Thế trận biển Đông: Hải Quân Trung Quốc,
lực lượng và chiều hướng phát triển
Friday, July 31, 2009
Khu trục hạm “Hải Khẩu” thuộc hạm đội Nam Hải của Trung Quốc tham gia chiến dịch chống hải tặc Somlia trên vịnh Aden.
(Hình: Getty Images)

Một máy bay do thám điện tử EP-3E Aries II của Hải Quân Hoa Kỳ trong phi vụ tuần tiễu ngoài bờ biển Nam Hải, Trung Quốc.
(Hình: Getty Images)
Hà Tường Cát/Người Việt
Gần 60 năm trước, sau khi Cộng Sản chiếm được chính quyền trên lục địa, Mao Trạch Ðông đã nói, “Trung Quốc phải có hải quân mạnh để chống lại xâm lược của đế quốc tư bản.” Tuy nhiên trong 30 năm, Hải Quân Trung Quốc trên căn bản vẫn chỉ là một lực lượng duyên phòng.
Từ 1979 Ðặng Tiểu Bình với chủ trương hiện đại hóa quân đội đề ra kế hoạch “Xây dựng Hải Quân hùng mạnh thích ứng với kiểu chiến tranh mới,” hải lực Trung Quốc mới phát triển tiến lên hàng quốc tế.
Mặc dầu chưa có đủ khả năng hoạt động viễn dương như hải quân của các cường quốc Hoa Kỳ, Anh, Nga, nhưng trên một số vùng biển gần, đặc biệt là Nam Hải (biển Ðông), Hải Quân Trung Quốc đã có sức mạnh khống chế so với tất cả các quốc gia trong khu vực.
Khởi thủy được coi như một bộ phận của “Quân Giải phóng Nhân Dân” (chủ yếu là Lục Quân) Hải Quân Trung Quốc (tên gọi chính thức “Trung Quốc Nhân Dân Giải Phóng Quân Hải Quân”) có nhiệm vụ đóng góp vào việc bảo vệ lãnh thổ chống xâm nhập từ biển. Trong 20 năm, sứ mạng của Hải Quân Trung Quốc tập trung chính vào việc ngăn chặn sự xâm nhập các toán biệt kích từ Ðài Loan và sẵn sàng chống lại một cuộc tấn công đổ bộ của quân đội Trung Hoa Dân Quốc lên lục địa. Vì vậy lực lượng hải quân hầu hết tập trung ở vùng duyên hải phía Ðông và Ðông Nam.
Trong thập kỷ 1950, Liên Xô đã cung cấp một số chiến hạm, hỗ trợ kỹ thuật và huấn luyện cho Trung Quốc phát triển hải quân. Năm 1954 có khoảng 2,500 cố vấn hải quân Liên Xô. Học viện Hải Quân được thành lập tại Ðại Liên và Hải Quân Trung Quốc đã được tổ chức lại thành 3 hạm đội: Bắc Hải, Ðông Hải và Nam Hải.
Qua thập niên 1960, quan hệ với Liên Xô chấm dứt, Trung Quốc tự phát triển hải quân, bắt đầu đóng chiến hạm thoạt đầu là sao chép theo mẫu Liên Xô rồi có thêm những cải tiến và sau đó có những loại hoàn toàn tự chế kiểu mới.
Những tài liệu về Trung Quốc do truyền thông quốc tế hay các cơ quan nghiên cứu như FAS, GlobalSecurity, SinoDefence, Jane's... đưa ra thường không thống nhất vì ngay cơ quan tình báo các nước cũng không thể có đầy đủ dữ kiện chính xác về quân lực và sự triển khai lực lượng của Trung Quốc. Số chiến hạm Hải Quân Trung Quốc khó có thể xác định vì sự thay thế những loại đã cũ, những chiến hạm còn hiện dịch, trừ bị hay đã phế thải.
