Page 32 of 68

Posted: Tue Jan 31, 2012 6:48 am
by tankhoasinh
Ngụy

Tiểu Tử

Trong ngôn ngữ thông thường miền Nam Việt Nam trước tháng tư 1975, tiếng "ngụy" nghĩa là "giả" ít thấy có ai dùng tới.
Cái gì không phải thứ thiệt, không phải thứ "chánh cống", không phải thứ "có cầu chứng tại tòa"... là người ta gọi hoạch tẹt là "đồ giả", chớ không ai gọi là "đồ ngụy" hết. Ví dụ như rượu giả, thuốc giả, vú giả, bạc giả, v.v.
Bởi vì từ ngữ hồi đó rất... thật!
Sau tháng Tư 1975, tiếng "ngụy" đã theo gót... dép râu (Xin lỗi! Chỗ này văn chương nghe chỏi lỗ tai một chút, nhưng rất... tả chân. Không thể viết "theo gót giầy" như xưa nay thường viết, vì đối tượng ở đây toàn mang dép râu cả!) quân nón cối và quân mũ tai bèo vào Nam làm cách mạng...
Sau biến cố, toàn dân miền Nam đều phải đi "học tập" ba hôm. Chính trong ba hôm đó người ta mới nghe lần đầu tiên tiếng "ngụy". Và nghe... đầy lỗ tai!
Vậy là đầu hôm sớm mai, tiếng "ngụy" được nhét vào ngôn ngữ miền Nam một cách "ngang xương", không cần phổ thông đầu phiếu! Mới đầu nghe lạ hoắc, không hiểu ý nghĩa sâu đậm của nó. Cũng chẳng có ai giải thích. Mà ví dụ có ai to gan lớn mật đặt câu hỏi thì cán bộ cũng chỉ giải thích... ngang như cua thôi!
Thành ra nhân dân miền Nam hiểu tiếng "ngụy" một cách rất... tự do, và sử dụng tiếng "ngụy" rất... rộng rãi (Được "giải phóng", có khác!). Thôi thì cái gì của miền Nam cũng đều biến thành "ngụy" ráo. Để phân biệt với "cách mạng"!.. Thằng ngụy, vợ ngụy, con ngụy, lính ngụy, chánh quyền ngụy, cơ sở ngụy, xí nghiệp ngụy, công nhân ngụy, "hàm-bà-lằng" ngụy... Và người ta nghĩ một cách rất đơn giản, rất thật thà: "Hễ thấy không có đóng con dấu ngôi sao đỏ thì cứ xếp vào đồ ngụy, là ăn chắc!".
Thật ra, khi dán cái nhãn "ngụy" lên miền Nam, "Đảng và Nhà Nước" muốn nhân dân "chủ yếu là nhân dân miền Bắc" hiểu theo định nghĩa "ngụy" là giả, "giả nhân giả nghĩa, giả đạo đức, giả yêu nước thương dân, "ngụy" là đoạt của người ta mà nói là của mình, là bịp, là láo, là phiến loạn...
Về sau, khi nhân dân cả hai miền đều... mở mắt, tiếng "ngụy" ít thấy dùng tới. Nhưng bây giờ thì mọi người đều nhận ra ai mới đúng là ngụy. Lớp ngụy trang bị rơi xuống, những ngụy ngôn bị vạch trần, thì chân tướng ngụy lòi ra rõ rệt, đến người mù cũng phải thấy!
Viết dài dòng để... "đả thông tư tưởng" trước khi vào chuyện.
Ông H là thiếu tá quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Ông làm việc ở Tổng Tham Mưu.
Ông thuộc gia đình trung lưu. Hồi 1945, cha và anh của ông đi kháng chiến rồi đi luôn ra Bắc. Từ đó, không được tin tức gì hết.
Mẹ của ông là giáo viên tiểu học, xem việc dạy dỗ trẻ con là một thiên chức. Bà thường nhắc về người cha và người anh vắng mặt, nhứt là người anh với những kỷ niệm đẹp của thời mà hai anh em còn ở chung với nhau: "Anh Hai của con thương con lắm. Đi học về là cởi trần rồi cõng con chạy cà bồng cà bồng quanh sân vừa chạy vừa hí rân như ngựa làm cho con cười hắc hắc. Mà con thì hay nhõng nhẽo với anh Hai con, đi đâu cũng bắt nó cõng hết. Còn khi nào con đòi cái gì không được, con hay vừa khóc vừa la để ba tưởng là anh Hai chọc con, ba rầy ảnh! Tội nghiệp! Những lúc thấy con sắp sửa làm trận như vậy, anh Hai con thường đưa đầu biểu con đánh nó đi chớ đừng khóc la, sợ ba rầy!". Rồi bà kết luận: "Tánh tình nó tốt lắm!".
Ông lớn lên trong vòng tay người mẹ, được giáo dục bằng tình thương, xem gia đình là căn bản, lấy đạo đức làm phương châm. Và ông giữ mãi trong lòng sự mến mộ "người anh Hai lúc nào cũng làm vui lòng em, lo lắng cho em, bảo vệ em".
Mãi đến năm 1973, mới được tin qua một người bà con rằng cha mất đã lâu và người anh bây giờ là tướng của "ngoài đó". Thật là bàng hoàng. Mẹ ông khóc hết nước mắt. Thời gian sau, bà nói: "Mẹ chỉ mong cho mau hết giặc, để anh em con về sống bên mẹ yên vui như ngày xưa. Chừng đó, mẹ mãn nguyện để theo ông theo bà...".
Mẹ ông qua đời vào giữa năm 1974, chưa kịp thấy cảnh "hết giặc" ra làm sao và chưa kịp gặp đứa con làm tướng...
Mấy hôm sau ngày 30 tháng tư 1975, ông tướng nhờ người bà con đưa lại nhà ông H. Xa cách đã ba mươi năm, nhưng hai anh em vẫn nhìn ra được nhau. Bởi vì họ giống nhau như đúc. Sau mấy giây ngỡ ngàng, họ xà vào ôm lấy nhau siết chặt. Cả hai đều không cầm được nước mắt. Bà H và bốn đứa con "ba trai một gái, đã lớn hết, hai đứa đại học và hai đứa trung học cấp hai" đứng nhìn cảnh hai anh em ôm nhau, cũng bồi hồi xúc động...
Sau đó là bữa cơm gia đình để hai anh em kể cho nhau nghe những biến thiên của đời mình, của thời cuộc. Tiếp theo là ông tướng mang hành trang lại ở với gia đình ông H, để có anh có em.
Ông bà H có hai cái nhà. Cái mà ông bà đang ở với hai con học trung học, là loại vi-la lầu có sân lót gạch và vườn cây kiểng hồ cá trang trí theo kiểu Nhựt. Nhà này do ông bà tự cất lấy hồi thời các con còn nhỏ. Về sau, ông được thuyên chuyển ra miền Trung một thời gian. Ông đem hết gia đình ra ngoài đó, để nhà cho Mỹ mướn. Nhờ vậy, mấy năm sau, ông mua thêm một căn phố nhỏ cho hai đứa con trai lớn ở, khi chúng nó vừa vào đại học.
Sau khi đi xem nhà, ông anh bảo:
- To thế thì ở làm gì cho hết? (Bây giờ ông anh nói pha giọng Bắc rất nhiều). Nguyên cái buồng ngủ thôi cũng chứa cả môt hộ bốn năm người đấy!
Hôm sau, ông H được người anh khuyên:
- Chú làm cái vườn như thế này là phí đất. Đào lên đi để trồng trọt khoai bắp cho các cháu có mà ăn. Phải biết tăng gia chứ!
Mới đầu, ông hơi phật ý. Nhưng, khi nhìn sang hàng xóm thấy nhà nào cũng đào cũng xới kể cả dải đất hẹp té nằm dọc theo chân tường rào phía ngoài đường, ông nghĩ: "Mình cũng phải làm như thiên hạ, cho yên thân".
Vậy là cha con ông hè hụi đập nạy cạy khượi, gạch, bê-tông, hồ cá... cho lòi đất rồi trỉa đậu trồng mì! Khu vườn Nhụt Bổn mà ông Bà H đã tự tay xây đắp, bây giờ tan hoang lồi lõm giống như bãi đổ... xà bần. Nhà ông H bây giờ mới thật sự mang nét cách mạng!
Ông anh "tên R" làm việc ở đâu, hỏi không bao giờ nói. Chỉ thấy mỗi sáng có xe của cơ quan đến rước, chiều đưa về. Ông H, sau khi khai lý lịch ở tòa đô chánh, tối ngày ngồi nghe tin tức qua ra-đi-ô. Bà H không dám nấu nướng trong bếp bằng lò ga. Bà sợ làm như vậy nó... ngụy quá đi, nên bà dựng ở hàng ba mấy cục gạch rồi nấu bằng than củi bằng lá khô... Bà kê cạnh đó một cái bàn thấp để chén đũa mắm muối, còn nồi niêu dao thớt thì cứ bỏ nằm lỏng chỏng dưới đất bên cái thau nhôm lớn đựng nước để dùng cho việc nấu nướng rửa ráy. Nước lấy từ ống cao su trước đây dùng tưới vườn. Nước dơ thì cứ tạt... cha nó ra sân. Bà H ngồi chồm hổm làm bếp, chổng khu thổi lửa khói bay um tùm làm đôi khi bà nhớ thời thơ ấu – bốn mươi mấy năm về trước – hồi ở dưới quê với bà ngoại, bà hay nhìn bà ngoại nấu cơm như bà làm bây giờ. Chỉ khác là hồi đó chưa có cách mạng! Ông anh có vẻ hài lòng về tác phong của bà H, nên khen: "Cô thật là sớm giác ngộ!".
Một hôm, đài phát thanh gọi các sĩ quan ngụy đi trình diện học tập. Và nói rõ: "Đem theo tiền ăn cho một tháng". Ông H lo lắng, hỏi ý kiến ông anh thì được trả lời:
- Chú cứ yên tâm đi học tập. Anh bảo đảm không sao hết.
Vậy là ông H hun vợ con, xách ba-lô lên đường, còn dặn:
- Ở nhà có bác Hai. Mẹ con bây cần gì thì nhờ bác, nghen.
Một tháng sau, không thấy ông về, bà H hỏi ông anh thì được trấn an một cách rất bình thản:
- Cô yên tâm. Vài hôm là về thôi!
Cứ thế, vài hôm rồi vài hôm... dài dài... Bà H nóng lòng, chạy đi gặp mấy bà bạn cũng là vợ sĩ quan, mới hay rằng có thể chồng đã bị chở đi luôn ra ngoài Bắc. Bà lau nước mắt, về quây quần với mấy con, ngồi đợi ông anh. Gặp ông, bà mếu máo:
- Họ chở nhà tôi đi mất rồi...
- Đi đâu mà mất? Còn tập trung cải tạo ở trong Nam chứ phải biệt xứ đâu mà mất? Đi học tập chứ đi tù đâu mà cô sợ.
- Nghe đồn trong trại khổ lắm. Nhờ anh can thiệp cho nhà tôi về. Dù gì anh cũng là tướng và cha đã hy sinh vì cách mạng.
- Cách mạng không phải như ngụy đâu cô! Không có chuyện móc ngoặc bè phái. Không có chuyện tư vị nể nang. Luôn luôn xử sự có tình có lý. Chú ấy cứ học tập tốt là về ngay thôi! Nói thế chứ... để tôi xem có làm gì được không.
Một hôm, ông anh họp các con ông H lại, khuyên:
- Ba các cháu là ngụy. Cách mạng khoan hồng gởi đi học tập cải tạo. Ba các cháu có sớm được trả về hay không là còn tùy thuộc ở thái độ học tập của ba các cháu. Và cũng tùy thuộc ở trình độ giác ngộ cách mạng của má các cháu và các cháu nữa.
- Vậy, mình phải làm sao?
- Dễ thôi! Bác sẽ giới thiệu các cháu vào đội thanh niên xung phong, nếu các cháu muốn giúp ba các cháu.
- Vô đó để làm cái gì, thưa bác?
- Để phục vụ nhân dân theo khả năng của mình. Nếu các cháu có tinh thần phục vụ cao, Nhà Nước sẽ cho điểm tốt trong việc cứu xét trường hợp của ba các cháu.
Sau một lúc bàn tính, cả bọn bốn đứa đều đồng ý... xung phong.
Bốn đứa được thâu nhận nhưng không cùng ở chung một đơn vị. Phân tán chúng nó ra, cô lập từng đứa một, để dễ theo dõi kiểm soát, tránh mầm móng phản loạn... Nhà Nước đi một nước cờ thật cao!
Chúng nó được đưa đi đào đất đắp nền ở các vùng kinh tế mới hay đi đào kinh làm thủy lợi. Lâu lâu mới về thăm nhà một vài hôm. Nhưng không bao giờ cùng về một lúc. Và đứa nào về cũng xác xơ hốc hác, tay chân ghẻ lở giống như bị đi đày! Đứa con gái trước đây học năm thứ bảy dương cầm ở quốc gia âm nhạc, bây giờ tay cứng còng, không đánh nổi một bài tầm thường của hồi đó. Bà H nhìn các con mà đứt ruột. Cho nên mỗi lần đứa nào về, bà cũng chạy lo thuốc men và nấu nướng cho ăn uống tẩm bổ. Chỉ có ông anh là hài lòng và cho rằng đó là thành quả tốt đẹp của lao động!
Một hôm, ông anh bảo người em dâu:
- Bây giờ các cháu đã có Nhà Nước lo. Cô giữ làm gì đến hai cái nhà? Đây là lúc mà cô phải chứng tỏ trình độ giác ngộ cách mạng của mình bằng cách hiến cái nhà này cho Nhà Nước để làm cơ quan phục vụ nhân dân. Như vậy, chú ấy có cơ được về sớm.
Sau vài phút suy nghĩ, bà H chỉ bằng lòng cho Nhà Nước mượn thôi.
- Ừ! Thì cho mượn cũng được, tôi nghĩ thế. Để tôi liên hệ với các đồng chí ấy xem sao.
Vậy là tuần lễ sau, bà dọn về căn phố nhỏ ở cách đó độ mười lăm phút xe đạp, nhưng thuộc về một quận khác. Sự chuyển hộ (nghĩa là dời chỗ ở, địa chỉ) không gặp khó khăn, nhờ ông anh cách mạng (Trong thời này, muốn chuyển hộ phải làm đơn xin phép nơi mình sắp dọn đến. Phải "có lý do chánh đáng" và điều này phải được chứng nhận bởi chánh quyền nơi mình đang ở!
Khi đã được chấp thuận (có ký tên đóng dấu) đương sự phải vác đơn đó về trình cho chánh quyền nơi đang ở để... xin phép được di chuyển. Khi được chấp thuận - ký tên đóng dấu- mình mới được quyền dọn đi!
Rắc rối như vậy nên lúc nào cũng có một sự giải thích rất "có trình độ": "Đằng kia có cho anh vô thì ở đây tôi mới cho anh ra. Chớ tôi cho anh ra mà đằng kia không cho anh vô thì anh... đi đâu?".
Rõ như vậy, nhưng nhiều khi vác đơn đến "đằng kia" trước, thì bị từ chối và dĩ nhiên được giải thích cũng rất "có trình độ" không kém: "Anh phải xin phép nơi anh đang ở trước rồi mới đến đây sau. Anh có được cho đi thì tôi mới nhận cho anh đến. Chớ bảo tôi nhận cho anh đến, trong lúc anh chưa được cho đi thì làm sao được? Phải có đi rồi mới có đến chớ! Dễ hiểu thôi!".
Cứ lẩn quẩn loanh quanh như vậy nên việc chuyển hộ thật là khó khăn.
Trong trường hợp chuyển từ tỉnh sang tỉnh hay từ vùng sang vùng thì khỏi nói, thật là "trần ai gian khổ"!).
Ông tướng có "động viên" một số đồng chí trẻ trong cơ quan đến phụ dọn nhà cho bà H. Và có cho mượn một chiếc xe cam-nhông-nét (cũng của cơ quan) nên việc dọn nhà cũng nhanh. Sau đó, ông anh cho bà ký tên tờ ủy quyền để ông anh thay mặt bà quản lý cái nhà lớn mà ông đang ở. Bởi vì bây giờ, bà đã chuyển hộ thì mặc nhiên ông anh trở thành chủ hộ ở ngôi nhà đó, mà muốn sử dụng cái nhà thì phải có sự ủy quyền của chủ nhà.
Mười lăm ngày sau, bà H được biết là nguyên cả tầng trệt nhà của bà đã trở thành "tổ gạo", còn ông anh thì vẫn ở một mình trên lầu. Nghe nói bà tướng có vào thăm chồng một lần, ở độ mười lăm hôm rồi trở về Hà Nội. Không hiểu sao ông tướng không có đưa bà vợ lại thăm cô em dâu. Cách mạng có khác!
Bẵng đi một thời gian dài gần cả năm, một hôm ông anh ghé nhà thăm bà H để báo tin đã tìm ra trại cải tạo của người em ở ngoài Bắc và chỉ vẽ cho bà cách thức xin đi thăm nuôi, đường đi nước bước, xe cộ vv... và nhứt là những thứ cần thiết như lương khô quần áo. Nghe như vậy, bà H đã đoán ra phần nào đời sống của chồng ở ngoài đó, nên bà rớt nước mắt hỏi:
- Sao trước đây anh không nói rõ để tôi lo cho nhà tôi có đầy đủ phải hơn không?
- Chuyện Nhà Nước, đâu nói ra được. Cô phải hiểu như thế chứ!
- Cái gì cũng che đậy. Cái gì cũng giấu diếm. Nhưng lần hồi thiên hạ đều biết hết. Bộ anh tưởng thiên hạ đui sao?
Đến đây bỗng nghe tiếng bà hàng xóm la lớn: "Đi đâu đó nữa? Mấy bữa nay tao nói mầy kê lại dùm mấy ông Táo kẻo mấy ổng sụm xuống thì không còn khỉ gì để nấu nướng... mà mầy cứ ăn rồi là xách đít đi hà!".
Giọng người con trai: "Bộ má tưởng con đi chơi hả?".
Giọng bà hàng xóm: "Chớ đi đâu mà ngày nào cũng đi, mầy nói tao nghe coi!". Giọng người con, có vẻ hảnh diện, nói rời ra từng tiếng: "Con-đi-phục-vụ-nhân-dân!".
Giọng bà hàng xóm, tức tối: "Phục vụ nhân dân! Phục vụ nhân dân! Con gái mẹ mầy cũng là nhân dân đây nè! Mầy phục vụ cho nó đi! Kẻo không chổi chà nó đơm lên đầu bây giờ!".
Ngừng một lúc, lại nói: "Cha... Lúc này nói giọng cách mạng quá há! Phải mà! Con mẹ buôn gánh bán bưng này hăm mấy năm nay nó kềm kẹp mầy quá mà! Nó nhét cho mầy ăn để mầy lớn! Nó ép mầy học để mầy khôn! Nó ác ôn quá phải hông? Nó ngụy quá phải hông? Nó giả nhơn giả nghĩa quá phải hông?"
Nghe đến đây, ông tướng nhăn mặt:
- Ăn với nói! Rõ là không có trình độ!
Rồi ông đứng lên:
- Tôi phải vào cơ quan. Bao giờ cô được phép đi thăm nuôi, gặp chú ấy nhớ bảo tôi nhắn chú ấy luôn vững tin vào sự sáng suốt của Đảng và Nhà Nước. Ta khác ngụy ở chỗ xử sự có tình có lý và lúc nào cũng khoan hồng đối với những người biết quay về với nhân dân.
Bà H làm thinh, nhưng nhìn người anh chồng chỉ có nửa con mắt!
Lúc đó, nghe tiếng thằng con trai nhà hàng xóm: "Rồi đó! Con kê lại mấy ông Táo rồi đó!". Giọng bà mẹ, vẫn còn hậm hực: "Dữ hôn! Có bao nhiêu đó mà cũng phải đợi tao nhắc năm lần bảy lượt! Thôi! Mầy đi phục vụ nhân dân của mầy, đi. Chiều, vác mỏ về, con mẹ ngụy này nó nấu cơm cho mà ăn".
Từ ngày dọn về đây, bà H đi làm ở tổ hợp may thêu gần đó. Cũng phải đi làm như thiên hạ để đừng bị để ý theo dõi, chớ thật ra bà chưa đến nỗi túng thiếu nhờ đã cất giữ nữ trang trong nhà thay vì gởi ở ngân hàng. Bây giờ, lâu lâu bà bán một vài chỉ...
Bà hàng xóm (tên là bà Năm) có cái sạp cháo lòng ở đầu ngõ. Sáng nào, bà cũng đi bộ theo thằng con trai đạp xe ba bánh chở thùng tô dĩa muỗng đũa, thùng lòng dồi gia vị, nồi cháo lớn bằng nhôm, lò dầu hôi và mấy can nhựa đựng nước rửa chén... ra cây trứng cá nằm trên lề đường Phan Đăng Lưu (tức là đường Chi Lăng hồi trước).
Ở đây, có cái sạp gỗ dựng đứng và bốn năm cái ghế gỗ nhỏ được... xiềng vào gốc cây trứng cá. Hai mẹ con mở ống khóa, hạ cái sạp rồi kê ngay ngắn dưới tàn cây. Xong, thằng con về nhà lấy xe đạp, đạp đi "phục vụ nhân dân" cho tới tối. Thành ra, đến trưa khi bán hết nồi cháo - bà chỉ bán có buổi sáng - bà thâu xếp dọn dẹp một mình ên, rồi đẩy xe ba bánh chở đồ nghề về nhà (Bà không đạp vì không biết đi xe đạp!).
Cứ vài bữa, bà lại mang biếu bà H một tô cháo lòng. Bà biết bà H là vợ thiếu tá quốc gia và chồng đi học tập nên bà hay tới lui thăm viếng để an ủi. Bà H thật cảm động. Có hôm bà nhắc chừng:
- Bà Năm cẩn thận. Có thể tụi nó theo dõi.
- Ối... Cái lũ cô hồn đó tôi đâu có sợ, cô Hai. Hồi tụi nó mới vô, bắt mình làm tờ "báo công báo tội". Tôi phát ghét nên khai là tôi tội lỗi đầy đầu bởi vì gần hai chục năm nay tôi bán cháo lòng cho ngụy ăn chớ không cho cách mạng ăn! Vậy mà có thấy thằng nào đụng tới tôi đâu, cô Hai!
- Coi vậy chớ cũng nên coi chừng, bà Năm à! Nhứt là khi bà rầy la thằng nhỏ, nói đụng chạm tới họ quá, không nên.
- Tụi nó đã coi mình là ngụy thì cứ thí mạng cùi chửi cho sướng miệng. Tội vạ gì mà nín thinh? Há?
Nói xong, bà Năm nhếch mép cười, làm như bà đang thách đố cách mạng vậy!
Khi bà H được giấy phép đi thăm nuôi chồng, bà báo tin cho bà Năm và nhờ bà Năm coi chừng nhà giùm. Bà Năm mừng rỡ, làm như ông H là người nhà:
- Dữ hôn! Tới bây giờ mới cho con người ta đi thăm nuôi. Quân ác ôn! Được rồi, cô Hai cứ yên tâm, tôi giữ nhà cho. Mà chừng nào cô Hai định đi?
- Chắc mười hôm nữa, bà Năm à. Để có thì giờ lo cho đầy đủ. Chớ gấp rút quá thì quên trước quên sau...
- Cô Hai nói phải đó. Đi ra tới ngoài Bắc chớ bộ gần gụi gì hay sao?
Ngừng một chút, bà Năm cầm tay bà H lắc nhẹ:
- Cần gì thì cứ nói nghe cô Hai, đừng ngại. Mình với nhau mà...
Bà H xúc động, lí-nhí "cám ơn" mà nước mắt chảy quanh.
Lạ quá! Chỉ có mấy tiếng "mình với nhau" mà sao nghe ấm cúng vô cùng. Nhứt là trong hoàn cảnh này, trong giai đoạn này. "Mình với nhau" là sự nhận diện của những người cùng đứng về một phía. "Mình với nhau" nói lên sự cảm thông của những người cùng cảnh ngộ, cần nương tựa vào nhau, nâng đỡ nhau để sinh tồn. "Mình với nhau" là tình người không dị biệt giai cấp. Cho nên, khi mở rộng vòng tay, bà Năm cháo lòng chỉ cần nói có mấy tiếng đó thôi là quá đầy, quá đủ...
Hai hôm trước ngày bà H khăn gói đi thăm chồng, bà Năm qua nhà đưa một lon ghi-gô được ràng chằng chịt bằng dây thun:
- Cô Hai cho tôi gởi ổng lon thịt chà bông. Tôi làm có hơi mặn để ăn cho lâu. Tôi ém chặt và ràng kỹ, cô Hai đừng lo đường xa nó sút sổ. Cô cho tôi gởi lời thăm ổng, nghen.
Bà H "cám ơn"mà có cảm tưởng như bà Năm là người trong quyến thuộc!
Trong khi đi ra cửa, bà Năm còn quay lại nói:
- Cô Hai đi yên tâm. Tụi nhỏ của cô có về chơi thì tôi lo cơm nước cho hết. Cô nhớ viết ít chữ để lại cho tụi nó biết, nghen!
Bà H gật gật đầu, nhìn theo mà thấy bà bán cháo lòng đó còn cao cả gấp mấy mươi lần người anh chồng làm tướng của cách mạng!
Đi thăm chồng về, bà H như già đi năm bảy tuổi. Mắt bà sưng húp, tóc tai rối bời, mặt mũi hốc hác. Bà Năm nhìn bà H, động lòng chảy nước mắt. Ngồi xuống bên bà H, bà Năm hỏi:
- Sao, cô Hai? Khổ lắm phải không?
Bà H mếu máo khóc, chỉ gật gật đầu chớ không nói được một lời. Bà Năm nhích lại gần, choàng tay ôm vai bà H, chửi đổng:
- Mẹ bà nó! Quân ác ôn!
Bà H bỗng quay sang ôm chầm lấy bà Năm, khóc nức nở. Vừa khóc vừa cố gắng nói, câu nói đứt ra từng khúc:
- Ảnh... ốm... đến nỗi... tôi... nhìn... ảnh... không ra...
Đến đây, bà Năm cảm động nghẹn lời. Bà chỉ còn biết vuốt vuốt lưng bà H, giống như bà đang dỗ về người em gái.
Hôm sau, bà H đội nón lá cầm cái thơ ông H viết cho người anh để gởi gắm vợ con, đi bộ về cái vi-la của bà ở quận kế bên. Bà cố tình đi bộ, vì bà nghĩ đến chồng. Đối với những gian khổ cùng cực mà chồng bà đã chịu đựng từ bao nhiêu năm nay - theo lời kể lại của ông H - thì sự đi bộ của bà không thấm thía vào đâu hết. Nhưng, khi bà đi bộ, bà tưởng chừng như bà đang chia xẻ một phần nào những khổ dịch của chồng, người tù cải tạo.
Vi-la của bà, bây giờ thấy khác trước. Tường rào đã xây lên cao. Cổng song sắt được gắn thêm lưới sắt ô vuông. Nhìn vào trong không còn tổ gạo, mà sân thì đã được tráng xi-măng lót gạch khía sạch sẽ.
Thấy có bóng người, bà H bấm chuông. Có giọng đàn bà hỏi vọng ra, giọng Bắc:
- Ai đấy?
- Dạ... tôi.
Một bà cỡ tuổi bà H bước ra hất hàm:
- Chị muốn gì?
- Thưa... Tôi muốn tìm ông R. Nhà tôi có viết cho ổng cái thơ...
- Đồng chí R à? Đồng chí ấy đã phục viên lâu rồi. Đồng chí bán nhà cho chúng tôi, xong, dọn hết về thủ đô. Thế... chị là gì của đồng chí ấy?
Bà H choáng váng mày mặt, chỉ còn kịp tỳ người vào trụ cổng để khỏi quị xuống. Tuy nhiên, bà vẫn nghe tiếng mình nói:
- Dạ... Tôi... À... Không!
Rồi câm luôn. Thấy bên ngoài làm thinh, bà người Bắc bỏ đi vào trong, nhưng vẫn nói vói ra:
- Đồng chí R hiện ở đâu, tôi cũng không biết. Thôi, chị về đi!
Phải một lúc lâu sau, bà H mới hoàn hồn. Bà đứng thẳng nhìn vào trong. Bà bỗng thấy bà đã biến thành một người khác. Một người cứng rắn hơn, lì lợm hơn. Một người sẽ dám nhìn thẳng vào mặt kẻ địch mà chửi như bà Năm cháo lòng. Ví dụ có người anh chồng đứng trước mặt bây giờ, bà sẽ xáng cho anh ta một bạt tai – điều mà trước đây bà chẳng bao giờ dám làm dám nghĩ!
Bà H vẫn đứng thẳng, nhìn vào trong. Mắt mở to, ráo hoảnh. Môi mím chặt. Tay bà vò nát cái thơ của chồng viết. Bà vò nó mà bà không hay! Bà chỉ cảm thấy một sự căm thù đang dâng lên làm bà trạo trực. Bà nghe buồn nôn!
Phải rồi! Bà muốn nôn mửa lên những giả dối gian manh mà bọn chúng nó thằng nào cũng có sẵn trong đầu. Bà muốn nôn mửa lên những lời lẽ giả nhân giả nghĩa mà bọn chúng nó thằng nào cũng có sẵn trên đầu môi chót lưỡi.
Bà muốn nôn mửa lên những thủ đoạn xảo quyệt được ngụy trang bởi những chiêu bài yêu nước thương dân, có nghĩa có tình... mà bọn chúng nó thằng nào cũng sẵn sàng hành động. Bà muốn... Bà muốn...
Bà H liệng cái thơ nhàu nát xuống đất, phun nước miếng nghe cái phụt một cách khinh bỉ, rồi cúi lượm cái nón lá bỏ rơi khi nãy đội lên đầu, đi thẳng.
Mấy năm sau, ông H vẫn "còn được cải tạo", bà H lâu lâu vẫn lặn lội đi thăm nuôi chồng, hai thằng con lớn vượt biên rồi định cư ở Úc, đứa con gái lấy chồng đánh cá ở Minh Hải, thằng con út cặp với con bạn cùng xóm mở quán cà phê vỉa hè cạnh hàng cháo của bà Năm. Còn bà Năm vẫn bán cháo lòng, lâu lâu vẫn chửi thằng con mà giống như bà chửi Nhà Nước!...

Posted: Wed Feb 01, 2012 7:54 am
by nguyenvsau
Khe Sanh, Bảo Tàng Thủy Quân Lục Chiến và 2 cựu sỹ quan ưu tú Mỹ Việt


Đại tá hồi hưu Dick Camp, người từng tham gia trận đánh ác liệt kéo dài nhiều tháng trời tại căn cứ Khe Sanh, hôm 12 tháng Giêng vừa rồi đã trực tiếp dẫn giải cuốn phim tài liệu Unsung Heroes: The Battle of Khe Sanh về trận chiến này tại viện Bảo tàng Thủy quân Lục chiến ở thị trấn Triangle, phía bắc bang Virginia, cách thủ đô Washington trên 30 dặm. Trong Câu Chuyện Nước Mỹ hôm nay, Lan Phương sẽ tường thuật buổi trò chuyện với ông về cuộc họp mặt tại viện Bảo Tàng chiếu cuốn phim tài liệu Unsung Heroes nói đến trận Khe Sanh đồng thời tìm hiểu thêm một số chi tiết qua cuộc điện đàm với cựu Đại tá Biệt Động Quân Hoàng Phổ của quân lực Việt Nam Cộng Hòa trước năm 1975, một người từng chiến đấu tại Khe Sanh ngày đó, hiện cư ngụ tại thị trấn Athens, bang Texas.

Lan Phương - VOA
Image
Hình: Wikimedia commons
Bản đồ phía bắc tỉnh Quảng Trị
Thoạt bước vào viện Bảo tàng khách sẽ thấy máy bay treo từ trần cao dòng xuống với những hình ảnh về thế chiến thứ hai, phi cơ trực thăng trong cuộc chiến Triều Tiên và nhiều hình ảnh các trận chiến khác mà thủy quân Lục Chiến Mỹ từng tham gia cho tới ngày nay. Cựu đại tá Thủy quân Lục Chiến Dick Camp, hiện là phó chủ tịch hoạt động của viện Bảo Tàng, giới thiệu:

"Viện Bảo Tàng Thủy quân Lục Chiến Quốc Gia được khánh thành ngày 10 tháng 11 năm 2006. Kể từ đó chúng tôi đã đón tiếp trên 2,6 triệu khách đến thăm, tính trung bình khoảng một nửa triệu khách mỗi năm. Viện Bảo tàng có chừng 17 ngàn mét vuông dùng làm nơi trưng bày, một rạp chiếu phim, một nhà hàng ăn và một tiệm bán quà lưu niệm. Theo tôi thì đây là một trong những bảo tàng viện hàng đầu trên thế giới.

Image
Courtesy of Col. Dick Camp
Cựu Đại Tá Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ Dick Camp, Phó Chủ tịch của viện Bảo Tàng
Vào thượng tuần tháng Giêng năm nay, Viện Bảo tàng tổ chức một cuộc họp mặt quan khách và các cựu chiến binh Mỹ từng tham gia trận Khe Sanh thuộc quận Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị, để ôn lại những ngày cũ và giải đáp những thắc mắc của quan khách. Cựu đại tá Thủy quân lục chiến Mỹ Dick Camp trình bày sơ lược buổi họp mặt :

"Chúng tôi có chừng 5 hay 6 cựu chiến binh từng tham gia trận chiến hiện diện. Quan khách có thể nói chuyện với họ hỏi về sự tham gia của họ như thế nào trong trận chiến, về những kinh nghiệm của họ trong trận tổng tấn công tết mậu thân năm 1968. Sau đó chúng tôi dùng bữa tối và rồi quan khách lại có thể đàm luận với các cựu chiến binh. Rồi chúng tôi vào phòng trưng bày, thực sự đi qua vị trí 881 South, một vị trí trên đồi tại Khe Sanh, để cho quan khách thấy Khe Sanh rõ ràng từ trên cao. Thế rồi chúng tôi vào rạp chiếu xem cuốn phim. Sau đó chúng tôi lại thảo luận thẳng thắn với nhau, với những câu trả lời trực tiếp từ các cựu chiến binh về chuyện gì đã diễn ra trong cuộc vây hãm và những kinh nghiệm của họ ra sao. Chúng tôi đã có một buổi tối thật hoàn hảo kéo dài từ 5 giờ đến 9 giờ tối."

Vào thời điểm trận Khe Sanh, ông Dick Camp là Đại úy đại đội trưởng thuộc Tiểu Đoàn 3, Trung đoàn 26 Thủy quân Lục Chiến. Ông đã có mặt tại Khe Sanh từ lúc căn cứ này bắt đầu bị quân số vô cùng đông đảo của địch quân bao vây suốt cho đến phút cuối, ngày 26 tháng Tư năm 1968. Ông cho biết cuốn phim gồm nhiều đoạn phim ngắn thực sự thu từ chiến trường với sự mô tả của Thủy quân Lục Chiến Mỹ về toàn cảnh trận chiến.

Lên tiếng về cuốn phim “Unsung Heroes: The Battle of Khe Sanh,” ông phát biểu:

"Tôi cho đây là một cuốn phim khá; nó không phải là một cuốn phim hay nhất về chiến trận mà tôi đã từng xem; nó có một số điểm không chính xác mà sau khi xem phim chúng tôi có bàn tới, và tôi đã từng trở lại Việt nam đến tận Khe Sanh, nên tôi có hiểu biết rất cập nhật và biết được những gì đang diễn tiến."

