Thời Sự, Bình Luân

tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »

GIẢI PHÁP....GIẾT NGƯỜI -

Triệu Vũ

Ngày 18-11-2009, giờ 10:16 Tình hữu nghị giữa VN và TQ thực không biết diễn tả là bạn hay thù? Không phải bạn mà sao có 16 chữ vàng ngọt ngào, êm ái, đầy hứa hẹn. Không phải thù mà sao 16 chữ vàng chưa ráo mực đã thẳng tay chơi nhau “cạn tàu, ráo máng”, chẳng chút nương tay.

Đối với VN, chuyện biển đông là một bài toán không có đáp số, hay nói khác đi là đang lính quính đi tìm đáp số mà chưa ra! Cả năm nay, TQ đã và đang diễu võ dương oai, ỷ mạnh hiếp yếu, xâm lấn biển đông, đụng chìm tàu đánh cá, bắt ngư dân đòi tiền chuộc, cướp hết tài sản trên tàu, thậm chí còn bắn chết các ngư dân vô tội. Trong trận bão số 9, tàu tuần tiễu của TQ đã tàn ác không cho tàu đánh cá VN vào trú bão tại Trường Sa. Trong cơn nguy kịch, tàu VN đánh liều tấp vào đảo, thì sau đó, tuần duyên TQ tới hành hung và tịch thu hết hải sản trong tàu kể cả hải đồ và hải bàn.

Các hành động ngang ngược này làm một số ngư dân VN hoảng sợ phải bỏ nghề, không dám ra khơi. Dư luận quốc nội cũng như quốc ngoại “sôi sục” những bất bình. Trước những vi phạm ngoại giao này của TQ, chính quyền VN chỉ biết “ngậm bồ hòn làm ngọt”, mà không hề có một thái độ thích đáng để bảo vệ ngư dân, mặc dầu chính quyền VN đã từng khuyến khích ngư dân “đánh bắt xa bờ” để thu hoạch được lợi nhuận hải sản đáng kể.

Cũng trong cơn bão số 9, theo tin của vnexpress.net ngày 11/3 thì ngày 11/2 tàu Lucky Dragon của TQ gồm 12 thuỷ thủ gặp bão trên hải phận Đà Nẵng. Tàu bị cháy máy hầm tàu và thuyền trưởng phát tín hiệu cầu cứu quốc tế. Ban tác chiến bộ đội biên phòng VN tại Đà Nẵng đã điều động 42 cán bộ chiến sĩ, cùng 2 tàu cao tốc của hải đội 2, 2 xuồng máy cứu nạn, 2 ô tô đặc chủng, cùng trang thiết bị cứu sinh quân y lên đường. Cùng lúc, hải quân vùng C cũng xuất phát đi cứu nạn. Tới 10 giờ sáng ngày 11/3, 12 thủy thủ của tàu Lucky Dragon được lực lượng cứu hộ đem về an toàn, 1 người sức khỏe kém, được chuyển lên Bệnh Viện C Đà Nẵng để chăm sóc Y-tế.

Chuyện cấp cứu tàu TQ bị nạn không có gì là sai, tuy nhiên nếu so sánh phản ứng và thái độ của 2 quốc gia đối xử với nhau trên quan điểm “bình đẳng” như 16 chữ vàng đã nói, thì cũng thấy “tủi” cho chính quyền VN. Không biết hành động “xả thân” này có làm cho TQ nghĩ lại mà nương tay chút đỉnh trong tương lai hay không?

Trước phản ứng bất bình của quốc nội và hải ngoại về sự bất lực của chính quyền VN trong việc bảo vệ ngư dân, chính quyền Hà Nội đã có phản ứng đê hèn bằng cách cho “Hội Nghề Cá” lên tiếng phản đối TQ thay cho chính quyền. Rồi trong một phiên họp Quốc Hội, Tướng Lê Quang Bình, Chủ nhiệm Ủy Ban An Ninh Quốc Phòng đưa ra một đề nghị: “Dân quân tự vệ biển sẽ được trang bị súng ống để có thể tự vệ khi bị tấn công, đây là lực lượng nòng cốt giúp người dân khi ra biển, xác định đâu là chủ quyền VN.”

Tại sao ngư dân lại phải là người xác định chủ quyền biển? Thế còn hải quân và đội “tuần duyên” dùng để làm gì? Ông Lê Quang Bình làm Tướng với chức vụ Chủ Nhiệm Ủy Ban An Ninh Quốc Phòng mà đưa ra một đề nghị quá…hèn yếu, bạc nhược, không xứng đáng với địa vị và quyền lợi nhân dân đã ban phát cho ông. Người ta có cảm tưởng ông quá sợ hãi thế lực của TQ nên “co đầu, rút cổ”, “tìm dễ, lánh khó”, trút bỏ việc bảo vệ lãnh hải cho ngư dân gánh vác. Ông Bình ơi, đề nghị của ông là dồn ngư dân VN vào chỗ chết rồi đó! dù ông có phát tới súng ca nông, đại bác, thì đám ngư dân này cũng không thể đương đầu với đám tuần duyên thiện chiến của TQ đâu, nhất là tàu đánh cá VN thường làm ăn theo tính cách “gia đình”, chỉ có một dúm người kể cả đàn bà, người già, con nít. Quốc Hội VN có những người hèn như ông, thảo nào mà chính quyền không cúi đầu, gục mặt, câm miệng hến trước ngoại bang.

Để trả lời cho Tướng Lê Quang Bình, anh Trương Minh Quang, chủ tàu QNg 90078, khi được ký gỉa Trần Văn, đài RFA, ngày 11/3 hỏi về việc được giao súng tự vệ, anh đã dãy nẩy:

“Em không cầm đâu ! Nói chung là ở ngoài biển, có súng nó bắn chết cha. Có súng nó bắt mình luôn. Nó giết mình ở ngoài đó.”

Anh ngư dân này thực là chí lý. Cầm súng bảo vệ lãnh hải là nhiệm vụ của quân đội. Nay ông Tướng sợ chết lại đưa giải pháp “óc…mít” để đẩy ngư dân ra chiến đấu. Thế mới biết, ông Tướng có bộ óc kém phát triển hơn anh ngư dân, vì anh dân thường này ít ra cũng biết cầm súng tay là chết trước hải quân TQ, và còn có can đảm gọi kẻ bạo ác là “nó” thay vì như lãnh đạo mở miệng ra là nhắc 16 chữ vàng.

Triệu Vũ

Nguồn trích:
http://www.tamthucviet.com/articleview. ... %c5%b8F%1e_
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Hoa Kỳ có 22 triệu người mắc bệnh - 4,000 chết vì cúm heo
Friday, November 13, 2009

WASHINGTON (AP) - Số người chết vì bệnh cúm heo ở Hoa Kỳ tính từ Tháng Tư đến nay lên đến khoảng 4,000 người, tăng gấp bốn lần so với ước tính trước đây. Nhưng điều đó không có nghĩa rằng bệnh cúm heo đột nhiên trở nên trầm trọng hơn.

Thật ra các con số chính phủ Hoa Kỳ đưa ra hôm Thứ Năm cho thấy một nỗ lực nhằm theo dõi ảnh hưởng của cúm heo một cách hữu hiệu hơn. Cho đến nay, phần lớn các ca bệnh cúm heo không cần phải đi bác sĩ.

Cúm heo làm khoảng 22 triệu người Mỹ đau yếu từ Tháng Tư và làm thiệt mạng khoảng 540 trẻ em.

Và đây chỉ mới ở vào giai đoạn đầu của mùa cúm.

“Tôi trông đợi là sẽ nhìn thấy tất cả các con số này, và đáng tiếc là sẽ còn lên cao hơn nữa,” theo lời Bác Sĩ Ann Shuchat thuộc Viện Kiểm Soát và Ngăn Ngừa Bệnh Tật (Centers for Disease Control and Prevention - CDC). “Chúng ta vẫn còn mùa cúm thật dài trước mặt.”

Sự thiếu hụt thuốc chủng ngừa cúm heo vẫn tiếp tục: hiện chưa tới 42 triệu liều thuốc được phân phối, ít hơn đến mấy triệu so với con số CDC dự đoán tuần qua.

Cho đến gần đây, CDC ước tính là tối thiểu có hơn 1,000 người chết và “hàng triệu người” nhiễm virus H1N1. Các con số loan báo trước đây dựa trên báo cáo ở phòng thí nghiệm dù rằng đa số các bác sĩ ngưng các cuộc thử nghiệm để xác nhận virus H1N1 từ mấy tháng nay.

Bản báo cáo đưa ra hôm Thứ Năm nhằm tính lại số người bị ảnh hưởng trong sáu tháng đầu của cuộc lây lan virus cúm H1N1 từ Tháng Tư đến giữa Tháng Mười.

Vào một mùa cúm thông đường trong những tháng Mùa Ðông có khoảng 200,000 người Mỹ phải vào bệnh viện và 36,000 người chết vì cúm, đa số là những người trên 65 tuổi. Mùa cúm thường được coi là chỉ khởi sự từ Tháng Mười Một trở đi. (V.Giang)
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Các nhà ly khai TQ thất vọng
sau chuyến viếng thăm của tổng thống Obama



Theo giới quan sát, chính quyền Bắc Kinh đã không trả tự do cho một nhà ly khai Trung Quốc nào nhân chuyến viếng thăm của ông Obama. Điều này không giống như trước đây, khi các vị tổng thống Mỹ khác chính thức viếng thăm Trung Quốc.Cho dù Barack Obama đã đề cập đến Nhân quyền, tại thành phố Thượng Hải và tại Bắc Kinh, nhưng tổng thống Mỹ đã không thỏa mãn được tất cả những kỳ vọng của giới ly khai Trung Quốc. Tuyên bố với hãng AFP, bà Tsering Woeser, nữ văn sĩ người Tây Tạng, đã nói : ‘‘Tôi đã đặt rất nhiều hy vọng vào ông Obama và chờ đợi ông trên những vấn đề Nhân quyền, Tây Tạng hay Tân Cương. Nhưng tổng thống Mỹ đã lướt qua các chủ đề này mà không nhấn mạnh đến chúng. Ngay cả khi ông đề cập đến các vấn đề kể trên, cách làm của ông không đủ mạnh mẽ, cho nên tôi cảm thấy thất vọng’’.

Quả là tổng thống Mỹ đã nhắc nhở đến ‘‘các quyền phổ cập’’ của con người tại Thượng Hải, khi ông tiếp xúc với giới sinh viên, và sau đó, nhân cuộc họp báo với Chủ tịch Hồ Cẩm Đào tại Bắc Kinh. Tuy nhiên, không ít người Trung Quốc cảm thấy còn hụt hẫng trước kết quả chuyến viếng thăm của Obama. Trong số này có ông Ngải Vị Vị, nghệ sĩ độc lập rất nổi tiếng của Bắc Kinh, thuộc tầng lớp phản kháng. Ông Ngải Vị Vị nói : ‘‘nhiều người Trung Quốc, đặc biệt là giới trẻ, mong muốn một xã hội cởi mở hơn, công bằng hơn. Dó đó, họ cần đến sự yểm trợ của các lãnh đạo nước ngoài’’.
Bắc Kinh không trả tự do cho một nhà đối lập nào

Theo ông Ngải Vị Vị, tổng thống Mỹ chưa nhận thức được đầy đủ rằng việc Bắc Kinh không tôn trọng tự do ngôn luận, và sự thiếu vắng Nhân quyền cũng như một thể chế pháp trị là một ‘‘mối đe dọa’’ không riêng gì cho sự ổn định của Trung Quốc mà cho cả thế giới. Ông Ngải Vị Vị nói : ‘‘nếu tổng thống Obama không ý thức được điều này thì chuyến viếng thăm của ông chỉ là một sự thất bại…Tôi đồng ý với một số bài bình luận, theo đó tổng thống Mỹ đã tiến hành một cuộc trình diễn ngoạn mục theo phong cách Hollywood. Nếu ông ta không nỗ lực thêm nữa, thì người Trung Quốc sẽ thất vọng với các giá trị phổ cập và bởi Hoa Kỳ’’.

Thái độ bất bình của ông Ngải Vị Vị còn bắt nguồn từ việc tổng thống Obama đã không phản ứng gì về hàng loạt các vụ sách nhiễu các nhà đối lập, xảy ra nhân chuyến viếng thăm Trung Quốc của ông. Như nhiều lần trước đây, khi có lãnh tụ nước ngoài công du hoặc vào thời điểm công luận thế giới chú ý đến Trung Quốc, Bắc Kinh đã theo dõi chặt chẽ các nhà ly khai và những người công dân từ nông thôn lên thành phố dâng kiến nghị. Một số các nhà đối lập, lần này đã bị bắt giữ. Ông Ngải Vị Vị kết luận : ‘‘ông Obama đến Trung Quốc và một số người bị bắt giữ vì sự việc này. Dó đó, ông không thể lẩn tránh vấn đề. Ông ta không thể thoái thác rằng ông ta sẽ đề cập đến vụ việc này vào năm tới hay trong một dịp khác, khi trong thời gian đó, người Trung Quốc bị tống giam’’.

Một nhà ly khai khác, luật sư Lý Phương Bình tỏ ra rộng lượng hơn, cho dù ông đã bị công an giới hạn quyền đi lại. Ông Lý Phương Bình cho biết : ‘‘Tất nhiên, tôi đã chờ đợi nhiều hơn, nhưng những điều diễn ra cũng có thể được lý giải bởi tình hình kinh tế’’. Tuy vậy, ít ai có thể tán dương các thành qủa mà tổng thống Mỹ đã gặt hái được trong lãnh vực Nhân quyền tại Trung Quốc. Nhiều nhà quan sát nhận xét : chế độ cộng sản Trung Quốc đã không trả tự do cho một nhà ly khai nào, nhân chuyến viếng thăm của Obama như trước đây, khi các vị tổng thống Mỹ khác công du nước này. ( RFI )
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Những đặc điểm của dân biểu Liên Bang Cao Quang Ánh
VietCatholic News (20 Nov 2009 10:50)

Trong cuộc bỏ phiếu chấp thuận bản biểu quyết hạ viện số 3962, hình thức luật pháp đầu tiên của kế hoạch cải cách y tế,
Cao Quang Ánh là dân biểu Cộng Hoà duy nhất bỏ phiếu thuận; lá phiếu của ông giúp bản biểu quyết hạ viện mang tính chất luỡng đảng,
tính chất mà cả tổng thống Barack Obama và chủ tịch hạ viện Nancy Pelosi rất thèm muốn.

Image
Gia đình DB Cao Quang Ánh tại gx Việt Nam ơ New Orleans
Ðó là đặc điểm thứ nhất của dân biểu Ánh. Ðặc điểm này càng nổi bật vì trước đó dân biểu John Boehner, chủ tịch khối thiểu số hạ viện đã hạ quyết tâm là không một dân biểu Cộng Hoà nào bỏ phiếu thuận cho biểu quyết 3962.

Ðặc điểm thứ nhì là thái độ của dân biểu Ánh trước những phản ứng phẫn nộ của đảng Cộng Hoà. Có người đòi đuổi con ‘cow” Quang Ánh trở về Việt Nam; người khác đòi trừng phạt ông.

Phát ngôn viên của ông, bà Princella D. Smith, bênh vực xếp, “Ổng honest tới mức người khác thấy xót xa. Ổng nói ổng không phải là người mà các đồng nghiệp dân chủ hô hoán reo mừng như một ‘tay trong’. Ông ta không giống như những chính khách khác, và ông ta cũng không tự coi mình như một chính khách. Ông ta là một nhà tu.”

Một vài bạn đồng viện khiêu khích ông bằng cách hỏi xỏ xiên, “Quý danh là gì?” Họ muốn ông đọc ra chữ Cao với cái đồng âm Anh ngữ là “cown” để họ có dịp cười chế nhạo. Ông Ánh nhã nhặn bảo họ, “call me Joseph,” như bất cứ người Mỹ nào khi muốn tỏ thân tình bảo bạn gọi mình bằng first name.

Ðặc điểm thứ 3 là ông Ánh chân thành, mặc dù sự thật ông nói lên đôi khi mang cái nghĩa gần như khiêu khích. Báo chí hỏi ông là viên chức đảng Cộng Hoà có gây khó khăn cho ông không, khi họ nói họ không trả thù, không trừng phạt ông, ông Ánh trả lời, “có đấy chứ: một vài người hủy bỏ lời hứa trợ giúp quỹ tranh cử của tôi, một vài người khác đòi refund tiền đã giúp.”

Trước cuộc bỏ phiếu tại hạ viện, ông Michael S. Steele, chủ tịch hội đồng toàn quốc của đảng Cộng Hoà, hăm he, “Nếu anh bênh vực dự án y tế của Nancy Pilosi, chúng tôi sẽ đến tìm anh, và anh sẽ thấy mình rơi vào một cái hố đầy khó khăn.”

Truyền thông hỏi ông nghĩ gì về thái độ của ông Steele, ông Ánh trả lời, “Nếu ông chủ tịch cho là tôi không bảo thủ đúng mức thì đó là quyền của ông ta. Tuy nhiên tôi vẫn mong muốn ông ta tiếp tục cộng tác với tôi để đạt đến những giải pháp tốt cho đất nước.

Ðất nước không cần một hố sâu phân đôi những đảng viên Cộng Hoà bảo thủ và những đảng viên Cộng Hòa khác dung hòa hơn.”

Ký giả Joseph Weber, người đã từng cộng tác với ông Steele, viết trên tờ Washington Times về ông Ánh như sau, “Ông ta không suy luận theo đường hướng của Ðảng, và ông ta chỉ hành động theo nhu cầu của cử tri. Tuy nhiên, ông ta vẫn là một đảng viên Cộng Hoà thuần thành, mặc dù ông đặt trách nhiệm đối với cử tri trên mọi bận tâm khác. Các lãnh tụ Cộng Hoà nể nang ông, mặc dù không đồng ý với quan điểm của ông, nhất là họ không đồng ý với lá phiếu ông vừa bỏ cho dự án cải tổ y tế. Tuy nhiên việc này không biểu hiện một rạn nứt giữa ông Ánh và những viên chức lãnh đạo Ðảng, kể cả ông chủ tịch Steele. Với kinh nghiệm một người đã cộng tác với ông, tôi biết Steele có một tầm nhìn rộng rãi hơn, và đảng viên Cộng Hoà phải gồm cả những người dung hòa và những người bảo thủ. Và tôi có thể đoan chắc là nếu một đảng viên Cộng Hòa có thể thắng cử năm 2010 tại quận 2 Louisiana, thì người đó không thể là ai khác hơn Joseph Ánh.”

Ðiều này không có gì chắc chắn, vì ký giả Weber không nói nhân danh ông chủ tịch Steele, và ngay cả ông Steele cũng không giúp dân biểu Ánh được bao nhiêu, cả trong lần ông đắc cử năm 2008 lẫn trong lần tới, ông tái ứng cử năm 2010.

Cử tri quận 2 Louisiana gồm 60% Mỹ đen và 62% cử tri dân chủ, và dĩ nhiên LA-02 không phải là chỗ đắc địa cho một chính khách Cộng Hòa. Năm ngoái ông Ánh thắng là nhờ Chúa, và năm tới nếu ông có thắng nữa, cũng vẫn chỉ nhờ cậy vào Chúa.

Năm 2008, ứng cử viên dân chủ là dân biểu William Jefferson, với thâm niêm làm dân biểu liên tục 9 nhiệm kỳ tại LA-02. Nếu không theo ý Chúa thì làm gì có việc ông ta bị truy tố về tội tham nhũng vào đúng lúc cuộc tranh cử diễn ra, giúp một chính khách Việt Nam tay mơ bước vào hạ viện liên bang.

Nhưng dù không đắc cử lần thứ nhì, dân biểu Ánh cũng đã đánh phấn cho khuôn mặt Việt Nam hải ngoại bằng việc ông bỏ phiếu theo lương tâm.

Phỏng vấn ông, đài CNN đem câu ông Ánh nói, “tôi quyết định lá phiếu tôi bỏ, căn cứ trên nhu cầu của công dân trong quận tôi sống”, rồi so sánh ông với nghị sĩ Joe Lieberman, bang Connecticut. Họ hỏi Lieberman là ông sẽ đặt nặng quyền được chăm sóc y tế của 30,000 nhân công Connecticut vừa mất bảo hiểm y tế vì mất việc, hay đặt nặng $65,000 tiền tặng dữ mà hãng bảo hiểm Aetna Health Insurance Corporation biếu vào quỹ ứng cử của ông, và tiền biếu của nhiều hãng bảo hiểm khác.

Không phải là một tín đồ công giáo, nhưng tôi vẫn cầu nguyện xin Chúa đồng hành với dân biểu Cao Quang Ánh, ít nhất cho đến ngày bầu cử 2010. Ông cần ơn Chúa để vượt qua nhiều khó khăn trên con đường chính trị, ở lại hạ viện thêm một nhiệm kỳ nữa. Hai năm quá ngắn để vẽ thật rõ chân dung một thanh niên Việt Nam yêu cả hai nước Việt-Mỹ, và tôn trọng sự thật, lẽ phải.

Truớc kia, tôi phê bình ông là thiếu hùng biện, giờ này ông dạy tôi bài học là một việc làm đúng nói nhiều hơn 10 bài diễn văn dài lê thê mà vô nghĩa.


