngoại xâm thì nay lại xúm xít quý lạy, "nhiệt liệt" tung hô một tên tướng của đội quân xâm lăng mà đã từng ra tay chém giết hàng vạn đồng bào, binh sĩ Việt không thương tiếc.

Tệ hại hơn nữa là người ta đã nhân danh nghệ thuật, diễn tuồng bắt anh hùng dân tộc Hai Bà Trưng phải quỳ lạy, rót rượu tạ tội với hồn ma Mã Viện.

Những hình ảnh ghi lại cho thấy các ông bà trong Đoàn Văn Công cũng thắp nhang quỳ lạy khấn vái truớc bức tượng của hồn ma Mã Viện, cười vui hỉ hả trong lúc trao đổi câu chuyện với các quan chức và dân địa phương. Các ông bà nghệ sĩ nhân dân này, kẻ đóng vai Thi Sách múa may quay vòng rồi đến tạ tội với Mã Viện, phụ nữ thì nhập vai Hai Bà Trưng quy hàng, rót rượu, dâng kiếm lên Mã Viện.

Ôi đau đớn thay, kinh khủng quá. Lịch sử Việt Nam sẽ ghi nhận có một triều đại Hậu Hồ đã vâng lời quan thầy Trung Quốc, can tâm viết lại lịch sử, xóa bỏ tất cả những chiến công hiển hách của ông cha ta chống quân Tàu xâm lược.

Úc Châu ngày 26/03/2010
Lê Minh

Posted: Sun Mar 28, 2010 2:36 am
by tankhoasinh
Tôi đọc cuốn “Nửa Thế kỷ Việt Nam”
Friday, March 26, 2010
Image
Chiến trường Khe Sanh, Tháng Hai 1971. (Hình: AFP/Getty Images)

Ðoàn Thanh Liêm


Tôi sinh sống cùng với gia đình tại miền Nam California, nhưng cũng hay có dịp lên thăm gia đình con gái và cháu ngoại tại San Jose, nên được gặp gỡ sinh hoạt khá thường xuyên với anh chị em trong giới văn nghệ sĩ tại miền Bắc California.

Trong số đông văn nghệ sĩ tại đây, tôi chú ý nhiều đến sinh hoạt của Cơ Sở Thi Văn Cội Nguồn do các anh Diên Nghị, Song Nhị và các chị Huệ Thu, Ngọc Bích, Cung Diễm, Diễm Hương... chủ trương và kiên trì theo đuổi đã trên 15 năm nay. Cơ sở đã cho xuất bản được trên 40 tác phẩm thơ, văn và đến 50 cuốn tạp chí Nguồn, và đặc biệt là điều hành được một tờ báo điện tử “Cội Nguồn”, cung ứng cho độc giả khắp nơi những bài vở thật đa dạng khởi sắc, những thông tin thật là phong phú, kịp thời trên Internet.

Vào cuối năm 2009 vừa đây, lúc đang ở San Jose, tôi được tác giả Song Nhị đích thân trao tận tay cuốn sách mới nhất của anh, nhan đề thật trịnh trọng: “Nửa Thế kỷ Việt Nam - Bút ký & Tự truyện”. Sách trình bày trang nhã, dễ đọc, dài tới trên 450 trang với khổ chữ đủ lớn phù hợp với thị giác đã suy yếu của lớp độc giả cao niên như người viết bài này.

Nói chung, thì cuốn sách này chứa đựng khá nhiều chứng từ khả tín về những sự việc, mà chính bản thân tác giả đã trải qua, đã đích thân chứng kiến như là một nạn nhân, nhiều hơn là một người khách bàng quan, ngoại cuộc vô tư. Cụ thể như là các vụ đấu tố địa chủ trong chiến dịch Cải cách Ruộng đất hồi giữa thập niên 1950 tại làng quê của gia đình tác giả trong tỉnh Hà Tĩnh thuộc Liên khu IV, ở phía Bắc vĩ tuyến 17. Cả người cha và mẹ của tác giả đều bị đưa ra đấu tố và bị cầm tù trong hoàn cảnh rất tàn bạo, khắc nghiệt. Những mô tả này ăn khớp với nhiều chứng từ khác mà chúng ta đều biết đến suốt trên 50 năm nay, kể cả những chuyện của các bà con thân thiết trong gia đình, mà bị kẹt lại ở miền Bắc sau năm 1954 và khi vào Nam sau 1975 đã kể lại chi tiết cho các bà con ruột thịt của họ.

Ðáng thương tâm hơn cả là trường hợp của người anh (con ông bác và là người đỡ đầu) của tác giả, tên là Trần Kim Phú đã bị chính quyền cộng sản “xử tử hình”, sau khi anh cầm đầu toán Biệt kích nhảy dù về Bắc, bị bắt khi vừa đặt chân xuống tọa độ. Trước đó, anh từng nhiều lần vượt biên giới Lào-Việt về Việt Nam để đưa một số gia đình địa chủ vượt biên tị nạn. Có lần quân đội Pathet Lào (Lào Cộng) bắt dẫn độ anh trở lại quê nhà và trao anh vào tay chính quyền địa phương xử lý. Những chuyện đau thương như thế tại một vùng nông thôn ở Hà Tĩnh đều được mô tả với giọng văn bình tĩnh, khách quan mà trung thực, thì càng có sức lôi cuốn và thuyết phục đối với số đông độc giả muốn tìm hiểu sự thực trong giai đoạn lịch sử đen tối ảm đạm này, tại miền Bắc Việt Nam hồi thập niên 1950-60.

Nhờ sự bố trí khôn khéo và cương quyết của người cha, mà cả gia đình đã trốn thoát được sang bên quốc gia láng giềng là nước Lào, rồi cuối cùng vào đầu thập niên 1960, thì tới định cư được tại miền Nam Việt Nam. Nơi đây, tác giả đã có cơ hội tiếp tục việc học tập lên tới bậc Ðại học và đã tham gia sinh hoạt khá sôi nổi trong các lãnh vực văn hóa xã hội và giáo dục.

Vào cuối thập niên 1960, thì giới học sinh sinh viên miền Nam tham gia sinh hoạt chính trị xã hội rất sôi nổi, trong đó có một bộ phận rất năng nổ do cộng sản tổ chức giật dây, nên đã diễn ra nhiều cuộc trực diện đối đầu căng thẳng với cơ quan anh ninh, nhiều khi đưa đến chuyện bạo động. Tác giả vừa là sinh viên, vừa là giáo sư dậy học tại các trường trung học, nên đã bị lôi cuốn vào trong cơn lốc xoáy của lớp thanh niên trẻ của đô thị giữa một tình huống chiến tranh đang mỗi ngày càng leo thang tàn khốc.

Tiếp theo, tác giả lại gia nhập hàng ngũ quân đội theo tiếng gọi Tổng động viên đối với các thanh niên còn ở dưới tuổi 33. Và với lập trường quốc gia vững chắc, được trui rèn qua bao nhiêu năm sống trong lòng chế độ cộng sản ở quê nhà tại Hà Tĩnh, viên sĩ quan trẻ tuổi này đã phân biệt thật rõ ràng được những thủ đoạn thâm độc, tinh vi khôn khéo của các tổ chức ngoại vi của cộng sản, mà được ngụy trang dưới chiêu bài đấu tranh cho tự do dân chủ, hòa giải hòa hợp nhằm tiến tới hòa bình, với sự chủ động của giới lãnh đạo chóp bu ở Hanoi. Nhờ vậy mà anh đã không để cho mình bị biến thành quân cờ bung xung cho phía Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam, như một số người nhẹ dạ khác đã từng bị ngả theo.

Nhưng phần chứng từ quan trọng với đầy đủ chi tiết “bi hài” ngộ nghĩnh nhất, lại là những đoạn viết về tình hình sinh hoạt của các tù nhân trong các “trại cải tạo” dành riêng cho giới sĩ quan và viên chức của Việt Nam Cộng Hòa bị bắt đi “trình diện học tập” kể từ sau ngày 30 Tháng Tư 1975 oan nghiệt đau thương đó.

Các mẩu chuyện mô tả ở phần này rất là sinh động, đôi khi hóm hỉnh, nhưng chủ yếu là rất trung thực trong cố gắng tường thuật những chi tiết rất đáng ghi nhớ trong cách đối xử của “cán bộ quản giáo coi tù” đối với “các học viên” là “ tù nhân, phạm nhân”. Cũng như tác phong của một thiểu số những “học viên vì quá hèn nhát, nên đã tiếp tay với lũ cai tù để mà hành hạ, phản bội anh em đồng cảnh ngộ với mình”.

Tác giả rất bình tĩnh, nương nhẹ chứ không có giọng điệu khắt khe hận thù gì đối với những con người yếu đuối hèn nhát này. Tuy vậy, các chứng từ rải rác trong khắp cuốn sách đều phù hợp với các tài liệu về tù nhân chính trị vốn được coi là có giá trị khả tín rất cao, mà đã được công chúng biết đến từ nhiều năm qua.

Vắn tắt lại, dù đây chưa phải là một tài liệu lịch sử được biên soạn theo phương pháp nghiêm ngặt, chặt chẽ của khoa sử học, thì cuốn sách “Nửa Thế kỷ Việt Nam” của tác giả Song Nhị rõ rệt là một đóng góp rất có giá trị cho những ai muốn tìm hiểu về cái thời đại nhiễu nhương của dân tộc chúng ta trong suốt trên nửa thế kỷ qua. Tác giả vừa là một chứng nhân và cũng là một nạn nhân của cái nền độc tài chuyên chế tệ hại nhất trong lịch sử 4,000 năm của đất nước ta vậy. Nên đã viết ra những chứng từ rất chính xác và chân thực.

Có thể nói trong đại gia đình dân tộc Việt Nam chúng ta, thì phải có đến hàng chục triệu người vừa là nạn nhân bất hạnh, vừa phải đích thân chứng kiến những cảnh man rợ tàn bạo do người cộng sản gây ra, trong suốt trên 60 năm qua tại quê hương đất nước ta. Nhưng ít có người đã trung thực và bình tĩnh kể lại chi tiết những chuyện đau thương khổ ải, đọa đày mà rất ư là tàn tệ độc ác, như tác giả Song Nhị đã ghi lại trong cuốn sách quý giá này. Người viết xin được ghi nơi đây lời cảm ơn chân thành đến với tác giả vì đã cống hiến cho các bạn đọc một tác phẩm biên soạn rất công phu, gọn gàng chu đáo, mà lại hết sức trung thực như vậy.

Sau cùng, về phương diện hình thức văn học, tác giả đã sử dụng thể loại “Bút ký- Tự truyện”, với một bút pháp khá nhẹ nhàng, bình thản để chuyên chở đến người đọc những điều tai nghe mắt thấy, những nỗi nhục nhằn vất vả của một tù nhân, cùng với những cảm nghĩ chân thực đầy tính nhân đạo, khoan dung của mình, ngay cả đối với kẻ đã hành hạ áp chế tập thể những tù nhân như mình. Thái độ cao khiết như thế có thể gọi là “Can trường trong chiến bại”, là một từ ngữ đã được dùng như là một nhan đề cho cuốn sách của một vị sĩ quan thuộc binh chủng Hải quân vừa xuất bản vài ba năm gần đây vậy.

Posted: Tue Mar 30, 2010 12:33 am
by quaichao
AI SẼ ĐƯỢC BẦU LÀM TỔNG BÍ THƯ ĐCSVN TRONG ĐẠI HỘI XI ?



Đó là đề tài mà giới xe ôm, giới quan sát chính trị vỉa hè Hà thành đàm luận sôi nổi trong suốt tuần qua khi Hội nghị lần thứ 12 Ban chấp hành TW khóa X nhóm họp và kết thúc sang nay ngày 28/3/2009…Đây là đề tài hấp dẫn để thứ nhất giảm stress về những bức xúc mà giới xe ôm thường hay phải chịu đựng vì những va chạm trên đường phố và cũng để giết thời gian trong khi chờ khách.

Giới xe ôm vẫn hay chọn cách loại suy giống như dân chơi lô đề: hôm nay, tuần này đã xuất hiện đầu này, đuôi này thì dứt khoát ngày mai, ngày kia sẽ được cân chỉnh sang số khác. Kinh nghiệm quan sát các cuộc bầu bán tại chính trường của các kỳ Đại hội Đảng đã giúp cho cánh xe ôm cũng đã rút ra một số quy luật của cái sự xuất hiện đầu, đuôi kia tại các kỳ đại hội.

Trước hết cánh xe ôm hay quan tâm, " cá " nhau xem kỳ này ai sẽ là Tổng Bí thư trong nhiệm kỳ này, dứt khoát trong Hội nghị Trung ương thứ XII này sẽ được đưa ra để tính. Bởi khi đã tính xong được nhân vật chủ chốt là Tổng Bí thư rồi thì việc sắp xếp bày ván cờ tiếp theo: nhân sự nào sẽ là sĩ, là tượng là xe pháo, là tốt… phải do nhân vật này đề xuất, săp xếp.Tức là phải tính ra đầu rồi sau mới tính ra đuôi là gì gì ?

Thứ nhất, với truyền thống của chính trường Việt Nam thì Tổng Bí thư thường phải là người miền Bắc; Các yếu nhân phải phân bổ đều cho cả 3 vùng: bắc-trung -nam. Mặc dù vừa qua có tờ báo đưa vấn đề này ra phản biện: Tại sao Tổng Bí thư lại phải cứ là người miền bắc nhưng xem chừng ý kiến này đã không được báo giới hưởng ứng vào cuộc vì: giới báo chí cũng đã ngửi thấy mùi vận động thầu của tờ báo cho đăng bài này. Mặc khác báo chí cũng đang thúc thủ chẳng muôn giây vào chính trị, chính em để tránh cái thảm cảnh: chẳng ăn gì mà không phải đầu, phải tai…

Thứ 2, nhân sự Tổng Bí thư phải là người kinh qua ủy viên Bộ Chính trị chí ít một nhiệm kỳ, không thể là anh đang là đảng viên, thậm chí vừa là ủy viên trung ương, vù một phát leo lên tổng bí thư được, chuyện đó sẽ không bao giờ xảy ra ở Việt Nam.

Thứ 3, còn sức khỏe và phải trong độ tuổi cho phép; theo tin vỉa hè thì nhân sự Bộ Chính trị kỳ này phải dưới 65, nhân sự trung ương không quá 60 nếu bầu nhiệm kỳ 2; vào lần đầu thì quy định trước đây không quá 55. Như vậy, nhân sự Tổng Bí thư tất yếu không quá 65…

Cũng theo tin vỉa hè thì trong trường hợp ngoài 65 vẫn được tái cử đó là trường hợp đặc biệt phải do Bộ Chính trị khóa X quyết; điều này giống như chỉ định thầu đối với các công trình xây dựng phục vụ cho mục đích an ninh, quốc phòng, văn hóa đặc biệt…

Như vậy, Tổng Bí thư kỳ này chắc phải nằm trong độ tuổi đầu 4, khó vượt qua tuổi đầu 5; còn đuôi là đuôi kép, đuôi chơi vơi, đuôi già, đuôi non, đuôi khỉ, đuôi gà hay đuôi trâu, đuôi ngựa... đây thì lại cân chính tổng hợp tất cả 3 yếu tố.


Căn cứ vào suy đoán trên cộng với những thông tin vỉa hè, Hai Xe Ôm tôi xin tạm đưa ra một vài kết quả do mình suy đoán như sau:

-Bộ Chính trị khóa X có 15 vị, chắc trong số này 5-6 vị sẽ thôi vì lý do tuổi tác và sức khỏe; như vậy sẽ còn 9 đến 10 vị vào tiếp “vòng sau”, tức khóa XI; 9 đến 10 vị này chắc chắn sẽ tranh giành 4 vị trí chủ chốt đó là: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng, Chủ tịch Quốc hội…

Trong số 9-10 vị này thì riêng Hai Xe Ôm cũng đủ khả năng tính loại chắc cú ra được 3 vị, để còn lại 7 vị đủ khả năng vào tiếp vòng sau.

Trong “bó đũa” 7 vị Bộ Chính trị đương nhiệm này ngọn cờ nào có nhiều khả năng sẽ được lựa chọn ? Trong 7 vị này có 3 vị có ưu thế vượt trội đó là: Ủy viên Bộ Chính trị lần hai; như vậy theo thiển ý của Hai Xe Ôm thì Tổng Bí thư sẽ rơi vào 3 “ngọn cờ” bởi có cái sự nhỉnh hơn về sự thâm niên…

Nếu quy chiếu với các tiêu chuẩn đã đề cập ở trên: vùng miền, tuổi tác cánh xe ôm cũng có thể tính, đoán ra được ai sẽ trúng làm Tổng Bí thư kỳ này !

