Tạp Ghi

tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Việt Nam nhìn từ thế giới ảo
(Nguồn: nguoibuongio1972.multiply.com)


Hôm nọ xem cái ảnh vụ xử Nguyễn Ðức Nghĩa tử hình, có thằng phóng viên giơ máy ảnh chụp miệng cười tủm tỉm.

Hôm nay thấy cái clip công an bắt gái mại dâm, quay clip bắt gái phải dang tay ra không được che bướm để quay cho rõ.

Rồi bà mẹ nào sinh con, không nuôi được đem bỏ ở cổng chùa, lúc chú tiểu mở cổng chùa bé gái sơ sinh đã bị kiến bu đốt chết.

Hôm nọ nghe bác Nguyễn Minh Thuyết đại biểu Quốc Hội phát biểu rất nhiệt huyết, hôm sau thấy báo chính phủ, công an lên án các đại biểu hồ đồ, thiếu kiến thức cái nhìn thiển cận.

Các con quan thi trượt ở Hải Phòng, lại được đặc cách cho vào thẳng, bí thư tỉnh ủy đi mua cổ vật do bọn trộm khoắng ở nhà thờ, nhà chùa.

Rồi nghe chị Báo Hồng chửi các nhân vật bị công an bắt, không biết sao chị ấy ghét những người bị bắt thế. Ðọc chị Dương Thu Hương mới biết là bởi những người ấy bị công an ghét, mà công an với chị Báo Hồng là chỗ thân “tình.”

Rồi vụ hàng trăm tên xã hội đen vì thanh toán nợ nần cờ bạc, đứng đầu một nhóm là trung úy công an Hà Nội chuyên nghiệp hơn đã giết được kẻ cầm đầu nhóm kia. Mấy trăm con người vây quanh bệnh viện giữa thủ đô để truy sát kẻ thù, trong phía Nam cũng liên tiếp vụ xông vào bệnh viện truy sát kẻ thù đang phải nằm cấp cứu.

Cán bộ xã hiếp dâm nữ cán bộ dưới quyền, nhân tiện hiếp luôn cả trẻ em tại buôn làng.

Ngoài chợ các thứ thực phẩm tăng vọt, thu nhập chả tăng đã thế thực phẩm lại toàn nhiễm chất nọ, chất kia. Ðau nhất là yêu quê hương, mua gì cũng nhất quyết tìm hàng Việt Nam trừ cái gì VN không làm được mới mua của nước khác sản xuất (hạn chế mua hàng TQ), nay lại biết tin hàng VN là mua của TQ rồi dán mác VN vào.

Không biết ngày ngày mặt trời có còn đi qua lăng không nữa.

Thấy tăm tối quá, chẳng biết cứ thế này kiếp người đi về đâu.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Sự khác biệt giữa hai phái khi ngoại tình

Khi ngoại tình, phụ nữ dùng tiền để mua sắm và làm đẹp. Nếu bị phát hiện, ngay lập tức họ đòi ly dị. Đàn ông thì ngược lại,
họ dùng tiền để “chăm sóc” người tình. Nếu bị phát hiện, họ sẽ quay đầu về vì không muốn tan cửa nát nhà.

Image
Phụ nữ khi ngoại tình muốn cống hiến tất cả tình yêu, sự quan tâm và muốn được chăm sóc cho người tình của mình. Đàn ông ngoại tình chỉ là cách để giải tỏa tâm lý, họ thường chỉ “đầu tư” một ít tình cảm dành cho tình nhân chứ không bao giờ bỏ bê gia đình.

Phụ nữ đã có gia đình khi ngoại tình thường tìm đối tượng chững chạc và đứng đắn “hơn” chồng của họ. Mục đích của họ chính là lấy tiền của người tình để thỏa mãn nhu cầu mua sắm cũng như nhu cầu bù đắp tình cảm của bản thân. Còn với đàn ông, khi ngoại tình, họ thường để ý những cô gái trẻ đẹp hơn so với vợ mình. Họ coi việc bỏ tiền ra chu cấp cho tình nhân là niềm vui.

Phụ nữ ngoại tình thường muốn chồng phát hiện và giải thoát cho họ. Còn đàn ông khi bị phát hiện ngoại tình thì tìm đủ mọi lý do để bào chữa cho lỗi lầm của bản thân.

Phụ nữ ngoại tình thường đưa tình nhân về nhà, ngay trên chiếc giường của hai vợ chồng. Còn đàn ông thì thường hẹn hò với tình nhân ở nhà nghỉ hoặc khách sạn, bất cứ nơi nào miễn là không phải ở nhà.

Phụ nữ vì bị cám dỗ bởi sự phóng đãng hay một ưu điểm nào đó của người khác giới mà ngoại tình. Đàn ông ngoại tình vì muốn tìm cảm giác lạ và mong muốn được sở hữu người đẹp.

Khi ngoại tình, người phụ nữ thường rất khó quay đầu lại, họ thường bị ám ảnh bởi hình bóng của tình nhân và cảm giác sợ phải về nhà. Đàn ông thì cảm thấy mệt mỏi và lo sợ khi nhìn thấy vợ mình.

Phụ nữ ngoại tình thường chủ động đề nghị ly hôn. Đàn ông ngoại tình thường bị động trong vấn đề ly hôn.

Phụ nữ thường mất một thời gian để tình cảm có phút chạnh lòng, sau đó mới tiến dần đến ngoại tình. Đàn ông thì thường bị hấp dẫn bởi ngoại hình và sự trẻ đẹp ngay từ phút đầu tiên.

Phụ nữ ngoại tình vì không hài lòng với người chồng hiện tại. Đàn ông ngoại tình vì bị cuốn hút bởi người phụ nữ trẻ trung hơn vợ mình.
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Độc chiêu của các quán cà phê VN ở Los Angeles:
Thực đơn rất ít món và nữ tiếp viên rất ít quần áo

Cali Today News - Nếu bước vào quán cà phê Lú ở Santa Ana, thực khách sẽ thấy thực đơn rất nghèo nàn và y phục của các nữ tiếp viên cũng “nghèo nàn” không kém.

Họ chỉ mặc bikini, mang giày cao gót. Về khoản “nghèo nàn” trong trang phục, những người sành cà phê đều biết chắc rằng café Lú ở Santa Ana không thể nào so sánh nổi với nhiều quán café ở San Jose. Không chỉ có các cô người Việt phục vụ, mà có cả người Mỹ, người Mễ, người Phi Luật Tân,… Café tại San Jose vì thế thu hút không chỉ khách Việt mà còn cả khách của các sắc tộc khác, và Mỹ nữa. Đến với quán café Việt tại San Jose, nhiều người nói không chỉ có uống café mà còn tha hồ mà nhìn ngắm người đẹp…
Image
Như thế này so với nhiều tiệm ở San Jose thì vẫn còn… kín đáo lắm. Photo courtesy: myFOXla.com

Nhiều quán cà phê của người Việt thành công trong kỹ thuật tiếp khách độc đáo này trong vùng. Khách kéo đến nườm nượp, dĩ nhiên đa phần là khách đàn ông. Quán Café Lu đêm nào cũng chật cứng khách.

Rachel Levy, một nữ tiếp viên của quán, cho biết: “Tôi thấy ăn mặc như thế không có gì là đồi bại, giống như mình đi bãi biển vậy thôi”.

Có khi sau khi dọn món uống xong, các cô ngồi xuống tiếp chuyện với các ông. Một ông tên James, nhận xét: “Bạn có thể đang rầu rỉ, bực mình, bước vào đây, lát sau bước ra vui vẻ thỏa mái!”

Quán cà phê loại này có đặc điểm là nhiều màn ảnh TV cực lớn phục vụ các chương trình thể thao cho khách xem. Không khí rất sôi động.