Nguyễn Ðạt Thịnh
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Đọc “Biến Động Miền Trung” Của Tác Giả Liên Thành

“Biến Động Miền Trung” là một cuốn sách, hay nói đúng hơn là một tập
tài liệu dày trên 430 trang, được tác giả Liên Thành cho ra mắt lần
đầu tiên vào ngày 31 tháng 5/2008 tại thành phố Westminster, Nam
California. Cuốn sách được đồng hương Nam Cali nồng nhiệt đón nhận,
trong một hội trường thành phố đông nghẹt người. Liên tiếp sau đó cuốn
sách được ra mắt tại các thành phố San Jose, Dallas, Houston và
Phoenix, Arizona. Riêng tại Houston số đồng hương tham dự lên tới gần
700 người. Điều này phần nào đã nói lên giá trị của cuốn sách.
Điều gì đã làm cho đồng hương chú ý tới cuốn sách? Có lẽ câu trả lời
đơn giản nhất là vì đây là lần đầu tiên những bí mật trong vụ “Biến
Động Miền Trung” được chính người trong cuộc kể ra, có liên hệ tới một
số tu sĩ tên tuổi được VC móc nối trong một mạng lưới tình báo quy mô
do Cục Tình Báo Trung Ương tại Hà Nội điều khiển mà những âm mưu xách
động và gây rối tại Miền Trung vào những năm 1964-65-66-67 mới chỉ là
giai đoạn khởi đầu.


Tác giả Liên Thành là ai.

Ông là một Trung Úy quân đội được biệt phái sang phục vụ trong ngành
Cảnh Sát Quốc Gia tại tỉnh Thừa Thiên và thị xã Huế. Cấp bậc và chức
vụ sau cùng của ông là Thiếu Tá Chỉ Huy Trưởng CSQG Thừa Thiên-Huế.
Ông từng là Trưởng phòng Cảnh Sát Đặc Biệt rồi Phó Ty và sau cùng là
Trưởng Ty. Vì nhiều năm làm việc tại cùng một nhiệm sở nên ông có cơ
hội liên tục theo dõi và nắm giữ hồ sơ hoạt động của mạng lưới tình
báo VC trong vùng. Kỳ công của ông và các đồng nghiệp tại Ty CSQG Thừa Thiên-Huế không chỉ là thành công trong việc giữ vững được Huế trong
vu biến động 1966 mà là đã dày công theo dõi và cuối cùng phá vỡ được
một mạng lưới điệp báo quan trọng của Hà Nội tại Miền Trung.
Tác giả Liên Thành cho thấy ngay sau cuộc chính biến 1/11/1963 tên
Trung Tá điệp báo VC Hoàng Kim Loan đã cài người vào các đoàn thể
“tranh đấu”, xâm nhập và lũng đoạn các tôn giáo, đặc biệt là các tổ
chức Phật Giáo Miền Trung. Hoàng Kim Loan đã xử dụng những cơ sở này
để phá nát nhiều tổ chức tình báo của VNCH ngay sau cuộc chính biến
1963. Nhừng tu sĩ nào bị VC móc nối. Những khuôn mặt trí thức nào đã
chạy theo VC. Những ai đã theo VC ra bưng để rồi trở lại Huế tàn sát
hàng ngàn người năm Mậu Thân 1968 đều được tác giả kê rõ danh tánh.
Tác giả kể lại tình hình sôi động tại Huế năm 1966 ra sao. CSQG dẹp
bạo loạn bị vu cáo như thế nào. Ai là người dứng đàng sau tất cả những
vụ này. Ai chỉ đạo, ai bị lợi dụng? Ai đã ra lệnh mang bàn thờ Phật
xuống đường, ai đã chủ mưu trong vụ đốt phá Phòng Thông Tin Hoa Kỳ tại
Huế.

Trong phần thứ hai của cuốn sách tác giả ghi lại khá chi tiết những
hoạt động của tình báo cộng sản và vụ tàn sát trên 5,000 đồng bào tại
Huế. Ông cũng cho biết ngoài hai anh em Hoàng Phủ Ngọc Phan-Hoàng Phủ Ngọc Tường, những khuôn mặt trí thức nào đã lộ diện theo VC.

Chương này là một tài liệu lịch sử mà tất cả chúng ta và nhất là mọi người
dân Huế cần đọc để biết.
Nhân đây tôi cũng muốn phản bác lời tuyên bố của ông Bùi Tín, một cựu
Đại Tá CS hiện đang sống lưu vong tại Pháp. Ngày 24 tháng 1/2008 khi
được đài BBC phỏng vấn về vấn đề CS thảm sát dân chúng trong vụ Tết
Mậu Thân tại Huế. Ông Bùi Tín lúc đó (1968) là Phó Tổng Biên Tập báo
Quân Đội Nhân Dân tại Hà Nội cho biết ông không ngờ cuộc thảm sát quy
mô lớn như vậy. Ông viện lý do rằng: “Do vướng chân, mệt, rồi bị pháo
bắn ở ngoài biển vào dữ dội nên phần lớn do tự động các cấp chỉ huy
Trung đội tới Trung đoàn đồng loã với nhau để thủ tiêu không cho cấp
trên biết. Theo ông thì không có mệnh lệnh cấp trên là tiêu diệt và
giết tù binh” (theo bài viết của tác giả Trần Thanh về cuộc thảm sát
Mậu Thân).

Liên Thành trong cuốn sách của ông có thuật rõ VC đã thảm sát người ta
như thế nào, bắn hay đập bể sọ. Giết xong họ còn có thì giờ vùi thây
trong các nấm mộ tập thể chứ không phải vì bị truy kích mà họ phải vội
vàng giết và phần lớn số người bị giết là thường dân vô tội chứ không
phải là “tù binh” như ông Búi Tín nói. Lời khai của tên Trung tá điệp
báo Hoàng Kim Loan khi bị Ty CSQG Thừa Thiên-Huế bắt giữ cho biết việc
thảm sát dân chúng Huế năm Mậu Thân là do chỉ thị của Khu Ủy VC chứ
không phải do “chỉ huy cấp nhỏ tự tiện quyết định mà không cho cấp
trên biết” như ông Bùi Tín nói. Không biết ông cựu Đại Tá Bùi Tín đang
biện minh và chạy tội cho ai đây?

Có lẽ phần gây cấn và hấp dẫn nhất của cuốn sách là phần đặt kế hoạch
theo dõi, vây bắt và quan trọng hơn cả là lời cung khai của tên Trung
Tá điệp báo Hoàng Kim Loan. Cung từ của y đã tiết lộ cho thấy y đã móc
nối được những ai và xử dụng những người được móc nối như thế nào.
Người đọc không khỏi ngỡ ngàng về những tiết lộ động trời của viên sĩ
quan điệp báo này.

Theo Thiếu Tá Liên Thành ghi lại thì ngay vào giữa năm 1965 Huế đã trở
nên sôi động khác thường, với những cuộc biểu tình dữ dội, chiếm đài
phát thanh quốc gia, đốt phá phòng Thông Tin Hoa Kỳ, tổ chức xách động
đình công bãi khoá liên miên. Nhìn chung thì có vẻ như đây là những
phong trào quần chúng tự phát nhưng thực sự lại là những hành động
được sắp đặt và chỉ đạo rõ ràng. Ai chỉ đạo? Ai sắp đạt? Ai là kẻ chủ
động gây rối? Ai là người bị lợi dung? Nếu đọc hết tác phẩm “Biến Động
Miền Trung” của tác giả Liên Thành người ta sẽ dễ dàng thấy câu trả
lời cho những thắc mắc trên.

Thiếu Tá Liên Thành cũng cho biết ông và các cộng sự viên xuất sắc của
ông, mà hầu hết là các sĩ quan trẻ tốt nghiệp Học Viện CSQG, đã dày
công theo dõi một mạng lưới tình báo do Hà Nội trực tiếp chỉ huy qua
viên Trung Tá điệp báo Hoàng Kim Loan. Khi tên điệp báo này bị bắt vào
năm 1972 y đã khai ra các cơ sở nội tuyến được y móc nối mà chúng ta
ít ai ngờ tới: 2 Trưởng Ty cảnh Sát, một Thiếu Tướng, một Trung Tướng,
hai Thiếu Tá quân đội và khá nhiều tu sĩ trong phong trào đấu tranh
tại Huế. Thì ra phần lớn các tổ chức tôn giáo và quần chúng đấu tranh
tại Miền Trung và nhất là tại Huế đã do cán bộ điệp báo cộng sản chỉ
đạo và điều khiển. Chúng đã thành công phần nào trong năm 1966 khi tạo
ra những rối loạn tại Huế và Đà Nẵng đưa đến cuộc biến động tại Miền
Trung.

Nên nhớ rằng vào những năm sau chính biến 1963, thế lực của phong trào
Phật giáo đấu tranh lên rất mạnh. Chính trường miền Nam lúc bấy giờ
chịu ảnh hưởng rất nhiều của “các Thầy”. Các tướng lãnh cầm quyền đều
phải vị nể các Thầy. Việc bổ nhiệm nhân sự vào các chức vụ quan trọng
đôi khi phải có sự thoả thuận ngầm của các nhóm áp lực trong phong
trào đấu tranh Phật giáo. Việc này dần dà đưa đến những tranh chấp
quyền lực giữa các tôn giáo, nhất là giữa Phật giáo và Công giáo.
Những cuộc biểu tình đụng độ giữa hai tôn giáo này tại nhiều nơi là
những điều chúng ta vẫn chưa quên.

Cũng vì vậy mà Thiếu Tá Liên Thành khi thi hành nhiệm vụ đã dễ dàng bị
phe tranh đấu Miền Trung khép tội chống Phật Giáo mặc dù gia đình ông
vốn là một gia đình Phật tử thuần thành. Mẹ ông quy y và trách cứ ông
khi ông dẹp bàn thờ xuống đường và chống lại các Thầy biểu tình. Ông
là cháu Hoà Thượng Thích Tịnh Khiết, anh bà con ông là một Thượng Tọa,
ông còn là cháu nội Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, vậy mà vẫn bị khép tội
chống phá Phật giáo. Ông đứng vững được trong vụ Biến Động Miền Trung,
lại còn theo dõi và khám phá ra một ổ điệp báo quan trọng liên quan
đến nhiều thế lực đương thời thì quả là một điều kỳ lạ.

Trước 1975 và ngay cả cho tới ngày tác giả Liên Thành cho ra mắt cuốn
sách vào tháng 5 năm nay (2008) có lẽ ít tai trong chúng ta ngờ được
là Trung Tá điệp báo VC Hoàng Kim Loan đã móc nối được một cựu Thiếu
Tướng, một Trung Tướng, hai Thiếu Tá quân đội quốc gia trong đó có một
vị từng nắm giữ chức vụ Chỉ Huy Trưởng CSQG Quảng Trị, một Quận Trưởng cảnh Sát và một nguyên Trưởng Ty CSQG thị Xã Huế, một cựu Trưởng Ty An Ninh tỉnh Thừa Thiên, Chủ tịch và một Nghị viên Hội Đồng Tỉnh, một số giáo sư và sinh viên tại Huế.

Danh sách được móc nối còn gồm nhiều vị cao tăng được tác giả Liên
Thành nêu rõ tên tuổi trong cuốn sách của ông. Từ xưa đến nay và nhất
là ở VN trước 1975 việc nêu danh tánh các tu sĩ có liên hệ đến VC ít
ai dám làm vì sợ đụng chạm và người làm việc đó có thể dễ dàng bị chụp
mũ là phá hoại tôn giáo. Việt Cộng biết rõ yếu điểm này của phe quốc
gia nên đã tận tình khai thác kế hoạch tôn giáo vận của chúng. Cũng
chính vì vậy mà các chính quyền quân nhân sau 1963 đều kiêng nể không
dám đụng chạm đến các chức sắc tôn giáo. Do đó mới có những vụ xuống
đường bừa bãi phá nát hậu phương mà cảnh sát không dám thẳng tay đàn
áp, trong khi chúng ta đang rất cần một hậu phương ổn định để yểm trợ
tiền tuyến. Hình ảnh những binh sĩ nhẩy dù, đáng lý phải có mặt tại
các chiến trường đang sôi động, nay phải phụ lực cảnh sát ngăn chặn
biểu tình trên đường Trần Quốc Toản trước Viện Hoá Đạo ngày nào giờ
đây làm chúng ta thấm thía vì thua mưu cộng sản.

Cuốn sách “Biến Động Miền Trung của tác giả Liên Thành như tôi vừa sơ
lược là một tập tài liệu mà mọi người nên đọc. Đọc để biết rõ chúng ta
đã thắng CS ở điểm nào và người dân Miền Nam thuần hậu dễ tin đôi khi
đã bị VC và bọn người nhiều tham vọng chính trị lợi dụng và lừa bịp ra
sao.


Trong cuốn sách của ông, tác giả Liên Thành ghi lại những gì xẩy ra
tại Huế vào giai đoạn Miền Trung biến động. Nhưng cuộc biến động lớn
năm 1966 tại Miền Trung không phải chỉ giới hạn trong phạm vi Thừa
Thiên-Huế. Thị xã Đà Nẵng nơi đặt Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I cũng chứng
kiến những xáo trộn hãi hùng khi đám dân quân tranh đấu đụng độ với
lực lượng quân đội do chính quyền trung ương đưa ra Đà Nẵng dẹp loạn.
Là người cùng theo cánh quân trung ương ra dẹp loạn tại Đà Nẵng, tôi
xin được tiếp tay với tác giả Liên Thành làm sáng tỏ thêm về tầm mức
và quy mô của vụ Biến Động Miền Trung năm 1966:

Lịch sử còn ghi nhớ cuộc chính biến 1963 lật đổ Tổng Thống Ngô Đình
Diệm đã đưa Miền Nam VN vào một khúc quanh mới đầy xáo trộn và biến
loạn. Ngay sau cuộc chính biến, các tướng lãnh cầm quyền liên tiếp đảo
chánh nhau. Các cuộc xuống đường biểu tình xẩy ra như cơm bữa tại
Saigon và các đô thị lớn.

Nơi phát động và được coi là trung tâm chống đối chính quyền trung
ương là Huế và Đà Nẵng tiếp tục sôi động sau 1963. Phong trào tranh
đấu Miền Trung vẫn tạo áp lực nặng nề lên các chính quyền Saigon. Sau
1963, ảnh hưởng và tiếng nói của Thưọng Toạ Trí Quang và một số các
nhà lãnh đạo đấu tranh khác là điều mà không tướng lãnh cầm quyền nào
có thể coi thường. Áp lực chính trị và bất ổn liên tiếp trong hai năm
1963-64 đã buộc các chính phủ quân nhân kế tiếp nhau phải ít nhiều
nhượng bộ phe tranh đấu. Quân đội được xử dụng để lo đảo chánh và
chống đảo chánh đã phần nào lơ là trong công tác diệt Cộng, tạo cơ hội
thuận tiện cho Việt Cộng dễ dàng bành trướng và gia tăng các hoạt động
phá hoại tại nông thôn.

Tổng Nha CSQG thời bấy giờ dưới quyền của các Đại Tá Trần Thanh Bền và Phạm Văn Liễu, phối hợp với tình báo Hoa Kỳ, liên tiếp ghi nhận những
âm mưu phá hoại của VC không những chỉ ở nông thôn mà còn ngay tại thủ đô. Những vụ đặc công VC đặt chất nổ tại cư xá Brink góc đường Catinat ngay trung tâm Saigon và tại toà Đai Sứ Hoa Kỳ trên đường Hàm Nghi đã làm cho dư luận hoang mang. Phía Hoa Kỳ bắt đầu quan tâm về khả năng bảo vệ Miền Nam của các chính phủ quân nhân sau 1963.
Năm 1965 Hoa Kỳ quyết định mang quân vào tham chiến tại VN. Quyết định này của Hoa Kỳ đã buộc Hà Nội phải có một đối sách mới. Một mặt họ gia tăng các cuộc tấn công ngày càng công khai mạnh mẽ tại khắp nơi, mặt khác họ gia tăng các hoạt động phá rối gây bất ổn tại các dô tỉnh thị
chuẩn bị cho một kế hoạch tổng nổi dậy tiến chiếm Miền Nam. Việc xâm
nhập, gây chia rẽ và đố kỵ giữa các tôn giáo, giữa các tổ chức đấu
tranh và các nhóm chống đối nhiều tham vọng chính trị đều nằm trong
sách lựơc phá hoại này của VC.

Những cuộc xuống đường nhằm gây áp lực chính trị đã dần dà biến thành
các cuộc bạo động quy mô. Tại Saigon phe biểu tình chiếm giữ khu đường
Trần Quốc Toản quanh Viện Hoá Đạo, khu chùa Ấn Quang. Cảnh sát và quân
đội dẹp biểu tình là chuyện thường ngày, không còn làm ai ngạc nhiên.
Nhưng ít người nghĩ rằng VC đang có mặt để điều động và giật giây tạo
nên những rối ren hỗn loạn, cầm chân những người lính chiến đáng lý ra
phải có mặt tại các mặt trận đang cần họ.
Cũng nằm trong kế hoạch gây rối loạn này, tại Miền Trung VC đã xúc
tiến một kế hoạch quy mô nhằm biến Miền Trung thành một vùng tự trị,
dĩ nhiên dưới sự điều động ngầm của chúng. Như đã trình bầy ở đoạn
trên, tác giả Liên Thành có ghi rõ lời khai của Trung tá tình báo VC
Hoàng Kim Loan. Theo đó tổ điệp báo của y đã xâm nhập vào các phong
trào đấu tranh trong vụ Biến Động Miền Trung, gây náo loạn tại Huế và
Đà Nẵng như thế nào.

Tầm vóc của cuộc “Biến Động tại Miền Trung” năm 1966.
Nếu không có mặt tại Huế và Đà Nẵng trong thời điểm này người ta sẽ dễ
dàng nghĩ rằng đây chỉ là những cuộc xuống đường thường thấy tại
Saigon trong những năm sau 1963. Thực ra, tầm vóc của cuộc Biến Động
Miền Trung lớn hơn nhiều. Đây không phải chỉ là những cuộc xuống đường
gây náo loạn như tại Saigon. Cũng không phải chỉ là những màn cảnh sát
tung lựu đạn cay dẹp biểu tỉnh, mà thực sự là một cuộc chiến nhỏ, một
thách thức đối đầu giữa phe tranh đấu Miền Trung và chính quyền trung
ương, có tình báo VC tham gia lũng đoạn, giật giây và chỉ đạo. Tại Đà
Nẵng, cuộc biến động này có bắn nhau, có đổ máu, có người chết và buồn
thay lại là giữa quân đội của chính quyền trung ương và vài đơn vị
quân đội ly khai theo phe tranh đấu.

Nhiều người trong chúng ta hẳn còn nhớ, không bao lâu sau khi Trung
Tướng Nguyễn Chánh Thi được bổ nhiệm làm Tư Lệnh Quân Đoàn I, ông đã ngả theo Thượng Toạ Thích Trí Quang và phe tranh đấu Miền Trung chống lại chính quyền trung ương. Vào cuối năm 1965 một phong trào mới xuất hiện tại Huế và Đà Nẵng, với danh xưng Phong Trào Tranh Thủ đòi “thực thi Dân Chủ và bầu cử Quốc Hội Lập Hiến”. Đây là một phong trào tranh đấu do Thượng Tọa Thích Trí Quang và một số giáo sư, sinh viên đại học Huế chủ xướng nhằm tạo áp lực và làm khó chính quyền trung ương. Đặc biệt nhắm vào hai Tướng Thiệu Kỳ là hai nhân vật lãnh đạo trong Hội Đồng Quân Lực. Lúc này trong cương vị Tư Lệnh Quân Đoàn I, Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi đã công khai đứng hẳn về phe tranh đấu.
Sau nhiều lần thương thảo bất thành, Hội Đồng Quân Lực quyết đinh cất
chức Tư Lệnh Quân Đoàn I của Tướng Thi. Phong trào chống đối liền nhân
cơ hội này xuống đường, với danh nghĩa bênh vực Tướng Thi, khởi đầu
cho một mặt trận mới được mở ra tại Đà Nẵng. Người ta thấy xuất hiện
nhiều đoàn thể mới với những danh xưng tưởng như của VC: Nào là Hội
Đồng Nhân Dân Cứu Quốc, Phong Trào Tranh Thủ Dân Chủ và Hoà Bình,
Thanh Niên Sinh Viên quyết tử, Đoàn Thanh Niên Phật Tử quyết tử, Quân
Nhân quyết tử, Công Chức quyết tử, đoàn thể nào cùng thề quyết tử với
chính quyền trung ương.

Biểu tình và mít tinh lên án Thiệu-Kỳ được tổ chức khắp nơi. Đình công
bãi khoá liên tiếp xẩy ra, làm ngưng trệ mọi sinh hoạt thường nhật của
dân chúng. Nhiều toán thanh niên sinh viên quyết tử đi từng nhà hô hào
và ép buộc mọi người xuống đường. Họ ngăn chặn họp chợ, kêu gọi học
sinh sinh viên bãi khoá, hăm dọa những ai chống đối.

Đại tá Đàm Quang Yêu, Đặc Khu Trưởng đặc khu Quảng-Đà ngả theo phe
tranh đấu, Thị Trưởng Đà Nẵng là BS Nguyễn Văn Mẫn cũng tham gia phe
tranh đấu, từ đó phát sinh ra đoàn Công Chức tranh đấu. Cảnh sát là cơ
quan bảo vệ và duy trì trật tự cũng phải theo phe tranh đấu.