Quan sát phiên bế mạc và theo dõi diễn văn Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đọc, quan sát cách đưa hình ảnh của ống kính máy quay, sau hình ảnh ông Nông Đức Mạnh được đưa nhiều nhất, cận và đặc tả thấy lộ ra đầu ông có vẻ sói hơn và đuôi lông mày đã chớm bạc, chắc phải lo nghĩ, tính toán nhiều.

Sau ông Nông Đức Mạnh hình ảnh đầu tiên trung tả là hình ảnh hai ông Nguyễn Phú Trọng và ông Nguyễn Tấn Dũng, hai ông ngồi ở hai góc khuôn hình, ông Nguyễn Minh Triết ngồi giữa…Theo dõi suốt buổi diễn ra phiên họp bế mạc, chúng tôi thấy truyền hình đưa hình ảnh ông Nguyễn Phú Trọng trên 10 lần, ông Nguyễn Tấn Dũng dăm sáu lần; khi đưa hình ảnh trung tả ông Nguyễn Tấn Dũng thường thấy kè kè hình ảnh ông Trương Tấn Sang với khuôn mặt có vẻ cau có, còn khuôn mặt ông Nguyễn Tấn Dũng có vẻ căng thẳng. Ông Nguyễn Phú Trọng thì có cái vẻ bĩnh tĩnh của người đã biết chuyện đâu và đấy cả rồi, hoặc kệ: được chăng hay chớ ?!


Khi đề cập tới nhân sự các Đại hội Đảng, cánh xe ôm chúng tôi cũng hay để ý đến thái độ của ông lớn láng giềng phương bắc; chắc ông lớn này không đời nào chịu để mặc các đồng chỉ Việt Nam muốn bầu ai thì bầu. Tất nhiên "chưởng lực", "khí công" của ông lớn đến đâu thì còn phải hạ hồi phân giải. Các kỳ đại hội trước bao giờ ông bạn vàng phương bắc cũng cử những yếu nhân đến “ăn dầm nằm dề” ở Việt Nam, chắc để học kinh nghiệm tổ chức đại hội Đảng của Việt Nam.

Kỳ này mới chỉ là cuộc họp bàn nhân sự được 2 ngày, mà đã thấy bà Nghiêm Tuấn Kỳ, Phó Ủy viên trưởng Ủy ban Thường vụ Đại hội đại biểu Nhân dân Toàn quốc (Quốc hội) lò dò mò sang không biết để đánh động gì đây, thông điệp gì đây hay chỉ để sang chơi cho vui để tránh bão cát Nội Mông.


Chưa hết, ông bạn vàng phương bắc còn cho bắt một tàu cá ở Hoàng Sa và thẳng thừng ngửa tay đòi các chú Việt Nam nộp phạt 150 triệu đ thì thả. Chuyện bắt tàu này xảy ra ngay trong những ngày Trung uơng Việt Nam họp bàn nhân sự chủ chốt. Liệu ông bạn vàng phương Bắc có hành xử như cánh xe ôm Việt Nam: Hẩu với nhau thì bố cho qua, không hẩu thì bố mày đòi nợ, lãi hơi bị cao đấy…

Một thông tin nữa là chuyến xuất ngoại sang Trung Quốc và Ôxtralia của ông Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Báo chí nước ngoài và Trung Quốc đưa tin nhưng không thấy Việt Nam đưa?

Về ông Trung tướng này con đường hoạn lộ của ông cũng hoạch phát như thân sinh của ông là Đại tướng Nguyễn Chí Thanh. Trong hồi ký của mình, ông Nguyễn Chí Thanh tên thật ông là Nguyễn Vịnh, có kể một chuyện thú vị về việc tên Nguyễn Chí Thanh là tên do ông Hồ Chí Minh đặt cho trong Đại hội Đảng lần thứ II ở Việt Bắc năm 1951. Khi công bố danh sách 19 ủy viên Trung ương có tên Nguyễn Chí Thanh người Bình Trị Thiên, ông Nguyễn Vịnh ngơ ngác không biết Nguyễn Chí Thanh là ai. Sau này mới biết là ông Hồ cải tên cho.


Ông Nguyễn Chí Thanh là người được phong hàm Đại tướng năm 1955 mà chưa làm tư lệnh một chiến dịch lớn nào. Cũng giống với ông Lê Hồng Anh sau này, mới vào làm ngành công an vài năm mà vẫn được phong vượt cấp hàm Đại tướng...


Về chuyện này, thông tin lan truyền trong cánh xe ôm: hình như ông Nguyễn Chí Thanh là con ông cả Khiêm, anh ruột ông Hồ Chí Minh. Cụ Nguyễn Sinh Sắc sinh được 4 người con, người con út mất sớm. Cụ Cả Khiêm và bà Thanh đều không có gia đình. Theo giới xe ôm thì sở dĩ dẫn đến tình cảnh này là do hai ông bà Cả Khiêm và bà Thanh đều tham gia phong trào yêu nước và anh, chị của Nguyễn Ái Quốc. Cả hai đều bị Pháp bắt. Bà Thanh bị tra tấn theo kiểu bắt ngồi lên mâm thau đồng nung đỏ nên sau này mất khả năng sinh sản…Ông Cả Khiêm thị bị tiêm thuốc để triệt đường nối dõi nhưng nghe dân Hoàng trù nói ông vẫn có vợ con ở Huế, nhiều người đồn ông Nguyễn Vịnh là con ông Cả Khiêm…

Đó là thông tin lan truyền trong cánh xe ôm, thực hư thế nào không ai xác nhận...

Trở lại chuyện xuất ngoại của Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, giới xe ôm đồn rằng: ông này sắp sửa trở thành yếu nhân của Bộ Quốc phòng do vậy Trung Quốc mời sang để thăm dò, nắn gân. Còn ông sang Ôxtraylia là để một mặt tạo dựng khuôn mặt cho ông trên trường quốc tế. Ông Nguyễn Chí Vịnh từng là Tổng Cục trưởng Tổng Cục 2, không biết ông sang Ôxtrailia có sử dụng nghiệp vụ tình báo điều tra thêm vụ hối lộ liên quan tới in tiền polymer không biết ?! Cách đây gần một năm cũng thấy ông Nông Đức Mạnh sang thăm nước này, sau đấy thấy rộ lên vụ tiền polymer.


Vụ này không biết có liên quan đến quan chức to nào không biết ?! Dư luận đang mỏi cổ chờ thực hư ra làm sao …

Hai xe ôm.
http://vn.360plus.yahoo.com/phamvietdao ... e?mid=4422

Posted: Wed Mar 31, 2010 2:59 am
by tankhoasinh
Chủ nghĩa dạ dày_

Joyce Anne Nguyen



Bạn sẽ không tìm thấy định nghĩa của "cụm từ" “chủ nghĩa dạ dày” ở đâu cả. Bởi vốn dĩ nó không tồn tại. Nhưng tôi dùng nó, theo cách nói bỡn cợt của bác Trần Công Sung, vì thực tế chẳng có cụm từ nào thích hợp hơn nữa. Chủ nghĩa dạ dày. Tôi sẽ không áp đặt nó vào bất kỳ dân tộc hay đất nước nào cả, vì bản thân tôi không cho phép chính mình gán ghép bịa đặt khi không biết gì.
Nhưng nó hiện hữu, nó tồn tại trong xã hội VN ta, trong dân tộc ta, trong người dân VN ta.

Chưa từng ai chính thức đặt cho nó một cái tên. Nên bây giờ sẽ tạm gọi nó là chủ nghĩa dạ dày. Những người theo chủ nghĩa này, đơn giản lắm, chỉ quan tâm đến cái dạ dày của họ. Tức là quan tâm đến những cái họ đưa vào dạ dày. Thế là hết. Cuộc sống chỉ có thế. Mỗi ngày ăn 3 bữa, mỗi bữa ních đủ dạ dày, không chết đói, thế là đủ. Chẳng cần gì hơn. Họ không quan tâm đến những việc diễn ra cách quá 100 m cái dạ dày của họ. [Dĩ nhiên tôi không nói nghĩa đen]
Thực sự tôi nghĩ, lẽ ra họ đã phải suy nghĩ sâu hơn. Thế này nhé, họ yêu cái dạ dày của họ, thế thì họ tất phải quan tâm đến những thứ họ tống vào dạ dày. Vậy đó là cái gì? Là thức ăn. Nhưng thức ăn ấy, trước tiên tôi quan tâm, có hợp vệ sinh không? Không hợp vệ sinh ư? Vì sao? Vì thời nay cái gì cũng độc hại cả. Ăn bất kỳ cái gì, nếu bạn nghi ngờ nghĩ đến những gì bạn đã đọc trên báo chí, về sự độc hại của hóa chất, thuốc trừ sâu, mầm bệnh, virus, chất lượng vệ sinh nơi nuôi trồng và nấu nướng, chất lượng hàng hóa sản phẩm bày bán tại cửa hàng…, và bạn sợ, bạn lo, bạn sẽ không còn gì để ăn nữa. Thế là bạn đành tránh nghĩ đến cái công đoạn nó được chế biến và sản xuất, và cứ thế nhắm mắt bỏ vào miệng. Rồi cũng sống qua ngày cả mà, ai cũng thế.
Image
Vậy đấy. Họ yêu cái dạ dày của họ, nhưng chính họ cũng chẳng buồn quan tâm đến chuyện họ đưa cái gì vào dạ dày. Liệu nó có sạch sẽ không, hay sẽ gây ra những căn bệnh tiềm ẩn trong cơ thể họ, và một ngày kia giết chết họ.

Họ không quan tâm cũng chỉ bởi họ ý thức được họ không thể làm gì được. Nếu ùa lên những cơn dịch, những trận cúm, như cúm gia cầm, cúm heo… họ sẽ sợ. Nhưng những thực phẩm độc hại thông thường, chẳng hạn như nước tương gây ung thư đi, hoặc phở có hàn the đi, hoặc rau cỏ dư thừa thuốc trừ sâu đi, mới đầu họ đều sợ cả, nhưng rồi qua thời gian mọi việc lại đâu vào đấy. Họ vẫn ăn. Nhắm mắt mà ăn, đừng nghĩ nữa, cứ nghĩ sẽ chẳng còn gì để ăn nữa. Nếu ăn vào vài chục năm sau có nguy cơ bị ung thư chết. Nhưng nếu không ăn sẽ lăn ra chết đói ngay bây giờ. Chi bằng cứ ăn vào.

Họ không quan tâm. Mất khả năng quan tâm.
Tôi nghĩ có lẽ bây giờ quý vị bắt đầu hơi chán rồi, và thầm nghĩ, nó muốn gì đây, lại một bài thuyết giảng về an toàn thực phẩm à. Thưa không, đó chỉ là một lối mở đề (hơi dài dòng) của tôi. Ở đây tôi đang muốn hướng đến một cái phía sau nó, phía sau cụm từ “chủ nghĩa dạ dày”. Lâu dần, qua thời gian, trong người VN có hình thành một khả năng chịu đựng không phải dân tộc nào cũng có được. Thử ngẫm xem, chịu đựng hàng tiếng đồng hồ mắc kẹt trong dòng giao thông ùn tắc, mồ hôi bê bết áo, nhích lê từng chút, từng chút một giữa khói bụi và tiếng ầm ĩ còi xe, đặc biệt khi trưa nắng chang chang hoặc giờ cao điểm đi học hoặc đi làm về sau một ngày kiệt sức ở trường học hoặc sở làm. Chịu đựng việc chứng kiến hàng tá những phi lý và bất công diễn ra hàng ngày xung quanh, như những vụ sập nhà do rút ruột công trình, chuyện “lô cốt” xây đầy đường bít kín lối đi kéo ròng rã từ năm này sang năm khác và không có vẻ gì sẽ sớm hoàn thành, chuyện đủ thứ những ý định và cải cách điên rồ của cấp cao… mỗi khi mở tờ báo ra đọc mỗi ngày. Chịu đựng việc nai lưng ra làm việc mà vẫn không giàu có, trong khi các cô chiêu cậu ấm, con cái quan to vung tiền ra cửa sổ không tiếc, đồng hồ Gucci 600 đô mỗi tuần một cái, hay nổi giận đập nát điện thoại rồi hôm sau mua cái xịn hơn, hay tặng bạn bè mỗi đứa một cái @... như báo chí từng đăng, về sự chênh lệch giàu nghèo khủng khiếp ở nước ta. Chịu đựng việc các website yêu thích bị chặn với lời huyễn hoặc đó là sự cố kỹ thuật không đáng có, chịu đựng việc không được bầu, không được biểu tình, không được phát biểu ý kiến… Nói tóm lại, mỗi ngày chịu đựng, và cả đời chịu đựng.

Vì họ đã học cách miễn nhiễm. Như thể họ xây một bức thành lũy kiên cố và vững chắc giữa họ và những điều xung quanh, và họ không còn quan tâm đến những gì đang diễn ra quanh họ nữa. Họ không quan tâm bản thân họ đang thực sự muốn gì, và cũng chẳng quan tâm điều gì đang tiếp diễn. Nói ngắn gọn, họ vô cảm.

Vô cảm.
Tôi kể một câu chuyện có thật như thế này. Khi mới qua Na Uy, chưa đến một năm trước, tôi được dẫn đến một trung tâm là Stiftelsen kontorsenter (nếu tôi nhớ không lầm cách viết), nơi đó trước kia là nơi giam giữ tù nhân Do Thái cũng như người Na Uy vào thời Đức quốc xã chiếm đóng ở thành phố này, giai đoạn Thế chiến thứ 2. Tôi đến đó, và những người làm việc ở đó giới thiệu cho tôi, và mẹ tôi một người đàn ông, trước kia từng là một tù nhân bị giam giữ trong thời kỳ này và sống sót. Sau này hàng năm vào lễ tưởng niệm, ông ấy vẫn thường hay lên phát biểu đôi lời. Họ cũng đưa cho tôi xem cả cuốn sách phỏng vấn nhiều người, trong đó có con gái người đàn ông này, về những suy nghĩ của cô khi ông ngồi tù. một cách đầy trang trọng và ngưỡng mộ, mẹ tôi hỏi, xin phép được biết ông bị tù bao lâu (chắc hẳn là rất dài). Câu trả lời khiến tôi gần như muốn bật ngửa khỏi ghế và phải cố gắng tạo vẻ mặt bình thường khi nín cười. 3 ngày. Bản thân chuyện ấy đem kể với người Na Uy chẳng có gì đáng cười cả. Tù là tù, 3 ngày cũng vẫn là ngồi tù. Đặc biệt khi ấy là giai đoạn chiến tranh. Nếu tôi đem kể với nhiều người VN, có lẽ họ cũng sẽ nói tôi so sánh khập khiễng, Na Uy ít dân nên phải trân trọng từng con người trong đất nước họ. Nên tôi đành thú thật thế này, tôi chẳng có ý định so sánh gì giữa VN và Na Uy cả. Điều duy nhất tôi muốn nói là, tôi đã muốn cười. Và tôi tin có nhiều người cũng muốn cười, và có thể cũng không tin khi nghe tôi kể. Đó là vì chúng ta đã nghe thấy quá nhiều người chết rồi. Hàng ngày mở báo ra thấy hàng trăm hàng ngàn cái chết với đủ hình thức khác nhau. Ta chai lỳ rồi. Trơ cứng rồi. Mất cảm giác rồi. Ta vô cảm rồi.
Vô cảm.
Vô cảm nên nhiều học sinh có thể ngồi đó nhìn một nữ sinh bị đạp, bị tống, bị túm tóc, bị dộng đầu… mà vẫn thản nhiên như không có chuyện gì xảy ra. Vô cảm nên mới có thể đứng chung quanh quan sát và giơ máy quay hơn 5ph hình ảnh người công an bị xe cán đứt đôi người nhưng vẫn còn sống và nhúc nhích. Vô cảm nên người quản lý mới có thể lạnh lùng bỏ đi khi thấy một người đàn bà sắp bị đàn chó hung dữ cắn xé đến chết. Vô cảm nên lái xe cán lên chân một học sinh quay lại cán thêm 3 lần nữa cho chết hẳn….

Vô cảm nên mới thờ ơ với tình hình chính trị, an ninh lãnh thổ và chủ quyền đất nước. Vô cảm nên mới lãnh đạm với số phận dân tộc và đồng bào mình.Vô cảm nên mới tụ nhau than khóc Michael Jackson trong khi đồng bào bị đánh cướp ngoài hải đảo. Vô cảm nên mới bàng quan với những dự án nguy hiểm như dự án bauxite, điện hạt nhân, cho thuê rừng… và tự huyễn hoặc rằng nhà nước đã có cách xử lý và chính trị là việc lớn lao to tát dân thường chẳng cần bận tâm. Vô cảm nên mới cho mọi hành động vì tự do là dư thừa và xuẩn ngốc, bảo đất nước ta đã độc lập, tự do, hạnh phúc lắm rồi, còn chuyện dân nước người sống sướng hơn là việc không thể đem ra so sánh khập khiễng được. Vô cảm nên mới bằng lòng chấp nhận sống thiếu tự do còn hơn tranh đấu cho tự do thực sự. Vô cảm nên bảo rằng mình sẽ không làm được, nên từ bỏ đi và không làm nữa. Vô cảm nên chỉ lo cho cái dạ dày của mình, và sợ hãi, ngăn cản những người trong gia đình làm bất kỳ cái gì nguy hại cho nồi cơm của gia đình.