Thực đơn có gì? Chỉ vài món uống ngọt, cà phê VN và trà. Chấm hết. Không có thực phẩm, không snacks và không rượu. Các cô tiếp viên tự di làm món uống cho khách, giá 7 đô la.

Nam Bùi, một ông khách, nói: “Vui lắm, đàn ông là đàn ông, các cô thật tuyệt”, còn Harmony Vũ, một nữ tiếp viên, cho biết: “Ở đây chả có gì hết ngoài món uống, các cô cực hấp dẫn và thể thao. Chấm hết”.

Trường Giang (nguồn myFOXla.com)
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

Chiều Vàng Với Tôn Thất Niệm

Quỳnh Giao
Sinh thời, nhà văn Mai Thảo rất trọng nghề văn và những người sống vì văn chương, báo chí. Nhưng cũng vì thế mà ông lại thiếu kiên nhẫn với những người giàu có, như y sĩ, lâu lâu viết văn một cách tài tử mà cũng tự xưng là nhà văn. Ông không coi họ là nhà văn, hoặc nói theo lối xưa, nhất định không ngồi chung chiếu!

Vậy mà con người khắt khe ấy lại rất thích nghe Luật Sư Khuất Duy Trác hát nhạc của Cung Thúc Tiến, chuyên viên Bộ Kinh Tế của Sàigòn thời xưa! Với Mai Thảo, cái nghiệp cầm ca có được trường hợp giảm khinh, và một chiếu riêng trên lãnh vực nghệ thuật!

Thật ra, Duy Trác đã lẫy lừng là một ca sĩ trước khi trở thành luật sư và nổi tiếng hơn nữa vì hát một cách tài tử. Ông thích thì hát, để làm hài lòng chính mình, và chọn bài hát với mỹ quan của một người trí thức.

Trong giới y sĩ, một trường hợp tương tự và có lẽ đầu tiên là của Thu Hà.
Thu Hà bước vào nhạc từ khi còn là sinh viên y khoa, với kỹ thuật rất gần với một danh ca là Châu Hà, trầm ấm và tròn trịa. Hát cùng thời và thân thiết với Tuyết Hằng, một giọng nữ rất đẹp được Hoàng Thi Thơ mời hát giọng chính trong các vở nhạc kịch, Thu Hà tiếp tục lên sân khấu sau khi tốt nghiệp bác sĩ. Ban ngày là lương y như từ mẫu, ban đêm, Thu Hà đội khăn mặc áo gấm hát giữ bè cho ban tam ca Ðông Phương tại Ðêm Màu Hồng. Người nghe thường hiểu lầm về các ca sĩ hát bè phụ. Trong ban tam ca Ðông Phương, Thu Hà và Tuyết Hằng giữ bè phụ cho Hồng Vân hát giọng chính vì hai người rất giỏi về nhạc lý, cùng học nhạc pháp ở trường Quốc Gia Âm Nhạc Sàigòn, và hát có kỹ thuật hơn. Hoài Bắc Phạm Ðình Chương cũng hát bè phụ cho người anh là Hoài Trung trong ban hợp ca Thăng Long chính là vì ông giỏi về kỹ thuật và là cái hồn nhạc của ban hợp ca danh tiếng này. Cần nhắc lại như vậy cho công bằng khi nhớ đến Thu Hà và Tuyết Hằng của mấy chục năm về trước, và những người hát bè phụ.

Có một giọng nam trong ngành y khoa cũng nổi tiếng trước khi trở thành bác sĩ là Trung Chỉnh, tiếng hát lừng danh trên truyền hình Sàigòn cùng với Hoàng Oanh, khi Sàigòn bắt đầu có Ti-vi. Trẻ trung và tươi vui trong các bài song ca với Hoàng Oanh về đời lính và cô em hậu phương, Trung Chỉnh hát rất rõ lời và được mọi giới yêu chuộng.

Ðó là về những giọng ca bác sĩ trước 1975.
Ra tới hải ngoại, chúng ta có trường hợp của Bích Liên.

Giới yêu nhạc biết tới giọng ca Bích Liên trước khi để ý tới Bác Sĩ Bích Liên, một giọng ca đầy kỹ thuật của người có rèn luyện thanh nhạc. Y như Duy Trác, Bích Liên hát cho nghệ thuật hơn là thị hiếu của đám đông nên chọn bài rất kỹ, rất kén người nghe, với sự điêu luyện rất độc đáo.

Cũng trong giới y khoa, Hà Thúc Như Hỷ là một bác sĩ chuyên nghiệp có giọng ca trầm ấm và làn hơi phong phú. Nhưng ông không hát thường xuyên và cất tiếng hát là khiến bằng hữu sững sờ, vui thích. Nhiều người trong ngành y khoa có giọng ca rất đạt, hát còn vững hơn những ca sĩ chuyên nghiệp, như trường hợp của hai chị em Ngọc Sương và Như An. Hoặc giọng “bass” rất trầm của Bác Sĩ Vũ Duy Hiển, êm nhẹ và tình cảm như Vương Ðức Hậu, trầm ấm như Phạm Gia Nghị.

Ðấy là những người hành nghề y khoa nhưng yêu nhạc và hát cho nghệ thuật hơn là một cách sinh nhai. Nếu chú ý, chúng ta cảm được nhiều điều hay và đẹp về nhạc. Quần chúng nghe nhạc của họ cũng thuộc thành phần biết nghe, và biết thưởng thức bằng tai hơn là bằng mắt.

Trong thế giới ấy, có một người lại đi ngược với mọi người. Là ca sĩ trước khi thành bác sĩ, và khi trở thành lương y thì lại ra khỏi làn sóng nhạc.

Ðó là Tôn Thất Niệm.

Ông đi hát và nổi tiếng đã từ lâu lắm rồi, từ đài phát thanh Huế rồi vào Sàigòn với đài Pháp Á, hát cùng Minh Trang - thân mẫu của người viết. Ông cũng có thời gian đã hát tại đài phát thanh Ðà Lạt. Nhớ lại về nghệ thuật và âm sắc, Tôn Thất Niệm là giọng ca độc đáo ở giữa hai danh ca Anh Ngọc và Duy Trác.

Giọng Tôn Thất Niệm “trong” và “dày” hơn giọng Duy Trác. Vì trong hơn nên có nét láy thật ý nhị, dịu dàng, nhưng vì dày hơn nên cũng có chất “trượng phu” rất đặc biệt của Anh Ngọc. Thời xưa, khi làng tân nhạc còn váng vất với những tiếng hát Quách Ðàm, Ngọc Bảo của Hà Nội, Anh Ngọc, Tôn Thất Niệm và Duy Trác đã đem lại một thế giới âm thanh khác, đàn ông hơn, thanh lịch hơn. Và Sàigòn văn minh hơn. Hơn hẳn sau này...

Thời gian qua đã quá lâu, những đĩa nhạc “33 tours” đã là dư âm thời cũ. Nếu còn nhớ lại, người nghe phải nhắc mãi đến Ðêm Tàn Bến Ngự hay Áng Mây Chiều của Dương Thiệu Tước qua tiếng hát Minh Trang. Và không thể quên được Chiều Vàng, Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay hay Tiếng Chuông Chiều Thu với tiếng hát Tôn Thất Niệm.
Ðấy là những đỉnh cao giờ này ít nam ca sĩ nào vươn tới.

Cứ nói về nghệ thuật diễn đạt thì lại nhớ đến cách Tôn Thất Niệm dẫn vào Chiều Vàng của Nguyễn Văn Khánh, một tuyệt chiêu. Kể từ đấy, thấy ánh chiều vàng là người ta nhớ đến Tôn Thất Niệm:

Trên đồi xanh, chiều đã xuống dần
Mặt trời lấp ló sau đồi, chiều vàng...!