Khi trở về thăm Khe Sanh, cựu đại tá Dick Camp mang những hoài niệm về một thời khói lửa cũ, nơi mà hàng trăm đồng đội của ông đã gục ngã vì hỏa lực của địch quân. Ông cho biết khi cùng với dăm ba đồng đội trở lại Việt Nam năm 1998, người Việt Nam miền bắc tuy không thân thiện lắm nhưng không còn thái độ thù nghịch nữa. Ông có đi thăm Hà Nội rồi vào Huế, Khe Sanh, Đà Nẵng rồi về phía nam.

Khi được hỏi về tinh thần của những quân nhân Việt Nam Cộng Hòa cùng chiến đấu tại Khe Sanh ra sao, ông trả lời:

"Có một tiểu đoàn Biệt Động Quân của quân lực Việt Nam Cộng Hòa đến Khe Sanh trong lúc căn cứ bị bao vây và họ trấn giữ phòng tuyến phía đông ở vòng ngoài, sau lưng chúng tôi, tạo thành một bong bóng. Rất tiếc là chúng tôi trấn đóng phòng tuyến phía tây nên chẳng gặp một ai."

Trong số những người mà cựu đại tá Dick Camp cho là rất tiếc không được gặp tuy cũng hiện diện tại trận chiến này có cựu trung tá Biệt Động Quân Hoàng Phổ của lực lượng Việt Nam Cộng Hòa. Ông hiện cư ngụ tại thành phố Athens, bang Texas.

Trong lúc căn cứ Khe Sanh bắt đầu bị vây hãm, ông Hoàng Phổ là đại úy Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 37 Biệt Động Quân, đóng tại Đà Nẵng và tiểu đoàn được trực thăng vận tới tăng cường cho Khe Sanh vào khoảng cuối năm 1967, đầu năm 1968. Ông thuật lại rằng 2 tuần lễ sau khi tiểu đoàn ông tới nơi, địch quân phuơng bắc nã pháo liên hồi. Máy bay tiếp tế đành phải đáp thẳng xuống hất tiếp liệu ra ngoài rồi lại bay lên chứ không thể ngưng. Càng ngày địch quân càng pháo dữ dội và nhiều máy bay bị rơi đến nỗi về sau máy bay chỉ thả dù tiếp vận từ trên cao. Về tinh thần các binh sỹ trong tiểu đoàn, cựu Trung tá Hoàng Phổ cho biết:

Image
Courtesy of Lt. Col. Hoang Pho
Cựu Trung Tá Biệt Động Quân Hoàng Phổ

"Ngày đêm cộng sản pháo kích khiến tinh thần chúng tôi rất căng thẳng. Một ngày họ pháo gần 1 ngàn quả. Có một ngày họ pháo gần 1500 quả đủ loại. Ngày hôm đó kho đạn của trung đoàn 26 thủy quân lục chiến Mỹ bị nổ, phải mất khoảng 12 tiếng mới dập tắt được đám cháy kho đạn. Khoảng tháng hai, tháng ba trở đi, quân cộng sản Bắc Việt tấn công vào các vị trí phòng thủ của tiểu đoàn 37 Biệt động quân, tinh thần của chúng tôi rất căng thẳng, nhưng chúng tôi, sỹ quan, hạ sỹ quan và binh sỹ rất gan dạ và can đảm vì danh dự và sự sống còn mà chúng tôi phải chiến đấu để cố thủ những vị trí của chúng tôi."

Đại tá Dick Camp cho biết quân cộng sản Bắc Việt cũng chiến đấu rất dai dẳng. Bất chấp hỏa lực phòng vệ và yểm trợ của không lực Hoa Kỳ, họ cứ tiếp tục pháo kích, đào hào tiến gần hơn đến căn cứ. Ông không rõ là có bao nhiêu bắc quân đổ vào cuộc vây hãm đó nhưng theo ước tính con số có thể từ 20 đến 30 ngàn người.

Cuối cùng, Hoa Kỳ quyết định không giữ căn cứ này nữa, vì vị trí này dễ bị hỏa lực của địch tấn công; họ tiêu hủy những gì không mang theo được và triệt thoái binh sỹ.

Theo historynet.com, một phân tích trước đây được bảo mật do bộ chỉ huy quân đội Mỹ tại Việt Nam MACV soạn thảo cho tướng Westmoreland, tư lệnh các lực lượng Hoa Kỳ tại Việt Nam lúc đó, cho biết quân cộng sản Bắc Việt đã lập kế hoạch toan ồ ạt tấn công bằng bộ binh vào căn cứ này với sự yểm trợ của trọng pháo và thiết giáp, mong biến Khe Sanh thành một Điện Biên Phủ thứ hai, tuy nhiên vì thiệt hại nhân mạng quá cao, họ đành phải từ bỏ kế hoạch tấn công.

Thủy Quân lục chiến Mỹ dư biết là chuyện bỏ Khe Sanh sẽ là một lợi khí cho Hà Nội tuyên truyền là họ đã thắng lợi.

Tuy nhiên về phương diện chiến lược, việc binh sỹ Mỹ rút khỏi căn cứ này chẳng có mấy ý nghĩa. Một căn cứ chính khác lại được thiết lập cách đấy có mấy dặm trên đường số 9, về phía đông.

Các cuộc hành quân cơ động chiến đấu vẫn tiếp tục nhắm vào lực lượng cộng sản miền bắc. Lực lượng trinh sát Mỹ vẫn theo dõi đường mòn Hồ Chí Minh. Thủy quân Lục Chiến Mỹ và đồng minh tại Khe Sanh đã xáp chiến với hàng chục ngàn và tiêu diệt hàng ngàn quân cộng sản miền bắc trong khoảng thời gian nhiều tuần lễ.

Thực vậy, nếu các lực lượng đối phương không dồn vào Khe Sanh, lẽ ra họ đã có thể hợp sức với lực lượng Bắc quân và mặt trận Giải phóng miền nam xâm chiếm Huế, một mục tiêu quan trọng hơn Khe Sanh nhiều.

Tổn thất nhân mạng của phía Thủy quân lục chiến Mỹ và đồng minh khoảng trên 700 người, với chừng hơn 2.400 người bị thương. Về phía Bắc quân cộng sản, rất khó đưa ra con số chính xác, nhưng đại tá hồi hưu Dick Camp cho biết họ đã chịu tổn thất nhân mạng rất cao:

"Không ai biết được đích xác số thiệt hại nhân mạng của họ là bao nhiêu, như quí vị biết, họ nín khe, không nói về chuyện này, trừ mỗi việc nhận Khe Sanh là một chiến thắng lớn của họ. Nhưng theo ước tính thì có từ 10 đến 15 ngàn quân của lực lượng miền bắc đã bị hạ sát ở đó."

Còn về phần cựu Trung tá Hoàng Phổ khi hồi cố lại trận chiến bảo vệ Khe Sanh, ông nhắc đến vài điểm sáng vào thời điểm gian nan đó:

"Ông Chỉ huy trưởng Đại tá Trần Văn Hai có đến thăm chúng tôi lúc đó, và đó là một khích lệ tinh thần cho anh em chúng tôi. Một điểm vui cho chúng tôi là chúng tôi đã làm cho quân lực Việt Nam Cộng Hòa hãnh diện về sự chiến đấu can đảm và kinh nghiệm của các chiến sỹ Biệt Động quân chúng tôi."

Posted: Fri Feb 03, 2012 4:12 am
by tramthaiha

Image

PHI VỤ TỐNG LỆ CHÂN
Nguyễn Văn Ba
"Tống Lệ Chân", mới nghe qua, như tên người con gái Trung Hoa, có nhan sắc đẹp tuyệt vời, tài danh nổi bật, được ghi trong sử sách lưu truyền cho hậu thế!

Tôi không biết mỹ danh đó có từ lúc nào, xuất xứ từ đâu? Nhưng nó đã chiếm một vị trí chiến lược vô cùng quan trọng trong mùa Hè đỏ lửa 1972.

Nhiều sư đoàn chánh quy Bắc Việt được yểm trợ bởi chiến xa và đại pháo hạng nặng, ồ ạt tiến sang từ biên giới Campuchia và Hạ Lào, theo đường mòn Hồ Chí Minh, với mưu đồ đánh chiếm hai tỉnh Bình Long và Phước Long để thành lập chánh phủ gọi là "Mặt trận Giải phóng Miền Nam", gây hậu thuẫn quốc tế và đặt áp lực nặng nề cho chính phủ Việt Nam Cộng Hòa tại Sàigòn.

Tống Lệ Chân là một địa danh, hay đúng hơn là một ngọn đồi chiến luợc, khoảng hơn năm dặm về hướng Tây Nam của thành phố An Lộc.Ngọn đồi này nhờ nằm ở một địa thế cao, được trấn giữ bởi một tiểu đoàn Biệt Động Quân Việt Nam Cộng Hòa rất tinh nhuệ, nên nó chính là tai và mắt, không những cho thành phố An Lộc mà ngay cho chính thủ đô Sàigòn, vì nó kiểm soát được sự vận chuyển của bộ đội Bắc Việt và cơ giới chiến tranh, về hướng Tây Bắc Sàigòn, đưa quân vào Bình Dương, Lái Thiêu và Biên Hòa, nơi đặt Bộ Tư lệnh Vùng III Chiến Thuật. Vì lý do chiến thuật và toàn bộ chiến lược xâm chiếm miền Nam, nên ngọn đồi Tống Lệ Chân là cây gai nhọn nhức nhối trong nách, Cộng Sản phải nhổ nó đi bằng mọi giá.

Từ một ngọn đồi hiền lành, xung quanh bao bọc bởi rừng xanh bát ngát, dưới chân đồi một con suối uốn khúc quanh co, tô đậm nét như một bức tranh thủy mạc. Nếu không có trận chiến vừa qua, cũng chẳng có ai cần biết nó, như Ben Hét, Đức Cơ, Dakpek, Dakto..v..v...

Những địa danh thật xa lạ với mọi người dân thị thành, nhưng bỗng chốc, nó trở thành những danh xưng được nhắc nhở thường xuyên qua những trận đánh hãi hùng, khiếp đảm, hàng ngày trên báo chí, đài phát thanh, màn ảnh truyền hình, đã làm chấn động lương tâm thế giới.

Đã lâu lắm rồi, những vết tích tàn phá của chiến tranh trong trí nhớ gần như đi vào quên lãng. Nhưng chiều hôm nay nó được hâm nóng và sống lại trong tôi, vì tình cờ đã gặp lại những chiến hữu cùng một đơn vị sau hơn hai mươi năm dài đằng đẵng cách biệt.

Người hùng "Tống Lệ Chân", cựu Đại úy Lê Văn Cầu, Phi tuần Trưởng của Phi đoàn 237 Chinook, tôi không dùng đại danh hay ca tụng anh để lấy lòng, nhưng sự thật đã xảy ra cách đây trên hai thập niên vừa qua. Vẫn dáng người gầy gầy như ngày nào, nhưng không bao giờ thiếu nụ cười cỡi mở, buông thả trên gương mặt để đón chào anh em chiến hữu.

Gặp lại anh trong bữa tiệc họp mặt tại thành phố San Jose California, với một số anh em cựu Lôi Thanh như: Nguyễn Mai, Trần Duy Tôn, Lưu Thế Ngọc, Nguyễn Văn Tiên, Nguyễn Vũ, Nguyễn Văn Mai (Đà Nẵng), cùng hai phu nhân của hai anh Vũ và Mai. Thật sung sướng và hãnh diện, tôi được may mắn gặp lại anh em đã có một thời chiến đấu vào sinh ra tử có nhau, chia sẻ từ bịch gạo xấy, lon thịt heo ba lát, cùng ngồi ăn trưa dưới bụng tàu, trong những buổi trưa Hè nắng cháy của vùng hỏa tuyến Tây Ninh.

Bây giờ gặp lại các anh em ở vùng đất xa lạ này, chúng ta tuy có già thêm đôi chút, cuộc sống nhiều thay đổi hơn xưa, tuy vậy tình anh em vẫn nổng nàn, ấm áp như thuở nào.

Tôn vẫn tính nào tật nấy, hào hoa quá mức, Ngọc ăn chơi công tử, Vũ vẫn hoạt bát trẻ trung, Mai cứ ngỡ là tài tử Henry Chúc, Tiên mói sang nên còn nhiều ưu tư bỡ ngỡ. Niên truởng Mai cựu Phi đoàn Trưởng Đà Nẵng, mới về hưu ở hãng IBM, trông đạo mạo như cụ non, cần nhiều chất tươi để để tóc bớt rụng.!

Chúng tôi chia nhau chén tới chén lui, chén qua chén lại, từ ba giờ trưa mãi đến gần bảy giờ chiều, vì có nhiều anh em phải đi đám cưới chiều hôm đó nên chúng tôi tạm chia tay nhau, và hẹn sẽ gặp lại ở vũ trường Mini vào lúc chín giờ ba mươi tối.

Niên trưởng Mai đưa tôi về để thăm gia đình anh chị. Còn "chú Tư Cầu" về nhà rước vợ con sẽ tới sau.

Thật hạnh phúc và sung sướng không ai bằng, "chú Tư Cầu" được thím Tư vừa trẻ, vừa đẹp, về để giúp chú "nâng cằm sửa mũi..." và tặng cho chú hai cháu thật ngoan hiền, kháu khỉnh dễ thương. Lúc này niên trưởng Mai, có lẽ muốn dành sức lực để phục vụ bà xã tối nay, nên xin vào nghỉ lưng một tí, cón tôi với "chú Tư Cầu" ngồi lai rai nhậu tiếp dài dài, kể chuyện rên trời dưói biển, rồi đến chuyện hành quân ly kỳ, hấp dẫn của một thời "Dốc Sỏi" Biên Hòa.

Tôi biết Cầu từ ngày thành lập đệ nhất Phi đoàn Chinook Lôi Thanh 237, vào giữa khoảng năm 1970-1971, anh thuộc vào nhóm sĩ quan hoa tiêu trẻ, mới ra trường, chưa vợ con, rất hăng say hoạt động trong mọi công tác. Cón chúng tôi, lúc đó không đến nỗi già lắm, tuy nhiên đối với anh em thì được xếp vào lớp "lão làng".

Vào khoảng mùa Hè năm 1972, chiến trận ở vùng III Chiến Thuật càng ngày càng trở nên khốc liệt hơn, thành phố An Lộc chịu đựng hàng ngàn quả đạn pháo ngày đêm, nhà cửa, phố xá nát tan từng mảnh vụn, dân chúng đã bồng bế, dẫn dắt nhau, bỏ hết tài sản theo quốc lộ chạy về hướng Chơn Thành, về gần Sàigòn.

Tiền đồn Tống Lệ Chân được tủ thủ bởi khoảng một tiểu đoàn Biệt Động Quân, đã bị cô lập nhiều tuần bởi cả trung đoàn chính quy Bắc Việt, đang rình rập sát dưới chân đồi, trực thăng tải thương và tiếp tế bị hỏa tiễn tầm nhiệt SA-7 và súng phòng không đe dọa trầm trọng, không thể đáp được trong ban ngày, phi cơ vận tải C-130 thả dù thực phẩm, thuốc men, phần lớn đều bị gió đưa ra ngoài, vào vùng kiểm soát của địch.

Việt Cộng thường xuyên pháo kích, đại pháo cày nát gần trọc hết ngọn đồi, những chiến sĩ Mũ Nâu gan lì Việt Nam Cộng Hòa, núp trong những giao thông hào, sâu trong lòng đất như những con rắn độc, đã oai hùng, mảnh liệt đốn ngã những đợt tấn công biển người của Việt Cộng. Trung tá Ngôn, Chỉ huy Trưởng tiến đồn kêu gọi Không Quân cho trực thăng đưa quân vào tăng viện và chuyển bớt thương binh về bệnh viện để ông rảnh tay chiến đấu. Lệnh từ Tổng Tham mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đưa xuống Chuẩn tướng Tư lệnh Sư đoàn 3 Không Quân, yêu cầu cho trực thăng Chinook CH-47 - Phi đoàn 237 - thi hành phi vụ cảm tử này. Lôi Thanh I, Phi đoàn Trưởng, Phi đoàn 237 nhận đưọc mật lệnh, ông cho mở một cuộc họp kín, với sự có mặt đầy đủ một số anh em phi hành đã có nhiều kinh nghiệm chiến trận, để chọn người tình nguyện. Sau khi Lôi Thanh I tuyên bố lý do và cho biết mật lệnh, không khí trong phòng họp lúc đó trở nên cực kỳ im lặng, nặng nề và khó thở, không ai có một lời thêm bớt hay bình luận gì cả.

Tôi nhìn tất cả các anh em hoa tiêu và anh em hạ sĩ quan phi hành lòng chùng xuống, mắt mờ đi, tâm não hoàn toàn như tê dại, tự nhủ thầm:

- Người ta sắp bắt chúng tôi làm vật tế thần.

Thật ra tất cả anh em chúng tôi không phải là những người sợ chết hay muốn tránh né những phi vụ hiểm nguy, nhưng cái bực tức không nói lên được lúc đó là cấp chỉ huy đã không hiểu khả năng kỹ thuật cơ giới của một chiếc Chinook, hay vì sợ trách nhiệm nên xử dụng chúng tôi một cách sai lầm?... Cũng không thể dựa vào các yếu tố chiến tranh chính trị hay tâm lý chiến thuật nào khác để bào chữa cho phi vụ, vì nó có thể thực hiện được bằng trực thăng loại nhỏ UH-1, chở mỗi lần mười quân nhân va chọn thời gian đáp trong năm lần khác nhau. Loại trực thăng UH-1 được chế tạo dùng trong chiến thuật đạt yếu tố bất ngờ trong lòng địch, như chiến thuật "Diều Hâu", nó có khả năng xoay trở rất nhanh nhẹn, chỉ cần một thời gian, trong khảng năm giây đồng hồ, là có thể đổ được quân và đem được thương binh lên dễ dàng, ta có thể ước đoán tông số thời gian kể như nguy hiểm nhất, từ lúc vào bãi đáp cho đến khi rời khỏi vị trí một cách tương đối an toàn, chỉ tốn vào khoảng hai mươi giây đồng hồ là tối đa. So với một chiếc Chinook CH-47, thật to lớn kềnh càng, chở năm chục binh sĩ, khi hạ cánh với một tốc độ rất chậm, vào một tiền đồn trên đồi, không chỗ ẩn núp, diện tích bãi đáp không lớn hơn khuôn viên một căn nhà, xung quanh triền đồi toàn là quân chính quy Bắc Việt, núp dưới giao thông hào chằng chịt, với những đại liên phòng không tối tân của Nga Sô và Tiệp Khắc, hỏa tiễn SA-7, súng cối 82 ly, và đại pháo 122 ly, đã lấy tọa độ bãi đáp chính xác.

Tôi giả sử binh lính Việt Cộng có mù mắt, điếc tai, ngủ gục hết cả lũ, tính theo thời gian nhanh nhất, khi tàu giảm tốc độ vào cận tiến để chuẩn bị đáp an toàn cho năm mươi quân nhân chạy ra phía cửa sau đuôi và chờ khiên thương binh đưa vào, xong xuôi cất cánh, ra tới vị trí tương đối an toàn, ít ra cũng phải mất hết khoảng hai trăm giây đồng hồ. Nếu ta thử so sánh thời gian nguy hiểm trên vùng với chiếc phản lực cơ F-5, khi chúi xuống thả bom, xong kéo lên rời vị trí, chỉ trong tích tắc vài giây đồng hồ mà đôi khi còn bị bắn hạ bởi SA-7 hay đạn phòng không một cách dễ dàng, còn chiếc Chinook, to lớn gấp hai, ba lần, xoay trở rất chậm chạp, hai bên hông tàu mang cả chục ngàn lít xăng JP-4, chỉ cần một phát súng nhỏ, nhạy lửa là nó trở thành một cây đuốc khổng lồ, soi đường cho thần chết, không những thiêu mạng phi hành đoàn mà nó còn đốt cháy năm mươi quân nhân ngồi phía sau nữa.

Trong phạm vi bài này, tôi không có ý gián tiếp chỉ trích cá nhân bất cứ một cấp chỉ huy thừa hành nào cả, vì tôi biết lệnh từ trên tối cao đưa xuống, tôi chỉ đưa ra những dẫn chứng sai lầm về sự xử dụng kỹ thuật tác chiến cơ giới. Nhưng quân đội, lệnh là phải thi hành, nếu may mắn còn sống sót không tật nguyền hoặc sứt tay, gãy gọng là điều đáng mừng, phước đức ông bà để lại.

Một phút im lặng nghẹt thở trôi qua, như dò xét sự phản ứng của tất cả đoàn viên phi hành. Lôi Thanh I cho biết rằng đây là lệnh của thượng cấp đưa xuống, nếu không có người tình nguyện ông sẽ chỉ định người để thi hành phi vụ tối quan trọng này. Thời gian chậm chạp như muốn ngừng lại, tôi lên tiếng hỏi để biết nhiệm vụ chính của phi vụ dùng vào công việc gì?... Mặc dù tôi là Trưởng phòng Hành quân của phi đoàn lúc đó, nhưng ông ta cũng từ chối, cốt ý để bảo toàn bí mật cho bãi đáp. Khi Lôi Thanh I vừa dứt lời, tôi nhận thấy đại úy Lê Văn Cầu, phi đội trưởng Phi đội 1 ngồi bên ghế trái của tôi, đưa tay lên xin tình nguyện, tiếp theo là Đại úy Huỳnh Bá Hùng, phi đội trưởng Phi đội 2 cũng đưa tay tình nguyện. Bây giờ cần một cơ phi, xạ thủ và áp tải. Thượng sĩ Nguyễn Văn Tranh, Trung sĩ Nguyễn Văn Hoàng cũng đưa tay tình nguyện, tôi nhớ cũng còn nhiều anh em sĩ quan và hạ sĩ quan khác nữa cũng xin tình nguyện, nhưng sau cùng chỉ chọn được phi hành đoàn có đầy đủ khả năng như sau: Trưởng phi cơ cho phi vụ Đại úy Cầu, hoa tiêu phụ Đại úy Hùng, cơ phi Tượng sĩ Tranh, xạ thủ Trung sĩ Hoàng và áp tải viên tôi rất tiếc là không còn nhớ rõ tên anh.

Phiên họp kết thúc vào khoảng bốn giờ chiều, để bảo toàn bí mật phi vụ, lệnh phi đoàn cấm trại 100% cho tới khi nào công tác thi hành xong. Tôi đưa các anh em trong phi hành đoàn tình nguyện vào khu quán ăn của cư xá hạ sĩ quan trong căn cứ Không Quân để dùng cơm chiều.

Bảy giờ chiều ngày 26-12-1972, phi cơ được lệnh cất cánh từ phi trường Biên Hòa, liên lạc với C&C qua tần số vô tuyến FM, để đáp vào An Lộc nghe thuyết trình và nhận lệnh từ đơn vị bạn.

Trời cuối tháng vào mùa lễ Noel nên có vẻ tối sớm hơn thường lệ, những tia nắng hanh vàng đã bắt đầu nhạt dần, ở phía bên kia đầu phi đạo, sân bay đã vắng người qua lại, chỉ còn mình tôi lẻ loi đang ngồi đây để tiễn đưa anh em.

Trong trận thế chiến vừa qua, phi đội Thần Phong cảm tử của Nhật Hoàng trước khi cất cánh ra trận, được vinh dự đứng trước hàng quân uống cạn ly rượu "Sakê" hâm nóng, trao tặng từ một tướng lãnh cao cấp để rồi bay vào tử địa. Còn các anh bây giờ được ai tiễn, ai đưa? Hàng quân vinh dự nào đứng dàn chào để tiễn biệt các anh? Tôi biết các anh cũng chẳng cần những thứ rườm rà, màu mè đó, nhưng với ý chí và lòng dạ sắc son nguyện dâng hiến đời mình cho quê mẹ Việt Nam, nên các anh đã hy sinh tình nguyện chấp nhận phi vụ, đáp vào một nơi được gọi là "địa ngục trần gian".

Phi cơ đã mất hút, chìm vào bóng hoàng hôn về hướng Tây Bắc chân trời. Tôi lặng lẽ lái xe trở về phòng Hành quân Phi đoàn để theo dõi tin tức phi vụ, lòng lâm râm khấn vái cầu nguyện cho các anh đi được bình an...

Trách nhiệm phi vụ các anh chia đều cho nhau, Đại úy Cầu chỉ huy toàn diện, cũng như lo phần bay và điều khiển các cơ phận phi cơ. Đại úy Hùng lo phần vô tuyến, truyền tin liên lạc với C&C và đơn vị bạn, cũng như kiểm soát bản đồ, hướng bay và tọa độ hành quân, các anh em cơ phi, xạ thủ và áp tải giữ an ninh phía trong tàu và đồng thời kiểm soát, báo cáo các vị trí phòng không, SA-7 của Việt Cộng từ dưới bắn lên, để phi cơ tránh né cùng lúc xử dụng hỏa lực tối đa của hai khẩu đại liên, gắn hai bên thân tàu để làm áp lực địch.

Kim đồng hồ chỉ hơn tám giờ tối, phi cơ đã đến vùng chỉ định, bên ngoài chỉ còn lại là một màu đen, xung quanh là rừng núi âm u của đêm sau ngày Chúa Giáng sinh. Thành phố An Lộc hoàn toàn như một bóng ma trong đêm, không còn một ngọn đèn đường nào đứng vững hay được cháy sáng để ghi nhận là vị trí của một khu phố. Ngọn đồi Tống Lệ Chân cách đó không xa lắm nghe tiếng phi cơ bèn chớp đèn hiệu, không liên lạc được với C&C hai anh cứ ngỡ đó là thành phố An Lộc, nên cho phi cơ bay thẳng vào hướng có ánh đèn hiệu. Một phút sau, những tia chớp sáng không ngừng của đại liên phòng không từ dưới đất bắn lên như pháo bông ngày Tết, các anh mới nhận ra là đang bay hơi chệch về hướng Tống Lệ Chân. Đại úy Cầu bình tĩnh kéo nhanh cần lái về phía phải cho con tàu lướt nhanh ra khỏi tầm hỏa lực địch, cũng trong lúc đó Thượng sĩ Tranh báo cáo nhìn thấy đèn hiệu về hướng một giờ cách đó không xa lắm. Sau khi quan sát thật kỹ và liên lạc được với quân bạn, Đại úy Hùng OK, đưa ngón tay cái lên trời đồng ý cho Đại úy Cầu chuẩn bị cho phi cơ đáp xuống phía Nam của An Lộc.

Sau khi kiểm soát lại phi cơ, mọi sự đều an toàn, anh em phi hành đoàn được đưa vào bộ chỉ huy hành quân tiền phương để nghe thuyết trình phi vụ. Sĩ quan tình báo cho biết quân chính quy Bắc Việt được trang bị với đại liên phòng không đủ loại đang ẩn núp dưới các hầm hố xung quanh chân đồi, tin cũng cho biết thêm là chúng cũng có thể đã được trang bị hỏa tiễn tầm nhiệt SA-7 để chống lại các loại phi cơ chiến đấu của Không lực Việt Nam Cộng Hòa. Nhiệm vụ chính của phi vụ là chở năm chục lính Biệt Động Quân để tăng viện và thay thế những người ở quá lâu trong đó, đồng thời rước về một số thương binh, Phi vụ rất giản dị có thế thôi, nếu ở một vị trí nào khác thì công việc không có gì quan trọng hay đáng nói cả.

Giờ hẹn tại bãi đáp là đúng 12 giờ khuya. Trung tá Ngôn, Tiểu đoàn Trưởng Biệt Động Quân phải chuẩn bị sẵn sàng tại bãi đáp, đèn hiệu phải đặt dưới hầm trú ẩn để Việt Cộng khỏi nhìn thấy.

Phi hành đoàn họp nhau để bàn về kỹ thuật đáp và phân chia công việc cho mọi người. Tàu sẽ chở năm chục quân nhân với trang bị vũ khí đầy đủ, là một việc khó khăn cho hoa tiêu điều khiển phi cơ để tránh né đạn phòng không vì quá nặng nề, không xoay sở nhanh chóng được. Nếu bay sát ngọn cây với tốc độ thật nhanh, đột ngột từ phía chân đồi nhảy lên thẳng bãi đáp quá nhỏ, xung quanh là ụ súng của tiền đồn, thì là một chuyện không thể thực hiện được nhất là về ban đêm như tối hôm nay, chỉ có loại phi cơ nhỏ một cánh quạt như UH-1 hay H-34 là có thể thực hiện được lối bay nguy hiểm tránh phòng không này; như vậy chỉ còn lại một giải pháp cuối cùng là kỹ thuật đáp 360 độ. Cầu và Hùng đều đồng ý với lối bay này tuy nó rất là nguy hiểm, vì sẽ làm mồi cho súng phòng không, nhưng còn có cơ hội sống sót nhiều hơn là kỹ thuật bay "nhảy bổ" vào lúc ban đêm.

Đúng 11 giờ 45 khuya, trời bên ngoài tối om như mực, năm mươi quân nhân Biệt Động đã ngồi yên lặng trong lòng tàu. Đại úy Cầu cho quay máy chuẩn bị cất cánh, âm thanh phản lực của hai động cơ gắn phía sau hòa lẫn với tiếng cánh quạt quay đều trong gió, nghe như tiếng rống phẩn nộ của rừng xanh vang lên trong đêm khuya tĩnh mịch, Đại úy Hùng kiểm soát lại các tần số liên lạc với C&C và các danh hiệu đơn vị lần cuối, Thượng sĩ Tranh báo cáo cho Trưởng phi cơ tình trạng tàu tốt sẵn sàng cất cánh.

Hơn 11 giờ 50, C&C cho lệnh cất cánh lấy cao độ khoảng hai ngàn bộ, trực chỉ hướng Tây Nam vào thẳng Tống Lệ Chân. Đại úy Cầu ra lệnh cho Trung sĩ Hoàng lên đạn hai khẩu đại liên để sẵn sàng tác xạ. Đèn Navigation bên ngoài phi cơ đã tắt, chiếc phi cơ hiên ngang như một dũng tướng ngày xưa đơn thương độc mã tiến vào trận địa.

Đại úy Hùng chỉ về phía trước mặt đèn báo hiệu bãi đáp đã nhấp nháy dưới hầm, tiền đồn Tống Lệ Chân gần kề trước mặt.

- OK! "Pitch down"!

Toàn thân phi cơ như hụp xuống khỏi mặt nước, xoay tròn thật gắt 360 độ về phía trái như muốn vỡ tung, hết sức khó chịu vì sức rơi lúc đáp quá nhanh từ trên cao độ.

"Rầm... Rầm...!!!" Nhiều khối lửa to lớn đang chớp nhoáng phía dưới, chúng đang pháo kích vào bãi đáp. Địa ngục trần gian bắt đầu cơn bão lửa! Đạn phòng không dưới chân đồi đã tập trung giăng chằng chịt cả màn đêm, những viên đạn đỏ tươi như màu máu vọt lên đan vào nhau thành những tia sáng như hình rẻ quạt quét cả trọn vùng trời, nhắm về hướng phi cơ đang lơ lửng xoay tròn giữa không gian; vì trời quá tối nên nhiều trái sáng được địch quân bắn lên để cho chúng dễ dàng nhận diện phi cơ.

Dưới sức sáng nhân tạo của các trái hỏa châu, con tàu thật lẻ loi đơn độc không thể dấu mình trong màn đêm được nữa, đã gánh chịu hàng trăm viên đạn của loài quỷ đỏ hung hăng ghim vào thân xác như một con đại bàng bị tên trúng vào tử huyệt, nhưng oai hùng dang cánh thản nhiên đáp trên đầu địch.

Đại úy Hùng không còn liên lạc qua tần số vô tuyến với C&C được nữa, cơ phận phát điện bị trúng đạn phát hỏa, hệ thống thủy điều bị bể ống hoàn toàn ngưng hoạt động, cần lái bị "locked" chặt cứng không còn điều khiển được. Đại úy Cầu như tê dại nhìn thẳng phía trước, dùng hết sức còn lại với phản ứng tự nhiên của mình, cố điều khiển để cho con tàu rơi từ trên cao hơn 30 bộ xuống bãi đáp. Thân phi cơ chạm mạnh trên đất nhảy dựng trở lên, uốn mình như con khủng long hung hăng dãy chết, những cánh quạt phía trước chặt mạnh vào ụ súng của tiền đồn tan nát văng từng mảnh vụn. Lửa khói đã cuồn cuộn cháy ở phía sau đuôi, đạn súng cối, hỏa tiễn địch quân liên tiếp pháo vào, những chuỗi dài nối tiếp nhau chớp sáng của tạc đạn nổ long trời, cát bụi tung bay mù mịt cả bốn bề.

Con tàu sau vài giây đồng hồ mới chịu đứng yên, chấp nhận ngày cuối cùng của đời mãnh long trên ngọn đồi xa lạ này. Lửa đã cháy dữ dội hơn, một số Biệt Động Quân còn sống sót chạy tràn ngập ra phía trước phòng lái, tìm cách thoát ra ngoài. Đại úy Cầu cảm thấy đau đớn nhức nhối ở gót chân mặt nhưng vì sự sống còn, anh cố gắng lết ra từ phía bên trái cửa sổ phi cơ. Bên ghế phải Đại úy Hùng đang bị buộc chặt vì dây an toàn bị gãy chốt, ghì chặc anh vào thành ghế với áo giáp, súng đạn mang lỉnh kỉnh bên hông, lại bị lính Biệt Động Quân chen lấn thoát thân đè chặt anh xuống ghế, lửa đã cháy sát bên lưng, sức nóng hừng hực của cả ngàn lít dầu JP-4 táp vào mặt, anh cảm thấy gần như tuyệt vọng, trong lúc đó một anh lính Biệt Động sau cùng vừa trèo lên để chui ra thì bị một mảnh đạn pháo kích trúng vào đầu bị thương ngã người lại phía sau, tay anh lính níu chặt lấy chiếc gối nệm phía sau lưng Đại úy Hùng để khỏi ngã quỵ xuống sàn tàu, chiếc gối sút ra văng xuống theo tay anh lính. Nhờ cơ hội may mắn hiếm hoi này Đại úy Hùng lòn mình thoát ra được từ phía lỗ trống trên nóc phòng lái. Trung sĩ Hoàng nhờ Trời, Phật che chở nên chui ra ngoài được an toàn trước khi phi cơ phát nổ.

Tất cả những anh em thoát chết đều cố gắng bò nhanh xuống hầm trú ẩn gần đó, đạn pháo vẫn tiếp tục rú lên trong gió gây ra những âm thanh thật kỳ dị nghe như tiếng ma tru, quỷ rống rợn cả người. Lửa cháy phi cơ soi sáng cả góc trời, có lẽ giờ phút đó dưới chân đồi trong các hang hóc chằng chịt, loài quỷ đỏ đang ăn mừng nhảy múa bên các vong linh oan hồn mà chúng vừa mới sát hại.

Trung tá Ngôn cho anh em Biệt Động Quân ra khiêng Đại úy Cầu vào băng bó, kiểm điểm quân số phi hành đoàn không thấy Thượng sĩ Tranh, mọi người nghĩ rằng anh đã chết. Sáng hôm sau mọi việc tương đối yên lặng, anh em lần mò bò ra phi cơ để lấy xác vì có rất nhiều quân nhân Biệt Động đã bị súng phòng không của Việt Cộng bắn chết trong lúc đáp, cũng như bị thương chạy ra ngoài không được bị chết cháy trong tàu. Phi hành đoàn nhận diện được dấu tích của Thượng sĩ Tranh mặc dầu đã bị cháy tan biến, nhưng thẻ bài kim loại và súng đạn anh mang theo, cho biết rằng anh đang đứng gần cửa phía sau thân tàu, có thể anh bị đạn phòng không chết trước khi đáp. Đại úy Hùng thu nhận cẩn thận tất cả thân xác còn lại của anh chờ ngày mang về để mai táng.