Vô cảm.
Ôi tôi sợ cái ngày ấy, khi tôi không còn chút cảm xúc nào, nhìn người chết trước mặt mà thản nhiên bỏ đi, sợ cái lúc tôi sẽ không còn là con người nữa, và tồn tại như một thây ma, tống thức ăn vào dạ dày như cái máy mà chẳng màng đó là cái gì! “Education makes machines which act like men, and men who act like machines.”- Erich Fromm. http://www.vietnamreview.com/modules.ph ... 3831488141

Posted: Fri Apr 02, 2010 12:24 am
by vuphong
Nguyễn Huệ Chi, McAfee và Google
Thursday, April 01, 2010


Ngô Nhân Dụng

Khi học giả Nguyễn Huệ Chi và một số bạn bè đứng ra lập mạng lưới thông tin cho đồng bào biết về việc Trung Cộng khai thác bô xít ở nước ta, các nhà trí thức này chắc không ngờ có ngày báo chí khắp thế giới nói đến họ. Những tờ báo lớn nhất ở Âu Châu như Financial Times, Le Monde, ở Mỹ như New York Times, Wall Street Journal trong ngày Thứ Ba, 31 Tháng Ba, 2010, đều nhắc nhở đến phong trào phản đối chính quyền cộng sản cho Trung Cộng khai thác bô xít, và những xung đột khác giữa hai nước Việt Hoa.

Trong một sớm một chiều, cả thế giới biết tin các nhà trí thức Việt Nam đang chống lại việc Trung Cộng khai thác bô xít. Họ còn biết nguyên do chống đối là vì những ảnh hưởng tai hại cho môi trường, làm cạn kiệt tài nguyên, vân vân. Công ty khai thác nhôm Chinalco được nhắc đến như là nguồn gốc gây ra cuộc đối kháng của người dân Việt. Tiếng xấu về công ty Trung Cộng này sẽ còn lâu mới rửa được. New York Times viết tựa đề: Googgle nối kết vụ tấn công mạng lưới với cuộc tranh chấp mỏ ở Việt Nam (Google Links Web Attacks to Vietnam Mine Dispute). Financial Times viết tựa đề: Các nhà phản kháng Việt Nam bị tin tặc tấn công (Vietnam dissidents targeted by cyberattacks). Cả hai đều nhắc đến nhóm các nhà trí thức chống Trung Cộng khai thác bô xít qua mạng lưới được hàng chục ngàn người vào tham dự.

Nhật báo Financial Times đã giới thiệu bản tin về vấn đề này hai lần trên hai mục khác nhau, trên mạng lưới, một là mục tin thế giới, hai là các tin tức về kỹ thuật. Trong bản tin này, tờ báo còn vạch rõ một mối lo ngại của người Việt Nam trong vụ khai thác bô xít này, là cơn sóng những người dân Trung Cộng sang Việt Nam làm việc, ở những địa điểm chiến lược trong việc phòng thủ quốc gia (Chinese workers flooding into the strategically sensitive region).

Nhật báo Wall Street mở rộng mối quan tâm sang các doanh nhân Mỹ. Họ liên kết cuộc tấn công của tin tặc trên các nhà trí thức phản kháng ở Việt Nam với các vụ đột nhập vào mạng lưới các công ty Mỹ, do Bộ Quốc Phòng Trung Quốc chủ trương, với mục đích gián điệp kinh tế. Tác giả bài báo cảnh cáo: An ninh của giới doanh nghiệp Mỹ bị đe dọa!

Cả hai tờ báo quốc tế Financial Times và New York Times, cũng như bản tin AP đều không quên nhắc lại Việt Nam và Trung Hoa đã trải qua hàng ngàn năm thù nghịch, cuộc chiến tranh gần đây nhất mới hồi 1979, và tâm lý người Việt Nam lúc nào cũng nghi ngờ tham vọng của các chính quyền phía Bắc. Nhân dịp này, họ cũng nêu lên mối tranh chấp về các quần đảo, đặc biệt là đã ghi nhận Hoàng Sa mới bị Trung Cộng chiếm của Miền Nam Việt Nam năm 1974.

Tất cả các tin tức trên đều lợi cho cuộc tranh đấu của người Việt Nam. Chúng sẽ nhắc nhở dư luận thế giới về những cuộc tranh chấp giữa hai nước Việt Nam và Trung Hoa hiện nay. Quan trong nhất là các bản tin đã giới thiệu cho mọi người biết một phong trào tranh đấu cho môi trường sống, cho chủ quyền quốc gia và đòi công lý của người dân Việt Nam. Phong trào tranh đấu này đã bị bọn “tin tặc” tấn công, hai công ty quốc tế Google và McAfee đã loan báo tin tức đó để các thân chủ của họ đề phòng; chính bản tin đó đã bùng nổ trên mặt báo chí khắp thế giới.

Tất cả các tổ chức đấu tranh chỉ mong “thắng” được một trận như vậy trong cuộc chiến vận động, tuyên truyền của mình. Có khi họ bỏ ra hàng triệu Mỹ kim để gây nên những tiếng vang như thế này. Nhưng học giả Nguyễn Huệ Chi và Mạng lưới Bô xít Việt Nam không phải trả đồng tiền nào cả. Lý do, chỉ vì họ đang đứng về phía những lực lượng tiến bộ và đứng về phía lẽ phải. Không phải chỉ trong môi trường giữa người Việt Nam với nhau, mà lẽ phải và sự tiến bộ của chung nhân loại. Hai công ty Google và McFee tự nhiên đứng về phía Mạng lưới Bô xít Việt Nam!

Bản tin trên các báo và của hãng thông tấn AP đều nêu tin chính từ những lời tố cáo của công ty Google và vị trưởng kỹ thuật công ty McAfee chuyên về chống tin tặc.

Khi có một đại công ty như Google để mắt tới, câu chuyện trở thành quốc tế! Công ty McAfee cho biết họ tìm thấy “nhu liệu phá hoại, malware” từ Tháng Giêng 2010 khi nó lẻn vào một nhu liệu viết tiếng Việt trong mạng www.vps.org, đó là Web site của Hội Chuyên Gia Việt Nam, Vietnamese Professionals Society (VPS). Công ty McAfee cho biết họ đã khám phá ra “malware Việt Nam” này trong khi đang điều tra những vụ tấn công vào mạng lưới của Google trong lục địa Trung Hoa. Google bị chính quyền Trung Cộng tấn công với mục đích đột nhập và ăn trộm các dữ kiện trong hộp thư của các nhà dân chủ Trung Quốc. Cuộc tấn công thô bạo đã khiến công ty Google chấm dứt không hợp tác với Bắc Kinh trong việc kiểm duyệt mạng lưới; và hai tháng sau, công ty này đã rút khỏi Trung Hoa mặc dù sẽ bị thiệt hại về thương mại.

Sự kiện công ty McAfee tìm ra các con virus Việt Nam trong khi đang điều tra ở Trung Quốc cho thấy hai cuộc “hành quân ăn trộm và phá hoại” các mạng lưới ở Việt Nam và ở Trung Hoa có thể bắt nguồn từ cùng một đầu não, nếu không thì cũng được phối hợp chặt chẽ ít nhất về kỹ thuật.

Ðiều này rất dễ giải thích. Không phải chỉ riêng Cộng Sản Việt Nam lo lắng trước phong trào giới trí thức phản kháng vụ khai thác bô xít. Cộng Sản Trung Hoa cũng quan tâm vì quyền lợi kinh tế của họ. Cả hai đảng cộng sản đều muốn phá hoại không cho người Việt Nam vào mạng Bô Xít của học giả Nguyễn Huệ Chi và các nhà tranh đấu tự do dân chủ khác. Cho nên, nếu đảng Cộng Sản Việt Nam nhờ các cố vấn Trung Quốc giúp trong việc phá hoại này thì cũng dễ hiểu, không khác gì các cố vấn trong vụ cải cách ruộng đất, cố vấn các cuộc chỉnh quân, chỉnh đảng nửa thế kỷ trước đây.

Nhưng khi hai đảng cộng sản thi hành chính sách này là họ đã khai chiến với cả loài người tiến bộ. Tiến bộ đây không phải là trên mặt kỹ thuật, kinh tế, mà tiến bộ về xã hội. Loài người đã tiến đến thế kỷ này, mọi người đều công nhận quyền được trao đổi thông tin, quyền được biết sự thật là một quyền thiêng liêng của mỗi con người. Ðó cũng là một động lực cần thiết giúp xã hội phát triển về kinh tế và văn hóa. Ngăn chặn quyền tự do đó, phá phách không cho người dân được thi hành những quyền đó, là phản tiến bộ, là chống lại cả loài người.

Chuyên viên Neel Mehta thuộc công ty Google giải thích tại sao công ty đã công bố tin tức những vụ tin tặc do các chính phủ Trung Cộng và Việt Nam chủ mưu. Ông viết rằng công ty nêu lên các sự kiện này để đánh thức “cộng đồng quốc tế chú ý đến vấn đề an toàn mạng lưới một cách nghiêm chỉnh. Vì mục đích là bảo vệ việc trao đổi ý kiến và quan điểm một cách tự do (free opinion flowing).”

Các nhà trí thức Việt Nam chủ trương Mạng lưới Bô xít Việt Nam cũng nhắm cùng một mục đích: Trao đổi thông tin và quan điểm một cách tự do. Con người chỉ làm được việc thông tin tự do khi biết kính trọng người khác và tự bảo vệ phẩm giá của mình. Cấm đoán thông tin, cấm các quan điểm khác mình không cho phát biểu, đều là những thái độ và hành động hèn nhát, làm giảm giá trị của chính người cấm lẫn những người bị cấm.

Các chế độ độc tài phát xít và cộng sản, khi họ ngăn cấm thông tin, đều bắt dân chúng sống chìm đắm trong lạc hậu, lùi nhiều bước ngược chiều với lịch sử nhân loại. Ở nước Trung Hoa nhiều người đã than thở là khi vào Google hay Baidu tra tìm một chữ như “cà rốt” cũng gặp khó khăn, mặc dù mục đích chỉ để tìm hiểu về thức ăn hay cách trồng rau. Có lúc mạng lưới tra tìm không cho kết quả nào, vì chữ “cà rốt” mà người Trung Hoa gọi là “hồ la bặc” có chữ Hồ trong đó, các mạng lưới đã kiểm duyệt vì tránh tiết lộ các “bí mật quốc gia” về ông Chủ Tịch Hồ Cẩm Ðào! Cũng giống như vậy, người tra tìm một chữ “ấm áp” (ôn) cũng gặp khó khăn vì chính quyền cộng sản muốn ngăn cản các “gián điệp” không cho dò tin tức về Thủ Tướng Ôn Gia Bảo!

Cái thói quen bưng bít đó còn đọng lại ngay cả sau khi chế độ cộng sản đã sụp đổ. Mấy bữa trước, có hai vụ nổ bom trong hệ thống xe điện ngầm ở MatxCơva từ sáng sớm khiến 39 người chết. Nhưng ba hệ thống truyền hình lớn nhất ở thủ đô nước Nga giữ lại không loan tin này. Sau đó, từ nửa giờ đến hai giờ, họ loan tin vắn tắt. Và mãi đến trưa, mới có một đoàn phóng viên đến quay phim tại hiện trường, sau khi đã dọn dẹp!

Cuộc cách mạng thông tin khiến cho chính sách bưng bít đó không những thất bại mà còn trở thành lố bịch. Trong nước Việt Nam hiện nay cũng rất ít người biết đến Mạng lưới Bô xít Việt Nam. Khiến người dân không những chán ghét mà con khinh bỉ bọn cầm quyền. Nhờ Google, hom nay cả thế giới được biết dân Việt Nam chống Chinalco khai thác bô xít, và các báo đều nêu rõ những lý do chính đáng. Người ta cũng biết nhiều hơn về các cuộc tranh chấp ở Hoàng Sa, Trường Sa.

Bởi vì chúng ta, những người tranh đấu cho nước Việt Nam tự do dân chủ đang đứng cùng phía với những người tiến bộ trên thế giới. Cộng sản đang đứng về phía những kẻ cản đường không cho dân tiến bộ. Dân Chủ đang lên, độc tài đang xuống, từ nửa thế kỷ nay. Trước đây 40 năm, các chính phủ Ðài Loan, Ðại Hàn, Indonesia, Thái Lan cũng đứng về phía phản tiến bộ như cộng sản bây giờ. Nhưng khi người dân các nước trên ý thức được các quyền lợi vật chất và tinh thần của họ sẽ chỉ được bảo đảm khi mọi người cùng được tự do, quan trọng nhất là tự do thông tin, thì cuối cùng các chế độ độc tài sẽ sụp đổ.

Trong công cuộc tranh đấu này, ở Việt Nam, các nhà trí thức phản kháng đang đi tiên phong. Trước đây không ai ngờ học giả Nguyễn Huệ Chi và các bạn ông lại có khi liên hệ với các công ty McAfee và Google. Các công ty quốc tế lớn về truyền thông đang đứng về phía họ. Vì tất cả đều thuộc những lực lượng tiến bộ trong nhân loại.

Posted: Sun Apr 04, 2010 3:00 am
by tankhoasinh
Tôi đã thức tỉnh !!!

Lê Nguyễn Huy Trần.
Tôi sinh ra và lớn lên ở miền Trung, Việt Nam, trong thời kỳ đất nước được “hoàn toàn thống nhất” và cai trị dưới chế độ Cộng Sản. Hôm nay tôi viết lên đây những tâm tư của một người con trẻ như tôi cuối cùng cũng đã nhận ra bộ mặt thật tàn ác của Đảng Cộng Sản Việt Nam (ĐCSVN) mà không ngôn từ nào đủ sức lên án.

Cũng như những người bạn đồng trang lứa trong nước, tôi được nuôi dưỡng và đào tạo dưới mái trường Xã Hội Chủ Nghĩa (XHCN) Việt Nam mà ở đấy, thầy cô luôn dạy chúng tôi phải làm một người công dân tốt trước khi tiếp thu những kiến thức chuyên môn. Còn gì tuyệt vời hơn khi bản thân tôi được học tập trong một nền giáo dục “tiên học lễ, hậu học văn” đầy lễ giáo ấy.

Ngay từ lúc còn học mẫu giáo, tôi đã cố gắng phấn đấu để làm con ngoan trò giỏi cho ông bà, cha mẹ vui lòng. Cái thước đo sự ngoan ngoãn vâng lời của tôi chính là những phiếu “bé ngoan Bác Hồ” được cô giáo phát thưởng hàng tuần. Tôi tiếp tục rèn luyện mình trở thành một học sinh gương mẫu về đạo đức cũng như về thành tích học tập trong những năm tiểu học (cấp I).

Năm tôi lên lớp bốn, thầy giáo chủ nhiệm đã đề ra một số bạn xuất sắc để kết nạp đội viên vào Đội Thiếu niên tiền phong (TNTP) Hồ Chí Minh, trong đó có tôi. Theo lệ thường thì học sinh nào cũng sẽ được tham gia Đội TNTP khi bước vào ngưỡng cửa trung học cơ sở (cấp II), trừ những thành phần cá biệt mới bị tước quyền gia nhập. Vì thế tôi rất hãnh diện đến lớp với chiếc khăn quàng đỏ tươi thắm trên cổ áo sơ mi trắng lúc tôi được vào Đội trước những người bạn cùng lớp khác.

Tôi nổ lực phấn đấu cho lý tưởng trở thành một công dân tốt của nước XHCN Việt Nam và trời đã không phụ lòng tôi. Một lần nữa tôi lại được vào Đoàn Thanh Niên Cộng Sản (TNCS) Hồ Chí Minh sớm hơn với tư cách là một đoàn viên ưu tú. Đó là năm học cuối trước khi tôi thi tốt nghiệp vào phổ thông trung học (cấp III). Lúc ấy, tôi không bao giờ quên đeo trên ngực chiếc huy hiệu đoàn biểu thị cho một ý chí vững mạnh của thanh niên Việt Nam trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tôi rất tự hào về những thành tích với các hạng vị đội viên hay đoàn viên mà mình đã đạt được trong những năm đầu đời tập tễnh học làm người. Tôi xây mộng cho một tương lai đảng viên mẫu mực để có thể giúp xã hội ngày càng phát triển hơn. Tôi ước nguyện đất nước sẽ giàu mạnh lên khi nghe Việt Nam, dưới sự lãnh đạo “tài tình” của chính phủ hiện thời, gia nhập vào Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Ngay đến thời điểm tôi rời quê nhà để đi du học thì trong tâm trí tôi lúc nào cũng hướng về một Việt Nam xinh đẹp với những trang sử oai hùng.