Hoặc lúc nhấn giọng để vào điệp khúc của Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay của Ðoàn Chuẩn:

Gửi gió cho mây ngàn bay,
Gửi bướm đa tình về hoa.
Gửi thêm ánh trăng, màu xanh ái ân
Về đây với Thu trần gian...

Cũng như câu kết trong Tiếng Chuông Chiều Thu của Tô Vũ:

Chuông reo mùa nắng mới, tình ta đẹp bao nhiêu
Lòng anh thầm nhắn tiếng chuông ban chiều (u ù)...

Ðấy là giọng ca ấm áp, dịu dàng, tình tứ, nghe mãi không chán. Tôn Thất Niệm có cách luyến láy rất khác người, mềm mại mà không ẻo lả, tình tứ mà không say đắm. Rất chừng mực. Nếu đã được nghe, và còn nhớ, chúng ta sẽ thấy là chưa ai hát ba ca khúc ấy tuyệt vời hơn Tôn Thất Niệm!

Ngày xưa, Tôn Thất Niệm cùng Minh Trang là đôi song ca nổi tiếng. Người viết xưng hô là “cậu Niệm” và được ông từ tốn kể lại rằng mình chỉ biết hát chứ còn kém về nhạc lý nên thường nhờ mẹ giữ nhịp cho chắc. Hai người đã song ca bài Bến Cũ của Anh Việt rất được yêu thích và vẫn còn được nhắc nhở như một chuẩn mực của thời trước!

Tôn Thất Niệm cũng kể lại “sự nghiệp quốc tế” của hai người khi Bến Cũ đã vang vọng tại Manila của Phi Luật Tân trong một tuần lễ văn hóa. Hai nghệ sĩ của Việt Nam hát “quện” đến nỗi thiên hạ (thiên hạ đây là người Phi!) tưởng là đôi uyên ương, dù Minh Trang lớn hơn cả chục tuổi. Người xưa kể lại rằng thời đó Tôn Thất Niệm đẹp trai lắm, hát rất hay nên dĩ nhiên là có nhiều cô ái mộ. Nhưng cậu Niệm chỉ mê mợ thôi, một người đẹp trong gia đình Nguyễn Tường.
Vì vậy mà đại đăng khoa xong là tiểu đăng khoa, và Bác Sĩ Tôn Thất Niệm xuất hiện thì tiếng hát Tôn Thất Niệm cũng dứt ngang, ở lúc sung mãn nhất.

Cách đây khá lâu, trong một “ngày Hoàng Tộc”, khán giả tại California bỗng được thấy một chiều đông Hà Nội qua bài Em Ðến Thăm Anh Một Chiều Mưa của Tô Vũ. Quỳnh Giao và Tôn Thất Niệm song ca! Hai thế hệ trong một ca khúc thuộc loại trữ tình nhất của Việt Nam. Giọng Tôn Thất Niệm vẫn thanh lịch ấm áp, hơi ngân dài và chuỗi ngân rất dày và chắc. Ðấy là một cách diễn tả nghệ thuật nhất của một ca khúc nghệ thuật tuyệt đẹp.

Cũng vì vậy mà người viết mới đề nghị Tôn Thất Niệm cùng thực hiện lại bài này trong đĩa nhạc Ngàn Thu Áo Tím. Ông nhận lời như một cách ghi lại giọng ca của mình. Sau cùng lại do dự, và thôi! Cách hòa âm và lối hát với một dàn nhạc thời bây giờ khiến ông ngần ngại. Quỳnh Giao mời Anh Dũng hát chung và quả nhiên là ca khúc đem lại thành công, nhưng chúng ta vẫn tiếc là không còn được nghe lối trình bày thật trân trọng và lãng mạn của Tôn Thất Niệm.
Chúng ta không thiếu bác sĩ. Nhưng vẫn tiếc sự trân quý nghệ thuật của những người biết hát vào một thời đã qua... và đang dần tắt như trong một buổi chiều vàng.
Last edited by KýCóp on Sat Aug 27, 2011 4:56 am, edited 1 time in total.
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Từ thiện - thật và ảo

Blogger Hiệu Minh
(Nguồn: hieuminh.org)

Dân ta có câu “Lá lành đùm lá rách” để nói lên truyền thống có từ lâu đời muốn chia sẻ với đồng bào bị hoạn nạn có từ bao đời nay.

Image
Một cảnh lũ lụt tại miền Trung Việt Nam hồi năm 2010. (Hình: old.thuvienhoasen.org)

Nhưng thời nay đôi lúc đã bị biến tướng và trở nên méo mó, thể hiện đạo đức xã hội xuống cấp tới mức báo động.

Có lần ở Hà Nội, tôi chứng kiến một thanh niên đi xe máy ngã vật xuống đường, máu me đầm đìa và bất tỉnh. Rất nhiều người xúm lại giúp đỡ. Nhưng có mụ ra lần túi, móc ví của nạn nhân một cách thản nhiên. Trục lợi trên nỗi đau của người khác đáng sợ làm sao.


Từ thiện thật cũng không dễ


Mấy hôm trước gặp một bác người Việt làm cho tổ chức quốc tế lớn với hàng chục ngàn nhân viên. Vừa nhìn thấy tôi, bác giữ lại để hỏi, tại sao các nước như Philippines, Thái Lan, Trung Quốc, kể cả nhiều nước nghèo bên Châu Phi, mỗi lần quốc gia của họ bị thảm họa thì nhân viên trong sở đều tổ chức quyên góp.

Họ để một cái bàn trước cửa ra vào, vài hình ảnh lụt lội, động đất, nhà đổ, trẻ con bà già khóc lóc, trông thương tâm, người qua lại dễ động lòng trắc ẩn. Ðôi khi họ quyên góp hàng chục ngàn đô la gửi về cho đồng bào bị thiên tai.

Trong khi đó, dân VN làm tại đây có vài trăm người, bác chưa bao giờ nhìn thấy “người của ta” tổ chức thế bao giờ. Rồi bác ngậm ngùi tự giải thích, dân mình vẫn còn hai miền, còn cờ đỏ, cờ vàng, mới ra nông nỗi này.

Một cháu gốc Việt, sinh ra ở Pháp, sang Mỹ làm việc. Bố mẹ dù xa tổ quốc mấy chục năm nhưng vẫn dạy con gái rằng, gốc gác của cháu là VN, và cần yêu thương người nghèo như cha mẹ của cháu.

Vài mùa Hè trước, cháu và vài bạn về thăm đồng bào miền núi ở Tây Nguyên. Thấy học sinh nhỏ nơi đây nghèo quá nên cháu rủ các bạn lần sau mang ít quần áo, thuốc men về tặng.

Khi tặng xong thì địa phương quyết định thu hồi toàn bộ áo phông vì “áo tẩm thuốc độc,” rồi “thuốc đó là thuốc lú,” mẹo “diễn biến hòa bình” hay cả trăm lý do khác.

Cháu kể với tôi giọng vô cùng oan ức, như muốn khóc. Lý do đơn giản, các cháu không đi qua đường chính thống là liên lạc với UB xã trước khi làm việc thiện.

Các cháu muốn đóng góp nhưng lại sợ tiền viện trợ không đến tay người cần vì chuyện xà xẻo của người nghèo đã từng xảy ra. Trong vài trường hợp, muốn làm người tốt cũng khó và muốn giúp người nghèo cũng không dễ.

Những việc từ thiện “ảo”


Vài tuần trước đay có tin nhiều túi quà gửi cho miền Trung bị lụt lội có chứa cả đồ phế thải. Rồi có kẻ lấy quần áo gửi tặng đồng bào đang thiếu thốn để làm giẻ lau xe hay cứu trợ bằng hàng hết hạn. Người ta thản nhiên kiếm lời trên nỗi đau của người khác.