Khoảng ba ngày sau, phi hành đoàn được báo là sẽ có một phi hành đoàn UH-1 vào rước về, mọi người thức suốt đêm chờ đợi sau cùng được báo là phi vụ cứu cấp bị lộ nên bải bỏ, không thể nào rước các anh ra được. Những giờ phút ở đây thật dài vô tận, những giấc ngủ chập chờn, tử thần luôn luôn rình rập, ranh giới giữa sự sống và chết gần như lẫn lộn không giới tuyến rõ rệt. Các anh lính Mũ Nâu anh hùng chiến đấu thật cô đơn, cam khổ, đạn pháo địch ngày đêm từng chập không ngơi nghỉ, tiếng trống, tiếng loa của loài quỷ đỏ vẫn hò hét, kêu gào dưới triền núi vọng lên như tiếng khóc than từ địa ngục. Những anh lính Biệt Động Việt Nam Cộng Hòa ngày đêm kìm chặt tay súng, núp sâu dưới lòng đất sẵn sàng đứng lên để đập vỡ cái mưu toan của chúng muốn biến nơi này thành mồ chôn tập thể.

Vào khoảng chín giờ tối của đêm thứ năm, Trung tá Ngôn cho phi hành đoàn biết lệnh mật từ Bộ chỉ huy Hành quân Không Quân là sẽ có người vào rước anh em trong giờ giao thừa của đầu năm Dương lịch. Mọi trách nhiệm và kế hoạch di tản được chuẩn bị đầy đủ. Trung sĩ Hoàng sẽ cõng Đại úy Cầu bị thương chân không đi được, Đại úy Hùng sẽ ôm xác Thượng sĩ Tranh cố gắng chạy nhanh ra tàu.

Bây giờ là 23 giờ 55 đêm 31-12-1972, chỉ còn năm phút nữa là một năm mới sẽ ra đời. Trong những giây phút thiêng liêng này ở các quốc gia khác, người ta đang hạnh phúc sung sướng bên những ly sâm-banh sùi bọt, những lời chúc an lành, những nụ hôn ấm cúng, những dạ hội, những vũ điệu, những bài ca gần như bất tận trong đêm nay. Còn tại nơi đây, nơi một quốc gia nhỏ bé, một tiền đồn heo hút nằm giữa rừng hoang vắng, nơi mà những căm thù được dựng lên bằng những suy luận vô lý của hai ý thức hệ ngoại lai.

Hởi những người Việt Nam da vàng máu đỏ, tại sao?... Và tại sao?...

Tiếng động cơ trực thăng đã bắt đầu nghe rõ từ hướng Đông Bắc, như một thiên thần từ trời cao đang ngang nhiên tiến vào chiến tuyến giữa đêm trừ tịch để cứu người lâm nạn. Đạn lửa phòng không nổ ròn như pháo Tết, hỏa tiễn ì ầm rơi vào bãi đáp. Cộng Sản đang làm lễ đăng quang để tiếp rước thiên thần đang giáng thế. Thật bình tĩnh với nụ cười ngạo mạn, Trung úy Phát tự "Phát Sứt", đã nhiều lần vào sinh ra tử khéo léo đặt con tàu vào bãi đáp một cách dễ dàng, bên ghế trái, hoa tiêu phụ là Trung úy Bằng, một cựu Biệt Động Quân Biên Phòng, một người anh hùng luôn luôn đặt nặng trách nhiệm và bổn phận của Tổ Quốc giao phó trước sự sống còn của đời mình.

Đạn pháo kích vẫn tiếp tục rơi tới tấp, những cái chớp nhoáng, lập lòe gây ra một thứ ánh sáng cực kỳ man rợ. Trung sĩ Hoàng hết sức khó khăn vất vã mới đưa được Đại úy Cầu lên tàu. Đại úy Hùng nhất quyết ôm chặt tro xác của Thượng sĩ Tranh lần mò chạy theo sau. Phi hành đoàn đã lên tàu đầy đủ. Trung úy Bằng đưa ngón tay lên trời ra dấu cho trưởng phi cơ Trung úy Phát sẵn sàng cất cánh. Như một con chiến mã thật hiên ngang nhảy vọt lên không trung, chỉ trong tích tắc sau đó đã lặng lẽ biến mình trong màn đêm dày đặc

Xin giã biệt Tống Lệ Chân, giã biệt những anh hùng Mũ Nâu Biệt Động. Qua tần số radio của đài phát thanh Sàigòn, chuông kiểng nhà thờ đã rộn rã khua lên từng hồi để chào đón một năm mới vừa ra đời.

Các anh: Cầu, Hùng, Hoàng và vong linh của Thượng sĩ Tranh, cũng như phi hành đoàn UH-1 cấp cứu, anh Phát, anh Bằng... Hôm nay tôi viết bài này để nhắc nhở những thành tích oanh liệt, can trường của các anh. Các anh là những anh hùng của Không Quân nói riêng và của Quân đội Việt Nam Cộng Hòa nói chung. Vì vận nước không may các anh đã chia tay nhau mỗi người mỗi nẻo khắp nơi trên thế giới, nhưng "tinh thần Tống Lệ Chân" của trên hai mươi ba năm về trước các anh đã thể hiện được tình huynh đệ chi binh, quên thân mình để cứu giúp đồng đội, chiến hữu. Tôi cầu nguyện và chúc lành các anh em gặp được nhiều may mắn và hạnh phúc trong quãng đời còn lại.

Riêng Thượng sĩ Tranh, tôi xin thành tâm khấn vái và cầu nguyện cho vong linh anh được yên lảnh trong thế giới vĩnh cửu, hãy vui trong giấc ngủ bình yên...

Cựu Lôi Thanh II
Phi đoàn 237
Nguyễn Văn Ba

Posted: Thu Feb 09, 2012 3:45 am
by nguyenvsau

Image

Chuyện Tình một SQ TQLC và người nữ chiến binh VC

Lê Văn Nguyên
TTHN nhận qua e-mail

Là một phi công biệt phái bay cho TL TQLC , tôi có dịp quen biết khá nhiều anh em TQLC , câu chuyện tình hi hữu của tác giả được truyền tai nhau giữa những người cùng trại giam sau năm 75 , một chuyện tình đượm nhiều éo le và nước mắt xen lẫn cái nhân bản của con người nằm hai bên chiến tuyến .
“Quân đưa chàng ruổi lên đường,
Liễu dương biết thiếp đoạn trường này chăng?”
( Trích Chinh Phụ Ngâm Khúc của Đặng trần Côn )

Chuyện Tình trong Chinh chiến thời nay cũng không kém mặn mà, thủy chung, đau khổ, đợi chờ mòn mỏi….Chính Phật Thích Ca từng dạy: ” Nếu nước mắt khổ đau của Chúng sinh chảy đầy biển lớn, thì trong đó nước mắt của Tình yêu góp phần không nhỏ”.

Xin giới thiệu cùng thân hữu hôm nay: Một chuyện Tình có thật trong thời ly loạn gần đây, do người trong cuộc kể lại, xem chữ Tình trong “Chinh Phụ Ngâm Khúc Tân Thời” là cái chi chi..:

“Tác giả là một Sĩ quan Thủy Quân Lục Chiến VNCH, định cư tại Hoa Kỳ theo diện HO-20. Bài viết của ông được một cựu đồng ngũ chuyển tới, với ghi chú : ĐÂY LÀ CÂU CHUYỆN THẬT. Thật nhưng khó tin: một cựu nữ chiến binh VC, nhiều năm sau chiến tranh, đi vào tận trại tù tìm thăm người sĩ quan VNCH cô từng gặp trên chiến trường, và rồi…”.

Thân mời quý vị cùng đọc :

Sau 3 ngày quần thảo ác liệt với địch quân, chúng tôi mới chiếm được mục tiêu, đơn vị chủ lực miền của địch thuộc tỉnh Bến Tre đã bị xóa sổ, nhưng tiểu đoàn của chúng tôi cũng bị thiệt hại khá caọ Trung đội 4 của tôi được lệnh bung rộng ra kiểm soát từng hầm hố, từng công sự của địch. Cảnh vật hoang tàn đổ nát,những thân cây dừa bị mảnh đạn pháo binh băm nát lỗ chỗ. Hầu như không còn chỗ nào nguyên vẹn, mùi thuốc súng nồng nặc khó chịu vẫn còn vương lại nơi đâỵ Tôi với Kính, người mang máy truyền tin, cẩn thận từng bước trên bờ mương nhỏ. Chợt Kính nói nhỏ:

- Ông thầy! Coi chừng hình như có người trong lùm cây đàng kia.
- Tản rộng ra, theo dõi kỹ chung quanh và coi chừng đồ chơi của tụi nó.

Tôi ra lệnh cho Kính xong là lom khom phóng qua những thân cây nằm ngổn ngang trên mặt đất, khẩu M16 lên đạn sẳn sàng, Kính theo kế bên hông. Tiếng rên nho nhỏ của phụ nữ văng vẳng ra từ trong lùm cây rậm rạp.

- Một đồng chí nữ nhà ta đấy. Kính reo nho nhỏ.

Kinh nghiệm chiến trận cho tôi biết không bao giờ hấp tấp trước mọi tình huống, có thể địch gài mìn bẫy xung quanh, hoặc gỉa vờ bị thương để dẫn dụ đối phương tới gần rồi sát hại. Dơ ngón tay ra hiệu lệnh và chỉ vào lùm cây, tôi quan sát lần nữa rồi rón rén bước nhẹ, đằng kia thằng Kính lăm le khẩu súng trên tay trông chừng. Tôi lấy mũi súng vạch đám lá, một cô gái trạc độ 18,19 tuổi nằm gối đầu lên chiếc ba-lô mầu “cứt ngựa”, vai trái bị trúng đạn máu tuôn ra ướt đẫm, mắt nhắm nghiền nhưng miệng vẩn không ngớt rên rỉ:

- Nước…Nước..cho tôi miếng nước”.

Trước tình trạng nguy hiểm đến tính mạng của “cô” địch quân sau khi ngừng tiếng súng, việc đầu tiên là phải cầm máu, tôi lấy băng cá nhân lau nhẹ trên vết thương, đoạn dùng lưỡi lê cắt khoảng áo trên vai, đỡ cô ngồi dựa vào người tôi đoạn bảo Kính:

- Mày băng dùm cho tao, nhớ nhẹ taỵ
- Ông nhân từ quá, gặp em con nhỏ này tiêu đời. Kính vừa băng vừa cằn nhằn.

Tôi im lặng không nói gì, Kính nói đúng, những người lính của tôi đã ngã xuống, máu của họ đổ ra cho sự Tự do, người Cộng Sản có nhân từ với người anh em của tôi không?

- Nước… Cho tôi xin miếng …..nước.
- Đ. Mẹ … Câm miệng lại.

Kính quát tháo giận dữ, tôi lừ mắt nhìn người đệ tử ra vẻ không hài lòng.

- Mày đừng nói như vậy, với một người sắp sửa chết mình đừng nuôi thù hận nữa. Thôi mày ra ngoài trông chừng cho tao đi.

Tôi lấy cái khăn màu tím cột trên vai áo, dấu hiệu nhận diện của đơn vị, thấm chút nước rót từ bình tông lau nhẹ trên mặt cô gái. Tôi ngẩn người trong giây lát vì sắc đẹp của cô, khuôn mặt thanh tú với hàng mi cong vút nhất là sống mũi cao nôm cô phảng phất như minh tinh màn bạc dù trắng xanh vì mất máu nhưng cô ta vẫn có nét thu hút đặc biệt. Ghé bình tông nước vào miệng cô gái, tôi nói nhỏ:

- Cô uống đi, nhớ từ từ từng chút một.

Cô ngoan ngoãn nghe lời như một em bé. “Cám ơn ông nhìều”. Giọng nói yếu ớt và mệt mỏi.

- Tôi sẽ tiêm cho cô 2 mũi thuốc trụ sinh và cầm máu, cố chịu đau nghe.
- Không cần đâu, làm phiền ông nhiều rồi, vả lại tôi cũng sắp chết đến nơi.
- Bậy bạ, vết thương này đâu có gì nguy hiểm.
- Đừng an ủi như vậy, hồi nãy ông nói tôi sắp chết đừng nuôi hận thù nữa.
- Tại vì…Tại vì…Tôi không muốn lính của mình ăn nói kỳ cục như vậy.

Cô gái mở mắt nhìn tôi với vẻ cám ơn, trong đáy mắt chứa nhiều điều muốn nói, lâu lắm cô nói thều thào:

- Bây giờ ông sẽ làm gì với tôỉ…Bắn một phát súng có lẽ nhẹ nhàng hơn là giao tôi cho cơ quan điều tra.

Thật tình tôi không biết trả lời sao với cô, chưa kịp phản ứng thì cô tiếp:

- Tôi sinh ra ở miền đất mênh mông sông nước, hãy để thân xác này vùi dập nơi đây. Xin ông đừng giao cho ai hết. Tôi van xin ông.
- Thôi được rồi, tôi sẽ làm theo lời yêu cầu của cô. Nhưng trước nhất hãy để tôi tiêm thuốc cái đã đừng bướng bỉnh như vậy.

Cô gật nhẹ đầu mà không nói lời nào. Kéo ống tay áo lên, lộ làn da trắng nõn nà, tôi chăm chú chích mũi Penicilline mà không thấy má của cô thoáng đỏ vì hổ thẹn mà chỉ thấy cô nhăn nhó suýt soa vì đau, tôi bật cười:

- Đi lính bị thương, bị bắn không đau, chỉ có mũi kim bé tí tẹo mà cô nhăn nhó, rên rỉ như….
- Sao không đau, ông ăn nói… như khỉ chứ gì?

Cô cướp lời, tôi cười trừ, đỡ cô gái nằm xuống ngay ngắn trên mấy tầu lá chuối, rồi tôi đứng dậy cầm cây súng lên đạn .. rồi lấy trong ba-lô mấy hộp lương khô, bình nước đầy và cuộn băng cứu thương, tất cả đặt bên cạnh cô rồi nghiêm nghị nói:

- Đơn vị tôi sẽ di chuyển đi nơi khác bất cứ lúc nào để tìm các đồng chí của cô, nhưng những thứ nầy cần thiết cho cô, tôi hy vọng người của cô sẽ trở lại tìm và cứu sống đồng đội của mình.

Tôi lấy khăn nhúng nước lau mặt cho cô đoạn cẩn thận lấy mấy tàu lá dừa che kín lại.

- Này… Ông tên là gì vậỷ
- Có quan trọng lắm không?
- Ít ra sống hay chết tôi còn biết tên người đã đối xử tốt với mình chứ.
- Vậy thì cô nói với Diêm Vương gã đó là Lam, Trần Hoài Lam, và cô xin với ổng cho tôi tai qua nạn khỏi trong chiến tranh này.

Tôi nghe tiếng cô cười nhỏ cùng tiếng nói thật nhẹ:

- Dạ, Quyên đêm nào cũng sẽ cầu nguyện cho ông Lam tai qua nạn khỏi.

Quyên, người con gái mà tôi gặp gỡ một lần, và chỉ một lần duy nhất trong cuộc đời kế từ đó. Bước chân người lính như tôi đã qua mọi đoạn đường đất nước, những trận đánh đẫm máu bằng cái chết của đôi bên lên rất cao. Vài lần bị thương nặng nhẹ nhưng tính mạng vẫn còn giử được, phải chăng Quyên hằng đêm cầu nguyện cho tôi được tai qua nạn khỏi như nàng đã hứa.

Đất nước thanh bình, tiếng súng lặng im, nhưng những người được gọi là sĩ quan QLVNCH như tôi và bạn bè khác không được thở hít không khí hòa bình ấy, sau bao năm trăn trở với chiến tranh, tất cả đi vào trại “cải tạo”, một danh từ mỹ miều nhưng thực chất là đầy đọa, là giết lần mòn chúng tôi. Tôi bất lực nhìn bạn bè ngã xuống, đói, bệnh hoạn, đày đọa, khủng bố, đánh đập!

Thân xác anh em chúng tôi bị vùi dập ở nơi núi rừng hiu quạnh, ở hốc núi đen tối ngàn trùng. Tôi lặng lẽ sống như cái bóng tinh thần vững vàng, nhưng thể xác thì suy sụp nặng nề, bám víu ý nghĩ duy nhất “Trả nợ oan gia binh nghiệp”. Phải, sinh ra người lính thì chấp nhận mọi gian nguy may rủi về mình.

Ngày hôm ấy, trại Bù Gia Mập, nơi tôi đang “lao động là vinh quang” có cơn bão rừng rất lớn, mọi người được phép nghỉ tại lán. Anh Đan, khối trưởng nhận thư từ quản giáo phân phát cho anh em. Là một kẻ không thân nhân, không họ hàng, tôi lảng đi nơi khác cho đỡ tủi thân.

- Trần Hoài Lam có thư.

Cả phòng xôn xao ngạc nhiên vì ai cũng biết tôi là thằng “mồ côi”, là “con bà Phước”, danh từ ám chỉ những kẻ không có ai thăm viếng lẫn thư từ. Rất ngạc nhiên tôi nghĩ thầm trong bụng có lẽ trùng tên với một người nào đó nên im lặng.

- Trần Hòai Lam có thư.

Người khối trưởng lập lại với vẻ khó chịu.
Tôi dè dặt bước tới trong trạng thái hoang mang.

- Có thật là của tôi không anh Đan?
- Tên anh rành rành trên phong bì làm sao sai được, thôi nhận đi cho tôi còn làm việc, nếu có sai thì cho tôi biết.

Cầm lá thư tôi lật qua lật lại, xem kỹ có phải đúng tên mình không. Hoàn toàn đúng nhưng tuồng chữ lạ hoắc và cái tên cũng chưa bao nghe qua, nhưng một điều chắc chắn người viết là phái nữ, nét chữ mềm mại thẳng đứng nhưng rõ ràng. Trần Hoài Quyên, thật là lạ, trùng họ, trùng chữ lót, chỉ khác tên. Tôi tứ cố vô thân làm gì có họ hàng. Tôi đọc:

“Anh Lam!

Có lẽ anh ngạc nhiên lúc nhận thư của Quyên, người con gái xa lạ gởi đến cho mình, nhưng khi em nói câu này chắc chắn anh hình dung Quyên là ai:

“Đi lính bị thương, bị bắn không đau, chỉ mủi kim bé tí teo này mà nhăn nhó rên rỉ như…”.

Đọc mấy dòng chữ trên, tôi lặng người rất lâu, bàng hoàng và xúc động hơn bao giờ hết khi nhớ lại trong trận đánh ấy, một nữ VC khuôn mặt bê bết sình đất, tóc tai rũ rượi gối đầu trên ba lô nhỏ, ánh mắt thất thần khi tôi đến gần rồi nhẹ nhàng lấy khăn lau cho cô, khuôn mặt thiên thần trong sáng hiện ra. Cô viết tiếp:

- Đúng như anh nói, đêm hôm ấy đồng đội đã mang em ra khỏi nơi mù mịt khói lửa và chữa trị ở bệnh viện Trung Ương, sau khi rời khỏi bệnh viện, em xin về đơn vị ngành để họat động, không còn muốn tham gia vào nơi lửa đạn nữa. Từng là chiến sĩ xuất sắc trong khu, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, vậy mà thoái lui về hậu phương, kỳ lạ quá phải không anh Lam? Chính anh đã làm thay đổi lập trường của em. Những người đối đầu không hẳn đều tàn ác, bằng chứng là anh. Anh đối xử thật tốt, thật nhân đạo với kẻ thù, dù rằng thuộc hạ của anh nói đúng, không biết bao người đã ngã xuống vì những viên đạn của kẻ địch, mà có thể trong đó có cả em bắn ra.

Hòa Bình tái lập em không vui vì còn hận thù, vay nợ máu phải trả, phương châm của bạn bè, cấp lãnh đạo đề ra. Em rất buồn vì biết anh đang đi vào ngõ cụt, không lối thoát, con đường đi đến cái chết. Như đã nói, từ sau ngày bị thương, em ra khỏi cuộc chơi, không muốn dính líu đến thù hận nữa, bàng quan trước mọi việc, nhưng không thể nào quên anh, em đã cậy cục, tìm kiếm tin tức của anh qua các trại học tập. Trời không phụ lòng người, rốt cục em cũng tìm ra anh. Anh Lam! Còn nhớ những gì em đã nói trước khi anh từ gĩa ra đi không?

“Quyên đêm nào cũng sẽ cầu nguyện cho ông Lam tai qua nạn khỏi”.

Em đã cầu nguyện như vậy mỗi đêm để ơn trên ban mọi điều lành đến cho anh tai qua nạn khỏi đúng như lời đã hứa. Em đang thu xếp công việc để đến thăm anh kỳ tới. Mong được găp lại anh. Hy vọng đừng làm mặt lạ với Quyên.

Từ đó tôi không còn là người cô độc nữa, Quyên thăm đều đặn, lần nào cũng khóc, giọt nước mắt long lanh trên má làm tôi xúc động muốn khóc theo. Ân tình của em làm sao tôi báo đáp cho nổi! Thôi thì chỉ còn cách là…

Trên đất tị nạn, Quyên bây giờ là mẹ của bầy con 3 đứa kháu khỉnh, xinh đẹp. Em chu toàn nhiệm vụ của người vợ hiền, người mẹ nhân ái. Sống ở xứ người văn minh tân tiến nhưng Quyên vẫn là của tôi dạo nào, vẫn áo bà ba và sợi thung buộc trên tóc. Những đêm con cái ngon giấc, em qua nằm kế bên tôi thủ thỉ trò chuyện tâm sự:


- Quyên à, em thương anh từ lúc nào.
- Kỳ cục, ai mà nhớ, hỏi bậy bạ không à”. Em mắc cở phụng phịu.
- Vậy thì thôi anh không hỏi nữa. Tôi làm bộ giận dỗi quay mặt đi nơi khác. Cô lật đật nắm lấy tay tôi năn nỉ:
- Thôi đừng giận nữa, em nói, nhưng cấm không được cười à nha…

Quyên bắt tôi thề thốt đủ mọi điều rồi mới nói:


- Em yêu từ lúc anh kéo tay áo lên để tiêm thuốc. Mắc cở muốn chết, đã vậy còn ghẹo người ta này nọ. Anh biết không, cái khăn màu tím ngày đó anh lau mặt cho em, em giữ mãi trong người, đi đâu cũng xếp lại bỏ vào túi áo, lâu lâu mở ra xem sợ rớt mất.

Cảm động tôi hôn lên trán vợ, không ngờ cô yêu thương tôi đến như vậy.


- Anh biết không, có một hôm em giặt xong phơi ở hàng rào gió thổi mất tiêu.
Trời đất, em khóc mấy ngày trời, bỏ ăn, bỏ ngủ, đi tìm nó. Không hiểu sao nó lại về với em, đứa bạn nhặt được mang trả lại. Nó nói cái khăn này bay tới tận khu ủy, cách đó gần 5 cây số. Em tin rằng anh luôn luôn bên cạnh để giúp em vượt qua nguy hiểm. Hôm bị thương nếu gặp người khác có lẽ cuộc đời của em không biết ra sao. Có lẽ bị chết không chừng.

Quyên ngủ say bên vai tôi, tiếng thở nhẹ nhàng êm ái. Một điều huyền diệu khó tin nhưng thật sự là vậy. Phải chăng duyên số đưa đẩy để tôi gặp em trong hoàn cảnh đó. Đúng như Quyên nói, nếu gặp người khác em có thể bị bắn chết hoặc chết vì vết thương. Hôn lên trán vợ, tôi thì thầm:


- Duyên nợ trời định em ạ.

Bên vai tôi, Quyên ngủ ngon lành khuôn mặt thiên thần không gợn chút bụi trần.

Mũ Xanh Hắc Long Lê Văn Nguyên
Chicago, 26- 6 -2010

Posted: Sat Feb 11, 2012 7:28 am
by khieulong
Cuối Trời Thênh Thang
(Thay vòng hoa tiếc thương Phạm Vương Thục)

“Những sớm mai lửa đạn
Những máu xương chập chùng,
Xin cho một người vừa nằm xuống
thấy bóng Thiên đường cuối trời thênh thang”
TCS

Image

Đã lâu lắm, kể từ buổi trưa u buồn ngày 30/4/75, khi nghe Trịnh Công Sơn hát bài Nối Vòng Tay Lớn trên đài phát thanh Sài gòn, đón mừng những người CS vừa cưỡng chiếm miền Nam, tôi không còn hứng thú để hát nhạc của ông, dù có nhiều bản tình ca tôi từng một thời ưa thích, bỗng dưng chiều nay buột miệng hát lên mấy câu trong bài hát khá xa xưa mà tôi đã quên mất vài lời, khi nghe Bác sĩ Ngô Thế Khanh và cô bạn Phạm Thu Đào báo tin Phạm Vương Thục vừa mới ra đi. Dù đã biết trước điều đau đớn này rồi sẽ xảy ra, tôi vẫn bàng hoàng, có cảm giác cả bầu trời trước mặt và ngay chính trong lòng mình như chỉ còn là một khoảng trống bao la. Tôi hình dung người lead gun phương phi của Phi Đoàn Song Chùy 213 hào hùng ngày nào trên bầu trời khói lửa Vùng I, Hạ Lào, giờ thực sự đang lặng lẽ bay về cuối trời thênh thang. Tôi mơ hồ như văng vẳng đâu đây dư âm của cánh quạt trực thăng vần vũ và tiếng đạn minigun, rocket từng tràng phóng xuống, thét gào, cuồng nộ. Rồi tất cả bỗng lặng yên, tĩnh mịch.

Tôi biết và quen Thục chưa lâu lắm. Câu chuyện “Trên Chiến Trường Xưa” viết về người phi công can trường Phạm Văn Thặng – bào huynh kính yêu của Thục – gãy cánh vào một buổi chiều mùa hè 72 trên vòm trời lửa đạn Kontum trong một phi vụ yểm trợ cho chính đơn vị tôi, đã bắc nhịp cầu cho Thục và tôi cái duyên hạnh ngộ. Những giọt nước mắt của Thục trong lần đầu gặp nhau hôm ấy, làm tôi thực sự cảm động về nghĩa tình đệ huynh của gia đình họ Phạm. Sau đó quen và được gần gũi Thục hơn, mỗi ngày hình ảnh của anh càng in đậm nét trong lòng tôi. Trong con người cao lớn oai phong với hàm râu quai nón, trên đầu lúc nào cũng đội chiếc bê rê đen, hay mũ lưỡi trai nhà binh, trông như một chàng giang hồ lãng tử, lại là một tâm hồn đa cảm hiền hòa, lúc nào cũng mở trọn vòng tay yêu thương và trái tim nhân nghĩa với tất cả anh em, bằng hữu. Phạm Vương Thục là điển hình của một người bạn chân tình tri kỷ. Khó mà tìm ở anh bất cứ một điều gì để có thể không yêu thương, không quí mến. Ở anh, toát lên một nghĩa khí chứa chan hào hiệp ân tình. Mỗi lần nhìn nụ cười niềm nở thánh thiện của anh, trong lòng tôi mơ hồ như đang nở ra bao đóa hoa nhân ái.

Mấy ngày đầu năm Nhâm Thìn trời Cali bỗng dưng trở lạnh. Không khí rộn rịp của các Hội Tết, tiệc tùng Họp Mặt Tân Niên dường như không làm tan đi được áng sương mù ảm đạm trong lòng những người yêu thương Thục. Bạn bè của Thục ở khắp Cali và ở khắp nơi đã dành những ngày Tết cầu nguyện cho Thục.

Từ Bắc Âu tôi đến Cali vào cuối tháng 10. Chưa kịp phôn cho Thục thì anh đã gọi thăm. Anh bảo vừa mới gởi cho vợ chồng tôi thiệp cưới của cháu Phạm Hưng Quốc, cậu con trai cưng quí. Thiệp mời bị bưu điện trả lại vì thiếu số Unit. Nhà chúng tôi ở trong một khu condo. Thục hỏi xin tôi số Unit để gởi lại. Tôi bảo: không cần gởi làm gì cho mất công, bạn chỉ cho tôi biết tên nhà hàng và ngày giờ, nhất định chúng tôi sẽ đến chung vui với ông bà. Thục cười. Sau tiếng cười rộn rã, Thục bảo:
- Tôi mời anh chị, nhưng không chắc tôi sẽ có mặt trong ngày đám cưới cháu. Nhưng dù có tôi hay không, nhất định anh chị phải đến chung vui với gia đình tôi và hai cháu nghe!
Tôi ngạc nhiên:
- Đám cưới con trai cưng mà ông bỏ đi đâu, đừng có đùa cha nội!
Tôi lại nghe tiếng Thục cười, điềm tĩnh:
- Tôi bị cancer gan và mật, coi bộ kẹt lắm! Ngày mai đi bệnh viện chụp hình và lấy test lại để bác sĩ chuyên khoa quyết định phải làm gì.
Im lặng bàng hoàng giây lát, tôi chỉ còn biết trấn an và chúc anh mọi điều may mắn.
Hai hôm sau, nhận điện thoại của Thục, tôi vừa mừng vừa lo. Anh vẫn cười, giọng bình thản:
- Thục đang nằm bệnh viện Kaiser Permanente ở Irvine, phòng 312. Anh có rảnh chạy xuống nói chuyện chơi!
Tôi báo cho Thục biết là tôi sẽ đến ngay với một người bạn. Khoảng 30 phút nữa sẽ gặp Thục. Ở xa đến, không quen đường, chúng tôi bị lạc trên xa lộ 405. Hơn 45 phút sau, Thục gọi lại hỏi tôi đang ở đâu, vì biết tôi bị lạc đường. Nghe giọng Thục hơi yếu. Anh bảo khá mệt, rồi đưa điện thoại cho chị Thục chỉ đường.

Thục nằm trên giường bệnh. Tôi thoáng hốt hoảng khi trông anh tiều tụy, gầy đi nhiều lắm, đang được chuyền sérum và hai ống cao su nhỏ dẫn dưỡng khí vào lỗ mũi. Thục giải thích: tự dưng ruột của anh bị xoắn lại, nên bác sĩ không cho ăn uống gì cả, để ruột được giãn ra, trước khi có thể tiếp tục điều trị cancer bằng các phương pháp khác. Do vậy anh bị yếu sức. Vậy mà gặp tôi, anh rất vui, cầm chặt tay tôi, miệng vẫn cười niềm nở như bao lần gặp nhau, như chưa hề có điều gì phải ưu tư lo lắng. Anh say sưa hết kể về bệnh tình lại sang chuyện bay bổng ngày nào trên chiến trường xưa. Tôi mang theo mấy tờ báo có bài viết của tôi, theo lời dặn của anh, nhưng tôi biết vào lúc này anh không thể nào đọc được. Chị Thục ngồi bên cạnh. Thật tôi nghiệp, cũng tiều tụy hốc hác vì đã lo lắng, chia sẻ nhọc nhằn đau đớn cùng chồng. Chị luôn ở bên anh, nhiều đêm thức trắng.

Ngại anh mệt, tôi định cáo từ, nhưng anh vẫn nắm chặt tay tôi, đôi mắt mệt mỏi bỗng sáng lên, say mê kể lại trận chiến Hạ Lào, Lam Sơn 719, khi ấy anh đang là lead gun của Phi Đoàn 213, gần như mỗi ngày đều có mặt trên vùng trời trận mạc, trong tầm ngắm của đám phòng không địch dày đặc giữa trùng điệp núi rừng. Tôi hiểu được là anh đang trở về với thời quá khứ đẹp đẽ nhất trong đời mình. Một thoáng hạnh phúc hiện lên trên khuôn mặt đã gầy đi vì bệnh hoạn. Tôi ngồi nán lại, với ý nghĩ là để anh tiếp tục cái giây phút hạnh phúc hiếm hoi này mà quên bớt những điều trước mặt.

Khi chào anh và chị Thục, bước ra, tôi thấy anh vẫn nở nụ cười thanh thản. Cũng như lúc kể cho chúng tôi nghe về căn bệnh trầm kha, anh bình tâm như những lần nhìn thấy hỏa tiễn SA-7 đang bay về hướng anh, hay những lần phi cơ trúng đạn, anh phải đáp khẩn cấp xuống các căn cứ hỏa lực đang bị địch quân vây khốn. Có lần anh tâm tình:
- Chữa được thì tốt, không được Thục cũng vui vẻ mà chấp nhận thôi. Bao nhiêu năm vào sinh ra tử mà còn sống tới hôm nay, coi như đã được Chúa thương, cho hưởng nhiều bonus lắm rồi. Thục luôn sẵn sàng vâng theo ý Chúa! Thục sống trong niềm tin Chúa Kitô phục sinh, nên được Chúa gọi về là một niềm hạnh phúc.

Tôi là người ngoại đạo, và chưa trải qua cái giờ phút nằm đợi chờ bên bờ sinh tử, nên không biết cảm giác của mình khi ấy ra sao. Có đủ đức tin, can đảm và bình thản như Thục không? Nhưng tôi chưa thấy một người nào có được cái tâm thanh thản, vui vẻ như Thục trong thời điểm đặc biệt này. Thì ra trong con người can trường, nhân hậu ấy, còn có rất nhiều đức tính và nhất định hơn hẳn tôi ở cái “Ngộ Đạo Đất Trời”. Anh xứng đáng là một tín đồ ngoan đạo, hằng sống với đức tin mãnh liệt vào Đức Kitô.

Mấy hôm sau, một số độc giả đọc được tin và những tâm nguyện sau cùng của Phạm Vương Thục trên trang Cánh Thép, liên lạc tôi, xin cho biết tên Thánh của Thục để cầu nguyện cho anh. Tôi gọi vào cellphone của anh nhưng nghĩ là chị Thục sẽ bốc điện thoại. Sau một hồi chuông reo, tôi bất ngờ nghe tiếng Thục. Yếu ớt, thì thào. Anh bảo là đang nằm ở nhà, mệt lắm, rồi đọc cho tôi tên Thánh. Tôi xúc động, không biết nói lời gì. Và mặc dù không nghe rõ, nhưng tôi không dám hỏi lại anh. Nửa giờ sau, tôi gọi điện thoại nhà, chị Thục bốc máy, đọc lại tên Thánh “Bartholomew” của Thục và cho tôi biết: “anh Thục yếu và mệt lắm, nhưng nghe có anh gọi, đã dành lấy điện thoại để nói chuyện với anh”. Tôi nghẹn ngào xúc động. Tôi chỉ là một người bạn sơ giao, mà anh Thục đã chí tình như thế đó, làm sao tôi có thể ngăn được dòng nước mắt?

Anh nhắm mắt lúc 9 giờ 55 sáng ngày 29/1 trước khi tâm tình dặn dò vợ con bằng hữu. Anh đã chuẩn bị xong cả phần xác lẫn phần hồn, muốn hậu sự phải tổ chức thật đơn giản. Không vòng hoa, phúng điếu. Những bạn bè nào thương anh, xin hãy góp vào Quỹ “Cho Em Một Nụ Cười” do Frère Phong, một người bạn học thời niên thiếu của anh sáng lập nhằm giúp đỡ những em bé mồ côi, đói nghèo tại các vùng hẻo lánh ở Việt Nam và Cam Bốt, mà anh đã tiếp tay phụ lực từ lúc ban đầu. Bao la biết dường nào tấm lòng nhân hậu ấy!