Trong những năm đầu du học, tôi nghe và biết người Việt hải ngoại không đồng tình với cách vận hành đất nước của Cộng Sản, nhưng tôi không để ý tìm hiểu lý do vì tôi không thích chính trị. Tôi thiết nghĩ ở đâu thì cũng có những cuộc chống đối giữa các phe phái bởi “chín người mười ý”. Cho đến một ngày gần đây khi tôi may mắn gặp và nói chuyện với một người bạn trẻ yêu nước trên mạng, tôi mới chợt nhận ra rằng tôi muốn làm một công dân tốt nhưng lại rất thờ ơ về hiện tình của đất nước mình. Không phải tôi không quan tâm mà tôi đã quá tin vào đường lối, chủ trương của Đảng Cộng Sản (ĐCS) và những gì mà tôi đã được dạy dỗ từ mái trường XHCN ấy.

Nhưng rồi qua vài cuộc trò chuyện tìm hiểu sự thật về Đảng và cuộc đời Bác Hồ với anh bạn trẻ đó, tôi bắt đầu tò mò và tìm đọc những tài liệu liên quan đến Việt Nam trong quá khứ mà trước đây khi còn ở trong nước, tôi đã bị những quyển sách lịch sử (in bởi Nhà xuất bản Giáo dục) lừa dối. Chỉ vì Đảng muốn bưng bít mọi tội ác đã và đang gây ra cho dân tộc mà phải nguỵ tạo biết bao câu chuyện thần thánh để tô đẹp hình tượng “ác nhân” cụ Hồ, để các bạn trẻ trong nước cứ mãi đắm chìm trong giả dối. Mọi niềm tin tôi đặt vào Đảng Cộng Sản cho một đất nước thanh bình đã tan vỡ.

Tôi đã ngu muội để cho cái chế độ bạo quyền và độc tài ấy nhồi sọ mình mà ngỡ đấy là một niềm hi vọng, là một chân lý sống. Tôi nhục nhã khi nhìn lại hình ảnh đứa bé mẫu giáo (là tôi) đã cẩn thận dán những tấm phiếu “bé ngoan Bác Hồ” ngay ngắn lên tường nhà mà ngây thơ không biết Bác là một con người hạ cấp đến mức độ nào. Tôi tự trách khi quàng chiếc khăn đội viên màu đỏ đã thấm máu của biết bao đồng bào vô tội trong công cuộc “cải cách ruộng đất” do ĐCS thi hành hay phong trào “Nhân Văn-Giai Phẩm” đòi tự do dân chủ trong những năm giữa thập niên 50. Tôi hổ thẹn khi cài chiếc huy hiệu đoàn mang biểu tượng tay cầm lá cờ đỏ sao vàng mà theo Đảng là để soi sáng đường thanh niên tiến bước.

Đó không phải là sự thật. Tôi hận mình đã từng chấp nhận mang trên người sự dối trá đê hèn, bởi chính cái lá cờ ấy mà tất cả người con đang sống trên đất Việt hiện nay do lầm tin một lần để rồi phải sống nô lệ cho ngoại bang từng ngày, từng giờ, từng phút. Hỡi ôi, những cụm từ “giải phóng miền Nam” và “thống nhất đất nước” của Đảng đặt ra sao mị dân đến thế. Vậy mà một số cá nhân vẫn còn sùng bái những chính sách “ngu dân” để rồi tự biến mình thành đứa con tội đồ ngàn đời của mẹ Việt Nam.

Ngày trước tôi còn hồn nhiên trên chiếc xe đạp đến trường, còn vô tư cùng bè bạn vui đùa trong suốt quãng đời học trò yên bình của mình. Xung quanh chúng tôi được bao bọc bởi lớp kính vạn hoa mà nhìn xuyên qua là cả một bầu trời muôn sắc muôn màu hiện ra rực rỡ. Trong cái thế giới ấy, tôi đã thấy những con người ngồi chiễm chệ trên chiếc xe hơi bóng loáng, những cao ốc sang trọng của thời đại tân tiến, những khu phố nhộn nhịp tiếng nói cười hớn hở, những kế hoạch to lớn và quan hệ hợp tác, đầu tư lâu dài của các nhà kinh doanh nước ngoài đối với Việt Nam.

Thời kỳ kinh tế đã bắt đầu mở cửa ư? Không. Bây giờ tôi chỉ thấy đằng sau lồng kính nhiệm màu kia là những hình ảnh đau thương, tang tóc của quê hương. Tôi không còn thấy sự phồn thịnh do Đảng nguỵ tạo lên mà thay vào đó là chết chóc, là đọa đày. Đất nước ngày nay như một sa mạc khô cằn không sức sống, như cánh rừng hoang tàn thiếu tiếng chim ca, như một trại tù cho toàn dân vô tội, như một nghĩa trang đầy những linh hồn chết oan. Xã hội ngày nay tràn ngập tệ nạn mại dâm, đồi truỵ, buôn lậu, ăn cắp, quan liêu cửa quyền, tham nhũng hối lội v.v…

Đã thế ĐCS nào có lo lắng cho đời sống của dân mà cứ hút máu đồng bào như loài ác quỷ, lại còn làm tay sai cho Tàu Cộng để chúng vơ vét hết đất đai, rừng núi, hải đảo của quê hương. Quả là một guồng máy xã hội mục ruỗng, thối nát. Một bọn phản đồ đang sống nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật như thế thì thử hỏi tôn ti trật tự ở đâu, lễ nghĩa phép tắc ở chổ nào đây.

Cái mái trường XHCN chỉ đưa ra những lý thuyết suông thôi sao? Hay nó chỉ dạy cho Đảng phải biết nhường nhịn và tôn thờ quân Tàu cướp nước; còn đối với đồng bào ruột thịt thì chính quyền Cộng sản ra sức đàn áp và giết hại, lúc đó mới gọi là “đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa” sao? Thế mà tôi đã từng thần tượng, cảm phục cái nền giáo dục xảo trá ấy. Còn biết bao tuổi trẻ trong nước phải chịu sự cưỡng bách tư tưởng mà không thể tự do nói lên tiếng nói dân chủ của chính mình. Xót xa thay cho con cháu Lạc Hồng với bề dày lịch sử bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước.

Tuổi thơ của những ai đã từng bị Bộ Giáo Dục và Đào Tạo tiêm cho một mũi độc dược “mang tên Người” thì không thể không nhớ hay ít nhất cũng nghe đến “Năm điều Bác Hồ dạy”. Đây là những lời căn dặn của Hồ Chí Minh viết cho thiếu niên, nhi đồng trong dịp lễ kỷ niệm 20 năm Ngày thành lập Đội Thiếu niên Tiền phong Việt Nam nhưng sau này những câu chữ ấy đã được sửa lại hoàn chỉnh như sau:




1. Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào

2. Học tập tốt, lao động tốt

3. Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt

4. Giữ gìn vệ sinh thật tốt

5. Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm






Tôi nhận thấy rằng những cán bộ cao cấp Trung ương Đảng hiện thời thực hành lời dạy dỗ của cụ Hồ còn tốt hơn gấp triệu lần thanh thiếu niên Việt Nam. Nói về “Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào”, họ không bao giờ để nhân dân nhúng tay vào những việc “dơ bẩn” hay bận tâm đến những chuyện trọng đại mang tính dân tộc như bán đất nhượng rừng, hiến dâng hai hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Cộng. Nói về “Học tập tốt, lao động tốt”, các cán bộ này rất ham học hỏi tính đàn áp tôn giáo, tính hạch sách những nhà dân chủ, tính bóc lột dân nghèo và họ cũng lao động cật lực cho quân ngoại xâm . Nói về “Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt”, những bộ mặt Đảng viên nhơ nhớp ấy luôn sống đùm bọc cùng bọn cướp Trung Quốc với phương châm “16 chữ vàng” là “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và chủ trương “4 tốt” là “Láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”. Họ tuyệt đối tuân theo những qui định giặc Tàu đề ra với một tinh thần “kỷ luật tốt” để giữ gin tình anh em hữu nghị.

Nói về “Giữ gìn vệ sinh thật tốt” thì không ai chú trọng bảo vệ sức khoẻ bằng cựu Tổng bí thư ĐCSVN Lê Khả Phiêu khi ông ta cho trồng nguyên một vườn rau sạch trên sân thượng để tránh ăn thực phẩm độc hại ngoài chợ. Nói về “Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm”, tôi có thể thấy tính khiêm nhường của các cán bộ này mỗi lần vơ vét của dân được “mười tạ” thì chỉ nói là nhặt nhạnh được “một ký”. Hơn nữa, họ còn thật thà tin vào dự án khai thác quặng bô-xít trên Tây Nguyên của đối tác Trung Quốc để nông dân trong vùng phải sống lay lắt vì mất đất trồng hoa màu. Họ dũng cảm chấp nhận làm tên nô dịch cho giặc Tàu mặc dù hiểu rõ rằng tính mạng hàng triệu đồng bào đang bị đe dọa bởi kế hoạch thống trị toàn đất nước Việt Nam của giặc.

Tôi công nhận những vị cán bộ này quả xứng đáng là cháu ngoan Bác Hồ. Các bạn trẻ trong nước và hải ngoại hãy nhìn vào công cuộc đổi mới của Đảng Cộng Sản mà tự mình phán xét chế độ lộng quyền kia có còn của dân, cho dân, và vì dân hay không.

Tôi sợ lắm khi mình không còn tìm thấy tên nước Việt Nam hiện diện trên bản đồ thế giới vào một ngày mù tối. Tôi buồn lắm khi dân tộc Việt Nam trở thành gia nô cho kẻ thù đã từng đô hộ nước nhà một nghìn năm. Tôi hoang mang không biết nguồn cội của mình ở đâu nếu con cháu Lạc Hồng biến mất trong tiềm thức của dư luận thế giới. Tôi sẽ là ai? Các bạn tuổi trẻ Việt Nam sẽ là ai? Có thể các bạn muốn giống người này kẻ nọ hay những nhân vật nổi tiếng trên thế giới, nhưng hãy nhớ rằng chúng ta không bao giờ trở thành họ vì chúng ta là người Việt Nam mang trong mình dòng máu yêu nước.

Tôi tin những người trẻ chúng ta không một thành phần cá nhân nào muốn quê hương rơi vào bóng đêm rồi câm lặng mãi mãi. Vận mệnh của đất nước đang nằm trong tay chúng ta. Hãy tìm hiểu sự thật và lên tiếng cho nhân quyền! Tôi mong lắm những trái tim nhiệt huyết cùng chung một lý tưởng cho Việt Nam thanh bình và ấm no. Đừng để bản thân các bạn lầm đường lạc bước trên muôn vàn đau thương của quê nhà, các bạn ạ!
Còn tôi, tôi đã thức tỉnh.

Posted: Mon Apr 05, 2010 7:41 pm
by tankhoasinh
Tại Sao Có Những Con Quỷ Ác Đả Kích LS Lê thị Công Nhân


Nữ Luật sư Lê thị Công Nhân sinh ngày 20/7/79 tại Gò Công, Nam Việt Nam. Nhưng từ bé đã theo mẹ và cha đỡ đầu ra sống và học ở Hanoi, Bắc Việt. Ra đại học Luật và tập sự ở Hanoi, cô trở thành Luật sư về Công Pháp Quốc Tế và Kinh Tế năm 2003, là thành viên của Luật sư đoàn Hanoi và của Luật sư đoàn quốc tế. Tuy sinh ra sau ngày toàn quốc bị chiếm bởi Cộng sản, Lê thị công Nhân không dự phần sống thực trong xã hội tự do của VNCH thuở xa xưa, nhưng cô có quan niệm rõ rệt về con đường dân chủ tự do của một xã hội tiên tiến. Cô nhận rõ có quá nhiều bất công trong xã hội do bọn CS đầu xỏ cầm quyền, nên cô đã can đảm nêu ra những ý kiến xây dựng xã hội về nhân quyền dân chủ, tự do ngôn luận cho VN. Trong nhiều dịp, LTC Nhân bày tỏ khát vọng đối thoại dân chủ với Đảng và Nhà nước XHCN. Cô luôn bị đe dọa, tra xét, bắt phải đi ‘làm việc’ với phe chính quyền… nhưng tinh thần đấu tranh bất khuất của cô không suy suyển. Cô biết là thế nào mình cũng bị lâm nguy, nên ngày 25/2/2007, trong lời tuyên bố với cộng đồng hải ngoại, cô nói, “Tôi chỉ có ý kiến xây dựng một xã hội công bằng, có nhân quyền dân chủ tự do. Tôi biết tôi bị trù dập. Nếu CSVN hạ quyết tâm thực hiện hành vi tội ác, chà đạp lên nhân quyền của người dân VN và muốn dìm đất nước trong tăm tối về chính trị, nghèo nàn về kinh tế, lạc hậu về văn hoá cho tới đời con cháu của chúng ta và của chính những người CS, thì họ cứ hành xữ theo quyền lực họ có. Nhưng họ đừng mong có sự thỏa hiệp nơi tôi, chứ đừng nói là tôi đầu hàng.”

Thế là nữ Luật sư anh hùng bị bắt, bị kêu án 3 năm tù ở, 3 năm quản chế, từ ngày 6/3/2007.

Lê thị công Nhân được cả thế giới ngưỡng mộ, hết lòng tán dương về quan niệm, ý chí kiên trì và lòng can đảm dấn thân của cô. Hình ảnh cô được in lên tem thư ở Belgique. Cô cũng đưọc giải Nhân Quyền. Tháng 9/2007, trước áp lực của quốc hội Balan yêu cầu trả tự do cho cô, Nguyễn tấn Dũng hứa sẽ đồng ý, nếu Balan nhận cô vào xứ họ. Nhưng chính Lê thị công Nhân đã cương quyết từ chối ra đi.

Khi tôi viết những dòng này thì Lê thị Công Nhân mới ra tù hôm qua, 6/3/2010. Qua hình ảnh cô trong cuộc phỏng vấn truyền hình của đài RFP, thấy cô có vẻ mạnh, nói năng vững vàng, tuy có lúc rất xúc động trong nước mắt. Cô nói, Ở Thanh Hóa khi họ vào thẩm vấn tôi, họ hỏi là tôi đã thấy tôi làm cho đời tôi dở dang và thất bại chưa? Và tôi đã trả lời họ,“Tôi thấy tôi không thành công, chưa thành công. Nhưng VN có 90 triệu người, trong xứ 87 triệu, hải ngoại có 3 triệu. Tôi chỉ là một phần tử nhỏ bé, tôi chỉ làm phần việc của tôi. Nếu cuộc đời tôi có dở dang hay thất bại, tôi cũng đã tự do sống theo lý tưởng của tôi. Và tôi không từ bỏ. Tôi không hoang tưởng hay kiêu ngạo, nhưng tôi chỉ làm phần việc của tôi. Và tôi chỉ là một trong 90 triệu người. Trong 3 năm ngồi tù, tôi đã nghĩ là tôi làm đúng. Được xum họp gia đình là điều hạnh phúc. Còn tiếp tục như thế nào, đến mức độ nào thì giờ phút này tôi chưa có tâm trí nghĩ đến. Tương lai thì tôi không rõ.”

Lời lẽ kiên cường bất khuất của cô là những vết khắc làm nhói tim của mỗi người VN. Mỗi người VN phải nhận phần việc, trách nhiệm của mình đối với Tổ Quốc Việt Nam!

Lời của cô tuy khiêm nhường nhưng mãnh liệt, già dặn về chính trị, tinh thần, tư tưởng cô sáng ngời. Nó còn có giá trị truyền cảm sang giới trẻ, trung niên đang sẵn sàng giương cao ngọn đuốc đấu tranh truy kích bọn cầm quyền CS.

Sau khi ra tù, cô được nhiều giáo dân là nạn nhân Thái Hà đến chúc mừng cô và chia sẻ với cô những vất vả trong những tháng năm qua vắng bóng cô. Cô đi dự Thánh lễ ở nhà thờ Thái Hà, chia xẻ xúc cảm của mình, cô nói: “Tôi là luật sư, trước đây khi giúp đỡ những người dân oan, chúng tôi gọi nhau là chiến sĩ. Tôi đã bị bắt oan, bị án oan và tù oan, thì nay tôi trở thành dân oan Lê thị công Nhân! Tôi xin chia xẻ với toàn thể giáo dân và cộng đoàn về những vất vả đã phải chịu trong thời gian qua!”