Gần đây trong đêm hội Hoa Hậu Trái Ðất và doanh nhân hướng về miền Trung với sự tham gia của 90 hoa hậu từ khắp thế giới và hàng trăm doanh nhân giầu có. Vật đấu giá có những đồ quí như hòn rubi 10kg, trống đồng, rồi bộ tứ linh “Long Lân Qui Phụng” bằng gỗ lũa hóa thạch. Tổng số tiền đấu giá tới 74 tỉ.

Vài người nỡ biến cuộc đấu giá lấy tiền giúp người nghèo thành một nơi quảng cáo cho công ty, trả giá rất cao rồi xù hay nuốt lời hứa. Có kẻ gọi điện đến mua rồi bặt vô âm tín, từ thiện “ảo” để đùa cợt số phận của những người đang sống trong khốn cùng thật.

Viết lại câu chuyện này tôi chợt nhớ ra kẻ ngang nhiên móc túi người bị tai nạn xe máy trên đường phố. Và nhớ ra cô cháu đồng nghiệp muốn giúp học sinh nghèo mà không thể. Thói thờ ơ hay trục lợi trên nỗi đau của đồng loại thể hiện sự xuống cấp về đạo đức tới mức báo động.

Thiên tai gây ra cho con người đã khủng khiếp, nhân tai cũng tàn phá không kém. Thảm họa xảy ra và nếu mục đích làm từ thiện không xuất phát từ trái tim mà dùng nỗi thống khổ của đồng loại cho việc đánh bóng tên tuổi hay trục lợi, thì sự tàn phá man rợ hơn cả thiên tai và nhân tai cộng lại.
tiendung
Posts: 884
Joined: Tue Jun 19, 2007 7:47 am
Location: Paris
Contact:

Post by tiendung »

CHỒNG TÔI

Thực sự càng vào tuổi già chàng càng “ ngớ ngẫn” và hay quên. Ngày xưa khi chàng còn trai trẻ thì có lẽ có “hạnh kiểm” hơn trong những ngày tháng muộn màng. Thưở ấy (dưới mắt chàng) tôi có một dáng dấp không đến nỗi tệ. Bây giờ chàng đã quên mất cô vợ ngày ấy; thay vào đó là những cái nhìn ngẩn, nhìn ngơ cho những cô gái chân dài bất tận, không liên hệ chi với chàng, mà còn khen rối rít,“con nhỏ đó có cặp giò ngon dễ sợ!” Đi ngoài đường thấy gái đẹp thì chàng quên bẳng là đang đi với vợ mà tưởng rằng tôi là thằng bạn nối khố của chàng, “ Trời! Trời! Ngó cái mông thiệt đã!” Có khi tôi đã thấy chàng nhìn chăm chăm mấy cô gái phô bày cặp ngực, khêu gợi, căng đầy nhựa sống; rồi chàng nhìn theo trong kính chiếu hậu tiếc ngẩn tiếc ngơ; tôi cũng đoán được chàng đang suy nghĩ gì!


Có phải ông cha ta đã nói: “Gìa thì phải nên nết”. Hình như đây chỉ là một giả thuyết? “Cụ” nhà tôi bây giờ còn “tinh nghịch” hơn xưa. Cụ đã cùng với những cụ khác dấu diếm gởi cho nhau những tấm hình táo bạo, những khúc phim “đặc sắc” để chiêm ngưỡng, rồi cười đùa khoái trá như những cậu học sinh trung học ngỗ ngáo. Nếu bị phát giác thì cụ lại chối leo lẻo “No, I'm a good guy!” Mỗi lần có hình khỏa thân hấp dẫn hay phim “nghèo” là trong làng bằng hữu của chồng tôi thật nhộn nhịp, rộn ràng:- Mày cho tao xin phim này đi. Mày upload lên megaupload thì rất thuận tiện vì tao có premium account với thằng này. Ngay cả những anh thường hơi thẹn thùng trong chuyện đóng góp và tán dóc cũng trồi lên, “Thằng .......trồi lên chỉ khi nào nó ngửi thấy mùi : dâm , vú.... Tôi còn nhớ khi cụ nhà tôi gởi tựa đề của cuốn sách 365 sex positions lên mail group của cụ thì gần như suốt một tuần các cụ đã tranh cãi và thảo luận sôi nổi về đề tài nầy còn hơn những bài luận văn chính trị cuối mùa văn hóa hồi các cụ còn mài đũng quần ở Đà lạt! Chưa đủ, có cụ còn chôm nguyên cuốn sách trình làng với đầy đủ hình ảnh chi tiết. Có cụ còn muốn vớt vát cho cái lém lĩnh của mình bằng sự trấn an của khoa học:- Nói có sách, mách có chứng. Mỗi ngày chỉ cần 10 phút coi hình thiếu vải thì hạ huyết áp, tránh được bệnh tim. Bí quyết sống lâu đây rồi, mỗi ngày chỉ 10 phút thôi, không phải tin đồn bậy bạ mà có nghiên cứu đàng hoàng. Đã có gan coi hình tươi mát mà còn sợ “thượng mã phong!”


Đàn ông, theo y học chứng minh-đầu óc của họ lúc nào cũng đầy dẫy chuyện gió trăng và hơi hám đàn bà lúc nào cũng vương vấn trong những cuộc đối thoại. Không sai tí nào! Khi chồng tôi dự định mua máy hình, anh hỏi loại máy hình gì tốt, đẹp và bền, thì ngay lập tức các đồng môn của anh xúm lại khuyên bảo :-Nhu cầu của mỗi người khác nhau, vấn đề là mình phải biết nhu cầu của mình là gì thì mới chọn lựa được sản phẩm thích hợp. Có người thích em trắng, kẻ thích em đen, người chuộng da rám nắng, kẻ thích vú bự, người mê ăn quýt. Tùy theo khẩu vị mà chọn hàng. Nhưng nói gì thì nói họ vẫn thuộc làu câu ca dao tục ngữ gối đầu giường “Ta về ta tắm ao ta...” Rồi lại phụ đề thêm Việt Ngữ:Cái này là nói mấy em chân dài, nói phở thôi. Cơm nhà dù sao vẫn chắc bụng, no lâu. Phở dĩ nhiên, nấu vừa mất thời gian lại còn tốn kém nhưng anh nào cũng khoái “ăn vụng”. Điều nầy không phải không đáng sợ.

Trên bảo dưới không nghe.” Đây là điều đáng quan tâm nhất của các đấng mày râu khi họ đến tuổi về già. Tôi thấy đức lang quân của tôi thường nhận được những lời chia xẻ của bạn bè để làm thế nào mà “ trẻ mãi không già” Chưa đủ, họ còn truyền cho nhau những loại rượu, có khi luôn cả những thang thuốc truyền kỳ để cùng tìm hiểu bí quyết về huyền sử ái ân. Khi có dịp gặp nhau thì lại thì thầm, mách nước xem thử kết quả có ly“kỳ như họ nghĩ hay không. Lạ lùng thay tôi chưa nghe anh nào thật sự thố lộ là những chung rượu thần kỳ và các liều thuốc nổi danh lịch sử đã làm cho họ cải lão hoàn đồng! Đức lang quân của tôi cũng đã dại khờ, liều mạng tu gần nữa chai rượu của một người bạn quý cho anh để đi tìm kết quả. Nhưng chàng đã quên mất rằng hai anh em, thằng lớn, thằng nhỏ, cùng một tuổi thì thuốc tiên, phép lạ cũng phải bó tay.