Được tin anh ra đi, tôi thẫn thờ giây lát, nước mắt trào ra, rồi ngồi dậy viết lời Phân Ưu định gởi cho vài tờ báo quen. Trước khi gởi đi, ngại viết tên Thánh của Thục không đúng, tôi vào website Cánh Thép tìm đọc lại các trang Phân Ưu của một số đơn vị, đồng đội của anh. Tôi rất ngạc nhiên, vì tất cả đều biến mất, mặc dù trước đó chỉ mới mười lăm phút, tôi đã đọc kỹ từng lời. Tôi chợt thoáng hiểu ra, khi nghĩ đến đám cưới của cháu Phạm Hưng Quốc, con trai thứ của anh chị sẽ tổ chức vào cuối tuần này. Mọi sự đã chuẩn bị và thiệp mời đã gởi đi, khó mà đình hoãn được. Tôi gọi cho Phạm Thu Đào, cô Hội Trưởng trẻ tuổi tài năng của Phố Núi Pleiku, bạn thân của anh chị Thục. Thu Đào xác nhận những điều tôi vừa suy đoán. Nhớ lần tôi và một người bạn đến thăm Thục, anh vui vẻ dặn dò: “Dù có Thục hay không, các bạn đến chung vui với vợ chồng cháu Quốc, là tôi vui lắm, cứ coi như tôi đang có mặt và cụng ly mừng với các bạn”.

Chiều Thứ Bảy 4/2, vợ chồng tôi đến nhà hàng Seafood Palace dự đám cưới cháu Quốc mà lòng dạ bùi ngùi. Cố nhớ tới lời dặn dò của Thục, để thấy vui hơn. Khoảng trên sáu trăm thực khách trong nhà hàng không còn chỗ trống. Tôi nghĩ có lẽ tất cả khách mời đều không ai vắng mặt. Bởi cũng như chúng tôi, đều thương quí Thục, cảm kích tấm lòng hy sinh lo lắng cho con của Thục. Hôm ấy, tôi ngồi chung bàn với bác sĩ (KQ)Ngô Thế Khanh, chị Phạm Thu Đào, ca sĩ Minh Hạnh (chị của đại tá Nhảy Dù HK Lương Xuân Việt), chị Minh Hương cùng vài anh chị rất thân quen với Thục. Chúng tôi đã kể những kỷ niệm với anh, nói nhiều về anh, về một Phạm Vương Thục rất chí tình, rất dễ thương cùng lòng quí mến mà tất cả bạn bè đã dành cho anh chị.

Buổi chiều ngày Thứ Sáu 10/2, chúng tôi bước vào Thánh Đường La Vang nằm trên đường Harbor để viếng anh lần cuối. Trước nhà thờ tôi gặp đông đủ mọi người. Những người lính Không Quân ở hoàn cảnh nào cũng “không bỏ anh em, không bỏ bạn bè”. Từ khắp nơi họ về đây để được gần bên anh trước tiễn đưa người huynh đệ một thời hào hiệp và cùng hẹn gặp lại nhau ở vùng trời viễn mộng, không còn khói lửa chiến tranh. Như lời Thục đã âu yếm nói với bạn bè trước lúc ra đi: “Tao đi trước để dọn chỗ cho anh em”. Lời nói chỉ có thể thốt ra từ trong tâm của một người bạn chí tình. Tôi hình dung những lần Thục bay trước vào vùng, bắn dọn bãi đáp thật chu đáo an toàn cho những người bạn cùng phi đoàn đáp xuống đổ, bốc quân, tản thương hay tiếp tế khẩn cấp cho các đơn vị hành quân.

Trong Lễ Đưa Chân, vị linh mục chủ lễ giảng một bài ngắn nhưng thật hay, đầy ý nghĩa. Ông nói về Thục “ Không biết từ hạt bụi nào, tín hữu Bartholomew đã hóa thân, để rồi hôm nay ông lại trở về cát bụi. Tất cả chúng ta rồi ai cũng thế, nhưng điều đặc biệt là khi ra đi, ông Bartholomew đã để lại trong lòng tất cả mọi người tràn ngập những yêu thương tiếc nhớ”

Thục ơi! Ngày mai, đúng lúc gia đình và bạn bè tiễn đưa anh về với Chúa, cũng là lúc vợ chồng tôi bước lên máy bay trở lại Bắc Âu băng giá. Tôi tiếc là không được nghe những lời từ biệt của các niên trưởng, đồng đội ngợi ca và tiếc thương anh, nhưng tôi nghĩ mọi ngôn từ cũng sẽ không thể nói hết được lòng quí trọng mến yêu anh, một phi công, một chiến sĩ đã làm hết sức mình cho Không Gian, cho Tổ Quốc. Chỉ tiếc rằng vận nước sớm điêu linh!
Không có mặt trước giờ phút anh trở về cát bụi, nhưng ở trên bầu trời bao la, chúng tôi sẽ vẫy tay tiễn biệt và cầu nguyện cho anh:

“Vùng trời nào đó anh đã bay qua
Chỉ còn lại đây những thoáng bao la”
……………………………..
Xin cho một người vừa nằm xuống
Thấy bóng thiên đường...cuối trời thênh thang”
…..
Hẹn gặp lại anh. Khi “dọn chỗ cho bạn bè”, xin anh nhớ dành một chỗ cho tôi, gần bên anh, nếu tôi đến được Thiên Đàng.

Viết vội tại Anaheim, đêm 10/2/2012
Phạm Tín An Ninh

Posted: Tue Feb 14, 2012 6:39 pm
by hoanghoa
NGƯỜI LÍNH KHÔNG CÓ SỐ QUÂN
Tác giả: Trần Như Xuyên
Lời tác giả: Nhân 30 tháng 4, để nhớ lại những gương chiến đấu của Quân và Dân miền Nam trong công cuộc chống CS xâm lược, xin có một truyện ngắn nói về sự chiến đấu này, đây là chuyện có thực mà người viết từng tham dự năm xưa. Trân trọng.

x x x

Tối đó, tôi dẫn Đại đội tới điểm đóng quân đêm, đây là ngày đầu tiên tôi nắm Đại đội, sáng nay có cuộc bàn giao ở Tiểu đoàn, người Đại đội trưởng tiền nhiệm,cũng là khóa đàn anh của tôi, có sự vụ lệnh đi học khóa quân chánh.

Ra trường được sáu tháng, từ anh Thiếu úy mới tò te, giờ đã lên nắm Đại đội, quả là thời gian hơi nhanh so với những đứa bạn cùng khóa ở các binh chủng khác như Nhẩy dù, Thủy quân lục chiến..., có lẽ họ vẫn còn đang thực tập ở Trung đội hay là Trung đội trưởng mà thôi. Tôi nắm Đại đội hơi nhanh không phải vì mình tài giỏi gì mà năm 67 khi ra trường, như bao đứa bạn khác chọn đi Bộ binh, các đơn vị rất thiếu sĩ quan, như Tiểu đoàn tôi về chẳng hạn, có Đại đội xử lý là một Chuẩn úy, gọi là xử lý cũng không đúng vì trong cấp số coi Đại đội thì tối thiểu phải là Thiếu úy, nhưng không hiểu sao vào những năm này, sĩ quan quá thiếu, bởi vậy khi vừa tới Trung đoàn, nghe tin có mấy sĩ quan Đà lạt mới ra trường là các đơn vị nhao nhao lên xin, tôi được đưa về Tiểu đoàn 4/46 thì một ông đàn anh khóa 16 đang làm Đại đội trưởng xin ngay tôi về. Ông tên Hồ Trang, khóa 16, ở miền Trung bị thuyên chuyển vào Nam vì dính dáng tới vụ Phật Giáo, ngoài đó ông đã là Tiểu đoàn phó nên vị Tiểu đoàn Trưởng cũng có hơi nể, quay quắt vì việc phải thuyên chuyển xa nhà, bị giam lon, giam chức nên ông gắt gỏng như mắm tôm, ông nghiêm khắc với mọi người nhưng rất chí tình trong việc chỉ bảo cho tôi từng ly, từng tí việc chỉ huy mà dầu sao tôi cũng còn quá mới, quân trường dậy là một chuyện, ra đây đụng với thực tế lại là một chuyện khác.

Cứ như vậy, những lần hành quân, ông cho tôi ở cạnh để học hỏi hoặc cho xuống trung đội để thưc tập, 6 tháng sau, khi thấy tôi đã tàm tạm gọi là đủ lông, đủ cánh bay solo được, ông nói với Tiểu đoàn Trưởng và bàn giao Đại Đội lại cho tôi, trước đó, ông đã thu xếp người Đại đội phó đi học để tôi coi Đ.Đ được danh chính ngôn thuận.

Nói về tối đầu tiên tôi dẫn Đ.Đ đi đóng quân đêm, thường tọa độ đóng quân đêm cùng các điểm phục kích do Tiểu đoàn chấm, tối đó đang di chuyển trên đường tôi thấy có một người đàn bà đi lẫn trong toán đại liên, tôi hỏi Thượng sĩ Hội, thường vụ đại đội, ông ta đi lính hồi tôi còn học Tiểu học:

- Ai vậy ông Hội, sao có đàn bà lẫn lộn vào đây?

- Thưa Thiếu úy, đó là vợ thằng Nở, xạ thủ đại liên, nó ở với Đại Đội lâu rồi, hồi còn Trung úy Trang, ông cũng cấm nhưng chỉ được vài ngày là nó lại lẻn xuống sống với chồng nó.

- Tôi thấy không được rồi đó ông, lỡ đêm Việt cộng tấn công thì làm sao, thằng Nở chỉ lo cho vợ nó thì còn đánh đấm gì được.

- Thiếu uý đừng lo, vợ nó phụ nó rất đắc lực, chị ta biết xử dụng đại liên, biết tiếp đạn cho chồng, rồi Thiếu úy coi, hễ rảnh là nó lại lau chùi cây đại liên nữa.

- Nhưng lỡ có chuyện gì làm sao mình báo cáo.

Hôm sau tôi gọi Nở lên trình diện:

- Sao cậu không để cho vợ cậu ở nhà mà cho đi theo Đại đội như vậy, lỡ có chuyện gì thì sao?

- Thưa Thiếu úy, con Ba nó mồ côi từ nhỏ, không có nhà, em đã đưa nó về với má em rồi nhưng má em không ưng nó, cứ kiếm chuyện với nó hoài, cho nó theo ĐĐ, thấy cũng bất tiện, em biết chứ.

Nở thực hiện lời "em biết chứ", vài ngày sau, tôi không thấy vợ Nở đi chung trong toán đại liên nữa, tôi hỏi Thượng sĩ Hội, ông ta cho biết Nở đưa vợ ra bến xe về quê mấy bữa nay rồi, tôi có hơi băn khoăn nhưng nghĩ vậy cũng phải, lỡ có chuyện gì thì làm sao, rồi má con sẽ phải hòa thuận với nhau chứ.

Một hôm, Hạ sĩ quan quân số cầm về xấp thư của ĐĐ đưa cho tôi, trước đó tôi có dặn anh ta là thỉnh thoảng phải kiểm soát thư từ của binh sĩ xem biết đâu có đứa bị móc nối. Tôi dở xấp thư ra coi thấy có một lá đề tên Nở, khi tôi coi ĐĐ thì Nở không biết chữ, sẵn dịp, tôi hỏi các Trung đội xem còn ai không biết chữ gom tất cả lại, đâu cũng được 5,6 người, tôi nói Trung sĩ Hiển, Hạ sĩ quan CTCT mua tập vở về dậy họ học,"ngày mãn khóa", tôi kêu từng người đưa tờ Chiến sĩ Cộng Hòa cho đọc, ai đọc được, tôi thưởng cho bốn ngày phép, Hạ sĩ Nở biết chữ từ ngày đó.

Có bốn ngày phép, Nở không đi đâu cả, anh ta và vợ quanh quẩn chơi ở mấy nhà quen trong xã, hết bốn ngày, Nở về lại ĐĐ.

Tôi mở lá thư của Nở ra đọc:

Long Xuyên, ngày....

anh hai thương, em diết thơ nầy cho anh là lúc ba giờ phia, em chờ má ngủ mới dám diết cho anh, anh hai ôi, em nhớ anh quá hà, sao số kiếp cứ đài đọa tụi mình hoài, nhớ những lúc điêm tối cùng anh đi đóng quân, dầu gì vợ chồng được gần nhau cũng hơn há anh, hôm anh tiễn em ra bến xe em buồn quá, lúc xe chạy, em thấy như mất mác cái gì quí báo, em khóc ước cả mắt, em cố chìu chuộng má mà má vẫn hổng thương em, thôi để em lên quỳ xinh với ông thiếu úy để em được đi theo anh, liệu được hôn anh, diết thơ nầy xông, mơi sẽ gởi cho anh, anh hai nhớ trả lời em nghe.

Em, Ba.

Một tuần lễ sau khi đọc lá thư của Hạ sĩ Nở, buổi tối dẫn Đại Đội đi đóng quân, tôi lại thấy cái dáng nhỏ bé ấy đi chung với toán đại liên, lẫn vào hàng quân, không biết anh Hai có trả lời, trả vốn gì không hay nhớ chồng lên đại, tôi thấy chị ta cố lẩn vào đám đông, chắc sợ tôi nhìn thấy, hoặc có thể biết tôi đã thấy nhưng làm nước liều, có điều hôm nay không mặc bộ bà ba đen thường lệ mà là bộ đồ trận rộng thùng thình, đầu còn đội nón sắt, chị ta tính ngụy trang che mắt tôi, tôi cười thầm trong bụng khi thấy vợ Nở cuốn nguyên một dây đại liên quanh người, tôi mong chị ta đừng gặp tôi mà xin gì cả, chẳng thà để tôi lờ đi như không biết còn hơn là hợp thức hóa cho khó xử.

Năm 67, các Tiểu đoàn Bộ binh thường có ba Đại đội tác chiến, chia nhau vùng trách nhiệm họat động, hành quân lục soát từng ĐĐ chung quanh bộ chỉ huy TĐ, đôi khi có cuộc hành quân cấp Tiểu đoàn thường là nhẩy trực thăng và xa hơn. Ba Đại đội trưởng tác chiến đều cùng khóa 21 Đà Lạt gồm Th/U Vũ đình Hà (ĐĐ1), Th/U Lê xuân Sơn(ĐĐ2) và tôi ĐĐ3.

Một tối, Đại đội 1 bị tấn công, ĐĐ2 tối đó đóng xa, giữ con đường từ Long Thượng về Cần Giuộc, tôi nằm cách Hà(ĐĐ2) khỏang 500 thước, Tiểu đoàn mất liên lạc với Hà, kêu tôi lên tiếp cứu, chỗ Hà nằm tôi biết rõ vì đã từng đóng quân ở đây, chắc chắn là địch tấn công từ ngã rạch tấn công ra, tôi dẫn Đại đội chạy băng lên vì tình người bạn cùng khóa, tôi cho Đại đội bắn chặn nơi đầu rạch, nhưng vì không liên lạc được với Hà, tôi sợ quân ta bắn lầm quân bạn,, tôi chạy lại cây đại liên, cho chuyển hỏa lực về bên trái, dưới ánh sáng của pháo binh Cần Giuộc, tôi thấy vợ Nở nằm cạnh chồng, tay nâng dây đạn, Nở đang nghiến răng bóp cò, nhả từng loạt đạn về hướng địch.

Như tôi đã nói ở trên, dạo đó ở Long An VC chưa nhiều, chắc khoảng hai chục tên, đợi mình ơ hờ, liều lĩnh tấn công.Cũng tại nơi con rạch này, ít lâu sau, ĐĐ tôi hành quân lục soát ở đây và đụng nặng, sở dĩ đụng nặng vì địch tụ ở đâu về, ém quân trong đám dừa lá dầy đặc như vùng bất khả xâm phạm, chắc chúng tập trung ở đây, đợi đêm xuông có giao liên dẫn chúng xâm nhập Đức Hòa, Đức Huệ rồi qua Campuchia, chúng không ngờ ta lùng sục, chúng buộc phải chống trả.

Đám dừa nước cao ngất che dọc theo con rạch, hướng ĐĐ tiến vào là đồng trống, suốt vùng Long An này chỗ nào cũng vậy, bất ngờ ban đầu làm ta có ba binh sĩ bị thương và một chết, tôi xin pháo binh và Cobra lên vùng, hồi đó gọi máy bay ném bom còn là một điều mới mẻ, vũ khí xử dụng là của thời đệ nhị thế chiến, toàn là Garant, Carbin, cả Thompson nữa, ấy vậy mà cây đại liên 30 của Hạ sĩ Nở cũng có tác dụng. Nở người hơi thấp nhưng rất khỏe, một mình vác cây đại liên cả với chân ba càng, mỗi lần pháo bắn hay trực thăng phóng rocket là anh ta chạy nhào lên cho gần mục tiêu, lúc đó địch còn lo núp. Khi đã rất gần mục tiêu và có gò đất làm điểm tựa chắc chắn, cây đại liên mới phát huy được hiệu quả của nó, từng loạt đạn bắn ra làm bọn VC không ngóc đầu lên được, cộng thêm pháo và trực thăng bắn liên tục, ĐĐ chiếm được mục tiêu lúc gần tối, địch bỏ lại 6 xác và một số vũ khí. Trận đánh như thế này không đáng kể gì so với sau này khi SĐ 25 rời Long An di chuyển về vùng trách nhiêm mới là Tây Ninh, cuộc hành quân vượt biên năm 1970 cũng như ở Bình Long mùa hè đỏ lửa thì chiến trận lên tới cấp Sư đoàn, Quân đoàn.

Sáng hôm sau, Tướng Phan trọng Chinh, Tư lệnh SĐ xuống quan sát trận đánh và gắn huy chương, tôi đề nghị với TĐT thăng cho Nở lên Hạ sĩ nhất nhưng Tướng Chinh là người rất ngặt nghèo trong việc ban thưởng huy chương và thăng cấp, Nở chỉ được cái huy chương đồng, ông bảo huy chương đồng của SĐ 25 bằng huy chương vàng của các nơi khác(!)

Hai ngày sau ĐĐ còn được nghỉ dưỡng quân, tôi xuống tổ đại liên chơi, cả toán đang ngồi ăn cơm, tôi thấy vợ Nở đang mân mê cái huy chương của chồng, thấy tôi, chị có vẻ ngài ngại gật đầu chào rồi bỏ vào trong nhà, tôi nghĩ giá tôi có quyền, tôi sẽ tặng cho chị ấy một cái huy chương của buổi tối yểm trợ cho Vũ đình Hà.

Đầu năm 1968, tôi được đề cử theo học khóa Tác chiến trong rừng ở Mã Lai, tôi còn gắn bó với ĐĐ hơn một tháng nữa. Một buổi sáng, đang đứng trước cửa ĐĐ thì vợ Nở bất chợt ngang qua, chắc đi chợ về, thấy tôi, chị ta khựng lại muốn thối lui nhưng không kịp, chị ta làm bạo bước tới và khi ngang qua tôi, vợ Nở mím môi lại và dơ tay chào theo kiểu nhà binh, tôi ngạc nhiên, trong một phản xạ, tôi chào lại, chào xong, tôi mới ngẩn người ra nghĩ: sao mình lại chào nhỉ, hóa ra ĐĐ này có một nữ quân nhân ư? Có lẽ chị ta thấy mọi người trong ĐĐ chào tôi nên khi gặp, chị cũng chào để cho giống như những người kia chăng! Tôi thấy hình như bụng vợ Nở có hơi to ra. Tôi đem điều này hỏi Thượng sĩ Hội thì ông ta bảo: có vẻ như vậy Trung úy.

Tôi gọi Nở lên: - Vợ cậu có bầu phải không?

- Dạ, thưa Trung úy.

- Vậy thì cậu phải đưa cô ta về với bà già đi chứ, bầu bì rồi đi theo ĐĐ mãi sao được, phải lo sức khỏe cho cô ta.

- Dạ, em cũng tính tháng này lãnh lương xong, Trung úy cho em cái phép để em đưa nó về gởi bà già.

- Được rồi, lúc nào muốn cứ lên đây.

Hai ngày sau, Đại Đội được lệnh đóng quân đêm và tổ chức một cuộc phục kich ở sau lưng quán Năm Ngói, một địa danh nổi tiếng về sự khuấy rối của VC nơi đây, tối đó, ĐĐ chạm địch, một tốp nhỏ bọn chúng gặp toán phục kích, hai tên bị bắn hạ, số còn lại nhập qua toán kia thì đụng phải ĐĐ, nhờ toán phục kích nổ súng trước nên ĐĐ không bị bất ngờ, địch bắn rất rát nhưng không chủ ý tấn công nên sau một hồi, chúng rút lui, hình như có chuyện gì xẩy ra ở cây đại liên vì tôi thấy nó nổ được một chập thì im bặt, tôi đảo nhanh vòng quanh tuyến phòng thủ, không có tổn thất nào, nhưng khi tới cây đại liên, tôi thấy có mấy người lố nhố, linh tính cho tôi biết có chuyện không hay, tôi hỏi giật giọng:

- Gì vậy Nở?

Không có tiếng trả lời, tôi bước vội tới, thấy Nở ôm vợ, y tá Thọ đang loay hoay băng vết thương nơi ngực chị ta, thấy tôi, Nở nghẹn ngào:

- Vợ em nó chết rồi Trung úy ơi!

Tôi ngồi xuống, chị ấy bị trúng đạn ở ngực, máu ướt đẫm cả cái áo trận, y tá Thọ đứng lên:

- Chết rồi Trung úy.

Tiếng thằng Năm trong toán đại liên:

- Súng bị kẹt đạn, thằng Nở kéo mãi đạn không lên, con Ba nó chồm dậy mở nắp cơ bẩm, em la nó nằm xuống nhưng không kịp Trung úy.

Tôi thấy nghèn nghẹn ở cổ họng, từng chứng kiến nhiều cái chết nhưng lần này tôi thật xúc động. Thôi, chị Nở, từ nay chị hết cần phải tránh né tôi nữa rồi, sao tôi lại không cứng rắn hơn nữa với chị, giá tôi đừng tình cờ đọc được lá thư chị viết cho chồng, ừ, đáng lẽ tôi phải cứng rắn hơn, nhất định không cho chị đi theo ĐĐ như vậy.

Tôi báo với Thiếu tá Hải, Tiểu đoàn Trưởng về sự việc xẩy ra, ông có biết vợ chồng Nở, ông cho Sĩ quan CTCT/TĐ mua cái hòm, cấp cho Nở một cái xe Dodge để đưa vợ về quê mai táng. Tôi lấy hết tiền có thể có được, cả tiền quỹ ĐĐ đưa cho Nở, buổi trưa cuối năm, trời hơi lành lạnh, chiếc xe chở Nở và quan tài vợ đi ngang qua ĐĐ, tôi đứng nghiêm chào như một lần chị đã chào tôi, chị chết đi mà cái hòm không có phủ cờ, không được mười hai tháng lương, không cả được lên cấp chỉ vì chị là NGƯỜI LÍNH KHÔNG CÓ SỐ QUÂN.

Mười ngày sau, Nở trở lại đơn vị, trước ít ngày tôi về SG để chuẩn bị đi học, Nở đào ngũ, có lẽ Nở không chịu được cái cảnh mỗi tối vác cây đại liên tới chỗ đóng quân mà không có vợ bên cạnh.

x x x

Chị Nở thân mến, 40 năm sau ngày chị mất, hôm nay tôi ngồi viết lại chuyện này về chị, chỉ là một sự tình cờ thôi, hôm nọ tôi đọc loáng thoáng đâu đó người ta nói về những gương chiến đấu của Quân và Dân miền Nam trong công cuộc chống CS xâm lược trước đây, tôi chợt nhớ tới chị, một người không phải là quân, cũng không hoàn toàn là dân, gọi chị là gì nhỉ, chị lưng chừng ở giữa nhưng đã chiến đấu như một người lính thực thụ và đã hi sinh.

Một lý do nữa để tôi viết về chị là vì mới đây, Cộng Sản Việt Nam đã làm ầm ĩ lên câu chuyện về Đặng thùy Trâm, một nữ cán binh CS xâm nhập vào Nam và đã chết ở chiến trường Quảng Ngãi, cô Trâm này chết ở đây nhưng không ai biết nắm xương khô vùi chôn nơi đâu, một người lính Mỹ hành quân qua nơi cô chết và nhặt được cuốn nhật ký của Đặng thùy Trâm, cuốn nhật ký này, như một kỷ niệm chiến tranh của người lính, anh ta đem nó về Mỹ, mấy chục năm sau, nó mới được đưa ra ánh sáng và trao cho mẹ của Đặng thùy Trâm ở Hà Nội.

Nhà nước CSVN chụp được cơ hội này cho xuất bản cuốn nhật ký, dĩ nhiên với nhiều thêm thắt để khơi động lòng yêu nước của đám thanh niên càng ngày càng rời xa chủ nghĩa CS. Đặng thùy Trâm là một Bác sĩ, nhưng không hiểu có được học hành tử tế để thành một Bác sĩ không, tôi đã đọc được một truyện khi ở tù ngoài Bắc là có một anh công nhân được tặng danh hiệu anh hùng lao động vì đã phục vụ 15 năm trong phòng bào chế thuốc, và vì phục vụ hăng say và lâu như vậy, anh được thăng lên làm dược sĩ vì quen với công việc bào chế, phong dược sĩ xong, anh ta mới đi học bổ túc văn hóa vì anh ta viết chữ cũng chưa gọn ghẽ mấy. Bởi vậy, tôi không biết Bác sĩ Thùy Trâm này trình độ có khá hơn y tá Thọ của Đại Đội mình năm xưa không, hay cũng như mấy bà mụ vườn ở nhà quê.

Thưa chị Nở, cả chị và cô Đặng thùy Trâm này là hai người đàn bà ở hai chiến tuyến chết trong cùng cuộc chiến, trong cùng thời gian và độ tuổi cũng gần như nhau, nhưng hai cái chết mang hai ý nghĩa khác nhau, Thùy Trâm bị bắt buộc và tự đi tìm cái chết, còn chị, chị bị chết vì người ta ở mãi đâu vô đây tìm để giết chị, chị chỉ là tự vệ, chị không hận thù ai, không ai dậy chị oán thù, không ai tuyên truyền với chị về chủ nghĩa này, chủ nghĩa nọ và cũng không nhân danh chủ nghĩa để chém giết người khác, chị rất đôn hậu, còn cái cô Thùy Trâm kia đã từ ngoài đó vào đây, mang trong lòng sự thù hận bởi sự tuyên truyền nhồi nhét, miền Nam này nào có cần ai phải giải phóng đâu, cho mãi nhiều năm sau này, người miền Nam vẫn khẳng định rằng họ không cần ai giải phóng cả.

Chị Nở có thấy điều buồn cười này không là trong cuốn nhật ký, Thùy Trâm viết là sao quân Mỹ Ngụy tàn ác, thích chém giết, chị Nở có thích chém giết ai không hay người ta vào đây tìm giết chị, từ ngoài đó lần mò vào tận trong này để tìm giết người ta lại còn hô hoán là sao người ta thích chém giết mình, thật kỳ lạ. Cũng trong cuốn nhật ký, Thùy Trâm than phiền là phấn đấu đã lâu nhưng chưa được kết nạp đảng, đây cũng là lý do vì sao Thùy Trâm đi B, cố gắng trong công tác để chỉ mong được đảng kết nạp, chị Nở có biết cô ta mong được kết nạp để làm gì không, thưa là để có cơ hội được làm lớn, có đảng mới được làm lớn, có làm lớn thì mới có quyền và có tiền, bây giờ cả cái nước Việt Nam này, đảng Cộng Sản thi nhau vơ vét tiền bạc của người dân, chúng giầu lắm rồi, hồi trước mỵ dân, chúng đem những người giầu có ra đấu tố, gọi họ là địa chủ, giờ thì ai đấu tố chúng? Thùy Trâm này nếu mà không chết và giả như có ô dù, giờ có thể là Bộ trưởng Y tế hay làm Giám đốc một bệnh viện nào đó thì cũng là những con giòi, con bọ đang tham gia đục khoét thân thể Việt Nam.

Cũng là cái chết nhưng chị chết trong vòng tay người chồng, có mồ yên mả đẹp, có nhang, có khói, tội cho cha mẹ cô Thùy Trâm, không biết nắm xương khô con giờ ở chỗ nào, họa chăng là cái bàn thờ với tấm hình cô ấy mà thôi.

Bốn mươi năm đã qua, bây giờ nhiều thay đổi lắm rồi chị Nở ạ, ông Thiếu úy trẻ năm xưa giờ là ông cụ già rồi, vẫn khó tính như trước và đang phiêu bạt nơi xứ người, Thượng sĩ Hội đã mất, Nở từ ngày đào ngũ tôi không gặp lại, chắc đã có vợ khác, xin được tạ lỗi cùng chị là đã không giữ được đất nước để rơi vào tay quân thù, thật không xứng đáng với sự hi sinh của chị, chúng tôi làm mất nước không phải vì hèn kém, không chiến đấu, mất nước vì bị phải mất nước.

Quên kể cho chị nghe,mấy tháng sau ngày chị mất, vũ khí được tối tân hóa, những cây Garant cổ lỗ sĩ được thay bằng súng M16, còn cây đại liên 30 nặng chình chịc chị biết đấy, thay thế bằng đại liên M60, nhẹ hơn, bắn nhanh hơn và không hay bị kẹt đạn nữa chị Nở ạ. Thôi tất cả đã qua, chúng tôi vẫn không bao giờ quên những người đã hi sinh vì mảnh đất miền Nam thân yêu, không bao giờ quên được những gương chiến đấu dũng cảm của quân và dân trong việc chống lại quân Bắc phương xâm lược, hôm nay ngồi viết lại những hàng chữ này như được thắp nén hương trang trọng cho chị, thưa chị Nở.

Trần Như Xuyên

Posted: Sun Feb 19, 2012 7:38 am
by khieulong
Image

Đặc Khu Rừng Sát…
Và Những Ngày Tháng Sau Cùng.

MX Cổ Tấn Tinh Châu.

“ Nhà Bè nước chảy chia hai,
Ai về Gia-Định, Đồng-Nai thì về.”

Câu hò của người miền Nam mô tả hai nhánh sông bắt đầu tách ra ngay mũi sông Nhà Bè là sông Soài Rạp và sông Lòng Tàu (còn gọi là Lòng Tảo).
Riêng sông Lòng Tàu là thuỷ lộ huyết mạch dẫn vào cảng Sàigòn. Tất cả chiến hạm của hải quân, thương thuyền quốc tế, ghe thuyền chở hàng từ phao zero ngoài cửa biển Cần Giờ, đều dùng sông Lòng Tàu để vào các cảng của thủ đô Việt Nam Cộng Hoà.
Sông Lòng Tàu chảy xuống hạ lưu khoảng 7 cây số phân ra thành hai nhánh là sông Lòng Tàu và sông Đồng Tranh. Hai sông này chảy thêm chừng 10 cây số thì đổ ra biển qua cửa Cần Giờ.
Sông Soài Rạp chảy ngang xóm Tân Nhơn thì thoát nước qua ngã sông Vàm Sát (Rạch Vàm) rồi chia thành hai nhánh là sông Đinh Ba và sông Cát Lái. Cuối cùng chảy ra biển qua cửa Soài rạp.


Như vậy cửa sông Đồng Nai là một tứ giác với các góc là Nhà Bè, Phú Mỹ QL-15, Vũng Tàu và Vàm Láng trên cửa Soài Rạp. Đây là một vùng đầm lầy đầy cây tràm, cây đước, thường ngập nước với nhiều sông, rạch mà được gọi là Rừng Sát.
Mặc dù sông Soài Rạp có bề ngang rộng hơn sông Lòng Tàu nhưng lòng sông cạn nên không thuận tiện cho tàu bè lưu thông, tốc độ lấp cạn lại rất nhanh dù được xáng đào vét nhiều lần. Thuỷ lộ Lòng Tàu không có sương mù quanh năm nên là huyết mạch nối liền giữa biển và cảng Sàigòn. Tàu có tầm nước 12 bộ hay nhỏ hơn có thể ra vào bất cứ lúc nào. Các tàu trọng tải lớn với tầm nước khoảng 28 bộ chỉ có thể vào sông Lòng Tàu khi thuỷ triều lên. Tàu bè thường mất khoảng năm giờ để đi từ biển vào Sàigòn.

Để ngăn chặn sự xâm nhập của CS vào vùng cận Thủ Đô Sàigòn, Biệt Khu Rừng Sát được thành lập từ những năm đầu của thập niên 60. Đến năm 1963, Biệt Khu Rừng Sát được đổi thành Đặc Khu Rừng Sát, chịu trách nhiệm hai quận Quảng Xuyên và Cần Giờ, thuộc tỉnh Gia Định trên phương diện hành chánh nhưng trực thuộc Bộ Tư Lệnh Hải Quân trên phương diện an ninh, hành quân. Đặc Khu Rừng Sát có BCH gồm CHT cấp Đại Tá với hai phụ tá: phụ tá sông cấp Trung Tá Hải Quân và phụ tá bộ cấp Trung Tá Bộ Binh cùng một sĩ quan liên lạc Không Quân cấp Thiếu Tá.

Lực lượng bộ gồm hai tiểu đoàn và bốn đại đội ĐPQ biệt lập được phân phối trấn giữ các địa danh tiêu biểu như Thiềng Liềng, Ngả Ba Dàng Xây, Tắc Ông Nghĩa, Đập Đá Hàn, Ngã Ba Đồng Tranh… với nhiệm vụ chánh là bảo vệ sông Lòng Tàu. Lực lương thuỷ gồm: Hai giang đoàn xung phong, liên đoàn tuần thám và giang đoàn trục lôi.

Trên sông, các giang đoàn của Hải Quân cùng với các toán Người Nhái tuần thám ngày đêm để bảo vệ an ninh thuỷ lộ. Đặc biệt Người Nhái VN thường xuyên phối hợp với Người Nhái Mỹ trong các công tác phục kích, đã làm Người Nhái Mỹ cảm phục vì khả năng, kinh nghiệm và can trường nên đạt được nhiều thành quả tốt. Trên không, hai trực thăng võ trang được tăng phái cho DKRS và pháo đội 105 để yểm trợ hành quân. Ngoài ra, còn có Tiểu Ðoàn 359 trách nhiệm lưu động khắp lãnh thổ của đặc khu.

Huy hiệu của ĐKRS là con cá sấu ngoi trên mặt sông, miệng hả to và ngọn hải đăng chiếu sáng.
Những anh em quân nhân ở ĐKRS thường gọi nhau là cá sấu, nên mới có bốn câu thơ sau đây:

Cá Sấu bây giờ anh ở đâu?
Hãy kể nhau nghe kỷ niệm đầu
Bởi “Tháng Tư Đen” tàn mộng ước
Xin giữ tình nhau để quên sầu.


Trong ngày hội ngộ ĐKRS cựu Th/tá Trương Văn Cảnh đã sửa lại bốn câu thơ cho hợp với hiện tại.

Cá Sấu bây giờ anh ở đây
Hãy kể nhau nghe kỷ niệm đầy
Bởi “Tháng Tư Đen” ta hiểu được
Ai người tâm huyết với non sông

Nhắc đến ĐKRS không thể quên được những CHT đặc khu trong thời kỳ đầu như Phó Đề Đốc Diệp Quang Thuỷ, Hải Quân Đại Tá Nguyễn Quốc Thanh…và CHT cuối cùng trước khi miền Nam Việt Nam rơi vào tay bọn Cộng Sản là Đại Tá Cổ Tấn Tinh Châu, xuất thân từ Binh Chủng Thuỷ Quân Lục Chiến.
ĐKRS và căn cứ Hải Quân nguyên trước đây là căn cứ yểm trợ tiếp vận của Hải Quân Mỹ. Đây là một căn cứ lớn nhứt trong vùng Sàigòn được bàn giao lại cho QLVNCH vào tháng 4/1972.