Phải nói rằng, ngoại trừ những người dân bình thường sợ tham gia chính
trị tìm cách tránh né, còn những ai có chút máu mặt đều phải đi theo
phe tranh đấu. Thậm chí ngay cả một vài đơn vị quân đội cũng ly khai
theo phe tranh đấu làm cho tình hình thêm căng thẳng và khó xử cho
chính quyền trung ương. Gần phân nửa sư đoàn I do chuẩn tướng Phan
Xuân Nhuận chỉ huy ngả theo phe tranh đấu. Một phần của một Trung đoàn thuộc sư đoàn 2 cũng theo phe tranh đấu. Tiểu đoàn 11-Biệt Động Quân của Đại Úy Nguyễn Thừa Dzu (sau này là Trung Tá) đang đóng quân tại ngoại ô Đà Nẵng cũng ngả theo và trở thành đơn vị nồng cốt bảo vệ phe tranh đấu. Ngoài ra một số quân nhân ở các đơn vị khác quanh Đà Nẵng tự động mang theo vũ khí gia nhập phe tranh đấu.

Đã có những xung đột bạo động xẩy ra giữa phe tranh đấu và một số đảng
viên Việt Nam Quốc Dân Đảng và Đại Việt. Đụng độ cũng xẩy ra giữa phe
tranh đấu giáo dân Công giáo tại hai làng Thanh Bồ-Đức Lợi. Kết quả là
phe tranh đấu thuộc Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc đã tấn công và đốt cháy hai làng Thanh Bồ Đức Lợi gần khu bãi biển Thanh Bình. Đà Nẵng nằm trong tình trạng gần như vô chính phủ.

Trước tình trạng này, trung ương cử Thiếu Tướng Nguyễn Văn Chuân ra
thay thế tướng Thi với hy vọng Tướng Chuân sẽ vãn hồi được an ninh
trật tự. Phong trào tranh đấu đón chào Tướng Chuân bằng những cuộc
xuống đường rầm rộ đả đảo Mỹ-Thiệu-Kỳ. Thượng Toạ Trí Quang và nhóm
đầu não tranh đấu không nhương bộ và không hợp tác với tướng Chuân.
Rút cục trung ương đành cử một vị tướng khác ra thay thế.
Trung tướng Tôn Thất Đính là người kế nhiệm cũng không ổn định được
tình hình. Đình công bãi thị vẫn tiếp tục. Nhóm quân nhân ly khai
không chịu buông sung trở về đơn vị. Tướng Đính bị bao vây tứ phiá và
tính mạng còn bị hăm dọa. Sau đó ông đã phải chạy vào căn cứ TQLC Hoa
Kỳ ở Đà Nẵng để xin được Trung Tướng Lewis Walt bảo vệ.
Trung ương lại phải bổ nhiệm thêm một tướng lãnh khác ra thay thế.
Cũng như hai tướng lãnh tiền nhiệm của ông, Thiếu Tướng Huỳnh Văn Cao
cũng bị cô lập và chống đối. Khó khăn của ông còn có phần rắc rối hơn
khi phe tranh đấu tố cáo ông là dân Công giáo thuộc thành phần được
Tổng Thống Diệm ưu đãi trước đây. Một hôm khi trực thăng của ông đang
cất cánh từ Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn đi thị sát mặt trận thì một viên
Trung Úy theo phe tranh đấu đã rút súng bắn theo ông. Ngay lập tức
Trung Uý Nguyễn Đại Thức đã bị xạ thủ đại liên người Mỹ trên phi cơ
bắn trả thiệt mạng.

Ngay sau biến cố này phe tranh đấu liền rầm rộ phát động việc chống
đối Tướng Cao và lấy tên viên Trung Úy đặt cho một đơn vị võ trang gồm
một số sinh viên và binh sĩ ly khai. Và người ta thấy có “chiến đoàn
Nguyễn Đại Thức” ra đời với nhiều quân nhân và sinh viên có võ trang
chia nhau đi bảo vệ các chùa và canh chừng tại các ngả đường đi vào
thành phố. Đà Nẵng lúc này trở nên căng thẳng và nghiêm trọng khác
thường. Trong vòng 5 tháng, phải thay đổi 4 vị Tư Lệnh Quân Đoàn mà
vẫn không vãn hồi được an ninh trật tự. Tình hình ngày càng trở nên
tồi tệ tại. Tinh thần quân dân cán chính tại Vùng I hoang mang và sa
sút rõ rệt.

Đến mức này chính quyền trung ương không còn một lựa chọn nào khác hơn
là thẳng tay đối đầu với phe ly khai Miền Trung do Thượng Toạ Thích
Trí Quang lãnh đạo với sự tham gia công khai của một số đơn vị trưởng
quân đội và nhóm trí thức nhiều tham vọng chính trị.

Để chuẩn bị cho chiến dịch bình định Miền Trung, Đại Tá KQ Nguyễn Ngọc
Loan đưọc bổ nhiệm thay thế Đại Tá Phạm Văn Liễu trong chức vụ chỉ huy
ngành Cảnh Sát. Việc thay thế Đại tá Phạm Văn Liễu là chuyện đã được
nhiều người tiên đoán ngay sau khi Tướng Thi bay chức Tư Lệnh Quân
Đoàn I. Đại Tá Liễu vẫn được coi là người thân thiết của Trung Tướng
Thi khi ông cùng tướng Thi tham gia đảo chánh Tổng Thống Diệm vào năm
1960 và sau đó cả hai phải sống lưu vong tại Cao Miên. Năm 1965 sau
khi đưa “quân đoàn giải phóng thủ đô” về Saigon dẹp đảo chánh, Tướng
Thi được bổ nhiệm làm Tư Lệnh Quân Đoàn I và Đại Tá Liễu đươc bổ nhiệm làm Tổng Giám Đốc CSQG.

Cần nói rõ ở đây là quyền hành của Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan không chỉ
thu gọn trong ngành Cảnh Sát. Ông còn được kiêm nhiệm luôn chức Giám
Đốc An Ninh Quân Đội và Đặc Uỷ Trưởng Trung Ương Tình Báo. Với quyền
hành như vậy, Đại Tá Loan được chỉ định giải quyết vấn đề Biến Động
Miền Trung đang làm điên đầu chính quyền trung ương và có cơ tạo ra
một cuộc đảo chánh mới lật đổ chính phủ.
Trong khi tại Huế biểu tình bãi thị tràn lan thì nguy cơ đổ máu đang
đe doạ mỗi ngày tại Đà Nẵng, với khí thế lên cao của phe tranh đấu và
các đơn vị quân đội ly khai nhập cuộc. Với ba cơ quan tình báo trong
tay, Đại Tá Loan hơn ai hết biết được khả năng gây loạn của phe tranh
đấu và ai là người chủ động, thành phần yểm trợ phe chủ động là những
đơn vị nào.

Trong một kế hoạch vân dụng tình báo vừa công phu vừa táo bạo, ông đã
bí mật đưa Đại Úy Trần Thụy Ly (sau này là Thiếu Tá Trưỏng Ty CSQG
Quận Nhì Saigon) và Đại Úy Nguyễn Văn Duệ (nguyên thuộc binh chủng
Biệt Động Quân thời trước 1963) ra Đà Nẵng. Ly và Duệ vốn là hai người
bạn quen biết lâu năm với Đại Úy Nguyễn Thừa Dzu, Tiểu Đoàn trưởng
TĐ-11 Biệt Động Quân. Cả hai có nhiệm vụ móc nối Đại Úy Dzu từ bỏ phe
tranh đấu. Tiểu đoàn 11-BĐQ được coi là một đơn vị thiện chiến và là
đơn vị ly khai nồng cốt của phe tranh đấu. Cũng trong thời gian này,
do sự móc nối ngầm của trung ương, Tướng Phan Xuân Nhuận Tư Lệnh Sư
Đoàn I tuyên bố tách ra khỏi phe tranh đấu và kêu gọi quân nhân dưới
quyền ông trở về đơn vị.

Chỉ sau khi đã móc nối được Đại Úy Dzu để tiểu đoàn 11-BĐQ án binh bất
động, và sau khi Tướng Phan Xuân Nhuận vì sợ bị truất binh quyền và ra
toà án quân sự, đã lên đài phát thanh tố cáo Thượng Tọa Trí Quang theo
cộng sản, Đại Tá Loan mới quyết định dứt khoát đem quân ra dẹp phe
tranh đấu và tái chiếm Đà Nẵng.

Tôi được chỉ thị mang Biệt Đoàn 222-Cảnh Sát Dã Chiến do Đại Úy nhảy
dù Nguyễn Duy Am chỉ huy đi theo Lữ Đoàn TQLC do Đại Tá Nguyễn Thành Yên chỉ huy và một tiểu đoàn nhảy dù do Đại Úy Nguyễn Hữu Bào làm Tiểu Đoàn Trưởng, ra tái chiếm Đà Nẵng.
Lực luợng vừa quân đội vừa Cảnh Sát dã chiến gần 3000 người được đổ
xuống phi trường Đà Nẵng vào sáng ngày mùng 3 tháng 6/1966. Lúc đó phi trường Đà Nẵng vẫn còn bị quân đội ly khai bao vây, nội bất xuất,
ngoại bất nhập. Tạm thời Đại Tá Loan đành thúc thủ vì không muốn chạm
súng để quân ta lại bắn quân mình. Các đơn vị trung ương vừa kể đành
phải nằm chờ trong phi trường Đà Nẵng. ĐT Nguyễn Ngọc Loan phải mượn
văn phòng của Thiếu Tá KQ Dương Thiệu Hùng để tạm thời đặt bộ chỉ huy.
Các tướng Cao Văn Viên và Nguyễn Cao Kỳ (lúc này đã là Thủ Tướng chính phủ) bay ra Đà Nẵng để tìm cách giải quyết. Vì phe tranh đấu và nhóm quân đội ly khai vẫn không chịu nhượng bộ, Tướng Kỳ dọa ngày mai sẽ ra lệnh tấn công vô Đà Nẵng và cho phi cơ khu trục của KQ-VN bắn xuống bộ chỉ huy phe ly khai nếu họ không chịu đầu hàng.

Không hiểu do đâu lời đe dọa này đến tai viên Tư Lệnh TQLC Hoa Kỳ tại
Đà nẵng là Trung Tướng Lewis Walt. Tướng Walt liền thông báo cho tướng
Kỳ là nếu phi cơ VN bắn xuống phe ly khai và nhóm tranh đấu tại Đà
Nẵng, ông ta sẽ cho phi cơ phản lực Hoa Kỳ lên nghênh chiến. Lúc này
tình hình trở nên thật căng thẳng.
Tướng Kỳ và ĐT Loan yêu cầu được gặp tướng Lewis Walt. Tôi không rõ ba
vị này thương thảo và tranh luận những gì. Sau đó Tướng Kỳ bay về
Saigon gặp Đại Sứ Hoa Kỳ và hôm sau ĐT Loan được lệnh tấn công vào Đà Nẵng. Tướng Kỳ và Tướng Thiệu gặp các giới chức Hoa kỳ và đã phải chấp nhận những điều kiện gì để Tướng Lewis Walt không can thiệp vào chiến dịch tái chiếm Đà Nẵng là điều mà chỉ có Tướng Kỳ và Tướng Thiệu biết và còn giữ kín.

Chỉ biết là ĐT Loan lúc đó rất bực bội. Ông cho rằng người Mỹ đã can
thiệp quá nhiều vào chuyện nội bộ của VN. Sau này có dịp nhắc lại
chuyện đem quân theo ông ra Đà Nẵng, ông cho biết ngày đó nếu Mỹ không
quyết định bỏ rơi Thượng Tọa Thích Trí Quang thì chưa chắc việc tái
chiếm Đà Nẵng đã có thể xẩy ra tương đối mau chóng như vậy. Đây có lẽ
là một bài học khó quên cho những ai làm thích chính trị núp bóng
người Mỹ. Khi mà sự cần thiết không còn nữa thì ngay cả “người làm
rung chuyển nước Mỹ” (tựa đề trên tuần báo Time năm 1964) như Thượng
Toạ Trí Quang cũng dễ dàng bị bỏ rơi. Chúng ta chưa quên, năm 1975 số
phận của tiền đồn chống Cộng VNCH cũng đã kết thúc không khác.
Trở lại việc tái chiếm Đà Nẵng, Lữ Đoàn TQLC của ĐT Nguyễn Thành Yên
ra khỏi phi trường Đà Nẵng và đụng độ với quân ly khai, gây tử thương
cho gần 20 quân nhân và thành phần có võ trang theo phe tranh đấu.
Biệt đoàn 222-CSDC bám sát TQLC để lục soát và bắt giữ những thành
phần gây loạn. Chỉ sau khi những người lãnh đạo phong trào đấu tranh
như Thượng Toạ Trí Quang, Đại Tá Đàm Quang Yêu, BS Nguyễn Văn Mẫn và
một số nhân vật chủ chốt khác bị bắt giữ và giải giao vào cục An Ninh
Quân Đội các nhóm đấu tranh và các đơn vị ly khai mới thực sự buông
súng đầu hàng. Việc tái chiếm Đà Nẵng bằng quân sự được hoàn tất trong
vòng hai ngày nhưng trật tự chỉ thực sự được vãn hồi sau gần 3 tháng
biểu tình tiếp tục liên miên.


Cái nghiệp Tình Báo-Cảnh Sát.
Đến đây hẳn bạn đọc đã thấy vụ Biến Động Miền Trung không chỉ đơn
thuần là những cuộc biểu tình xuống đường như ta thường thấy tại
Saigon trong những năm nhiễu loạn sau 1963. Nếu Thiếu Tá Liên Thành và
các cộng sự viên ưu tú của ông không kịp thời khám phá và bắt giữ ổ
điệp báo quan trọng Hoàng Kim Loan thì chắc tình trạng rối loạn tại
Huế sẽ còn tiếp diễn và chưa biết hậu quả sẽ ra sao. Nhưng có lẽ công
trạng lớn nhất trong vụ Biến Động Miền Trung phải được dành cho cố
Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan.

Nên nhớ là sau khi 4 vị Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn I đều thất bại không
vãn hồi được an ninh trật tự vì bị phong trào tranh đấu của Thượng Tọa
Trí Quang bao vây thì ít có vị Tướng lãnh nào muốn nghĩ tới việc ra
thay thế chức vị Tư Lệnh Quân Đoàn I chứ đừng nói đến một sĩ quan cấp
thấp hơn như Đại Tá Loan. Đối đầu với thế lực đang lên của Thượng Tọa
Trí Quang lúc bấy giờ không phải là một quyết định dễ dàng. Vậy mà Đại
Tá Nguyễn Ngọc Loan đã chấp nhận công tác may ít rủi nhiều này.
Nếu không khôn khéo và cương quyết trong vụ dẹp loạn Miền Trung và nếu tình hình đổi ngược lại thì với cấp bậc Đại Tá khiêm tốn của ông có
thể số phận của Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan cũng đã không khác gì số phận
của Thiếu Tá Đặng Sĩ sau đảo chánh 1963. Và nếu vụ biến động không
được kịp thời dẹp tắt thì Miền Trung chắc đã trở thành một vùng tự
trị, một thứ trái độn cần thiết mà Hà Nội mong muốn trong kế hoạch lấn
chiếm Miền Nam. Và như vậy, rất có thể người dân Miền Trung đã không
được sống trong tự do yên ổn cho đến tận tháng 4/1975.

Sẽ có bạn đọc thắc mắc tại sao những bí ẩn trong vụ Biến Động Miền
Trung giờ này mới được tác giả Liên Thành đưa ra ánh sáng. Có nhiều lý
do để giải thích việc này nhưng có lẽ lý do căn bản vẫn là lý do nghề
nghiệp. Nghề tình báo (trong tổ chức Cảnh Sát có ngành Cảnh Sát Đặc
Biệt phụ trách về tình báo và phản tình báo) vốn là nghề “sống để
bụng, chết mang đi”. Rất nhiều trường hợp công tác đã xong nhưng các
tình báo viên hoặc các cộng tác viên còn nằm lại. Việc tiết lộ kết quả
công tác sẽ mang lại nhiều rủi ro cho những người đó. Chính vì vậy mà
những thành quả tình báo không được vinh danh, không có vòng hoa chiến
thắng và khao quân. Cảnh Sát làm tình báo chẳng khác gì người “mặc áo
gấm đi đêm”. Có áo quý nhưng không dám khoe!

Không những không được khoe mà đôi khi còn bị hiểu lầm. Như chuyện năm 1967 một sĩ quan tình báo của Cảnh Sát được gài trong mật khu VC. Có lẽ để thử thách lòng trung thành của sĩ quan này, VC giao cho đương sự đặt chất nổ phá hoại trong Bộ Tư Lệnh CSQG. Vì tầm quan trọng của công tác và để gây uy tín cho tình báo viên của mình, Bộ TL Cảnh Sát đã
phải ngụy trang một vụ nổ giữa sân Bộ TL Báo chí thời đó loan tin với
khá nhiều mỉa mai. Một số dân biểu đối lập được dịp chỉ trích chính
phủ và chĩa mũi dùi vào Tư Lệnh CSQG. Bộ TL-CSQG vẫn phải âm thầm gánh chịu, không hề biện bạch cải chính. Cái nghiệp tình báo là như vậy!

Trở lại vụ cuốn sách của tác giả Liên Thành, tôi nghĩ ông và các cộng
sự viên của ông cũng bị các nguyên tắc nghề nghiệp ràng buộc. Trong
dịp ra mắt cuốn sách của ông tại Houston vào tháng 9/1975 mới đây, ông
cũng bị một vài thành viên trong Ban Đại Diện cộng đồng phản đối. Họ
hô hào chống đối buổi ra mắt sách, buộc ông tội gây chia rẽ giữa giữa
các tôn giáo chỉ vì cuốn sách của ông tiết lộ tên tuổi một số tu sĩ
Phật giáo bị điệp báo cộng sản móc nối trong vụ Biến Động Miền Trung.
Họ cho rằng bây giờ chưa phải là lúc đề cập tới những chuyện như vậy,
trong khi số đồng hương đến tham dự không dưới 700 người.

Điều này làm tôi nhớ lại thái độ tương tự của những người có trọng
trách trong chính quyền thời bấy giờ, coi chuyện tôn giáo và tu sĩ như
những lãnh vực bất khả xâm phạm. Phải chăng những tránh né như vậy đã
phần nào nuôi dưỡng tình trạng “kiêu binh” gây sóng gió trong chính
trường Miền Nam nhiều năm trước ngày sụp đổ? Thái độ thờ ơ cả nể đã di
hại cho công cuộc bảo vệ Miền Nam không ít. Bây giờ 33 năm sau, chúng
ta vẫn còn cả nể như vậy sao? Không lẽ ta không học được những bài học
của quá khứ để truyền lại cho con cháu sau này?

Câu nói của sử gia Santanaya đã được nhiều người nhắc lại và đáng cho
chúng ta suy nghĩ: “Those who do not learn from the lessons of history
will be condemned to repeat history” (xin dịch thoáng như sau: Kẻ nào
không chịu học những bài học của lịch sử thì sẽ phải gặp lại những bất
hạnh tương tự khi lịch sử tái diễn).

Cám ơn Thiếu Tá Liên Thành đã làm sáng tỏ một số bí ẩn trong vụ Biến
Động Miền Trung và xin cám ơn Tập San Biệt Động Quân đã cho xuất bản
tập sách này.
Trần Minh Công
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

“Hãy thích nghi hoặc rời bỏ nơi đây!”

Huy Phương
Vào lúc 11:05 tối (giờ địa phương) ngày 12 Tháng Mười 2002, một vụ đánh bom đã xẩy ra tại Kuta, một địa điểm du lịch nổi tiếng trên đảo Bali, Indonesia giết chế 202 người, trong đó có 88 người Úc. Sau vụ tấn công này của tổ chức Hồi Giáo Jemaah Islamiyah, lòng yêu nước của người Úc đã bùng phát một cách mãnh liệt. Và chỉ hơn hai tháng trước khi rời chức vụ thủ tướng nước Úc, ông John Howard, ngày 27 Tháng Chín 2007 đã giận dữ trả lời một số dư luận của một số người Úc Hồi Giáo cho rằng ông đã ủng hộ những cơ quan tình báo theo dõi những Nhà Thờ Hồi Giáo Quốc Gia (The Nation's Mosques) trên đất Úc. Ông nói rằng những người Hồi Giáo hoặc những người không phải là người Úc, hoặc phải thích nghi với nước Úc, hoặc hãy rời khỏi Úc.

Ông John Howard cũng đã nói thẳng:

“Nền văn hóa của đất nước này đã phát triển qua hai thế kỷ do hàng triệu nam nữ đi tìm tự do, đấu tranh, mở mang và chiến thắng. Chúng tôi nói tiếng Anh là chính, không tiếng Tây Ban Nha, tiếng Lebanon, tiếng Ả Rập, tiếng Trung Hoa, tiếng Nhật, tiếng Liên Xô hay bất cứ tiếng nào khác. Do đó, nếu quí vị muốn trở thành những thành viên của xã hội chúng tôi hãy học sinh ngữ này.”

“Hầu hết người Úc tin vào Chúa Trời. Ðây không phải chỉ là một số tín đồ Ki Tô Giáo, bảo thủ, khuynh hướng chính trị, nhưng thực tế, vì những người cơ đốc nam và nữ, vì những nguyên lý đạo đức Ki Tô Giáo, đã tạo dựng lên xứ này và cũng đã được ghi lại rất rõ ràng. Chắc chắn những điều thích hợp này đã được ghi lại trên những bức tường của trường học chúng tôi.”

“Chúng tôi sẽ chấp nhận lòng tin của quí vị, và sẽ không hỏi tại sao. Ðiều mà chúng tôi đòi hỏi quí vị là quí vị chấp nhận lòng tin của chúng tôi, sống hòa hợp và yên hưởng thái bình cùng chúng tôi. Ðây là quê hương của chúng tôi, đất nước của chúng tôi, và là lối sống của chúng tôi, và chúng tôi sẽ cho phép quí vị mọi cơ hội tận hưởng tất cả những thứ này. Nhưng một khi quí vị than phiền, phàn nàn, và liên tục xúc phạm về Quốc Kỳ, về Lời Nguyện, về lòng tin Ki Tô Giáo, hay về lối sống của chúng tôi, tôi thành khẩn mong quí vị hãy nắm lấy cơ hội tự do của người Úc, đó là quyền ‘bỏ đi.’”