Chồng tôi có một đặc điểm là biết “vâng lời” vợ. Một phần là nhờ anh ở phương tây khá lâu nên không ít thì nhiều anh cũng có tiêm nhiễm về nếp sống văn minh nơi xứ người. Kỷ niệm ngày cưới, sinh nhật hoặc ngày của tình yêu mà quên là anh “lãnh nợ”. Để tránh khỏi mua quà tầm bậy anh thường cẩn thận hỏi trước (thà mất lòng trước được lòng sau!) , “ Em thích qùa gì cho sinh nhật của em?”. Tiền đâu anh mua hột xoàn, kim cương; tiền đâu anh mua xe hơi, nhà lầu hay những món quà đắt giá! Nhưng dại gì mà nói, anh phải tự suy nghĩ để đem lại sự ngạc nhiên vui thích cho mình- “Không cần đâu anh!Em đâu thiếu gì!” Ông chồng tôi thở phào nhẹ nhõm, cứ thế mà làm theo, chẳng quà cáp gì ráo. Tưởng vâng lời như thế thì được điểm tốt, nhưng chiến tranh lạnh đã xảy ra. Anh lại ngây thơ thăm hỏi, “ Sao em lạnh lùng như băng giá?” Khi chiến tranh bùng nổ thì anh trả lời “ Em nói em không cần gì hết mà tại sao bây giờ không vui! Em nói sao thì anh nghe vậy có gì mà hờn giận, trách móc.........?.

Nếu cho rằng anh là một ông chồng “lý tưởng”- nghĩa là: đẹp trai, vạm vỡ, hào hoa, phong nhã, đa tình, lãng mạng thì có lẽ anh sẽ được chấm hạng dưới trung bình; cũng có thể gọi là hạng chót! Nhưng anh là một người thật thà. Ngày xưa anh yêu tôi vì tôi có mái tóc thật dài, xõa ngang lưng, thơm mùi quyến rũ. Ngày hôm nay tôi càng cố gìn giữ bao nhiêu, thì hàng chục sợi tóc đáng thương cứ cuốn theo chiều gió mà bay mãi. Chải tóc cho tóc mượt thì chỉ thấy nền nhà phủ đầy những sợi tóc khô khan của tuổi đời. Anh bây giờ không còn vuốt tóc tôi như ngày xưa mà còn bảo: “ tóc em sao rụng quá cỡ vậy? Vài năm nữa không đội tóc giả thì cũng thành ni cô! Nghe mà nóng gà, muốn nổi tam bành lục tặc.

Một điểm đặc biệt và “đáng yêu” của chồng tôi là anh rất thẳng thắng phải nói rằng- “toạc móng heo”. Tôi có một cái tính là thích ăn mặt hơi hở hang, có lẽ cũng muốn níu kéo một tí gì trước khi xã hội xếp mình vào dĩ vãng. Nhưng khi mặc áo đầm , váy ngắn hoặc áo cổ rộng tròn phơi bày thì sẽ được anh thẳng thắn khuyên nhủ:- “ Em mặc như vậy có ngày trúng gió bất tử.” Anh làm tôi cụt hứng-tưởng rằng ăn mặc mát mẻ sẽ làm anh gợi cảm và nhìn tôi như những đàn bà trẻ đẹp khác. Thiệt chán còn hơn ăn cơm nếp nát.

Về nghệ thuật, chồng tôi có một cái nhìn rất khác người. Khi đi mua sắm, tôi thường “mời” anh đi theo, trước thì để xách đồ, sau là làm “cố vấn thời trang”. Có lẽ là vì được nhờ nên anh đóng góp ý kiến rất nhiệt tình. Áo quần hơi có bông ba màu sắc thì anh bảo “sao không mua thêm vài cái lư hương lập miếu lên đồng cho đủ bộ”. Khi mua nịt da bảng bự cho hợp thời trang thì anh đến bên tôi nói nhỏ “anh thấy tiệm kia bán nịt còn cho thêm cái khiên, cây kiếm và đôi sandal. Em mua để đóng phim Gladiators coi được lắm”. Còn mua quần nhiều túi thì anh chêm vào: “ Được đó! Mua cái quần này thì đi chợ khỏi cần trolley”. Tức muốn chết người.

Đủ thói hư tật xấu, mất nết thiếu hạnh kiểm nhưng tôi biết rằng anh chỉ vui rôm rả với bạn bè. Có lẽ nhờ vậy mà lúc nào tôi thấy anh và các bạn vẫn luôn luôn trẻ mãi. Dù sáu hay bảy bó, không là chuyện lớn. Ngày nào anh và các bạn còn nhìn được hình tươi mát; ngày nào mắt còn rõ để phân biệt được bầu, mướp cam, bưởi thì không thể gọi là già; ngày nào còn xách đồ được cho vợ, còn hơi để làm “cố vấn thời trang” là ngày đó còn hạnh phúc. Ra đường nhìn gái còn khen là đầu óc còn sáng suốt (khi nào nhìn đàn ông thành đàn bà thì tôi mới run). Sự sống trên trái đất này sẽ không tồn tại nếu không có những người như chồng tôi và bạn bè của anh.

Dương Ngọc Ánh
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

PHIẾM - TỘI NGHIỆP CHO LOÀI CHÓ



Mỗi khi người Việt chúng ta muốn trêu chọc, bôi nhọ hoặc nguyền rủa ai thì thường lấy một vài tật xấu gia súc để ‘nói hành nói tỏi’ nhằm hạ uy tín đối phường hoặc ‘xả xú báp’ trả thù cho hả giận. Đa số trường hợp người ta xử dụng vài tỉnh từ, danh từ, và đôi khi động từ, để ghép trước hoặc sau tên các loài gia súc từ những chữ như : Ngu Như Bò, Dơ Như Heo…đến Đồ Mắc Đẻ (Gà) , Đố Nuốt Giây Thung (Gà), Đồ Vịt Đẹt, Đồ Khỉ (Khỉ không thuộc loại gia súc nhưng gần gủi với con người hơn các thú rừng khác), Đồ Dê Xồm, Đồ Heo Nọc…và nặng hơn nữa là Đồ Đỉ Ngựa, Đồ Súc Sanh, Đồ Chó Má, Đồ Chó Đẻ !. Cuối cùng người ta còn mượn các động từ để diễn tả động tác không mấy đẹp như Đi Hí (ngựa), Làm Trò Khỉ, Làm Trò Heo để ám chỉ các ông bà hay xí xọn, học đòi bắt chước hay có tính dâm ô.

Nhưng kể ra thì tội cho những con vật nầy. Giống nào cũng có một ít tật bẫm sinh như : Bò to đầu nhưng ngu hơn các loại sinh súc khác, Vịt với cái đuôi (đít vịt) di chuyển lắc lư chậm chạp, Heo luôn luôn dơ và Dê thì đã hôi lại còn ham dâm nữa…Nhưng ông Trời khi sanh ra gia súc, mục đích là phục vụ bao tử nhân loại, nên Ngài cho phép duy trì việc nòi giống một cách tự nhiên như một bổn phận của loài gia cầm. Người ta thường nuôi heo nái để sinh con vì heo đẻ không hạn chế số lượng, còn dê cái thì ngoài việc lấy sữa còn bị lóc da và xẻ thịt. Giống dê thường ham vui nên dê cái nằm ổ xoành xoạch và không hạn chế thời gian. Nói về heo, con nào ‘nọc’ tốt thì được chọn để bán giống như chúng ta thường thầy ở quê nhà Việt Nam. Hình ảnh thường bắt gặp những chú heo đi bán dâm, chúng được người dắt mối đẩy vào chuồng để làm tình thoải mái với những chị heo nái đang trong mùa rững mỡ. Hoặc tại các trại chăn nuôi, anh dê nào tốt ‘củ’ dai sức thì chủ cho làm trưởng đàn để trị gia và làm bổn phận giới mày râu. Cứ về các trại sẽ thấy, mỗi sáng các anh dê đứng ở cửa, chị nào muốn đi ra khỏi chuồng thì phải đóng mãi lộ. Nhưng số phận của các chàng heo và dê cũng khác gì nhau, anh nào hết khả năng, vừa đến một độ tuổi nào đó thì bị đưa vào nhà máy để bị xẻ thịt hoặc lột da đưa ra chợ.