Một cách đại cương, Trung Quốc có quân số thuộc Hải Quân khoảng 300,000 bao gồm 34,000 trong các đơn vị Không Quân, 56,000 Thủy Quân Lục Chiến và 38,000 thuộc Hải Ðội Duyên Phòng. Tư lệnh Hải Quân Trung Quốc là Ðô Ðốc Ngô Thắng Lợi (Wu Shengli).
Hải Quân Trung Quốc có 75 chiến hạm nổi loại khu trục hạm và hộ tống hạm, 65 tàu ngầm, 500 máy bay, 200 tiểu đỉnh tấn công, 58 tàu đổ bộ. Lực lượng duyên phòng có hàng ngàn tàu các loại từ những tiểu đỉnh đến hải thuyền và đặc biệt là các đơn vị trọng pháo, hỏa tiễn địa hải và phòng không. Hiện nay Trung Quốc không phải còn lo ngại nhiều về phòng thủ và nhiệm vụ chính của hải đội duyên phòng nhắm vào việc tuần phòng ngăn chặn những xuất nhập trái phép, hoạt động khủng bố, buôn lậu.
Trung Quốc không có chủ trương làm những chiến hạm lớn hơn như tuần dương hạm cũng như chưa tiến hành kế hoạch đóng những hàng không mẫu hạm chiến lược mà theo dư luận có thể sẽ đưa vào hạm đội sau năm 2015. Chủ lực của hải quân hiện nay dựa trên các khu trục hạm, hộ tống hạm mang hỏa tiễn và đơn vị tàu ngầm. Mẫu hạm duy nhất hiện có là chiếc Variag mua của Nga năm 2001 còn đang được tân trang, sẽ là loại chiến hạm xung kích thủy bộ với trực thăng và máy bay phản lực chiến đấu lên thẳng kiểu AV-8 Harrier.
Trong ba hạm đội Bắc Hải, Ðông Hải và Nam Hải, hạm đội Nam Hải (Biển Ðông) được coi là quan trọng nhất vì tầm chiến lược của vùng biển này. Gần nửa tổng lượng hàng hóa chuyên chở đường biển trên thế giới đi ngang biển Ðông trong đó có dầu lửa Trung Ðông cũng như nguyên liệu khai thác ở Phi Châu đưa về Trung Quốc. Thêm vào đó là tham vọng lấn chiếm các hải đảo và tài nguyên ở vùng biển này. Biển Ðông là con đường tiến về phía Nam mà Hải Quân Trung Quốc có thể dễ dàng giành ưu thế hơn về phía Ðông và Ðông Bắc để phải va chạm với Ðài Loan, Nhật Bản cũng như Hải Quân Hoa Kỳ và Nga.
Trên biển Ðông, Trung Quốc có lực lượng chiến hạm hùng mạnh hơn hẳn các nước Ðông Nam Á. Gần toàn thể vùng biển nằm trong tầm hoạt động của Không Quân và hỏa tiễn đặt căn cứ trên đất liền ở Quảng Ðông hay đảo Hải Nam. Năm 1974 trong trận hải chiến Hoàng Sa, Không Quân Việt Nam Cộng Hòa khó can thiệp vì với tầm hoạt động của máy bay chiến đấu F-5E lúc ấy xuất phát từ Ðà Nẵng chỉ có thể ở trên không phận không quá 15 phút, trong khi máy bay chiến đấu phản lực của Trung Quốc từ Hải Nam dễ dàng can thiệp hơn.
Bộ tư lệnh hạm đội Nam Hải đóng tại Trạm Giang, trước kia là nhượng địa Quảng Châu Loan thuộc Pháp trên bán đảo Lôi Châu, tỉnh Quảng Ðông. Ba trong số 7 căn cứ chính của hạm đội nằm trên đảo Hải Nam. Căn cứ Hải Quân và Không Quân Tam Á, trên bờ biển cực Nam đảo Hải Nam chỉ cách quần đảo Hoàng Sa và Ðà Nẵng, Việt Nam, 150 hải lý.