“Chúng tôi đã không ép quí vị tới đây. Quí vị xin được tới đây... Do đó hãy chấp nhận quê hương quí vị đã chấp nhận, hay là ‘cút đi’”. (Get Out of Our Country!!)

Sau khi bài phát biểu này được đưa lên “net”, nhiều người Mỹ đã phát biểu ý kiến cho rằng họ cũng muốn tổng thống của họ sẽ nói lên những điều như thế để trả lời những điều đòi hỏi và chê trách nước Mỹ.

Nhiều luận điệu “chê” nước Mỹ như sau:

- Hệ thống giáo dục của Mỹ không phải là tốt nhất thế giới: Chỉ có 97% người Mỹ có thể đọc hay viết. Mỹ đứng hàng thứ 69 trên thế giới về khả năng này. Trẻ em trong những gia đình nghèo chỉ biết đọc chút ít và không biết viết. Hầu hết trẻ em Mỹ không biết đọc sách, chúng chỉ xem TV từ 5 đến 8 tiếng mỗi ngày. 45% trẻ em không đọc được tên của các châu lục địa. 54% trẻ em không biết đến Ðệ I Thế Chiến là gì. 24% trẻ em không biết cộng trừ nhân chia, nếu không có máy tính.

(Kết quả theo thống kê của Viện Giáo Dục Quốc Tế năm 2007, hiện nay có 582,984 du học sinh ngoại quốc theo học trong các đại học và cao đẳng tại Hoa Kỳ. Du học Mỹ phải chăng là giấc mơ của tuổi trẻ sinh viên trên thế giới?

Các thành phần từng bị gọi là chạy theo chân đế quốc để kiếm bơ thừa sữa cặn, nhờ vào nền giáo dục của Mỹ, đã được trải thảm đỏ khi trở lại Việt Nam.)

- Mỹ lợi dụng giáo dục để diễn tiến hòa bình: Bản “Ðề Cương Tuyên Truyền” được Ban Tuyên Giáo Trung Ương Việt Cộng ban hành ngày 25 Tháng Sáu 2009 “Ðề Cương Tuyên Truyền,” còn có một tên là “Chỉ thị số 34-CT/TW của Ban Bí Thư về tăng cường cuộc đấu tranh chống âm mưu, hoạt động 'diễn biến hòa bình' trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa.” Mỹ đã bộc lộ rõ ý đồ lợi dụng hợp tác giáo dục, đào tạo để chuyển hóa Việt Nam. Ðến nay chỉ riêng Mỹ đã có 15 chương trình, dự án lớn có liên quan đến lĩnh vực giáo dục-đào tạo đang triển khai ở Việt Nam. Ngân sách của chính phủ Mỹ dành cho các chương trình Fulbright Việt Nam tăng lên 4 triệu USD/năm, còn 'Quỹ Giáo Dục Việt Nam' mỗi năm dành 5 triệu USD cấp cho 100 sinh viên Việt Nam học tại Mỹ, đến Sứ Quán Mỹ ráo riết triển khai dự án 'Góc Hoa Kỳ' nhằm quảng bá với lớp trẻ hình ảnh nước Mỹ, lối sống Mỹ.

(Kết quả: Tuy vậy, du học sinh từ nước Cộng Sản đang bị diễn tiến hòa bình này đến Mỹ lên cao nhất trong 20 quốc gia: tăng 46.2% trong niên khóa vừa qua 2008-2009.)

- Nước Mỹ cần di dân để nuôi sống nước Mỹ chứ không phải di dân cần đến Mỹ:

Nước Mỹ đã cấp nhập cảnh cho các bác sĩ, kỹ sư, kinh tế gia, thảo trình viên vì nước Mỹ dốt không đào tạo đủ các chuyên viên này. Mỹ là những chủ nhân ông sử dụng di dân. Các công ty Microsoft, Intel, Compaq sử dụng rất nhiều di dân... Nước Mỹ có rất nhiều “đầy tớ” di dân thu nhặt từ các nước nghèo để phục vụ trong các hệ thống khách sạn, văn phòng, bệnh viện, cửa hiệu, chợ búa. Người Mỹ không thể lao động tay chân, không có di dân người Mỹ không thể sinh tồn. Nước Mỹ sẽ không làm gì được nếu không có thành phần di dân. Nhiều người trở thành công dân Mỹ nhưng cũng có nhiều người phải quy cố hương! Nếu nước Mỹ đóng cửa biên giới, bế môn tỏa cảng, nước Mỹ sẽ chết!

(Kết quả: Di dân không cần đến Mỹ nhưng tính từ năm 2000, mỗi năm có 850,000 di dân lậu tràn vào Mỹ. Hiện nay có khoảng 12 triệu di dân lậu sống và làm việc tại Mỹ: 17% văn phòng, 14% trong ngành xây cất và 12% phục vụ trong các tiệm ăn.

Số di dân hợp pháp được đến Mỹ năm trong năm 2007 là 946,142 người, con số này mỗi ngày mỗi tăng. Hằng ngày trên thế giới tại các tòa Ðại Sứ Mỹ, thiên hạ chen chúc xếp hàng xin visa vào đất Mỹ. Hằng năm nước Mỹ còn tổ chức xổ số lấy 50,000 visa miễn phí [lottery visa]. Ðối với dân các nước nghèo, trúng xổ số này coi như lên Thiên Ðàng.)

- Nước Mỹ thiếu văn hóa: Văn hóa Mỹ pha trộn văn hóa Anh, Pháp, Ái Nhĩ Lan, Ðức. Nước Mỹ không có kịch nghệ. Dân Mỹ không hiểu nghệ thuật sân khấu. Nước Mỹ không có nhà văn vĩ dại, nước Mỹ chỉ có những tác giả có bestseller. Phim Hollywood không bằng phim của Pháp, Anh, Nhật, Tây Ban Nha, chỉ có bạo lực, anh hùng rơm, sex, tiền, cowboy và quái dị. Người ta dẫn chứng câu nói của Tom Cruise trả lời một cuộc phỏng vấn: “Tôi sẽ để con tôi ở ngoài nước Mỹ vì tôi sợ con tôi sẽ bị giết ở đây!”

(Kết quả: Tom Cruise chê xã hội Mỹ nhưng lại đóng phim bạo lực. Tài tử này dẫn đầu số thu 100 triệu cho một loạt 5 cuốn phim ăn khách. Văn hóa Mỹ quả thật không có gì cao, không có đến bốn nghìn năm văn hiến, nhưng quần Jean, Starbuck, Coca Cola, nhạc Rock, Disneyland, phim Hollywood... cả thế giới mê như điên.)

- Nước Mỹ không tôn trọng nhân quyền: Cảnh sát đánh du học sinh Hồ Phương tàn bạo vào ngày 3 Tháng Chín 2009 khiến nhiều luật sư, dân cử can thiệp, Tòa Ðại Sứ Việt Cộng lên tiếng “chỉ đạo Tòa Tổng Lãnh Sự... xác minh vụ việc và tiến hành các biện pháp bảo hộ lãnh sự cần thiết cho công dân Hồ Phương”, nhiều giọt nước mắt thương cảm cho “em”, nhà chỉ đủ ăn, chật vật lắm mới có tiền cho con du học, sinh viên giỏi, nhiều ước vọng, nhìn về nước Mỹ như một thần tượng (!),được cả nhà và cả họ, cùng vun đắp tiền bạc cho em đi du học để mong có một tương lai rạng rỡ hơn”

Bên ta: “Ðã còng rồi còn bị đánh, bị bắn súng điện...”

Bên địch: “Anh ta chống trả và bất tuân...”

(Xin hãy chờ xem vì chưa đến hồi kết cục. Nhập gia tùy tục. Ở Việt Nam dọa giết người, thậm chí giết người mua được tòa án, cũng trắng án. Ở Việt Nam xuống suối mò hến không ai cấm, nhất là kẻ có quyền. Vào Mỹ mà còn giữ lối sống và thói quen Việt Nam là ốm đòn. Ý kiến của một người dân Hà Nội: “Tôi nhận thấy nhiều người dân mình rất kém trong việc hòa nhập cộng đồng.”)

Trước khi rời chức vụ thủ tướng nước Úc, ông John Howard đã nói một câu để đời, có thể xếp vào hạng danh ngôn: “Chúng tôi đã không ép quí vị tới đây. Quí vị xin được tới đây. Do đó hãy chấp nhận quê hương quí vị đã chấp nhận, hay là ‘cút đi.’” (Get out of our country!!)

Tôi cũng như nhiều người ở đây cũng muốn tổng thống Mỹ, nếu có dịp cũng nên nói lên những điều như thế.
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

TÔN GIÁO ! TÀI SẢN XÃ HỘI VÔ GIÁ
TOÀN DÂN HÃY THỰC HIỆN VÀ GIỮ GÌN ĐÚNG KHẨU HIỆU
"KHÔI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN"



Nguồn gốc và lịch sử tôn giáo

Tôn giáo!Đó là khái niệm để chỉ những dòng tư tưởng, mon ăn tinh thần của nhân loại, được xuất phát bởi tư tưởng những bậc hiền triết chính nhân cái thế phát kiến lên.Tư tưởng của họ xuất phát từ nhận thức căn bản của cuộc sống xã hội loài người, qua quá trình phát triển đã nảy sinh những mâu thuẫn bất công, những khiếm khuyết do bản năng tự nhiên, đã dẫn đến sự phát triển vô thức tiêu cực, ảng hưởng tiêu cực đến sự phát triển của loài người ..Vì vậy cần phải tìm ra những nguyên lý căn bản, những mối quan hệ lành mạnh, tích cực, nhằm để giảm bớt dẫn đến triệt tiêu những mâu thuẫn bất công, dẫn dắt con người đi trong một khuôn mẫu nhất định, nhằm tác động tích cực vào đời sống xã hội.

Khởi nguồn của các dòng đạo được bắt nguồn từ những tư tưởng đó. Đồng thời tôn giáo cũng tuân theo qui luật tự nhiên. Thích nghi với môi trưòng và có tính tích cực hợp lý sẽ tồn tại và phát triển"Traỉ qua những giai đoạn và thời kỳ thăng trầm của lịch sử, tuy có lúc bị sai lầm ngộ nhận do bị tác động bởi những thế lực đương thời, hay sự kế thừa của các môn đồ còn chưa thấu đáo. Nhưng đạo giáo cuối cùng đã được loài người chấp nhận bởi tính tích cực có lợi, tôn giáo đã đem đến cho loài người những giá trị to lớn về mặt tư tưởng.Nó có giá trị vình hằng và bất biến. Mọi sự có thể thay đổi, nhưng những tư tưởng căn bản của đạo giáo thì không thay đổi, là nền tảng đạo đức cho bất cứ một xã hội nào dù phát triển đến đâu.

Bản chất và công lao đóng góp của tôn giáo

Một xã hội lấy tôn giáo làm chủ đạo, làm quốc đạo sẽ tạo lên một xã hội an lành tốt đẹp. Những buổi sinh hoạt tôn giáo như đi lễ chùa, lễ nhà thờ để câu kinh niệm phật, sẽ gắn kết mối quan hệ con người trở lên khăng khít bền chặt, tạo lên cho cộng đồng mối quan hệ hữu cơ khi họ cùng hướng tới môt giá trị tư tưởng chung.

Đức tin tôn giáo không phải là đức tin mê muội vào giáo chủ hay các hình thức biểu tượng như đền thờ, nhà thờ, chùa chiền…, mà là đức tin vào những giáo lí tốt đẹp, cái cốt lõi đạo đức căn bản được thể hiện trong kinh thánh, trong phật pháp

Bất kỳ tôn giáo nào dù ở châu Âu có Công giáo, trung cận đông có Hồi giáo, Nam á đông có Ấn giáo, châu Á có Phật giáo…Bất kì tôn giáo nào cũng đề cao tình yêu. Thiên chúa giáo kêu gọi tình yêu thương giữa con người với con người, Phật giáo chủ trương bình đẳng, từ bi, hỷ xả, vô ngã, vị tha.

Trong đạo đức Kitô giáo, giới răn nền tảng là yêu thương: yêu Thiên Chúa, yêu bản thân, yêu tha nhân.

Kinh thánh răn cấm những điều cụ thể: không giết người, không lấy của người, không nói sai sự thật, không ham muốn chồng hoặc vợ của người, không làm chứng giả để hại người...

Phật giáo cũng vậy, phật giáo hoá con người thanh tịnh, tinh khiết tránh xa thói trần tục tham, sân, si điều chỉnh cái ái, ố, hỉ, lộ ở con người sao cho có định tính, căn bản

Phật giáo đã đưa ra những chuẩn mực đạo đức rất cụ thể trong 10 điều nghiêm cấm đươc gọi là giới luật: không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu. Đưa con người trở về cái thiện, tránh xã khỏi vòng tội lỗi mỗi người phải tự mình làm lành, lãnh dữ để hưởng phúc tránh họa về sau.

Một đất nước Thái Lan lấy phật giáo làm quốc đạo, đã làm nên một xã hội thanh bình, thuần khiết hàng mấy trăm năm. Họ coi trọng giá trị tinh thần, lấy giá trị tinh thần làm căn bản hơn giá trị vật chất

Các quốc gia Hồi giáo cũng vậy, nếu ta lược đi những tư tưởng cực đoan thì sẽ thấy một thế giới đạo hồi tuân ti trật tự và thành kính. Các quốc gia hồi giáo vùng trung cận động là một hình mẫu điển hình.

Công giáo là một trong ba dòng đạo lớn, có lich sử lâu đời và đã có công rất lớn vào việc đóng góp tư tưởng cho sự phát triển xã hội loài người.Công giáo đặc biết phát triển ở âu châu, được nhiều quốc gia châu âu coi là quốc đạo. Ngoài sự phát triển khoa học kỹ thuật, họ vẫn coi tôn giáo là nền tảng căn bản của xã hội

Ngày nay chúng ta không thể tượng tượng được rằng nếu không có tôn giáo thì con người sẽ ra sao! Bất cứ nơi đâu và bất cứ con người nào trên trái đất, không ít thì nhiều đều chịu ảnh hưởng của tôn giáo. đạo giáo đã đi vào tư tưởng con người như một lẽ tự nhiên, như một món ăn tinh thần không thể thiếu.Những kẻ cai trị thì dựa vào tôn giáo, ru ngủ dân để dễ bề cai trị hoặc bị tôn giáo chinh phục để cai trị tốt hơn anh minh hơn, còn dân chúng thì sùng kính đạo để lấy chỗ dựa tinh thần, hướng tới cái chân, thiện, mỹ tránh xa sự cám dỗ của đời sống hỗn tạp tự nhiên. Không còn nghi ngờ gì nữa, đời sống con người đựơc sự gíao hoá của tôn giáo đã trở lên căn bản và bền vững những giá trị tư tưởng và tinh thần mà tôn giáo đem lại là vô cùng to lớn

Ngày nay đa phần các quốc gia, các dân tộc trên thế giới đều sùng kính đạo giáo, họ đều dành cho tôn giáo không chỉ sự ngưỡng mộ thiêng liêng ở trong tâm mỗi con người mà tại các thành phố, nhà thờ nhà chùa thường được dành cho những địa điểm đẹp nhất, lý tưởng nhất và thuần khiết nhất. Đó không chỉ là những nơi thờ cúng mà còn la những địa điểm tham quan du lịch lý tưởng. Biết bao công trình kiến trúc tôn giáo đồ sộ nguy nga và nổi tiếng được loài người xây dựng lên. Từ Đất thánh Giesusalem tới Toà thánh Vatican uy nghiêm, những thánh đường Conxantin nổi tiếng cho tới nhà thờ đức bà Pari hoa lệ cổ kính. Từ thánh địa Mecca cho tới Thánh đường Blue (Thánh đường Xanh) nơi tôn thờ Thánh Ala với bộ kinh Coran nổi tiếng.Từ những công trình chùa cổ kính tại đất nước Nepal, Ấn Độ quê hương của đức phật Thich ca mau ni cho tới, Angco, Chùa vàng, chùa núi vang, bức tượng phật nằm nổi tiếng của đát nước Mianma ở vùng đông nam châu á. Đâu đâu cũng thấy dấu tích và sự hiện diện của tôn giáo, bất kể thời gian và hoàn cảnh cũng như bị chính con người tàn phá. Nhưng đạo giáo đã được khẳng định và có sức sống mãnh liệt nhất.

Tôn giáo tại những nước cộng sản và ở Việt Nam.

"Tôn giáo là thuốc phiện của nhân loại"đó là nhận xét của nhà độc tư tưởng công sản chủ nghĩa Karl Marx khi ông ta cố tình dùng cái thuyết công sản và tư tưởng giai cấp, phủ nhận giá trị của tôn giáo, nối tiếp tư tưởng của Marx là những môn đồ mù quáng sau này đã thực hiện hàng loạt các hành động "đấu tranh giai cấp"nhằm khống chế đàn áp, tiến tới triệt tiêu tôn giáo tại các quốc gia cộng sản.Môt loạt các nhà thờ, chùa chiền bị cach mạng trưng thu bị đạp phá sau những cuộc thanh trừng mà người ta gán cho cái từ bài từ "mê tín dị đoan"để rồi bị đập phá bị trưng thu mà không cần bất cứ lý do gì!

Sau khi chủ nghiã cộng sản sụp đổ đa phần trên thế giới, thì tôn giáo lại trở lại đúng vị trí trước kia khi chưa bị công sản hoá. Ngay như Trung Quốc, Việt Nam tuy vẫn là quốc gia cộng sản, những vấn đề tôn giáo cũng được mở rộng. Nhưng trong tư tưởng của họ thì tôn giáo vẫn là cái gai trước mắt, vì dám tranh chiếm tư tưởng tôn thờ chủ nghĩa CS của họ, chỉ vì thời thế mà họ phải nới lỏng mà thôi.

Điểm lại những chính sách đáơ áp tiêu diệt tôn giáo của họ, cúnh ta thấy nhà nước CS Việt Nam là một trong những chế độ đã góp phần vào việc phá tan các giá trị đạo lý truyền thống mà tôn giáo mang lại. Kể từ khi lên nắm quyền cai trị, họ đã thực thi chính sách phong toá khống chế sự phát triển của tôn giáo, cho tới dùng thủ đoạn thâm nhập vào nội bộ các tôn giáo để phá hoại từ bên trong.

Đối với công giáo, suốt trong những năm dưới chế độ XHCN, biết không thể chui vào nội bộ công giáo để thao túng phá hoại(do tổ chức của nhà thờ rất chặt chẽ) họ đã dùng nhiều thủ đoạn với bộ máy tuyên truyền độc tài, họ đã tuyên truyền và nhồi nhét vào đầu óc người dân về một cộng đồng công giáo có nhiều hành động cực đoan, qua khích "tử vì đạo", kích bác công giáo là thứ tôn giáo ngoại lai là con dân "nước chúa", hay tôn giáo là thúôc phiện ru ngủ con người, làm con người mất ý chí đấu tranh vv...nhằm chia rẽ khối đoàn kết dân tộc. Cho đến tận ngày hôm nay, do sự tuyên truyền của chế độ CS, trong con mắt người dân thì cộng đồng tôn giáo vẫn bị những tàn dư tuyên truyền phản động làm mộng mị u mê, vẫn còn những khoảng cách nhất định đối với người công giáo.

Đặc biệt đối với phật giáo, thì CS đã thật sự thành công trong việc phá nát bản chất của đạo phật, bằng thủ đoạn chui sâu vào nội bộ phật giáo, họ đã sử dụng những cán bộ làm công tác dân vận để dội lốt làm "hoà thượng quốc doanh"với nhiệm vụ phá hoại cơ bản nền tảng giáo lý cũng như các hoạt động tu hành của đạo phật.Họ đã vô hiệu hoá tư tưởng của đao giáo đối với nhân dân. Tuy thời gian gần đây đac có những tiến bộ, cho mở lại các chùa chiền, nhưng thực chất đó chỉ là cái vỏ bọc bên ngoài. Còn thực chất việc tu hành đã bị mai một biến tướng. Điều này đã được Hoà Thượng Thích Quảng Độ khẳng định "Mở cửa chùa không có nghĩa là tư do tôn giáo"

Chính vì lý do căn bản này mà giáo hội PGTNVN, một tổ chức phật giáo duy nhất làm đúng chức phận tu hành mà công sản Việt Nam không mong đợi, do vậy đã ra sức ngăn cản tổ chức giáo hội này được tự do hoạt động.

Tôn giáo là tài sản tinh thần của dân tộc.

Như phần trên tôi đã trình bày, tôn giáo là nền tảng tư tưởng cho một xã hội đi theo hướng phát triển có tính tích cực, tôn giáo đem lại cho xã hội sự yên lành hạnh phúc và những giá trị về đạo đức, hướng con người tới cái chân, cái thiện, cái mĩ. Thượng tôn đạo lý chính nghĩa.

Điều đó cũng có nghĩa tôn giáo sẽ triệt tiêu những tệ nạn xã hội, những thói hư tật xấu, những bất công dối trá của con người hoặc do những thế lực phả động đem lại.

