Page 33 of 187

Posted: Sat Feb 06, 2010 3:01 am
by thienthanh
Ngân sách Obama vẫn thâm thủng lớn

Ngô Nhân Dụng

Các ông tổng thống Mỹ “làm việc nước” không phải bằng những bài diễn văn hay các cuộc hội nghị, những chuyến công du. Hành động quan trọng nhất của họ là soạn thảo bản ngân sách chính phủ liên bang. Các chính sách, chủ trương của chính phủ đều được diễn tả qua các số thu và chi. Sẽ tăng hay giảm các món thuế nào, sẽ chi cho những chương trình gì, các con số đó quan trọng hơn là các khẩu hiệu chính trị.

Ðầu tuần này chính phủ Obama đã công bố ngân sách dự trù cho tài khóa 2011, bắt đầu từ tháng 9 năm nay. Trong hệ thống chính trị Mỹ, ông tổng thống chỉ đề nghị, Quốc Hội mới là nơi quyết định chuyện chi thu - các đại biểu của dân nắm “hầu bao” của nhà nước. Những điều ông Barack Obama muốn chưa chắc sẽ được chấp nhận; nhưng chúng ta có thể căn cứ vào dự thảo ngân sách mà biết ông tổng thống nhắm vào những mục tiêu nào.

Nhận xét đầu tiên là ông Obama đã học được một bài về óc thực tế. Năm ngoái, ngân sách đầu tiên của chính phủ đầy tham vọng. Ông tổng thống tân nhiệm muốn làm rất nhiều việc một lúc: Cứu chữa cuộc khủng hoảng ngân hàng, phục hồi kinh tế, tiếp tục hai cuộc chiến tranh ở xa. Bấy nhiêu thứ chưa đủ mệt, ông Obama còn muốn thúc đẩy những dự án lớn là cải tổ toàn diện hệ thống bảo hiểm y tế, bảo vệ môi trường sống và tìm những nguồn năng lượng mới. Những dự án này đều có tính cách lâu dài, riêng việc cải tổ y tế thì đã được tranh luận từ mấy chục năm nay. Nhiều việc lớn quá thì tất nhiên không thể làm hết được, nhất là trong một guồng máy chính quyền có cả Quốc Hội lẫn hành pháp quyết định chung. Sau một năm, dân chúng Mỹ thất vọng. Vì trong lúc dân lo chuyện trước mắt là vấn đề kinh tế thì chính phủ và Quốc Hội bàn những chuyện xa vời. Giá thử ông tổng thống tập trung vào một số mục tiêu vừa tầm thì khôn ngoan hơn. Dân đã bày tỏ ý kiến bằng lá phiếu ở tiểu bang Massachusetts. Ðây là một ghế nghị sĩ trống vẫn bầu cho đảng Dân Chủ từ mấy gần 50 năm, năm nay đa số cử tri đã chọn một nghị sĩ Cộng Hòa. Dân được tự do bỏ phiếu nó tiện như vậy! Những lá phiếu ở một tiểu bang có thể gửi tín hiệu cho thấy người dân cả nước muốn cho chính quyền một bài học!

Vì vậy, ngân sách năm nay của chính phủ Obama chú trọng đến những mối lo gần gũi nhất của dân Mỹ: tỷ lệ thất nghiệp cao và khiếm hụt ngân sách nặng. Trong ngân sách dự thảo chính phủ Obama nhấn mạnh đến nhu cầu cân bằng ngân sách với những biện pháp tăng thu, giảm chi để chứng tỏ Tòa Bạch Ốc quan tâm đến mối lo của dân. Tuy nhiên, như nhiều nhà kinh tế nhận xét, ông Obama đã bỏ lỡ một cơ hội không can đảm tăng thu hơn nữa, khiến cho mục tiêu cân bằng ngân sách sẽ còn lâu mới đạt được.

Theo dự thảo ngân sách Obama, những người lợi tức cao nhất nước sẽ không được hưởng suất thuế thấp của Tổng Thống Bush nữa mà phải đóng thuế cao như trước năm 2001. Những ai đang đóng thuế 35% sẽ phải đóng 39.6%, ai đang chịu suất thuế 33% sẽ phải đóng 36%. Riêng quyết định này sẽ tăng số thu của chính phủ thêm 969 tỷ đô la trong 10 năm tới. Những người lợi tức từ 200,000 đô la trở xuống cũng đã được ông Bush giảm thuế, nay ông Obama cho giữ nguyên không bị tăng lên. Vì chính phủ Obama không dám đụng tới suất thuế của giới trung lưu cho nên số khiếm hụt ngân sách trong tương lai sẽ khó giảm mà còn có thể tăng lên nữa.

Lý do chính trị đã khiến Tòa Bạch Ốc không có can đảm tăng thu mạnh hơn nữa. Các đạo luật năm 2001 và 2003 vẫn bị phê bình là cắt thuế quá nhiều cho những người giầu nhất nước; cho nên chính quyền Obama chỉ để cho những khoản cắt cho người giầu tự động hết hạn, họ sẽ phải đóng góp thêm. Còn những khoản cắt thuế cho giới trung lưu trở xuống được giữ lại, để chứng tỏ đây là một chính phủ đứng về phía người trung lưu và người nghèo!

Những cuộc nghiên cứu dư luận gần đây cho biết dân chúng Mỹ lo lắng về nạn thất nghiệp vì kinh tế trì trệ nhiều hơn là lo về ngân sách khiếm hụt. Nhưng dự thảo ngân sách Obama đã nhấn mạnh đến vấn đề cân bằng ngân sách, cũng một phần vì lý do chính trị. Vì trong thực tế, việc phục hồi kinh tế hiện nay rất khó khăn, và sẽ rất chậm chạp, vì các nguyên nhân khách quan. Trong lịch sử kinh tế, những cuộc suy thoái gây ra vì sản xuất và tiêu thụ mất cân bằng tương đối chấm dứt sớm. Ðặc biệt, những cuộc suy thoái kinh tế xẩy ra bắt nguồn từ hệ thống tín dụng, ngân hàng thì bao giờ cũng kéo dài hơn và khi phục hồi thì tốc độ gia tăng cũng chậm hơn. Chính phủ Obama không thể nào báo trước một tương lai gần kinh tế phục hồi như cũ được.

Ngay Tòa Bạch Ốc cũng dự đoán tỷ lệ thất nghiệp sẽ tiếp tục ở mức 10% trong năm 2010, và sẽ giảm rất chậm, xuống 9.2% và 8.2% trong hai năm tiếp theo. Còn lâu dân Mỹ mới được thấy những tỷ lệ thất nghiệp thấp khoảng 3 hay 4%!

Người dân bao giờ cũng coi trách nhiệm về kinh tế suy yếu là của đảng chính trị đang cầm quyền. Trong cuộc bầu cử Quốc Hội cuối năm nay, các ứng cử viên đảng Dân Chủ bị đặt vào thế yếu vì tình trạng kinh tế còn trì trệ. Họ sẽ phải tìm cách thuyết phục dân chúng Mỹ rằng cuộc khủng hoảng ngân hàng và kinh tế suy thoái hiện nay bắt đầu trong nhiệm kỳ của Tổng thống Gorges W. Bush. Và họ sẽ nhấn mạnh vào nỗ lực giảm bớt khiếm hụt ngân sách của chính phủ Obama để “lấy điểm” với dân.

Trong ngân sách 2011, chính phủ Obama sẽ giảm bớt hoặc không tăng những khoản chi không thuộc lãnh vực an ninh, quốc phòng, giảm được 250 tỷ đô la. Ngân sách Quốc Phòng sẽ vẫn tăng thêm 284 tỷ đô la, thành 708 tỷ vì các cuộc chiến tranh còn tiếp diễn (trước năm 2001, ngân sách Bộ Quốc Phòng chỉ có hơn 300 tỷ). Các chương trình kích thích kinh tế bắt đầu năm ngoái với 878 tỷ Mỹ kim sẽ còn hơn 400 tỷ để chi trong năm nay, và ngân sách mới sẽ xin thêm gần 100 tỷ nữa. Chính phủ sẽ chi 33 tỷ để giúp tăng công việc làm, cho các xí nghiệp hưởng 5,000 đô la bớt thuế nếu tuyển dụng một nhân viên mới. Những kế hoạch tạo công việc làm đó có hiệu quả hay không còn tùy sinh hoạt kinh tế có phục hồi hay không. Một xí nghiệp thuê người làm vì biết sẽ bán được hàng chứ không phải chỉ vì được chính phủ trợ cấp! Nhưng các hoạt động tiêu thụ và sản xuất còn trì trệ vì cả hệ thống ngân hàng chưa thanh toán hết được những món nợ sai lầm trong thập niên trước, nhất là khi thị trường địa ốc còn chưa vững trở lại. Với những khó khăn khách quan như vậy, Tòa Bạch Ốc đã chọn không nhấn mạnh đến vấn đề phục hồi kinh tế nhanh chóng mà chọn mục tiêu cân bằng ngân sách để dân chúng chú ý tới.

Nhưng trong thực tế, mục tiêu này cũng rất khó đạt. Trong ngân sách 2011, các khoản chi của chính phủ liên bang sẽ lớn bằng 25% tổng sản lượng nội địa (GDP, tức là giá trị tổng số các hàng hóa và dịch vụ trong nước). Trong quá khứ, con số trung bình là 20.5%. Tỷ lệ cao 25% có lý do chính đáng. Khi kinh tế suy yếu, nhu cầu tiêu thụ và đầu tư đều giảm, chính phủ là nơi duy nhất có thể tăng số cầu lên để kích thích sản xuất. Nhưng ngay trong bản dự thảo ngân sách đoán rằng sau năm 2011 kinh tế sẽ hồi phục, mà ngân sách Obama vẫn dự trù phần chi tiêu của nhà nước lên tới 24% cho tới năm 2020 chưa giảm! Tức là chính phủ chủ trương không giảm mức chi tiêu xuống bằng tỷ lệ trung bình lịch sử mà vẫn tiếp tục chi tiêu gần một phần tư lợi tức chung của quốc gia.

Một hậu quả là số nợ của chính phủ Mỹ (công trái) sẽ tăng lên đáng lo ngại. Sau Ðại Chiến Thứ Hai, khi chính phủ Mỹ đã trả hết các món nợ chiến phí rồi, tổng số công trái của Mỹ không bao giờ lớn hơn 50% GDP. Năm 2009 vừa qua, vì cần 700 tỷ cứu các ngân hàng và gần 800 tỷ kích thích kinh tế, tổng số nợ của chính phủ Mỹ đã lên tới 7,500 tỷ, bằng 53% GDP. Ngân sách Obama dự đoán tới năm 2020, tổng số nợ này sẽ lên thành 18,600 tỷ Mỹ kim, lớn bằng 77% tổng sản lượng nội địa. Chính phủ Nhật Bản chịu một tỷ lệ nợ cao hơn 100% của GDP, họ chịu đựng được vì phần lớn các món nợ đó chính phủ vay của người dân Nhật. Ở Mỹ không như vậy. Một nửa các món tiền chính phủ Mỹ vay là vay từ người ngoại quốc - trong đó có các ông vua dầu lửa, các ngân hàng trung ương Trung Quốc và Nhật Bản. Những biến động trong thị trường tài chánh thế giới có thể ảnh hưởng bất lợi cho kinh tế Mỹ nếu tỷ lệ nợ leo lên tới 80%. Lãi suất ở Mỹ có thể phải tăng lên dưới áp lục quốc tế, và đồng đô la Mỹ có thể bị mất giá nặng, nếu ngân sách chính phủ không được cân bằng và phải đi vay nợ mãi.

Cho nên, mặc dù Tổng Thống Obama nhấn mạnh đến mục tiêu giảm bớt khiếm hụt ngân sách, các con số ông trình bày trong ngân sách 2011 cho thấy mục tiêu đó sẽ khó đạt được. Và một mình ông Obama sẽ phải gánh trách nhiệm đó. Trước đây trong Quốc Hội đã có ý kiến thành lập một ủy ban lưỡng đảng nghiên cứu và đề nghị các biện pháp tiến tới cân bằng ngân sách như thời Tổng Thống Clinton đã thực hiện được. Nhưng sau khi Tòa Bạch Ốc nêu lên đề nghị này trong dự thảo ngân sách 2011 thì đảng Cộng Hòa không tỏ vẻ hào hứng tham dự.

Nếu Quốc Hội Mỹ can đảm thì họ có thể giúp giảm bớt khiếm hụt ngân sách nhanh hơn bằng cách thay đổi dự thảo của chính phủ Obama. Thí dụ, cho giới trung lưu đóng thuế nhiều hơn, bằng suất thuế trước năm 2001 như những người giầu nhất, và chỉ giữ suất thuế thấp cho những người nghèo thật sự. Ðây là một điều khó được các đại biểu thông qua trong một năm bầu cử. Cho nên ngân sách chính phủ Mỹ sẽ còn khiếm hụt trong nhiều năm nữa.

Posted: Tue Feb 09, 2010 5:33 am
by dailien
Niềm Tin Của Dân?

Trần Khải
Niềm tin của đồng bào tại quê nhà đang đặt ở nơi đâu? Tin vào hướng đi xã hội chủ nghĩa đầy “sáng tạo” của Đảng CSVN đang lèo lái cả nước hiện nay? Tin vào tình bạn chân thành thắm thiết của đàn anh Trung Quốc vĩ đại? Tin vào sự trong sạch của cán bộ quan chức? Không có một thăm dò chính xác nào, bởi vì nhà nước CSVN không hề cho phép thực hiện thăm dò tương tự như thế. Ngay như trưng cầu dân ý, cũng là chuyện nằm mơ ở đâu xa. Thực sự, dân mình còn tin tưởng gì không? Đây là chỗ cũng nên quan sát để xem các chuyển biến xã hội.

Trước tiên là tin vào tin đồn. Tất nhiên, có tin đồn sai, có tin đồn đúng. Nhưng đó lại là chuyện khác. Vấn đề nơi đây là, một tin đồn đang làm cả một (và có thể là nhiều) khu chợ vắng tanh.

Báo Công Thương Điện Tử từ Hà Nội có bản tin nhan đề “Khốn khổ vì hoang tin” đăng ngày 5-2-2010, cho biết chợ Long Biên vắng tiêu điều, bởi vì tin đồn hàng hoa quả Trung Quốc có độc chất. Tới nổi, cả Đạị Sứ Trung Quốc và chính phủ Hà Nội phải thanh minh thanh nga. Báo này kể:
“Có mặt tại chợ đầu mối hoa quả Long Biên đêm 3-2-2010, mặc dù từ 21h chợ bắt đầu hoạt động nhưng khác hẳn với những phiên chợ cách đây gần 2 tháng, không khí nơi đây giờ ảm đạm khác thường.
CôngThương - Cả chủ kinh doanh lẫn những công nhân được thuê bốc, dỡ hàng chỉ biết ngồi tán gẫu, gương mặt đầy lo âu khi hàng ế ẩm vì những tin đồn về gần chục mặt hàng hoa quả Trung Quốc có “vấn đề”…

Đìu hiu chợ đầu mối
Không khí khá yên lặng, trong tình trạng ế ẩm, đặc biệt là khu vực C5, nơi tập trung các hộ kinh doanh hoa quả Trung Quốc. Chị Trần Kim Oanh, chủ một cửa hàng kinh doanh cho biết: “Mặc dù đã hơn 18 năm gắn bó với chợ Long Biên, nhưng đây là thời điểm hàng ế ẩm nhất. Theo chị, nguyên nhân này bắt nguồn từ những tin nhắn khuyến cáo không nên ăn hoa quả Trung Quốc vì có chất “phá huỷ nội tạng”.

Cũng theo tin nhắn khuyến cáo này thì 5 mặt hàng hoa quả bị “điểm mặt” là: táo, nho, lê, cam và quýt. Tuy nhiên ngay sau đó, cơ quan chức năng và một số phương tiện thông tin đại chúng đã có phản ứng nhằm bác bỏ những thông tin trên.

Ngày 7-1-2010, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam khẳng định, đây là thông tin bịa đặt, đồng thời cho biết: “Đại sứ quán Việt Nam và các cơ quan đại diện Việt Nam tại Trung Quốc không đưa ra bất kỳ khuyến cáo nào có nội dung như vậy”.

Còn Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam khẳng định, không có chuyện Chính phủ Trung Quốc lên truyền hình khuyến cáo người dân không nên ăn hoa quả Trung Quốc như tin đồn...” (hết trích)
Câu hỏi nơi đây là, tại sao dân mình tin vào tin đồn như thế? Tại sao không ai tung tin đồn như táo Mỹ và nho Pháp ngâm độc chất? Có phảỉ đây là một cuộc chiến mới để góp sức cho cuộc chiến đòi lại Trường Sa, Hoàng Sa hay không? Chúng ta không biết chính xác câu trả lời. Nhưng hiển nhiên, loại tin đồn này đáp ứng được tiềm thức của người dân Việt. Nghĩa là, mỗi tin nhắn kiểu như trên thực ra là một viên gạch ném vào để chôn trụ đồng của Trung Quốc dựng lên thời thế kỷ 21. Chúng ta có thể thử yêu cầu Đaị Sứ TQ tung ra tin đồn rằng táo Mỹ, nho Pháp có độc chất xem sao? Lòng dân là như thế.

Có một tin chính thức của các thông tấn nhà nước: Công an Hà Nội bắt quả tang một Phó Tổng Giám Đốc ngân hàng lớn vì nhận hối lộ 50,000 đô la.
Báo Thanh Niên hôm Thứ Tư 3-2-2010 cho biết:
“Phó tổng giám đốc BIDV bị bắt
Vào khoảng 15 giờ 15 phút hôm qua, nhiều nhân viên Ngân hàng Đầu tư và phát triển VN (BIDV) ngỡ ngàng khi chứng kiến ông Đoàn Tiến Dũng, Phó tổng giám đốc ngân hàng này bị còng tay và được dẫn giải bởi hai công an đi vào trụ sở chính của BIDV (tòa tháp Vincom, số 191 Bà Triệu).
Sau gần 2 giờ đồng hồ khám xét tại phòng làm việc, công an đã đưa ông Dũng đi. Trước đó, cơ quan chức năng cũng đã tiến hành khám xét tại nhà riêng của ông Dũng.” (hết trích)

Nên ghi nhận rằng, số tiền 1 tỉ đồng VN tương đương 50,000 đô la Mỹ.
Bản tin báo Lao Động kể chi tiết:
“Chiều 1.2, tại một quán càphê gần trụ sở Ngân hàng Đầu tư - Phát triển Việt Nam (BIDV), Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và chức vụ - Công an Hà Nội đã bắt quả tang ông Đoàn Tiến Dũng - Phó TGĐ Ngân hàng BIDV - đang nhận hối lộ gần 1 tỉ đồng của một doanh nghiệp để cho vay vốn ngân hàng với lãi suất ưu đãi.

Ông Đoàn Tiến Dũng sinh năm 1956, có trình độ kỹ sư xây dựng, thạc sĩ ngân hàng, nguyên là Giám đốc chi nhánh Hải Phòng của BIDV, mới được bổ nhiệm chức vụ Phó Tổng giám đốc BIDV từ tháng 9.2008 đến nay và được giao nhiệm vụ phụ trách mảng quan hệ khách hàng....” (hết trích)
Nói theo kiểu dân gian là “bắt tận tay, day tận trán.” Có đúng là như thế không? Tại sao phảỉ vào quán cà phê để cầm hối lộ 50,000 đôla? Theo các bản tin, nói rõ là hối lộ 1 tỉ đồng VN. Không bản tin nào nói là giấy Mỹ Kim cả. Mà thậm chí, dù là giấy 100 Mỹ Kim, cũng phảỉ mang ba lô, túi xách mới đủ chứa 50,000 đô la. Cũng không bản tin nào nói hối lộ bằng kim cương hay gì khác.

Như thế, tiền 1 tỉ đồng naỳ phải mang bao bố mới đủ chứa? Có phảỉ là công an gàì bẫy? Một ông học xong kỹ sư, học xong thạc sĩ ngân hàng, nguyên giám đốc chi nhánh Hải Phòng của ngân hàng BIDV, mới lên chức Phó Tổng Giám Đốc, bây giờ ra quán cà phê để vác bao bố tiền hối lộ? Chuyện đúng là “nằm mơ xã hội chủ nghĩa.”

Tại sao, nhân dịp gần Tết, người hối lộ mang chiếc nhẫn kim cương 50,000 đô la tới tặng quá chúc Tết cho vợ ông Đoàn Tiến Dũng thì có trời mà biết? Hay, tại sao không đưa chiếc nhẫn kim cương tặng con gái ông Dũng để chúc mừng sinh nhật? Như thế, tặng quà sinh nhật hay chúc Tết là bình thường, đâu có cần ra quán cà phê vác bao bố tiền về nhà? Hẳn là phải có một cái đầu nông dân hợp tác xã mới mắc bẫy như thế?

Như thế, có phảỉ đây là thanh trừng nhau hay không? Nhân thân ông Đoàn Tiến Dũng có họ hàng với quan lớn nào trong chính trị bộ hay không? Không ai rõ. Nhưng nếu xảy ra bất kỳ chuyện gì cho quan lớn Đoàn Tiến Dũng, thì dân chúng cũng thấy là tự nhiên. Bởi vì niềm tin của dân đơn giản là: cán bộ không hối lộ, sẽ không lên tới ghế cao như thế, và lên ghế cao là phải cầm hối lộ. Vấn đề là, bản tin có vẻ phi lý, nhưng cũng dễ tin. Bởi vì, lòng dân đã thấy là thế. Cũng y hệt như trái cây Trung Quốc tất nhiên là có độc.

Không chỉ người dân thường mất niềm tin, mà ngay như các cựu đảng viên CSVN và trí thức cũng mất niềm tin vào chính phủ từ lâu rồi. Bản tin AFP hôm Thứ Năm cho thấy rằng ngay các cựu Đảng Viên CSVN cũng “cay đắng lên án điều mà họ gọi là một hệ thống tham nhũng.”

Bản tin AFP còn nói các cựu đảng viên nói rằng các lãnh tụ hiện nay “đã bóp méo di sản giải phóng. Họ nói là các lãnh đaọ đã dùng quyền lực để thủ lợi riêng và đã làm mất tính độc lập của VN qua quan hệ với TQ.”
Ông Nguyễn Trọng Vĩnh, cựu đại sứ CSVN tại TQ và là tướng hồi hưu trong khi vẫn là đảng viên, nói, theo AFP, “Hôm nay, chúng ta có khoảng 3 triệu đảng viên trong Đảng CSVN, nhưng họ không có sức mạnh, không có quyền lực, mà cũng không tin vào quá khứ nữa.”
Ông Vĩnh nói, theo AFP, dân chúng đã mất quá nhiều niềm tin vào đảng bởi vì họ thấy Hà Nội nhượng bộ TQ nhiều quá.

Gần đây nhất là cho TQ vaò khai thác mỏ bauxite ở Tây Nguyên, làm nhiều người lên tiếng phản đối năm ngoaí, trong đó có Tướng Võ Nguyên Giáp. Rồi còn liên tục lùi bước cho TQ trước các tranh chấp Biển Đông.
Bản tin AFP ghi lời ông Bùì Tín, cựu đại tá CSVN đang lưu vong ở Pháp, nói, “Hôm nay, thái độ của các lãnh đạọ không minh bạch trong quan hệ với TQ,” trong khi tấn công các trí thức lên tiếng về hiểm họa mất đất, mất biển.
Bản tin AFP còn ghi lời cựu Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, rằng cần phảỉ trừng phạt nặng các đảng viên tham nhũng, trong khi lãnh đạo phải “lắng nghe nhân dân.”
Thấy rõ, các lời khuyên này cũng là “giấc mơ xã hội chủ nghĩa.” Bởi vì, ngay như Tướng Võ Nguyên Giáp, Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh nói, mà Bộ Chính Trị CSVN còn chưa nghe, huống gì là dân thường. Nghĩa là, niềm tin mất cả rồi. Tuy nhiên, điều để suy nghĩ: ngay như ông Lê Khả Phiêu cũng lớn tiếng chỉ trích Đảng CSVN. Và điều này hẳn là biến động cần quan sát.
Thông tấn xã Đức DPA hôm Thứ Năm 4-2-2010 loan tin rằng cuộc tranh chấp nội bộ của Đảng CSVN đang lên cao điểm, trong đó một bài viết của Cựu Tổng Bí Thư Đảng CSVN Lê Khả Phiêu đăng trên một báo quốc nội đã lên án Đảng về “tham nhũng, quan liêu và cá nhân chủ nghĩa” và kêu gọi tăng thêm dân chủ trong hàng ngũ Đảng.