Chào mừng em Lê thị công Nhân được ra ở nhà tù lớn, được gần gũi mẹ hiền. Hoan hô tinh thần bất khuất của em. Tiếc thay em ơi. Các bạn trẻ cùng chí hướng với em đã vừa phải vào nhà tù nhỏ thay em! Ô hô, buồn quá cho đời tuổi trẻ Việt Nam! Ta muốn gửi đến em một nụ hồng!

Thế mà mới ra tù có vài tuần, trên net đã có bài đã kích cô, cho là cô đã bị CS cải tạo, cô tuyên bố có lợi cho CS, “mong là chính phủ Mỹ tiếp tục có quan hệ với chính quyền Việt Nam không phải một lần mà nhiều lần để VN được mau thay đổi.” Bằng những lời lẽ nặng nề, họ mắng cô, cho là mẹ cô và cô đã bị CS mua chuộc, cô chống cộng cuội!

Tôi thì nghĩ, bài viết nếu không phải là của bọn CS tung ra, để gây chia rẽ, tạo nghi ngờ, thì người viết là kẻ hai mang, đã quá sớm hàm hồ. Cô nhỏ vừa được ra tù, sống trong lòng địch, dưới sự quản chế của chúng, cô trả lời như thế là cô đã lách tuyệt hay. Như hôm mới ra tù ngày 6/3/2010 cô đã trả lời phỏng vấn của đài RFP rất trí thức, rất khôn, rất khéo. “Tôi thất bại nhưng tôi đã tự do làm những việc tôi muốn làm, 3 năm tù suy nghĩ, tôi nghĩ tôi đã làm đúng. Tương lai thì chưa biết.” Mỹ bây giờ đang o bế Việt Nam, VN bây giờ đang lòn trôn Mỹ, Lê thị công Nhân đâu có kỳ vọng được nước Mỹ sẽ làm gì cho cá nhân cô hay cho những người VN tự do? Cô mong Mỹ tiếp tục có liên hệ với VN nhiều vào để VN sớm thay đổi. Chữ thay đổi là chữ tuyệt vời và hay nhất. Cô không thể nói hơn, ngưng đúng lúc là quá tuyệt. Sao người ta không nghĩ rằng thay đổi thể chế chính trị?? Cô sống trong lòng địch CS, không thể nói tôi tranh đấu lật đổ CS (thì chỉ có nước bị chúng tử hình ngay!) thì hành động đấu tranh cho dân chủ trực diện với bạo quyền để chịu lao tù là hành động can đảm đáng kính phục.

Tác giả để ý thấy những người chửi bới CS có vẻ dữ dằn nhất, là những người chuyên đốt cháy những ai ở VN tranh đấu có tiếng tăm nhất. Với sự suy nghĩ thô thiển, tác giả nghĩ là chế độ CS hiện tại còn đang trong thế mạnh, CS cổ động cho các vị “hai mang” cứ vờ tự do chửi rũa họ, càng hung hãn càng tốt, (không chửi cộng sản thì lòi đuôi thân cộng sao? Mà chửi dữ cở nào, CS cũng chẳng cháy một cái lông chân!) miễn là mạnh tay đốt cháy bất cứ ai là thần tượng, gây được chút tiếng tăm trong công cuộc tranh đấu chống CS, là điều họ cần nhất. Các cơ sở ngoại vi của họ với chiêu bài đấu tranh chống CS, (mới là cuội!) đem mẹ của L/s LTC.Nhân ra ngoại quốc để tố CSVN, cũng nằm trong chiến dịch “đốt cháy” luôn 2 mẹ con cô là “chống cộng cuội,” thật là quá đắc sách! Quý vị tác giả những bài báo đốt cháy ấy, quý vị thực sự là ai? Hãy tự xét xem quý vị đã làm được gì cho quê hương? Quý vị tài ba hơn, muốn nổi danh tắt, sao quý vị không về Việt Nam đấu tranh cuội, để được ở tù cuội mà chỉ ở xa ném đá (cuội!) với luận điệu đầy ác ý vô trách nhiệm vào một anh thư bé bỏng, đáng cháu chắt của quý vị, thật không xứng mặt nam tử chút nào.

Ngày 24/3/2010 qua chương trình phỏng vấn và hội luận giữa ký giả Dương Phục từ Houston Texas với L/S Lê thị Công Nhân đang ở Hànội và dân biểu Cao quang Ánh, Tiến sĩ Nguyễn đình Thắng ở Washington DC, suốt 2 tiếng đồng hồ, LTCNhân đã làm tác giả rưng lệ nhiều lần với những câu trả lời thật đẹp, thật hay, thật vững vàng can đãm, với tiếng cười khúc khích khi nói đến việc cô “bận đi tù.” Cô đã ra khỏi nhà tù nhỏ nhưng cũng không có tự do. Lúc nào cũng có công an theo dõi dòm ngó từng bước. Khi được hỏi cô muốn nhắn nhũ gì đến cộng đồng VN quốc ngoại, cô đáp cô ước CĐVN ở quốc ngoại có được điều cần thiết nhất, đó là lòng dũng cảm mà cô thấy vẫn còn chưa đủ. Đấu tranh dũng cảm và dấn thân, chấp nhận mất mát, hi sinh. Tôi có 1, cùng lắm chỉ mất 1, quý vị có 10 thì mất 10, sự hi sinh lớn lao hơn tôi nhiều. Tôi nghĩ tới anh Lê công Định, anh ấy mất rất nhiều so với những gì tôi mất. Nghĩ tới anh Lê công Định, tôi không khỏi rơi nước mắt!”

Qua lời của Tiến sĩ Thắng thì mỗi lần có viên chức chính quyền Mỹ đến VN, ông đều nhờ đến thăm LTCNhân trong tù. Và bất kỳ người nào thăm cô, vừa ra khỏi nhà tù họ cũng hết lòng ca ngợi tinh thần mạnh mẽ, yêu nước, sự thông minh linh hoạt của cô. Có người còn đã nói với lòng cảm phục “đây mới là những người lãnh đạo tương lai đất nước!” Thật là xúc động.

Ngay cả người thăm cô nói tối đó họ có bữa ăn với thủ tướng Nguyễn tấn Dũng, cô muốn họ chuyển lời gì đến ông ta? – Cô đáp, cô muốn hỏi ông, con gái ông cùng trang lứa với cô, ông có muốn con gái ông ta ở tù như cô không hay có muốn cô ta sống trong một nước dân chủ? –

Cô gái bé nhỏ tuổi đời, cái tuổi đáng lẽ chỉ bận lo ăn diện, yêu đương, lại bận lo đi tù vì ý chí kiên cường bất khuất nghĩ đến tương lai đất nước!

Xin quý vị nhìn lại bản thân quý vị, bản thân đám con cháu của quý vị, và tự xét tận lương tâm, coi những gì mình đã viết, đã xúc phạm cô bé Lê thị công Nhân để so sánh, xem mình có đáng là bậc trưởng thượng, có đáng xấu hổ hay không?

Mai Nguyên

Posted: Thu Apr 08, 2010 2:17 am
by vuphong
Tại sao đảng cộng sản vẫn bảo thủ?

Ngô Nhân Dụng

Cuốn Một Trăm Chuyện Ngụ Ngôn kể chuyện có một anh chăn cừu thật thà chất phác. Một hôm có một người từ thành thị tới làm quen, rồi dần dà kết bạn với anh.

Sau khi được anh tin tưởng rồi, người bạn thành phố mới nói: “Chúng ta đã làm bạn tri kỷ với nhau, không còn gì chia rẽ ta được nữa. Tôi sẽ giới thiệu cho anh một cô gái làng bên để cưới làm vợ! Anh hãy đưa tôi sính lễ tôi sẽ cưới vợ cho anh.” Người nông dân đưa cho tên bạn nhiều con cừu làm sính lễ cưới vợ. Anh thấy mình may mắn, có người sẵn lòng đi lo chuyện cưới vợ giúp mình!

Một thời gian sau, người bạn thành phố quay trở lại báo tin: Anh đã có vợ rồi! Chị ấy may mắn đã mang thai! Anh nông dân mừng rỡ, lại đưa thêm mấy món đồ quý cho người bạn thành phố để giúp anh nuôi vợ. Một thời gian sau nữa, kẻ gian thành phố trở lại, báo tin: Vợ anh đã đẻ con trai rồi! Anh chăn cừu sung sướng quá, lại đưa thêm của cải cho người bạn đem đi giúp nuôi vợ và con anh. Tháng sau, người bạn thành phố mặt mũi buồn rầu quay trở lại báo tin: “Cháu nhỏ nó chết rồi, sinh được mấy ngày đã chết.” Anh chăn cừu nghe tin đau đớn, khóc lóc thảm thiết!

Câu chuyện Mục Dương Nhân trên, chuyện số 30 trong Bách Dụ Kinh, cốt ý răn người đời không nên sống bằng ảo ảnh. Vì trên đời nhiều người cũng sống trong ảo tưởng như anh chăn cừu này. Không thiếu người cứ tưởng mình đang có vợ có con sống ở làng bên, dù chưa bao giờ gặp mặt.

Mỗi lần đọc dự thảo cương lĩnh mới của đảng Cộng Sản, không thể nào không nhớ đến anh chăn cừu trên. Bản thông cáo sau phiên họp trung ương đảng Cộng Sản chuẩn bị cho Ðại Hội Mười Một (năm 2011) vẫn khẳng định: “Ði lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta.” Cũng không khác gì người bạn thành phố bảo anh chăn cừu: Anh đã có vợ rồi, vợ anh ở làng bên đó!

Ðảng Cộng Sản đã đem Chủ Nghĩa Xã Hội giới thiệu như cô vợ đẹp, gán cho anh chăn cừu kia. Người dân trong nước ta và các đảng viên cộng sản đã phải đóng vai anh chăn cừu này, tin là vợ và con này có thật mặc dù chưa bao giờ được thấy mặt. Mọi người đã chịu cho đảng Cộng Sản lừa, trước là tự nguyện nghe theo, sau thì bất đắc dĩ, trong bụng không tin nhưng không dám cãi. Vì đã lọt vào tròng rồi, không thể nào tự cởi trói cho mình được. Cộng Sản nói, “Ði lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta,” thì chúng ta thách thức đảng Cộng Sản hãy tổ chức trưng cầu dân ý, xem có bao nhiêu phần trăm người dân muốn thực hiện chủ nghĩa xã hội?

Nhưng trước khi làm cuộc trưng cầu ý kiến đó, người dân cũng muốn mở một cuộc phỏng vấn tất cả các đồng chí trong Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản, xin hỏi các ông các bà rằng cái gọi là chủ nghĩa xã hội đó nó là cái gì? Muốn làm cái chủ nghĩa xã hội đó thì làm ra sao? Cứ để mỗi ông, mỗi bà trong Bộ Chính Trị ngồi một phòng riêng ngẫm nghĩ, có sách vở đầy đủ để nghiên cứu, rồi viết ra cho bà con coi họ hiểu cái chủ nghĩa xã hội nó như thế nào!

Nó là một ảo tưởng. Ðó là những ước mơ, mỗi người mơ một cách. Chỉ ở các nước sống dân chủ tự do mới có những đảng Xã Hội đưa ra các chương trình quản trị quốc gia mang tính chất xã hội chủ nghĩa, nhưng rất cụ thể và có giới hạn, để cho các cử tri lựa chọn, bỏ phiếu. Nếu thắng cử, họ sẽ đem ra thực hiện các chương trình đó trong thời gian được dân tín nhiệm. Còn ở các nước cộng sản, khẩu hiệu “tiến tới chủ nghĩa xã hội” chỉ có nghĩa là tất cả mọi người phải cúi đầu chịu cho đảng cộng sản cai trị; và các đảng viên thì phải cúi đầu để cho các lãnh tụ quyết định thay cho mình. Riêng đối với đảng Cộng Sản Việt Nam, kể từ khi khối Liên Sxô và Ðông Âu sụp đổ thì khẩu hiệu “Tiến tới chủ nghĩa xã hội” có hai nghĩa. Ðối với bên trong thì nghĩa là bảo vệ quyền lợi cho các đảng viên đang làm kinh tế quốc doanh, trong khi vẫn cho các đảng viên khác đi làm kinh tế thị trường để tự tư bản hóa. Ðối với bên ngoài, sau khi mất chỗ dựa vào “tổ quốc Liên Xô” của ông Lê Duẩn, thì từ thời Nguyễn Văn Linh Cộng Sản Việt Nam phải tiến tới gần, càng ngày càng gần Trung Quốc, gần đến mức bây giờ ngạt thở cũng không cởi bỏ ra được!

Cuộc họp của trung ương để chuẩn bị Ðại hội Ðảng vừa rồi lại nêu lên một khẩu hiệu vô cùng bảo thủ, phản tiến bộ, “chống đổi mới” đến cùng, đó là khẩu hiệu “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo.” Khẩu hiệu này chứng tỏ ban lãnh đạo đảng Cộng Sản vẫn không dám buông khu vực quốc doanh ra. Ðối với họ, đó là nội dung có ý nghĩa nhất của những chữ “tiến tới chủ nghĩa xã hội!”

Tại sao đảng Cộng Sản vẫn bảo thủ như vậy? Vì nếu không bảo vệ kinh tế quốc doanh, họ sợ bị đa số chống đối. Vì trong số những ủy viên trung ương và cán bộ sẽ đi dự đại hội 11 sắp tới phần lớn hiện vẫn thủ lợi được nhờ hệ thống tổng công ty và tập đoàn kinh tế nhà nước, họ không thể rời tay được. Những đơn vị kinh tế nhà nước này không thể nào sống nổi nếu được trao cho cán bộ bằng cách tư nhân hóa; vì sau đó phải cạnh tranh trên thị trường ngang hàng với tư nhân, trong nước gọi là “giao đấu trên sân chơi bằng phẳng.” Khẩu hiệu “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo” cốt để làm yên lòng những thành phần trên, hiện chiếm đa số trong đảng Cộng Sản. Chúng ta đều biết đây là thành phần ăn bám, ăn hại kinh tế quốc dân như thế nào.

Ngoài ra còn thành phần các đảng viên đi làm ăn riêng, góp vốn của mình mà kinh doanh, rồi thành công, thì họ cũng vẫn quen dựa vào uy quyền của đảng để thắng lợi. Ngay cả các tư nhân ngoài đảng, muốn làm ăn cũng phải đi mua chuộc thứ uy quyền này, mua lẻ bằng cách hối lộ, hoặc mua sỉ là gia nhập đảng. Ða số các doanh nhân tư đó cũng muốn bảo vệ chế độ cộng sản. Nếu bỏ mất chỗ dựa là uy quyền của đảng thì họ không thể cạnh tranh ngang hàng với các doanh nhân tư, thuần túy, ngoài đảng, trong đó có những người nước ngoài. Ðối với các người đang kinh doanh riêng, nhờ là đảng viên hay mua được đảng mới trở nên giàu có, chắc chắn họ đều muốn kéo dài tình trạng “sân chơi lệch” này! Ðã “đầu tư” nhiều vốn kiếng để tạo được chỗ dựa lấy uy quyền, tội tình gì mà gì họ phải chấp nhận “giao đấu trên sân chơi bằng phẳng” với người ngoài, để phí mất số tiền đã đầu tư? Ngay ở một nước dân chủ tự do, tôn trọng luật pháp cũng vậy. Nếu có những doanh nhân ở Mỹ đang được lợi nhờ một đạo luật ưu đãi mình (thí dụ, dành một số vụ thầu cho người gốc thiểu số) thì các doanh nhân đó cũng chỉ muốn bảo vệ đạo luật đó mãi mãi, dù nó không còn lý do tồn tại nữa. Tình trạng này không khác gì người gốc Mã Lai đang được hưởng những đặc quyền kinh tế, ưu đãi hơn các người gốc Hoa và gốc Ấn, chính phủ Mã Lai Á không thể nào xóa bỏ những đạo luật đặc quyền đó, mặc dù chúng làm cho kinh tế toàn dân phát triển chậm hơn. Ðảng Cộng Sản Việt Nam đang dựa vào những thành phần bảo thủ đó để tồn tại.

Ðó là những lý do khiến đảng Cộng Sản sẽ tiếp tục giữ lập trường bảo thủ, “đến chết cũng không chừa.” Gần đây, ông Ngụy Kinh Sinh, một nhà tranh đấu dân chủ Trung Hoa đến thăm nhật báo Người Việt. Trong cuộc nói chuyện ở tòa báo, ông Ngụy nhắc lại mấy lần rằng: Không thể nào trông đợi có chuyện đảng Cộng Sản Trung Quốc tự từ bỏ độc quyền chính trị mà họ đang nắm trong tay. Thời Ngụy Kinh Sinh còn trẻ, ông nghĩ việc đó có thể xẩy ra, cứ tranh đấu giúp đảng Cộng Sản tự cải tiến và cải cách, họ có thể sẽ biến thành một đảng chính trị bình thường, chấp nhận tranh đua bình đẳng với các đảng chính trị khác.