Chuyện làm tình có thể gọi là ‘nghề nghiệp’ vì các chàng được mang danh heo nọc nầy phải hành nghề bán dâm tận lực để chủ thu tiền. Nhất là vào mùa động cởn, các anh phải đi khách có ngày năm bảy ‘lượt’ từ làng trên xuống làng dưới. Riêng với các anh dê trẻ, gác cửa làm phận sự là nhiệm vụ mỗi ngày, do đó loài dê đực bị mang tiếng với hai danh từ Dê Xồm hay Dê Cụ. Theo nhiều người, chữ Dê Xồm có vẽ đúng, vì chàng nào cũng có râu, sung sức và dưới bụng là ‘một bầu tâm sự’ vĩ đại rất quyến rũ đối với các chị cái. Còn chữ Dê Cụ thì oan cho mấy con dê già, vì khi lên đến hàng cụ, không còn hơi sức để làm ăn nữa thì chủ trại chẳng thương tiếc gì mà cho lột da xẻ thịt.

Loài gia súc là những động vật đáng thương, chúng sống chung đụng và phục vụ công việc hằng ngày cho con người như trâu, bò và ngựa (cày bừa và kéo xe), chó, (dẫn người mù, giữa nhà, chăn trâu, chăn cừu), mèo (bắt chuột) nhưng rồi cuối cùng cũng bị con người cho vô nồi nhằm phục vụ bao tử như các loài gia súc vô tích sự khác (Gà bươi bếp, heo chỉ biết ăn và đẻ). Như vậy, con người đem bò, gà, vịt, heo, dê ra bêu xấu nhưng cũng không có gì đáng gọi là xúc phạm trầm trọng đối với giới gia súc nầy. Vì mỗi thú không ít thì nhiều cũng mang hình ảnh và tính xấu của từng loài một. Riêng về ngựa, nhiều người không hiểu tại sao và lý do gì mà gán cho loài ngựa ba chữ quá nặng Đồ Đỉ Ngựa ! Thật ra loài ngựa, nếu đã thuần tính thì thật dễ thương, có chỗ nào xấu đâu để bị ví như các bà mất nết, lăng loàn và dâm dật ! Có phải oan cho loài ngựa không ?

Thôi đành chấp nhận thân phận gia súc với những hình ảnh người đời đã gán cho nhu heo bò gà vịt…..nhưng lại có nhiều phản đối với những câu quá nặng nề dành cho loài chó như Đồ Chó, Đồ Chó Đẻ ! Đối với chó không phải tội nghiệp mà thật oan ức và bất công cho loài động vật dễ thương nầy. Các xứ Á Châu người ta xem thường loài chó, nhưng ngược lại, chó chiếm một địa vị quan trọng trong xã hội Âu-Mỹ. Chúng được xếp sau trẻ con, đàn bà nhưng hân hạnh đứng trước cả đàn ông ! Chó ở Tây phương được các bà đầm tay bồng tay ấp, ngày ăn đồ hộp, tối ngủ chung giường với người, đau ốm có bệnh viện chăm sóc, chết được chôn trong các nghĩa trang giàu sang dành riêng cho loài đi bốn chân. Ai đánh đập đều bị phạt và nhất là thiến dái và trụng nước sôi cạo lông thì ra toà lãnh án gở lịch chứ không phải như tại Việt Nam và Tàu, chó chỉ là một món ăn khoái khẩu. Người ta xẻ thịt chó treo bán ngay tại các lề đường, trong chợ hay ngay các quán ăn tại thành phố lớn. Đó là khác biệt thân phận của loài chó cũng lối đối xử giữa người và chó giữa Đông và Tây.

Thử đặt câu hỏi tại sao người đời dùng danh từ Đồ Chó Đẻ để đích danh nói về một người nào đó ? Có lẽ quan niệm xưa của người Á Châu, cái gì xấu xa, tồi bại và khốn nạn nhất thì dành cho loài chó, nên một khi muốn mạt sát ai thì rủa chưởi hạng người nầy là do chó đẻ ra ! Đây là một quan niệm hoàn toàn sai lầm, cần phải đổi lại để ‘minh oan’ cho loài chó và nếu muốn mạt sát nhóm người đê tiện hèn hạ đúng vị trí của nó thì phải dùng một danh từ khác có lẽ thích hợp hơn.

Thật vậy, chó là một gia súc thông minh, hữu ích và nhất là trung thành. Lòng trung thành của loài cho vượt hẳn lên tất cả các loài động vật và nhất là con người. Điều nầy thật đúng, vì con người đa số gian hiểm, phản bội, lừa thầy phản bạn, ăn cháo đá bát, có mới nới cũ. Người ta thường thấy bạn bè thân thiện, vợ chồng lấy nhau đa số vì tiền vì danh vọng, nhưng một khi sa cơ thất thế thì chia tay và hãm hại nhau không thương tiếc. Trong lịch sử Việt Nam, chỉ cần một số tiền ban phát từ tay kẻ thù, chúng đã thi hành lệnh giết hại và huênh hoang vui mừng chiến thắng trên thân xác người chủ. Ngoài ra chó không cắp sách đến trường, không học đạo lý thánh hiền, không có bốn ngàn năm văn hiến nhưng chúng biết sống có tình có nghĩa, trọng lẽ phải và đối xử sòng phẳng với nhau. Nếu tức giận thì kéo nhau ra sân cắn lộn một chầu xong đâu cũng vào đó, không thù hận, không ân oán trọn đời như loài người chúng ta…Hơn nữa một khi được vào một gia đình nào, chó không bao giờ lựa chọn hay khen chê giàu sang thấp hèn mà chấp nhận hiến thân trọn đời cho chủ. Cao lương mỹ vị hằng ngày hay khoai sắn qua bữa cũng không phải là đích để trung thành hay bỏ nhà ra đi. Chưa ai thấy chó từ bỏ chủ vì chủ nghèo, làm ăn thất bại, gặp hoạn nạn hoặc tù tội đi tù như loài người chúng ta ! Như vậy phải công nhận rằng, người nào có phước lắm mới hân hạnh được làm kiếp chó đẻ !

Trong cộng đồng người ta thường gọi thành phần phản bội, lật lọng, tráo trở, đâm cha giết chú…cũng như những thành phần cò mồi hoặc những tên mang nick name đánh phá người Quốc Gia, kêu gọi hòa giải hòa hợp với cộng sản hoặc về Việt Nam bưng bô cho việt cộng là…đồ chó đẻ. Điều nầy hoàn toàn sai, cần phải xét lại vì chúng nó không xứng đáng để được làm con của loài chó. Hơn nữa, chó đâu thèm đẻ những loại người nầy mà chó thì đẻ ra chó, vì chó con vẫn còn giá trị và hữu ích cho xã hội hơn những tên mất gốc, chạy theo kẻ thù và đâm sau lưng người Việt Quốc Gia nầy !

Ngày nay, toàn thế giới đều lên án cộng sản, vì cộng sản là một tập hợp khốn nạn nhất của xã hội, là tụ điểm xấu xa, tồi tệ, bất nhân, láo khoét, bịp bợm, tham nhũng, trộm cướp… Cộng sản chính là tội phạm của thế giới cần phải tận diệt để đem lại an bình hạnh phúc thịnh vượng cho nhân loại. Như vậy nên gọi thành phần nằm vùng, hòa giải hòa hợp, bưng bô cho cộng sản cũng như những tên mang nick name đánh phá cộng đồng là Đồ Cộng Sản Đẻ. Như vậy mới thật là chính xác.