DPA viết rằng Phiêu, 78 tuổi, nguyên là Tổng Bí Thư Đảng CSVN từ 1997 tới 2001.
Phiếu viết, theo DPA trong bản tin Anh ngữ, rằng Đảng CSVN đang “không nhận ra mất đi trầm trọng niềm tin tưởng của nhân dân tin cậy vào đảng và nhà nước, vì cán bộ đảng viên thiếu đaọ đức gương mẫu và vị trí trí thức.”
DPA viết, chuyên gia về VN là Carlyle Thayer nói rằng bài viết của Phiêu là một phần thủ thuật trước khi vào Đạị Hội Đảng lần thứ 11, dự kiến là năm 2011, nơi các cán bộ tranh chức lãnh đạo mới.
DPA viết, Phiêu từng bị tai tiếng vì vụ xì căng đan với Tổng Cục 2, khi cho cơ quan này nghe lén điện thoại các quan lãnh đạo và trao các băng nghe lén cho Phiêu để làm áp lực bắt chẹt.
DPA nói là nhóm đàn em bảo thủ của Đỗ Mười trước kia đã vận động bứng ghế của Phiêu.
Thayers nói với DPA, “Bàì viết này có thể là để trả thù cho cách mà nhóm bảo thủ đối xử với ông ta” thời 2001.
Bản văn dài của Lê Khả Phiêu, có nhan đề “Nguyên Tổng Bí thư và những trăn trở chỉnh đốn Đảng” đăng trên thông tấn VietnamNet hôm Thứ Năm 4-2-2010, sau các lời đấu tố Mỹ và ca ngợi ông Hồ, có các đoạn chỉ trích nội bộ Đảng CSVN trích như sau:

“...Những tồn tại trong Đảng ta hiện nay tuy đã có đấu tranh song đạt kết quả thấp, những biểu hiện tiêu cực như tham nhũng, quan liêu, cá nhân chủ nghĩa vẫn kéo dài, niềm tin trong Đảng, trong dân đang bị ảnh hưởng, uy tín của một số đảng viên cộng sản bị giảm sút. Những nguyên tắc cơ bản của Đảng về tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình chấp hành chưa thật nghiêm và còn hình thức. Quan hệ giữa Đảng, giữa Nhà nước với dân có những biểu hiện chưa thực hết lòng vì dân phục vụ. Chưa thực bảo vệ tính chất dân chủ, bảo vệ và giải quyết nguyện vọng chính đáng của dân, khiến lòng dân không yên. Trong khi đó thì ta vẫn chủ quan chưa thấy sâu sắc sự giảm sút lòng tin của không ít người dân đối với Đảng, với Nhà nước, với những cán bộ đảng viên thiếu gương mẫu về đạo đức, thiếu tầm cao về trí tuệ. Phải thực sự phát huy dân chủ trong Đảng thì mới phát huy được dân chủ ngoài xã hội, thực hành dân chủ ngoài xã hội tốt cũng là nhân tố quan trọng để thực hành dân chủ trong Đảng. Vì vậy, phải đảm bảo quyền dân chủ của dân (dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra), phải có những quy định cụ thể, thông báo rõ ràng, công khai và thực hiện một cách nghiêm túc...”

Dân biết? Làm sao biết được, khi các tường lửa dựng lên kín mít, và hễ có trang web dân chủ nào lớn mạnh, là bị đánh sập ngay.
Dân bàn? Tới ngay như Tướng Giáp, Tướng Vĩnh đưa lời bàn cũng như không. Còn Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Tiến Trung, Lê Công Định, Lê Thăng Long.... góp lời bàn là bị đẩy vào tù ngay.
Dân làm? Trời ạ, ngồi trong nhà tọa kháng như cô Phạm Thanh Nghiên còn bị bắt bỏ vào tù, thì làm sao bước ra khỏi nhà để làm gì nữa.
Dân kiểm tra? Thế thì nên mời ông Đạị Sứ Trung Quốc ra chợ Long Biên kiểm tra xem hàng trái cây nhập khẩu từ TQ vào VN xem có ngâm hóa chất độc hay không. Chứ còn dân nào mà dám bước ra đòi kiểm tra. Ít nhất cũng phảỉ có niềm tin, mới nghĩ là cần kiểm tra.
Thực sự, niềm tin không còn nữa, thì ai mà cần biết, ai mà muốn bàn, ai mà tính chuyện làm, hay ai mà lo kiểm tra nữa làm chi cho mất thì giờ?

Posted: Wed Feb 10, 2010 1:57 am
by dailien
Hai sức mạnh tương phản
Nguyễn Ðạt Thịnh

Sức mạnh thứ nhất mà tôi muốn đề cập trong bài báo này, là cái nồi chaudière (xúp de) dầy dặn làm bằng chất thép già, cứng cáp, có khả năng chịu sức ép rất cao, và sức mạnh thứ nhì là hơi nước mạnh tuyệt vời bị giữ kín trong nồi. Phiá dưới là ngọn lửa phừng phừng làm nước mỗi lúc một sôi hơn.

Hai thế kỷ trước loài người đã tìm được bí quyết làm chủ hai sức mạnh tương phản này, phối hợp chúng thành sức đẩy, tạo ra những vòng luân chuyển làm lăn bánh xe, kéo đoàn xe lửa trên đường rầy, hay làm quay những cánh chân vịt lớn, đẩy những con tầu kềnh càng xê dịch, đưa hàng ngàn tấn hàng hóa từ nơi này đến nơi khác, tạo phúc lợi cho nhân loại.
Là sức mạnh kỹ nghệ, nhưng hơi nước cũng có thể nổ tung gây nhiều tàn phá nếu thiếu những cái soupape (xú báp) an toàn, mở ra, đóng vào đúng lúc, trên nồi xúp de bị bít kín.

Cái nồi chaudière trong con tầu Việt Nam hiện nay là chế độ độc đảng, độc tài của Việt Cộng, và hơi nước là sức phẫn uất của toàn dân đòi hỏi dân chủ và nhân quyền, và nguy cơ nổ tung là sự vụng về của anh kỹ sư Việt Cộng, bít kín mọi xú báp an toàn.

Từ những cái xú báp Nguyễn Văn Lý, Lê thị Công Nhân, vài năm trước đến cái xúp báp mới bị hàn kín khi chúng đưa 4 chiến sĩ tự do --quý ông Lê Công Ðịnh, Nguyễn Tiến Trung, Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thăng Long-- ra tòa lãnh án tù dài hạn.

Phiên tòa diễn ra ngày 20 tháng Giêng năm nay; năm ngoái, ngọn lửa tự do đun nồi xúp de nhân quyền thêm sôi qua việc 6 chiến sĩ dân chủ khác –nhà giáo Nguyễn Thượng Long, ông Vi Ðức Hồi, thượng tọa Thích Thiện Minh, cô Phạm Thanh Nghiên, ông Nguyễn Hoàng Hải, và ông Trần Anh Kim, đoạt giải nhân quyền của tổ chức HRW.

Những người đoạt giải không hề có một số phận tốt hơn những người ra tòa lãnh án tù dài hạn. May hay không may, ra tòa hay được giải thưởng nhân quyền, họ cũng gặp nhau trong hỏa lò cộng sản.
Một điểm giống nhau nữa là tất cả những bị can và những người được vinh danh đó đều hiền lành, đạo đức, có học, và có thái độ bình thản chấp nhận gông cùm, tù tội, hãnh diện như được dân tộc tuyên dương.

Ba người đầu tiên –ông Long, ông Hồi, và thượng tọa Thích thiện Minh -- đang bị giam lỏng trong quy chế quản thúc tại gia, và 3 người sau cùng –cô Nghiên, ông Hải, và ông Kim –đã bị giam thật sự, hai người đã có án từ trước, cô Nghiên vừa ra tòa, lãnh án 4 năm tù.
Không ai tiên đoán được sự ngã ngũ của cuộc đọ sức giữa Việt Cộng một bên và các chiến sĩ tự do bên kia; bên Việt Cộng quyết liệt đàn áp, bên các chiến sĩ tự do bình thản vào tù. Nhưng mọi người, kể cả những tên chánh án Việt Cộng, cũng biết lao tù không răn đe mà chỉ thúc đẩy thêm nhiều chiến sĩ tự do khác, ngày một đông hơn, cang cường hơn, oai hùng đứng lên.

Anh Phan Bảo Lâm, cư dân Thành Hồ viết thư hỏi đài BBC, cơ quan truyền thông đã phổ biến danh sách những người đoạt giải Hellman/Hammett của tổ chức Human Rights Watch, HRW, “Sao chỉ trao giải cho có 6 người thế? Người bất đồng chính kiến bị bắt, đã bị xử hay chưa bị xử, còn nhiều lắm. Ai cũng xứng đáng cả.”

Anh Lâm là một trong những tảng than đá, những gốc củi lớn, đang hừng hực cháy, nấu sôi sức mạnh bất bạo động của những vị anh hùng nhân quyền, khiến con số những chiến sĩ tự do được nhân lên hàng trăm ngàn lần; không chỉ một mình anh, mà rất nhiều người Việt Nam đang nghĩ như anh, tin tưởng như anh là những người xứng đáng được vinh danh còn nhiều lắm; HRW không vinh danh hết nổi, mặc dù họ đã vinh danh 6 người Việt Nam trong danh sách toàn thế giới chỉ có 37 người. Một tỉ lệ khá cao.
Việt Cộng cũng đồng cảnh với HRW: chúng không đàn áp xuể.
Một độc giả khác của BBC, anh, hay cô, ký tên là abc, cư dân tỉnh Ðồng Nai viết, “Chúng ta nên trân quý những gì mà những người được giải (và cả những người tranh đấu khác) đã và đang làm. Trước đây, để xóa bỏ chế độ thực dân thối nát, đã có rất nhiều người Việt Nam yêu nước bị bắt bớ, giam cầm, thậm chí bị giết, bị thủ tiêu.

“Vào thời điểm đó và ngay cả bây giờ, hành động của họ giống như "lấy trứng chọi với đá" nhưng họ vẫn làm, vì họ mong rằng một ngày nào, chế độ thối nát đó sẽ được thay thế không phải bằng một chế độ khác.”
Một trong những người được giải, ông Nguyễn Thượng Long, cựu giáo viên trung học, đang bị quản chế tại gia, nói với đài BBC rằng ông chỉ biết ông được giải thưởng năm nay (2009) nhờ đọc tin trên mạng internet.
Ông nói cho đến ngày 14 tháng Mười 2009, ông vẫn chưa nhận được liên lạc trực tiếp của HRW.

Ông nói thêm: “Tôi rất ngỡ ngàng. Bên cạnh vinh dự cho cá nhân tôi, đây còn là phần thưởng cho cả một cộng đồng tranh đấu.” Ông nói mà không sợ những trừng phạt hậu quả sẽ đến.
Một người khác được giải, cô Phạm Thanh Nghiên, bị bắt từ tháng Chín 2008, bị tạm giam tại Hải Phòng, và vừa lãnh án.

Nói với BBC, bà Nguyễn Thị Lợi, thân mẫu cô Phạm Thanh Nghiên, cho biết từ khi con bà bị bắt, đến khi bị kết án bà không được thăm nuôi lần nào, mà “chỉ được tiếp tế, gửi quà bánh”. Thiếu thăm nom, không được nhìn mặt con, nhưng bà Lợi vẫn khăng khăng nói, “Con gái tôi vô tội.”
Không chỉ riêng cô Nghiên anh thư, mà bà Lợi, mẹ cô, cũng sắt đá, kiên cường. Bà kể thư từ của con từ trong tù gửi ra, được nhân viên công an mang đến nhà, nhưng “họ chỉ đọc cho tôi nghe, tôi xin lại lá thư thì họ không cho”.


Thân mẫu cô Phạm Thanh Nghiên cho biết nếu được gặp mặt con gái, bà sẽ thông báo cho con biết ngay về giải thưởng. Cô Nghiên hay bà Lợi là hiện thân cho tình quê hương, và ngọn lửa nung nấu cho mối tình đó sôi sục. Hay cả hai cùng là hai sức mạnh tuyệt với đó?

Trong khi đó, ông Vi Đức Hồi, cựu đảng viên Cộng sản, nói rằng "còn nhiều người khác xứng đáng được giải"; ý ông muốn nói là xứng đáng hơn ông. Ông Hồi nói tiếp, “Tôi tham gia phong trào dân chủ mới đây, chưa đóng góp gì nhiều. Có lẽ vì tôi là người dân tộc thiểu số ở vùng núi phía Bắc, đã phải chịu nhiều áp lực cho cả bản thân và gia đình, vì thế họ (HRW) đã ưu ái dành cho tôi phần thưởng.”Anh, hay cô, Bình Minh, cũng một cư dân Thành Hồ, viết, “Cám ơn tổ chức theo dõi nhân quyền HRW đã quan tâm đến những người dũng cảm.

“Ít ra đây cũng là một chút ủi an, đền bù cho những gì họ đã hy sinh, mất mát khi dám đứng lên và đấu tranh cho quyền con người trong lúc hầu hết người dân chỉ dám nghĩ nhưng không dám làm như vậy.”
Chỉ viết thư tán đồng việc làm của những chiến sĩ nhân quyền, Bình Minh cũng đã tiếp tay với cuộc đấu tranh chung rồi.
Anh Hoàng Việt, một cư dân khác tại Thành Hồ, viết, “Tôi vừa nhận được tin tức về giải thưởng nhân quyền. Hàng triệu người Việt Nam cũng vừa nhận được tin này. Và đây là một vinh dự lớn lao cho chúng ta, những người dám dấn thân đòi hỏi nhân quyền giữa một chế độ độc tài cộng sản với tất cả công cụ chuyên chính vô sản vĩ đại nhất, tốn kém nhất, từ con chó nghiệp vụ đến chú công an, từ bộ máy tuyên truyền đến các lao tù, từ tờ hộ khẩu cho tới bản lệnh giải phóng mặt bằng giao mảnh đất ông cha để lại cùng với mồ mả cho đám tư bản đỏ kinh tài làm giầu cho tụi cán bộ, đảng viên.

“Trong số 37 người đại diện cho toàn thế giới có tới 6 người Việt Nam. Tỷ lệ này quá lớn nói lên tình trạng nhân quyền tại Việt Nam tồi tệ cỡ nào, và cũng nói lên ý chí mạnh mẽ của người Việt Nam bất khuất tới cỡ nào trước mọi hung tàn.

“Nhưng rồi có người lại hỏi tại sao kinh tế đi lên mà con người đi xuống, và rồi để tự trả lời là tại đất nước đang được điều hành bởi nhóm người nói ngọng: Họ không thể nói rõ được hai chữ Tổ Quốc, và không thể định nghĩa nhà nước pháp quyền vì đã quen ngọng thành ra "pháp quyền xã hội chủ nghĩa".- Thảo nào Phan Bảo Lâm tìm mãi không ra thứ nhà nước này.”


Blogger Điếu Cày, 57 tuổi, hiện đang thi hành án tù hai năm rưỡi vì tội trốn thuế. Thượng tọa Thích Thiện Minh, 56 tuổi, đã ngồi tù 26 năm từ 1976-2005 vì chống đối nhà nước. HRW nói hiện ông vẫn bị quản chế, giống nhà giáo Nguyễn Thượng Long và ông Vi Đức Hồi. Ông Hồi giải thích rằng ông bị quản chế từ đầu năm 2007, sau khi bị khai trừ khỏi Đảng Cộng sản vì ông viết nhiều bài chỉ trích Ðảng.
Vi Đức Hồi nói, “Bao giờ cũng có một công an viên ở ngoài cửa, theo dõi khách đến nhà, xem tôi đi đâu, gặp ai.
"Bình thường, họ không làm khó gì tôi. Chỉ khi đất nước có những sự kiện đặc biệt ví dụ Quốc khánh, hay có đoàn khách nước ngoài, họ gắt gao hơn."
Ông Hồi nói trước khi diễn ra các vụ xử chín người bất đồng chính kiến mới đây, ông được triệu tập lên cơ quan công an làm việc trong những ngày diễn ra các phiên xử.
Ông nói thêm việc nhận giải khiến ông thấy "trách nhiệm của mình nặng nề hơn".
"Để ngang tầm với phần thưởng, tôi phải tự mình cố gắng nhiều hơn để đóng góp cho phong trào dân chủ," ông Hồi nói.
Ông Nguyễn Thượng Long cũng quan niệm tương tự:
"Đây là vinh dự cho những người dấn thân vì lý tưởng. Phong trào dân chủ dù gặp khó khăn nhưng sớm muộn, những gì nhân loại văn minh được hưởng, nhân dân Việt Nam cũng sẽ được hưởng," ông Long nói.
Ðứng bên ngoài nồi xúp de, ngoại trưởng Hoa Kỳ, bà Clinton, cũng lên tiếng làm lửa nấu cho hơi nước bên trong tạo sức ép mạnh hơn: "Chúng tôi đã công khai phản đối việc bắt giữ, kết tội và cầm tù không chỉ các blogger ở Việt Nam, mà cả một số nhà sư Phật giáo và những người bị sách nhiễu.

"Việt Nam đã đạt nhiều tiến bộ... nâng cao mức sống của người dân. Và nhà nước không nên lo ngại những bình luận trong nước. Tôi muốn thấy có thêm các cuộc tranh luận của chính quyền với những người họ không đồng ý."
Bà nói bà "hy vọng Việt Nam sẽ đi theo hướng đó, vì tôi nghĩ nó thích hợp với tiến bộ kinh tế mà chúng tôi chứng kiến tại Việt Nam mấy năm qua."
Bà Clinton không ý thức được là cuộc thảo luận về tình hình chính trị tại Việt Nam hiện nay đang được đặt dưới 3 góc nhìn khác nhau: trong góc nhìn thứ nhất, góc nhìn bàng quang của những chính khách vô can như bà, tình hình chính trị Việt Nam là những điều nên bàn, nên công khai thảo luận để tìm lối thoát hợp lý nhất, trong góc nhìn thứ nhì, góc nhìn chủ quan của những chiến sĩ dân chủ đang đấu tranh cho tự do và nhân quyền thì vấn đề chính trị tại Việt Nam là vấn đề phải được thảo luận đến nơi, đến chốn, và nếu cần, phải thay đổi; góc nhìn cuối cùng là góc nhìn của Việt Cộng, chúng thấy thảo luận về chính trị là điều tối kỵ, tối nguy hiểm, vì chúng sẽ đuối lý ngay trong vòng đầu.
Chúng ngăn cấm blog, mạng, báo chí tư nhân là để trốn thảo luận chính trị. Và bế tắc này khiến chúng hình sự hóa mọi khác biệt quan điểm, chỉ cần nghĩ khác chúng thôi, cũng đủ là tội đại hình.
Chúng không thể thay đổi, dù cái nồi xúp de chúng siết quá chặt, bưng bít quá kín sắp nổ tung.

Nguyễn Ðạt Thịnh

Posted: Thu Feb 11, 2010 6:30 am
by thienthanh
Tham Nhũng Và Khoảng Cách Cuộc Sống Ở Việt Nam

Bùi Thanh Sơn

Khoảng cách giữa người giàu và người nghèo, người có thế lực và người đối diện kể từ khi nước này bước vào công cuộc đổi mới kinh tế ở cuối thập niên 80 ngày càng xa. Các cuộc điều tra tham nhũng gần đây một lần nữa làm nổi bật những bức xúc trong quan hệ xã hội mà đảng cộng sản và nhà nước Việt Nam hiện phải tìm cách giải quyết. Một bài báo của phóng viên thường trú tại Hà Nội của tờ báo Mỹ Boston Globe đã đề cập tới vấn đề này. Bài báo của phóng viên Matt Steinglass có tựa đề Corruption Probes Are Stain for Vietnam’s Leadership đăng trên Boston Globe ngày 21 tháng 10. Mở đầu bài báo là đoạn nhắc lại scandal gây xáo trộn dư luận ở Việt Nam tháng rồi. Mai Thanh Hải, con trai Thứ trưởng Thương mại Việt Nam , Mai Văn Dậu, là khách quen tại các hộp đêm đắt tiền ở thủ đô Hà Nội. Nhân vật 32 tuổi làm việc ở bộ Thương mại, sống trong một ngôi nhà có trị giá 1,5 triệu mỹ kim. Ông và vợ, một cựu hoa hậu, đi lại trong thành phố bằng chiếc ôtô màu đen hiệu Lexus, cuộc sống hào nhoáng của ông Hải chấm dứt vào ngày 30 tháng 9 năm 2004 khi ông bị bắt trong một cuộc điều tra về cáo giác tham nhũng trong việc phân phối quota dệt may xuất khẩu sang Hoa Kỳ.

Ðây là một trong nhiều vụ tham nhũng lớn ở Việt Nam trong mấy tháng qua liên quan đến bộ Thương mại, bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tổng công ty dầu khí và tổng công ty Hàng hải. Các cuộc điều tra đã làm nổi bật những căng thẳng mà chủ nghĩa Tư bản và toàn cầu hóa đang tạo ra ở đất nước vẫn theo chủ nghĩa Cộng sản này.

Ông Trịnh Duy Lân, Giám đốc viện Xã hội học nói với phóng viên Matt Steinglass là người dân cảm thấy ‘‘phẫn nộ’’ vì các scandal tham nhũng kể từ năm 2002, khi hiệp ước Thương mại Việt Mỹ đi vào hiệu lực, xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang Hoa Kỳ đã tăng vọt, ước tính lên đến 2,4 tỷ mỹ kim vào năm 2004, hạn ngạch quota mà Hoa Kỳ áp đặt cho được đưa ra vào tháng 7 năm 2003. Trách nhiệm phân bổ quota thuộc thẩm quyền của bộ Thương mại Việt Nam . Mỗi công ty nhận được quota dựa trên tổng số mà chỉ có các quan chức chính phủ nắm rõ. Trên nguyên tắc, số lượng quota được cấp theo năng lực sản xuất của đơn vị xin quota. Một số phúc trình của giới chuyên gia ngoại quốc xác nhận tình trạng mua bán quota đã tồn tại từ nhiều năm qua. Theo bài báo của phóng viên Matt Steinglass ‘‘một công ty may mặc gặp khó khăn với quota là Park’s Manufacturing, một liên doanh Việt Mỹ ở Hà Nội. Chủ tịch công ty người gốc Hàn quốc là ông Park Chung Mahn nói công ty ông xuất khẩu 140.000 tá áo sang Hoa Kỳ năm 2002’’nhưng khi hạn ngạch nhập khẩu của Hoa Kỳ có hiệu lực vào tháng 6 năm 2003, Park’s Manufacturing không nhận được quota nào từ bộ Thương mại. Một viên chức của công ty Park’s Manufacturing, yêu cầu dấu tên nói ‘‘chúng tôi có 700 nhân công ngồi chơi xơi nước. Chúng tôi không thể trả lương cho họ, làm thế nào họ có thể nuôi gia đình ?’’. Công ty Park’s Manufacturing thừa nhận đã có việc hối lộ xảy ra nhưng nói tiền không phải do công ty chi. Họ nói việc hối lộ là hành động cá nhân của một nhân viên, người này mượn tiền từ gia đình ông ta. Nhưng báo chí Việt Nam tường thuật là công ty Park’s Manufacturing đã gởi 100.000 mỹ kim cho một người trung gian, sau đó người này đề nghị trả cho ông Mai Thanh Hải 30.000 mỹ kim để giải quyết vụ quota. Ðối tác Mỹ của công ty không chấp nhận hối lộ và người nhân viên đã lấy lại món tiền và trình báo sự việc cho nhà chức trách. Người nhân viên bị buộc rời khỏi công ty nhưng không phải chịu cáo buộc pháp lý. Các khiếu nại tương tự từ nhiều công ty đã dẫn đến một cuộc điều tra của bộ Công an. Bốn viên chức bộ Thương mại, trong đó có ông Hải và 8 người khác bị bắt, không có người Mỹ nào bị vướng vào vụ này. Chính phủ Việt Nam đã cam kết loại bỏ tham nhũng, họ vừa lập một nhóm liên bộ để theo dõi việc phân bổ quota. Vào ngày 25 tháng 10 vừa qua, Thủ tướng Phan Văn Khải loan báo việc thành lập một cơ quan điều tra tham nhũng. Các viên chức ngành dệt may ca ngợi chiến dịch của Việt Nam và liên kết nỗ lực trong sạch hóa hệ thống quota với viễn ảnh cạnh tranh gay gắt vào năm tới trong ngành dệt may thế giới. Kể từ 1 tháng 1 năm 2005, quota xuất nhập khẩu dệt may giữa các nước thuộc tổ chức WTO sẽ không còn nữa, nhưng do Việt Nam chưa phải là thành viên của tổ chức này nên các công ty Việt Nam sẽ hứng chịu cạnh tranh gay gắt từ các đối thủ, đặc biệt là Trung quốc.