Năm 1966, bộ tư lệnh miền của CS cho thành lập ĐKRS với nguỵ danh là T10, về sau đổi lại là đoàn 10 để khỏi trùng tên với một tổ chức mới của Trung Ương Cục Miền Nam. Đại tá VC Lương Văn Nho CHT kiêm Chính Uỷ (cựu trung đoàn trưởng pháo binh) và Thượng Tá Nguyễn Văn Mây CHP (cựu TLP/Sư Đoàn 5) + ban tham mưu. Lực lượng có 2 tiểu đoàn bộ binh, 3 trung đội súng nặng gồm: súng cối, đại bác không giật, đại liên 30, 12.7 ly, thuỷ lôi, hoả tiễn 107 và 122, 3 trung đội du kích và 1 trung đội Đặc Công Thuỷ (tài liệu của USMC Mobile Riverine Force SZRS 1967).
Từ năm 1967 đến 1970 lực lương Mỹ ở ĐKRS gồm một tiểu đoàn TQLC (1st Battalion, 5th Marines ), hai toán USN SEAL và Hải Quân thường hành quân cùng với QLVNCH trong lãnh thổ DKRS. TQLC Mỹ phối hợp với 1 tiểu đoàn Việt Nam trong cuộc hành quân đổ bộ (Jackstay) đã giết 63 VC và bắt được một số tù binh, tịch thu được 66 súng cá nhân, 8 súng cộng đồng và hoả tiễn 122 ly, phá huỷ trung tâm huấn luyện, bệnh xá, kho tiếp liệu…TQLC Mỷ thường xuyên hành quân và yểm trợ các đơn vị VN trong ĐKRS.

Hoạt động của hai toán USN SEAL thường trao đổi tin tức về tình hình chung với ĐKRS, hướng dẫn trung đội Thám Sát Tỉnh (PRU) thu góp tin tình báo, phá hoại, phục kích, bắt cóc địch cũng như phối hợp với đơn vị ĐPQ lưu động xâm nhập căn cứ địa của địch phá huỷ công binh xưởng, kho tiếp liệu, truyền tin... Lực lương này mỗi toán công tác chỉ có từ 6 đến 8 người, nhưng được yểm trợ rất đầy đủ (trên sông 4 PBR + 1 tàu SEAL, trên đất một pháo đội 155, trên không 4 trực thăng võ trang, 2 trực thăng cấp cứu, 1 trực thăng tải thương và 1 phi tuần khu trục 6 chiếc ở Tân Sơn Nhất). Trong thời gian ngắn lực lượng SEAL đã làm cho đoàn 10 của CS khiếp vía, họ gọi SEAL là lính mặt xanh vì cách nguỵ trang trên mặt. Bọn CS đã treo giải thưởng rất lớn cho ai giết hoặc bắt sống được Seal. Nhưng chưa có Seal nào bị bắt cũng như tử thương, chỉ có 2 SEAL bị thương (Tài liệu của USN SEAL).
Image
USN SEAL SZRS

Tài liệu CS viết: “Lời khai của Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi cũng mang lại nhiều thông tin quan trọng. Sau khi bị bắt ngày 16-4 tại Phan Rang, viên Trung Tướng này được đưa ngay ra miền Bắc. Nguyễn Vĩnh Nghi đã tiết lộ nhiều điều, cho thấy lực lượng phòng thủ của địch đã bị căng ra rất mỏng, lực lượng dự bị còn rất ít. Trong nội đô, địch chỉ dựa vào cảnh sát và phòng vệ dân sự. Hướng hiểm yếu nhất, theo y, là tiến công từ Gò Dầu Hạ - Trảng Bàng. Trên hướng Đông, địch có thể phá các cầu để chận bước tiến của quân ta. Địch bố trí các kho đạn chính ở Nhà Bè ĐKRS và Cát Lái. Long Bình chỉ là kho tiếp liệu. Do địch dựa chủ yếu vào lực lượng không quân, nên các sân bay Tân Sơn Nhất, Biên Hoà và Cần Thơ giữ vai trò quan trọng, đặc biệt sân bay Biên Hoà, nơi đậu các máy bay cường kích F5 và A 37…”.
Từ BCH Miền, nơi trực tiếp điều khiển tác chiến, Thượng Tướng Trà kể lại:
“Sau đó chúng tôi thống nhất kế hoạch và huyết tâm: Sư Đoàn 6 của Quân Khu 7 quen thạo địa phương được tăng cường pháo và xe tăng, bí mật hành quân, bất ngờ giải phóng một đoạn trên đường 15, chọc qua tỉnh lộ 19 chạy quanh lòng chảo Nhơn Trạch, đặt cho được trận địa pháo 130 ly tại đây. Từ trận địa pháo này, trước khi có lệnh thống nhất tiến công vào Sàigòn thì bắn khống chế sân bay Tân Sơn Nhất, sau đó chi viện đắc lực cho cánh quân phía Đông vùng ĐKRS”.
Cũng theo tài liệu của VC, trong chiến dịch Hồ Chí Minh, hai Trung Đoàn 46 và 101 thuộc Sư Đoàn 325, Quân Đoàn 2 được lệnh tiến đánh chi khu Nhơn Trạch với hai nhiệm vụ:
-Mở đường đưa pháo tầm xa để bắn vào phi trường Tân Sơn nhất, khoá chặt đường vận chuyển hàng không ra khỏi Sàigòn trước giờ tổng công kích.
-Ngăn chận đường thuỷ từ sông Lòng Tàu đi ra biển.
Lữ Đoàn 164 Pháo Binh Quân Đoàn 2 giao nhiệm vụ cho Tiểu Đoàn 3 pháo 130 ly đi theo sau đội hình tiến công của Sư Đoàn 325 vào Nhơn Trạch, đặc trách nhiệm vụ trút đạn vào Tân Sơn Nhất.
CSBV đánh Thành Tuy Hạ bắt đầu lúc sáng sớm và chấm dứt lúc 18 giờ ngày 29/4 sau nhiều đợt xung phong có chiến xa yểm trợ. Trong khi đó quân CS chỉ pháo kích vào ĐKRS làm một binh sĩ bị thiệt mạng. Mặc dù bọn CS có những chuẩn bị trước, nhưng gặp sự kháng cự mãnh liệt của QLVNCH khiến CS không chiếm được chi khu Nhơn Trạch đúng theo kế hoạch nên pháo binh 130 ly của CS phải đặt tại khu vực hai ấp Long Tân và Phú Thạnh và chỉ có thể bắt đầu pháo kích vào Tân Sơn Nhất vào chiều ngày 29/4. Những cuộc pháo kích ngày 28/4 là pháo binh của hai đoàn đặc công 115 và 117 từ hướng Bình Dương. Cuộc pháo kích này kéo dài đến sáng ngày 29/4. Hai binh sĩ TQLC Mỹ bị thiệt mạng vì pháo kích tại Cơ Quan Tuỳ Viên Quốc Phòng.

Sáng 29 tháng 4/1975, CHT /ĐKRS trình diện Tư Lệnh Hải Quân, nhận lệnh chuẩn bị di chuyển về Quân Khu 4 khi cần. Trong đêm 29/4/75 Phó Đô Đốc Chung Tấn Cang, Tư Lệnh Hải Quân, chỉ thị CHT ĐKRS di chuyển theo hạm đội và là đơn vị đi sau cùng, khi tàu dầu của hải quân đi ngang qua đặc khu.

Trong thời gian này, QLVNCH chưa có cấp Chỉ Huy đại đơn vị nào công khai ra lệnh cho đơn vị của mình rời khỏi lãnh thổ trách nhiệm, kể cả TTMT . Vì vậy tôi mới hỏi Phó Đô Đốc:
_ “Thưa Đô Đốc,Tổng Thống ra lệnh Đô Đốc đem Hải Quân ra khỏi Sàigòn hay sao mà Đô Đốc ra lệnh cho tất cả hạm đội di chuyển?”
_ “Tổng Thống* không có ra lệnh tôi đem Hải Quân đi, nhưng Tổng Thống gửi con và rể của TT cho tôi để làm gì thì anh cũng hiểu”. (*TT Dương Văn Minh)
Giờ phút này, chiều 29/4/1975 , đồng bào các nơi tựu về ĐKRS rất đông, vì ở sông Sàigòn hạm đội Hải Quân VNCH đã đi hết rồi. Tôi nói Hải Quân Trung Tá Nguyễn văn Nghĩa, Chi Khu Trưởng Quảng Xuyên:
_ “Anh hãy đưa anh em và đồng bào di chuyển trước, tôi sẽ đi sau.”
Chúng tôi di chuyển theo sông Lòng Tàu ra biển bằng tàu PGM và Hải Thuyền, vì hầu hết tàu bè di tản từ miền Trung về đều được đưa xuống ĐKRS.
Image
Tàu ZIPPO của Lực Lượng Đặc Nhiệm 99

Riêng tôi nhận được lệnh của Tư Lệnh Hải Quân phải liên lạc với Hải Quân Đại Tá Lê Hữu Dõng Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Nhiệm 99, là một lực lượng mạnh nhứt của Hải Quân sông, có khoảng 64 chiến đỉnh, để chuyển lệnh bỏ vùng hoạt động, ra khơi với hạm đội. Trong lúc này đơn vị của Hải Quân Đại Tá Dõng đang hành quân giải toả áp lực địch trên kinh Thủ-Thừa Tỉnh Long-An và đã gây thiệt hại nặng cho Đoàn 232 VC, (tương đương với một quân đoàn), do Tướng Lê Đức Anh chỉ huy. Khi tôi di chuyển ra tới cửa biển Cần-Giờ thi trời bắt đầu sáng ngày 30 tháng Tư năm 1975. Chiều 30-04 thì tất cả hạm đội Hải Quân VNCH đều dừng lại quanh đảo Côn Sơn để liên lạc với Quân Đoàn 4 nhưng không tiếp xúc được với Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn.

Ngày 02-05-1975 hạm đội Hải Quân Việt Nam khởi hành cùng hạm đội Mỹ đi Phi Luật Tân.

Tài liệu của CS ghi nhận sau khi chiếm được Cát Lái, Sư Đoàn 325 để lại hai Trung Đoàn 46 Bộ Binh và 84 Pháo Binh để ngăn chận sông Lòng Tàu với mục đích là chiếm trọn vẹn hạm đội của hải quân VNCH nhưng không nói gì về kết quả ngăn chận. Đoàn 10 Rừng Sát cũng cho rằng họ đã “khống chế” sông Lòng Tàu, đoạn từ Phước Khánh đến ngã ba Đồng Tranh từ ngày 27/4. Tuy nhiên việc cả hạm đội của Hải Quân VNCH ra biển an toàn bằng chính thuỷ lộ này đã trả lời cho sự khoác lác của bọn Cộng Sản Việt Nam .
Năm 1999 ngày 01 tháng 09 Cộng Sản khánh thành đài tưởng niệm liệt sĩ tại Nhơn Trạch trong đó có ghi nguyên văn:

“Đoàn 10 hơn tám trăm người ngã xuống tại đây, hơn năm trăm liệt sĩ chưa tìm thấy hài cốt”...

Posted: Fri Mar 02, 2012 6:21 am
by tranphuongdong
Hãy vinh danh người lính Việt Nam Cộng Hoà

"... Người Cộng Sản chân chính có truyền thống là những người không hề biết hoà bình, không sống được trong hoà bình thật sự ...

Khởi đầu là việc cày nát nghĩa trang Quân đội và hạ tượng Người Lính Việt Nam Cộng Hoà ..."

Không biết bắt đầu từ thuở nào có một quy luật hình thành là ở một thể chế chính trị, đều thành lập một lực lượng để bảo vệ mình, lực lượng đó được gọi là quân đội.

Quân đội sinh ra từ chế độ và nó cũng vẽ nên những chân dung của chế độ. Chế độ tốt sẽ xây dựng nên một quân đội tốt. Quân đội tốt sẽ không dung dưỡng một chế độ xấu. Từ hơn hai nghìn năm về trước, người lính Việt Nam với chiếc áo trấn thủ, mang gươm giáo ngàn xưa để gồng gánh trên vai những nhiệm vu giết thù diệt loạn, bảo quốc an dân, giữ gìn cơ nghiệp của tiền nhân. Trải qua bao thăng trầm của đất nước, hình ảnh của người lính thay đổi qua bao thời thế, nhưng trách nhiệm không hề thay đổi.

Người thanh niên tuổi trẻ Việt Nam từ khi bước vào quân trường, khoác vội bộ đồ trận, lưng mang vác ba lô cho tới khi anh đứng nghiêm với lời tuyên thệ Vị Quốc Vong Thân. Người tuổi trẻ đã trở thành người lính. Anh trưởng thành hơn bóng dáng của quê hương. Người lính với chiếc nón sắt xanh đậm tròn tròn như nửa vầng trăng in rõ bóng trên nền trời xanh lơ. Anh đã bước ra, tay ôm súng và chân mang giày trận, anh giẫm mòn nửa vòng đất nước đi canh giữ cho quê hương.

Bắt đầu từ thập niên Sáu Mươi, khi kẻ thù phương Bắc, với xe tăng súng cối, với những chủ thuyết ngoại lai, với những xích cồng nô lệ, đã toan tính nhuộm đỏ quê hương, thì từ đó, người lính đã hiện diện trong tuyến đầu lửa đạn. Anh mang vác hành trang, chiếc ba lô nặng cồng kềnh để chận bước quân thù, để bảo vệ miền Nam.

Ðất nước hai mươi năm chiến tranh, hai mươi năm dài người lính hầu như không ngủ. Hai mươi năm có tới mấy ngàn ngày để anh đi từ sáng tinh mơ, chân giẫm ướt ngọn sương mai trên cỏ. Hai mươi năm có tới mấy ngàn đêm, bóng anh mịt mờ trong núi rừng lạnh giá. Hai mươi năm, anh nghe tiếng đại bác vang trời không nghỉ.

Tiếng mưa bom đạn réo bên mình. Tiếng xe tăng nghiền nát đường quê hương. Hai mươi năm, anh đã đem sinh mạng của mình đặt trên đường bay của đạn. Ðã đem hy vọng cuộc đời đặt trên khẩu súng thân quen. Hay đã đem tình yêu và nỗi nhớ đặt trên đầu điếu thuốc. Hai mươi năm chiến tranh có bao ngày anh được ngủ yên trên chiếc giường ngay ngắn. Có bao đêm anh mơ được trọn giấc bình yên. Hay anh đã sống thân quen với đời gian khổ và đánh bạn với gian nguy.

Anh với đầu đội súng và vai mang ba lô, lội qua những vũng sình lầy nước ngang tầm ngực. Anh đã đi qua những địa danh xa lạ: Ashau, Ia Drang, Kontum, Pleime, nơi giơ bàn tay cũng không thấy được bàn tay. Hay anh truy địch ở bờ sông Thạch Hãn lừng lững sương mai, ở phá Tam Giang sóng vỗ kêu gào hay ở Cổ Thành xứ Huế mù sương. Dài dọc xuống Miền Nam với rừng Tràm, rừng Ðước, đến Ðồng Tháp Mười anh đã nghe muỗi vo ve như sáo thổi.

Anh đã đến những nơi mà anh không tưởng, anh đi diệt địch và anh đã ngã xuống địa danh chẳng quen dấu chân anh. Người lính nằm xuống ở Miền Nam xanh tươi ngọn mạ, ở những vùng trầm se rét Miền Trung, hay ở Miền Ðông xác thân thối rửa Từ Ấp Bắc, Ðồng Xoài, Bình Giả... cho tới Tống Lê Chân, An Lộc, Bình Long, người lính đã căng rộng tấm poncho để che kín bầu trời Miền Nam được yên ấm tự do. Nối gót tiền nhân, người lính, mỗi người lính đã đem 3.8 lít máu tươi, tưới cho thắm tươi hoa lá ruộng đồng, đã đem mỗi một 206 lóng xương khổ nạn của mình cắm trăm nẻo đường quê hương muôn ngã, để cho chính nghĩa quốc gia tự do được tồn tại. Ðể cho người dân quốc gia được sống no ấm ở hậu phương.

Những người dân quốc gia, những người dân quốc gia không hề muốn trở thành dân Cộng Sản, những người quốc gia luôn muốn bỏ chạy khi Cộng Sản tới và núp bóng người lính để được sống an nhàn ở chốn hậu phương. Họ hoàn toàn trao trọng trách bảo vệ quốc gia, ngăn thù dẹp loạn như một thứ công việc và trách nhiệm của người làm nghề lính, như thể không liên quan gì tới họ. Và họ tự trấn an lương tâm rằng người lính sẽ không bao giờ buông súng và sẽ mãi mãi bảo vệ họ tới cùng. Vì thế, họ luôn yên tâm sống ở hậu phương, yên tâm kiếm tiền và tranh đua đời sống xa hoa phè phỡn trên máu xương của người lính.

Và ở hậu phương, người lính đồng nghĩa với nghèo, đời lính tức là đời gian khổ, và tương lai người lính đếm được trên từng ngón taỵ Thế nên, người lính về hậu phương, anh ngỡ ngàng và lạc lỏng. Bỗng hình như anh cảm thấy mình như người Thượng về Kinh. Như vậy thì người ta tội nghiệp người lính và yêu người lính để thể hiện tình quân nhân cá nước trong sách vở, báo chí và truyền hình.

Người lính bị bắt cóc vào văn chương tiểu thuyết là những người lính giấy, vào văn chương để tự phản bội chính mình, để thoả mãn cho những kẻ trông con bò để vẽ con nai, và ngồi phòng khách để diễn tả chiến trường đỏ lửa. Người lính trên trang giấy ngang tàng và hung bạo, chửi rủa chính phủ, chống chính quyền và ghét cấp chỉ huy, lính la cà trong quán rượu, uống rượu chẳng thấy say, và càng say càng đập phá. Người lính xuất hiện trên sân khấu thì phong lưu và đỏm dáng hay trắng trẻo no tròn. Anh mặc đồ trận mới toanh còn nguyên nếp gấp, ngọt ngào chót lưỡi đầu môi anh ca bài ca mời gọi ái tình. à người yêu của anh lính là những cô mắt ướt môi hồng, áo quần xa hoa lộng lẫy, thề non hẹn biển yêu lính trọn kiếp trong ti vi. Như vậy thì quá mỉa mai cho cái gọi là anh trai tiền tuyến, em gái hậu phương.

Trong khi đó, ở ngoài đời những người vợ lính là những người chống giữ thầm lặng ở xã hội hậu phương.
Ðó là những người đàn bà bình dị với tấm áo vải nội hoá rẻ tiền, với đôi guốc vông kẻo kẹt, đóng vai vừa là người mẹ vừa là người cha nuôi con nhỏ dại, gói ghém đời sống bằng lương người chồng lính chỉ vừa đủ mua nửa tháng gạo ăn. Ðó là những người đàn bà tất tả ngược xuôi, lăn lộn thăm chồng ở các Trung Tâm Huấn Luyện, hay ở những nơi tiền đồn xa xôi với vài ổ bánh mì làm quà gặp mặt. Ðó là những người âm thầm và lặng lẽ, chịu đựng và hy sinh để chồng luôn an tâm chống giữ ngoài trận tuyến với đối phương. Hạnh phúc của họ mong manh và nhỏ bé, bất chợt như tình cờ. Có thể ở một thỏi son nhỏ bé mà người lính mang về để tặng vợ, có thể là một chiếc nón bài thơ, hay chút tình cờ ở một buổi tối người lính chợt ghé nhà thăm vợ. Hạnh phúc ở trong chén trà thơm uống vội, hay ở lúc nhìn đứa con bé nhỏ chào đời tháng trước.

Người vợ lính cũng là những người hằng đêm thức muộn để lắng tai nghe tiếng đại bác thâu đêm, rồi định hướng với lo âu trằn trọc. Ðó là những người đàn bà mà sau mỗi lần đơn vị chồng đụng trận, đi thăm chồng giấu giếm mảnh khăn sô. Trong nỗi chịu đựng hy sinh, âm thầm và kỳ vĩ, họ vẫn sống và luôn gắng vượt qua để cho người chồng an tâm cầm súng. Ðể anh, người lính, anh mang sự bất công to lớn, sự bạc đãi phủ phàng, anh vẫn đi và vẫn sống, vẫn chiến đấu oai hùng giữa muôn ngàn thù địch.

Ở chiến trường, anh đối diện với kẻ thù hung ác, ở hậu phương anh bị ghét bỏ khinh khi, trên đầu anh có lãnh đạo tồi, sẵn sàng dẫm xác anh để cầu vinh cho họ, đồng minh anh đợi bán anh để cầu lợi an thân.
Những người dân của anh, những người anh hy sinh để bảo vệ từ chối giúp anh truy lùng kẻ địch, và điềm nhiên để anh lọt vào ổ phục kích của địch quân. Những người dân bán rẻ linh hồn cho quỷ, tiếp tay cho địch thác loạn ở hậu phương, đó là những kẻ chủ trương đòi quyền sống, trong đó không bao gồm quyền sống của anh.

Những kẻ để trái tim rung động tiếc thương cho cái chết của kẻ thù nhưng dửng dưng trước sự ngã xuống của anh. A dua, xu thời là bọn báo chí ngoại quốc thiên tả, lệch lạc ngòi bút, ngây thơ nhận định, mù quáng trong định kiến. ất cả vây quanh anh để tặng cho anh những đòn chí tử. Người lính bi hùng và bi thảm. Anh chống địch mười phương, tận lòng trong đơn độc, anh vẫn hy sinh và chống giữ tới hơi thở cuối cùng.

Ngày Hoà Bình, 28 tháng Giêng năm 1973 hiệp định Paris được ký kết Hoà Bình thật đến trên trang giấy, đến với thế giới tự do. Thế nên, thế giới tự do nâng ly để chúc mừng cho hoà bình của họ và nhận giải Nobel. Nhưng hoà bình đến ở Việt Nam tanh hôi mùi máu, đen ngòm như tấm mộ bia. Và anh, anh là vật thụ nạn trong cái hoà bình bi thảm.

Người lính vẫn tiếp tục ngã xuống, đem xác thân đắp nên thành luỹ để ngăn bước quân thù. Từ Ðông sang Tây, từ Nam chí Bắc, từ ngàn xưa và cho tới ngàn sau, có một quân đội nào mang số phận bi thương và oai hùng như người lính?

Những người lính chịu uống nước rễ cây và đầu không nhấc thẳng, đi luồn dưới Rừng Sát suốt 30 ngày không thấy ánh mặt trời. Những người lính đi hành quân mà không người yểm trợ để hai ngày ăn được bốn muỗng cơm, hay ăn luôn năm trái bắp sống và những lá cải hư mục ruỗng, miệng thèm một cục nước đá lạnh giữa cái nắng cháy da.

Người lính, người ở địa đạo Tống Lê Chân ăn côn trùng để tử thủ giữ ngọn đồi nhỏ bé. Người nằm xuống ở An Lộc, Bình Long. Và thủ đô, vòm trời thân yêu mà anh mơ ước để tang truy điệu cho anh chỉ có ba ngày. Ba ngày cho sinh mạng của năm ngàn người ở lại. Người ta lại tiếp tục vui chơi và quên đi bất hạnh. Bởi bất hạnh nào đó chỉ là bất hạnh của riêng anh.

Người lãnh đạo anh còn mè nheo ăn vạ. Và anh, anh phải đóng trọn vai trò làm vật hy sinh. Trước nguy nan, lãnh đạo anh tìm đường chạy trốn thì anh vẫn còn cầm súng ở tiền phương. Anh đã chống giữ, chịu đựng từng đợt xung phong ở Ban Mê Thuột mỗi ngày 24 giờ, không có ai yểm trợ, tiếp tế từ hậu phương. Nhưng ở đó, anh vẫn phải tử thủ cho con đường tẩu thoát của cấp lãnh đạo anh tuyệt đối được bình yên.
Và đồng minh của anh, người đồng minh đã từng sát cánh, cùng chia sẻ nỗi gian nguy ở Hạ Lào, Khe Sanh dưới trời mưa pháo, nay lại nghiễm nhiên nhìn anh đi những bước cuối cuộc đời. Phải chăng nhân loại đang trút những hơi thở cuối cùng nên lương tâm con người đang yên nghỉ ?

Cho nên, cả thế giới lặng câm để nhìn anh chết. Không chỉ cái chết riêng cho mỗi mình anh, vì bởi dưới đuờng đạn xuyên qua, xác thân anh ngã xuống thì đau thương đã vụt đứng lên. Cái bi thương có nhân dáng lớn lên và tồn tại suốt ngang tầm trí nhớ. Và người lính, anh vẫn kỳ vĩ và chịu đựng như vị thần Atlas mang vác quả địa cầu, người lính đã mang vác và bảo vệ mấy trăm ngàn người dân trên đường triệt thoái.
Trên những con đường từ Cao Nguyên không thiếu những người lính gồng gánh cho những người cô dân chạy loạn. Tay anh dẫn em thơ, tay dắt mẹ già chạy trong cơn mưa pháo. Và anh đã làm dù, làm khiên đỡ đạn, cho nên thân xác anh đã căng cứng mấy đường cây số, hay xác làm cầu ở tỉnh lộ 7B, anh đã chết ở Cao Nguyên lộng gió và đếm những bước cuối đời ở ngưỡng cửa thủ đô.

Bởi lãnh đạo đầu hàng nên anh nghẹn ngào vất đi súng đạn. Với nham nhở mình trần, anh vẫn chưa tin đời đã đổi thay. Có thật không? Hai mươi năm chiến tranh kết thúc? Giã từ những hy sinh và gian khổ của hôm quả có thật không? gày buông rơi vũ khí, anh mơ được về để an phận kẻ thường dân? Và có thật không? Anh được đi, được sống giữa một quê hương rối loạn tràn ngập bóng quân thù?

Anh đã khóc nhiều lần cho quê hương chinh chiến và đã khóc nhiều lần cho những xác bơ vơ. Lính khổ lính cười, dân khổ để người lính khóc. Và có ai, từng có ai trong chúng ta đã khóc thương cho đời lính?
Thương cho người lính với trái tim tan vỡ từ lâu. Bởi trái tim anh đã hơn một lần để lại dưới chân Cổ Thành Quảng Trị, ở một mùa Xuân xứ Huế năm nào, ở Hạ Lào, Tống Lê Chân hay ở trong cái nồi treo lủng lẳng trên ba lô khi anh hô xung phong để tiến vào An Lộc? Người lính thật sự trái tim anh tan vỡ từ lâu.

Lịch sử đã sang trang, và loài người đã bắt đầu đi những bước cuối cùng trên trái đất? Thế nên thời trang nhân loại là thứ phấn hương tàn nhẫn, và môi tô trét thứ son vô tình.
Cả thế giới đồng thanh công nhận và gửi điện văn chúc mừng sự thống nhất ở Việt Nam. Và người ta uống chén rượu mừng để truy điệu Việt Nam đi vào cõi chết, chúc mừng Việt Nam có thêm 25 triệu nô lệ mới nhập tên. Hoà bình đã nở hoa trong cộng đồng thế giới, trong đời người Cộng Sản, nhưng hoà bình không thật đến ở Việt Nam.

Người Cộng Sản chân chính có truyền thống là những người không hề biết hoà bình, không sống được trong hoà bình thật sự. Như con giun, con dế sợ ánh sáng mặt trời. Thế nên họ dẫn dắt toàn dân đi xây dựng văn minh thời thượng.

Khởi đầu là việc cày nát nghĩa trang Việt Nam Cộng Hoà và hạ tượng Người Lính Việt Nam Cộng Hoà. Người Lính rơi xuống vỡ tan trong lòng đường phố, nhưng từ đó anh mới thực sự đứng lên, đứng thẳng và oai hùng hơn trước trong trái tim của người dân Việt Miền Nam.
Bởi từ khi những người bộ đội Cộng Sản bước chân vào thành phố, thì người dân Quốc Gia mới thật sự hiểu được giá trị của anh. Và những sự lầm lẫn và hối hận hôm nay hình như luôn theo nhau đi vào lịch sử. Vậy thì, khi ta chết trên con đường chạy loạn, khi ta chết ở bãi Tiên Sa, ta vùi thân nơi vùng kinh tế mới hay ta chìm dưới đáy biển Ðông, không phải vì khẩu súng rơi trên tay người lính, mà ta chết bởi viên đạn ích kỷ, viên đạn lãnh đạm và thờ ơ xuất phát từ trái tim bắn ngược lại chính ta. Bởi sự thật về người Cộng Sản đã đi quá tầm tưởng tượng và sự hy sinh của người lính vượt quá nỗi bi thương.

Hai mươi năm chiến tranh, hơn hai trăm ngàn người lính, hơn năm trăm ngàn thương binh đã để lại hai trăm ngàn sinh mạng và năm trăm ngàn những phần cơ thể để lại trên chiến trường khốc liệt. Ðể cho chúng ta có một bầu trời để thở, có một khoảng không gian đi đứng tự do, để cho tuổi thơ của chúng ta không phải đi lượm ve, lượm giấy, không phải đeo khăn quàng đỏ và ngợi ca những điều dối gạt chính mình.
Ðể cho bàn tay thiếu nữ không chạm bùn nhơ thủy lợi, tuổi thanh xuân không phải vùi chôn ở những gốc mì. Ðể cho bà mẹ già không phải ngồi mơ ước miếng trầu xanh, và những giọt nước mắt thôi không cần tuôn chẩy.

Nhưng lịch sử đã sang trang, những trang hồng tươi màu máu cho người Cộng Sản và cũng là những trang đẫm máu và nhơ bẩn nhất cho cả lịch sử của dân tộc Việt Nam.

Anh, người lính trong thời chiến thành người tù của thời bình. Người lính chịu số phận bi thương của chiến tranh và cũng chịu luôn số phận tàn nhẫn trong thời bình.

Anh người lưu vong trong lòng dân tộc, và lưu đày ở chính quê hương anh. Bởi Cộng Sản Việt Nam đã bắt đầu một cuộc chiến tranh mới và đẩy anh xuống đáy trầm luân. Cũng chính từ chiến trường Tù Ngục này mà Cộng Sản đã chứng minh được Chúng và Anh không là đồng loại. Chúng, là lũ Cộng Sản cuồng tín, và tàn bạo nhất giữa thế giới Cộng Sản và vô nhân. Chúng lập nên một vương quốc mới mang tên là Lừa Dối, và mở ra một kỷ nguyên giết người theo kiểu mới, giết người bằng những mỹ từ đẹp đẻ, bằng lao động vinh quang, bằng thời gian không thể đếm.

Người lính bước vào trận chiến mới, chiến trường có tên là cải tạo, và anh người tù nhân không có án. Ở đây anh không có lãnh đạo, không có đồng đội, không có hậu phương. Kẻ thù vắt cùng, vắt kiệt sức lực anh trong rừng thẳm. ày đọa sỉ nhục anh dưới hố xí tanh hôi, đem thanh xuân và tài hoa của anh vùi chôn ở những vòng khoai vớ vẩn. Ðặt hy vọng của anh máng vào những mốc thời gian.

Người lính đã trở thành vật thụ nạn thời bình. Anh chết đói bên những vòng xanh nở rộ do chính tay anh cày xới vun trồng. Anh chết khát khi bên ngoài mưa rơi tầm tã. Giữa những trùng vây sóng dữ, giữa bóng tối cô đơn Anh vượt qua sự chết để đem về nghĩa sống. Anh đi xiếc qua những ranh giới tử sinh để chứng minh được phẩm giá con người. Ðôi mắt anh cao ngạo và chân đạp chữ đầu hàng.

Từ trong tăm tối hận thù, anh thắp sáng lên ý nghĩa đời người. Anh đã chiến đấu, để từ trong cõi chết anh bước ra mà sống. Ðể anh trở về từ địa ngục trần gian. Bao đồng đội bất hạnh đã ngã xuống trong rừng thẳm, cuối cùng anh đã trở về: Nước mắt anh không rơi trong ngục tù Cộng Sản, nước mắt anh rơi khi anh được trả tự do. Anh bước về, anh đi giữa lòng quê hương. Anh ngỡ ngàng như thức từ cơn mộng. Có thật chăng đất nước Việt Nam, tàn hơn 30 năm chinh chiến và tù đày, để anh có được một đất nước thanh bình điêu tàn hơn thời chiến? Và tuổi trẻ, những mầm non đất nước hôm nay xa lạ như người không cùng chung dòng giống. Anh đi trên đường phố xưa, đường đã đổi tên. Anh tìm bạn bè cũ, đứa còn đứa mất. Quê hương này không có chỗ cho anh?

Hai mươi năm chiến chinh, mười mấy năm tù đày trên chính quê hương để rồi anh phải tha hương biệt xứ. Người lính, mười bốn năm lính, mười bốn năm tù, tài sẵn có, được trí trá vài đô la, và mái đầu sương điểm để anh bước vào đời lần nữa.

Anh không có quyền bắt đầu, chỉ có quyền tiếp tục trôi theo dòng đời nghiệt ngã. Người lính cũ ngồi bán nước đá bào cho học trò giờ tan học ở chính quê hương. Hay anh, người lính lưu vong ngồi bán thuốc lá lẻ hằng đêm trong những tiệm Seven Eleven trên đường phố Mỹ.

Ba mươi năm vết thương cũ hầu như chưa lần khép kín. Ôi, hai mươi sáu chữ cái bắt đầu từ a, b, c, đ dẫu sắp xếp khéo léo tới đâu vẫn không đủ để viết nên những bi hùng anh đã đạt. Và cần phải thêm vào bao nhiêu chữ nữa mới diễn tả lên sự xót thương anh.

Chúng ta đã quá may mắn, quá vinh dự để trang sử Việt Nam có thêm những anh hùng như người lính Việt Nam Cộng Hoà, những anh hùng vô danh và sống đời thầm lặng, những anh hùng bình thường mà ta chưa có dịp vinh danh.

Nhưng cho tới nay, ta đã làm gì để tri ân người lính Quốc Gia. Chúng ta những người dân Quốc Gia đi chung con thuyền Miền Nam do các anh chèo chống, đưa qua những con sóng dữ Việt Nam. Những người quốc gia đã sang thuyền trong cơn quốc nạn, và đã để mặc anh chìm trong cơn Hồng Thuỷ của Việt Nam.

Chúng ta, những người quốc gia tầm gửi, đã sống nhờ trên máu xương người lính, và chưa lần đóng góp nào cho chính nghĩa quốc gia. Có phải giờ đây, chúng ta tiếc thương người lính bằng đầu môi chót lưỡi, bằng những video, nức nở kêu gào, hay chúng ta khóc cho người lính bằng những trang thơ vớ vẩn? Và có ai, có ai trong chúng ta cảm thấy thẹn khi ta đã đôi lần hãnh diện vì ta nói tiếng Anh trôi chẩy hơn họ, xe ta đẹp, nhà ta to.

Ngày nay, Người Cộng Sản ở quê hương với đôi tay đẫm máu của thuở nào cũng nói lời phản tỉnh. Vậy còn ta, bao nhiêu người Quốc Gia sẽ thức tỉnh để vẽ chân dung kỳ vĩ và nhiệm màu của Người Lính chúng ta. Có ai trong chúng ta sẵn sàng chi tiêu những bữa tiệc đắt tiền trong những nhà hàng danh tiếng, mua những tấm vé vào cửa của đại nhạc hội lừng tên mà ta tiếc bỏ tiền ra để quyên góp, xây lại tượng Người Lính ở thủ đô đã ngã xuống hôm nào.

Ðể một mai, khi quê hương không còn giống Cộng Sản, ta đem anh về trở lại quê hương. Ðể anh được đứng lên chính nơi anh ngã xuống như cùng thời với đất nước lúc hồi sinh.

Bao nhiêu chuyên gia nhóm họp nhan đề "xây dựng lại đất nước trong thời hậu Cộng Sản". Vậy có ai đã đặt kế hoạch tri ân cho người lính ? Bởi, một ngày nào mà ta chưa biết tri ân người lính và đặt họ ở một địa vị xứng đáng mà đáng lẽ họ phải ở từ lâu, thì làm sao ta có thể xây dựng được một xã hội đáng gọi là nhân bản.