Nhưng sau 30 năm tranh đấu, ở trong nước rồi ở nước ngoài, bây giờ Ngụy Kinh Sinh cho đó là một ảo tưởng. Chúng ta cũng có thể tin Cộng Sản Việt Nam cũng giống như vậy. Ðám lãnh tụ nắm quyền dựa vào đám đảng viên đang giàu nhất và quyền hành mạnh nhất. Tất cả đám người đó sống bám vào cơ chế hiện tại, hoặc kiếm ăn dễ dàng nhờ cơ chế hiện tại. Họ không dại gì mà tự phá bỏ các đặc quyền, đặc lợi đang hưởng. Ông Ngụy Kinh Sinh tin rằng chế độ cộng sản ở nước ông sẽ chỉ sụp đổ khi nào người dân Trung Hoa, với sự thúc đẩy của giới trí thức và thanh niên, đứng lên đòi cộng sản phải thay đổi triệt để hơn. Một cuộc cách mạng như vậy không nhất thiết gây đổ máu. Nhưng không ai còn hy vọng chế độ cộng sản sẽ tự cải tiến để chấp nhận các luật giao đấu tự do dân chủ, trong chính trị cũng như trong kinh tế.

Người dân Trung Quốc và Việt Nam đều đã được các lãnh tụ cộng sản “cưới vợ giúp” từ hơn 70 năm nay, không khác gì anh chăn cừu trong Bách Dụ Kinh. Cô vợ hiện không biết mặt mũi ra sao đó, gọi là Chủ nghĩa Xã hội! Trung ương Ðảng Cộng Sản Việt Nam mới họp, dự thảo cương lĩnh cho Ðại hội XI của đảng vào sang năm, cho biết “Khát vọng của nhân dân ta vẫn là Tiến lên chủ nghĩa xã hội.” Như vậy Ðảng muốn chú chăn cừu vẫn phải tiếp tục tỏ ra mừng rỡ, vì được báo tin vợ con chú vẫn chưa chết!

Nhưng thử nhìn vào thực tế thì thấy, còn đảng Cộng Sản là còn bảo vệ kinh tế quốc doanh, là còn bóc lột toàn dân để nuôi mãi một đám người ăn bám. Chủ trương bảo thủ của đảng Cộng Sản chỉ có nghĩa là chủ trương tiếp tục bóc lột dân để nuôi dưỡng đảng.

Khoảng gần 100 tập đoàn công ty doanh nghiệp nhà nước này mỗi năm sử dụng hơn 50% tổng số vốn đầu tư, vì được các ngân hàng thương mại của nhà nước ưu đãi; nhưng họ chỉ sản xuất ra khoảng 30% Tổng Sản Lượng Nội Ðịa. Cứ kéo dài các đơn vị quốc doanh này tức là bắt cả nước đóng góp tiền nuôi các đảng viên cộng sản, không biết đến bao giờ mới hết nợ!

Khi nào ý thức được điều này, chú chăn cừu sẽ thức tỉnh và đặt câu hỏi: Bà vợ xã hội chủ nghĩa đâu? Mặt mũi nó thế nào? Khi đó, chú chăn cừu sẽ đứng dậy. Triệu con người không thể sống bằng ảo tưởng mãi mãi!

Posted: Fri Apr 09, 2010 5:52 am
by dailien
Image


Cho Thuê Dài Hạn Chứ Có Bán Đâu Mà Sợ Mất Nước !

Trần Việt Trình
Hiện tình đất nước

Thời gian gần đây, một trong những sự kiện thu hút sự quan tâm của dư luận trong nước là việc một số địa phương cho nước ngoài thuê đất dài hạn. Dư luận đặc biệt quan tâm đến việc 10 tỉnh cho các công ty của Trung Quốc, Đài Loan và Hồng Kông thuê hơn ba trăm ngàn hecta rừng đầu nguồn để trồng rừng. Đó là các tỉnh Lạng Sơn, Quảng Ninh, Cao Bằng, Nghệ An, Hà Tĩnh, Bình Định, Kon Tum, Khánh Hòa, Quảng Nam và Bình Dương.

Từ đầu tháng 2, dư luận bắt đầu xôn xao khi 2 ông tướng VC gióng lên tiếng chuông báo động. Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên và Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh viết thư kiến nghị lên Trung ương Đảng cảnh báo mạnh mẽ việc một số tỉnh cho doanh nghiệp nước ngoài thuê dài hạn một diện tích lớn đất rừng đầu nguồn để trồng rừng nguyên liệu. Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên nguyên là Ủy viên Bộ Chính trị và cũng nguyên là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng có thư gửi Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng, Thường vụ Quốc hội cùng Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Tiếp nối tướng Đồng Sỹ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh, ngày 27 tháng 02 Thiếu tướng Nguyễn Hữu Anh viết thư phản đối gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Ông cho biết “… trên địa bàn 10 tỉnh, miền Bắc có, miền Trung – Tây Nguyên có, miền Nam có, có cả những địa bàn hiểm yếu về quốc phòng, an ninh, kinh tế, 10 tỉnh đã cho trên 10 doanh nghiệp nước ngoài chủ yếu là Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông thuê dài hạn (50 năm) đất rừng có cả rừng đầu nguồn để họ kinh doanh rừng, với diện tích trên 305.000 hecta = 3050 cây số vuông tương đương diện tích đất một tỉnh như Hà Nam”.

Theo một nguồn tin từ trong nước thì trong số các dự án mà doanh nghiệp nước ngoài đã ký với 10 tỉnh, Công ty Innov Green chiếm đa số. Báo cáo của công ty này cho biết các tỉnh đã cấp giấy chứng nhận đầu tư cho công ty như sau: Quảng Ninh 100.000ha, Nghệ An 70.000ha, Kon Tum 65.000ha, Lạng Sơn 36.000ha, Quảng Nam 30.000ha và Thanh Hóa 21.000ha. Tổng cộng là 349.000ha.

Một việc làm động trời như vậy mà các ông Chánh văn phòng UBND và Giám đốc sở kế hoạch đầu tư Lạng Sơn dám cao giọng cho là “Không có gì đáng lo ngại! Đã thẩm định kỹ càng! Đã cân nhắc lợi hại! Không vi phạm gì chủ trương chính sách chung”. Một vị lãnh đạo cao nhất của một thành phố trực thuộc Trung ương khi bị dân thắc mắc về việc thành phố cho nước ngoài thuê 50 năm quá nhiều đất ven biển, ông ta không ngại ngùng chống chế “Chúng ta chẳng phải làm gì cả mà lại có tiền thu được từ việc cho thuê đất và từ các dịch vụ kinh doanh của họ thì sướng quá chứ còn kêu ca, thắc mắc cái gì?”. Ông ta còn dám ngang nhiên tuyên bố “Thành phố chỉ cho thuê có 50 năm chứ có bán đâu mà sợ mất Nước!”. Trời đất! Nói vậy mà nói được!? Bán rừng bán đất cho người nước ngoài một cách trắng trợn như vậy, lại còn ngang nhiên như không có chuyện gì đáng quan tâm. Huống hồ các vị ấy lại là những người thay mặt dân, đại diện cho dân và đang ngồi trên đầu dân.

Cho thuê dài hạn là không thể được! 50 năm là quá lâu! Cho thuê dài hạn ai mà kiểm soát được! Họ không kiểm soát nổi mà có khi cũng chẳng buồn kiểm soát! Việc cho nước ngoài thuê đất rừng, nhất là rừng đầu nguồn, tiềm ẩn nhiều nguy cơ và hiểm họa. Vậy nay mình cho nước ngoài vào thuê đất trồng rừng, liệu ta trông mong gì được ở họ? Nhà đầu tư nước ngoài họ chỉ quan tâm lợi nhuận mang về nước họ. Đất đâu phải đất của họ, rừng cũng đâu phải rừng của họ nên người nước ngoài có thể chặt phá, khai thác bừa bãi dẫn đến hậu quả nghiêm trọng. Nước VN chiều dài rất dài và chiều ngang rất hẹp. Núi và biển rất gần nhau. Độ dốc lớn. Cho nên khi có thiên tai lũ lụt thì hậu quả thật nguy hại.

Việc cho nước ngoài thuê đất, thuê rừng, thuê đất ven biển mang lại lợi nhuận khổng lồ (cho các tỉnh, thành phố và cho túi tiền riêng của các “quan”) cho nên các địa phương đã coi nhẹ vấn đề an ninh quốc gia.

Ý đồ nào khác?

Có thật là trồng rừng hay còn có ý đồ gì khác nữa? Đất rừng của VN được xem là rất giàu các loại quặng thiên nhiên mà nước ngoài luôn thèm muốn. Theo các tài liệu địa chất từ xưa, theo những nhà địa chất uy tín của người Pháp làm việc ở Đông Dương lúc trước cho tới các nhà địa chất VN sau này, tất cả đều khẳng định những tỉnh biên giới của Kom Tum, Việt Bắc và Tây Bắc của Sơn La Điện Biên là những vùng có rất nhiều loại khoáng sản thuộc kim loại màu cũng như vàng bạc. Thậm chí có cả phóng xạ nữa.

Theo ông Vũ Ngọc Tiến, một nhà địa chất của CSVN thì “Huyện Trảng Định và huyện Văn Lạng ở Lạng Sơn là hai huyện có rất nhiều những giải quặng bauxite, thế mà cho thuê rừng đầu nguồn thuộc 14 xã của huyện Tràng Đình, chắc chắn có cả bauxite trong đó. Đi sâu vào những vùng khác như Lào Cai thì có mỏ Nậm Sa, Hà Giang thì có mỏ sắt Đồng Bá đặc biệt Sơn La thì có nhiều mỏ phóng xạ và cả Uranium nữa”.

Cũng theo ông Vũ Ngọc Tiến, ở các vùng rừng núi già như Việt Bắc hay Tây Bắc thì cách tạo quặng có nhiều loại mỏ thuộc dạng biến chất trên mặt đất rất cạn cho nên họ chỉ cần dùng máy ủi đất với danh nghĩa là trồng rừng thì họ có thể đào bới lên được.

Từ trước tới nay những khu vực có mỏ kim loại quý được xem là tuyệt mật và nhà nước chưa cho phép bất cứ cơ quan nào được phép khai thác hay bán cho nước ngoài nhưng từ ngày đổi mới trung ương thả lỏng cho địa phương nên địa phương tự tung tự tác, thuê các chuyên gia địa chất vẽ lại bản đồ rồi họ dấm dúi ăn chia với nhau. Họ tổ chức khai thác rồi cho nước ngoài thuê thì đố ai mà biết được!?

Đối với VN, một nước vốn chật hẹp và người đông, việc cho thuê hơn 300 ngàn hecta đất rừng trong 50 năm là một sự điên rồ, không thể chấp nhận được. VN vốn đã có mật độ dân số rất cao, cao hơn nhiều so với cả Trung Quốc (TQ). Theo thống kê trong nước thì với mức sinh đẻ như hiện nay, cứ mỗi một năm VN sinh sôi nảy nở thêm gần 2 triệu dân, tương đương với dân số của cả tỉnh Thái Bình. Điều đó nói lên VN thiếu đất trầm trọng.

Vốn đang bị đe dọa nghiêm trọng từ việc TQ ngăn sông xây đập ở thượng nguồn nhằm khống chế các nước ở vùng hạ lưu mà trong đó VN bị ảnh hưởng nhiều nhất, nay lại cho thuê và dâng đất thuộc vị trí chiến lược và lâu dài như vậy thì thật là điên rồ và là một hành động tự sát.

Đó là chưa kể đến những yếu tố khác như tàn phá môi trường, lợi dụng quyền sử dụng để khai thác ăn cắp tài nguyên nằm sâu dưới lòng đất, đồng hoá chủng tộc (sau 50 năm sẽ có ít nhất 3 thế hệ bám rễ sinh sống ở VN), ... Trong bối cảnh hiện nay, công nhân TQ gây rối, uy hiếp an ninh xã hội khắp nơi, đặc biệt là những hành động ngang ngược của hải quân TQ như bắn giết, đánh đập cầm tù ngư dân VN ngay trên biển thuộc chủ quyền của ta thì chuyện cắt xén đất cho thuê là việc làm vô trách nhiệm đối với tương lai của dân tộc, là mối đe dọa đến độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của VN.

Quả thật, lãnh thổ và từng thước đất biên giới mà chúng ta đã đổ bao nhiêu xương máu để gìn giữ thực sự không hề được các “ông” xem là cần phải gìn giữ!

Mối đe dọa về an ninh quốc phòng

Việc các “quan” ngang nhiên cho TQ thuê những khu vực nhạy cảm, những khu vực rừng núi có vị trí chiến lược, dọc các tỉnh biên giới phía Bắc cũng như cửa ngõ từ Nghệ An sang Lào thật đáng lo ngại! Rừng thuộc các tỉnh biên giới phía Bắc và rừng Thanh Hóa, Nghệ An là những khu rừng hiểm yếu nhất mà kẻ thù từ lâu vẫn hăm he ngắm nghé. Điều ngạc nhiên và đáng quan tâm là doanh nghiệp nước ngoài họ lại chọn thuê ở nhiều địa điểm trọng yếu về an ninh quốc phòng. Cụ thể, họ thuê đất ở Lạng Sơn, Quảng Ninh, Cao Bằng là các tỉnh biên giới. Ở Nghệ An, họ thuê ở các địa điểm gần với đường 7 và 8 sang Lào. Ở Quảng Nam, họ thuê những nơi có đường thuận tiện lên Tây Nguyên và qua Campuchia. Như vậy là nắm những con đường trọng yếu của VN.

Đó là hiện tình về đất, còn nước thì sao? Trong cuộc tranh chấp biển Đông hiện nay, có ai biết được phần lãnh hải nào của VN đang được lặng lẽ cho thuê không? Chúng ta chưa có chứng cớ nhà nước CSVN cho thuê đảo và lãnh hải nhưng chúng ta ai cũng biết rằng nhiều bờ biển đẹp và thơ mộng đang được cho thuê dài hạn. Hiện nay, vô số đất ven biển Đà Nẵng cũng đã cho nước ngoài (có cả TQ và Đài loan) thuê 50 năm.

Rừng đã bị bán rồi, đất ven biển cũng bị bán luôn thì cả nước rõ ràng như có hai gọng kìm xiết chặt. Nếu rồi đây giặc trên rừng nổi dậy đánh xuống, giặc ven biển nổi dậy đánh lên và những hạm đội ngoài biển đánh vào thì dân ta còn đường nào mà rút chạy? CSVN dù có huênh hoang với tài du kích chiến của mình tới đó cũng không còn đâu căn cứ địa để mà thi thố!

Do vậy, nói gì thì nói, các quan chức CSVN có ngây ngô, có tầm nhìn hạn hẹp hay tham lam ngu xuẩn thì mối nguy cho độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, uy hiếp đến an ninh của VN là có thật và càng ngày càng hiện ra rõ rệt. Chỉ có những kẻ không bao giờ đọc một trang sử, những kẻ mưu lợi cho riêng mình, đặt quyền lợi cá nhân và gia đình trên tổ quốc, dân tộc và đất nước mới làm công việc ngu xuẩn và đưa dân tộc tới chỗ chết này.

Phản ứng của nhà cầm quyền

Trước những phản đối liên tục của người dân trong nước, nhà cầm quyền CSVN buộc lòng phải tuyên bố tạm dừng việc cho nước ngoài thuê rừng, không cấp giấy chứng nhận mới, không ký hợp đồng cho thuê đối với các dự án đầu tư nước ngoài trong lãnh vực lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản.

Ngày 9 tháng 3, Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải, ban hành công văn 405/TTg-KTN, truyền đạt ý kiến của Thủ tướng Chính phủ, chỉ thị cho các bộ các ngành liên hệ lập đoàn công tác để kiểm tra, đánh giá việc cấp giấy chứng nhận đầu tư và thực hiện các dự án đầu tư nước ngoài trong các lĩnh vực lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản. Quốc hội cũng đã đề cử Ủy ban Quốc phòng An ninh đi giám sát các tỉnh biên giới bị lấy cho TQ thuê rừng và chỉ định ông Lê Quang Bình làm Chủ nhiệm cầm đầu Ủy ban.

Có tin được không?