Nếu quota là trở ngại cho các nhà sản xuất dệt may Việt Nam thì quota lại là lộc trời cho những người cấp giấy phép. Người ta cũng được biết thêm về đời sống xa hoa của Mai Thanh Hải con ông Thứ trưởng Mai Văn Dậu. Hải là trường hợp mới nhất được nêu tên trong nhóm con cái của những người có thế lực dính vào scandal ở Việt Nam . Năm ngoái, sau một vụ đua xe trái phép ở Sài Gòn, phương tiện truyền thông trong nước tường thuật con trai của một ông lớn bị bắt nhưng không bị truy tố. Năm 2002, con trai một quan chức trong bộ Giao thông Vận tải bị bắt khi đang cãi nhau với công an ở Hà Nội, có tin nói rằng người này khi đó hét ‘‘Mày không biết cha ông là ai à?’’.

Những scandal như thế góp phần vào không khí xa hoa ở thủ đô. Những ngôi nhà lớn mọc lên ở các khu vực quanh Hồ Tây, nhưng thường khó mà biết chắc ai sở hữu chúng, cũng như khó biết ai sở hữu các khách sạn và hộp đêm sang trọng. Một chủ nhà hàng người Mỹ, muốn dấu tên, nói rằng sẽ không ai nói với ông về cách thức xài tiền của người giàu Việt Nam , họ không thích phô trương tài sản trước công chúng.



Sang năm 2005, Việt Nam sẽ kỷ niệm 30 năm chiếm được Sài Gòn. Ðây là cơ hội cho thế giới bên ngoài hiểu thêm về một nước Việt Nam mới. Ðối với một số người Tây phương, cuộc chiến Việt Nam đã để lại những ấn tượng không hoàn toàn chính xác về một đất nước, theo họ chỉ có toàn nông dân đội nón lá và cảnh chiến trường tan tóc. Thế nhưng ngày nay Việt Nam đang là nước có nền kinh tế năng động nhất trong vùng với mức tăng trưởng hàng năm vào khoảng 7% và Sài Gòn hiện là một trong những thành phố nhộn nhịp nhất tại Ðông Nam Á.

Xuất khẩu tăng mạnh với các mặt hàng gia công chiếm tỷ lệ cao như quần áo, giày dép và đồ gỗ. Ðầu tư nước ngoài cũng đang đổ vào các lãnh vực như đồ điện tử và chế tạo ôtô. Theo Giám đốc phòng thương mại Ðan Mạch tại Hà Nội là ông Preben Hjortlund thì Việt Nam ngày nay đang đi theo con đường của Nam Hàn. Ông Preben dự đoán rằng trong tương lai Việt Nam sẽ đạt được mức tăng trưởng kinh tế còn cao hơn bây giờ.

Hai cuộc chiến chống lại người Pháp và người Mỹ đã để lại hậu quả to lớn tại đất nước này. Sau năm 75, Việt Nam rơi vào trạng thái bị cô lập kinh tế do lệnh cấm vận của Hoa Kỳ. Chính vào lúc đó Việt Nam rơi vào thế kẹt giữa một bên là ý thức giáo điều của chủ nghĩa cộng sản và cuộc chiến biên giới với Trung quốc ở phía Bắc và Campuchia ở phía Nam. Quan hệ giữa hai nước Việt Nam và Hoà Kỳ bị đóng băng trong gần 20 năm, thế rồi vào năm 1986 với một ban lãnh đạo mới lên ngôi, những người quyết tâm theo đuổi đường lối giống như Trung quốc, Việt Nam đã gạt sang một bên những giáo điều của ý thức hệ, bắt tay vào theo đuổi kinh tế thị trường. Người Việt gọi chính sách này là Ðổi Mới và các nhà quan sát nước ngoài cho rằng chính sách này hiện đang thu hái được kết quả.

Nguyễn Quốc Khánh, Giám đốc công ty kiến trúc AA, là một ông chủ thuộc thế hệ mới của Việt Nam . Công ty của ông thành lập tại Sài Gòn 10 năm trước đây và ông Khánh hiện đang mướn tới 1700 nhân công tại các xưởng làm đồ nội thất và kiến trúc của AA. Công việc kinh doanh của ông ta tăng trưởng mạnh vì sự gia tăng của tầng lớp trung lưu với túi tiền rủng rỉnh để tiêu xài tại Việt Nam . Trong quá khứ các khách hàng của ông Khánh là những Việt kiều hay người nước ngoài giàu sang, còn hiện nay ông đang thiết kế các phòng ở loại sang và văn phòng cho các khách hàng giàu có người Việt. Công ty của ông Khánh cũng tham gia vào các dự án thiết kế nội thất cho các khách sạn và nhà hàng nổi tiếng trên thế giới tại Srilanka và Luân Ðôn. Bước kế tiếp của ông là tìm cách đánh vào thị trường mà ông cho là giàu sang tại Pháp. Ông Khánh nói ‘‘công việc làm ăn hiện đang tốt, lương tôi trả cho công nhân tại Việt Nam chỉ vào khoảng 60-80 mỹ kim, tức còn rẻ hơn ở Trung quốc’’.

Giới lãnh đạo cộng sản Việt Nam khuyến khích doanh nghiệp và người dân làm giàu, tuy nhiên họ không tha thứ cho những ai có tư tưởng bất đồng hay chỉ trích chính phủ vì theo họ nếu như đổi mới là nâng cao đời sống của người dân thì những gì đang làm là đủ lắm rồi. Tuy nhiên nếu như đổi mới bị khựng lại, điều này có thể thay đổi.

Tham nhũng và tệ nạn bè phái đã xuất hiện tương đối nhiều trong thời gian qua và điều này có thể đe dọa tới kế hoạch phát triển kinh tế của chính phủ. Ngân hàng thế giới đã cảnh báo về gian lận trong chương trình tư nhân hóa hay cổ phần hóa tương đối lớn hiện đang diễn ra tại Việt Nam . Nhiều quan chức cao cấp của chính phủ tại một số bộ quan trọng đã bị bắt hay cho thôi việc. Việt Nam có thể học hỏi bài học từ các nước Trung âu như Cộng hòa Czech, nơi nền kinh tế kế hoạch sang kinh tế thị trường. Lý do là do điều hành yếu kém cộng với tham nhũng trong tiến trình cổ phần hóa và rất có thể Việt Nam cũng sẽ phạm phải lỗi lầm này.

Lương Văn Lý, một trong các quan chức của sở Kế hoạch và Ðầu tư của Sài Gòn. Ông là một trong những quan chức có đầu óc cởi mở trong tiến trình đổi mới. Ông Lý nói đảng Cộng sản tại Việt Nam đang hô hào chống tệ nạn tham nhũng và ông đã trích lại khẩu hiệu của Ðảng trong việc xác định trách nhiệm đó là ‘‘Dân biết, dân bàn, dân kiểm tra’’. Ông Lý nói hiện nay mọi người có vẻ chấp nhận rằng ‘‘Kinh tế tăng trưởng nhanh sẽ luôn tạo ra cái hố ngăn cách giàu nghèo, giữa những người giàu có và những người nghèo khó’’. Giai đoạn hiện nay của đổi mới là đưa ra các biện pháp tự do thị trường hơn nữa để thu hút vốn đầu tư nước ngoài.

Tháng 10 vừa qua, Việt Nam đã hoàn tất đàm phán với Liên hiệp Âu châu trong việc gia nhập WTO. Việt Nam nay có thể được coi như một trong những quốc gia có nền kinh tế thương mại có tiềm năng và tương đối trưởng thành. Ðất nước này vẫn đang còn nghèo và phải cần nhiều năm để hiện đại hóa hạ tầng cơ sở và chắc chắn họ sẽ rất cần đến các nguồn vốn từ ngoại quốc để làm chuyện này.

Bằng cách đẩy nhanh quá trình đổi mới, đảng Cộng sản Việt Nam tự hào đã giành được phần thắng trong chiến tranh thì nay liệu họ có khả năng để thắng một lần nữa trong hòa bình hay không ?.

Posted: Sat Feb 13, 2010 2:27 am
by vuphong
Ôm bám hệ thống độc quyền
Thursday, February 11, 2010

Ngô Nhân Dụng

Việt Nam mới giảm giá đồng tiền so với đô la Mỹ, lần thứ hai kể từ tháng 11 năm ngoái. Kể từ tháng 6, năm 2008, thì đây là lần thứ tư đồng bạc Việt Nam bị phá giá. Ðồng tiền bị áp lực của thị trường chợ đen đẩy xuống, trong khi hối suất chính thức là 17,941 đồng lấy một đô la thì chợ đen trả gần 19,250 đồng. Chính quyền cộng sản muốn thu đô la vào hệ thống ngân hàng; tăng giá Mỹ kim để những người có đô la đem tiền Mỹ tới đổi cho các ngân hàng thương mại, thay vì đem đổi chợ đen được giá lời hơn. Sau khi bị phá giá hai lần trong ba tháng, bây giờ ở các ngân hàng giá chính thức đồng đô la cũng lên tới 19,100 đồng.

Nhưng liệu đảng Cộng Sản có đạt được mục đích gom đô la vào trong các ngân hàng hay không? Tổng giám đốc Ngân hàng Sacombank cho biết trong năm 2009 đã chuyển gần một tỷ đô la (850 triệu) tiền do người Việt ở nước ngoài gửi về, nhưng chỉ có 10% số tiền đó được những người nhận tiền bán lại cho ngân hàng này - tức là 90% những đồng đô la gửi về Việt Nam ra đi theo con đường tìm về chợ đen. Nhà nước cộng sản hoàn toàn bất lực không thể ngăn cấm chợ đen. Không thể đem công an ra đứng chỉ đường bắt đô la Mỹ phải đi theo chỉ đạo của đảng. Những người tổ chức chợ đen mạnh hơn cả công an, họ có thể chính là công an cùng với những kẻ nắm đầu công an!

Việc tăng hối suất của đồng đô la cho bằng giá chợ đen khó thu tiền Mỹ về cho các ngân hàng. Vì khi có những người cần đi mua đô la ở chợ đen vì những lý do riêng, họ sẽ sẵn sàng trả giá cao, thì sẽ có người bán đô la ở chợ đen. Những lý do riêng đó là gì? Có hàng ngàn lý do khác nhau trong một nền kinh tế mờ mờ ảo ảo, đa số những người kiếm nhiều tiền nhất không phải vì họ làm ăn, kinh doanh giỏi, thành công, mà vì những lý do khác! Những người đó có đủ lý do để che giấu những đồng tiền kiếm được, mà một cách giấu rất tiện là đổi lấy đô la Mỹ rồi đem chuyển dần dần ra nước ngoài mà không phải đi qua hệ thống ngân hàng chính thức.

Người ta càng ngần ngại đem tiền Mỹ đến gửi tại ngân hàng, vì lãi suất cho tiền đô la ký thác chỉ có 1%. Khi còn nhu cầu đổi tiền chợ đen thì rất nhiều người sẽ sẵn sàng đóng vai “ngân hàng đen,” tức là giữ đồng đô la, để chờ ngày đem ra đổi, biết thế nào giá cũng sẽ tăng lên. Họ chỉ cần nhìn vào cung cách quản lý nền kinh tế của đảng Cộng Sản Việt Nam là đoán được rằng giá đồng đô la sẽ còn tăng nữa.

Có nhiều lý do khiến đồng bạc Việt Nam xuống giá. Khi mối đe dọa lạm phát vẫn còn treo trên đầu mọi người, thì đứng trước viễn ảnh giá sinh hoạt sẽ tăng tâm lý chung của người dân là có đồng nào đem tiêu xài ngay, kẻo mai mốt tiền sẽ mất giá. Riêng tâm lý lo sợ đó cũng khiến lạm phát trở thành sự thật; vì khi mọi người thi đua đi mua sắm thì giá cả tất phải tăng lên! Hàng nhập cảng vào Việt Nam, dù hàng tiêu thụ hay các nguyên liệu dùng vào việc sản xuất, hầu hết phải trả bằng đô la Mỹ. Dù giá các món hàng đó không thay đổi trong thị trường quốc tế, nhưng khi đô la Mỹ lên giá đối với tiền Việt Nam thì tự nhiên đối với những người dân tiêu dùng tiền Việt các món hàng nhập cảng đều tăng giá hết. Khi nhà nước tăng giá đô la Mỹ, người dân sẽ thấy là mối lo lạm phát của mình có cơ sở vững chắc, họ càng tin tưởng thế nào lạm phát cũng còn lên nữa. Lạm phát ở Việt Nam năm 2007 có lúc đã lên tới 60% một năm, năm 2008 giảm xuống còn 23%; năm ngoái đã giảm được xuống dưới 7%, nhưng các nhà kinh tế tiên đoán năm nay lạm phát sẽ lên trên 7%.

Như vậy thì giảm giá đồng bạc Việt Nam đối với đô la Mỹ để làm gì nếu số đô la thu vào các ngân hàng chưa chắc đã tăng mà mối lo lạm phát càng thêm nặng? Chúng ta khó biết những động cơ nào đưa tới các quyết định kinh tế của một nhà nước cộng sản. Họ thường quyết định trong vòng bí mật, với những lý do bí mật. Có một hồi ở bên Nga người ta làm luật cấm không cho dùng xe với bánh lái bên tay phải (Chỉ ở những nước luật đi đường bắt lái xe phía bên trái, như ở Anh Quốc, Thái Lan, Nhật Bản, thì bánh lái mới đặt bên tay phải; còn ở Việt Nam, Pháp, Mỹ, Nga, vân vân, dân lái xe đi bên phải thì bánh lái đặt bên trái). Sau khi đã làm luật cấm các loại xe bánh lái bên phải một thời gian, thì chính phủ Nga lại đổi luật, cho phép những chiếc xe nhập cảng từ Nhật Bản, Anh Quốc được lưu hành!

Tại sao họ quyết định cấm, rồi lại quyết định tha? Chỉ có thể giải thích rằng có một ông quan nào đó ra lệnh cấm để tất cả những chiếc xe cũ mua từ Nhật Bản đem về bị mất giá. Khi các xe đó xuống giá, ông và đồng đảng đi mua các loại xe đó cất đi. Bao giờ mua đủ, các ông đổi luật, giá xe tăng lên trở lại, một vốn bốn lời trong mấy tháng!

Rất khó tiên đoán được kinh tế các nước cộng sản, vì những quyết định của quan chức không căn cứ vào các quy luật thông thường. Quy luật quan trọng nhất của họ là chỉ quyết định điều gì khi chính bản thân mình, gia đình mình, và các đồng đảng ăn chia đều hưởng lợi.

Tham nhũng bằng cách ép người ta đưa tiền cho mình là loại tham nhũng tép riu, dành cho các chú công an, cảnh sát đứng đầu đường. Ðưa tiền trong bao thư ở văn phòng như trong vụ xa lộ xuyên Sài Gòn cũng là chuyện nhỏ. Hành động tham nhũng làm ra tiền nhiều nhất và chắc chắn nhất là thay đổi thủ tục, luật lệ và đưa ra các quyết định chính sách kinh tế. Ăn tiền kiểu đó hoàn toàn hợp pháp, mà lại chứng tỏ chính quyền “năng động” điều chính chính sách luôn luôn!

Nhưng thay đổi các chính sách nhỏ giọt theo lối cò con đó có ích lợi gì trong việc quản lý kinh tế nước ta hay không? Ông Trần Xuân Giá, một cựu bộ trưởng Kế Hoạch Ðầu Tư mới nói với tờ Thời Báo Kinh Tế rằng nhà nước cộng sản phải thay đổi toàn diện, vì “Cả tư duy và mô hình tăng trưởng hiện nay đã không còn phù hợp.” Ông Giá nhận xét, “GDP tăng chủ yếu dựa vào vốn đầu tư nhưng hiệu quả đầu tư ngày càng kém, năng suất lao động thấp, chi phí sản xuất, tiêu hao năng lượng trên một đơn vị sản phẩm tăng cao,...” Tình trạng phí phạm, mất mát đó là do hệ thống cai trị độc quyền của đảng Cộng Sản, không thể nào sửa được vì sửa là đụng tới toàn thể hệ thống cai trị.

Một mô hình được chế độ cộng sản áp dụng từ thời Phan Văn Khải, Võ Văn Kiệt tới nay, là tập trung tài nguyên quốc dân cho các doanh nghiệp nhà nước sử dụng, với những tổng công ty và các tập đoàn kinh tế mà các đảng viên cộng sản nắm giữ. Ðó là công cụ để đảng Cộng Sản chiếm độc quyền kinh tế thời xưa, nay vẫn còn giữ lại và củng cố cho lớn hơn. Những đại công ty này chỉ tạo được công ăn việc làm cho dưới 20% tổng số người lao động, nhưng được các ngân hàng của nhà nước trao cho 40% đến 45% tổng số vốn cho vay! Còn các xí nghiệp tư nhân, tạo công việc làm cho 80% người lao động thì bị ép khi cần vay vốn. Những người sử dụng vốn kém nhất thì lại được ưu đãi cho vay vốn; còn những người có khả năng, biết đem tiền đầu tư tạo ra nhiều của cải hơn thì phải đúng bên lề. Vì vậy, năng suất của cả nền kinh tế rất thấp, so với các nước khác.

Một chỉ số do năng suất chung của một nền kinh tế là tỷ lệ giữa số tiền cần đầu tư để tạo ra một đơn vị của cải mới. Nếu muốn tạo ra thêm một đồng trong Tổng Sản lượng Nội Ðịa mà anh cần 50 xu đầu tư, thì hiệu năng của anh thấp hơn một người chỉ dùng 10 xu cũng tạo thêm được một đồng trong GDP. Chỉ số 50% hay 10% trên đây gọi tên là ICOR (Incremental Capital Output Ratio); chỉ số này càng thấp chứng tỏ nền kinh tế càng có hiệu năng cao.

Chỉ số ICOR của Việt Nam rất cao, trung bình là 5.2, tức là cần 5.2 xu đầu tư mới tạo thêm được một đồng của cải mới trong GDP. Nam Hàn, vào các thập niên 1960, 70 có chỉ số ICOR là 3, chỉ cần 3 xu đầu tư cũng tăng thêm được một đồng của cải mới. Trong thời gian đó, kinh tế Nam Hàn tăng lên với tỷ số 7, 9% một năm, còn Việt Nam mấy năm nay chỉ tăng với tốc độ 7.7%. Thái Lan trong giai đoạn kinh tế đang lên như vậy cũng tăng nhanh hơn, 8.1% một năm, mà chỉ số ICOR cũng tốt hơn Việt Nam, chỉ có 4.1.

Tại sao kinh tế Việt Nam hiệu năng yếu kém như vậy? Không phải vì người Việt Nam làm việc kém thông mình hay là vốn tính lười biếng. Lý do chính là hệ thống kinh tế độc quyền của đảng Cộng Sản chỉ ăn bám vào nền kinh tế chứ không đóng góp cho Tổng Sản Lượng Nội Ðịa bằng số tài nguyên mà họ rút ra dùng. Trước đây các nước Nga và Ðông Âu sụp đổ cũng vì tình trạng đó. Nhưng nay đảng Cộng Sản Việt Nam không lo, dù kinh tế yếu kém, các cán bộ và lãnh tụ vẫn ăn no và làm giầu. Ai muốn xin cho dân được hưởng thêm chút quyền dân chủ tự do thì bắt bỏ tù!

Ngoài ra, bọn tham quan ô lại khiến cho các nhà kinh doanh tư ai cũng phải đóng thêm những thứ thuế ngoài lề, tức là tiền hối lộ. Tham nhũng, hối lộ là những cản trở nặng nề cho sự phát triển kinh tế.

Tại sao đảng Cộng Sản cứ bám lấy các doanh nghiệp nhà nước và bảo vệ hệ thống thư lại tham nhũng rút ruột kinh tế cả nước? Bởi vì họ không biết một đường nào khác ngoài hệ thống cai trị từ thời Hồ Chí Minh để lại. Rời bỏ hệ thống cai trị độc quyền thì không những các lãnh tụ cộng sản sợ bị mất tiền, mất quyền, mà còn lo mất mạng và con cháu bị mang họa nữa. Cho nên ngay bây giờ đã có phong trào chuyển của cải ra nước ngoài, chuyển cả gia đình, con cháu sang các nước Âu, Mỹ, Úc. Những người Việt làm ăn lương thiện có chút tiền nhìn vào cảnh đó cũng lo đi sang các nước Âu, Mỹ sinh sống. Làm sao chuyển tiền bạc từ Việt Nam ra ngoài? Phải đổi lấy đô la Mỹ. Ðó là lý do chợ đen đô la không thể nào biến mất được. Nó đáp ứng nhu cầu của một chế độ vào lúc xế chiều ai cũng muốn chuyển tiền đi!

Posted: Mon Feb 15, 2010 5:39 am
by tranphuongdong
Tin Tức, Nhu Cầu Công Ích
Vi Anh
Muốn hay không muốn truyền thông đại chúng cũng đang đóng vai trò lớn không chối cãi được trong cuộc sống của thời đại này. Để một bên quảng cáo tràn ngập trên các loại hình truyền thông đập vào mắt vao tai mỗi người một ngày không biết bao nhiêu lần, còn có thông tin, nghị luận, và giải trí có thể nói quá phong phú đến thừa mứa nữa. Tạm lấy người Mỹ như một điển hình tiên tiến trong thời đại truyền thông đại chúng vì muốn hay không muốn người Mỹ là người sử dụng và hưởng dụng truyền thông đại chúng nhiều nhứt. Để từ đó thử phân tích tin tức là một thứ giải trí hay là một nhu cầu công ích.

Một, khảo nghiệm của đại học cho biết người Mỹ là người dùng truyền thông nhiều nhứt. Dùng hai phần ba thời gian thức để vô Internet, xem TV, nghe nhạc, hay nói điện thoại. Vừa vào Internet vừa làm việc khác như xem truyền hình, nghe nhạc, xem thư. Đó là kết quả do Trung tâm nghiên cứu của Đại học Indiana làm một cuộc khảo sát khoa học và công phu. Mỗi người đồng ý cho khảo nghiệm được gắn một máy đặc biệt ghi nhận cứ 15 giây một lần những hoạt động suốt 12 tiếng đồng hồ một ngày, tổng cộng 5.000 giờ, với 400 cư dân đồng ý cho khải nghiệm ở vùng Trung Tây nước Mỹ. Kết quả cho biết trung bình một người Mỹ sử dụng 30% thời gian thức để tiếp cận với truyền thông và 20% để làm việc. Theo nhận xét của Giám đốc Trung Tâm là Ô Michael Bloxham, tham khảo truyền thông có nghĩa thí dụ như xem TV, nghe radio, đọc báo. Kết quả này không có gì đáng ngạc nhiên, nó xác nhận khuynh hướng chung rất phù hợp với những khảo nghiệm những năm trước đây; nó cũng xác nhận vai trò rộng lớn của truyền thông trong đời sống của người Mỹ.

Khảo nghiệm cũng cho biết trong việc tiếp cận truyền thông đại chúng, có hai loại người. Loại thứ nhứt xem truyền hình trung bình 240 phút (4 giờ đồng hồ) một ngày. Loại thứ hai xem computers 135 phút (2 giờ 15 phút) một ngày. Loại hai xem những gì trình bày, loan tải trên mạng qua Internet, như điện thư, điện tín khẩn, báo chí, nhạc. Và có một điều ngạc nhiên đầy thích thú là thời gian xem computers theo khảo nghiệm bằng với thời gian nghe nhạc mỗi ngày, nghe từ nhiều thứ máy, như radio, nhạc phát từ nhiều chương trình trên mạng.

Và càng thích thú hơn, có người vừa tiếp cận truyền thông vừa làm việc khác. TV là loại hình truyền thông người ta vừa xem vừa làm việc khác nhiều nhứt. Khảo nghiệm kết luận dù thời gian tiếp cận với computers ngày càng tăng, nhưng loại hình truyền thông người ta dành thời giờ cho nhứt vẫn là TV.

Hai, tiếp cận với truyền thông chánh yếu để giải trí và biết tin tức. Vậy tin tức là một trò giải trí hay một nhu cầu vì công ích. Theo Jim Lehrer, một người dẫn chương trình đáng kính của truyền hình PBS, được mời chất vấn ứng cử viên tổng thống nhiều lần, khẳng định tin tức không phải là một thư giải trí, mà là một nhu cầu công ích. Cơ quan truyền thông vì thế không phải là nơi làm kỹ nghệ giải trí. Nhưng Victoria Corderi, người dẫn chương trình Dateline của Truyền hình hình NBC nói ngược lại, tin tức là một thứ giải trí.