Hãy vinh danh người lính Việt Nam Cộng Hoà ....

Hãy giữ gìn và bảo vệ tinh thần Vị Quốc Vong Thân của họ như giữ gìn ngọn lửa thiêng trong lòng dân tộc, thì dân tộc ta mới mong có được những truyền nhân xứng đáng với thế hệ tương lai ....

Nguyễn thị Thảo An

Posted: Tue Mar 06, 2012 2:25 am
by phaobinh
Ca sĩ Trần Ngọc Phong ( tự Phong Râu )

Được biết trong "Bữa Cơm Gây Quỹ Yểm Trợ Tù Nhân Lương Tâm" do Nhóm Yểm Trợ Tụ Do Dân Chủ Việt Nam tổ chức từ 3 giờ chiều đến 8 giờ tối ngày Chủ Nhật 9 tháng 5 năm 2010 tại Nhà Hàng Legin, Oregon, diễn giả là Ký Giả Hồng Phúc và Nhà Văn Phan Nhật Nam. Trong phần văn nghệ đặc sắc, độc đáo ngoài vợ chồng Nghệ Sĩ Văn Tiên/ Phương Thủy Dung cùng nhiều Ca Nhạc Sĩ địa phương còn có sự hiện diện lần đầu tiên của Ca Sĩ Trần Ngọc Phong. Với tư cách là một đàn em, một tù hữu của TNP trong bao nhiêu năm, tôi xin phép có đôi dòng giới thiệu về người Ca Sĩ đặc biệt này.

Trần Ngọc Phong, một Ca Sĩ chuyên nghiệp với giọng ca thiên phú, đã nổi tiếng một thời trên xứ Đà Lạt mù sương cuối thập niên 60 và đầu 70. Anh đi hát từ thuở còn đang theo học Đại Học Chính Trị Kinh Doanh, bắt đầu từ Phòng Trà ca nhạc La Tulipe Rouge năm 1964 rồi rất nhiều nơi khác. Anh hát với tất cả đam mê mà anh gọi là "nghiệp dĩ" chứ không hẳn vì tiền bạc. Cái nghiệp dĩ này đã bám chặt theo anh trong suốt cuộc đời sinh viên, binh nghiệp, tù đày...cho đến tận hôm nay trên miền đất tạm dung.

Anh tốt nghiệp Khóa 1 CTKD năm 1968, đang theo học Cao Học nhưng vì biến cố Mậu Thân đưa đến Tổng Động Viên, Anh phải nhập ngũ Khóa 9/68, ra trường đươc chuyển về phục vụ tại Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị với chức vụ Sĩ Quan Phụ Khảo thuộc Khối Văn Hóa Vụ (của Trung Tá Hoàng Minh Hòa) cho đến ngày mất nước.
Trong hơn 8 năm sống trong các trại tù khổ sai CS ngụy trang dưới mỹ từ "Trại Cải Tạo", tôi đã đi với Anh một đoạn đường dài từ Nam ra Bắc rồi từ Bắc vô Nam. Anh đã hát không ngừng nghỉ, hầu như mỗi ngày, mỗi đêm suốt thời gian này. Lúc đầu chỉ hát lén sau khi cổng trại đã khóa kín với vài người canh chừng vì CS cấm hát "Nhạc Vàng", sau dần thành công khai với những bản nhạc thòi VNCH trước kia được chuyển qua Anh Ngữ, bọn cán ngố có hiểu chi mô vì anh em gọi là nhạc "Liên Xô" hay "Cu Ba", đến những năm sau này thì không biết ai đã cải tạo ai, bọn cai tù CS công khai yêu cầu TNP hát "Nhạc Vàng"!!!

Trại Long Giao chúng tôi có một "phòng trà". Đó là một căn phòng bỏ trống bên cạnh nhà bếp. Tối tối anh em tập họp lại, người pha trà, người đóng góp vài cái bánh ngọt, vài cục kẹo, ít thuốc lào, thuốc rê.....đàn guitar tự chế bằng ván ép lượm lặt, dây đàn làm từ giây điện thoại...ghế ngồi bằng những khúc củi....trống là cái can xăng cũ lật ngược. TNP và Nguyễn Anh Tuấn thay phiên nhau hát mỗi đêm 4 năm mươi bài ! Nhà Văn Dương Hùng Cường (tức Dê Húc Càn) tham dự rất thường xuyên, thỉnh thoảng góp thêm vài chuyện tiếu lâm.

Khi bị chuyển ra miền Bắc với kỷ luật chặt chẽ hơn, sắt máu hơn, anh em chuyển qua hát "Nhạc Xanh" tức nhạc "Niên Xô" hay "Cu Má" (=Cu Ba) thực chất là nhạc chuyển ngữ để ngụy trang, đồng thời để ôn lại chút ngoại ngữ cho qua thời gian. Có nhiều chuyên viên ngôn ngữ trong anh em như Nguyễn Văn Ngọc, người nói viết thông thạo bảy (07) ngoại ngữ có thể giải thích tường tận ngữ pháp liên hệ khi có những tranh luận. Anh Ngọc đã giúp tôi chỉnh lại những bài học tiếng Đức khi tôi dịch quyển "Allemand Sans Peine". Hay nhất phải kể đến anh Lê Thành Luận, một Cử Nhân Văn Chương Anh, đã dịch những bài thật xuất sắc. Ví dụ một đoạn trong bài "Xin còn gọi tên nhau":

- Tiếng hát ru em còn nuối trên môi (Love song for you still on my lips)
- Lời nào gian dối cũng xin qua rồi (Please let's forget all what we've lied)
- Để lỡ ngày sau khi ta cần nhau (So that someday we'll meet again)
- Còn nuối chút êm vui ngày đầu (Little hope you're still be mine)
- Cho mình nhớ gọi thầm tên nhau (In our hearts murmur the names)

Và rất nhiều bài khác bằng tiếng Anh, Pháp hay Đức. TNP còn sở trường hàng trăm bài hát tiếng Tây Ban Nha nên rất thoải mái. Mỗi tối, trong khi anh em nằm trăn trở, có người trùm mền nhớ vợ thương con, có người rấm rức...TNP với cây đàn "tự biên tự diễn", anh hát nho nhỏ, cho mình, cho mọi người..có khi đến 1 hai giờ sáng. Anh hát nhạc Xanh, anh hát nhạc Vàng, anh hát những bài do anh sáng tác (hơn 30 bài) ...

bỗng nhiên nghe anh đổi tông qua nhạc Đỏ "nếu là chim, tôi sẽ là loài bồ câu trắng..." thì biết ngay anh vừa nhận ra ngoài song sắt thấp thoáng một vệ binh. Một hôm bất ngờ có một tên VC lên tiếng"vừa thôi Anh Phong ơi, tôi đã nghe nhiều bài anh hát nãy giờ rồi, hay lắm, đừng giả vờ nữa, cứ tiếp tục đi, tôi canh cho !!!"...dần dần quen đến độ mỗi tối Anh TNP phụ trách nhạc "yêu cầu" do cán binh CS "biến chất" tự nguyện làm lính canh để TNP tha hồ vi phạm "nội quy Trại". Có lần TNP làm reo:

- tôi sẽ hát bài Cán Bộ yêu cầu với điều kiện.
- điều kiện gì?
- Cán Bộ đưa khẩu AK cho tôi bắn vài phát rồi tôi mới hát !?!?
Anh em trong phòng cười rộ lên! Đùa tí thôi !!!

Ngày mồng một Tết 1978, Trại tập trung mọi người lên Hội Trường để nghe Trại Trưởng "chúc Tết"...trước thềm lục địa năm mới ?!?!...Chúc xong, Trại Trưởng "đề nghị" TNP hát một bài. Anh Phong đứng dậy chậm rãi: vì Trại Trường yêu cầu nên tôi xin hát bài "Hương Xưa", nhạc của Liên Xô (???) do Cung Tiến chuyển ngữ (???). Cả hội trường ngồi im phăng phắc, nổi da gà, rùng mình khi nghe TNP hát tỉnh bơ:'"Ôi những đêm dài lòng vẫn mơ hoài một giấc ai mơ, buồn sớm đưa chân cuộc đời, thời hoàng kim nay đã chìm trong sương mơ, dù có bao phen lắng men đợi chờ....nay đời tàn chết trong hoang vu, oán thù từng giờ.."' người ơi, chiều nào có nắng vàng hiền hòa sưởi ấm nơi nơi, người ơi, chiều nào gió thu về cho tôi nhặt lá thu rơi...!?!" VC làm sao hiểu nhưng tất cả anh em đều nghe rõ tâm sự của Anh, cũng là ước mơ của mọi người.
Cuối năm 1980, đa số anh em thuộc Trại tù Thanh Lâm (Thanh Hóa) được chuyển về Nam. Trước khi lên xe, cứ 2 người bị xiềng chung lại với nhau bằng một sợi dây xích có khóa. TNP bị xích với Nguyễn Văn Sơn (Sơn Lai), tôi "cùng khóa" với Ngô Ta (tên thật một người "đồng hương" của tôi. Cùng trại có anh Ngô Tây và một anh tên Ngô Xứng nhưng anh em cứ kêu "Ngô Sắn" cho đủ bộ tam sên). Dĩ nhiên trong cuộc hành trình gần 4 ngày đêm, những đôi "uyên ương" này không bao giờ rời nhau trong mọi sinh hoạt. Ra đến nhà ga Thanh Hóa lúc 2 giò sáng, anh em nằm vất vưởng trên nền xi măng, căn phòng khóa kín, cố tìm giấc ngủ chập chờn...Cái lạnh như từ trong xương lạnh ra...TNP lại cất tiếng hát, tay bị xiềng vẫn bấm phím đàn, những bài hát gây cảm xúc khó tả, trong đó, một bài mang tên "Babilon" của LM Nhạc Sĩ Nguyên Thanh mà tôi không thể nào quên trong suốt cuộc đời. Khi đoàn tàu vừa vượt qua cầu Hiền Lương, các toa xe đều vang lên những tiếng reo mừng “về quê rồi” "chúng ta đã trở về quê hương""về Nam rồi anh em ơi"...

TNP hát lớn hơn bao giờ, vui hơn bao giờ. Đến Quảng Trị, bỗng một viên đá liệng trúng ngay một tên vệ binh làm hắn rớt nón cối. TNP giả bộ xót xa: chết rồi, dân miền Nam còn căm thù chúng tôi quá, họ ném đá chúng tôi đấy chứ, không ngờ trúng phải cán bộ?!!? Đến ga Huế, rất nhiều em bé bán đủ loại bánh trái trên sân ga. Một em trèo lên toa của tôi: mấy chú mua bánh không? Tôi giơ cánh tay bị xiềng lên: cám ơn cháu, mấy chú là tù làm gì có tiền! Ụa, mấy chú là Sĩ Quan miền Nam hả? Đúng cháu ạ! Em bé lẳng lặng đổ luôn thúng bánh lá xuống sàn rồi la lên: Cha con cũng tù như mấy chú, con tặng mấy chú đó, không lấy tiền đâu. Em nhảy xuống tàu rồi chạy mất hút....Một anh phế binh đang chống nạng khập khễnh bước đi, nghe đối đáp giữa tôi và em bé, anh bỗng đúng nghiêm trên một chân, hai cái nạng rơi ra, tay phải giơ lên chào, tay trái đập mạnh vô đùi, cằm bạnh lên, đôi mắt long lanh....tự nhiên tôi không ngăn được giòng lệ....cám ơn anh, "còn trời. còn đất, còn non nước.." .phải không anh? Dạ, một tiếng dạ thật lớn, thật cương quyết, thật căm hờn...TNP hát lớn : "cười lên đi anh ơi, cười lên dấu những dòng lệ rơi, hãy ngước mặt nhìn đời...." Xe từ từ lăn bánh..anh phế binh vẫn đứng im thật lâu trên một chân, chào một lần nữa rồi ngồi bệt xuống đất, một tay vò đầu, một tay sờ soạng tìm cặp nạng...Khi xe gần đến thành phố Đà Nẵng, vệ binh VC bắt chúng tôi đóng hết các cửa xuống. Lúc bánh xe ngừng hẳn chúng tôi nghe những tiếng đập bên hông tàu:

- mở cửa ra mấy chú ơi, mở cửa ra mấy chú ơi!
- mấy chú là tù, có công an trên xe cấm không cho các chú mở

Các cháu tiếp tục la lớn hơn, đập vào thành xe mạnh hơn. Căng thẳng. Hà Bằng thét lên thật to:

- Trời đất ơi, nóng quá rồi, ngộp thở rồi, mở cửa ra lẹ lên

Tất cả anh em ngồi bên cửa nhìn nhau rồi đồng loạt mở tung lên, mặc những tên vệ binh la hét, nạt nộ, tức thì những ổ bánh mì được ném vào. Tôi nhìn thấy rõ những em bé trên dưới 10 tuổi tay cầm 2 ổ bánh, ném xong lại chạy thật nhanh ra xa xa, nơi đó có vài thiếu phụ đứng bên cạnh những cần xế bánh, nhận 2 ổ khác, tiếp tục hăng hái chạy đi "giao hàng" !!!

Không lẽ họ có tổ chức ?? Thấy vậy, TNP xướng trước, anh em cùng vỗ tay đồng ca bài Việt Nam Việt Nam hùng tráng biết bao. Vài cô gái ngồi trên chuyến tàu bên cạnh yêu cầu, TNP hát liền mấy bài, tiếng vỗ tay, tiếng cười vang vang, ngạo nghễ...

Một số tiếp viên trên tàu lén ra hiệu hay nói nhỏ nếu chúng tôi muốn nhắn tin gia đình, bỏ vô gạt tàn thuốc bên cạnh chỗ ngồi, họ sẽ chuyển giùm cho. Tôi lấy một vỏ bao thuốc lá Mai viết ở mặt sau địa chỉ nhà với dòng nhắn: "Con vẫn khỏe. Đang đươc chuyển về Nam, không biết trại nào, hình như Long Khánh. Chờ tin con" (không ký tên). Hình như tất cả những "thư" nhắn của chúng tôi đều đươc các em các cháu đích thân tìm đưa đến tận nhà. Các anh trên chuyến xe lửa xuôi Nam ngày cuối cùng của năm 1980 có còn nhớ cảm tình này, hình ảnh này không? Ân nghĩa thâm sâu của bà con Huế Đà Nẵng có ai còn nhớ không? Cái chào thân thương của người bạn phế binh hình như vẫn còn đó, anh vẫn còn đang đứng mãi nơi đó, đứng trên một chân, bất động, tay vẫn chào, mắt vẫn còn ngóng theo đoàn tàu, đoàn tàu nay tha hương..vì miếng cơm, manh áo, vì sinh kế sinh tồn, vì mải mê mưu cầu chút hạnh phúc bản thân....có ai, một lúc nào đó, còn nhớ đến anh chăng ? Hay vẫn cứ bình thân an phận thủ thường !?! Chúng tôi về đến Z30A Xuân Lộc Đồng Nai vào lúc 11 giờ đêm, giờ cuối cùng của năm 1980 để bắt đầu ngày 1 tháng 1 năm 1981 tại nhà tù này.
Ngoài tài ca hát, TNP còn rất có duyên kể chuyện. Anh là tác giả của rất nhiều chuyện tiếu lâm châm chọc CS. Chuyện gì anh cũng có thể biến thành hài hước. Ngay những ngày căng thẳng vì phải khai lý lịch, TNP vẫn bình thản. Từ phòng lấy khẩu cung ra, Anh Phong vẫn với nụ cười "vểnh râu" cố hữu: hôm nay tôi được "dạy" một bài học nhớ đời. Thằng cán bộ hỏi:

- Anh Phong, anh khai rằng anh có văn bằng Cử Nhân, vậy bằng Cử Nhân nghĩa là gì?
- Thưa cán bộ, Cử Nhân là Cử Nhân chứ còn là gì nữa.
- Anh học Cử Nhân làm sao?
- À, thì tôi học từ Tiểu Học, lên Trung Học phải thi lấy bằng Tú Tài một, rồi lấy bằng Tú Tài Hai, rồi lên Đại Học học thêm 4 năm nữa, học tốt mới được cấp văn bằng Cử Nhân.

Tay cán bộ lẩm nhẩm tính toán một lúc rồi ra điều "ta đây":

- Như vậy là anh có bằng "Tú Tài sáu" phải không?
- À à, hai cộng bốn là sáu, cũng đươc, cán bộ giỏi quá, biết làm cả tính cộng nữa !!!
- Đúng đấy. Nhưng tôi bảo thật anh nhá, anh học đến Tú Tài 6 mà anh ngu lắm!
- Tôi ngu thế nào cán bộ phải cho tôi biết chứ? TNP chợt sửng cồ lên!
- Anh vểnh tai mà nghe tôi dạy đây. Anh Tú Tài 6 mà anh quá ngu ở chỗ...Nhà anh ở đường Huỳnh Tịnh, Sài Gòn phải không?
- Ơ, ơ...
- Ừ đấy đấy, Huỳnh Tịnh Sài Gòn thì viết Huỳnh Tịnh Sài Gòn, đằng này anh viết Huỳnh Tịnh của Sài Gòn mà chữ "của" anh còn viết "hoa"!?!?
- Chu choa trời đất ơi, trên đời này tôi chưa hề thấy thằng nào ngu như....thằng… tôi ! Cám ơn cán bộ nghe!
- Ừ !! (ghi chú: Nhà anh TNP ở đường Huỳnh Tịnh Của, Tân Định)

TNP còn rất "ga lăng" với phái nữ. Một lần trước mặt anh em, anh lân la đến làm quen với một "nữ cán bộ"

- Không phải tôi thấy người sang bắt quàng làm họ, chứ tôi thấy cán bộ quen lằm? Hình như cán bộ quê "đồng bằng sông Cửu Long"?
- Không, tôi người miền Bắc.
- Thế vậy chắc cán bộ đã vô Nam và sống gần Phi Trường Tân Sơn Nhất?
- Không, tôi chưa hề vào Lam. Tại sao anh hỏi thế?
- Tại tôi thấy cán bộ...bằng phẳng quá. Cán bộ cái nhăn mặt, một lúc mới hiểu ra:
- Im ngay, anh đừng "nếu náo" như vậy.
- Không dám đâu. Xin cán bộ bớt lóng. Cán bộ "vu khống" tôi rồi!!! Xin lỗi xin lỗi !!

(Xin đọc ngược chữ vu khống) Anh em được một phen cười bể bụng!

Một lần cả đội phải đi K5 vác gạo sớm. Sương mù vẫn còn dày đặc. Bên vệ đường có một cục đá lớn trên đó có 2 đứa bé khoảng 9 mười tuổi ốm o gầy giơ xương, trên đầu loe ngoe vài sợi tóc, da mặt nhăn nheo đang ngồi bó gối mà đầu gối cao trên hai tai....

TNP đến trước hòn đá khoanh tay cúi đầu rất lễ phép "cháu xin kính chào hai Cụ ạ".
Vệ binh nạt: anh Phong làm gì vậy?
- Tôi thấy hai Cụ đây giống y chan hình các Ông Tiên trong truyện cổ tích nên định đến xin xỏ vài việc...
- Vớ vẩn, khẩn trương đi đi !!!

Hơn tám năm, biết bao nhiêu chuyện. Quả thật TNP là người tôi rất mến, rất phục. Anh không những trực tiếp nâng tinh thần anh em bằng lời ca tiếng hát, bằng những chuyện tiếu lâm...mà còn bằng chính phong cách hiên ngang của một dũng sĩ dù chiến bại. Ngay trong năm đầu tiên khi vừa bị chuyển ra Đảo Phú Quốc, Anh và 4 người nữa đã tổ chức trốn trại, cả tháng trời băng rừng vượt núi đến tận bờ biển phía tây của đảo, dự định kết bè thả trôi về hướng Thái Lan hay Mã Lai nhưng xui xẻo vào mùa gió Tây nên đành nằm chịu trận để rồi bị bắt lại với bao nhiêu nhục hình tra tấn...

Thế mà lúc nào anh cũng cưới, nụ cười vểnh râu với bộ ria mép bất hủ, với cái nick name thân thương "Phong Râu"!

Nguyễn Thế Thăng
tony.t.nguyen@us.army.mil

Posted: Sun Mar 11, 2012 7:11 pm
by khieulong
NGƯỜI LÍNH ẤY CỦA TÔI…

Tôi quen anh năm 17 tuổi, khi còn cắp sách đến trường. Lúc ấy anh là sinh viên sĩ quan năm thứ ba, hai mươi tuổi đời, nhưng dạo đó trong mắt tôi anh thật chững chạc, lại tài hoa, và cũng không thiếu… si mê.

Anh nhất định đòi cưới tôi ngay sau khi ra trường, nói rằng Thầy Mẹ anh sẽ ưng ý, không thể phản đối. Tôi hình như có hơi ngạc nhiên và hơi… sợ sợ, vì tuổi 18, 19 thời đó còn nhỏ lắm, chẳng biết gì, chỉ biết rằng tôi hình như cũng… yêu anh nhiều lắm. Tôi còn nhớ, tuy còn nhỏ và ngây thơ lắm, nhưng những ngày giữa năm thứ tư của anh, từng đêm tôi đã thổn thức một mình.

Cảm giác lúc ấy là chỉ sợ mất anh vào nơi gió cát mịt mù mà biết bao người trai đã ra đi không hẹn ngày về. Và tôi nhất quyết lấy anh, tuy anh làm phiền lòng Ba Má tôi không ít, khi anh dứt khoát từ chối mọi công lao chạy chọt của song thân tôi ngay từ truớc ngày anh tốt nghiệp. Anh gần nổi giận cả với tôi, anh nhất định đi Nhảy Dù. Bao nhiêu giòng nước mắt cũng không cản được con người ấy. Gia đình tôi ngần ngại, nhưng tôi là con gái út, được cưng nhất nhà, vả lại cả nhà ai cũng quý mến anh…

Thế là tôi rời ghế nhà trường năm 19 tuổi, lên xe hoa mà tưởng như đang trong giấc mộng tình yêu thời con gái. Rồi thì giã từ quê huơng Đà lạt yêu dấu, giã từ những kỷ niệm yêu đương trên từng con dốc, từng vạt nắng xuyên cành trong hơi lạnh thân quen, từng hơi thở thì thầm trong ngàn thông thương mến, tôi theo anh về làm dâu gia đình chồng ở Sài Gòn. Tôi chưa hề được chuẩn bị để làm dâu, làm vợ, đầy sợ hãi trong giang sơn nhà chồng, còn chưa biết ứng xử ra sao, nhưng được cha mẹ và các em chồng hết lòng thương mến. Các chú em chồng nho nhã luôn luôn hoan hô những món ăn tôi nấu nướng.

Tuần trăng mật thật vội vã nhưng vô cùng hạnh phúc, chỉ vỏn vẹn trong thời gian anh nghỉ phép ra trường, rồi trình diện đơn vị mới, Tiểu đoàn 5 Nhảy Dù ở Tam Hiệp. Mùng sáu tết Tân Hợi 1971, Sư đòan Dù của anh đi mặt trận Hạ Lào. Hôm ra đi anh vui tưng bừng như con sáo sổ lồng, trong khi tôi thẫn thờ… Anh siết tôi thật chặt, không cho tôi khóc, nói rằng ra đi trong giòng nước mắt vợ hiền là điều xui rủi.

Tôi vội vã gượng cười, để rồi từng đêm thổn thức một mình trong căn phòng lạnh vắng, run rẩy lắng nghe từng tin chiến sự miền xa. .. Thư anh từ mặt trận toàn những điều thương nhớ ngập tràn, pha lẫn những lời như những tràng cười say sưa của người tráng sĩ đang tung mình trên lưng ngựa chiến. Mẹ chồng tôi chẳng vui gì hơn tôi. Hai mẹ con buôn bán xong thường đi lễ chùa, khấn nguyện. Bà cụ bảo tôi “phải khấn cho nó bị thương nhẹ để mà về, chứ vô sự thì lại không được về, vẫn còn bị nguy hiểm”… Tôi càng hoang mang, thảng thốt, quỳ mãi trong khói hương với đầy nước mắt, chẵng khấn được câu nào… Má tôi trên Đà lạt cũng vội lặn lội lên tận cốc xa, thỉnh cho được tượng ảnh Bồ Tát Quán thế Âm để chồng tôi về sẽ đeo vào cổ.

Sau trận đầu tiên ở Hạ Lào anh trở về với cánh tay trái treo trước ngực. Tôi run run dội nước tắm cho anh để nước khỏi vào vết thương, mà không dấu được nụ cười đầy sung sướng, pha lẫn… đắc thắng, cảm ơn Trời Phật linh thiêng…

Rồi anh lại ra đi. Tây Ninh, Cam Bốt, cùng những địa danh trong các giòng tin chiến sự mà tôi thuộc nằm lòng. Trảng Bàng, Trảng Lớn, Suông, Chúp, Krek, Đam Be… Anh đi toàn những trận ác liệt một mất một còn với quân thù quái ác. Vừa lành vết thương là lại ra đi. Tôi thành người chinh phụ, thao thức từng đêm, vùi đầu vào gối khóc mùi trong lời khấn nguyện Phật Trời che chở cho sinh mạng chồng tôi. Còn anh, anh cứ đi đi về về trong tiếng cười vui sang sảng, hệt như các bạn chiến đấu trong cùng đơn vị, mà nay tôi vẫn còn nhớ tên gần đủ: các anh Tường, Hương, Trung, Dũng, Sinh, Chiêu, anh Sĩ, anh Tâm, anh Quyền….

Mỗi lần trở về bình an là một lần cả nhà mở hội, và mỗi khi nhận lệnh đi hành quân là một lần tôi thờ thẫn u sầu trong lúc anh hăng hái huýt gió vang vang khúc hát lên đường. Con người ấy không biết sợ hãi là gì, không cần sống chết ra sao, và không hề muốn nghe lời than vãn, chỉ thích nụ cười và những lời thương yêu chiều chuộng. Anh nói không biết tại sao anh có niềm tin kỳ lạ là không có việc hiểm nguy nào hại đựơc thân anh. Tôi chỉ còn biết chiều theo ý chồng, không bao giờ dám hé môi làm anh buồn bực, vì thời gian gần nhau quá ngắn ngủi, tôi chỉ lo chiều chuộng và đem lại cho anh những phút giây hạnh phúc hiếm hoi của người lính chiến, không muốn để anh bận lòng vì những nỗi lo âu. Lấy chồng hơn hai năm sau mà tôi vẫn chưa có cháu, vì anh cứ đi, đi mãi đi hoài, những ngày gần nhau không có mấy.

Rồi mùa hè đỏ lửa nổ ra lúc Tiểu Đoàn 5 Dù đang đóng quân ở vườn Tao Đàn. Anh nhảy vào An Lộc, lăn lóc đánh dập đánh vùi với địch quân đông gấp bội trong gần ba tháng trời, mất cả liên lạc bưu chính, ở nhà không hề nhận một chữ một lời. Người hạ sĩ quan hậu cứ mỗi tháng ghé lại gia đình thăm hỏi đều phải vẫy tay tươi cười ngay từ đầu ngõ. Anh về được đúng một tuần, thì lại lên đường đi Quảng Trị. .. Rồi anh lại bị thương ở cửa ngõ Cổ thành, trở về trong phòng hồi sinh Tổng y viên Cộng Hòa. Trên đướng tới bệnh viện cùng với gia đình, tôi ngất xỉu trên xe của người anh chồng…

Nhưng rồi anh vẫn đứng dậy, lại khoan khoái cất bước hành quân. Ôi, không biết tôi mang nợ anh từ tận tiền kiếp xa xôi nào, mà tôi yêu thương đến thế cái con người dường như chỉ biết miệt mài say mê chiến trận. Tôi chỉ biết ước nguyện của anh là trở thành một tướng Patton của Việt Nam, “…Rồi nước mình sẽ phải tự chủ hơn lên, mấy năm nữa phải khác hẳn đi chứ. Nền nếp quân đội sẽ phải thay đổi. Anh muốn làm iư lệnh đại đơn vị, để anh điều động liên quân chủng, cả thiết giáp, máy bay, đánh giặc như Patton cho mà coi. Cam bốt, Hạ Lào Trung Thượng Lào ăn nhằm gì… Hà hà” Tôi chỉ ậm ừ vì chẳng hiểu gì, khi anh thì thầm bên tai tôi vào một đêm tôi dần thiếp đi trong đôi cánh của hạnh phúc, một lần anh về phép hành quân…

Sinh cháu gái đầu lòng năm 1973 ở Đà Lạt, anh về thăm mẹ con tôi và trường cũ, xong lại bay đi trấn thủ đường ranh giới ngưng chiến ở vùng Tây Nam Huế...

Tháng tư năm 1975, đơn vị anh đóng quân ở Thủ Đức, chuẩn bị tử chiến với quân thù. Chú em chồng là sĩ quan chuyên vận tàu HQ505. Tàu ghé Sài Gòn để chuẩn bị đi công tác Phú Quốc. Chồng tôi bảo cả gia đình, gồm Thầy Mẹ, các chú và cả mẹ con tôi, xuống tàu đi Phú Quốc lánh nạn chiến sự, rồi khi yên sẽ lại trở về. Tôi tưởng anh cũng định ra đi, nhưng anh quắc mắt nói tại sao anh lại phải bỏ đi lúc quân lính của anh vẫn còn chưa nao núng, “bọn nó làm gì thắng nổi khi cả Sư Đoàn Dù đầy đủ bung ra phản công, cho nó ăn một cái Mậu thân nữa thì mới hết chiến tranh, quân Dù đánh giặc một chấp bốn là thường, còn trận cuối này là xong.…” Anh hăng say như sắp xung trận, nhưng rồi anh quay lưng lại, run giọng bảo tôi hãy bế con theo xe của ông anh ra bến tàu. Đến nước đó tôi không còn gì sợ hãi, ôm con nhảy xuống, nhất định đòi ở lại. Vợ chồng sống chêt có nhau...

Ba lần toan vượt thoát từ đầu đến giữa tháng 5 đều thất bại não nề. Anh lên đường đi trại tập trung vào tháng 6, khi tôi đang mang bầu cháu thứ nhì… Bé Dung ưỡn người đòi theo bố. Anh quay lại, vẫy tay cười với mẹ con tôi. Vẫn nụ cười ấy, anh vẫn chẳng nệ âu lo sống chết là gì, nhưng còn mẹ con em, anh ơi??? …

Gia đình nhà chồng tôi thiệt có phước, hầu hết đã theo tàu 505 đi Phú Quốc rồi sang Mỹ, kể từ hôm tôi ôm con ở lại với chồng. Gia đình tôi từ Đà lạt chạy về Sài Gòn, sống chen chúc quây quần đùm bọc lẫn nhau. Hàng quán của gia đình chồng tôi bị tịch biên hết. Tôi nhất định giữ chặt ngôi nhà của cha mẹ chồng để lại, đuổi mấy cũng không đi. Chị ruột tôi bỏ dấn vốn ra mua được ngôi nhà khác, vì ông chồng ôm vợ bé chạy mất, nhà cửa xe cộ bị tịch biên hết. Tôi và các anh chị em tôi chạy vạy đủ điều để lo sinh kế, nuôi con thơ cha già mẹ yếu. Chồng tôi mịt mù tăm tích, chỉ có đôi ba lá thư viết về từ trại Long Giao. Lên Long Giao cũng không gặp được, rồi anh bị đưa ra Bắc.

Năm đó tôi tròn 25 tuổi, dung nhan tuy tiều tụy nhưng vẫn khiến nhiều kẻ phải suýt soa dòm ngó. Biết bao người mai mối thì thầm bên tai tôi, thôi hãy lo cuộc đời mới, sĩ quan ngụy đi Bắc chẳng có ngày về... Bao nhiêu nỗi khổ đau dồn nén đôt nhiên bùng phát. Tôi vùng lên như một con cọp cái: bác thử nghĩ coi cả bọn cả lũ tụi nó đó có đáng xách dép cho chồng tôi không!!! Rồi ba mẹ con tôi ôm nhau khóc vùi trong tủi hận.

Không, không, một ngàn vạn lần không. Quanh tôi chỉ còn toàn rác rưởi. Toàn bọn cán ngố từ Bắc vào và từ trong khu ra, và không kể các bậc trưởng thượng cùng anh em chiến sĩ miền Nam đang khổ sở, thì đàn ông ở miền Nam khi ấy cũng chỉ còn bọn người không đủ điều kiện để phải đi tù cải tạo, dù chỉ có ba ngày.

Vâng, những người đàn ông ở miền Nam mà đang đi tù Cộng Sản mới là những người xứng đáng với đàn bà con gái miền Nam ở lứa tuổi tôi. Chị em chúng tôi gọi đó là “tấm bằng tù cải tạo” của các ông để chọn gửi cuộc đời, dù là trao gửi vào một nơi bất định…. Còn gì nữa mà chọn lựa! Thà vậy, đành thôi. Tôi đã là vợ anh, tôi vẫn tôn thờ anh trong tim óc, làm sao khỏi lợm giọng trước bọn người lường lọc, bướm ong, hèn hạ bợ đỡ kẻ thù, thấp kém từ kiến thức đến tư cách.

Chị em tôi buôn bán từ thuốc lá đến bánh cuốn, bánh ướt, bánh mì, thuốc tây, thuốc nam, kiêm luôn cắt chải gội uốn tóc, làm móng tay … nhưng luôn tránh chỗ công quyền và nơi phồn hoa nhan nhản những con mắt hau háu của bọn cướp nước và bọn trở cờ. Mấy anh chị em tôi đồng lòng, đùm bọc lẫn nhau, nên áo rách nhưng một tấm lòng son tôi vẫn vẹn với câu thề…

Vượt qua được thời gian khó khăn cực khổ nhất lúc ban đầu, sau ba mẹ con tôi được gia đình chồng từ Mỹ chu cấp, tuy không dư dả nhưng cũng đủ gửi quà ba tháng một lần, rồi lại dành dụm cho môt chuyến thăm nuôi….

Anh từ miền cực bắc bị đưa về Thanh Hóa chừng một năm, thì tôi xin được giấy phép đi thăm nuôi. Tôi và chị tôi chạy đôn chạy đáo mua đủ một trăm năm chục ký quà để tôi đem ra Bắc cho chồng. Bà cụ buôn bán quen ngoài chợ lại nhờ đem thêm năm chục ký thăm dùm con trai, vì con dâu cụ đã vượt biên. Cháu Dung đã lên 6, em Long nó 4 tuổi và chưa lần nào thấy được mặt cha. Tôi đem cả hai con đi cho anh gặp đứa con trai.

Xuống ga Thanh Hóa, cả đoàn quân khuân vác vây quanh gọi mời giục giã. Tôi và mấy chị cùng thăm chồng chia nhau giữ chặt hàng hóa không cho ai khiêng vác, rồi tự mình kéo lê kéo lết đi thuê nhà trọ. Không cho khiêng bọn chúng trở mặt chửi liền. Có người đã đi về kể rằng cứ sơ ý là bọn dân này vác hàng chạy mất. Chúng tôi cũng phải chia nhau ở lại nhà trọ coi chừng hàng và đi chợ. Tôi nhờ một chị mua thêm được ký mỡ, về rang tóp mỡ ngoài sân nhà trọ. Nghe con khóc, tôi vội vã chạy vô nhà. Chưa kịp dỗ con thì nghe tiếng ồn ào. Quay ra, hai kẻ cắp đã bưng chảo tóp mỡ ù té chạy, chị bạn rượt theo không kịp. Tôi khóc thầm tiêc hoài, cứ nghĩ những tóp mỡ kia đáng lẽ đã giúp chồng mình đỡ bao đói khát.