Tuy nhiên dư luận trong và ngoài nước vẫn không khỏi nghi ngờ vì Hà Nội cũng từng bị phản đối về vụ cho các công ty Trung cộng khai thác bauxite ở Tây nguyên nhưng vẫn tiếp tục tiến hành vì sợ làm mất lòng quan thày ở Bắc Kinh. Nhiều người cho rằng đây chỉ là hành động câu giờ của các lãnh tụ Hà Nội để tìm cách hoãn binh và cũng để xoa dịu sự bất mãn của người dân trong nước. Luận điệu và miệng lưỡi của Cộng Sản thì ai cũng thừa biết rồi, lịch sử mấy mươi năm nay đã chứng minh rõ ràng điều này. Chỉ còn chờ nhìn vào việc họ làm. Hãy chờ xem ...


Trần Việt Trình

Posted: Sat Apr 10, 2010 3:50 am
by vuphong
Tiếp tục thần phục Trung Cộng

Ngô Nhân Dụng

Trung Ương Ðảng Cộng Sản Việt Nam mới họp xong bữa đầu tháng, vẫn tiếp tục “nhai lại” khẩu hiệu “Tiến tới chủ nghĩa xã hội” để chuẩn bị cho Ðại Hội thứ 11 sắp tới. Như đã trình bày trong mục này, khẩu hiệu đó có nghĩa là Ðảng Cộng Sản vẫn tiệp tục bảo vệ kinh tế quốc doanh để giữ quyền lợi của các đảng viên thiếu khả năng cạnh tranh trên thị trường. Nhưng trên mặt ngoại giao, thì khẩu hiệu này có nghĩa là Cộng Sản Việt Nam phải tiếp tục lệ thuộc vào Cộng Sản Trung Quốc, không thể thoát.

Sau khi “tổ quốc Liên Xô” của ông Lê Duẩn tan rã năm 1989, thì từ thời Nguyễn Văn Linh cho đến thời Lê Khả Phiêu, các tổng bí thư vẫn coi việc quy phục Trung Quốc là cách duy nhất để cứu vãn cơ đồ thống trị của đảng trên nước Việt Nam.

Nhưng lấy lý do nào để biện minh cho việc quay về thần phục Trung Quốc, sau khi đã bị quân đội Trung Cộng tấn công ở biên giới năm 1979 và ở Trường Sa năm 1988? Các ông tổng bí thư này phải nêu lý do cao siêu hơn quyền lợi. Họ giải thích hai nước “đồng chí anh em” là những thành trì cuối cùng bảo vệ thứ gọi là “chủ nghĩa xã hội!”

Từ đó, Việt Cộng bắt đầu theo con đường lệ thuộc Trung Cộng. Cho nên, trong ngôn ngữ ngoại giao của Cộng Sản Việt Nam, khi nào còn đề cao chủ nghĩa xã hội là còn chủ trương mối bang giao với Trung Cộng là trọng tâm chiến lược.

Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh là người có kinh nghiệm cá nhân đau đớn khiến chính bản thân ông coi việc quy phục Trung Cộng là điều không thể tránh được. Tháng 10 năm 1989, Nguyễn Văn Linh tới Berlin dự quốc khánh Ðông Ðức, được chứng kiến cảnh diễu võ dương oai của “Cộng Hòa Dân Chủ Ðức” với các cuộc mít tinh hàng trăm ngàn người hô các khẩu hiệu chủ nghĩa cộng sản muôn năm đầy “hồ hởi phấn khởi.” Trong cuộc tiếp tân, Nguyễn Văn Linh được lãnh tụ cộng sản Ðông Ðức Honecker báo tin là chế độ Cộng Sản Ðức sẽ tồn tại vĩnh viễn mặc dù làn sóng người Ðông Ðức đang chạy ào ào qua Hung, Tiệp rồi qua Tây Ðức. Khi Nguyễn Văn Linh về tới Hà Nội thì bức tường Berlin bị sập, Honecker bị chính các đàn em lật đổ. Theo cuốn hồi ký “Hồi Ức và Suy Nghĩ” của Trần Quang Cơ, viết năm 2001, thì trong cuộc đại lễ ở Berlin, Linh cũng gặp lãnh tụ Rumani là Chủ Tịch Ceaucescu. Lãnh tụ tối cao cha già dân tộc Rumani và “anh Linh xem ra tâm đầu ý hợp trong việc bàn chuyện tâm huyết cứu vãn sự nghiệp xã hội chủ nghĩa thế giới đang lâm nguy.”

Nhưng ngay sau đó, Linh nghe tin cả hai vợ chồng Ceaucescu bị các đàn em đảo chính và đem bắn. Những kinh nghiệm đó khiến Linh phải lo lắng cho số phận của chính mình và các lãnh tụ cộng sản Việt Nam khác. Phải tìm cách tự cứu!

“Trước tình hình ấy,” Trần Quang Cơ viết, trong nội bộ Ðảng Cộng Sản Việt Nam “nổi lên một ý kiến... phải bằng mọi giá bắt tay ngay với Trung Quốc để bảo vệ chủ nghĩa xã hội.” (trang 22, bản thảo sách trên). Xin nhấn mạnh những chữ “bằng mọi giá” và “ngay” lập tức. Cựu Thứ Trưởng Ngoại Giao Trần Quang Cơ mô tả luận điểm của Nguyễn Văn Linh dùng để thuyết phục Bộ Chính Trị nên chịu thua Trung Cộng là: “Dù bành trướng thế nào, Trung Quốc vẫn là một nước xã hội chủ nghĩa.” (trang 10). Linh đã nhấn mạnh lý luận trên khi Bộ Chính Trị thảo luận về kết quả cuộc gặp gỡ các lãnh tụ Trung Cộng ở Thành Ðô năm 1990, trong đó, Linh đã chấp nhận ngay phương cách giải quyết cuộc chiến ở Căm Pu Chia do Trung Cộng đề nghị, mặc dù Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Cơ Thạch đã chống nên không được mời sang Tầu (trang 37).

Trước đó, khi Liên Xô bắt đầu giảm bớt viện trợ kinh tế, mà các chính sách xã hội chủ nghĩa của Cộng Sản Việt Nam đã đưa quốc dân đến kiệt quệ, năm 1988 đảng đã đành nhẫn nhục, tự sửa cả điều lệ đảng lẫn Hiến Pháp, chịu xóa bỏ những câu ngu dốt viết trong thời Lê Duẩn, gọi tên “Trung Quốc là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm nhất.” Ngày 5 tháng 6 năm 1990, để xin hòa trước khi sang Thành Ðô, Nguyễn Văn Linh đã mời Ðại Sứ Trung Cộng Trương Ðức Duy tới, tự thú nhận là Ðảng Cộng Sản Việt Nam đã sai lầm, đồng thời khoe công nay đã thay đổi: “Trong 10 năm qua có nhiều cái sai. Có cái đã sửa như việc sửa đổi lời nói đầu Hiến Pháp, có cái sai đang sửa.” Linh ngỏ ý muốn sang Tầu gặp các nhà lãnh đạo Trung Quốc để “bảo vệ chủ nghĩa xã hội;” vì “đế quốc đang âm mưu thủ tiêu chủ nghĩa xã hội.” Lời nói của Nguyễn Văn Linh được Trần Quang Cơ thuật lại nguyên văn như sau, “Chúng tôi muốn cùng những người cộng sản chân chính bàn vấn đề bảo vệ chủ nghĩa xã hội... Tôi sẵn sàng sang Trung Quốc... Các đồng chí cứ kêu một tiếng là tôi đi ngay... Trung Quốc cần giương cao ngọn cờ chủ nghĩa xã hội, kiên trì chủ nghĩa Mác-Lênin...” (trang 26). Lúc đó Nguyễn Văn Linh đóng vai người lãnh đạo cao nhất nước mà nhún mình nói, “các đồng chí cứ kêu một tiếng là tôi đi ngay!” Không có cách nào “khiêm tốn” hơn!

Ba ngày trước khi Linh, Ðỗ Mười, Phạm Văn Ðồng lên đường sang Thành Ðô, Bộ Chính Trị họp ngày 30 tháng 8 năm 1990. Trần Quang Cơ kể, “Anh Linh nêu ý kiến là sẽ bàn hợp tác với Trung Quốc để bảo vệ chủ nghĩa xã hội chống đế quốc...” Linh được Lê Ðức Anh ủng hộ, mặc dầu có những người không tin việc hợp tác với Trung Cộng có thể thực hiện được, như Nguyễn Cơ Thạch, Võ Chí Công. Sau cuộc họp Thành Ðô, khi các lãnh tụ cộng sản Việt Nam bay sang Cam Pu Chia giải thích phương cách giải quyết này với Hunsen, Lê Ðức Anh nói thêm cho rõ, “Mỹ muốn cơ hội này xóa bỏ cộng sản. Nó đang xóa ở Ðông Âu... Ta phải tìm đồng minh. Ðồng minh này là Trung Quốc.” (trang 36).

Qua những lời tường thuật trung thực của Trần Quang Cơ, một người tỏ ra rất trung thành với đảng và kính trọng Nguyễn Văn Linh, chúng ta thấy động cơ khiến Linh và tập đoàn lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam đã lựa chọn con đường hợp tác với Trung Cộng chỉ vì họ thấy hoàn toàn cô đơn, không còn biết nương tựa vào đâu để “bảo vệ chủ nghĩa xã hội.” Trong thực tế là bảo vệ quyền hành của họ. Nguyễn Cơ Thạch, Trần Quang Cơ sau này đều bị loại dần dần ra khỏi Bộ Chính Trị và Trung Ương Ðảng Cộng Sản vì không “nhất trí!”

Nguyễn Văn Linh đã khởi xướng chủ trương quy phục Trung Cộng, có thể chỉ vì biết mình đã được lọt vào mắt xanh giới lãnh đạo cộng sản bên Tầu. Tháng 10 năm 1989, tổng bí thư Ðảng Cộng Sản Lào là Kayson Phomvihan đã qua Bắc Kinh, được Ðặng Tiểu Bình tiếp đãi trong 70 phút, trong đó 60 phút là nói chuyện về Việt Nam. Qua Kayson, Ðặng Tiểu Bình đã “bắn tin” cho các lãnh tụ Hà Nội. Trần Quang Cơ viết, “Trong khi không tiếc lời phê phán Lê Duẩn, Ðặng đã hết lời ca ngợi Nguyễn Văn Linh. Ðặng kể lại khi làm tổng bí thư Ðảng Cộng Sản Trung Quốc, năm 1963 (Ðặng) đã tổ chức đưa Nguyễn Văn Linh từ miền Nam (Việt Nam) sang Hồng Kông để đi Bắc Kinh gặp nhau, (Ðặng) khen Anh Linh là 'người tốt, sáng suốt, có tài'; nhờ Kayson chuyển lời thăm anh Linh...” (trang 22).

Không thể nói Nguyễn Văn Linh đã ngả theo Trung Cộng vì bị “ăn bánh phỉnh” của Ðặng Tiểu Bình. Bởi vì chính sách quy phục Trung Cộng không do một cá nhân quyết định là vì đa số các lãnh tụ Cộng Sản Việt Nam thời đó đồng ý. Vì họ không có chỗ tựa nào khác. Muốn dựa vào Trung Cộng, họ phải nêu một lý do cao cả hơn quyền lợi của nhóm thiểu số cầm quyền này, lý do cao cả đó là “bảo vệ chủ nghĩa xã hội.” Mặc dù không ai biết chủ nghĩa nó thực hiện thế nào, ngoài chế độ công an và hệ thống doanh nghiệp nhà nước!

Ðiều tội nghiệp cho Việt Cộng là Trung Cộng hoàn toàn thờ ơ với ý kiến hoàn toàn lý thuyết cao siêu đó. Họ chỉ nghĩ tới quyền lợi quốc gia của họ, và sẵn sàng đánh sau lưng Ðảng Cộng Sản Việt Nam. Trung Cộng đã “mở bài” làm “lộ tẩy” những bí mật trong cuộc đàm phán về Cam Pu Chia giữa hai nước. Trần Quang Cơ kể, “Hiểm độc nhất là Trung Quốc đã thông báo khá rộng rãi với các nước những điều Nguyễn Văn Linh và Lê Ðức Anh nói riêng với Trương Ðức Duy.” (đại sứ Trung Cộng ở Hà Nội). “Sáng ngày 26 tháng 6, 1990 đại sứ Cộng Hòa Liên Bang Ðức gặp Bộ Ngoại Giao ta, cho biết là ngày ngày 22 tháng 6 Trung Quốc đã thông báo cho đại sứ các nước Liên Hiệp Âu Châu ở Bắc Kinh nội dung cuộc họp giữa Từ Ðôn Tín và tôi (Trần Quang Cơ) và đưa ra kết luận: 'Việt Nam là những người rất xảo trá, rất xấu xa...’” Một tháng sau cuộc họp ở Thành Ðô, Ngoại Trưởng Mỹ James Baker nói với các nhà báo rằng Trung Quốc tố cáo các lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam nói rồi không giữ lời. Baker được Trung Cộng mớm cho, tuyên bố thẳng, “Không thể tin được ngay cả lãnh đạo cao cấp nhất của Việt Nam.” Trần Quang Cơ thuật lại, “Baker còn nói rằng Trung Quốc đã bác bỏ đề nghị... 'Việt Nam và Trung Quốc đoàn kết bảo vệ chủ nghĩa xã hội...'” mà giới lãnh đạo cao cấp của Việt Nam đưa ra. Bắc Kinh nói một cách công khai, lại khuyến khích ngoại trưởng Mỹ nhắc lại, để làm mất mặt nhóm lãnh tụ ở Hà Nội. Nhưng nhóm lãnh tụ này vẫn cắn răng chịu đựng!

Trước những thủ đoạn xảo trá của Bắc Kinh như vậy, thật không thể hiểu được tại sao các Ðảng Cộng Sản Việt Nam vẫn bám lấy con đường hợp tác với Bắc Kinh để bảo vệ chủ nghĩa xã hội! Ðến thời Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu, ông ta còn đi sang Tầu năn nỉ tái lập một tổ chức quốc tế cộng sản, với Việt Nam, Cuba, Bắc Hàn, mà Trung Cộng đứng lãnh đạo!

Có phải các lãnh tụ cộng sản bây giờ vẫn muốn trung thành với di sản chủ nghĩa xã hội do Hồ Chí Minh để lại, hay không?

Ðiều này khó tin. Vì tất cả các lãnh tụ trung ương đều đang lo vơ vét của cải cho vợ, con, gia đình. Họ chỉ lo bảo vệ những của cải đó chứ không thiết tha đến chủ nghĩa nào cả.

Vậy tai sao cuộc họp Trung Ương Ðảng Cộng Sản vừa qua vẫn nhấn mạnh đến khẩu hiệu “Tiến tới chủ nghĩa xã hội” trên “giai đoạn quá độ” dài dằng dặc không biết bao giờ tới bờ bên kia?

Vì khẩu hiệu đó cũng là một tín hiệu về ngoại giao. Hô khẩu hiệu đó là cho biết đảng vẫn tiếp tục chính sách của Nguyễn Văn Linh, Lê Khả Phiêu: Vẫn tuyệt đối trung thành với các đồng chí Trung Quốc. Kể từ thời Nguyễn Văn Linh, bất cứ ai lên cầm quyền ở Hà Nội, đều phải được Bắc Kinh phê chuẩn. Trung Cộng không cho Nguyễn Cơ Thạch đi trong phái đoàn sang Thành Ðô năm 1990. Thế là sau đó Thạch bị rút ra khỏi Bộ Chính Trị và Trung Ương Ðảng, suốt đời không còn ngóc lên được nữa. Trung Cộng mời Phó Thủ Tướng Vũ Khoan sang Bắc Kinh năm 2005, nhưng Khoan tới nơi bèn bị bỏ rơi giữa chợ, không cho gặp một nhân vật quan trọng nào cả. Thế là mọi người đều hiểu: Vũ Khoan không thể lên chức thủ tướng được, mặc dù đã có công vận động để ký thỏa ước thương mại song phương với Mỹ cho Việt Nam vào Tổ Chức Thương Mại Thế Giới. Vì thế Nguyễn Tấn Dũng, một phó thủ tướng khác, đã lên ngồi ghế thủ tướng cho tới bây giờ.

Chỉ khi nào Ðảng Cộng Sản Việt Nam chính thức từ bỏ chủ nghĩa Mác Lê, đổi tên đảng, bỏ những chữ “xã hội chủ nghĩa” trong tên nước; khi nào dân Việt Nam được sống làm người Việt bình thường không theo chủ nghĩa nào cả, không bám lấy cường quốc nào để nhận làm anh em cả, thì lúc đó Việt Nam mới thực sự độc lập!