Vì vậy phải coi tôn giáo là tài sản vô giá của xã hội, của dân tộc, vì sự phát triển bền vững của dân tộc của xã hội, cần khuyến khích cổ vũ cho mọi người tham gia tòng đạo, đồng thời làm sao cho người dân bất kể la ai theo đạo hay không theo đạo, cần phải coi tôn giáo là tài sản chung của xã hội của dân tộc, cần phải được giữ gìn cổ vũ và phát triển. Mọi người dân, mọi thành phần trong xã hội đều coi sự đoàn kết giữa các dân tộc, giữ các tôn giáo là mục tiêu chung. Nhà thờ, chùa chiền, đền đài, miếu mạo là tài sản chung của mọi người đều có giá trị về tinh thần về thẩm mỹ chung. Là người Việt Nam, chúng ta tự hào biết bao khi có những công trình kiến trúc tôn giáo đẹp đẽ, độc đáo được xây dựng như Nhà thờ Phát Diệm được xây dựng toàn bằng đá, nhà thờ đức bà ở Sài Gòn, hay như chùa Tây Phương vv...

Khẩu hiệu "khối đại đoàn kết toàn dân"có thật sự đoàn kết không???

Cái khẩu hiệu này luôn luôn được nhà nước CSVN đưa ra trong thời kỳ gần đây. Họ luôn miệng hô hào người dân hãy vì dân tộc hãy đoàn kết để tạo lên sức mạnh dân tộc. Nói vậy mà không phải vậy!Tuy nêu ra khẩu hiệu như vậy, nhưng họ luôn đi ngược lại những lời hô hào đó! Chưa bao giờ chúng ta thấy họ thực lòng với việc gắn kết các dân tộc các tôn giáo vì lợi ích chung của dân tộc. Thông qua cái gọi là "Mặt trận tổ quốc"một tổ chức vệ tinh của đảng CS để dễ bề quản lý không chế nhân dân chống lại nhà nước độc tài.

Như chúng ta đã thấy nhất là những ngày gần đây, ngoài việc họ huy động một LL lớn công an, cảnh sát vào việc đáp áp giáo dân, họ còn kích động xúi giục người dân xung quanh khu vực đang tranh chấp đất đai và nhưng thành phầnkhác trong xã hội, có những hành động bạo lực, quá kích, dùng lời lẽ mạ lị bẩn thiủ xúc phạm đến những người công giáo, đến nơi thờ tự, linh vật thiêng liêng của người công giáo.

Đặc biệt không dừng lại ở đó họ còn mở chiến dịch tuyên truyền sai sự thật, vu không đả phá công giáo trên các mạng thông tin đại chúng, gây lên không khí chia rẽ trong nhân dân, tạo lên hình ảnh xấu về người công giáo đối với công đồng, thì đó có thế gọi là "khối đại đoàn kết toàn dân" được hay không?Những hành vi chia rẽ "khối đại đoàn kết toàn dân" cực kỳ tàn nhẫn của họ đã được thể hiện một cách trắng trợn và bỉ ổi.

Xin hãy thật sự giữ gìn "khối đại đoàn kết toàn dân"

Trước âm mưu của nhà nước độc tài, lợi dụng khẩu hiệu đó để đánh tráo, mập mờ khái niệm đại đoàn kết toàn dân, để kêu gọi đồng bào hãy tỉnh táo nhận thức được khái niệm đoàn kết theo đúng ý nghĩa của khẩu hiệu đó bằng cách hiệp thông giúp đỡ đồng báo công giáo trong việc đòi công lý, công bằng và bác ái!

Chúng ta!Ai là những người có lương tâm và lương tri cần phải lên tiếng mạnh mẽ cưc lực phản đối hành động phản dân hại nước này của họ. Cần vạch trần âm mưu và tội ác này của chế độ độc tài trước công luận trong nước và toàn thế giới Hãy kêu goi, tuyên truyền phổ biến cho quần chúng tỉnh táo trước âm mưu chia rẽ gây mất đoàn kết với đồng bào công giáo để họ dễ bề cai trị đàn áp nhân dân.

Bằng mọi cách hãy kêu goi mọi người giúp đỡ và hiệp thông với đồng bào công giáo vì lợi ích chung của công đồng, vì sự nghiệp và phát triển xã hội, vì sự tồn vong của dân tộc Việt Nam

Chúng ta hãy tưởng tượng giá như 42 nhà chung, hay 178 Nguyễn Lương Bằng Hà Nội, có một công trình tôn giáo kỳ vĩ như thủ đô các nước văn minh khác..Như Pari, Madrit, Niu Deli hay cố đô Nara của Nhật Bảnvv.. Hà Nội sẽ đẹp đẽ biết bao, chúng sẽ tự hào biết bao khi có một công trình như thế trước con mắt của khách nước ngoài, như chúng ta đã tự hào về những công trình kiến trúc tôn giáo đang hiện diên trên đất nước hiện nay.

Xin hãy coi tôn giáo là tài sản tinh thần chung của dân tộc!

Đồng bào công giáo cũng như đồng bào phật giáo là bộ phận không thể tách rời của dân tộc Việt Nam.
Phật tử là con của đức phật, con chiên là con của đức chúa Kito, nhưng đều là con dân của nước Việt, có cùng dòng máu do mẹ Âu Cơ sinh ra!

Xin hãy nhớ lấy điều đó!

Như Hà
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Thanksgiving - Lời Cám Ơn Chưa Nói Hết

Còn 2 ngày nữa là đến Lễ Tạ Ơn [Thanksgiving 26-11-2009]. Ngày Lễ Tạ Ơn đầu tiên được cử hành vào năm 1621 bởi nhóm di dân từ Anh Quốc tới Mỹ trên con tàu Mayflower, suốt hải trình đầy gian nan nguy hiểm như người Quốc gia Việt Nam bỏ nước ra đi tỵ nạn vì đại họa độc đảng độc tài sau ngày Quốc nạn 30-4-1975, khi Cộng sản Bắc Việt hoàn tất cuộc xâm lăng Miền Nam Việt Nam. Họ được thổ dân da đỏ cứu sống và giúp đỡ vượt qua thời gian đói khát, khốn khó ban đầu, khi họ đặt chân lên vùng đất mới, sau này là Tiểu bang Massachusetts của Hoa Kỳ. Ðể tỏ lòng tri ơn, xong mùa gặt hái, vào khoảng cuối tháng 11, họ tổ chức một buổi Lễ Tạ Ơn những người đã cứu sống và giúp đỡ họ. Ðến năm 1941, Quốc hội Mỹ biểu quyết thông qua, chính thức biến Lễ Tạ Ơn thành Quốc Lễ, được cử hành hằng năm, vào ngày thứ năm của tuần lễ thứ tư trong tháng 11. Trong buỗi Lễ Tạ Ơn này gà tây được coi như thức ăn chính cho mọi người.

Vì thế, hàng năm trong số hơn 270 triệu con gà tây bị giết làm thức ăn, có 78 triệu con được đưa lên bàn ăn vào ngày Lễ Tạ Ơn. Trước khi bị giết làm thức ăn, số gà tây này chỉ sống khoảng nửa năm trong những chuồng gà công nghiệp chật hẹp. Chúng bị cắt mỏ để không cắn lộn nhau do bị căng thẳng thần kinh vì sống trong một môi trường chật hẹp. Chúng được cho ăn một loại thực phẩm đặc biệt để những bộ phận mà con người thích ăn, như ức và đùi phải được phát triển mau và lớn, cung cấp nhiều thịt mềm, mang lại nhiều lợi nhuận cho chủ nhơn. Do đó ức và đùi được phát triển nặng hơn bình thường, khiến chân bị đè xuống nên chúng thường hay bị thương ở chân. Trước khi chết, chúng bị treo cổ vào dây chuyền nhúng vào hồ nước sôi, rồi bị nhổ lông, mổ xẻ, gói lại bằng bao plastic, đưa vào kho chứa nước đá làm cho đông lạnh, rồi được vận chuyển tới các siêu thị bán cho người tiêu dùng mang về nhồi vào bụng vài ba thứ khác cùng gia vị vừa miệng ăn trước khi bỏ vào lò nướng... và sau cũng là dọn lên bàn ăn.

Càng về sau Lễ Tạ Ơn trở thành lễ hội lại mang nét văn hóa sâu sắc để trở thành Mùa Sum Họp Của Gia Ðình, khiến mọi người dù đi làm ăn xa nhà, học hành hay công tác xa quê, xa xứ cũng cứ mỗi năm vào mùa Tạ Ơn là về sống bên nhau, cùng nhau ăn bữa cơm gia đình truyền thống với những sản vật cây trái gia súc đầu mùa... Từ đó, Lễ Tạ Ơn ở Mỹ ngày nay đã trở thành dịp đi lại bận rộn nhất trong năm, việc sinh hoạt bán buôn dần dà trở nên tấp nập sôi nổi so với các ngày tháng khác cùng năm.

Sống ở Mỹ, tham dự Lễ Tạ Ơn, người Việt tỵ nạn cảm thấy nó giống với ngày Tết cổ truyền của dân tộc Việt vì cả hai đều mang không khí ấm cúng gia đình. Có điều ngày Tết Nguyên Ðán của Việt Nam khác với ngày Thanksgiving là sau ngày Thứ Năm dành cho Lễ Tạ Ơn là ngày Thứ Sáu được gọi là Black Friday, là dịp để mọi ngừơi chuẩn bị mua quà Giáng Sinh vào cuối tháng tới [tháng 12].

Vì vậy, sau khi ăn xong món gà tây, vào chiều tối Thứ Năm Thanksgiving, có rất đông người đến trứơc các cửa tiệm buôn lớn để chờ được vào mua hàng giảm giá khủng khiếp được quảng cáo trước đó. Họ phải ngồi sắp hàng đợi ngoài các cửa tiệm nhiều tiếng đồng hồ để đựơc mua các món hàng giảm giá trong ngày Black Friday.

Ðây là đặc điểm khá xa lạ với người dân ở Việt Nam, vì thông thường ở Việt Nam hễ đến lễ là mọi thứ đều lên giá. Có người rủ nhau đi xếp hàng lúc 12 giờ đêm Thứ Năm đã thấy một hàng dài người đứng sẵn, cho dầu có nơi trờ lạnh dưới 35 độ F, phải mặc rất nhiều đồ ấm, năm rồi có ngừơi chết vì xô đẩy chen lấn nhau khi vào tiệm.

Sống ở Mỹ đã một phần tư thế kỷ rồi [đúng 25 năm], cuộc sống hội nhập vào xã hội mới của gia đình mình coi như đã hoàn tất, năm nào mình cũng mừng Lễ Tạ Ơn như bao nhiêu gia đình người Mỹ khác, nhưng bản sắc văn hóa dân tộc Việt vẫn còn nguyên vẹn, vì món gà tây trên bàn ăn ít được nhiều người chiếu cố hơn các món ăn truyền thống Việt như nem chua, phở, hủ tiếu, gỏi, bì cuốn, bánh cuốn, chả lụa, bánh bèo, bánh xèo, xôi vò, cơm nếp... và tráng miệng bằng chè, bánh da lợn...

Và 25 năm rồi mình tạ ơn người Mỹ, tạ ơn đất nước này đã cưu mang nuôi sống mình, cho mình có được tự do, nhưng mình cũng không làm sao quên được nỗi khổ của hơn 86 triệu dân trầm luân khốn khó nơi quê nhà, không làm sao không giận những kẻ cầm quyền đã chẳng những không biết cám ơn những người dân quê thiệt thà bị chúng gạt gẫm giúp chúng hoàn tất cuộc xâm lăng Miền Nam Việt Nam ngày 30-4-1975, mà còn trở mặt hãm hại họ, cướp nhà, cướp đất cho cán bộ làm giàu, cho gian thương làm giàu, cho bọn quý tộc đỏ, tư bản đỏ hoang dâm trụy lạc, cho bọn Thái thú dâng đất hiến biển cho Tàu cộng,... tạo nên cảnh dân oan khiếu kiện trùng trùng khắp nước.


Chưa hết, chúng còn tiếp tục gạ gẫm đám người nhẹ dạ tham lam, từ gian thương đến trí thức ngu ngơ, ca nhạc sĩ về già mau quên quốc nạn, về hùa với chúng trong cái được gọi là “Hội nghị Người Việt Nam Ở Nước Ngòai” (NVNONN) lần thứ nhất được tổ chức ở Hà Nội trong 3 ngày 21, 22 và 23 tháng 11 (2009) vừa qua, với sự tham dự của khỏang 900 người Việt từ nước ngoài và lối 500 người trong nước được gọi là đại diện cho Ðảng, Chính phủ, các Bộ, Mặt trận Tổ quốc và địa phương... Tất cả cùng đến để nghe Ðảng và Nhà nước ồn ào ca ngợi việc làm mà ai cũng biết là mọi sự thật đều trái ngược, ca ngợi gian dối... để rồi sau đó các đại biểu được chia nhóm cùng nhau “trao đổi, đối thoại” với đại diện nhà cầm quyền, mà tất cả mọi “trao đổi, đối thoại” chỉ là dịp để 2 bên khen ngợi nhau, tâng bốc nhau, theo kiểu mặc áo thụng vái nhau như trên sân khấu, để sau cùng ăn nhậu, cụng ly, xem nhảy múa, nghe ca hát, trao tặng phẩm... làm quà ô nhục...

Có điều rất khôi hài là khi Chủ tịch Nguyễn Minh Triết cao hứng nói: “Ở Việt Nam, không muốn tham nhũng vẫn phải động lòng tham vì quản lý kém quá. Cho nên, trong tiêu cực, tham nhũng có phần do quản lý yếu kém chứ không phải do người Việt Nam tham nhũng nhất thế giới. Quý vị ở nước ngoài khi nghe thông tin này, cũng đừng hốt hoảng cho rằng sao tham nhũng ở Việt Nam nhiều thế. Ðây là quy luật muôn đời, con người luôn có hỉ nộ ái ố, cho nên phải luôn luôn vượt qua, mà quan trọng hơn phải vượt qua chính mình. Cái đó cực kỳ quyết định”; coi như một cách nhìn nhận tội lỗi, bao che tội lỗi và tiếp tục phạm tội để tiếp tục làm giàu bằng tham nhũng nhứt thế giới, bất kể cuộc sống người dân bị chúng cai trị càng lúc càng lầm than cơ cực, đói nghèo khốn khó...

Nghe vậy, không biết đám “Việt Kiều” có dám hỏi Triết “Ai phải vượt qua chính mình? và bản thân Thái thú Nguyễn Minh Triết... có dám vượt qua không?”; và “Việt Kiều” có dám tự hỏi “Mình đã chịu nghe Chủ tịch Triết làm chuyện vượt qua chính mình chưa?” Hỏi đó cũng là cách trả lời sặc mùi “thum thủm” bàng bạc trong bức biếm họa của Babui đăng trên DCVOnline ngày 23-11-2009 [hình được trích đăng lại bên trên].

Nhìn về bức biếm họa đó, cùng ngày 23-11-2009 Nga My đã có bài thơ sặc mùi “bưng bợ” của những kẻ hiểu nghĩa “đoàn kết” là “xúm lại chia tiền” bất kể đó là đồng tiền đỏ, tiền đen, tiền dơ, tiền tham nhũng như lời Nguyễn Minh Triết thú nhận, tiền đẫm tội ác của những kẻ đầu cơ địa ốc trên những mảnh đất đầm đìa nước mắt của dân oan khiếu kiện trùng trùng khắp nước:

THUM THỦM mang mùi thối BẤT LƯƠNG!
Trở về như lũ KÝ SINH TRÙNG
Gây thêm tai hoạ cho đất nước
Bác Ðảng ngửi mùi biết hết trơn!

Mã đi tầm mã , ngưu tầm ngưu
Người giỏi người tài chẳng dễ đâu
Có ai ngu dại tin ÐẢNG CƯỚP?
Chỉ lũ bất lương mới cúi đầu.

Và cũng cùng ngày 23-11-2009 Ho Hui đã nhắc lại thực tế phũ phàng của “khúc ruột... thúi xa ngàn dặm” đang về hùa với đám Thái thú yêu nước “Hán(g)” này:

Khi đi thì bị đảng gọi là Ðĩ Ðiếm.
Lỡ chết thì bị đảng đập phá mộ bia.
May mắn được sống thì đảng cho làm khúc ruột ngàn dặm.
Nếu chịu về liếm háng đảng thì đảng phong cho làm Việt Kiều Yêu Nước.... Hán(g) .
Ðúng là một lũ óc bốc mùi ... thum thủm .

Xin cám ơn Babui, cám ơn Nga My, cám ơn Ho Hui, và không quên cám ơn tổ chức Phóng Viên Không Biên Giới [RSF] trước đó, ngày 20-11-2009, trước khi đám “Việt Kiều” được gọi là “lũ óc bốc mùi ... thum thủm” làm chuyện “xúm lại làm gia nô chia tiền”, đã thẳng thắn lên án: “Chính quyền Hà Nội ‘có hành động tội ác’ đối với linh mục Nguyễn Văn Lý và nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, do vậy ‘không xứng đáng đại diện một nước thành viên Hội Ðồng Bảo An’. Cha Lý bị ‘đột quỵ trong nhà giam’, còn sức khỏe của nhà báo độc lập Trần Khải Thanh Thủy suy thoái trầm trọng trong nhà giam Hỏa Lò Hà Nội”. Cám ơn Tổ chức RSF cũng nhắc đến trường hợp khó khăn của các tù nhân bất đồng chính kiến khác như nhà giáo Vũ Văn Hùng và luật sư Lê Thị Công Nhân. Nhà giáo Vũ Văn Hùng tuyệt thực trong nhiều tuần lễ để phản đối bản án. Luật sư Lê Thị Công Nhân hiện bị giam chung với 60 tù nhân trong một phòng giam 50 thước vuông. Cám ơn RSF kêu gọi Liên Hiệp Châu Âu với chính sách “đối thoại nhân quyền” với Việt nam, phải có phản ứng.

Cũng xin cám ơn, Tổ chức Văn Bút Quốc Tế, Pen Club International, trong bức thư đề ngày 18 tháng 11 cũng lên tiếng kêu gọi Hà Nội “trả tự do tức khắc” cho linh mục Nguyễn văn Lý và nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, thành viên của Văn Bút; và cám ơn 6 dân biểu Hoa Kỳ, trong đó có dân biểu Cao Quang Ánh, Loretta Sanchez, đã nêu lên trong một bức thư đề ngày 19 tháng 11 gởi Thái thú Nguyễn Tấn Dũng kêu gọi trả tự do cho cha Lý.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Cai Thầu Từ Thiện

Image
Hồng Thập Tự Quốc Tế cứu trợ nạn nhân bão lụt tại Phi Luật Tân. (Hình: Getty Images)

Ðỗ Văn Phúc
Hàng triệu năm từ khi có mặt trên trái đất, con người đã phải đương đầu với quá nhiều tai ương. Thiên tai do các biến động của thiên nhiên thì có sức mạnh vạn năng mà dù khoa học của con người có tiến bộ đến đâu cũng chỉ có khả năng giảm thiểu sự thiệt hại chứ hoàn toàn không né tránh được. Chúng ta chỉ có thể ngăn ngừa các nhân tai hoặc các thiên tai xảy ra do hậu quả những hành động thiếu tính toán, bất cẩn của con người mà thôi.

Nhân tai nặng nề nhất mà nhân loại gánh chịu là các nền cai trị độc tài phát xuất từ sự điên cuồng của các cá nhân, hay do tham vọng quyền lực, tiền tài...

Cũng như thiên tai, nhân tai tác động hầu như trên mọi lãnh vực của đời sống. Từ nạn diệt chủng cho đến nạn suy đồi của nền văn hóa dẫn đến tiêu vong; cho đến dịch bệnh, tệ đoan, sự nghèo đói, khốn khó, thất học,...

Thế kỷ 20 đã mục kích hai nhân tai khủng khiếp. Ðó là chế độ Quốc Xã Ðức và chế độ Cộng Sản trên một phần ba nhân loại, và hiện còn tồn tại tại Việt Nam, Bắc Hàn, Cu Ba, Trung Hoa.

Cái nhân tai cộng sản ở Việt Nam đã tạo ra nạn diệt chủng với tính mạng hàng triệu người trong và ngay sau chiến tranh. Nó đã và đang đẩy con người vào bần cùng, đói khổ, dịch bệnh, tạo thêm cơ hội cho thiên tai hoành hành làm dân đã khổ càng khổ thêm, đã nghèo càng mạt thêm. Về mặt chính trị quốc gia, thì rõ ràng Cộng Sản đang đưa tổ quốc đến bờ hủy diệt.

Mà đã là người thì dù không theo Chúa, theo Phật, ai cũng có ít nhất trong con tim mối đồng cảm với kẻ khổ đau, tuyệt vọng. Lòng nhân đạo là bản chất của con người, trừ phi bị giáo dục đầu độc trong một môi trường bạc ác. Giúp đỡ, cứu trợ, an ủi là những việc phước thiện ít nhất mà con người có thể làm cho nhau. Nhưng cho ai, làm sao để sự giúp đỡ của mình đến tay nạn nhân xa cách mình về địa lý; người ta phải nghĩ đến việc hình thành các tổ chức thường trực hay cấp thời nhưng có quy củ, kết hợp và điều động được nhân lực và khả năng, phương tiện.