Bất đồng ý kiến này có lý do. Truyền thông đại chúng bây giờ so với 20 năm trước phát triển thành nhiều loại, báo chí, phát thanh, truyền hình, websites, blogs, v.v. Khán thính giả rộng đường thông tin nghị luận, nhưng cũng có thể tạo cho mình một ốc đảo quan điểm lập trường, cái gì thích thì nghe nhìn, cái gì không thì bỏ qua. Và khuynh hướng này thấy rõ ở Quốc Hội, tả là tả, hữu là hữu, không thỏa hiệp. Điều này không tốt cho chánh quyền dân chủ là chánh quyền cần thỏa hiệp và kềm chế lẫn nhau. Vậy tin tức đúng là một nhu cầu công ích để người nghe nhìn có dữ kiện để so sánh, nhận định, tự chọn cho mình một quyết định. Chính vì vậy hơn bao giờ hết, trong thời đại này, tin tức vô tư, trung thực, chính xác, kịp thời là một nhu cầu công ích để tạo niềm tin - là cần thiết hơn bao giờ hết.
Nhưng càng ngày truyền thông càng tỏ ra không thành công với thiên chức đó. Nhiều xì căn đan xảy ra do chính nhà báo gây ra, trong những tơ báo lớn như USA Today, New York Times, và hệ thống truyền hình lớn. Nếu đà này tiếp diễn chắc chắn niềm tin của quần chúng sẽ bị xói mòn. Nhưng truyền thông đại chúng cũng gặïp vô vàn khó khăn do thời đại gây ra. Nhiều bàn tay đang trói chặc truyền thông. Độc giả báo ngày càng bớt. Quảng cáo là nguồn lợi lớn nhứt cho đời sống vật chất của truyền thông. Thêm vào đó một người chỉ cần có một máy quay phim, đóng một số tiền nhỏ mua vùng trên Internet là có thề làm ra vô vàn tin tức.

Chính trong cảnh vàng thau lẫn lộn đó, tin tức đúng hơn lúc nào hết tỏ ra vô cùng thiết yếu, như nhu cầu công ích vậy. Đúng theo nghĩa truyền thống là vô tư, độc lập, trung thực, chính xác và kịp thời. Quần chúng cần những thứ đó để biết sự thật. Do vậy tin tức không thể là một trò giải trí. Tin tức là tin tức. Nó có thể tốt, làm vui với người, phe đảng này, nhưng xấu, làm bực người, phe đảng khác. Nhưng cái giá trị cốt yếu của nó là sự thật. Bóp méo sự thật dù một chút thôi để làm vừa lòng phe đảng nào đó, như một thứ giải trí thì tin tức không còn là tin tức nữa, không phục vụ nhu cầu công ích nữa.

VI ANH

Posted: Thu Feb 18, 2010 4:35 am
by hoanghoa
Phật hay Chúa cũng phải đăng ký
Tuesday, February 16, 2010

Ngô Nhân Dụng

Người ngoại quốc coi bản hiến pháp nước Mỹ có thể ngạc nhiên khi đọc Tu chính án số một. Tu chính án này viết, “Quốc Hội không được phép soạn một đạo luật nào để thiết lập một tôn giáo (chính thức) hoặc ngăn cấm việc hành đạo của tôn giáo; hay ngăn cấm quyền tự do ngôn luận, hay tự do báo chí; hoặc cản trở tự do ngôn luận hoặc tự do báo chí; hay quyền của các công dân được hội họp một cách ôn hòa, và quyền khiếu nại chính phủ để giải quyết những bất công.”

Tại sao các nhà lập pháp Mỹ lại phải soạn thêm tu chính án này (cùng 9 điều khác), gửi cho 13 tiểu bang để xin phê chuẩn?

Hiến Pháp Mỹ giống như một bản hợp đồng hơn là một tuyên ngôn chính trị. Các nhà lập hiến Mỹ chỉ chú trọng tới các phương thức hợp tác, giống như khi làm ăn chung, cho nên họ viết rành rõ về việc phân chia quyền hành và trách nhiệm giữa các ngành lập pháp, hành pháp, tư pháp, và giữa các tiểu bang với nhau. Sau khi bản Hiếp Pháp được 9 trong số 13 tiểu bang chấp thuận, năm 1788, chắc hẳn các đại biểu Quốc Hội bắt đầu lo lắng. Lo là trong tương lai có người nắm quyền lại vi phạm các quyền căn bản của các công dân; họ có thể dùng luật pháp, theo đúng hình thức dân chủ mà tước đoạt tự do của nhiều người. Như chúng ta biết, vào thế kỷ 20, chính quyền Ðức Quốc Xã được bầu lên theo đúng thể thức dân chủ, nhưng vẫn đưa ra những luật lệ tước đọa tự do của rất nhiều người!

Một mối lo của những nhà lập quốc Mỹ là nếu những người chiếm đa số trong dân chúng và nhiều phiếu trong Quốc Hội làm ra những luật lệ giảm bớt hay tước bỏ quyền tự do của những người thiểu số. Thí dụ, nếu các đại biểu của đa số dân theo một tôn giáo làm luật không cho phép các người theo đạo khác thực hành tín ngưỡng của họ thì sao? Quốc gia cần phải bảo đảm cho công dân một số quyền tự do căn bản, không ai được xâm phạm! Và phải ghi vào hiến pháp những điều bảo đảm đó mới được.

Cho nên các nhà lập pháp Mỹ, ngay từ khóa họp Quốc Hội đầu tiên, đã soạn thêm 10 tu chính án, cấm các Quốc Hội sau này không được vi phạm một số quyền căn bản của các công dân, gọi chung 10 tu chính án đó là Luật Dân Quyền (The Bill of Rights).

Ra tuyên ngôn nói rằng mọi công dân có quyền tự do tôn giáo, tốt lắm nhưng không đủ. Phải ghi rõ trong Hiến Pháp là Quốc Hội không được phép thiết lập một quốc giáo, cũng như không được làm ra luật lệ nào có thể làm cho người dân không sử dụng được quyền tự do tôn giáo của họ.

Lo xa như vậy rất có lý. Chỉ cần nhìn vào sinh hoạt tín ngưỡng ở nước Việt Nam ta cũng thấy. Tuy trong Hiến Pháp ghi đủ thứ thứ quyền tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, vân vân, đảng Cộng Sản và tay sai của họ là nhà nước và Quốc Hội đã làm ra những luật lệ khiến cho người dân không thể thi hành được các quyền tự do hiến định của họ. Nếu Việt Nam có một điều ghi trong hiến pháp giống như Tu chính án số một của Mỹ thì người mình sẽ không đến nỗi bị cấm đoán, trong nhiều trường hợp đã bị mất, không được thi hành những quyền tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận!

Hôm nay hãy lấy một ví dụ về tự do tín ngưỡng. Theo một bản tin của đài Á Châu Tự Do, bảy ngày trước Tết Canh Dần 2010, một buổi tối, chính quyền cộng sản trong tỉnh Cần Thơ đã tổ chức khám xét nhà riêng của một tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo, phá hủy nơi thờ phượng của một người tu tập tại gia. Họ đã lấy mất nhiều máy móc sao chép kinh kệ của ông Ðặng Văn Nghĩa ở phường Phước Thới, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ, tịch thâu những bức chân dung Huỳnh Giáo Chủ và những tấm vải điều mà các tín đồ Phật giáo Hòa Hảo thường trưng trên bàn thờ thay cho hình tượng.

Phóng viên đài Á Châu Tự Do đã phỏng vấn một người chỉ huy công an quận Ô Môn, ông này cho biết chính quyền cộng sản có những hành động đó vì ông Ðặng Văn Nghĩa và các đồng đạo của ông đã thờ Phật “tự phát” ở trong nhà mà không “đăng ký” với Ban Trị Sự Giáo Hội mà nhà nước cộng sản công nhận.

Viên công an cộng sản nói, “Bây giờ ảnh muốn tu thì ảnh phải tuân thủ theo pháp luật. Bây giờ (công an sẽ) hướng dẫn cho ảnh làm thủ tục để hợp thức hóa chuyện tu hành của gia đình ảnh.”

Ðây chính là một hiện tượng có thể cũng diễn ra ở nước Mỹ nếu không có Tu chính án số một. Một chính quyền Mỹ trong hai thế kỷ vừa qua có thể cũng chế tạo ra những thủ tục, luật lệ với mục đích hạn chế và ngăn cản quyền tự do tôn giáo của những người dân không “vừa ý” họ. Tại nước Mỹ vào thời lập quốc cũng có nhiều “ông đạo” tự mình đi giảng Kinh Thánh, quy tụ các tín hữu, đặt ra các giới luật, sáng lập ra các nhà thờ mới. Có những vị đã lập ra các giáo hội còn tồn tại đến ngày nay. Nếu ở nước Mỹ thời đó có một chính quyền nằm trong tay những đại biểu Quốc Hội cùng một một giáo hội lớn, họ có thể nghĩ rằng nên ngăn cấm các “ông đạo tự phát” đó, hoàn toàn vì thiện chí! Họ nêu lý do cần bảo vệ đạo đức, bảo đảm việc học hỏi Kinh Thánh theo đúng quy củ của các giáo hội đã có từ trước. Có thể người ta sẽ làm ra những luật lệ để ngăn cấm các hoạt động tôn giáo “không chính thống”! Nhưng nhờ có Tu chính án số một nên nước Mỹ không rơi vào cảnh đó. Không người Mỹ nào đi truyền giảng Kinh Thánh, hay bất cứ một tôn giáo nào khác, mà phải xin phép các ông ba công an cả!

Ở nước ta, chính quyền đã huy động cả một lực lượng đông đảo đi cản trở ông Ðặng Văn Nghĩa ở quận Ô Môn, không cho ông và các đồng đạo tu hành theo lời dạy của Ðức Thầy. Lực luợng này gồm công an khu vực, công an phường, công an quận và công an thành phố, ngoài ra còn Nội vụ quận, Sở Nội Vụ của thành phố, rồi Y Tế của quận, Y tế của thành phố và cả đại diện Ban Tôn Giáo Chính Phủ nữa! Muốn cho “có ấn tượng,” công an không thèm chờ chủ nhà mở cửa mà phá cửa, bẻ khóa, xông vào nhà giống như Tây đi bắt rượu lậu vậy! Họ bắt buộc ông Nghĩa phải ngưng sinh hoạt tự do, phải xin đăng ký với một Ban Trị Sự, mà ban trị sự đó cũng đã phải đăng ký với nhà nước, được nhà nước công nhận rồi thì mới được tu. Nếu không thì không ai được theo Phật, không ai được theo Thầy cả!

Ông công an lên lớp nhà báo Á Châu Tự Do rằng, “anh vào coi trên trang web của chính phủ Việt Nam, có đăng tải công khai trên Internet đó. Bây giờ tất cả có hết trơn trên đó rồi, Pháp lệnh về Tôn giáo, Nghị định hướng dẫn để thực hiện về tôn giáo tại Việt Nam. Trên đó có hết.”

Ông công an này làm như việc tu hành cũng giống như việc lái xe, cứ vào trong trang web của chính phủ là biết hết luật! Nhưng nếu tất cả những thứ luật lệ đó lại trái ngược với việc thi hành quyền tự do tín ngưỡng thì sao?

Chưa bao giờ ở nước Việt Nam lại có cảnh muốn thờ phượng thì phải vào “hệ thống được đăng ký” như vậy. Nếu thời các vua quan phong kiến ở Ấn Ðộ và La Mã mà chính quyền cũng làm như chế độ cộng sản bây giờ, thì chắc trong lịch sử không có Phật giáo hay Thiên Chúa giáo, mà ở nước ta cũng không có Phật Giáo Hòa Hảo. Ðức Phật Thích Ca, cũng như Chúa Giê Su, đều là những người hành đạo “tự phát” ở ngoài dòng chính và “không đăng ký” cả. Ðức Phật Thầy Tây An ở nước ta vào thế kỷ 19, và Ðức Thầy Huỳnh Giáo Chủ vào thế kỷ 20, vì muốn cho Phật Giáo nhập thế đi sát với thực trạng xã hội Việt Nam vào thời đại của các ngài, đều xướng xuất những cách tu học mới mẻ “không được đăng ký!” Nếu các quan chức Pháp thời thuộc địa cũng kìm kẹp nhân dân Việt Nam như các quan cộng sản bây giờ thì chính Huỳnh Giáo Chủ cũng không được phép giảng đạo! Và chúng ta không được thấy hàng triệu người Việt Nam trong ba bốn thế hệ biết sống trong nền nếp đức hạnh, nhờ các lời giảng dạy của Ðức Thầy!

Ðài Á Châu Tự Do đã tường thuật cuộc phỏng vấn ông Ðặng Văn Nghĩa với một câu hỏi đặt làm tựa đề: “Giữ đức hạnh nên trở thành bất hợp pháp?”

Sau khi xông vào nhà, họ bảo là điều tra dân số, kiểm tra hộ khẩu. Kiểm xong, chính quyền bảo chúng tôi phải dắt đi từng phòng để kiểm tra tiếp. Tôi nói rằng người đã kiểm tra hết rồi, không còn sót người nào nữa nhưng chính quyền một mực bảo chúng tôi phải dắt đi từng phòng.

Tôi mới nói mấy anh mượn cớ điều tra dân số để rồi mấy anh lục xét nhà tôi, mà nếu mấy anh lục xét nhà thì phải có quyết định. Mấy ảnh nói bây giờ làm trước quyết định sau.

Sau khi kiểm soát các phòng thì họ thấy trong phòng chúng tôi ở hàng ngày, nơi chúng tôi thường băng, dĩa, để tài liệu tu học, họ lấy hết băng dĩa và những dụng cụ làm băng dĩa của chúng tôi.

Chính quyền kêu chúng tôi phải ghi nhận để chính quyền chở về cơ quan thì chúng tôi không ghi. Lúc bấy giờ số lượng nhân viên chính quyền quá đông, tụi tôi mới xúm nhau, mười mấy anh em chúng tôi gom lại niệm Phật. Xong xuôi thì chính quyền chở đồ đi hết.

Trân Văn: Rồi họ có tạm giam, tạm giữ ai không?

Ông Ðặng Văn Nghĩa: Dạ có giữ anh Nguyễn Văn Mẫn. Anh này là Việt kiều Mỹ, bởi vì anh về chỗ chúng tôi để phát quà. Phát hiện anh là một Việt kiều cho nên họ tạm giữ và sáng hôm sau, sau khi làm việc xong xuôi thì họ thả ra.

Trân Văn: Thưa anh, những người tổ chức và tham gia cuộc khám xét đó làm việc tại đâu?

Ông Ðặng Văn Nghĩa: Theo những gì tôi thấy thì có khoảng 70 người vào nhà tôi làm việc. Còn đứng ở ngoài hàng rào thì rất đông.

Trong các đồ đạc mà họ lấy thì có 3 máy sang dĩa, 2 máy DVD, 1 cái laptop để tôi học và 2 cái computer, 2 cái máy in. Trên dưới khoảng 10.000 đĩa. Trong đó có những đĩa đã sao chép và đĩa trắng.

Có mấy điều làm chúng tôi rất bức xúc là những khung trần điều của Ðức Huỳnh Giáo Chủ, làm ra để cho tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo thờ. Chúng tôi vừa làm xong 93 bức thì Công an thành phố Cần Thơ chở đi luôn. 40 bức chân dung Ðức Huỳnh Giáo Chủ cũng bị chở đi luôn. Tôi có hỏi rằng mấy anh làm như vậy có quá đáng hay không, chỗ này là chỗ chúng tôi tu học mà mấy anh lấy đồ như thế này? Mấy anh làm thinh và mấy anh làm tới. Vì vậy mà tôi cũng mười mấy anh em đồng đạo mới xúm nhau ngồi niệm Phật. Tự tu học để giữ đức hạnh

Trân Văn: Tôi có nói chuyện với một số viên chức chính quyền, họ bảo rằng, họ làm tất cả những điều đó là bởi vì các anh không đăng ký. Là một người tập tu, anh nghĩ thế nào về chuyện muốn tu phải đăng ký?

Ông Ðặng Văn Nghĩa: Nói về đường lối của Ðức Huỳnh Giáo Chủ thì là tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo phải giữ 8 điều răn cấm.

Mấy anh bảo tôi là phải vô trong Ban Trị Sự. Tôi không vô Ban Trị Sự thì mấy anh cho rằng, tôi là một tín đồ “lậu,” bởi vì Ban Trị Sự không chứng nhận tôi là tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo.

Tôi có nói rằng, dù Ban Trị Sự không chứng nhận tôi là tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo thì tôi cũng vẫn là tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo. Vả lại trong giấy chứng minh nhân dân của chúng tôi, chính quyền đã công nhận tôi là tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo.

Tôi tu là tu theo giáo lý của Ðức Thầy. Tụi tôi không đăng ký với Ban Trị Sự.

Trân Văn: Hồi nãy anh có nhắc đến chuyện giữ 8 điều răn của Ðức Huỳnh Giáo Chủ. Trong 8 điều răn đó có cấm chuyện tham gia vào những tổ chức như Ban Trị Sự? Có điều nào cấm chuyện đó không?

Ông Ðặng Văn Nghĩa: Thưa không. Chỉ cấm uống rượu, cờ bạc, á phiện, chơi bời đàng điếm thôi.

Trân Văn: Vậy tại sao vừa rồi anh đề cập về chuyện để giữ 8 điều răn đó thì anh không tham gia nhóm được chính quyền công nhận? Nhóm được chính quyền công nhận có vướng vào những điều cấm đó không? Họ có làm sai những điều đã bị nghiêm cấm không?

Ông Ðặng Văn Nghĩa: Dạ. Người nào lãnh đạo tôn giáo thì phải giữ 8 điều răn cấm nhưng ở đây thì đối với đức hạnh... Sở dĩ mà tôi không theo Ban Trị Sự là vì có những điểm tôi không phục.

Trân Văn: Song tổ chức đó khác với anh ở chỗ là họ được nhà nước công nhận...

Ông Ðặng Văn Nghĩa: Dạ... Tôi không theo Ban Trị Sự là vì họ chưa giữ tròn 8 điều răn cấm của Ðức Huỳnh Giáo Chủ.

(Copyright © 1998-2010 Radio Free Asia. All righ)

Như đã trình bày nhiều lần trong mục này, tôn giáo chỉ có tự do khi xã hội được tự do. Khi những người nắm quyền ngăn cấm các quyền tự do căn bản, thì bất cứ người theo tôn giáo nào cũng có thể bị ngăn cấm hoặc bị cản trở không được thi hành đạo lý mà họ thờ phượng. Những chuyện xảy ra ở Tam Tòa, Ðồng Chiêm, Thái Hà, ở Tu viện Bát Nhã, hay ở Quận Ô Môn, đều bắt nguồn từ những lý do giống nhau. Ðó là: Các công dân Việt Nam chưa có tự do hội họp, không có tự do cư trú, không được tự do phát biểu. Chính vì thế cho nên họ lúc nào cũng có thể bị cản trở và bị ngăn cấm trong việc thờ phượng theo tôn giáo của họ. Cứ sử dụng các luật lệ về đăng ký, về hộ khẩu của cộng sản thì có thể Phật cũng bị cấm, Chúa cũng bị cấm!

Chính phủ Gorges W. Bush cũng như chính phủ Barack Obama đều chưa nhìn rõ vào các lý do căn bản đó, cho nên vẫn coi là quyền tự do tôn giáo ở Việt Nam có tiến triển tốt trong mấy năm qua. Phải biết rằng nếu người dân trên căn bản không có tự do, thì tôn giáo không thể tự do! Hãy đặt câu hỏi cho các đại biểu Quốc Hội Mỹ: Nếu nước Mỹ không có Tu chính án số một, thì người Mỹ có tự do hay không? Nếu một chính quyền Mỹ làm ra các luật lệ cản trở việc hành đạo của một tôn giáo nhỏ nào đó, thì quý vị có chấp nhận hay không?

RFI Theo hãng tin AFP, nạn thiếu lương thực tại Bắc Triều Tiên dường như rất nghiêm trọng. Nhiều cuộc họp khẩn cấp đã được nhà cầm quyền tổ chức tìm cách đối phó. Bình Nhưỡng thừa nhận có 2,000 người chết đói trong mùa Ðông trong lúc thu hoạch lúa gạo giảm sút theo thẩm định của Bộ Thống nhất Hàn Quốc thì trong năm 2009, sản xuất lúa gạo tại miền Bắc, chỉ được 4,1 triệu tấn, kém hơn năm 2008 đến 200 ngàn tấn. Ðiều này cho thấy Bắc Triều Tiên thiếu đến 1,3 triệu tấn gạo nếu muốn nuôi sống toàn thể 22 triệu dân.

Hôm nay, hiệp hội Good Friends, một tổ chức thiện nguyện Thiên Chúa Giáo có tiếp xúc với Bình Nhưỡng cho biết thêm một cơ quan của đảng Cộng Sản Bắc Triều Tiên thừa nhận có 2.000 người chết đói đã được ghi nhận. Con số thật không biết là bao nhiêu nhưng tình hình khá nghiêm trọng vì giới chức lãnh đạo miền Bắc đã có hai cuộc họp khẩn cấp hồi cuối tháng 1 và đầu tháng 2.

Tuần trước, hãng Asia News trích lời một viên chức Hàn Quốc cho biết, lãnh đạo Bình Nhưỡng đã thừa nhận đất nước bị khủng hoảng lương thực do chính sách sai lầm. Thủ Tướng Kim Yong Il đã lên tiếng “xin lỗi” làm cho đời sống người dân khó khăn thêm qua chính sách đổi tiền hồi cuối tháng 11 năm ngoái. Thủ Tướng Kim Yong Il hứa là sẽ cung cấp thực phẩm đầy đủ cho dân.

Trong bối cảnh này lạm phát, thiếu lương thực và nạn chết đói đã xảy ra, chính quyền miền Bắc vẫn tổ chức trọng thể sinh nhật 68 tuổi cho lãnh đạo số 1 Kim Jong Il và kêu gọi dân chúng tham gia lễ hội. Tuy nhiên lời lẽ của chế độ không còn kiêu ngạo, khiêu khích như trước kia. Qua tuyên bố của nhân vật số hai của chế độ, Kim Yong Nam, Bình Nhưỡng kêu gọi chấm dứt chính sách thù nghịch với Hoa Kỳ và thay thế bằng đối thoại.

Posted: Fri Feb 19, 2010 5:10 pm
by vuphong
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
CÒN NỢ ĐẤT NƯỚC MỘT LỜI XIN LỖI


Trích Nguyễn Hưng Quốc
Đảng Cộng sản đã vấp phải vô số sai lầm. Nhiều sai lầm đã trở thành tội ác.

Trước hết là tội giết chết hàng chục ngàn người và đày đoạ hàng trăm ngàn người khác một cách thảm khốc và oan ức trong vụ cải cách ruộng đất trong nửa đầu thập niên 1950. Sau đó, tội trấn áp văn nghệ và trí thức trong vụ Nhân Văn Giai Phẩm trong nửa sau thập niên 1950. Rồi tội tước đoạt tài sản của dân chúng miền Nam trong cái gọi là chiến dịch đánh tư sản mại bản; tội bắt bớ cả hàng trăm ngàn cựu quân nhân và công chức miền Nam đày vào các trại học tập cải tạo có khi kéo dài cả chục năm; tội ban bố các chính sách bao cấp độc đoán làm kiệt quệ nền kinh tế vốn đã què quặt sau chiến tranh. Cuối cùng, như là hậu quả của tất cả các tội ác vừa kể, đảng Cộng sản đã đẩy hàng triệu người phải bỏ nước ra đi, trong đó, có cả hàng trăm ngàn người phải bỏ xác trên đường vượt biển.

Sự khốn cùng và lạc hậu kéo dài của đất nước sau 1975 là tội của đảng lãnh đạo. Thảm cảnh vượt biên của dân chúng cũng là tội của đảng lãnh đạo.

Cần nói ngay, đó không phải là một luận điệu của những người chống cộng. Chính đảng Cộng sản cũng ít nhiều thừa nhận những sai lầm đã thành tội ác của họ. Thừa nhận, nên mới tiến hành hết đợt sửa sai này đến đợt sửa sai khác. Sớm nhất là sửa sai sau cuộc cải cách ruộng đất với việc Trường Chinh bị mất chức Tổng bí thư, Hoàng Quốc Việt và Lê Văn Lương bị loại khỏi Bộ chính trị và Hồ Viết Thắng bị loại khỏi Ban chấp hành Trung ương đảng.