Xe đò đi Thanh Cẩm chật ních những bà thăm chồng. Chúng tôi năm người lớn và hai cháu xuống ngã ba Nam Phát để vô Trại 5. Tôi lê từng bao hàng rồi lại quay lui kéo lê bao khác, chừng hơn nửa cây số mới đến trạm xét giấy tờ vào trại, hai cháu còn quá nhỏ chẳng muốn chúng đụng tay . Cô Út thiệt giỏi, xong phần mình lại xông xáo giúp hết người nọ tới người kia.

Xong giấy tờ, chờ một lát thì một người tù hình sự đánh xe trâu đến. Hàng hóa và hai con tôi được lên xe trâu, tôi và chị Phước, chị Điệp cùng hai mẹ con cô Út lẽo đẽo theo sau. Đường đi xuyên trại xuyên rừng dài tám cây số. Chúng tôi chưa biết lúc trở ra mới càng thê thảm.

Chân tay rã rời, tới chiều tối mới thấy cổng trại 5 Lam Sơn. Đêm xuống bé Dung còn phải phụ tôi gom lá mía cho tôi vội nấu hết gạo thành cơm, nắm lại từng vắt, vì nghe nói công an không cho tù chính trị đem gạo sống vô, sợ các anh âm mưu trốn trại. Đêm chờ sáng để thăm chồng, nhìn hai con thơ ngây ngủ say sưa vì mỏi mệt, tôi rời rã vô cùng nhưng không sao ngủ được. Hằng trăm hình ảnh chồng tôi nhảy múa trong đầu… Chồng của tôi, người lính dù hăng hái húyt sáo mỗi khi nhận lệnh hành quân ấy, nay đã ra sao???

Sáng, đến lượt ra nhà thăm nuôi ngong ngóng chờ chồng, tôi không được phép ra khỏi cửa căn buồng nhỏ xíu, kê một bàn gỗ dài và hai ghế băng dọc hai bên. Đột nhiên một ông lạ hoắc đứng lù lù ngay cửa. Tôi ngỡ ngàng chưa biết điều gì. Cô nữ công an nhìn chòng chọc, hằn học, đợi chờ như con gà đá sắp tung đòn. Tôi không thể hiểu người con gái Bắc cỡ cùng tuổi tôi kia thù hằn tôi điều gì. Tôi ngó lại, lát sau cô ta coi sổ xong, mới nói đây là anh Đức mà bà cụ nhờ tôi đi thăm dùm. Mất nửa tiếng giao quà và kể chuyện gia đình cho anh Đức nghe, tôi được biết chỉ còn một tiếng rưỡi gặp chồng. Thế là tôi bắt đầu ôm mặt khóc, càng lúc càng nức nở vì tủi cực, không thể nào cầm được.

Trên thế giới này có ai phải lặn lội hằng ngàn cây số để chỉ được gặp chồng có một giờ ba mưới phút không hả Trời?!!

Hai cô công an lớn tiếng dọa dẫm, những là phải động viên học tập tốt, không lau sạch nước mắt thì không cho ra thăm… Nhưng kìa, ai như chồng tôi vừa bước ra khỏi cổng trại. Tôi không còn nhớ quy định luật lệ gì nữa, vùng đứng dậy chạy nhào ra như một tia chớp. Hai đứa nhỏ vừa khóc vừa chạy theo. Hai công an nữ bị bất ngờ không cản kịp, đứng nhìn.

Tôi chạy tới ôm anh, và càng khóc dữ, đôi chân khụyu xuống, không còn sức lực. Trời ơi, chồng tôi ốm yếu đến nỗi tôi ôm không trọn một vòng tay. Người anh nhỏ thó hẳn lại, chỉ có đôi mắt sáng với tia nhìn ngay thẳng là vẫn hệt như ngày nào, nhưng nay đượm nét u buồn khiên tôi đứt ruột. Anh vẫn không nói được lời nào, chỉ bặm môi nhìn tôi nhìn con thăm thẳm. Tôi biết anh đang cố trấn tĩnh, vì không muốn rơi nước mắt trước mặt bọn công an.

Anh dìu tôi và dắt con trở vào nhà thăm nuôi. Anh nắm chặt tay tôi, đưa vào chiếc ghế băng.

Cô công an lạnh lùng chỉ anh bước sang chiếc ghế đối diện, rồi ngồi sừng sững ở đầu bàn, cứ chăm chăm nhìn vào sát tận mặt tôi. Anh khuyên tôi ở nhà ráng nuôi dạy con cho giỏi. Rồi thật nghiêm trang, anh bảo tôi phải đưa con đi vùng kinh tế mới, về tỉnh Mỹ Tho chỗ bác Chánh với chú Cương và cô Huyền đã xung phong đi khai khẩn rồi, đang chờ vợ chồng mình lên lao động sản xuất.

Tôi hơi sững sờ, rồi chợt hiểu, đang khóc lại suýt bật cười hân hoan, khi thấy nét khôi hài tinh anh của chồng tôi vẫn còn nguyên vẹn. Bác Chánh là tên gọi của Thầy mẹ chúng tôi, chú Cương và cô Huyền chính là chú Cường, chú em chồng đã đưa cả nhà xuống tàu HQ 505 đi lánh nạn.

Cô công an có vẻ rất đắc ý, nhắc tôi:

- Chị phải nói gì động viên anh ý đi chứ.

Anh nhìn mắt tôi, cười thành tiếng. Tôi chợt cười, nhưng lại chợt giận hờn. Tôi cúi mặt giận dỗi:

- Em không đi đâu hết, em chờ anh về đã rồi muốn đi đâu cũng được …

Tôi lại khóc, hai tay nắm chặt tay anh, chỉ sợ phải xa rời. Cô công an cứ quay nhìn hết người nọ đến người kia, lên tiếng:

- Chị này hay nhỉ! Phải đi kinh tế mới, lao đông tốt thì anh ấy mới chóng được khoan hồng chứ! Trại giáo dục anh ý tiến bộ thế đấy, còn chị thì cứ…. Chỉ được cái khóc là giỏi thôi!!

Anh không nhịn được, lại cười khanh khách và nói:

- Đó em thấy chưa, cán bộ ở đây ai cũng sáng suốt như vậy hết, em phải nghe anh mới được… Em cứ thấy anh bây giờ thì biết chính sách Nhà nước ra sao, cũng đừng lo gì hết, ráng nuôi dạy con cho nên người đàng hoàng đừng học theo cái xấu, nghe…

Tôi dở khóc dở cười, chỉ nắm chặt tay anh mà tấm tức, dỗi hờn. Anh gọi hai con chạy sang ngồi hai bên lòng. Cô nữ công an do dự, rồi để yên, lại tiếp tục nhìn sững vào mặt tôi. Anh ôm hôn hai cháu, nói chuyện với hai cháu. Đôi mắt chúng tôi chẳng nỡ rời nhau. Mắt tôi nhòa lệ mà vẫn đọc được trong mắt anh những lời buồn thương da diết. Tội nghiệp hai con tôi đâu biết chỉ được gần cha trong giây lát nữa thôi.

Tôi như một cái máy, vừa khóc vừa lay lay bàn tay anh, nhắc đi nhắc lại, em sẽ đợi anh về, anh đừng lo nghĩ gì nghe, em sẽ đợi anh về, em nhất định đợi anh mà.. anh về rồi mình cùng đi kinh tế mới… anh ráng giữ gìn sức khỏe cho em và con nghe… Em thề em sẽ đợi anh về…. Em không sao đâu… Anh đừng lo nghĩ, cứ yên tâm giữ gìn sức khỏe nghe, em thề mà, anh nghe…

Tôi chợt thấy chồng tôi nhòa nuớc mắt. Cô công an lúng túng đứng dậy, bỏ ra ngoài nhưng lại trở vào ngay, gõ bàn ra hiệu cho người ở ngoài. Người nữ công an kia chẳng biết núp ở đâu, lập tức xuất hiện, báo hết giờ thăm… Vợ chồng tôi lại ôm chặt nhau ở đầu bàn bên kia ngay trước cửa phòng, bất chấp tiếng gõ bàn thúc giục. Anh nắm chặt hai bàn tay tôi, chỉ nói được một câu: Anh sẽ về đưa em và con đi, không thể quá lâu đâu, đừng lo nghe, cám ơn em … đã quyết đợi anh về… Rồi anh nghẹn ngào…

Tôi bị ngăn lại ngay cửa nhà thăm nuôi, cháu Dung chạy đại theo cha, cu Bi nhút nhát đứng ôm chân mẹ cùng khóc. Tôi ôm cây cột gỗ nhìn dáng anh chậm chạp buớc tới hai cánh cổng gỗ to sầm, mà không thể nào ngưng tiếng khóc. Anh ngoái đầu nhìn lại hoài, bước chân lảo đảo, chiếc xe cút kít một bánh mấy lần chao nghiêng vì hàng quá nặng…

Sáng hôm sau tôi như người mất hồn. Các chị bạn cũng chẳng hơn gì . Mây chị em và bà bác dắt díu nhau ra, mới biết không được về lối cũ, mà phải đi vòng bên ngoài trại cả gần hai chục cây số nữa để trở lại chỗ ngã ba Nam Phát.

Đường xuyên rừng, rồi lại ra đồng trống, nắng hanh chang chang như muốn quật ngã ba mẹ con tôi. Cu Bi mệt lắm, có lúc ngồi bệt xuống, áo quần mồ hôi ướt nhẹp. Tôi phải đứng giữa nắng đem thân mình che nắng cho hai con, dỗ dành chúng, rồi lại bế cu Bi, lầm lũi bước thấp bước cao. Bà bác và hai chị cùng cô Út cứ phải đi chậm lại chờ mẹ con tôi. Bao nhiêu cơm gạo đã giao cho chồng hết, chúng tôi không còn gì ăn uống. Dọc đường mua được mấy cây mía, tôi róc cho các con ăn cho đỡ đói. Hai đứa không khóc lóc một lời. Bé Dung thiệt ngoan, luôn miệng dỗ em cố gắng. Bụng đói, chân mỏi rã rời trong lúc chiều cứ xuống dần.

Đám người lang thang trong những cánh rừng tre nứa âm u, trên miền đất không một chút tình thương. Ai cũng lo sợ, dớn dác nhìn trước ngó sau, tự nhiên túm tụm lại mà đi, càng mệt lại càng như muốn chạy. Tôi bế cu Bi, mỏi tay quá lại xoay ra cõng cháu, vừa mệt vừa đói vừa sợ, lếch thếch vừa đi vừa chạy, không biết sẽ ngã gục lúc nào. Cháu Bi nhìn thấy mẹ mệt quá, đòi tuột xuống, rồi lại hăng hái tiến bước. May sao, đến hơn 6 giờ chiều, trời gần tối hẳn, thì trở lại được ngã ba Nam Phát. Hai công an dắt xe ra đạp về nhà, dặn chúng tôi ở đó đón xe đò ra Thanh hóa.

Đám người ngồi bệt xuống bên đường. Lâu lắm mới có một xe chất đầy người chạy qua, nhưng đều chạy thẳng, không ngừng. Đã hơn chín giờ đêm. Dáng cô Út cao mảnh rắn chắc đứng vẫy xe in lên nền trời đêm đầy sao như một pho tượng thần Vệ Nữ. Một xe lớn có hai bộ đội chở đầy tre nứa, từ xa chiếu đèn pha sáng lòa trên dáng người con gái đảm đang ấy, từ từ dừng lại. Chúng tôi xúm lại hứa trả thật nhiều tiền, rồi bà bác cùng hai con tôi được lên ngồi ca bin, còn tôi với hai chị và cô Út đẩy kéo nhau leo lên ngồi nghiêng ngả trên tre nứa, tay bám, chân đạp chặt vô thành xe, qua năm tiếng đồng hồ trên con đường đất dằn xóc kinh hồn, nhiều lần tưởng đã văng xuống đất. Ra đến Thanh hóa là hai giờ sáng. Các chị đi thăm chồng xuống tàu đêm thật đông, thăm hỏi tíu tít, trả lời không kịp. Khi ấy sao mà chị em chúng tôi thương nhau quá sức.

Vé về Nam không có, phải mua vé ra Hà Nội rồi mới đi ngược trở về. Đêm hôm sau mới đến ga Hàng Cỏ, mấy bà con ra đường đang ngơ ngác thì các chị đằng xa đã đôn đáo vẫy chào, kéo chúng tôi tới chỗ… lề đường, đầy những chiếu với tấm ni lông, nơi tạm trú mà các bà “vợ tù cải tạo” gọi là… Hotel California. Vâng, chúng tôi nghiễm nhiên nhận chồng chúng tôi là “các ông cải tạo” như người miền Nam vẫn kêu với tấm tình trân quý, để phân biệt với những người tù hình sự. Cho nên danh từ thường đi theo với ý nghĩa nào mà người ta hiểu với nhau, không còn giữ được nguyên cái nghĩa mà nó được đặt cho vì mục đích chính trị xâu xa.

Ngủ lề đường nhưng chẳng ai thấy khổ, vì gần nhau thấy ấm hẳn tình người đồng cảnh. Các chị em thì thầm trò chuyện suốt đêm, kẻ thì khóc rấm rứt, người lại cười khúc khích. Tôi vừa ôm con ngủ gật vừa quạt muỗi cho hai cháu, hình ảnh chồng tôi quay cuồng mãi trong đầu, khi anh nói, khi anh cười, lúc anh đầy nước mắt… Sau những nguồn cơn cực nhọc và xúc động mạnh này, về nhà tôi bị thương hàn nhập lý, rụng hết mái tóc dài, gần trọc cả đầu, tôi đã trối trăn cho bà chị nuôi dạy hai cháu, tưởng không còn được thấy mặt chồng tôi lần nữa…

…Chín năm sau, đúng ngày giỗ đầu Ba tôi, anh đột ngột bước vô nhà. Tôi suýt té xỉu vì vui mừng, cứ ôm chặt anh mà.. khóc ngất. Anh cười sang sảng:

- Cái chị này chỉ được cái khóc là giỏi thôi, phải động viên cho chồng đi sang Mỹ đi chứ … Hà hà..

Các chị em tôi từ Đà Lạt tất bật xuống thăm. Vừa xong ngày đám giỗ thì cả nhà đã vui như hội. Tất nhiên tôi là người mừng vui nhất….

Hạnh phúc đã trở về trong vòng tay tôi. Tôi sẽ ôm thật chặt lấy nguồn hạnh phúc này, không bao giờ để cho đi đâu xa mất nữa…

MINH HÒA
(Virginia)

Posted: Tue Mar 13, 2012 6:45 am
by khieulong


Image

Người lính không số quân
Phạm Hồng Ân

Cách đây vài năm, trên tờ tuần báo ở Santa Ana có in một mẩu nhắn tin đậm nét như sau :

Tìm Anh Phạm Hồng Ân
Qua Mỹ, hiện anh đang ở đâu?
Xin gọi cho em là Trần văn Ðực
Số phone: (714) 602…..


Ồ! Thằng Ðực. Thằng Ðực ngày xưa. Thằng Ðực của cái thời Việt Nam Cộng Hòa đây mà! Dĩ vãng quay về. Khúc phim hiện ra. Tôi còn nhớ như in, năm 1972, lúc giang đoàn tôi hoạt động ở Mộc Hóa, có một cậu bé khoảng 13 tuổi thường mặc tà lỏn đen, áo trắng ngã màu cháo lòng, cài nút vạt thấp vạt cao – lân la xuống bến chiến đỉnh để phụ lau rửa sàn tàu, dọn dẹp sạch sẽ các vật dụng – mỗi khi giang đoàn hành quân trở về căn cứ. Lúc bắt tay vào công việc lau rửa, nó rất siêng năng và tận tụy để cuối cùng chỉ vòng tay lễ phép xin một ít dầu gasoline cho mẹ nấu cơm và thắp đèn. Ban đầu, tôi tỏ vẻ nghi ngờ, có thể việt cộng mưu mô gài thằng bé này xuống đây lấy tin tức tình báo, nên tôi giả vờ thân quen, tìm cách đến nhà nó dò la. Nhưng đó chỉ là một gia đình nghèo, sống trong con hẻm ngay thị trấn. Người Mẹ đi làm cưu mang gánh nặng gia đình, nuôi thêm một ông chồng bệnh lao thời kỳ cuối cùng.

Vì có thời gian giả vờ thân quen, theo sát lẫn nhau, nên tôi và thằng Ðực quen thân thật sự lúc nào cũng chẳng hay. Nó gắn bó với tôi một cách trung thành. Lần nào tàu về bến, không thấy nó, tôi cảm thấy như trống trải thiếu vắng một điều gì. Ngược lại, những lúc tôi cảm mạo, nó lo tôi từng miếng cháo, viên thuốc.

- Ông thầy ăn cháo thấy ngon không? Thấy có khỏe chút nào không?

- Ngon. Cháo này mày nấu hay mẹ mày nấu vậy?

- Em nấu. Ơ, Em học ở mẹ. Em nhìn thấy mẹ nấu cho ba, em nấu theo đấy! Mai mốt đi hành quân, lỡ bị bệnh, ông thầy tự nấu lấy mà ăn. Dễ lắm! Nấu nồi cháo trắng, đập hột gà bỏ vô quậy đều, nêm nước mắm bột ngọt, xong nhắc nó xuống bếp, xắt hành và đâm tiêu đổ vào, quậy đều thêm lần nữa, rồi ăn. Ông thầy nhớ cạo gió nha! Kêu mấy anh thủy thủ cạo gió cho ông thầy.

Có lần, chiến đỉnh về bến, thằng Ðực đang lau rửa con tàu như thường lệ, bỗng từ phía bờ sông bên kia việt cộng pháo kích qua. Tôi vội vã ra lệnh tách chiến đỉnh ra khỏi bến, quay mũi trực chỉ về hướng địch, dùng hỏa lực dập tắt trận pháo kích điên cuồng của cộng quân. Chiến đỉnh tách bến vô tình mang theo thằng Ðực. Nó loay quay trong khói đạn tơi bời, cuối cùng chạy thẳng đến cây đại liên 30 nằm bên hông tàu, hiên ngang chỉa họng súng vào bờ.Tôi hoảng hốt chụp nó lại, ấn mạnh nó xuống hầm tàu.

- Mày tính làm gì đó thằng khỉ? Làm ơn nằm xấp xuống hầm tàu cho tau!

- Em bắn việt cộng. Cho em tiếp tay với ông thầy?

- Bắn? Làm sao bắn? Mày muốn tau ngồi tù hả, thằng khỉ?

- Em có đi với nhóm Nhân Dân Tự Vệ, học bắn súng với họ. Nè! Nhắm lỗ chiếu với đỉnh con ruồi….

- Mẹ, nói trật lất. Lỗ chiếu môn với đỉnh đầu ruồi.

Tôi vừa cú đầu nó, vừa đẩy nó ngã xấp xuống hầm :

- Mày nằm im, không được nhúc nhích. Lạng quạng tau bắn mày trước đó!

Tháng tư năm 1975, đất nước điêu linh, số phận tôi nằm trong vận mệnh của hàng triệu sĩ quan bạc phước vào tù. Tưởng sẽ vĩnh viễn không trở lại Mộc Hóa, vĩnh viễn không gặp lại thằng Ðực nữa, nào ngờ tôi gặp lại nó trong trại tù Xuyên Mộc. Buổi sáng, tôi thường ngồi trước sân nhai bắp để chờ giờ tập họp vào rừng lao động. Tôi bỗng thấy một cậu tù hình sự đang lui cui quét rác ở nhà giam bên kia, dáng dấp nó giống thằng Ðực quá. Tôi đi vội đến hàng rào, ngóng cổ để nhìn cho rõ hơn. Chợt, cậu tù buông chổi, la “á” lên, xong, chạy một mạch về phía tôi.

- Trời ơi! Ông thầy! Em tưởng anh đã “dzọt” mất tiêu rồi chứ!

Tôi cẩn thận ngó khắp hướng, rồi lấy ngón tay trỏ đưa lên môi :

- “suỵt”, giờ này mà còn thầy với bà gì nữa, xưng là anh em đi! Coi chừng tụi “ăng ten” rình rập xung quanh!

- Anh vô đây hồi nào? Sức khỏe ra sao?

- Mới vài tháng. Chưa đến nỗi nào. Còn mày? Sao lại ở đây?

- Em “quánh” thằng 30 tháng tư. Mẹ, nó nịnh việt cộng, nói thêm nói thừa cho mấy ông lính xóm em. Thằng đó bị bể đầu. Còn em, tụi nó “thẩy” vào đây.

Từ ngày gặp lại thằng Ðực, nỗi buồn lao tù của tôi dường như vơi đi rất nhiều. Mỗi chiều, sau khi lao động trở về, Ðực thường mang đến tặng tôi những món lương thực hấp dẫn. Có khi vài ba con cá nhỏ. Có khi vài ba con chim. Có khi một bịt nấm mối hay khoai lang, đậu phọng …v…v… Ngày nào cũng vậy, thằng Ðực tìm cách mưu sinh rất dễ dàng, trong khi đa số tù nhân ở đây thườngđói khát, vì số lượng khoai mì do trại tù ban phát quá hiếm hoi và khiêm tốn.

Lao động quần quật suốt tuần. Ngày chủ nhật cũng được nghỉ ngơi để làm công tác lau dọn sạch sẽ trại tù. Ngày đó, hai anh em tôi có dịp ngồi với nhau ôn lại chuyện đời. Tôi thường hỏi về cách mưu sinh của thằng Ðực, cái thằng tuổi đời quá ít ỏi, sao có được một kinh nghiệm về cuộc sống quá tài ba như thế này! Thằng Ðực tủm tỉm cười :

- Mỗi chiều, trước khi về trại, tụi nó lùa mình xuống sông Ðrây tắm rửa giặt giũ. Lợi dụng thời gian đó, em đi dọc theo các hang đá để bắt cá. Con cá nó khôn lắm anh ơi! Nó lựa những hang hốc nào phủ đầy rong rêu, tăm tối, ít có bóng người lò dò tới mà ẩn náu. Em tìm đúng những hang như thế, thọc mạnh tay vào, tệ nhất cũng bắt được một cặp cá ngon lành.

- Rủi gặp hang rắn, nó cắn chết cha…

- Không. Hang cá, nước ở đó trong vắt. Hang rắn, nước đục ngầu. Vì con rắn lớn và dài. Mọi cử động của nó làm bùn dậy lên.

- Còn chim, còn nấm mối… thì sao?

- Tụi cán bộ ở đây bắt mình phá rừng trồng bắp. Anh nhớ,trước khi gieo bắp, nó phát mình hột bắp và thuốc trừ kiến. Hai thứ trộn chung với nhau, xong, mới đặt hột bắp xuống lỗ, rồi lấp đất lại. Vì tụi nó sợ con kiến cắn hột bắp ăn, hột bắp sẽ thúi và không nẩy mầm lên cây được. Cho nên khi đặt hột bắp xuống, anh đừng lấp đất lại. Chim bay trên trời khi thấy bắp, nó sẽ xà xuống “đớp” liền. Anh cần kiên nhẫn chờ giây lát, chim thấm thuốc, nó sẽ tự động rớt lạch đạch dưới chân anh. Còn nấm mối? Nấm mối chỉ mọc ở hang mối hay gò mối. Ðặc biệt, nó thường mọc vào mùa mưa. Vào thời gian đó, anh cứ đến những nơi này tìm, nhất định sẽ có dịp “trúng” to.

Tôi chấp tay bái phục thằng Ðực :

- Mày quả thật tài ba. Kinh nghiệm sống của mày, thật tình… hơn tau nhiều.

- Không dám đâu ông thầy. Em làm sao có kiến thức cao siêu bằng ông thầy!

Thời gian trôi qua, khi mãn tù, tôi và thằng Ðực không gặp lại nhau nữa. Cho đến khi tôi theo diện HO qua MỸ định cư, hôm nay tình cờ đọc được những dòng nhắn tin của thằng Ðực, tôi mừng đến không tài nào ngủ được.

Tôi và thằng Ðực hẹn nhau ở Phước Lộc Thọ. Cái quán cà phê đầu tiên, ngay lối ra vào. Xa nhau lâu quá, thời gian đã làm hai đứa đổi dạng thay hình, nên dù có chạm mặt nhau… cũng không dễ nhận ra nhau. Vì thế, tôi gợi ý cho thằng Ðực, người nào ngồi ở bàn có cầm tờ tuần báo Sài Gòn Nhỏ phe phẩy quạt, người đó chính là tôi. Chẳng bao lâu, có một vòng tay từ sau choàng qua cổ tôi và thét lên mừng rỡ :

- Ô! Ông thầy! Khoẻ không? Em đây, em là thằng Ðực đây!

Tôi đứng dậy, ôm chầm đôi vai nó, nước mắt tự dưng rớt ra :

- Mày là thằng Ðực đây ư? Trời ơi! Sao bây giờ có vẻ người lớn và mập mạp như xì thẩu vậy?

- Ông thầy cũng vậy. Bụng phệ nữa. Ở xứ sở tự do, con người cảm thấy bình an nên ăn no ngủ khoẻ hở ông thầy?

- Mày qua đây theo diện nào? Bây giờ, làm ăn ra sao?

- Em qua diện Ô Ði Ghe. Vượt biên đó ông thầy. Hiện tại, em là chủ một nhà hàng sushi.

Tôi há hốc mồm:

- Chủ Sushi? Mày tài vậy Ðực?

- Cuốn Sushi còn dễ cuốn hơn chả giò nhiều. Lúc đầu, em chỉ làm công. Một thời gian lăn lóc, em rình mò học lén bí quyết của mấy thằng Nhật… rồi… làm nên sự nghiệp.

- Chủ nhân như vậy, tương lai có dự định gì thêm không? Chẳng hạn mở thêm chi nhánh ở vài chỗ khác…

- Không. Em muốn dẹp nghề, đi lính Mỹ.

Tôi lại há hốc mồm:

- Trời ơi! Ði lính? Ở Việt Nam, cuộc đời tau và mày bị chiến tranh bầm dập muốn tiêu tùng. Bộ mày chưa sợ sao?

- Bảo vệ chính nghĩa, bảo vệ tự do mà sợ gì ông thầy. Em có máu giang hồ, khoái lang bạt đó đây còn hơn ngồi chôn chân một chỗ.

- Nhưng bây giờ mày ngon lành rồi, phải hưởng chứ, bù lại những năm tháng nghèo nàn khổ sở.

- Vinh thân phì da… tới lúc nào đó… sẽ sinh ra thói hư tật xấu. Em muốn có một lý tưởng, một cái gì để lại cho đời.

Năm tháng đã qua, tự dưng tôi không còn liên lạc với thằng Ðực nữa. Không biết bây giờ nó còn làm chủ nhà hàng Sushi hay đã tự nguyện đầu quân vào lính Mỹ. Dù thế nào đi nữa, cứ mỗi 30 tháng tư hàng năm, tôi đều trầm ngâm nhớ đến nó, và ngồi uống rượu một mình trong căn phòng vắng lặng.

Nếu quan niệm Người Lính là người luôn bảo vệ chính nghĩa, bảo vệ tự do. Là người hy sinh tới cùng cho đồng đội, cho quê hương… thì thằng Ðực đáng được gọi là người lính, mặc dù nó chưa bao giờ cầm súng trực diện với kẻ thù. Đối với những kẻ phản bội, những tên một mặt hai lòng, những tay bán nước cầu vinh… thằng Đực quả là một người quốc gia chân chính, đáng được tuyên dương và trân trọng.

Phạm Hồng Ân
Escondido, 04/05/2011

Posted: Sun Mar 18, 2012 4:11 am
by khieulong
Quận Trưởng Triệu Phong
Chuẩn Úy Lê Đình Lời khóa 4/71

(Xin tặng buổi gặp mặt của khóa 4/71 SQTB Thủ Đức năm 2012)

Xe hậu trạm của TĐ 3 TQLC chạy qua nhà thờ Hội Yên, hướng về Mỹ Thủy, trên xe là những quân nhân mới từ Sàigòn ra bổ sung cho tiểu đoàn sau hơn một tháng hoán đổi khu vực trách nhiệm từ Sư Đoàn Nhảy Dù, xe, bổng quẹo phải trên đường 555, rồi dừng lại xóm nhà thuộc thôn Đơn Quế, nơi có Bộ Chỉ Huy của TĐ3 TQLC.

Sau những thủ tục trình diện Thiếu Tá Nguyễn Văn Cảnh TĐT ngoài hành quân, Thượng Sĩ Sinh Ban 1 Hành Quân đọc tên ba Chuẩn Úy khóa 4/71 về đại đội 2:

- Đỗ Hữu Đôn, Lê Đình Lời và Trần Trung Ngôn

Thượng Sĩ Nhất Võ Lách Thường Vụ Đại Đội 2 hướng dẫn ba người về đại đội. Trên đường đi, cả ba muốn biết sơ về đơn vị mình, với giọng nói từ tốn vùng Ninh Hòa của thường vụ:

- Đại đội bị tổn thất nặng, Đại Úy Giang Văn Nhân Đại Đội Trưởng bị thương từ tháng 7, Thiếu Úy Lê Văn Môn hy sinh, hai Thiếu Úy Nguyễn Văn Nhái, Nguyễn Văn San bị thương, Hạ Sĩ Quan và Binh Sĩ thương vong 30%, hiện tại chỉ còn Thiếu Úy Nguyễn Văn Lãm Đại Đội Phó XLTV và Chuẩn Úy Khúc Thừa Thế Trung Đội Trưởng trung đội súng nặng .

Sau khi gặp Thiếu Úy Lãm, Lời nổi bật vì dáng to, chắc và khỏe được chỉ định Trung Đội Trưởng Trung Đội 23. Ngôn dáng dấp thư sinh, có đôi mắt tinh anh, Trung Đội Trưởng Trung Đội 21. Riêng Đôn OJT với trung đội 22, Thiếu Úy Nguyễn Văn Phán mới được Tiểu Đoàn thuyên chuyển qua. Bên ngoài các trung đội phó đang long ngóng chờ các ông thầy mới của mình.

Buổi đầu trình diện, Thiếu Úy Lãm có mồi và những lon bia dành cho các alpha tới tàn cuộc. Dưới bóng cây sầu đông Thượng Sĩ Nhất Thường Vụ khề khà đối ẩm cùng các Trung Sĩ Trung Đội phó. Đôn được Trung Sĩ Nguyễn Văn Hai Trung Đội Phó và hiệu thính viên khiên về trung đội. Lời thì chân đá Nam, tay vung Bắc được Trung Sĩ Nhất Trần Văn Nuôi kè về vị trí. Ngôn theo Trung Sĩ Nhất Nguyễn Tấn Thành, anh đã tưới bia trộn lẫn thức ăn trên suốt đoạn đường về tuyến.

Lời và Ngôn cùng quê ở Tây Ninh, nơi mà mùa nắng không khí oi bức khó chịu, nhưng với Quảng Trị nơi có gió Nam Lào khô rát cùng không khí ngột ngạt chiến tranh quả là khủng khiếp.

Thời gian này Lời làm quen với sinh hoạt đại đội, những kinh nghiệm quý báu của anh em hạ sĩ quan và binh sĩ cấp tiểu đội như Hạ Sĩ Nhất Điền méo, Hạ Sĩ Phúc, Hạ Sĩ Chánh, Binh Nhì Voi xạ thủ đại liên… Anh tiếp xúc và trò chuyện thân mật với mọi người, hòa nhịp với những người lính trẻ tuổi đôi mươi, đùa giởn, ca hát trong đêm vang vọng âm thanh sóng vổ ở làng chài Mỹ Thủy.

Đại đội được trang bị, bổ sung quân số đầy đủ, trung đội Lời được 40 người, một cấp số thật lý tưởng như đã học ở Trường Bộ Binh Thủ Đức. Một buổi sáng, Lời nghe anh em binh sĩ kháo nhau là tiểu đoàn sắp sửa trở lại thị xã Quảng Trị. Chiều ngày 25 tháng 8 Đại Úy Đại Đội Trưởng xuất viện về đại đội với Chuẩn Úy Trần Tuấn Dũng khóa 5/71. Đại Úy Nguyên Thảo tập họp đại đội nói chuyện với toàn thể anh em về tình hình và nhiệm vụ sắp tới.



Ngày hôm sau, lệnh chuẩn bị, xe hậu trạm vào tiếp tế lương thực, đặc biệt có 3 ngày lương khô. Các sĩ quan dán liên hợp bản đồ tỉnh Quảng Trị, và nhận lệnh sẽ vào vùng hành quân vào sáng mai. Lời và các bạn đồng khóa được hướng dẫn một vài căn bản về xử dụng khóa ngụy thoại trên bản đồ, ví dụ như khóa Hoàng Oanh, vị trí của đại đội hiện giờ là Hoàng Oanh phải 12 lên 9, vài quy tắc như vị trí Cổ Thành, địch có thể quan sát ta dễ dàng, tránh bị bắn sẻ… .Lời nhìn Ngôn và Đôn, trong ánh mắt mỗi người có chút suy tư, anh thầm nghĩ đây là lần đầu tiên mà cả ba sẵn sàng nhập vào cuộc chơi sanh tử, bên cạnh Nguyên Thảo, Thiếu Úy Lãm và Thiếu Úy Phán, cùng những quân nhân dầy dạn, nét mặt họ vẫn bình thản vì đã bao lần xuất quân và chấp nhận “Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi” của người lính Tổng Trừ Bị

Gần tới khu vực xuống xe đã thấy pháo nổ mù trời trước mặt. Xe vừa dừng lại, tất cả mau lẹ nhảy xuống và tạt rộng ra hai bên đường. Trung đội Lời bám theo trung đội của Thiếu Úy Phán chạy nhanh qua cầu Ba Bến (sau này mới biết đây là điểm chuẩn, có thể là hỏa tập của địch).

Theo chỉ định của đại đội phó, Lời cho trung đội theo chân người hướng dẫn của TĐ8 đến hoán đổi vị trí một trung đội. Pháo 130 nổ rải rác trong khu vực hoán đổi. Đạn đạo pháo binh yểm trợ của ta từ phía sau bay qua đầu và nổ xa về hướng Tây. Lời làm theo phản ứng với người khinh binh phía trước, lúc chạy qua khoảng trống và bám vào những đống gạch đổ nát. Từng bước gay go, may mắn cuộc đổi quân hoàn tất không bị tổn thất vì pháo 130 ly.

Đổ Hữu Đôn hy sinh ngay buổi sáng đầu tiên tại chiến tuyến. Ban ngày án binh bất động, pháo 130 ly của địch và pháo 105, cùng 155 của ta đua nhau nổ, anh em ngoài nhiệm vụ canh gát, quan sát, chia nhau ngủ, ngụy thoại truyền tin mang mặt nạ tức là đánh địch vào ban đêm, từng toán rời vị trí tìm địch và tiêu diệt bằng lựu đạn.

Sau những chiến thắng diệt chốt của đại đội 2 đến sát tận bờ thành, cùng những tổn thất về nhân mạng trong hơn hai tuần ròng rã, đại đội 3 vào hoán đổi vị trí nhưng trung đội của Lời và Thiếu Úy Phán ở lại tăng phái. Đêm hôm đó đại đội 3 tiếp tục dồn nổ lực vào thành Đinh Công Tráng, và mờ sáng một trung đội đã chiếm được bờ thành.