Những tổ chức lớn mà người Việt biết đến nhiều là Hội Hồng Thập Tự, Caritas, USCC, World Vision... Ở Hoa Kỳ có hàng ngàn hội từ thiện, bao trùm nhiều lãnh vực khác nhau. Dưới đây là bản danh sách 10 tổ chức thu được nhiều tiền nhất tại Mỹ từ gần gần 1 tỷ đô la (Volunteers of America) lên đến 4 tỷ (Hồng Thập Tự Hoa Kỳ) mỗi năm. Ðủ để thấy sức đóng góp vô bờ của người Mỹ ra sao:

1
American Red Cross
$3,664,173,984
2
Food For The Poor
$1,516,189,273
3
Feed The Children
$1,148,416,507
4
World Vision
$1,127,845,601
5
Brother's Brother Foundation
$1,086,409,372
6
AmeriCares
$1,060,453,642
7
American Cancer Society
$1,042,356,808
8
The Nature Conservancy
$910,675,081
9
Mayo Clinic
$855,071,087
10
Volunteers of America
$804,113,834



Trong sinh hoạt hàng ngày, chúng ta thường nhận được rất nhiều thư của các hội (đa số là của Mỹ) gửi đến xin tiền. Có ngày hai ba thư. Ða số là từ các hội cứu trợ cho thương, phế binh, cựu chiến binh... Các hội này rất khéo. Họ thường kèm theo những lá thư của các vị có tiếng tăm, từng giữ những chức vụ cao trong chính quyền, quân đội. Họ cũng in sẵn các tập label địa chỉ của chúng ta hay các tấm thiệp chúc Tết, Noel cũng in sẵn tên và địa chỉ của chúng ta kèm theo trong thư. Thư đầu, họ chỉ khiêm tốn xin những khoản tiền nhỏ từ 5 đến 10, 20 đồng. Sau khi đã nhận được sự ủng hộ của chúng ta, họ sẽ gửi liên tục và nâng số tiền xin lên cao hơn.

Trên đài truyền hình, thì có các hội cứu trợ cho trẻ em, phụ nữ khốn khó ở các quốc gia nghèo Phi Châu, Á Châu, thậm chí cả các em thiếu ăn ở Hoa Kỳ. Các tổ chức thường đưa ra hình ảnh dễ thương nhưng lem luốc của các em, được giới thiệu bởi các khuôn mặt của quý bà, quý ông rất hiền từ, nhỏ nhẹ, kêu gọi sự thương cảm của khán giả.

Ðối với đồng bào tị nạn Việt Nam, thì phong trào làm từ thiện cũng nở rộ từ những năm mới đây. Nào là giúp đỡ thương phế binh VNCH, tương trợ đồng môn, cứu trợ nạn nhân bão lụt, cô nhi, già yếu, nan y...

Ngoài việc cứu trợ Thương Binh và đồng môn VNCH là nhiệm vụ chúng ta vì Cộng Sản vẫn xem họ là thù địch; còn những thành phần khác phải là đối tượng của các cơ quan xã hội Việt Cộng. Không phải việc chúng ta. Từ những tổ chức xuất phát từ Hoa Kỳ, ngày nay có hàng đoàn từ thiện Việt Nam mà thường xuyên và dập dìu nhất là dưới các màu áo nhà tu; Phật cũng như Thiên Chúa Giáo. Người viết đã có ít nhất hai lần đề cập và phân tích đến bản chất việc cứu trợ “từ thiện” ở Việt Nam. Vì thế, sẽ không nói gì thêm; nhưng sẽ đưa ra vài kinh nghiệm để quý độc giả suy nghĩ và có phản ứng thích đáng.

Chúng tôi luôn luôn ghi nhận thiện tâm thiện ý của quý vị bỏ công sức ra để làm từ thiện, xoa dịu khổ đau của đồng bào, đồng loại. Họ là những người cao quý mà người viết không dám xúc phạm đến.

Nhưng bên cạnh số nhỏ người cao quý đó, không thiếu gì kẻ bất lương đang xem việc từ thiện là một nghề rất béo bở, dễ ăn, mà lại được ca ngợi. Họ đáng được gọi là “Cai Thầu Từ Thiện”

Trong một phóng sự đặc biệt trên truyền hình Mỹ ABC giữa năm này (2009), các phóng viên đã điều tra thật sâu, thật kỹ các tổ chức từ thiện cho Cựu Chiến Binh Hoa Kỳ, và đi đến kết luận rằng đa số tiền quyên góp từ các người hảo tâm thường đi vào túi các ông bà giám đốc, hoặc lương thiện hơn, là vào các chi phí hành chánh. Số tiền đến tay người thụ hưởng rất thấp. Có vài tổ chức bất lương mà phóng viên có nêu ra tên tổ chức, gần như 90% tiền quyên được là dành cho việc trả lương, tiền thưởng cho các vị trong ban giám đốc mà thường các chức vụ chóp bu là của vợ chồng, con cái chia nhau nắm giữ. Họ có toàn quyền tự ấn định mức lương lên tới hàng triệu, hàng trăm ngàn đô la. Họ dùng tiền quyên góp để trả tiền cho những khách sạn loại sang, những chuyến du chơi ngụy trang dưới danh nghĩa công tác, những chiếc xe sang trọng cho ban giám đốc, mua sắm đồ dùng trong nhà,... Thậm chí, có vị giám đốc dùng tiền để bao cho các bồ nhí tại các thành phố mà họ có đi qua công tác.

Sau đây là tên 10 tổ chức mà tiền chi phí hành chánh chiếm từ 49% đến 68%:

1
American Tract Society
68.0%
2
Boys Choir of Harlem
66.3%
3
National Council of Negro Women
64.0%
4
Bay Area Discovery Museum
60.7%
5
The Fresno Metropolitan Museum
58.4%
6
Cherokee National Historical Society
58.2%
7
Southeastern Center for Contemporary Art
57.5%
8
National Museum of Racing and Hall of Fame
55.1%
9
Japanese Cultural Center of Hawaii
49.2%
10
Charleston Area Medical Center Foundation
48.8%


Phụ bản dưới đây là mức lương giám đốc của 10 tổ chức được đánh giá là có khả năng quyên góp “thấp”. Theo báo cáo, thì tại các tổ chức này, chỉ có tối đa 40% tiền quyên là đến tay người thụ hưởng.

1
Cranbrook Educational Community
$429,152
2
Hoag Hospital Foundation
$395,719
3
Fine Arts Museums of San Francisco
$365,132
4
FreedomWorks Foundation
$320,000
5
Zionist Organization of America
$315,385
6
Washington, D.C. Martin Luther King, Jr. National Memorial Project Foundation
$289,645
7
Liberty Science Center
$285,500
8
Riley Children's Foundation
$268,697
9
Mountain States Legal Foundation
$250,237
10
Center for Individual Rights
$245,849


Các thống kê trên có tính tiêu biểu chung; chứ không đề cập đến những tổ chức đại bất lương mà như đã nói, mà trên 90% tiền thu được chia cho nhau giữa các ông bà giám đốc dưới nhiều hình thức. Sự kiện xấu xa này không chỉ xảy ra trong các cơ quan từ thiện, mà ngay cả các tổ chức tôn giáo như chúng ta thỉnh thoảng vẫn nghe, đọc, hay xem trên các phương tiện truyền thông. Quý vị muốn nghiên cứu thêm, có thể vào các trang web dưới tiêu đề Charity; ví dụ trang sau đây: http://www.charitynavigator.org/

Như thế, rõ ràng, việc làm từ thiệp vô hình chung đã trở nên một loại dịch vụ, kinh doanh béo bở cho những kẻ bất lương. Nó làm xói mòn lòng tin của con người vào một công tác với bản chất rất cao quý mà chỉ những người có lòng vị tha, từ tâm mới dám đứng ra đảm trách. Nó gây băng hoại một nền đạo đức mà bao nhiêu giáo lý qua bao đời đã từng dày công gây dựng trong xã hội con người.

Và tàn nhẫn nhất là nó làm cho những nạn nhân khốn khổ trở thành những người bị lợi dụng, hình ảnh bị bêu ra hàng ngày trên màn ảnh, mà chẳng được thụ hưởng bao nhiêu đồng tiền mà đồng loại của họ phải đổ mồ hôi làm ra, nhưng do từ tâm mà nhịn bớt ăn tiêu để chia sẻ cho họ.

Lòng nhân ái thì không có biên giới màu da, chủng tộc, tôn giáo. Nhưng chắc rằng con người bình thường thì hành xử, chia sớt bắt đầu từ gần ra xa. Nhưng chắc chắn người có từ tâm; sẽ không thể thiếu trí phán đoán để từ tâm của mình đặt đúng chỗ và không bị lợi dụng của các “cai thầu từ thiện” và quạ diều đang chực sẵn bên Việt Nam để chờ sà xuống ngấu nghiến bữa tiệc vô lương.

Ðỗ Văn Phúc
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

10 sự kiện tồi tệ nhất trong thập kỷ qua

Suy thoái kinh tế, chiến tranh Iraq, thảm họa sóng thần cùng tai tiếng về nhà tù Guantanamo
là những sự kiện kinh hoàng nhất trong 10 năm qua do tạp chí Time của Mỹ bình chọn.

Image
Cuộc bầu cử tổng thống gây tranh cãi năm 2000 tại Mỹ.

Khởi đầu một thập kỷ nhiều biến động là kết quả bỏ phiếu gây tranh cãi kéo dài cả tháng tại bang Florida và kết thúc là
ngôi tổng thống Mỹ thuộc về George W. Bush, với số chênh lệch chỉ là 537 phiếu. Ảnh: NEWSMAKERS.

Image
Vụ tấn công khủng bố 11/9/2001.

Cuộc tấn công đẫm máu tại New York và Washington D.C. ngày 9/11/2001 đã định nghĩa lại khái niệm chính trị toàn cầu và buộc dân Mỹ
phải đặt câu hỏi về nền an ninh vốn luôn được cho là đáng tự hào của họ. Nó cũng mang tới cho nước Mỹ một kẻ thù mới - al Qaeda.
Ngày 11/9 cũng thay đổi cách sống của người Mỹ: từ việc kiểm soát gắt gao tại sân bay đến việc lo lắng về bột trắng trong phong bì và những chiếc cặp bị bỏ quên tại các ghế công viên.
Ảnh: Reuters.

Image
Cuộc đổ quân vào Afghanistan.

Hậu quả tức thì của vụ tấn công 11/9 là quyết định trừng phạt của chính quyền Bush trước đế chế Taliban đã dung nạp al Qaeda và ông trùm Osama bin Laden.
Cho dù ban đầu được đánh giá là thành công khi đánh bật Taliban khỏi Kabul, nhưng cuộc chiến tại đây ngày càng trở nên tồi tệ
khi lực lượng phiến quân này vẫn luôn ẩn núp và dần dần khôi phục lại thế lực. Ảnh: Getty For Time.

Image
Chiến tranh Iraq, 3/2003.

Tuyên bố chiến dịch quân sự như một phần không tách rời của Chiến tranh chống khủng bố, chính quyền Bush đã đổ quân vào Iraq,
kiểm soát toàn bộ quốc gia và hất cẳng tổng thống Saddam Hussein. Lý do cho cuộc xâm chiếm này là sự tồn tại của vũ khí hủy diệt mà Saddam có thể đã hỗ trợ cho đồng minh al Qaeda.
Tuy nhiên, Mỹ không tìm thấy vũ khí hủy diệt ở Iraq cũng như nhiều người ngờ rằng Saddam khó có thể đánh bạn với những chiến binh Hồi giáo cực đoan.
Thực tế đã cho thấy chiến tranh ở Iraq ngày càng sa lầy nghiêm trọng khi lấy đi tính mạng của hàng nghìn người Mỹ và gây ra các vụ scandal như nhà tù Abu Ghraib.
Ảnh: Noor For Time.

Image
Sóng thần ở châu Á - 12/2004.

Cuối tháng 12/2004, trận động đất kinh hoàng xảy ra ở ngoài khơi Sumatra, Indonesia, kéo theo những con sóng khổng lồ nhấn chìm các khu vực quanh Ấn Độ Dương.
Ước tính 200.000 người đã chết chỉ trong vài giờ đồng hồ. Ảnh: Reuters.

Image
Bão Katrina, 1/9/2005.

Xét về thiệt hại vật chất thì cơn bão càn quét nước Mỹ có thể không kinh hoàng như sóng thần ở Ấn Độ Dương,
nhưng ảnh hưởng tâm lý của nó thì vô cùng to lớn. Thành phố New Orleans, gắn liền với biểu tượng nước Mỹ, bị nhấn chìm toàn bộ.
Sự phản ứng thiếu hiệu quả của mọi cấp chính quyền trước thảm họa đã làm xói mòn quan niệm về một nước Mỹ "ngoại lệ". Ảnh: MAGNUM FOR TIME

Image
Sự suy thoái kinh tế, 13/9/2008.

Cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu vào tháng 9/2008 khi tập đoàn Lehman Brothers sụp đổ.
Sự hoảng loạn, lo sợ nhanh chóng lan tràn khắp toàn cầu. Nhưng ảnh hưởng của nó nặng nề với dân Mỹ hơn bao giờ hết.
Thu nhập trung bình của mỗi hộ dân Mỹ năm 2000 là 52.500 USD. Đến năm 2008, con số chỉ là 50.303 USD. Năm 2000, 11,3% dân Mỹ sống dưới mức đói nghèo.
Đến năm 2008, con số là 13,2%. Ảnh: Redux.

Image
Vụ gian lận tài chính lớn nhất trong lịch sử, tháng 10/2008.

Siêu lừa đảo nước Mỹ với cái tên Bernie Madoff đang gặm nhấm quãng đời còn lại trong nhà lao ở North Carolina
với án tù 150 năm vì thực hiện âm mưu gian lận tài chính lớn nhất trong lịch sử nhân loại.
Vụ lừa đảo được lật tẩy vào cuối năm 2008 mở ra một danh sách nạn nhân trải dài từ châu Mỹ tới châu Âu và cả châu Á.
Đến nay, người ta vẫn chưa xác định số tiền 50 tỷ USD đã biến đi đâu. Ảnh: Getty Images.

Image
Sự tan rã của ngành công nghiệp ôtô.

Ngành công nghiệp xe hơi Mỹ dường như tan biến sau sự sụp đổ của hàng loạt đại gia như GM, Chrysler và UAW.
Thành phố xe hơi Detroit của Mỹ trở nên khủng hoảng với những chiếc xe chất lượng thấp,
dây chuyền sản xuất được giám sát bởi bộ máy quản lý cồng kềnh, phụ thuộc vào cơ cấu tài chính thiếu chuyên nghiệp. Ảnh: VII for Time.

Image
Scandal nhà tù Guantanamo.

Đã bị bôi bẩn bởi scandal về nhà tù Abu Ghraib, lý tưởng về một nước Mỹ tự do lại bị vùi dập bởi
những biện pháp tra khảo tàn khốc và vô nhân đạo tại trại quân sự Mỹ ở Guantanamo, Cuba.
Với phần còn lại của thế giới, nhà tù Guantanamo đã phủ mờ ánh sáng tự do mà nước Mỹ tuyên bố là luôn bảo vệ, giữ gìn. Ảnh: Getty Images.


Diệu Minh
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Báo Đảng Trung Quốc đòi giải quyết vấn đề biển Đông bằng vũ lực
Thursday, December 03, 2009

Image
Biển Ðông giàu tài nguyên của Việt Nam luôn bị láng giềng Bắc Kinh dòm ngó. (Hình: Hoang Dinh Nam/Getty Images)

VN khai trương ‘Trang thông tin điện tử về biên giới lãnh thổ’
VIỆT NAM - Biển Ðông của Việt Nam luôn bị Bắc Kinh dòm ngó và nếu có cơ hội là xâm chiếm và gây sức ép không chỉ với Việt Nam mà nhiều quốc gia trong vùng Ðông Nam Á. Ðiều đó, người Việt Nam không lạ gì âm mưu của láng giềng phương Bắc.
Tuy nhiên, không phải ai cũng biết truyền thông chính thức của nhà nước Trung Quốc nghĩ gì và viết gì về vấn đề biển Ðông để tuyên truyền cho người dân nước họ.
Mới đây, hôm 3 Tháng Mười Hai, nhà nghiên cứu Dương Danh Dy, cựu bí thư Thứ Nhất của Ðại Sứ Quán CSVN tại Bắc Kinh, đã công bố một bài viết trên trang mạng www.bauxitevietnam.info về vấn đề này.
Cụ thể, tác giả Dương Danh Dy điểm lại các bài viết về biển Ðông trên tờ báo Hoàn Cầu, mà theo lời ông thì “nguồn gốc” của mạng “Hoàn Cầu” (huan qiu wang - http://www.huanqiu.com) tức tờ Hoàn Cầu thời báo. Tờ này do Nhân Dân nhật báo cơ quan của Trung Ương Ðảng Cộng Sản Trung Quốc chủ trì, ra số đầu tiên ngày 3 Tháng Giêng, 1993 với tên gọi là tạp chí Hoàn Cầu Văn Túy, đến năm 1997 mới đổi tên là Hoàn Cầu Thời Báo, từ Tháng Giêng, 2006 ra hàng ngày (từ Thứ Hai đến Thứ Sáu). Hoàn Cầu thời báo là tờ báo quốc tế có uy tín tại Trung Quốc, lượng phát hành mỗi số là 1,6 triệu bản. Báo có phóng viên tại 65 nước trên thế giới.”
Tác giả Dương Danh Dy cho biết, “Số bài và tin liên quan đến biển Ðông, mạng Hoàn cầu đưa khá đều và khá nhiều. Ðể tránh trùng lặp, chúng tôi chỉ giới thiệu những ý chính, mới của họ từ Tháng Ba, năm 2009, đến gần đây, và chỉ dịch tên đầu bài vì nếu giới thiệu hết sẽ rất dài, hơn nữa tôi nghĩ chỉ cần đọc tên bài, bạn đọc cũng có thể hiểu được họ định nói gì rồi.”

Ông nói thêm, “Những bài thuộc mạng Hoàn Cầu sẽ không đề tên mạng mà chỉ ghi ngày tháng để tiện theo dõi, những bài họ đưa lại từ báo, mạng khác mới ghi xuất xứ.”

Dưới đây là một số tên bài mà tác giả Dương Danh Dy thu thập được trên mạng tiếng Trung được dịch ra tiếng Việt. Qua đó cho thấy, số bài báo có ý kêu gọi dùng vũ lực để giải quyết vấn đề biển Ðông chiếm tỷ lệ khá nhiều so với các bài có ý ôn hòa:

- “Biển Ðông, biển phức tạp nhất thế giới” 18/3/2009

- “Chuyên gia bàn vấn đề biển Ðông: thành ý hòa bình của Trung Quốc bị các nước xung quanh lợi dụng” 18/3/2009

- “Biển Nhật Bản, biển Ðông, Trung Quốc giải quyết vấn đề nào trước thì tốt” 1/4/2009

- “Chuyên gia quân sự: dựa vào sự hiển thị ‘cơ bắp’ giải quyết vấn đề biển Ðông không được đâu” 28/4/2009

- “Nguyện vọng lương thiện không thể bị lợi dụng. Giải quyết ván đề biển Ðông cần tư duy mới” 23/5/2009

- “Không thể để mất lãnh hải” đưa lại bài của mạng Trung Quốc tân văn ngày 27/5/2009

- “Vấn đề biển Ðông, vì sao Quân Giải phóng không chọn phương thức giải quyết trên bộ?” 30/6/2009

- “Vấn đề biển Ðông cuối cùng nước Mỹ đã nhảy ra trước sân khấu” 1/7/2009

- “Trung Quốc phải sử dụng vũ lực giải quyết vấn đề biển Ðông” 3/7/2009

- “Dân mạng Trung Quốc tán thành trên vấn đề biển Ðông phải cứng rắn hơn nữa” 4/7/2009 đưa lại tin của mạng Nhân dân

- “92% dân mạng Trung Quốc tán thành dùng vũ lực giải quyết vấn đề biển Ðông” 5/7/2009.

- “Quân Giải Phóng giải quyết bằng vũ lực vấn đề biển Ðông, nước Mỹ không có khả năng trực tiếp tham chiến” 16/7/2009

- “Quan điểm của phái phản đối: vấn đề biển Ðông cần giải quyết nhanh, càng kéo dài càng chết” 5/8/2009

- “Cuộc chiến ở biển Ðông: năm nguyên nhân lớn khiến Trung Quốc nên đánh cho Việt Nam lụn bại” 18/8/2009

- “Nghị sĩ Mỹ thăm Việt Nam nói, ủng hộ lập trường của Việt Nam tại biển Ðông” 22/8/2009

- “Trung Quốc không giải quyết xong vấn đề biển Ðông thì đừng nghĩ đến việc thu hồi vùng Tạng Nam (vùng đất Trung Quốc đang tranh chấp với Ấn Ðộ) 27/8/2009.

- “Túi khôn Mỹ: Trung Quốc không thể chỉ dựa một mình sức mạnh mềm giải quyết vấn đề biển Ðông” 26/8/2009

- “Trung Quốc không thể lại để mất thời cơ lớn để giải quyết triệt để vấn đề biển Ðông” 7/9/2009

- “Xâm chiếm các đảo của ta, quân Việt Nam đã có thế hệ thứ hai. Giải quyết vấn đề biển Ðông không thể chậm được nữa” 8/9/2009

- “Vấn đề biển Ðông khó giải quyết, Mỹ phải chịu trách nhiệm” 26/10/2009

- “Trung tướng Quân Giải Phóng nói dữ dằn: “đã chuẩn bị đánh ở biển Ðông rồi” 27/10/2009

- “Truyền thông Anh: Việt Nam có ý đồ quốc tế hóa vấn đề biển Ðông” đưa lại tin của BBC ngày 26/11/2009

- “Âm mưu mới của Việt Nam tại biển Ðông, muốn quốc tế hóa vấn đề biển Ðông” 29/11/2009

- “Mưu cầu quốc tế hóa vấn đề Biển Ðông, Việt Nam mời “hòa thượng Tây” đọc kinh 20/11/2009.