Thừa nhận, nên họ mới tung ra chính sách đổi mới từ giữa thập niên 1980, qua đó, công nhận quyền tư hữu và kinh tế tư nhân. Thừa nhận, nên họ mới phục hồi hộ tịch, sau đó, trao giải thưởng cho một số cây bút thuộc nhóm Nhân Văn Giai Phẩm như Trần Dần, Hoàng Cầm và Lê Đạt. Thừa nhận, nên gần đây, họ hay nói đến vấn đề hoà giải này nọ với cộng đồng người Việt Nam lưu vong.

Nhưng họ chỉ thừa nhận một cách mặc nhiên, chung chung, như lỗi của một ai khác. Ai khác đó là ai? Nói theo chữ của Phạm Thị Hoài, trong bài “Về tư cách của trí thức Việt Nam”, đó là “thằng khách quan” và “thằng lịch sử”.

Nhưng cái gọi là “thằng khách quan” và “thằng lịch sử” ấy chỉ là một lối nói nguỵ biện nhằm trốn tránh trách nhiệm. Những sai lầm và tội ác ấy xuất phát từ chính sách mà chính sách là do con người, do những người đứng đầu đảng và chính phủ đưa ra chứ không phải từ “thằng khách quan” hay “thằng lịch sử” nào cả. Những điều kiện khách quan của lịch sử chỉ có thể tạo nên những hạn chế làm giảm tính hiệu quả của các chính sách đúng đắn nhưng không thể là nguyên nhân của những chính sách sai lầm gây tai hoạ cho cả dân tộc hay cho một bộ phận quần chúng đông đảo.

Đảng Cộng sản và chính phủ Việt Nam không thể chạy trốn trách nhiệm bằng cách đổ lỗi cho một cái gì khác. Cũng không thể chạy trốn trách nhiệm bằng cách lẳng lặng sửa sai bằng những biện pháp chắp vá dối giá nửa vời.

Những sai lầm và tội ác công khai tác động đến sinh mệnh của cả hàng triệu người, thậm chí, của cả dân tộc, không thể chuộc bằng sự tảng lờ hay lấp liếm.

Đảng Cộng sản và chính phủ Việt Nam thỉnh thoảng hay lên tiếng kêu gọi gạt bỏ những hận thù trong quá khứ để hoà hợp và hoà giải. Nhưng một sự hoà hợp, hoà giải thực sự chỉ có thể được tiến hành khi những người gây tội ác phải nhìn nhận và công khai xin lỗi về những tội ác của mình.

Đó là việc làm bình thường của các chính phủ văn minh trên thế giới.

Nhớ, vào ngày 13 tháng 2, 2008, Thủ tướng Úc Kevin Rudd đã công khai xin lỗi các thổ dân Úc về những chính sách sai lầm của Úc trong quá khứ, trong đó, quan trọng nhất là, để tiến hành chính sách đồng hoá người thổ dân, chính phủ Úc, cách đây cả một thế kỷ, cách ly trẻ em thổ dân khỏi gia đình bằng cách bắt các em ở riêng hoặc làm con nuôi của các gia đình người da trắng. Biện pháp đồng hoá thô bạo ấy đã làm tan nát tâm hồn bao nhiêu ông bố, bà mẹ và trẻ em. Nó trở thành một vết nhơ trong lương tâm nhiều người Úc. Sau này, để chuộc lại lỗi lầm ấy, các chính phủ Úc đã tăng cường các nguồn trợ cấp xã hội dành cho người thổ dân, giúp họ được học hành, giúp họ kiếm công ăn việc làm và xây dựng nhà cửa, v.v…

Nhưng, chưa đủ.

Đại đa số người thổ dân vẫn thấy chưa đủ: Họ cảm thấy chính phủ còn nợ họ một lời xin lỗi công khai. Đại đa số người dân Úc bình thường, không phải thổ dân, cũng cảm thấy không đủ: Họ cảm thấy họ còn nợ các nạn nhân một lời xin lỗi chính thức.

Hiểu được điều đó, chính phủ Lao Động, dưới sự lãnh đạo của Thủ tướng Úc, đã nhân danh quốc gia, đứng ra xin lỗi người thổ dân một cách long trọng tại nhà Quốc Hội Úc ở Canberra. Nghe lời xin lỗi ấy, nhiều người, thổ dân và không phải thổ dân, ràn rụa nước mắt vì mừng. Với thổ dân, nỗi đau nhiều thế hệ của họ được khuây khoả; với người da trắng, sự xấu hổ âm thầm được lắng dịu.

Ai cũng thấy một lời xin lỗi chính thức và công khai như vậy là ý nghĩa. Nó không phải là một sự yếu đuối. Nó là sức mạnh của một thế hệ dám nhận lãnh trách nhiệm về những sai lầm trong quá khứ. Dù là những sai lầm do cha anh họ gây ra. Và ở một thời nào xa lắc.

Đảng Cộng sản và chính phủ Việt Nam cũng nên có một hành động can đảm và sáng suốt như vậy nếu họ thực sự thành tâm muốn xây dựng một đất nước thống nhất và vững mạnh.

Trích Nguyễn Hưng Quốc

Posted: Sat Feb 20, 2010 7:06 am
by tankhoasinh
Mỹ có sợ Trung Quốc không?

Ngô Nhân Dụng

Tuần trước, chính phủ Bắc Kinh đã lên tiếng yêu cầu Tổng Tống Barack Obama bãi bỏ cuộc gặp gỡ với Ðức Ðạt Lai Lạt Ma. Chính phủ Mỹ tiết lộ ông Obama đã báo trước cho ông Hồ Cẩm Ðào, chủ tịch Trung Quốc biết là sẽ tiếp đón vị lãnh đạo tinh thần của dân tộc Tây Tạng. Cả bà Ngoại Trưởng Hillary Clinton cũng sẽ gặp Ðức Ðạt Lai Lạt Ma.

Thế nào Bắc Kinh cũng phải bày tỏ thái độ bằng một lời nói hay hành động để phản kháng. Giống như tháng trước khi cả thế giới nghe tin Mỹ sắp bán một số vũ khí mới cho Ðài Loan trị giá 6.4 tỷ Mỹ kim, Bắc Kinh đã cực lực lên án và dọa sẽ “trừng phạt” các công ty Mỹ bán máy bay hoặc tầu ngầm cho Ðài Bắc. Nhưng liệu các công ty hàng không Trung Quốc có ngưng không dùng máy bay Boeing nữa hay không? Không chắc lời đe dọa này sẽ thành hiện thực.

Tất cả các ông tổng thống Mỹ từ hai chục năm nay, ông nào cũng tiếp Ðức Ðạt Lai Lạt Ma ít nhất một lần tại Toà Bạch Ốc. Và lần nào Bắc Kinh cũng tỏ ý bất bình. Không còn ai ngạc nhiên nữa. Trung Quốc đối xử với Mỹ có vẻ “nhân nhượng” hơn đối với các nước khác. Năm 2008, họ tỏ ý phẫn nộ bỏ không tham dự một cuộc họp thượng đỉnh với các nước trong Liên Hiệp Âu Châu vì Tổng Thống Pháp Nicolas Sarkozy tiếp kiến Ðức Ðạt Lai Lạt Ma. Ðối với Mỹ, phản ứng của Bắc Kinh mềm mỏng hơn nhiều. Năm 2007, họ đã không cho phép chíến hạm USS Kitty Hawk cập bến Hồng Kông sau khi Tổng Thống George W. Bush gặp Ðức Ðạt Lai Lạt Ma. Sau đó, họ lại cho phép, nhưng chiếc tàu Mỹ đã đi mất rồi. Năm nay, trong lúc hai nhà lãnh đạo Mỹ và Tây Tạng gặp nhau, mẫu hạm USS Nimitz và 4 chiến hạm khác của Mỹ đang đậu ở bến tàu Hương Cảng, và 5,000 thủy thủ được phép lên bờ tiêu xài thỏa thích.

Nếu phản ứng của Bắc Kinh có vẻ mềm mỏng hơn, điều đó cũng dễ hiểu. Trung Quốc không muốn gây sự trong lúc này. Họ đang lo chính phủ Obama sẽ đòi hỏi Bắc Kinh phải nhượng bộ thêm trên lãnh vực hối suất và luật lệ nhập cảng, nhưng đòi hỏi mà lâu lâu các chính phủ Mỹ lại nêu ra để làm món hàng mặc cả. Vì hiện nay chính quyền Washington đang bị áp lực của giới kinh doanh Mỹ trong các vấn đề hối suất và luật lệ này. Mà ông tổng thống cũng như đảng Dân Chủ trong Quốc Hội có thể chiều theo ý giới kinh doanh, đồng thời dùng món võ ngoại giao “Chống Trung Quốc” để hấp dẫn cử tri trong mùa bầu cử năm nay, trong lúc người dân bắt đầu chán không thấy những chương trình quốc nội của họ hấp dẫn nữa!

Hai nước Mỹ và Trung Quốc đang gắn bó keo sơn về kinh tế, nhưng nói rằng vì thế mà Mỹ sợ Trung Quốc thì sai! Hai bên lúc nào cũng vừa bắt tay buôn bán, vừa to tiếng cãi nhau. Gần đây, chính quyền Obama đã lên tiếng than phiền, một lần nữa, là chính phủ Bắc Kinh cố ép giá đồng nhân dân tệ quá thấp so với Mỹ kim, để hàng Trung Quốc dễ bán sang Mỹ và dễ cạnh tranh với hàng Mỹ trong thị trường thế giới. Hậu quả là nhiều công nhân Mỹ sẽ mất việc làm chỉ vì đồng tiền Trung Quốc được định giá quá thấp! Trong lúc tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ lên tới 10%, đây là một lý luận rất mạnh, không phải chỉ là một lời đe dọa suông.

Gần đây, các công ty đa quốc của Mỹ đã than phiền về hối suất của đồng Nguyên, tiền Trung Quốc, và về những luật lệ hạn chế nhập cảng. Các công ty này tố cáo một khuynh hướng “bảo hộ mậu dịch” đang lan rộng trong guồng máy chính quyền Trung Quốc khiến họ làm khó dễ hàng nhập cảng. Trong Tháng Giêng năm nay, 19 tổ chức kinh tế Mỹ, trong đó có Phòng Thương Mại Toàn Quốc và Hội Các Nhà Sản Xuất đã gửi thư cho chính phủ Obama tố cáo những biện pháp của chính phủ Trung Quốc gây hậu quả “ngăn chặn nhiều mặt hàng xuất cảng của Mỹ vào một thị trường tối quan trọng cho việc phát triển tương lai và tạo công việc làm ở trong nước Mỹ.” Lá thư yêu cầu chính phủ Mỹ phải đặt ưu tiên giải quyết vấn đề này. Sau khi nhận lá thư đó, các viên chức chính phủ Mỹ đã gặp gỡ các viên chức Trung Quốc để chính thức nêu lên các vấn đề trên, một điều mà trước đây các giới ngoại giao không làm. Chính phủ Bắc Kinh không thể coi đó là những lời đe dọa suông, trong khi họ vẫn đang cần xuất cảng nhiều hơn!

Năm ngoái, sau khi chính phủ Obama tăng thuế trên các bánh xe hơi nhập cảng từ Tầu, Bắc Kinh đã trả đũa đánh thuế thêm trên thịt gà nhập cảng từ Mỹ. Cuộc chiến mậu dịch không phát ra nhờ cả hai bên tự kiềm chế. Nhưng trong một năm bầu cử, chính phủ Mỹ có thể sẽ cứng rắn hơn. Các nhà chính trị rất dễ ngả sang các chính sách mị dân bằng cách hô khẩu hiệu chống nước ngoài, mà hiện nay ở Mỹ thì Bắc Kinh có rất nhiều người ghét và ít thấy ai bênh vực.

Một mối lo của người Mỹ là cán cân thương mại nghiêng về phía Bắc Kinh, trong năm 2009 Mỹ thâm thủng 227 tỷ đô la. Con số đó tuy nhỏ hơn năm trước, nhưng chỉ vì kinh tế Mỹ suy thoái chứ không phải vì Bắc Kinh đã can thiệp. Nếu đồng tiền Trung Quốc tăng giá, như các chính phủ Mỹ vẫn đòi hỏi, thì người Mỹ sẽ bớt mua hàng Trung Quốc và ngược lại sẽ bán được sang Trung Quốc nhiều hơn! Hiện nay, giá một đồng Nguyên so với đô la Mỹ có thể tăng thêm 20% đến 25% thì mới quân bình. Trong những tháng sắp tới, chính quyền Washington sẽ còn nêu lên vấn đề này nhiều lần để tạo thêm áp lực mới.

Trung Quốc có một món võ để đối phó với Mỹ, là sử dụng vai trò chủ nợ của họ. Ai cũng biết hiện nay Trung Quốc là chủ nợ lớn nhất của chính phủ Mỹ, qua mặt Nhật Bản. Với gần 800 tỷ đô la cho chính phủ Mỹ vay bằng cách mua công trái, họ có thể ngưng cho vay va đem bán các trái khoán của chính phủ Mỹ để tạo áp lực. Nhưng điều này nói thì dễ còn làm rất khó.

Những món tiền Trung Quốc cho chính phủ Mỹ vay chính là tiền họ thu được nhờ xuất cảng hàng hóa sang Mỹ với giá rẻ. Từ 10 năm nay, số tiền Bắc Kinh cho Washington vay đã tăng gấp 10 lần, từ gần 72 tỷ vào năm 2000 lên tới 755 tỷ trong Tháng Mười Hai năm 2009. Vào Tháng Năm, Thủ Tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo đã công khai tỏ ý lo ngại rằng các trái phiếu công của Mỹ đang mất giá trị vì đồng đô la xuống giá. Tiếp theo, ông chủ tịch Ngân Hàng Nhân Dân ở Bắc Kinh lại đề nghị dùng một thứ tiền mới thay thế đồng đô la Mỹ trong quỹ dự trữ ngoại tệ các nước, để thế giới bớt lệ thuộc vào đồng tiền của một quốc gia, nếu quốc gia đó lâm khủng hoảng thì tất cả đều bị thiệt thòi.

Những lời tuyên bố trên đều có tác dụng tạo áp lực trên chính phủ Mỹ. Nhưng trong thực tế, các lời nói và hành động của chính phủ Trung Quốc không đem lại kết quả mà họ mong muốn.

Không thấy cường quốc kinh tế nào lên tiếng ủng hộ việc hạ bệ đồng đô la Mỹ trong giao dịch thế giới. Các nước Âu Châu không thiết tha dùng đồng Euro, nhất là trong lúc chính đồng tiền này đang bị đe dọa với nguy cơ phá sản của Hy Lạp, một quốc gia trong khối dùng Euro. Trung Quốc cũng không muốn đồng Yen của Nhật Bản đóng vai trò cao hơn. Còn đồng tiền tượng trưng SDR của Quỹ Tiền tệ Quốc tế, chỉ là một đơn vị kế toán trong sổ sách chứ không ai muốn đem dùng như tiền thật.

Tóm lại, những lời đe dọa của Bắc Kinh về việc hạ bệ đồng đô la Mỹ không tạo được hậu quả nào đáng kể. Bắc Kinh đã hành động. Ngân Hàng Trung Ương Trung Quốc đã bắt đầu giảm bớt số trái phiếu chính phủ Mỹ mà họ đang giữ, bằng cách bán bớt hoặc không mua trái phiếu mới khi các giấy nợ cũ đáo hạn. Người ta có thể đoán rằng khi một chủ nợ quan trọng như Trung Quốc ngưng cho vay thì các chủ nợ khác cũng sẽ rút để đòi lãi suất cao hơn, nhưng sự thật lại không.

Số tiền chính phủ Mỹ nợ Ngân hàng Trung Ương Trung Quốc đã giảm xuống đáng kể trong nửa năm qua. Vào Tháng Năm, năm 2009, chính phủ Mỹ nợ Trung Quốc hơn 801 tỷ đô la, đến Tháng Mười Hai chỉ còn nợ hơn 755 tỷ. Nhưng các hành động này không có tác động nào trên việc chính phủ Mỹ vay nợ. Thay vì bán các công trái Mỹ hoặc ngưng cho Mỹ vay, người ta lại thấy tổng số nợ mà người ngoại quốc cho chính phủ Mỹ vay vẫn tăng lên 70 tỷ trong thời gian đó. Một hệ quả là lãi suất mà chính phủ Mỹ phải trả trên các món nợ công này vào ngày 16 Tháng Hai, năm 2010, đã giảm bớt 0.03%, chỉ còn 3.66% cho những công trái 10 năm.

Bắc Kinh không thể sử dụng món võ chủ nợ ngưng cho vay hoặc bán các giấy nợ một cách ào ạt, vì làm như vậy sẽ tai hại cho cả thế giới mà chính Trung Quốc và các nước Á Châu đang bán hàng cho Mỹ bị thiệt hại nặng nhất. Tình trạng giống như Ngân Hàng Trung Ương Trung Quốc đang phát cho chính phủ Mỹ một cái thẻ tín dụng, giống như loại thẻ của các cửa hàng Sears hay Macy vậy. Thân chủ Mỹ tha hồ xài thẻ đó đi mua hàng Trung Quốc, và món nợ trên thẻ tín dụng cứ thế tăng lên gấp 10 lần trong 10 năm qua. Không thể thu hồi cái thẻ đó được, vì thiếu nó thì khách sẽ không mua thêm hàng. Không thể bắt khách phải trả hết nợ trên thẻ được, vì họ không có tiền trả. Cách tốt nhất cho ngân hàng là cứ tiếp tục cho khách dùng thẻ, vừa để bán hàng, vừa để lấy tiền lãi.

Ngược lại, nếu Bắc Kinh chịu làm theo áp lực Mỹ mà tăng hối suất của đồng Nguyên thì sẽ có lợi cho cả người Trung Hoa lẫn nước Mỹ. Khi nhân dân tệ lên giá, người Trung Hoa trong lục địa sẽ được mua hàng ngoại quốc với giá rẻ hơn. Mối đe dọa lạm phát ở Trung Quốc sẽ bớt đi, sau khi bị đẩy lên quá cao vì các món tiền khổng lồ kích thích kinh tế qua hệ thống ngân hàng. Trong khi có, người Mỹ sẽ bớt mua hàng Trung Quốc vì giá cao hơn, cán cân thương mại Mỹ bớt khiếm hụt, chính phủ Mỹ bị bắt buộc phải thắt lưng buộc bụng vì lãi suất lên cao, ngân sách Mỹ sẽ cân bằng sớm hơn.

Cho nên, sau khi ông Obama tiễn chân Ðức Ðạt Lai Lạt Ma để ngài đi California làm lễ, trong những ngày tới chính phủ Mỹ sẽ còn tiếp tục tạo áp lực với Trung Quốc về việc tăng giá đồng nhân dân tệ. Ông Obama sẽ không mất gì hết, mà còn được tiếng là bảo vệ công việc làm cho giới lao động Mỹ, một điều rất có lợi trong một năm bầu cử!

Posted: Sun Feb 21, 2010 6:40 am
by hoanghoa
Khủng Bố Tiền Đại Hội

Vi Anh
CS vẫn là CS. Như mọi người còn nhớ, thời chiến tranh, mỗi lần CS có lễ lớn như sinh nhựt , thì CS đào đường, đắp lộ, pháo kích vào thành thị để khủng bố người dân ở các vùng CS gọi là " tạm chiếm". Còn bây giờ, CS Hà nội đã gồm thâu cả nước, trước cuộc đại hội Đảng, họ mở cuộc càn quét để khủng bố dân chúng để CS tự tung tự tác. Nên không có gì đáng ngạc nhiên khi thấy từ tháng Ba năm 2009, CS Hà nội mở một cuộc tảo thanh lớn và rộng. Khủng bố mạnh, đàn áp những bắt bớ, giam cầm, kêu án nặng những người đi tu, những người bất đồng chính kiến,chỉa mũi dùi vào những tăng thân dính líu với tăng thân Làng Mai ở Pháp, những luật sư từng du học Aâu Mỹ, những bloggers chánh trị dám đặt chủ quyền đất nước trước cuộc xâm lấn của TC.

Khủng bố là thuật ngữ chánh trị xã hội chỉ hành động gây hoảng sợ để đạt mục tiêu chánh trị. Khủng bố không chỉ do các tổ chức nhỏ ngoài vòng pháp luật như Al Qaeda làm, mà nhà nước lớn cũng làm như chế độ độc quân phiệt Iraq, Miến điện, giáo phiệt Iran, đảng phiệt như CS khủng bố để làm cho người dân sợ không dám chống chế độ.

Năm 2010 là năm Đảng Nhà Nước CS Hà nội dự trù trước lấy làm năm kỷ niệm 1 000 năm Thăng Long. Và Trung Cộng chơi xỏ đề nghị CS Hà nội lấy làm năm kỷ niệm 60 năm hữu nghị Việt - Trung. Đầu năm 2011 lại là Đại Hội Đảng CS lần thứ 11. Hai xôi nhồi một chỏ, CS Hà nội vừa sợ bị phong trào vận động tư do, dân chủ, nhân quyền của những nhà trí thức trẻ trong nước "diễn biến hòa bình", hay "chuyển hóa" đại biểu đại hội Đảng do đảng bộ địa phương chọn, lại vừa sợ phong trào nhân dân chống Trung Cộng xâm chiếm đất, biển, đảo làm Anh Cả Đỏ tức giận. Nên theo thói quen biến thành bản chất thứ hai, CS Hà nội muốn tảo thanh bằng cách khủng bố trước Đại Hội Đảng và Kỷ niệm 60 hữu nghị Việt Trung do CS Bắc Kinh "đề nghị" - theo thuật ngữ CS "dề nghị" có nghĩa là ra lịnh phải làm.

Vấn dề dặt ra là thử phân tích cuộc khủng bố nhà nước đó của CS Hà nội có răng đe được phong trào của người dân Việt đang chống Cộng sản hay không. Và đường lối của Mỹ mở rộng du học để những người này về chuyễn hóa chánh trị thành hay bại.

Một, nhiều sư kiện cho thấy cuộc khủng bố của CS Hà nội không răn đe được người trong nước nhưng bị mang tai mang tiếng xấu ở ngoại quốc. CS Hà nội chẳng những dùng công an, cảnh sát, tòa án để khủng bố, mà còn dùng cả côn đồ nữa. Đưa ra những cái tội nghe mà lạnh xương sống, tù chung thân, dến tử hình như "tuyên truyền chống phá nhà nước", "xâm phạm an ninh quốc gia", thậm chí "hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân". Nhưng từ một cựu sĩ quan bộ đội CS Bắc Việt thức tình là Trung tá Trần Anh Kim đến những ngưởi trí thức tốt nghiệp đại học, được Pháp, Mỹ cấp học bổng đi tu nghiệp luật, có tâm huyết với đất nước, chẳng ai nao núng cả. Trần Huỳnh Duy Thức và Lê Thăng Long vẫn hiên ngang dù phải trả cái giá rất đắt là 16 năm tù.

Tâm huyết, lý tưởng và niềm tin vào chánh nghĩa là một cái gì thế quyền và cương quyền không thể khuất phục được. Vào tù ra khám là cái nghiệp của sự dấn thân. Cái nghiệp phải trả như nhà tu tin không trả trước phải trả sau thôi. Với những người đã "ngộ" như vậy thì không bạo lực nào lay chuyển được. Nhứt là dân tộc Việt dược lịch sử rèn luyện một tinh thần bất khuất, lịch sư 4000 năm, mà chống quân Tàu cả ngàn năm vẫn chống. Tiếng gọi của lương tâm Việt, của lịch sử Việt, của dức công bằng và đạo lý thấm thía, vang vọng, sâu thẩm hơn tiếng của mấy người đảng viên kêu án bỏ túi do Đảng CS tiền chế trước các phiên tòa.

Trái lại cuộc khủng bố của CS nói lên nỗi sợ không rời của Đảng CS, cụ thể là của 15 người ngồi trong bộ Chánh trị. Họ sợ lập trường thân Mỹ, thân Trung Cộng của đảng viên sẽ đưa đến cuộc đấu đá nội bộ làm chia rẽ Đảng trong dại hội 11 vào đầu năm 2011. Họ sợ giá trị tư do, dân chủ, nhân quyền diễn biến hòa bình, "chuyển hóa' làm đảng viên "tự diễn biến" trong các cuộc đề cử dại biểu đại hội Đảng ở địa phương và tự diễn biến trong tâm tư đại biểu. Họ sợ nên họ khủng bố các nhà dân chủ dể răn đe đảng viên có khuynh hướng cải cách luôn.