Posted: Fri Apr 16, 2010 4:33 pm
by thienthanh
Toả Sáng Niềm Tin

Lm Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh, OFM

Vào lúc các tín hữu Chúa Ki-tô trên khắp cùng thế giới bước vào Tuần Thánh, tưởng niệm Chúa Ki-tô chịu thương khó, chịu chết rồi phục sinh, thì ngay trên đất nước Việt Nam chúng ta, hai Ki-tô hữu đang lôi kéo sự chú ý của các cơ quan truyền thông trên thế giới, cho dù ở trong nước, toàn bộ báo đài đều giả điếc làm ngơ, hai khuôn mặt đang ngời sáng đó là một tín hữu Tin Lành, luật sư Lê Thị Công Nhân, và một linh mục Công Giáo, cha Ta-đê-ô Nguyễn Văn Lý. Luật sư Lê Thị Công Nhân bước vào nhà tù khi mới 28 tuổi, vào lúc bạn bè đồng trang lứa của cô nghĩ đến tương lai, đến tình yêu, đến hạnh phúc, đến sự nghiệp. Nhà tù của chế độ cộng sản Việt Nam đã nuốt trọn 3 năm của quãng thời gian đẹp nhất của một đời người. Còn linh mục Nguyễn Văn Lý, năm nay 64 tuổi, thì tổng cộng đã có 14 năm tù. Dưới cái nhìn của người Ki-tô hữu chúng ta, đó là những người đã đi con đường hy sinh, con đường thánh giá mà chính Đức Giê-su đã đi khi thực hiện công trình cứu độ.

Đức Giê-su không phải là một nhà hùng biện nói thật hay để ta nghe cho sướng tai, không phải là một nhà trí thức siêu đẳng với những pho sách dày cộm làm ta lác mắt, không phải một lý thuyết gia đưa ra những tư tưởng lỗi lạc khiến chúng ta sững sờ. Không, Ngài là Thiên Chúa làm người để cứu độ con người. Và để đạt được mục tiêu đó, Ngài đã chấp nhận trả giá : “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người dám hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13). Đây không phải là một công thức khô khan trừu tượng, nhưng là một nguyên tắc Đức Giê-su đã áp dụng cho chính mình qua cuộc thương khó và cái chết nhục nhằn trên thập giá mà Hội Thánh tưởng niệm một cách đặc biệt long trọng mỗi năm một lần, trong suốt cả Tuần Thánh.

Đường tranh đấu là con đường thánh giá
Sở dĩ tôi dám liên kết những năm tù đày của luật sư Lê Thị Công Nhân và Cha Lý với cuộc thương khó của Chúa Ki-tô là vì cả hai, thay vì đi con đường trơn tru suôn sẻ mà bao người vẫn đi, đã chọn con đường gai góc, con đường đấu tranh, con đường thánh giá. Tốt nghiệp cử nhân luật ở tuổi 22, hai năm sau đã là thành viên luật sư đoàn Hà Nội và luật sư đoàn quốc tế, cô Lê Thị Công Nhân đã có nhiều điều kiện thuận lợi để thành đạt trên đường đời. Nhưng vì lợi ích của Dân Tộc, cô đã chấp nhận quên mình, chấp nhận dấn thân vào con đường tranh đấu cho tự do, dân chủ. Qua điện thoại viễn liên truyền thanh trước đồng bào hải ngoại Nam California ngày 25-02-2007, cô đã tuyên bố : “Tôi xin khẳng định bằng tất cả lương tâm, trách nhiệm và tình cảm của mình đối với đất nước Việt Nam và dân tộc Việt Nam là: tôi sẽ chiến đấu tới cùng cho dù chỉ còn một mình tôi, trước hết là giành lấy nhân quyền cho chính mình và giành lấy nhân quyền, dân chủ và tự do cho người Việt Nam. Và Cộng sản Việt Nam đừng có mong chờ bất cứ một điều gì dù chỉ là thỏa hiệp, chứ đừng nói là đầu hàng về phía tôi. Tôi không thách thức, nhưng Cộng sản Việt Nam nếu đã hạ quyết tâm thực hiện những hành vi tội ác bằng cách chà đạp lên nhân quyền của người dân Việt Nam và muốn tiếp tục dìm đất nước Việt Nam trong một sự tăm tối về mặt chính trị, nghèo nàn về mặt kinh tế, lạc hậu về mặt văn hóa kéo dài cho tới tận đời con cháu của chúng ta cũng như của chính người Cộng sản, thì tùy họ và họ có quyền hành xử với những cái gì họ có. Gia đình tôi đã chuẩn bị cho trường hợp xấu nhất có thể xảy ra, đó là tôi có thể bị khởi tố và có thể đi tù”. Và cô đã đi tù. Đúng 3 năm.

Còn Cha Lý, nếu chấp nhận làm một ông cha xứ ngoan ngoãn : hăng hái thì tham gia sinh hoạt trong Uỷ Ban Đoàn Kết để dễ bề thăng quan tiến chức, không nữa thì ít là đừng chọc phá Nhà Nước, chuyện trên trời thì tha hồ nói, chuyện dưới đất, chuyện xã hội thì hoặc là đừng nói, hay có nói thì chỉ nói cách chung chung, vô thưởng vô phạt. Nếu thế thì giờ này, ít ra cha cũng được một chân Hạt trưởng. Nhưng tội của cha là đã sớm nhận ra khuôn mặt thật của chế độ, rồi công khai bày tỏ ý kiến của mình, lập trường của mình. Với tư cách là thư ký (và nay ta có thể nói là người con tinh thần) của đức cha Phi-líp-phê Nguyễn Kim Điền, Tổng Giám Mục Huế, ngay từ năm 1977, cha đã phổ biến rộng rãi 2 bài phát biểu thời danh của Đức Tổng Điền : “Chưa có tự do tôn giáo tại Việt Nam” và “Người Công Giáo bị xem như công dân hạng nhì.” Thế thì chẳng có gì đáng ngạc nhiên nếu từ năm 1977 cha đã bị cộng sản Việt Nam bắt bỏ tù. Đến nay tổng cộng 4 đợt là 14 năm.

Cha được công luận đặc biệt chú ý từ năm 2000. Biểu ngữ được căng lên trước mặt tiền nhà thờ Nguyệt Biều ngày 14-11-2000 đã nói lên kinh nghiệm xương máu và xác tín sâu xa của Cha : “Tự do tôn giáo hay là chết”. Là vì tự do xây nhà thờ, xây trung tâm mục vụ hay trung tâm hành hương, tự do truyền chức linh mục, tự do tổ chức các cuộc lễ, tự do đi ra nước ngoài, mà không được tự do phục vụ con người : tự do tham gia vào các công tác giáo dục, y tế, xã hội, mặc cho người dân nghèo không còn ruộng cày, không còn đất sống, mặc cho phụ nữ và thậm chí trẻ em bị bán làm nô lệ tình dục, mặc cho hằng triệu thai nhi bị giết mỗi năm, mặc cho xã hội ngày càng mục nát, băng hoại, mặc cho những ai tranh đấu cho tự do dân chủ nối tiếp nhau vào tù, mặc cho đất đai và biển đảo của tổ quốc cứ từ từ lọt vào tay Trung Quốc để dân tộc thêm một lần làm nô lệ, thế thì cái tự do tý tẹo còn lại mà tôn giáo được hưởng kia chỉ biến tôn giáo thành đồ trang trí cho chế độ, thành cái xác không hồn, và cuối cùng thứ tự do đó dẫn tôn giáo đích thực đến chỗ chết. Chính xác tín này đã dẫn Cha Lý từ chỗ tranh đấu cho tự do tôn giáo đến việc tranh đấu cho tự do dân sự : Là vì cuối cùng, tôn giáo chỉ có thể thực sự tự do khi dân tộc được hoàn toàn tự do.

Thép đã tôi
Sau khi ra khỏi tù, qua những lời phát biểu của Cha Lý, ta thấy Cha chẳng có vẻ gì là bận tâm quá đáng đến sức khoẻ, hay tỏ ra ít là nhẹ nhàng cho khỏi làm mất lòng Nhà Nước. Cha đã nói với đài VOA : “Đã chọn con đường tù đày để làm việc thì càng ở tù, tôi càng tỉnh táo và khôn ngoan hơn thôi. Những người đấu tranh bất bạo động thì càng ở tù càng mạnh hơn. Đối phương càng bắt bớ càng yếu hơn. Chuyện tù đày là cái giá phải trả của những người đấu tranh chân chính”.

Còn cô Lê Thị Công Nhân, khi trả lời đài VOA ngày 9-3-2010, cô đã nói : “Mình đã xác định tranh đấu, phải xác định hy sinh. Đó là hệ quả tất yếu, nếu không đừng tranh đấu nữa. Đã xác định hy sinh thì phải hy sinh đến cùng”. Khi được hỏi cô hình dung thế nào về con đường trước mắt, về tương lai, về sự nghiệp, Lê Thị Công Nhân trả lời : “Chắc chắn tôi sẽ vẫn tiếp tục đấu tranh vì lý tưởng của tôi. Tôi cảm thấy vui, thú vị, bay bổng, mạnh mẽ và có ích khi tôi sống theo con đường đó.” Những lời lẽ như thế cho thấy rằng nếu mục đích nhà cầm quyền cộng sản là tiêu diệt ý chí những người đấu tranh, thì họ đã thất bại.

Bí quyết của sức mạnh : niềm tin
Câu hỏi đặt ra là do đâu mà hai nhà tranh đấu chúng ta đang nói tìm được sức mạnh để không chỉ nín thở qua sông, nhưng hiên ngang mạnh mẽ nói lên ý định của mình, xác tín của mình sau khi đã can đảm và kiên trì chịu đựng những năm tháng lao tù. Tôi nghĩ : đó chính là niềm tin.

Trở về Nhà Chung Huế, Cha Lý phải dựa vào xe lăn mới di chuyển được. Khởi hành từ nhà tù lúc 4 giờ sáng, cha cho biết phải thức dậy từ lúc 2 giờ để có thể đọc kinh, dâng lễ. Khi được biết chỉ từ một năm nay thôi, cha mới được phép giữ sách kinh, thì ta hiểu ra : đối với cha, việc đọc kinh dâng lễ quý hoá và quan trọng như thế nào. Và cũng vì thế mà ta dễ dàng hiểu được những điều cha nói khi gặp bà phó đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam hôm 23-03-2010. Cha nói : “Mấy lần bị cán bộ CS bắt giam, tôi đều nói: Các anh sợ mà bắt giam tôi thôi, nhưng đố các anh ghét tôi được ! Tôi có làm chi phương hại, xúc phạm hay nguyền rủa các anh đâu mà các anh ghét. Trái lại tôi chỉ đọc kinh cầu nguyện cho các anh.

Tôi đi tù như vậy là 5 lần, riêng dưới chế độ này là 4 lần. Mỗi lần vừa vào tù, tôi đều quỳ cúi xuống hôn đất mà thầm nói: “Con xin nhận nhiệm sở mới” Nhiệm sở mới này không phải đức Giám mục bổ nhiệm tôi đến mà là Chúa Giêsu Kitô. Vì thế tôi coi ban giám thị, cán bộ trại và mọi tù nhân trong trại đều là giáo hữu mà tôi có bổn phận cầu nguyện và rao giảng Tin Mừng cho. Như mọi chiến sĩ dân chủ hòa bình, tôi có tình thương, sự thật và lẽ phải nên không sợ. Nhưng đằng sau lưng tôi là cả Triều thần Thiên quốc, có Thiên Chúa, có Đức Mẹ, có các thánh, rồi có hàng triệu các thai nhi bị trục giết mỗi năm mà tôi luôn bênh vực. Các em ủng hộ tôi, chuyển cầu cho tôi thì đảng CS làm chi tôi được!” (bản tin ngày 24-03-2010 của nhóm linh mục Nguyễn Kim Điền).

Còn luật sư Lê Thị Công Nhân, nếu ta đặt câu hỏi đâu là lý do khiến cô hy sinh tuổi trẻ, dấn thân vào con đường chông gai, con đường tranh đấu, ta hãy nghe cô trả lời trong cuộc điện thoại viễn liên ngày 25-02-2007 : “chính Đấng tạo hóa -Thượng đế đã sinh tôi ra trên cõi đời này nhờ qua một thể xác đó là mẹ tôi và cha tôi, và tôi đã được sinh ra là một con người thì tôi có đầy đủ những nhân quyền cơ bản mà Thượng đế -Đấng tạo hóa đã ban cho tôi, chứ không phải là người mẹ người cha xác thịt đã sinh ra tôi trên đời. Và tôi đấu tranh vì dân chủ, nhân quyền và tự do cho Việt Nam hoàn toàn xuất phát từ niềm tin, từ lương tâm và trách nhiệm của tôi đối với chính tôi, đối với dân tộc Việt Nam và đối với Đấng tạo hóa đã sinh ra tôi.” Và gần đây, trong cuộc tiếp xúc với anh Nguyễn Hữu Vinh và một nhóm bạn Công Giáo đến thăm nhân ngày 08-03-2010, cô đã cho biết : Trong buồng giam 60 người, chỉ mình cô công khai xưng mình là Ki-tô hữu. Ta hãy nghe cô tâm sự : “Để vượt qua ba năm trong nhà tù, em chỉ có mỗi cuốn Kinh Thánh ; trang cuối cùng em đọc xong lần thứ nhất là đêm trước ngày em ra toà Phúc Thẩm. Ba năm trong tù, Chúa vừa là người bạn, là người Cha, là người Thầy của em, nâng đỡ dìu dắt em vượt qua tất cả”.

Như thế, không còn là chuyện suy diễn, nếu ta khẳng định rằng : Không chỉ có lòng yêu nước, yêu dân tộc, yêu tự do dân chủ, nhưng vượt lên trên tất cả là niềm tin vào Thiên Chúa đã cho các nhà đấu tranh của chúng ta sức mạnh vượt thắng mọi gian khổ của những năm tù đày. Điều này đã được dễ dàng chứng minh qua các biến có Toà Khâm Sứ - Thái Hà hay Tam Toà, Đồng Chiêm. Những người giáo dân bình thường, phần đông trình độ văn hoá không cao, đời sống vật chất trung bình hay thậm chí nghèo túng, nhưng lòng dũng cảm, tính kiên trì đã khiến chính quyền phải sợ. Là vì một lòng tin mạnh mẽ đem lại cho người tín hữu một sức mạnh vô song.

Trả giá để sống niềm tin
Nếu nói rằng : trong công cuộc đấu tranh cho công lý, cho sự thật, cho tự do dân chủ, chính nhờ niềm tin mà người Ki-tô hữu tìm được sức mạnh, thì cũng có thể nói : niềm tin thúc đẩy người Ki-tô hữu dấn thân cho các giá trị vừa nói. Nếu chỉ cần đút tay vào túi quần để hô hoán “Đồng hành với dân tộc”, hay “Sống phúc âm giữa lòng dân tộc”, liệu chúng ta sẽ thuyết phục được ai ? Ai sẽ nghe chúng ta, sẽ tin chúng ta, nếu chúng ta một mặt thì tuyên bố sẵn sàng chết vì đạo, nhưng khi thánh giá Đồng Chiêm bị triệt phá thì đành im thin thít, không dám hé môi ! Thánh Gia-cô-bê đã từng nói : “Bạn thử cho tôi thấy thế nào là tin mà không hành động, còn tôi, tôi sẽ hành động để cho bạn thấy thế nào là tin” (Gc 2,18).

Đối thoại và hợp tác
Sống trong một đất nước tự do như bên Tây bên Mỹ mà nói chuyện đối thoại và hợp tác là chuyện bình thường. Nhưng tại việt Nam, trong một thể chế độc tài toàn trị, mà nói chuyện đối thoại và hợp tác chỉ là mơ chuyện hão huyền. Ngày nay, nhắc đến tên Nguyễn Văn Lý, cả thế giới đều nghĩ đến tấm hình ngài bị bịt miệng ngay tại phiên toà. Đối thoại phải có kẻ nói người nghe. Nếu chỉ nói chuyện trời nắng trời mưa thì không bõ, còn nếu muốn nói những điều nên nói, những điều cần nói, nhưng điều phải nói bằng bất cứ giá nào, thì chỉ cần nhớ lại cảnh Cha Lý bị bịt miệng là ta hiểu ngay mình có được để cho nói hay không.

Kết luận
Một lần nữa, mầu nhiệm Phục Sinh lại nhắc nhở người Ki-tô hữu chúng ta rằng, thánh giá là con đường tất yếu dẫn tới vinh quang phục sinh. Sở dĩ cô Lê Thị Công Nhân và Cha Nguyễn Văn Lý, hai tín hữu Chúa Ki-tô, đang được người Việt khắp nơi yêu mến, kính nể, vì cả hai đã là những người Việt Nam yêu nước nồng nàn, cả hai đã là những chứng nhân của lòng tin. Đúng như lời đức cố giáo hoàng Phao-lô VI đã nói : “Con người thời đại ngày nay không cần những thầy giảng, mà cần những chứng nhân đích thực của Tin Mừng”.
Sài-gòn, ngày 03 tháng 04 năm 2010

Lm Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh, OFM