Ðoạn cuối cùng của bài viết, tác giả Dương Danh Dy có một ghi chú quan trọng. Ông cho biết, ngoài mạng Hoàn Cầu, nhiều mạng chính thức khác của Trung Quốc như Trung Hoa võng, Trung Quân võng, Trung Tân võng, Thiết huyết luận đàn, Nhân dân võng v.v... cũng đều đưa tin về biển Ðông theo lập trường, quan điểm của nước họ.

***

Trong một diễn biến khác từ phía Việt Nam, hôm 2 Tháng Mười Hai tại Hà Nội, Bộ Ngoại Giao Việt Nam đã cho khai trương trang mạng mang tên “Trang thông tin điện tử về biên giới lãnh thổ” (http://www.biengioilanhtho.gov.vn). Trang mạng này do “Ủy Ban Biên Giới Quốc Gia-Bộ Ngoại Giao” thiết lập.

Theo tường thuật, nhiệm vụ của trang mạng này là “một kênh thông tin điện tử công khai, chính thức của Bộ Ngoại Giao nhằm cung cấp quan điểm, đường lối, chính sách của đảng và nhà nước ta cũng như những thông tin, tư liệu cần thiết khác về công tác biên giới lãnh thổ của đất nước.”

Buổi lễ khai trương có phó thủ tướng, Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao CSVN Phạm Gia Khiêm tới dự.

Nội dung của trang mạng “Trang thông tin điện tử về biên giới lãnh thổ” đến nay chưa thấy có bài viết nào mới hay quan trọng mà chỉ đăng những bài viết đã cũ nhằm khẳng định chủ quyền về biên giới và hải đảo của Việt Nam. (KN)
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Chuyên gia Đinh Xuân Quân và diễn văn của TT Obama
Sau bài diễn văn của Tổng thống Obama đọc tại trường Võ bị West Point tối thứ Ba, chúng tôi đã tiếp xúc với chuyên gia Đinh Xuân Quân, một người từng phục vụ trong chính quyền của Tổng thống Karzai nhiệm kỳ đầu, qua chương trình của World Bank để giúp cải tổ hành chính. Sau đây là ý kiến của ông về một số điểm trong bài diễn văn mà chúng tôi nêu lên: đó là thời hạn 18 tháng mà Tổng thống Obama đưa ra và lời tuyên bố của Tổng thống: Afghanistan sẽ không phải là Việt Nam. Mời quý vị theo dõi các chi tiết sau đây qua bài viết của Lan Phương.

Khi Hoa Kỳ và đồng minh đưa quân vào Afghanistan năm 2001 lực lượng Tây phương lúc đó chỉ có 8 ngàn quân
Afghanistan, với một diện tích rộng hơn nước Pháp và gấp đôi nước Việt Nam, đầy núi non hiệm trở, khi Hoa Kỳ và đồng minh đưa quân vào Afghanistan năm 2001 để đánh đuổi Taliban và al-Qaida, lực lượng Tây phương lúc đó chỉ có 8 ngàn quân. Tuy thua nhưng dần dần Taliban đã trỗi dậy vì sự lơ là của Hoa Kỳ, khi nước này phát động cuộc chiến Iraq năm 2003 và chú ý nhiều hơn đến tình hình Iraq.

Mãi cho đến năm 2005, 2006, vì sự lắng dịu tại Iraq quân đội NATO và Hoa Kỳ mới được tăng dần lên tới con số 68 ngàn. Hiện giờ quân số Hoa Kỳ và đồng minh tại Afghanistan vào khoảng 100 ngàn. Chuyên gia Đinh Xuân Quân đưa ý kiến về tuyên bố của Tổng thống Obama sẽ gửi thêm 30 ngàn binh sỹ đến Afghanistan.

Ông Quân nói: "Mặc dù có 100 ngàn quân tại Afghanistan, đây cũng chỉ là con số rất nhỏ, vì xứ Afghanistan rất lớn. Tuy nhiên chúng ta nên để ý là trong quân đội, thường thì 3 người ở hậu phương mới có một người chiến đấu, do đó binh sỹ chiến đấu rất ít. Khi Tổng thống Obama nói là ông đặc biệt gửi 30 ngàn quân chiến đấu, đó là chuyện quan trọng làm người ta chú ý; như thế có thể nói rằng 30 ngàn quân chiến đấu tức là tăng gấp đôi lực lượng chiến đấu tại Afghanistan. Đây là chuyện rất rõ ràng trong quyết tâm của chính phủ Hoa Kỳ và đồng minh NATO để giải quyết cho nhanh chóng."
Image
Chuyên gia Đinh Xuân Quân
Thời hạn 18 tháng mà Tổng thống Obama đưa ra để chính quyền Afghanistan phải chỉnh đốn hầu có thể giữ vững lãnh thổ là một công việc thiên nan vạn nan khi Tổng thống Karzai phải đối phó với nhiều khó khăn, thứ nhất là quân sự.

Ông Quân cho biết: "Quân đội Afghanistan mới được tái xây dựng vào năm 2002, và lúc đó họ chỉ nhắm là có 40 ngàn người thôi. 40 ngàn người thì chưa đủ để rải khắp Afghanistan, do đó đã có nhiều cố gắng của đồng minh NATO và Hoa Kỳ để đào tạo quân đội Afghanistan. Nhưng ta cũng phải để ý là Afghanistan có 4 bộ lạc chính là người Pashtun thân Taliban, sau đó là người Tadjiks, người Hazaras và người Ouzbeks và nhiều bộ tộc nhỏ khác. Trong bối cảnh này, điều đầu tiên người ta để ý là đa số quân đội Afgahsnitan ít học, không biết đọc, biết viết ; đào tạo một quân đội ít học rất là khó."

Cái khó thứ hai là về mặt hành chính, cai trị, ông cho biết tiếp:

"Cái thứ hai là phải có sự hiện diện của chính phủ trên khắp Afghanistan về phương diện hành chính; phải có một đội ngũ xây dựng nông thôn, dù muốn hay không chính phủ Afghanistan phải có mặt trên khắp lãnh thổ và phải cung cấp dịch vụ cho dân từ vấn đề điện nước, đường xá, công ăn việc làm, phát triển nông thôn, thì dân mới tin tưởng vào chính phủ trung ương được, chưa kể vấn đề tham nhũng. Đó là hai điều khó khăn nhất cho chính phủ Karzai.

Quốc gia Afghanistan là tập hợp của nhiều bộ lạc, họ không có một tinh thần quốc gia, họ chỉ có tinh thần đứng dậy chống ngoại xâm mà thôi chứ không có một tổ chức hành chính hay chính phủ trung ương có thể chi phối và quản lý tất cả mọi nơi ở Afghanistan. Đó là những yếu kém mà chính phủ Karzai phải giải quyết.

Nói tóm lại quân đội Afghanistan phải tăng lên và đào tạo nhiều hơn, cái thứ hai phải có một đội ngũ hành chính, xây dựng nông thôn tại mọi nơi, và thứ ba là phải triệt được tham nhũng. Tham nhũng đi song song với vấn đề ma túy. Hai tỉnh Kandahar và Helmand là nơi sản xuất 90% ma túy (thuốc phiện) trên thế giới."



Hai tỉnh Kandahar và Helmand là nơi sản xuất 90% ma túy (thuốc phiện) trên thế giới

Afghanistan đã bị hạn hán đến 7 năm nay, nông gia phải trồng trọt để kiếm sống, mà thứ cây dễ trồng nhất trong thời tiết khô hạn là cây thẩu; đã vậy, vì chính quyền trung ương không đủ mạnh, các sứ quân có thế lực thường vẫn can dự vào việc sản xuất thuốc phiện và thông đồng với các viên chức chính phủ bằng tham nhũng để thủ lợi. Và nạn tham tham nhũng cứ thế mà lan tràn mạnh. LHQ đã cố gắng nhiều trong việc giúp nông dân trồng các loại nông phẩm khác như lúa mỳ và trái cây chẳng hạn.

Tổng thống Obama nói rằng Afghanistan sẽ không phải là VN. Chuyên gia Đinh Xuân Quân nêu ra những khác biệt để hậu thuẫn cho tuyên bố của Tổng thống Obama.

Ông Quân nhận xét: "Tôi thấy khác biệt rất nhiều. Đầu tiên, cuộc chiến tại Việt Nam là cuộc chiến giữa phe Quốc gia và phe Cộng sản. Phe Cộng sản được khối cộng sản từ Liên Xô tới Trung Quốc, Ba Lan v..v.. giúp họ. Họ được cả một khối rất lớn viện trợ và guồng máy tuyên truyền của họ rất là mạnh, thông tin bị khép kín.

Cái thứ hai là những trận chiến ở Việt Nam ở tầm cỡ sư đoàn, quân đoàn; miền bắc, nhờ khối Cộng sản hỗ trợ, nên nó đã làm thay đổi cán cân trong cuộc chiến. Trong khi tại Afghanistan thì đây là trường hợp ngược lại, đó là một xứ Hồi giáo cực đoan, chỉ có một số cá nhân, một số hội của Hồi giáo cực đoan gửi tiền giúp, chứ không phải là các quốc gia ủng hộ họ."

Cũng theo chuyên gia Đinh Xuân Quân, trình độ dân trí của người Afghanistan còn thấp kém, chậm tiến, quốc gia này giống như đang trong thời trung cổ.

Theo chuyên gia này, cái khó nhất của Tổng thống Obama khi ông đề ra thời hạn 18 tháng, thì vấn đề quân sự, an ninh may ra có thể đạt được mục tiêu nhưng còn về tái thiết, xây dựng chính phủ thì 18 tháng là quá ngắn. Tuy nhiên đây là bước đầu, nếu thành công thì về sau sẽ dễ dàng hơn.

Điểm chính mà chuyên gia này nhận xét qua bài diễn văn của Tổng thống Obama là: lần đầu tiên chính phủ Hoa Kỳ có một chính sách rõ ràng đối với Afghanistan. Trước đây toàn là chính sách vá víu và Hoa Kỳ đã bỏ lỡ rất nhiều cơ hội để bình định, tái thiết nước này.

Lan Phương
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Nhà văn Phạm Ðình Trọng giải thích lý do bỏ Ðảng:
‘Ðảng ngày càng tiến sâu vào sai lầm’

December 06, 2009

Image
Nhà văn Phạm Ðình Trọng.

Trả thù người miền Nam khiến ‘đất nước kiệt quệ’
Lữ Tống (riêng cho Người Việt)

LTS: Mới đây, nhà văn Phạm Ðình Trọng công khai từ bỏ đảng tịch Ðảng Cộng Sản Việt Nam sau gần 40 năm tham gia sinh hoạt. Nhà văn Phạm Ðình Trọng cũng là một thiếu tá Quân Ðội Nhân Dân Việt Nam, từng là cây viết của Binh Chủng Thông Tin Liên Lạc, sau đó về tạp chí Văn Nghệ Quân Ðội. Ông là học viên khóa 1 trường viết văn Nguyễn Du, làm biên kịch cho xưởng phim Quân Ðội và có nhiều sáng tác đã được xuất bản. Lữ Tống có cuộc phỏng vấn đặc biệt với nhà văn, thiếu tá quân đội Phạm Ðình Trọng để tìm hiểu thêm lý do khiến ông đi tới quyết định này. Người Việt xin giới thiệu cùng độc giả sau đây.

-Lữ Tống: Thưa ông, xin cảm ơn thời gian mà ông dành cho chúng tôi trong cuộc phỏng vấn này. Trước nhất xin được hỏi, là một đảng viên 40 tuổi Ðảng, thời gian có thể kể là dài, đủ để đặt niềm tin vào một việc gì đó so với cả một đời người. Xin ông cho biết tại sao cuối cùng ông quyết định từ bỏ Ðảng, tức là từ bỏ niềm tin mà ông đã đặt vào?

-Nhà văn Phạm Ðình Trọng: Tôi là Phạm Ðình Trọng, nhà văn, đảng viên Cộng Sản lớp Hồ Chí Minh từ ngày 19 Tháng Năm, 1970. Từ lúc tự nguyện tham gia hàng ngũ cộng sản, cho đến khi tự rút ra khỏi đảng chỉ thiếu vài tháng là đủ 40 năm; cả một quá trình chuyển biến trong tôi. Ðây là sự thay đổi về nhận thức, từ nhận thức bằng tình cảm chuyển dần sang nhận thức bằng lý trí. Nhận thức này đi cùng với nhận thức về quá trình chuyển biến của chính đảng Cộng Sản, từ ý chí vì dân vì nước trong giai đoạn ban đầu, đã chuyển sang sang ý chí chỉ vì sự tồn tại của đảng vào ngày hôm nay.

Trong lúc cả nước còn nghèo, thậm chí có nơi còn đói, còn phải nhờ vào thế giới giúp đỡ, thực tế vẫn tồn tại các quan chức, đảng viên giàu có vượt cả sự tưởng tượng của người dân. Có đảng viên mang cả triệu đô la đi đánh bạc và sống sa đọa nhưng ở chi bộ họ vẫn được xét là đảng viên “bốn tốt!” Bên cạnh đó, những việc hồi gần đây cho thấy đảng đang tiến ngày càng sâu vào những sai lầm và không có dấu hiệu gì thay đổi mặc cho nhiều đảng viên lẫn trí thức đưa ra hàng trăm kiến nghị yêu cầu đảng tự sửa chữa các lỗi lầm từ trong quá khứ và đang kéo dài mãi tận ngày nay.

-Lữ Tống: Ông có thể đưa ra một vài dẫn chứng cái mà ông gọi là sai lầm tồn tại và vẫn kéo dài?

-Phạm Ðình Trọng: Ðấy là chuyên chính vô sản đã gây ra Cải Cách Ruộng Ðất, Cải Tạo Công Thương Nghiệp Tư Bản Tư Doanh. Ðấy là các vụ án chưa bao giờ công khai ra trước ánh sáng công lý, như vụ án Nhân Văn Giai Phẩm, vụ án Xét Lại Chống Ðảng, đã chà đạp lên số phận bao người trung thực, tài giỏi, gây nỗi kinh hoàng cho dân tộc, gây thiệt hại vô cùng to lớn cho đất nước. Ðấy là những cuộc bắt bớ, đấu tố đang diễn ra như cuộc cải cách ruộng đất kinh hoàng năm nào vẫn đang âm thầm tái diễn đến tận hôm nay! Ðấy là những cuộc đàn áp người tranh đấu cho dân chủ, tức là tranh đấu cho quyền lợi nhân dân, nhưng đảng lo sợ và đảng đã đàn áp họ thẳng tay.

Còn về sự kiện năm 1975, những người sáng suốt đều nhìn thấy đây không phải là chiến thắng của ý thức hệ Cộng Sản. Nếu đảng biết đặt dân tộc lên trên, đất nước sẽ có một tiềm lực vô cùng to lớn. Cơ sở vật chất kỹ thuật và lực lượng lao động cao cấp còn ở lại miền Nam là một vốn quí, một bệ phóng thuận lợi cho nền kinh tế nước nhà nhưng đảng đã không sử dụng tiềm lực này mà ngược lại đã tiêu diệt thẳng tay bằng nhiều cách, khiến cho đất nước kiệt quệ cả nhân lực lẫn cơ sở vật chất.

-Lữ Tống: Thưa ông, có người nói đó là “tâm lý chung,” tức là, hành động tịch thu, trả đũa sau bao nhiêu năm chiến tranh?

-Phạm Ðình Trọng: Ðảng đã giành hết vinh quang về cho đảng. Người cộng sản trở nên kiêu ngạo, tự mãn, và càng tự tin vào tín điều cộng sản! Ðảng say sưa đấu tranh giai cấp! Ðảng cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh! Ðảng hủy hoại khối lượng lớn của cải, làm tan hoang những cơ sở vật chất của một nền sản xuất công nghiệp tương đối phát triển! Ðảng gây hận thù dân tộc, đẩy hàng vạn người từng tham gia với chính quyền cũ vào những trại cải tạo, gây chia rẽ, ly tán trong lòng dân tộc! Thời cơ mất đi! Tiềm lực vô cùng quý giá để phát triển đất nước cũng mất đi! Ðất nước bị đẩy đến tận cùng quẫn bách.

Nỗi đau ly tán của dân tộc Việt Nam còn âm ỉ, nhức nhối đến hôm nay là hậu quả tất yếu của kiên trì tín điều Cộng Sản đưa giai cấp lên trên dân tộc, là trách nhiệm không thể chối bỏ của đảng Cộng Sản.

-Lữ Tống: Ông đưa ra nhận định về năng lực lãnh đạo, với ý cho rằng đó là một trong những nguyên nhân chủ yếu khiến đất nước bị mất dần đường biên giới. Xin được nghe chi tiết hơn?

-Phạm Ðình Trọng: Tôi cho là lãnh đạo đảng ở cấp cao không có sự nhạy bén, năng động. Không có sự mẫn cảm và sáng láng của trí tuệ và tài năng tạo ra bước ngoặt cần có cho dân tộc. Ngược lại, đảng vẫn kiên trì với những tín điều cộng sản. Những người lãnh đạo đảng ở cấp cao đã có những nhượng bộ, thỏa hiệp để Trung Quốc vạch lại biên giới, phân chia lại vùng biển, chiếm đất, chiếm biển của ta. Trong thư ngỏ gửi Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng vào ngày 3 Tháng Ba, 2009, tôi đã dẫn chứng về việc mất đất mất biển. Những hợp đồng kinh tế dễ dãi, ưu ái dành cho Trung Quốc. Dự án bauxite gây lo lắng cho cả dân tộc về môi trường, văn hóa, lẫn an ninh quốc phòng. Quan trọng hơn hết, là đảng không lắng nghe sự góp ý chân thành của những người trí thức. Ðảng luôn tuyên bố là vì lợi ích dân tộc nhưng trong dự án bauxite tôi cho rằng là vì lợi ích của ai kia chứ không phải cho dân tộc như đảng nói.

-Lữ Tống: Ông từng viết “Ăn Mày Dĩ Vãng,” nhằm chống lại những điều mà ông gọi là sử dụng tư tưởng Hồ Chí Minh một cách giả dối, thần thánh hóa lãnh tụ. Xin ông chia sẻ thêm?

-Phạm Ðình Trọng: Trong đời sống chính trị của nước ta hiện nay, từ ngữ có tần số sử dụng cao nhất là từ Hồ Chí Minh. Thần thánh hóa Hồ Chí Minh, đảng Cộng Sản Việt Nam luôn luôn nói đi theo con đường Hồ Chí Minh đã chọn, rầm rộ học tập tư tưởng đạo đức ấy. Trong bài viết “Ăn mày dĩ vãng - Thực Chất Cuộc Vận Ðộng Học Tập Tư Tưởng Ðạo Ðức Hồ Chí Minh,” tôi đã thẳng thắn nêu ra sự làm trái đó.

-Lữ Tống: Bài viết ấy, theo dư luận, đã gây khó khăn cho ông rất nhiều phải không, thưa ông?

-Phạm Ðình Trọng: Trong cuộc họp vào ngày 13 Tháng Mười Một, 2009, Ðảng ủy nơi tôi sinh hoạt đã kết luận bài viết của tôi là “phủ định chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đã thể hiện rõ rằng tôi không còn trung thành với Ðảng, với tổ quốc Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa, đã xuyên tạc, bôi nhọ hình ảnh lãnh tụ Hồ Chí Minh.”

-Lữ Tống: Ông suy nghĩ về những kết án này như thế nào?

-Phạm Ðình Trọng: Ðó là kết luận áp đặt, khiên cưỡng, thiếu thiện chí với tôi và né tránh, không đủ dũng khí nhìn vào sự thật.

-Lữ Tống: Ông có tâm sự gì muốn chia sẻ thêm với chúng tôi?

-Phạm Ðình Trọng: Tôi xin nói thêm ba điều như thế này. Thứ nhất, đây không phải là hành động chống đối đảng Cộng Sản. Thứ hai, về hình thức thì việc từ bỏ Ðảng Cộng Sản, nếu xét theo vận động cơ học thì đây là việc làm bình thường của bất cứ tổ chức nào. Có vào thì phải có ra, rất bình thường. Thứ ba là bản chất sự việc, ra khỏi đảng là thức tỉnh của nhận thức, sự thức tỉnh này không phải chỉ riêng cá nhân tôi mà nó mang tính thời cuộc. Thời này tôi nghĩ là thời của tự thức tỉnh. Có rất nhiều anh em lớp trước hay cùng lứa với tôi, đều có chức vụ đại tá, thượng tá cả, và họ đã từ khước việc sinh hoạt đảng sau khi về hưu tại nơi các anh ấy sống bằng cách không nộp giấy sinh hoạt đảng cho các tổ chức đảng tại địa phương. Giống như các anh ấy, chúng tôi đều thấy là có sự thất vọng và hụt hẫng vô cùng to lớn. Vì thế tiếng nói từ bỏ đảng của tôi không phải là tiếng nói lẻ loi hay duy nhất, mà là một trong những tiếng nói chung của rất nhiều người như tôi mà thôi.

-Lữ Tống: Xin cám ơn về thời gian ông dành cho chúng tôi.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

VẪN LÀ LOẠI “TRÍ THỨC” ẤY?

Sơn Tùng

Dư âm của cái gọi là “Đại Hội Viêt Kiều” (hay Đại hội người Việt ở nước ngoài) diễn ra trong ba ngày vào cuối tháng 11 vừa qua (21-23.11.2009) tại Hà-nội còn lại chỉ là một bài viết của Ông Nguyễn Hữu Liêm, một đại biểu từ San Jose, Hoa Kỳ, về tham dự. Bài này tựa là “Nơi giữa Đại hội Việt kiều: Một nỗi bình an” dài bốn trang được tác giả viết sau “đại hội” và được phổ biến trên blog Talawas.