Nhiều dư luận báo chí ngoại quốc cho thấy cuộc khủng bố làm cho chế độ CS Hà nội bị mang tai mang tiếng xấu ở ngoại quốc. Báo Wall Street Journal của Mỹ, tờ báo gối đầu giường của giới lý tài Mỹ và thế giới khẳng định "Hà Nội đàn áp nhân quyền.” Một bất lợi lớn cho CS Hà nội, họ mất yếu tố ổn định là một trong hai yếu tố dể ngoại quốc đầu tư bên cạnh công nhân rẻ. Tạp chí Economist của Anh, cũng là tờ báo của giới lý tài thế giới cũng nói ''Đàn áp tại Việt Nam".

Human Rights Watch nói huỵch toẹt CS Hà nội gia tăng đàn áp các nhà dân chủ để chuẩn bị cho Đại hội Đảng lần thứ 11. Báo Times ở Luân Đôn trích dẫn lời ông Brad Adams, Giám đốc Á Châu của tổ chức này ở New York lưu ý rằng "thái độ thù nghịch đối với tự do bày tỏ cảm tưởng và bất đồng chính kiến ôn hòa ngày càng trở nên trắng trợn trong giai đọan trước khi có đại hội đảng vào năm tới". Tổ chức Ân Xá Quốc Tế trụ sở tại Luân Đôn, Anh Quốc ra một thông cáo báo chí, trích dẫn lời ông Brittis Edman, chuyên gia nghiên cứu về VN của Tổ chức Ân Xá Quốc Tế lưu ý rằng "Vụ xử này là một hình thức hoàn toàn chế giễu công lý, bất chấp những nhân quyền căn bản..." Tổ chức Ký Giả Không Biên Giới trụ sở tại Paris, Pháp lưu ý rằng "Làn sóng bắt bớ đó sẽ không chấm dứt được cuộc tranh luận về tương lai đất nước (VN)". Theo tổ chức này thì những nhà bất đống chính kiến bị tù tội "...đã trở thành biểu tượng thúc đẩy cuộc đấu tranh cho tự do tư tưởng tại VN và hải ngoại". và "cộng đồng thế giới phải lên án những bản án nặng nề và áp lực chính phủ (VN) trả tự do cho những nhà hoạt động dân chủ".

Giáo hội Công Giáo Ba Lan, lấy ngày thứ năm, 04/02/2010, làm " Ngày toàn quốc Ba Lan cầu nguyện cho Giáo hội tại Việt Nam bị đàn áp". "Sự kiện chính quyền Việt Nam dùng " bom mìn " để " triệt hạ thánh giá tại Đồng Chiêm đã làm cho người công giáo Ba Lan và tín hữu Chính Thống Giáo sững sờ " và xem đây là một "thách thức lương tâm ".Giáo hội Ba Lan "không thể im lặng mãi trước nỗi đau của người công giáo Việt Nam".
Hai, chủ trương của Mỹ mở rộng du học để những người này về chuyễn hóa chánh trị thất bại thấy rõ trong cuộc khủng bố này của CS Hà nội. Người Mỹ tiêu biểu là Đại sứ Michael Michalak "nhiệt liệt cổ võ" du học. Nhưng Oâng đại sứ bình an, vô sự trong chức vụ sang cả, béo bở của mình. Chỉ tội nghiệp cho nhưng người tin vào chủ trương du học về để chuyên hóa chánh trị CS nay lại phải tù CS. Một thạc sĩ Nguyễn Tiến Trung du học Pháp, được TT Mỹ Bush tiếp kiến. Một Luật sư Lê Công Định được học bổng Fulbright học ở Mỹ, về nước làm việc cho nhánh tại Việt Nam của văn phòng luật sư New York, White & Case, cố vấn cho Việt nam về luật chống bán phá giá của Mỹ. Một Giáo sư giáo sư Nguyễn Huệ Chi, từng có một thời gian du hành quan sát ở tại Đại Học Mỹ Massachusetts vào năm 2000. Hai trí thức du học đầu bị công an bắt, họp báo, đưa lên truyền hình bêu rếu trước khi xử và xử tù 5 năm. Còn vị giáo sư sau bị phá trang mạng, sách nhiễu, gây khó dễ đủ điều, hầu như ngày nào cũng bị công an mời lên thẩm vấn. Một Phạm Thanh Nghiên, từng được Human Right Watch (Tổ chức Quan sát Nhân quyền Quốc tế), trao tặng giải Hellman Hammett hồi năm ngoái, đã bị tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt 4 năm tù kèm 3 năm quản chế, sau khi thi hành xong hình phạt tù.

Để kết luận, cuộc khủng bố nhà nước (state terrorism) của CS Hà nội không hiệu quả, gây nhiều phản tác dụng bất lợi cho Đảng Nhà Nước trong cũng như ngoài nước.

VI ANH

Posted: Tue Feb 23, 2010 5:52 am
by tranphuongdong
Kỷ Niệm 80 Năm Tổng Khởi Nghĩa Yên Bái 10-2-1930


Nguyễn Hồng Dũng, Ph. D, Feb 17, 2010
Cali Today News - Nói đến Việt Nam Quốc Dân Đảng, một Đảng cách mạng tiền phong của dân tộc Việt Nam thì ai cũng biết đến cuộc Tổng Khởi Nghĩa Yên Bái năm 1930 và linh hồn của mốc thời gian in đậm nét tinh anh trang lịch sử chính là sinh viên Nguyễn Thái Học, một lãnh tụ trẻ tuổi nhưng thể hiện tấm lòng thiết tha để tranh đấu cho nước nhà không còn bị ách thực dân Pháp cai trị.

Với tấm lòng ấy người thanh niên Nguyễn Thái Học đã cùng với những người đồng chí hướng thành lập Việt Nam Quốc Dân Đảng vào ngày 25 tháng 12 năm 1927 trong mục tiêu tranh đấu cho dân tộc độc lập, dân quyền tự do và dân sinh hạnh phúc.

Ngược dòng thời gian về bối cảnh nước Việt khi triều đình vua Tự Đức ký Hòa ước ngày 5 tháng 6 năm Nhâm Tuất (1862) tại Sài Gòn giữa chánh sứ Phan Thanh Giản, phó sứ Lâm Duy Hiệp với đại diện Pháp và Tây Ban Nha là Sir Bonard và Guttiere lúc bị mất ba tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường mở đầu sự đô hộ của Pháp tại Việt Nam. Chiếu theo tinh thần Hòa ước này thì Huế giao cho Pháp ba tỉnh miền Đông Nam kỳ và đảo Côn Lôn, Tây Ban Nha được tự do truyền giáo và buôn bán ở Đà Nẵng, Ba Lạt, Quảng Yên. Dân chúng Việt Nam lúc bấy giờ vô cùng bất mãn trước sự nhu nhược của triều đình nên khắp nơi có các phong trào tự phát đứng ra chiêu nạp nghĩa quân chống Pháp. Tuy tinh thần cao độ nhưng vũ khí, phương tiện của nghĩa quân thô sơ nên hầu như bị Pháp đàn áp một cách dã man.

Thái độ hà khắc, bóc lột của thực dân Pháp đối với dân Việt càng ngày càng cay độc khiến sự thôi thúc về nền tự do, độc lập của nước nhà càng được dịp phát huy dù ý niệm nhân quyền và dân chủ chưa phổ quát lắm. Cuối thập niên hai mươi của thế kỷ XX sinh viên Nguyễn Thái Học thuộc trường Cao đẳng thương mãi Hà Nội cùng nhiều tầng lớp công, nông dân, sĩ phu trí thức, sinh viên học sinh đồng lòng thành lập Đảng cách mạng tiên phong và sinh viên Nguyễn Thái Học được tin tưởng bầu vào chức chủ tịch.

Để phong trào được nâng cao nên nhu cầu một cuộc tổng khởi nghĩa toàn dân tham gia phải được thực thi, điều đáng khâm phục là chỉ trong vòng vài ba năm mà hàng ngàn chi bộ Việt Nam Quốc Dân Đảng đã được tổ chức xây dựng ở cả hai miền Bắc và Trung kỳ cũng như hàng trăm chi bộ trong hàng ngũ quân đội thuộc địa. Về mặt nhân sự thì Việt Nam Quốc Dân Đảng có khá đông người ủng hộ, nhưng phương tiện chiến đấu thì thật thô sơ, súng ống và đạn được phải mua lại từ kho phế thải, hoặc nghĩa quân tự túc trui rèn khí cụ như gươm, giáo, cung tên. Ngày 26 tháng 1 năm 1930 Ban Chấp Hành Trung Ương Viêt Nam Quốc Dân Đảng triệu tập đại hội tại làng Võng La quyết định ngày khởi nghĩa, dùng vũ trang tự tạo chiến đấu bởi lẽ một số cơ xuởng làm súng bị phát hiện và sự phản bội của tên Việt gian là Đội Dương tố cáo với mật thám Pháp nên không cho phép nghĩa quân đứng truớc cơ nguy chần chừ chờ chết.

Cuối cùng cuộc tổng khởi nghĩa đã tiến hành như quy định vào ngày 10 tháng 2 năm 1930 nhưng rất tiếc do tin tức bại lộ giúp thực dân chuẩn bị đối phó khiến nghĩa quân giao động, dẫn đến cuộc thảm bại với nhiều sinh mạng đảng viên hy sinh, tù đày. Mặc dù thất bại nhưng vầng hào quang khởi nghĩa đã tác động đến tâm tư người dân Việt quyết định chống thực dân Pháp đến hơi thở cuối cùng. Các chiến sĩ nghĩa quân đã tạo dựng khí thế ái quốc cùng khắp nên thời gian ấy đã khơi dậy tiềm lực chống ngoại xâm trong giới thanh niên cao độ.

Sự yếu kém về mặt vật chất đã không làm nao núng tinh thần dâng trào về một quốc gia độc lập khiến quân Pháp vô cùng lúng túng trước những phản ứng mãnh liệt. Nghĩa quân Việt Quốc đã chiếm cứ thị xã Yên Bái nhiều ngày đêm nơi tọa lạc đồn Pháp kiên cố làm thiệt hại quân binh thực dân là trọng điểm giữa cuộc khởi nghĩa lừng danh này, ngoài ra các tỉnh Sơn Tây, Phú Thọ, Hải Phòng, Lâm Thao, Bắc Ninh, Hưng Hóa, Kiến An, Phả Lại đều cùng nhau đồng loạt làm cuộc khởi nghĩa tấn công đến nỗi Pháp phải dùng phi cơ thả bom gây thương vong cho nghĩa quân Việt Quốc tại làng Cổ Am mà ngày nay vẫn còn di tích.

Câu hỏi thường được đặt ra là làm sao Đảng trưởng Nguyễn Thái Học và các đồng chí của Người trong thời gian ngắn mà huy động được số lượng nghĩa quân nhất tề hưởng ứng?. Có lẽ phát xuất từ tấm lòng yêu nước nồng nàn của giới thanh niên có uy tín, đứng đắn và đoàn kết để chống lại kẻ xâm lược, sự lãnh đạo đầy mưu trí và can đảm đặt quyền lợi của tổ quốc lên hàng đầu là chìa khóa “nhất hô bá ứng”. Khi cuộc khởi nghĩa thất bại, giới lãnh đạo Việt quốc có khả năng sang Trung Hoa hay Thái Lan ẩn núp, nhưng Đảng trưởng Nguyễn Thái Học và hàng trăm đồng chí thân cận của Người đã sát cánh bên các toán nghĩa quân để hổ trợ chiến đấu, chỉ huy binh pháp hoặc giải vây đồng đội đến giây phút đưa định mạng của họ về nơi Tiên cảnh. Lòng can đảm đã thể hiện trong từng con tim của mỗi cá nhân khi gia nhập đảng Cách mạng cứu quốc mà khi bị phát hiện thì đầu có thể rơi, nhà cửa gia đình tan nát và nhẹ nhất cũng bị đày đến các vùng Côn Sơn, Lao Bảo, Sơn La chịu hình phạt chung thân khổ sai. Nhưng tất cả những đe dọa đó không áp đảo lại lòng kiên định cho một tổ quốc độc lập, tự do; việc nhân, việc dũng, việc thiện của nghĩa quân đáng trân trọng lên trang sử oanh liệt vì dù có gì đi nữa thì quan điểm rõ ràng của chàng thanh niên nước Việt hai mươi bảy tuổi đời đã gởi một thông điệp phản ánh nhân cách sống của lớp thanh niên bất khuất là “Không Thành Công Thì Cũng Thành Nhân” khiến dư luận trên thế giới vang dội, thách thức Đế quốc thực dân Pháp đứng trước nguy cơ của các thuộc địa nhỏ nhưng tinh thần hy sinh đòi độc lập bằng xương máu thì lúc nào cũng quyết tâm to tác. Phản ứng của những phe nhóm chủ hòa có cơ hội xét lại phương cách đấu tranh và từ đó tiếng vang về cuộc khởi nghĩa Yên Bái đã thức tỉnh bao tâm hồn đang say ngủ trước thời cuộc. Chính việc khởi nghĩa thất bại này đã kích động lòng yêu nước nồng nàn của tầng lớp thanh niên khắp nước đứng lên đòi thực dân Pháp rút quân về nước trong các cuộc biểu tình đó đây.

Ngày nay Cộng sản thường xuyên tạc lịch sử để thay đen đổi trắng, nhưng về lòng yêu nước của Đảng trưởng cũng như các đồng chí của Người đều phản ảnh đúng đắn và cuộc Khởi Nghĩa Yên Bái lúc nào cũng được ca tụng. Hãy bỏ qua sự kiện nhà đương quyền Cộng Sản muốn dùng đó như sự “Hoà Giải Hòa Hợp Dân Tộc” thì ít ra lịch sử Việt Nam Quốc Dân Đảng gắn liền cùng vận mạng quốc gia bất khả phân.

Dân tộc Việt nam đã bị mất đi những người con ưu tú của đất nước, nhưng bù lại lịch sử cận đại chói lòa ánh sáng nhân bản của các anh hùng vị quốc vong thân. Ngày nay khi nói về Việt Nam chúng ta lại quặn tấc lòng vì tưởng rằng xua đuổi thực dân phong kiến sẽ đem lại nền độc lập, tự do cho quê hương, ai ngờ đảng Cộng Sản thống trị từ năm 1975 đến nay mang bao bất công, nghèo nàn, tham nhũng và sa đọa còn hơn thời thực dân, phong kiến. Nhất là nền văn hóa Lạc Hồng bị mai một sau bao năm thực hiện chủ thuyết Xã hội Macxit trên quê hương. Hàng triệu con dân rời xa tổ quốc, hàng vạn phụ nữ bị cưỡng bức làm thê thiếp xứ người, hàng ức vạn thanh niên bán sức lao động ở mọi quốc gia chỉ để cho ngày hai bữa cơm rau đạm bạc. Tuy thế, nỗi nhục nhằn đó chưa thấm vào đâu khi so sánh với sự đớn hèn của đám lãnh đạo Hà Nội cúi đầu trước phương bắc, chấp nhận thấy đất tổ tiên bị thôn tính vẫn bình thân như vại, ngư dân của mình bị Tàu Cộng bắt cóc, bắn giết mà vẫn ngu ngơ, phản ứng lấy lệ, đất Tây nguyên đã bị khai thác mà hậu quả nghiêm trọng về môi sinh không ai ngó ngàng; ngược lại người dân lên tiếng phản đối, treo khẩu hiệu “Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam” liền bị cầm tù và bức hại.

Ôi thôi, càng nói càng đau, càng viết càng cay. Nhân ngày kỷ niệm 80 năm Tổng Khởi Nghĩa Yên Bái, kẻ viết bài này thành kính đốt nén hương tưởng niệm lên chư anh hùng, liệt nữ, hồn thiêng sông núi xui khiến sao cho tim óc những đám chóp bu Hà Nội có được chút “nhân tính” thường tình để đối xử với đồng bào như con dân cùng một quốc gia. Xin ơn trên gieo chút “Nhân” liêm sỉ, nhân tư cách, nhân bảo vệ đất tổ…thì thế nào mai sau cũng có kết quả cho quê hương không còn bao bất công, tham nhũng và nô lệ.

Các đồng chí hậu duệ của anh hùng Nguyễn Thái Học đã thừa hưởng cái “nhân” can đảm, bất khuất và trung kiên vô cùng quý hiếm, giống như gã cùng tử trong kinh Pháp Hoa đeo ngọc trong chéo áo mà chẳng lấy xài thì uổn phí vô cùng. Do đó, bằng hành động cụ thể trong cách ngồi lại thành tâm tưởng niệm đại lễ Tổng Khởi Nghĩa hôm nay thì cái “quả” dời non lấp bể mới mong đạt an dân lạc quốc, nhược bằng “đèn nhà ai nhà ấy rạng” thì thật là phụ công của Đảng trưởng Nguyễn Thái Học và mười hai đồng chí của người hơn một lần hiên ngang ngửa mặt trước lúc lên pháp trường ngày 17 tháng 6 năm 1930.

Nguyễn Hồng Dũng 10-Feb-2010

Tham Khảo: -Việt Nam Quốc Dân Đảng: Hoàng văn Đào -Hoa Cành Nam Ban Tuyên Nghiên huấn VNQDĐ/TN -Website: Vietnamquocdandang.net -Tác giả phỏng vấn: Cụ Phan Như Toản cựu chủ tịch VNQDĐ/TN/HN@truyenhinhvietnam.TV [/b]

Posted: Thu Feb 25, 2010 12:39 am
by vuphong
Trồng cây hay trồng người?

Ngô Nhân Dụng

Hai vị tướng về hưu ở Hà Nội mới đưa ra công khai một bức thư yêu cầu đảng Cộng Sản chấm dứt ngay việc cho người Trung Hoa thuê đất rừng Việt Nam để khai thác trồng cây. Họ viết những lời lên án và cảnh cáo giận dữ nặng nề: Tự sát! Cố tình phá hoại! Gieo tai họa cho dân! Thâm độc và tàn bạo!

Tại sao phải nổi giận như vậy? Hai tác giả bức thư đã nói đến hành động “bán rừng,” “mua rừng” nhưng có thể khiến người đọc nghĩ đến hai chữ “bán nước.” Nếu có quốc gia nào âm mưu “mua rừng” của nước ta thì thâm độc và tàn bạo thật!

Theo lá thư ngỏ trên, mười tỉnh ở khắp ba miền Việt Nam đã cho người ngoại quốc thuê tổng cộng hơn 300 ngàn mẫu (ha) đất rừng, trong dài hạn 50 năm. Trong số đó, gần 90% đất rừng là cho những người thuê đến từ lục địa Trung Quốc, Đài Loan và Hồng Kông, nói chung là các công ty của người Trung Hoa. Phần lớn các khu đất rừng cho thuê nằm ở vùng biên giới. Riêng trong tỉnh Lạng Sơn, sẽ cho thuê hơn 70 ngàn mẫu tây rừng, bằng một phần tư tổng số rừng cho thuê khắp nước. Lạng Sơn là nơi quân đội Trung Hoa đã phá tan thị xã thành bình địa trong cuộc chiến năm 1979.

Hai ông Đồng Sĩ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh viết: “Các tỉnh bán rừng là tự sát và làm hại cho đất nước.” Hai ông cũng ám chỉ đến một âm mưu lâu dài khi viết thêm: “Đây là một hiểm họa cực lớn liên quan đến an ninh nhiều mặt của quốc gia.” Cho nên họ tố cáo, “Các nước mua rừng của ta là cố tình phá hoại nước ta và gieo tai họa cho nhân dân ta một cách thâm độc và tàn bạo.”

Trước những những lời tố cáo của hai ông “tướng về hưu” trên, giới lãnh đạo đảng Cộng Sản và bộ máy chính quyền trung ương, như thường lệ, không ai thèm trả lời. Giống như họ từng bỏ qua không thèm trả lời mấy trăm nhà trí thức phản đối về vụ Bauxite. Họ gần như mặc nhiên coi việc cho người ngoại quốc thuê khai thác rừng là thuộc trách nhiệm của những cán bộ ký hợp đồng cho thuê, tức là các quan chức cấp tỉnh, hay thấp hơn!

Một lần nữa, chúng ta đứng trước một vấn đề luật pháp về quyền sở hữu và quyền sử dụng đất đai, mà chế độ hiện nay cố ý giữ chặt di sản từ thời Hồ Chí Minh để lại, sau khi làm cải cách ruộng đất. Nhà nước cộng sản đã tịch thâu tất cả đất đai của toàn dân với quy tắc “nhân dân làm chủ,” tạo cơ hội cho các cán bộ cộng sản mặc sức lạm dụng, tham nhũng vì họ nắm toàn quyền quyết định! Lạm dụng cơ chế để làm giầu là một đặc quyền của các đảng viên cộng sản; nhưng khi đặc quyền đó lại có thể tác hại đến chủ quyền đất nước và gây hại lâu dài thì mọi người dân Việt Nam phải thắc mắc, như hai ông Đồng Sĩ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh.

Luật pháp cộng sản coi tất cả đất đai đều thuộc quyền quản lý của nhà nước, không người dân nào có quyền làm chủ đất. Nhưng ai là người nắm quyền cấp giấy phép cho dân sử dụng đất, theo những điều kiện nào? Luật pháp không rõ ràng đầy đủ, tạo cơ hội cho các quan chức địa phương giải quyết tùy tiện, áp dụng linh động. Một công ty ngoại quốc muốn thuê đất làm trụ sở hoặc dựng nhà máy, cơ xưởng có thể phải chạy chọt với quan chức cấp huyện hay cấp tỉnh, hay phải xin phép từ trung ương, điều này tùy thuộc “mối làm ăn” lớn hay nhỏ. Việc cho thuê đất rừng chắc cũng theo lối này.

Quan chức cộng sản cấp tỉnh tại Lạng Sơn đã bác bỏ lời lên án “bán rừng” của hai vị tướng về hưu. Một viên giám đốc trong tỉnh nói rằng “Không có chuyện mua bán đất đai. Không chuyển nhượng sở hữu, mà chỉ có cho thuê!”

Nói như vậy là đáng bùn sang ao, cũng như không nói gì cả. Tất nhiên là ở trong nước Việt Nam bây giờ không ở đâu có chuyện mua bán đất đai hay chuyển nhượng quyền sở hữu đất đai. Vì theo hiến pháp tất cả đất đai trên toàn quốc là “của tòan dân,” không ai có quyền sở hữu để mà mua hay bán! Nhưng trong thế giới bây giờ, ngay tại những nước tư bản, “quyền sở hữu” không quan trọng bằng “quyền sử dụng.” Ban giám đốc các công ty như IBM, Bank of America, Coca Cola nắm nhiều quyền hơn hầu hết, nếu không nói là tất cả chủ nhân các cổ phần!

Trên nguyên tắc toàn dân Việt Nam chung nhau quyền sở hữu đất đai, nhưng đảng Cộng Sản chiếm độc quyền “lãnh đạo nhà nước và xã hội” quyền hành to lớn hơn tất cả các ban giám đốc của những công ty tư bản, vì không ai có thể thay đổi ban giám đốc như trong các đại hội cổ đông! Cho nên đảng Cộng Sản nắm độc quyền sử dụng và cho phép người khác sử dụng tất cả đất đai trong nước, từ đất xây nhà ở đến đất làm ruộng hay trồng rừng, đào ao thả cá hay dùng làm nghĩa địa!

Như vậy thì các công ty Trung Quốc không cần phải “mua đất” trồng rừng ở Việt Nam! Vì trong chế độ xã hội chủ nghĩa này không có ai “bán đất” cả. Các ông chủ người Tầu chỉ cần “thuê đất” thì họ cũng có quyền hạn không khác gì những nông dân Việt Nam đang được nhà nước cho phép sử dụng đất cầy ruộng! Đất để xây nhà cũng là đất được nhà nước cho phép dân sử dụng, mà quyền sử dụng không có gì bảo đảm là vĩnh viễn, không biết lúc nào nhà nước đòi lại để làm việc khác hay cho người khác dùng. Thời hạn tối đa người nông dân Việt Nam được phép sử dụng đất cũng là 50 năm, không lâu dài hơn các ông chủ Trung Quốc thuê rừng 50 năm! Nếu vậy thì các ông chủ Tầu có quyền sử dụng đất rừng Việt Nam lâu dài không khác gì các nông dân Việt Nam đang làm ruộng. Nếu họ mạnh vì gạo, vì tiền, thì họ còn nắm quyền thuê đất trồng cây lâu hơn nữa!