Lực lượng thường trực của hạm đội Nam Hải ít nhất có 11 khu trục hạm, 14 hộ ống hạm, 8 tiềm thủy đĩnh loại máy dầu/điện, khoảng 20 tàu vận chuyển quân đội và đổ bộ loại lớn, trên 100 máy bay chiến đấu cùng nhiều căn cứ hỏa tiễn địa hải. Các tàu của lực lượng hải quân duyên phòng có thể dễ dàng hoạt động trên khắp vùng biển không xa căn cứ.
Ngoài ra phải kể tới căn cứ tàu ngầm đảo Hải Nam, một căn cứ xây dựng bí mật bên bờ biển phía Nam đảo Hải Nam, được đào sâu vào trong lòng đất để phòng thủ chống sự tấn công bằng Không Quân. Các tàu ngầm ra vào qua những cửa hang chiều rộng 23 mét, và vệ tinh không thể nào phát hiện có bao nhiêu tàu ngầm đang ẩn trú tại đó. Căn cứ tàu ngầm này không ở một nơi hẻo lánh, chỉ nằm cách xa mấy dặm từ thành phố Tam Á 700,000 cư dân và ngay cạnh một trung tâm du lịch có nhiều khách sạn quốc tế Hilton, Marriot, Ritz Carlton, Holiday Inn,...
Ðây là một căn cứ của đơn vị tiềm thủy đĩnh chiến lược có lẽ không trực thuộc hạm đội Nam Hải. Khoảng 20 tiềm thủy đĩnh nguyên tử loại 094, có khả năng phóng hỏa tiễn đạn đạo liên lục địa, sẽ bắt đầu được triển khai từ năm 2010. Tương lai có thể căn cứ ngầm còn được phát triển để sử dụng cho đầy đủ một hải đội xung kích thủy bộ bao gồm cả hàng không mẫu hạm.
So sánh với lực lượng hải quân của tất cả các quốc gia xung quanh bờ biển Ðông - Việt Nam, Cambodia, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Brunei, Philippines - Hải Quân Trung Quốc đủ sức mạnh để hoàn toàn làm chủ hành động trên vùng biển và đó sẽ là một mối hăm dọa thường trực lâu dài cho toàn khu vực. Nhưng sự vướng víu khó chịu nhất cho Trung Quốc ở đây là Hải Quân Hoa Kỳ hoạt động trên hải phận quốc tế và các nước Ðông Nam Á cần đến chiếc dù an ninh này.
Cuối thế kỷ trước, biển Ðông coi như đã được hai siêu cường quân sự Hoa Kỳ và Nga bỏ trống. Nga rút khỏi căn cứ Cam Ranh, Việt Nam và Hoa Kỳ rút khỏi căn cứ Subic Bay, Philippines. Trong bối cảnh thế giới hiện nay và với chiến lược của Hoa Kỳ, khó tin là có thể có việc đặt căn cứ quân sự tại một nơi như Cam Ranh, nhưng Hạm Ðội 7 vẫn và sẽ không để biển Ðông là một vùng hoàn toàn thuộc quyền chủ động của Trung Quốc. Nhiều dấu hiệu gần đây cho thấy Hoa Kỳ đã chấm dứt giai đoạn thả nổi khu vực này và các nước Ðông Nam Á rõ ràng nhận thức được tầm quan trọng về sự hiện diện của Hoa Kỳ để cân bằng áp lực an ninh do Trung Quốc tạo nên.
Trong tình thế ấy, khi chưa đi đến đại chiến toàn diện, các quốc gia trong vùng, đặc biệt là Việt Nam và Philippines, bằng sự gia tăng thích ứng lực lượng phòng thủ, sẽ đủ khả năng đương đầu trước tham vọng của Trung Quốc để bảo vệ lãnh hải cũng như vùng kinh tế đặc quyền của mình trên biển Ðông dù cho Hải Quân Trung Quốc có là một lực lượng hết sức đáng lo ngại. (H.C)