Đinh Lâm Thanh
caolynh
Posts: 317
Joined: Wed Dec 17, 2008 7:21 pm
Contact:

Post by caolynh »

Chuyện về một hầu bàn người Nhật

Tác giả: Nguyễn Quang Thiều

Một lời từ chối lịch sự, một cái cúi đầu, một bước đi lùi, một nụ cười thân ái, một gương mặt tự tin chỉ của một người hầu bàn đã một lần nữa làm nên nhân cách người Nhật.

Cả lượt đi và về Hà Nội - Boston và Boston - Hà Nội, tôi đều quá cảnh ở sân bay Narita, Tokyo chừng dăm tiếng đồng hồ. Khi mua vé, một số người khuyên đừng đi qua Nhật vì có thể bị nhiễm phóng xạ. Nhưng có lẽ vì tôi đã quá cảnh Tokyo nhiều lần rồi nên thành thói quen và cũng thấy nhớ. Và thú thực, tôi cũng muốn được quan sát nước Nhật đang sống như thế nào sau cơn " tiểu hồng thủy" mới tràn qua cho dù chỉ ở một trong không gian nhỏ là một sân bay. Báo chí đã nói về bản lĩnh và nhân cách người Nhật sau thảm họa sóng thần cũng như bản lĩnh và nhân cách người Nhật sau khi người Mỹ ném hai quả bom nguyên tử xuống đất nước này. Và cả bản lĩnh của người Nhật ngay khi dân tộc họ trở thành một trong những dân tộc giàu có nhất thế giới.

Ở nhiều nơi trong khu vực sân bay Narita, người ta có dán một tờ giấy với nội dung nước Nhật đang gặp khó khăn sau thảm họa sóng thần nên thiếu năng lượng, vì vậy quản lý sân bay xin lỗi hành khách khi hệ thống điều hòa trong khu vực sân bay không thể phục vụ hành khách như trước kia. Lúc đầu không nhìn thấy lời xin lỗi đó, tôi tỏ ra khó chịu với sự nóng bức trong sân bay sau một chuyến bay quá dài. Nhưng khi đọc được lời xin lỗi đó thì tôi lại thầm xin lỗi những người Nhật. Lúc đó, tôi thấy mình thật ích kỷ. Sống tử tế thật khó. Có lẽ chỉ khi chết rồi con người mới có thể tuyên bố rằng mình đã sống hoàn toàn tử tế.

Tôi là kẻ nghiện thuốc lá. Bởi thế, xuống đến sân bay là tôi đảo mắt kiếm tìm phòng hút thuốc. Cho đến bây giờ, chỉ ở Mỹ là tôi không tìm thấy phòng hút thuốc trong sân bay còn tất cả các sân bay tôi đã từng qua đều có phòng hút thuốc. Nhưng chưa ở đâu, phòng hút thuốc trong sân bay lại rộng, đẹp và sạch như ở sân bay Narita. Tất cả mọi thứ trong phòng hút thuốc ở Narita đều đẹp và sạch như là một phòng khánh tiết. Nhìn là biết những người quản lý sân bay đã quan tâm đến cái phòng hút thuốc như thế nào.

Nhưng xin bạn nhớ rằng họ quan tâm không phải vì họ khuyến khích người ta hút thuốc mà là lối sống văn hóa của họ. Hút thuốc có hại sức khỏe cho người hút thuốc và cũng có hại phần nào đó cho người bên cạnh. Nhưng không vì sự có hại đó mà người không hút thuốc tẩy chay người hút thuốc. Phép ứng xử với những người hút thuốc qua cách thiết kế và chăm sóc các phòng hút thuốc là một phép ứng xử văn hóa của những người quản lý sân bay Narita. Hút thuốc không có tội, nghĩa là không vi phạm luật pháp trừ khi anh hút thuốc ở nơi cấm hút. Và vì vậy, người hút thuốc phải được ứng xử một cách văn hóa và bình đẳng. Tôi nói vậy vì tôi thấy phòng hút thuốc ở nhiều sân bay trên thế giới giống như địa ngục. Một cái phòng nhỏ xíu chỉ dăm người vào hút thuốc là chật cứng. Những người hút thuốc chen nhau trong mù mịt khói thuốc trông thật thảm hại. Có lẽ những người quản lý ở các sân bay đó tìm cách đày đọa và sỉ nhục những người hút thuốc để cho họ phải bỏ thuốc chăng ?

Tôi còn nhớ mãi một trong những câu chuyện đau lòng trong các trại giam giữ những người Việt Nam vượt biên ở Hongkong những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước. Cảnh sát Hongkong cai quản những trại đó đã ra lệnh những người Việt Nam vượt biên mỗi ngày mỗi người phải bắt 50 con ruồi thì mới được phát khẩu phần ăn. Đó là một sự sỉ nhục. Đó là vô lương tâm. Tôi đã trực tiếp trò chuyện với một số người từ trại đó trở về. Họ đã khóc khi kể lại câu chuyện bắt ruồi để được ăn. Trước kia tôi không nghĩ đến việc bỏ thuốc lá. Nhưng khi nhìn những phòng hút thuốc ở sân bay Narita và cách những người lao công lau chùi phòng hút thuốc đã làm tôi nghĩ tới việc bỏ thuốc lá. Người ta chỉ có thể thức tỉnh con người bằng văn hóa chứ không bao giờ thức tỉnh con người bằng áp bức dưới bất cứ hình thức nào được.

Vì thời gian quá cảnh ở sân bay Narita quá dài nên chúng tôi tìm đến một quán ăn trong sân bay. Tôi gọi một bát mì hải sản. Theo trí nhớ của tôi thì giá một bát mì như vậy vẫn không có gì thay đổi sau cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu và đặc biệt sau thảm họa sóng thần. Lúc đó, nghĩ lại những cơn bão giá ở trong nước như trận đồ bát quái mà người tiêu dùng không thể tìm thấy đường thoát ra. Khi chúng tôi ngồi vào bàn thì một người hầu bàn bước đến cúi đầu chào chúng tôi và hỏi chúng tôi dùng gì. Rồi anh mang nước cho chúng tôi. Lúc đó, tôi vô tình chạm vào tay anh và làm đổ cốc nước. Nước làm ướt một chiếc giày của tôi. Trong khi tôi lúng túng chưa biết làm gì thì người hầu bàn đã nói lời xin lỗi và quỳ xuống lau chiếc giày của tôi bằng một chiếc khăn trắng tinh. Tôi thực sự bất ngờ và thấy xấu hổ. Tôi nghĩ đến cách ứng xử của những người Việt Nam ở những nơi công cộng. Người hầu bàn lau chiếc giày bị ướt của tôi kỹ lưỡng như đang lau một viên kim cương. Tôi cam chắc rằng nếu một người hầu bàn trong những quán ăn ở Việt Nam cúi xuống lau giày cho khách thì họ sẽ rất xấu hổ. Nhưng họ biết đâu rằng : chính tôi, người có chiếc giày được lau, mới là người thấy xấu hổ chứ không phải là người lau chiếc giày ấy cho tôi.