Cho nên hai ông Đồng Sĩ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh mới cảnh cáo: “Mất của cải còn làm lại được, còn mất đất là mất hẳn.” Họ là những người đã trông thấy hàng triệu đồng đội chết vì những lời kêu gọi lòng yêu nước. Bây giờ họ đứng trước mối họa mất nước!

Đó là chưa kể một điều đáng lo khác: Mối nguy trồng người! Bức thư ngỏ của hai ông tướng về hưu đã nói đến “mối nguy di dân” khi các công ty Đài Loan, Hồng Kông hay Trung Quốc đem người Tầu sang làm việc!

Hiện tượng trồng người đang diễn ra. Hiện nay ở Việt Nam đã có những làng của công nhân người Hoa làm trong các dự án do người Trung Quốc đứng thầu. Đã xẩy ra nhiều vụ xung đột với dân bản xứ người Việt. Tháng Sáu năm ngoái, 200 công nhân người Trung Quốc đã tấn công dân chúng một làng ở Thanh Hóa, sau một vụ ẩu đả giữa một công nhân và người chồng của một bà chủ quán.

Cuối năm ngoái, nhật báo New York Times đã viết cả một bài về việc ”xuất cảng lao động” của Trung Quốc tại Việt Nam. Họ lấy thí dụ công trường xây cất nhà máy nhiệt điện chạy bằng than ở Trung Sơn, Hải Phòng. Trong bốn năm xây dựng, chỉ có mấy trăm người Việt Nam kiếm được việc làm ở đó, còn hầu hết là người Hoa, có lúc lên đến 1,500 công nhân Tầu. Họ sống trong những cư xá riêng, với các cơ sở cung cấp dịch vụ cho họ cũng do người Trung Hoa trông coi, bốn chung quanh kín cổng cao tường. Có cả một “nhà tắm hơi đấm bóp” mà người ta biết ở trong có những “dịch vụ đen tối” khác, treo bảng chiêu khách bằng chữ Hán! Phóng viên Thời báo New York viết: “Cả một thế giới Trung Hoa mọc lên,” (an entire Chinese world has sprung up). Có cả một con đường treo bảng tên Quảng Tây Lộ! Tiệm ăn Tầu mang tên Quảng Tây treo bảng viết chữ Hán, quảng cáo, thực đơn bằng chữ Hán. Một nhóm công nhân người Hoa ngồi nhậu say sưa trong quán này, một anh họ Lâm nói với phóng viên Edward Wong của báo Times: “Tôi được gửi qua đây làm việc, để tròn bổn phận đối với tổ quốc” (I was sent here, and I am fulfilling my patriotic duty). Tất nhiên, anh ta nói đến tổ quốc Trung Hoa của anh.

Đó là mối họa di dân có thực. Chính quyền cộng sản vẫn mập mờ về chuyện giấy phép làm việc của các công nhân Trung Hoa sang Việt Nam. Phạm Chi Lan, cựu chủ tịch Phòng Thương mại Việt Nam nói với nhà báo Mỹ: Hiện nay có những làng hoàn toàn Trung Quốc. Chúng tôi chưa bao giờ thấy một hiện tượng như vậy trong các dự án của công ty người nước khác.” Trong một nước Việt Nam mà nạn thất nghiệp vẫn trầm trọng khiến phải “xuất cảng” nửa triệu người ra ngoại quốc kiếm ăn, sự có mặt của gần 40,000 công nhân Trung Quốc để làm những công việc không chuyên môn là điều không thể hiểu nổi.

Nhưng đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn nhẫn nhịn chấp nhận cho tư bản Trung Quốc và lao động Trung Quốc vào khai thác đất đai, hầm mỏ Việt Nam. Trong bài phóng sự trên Thời báo New York ngày 21 tháng 12 năm 2009, ký giả Wong cho biết ban giám đốc nhà máy điện sắp hoàn tất ở Hải Phòng còn kêu gọi chính quyền hãy cho thêm công nhân người Hoa vào làm những công việc không chuyên môn, để “hoàn tất dự án” kịp thời hạn. Đó là kiến thức và quan niệm của các quan chức cộng sản nước ta; họ chỉ nhìn vào cái lợi trước mắt. Người Trung Hoa thường tính kế lâu dài. Quản Tử nói, “Kế hoạch 10 năm không gì bằng trồng cây; kế hoạch 100 năm không gì bằng trồng người.” Trồng người có thể hiểu theo nghĩa bóng là giáo dục, còn nghĩa đen là đem “cấy người” vào sống trong những vùng đất mới.

Trong lịch sử, người Việt đã từng xâm chiếm đất đai của các nước Chiêm Thành, Chân Lạp, bằng cách di dân theo lối “tầm ăn dâu.” Giữa hai cuộc chiến tranh, trong lúc hòa hiếu tạm thời, bao nhiêu thế hệ người Việt đã đi qua các nước trên, khai phá đất đai và lập thôn lập xóm, từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đó là một thứ kế “trồng người” theo nghĩa đen. Chúng ta đã biết kết quả của kế hoạch trồng người đó ra sao. Cho nên có thể hiểu tại sao hai ông tướng về hưu Đồng Sĩ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh lại cảm thấy cay đắng và giận dữ trước một hoàn cảnh tương tự. Vì họ phải lo lắng thấy người Việt Nam có thể sẽ phải đóng vai giống như người Chàm và người Khờ Me đời trước.

Posted: Sat Feb 27, 2010 2:48 am
by dailien
Ngàn nghĩa, vạn tình của Hồ Chí Minh

Ngô Nhân Dụng

Một lá thư từ trong nước chuyển đi cho biết trong đêm Giao Thừa, năm Canh Dần, có mấy đài truyền hình ở Việt Nam chiếu cảnh liên hoan, với bài “Việt Nam, Trung Hoa núi liền núi, sông liền sông, chung một biển Ðông...” Bài này sáng tác trong thời kỳ Hồ Chí Minh đang cổ võ về “tình nghĩa” giữa hai đảng cộng sản. Cuối bài, một nam ca sĩ người Tầu và một nữ ca sĩ Việt cùng song ca điệp khúc, “Dân Nam ta ca muôn năm Hồ Chí Minh-Mao Trạch Ðông” giống như một khẩu hiệu để ghi nhớ mãi mãi.

Người viết lá thư cho đây là một cảnh rất đau lòng, khó tin nhưng có thật. Trong lúc các sinh viên Việt Nam đã biểu tình chống Trung Cộng chiếm Hoàng Sa và bị đàn áp, nhà trí thức đang báo động đồng bào về mối họa các công ty Trung Quốc sang khai thác bô xít ở Việt Nam, các mạng lưới bị phá và nhiều người bị bắt giam, ngay sau khi hai cựu tướng lãnh cảnh cáo việc cho người Trung Hoa thuê rừng trồng cây gây mối nguy về di dân bất hợp pháp, mà các cơ quan tuyên truyền của chính phủ Hà Nội lại ca ngợi những tình nghĩa của giữa ông Mao và ông Hồ, thì đây là một chuyện khó tin thật. Trong dịp Giao Thừa vừa qua, một nhà khoa học Việt Nam còn cho biết những dự án “thuê rừng” của người Trung Quốc có thể che đậy âm mưu tìm và khai thác uranium ở nước ta!

Tại sao đảng Cộng Sản Việt Nam có thể “vô tri, vô giác” đối với những mối lo của người Việt Nam mà cứ liên hoan Mao Hồ như vậy?

Chỉ có thể đoán đây là một sáng kiến của các đồng chí Trung Quốc và các quan chức cộng sản nước ta không thể từ chối được. Chính phủ Bắc Kinh biết có thể sử dụng hình ảnh Hồ Chí Minh để “động viên” tinh thần của nhiều người Việt Nam thật thà, chất phác, nhiều người sống ở nông thôn vẫn đặt hình ông Hồ lên bàn thờ tổ tiên. Ðem ông Hồ ghép với ông Mao sẽ chinh phục được nhiều người Việt Nam mê ngủ. Vì chính lúc ông Hồ còn sống, ông đã chấp nhận và cho phổ biến những câu Chế Lan Viên viết,

“Bác Mao không ở đâu xa

Bác Hồ ta đó chính là Bác Mao.”

Ðem Hồ với Mao ghép chung trong một câu hát, có thể vong linh ông Hồ còn hãnh diện nữa. Ðảng Cộng Sản Việt Nam khó từ chối bài hát giao thừa “hữu nghị” này, vì họ không thể chối cãi được là suốt đời Hồ Chí Minh vẫn nhắc nhở mọi đảng viên rằng họ phải biết ơn đảng Cộng Sản Trung Hoa. Không những thế, còn phải công nhận cả nghĩa lẫn tình với các đồng chí phương Bắc nữa. Xưa nay người Việt Nam thường dùng hai chữ “tình nghĩa” khi nói đến anh em, vợ chồng. Hồ Chí Minh là người thứ nhất sử dụng hai chữ đó trong việc bang giao giữa hai nước.

Năm 1961, nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập Ðảng Cộng Sản Trung Quốc, Hồ Chí Minh viết một bài ca tụng “40 năm vẻ vang, 40 năm thắng lợi”... “viết những trang lịch sử vĩ đại của Ðảng Cộng Sản Trung Quốc,” đăng trên nhật báo Nhân Dân ở Hà Nội ngày 1 tháng 7, năm 1961.

Trong bài báo đó (in lại trong Hồ Chí Minh Toàn Tập, tập X, NXB Chính Trị Quốc Gia, năm 2000, trang 365-368), Hồ Chí Minh đã kể rõ công ơn của Cộng Sản Trung Quốc đối với đảng Cộng Sản Việt Nam. Công ơn đầu tiên là “Ảnh hưởng cách mạng Tháng Mười Nga và lý luận Mác- Lênin phần lớn kinh qua Trung Quốc mà truyền đến Việt Nam.” Nói cách khác, ngay trên mặt lý thuyết căn bản, cộng sản nước ta chịu ơn của cộng sản Tầu dạy dỗ.

Ngoài ra, Cộng Sản Việt Nam bắt đầu hoạt động cũng ở bên Tầu và Cộng Sản Tầu còn giúp họ nhiều dịp khác. Ông Hồ lần lượt kể những mối ơn không thể chối cãi được đó.

Hồ Chí Minh đã tóm tắt những công ơn này với hai câu thơ,

Trăm ơn, ngàn nghĩa, vạn tình,

Tinh thần hữu nghị quang vinh muôn đời!”

Ông Hồ là người nói năng khôn ngoan, đắn đo, cân nhắc từng chữ. Khi viết trên tờ báo chính thức của đảng thì chắc chắn ông còn thận trọng gấp bội. Khi ông nói Cộng Sản Việt Nam “chịu ơn Trung Quốc 100 phần, nhưng còn nặng nghĩa 1,000 lần và có tình đến 10,000 lần” thì chúng ta phải hiểu ông đã đo đếm, tính toán rất kỹ. Chịu ơn, người ta có thể trả ơn, chịu nghĩa cũng có thể đền đáp được, nhưng mối “tình một vạn” thì suốt đời cũng không bao giờ quên được.

Trong Hồ Chí Minh Toàn Tập, cuốn số 11, từ trang 64 đến trang 76, có đăng bốn bài diễn văn của Hồ Chí Minh khi đón tiếp Lưu Thiếu Kỳ tới Hà Nội năm 1963. Trong lời chào đón phái đoàn Lưu Thiếu Kỳ và Trần Nghị ở sân bay Gia Lâm, Hồ Chí Minh đã đọc hai câu thơ: “Mối tình thắm thiết Việt-Hoa; Vừa là đồng chí vừa là anh em.” Trong bài diễn văn tại buổi tiệc chiêu đãi phái đoàn nước đàn anh, ông Hồ đã nhắc lại một câu ngạn ngữ của người Tầu để nói tới “...tình đoàn kết như môi mới răng giữa hai nước và hai đảng chúng ta...” Ðây là những bản văn chính thức được Hồ viết ra, đăng trên báo Nhân Dân, đặt tiền lệ cho các khẩu hiệu “đồng chí-anh em” và “như môi với răng.” Hai khẩu hiệu đó được hai đảng cộng sản dùng mãi sau này, chỉ ngưng dùng mươi năm sau cuộc chiến biên giới 1979 khi răng cắn môi chảy máu, nhưng bây giờ lại được các đồng chí Trung Quốc lập lại. Vì chính ông Hồ đã nói những khẩu hiệu đó trước, cho nên đảng Cộng Sản Việt Nam không thể từ chối được!

Vào năm 1961 đó, Trung Cộng vừa mới thất bại trong chiến dịch “Bước Nhẩy Vọt” của Mao Trạch Ðông, một chương trình kinh tế không tưởng làm hai chục triệu người Trung Hoa chết đói, có nơi nông dân phải ăn thịt lẫn nhau, nhưng Hồ Chí Minh vẫn hết lời ca tụng với Lưu Thiếu Kỳ, “Công cuộc vĩ đại xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân Trung Quốc dưới sự lãnh đạo đúng đắn của đảng Cộng Sản đứng đầu là đồng chí Mao Trạch Ðông đã làm gương sáng cho nhân dân Việt Nam chúng tôi.” Ông Hồ cũng nhắc lại, “những thắng lợi cực kỳ vẻ vang của Trung Quốc đã cổ vũ những người cách mạng Việt Nam phất cao ngọn cờ chủ nghĩa Mác-Lênin...” Dân miền Bắc Việt Nam thời đó thoát chết vì trong lúc đó Hồ Chí Minh đã bắt đầu chương trình xâm nhập quân đội và vũ khí “chiếu cố miền Nam;” cho nên ông không thể thi hành một “Bước Nhẩy Vọt” ở phía trên vĩ tuyến 17, giống như ông đã theo ông Mao làm cải cách ruộng đất. Nếu ông rảnh tay “xây dựng chủ nghĩa xã hội” theo gương Mao Chủ Tịch thì chắc nhiều nông dân Việt Nam cũng phải chết đói, đoàn kết với các đồng chí Trung Quốc ở dưới suối vàng!

Ðiểm đáng chú ý là Hồ Chí Minh không những ca ngợi tình nghĩa giữa ông ta với cộng sản Trung Quốc, hay tương quan giữa hai đảng Cộng Sản Việt Nam và Trung Quốc; nhưng ông ta còn kéo cả nước Việt Nam vào trong mối quan hệ đó. Ðây là một chủ trương ngoại giao rất nguy hiểm.

Nhưng Hồ Chí Minh có một tình cảm thắm thiết đối với Cộng Sản Trung Hoa, điều này chính ông đã nói ra. Những tình cảm này rất sâu sắc. Chính vì vậy nên ông mới nói đến “trăm ơn, ngàn nghĩa, vạn tình.”

Trong bài viết chúc mừng 40 năm thành lập Ðảng Cộng Sản Trung Quốc năm 1961, Hồ Chí Minh đã viết một trang dài “Riêng về phần tôi...” để kể lại những tình nghĩa cũ càng đó. Ông thuật lại trong những năm 1924-1927, ông đến Quảng Châu, “tham gia công việc do Ðảng Cộng Sản Trung Quốc giao phó.” Ông cho biết đã “được tham gia việc dịch tài liệu nội bộ và việc tuyên truyền đối ngoại.” Trong cuốn “Hồ Chí Minh: Những năm còn sót” của bà Quinn Judge, bà cho biết trong khoảng thời gian này, Hồ Chí Minh lấy những tài liệu được phép thông dịch đó để gửi về báo cáo cho Stalin, coi đó là công tác tuyên truyền của chính mình. Ðó cũng là một mánh khóe để xin tiền của Ðệ Tam Quốc tế.

Khoảng cuối năm 1938, Hồ lại sang Trung Quốc lần nữa, và lần này, chính ông kể lại trong bài báo trên, “Là một người binh nhì trong 'Bát lộ quân' tôi làm chủ nhiệm câu lạc bộ của một đơn vị ở Quế Lâm. Sau đó được bầu làm bí thư chi bộ của một đơn vị ở Hành Dương.” Tức là ông Hồ đã từng đi lính cho ông Mao, và làm đến chức binh nhì như ông tự giới thiệu (Hồ Chí Minh Toàn Tập, tập X, trang 367).

Nhưng công ơn của Cộng Sản Trung Quốc lớn hơn nữa. Cũng trong bài báo trên, Hồ Chí Minh cho biết, “Trong lúc đó, các đồng chí Trung Quốc ra sức giúp tôi chắp liên lạc với trong nước ta. Ðây là một công ơn lớn,” vì ông Hồ kể một đồng chí trong nước đã sang Tầu tìm gặp ông Hồ nhưng đã bị một người bạn xoáy hết tiền, phải quay trở về. May mắn, “Nhưng sau đó, các đồng chí Trung Quốc vẫn giúp tôi chắp được liên lạc để về nước hoạt động.”

Vì vậy cho nên Hồ Chí Minh không những chịu ơn Cộng Sản Trung Quốc mà ông còn cảm thấy có nghĩa và có tình nữa. Có nghĩa, vì chính Cộng Sản Trung Quốc nhận ông làm lính rồi “chắp được liên lạc” cho ông trở về Việt Nam. Có tình, một thứ tình “huynh đệ chi binh” vì ông đã làm binh nhì trong Ðệ Bát Lộ Quân. Một bác sĩ Trung Quốc kể lại nụ cười cuối cùng của Hồ Chí Minh trước khi qua đời là lúc ông yêu cầu được nghe một bài dân ca Trung Quốc, và một cô y tá người Trung Hoa đã hát cho ông nghe. Sau đó, ông mê man, không bao giờ cười nữa.

Trong đoạn kết luận bài báo năm 1961, Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh một lần nữa là hai đảng cộng sản “có cảm tình khắng khít thương yêu nhau như anh em một nhà” (Sách trên, trang 368). Ðó chính là nguồn gốc của những mối họa mà các nhà trí thức trong nước, kể cả các vị tướng về hưu, đã báo động.

Trong bang giao quốc tế, một điều ai cũng biết, là các quốc gia không coi nước nào là bạn, mà cũng không coi ai là kẻ thù; họ chỉ nghĩ đến quyền lợi đối với nhau thôi. Khi kéo quốc gia mình, bắt cả nước phải làm bạn “ngàn nghĩa vạn tình” với một quốc gia khác, là tự trói tay trói chân, không cho đồng bào mình tự do hành động nữa. Các lãnh tụ Cộng Sản Việt Nam từ thời Hồ Chí Minh đã mắc phải lầm lỡ nặng nề này. Họ gây ra cuộc chiến Nam Bắc trong 20 năm cũng chỉ vì muốn cộng sản hóa cả nước Việt Nam, theo chương trình của cộng sản quốc tế do Nga và Trung Quốc lãnh đạo. Ngày nay, họ vẫn gắn bó với Trung Quốc bằng “16 chữ vàng” cũng chỉ vì đã bị ràng buộc bởi những “ngàn nghĩa, vạn tình,” di sản do Hồ Chí Minh để lại.

Posted: Sun Feb 28, 2010 3:15 am
by caolynh
Âm mưu Bắc thuộc kiểu mới

Võ Long Triều

Trong một số bình luận, chúng tôi đã trình bày với khán thính giả và đồng bào về nguy cơ Bộ Chính Trị Cộng Sản Hà Nội tự nguyện làm tay sai cho Trung Quốc, biến Việt Nam thành chư hầu. Trung Cộng không cần phải dùng võ lực xâm chiếm. Nước ta sẽ bị quan thầy cai trị như Tân Cương và Tây Tạng. Mười lăm ông ngồi trong Bộ Chính Trị Ðảng Cộng Sản Việt Nam sẽ là những quan “Thái Thú” vâng theo lệnh của Bắc Kinh.

Chúng tôi cũng có phân tích trên truyền thông báo chí 16 chữ vàng, “Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai.” Và 4 tốt, “Láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt.” Những chữ vàng và cái tốt đó tác hại vô cùng to lớn đối với đất nước và lợi ích quốc gia. Sự nhún nhường, khiếp sợ, hèn nhát hay là thuận ý tiếp tay của Hà Nội, cho phép Trung Cộng gây nguy hại cho nền kinh tế bằng cách đưa hàng hóa, bị thế giới chê trả vì khám phá có độc, tràn sang Việt Nam vừa làm cho nền công kỹ nghệ nước nhà bị đình trệ vừa đầu độc dân chúng. Ấy vậy mà một tên tham vụ kinh tế quèn của Tòa Ðại Sứ Trung Quốc, Hồ Tỏa Cẩm, họp báo lớn tiếng yêu cầu nhà cầm quyền Hà Nội phải cảnh cáo và có biện pháp đối với báo chí và vị giám đốc Cục Kiểm Soát Thực Phẩm Việt Nam dám chê hàng Trung Quốc. Tên này lớn giọng nói, “Hiện chúng ta có quan hệ hợp tác toàn diện giữa hai nước xã hội chủ nghĩa cho nên báo chí phải làm theo sự thỏa thuận của hai chính phủ.”

Mặc khác, hàng trăm ngư dân Việt Nam đánh cá trong hải phận của mình, bị tàu Trung Quốc chận bắt người, cướp cá, phá lưới, phá tàu và giam cầm đòi tiền chuộc! Những chiếc tàu đó chính thức mang cờ Trung Quốc có tên hiệu tàu đầy đủ, thế mà phát ngôn viên cộng sản Hà Nội không dám nêu dích danh tàu của ai, chỉ dám gọi “tàu lạ”! Ngược lại, ngư dân Trung Quốc đánh bắt cá trong vùng biển Việt Nam, Hải Quân Hà Nội chỉ dám cảnh cáo và dẫn độ họ ra hải phận quốc tế, không dám bắt giữ như chính phủ Phi Luật Tân đã làm và đòi Trung Quốc phải công khai lãnh về, bảo đảm không tái phạm. Riêng Việt Nam không dám có một lời phản đối mạnh mẽ.

Gần đây ngày 6 tháng 11, 2009, trong bài “Cộng Sản Hà Nội Hán Hóa Việt Nam” đăng trên nhật báo Người Việt, tôi trích dẫn lời kêu gọi của Trường Chinh, tổng thư ký đảng Lao Ðộng, sau là tổng bí thư đảng cộng sản như sau, “Việt Nam của chúng ta là một nước biết bao lâu làm chư hầu cho Trung Quốc. Ðồng bào của ta nên loại hẳn cách viết theo lối Tây, hãy trở về với chữ của ông bà ta là chữ nho của Trung Quốc. Vả chăng người Trung Hoa, bạn của ta - mà có lẽ là thầy của chúng ta nữa - ta không hổ thẹn mà nhìn nhận như thế. Ta hãy bỏ bệnh viện của chúng, ta hãy dùng thuốc dán của ông cha ta để lại và nhất là dùng thuốc Tàu danh tiếng khắp cả hoàn cầu.” (Truyền đơn số 284/LD, báo Tiếng Dội số 426 ngày 24 tháng 8, 1951 của miền Nam tự do đăng lại để vạch mặt bọn bán nước, hiện còn lưu trữ tại British Museum-London Anh Quốc) .

Sau Trường Chinh đến Phạm Văn Ðồng ký bản văn nhìn nhận quyền Trung Quốc nới rộng hải phận.

Ðến lược Nguyễn Tấn Dũng “triều cống” cao nguyên cho Trung Quốc mà ngay cả Ðại Tướng Võ Nguyên Giáp, một công thần khả kính lừng danh viết thơ phản kháng cũng không được. Sự kiện mà ký giả David Filling của báo Financial Times dùng chữ “pay tribute” (cống vật) để diễn tả. Và tệ hại hơn nữa là có tiếng đồn Trung Quốc hối lộ cho Dũng 250 triệu US đô la. Có hay không chỉ một mình ông Dũng và người đưa tiền biết.

Ngày 25 tháng 5, năm 2009, Tổng Bí Thư Nông Ðức Mạnh tiếp Bộ Trưởng Ngoại Giao Trung Quốc Dương Khiết Trì, xác định liên hệ Việt-Trung mãi mãi dựa trên 16 chữ vàng và 4 cái tốt. Mạnh lại còn hứa nâng “hợp tác toàn diện” lên mức độ cao hơn!