Nhận lệnh Nguyên Thảo, hai trung đội tăng phái tiến trước cùng đại đội theo sau từng bước thanh toán mục tiêu. Địch vẫn cố bám vào hầm hố và ẩn núp trong các vị trí đổ nát cầm cự, nhưng trước tinh thần chiến thắng vì đã vào được mục tiêu của TQLC, một số địch quân bị chết tại chổ, một số chống trả chờ bóng đêm để tẩu thoát hoặc ra hàng. Lời cảm thấy lần đầu tiên trong cuộc đời mình, nổi hân hoan kỳ lạ khó diễn tả, lúc này anh không nghĩ gì đến sự sống và cái chết. Lính của ba trung đội gặp nhau bên những đống gạch chắn ngang lúc nữa đêm, sau khi diệt toán chốt tại đóng gạch cao to, trời mờ mờ sáng, nhận diện rõ cổng thành, cùng toàn bộ bờ thành sát bên cạnh, Lời rút nhanh lá Quốc Kỳ Việt Nam, khinh binh Lương Văn Tòng reo hò mang lá cờ cùng anh em cả ba trung đội dựng lên trên đầu cổng thành Quảng Trị. Đó là sáng ngày 15 tháng 9 năm 1972. Lời không có may mắn được tiểu đoàn đề nghị đặc cách Thiếu Úy trong chiến thắng mà hình ảnh phổ biến khắp miền Nam ngay sau đó.



Tháng 11 đại đội vào thay thế tuyến thôn Nại Cửu, đêm 13 địch đồng loạt tấn công, Địch ném bê ta và dùng súng phun lửa xịt thẳng vào hầm trú ẩn của Lời. Khi nghe bê ta nổ, Lời đánh thức Minh và phóng nhanh ra khỏi hầm trước khi lửa chụp xuống. Trung đội 22 kế bên cũng bị tấn công tương tự, một số khác tấn công vào trung đội 21 và 24. Pháo binh yểm trợ và hỏa châu soi sáng trận địa. Địch thảm bại, thừa thắng các trung đội tiến chiếm vị trí của địch mở rộng vùng kiểm soát. Khinh Binh Chót và Minh hiệu thính viên tử trận, tịch thu toàn bộ 2 súng phun lửa, 12 AK và 2 B40. Phòng Tâm Lý Chiến có đến BCH Tiểu Đoàn chụp chung hình chiến lợi phẩm (gom lại của các đại đội) với anh em bảo vệ cánh A.

Sau một thời gian ở bệnh viện Quảng Trị, rồi đồi Lê Huấn, và được ba ngày ở đồi Dương ngay ngã ba Long Hưng, ngày 21 tháng 1 năm 1973 lại lên đường theo cánh B vào chợ Sãi hoán đổi TĐ1/TQLC. Đại đội bố trí ở hướng Bắc chợ Sãi, cách quân đường 100 thước. Sau ba ngày củng cố vị trí, quan sát địch tình, đêm 24, Thiếu Úy Phán bung trung đội ra xa khoảng 50 thước lập đầu cầu rồi cho hai bán tiểu đội tiến vào. Họ vào được dãy hầm đầu, tung lựu đạn làm cháy sáng thuốc bồi cùng tiếng nổ phụ. Địch bên trong bắn chận và ném bê ta. Sức nổ của bê ta ép chặt lòng ngực vài người, Thạch Rong bị nghẹn thở, tản thương gấp về tiểu đoàn.

Đêm 25, sau khi pháo binh tác xạ bắn phủ đầu, trung đội 22 vừa lập xong đầu cầu, Lời điều động trung đội tấn công vào mục tiêu. anh đã đánh bật địch ra khỏi chi khu vào lúc 3 giờ sáng. Lời thấy trong chòm nhà xập có nhiều vật dụng linh tinh dường như đây là BCH hay T.O.C của chi khu Triệu Phong.

Lựu đạn cùng bao cát từ cánh B tại chợ Sãi chuyển vào quân. Trên máy PRC 25 tầng số nội bộ đại đội 2, tiếng nói trực tiếp của Thiếu Tá Nguyễn Văn Cảnh Tiểu Đoàn Trưởng TĐ3/TQLC, lời chúc mừng kể từ giờ phút này, Chuẩn Úy Lê Đình Lời là Quận Trưởng Quận Triệu Phong. Ông hứa sáng mai sẽ gởi đơn vị tăng phái cho đại đội

Khoảng 5 giờ sáng địch bắt đầu phản công, súng cối pháo tập trung vào chi khu, hỏa lực bắn dữ dội vào khu vực đầu cầu của trung đội 22, sau đó đồng loạt xung phong vào trung đội 23. Lời đã đánh cận chiến trên đường lui quân về đại đội. Hỏa lực rào cản của trung đội 22 và pháo binh do Nguyên Thảo điều chỉnh hiệu quả , hai trung đội lui về tuyến phòng thủ an toàn.

Lệnh ngưng bắn có hiệu lực đúng 8 giờ sáng ngày 28 tháng 1 năm 1973, không gian đang vang ầm tiếng nổ của các loại vũ khí chợt như ngưng đọng, rồi cả hai bên cùng chạy ùa lên cắm cờ phân ranh giới. Ngày hôm sau đại đội vào chi khu gói poncho thi hài của bốn binh sĩ đã hy sinh đem về chợ Sãi, tại đây họ được bọc trong túi nylon rồi chuyển vô Huế..

Giữa năm 1973, Lê Đình Lời và Trần Trung Ngôn được thuyên chuyển về BCH tiểu đoàn, Ngôn Trưởng Ban Tâm Lý Chiến (B5), Lời thay Tr/úy Hào làm Trưởng Ban An Ninh Tình Báo (B2). Dù trong hoàn cảnh hay chức vụ nào, trong lòng người quân nhân Đại Đội 2/ TĐ3 TQLC, Thiếu Úy Lê Đình Lời mãi mãi là người hùng Cổ Thành Đinh Công Tráng và là Quân Trưởng quận Triệu Phong tỉnh Quảng Trị.

Trích “Hồi Ký Người Lính Tổng Trử Bị”

Giang Văn Nhân

Posted: Mon Mar 19, 2012 7:31 am
by khieulong
Image

40 Năm, Một Thời Chinh Chiến
Khoá 4/71 SQTB Thủ Đức “An Lộc” và binh chủng Thủy Quân Lục Chiến


MX Phan Văn Đuông

Khóa 4/71 SVSQ/TBTĐ chính thức khai giảng ngày 7/2/1972 quy tụ 1517 TKS, sau 10 tuần thụ huấn căn bản QS tại TTHL Quang Trung và nhập Trường Bộ Binh Thủ Đức ngày 1/2/1972.

Ngay từ đầu, khóa 4/71 đã có nhiều điều kém may mắn so với hầu hết các khóa SQTB khác. Điển hình nhất là ở cả Quang Trung lẫn Thủ Đức, khóa 4/71 không hề có phép cuối tuần. Ngay cả phép 48 tiếng sau lễ gắn Alpha cũng bị rút xuống còn 36 tiếng (khóa sinh đang đi phép ở Sàigòn thì nghe lệnh đọc trên đài truyền thanh, truyền hình phải tập trung trở về trường gấp vì tình hình khẩn trương!) Thời gian khóa 4/71 có mặt ở Sàigòn lâu nhất là 15 ngày ứng chiến tại Sài Gòn. Tình hình lúc bấy giờ rất là sôi động ở các mặt trận An Lộc, Ban Mê Thuột, KomTum và nhất là Quảng Trị. Các đơn vị đều bị khiếm khuyết lớn đang cần bổ sung, và 1517 tân sĩ quan của khóa 4/71 là một đáp ứng kịp thời cho nhu cầu thiếu hụt sĩ quan đó.

Lễ mãn khóa 4/71 SQTB được tổ chức vào ngày 29/7/1972 và được đặt tên là khóa An Lộc. Ngay sau lễ mãn khóa, các tân SQ vừa chia tay gia đình và bạn bè xong là được từng đoàn xe GMC của các đơn vị nối đuôi đến tiếp đón đưa về thẳng đơn vị chứ không có phép mãn khóa.
100 tân sĩ quan khóa 4/71 tình nguyện về binh chủng TQLC được tiếp nhận và đưa về Trung Tâm Huấn Luyện Rừng Cấm để được huấn luyện căn bản TQLC về kỹ thuật leo lưới, đổ bộ. Ngay sau đó toàn bộ 100 anh em chúng tôi lên đường ngay ra chiến trường bổ sung cho các đơn vị đang chiến đấu tại Quảng Trị, với lời hứa “sẽ được đi phép mãn khoá sau, khi tình hình cho phép”.

Nếu tính đến ngày cuối cùng 30/4/1975 thì khóa 4/71 là khóa có số sĩ quan về binh chủng TQLC đông nhất từ ngày thành lập Sư Đoàn, được chia đều cho các tiểu đoàn và các Đại đội Viễn Thám, trung bình 10 người cho mỗi TĐ, đông nhất là TĐ3 Sói Biển được 16 người, và Viễn Thám nhận 14 người (dù chưa qua khóa Viễn Thám ngày nào).

Số anh em chúng tôi về TĐ 5 Hắc Long có 10 người được đưa ra trình diện Tiểu Đoàn Trưởng Trung tá Hồ Quang Lịch ngay tại ngã ba Long Hưng (đường vào thị xã Quảng Trị). Thủ tục trình diện chưa xong, 10 anh Chuẩn Úy mới còn đang ngơ ngác, chưa nhìn rõ TĐT vì ông chỉ mặc quần đùi và áo thun màu kaki, không thấy cấp bậc (vì đang là mùa hè) thì đạn đại bác 130 ly của VC ồ ạt pháo xuống địa điểm BCH/TĐ. Tiểu Đoàn Trưởng ra lệnh vào hầm trú ẩn, cả bọn chạy theo. Sau đợt pháo kích khi tình hình yên lặng, anh em chúng tôi được chia về các Đại Đội (tôi còn nhớ ĐĐ3 cần 4 người, còn lại chia đều cho các ĐĐ 1, 2 và 4).

Với tình hình cuộc chiến hết sức sôi động lúc đó, các tiểu đoàn thay phiên quần thảo với địch ngày đêm, ngay trong những ngày đầu về đơn vị, khi chưa kịp quen với gạo sấy, thịt hộp nơi hành quân thì một số anh em đã hy sinh. Như Nguyễn Văn Bình, Tô Ngọc Khánh (ĐĐ3/TĐ5) hy sinh cùng lúc tại ngã ba Long Hưng, như Quách Cao Khiêm (TĐ1), Nguyễn Quang Thu (TĐ2), Đỗ Hữu Đôn, Nguyễn Văn Phương, Phan Thanh Xuyên, Nguyễn Văn Hiếu (TĐ3); Đức (TĐ4) không nhớ họ tên, Thượng Văn Bảnh (được anh em đặt cho biệt danh Thượng sĩ Bảnh), Trần Ngọc Dân (TĐ8 ), Phạm Gia Tuấn, Nguyễn Văn Bảo, Nguyễn Văn Niên, Ngô Quốc Cường (TĐ9) Vĩnh Lộc, Lê Văn Nuôi (Viễn Thám).

Sau khi đơn vị tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị ngày 16/9/1972, rồi Cửa Việt ngày 27/1/1973, tưởng rằng hoà bình đã đến nhưng cuộc chiến vẫn tiếp tục và trong hoàn cảnh ngặt nghèo hơn (không được yểm trợ hỏa lực của KQ và PB) nên một số sĩ quan khóa 4/71 là Trung đội trưởng tiếp tục hy sinh vào đầu năm 1973 như Lê Minh Châu (TĐ4) tại Cửa Việt, Nguyễn Hoàng (TĐ5) tại Gia Đẳng. Tiếp theo đó, Nguyễn Thái Bạch (TĐ8) hy sinh tại mặt trận Phong Điền, Thừa Thiên (tháng 8/1974).

Vào những ngày tháng nghiệt ngã cuối cùng của đơn vị, một số SQ khóa 4/71 khác lại ngã xuống cho màu áo như Phùng Minh Mẫn (TĐ7) tại Thuận An, ngày 24/3/1975 và ngay tại cửa ngõ Sài Gòn, Lê Văn Hoà (TĐ16) hy sinh ngày 28/4/1975 tại Long Bình, Sài Gòn. Một số bị thương giải ngũ như Trần Trọng Hồng, TĐ2 cụt hai chân, Nguyễn Văn Sinh, Nguyễn Đức Phùng và còn rất nhiều anh em bị thương và tử trận sau ngày ngưng chiến nhưng chúng tôi không nhớ được hết.

Trong số các SQ khóa 4/71 về SĐTQLC có thể nói Nguyễn Hoàng (TĐ5) ra đi trong hoàn cảnh cay đắng nhất. Anh chết chỉ 2 ngày trước khi nhận phép đặc biệt về Sài Gòn cưới vợ (trước đó anh đã nhận thư của anh em bạn bè trong đơn vị đem về Sài Gòn gửi hộ). Hay như Nguyễn Thái Bạch (TĐ8 ) hy sinh tại đồi 21 Phong Điền, trong khi huy chương và lon đặc cách Trung Úy tại mặt trận đang trên đường đến. Bạch là người thăng cấp sớm nhất khoá 4/71. Như vậy theo lẽ thường thì Bạch phải được truy thăng là “cố đại úy”!

Khi bị CSBV bắt làm tù binh và tập trung cải tạo, Lê Đình Lời (TĐ3) chết vì cuốc đất và gỡ mìn tại trại tù Cồn Tiên, Ái Tử, nơi mìn và lựu đạn được gài trước đó còn lại rất nhiều. Mỗi ngày người tù bị giao cho 25m² đất để cuốc và…. gỡ mìn,anh em chúng tôi đùa với nhau “sống sót qua cơn đó không chết là chuyện phi thường”. Chuyện này còn căng thẳng hơn cả lúc còn đánh nhau ở Cổ Thành. “Quận trưởng Triệu Phong” Lê Đình Lời suốt mùa chiến tranh không sứt mẻ vì đạn VC nhưng chết vì mìn khi cuốc đất ở Cồn Tiên! (biệt danh do anh em đặt cho Lời vì anh được lệnh dẫn trung đội chiếm quận đường Triệu Phong trước giờ ngưng bắn, anh đã hoàn thành nhiệm vụ trước 8 giờ sáng ngày 27/1/1973 dẫn quân vào quận đường đầy xác VC mà không một bóng người. Từ đó Lời có tên là “Quận Trưởng Triệu Phong”). Một cái chết đau thương khác là Mai Xuân Cương (TĐ5) khi phải phá những công sự cũ đã bị sập hầm đất đè đến chết.

Một trường hợp may mắn không chết nhưng không kém khốn khó là Phạm Gia Thuỵ (VT) bị thương nhẹ nơi mắt tại cửa biển Thuận An. Sau khi bị bắt làm tù binh, vì nhiễm trùng, mắt bị thương làm độc. Anh “được” (?) mổ mắt không thuốc tê, chẳng thuốc mê, thiếu dụng cụ y khoa, y công VC dùng chiếc thìa không khử trùng múc bỏ con mắt làm độc nhưng may mắn không chết, chỉ bỏ 1 con ngươi lại nơi núi rừng.

Danh sách các SQ khóa 4/71 An Lộc tình nguyện phục vụ tại SĐTQLC :

Tiểu Đoàn 1 Quái Điểu

Vũ Kim Long
Trần Ngọc Tráng
Trần Thiện,
Trần Văn Phá,
Ngô Văn Phát
Lâm Văn Diệp
Nguyễn Minh Chiến
Nguyễn Phú Châu
* Quách Cao Khiêm (tử trận, Quảng Trị, 1972)

Tiểu Đoàn 2 Trâu Điên

Bùi Quang Đức
Bùi Văn Bé
Nguyễn Hữu Hạnh,
Mai Ngọc Huyện
Bùi Công Bình,
Ngô Đình Hương,
Hồ ngọc Hiếu
Phạm Bá Long
Nguyễn Trọng Sơn
Nguyễn Đình Long (tù binh VC, Cửa Việt, Quảng Trị, 1972)
* Nguyễn Quang Thu (tử trận, Quảng Trị, 1972)
* Lê Văn Đắc (tử trận, Hải Lăng, Quảng Trị, 1972)

Tiểu Đoàn 3 Sói Biển

Nguyễn Ngọc Tốt
Trần Trung Ngôn
Đinh Tấn Lộc
Lê Văn Lực,
Phan Thái Lựu
Lê Quang Đức
Nguyễn Ngọc Lập
Nguyễn Nhật Thuần,
Nguyễn Huy Sang
Nguyễn Hữu Tú (giải ngũ, 1973)
* Phan Thanh Xuyên (tử trận, Quảng Trị, 1972)
* Nguyễn Văn Hiếu Tử (tử trận, Quảng Trị, 1972)
* Đỗ Hữu Đôn (tử trận Quảng Trị, 28/8/1972)
* Nguyễn Văn Phương (tử trận, Chợ Sải, Quảng Trị,11/1972)
* Lê Đình Lời (chết tại trại tù Bình Điền, 1979)
* Châu Quốc Bình (chết, Việt Nam, 2007)

Tiểu Đoàn 4 Kình Ngư

Phạm Minh Tâm
Trần Hiền
Nguyễn Văn Lâm
Huỳnh Quang Minh
Võ Phước Tiêm
Dương Hồng Phong
Nguyễn Đức Giang
Nguyễn Minh Xuân
* Lê Minh Châu (tử trận, Cửa Việt, Quảng Trị, 1972)
* Đức (không nhớ họ và chữ lót) (tử trận, Quảng Trị, 1972)

Tiểu Đoàn 5 Hắc Long

Phan Văn Đuông
Trần Văn Khỏe
Khúc Chánh Thời
Trần Trọng Hồng thương phế binh cụt 2 chân
* Nguyễn Hoàng (tử trận, Quảng Trị)
*Nguyễn Văn Bình (tử trận, Quảng Trị)
*Tô Ngọc Khánh (tử trận, Quảng Trị, 1972)
* Mai Xuân Cương (chết trong trại tù VC)

Tiểu Đoàn 6 Thần Ưng

Nguyễn Miển
Lữ Đình Chậm
Nguyễn Tấn Cương
Võ Em
Nguyễn Đức Phùng giải ngũ tháng 9 năm 1972
Nguyễn Văn Sinh giải ngũ 1972
Tiểu Đoàn 7 Hùm Xám
Nguyễn Vĩnh Cương
Nguyễn Hữu Kiếm
Nguyễn Văn Thanh
Nguyễn Mạnh Hùng
Huỳnh Hoa Cương
* Phùng Minh Mẫn (tử trận, Quảng Trị, 2/1975)
* Lê Văn Hòa (tử trận, Long Thành, Biên Hòa với TĐ16 , 28/4/1975)

Tiểu Đoàn 8 Ó Biển

Nguyễn Văn Nên
Bùi Văn Tần
Bùi Thanh Liêm
* Trần Ngọc Dân (tử trận, Quảng Trị, 1972)
* Thượng Văn Bảnh (tử trận, Quảng Trị, 1972)
* Nguyễn Thái Bạch (tử trận, Phong Điền, Thừa Thiên, 1974)
Tiểu Đoàn 9 Mãnh Hổ
Lê Văn Canh
Trần Văn Ngân
Bùi Quang Thịnh
Trần Văn Cường
Hồ Khen
Trương Phước Dĩnh
* Ngô Quốc Cương (tử trận, Quảng Trị, 1972)
* Nguyễn Văn Bảo (tử trận, Quảng Trị, lúc đang trình diện TĐT, 8/1972)
* Nguyễn Văn Niên (tử trận, Quảng Trị, 8/1972)
* Phạm Gia Tuấn (tử trận, Quảng Trị, 10/1972)
* Huỳnh Hữu Lộc (chết khi vượt biên)

Tiểu Đoàn Tổng Dành Dinh-Viễn Thám

Phạm Gia Thụy
Mai Mạnh Thước
Lê Văn Thảo
Nguyễn Minh Châu
Nguyễn Quang Toản
Nguyễn Minh Hiền
Nguyễn Công Chiếm
Lê văn Quý
Nguyễn Viết Trọng
Ngô đình Hiệp
Nguyễn Xuân Dương
Phạm Ngọc Sơn
* Lê Văn Nuôi (tử trận, Quảng Trị, 1972)
* Vĩnh Lộc (tử trận, Quảng Trị, 1972)
(Còn 2 bạn Mạc Minh Anh và Quang Kim Su không nhớ đã về Tiểu Đoàn nào khi mới ra trường.)

Khóa 4/71 ngoài binh chủng TQLC, phục vụ các đơn vị bạn cũng làm rạng danh cho khóa như :
-Phạm Lê Phong (ND) thủ khoa khóa 4/71 An Lộc, hy sinh tại Quảng Trị và tên anh được đặt cho khóa 1/72 SQTB là khóa Phạm Lê Phong.
-Dương Tùng Lâm (CSDC) cuối cùng cấp bậc Thiếu Tá (cũng là cấp bậc cao nhất khóa trước năm 1975), hiện cư ngụ tại Washington DC.
-Pham Khánh Hoài (TG) cũng là trường hợp khó tìm thấy trong QLVNCH, năm 1972 trên chiến trường Pleiku anh được ân thưởng Đệ ngũ đẳng Bảo Quốc Huân Chương và danh hiệu Chiến sĩ xuất sắc, hiện cư ngụ tại Atlanta, GA.

Có thể nói những SQ khóa 4/71 hy sinh trong những ngày mùa Hè đỏ lửa tại Quảng Trị là những người thiệt thòi nhất. Chưa được đi phép mãn khóa và có những người vĩnh viễn ra đi mà chưa mặc được bộ quân phục “rằn ri”, chưa được đội chiếc mũ xanh của binh chủng họ hằng yêu thích. Lý do vì thật sự họ chưa có được một ngày phép (dù chỉ vỏn vẹn 24 tiếng ở Huế), chưa có một ngày lương để mua chiếc beret xanh và bộ quân phục màu sóng biển (ngày đầu về đơn vị chỉ được cấp quân phục ngụy trang màu hoa rừng của BĐQ).

Nổi trôi theo vận nước, anh em khóa 4/71 bị bắt làm tù binh hoặc bị lùa đi tập trung cải tạo nhưng vẫn sống hiên ngang, không khuất phục, vẫn cố gắng đoàn kết che chở cho nhau trong những hoàn cảnh khó khăn nhất ở các trại tù CS. Khóa 4/71 có Trần Văn Khoẻ vượt trại tù CS ở Phước Long, vượt biển đến trại tỵ nạn Pulau Bidong, Phan Văn Đuông vượt trại ở Ái Tử, Bình Điền, về Sài Gòn lang thang một thời gian rồi vượt biển đến trại tỵ nạn Pulau Galang. Một số khác vượt trại nhưng không vượt biên, vượt biển được đành ở lại Việt Nam rồi sau đó lại không thể đi tỵ nạn chính trị qua chương trình H0 (xin dấu tên), vì không có giấy ra trại tù!

Sau 40 năm nhìn lại, số SQ khóa 4/71 An Lộc chúng tôi về TQLC nay sống tản mác khắp nơi trên thế giới, Mỹ, Canada, Úc, Đức và một số còn ở lại VN, đều hiểu rằng khi tình nguyện về binh chủng TQLC là chấp nhận hy sinh (vì chiến sự đang lúc có những trận đánh khốc liệt nhất), chấp nhận thiệt thòi (vì binh chủng đất hẹp người đông) nhưng anh em vẫn hãnh diện đã một thời được phục vụ trong Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến. Tình đoàn kết gắn bó, thân thiện của anh em trong đơn vị vẫn như ngày nào khi nhập khóa rồi mãn khóa.

Một bằng chứng thực tế là cho đến hôm nay, mỗi lần tổ chức đại hội khóa 4/71 SQTB anh em khắp nơi trên thế giới về rất đông đủ, có người đầy bệnh tật, có kẻ đau yếu vì tuổi già, vì thương tật cũ thời chiến để lại nhưng vẫn cố gắng về tham dự. Có người đến với đại hội phải bán chiếc xe cũ vừa đủ tiền mua vé phi cơ, có anh phải dùng xe lăn nạng gỗ đến hợp mặt chia sẽ những niềm vui nơi quê người và những nỗi buồn nơi quê nhà, nơi còn nhiều thương phế binh sống cuộc đời sương gió, cơ cực trong đó có cả anh em 4/71 TQLC!

Với trí nhớ kém cỏi cùn mằn của tuổi “mới già”, xin ghi lại những điều vụn vặt còn nhớ và xin được mượn câu “Một ngày TQLC, một đời TQLC” để nhớ đến tất cả những anh em TQLC khóa 4/71 đã hy sinh và còn sống, dù ở quê nhà hay nơi quê người.

MX Phan Văn Đuông
TĐ 5 Hắc Long

Posted: Wed Mar 21, 2012 5:09 am
by lengoi

Image
Chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang

" Tướng : tù với lính…”

nguyễn duy ân
LTG: Mặc dù có thể lên trực thăng để vể Sài Gòn trước lúc Phan Rang chưa bị Cộng quân tràn ngập, hoặc bay ra hạm đội Mỹ, nhưng hai vị Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi và Chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang đã chọn ở lại với anh em binh sĩ trong những giây phút cận kề nguy khốn nhất, cho đến khi rơi vào tay giặc.

Những vị tướng đã chết để bảo toàn danh tiết, không đội trời chung với giặc Cộng. Những vị tướng đồng cam cộng khổ, cùng sống chết với đồng đội thuộc cấp trong ngục tù CS man rợ. Tất cả đều là anh hùng:

Tưởng niệm Tướng Phạm Ngọc Sang

(Người thề quyết trụ Phan Rang
Thành nguy cố giữ không hàng chẳng lui)

Lý tưởng vì dân trọn nghĩa tình
Tận trung bảo quốc buổi điêu linh
Kiên gan chiến đấu trong nguy biến
Tiết tháo không phai giữa ngục hình
Tướng chết theo thành là hiển hách
Tướng tù với lính đáng tôn vinh
Sáng ngời tên tuổi dù thua bại
Bán nước ! Giặc Hồ thắng cũng khinh!


Tháng 4/ 2003
Nguyễn Duy Ân
(Đã đăng báo Khởi Hành, Lý Tưởng)

Hồi kết cuộc chiến Nam- Bắc, kẻ thắng cũng như người thua, tất cả các mặt tích cực cũng như tiêu cực đã nhanh chóng phơi bày. Giọng lưỡi loài rắn rung chuông Cộng Sản Bắc Việt nào là “Đế quốc Mỹ xâm lược, cướp nước. Nguỵ quyền Miền Nam tay sai bán nước, liếm gót giày Đế quốc Mỹ…”

Sau tháng Tư 1975, đó mới là “Siêu thực dân đế quốc Tầu Cộng chính là bọn cướp nước tinh vi. Việt gian Cộng Sản súc vật, đứng đầu là đại Việt gian HCM chính là bọn giết dân bán nước có hệ thống, chưa từng có tiền lệ trong lịch sử.”

Sau 1975 người dân cả nước VN cũng như thế giới mới thấy VNCH là một thể chế bảo vệ đất nước và người dân. Mỹ không có tham vọng xâm chiếm lãnh thổ nước khác nhưng vì quyền lợi, Mỹ không thực tâm giúp cho một Miền Nam Việt Nam tự do chưa có đủ thời gian kiện toàn, nên đã sớm non yểu. Nhưng đây cũng chỉ là nguyên nhân khách quan. Chủ quan “mất nước là do lỗi tại chúng ta mọi đàng!” Lý tưởng được trang bị cho công dân Việt từ tấm bé : “Tổ quốc trên hết. Dân tộc trước hết!” Nhưng nhiều chính trị gia, nhiều nhà quân sự cao cấp, nhiều đảng phái, tôn giáo… thực chất chỉ vì: “Bản thân trên hết. Gia đình và bè phái trước hết!”

Những người lãnh đạo, những vị tướng lãnh… thật sự vì Tổ quốc vì Dân tộc thì ít và lẻ loi! Cho nên dù có hàng triệu thanh niên nhiệt huyết xả thân, đổ máu ngoài chiến trường cho những chiến thắng tạm thời thì cũng khó cứu vãn tình thế yếu kém trong chiến lược dài lâu.

Bọn VC ma quỷ ngoài việc lợi dụng thể chế tự do dân chủ của Miền Nam để lôi kéo bọn trí nô, giáo gian phá thối khắp các đô thị lớn, chúng còn quỷ quyệt cài cắm gián điệp từ Dinh Độc Lập, Quốc hội, Bộ Quốc phòng trở xuống. Một tên CS chui sâu vào quân đội lên tới Trung tá rồi leo lên Chủ tịch Ủy ban Quốc phòng Thượng viện như Việt gian Đinh Văn Đệ, hoặc lên tới cấp Tướng như Việt gian Nguyễn Hữu Hạnh… mà Miền Nam không “thua” sớm là do tinh thần chiến đấu rất cao của Quân lực VNCH.

Nếu Việt gian CS không thắng thì bọn nầy cứ thế mà ngoi lên, ăn trên ngồi tróc, hưởng đủ thứ danh to lợi lớn.

Bắc Cộng thắng, lòi đủ thứ mặt gian, chúng nổi lều bều như rác trên mặt nước triều dâng, Công giáo gian có Trưong Bá Cần (Trần Bá Cương), Nguyễn Ngọc Lan, Phật giáo gian như Huỳnh Liên, Võ Đình Cường… Văn nô như Vũ Hạnh, Cung Tích Biền, Sơn Nam…Người dân ở nông thôn bị VC cưỡng bức phải nghe theo chúng, có không ít thành phần cò mồi cốt cán, ác ôn mà sau nầy hầu hết trong bọn đã bị vắt chanh bỏ vỏ. Trí nô như bọn Nguyễn Hữu Thọ, Dương Quỳnh Hoa, Lữ Phương, Ngô Bá Thành, Lê Văn Hảo, Tiêu Dao Bảo Cự…hung hăng hí hửng trong những ngày đầu, nhưng chúng đã sớm bị loại bỏ như những miếng giẻ rách!

Bắc Cộng thắng, lòi bản mặt bán nước của đại Việt gian HCM và đồng bọn.

Miền Nam thua, nhiều sự thật cũng đã được phơi bày, xác định rõ ai là người chiến đấu vì Tổ quốc đồng bào. Những kẻ sớm trở mặt thuộc loại “cách mạng 30 Tháng Tư” sách nhiễu hoạnh họe những người thất thế để mong giặc Cộng chiếu cố ban ơn. Những tên đánh thuê cho ngoại bang, với thời gian đã lộ bản chất, chúng sợ chết trước khi CS tiêu vong nên dù đã tháo chạy trước khi giặc đến, nay lục tục quay về quy hàng giặc Cộng, mong chúng bố thí ít tiền lẻ từ nguồn bán nước! Số nầy thì chỉ đếm được trên đầu ngón tay nhưng mức độ ô nhiễm thì vô cùng độc hại cho cuộc đấu tranh giải trừ độc tài CS.

Trong nhà tù CS, có những kẻ đã sớm phản bội đồng cảnh, cam tâm làm chó săn, hăng hái làm “thi đua, tự giác, ăng ten” tố cáo, hành hạ anh em để lấy lòng bọn cai tù. Ra được hải ngoại, nay trở về nước săn gái tơ để “trả thù dân tộc!”, con cái học thành tài xúi về hợp tác làm ăn với giặc. Những loại người nầy tuy không nhiều nhưng tác hại xấu xa thì rất lớn.

*

Hàng năm tới Tháng Tư, Đồng hương tỵ nạn CS khắp nơi lại nhắc nhở, tưởng niệm những vị Tướng, những chiến sĩ đã tự sát khi giặc Cộng tràn vào Sài Gòn và Dương Văn Minh bất lực đầu hàng. Những quan chức, những chiến sĩ VNCH hào hùng, tiết tháo, bất khuất quyết không đội trời chung với giặc Cộng gian manh, phản quốc.

Nhiều vị Tướng, nhiều đơn vị trưởng chiến đấu cùng binh lính cho đến phút cuối cùng rồi rơi vào tay giặc, như hai vị nói trên. Hoặc nhiều vị đã hành xử theo cách khác, tiêu biểu như Thiếu tướng Đỗ Kế Giai: tập họp tất cả thuộc cấp dưới cờ, nói lời chia tay não nề trước khi “Tan hàng, cố gắng!” rồi lặng lẽ cùng binh lính đồng đội, chịu đựng chung cảnh ngộ gian lao khổ nhục trong ngục tù CS. Đều là những vị anh hùng xứng đáng được kính trọng, tôn vinh.


nguyễn duy ân

Posted: Thu Mar 22, 2012 4:30 am
by caolynh
THÔNG CÁO BÁO CHÍ TTCS/VNCH/HN

Image
TỔ QUỐC - DANH DỰ - TRÁCH NHIỆM
TẬP THỂ CHIẾN SĨ VIỆT NAM CỘNG HÒA HẢI NGOẠI
ASSEMBLY OF VIETNAMESE VETERANS


ĐẠI HỘI BẤT THƯỜNG 17 VÀ 18 THÁNG 3 NĂM 2012
THÔNG CÁO BÁO CHÍ


Tiếp theo Đại Hội Toàn Quân năm 2003, Tập Thể Chiến Sĩ VNCH đã được thành lập và hoạt động từ đó đến nay.
Sau 9 năm, vẫn còn cần có những thay đổi cần thiết từ tổ chức cho đến nhân sự hầu thích hợp với từng giai đoạn trưởng thành
của cộng đồng người Việt tại hải ngoại cũng như tình hình và diễn biến trong công cuộc tranh đấu vì Tự Do, Dân Chủ
của toàn dân quốc nội đã và đang xảy ra trên khắp mọi miền đất nước.
Sau Đại Hội ngày 1, 2 và 3 tháng 10 năm 2010, chỉ một năm sau khi được bầu làm Chủ Tịch Hội Đồng Đại Diện,
Niên Trưởng Hồ Văn Kỳ Thoại đã từ chức trước Đại Hội tổ chức tại Houston- Texas vào ngày 4 tháng 9 năm 2011.
Đó là một trong những lý do đưa đến Đại Hội trong 2 ngày 17 và 18 tháng 3 năm nay 2012, tại thành phố Santa Ana, California.
Đại Hội này đã quy tụ được sự tham dự của các Tổng Hội, Liên Hội, Hội Đoàn . . . khắp nơi trên thế giới.
Ngoài ra còn có sự hiện diện của quý Niên Trưởng Tướng Lãnh, quý sĩ quan cao cấp trong các Quân Binh Chủng,
các Quân Trường, Lực Lượng Cảnh Sát Quốc Gia cũng như bán Quân sự, là những thành phần đã đích thực đóng góp xương máu
trong công cuộc bảo vệ miền Nam Việt Nam trước 1975.
Sau hai ngày thảo luận, Đại Hội đã đưa đến kết quả:


1) Bầu các chức vụ đang khiếm khuyết theo Điều Lệ sửa đổi năm 2010, với kết quả:

1-1/ Chủ Tịch Hội Đồng Đại Diện: Giáo sư NGUYỄN XUÂN VINH.
1-2/ Chủ Tịch Hội Đồng Điều Hành: CH.TRẦN QUAN AN

2) Trong Đại Hội, tất cả mọi người đều tỏ rõ:
- Luôn giữ vững lập trường Quốc Gia Dân Tộc.
- Không chấp nhận hòa hợp hòa giải với Cộng Sản Việt nam.
- Thống nhất lập trường, đường lối để cùng đồng bào trong nước và hải ngoại
vận động quốc tế trong công cuộc đấu tranh giải trừ chế độ Cộng Sản Việt Nam.
3) Ngoài ra, Đại Hội cũng đã đã đưa ra một số nguyên tắc cần có, để những hoạt động của Tập Thể từ nay sẽ được chặt chẽ
và hữu hiệu hơn, nhất là trong hệ thống thông tin, liên lạc từ trung ương đến các địa phương,
đặc biệt là các Trung Tâm Điều Hợp vùng ở Hoa Kỳ,
Âu Châu, Úc Châu và Canada. Nhiệm kỳ hoạt động cho các Tổ Chức của Tập Thể là 3 năm và được bắt đầu từ tháng 3 năm 2012
theo tinh thần của Bản Điều Lệ hiện hành.

Làm tại Little Saigon ngày 18 tháng 3 năm 2012

Image