Như tự giới thiệu nơi phần đầu bài, Nguyễn Hữu Liêm là một cựu quân nhân Quân lực VNCH đã di tản khỏi Việt Nam trưa ngày 30.4.1975, và nay là “chủ tịch Hiệp hội Doanh nhân Việt – Mỹ”. Ông Nguyễn Hữu Liêm còn có tên Mỹ là Henry Nguyen Huu Liem, và có bằng J.D. (1987), bằng M.A. Philosophy (1998).

Vì có bằng cấp về triết học nên hơn phân nửa bài được Ông Nguyễn Hữu Liêm dùng để viết về Hegel, Edmund Husserl, Derrida, Lý Đông A, Paul Ricoer... không ăn nhập gì tới “Đại hội Việt kiều”, mục đích không ngoài làm dáng trí thức và biện bạch quanh co cho sự đầu hàng và phản bội.


Sự đầu hàng và phản bội được diễn tả trong phần còn lại của bài viết, mà rõ rệt nhất và trơ trẽn nhất là phần cuối bài:

“Ngày thứ ba của Đại hội, ở cuối phần bế mạc, tôi cùng đứng dậy chào cờ. Bài ‘Tiến quân ca’ được vang cao trong cả hội trường. Lạ thật. Tôi chưa hề từng nghe Quốc ca Việt Nam (này) trong khung cảnh thể thức như thế. Từ ấu thơ đến bây giờ, tôi từng hát Quốc ca của miền Nam, trước 1963 thì cùng với bài hát buồn cười ‘Suy tôn Ngô Tổng thống’. Ba mươi bốn năm qua là Quốc ca Hoa Kỳ xa lạ, Star Spangled Banner. Nay thì tôi lại nghe và chào Quốc ca Việt Nam và lá cờ đỏ sao vàng. Con người là con vật của biểu tượng. Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước. Tôi cảm nhận được một dòng điện chạy từ đáy lưng theo xương sống lên trên cổ trên đầu như là khoảnh khắc thức dậy và chuyển mình của năng lực Kundalini. Tôi nhìn lên phía trước, khi vừa hết bài quốc ca, mấy chục cô và bà đại biểu từ Pháp đang chạy ùa lên sân khấu, vỗ tay đồng ca hát bài ‘Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng’. Tôi nhìn qua các thân hữu Việt kiều từ Mỹ, và ngạc nhiên khi thấy hầu hết – kể cả những người mà tôi không ngờ - đang vỗ tay hào hứng la to, Việt Nam ! Hồ Chí Minh! Cả hội trường, và tôi, cùng hân hoan trong tất cả (vẫn là) cái hồn nhiên mà dân tộc ta đã bước vào từ hồi thế kỷ trước.”


Thế đấy! Nếu cảnh trên đây diễn ra “từ hồi thế kỷ trước”, khoảng giữa thập niên 1940, nó có thể là cảnh thực. Nhưng, năm 2009 của Thế kỷ 21 là cảnh giả - giả từ bên ngoài đến trong tận đáy lòng của mỗi người, do Đảng Cộng sản Việt Nam đạo diễn gồm những cò mồi và những kẻ xu thời vì nhiều lý do.



Ông Nguyễn Hữu Liêm muốn tỏ ra là một người trí thức, nhưng lại chỉ là loại trí thức mà hàng thế kỷ trước đã được cộng sản dùng làm cảnh ở nhiều nơi để lừa gạt những người khác trên con đường cướp chính quyền và củng cố quyền lực. Trong lịch sử cướp chính quyền và củng cố quyền lực của Đảng Cộng sản VN hơn nửa thế kỷ qua cũng có sự tiếp tay của loại người này mà một tên tuổi lớn được Nguyễn Hữu Liêm nhắc tới trong bài là Trần Đức Thảo. Ông Thảo là một giáo sư Triết tại Paris đã mê chủ nghĩa Mác và nghe lời chiêu dụ của Hồ Chí Minh mà trở về Việt Nam hợp tác với chế độ cộng sản ở miền Bắc để rồi bị vỡ mộng, bị gạt ra bên lề và kéo dài kiếp sống cực kỳ khốn khổ cả về vật chất lẫn tinh thần cho đến lúc nhắm mắt.

So với Trần Đức Thảo thì Nguyễn Hữu Liêm chỉ là một kẻ vô danh nhưng khôn hơn người đi trước. Ông Liêm chỉ đi Việt Nam tham dự “Đại hội Việt kiều” để được đón tiếp long trọng và lễ lạc linh đình, sau đó lại trở về Mỹ mà ông ta gọi là “đi” Mỹ:

“Ngày hôm sau, thứ Ba, 24 tháng 11, trên suốt chuyến bay để ‘đi’ California – không phải ‘về’ như bao lần – tôi thấy chính mình đang mang tiếp được một nỗi bình an ngày hôm trước. Quê nhà đã đón mừng và nhận lại mình. Tôi không còn sợ tổ quốc, sợ chế độ, sợ công an, sợ cộng sản. Bạn thấy không? Con người tôi vẫn là con người của thời quán thứ nhất – một anh nông dân trong làng chưa bước qua được giai thoại của một thứ dân tộc chủ nghĩa thô sơ và đầy uẩn khúc. Tôi chưa phải là con người tự do.

Xin chân thành cảm ơn tất cả. Ôi hỡi quê hương Việt Nam . Lần này, tôi đã thực sự trở về!”



Bao giờ thì Nguyễn Hữu Liêm “thực sự trở về” để làm công dân của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ? Có lẽ không bao giờ, và nhà cầm quyền CSVN cũng không bao giờ hoan nghênh “nhà trì thức” Nguyễn Hữu Liêm trở về VN sinh sống, vì khi ấy ông ta sẽ không còn “hữu dụng” nữa mà có thể còn “gây rắc rối” cho sự trị an - như Trần Đức Thảo đã bị buộc tội hơn nửa thế kỷ trước.

Vậy thì nay Ông Nguyễn Hữu Liêm “đi” Mỹ với tư cách gì?

“Việt kiều”? Không. Ông Liêm không phải là Việt kiều vì ông ta đã trở thành công dân Mỹ. Ông ta chỉ có thể là Việt kiều sau khi từ bỏ quốc tịch Mỹ, và lấy lại quốc tịch Việt Nam .

Nếu không làm như vậy, Ông Nguyễn Hữu Liêm ở trong tình trạng “vịt không ra vịt, ngan chẳng phải ngan”. Với những gì đã làm ở Hà-nội và đã viết trong bài báo, ông ta đã mặc nhiên tự coi mình là một công dân của nước CHXHCN Việt Nam . Những hành động ấy đã chứng tỏ ông ta không trung thành với nước Mỹ - đất nước đã dung nhận ông ta và ông ta đã tuyên thệ khi trở thành công dân – mà còn là một sự phản bội đối với những người trước đây đã tin ông ta, đã coi ông ta là “chiến hữu”, và những người đã chấp nhận ông ta là một người “tị nạn” cộng sản và cho ông ta cơ hội để trờ thành con người như hôm nay.

Nguyễn Hữu Liêm tự nhận là một người “trí thức” và cố viết lách một cách uyên bác, nhái giọng yêu nước của những trí thức Việt Nam thân cộng hơn nửa thế kỷ trước. Nhưng, thế giới của nửa thế kỷ trước đã khác xa với thế giới ngày nay, trong đó các thuộc địa đã không còn, các chế độ cộng sản nguyên khởi đã hoàn toàn biến mất khỏi Âu Châu, vài chế độ cộng sản còn sót lại – trong đó có Việt Nam – đã trở thành những con quái vật cổ lỗ bị biến dạng đang chờ bị diệt chủng trước phong trào dân chủ ngày một dâng cao.


Một người tự nhận là “trí thức” mà không thấy nổi bức tranh toàn cảnh ấy là thiếu sự minh triết, tự hiến thân làm chậu cảnh cho một bạo quyền cuối mùa là không có trí, không cảm thấy bất bình và không hề nhắc đến sự đàn áp những chiến sĩ dân chủ ở Việt Nam – trong đó có nhiều trí thức chính danh – là không có tâm. Không có sự minh triết, không có trí, và không có tâm thì không phải là trí thức.

Nguyễn Hữu Liêm có vài mảnh bằng đại học nhưng không thể được gọi là trí thức, và thua xa những trí thức Việt Nam thân cộng hơn nửa thế kỷ trước mà trùm Cộng sản Nga Vladimir Lenin gọi là “những tên ngốc hữu dụng”, vì dù sao có thể lúc ấy họ cũng là những người thực sự yêu nước và mê chủ nghĩa cộng sản từ trong tháp ngà.

Những giọng điệu yêu nước của người tự nhận là Việt kiều Nguyễn Hữu Liêm thì có thể đọc được trên bất cứ tài liệu tuyên truyền nào phát xuất từ Hà-nội, do bồi bút viết.

Sơn Tùng
8.12.2009
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Ngọn lửa ngày 9 tháng 12

Ngô Nhân Dụng
Trong lịch sử có những biến cố chỉ diễn ra ngắn ngủi rồi bị dập tắt nhanh chóng, nhưng đánh dấu một chuyển biến quan trọng, lâu dài trong xã hội. Thí dụ như cuộc biểu tình ngày 4 Tháng Năm năm 1919 của sinh viên tại Bắc Kinh chống thái độ nhu nhược của nhà cầm quyền Trung Quốc nhượng bộ Nhật Bản. Cuộc biểu tình đã bị đàn áp, chính quyền vẫn đứng vững. Nhưng sau đó, tất cả nước Tàu thức dậy, đứng lên. Một phong trào cách mệnh đã bùng lên trong giới trí thức, thanh niên Trung Hoa, được gọi là “Cuộc vận động ngày 4 tháng 5.” Ngũ Tứ Vận Ðộng trở thành một phong trào văn hóa, xã hội, tạo ra những động lực thay đổi toàn diện nước Trung Hoa từ đó.

Cuộc biểu tình của một số sinh viên, thanh niên Việt Nam trước tòa đại sứ Trung Quốc ở Hà Nội và tòa tổng lãnh sự của họ ở Sài Gòn trước đây 2 năm cũng thay đổi người Việt Nam một cách sâu xa và rộng rãi, đánh thức giới trí thức và thanh niên ở trong nước cũng như ở bên ngoài. Nhiều người bắt đầu lên tiếng về vận mệnh quốc gia, chủ quyền dân tộc, và đánh thức những người khác. Thái độ của người dân đối với đảng Cộng Sản cầm quyền đã thay đổi, trước đây người ta đã hết sợ, nay người ta càng coi khinh. Và người dân đã bạo dạn hơn, không còn e dè khi muốn phát biểu ý kiến, khiến cho chế độ độc tài phải ra tay đàn áp mạnh hơn. Có thể nói những trí thức và sinh viên Việt Nam biểu tình chống Trung Quốc trong vụ thành lập huyện Tam Sa đã thắp lên một ngọn lửa có ảnh hưởng đang lan ra mỗi ngày một rộng hơn và mạnh mẽ hơn. Trong hai năm qua, ngọn lửa tinh thần thắp lên ngày 9 Tháng Mười Hai năm 2007 vẫn tiếp tục âm ỷ cháy!

Năm 2007, sau khi cho Hạm đội Nam Hải tập trận ở vùng biển Hoàng Sa, Bắc Kinh lập ra một huyện mới thuộc tỉnh Hải Nam, lấy tên là Tam Sa, trong đó có hai vùng của nước ta là Hoàng Sa (Trung Cộng gọi là quần đảo Tây Sa) và Trường Sa (họ gọi là quần đảo Nam Sa) cùng với quần đảo Trung Sa ở gần Phi Luật Tân. Người Việt Nam nào cũng phải coi đó là một hành động nhục mạ cả lịch sử nước ta. Sau khi tờ báo Tuổi Trẻ ở Sài Gòn được lệnh phải chấm dứt các bài có ý kiến phản đối chính phủ Trung Quốc về vụ này, các cuộc biểu tình đã bùng ra. “Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của nước Việt Nam,” lời khẳng định đó trở thành “tiếng gọi đàn” trong những cuộc biểu tình sau đó, có khi chỉ được viết thành một biểu ngữ đơn độc trương lên ở nhiều thành phố trước khi bị công an Cộng Sản xé bỏ.

Tại sao chúng ta dễ bị xúc động trước một quyết định hành chánh của chính quyền Trung Quốc? Ðồng bào ta đã sôi sục trong lòng vì nhớ lại hàng ngàn năm dân ta từng bị dân phương Bắc chiếm đóng, đàn áp và bóc lột. Và cả nước cũng phẫn uất vì thái độ hèn nhát của đảng Cộng Sản Việt Nam, khi họ không dám phản đối Cộng Sản Trung Quốc một cách công khai, mạnh bạo.

Các bạn sinh viên đại học ở Sài Gòn và Hà Nội đi biểu tình hô các khẩu hiệu khẳng định “Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của nước Việt Nam” với tất cả tấm lòng yêu nước. Người Việt ở khắp thế giới cũng rạo rực trong lòng khi nghe họ cất tiếng. Ðồng bào ta đều nghĩ tới các chiến sĩ anh hùng đã xả thân bảo vệ Hoàng Sa, trong trận hải chiến sau cùng giữa người Việt và người Trung Quốc, năm 1974.

Sáng ngày 19 Tháng Giêng năm đó, 15 chiến sĩ Việt Nam trên chiến hạm Lý Thường Kiệt khi thấy chiến hạm Trung Quốc trúng đạn, họ đã cùng hát lên bài “Việt Nam! Việt Nam!” Sau cùng, các chiến sĩ đó đã hy sinh, nhưng người Việt Nam sẽ không bao giờ quên. Những người trẻ tuổi đi biểu tình chống Trung Quốc chiếm Hoàng Sa, vì toàn thể mọi người Việt Nam náo nức muốn tỏ thái độ phẫn uất. Nhà văn Hoàng Tiến nói, hơn 50 năm nay mới thấy một cuộc biểu tình phát xuất từ ý nguyện của người dân Việt Nam!

Ðiều khiến giới trẻ Việt Nam tức giận là sau khi họ biểu tình, chính quyền Bắc Kinh đã lên giọng dậy dỗ và đe dọa các đồng chí Cộng Sản của họ tại Hà Nội. Phát ngôn nhân Bộ Ngoại Giao Trung Quốc là Tần Cương (Qin Gang) nhấn mạnh rằng bang giao giữa hai nước sẽ bị thiệt hại nếu Cộng Sản Việt Nam không “tỏ ra có trách nhiệm và có những biện pháp hiệu quả” ngăn cấm thanh niên Việt Nam biểu tình. Ông Tần Cương nhắc lại “lãnh đạo hai nước đã trao đổi quan điểm nhiều lần” về vấn đề này, ngầm bảo rằng dân Việt Nam không được góp thêm ý kiến.

Chính quyền Cộng Sản Việt Nam có vẻ đồng ý với Bắc Kinh. Các cuộc biểu tình bị dẹp, những người biểu tình bị bắt giữ, sách nhiễu, bỏ tù. Năm nay, họ ra lệnh đình bản tạp chí Du Lịch 3 tháng vì, trong số báo Xuân Mậu Tý, ký giả Trung Bảo ca ngợi lòng yêu nước của những thanh niên và trí thức tham dự các cuộc biểu tình. Nhưng hành động này chỉ giúp các người viết lịch sử sau này ghi nhận rằng giới trí thức Việt Nam, mặc dù báo chí đều bị kiểm soát, vẫn can đảm lên tiếng. Trong mạng lưới Sài Gòn Tiếp Thị, sau đó ký giả Phạm Hoàng Quân còn nhắc nhở mọi người Việt rằng ngay cả trong thời nước Việt Nam bị Pháp đô hộ, sang thời Việt Nam Cộng Hòa, các chính quyền đều bảo vệ chủ quyền trên các quần đảo đó. Phạm Hoàng Quân còn can đảm nhắc tới lời tuyên bố của Thủ Tướng Trần Văn Hữu, trưởng đoàn đại biểu chính phủ Bảo Ðại tại hội nghị San Francisco năm 1951, của Ngoại Trưởng Việt Nam Cộng Hòa Vũ Văn Mẫu tuyên bố chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa năm 1956. Phạm Hoàng Quân cũng thuật lại trận hải chiến năm 1974, “Hạm Trưởng Nguyễn Văn Thà cùng hơn 50 binh sĩ đã hy sinh.”

Các nhà báo ở nước ta đã chứng tỏ tinh thần yêu nước và tự hào dân tộc rất đáng ca ngợi. Họ dám phá rào, viết những điều bị chế độ cấm đoán mặc dù biết sẽ phải hy sinh những quyền lợi vật chất của chính mình. Thái độ can đảm đó được truyền đi, người ta không còn sợ hãi như trước nữa. Giới trí thức và đồng bào ta đã công khai tỏ lòng phẫn nộ về những vụ khai thác Bô xít gây nguy hại về kinh tế và môi trường sống. Mạng lưới chống bô xít của học giả Nguyễn Huệ Chi đã thu hút được hàng trăm ngàn người, ở trong nước cũng như hải ngoại. Những nhà khoa học, các nhà văn đã tham gia vào “cuộc biểu tình trên mạng” này chứng tỏ người Việt Nam bây giờ đã dám lên tiếng, không còn sợ hãi như Nguyễn Tuân ngày xưa, “sống sót nhờ biết sợ” nữa.

Trong không khí đó, những nhà tranh đấu cho tự do dân chủ càng thêm vững niềm tin. Những Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Vũ Bình, Nguyễn Xuân Nghĩa, vân vân, có thể tự hào đóng vai xung phong trên mặt trận dân chủ. Họ đã trông thấy nền tảng của chế độ độc tài đảng trị đang rạn nứt. Ðây chính là lúc giới trí thức, thanh niên cùng toàn thể đồng bào đứng lên đòi những quyền tự do căn bản của con người.

Ðến cả những đại biểu Quốc Hội Cộng Sản, xưa nay vẫn im lặng vâng lời đảng chỉ đạo, nay cũng thêm can đảm. Ông Dương Trung Quốc ngầm ủng hộ các cuộc biểu tình của giới thanh niên, trí thức ngày 9 Tháng Giêng năm 2007, khi nói rằng, Tuy ngoại giao, quốc phòng quan trọng, nhưng quan trọng hơn hết là lòng yêu nước và tinh thần quyết tử của người dân cho sự quyết sinh của tổ quốc. Ông ngầm nhắc tới bức thư ô nhục của Phạm Văn Ðồng gửi Chu Ân Lai năm 1958, khi nói, “bài học lịch sử cho thấy, chỉ một sai sót của chính phủ, dân tộc phải chịu đựng hậu quả lâu dài.”

Chúng ta đã thấy trong hai năm qua tinh thần ngày 9 Tháng Mười Hai vẫn được nuôi dưỡng, nhờ các nhà báo, các văn nghệ sĩ, giới trí thức can đảm công khai bầy tỏ thái độ bất bình đối với đảng Cộng Sản Việt Nam. Có những vụ bầy tỏ thái độ phản kháng một cách thầm lặng như hành động tự giải tán của Viện Nghiên Cứu Phát Triển, nhưng đó cũng là một hiện tượng chưa bao giờ xẩy ra trong giới trí thức nước ta trong chế độ Cộng Sản. Tiến Sĩ Nguyễn Quang A, người đã từng dịch Karl Popper, cho thấy một người trí thức không thể chỉ ngồi yên nghiên cứu triết lý và khoa học mà nhắm mắt trước sự chà đạp tự do và những bất công đầy rẫy trong xã hội. Tâm lý người dân Việt Nam đang thay đổi, thái độ của người ta đối với bọn cầm quyền đã thay đổi. Một nhóm tăng ni phần lớn trên dưới 20 tuổi ở Tu Viện Bát Nhã đã thản nhiên và quyết tâm tu học đạo Phật mặc dù bị cả guồng máy công an đe dọa và đàn áp. Cuộc đối đầu của gần 400 thanh niên này với cả chế độ toàn trị muốn kiểm soát tất cả các tôn giáo cho thấy con người Việt Nam đã tự tin, tự làm chủ mình, không thể bắt cả dân tộc cúi đầu nghe các tín điều Mác xít trong một chế độ Stalin được nữa!

Sự sụp đổ của chế độ Cộng Sản ở các nước Ðông Âu không phải chỉ do sự thất bại của hệ thống kinh tế Xô Viết, mà đã được khơi nguồn từ nhiều năm trước. Nhiều phong trào thay đổi tâm lý xã hội dân chúng các nước này đã bắt đầu từ giới trí thức, trong các đại học, các linh mục trong giáo hội Công Giáo, truyền tới giai cấp công nhân. Khi lòng dân muốn thay đổi đã chín mùi, ngay cả các cán bộ trung kiên của đảng Cộng Sản cũng phải ngả theo. Ðộng cơ cuộc cách mạng ở Ðông Âu là tự do, công bằng xã hội, và lòng yêu nước. Mảnh đất Việt Nam chúng ta hiện nay cũng đang sẵn sàng được gieo rắc những hạt giống tương lai đó. Xã hội đầy bất công. Người dân bị cướp đất, trí thức bị đàn áp. Và chủ quyền đất nước, lòng tự hào dân tộc đang bị xúc phạm. Các bạn trẻ đi biểu tình những năm 2007, 08 đã đánh thức mọi người cùng nhìn thấy tình trạng đó rõ hơn.

Chúng ta sẽ tiếp tục giữ gìn ngọn lửa do các sinh viên, trí thức Việt Nam đã thắp lên từ hai năm trước. Lịch sử sẽ ghi nhận ngày 9 Tháng Mười Hai năm 2007 như một biến cố quan trọng vào bậc nhất, đánh dấu sự biến chuyển tâm lý trong xã hội Việt Nam, báo trước ngày chế độ Cộng Sản cáo chung.
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 11 guests