Nhìn lại quá khứ, báo chí đã từng đưa tin, chỉ đích danh nhiều xã, huyện, tỉnh, có công nhân Trung Quốc tập trung đông đúc, lập đường sá đặt tên bằng chữ Hán. Người Việt phạm pháp bị chúng bắt giữ và tự ý xử trị. Công an Việt Nam đòi trả người, chúng không giao. Nhiều nơi công nhân Trung Quốc rượu chè say sưa ăn uống không trả tiền bị chủ nhân người Việt lôi kéo ấu đả, cả trăm công nhân Trung Quốc kéo nhau đánh đập dân làng công an không dám can thiệp. Thực tế đã có nhiều xứ “tiểu Trung Quốc” rải rác khắp nơi. Trong khi đó nhà cầm quyền Hà Nội lại cho phép người Trung Hoa tự do ra vào Việt Nam không cần có hộ chiếu hay giấy tờ tùy thân. Ðúng như Phó Thủ Tướng Tố Hữu khẳng định:

“Bên nầy biên giới là nhà,

bên kia biên giới cũng là quê hương”

Cộng sản Bắc Việt còn có bài ca như sau, “Việt Nam Trung Hoa, núi liền núi, sông liền sông, chung một biển Ðông, mối tình hữu nghị sáng như rạng đông. Ðêm sông núi cùng một dòng, tôi nhìn sang đấy, anh nhìn sang đây, chúng ta sống chung nghe tiếng gà gáy cùng. Chung một ý, chung một lòng, Ðường ta đi hồng màu cờ thắng lợi. Nhân dân ta ca muôn năm Hồ Chí Minh-Mao Trạch Ðông.”

Rõ ràng là công sản Hà Nội đã thuận lòng dâng cả nước cho Trung Cộng rồi. Từng bước, Trung Quốc lấn dần bằng cách bỏ tiền đầu tư vào mọi ngành nghề, đấu thầu thực hiện mọi thứ công tác mà nhà cầm quyền Việt Nam từ địa phương đến trung ương phải có bổn phận cho họ trúng thầu như thực tế đã chứng minh.

Ngày nay, lại thêm việc chín tỉnh phía Bắc và một tỉnh phía Nam cho mướn đất dài hạn 50 năm, nói là để trồng cây gây rừng. Thật là một tai hại vô cùng khủng khiếp xét về nhiều mặt. Tôi tin chắc không thể nào 15 thành viên của Bộ Chính Trị không thấu hiểu điều đó. Tôi cũng tin chắc rằng sự nhận xét của chuyên gia Vũ Ngọc Tiến là không đúng khi ông cho rằng, “Dưới không dám phê bình trên, để cho trên muốn làm gì mặc ý thì trên cũng thả lỏng cho dưới tha hồ đem tài sản quốc gia trao đổi bán chác kiếm miếng lợi riêng.” Ngược lại tôi tin là trên dưới cấu kết bao che nhau với mục đích cùng chung phục vụ quan thầy, bán nước cầu vinh trục lợi!

Những tai hại trước mắt: Thứ nhứt là đốn cây phá rừng để trồng lại sẽ ảnh hưởng đến môi trường, gây lụt lội bất thường, điều này đã xẩy ra cho các tỉnh Sơn La, Lào Cai, Yên Bái, Cao Bằng mà vì nhà cầm quyền địa phương ở đó cho khai thác khoáng sản bừa bãi. Kết quả thấy liền là trâu bò ở các tỉnh đó đã chết vì thiếu cỏ và thời tiết quá lạnh, đó là theo bản tin đài SBTN loan tải ngày 22 tháng 2, 2010. Tai hại thứ hai là đốn cây hay trồng cây gây rừng cần nhân công, do đó sẽ có một cuộc di dân ào ạt vì các công ty Trung Quốc đưa nhân công của họ sang lập làng xã riêng biệt như họ đã từng làm từ trước đến nay. Tai hại thứ ba là những mảnh đất sát biên giới sẽ trở thành đất của Trung Quốc bằng cớ là việc cấm mốc phân ranh biên giới phía Bắc có rất nhiều nơi người Trung Hoa vào sâu trong đất Việt canh tác mang danh tính là thành viên của hợp tác xã Tàu, do đó ranh giới Tàu phải ăn sâu vào đất Việt. Bộ Chính Trị đảng và nhà cầm quyền Hà Nội không thể quên điều đó. Năm mươi năm sau, với sự lưu manh tráo trở và trâng tráo ỷ mạnh hiếp yếu của đồng chí Bắc Kinh, bản đồ Việt Nam sẽ đổi dạng một cách bi thảm. Tai hại thứ tư là các nhà doanh nghiệp đầu tư Hồng Kông, Ðài Loan, Trung Quốc đều là người Hoa. Với chiêu bài trồng rừng, mướn đất 50 năm họ có quyền khai thác những quặng mỏ quan trọng quí giá như sulfua đa kim giàu chất vàng bạc, uranium. Sự nghiên cứu địa chất của người Pháp và Việt trên những vùng đất thật cổ này cho biết kết quả có rất nhiều khoáng sản và kim loại quí. Ðiều mà Trung Quốc bỏ tiền của ra mua hay mướn đất ở nhiều xứ Châu Phi và Châu Mỹ La-Tinh để tìm kiếm những quặng mỏ mà Trung Quốc có nhu cầu ngày càng cao. Cũng giống như trữ lượng khổng lồ dầu khí nằm dưới lòng đáy biển của các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa khiến cho Bắc Kinh sinh lòng tham và đẩy mạnh chính sách bành trướng bá quyền. Tai hại thứ năm, do hai vị tướng lãnh giàu kinh nghiệm, Ðồng Sĩ Khuyên và Nguyễn Trọng Vĩnh, nói lên, là các vùng đất địa đầu có ý nghĩa chiến lược vô cùng quan trọng. Hai ông đưa ra những đề nghị hữu lý nhưng Bộ Chính Trị phớt lờ cũng như đã từng khinh khi lời cảnh giác của Tướng Võ Nguyên Giáp phản đối việc cho Trung Quốc chiếm đóng cao nguyên. Tướng Ðồng Sĩ Khuyên và Nguyễn Trọng Vĩnh cũng đã từng tố cáo Tổng Cục II và T4, một vụ án quan trọng gây chia rẽ nội bộ đảng không ít, nhưng Nông Ðức Mạnh cầm đầu Bộ Chính Trị đã “khoanh lại” không dám khui vì hai trọng tội là Lê Ðức Anh và Ðỗ Mười nổi tiếng là “bạn bè tốt” nhứt và “đồng chí tốt” nhứt của thế lực Bắc Kinh.

Sự bất mãn oán hờn tràn lan trong xã hội đến nỗi một blogger trẻ tuổi biến đổi 16 chữ vàng thành 16 chữ oán, “Láng giềng khốn nạn, cướp đất toàn diện, lấn biển lâu dài, thôn tính tương lai.”

Ngày 6 tháng 1, năm 2010, Ðại Sứ Ðặc Mệnh Toàn Quyền Trung Quốc Tôn Quốc Tường họp báo chuẩn bị cho các hoạt động của Năm Hữu Nghị Việt-Trung giải thích việc tranh chấp biển Ðông nói rằng, “Hai nước đều là xã hội chủ nghĩa, do đảng cộng sản lãnh đạo với thể chế một đảng cầm quyền nên sẽ dễ giải quyết vấn đề tranh chấp.” Ông Tường còn đưa ra lời hăm dọa “Hợp tác sẽ phát triển, đấu tranh sẽ thất bại.” Chủ nghĩa bá quyền của Bắc Kinh đã hiện rõ, và sự quy lụy hèn nhát, bán nước cầu vinh trục lợi của Hà Nội đã được chứng minh qua nhiều sự việc. Viễn tượng mất nước và âm mưu “Bắc Thuộc” đang được thực hiện dần dần qua sự tiếp tay của đảng Cộng Sản Việt Nam. Chỉ khi nào đồng bào trong và ngoài nước không còn sợ hãi, vùng lên xóa bỏ chế độ độc tài, hay khi nào lòng yêu nước và tự ái dân tộc của quân đội cộng sản thúc đẩy họ đứng lên lật đổ bọn cầm quyền bán nước thì mới hy vọng đoàn kết được toàn dân chống Trung Cộng xăm lăng.

Võ Long Triều

Posted: Mon Mar 01, 2010 7:04 pm
by vuphong
‘’Nhẫn hơn nữa là Mất Nước.
Điều ấy, với nhân dân Việt Nam là không thể được’’.


Nguyễn Thùy

Câu trên (được dùng làm nhan đề bài viết nầy) là của nhà văn Hoàng Lại Giang trong ‘thư ngỏ gởi hai ông Đại sứ Trung Quốc tại VN’ được Trần Văn, phóng viên đài RFA phỏng vấn nhà văn,sau cuộc họp báo lần 2 của tên Đại sứ Tàu Cộng Tôn Quốc Tường được giới thiệu trên trang Web báo Điện tử Thế giới của Bộ Ngoại giao Việt Cộng qua bài ‘’Quan hệ Trung - Việt mãi mãi xanh tươi’’(Đại sứ trung Quốc, tiền nhiệm của Tôn Quốc Tường là Dương Công Tố). Theo nhà văn Hoàng Lại Giang, đại sứ Trung Quốc lần nầy có vẻ mềm mỏng hơn lần họp báo vào đầu năm 2010. Nhưng cũng theo nhà văn, quan điểm của viên Đại sứ cũng chỉ là ‘nhai lại’ luận điệu cũ xưa nay của nhà cầm quyền Bắc Kinh tuy lời lẽ có mềm mỏng hơn chút ít. Trong bài ‘’Quan hệ Việt-Trung mãi mãi xanh tươi’’, ngoài 16 chữ vàng đã có trước, đại sứ Tàu Cộng còn nêu thêm 16 chữ vàng khác là : ‘’Sơn thủy tương liên, Văn hóa tương thông, lý tưởng tương đồng, Vận mệnh tương quan’’. Nhà văn Hoàng Lại Giang nhận định 16 chữ nầy chỉ nhằm ‘’tiếp tục khẳng định rằng việc không ngừng củng cố và tăng cường hữu nghị, hợp tác toàn diện là điều phù hợp với lợi ích của hai nước, cũng như nguyện vọng của nhân dân hai nước’’ và nhà văn không cùng ‘cái nhìn lịch sử’ theo hướng đó của Bắc Kinh.

Qua cuộc phỏng vấn và qua bài ‘’Không thể nhìn lịch sử cùng một hướng’’ (mail của Bùi Trung Trực ngày 28/02/2010) câu người viết chú ý nơi lời nhà văn Hoàng Lại Giang và dùng làm nhan đề cho bài viết nầy là :‘’Nhẫn hơn nữa là mất nước’’. Câu nầy khiến người viết liên tưởng đến một câu chuyện được một người bạn kể cho nghe về chữ ‘Nhẫn’ lúc còn ở Sài-Gòn, cách đây gần 30 năm. Đại khái, câu chuyện như sau :



« Một con rắn tu luyện lâu năm có thể hóa thành người. Chỗ rắn ở gần một ngôi chùa, đêm đêm nghe tiếng chuông ngân, rắn thấy êm ả, thanh thoát .. Một hôm, rắn hóa thành một thiếu nữ áo trắng, lên chùa, nghe Sư thuyết pháp. Buổi thuyết pháp hôm đó, Sư nói về chữ ‘Nhẫn’ qua chuyện Đức Phật bảo đệ tử Ca Diếp :

‘’ -Ta sẽ đưa con đến một nơi mà người ta vừa thấy con đã la ó́, chửi rủa, mắng nhiếc đủ điều thậm tệ…

-Bạch Thầy, Con xin sẵn sàng đi đến nơi đó vì người ta mới la ó, chửi rủa, mắng nhiếc chứ chưa dùng gạch đá ném vào con.

-Ta sẽ đưa con đến một nơi mà người ta vừa thấy con đã dùng gạch đá ném vào con…

-Con xin sẵn sàng đến nơi đó vì người ta mới chỉ dùng gạch đá ném vào con chứ không dùng gậy gộc đánh đập con.

-Ta sẽ đưa con đến một nơi mà người ta vừa thấy con đã dùng gậy gộc đánh đập con…

-Con xin sẵn sàng đi đến nơi đó vì người ta chỉ dùng gậy gộc đánh đuổi con chứ không dùng dao mac, gươm đao giết hại con….

-Ta sẽ đưa con đến một nơi mà người ta vừa thấy con, dùng ngay gươm đáo giết hại con…

-Con xin sẵn sàng đi đến nơi đó vì người ta dùng gươm dáo giết hại con, như thế là người ta đã giải thoát con khỏi cảnh đời đầy tham ái, khổ đau…

-Tốt lắm. Nhưng con khỏi cần đi đến những nơi đó vì với cái Tâm đó, con đã tự giải thoát cho con rồi !’’.

Rắn ta sung sướng nghe lời thuyết pháp và tự hứa sẽ theo gương ‘nhẫn’ trên. ̣ Hôm sau, rắn ta bò ven một bờ cỏ tìm thức ăn. Một tốp trẻ chừng là hoc̣ sinh đang đi trên đường, một đứa loạng choạng nơi lề, thấy rắn, hốt hoảng la lên. Cả bọn hùa nhau nhặt sỏi, nhặt đá ném vào rắn. Bị một số đá ném phải, rắn đau lắm, định phải cắn một tên, nhưng nhớ lại chữ ‘Nhẫn’, rắn nhịn đau, ráng bò xuống ruộng. Một hai ngày hết đau, rắn lại hóa thân thành thiếu nữ áo trắng đến chùa. Đợi mọi người ra về hết sau buổi tụng giảng của nhà Sư, rắn ngần ngừ định gặp. Thấy lạ, nhà Sư hỏi chuyện. Rắn thuật lại ‘vì chữ Nhẫn, rắn đã không cắn một tên trẻ nào. Nhà Sư khen rắn hết lời, rắn vui vẻ lắm.

Hôm sau, rắn bò ngang mặt đường, qua bờ bên kia vì bên nầy, rắn không tìm được thức ăn nào. Đang bò qua đường, bỗng một bà gánh hàng rong vừa đi đến, thấy rắn, bà hoảng hốt tháo lui quá gấp khiến gánh hàng đổ ra đường ít nhiều. Tức giận, bà dùng chiếc đòn gánh phang lia lịa vào mình rắn. Rắn đau không thể tả , định quay đầu cắn bà nhưng lại nhớ đến chữ ‘Nhẫn’, rắn cố lết nhanh xuống ruộng. Một tuần sau, rắn mới hết đau, lại lên chùa, thuật sự việc cho vị Sư. Vị Sư khen rắn hết lời. Rắn sung sướng lắm.

Hôm sau, rắn không bò nơi lề đường hay qua mặt đường mà tìm thức ăn nơi một đám ruộng. Vừa lúc một nông dân đang thúc hối con trâu đi nhanh hơn. Nhưng trâu bỗng nhiên dừng lại đột ngột vì thấy rắn đang bò trước mặt. Người nông phu bị khựng lại bất ngờ, nhìn thấy rắn, liền dùng roi đánh trâu đánh lia chia vào mình rắn. Đầu chiếc roi lại có một sợi dây dài nên dây quấn vào mình rắn tung lên cao rồi rớt ngay sat chân người nông phu. Đau vô cùng, rắn định cắn một miếng, bỗng nhớ đến chữ Nhẫn nên lại thôi. Người nông dân lại đánh vào rắn, lần nầy sợi dây quấn chặt thân rắn, tung lên rất cao và rất xa. Rắn bị rớt xuống, quằn quại rồi nằm im. Người nông dân thấy rắn phơi bụng, nghĩ rắn đã chết nên tiếp tục giục trâu kéo cày. Lát sau, rắn như hồi sức, cố trườn lết qua đám ruộng, cả ngày mới về đến ổ. Lần nầy, rắn phải qua hơn cả tháng trời mời bình phục. Rắn lại lên Chùa, tin chắc, lần nầy vị Sư sẽ khen rắn bằng những lời tốt đẹp nhất. Không ngờ, nghe rắn thuật xong sự việc, vị Sư chẳng nói gì mà bước vội vào hậu viện, khép cửa đánh rầm một tiếng, cùng lúc rắn nghe lời Sư từ trong vọng ra : ‘’Vê ̀ đi, đồ ngu ! Chết rồi còn ‘nhẫn’ với ai ?!’’ ». (Người viết nhớ mang máng như thế. Có thể nàõ người bạn của người viết ́ dựa vào một truyện nào nơi một trước tác về Phật giáo rồi hư cấu nên câu truyện - Chữ ‘Nhẫn’ của nhà Phật áp dụng vào câu truyện, người viết không rõ có đúng với Phật pháp không).



Tập đoàn Cộng sản Việt Nam đã ‘nhẫn’ ( !) với Tàu Cộng quá nhiều kể từ Công hàm của Phạm Văn Đồng gởi Chu Ân Lai năm 1958 rồi đến những nam 1999, 2000 đã nhượng đất, nhượng biển, nhượng một số đảo ngoài khơi cho Tàu Cộng. Cộng sản VN đã ‘nhẫn’ với Tàu Cộng bằng cách để Tàu Cộng tự do khai thác Bô-Xít tại vùng Tây nguyên bất chấp tình trạng ô nhiễm môi trường tàn phá thiên nhiên, núi rừng, ruộng đồng, nương rẩy, cả các loài thú vật, cá tôm và đe dọa sinh mạng đồng bào VN về lâu về dài. Cộng sản VN còn để dân Tàu Cộng tự do vào lập phố, lập làng ngay trên đất nước VN, ngang ngược xem thường xem khinh người Việt, cướp hết công ăn việc làm của dân chúng VN. Gần đây còn để cho Tàu Cộng, Tàu Đài Loan và Hong Kong thuê’ dài hạng hàng ngàn hec-ta đất tại nhiều Tỉnh để chúng khai thác, làm giàu trên bần cùng của dân Việt. Bản đồ ‘lưỡi bò’ của Tàu Cộng đã tước bỏ phần lớn chủ quyền lãnh hải VN, bao nhiêu phần đất màu mỡ, tốt đẹp của VN đã bị CSVN ’nhẫn’ với Tàu Cộng, dâng hiến cho Tàu Cộng : thác Bản Giốc, Bãi Tục Lãm, Ải Nam Quan và bao bao nữa. Nhưng Tàu Cộng đâu đã vừa ý, chúng còn bắt CSVN phải ‘nhẫn’ nhiều hơn nữa bằng cách trù giập, truy sát, trừng trị những người dân yêu nước dám lên tiếng phản đối bọn xâm lăng Bắc phương. Cộng sản VN còn ‘nhẫn’ với Tàu Cộng bằng cách dựng đài, dựng tượng tôn vinh ‘liệt sĩ’ Tàu Cộng (?) đã xâm lược VN vào năm 1979, trong lúc hàng vạn chiến sĩ và đồng bào VN phải hy sinh, phải bị tàn sát thảm thương để chống lại cuộc xâm lăng của Tàu Cộng thì lại bị quên đi, cấm không được nhắc nhở, tưởng niệm.



Cứ thế, tập đoàn CS VN tiếp tục ‘nhẫn’ với Tàu Cộng để nay mai toàn thể đất nước VN trở thành quận huyện của Tàu Cộng, nhân dân VN trở thành tôi tớ, nô lệ cho giặc Bắc phương. Đất nước đã ‘mất’ một phần rồi, ‘Nhẫn thêm nữa là mất nước. Điều nầy, ‘với nhân dân VN thì không thể được’. Nhà văn Hoàng Lại Giang đã nói lên ý chí của toàn dân VN. Nhưng liệu tập đoàn CS VN có nghe ra một khi chúng chỉ vì mong được vững vàng ngôi vị ‘độc tài trị nước, độc quyền trị dân’ để độc tôn hưởng thụ một cách bất nhân, nhơ nhớp thì chúng còn tiếp tục ‘nhẫn’ với bọn cướp nước phương Bắc. Nhưng liệu chúng có giữ mãi được cái vị trí độc đảng, độc quyền trị nước đó được không ? Hay sẽ bị bọn Hán tộc hất cẳng nay mai lúc chúng hoàn thành cuộc khống chế, đô hộ VN. ̃ ‘Đồ ngu, chết rồi thì còn nhẫn với ai ?’, liệu tập đoàn CS VN có nghe ra lời nầy ?



Nhân dân VN không chấp nhận cái ‘nhẫn’ nhục nhã đó của tập đoàn CSVN. Hàng bao nhiêu người yêu nước, già trẻ, nam nữ, trí thức, bình dân dù có bì trù giập, sát hại, giam cầm tàn nhẫn vẫn cương quyết chống lại cái ‘nhẫn’ đê hèn đó. Hàng ngũ tín đồ các Tôn giáo dù có bị cướp đất, cướp nhà, cướp nơi thờ tự, dù có bị đánh đập, xua đuổi tàn nhẫn, Thánh giá có bị đập nát (tại Đồng Chiêm), tượng Phật có bị phạt ngang đầu (ở một ngôi chùa tại Úc Châu), hình Đức Thầy có bị vẽ lem luốc quăng ném dưới đường, dưới sá (trong ngày kỷ niệm Đức Huỳnh Phú Sổ vừa qua) thì cũng nhất quyết ngăn chặn cái lối ‘nhẫn’ nhục nhã đó của CSVN với Tàu Cộng.

Vừa rồi, ông Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng có lưu ý Báo chí và Truyền thông trong nước là ‘Báo chí cần chủ động thông tin về việc bảo vệ chủ quyền’. Qua câu đó, có thể nào, ông ta đã biết ‘dừng lại’, không được ‘nhẫn’ thêm với giặc Bắc phương ? Làm sao tin được lòng dạ tên Thủ tướng nầy. Trong lần gặp ông Tướng Võ Nguyên Giáp, hắn bảo là ‘sẽ lắng nghe lời Đại tướng’ (Võ Nguyên Giáp yêu cầu ngưng ngay việc cho Tàu Cộng khai thác Bô-Xít), thế mà hôm sau lại tuyên bố : ‘Việc khai thác Bô Xít là quyết định của Đảng và Nhà nước’. Ai chả biết CS VN là bọn tráo trở, mị dân. Lưu ý báo chí ‘cần chủ động thông tin về việc bảo vệ chủ quyền’ liệu chỉ là đòn gở rối để thoa dịu lòng dân hoậc để có thể lên ngôi vị ‘Tổng Bí thư Đảng’ hay giữ lại được cương vị Thủ Tướng trong cuộc bầu bán Đại Hội khóa XI của Đảng vào năm 2011? Từ ngày Nông Đức Mạnh làm Tổng Bí thư và Nguyễn Minh Triết cùng Nguyễn Tấn Dững ‘cầm cương’ Nhà nuớc CHXHCN VN thì càng lúc Trung Cộng càng ngang bướng bắt chúng tuân phục nhiều hơn, đất nước thêm mất chủ quyền, tiếng nói của trí thức càng bị ngăn cấm nhiều hơn, người yêu nước càng bị tống vào nhà lao nhiều hơn, giới tu sĩ và quần chúng tôn giáo càng bị trù giập, sát hại nhiều hơn, đất đai, nhà cửa, ruộng đồng, nương rẩy, núi rừng của dân chúng càng bị tước đoạt nhiều hơn, hối lộ, tham nhũng càng lộng hành hơn, kinh tế càng suy sụp hơn, bao trò ăn chơi trác táng, phung phí, hưởng lạc của các đại gia cùng con cháu chúng càng nhầy nhụa, nhơ nhớp hơn ; dân chúng càng đói nghèo, cơ cực hơn. Mai đây, sau Đại Hội Đảng khóa XI, thành phần nhân sự Đảng và Nhà nước có thay đổi thế nào thì cũng chẳng ai tin tưởng là tập đoàn CSVN ngưng ‘nhẫn’ với Tàu Cộng được. Vì sinh mạng của chúng hầu như chúng đã trao vào tay Tàu Cộng rồi và chúng ‘sung sướng’ được là tôi tớ, tay sai của giặc Bắc phương do Tàu Cộng cho họ được ‘ăn trên ngồi trốc’, được cho tiền, được giàu sang hưởng lac.



Nhưng ‘điều nầy, với nhân dân VN thì không thể được’. Tập đoàn CS VN ‘nhẫn’ với Tàu Cộng nhưng nhân dân VN không ‘nhẫn’ theo lối đó với Tàu Cộng được. Thời điểm ‘cùng tắc biến’ nhất định sẽ đến với nhân dân ta. Nội lực VN sẽ bùng dậy để quét sạch cái lối ‘nhẫn’ đê hèn, nham nhở đó, nếu chưa đủ điều kiện để thanh toán bọn mãi quốc cầu vinh thì cũng sẽ bắt CS VN ngưng ‘nhẫn’ với kẻ thù để quay về ‘nhẫn’ với nhân dân. Có như thế, họ mới thoát được cái thân phận đầy tớ, nô lệ cho giặc Tàu và là lối thoát tốt đẹp cho họ

France, 28/02/2010

Nguyễn Thùy