Khi ăn xong, tôi đã để lại một món tiền tip kha khá vì muốn bày tỏ sự biết ơn của mình với người hầu bàn đó. Nhưng người hầu bàn nói họ không nhận tiền tip. Một lần nữa, tôi thực sự ngạc nhiên. Tôi cố tìm cách đưa tiền tip cho người hầu bàn nhưng người hầu bàn vẫn nhã nhặn từ chối. Năm 1992, trong chuyến đi đầu tiên của mình đến Mỹ, tôi có đến một quán ăn người Việt ở New York. Khi ăn xong tôi đã để 10 đô la tiền tip lại. Người hầu bàn là một người Mỹ gốc Việt đã tỏ ra vô cùng bực bội với tôi vì tôi đã không để 12 đô la mà chỉ để 10 đô la. Sau này tôi mới biết họ tính phần trăm tiền tip theo tổng giá của bữa ăn. Tôi thực sự không biết điều đó. Sao người hầu bàn kia không giải thích cho tôi? Và sao người hầu bàn kia không có thể nói: "Quý ông còn thiếu 2 đô la tiền tip theo quy định, nhưng nếu quý ông không có 2 đô la thì cũng không sao. Mong quý ông trở lại nhà hàng chúng tôi để chúng tôi được phục vụ quý ông". Nếu nói như vậy, người hầu bàn và nhà hàng của anh ta sẽ không bao giờ mất 2 đô la (vì đương nhiên tôi sẽ trả thêm) mà còn được một cái gì đó giá trị gấp ngàn lần giá trị của 2 đô la kia. Và chắc chắn những lần tới New York sau đó tôi sẽ tìm đến nhà hàng đó. Bởi có gì hạnh phúc hơn khi được trở lại một nơi chốn đã từng gieo vào lòng mình sự xúc động và kính trọng. Nhưng bây giờ, trong các nhà hàng ở Mỹ, người ta tính tiền tip vào luôn hóa đơn thanh toán. Nghe rất khoa học và sòng phẳng nhưng vẫn không ổn ở một khía cạnh nào đó.

Sau khi từ chối tiền tip, người hầu bàn hỏi chúng tôi có cần gì nữa mà anh ta có thể phục vụ chúng tôi. Chúng tôi cảm ơn anh. Anh cúi đầu chào chúng tôi và bước lùi một bước mời chúng tôi đi. Một lời từ chối lịch sự, một cái cúi đầu, một bước đi lùi, một nụ cười thân ái, một gương mặt tự tin chỉ của một người hầu bàn đã một lần nữa làm nên nhân cách người Nhật. Họ đã từ một đất nước nghèo nàn và tan hoang vì chiến tranh trở thành một đất nước văn minh, văn hóa và giàu có. Họ không bán hàng giả, hàng độc hại, họ không dùng tiền hay vũ khí đe dọa người khác. Sự nhẫn nại trong hành động lau chiếc giày cho khách và sự chối từ tiền tip của người hầu bàn Nhật và sự nhẫn nại của người bán trứng Trung Quốc và cách ăn mì tôm của cậu sinh viên Trung Quốc hoàn toàn khác nhau.

Sự nhẫn nại của người Nhật là sự rèn luyện nhân cách, là ứng xử văn hóa, là sự tôn trọng con người và ý chí vươn lên. Sự nhẫn nại đó không chứa đựng những tham vọng ngông cuồng và những mưu mô. Cũng như người Nhật đã dạy cho con em của họ về những khó khăn mà dân tộc Nhật phải đương đầu, dạy cho mỗi người Nhật hãy bằng hành động trung thực của mình làm cho văn hóa Nhật, nhân cách Nhật cũng như giá trị những sản phẩm made in Japan lan tỏa vào lòng con người trên toàn thế giới chứ không phải là những cuộc "xâm lăng" đầy mưu tính đôi khi phi nhân và ác độc.
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Lòng tự trọng và cái phong bì

Nguyễn Thị Từ Huy

Bài này tôi viết đã lâu, theo đề nghị của một tờ báo, nhưng rồi không được sử dụng. Trong bài tôi có đưa ra một giả định mang tính giả tưởng về sự an nguy của quốc gia. Không ngờ, thật đau buồn, giờ đây điều đó hình như không còn là giả tưởng nữa, mối đe dọa đang trở thành hiện thực. Tôi đã từng rất bi quan khi viết trong một bài thơ: «Những tiếng nói gieo nơi nơi để gặt sự im lặng đóng băng trên thân xác vô hình của nó». Giá như những tiếng nói được lắng nghe, được phân tích, được sử dụng để trở thành hữu ích, thì có lẽ đã tránh được nhiều thảm họa.

Dù những tiếng nói chỉ gặt được sự im lặng đóng băng thì cũng cần phải tiếp tục nói. Vì con người xác lập nên phẩm chất người của mình cùng với khả năng sử dụng ngôn ngữ, khả năng tư duy, khả năng nói và viết.

Nguyễn Thị Từ Huy

Lòng tự trọng là gì ? Nói một cách đơn giản, nó được hiểu như là sự tôn kính đối với tâm hồn mình. Lòng tự trọng có được nhờ ý thức về phẩm giá của bản thân, ý thức về sự trung thực, sự thanh khiết, ý thức về những phẩm chất căn bản, những phẩm chất làm nên bản thể trong tầng sâu nhất của nó. Lòng tự trọng xác lập trên sự trùng hợp giữa lời nói và hành động. Lòng tự trọng thúc đẩy các hành động cho phép thể hiện các giá trị riêng của mình, cho phép thể hiện niềm tin của bản thân. Đồng thời lòng tự trọng được xây dựng trên sức mạnh chứ không phải trên sự yếu đuối.

Như vậy, lòng tự trọng thuộc về cái mà ta gọi là tâm hồn. Tâm hồn có thức ăn riêng của nó. Và đương nhiên thức ăn đó không có gì chung với cái phong bì. Một khi tâm hồn cũng được nuôi bằng phong bì, thử hỏi cái gì chờ đợi nó, nếu không phải là cái chết của chính nó?

Từ «phong bì» hiện nay đã trở nên phổ biến đến mức không cần phải giải thích thì tất cả mọi người cũng đều hiểu đấy là loại phong bì nào. Đương nhiên đấy không phải là phong bì đựng thư. Nội dung chứa đựng trong cái phong bì ấy là thứ cho phép nó có thể mua được cái mà người đưa phong bì muốn. Nếu cần thiết phải có một sự phân biệt, thì có thể để sang một bên thứ phong bì dùng để chi trả công lao động. Hiện nay trong thời đại phát triển của công nghệ ngân hàng, nên chăng tất cả mọi khoản thù lao cho lao động được trả thẳng vào tài khoản cá nhân, để tránh sự nhập nhằng do cái hình thức phong bì gây nên. Tuy nhiên, trong thực tế, tất cả đều biết là không hề có sự nhập nhằng nào cả, tất cả đều biết rõ cái nghĩa thông dụng hiện nay của từ «phong bì».

Nếu cơ thể vật lý của con người được nuôi bằng thuốc trừ sâu, thuốc tăng trọng (dù gián tiếp qua thịt động vật hay rau quả), thuốc bảo quản… thì cái gì sẽ chờ đợi nó? Chúng ta vẫn mong có những thống kê của ngành y tế để biết được hiện nay tỉ lệ những người mắc bệnh ung thư và chết vì bệnh ung thư hàng năm là bao nhiêu. Cũng chờ đợi những phân tích chính xác và hữu ích về các nguyên nhân gây bệnh ung thư. Chúng ta chờ đợi những kiểm định khắt khe về những thực phẩm có khả năng gây bệnh, những gì có thể giúp người dân chúng ta phòng ngừa bệnh tật một cách hiệu quả, chứ không phải để nó xảy ra rồi chống đỡ nó một cách tuyệt vọng. Mong muốn đó hoàn toàn chính đáng, nhưng một người dân bình thường không biết tìm đâu những số liệu đó, không biết làm cách nào để có thể tin chắc rằng mình đã lựa chọn cho bữa ăn hàng ngày của mình những thực phẩm an toàn. Và rốt cuộc, bệnh ung thư ngày càng phát triển.

Nhưng điều mà ta không ngờ nhất, điều khó tin nhất, đó là: bệnh ung thư của cơ thể vật lý hiện nay đang trở nên trầm trọng trên diện rộng chính là hậu quả của căn bệnh ung thư tâm hồn. Hãy thử giải thích mối liên quan này để thấy rằng nếu trong mỗi con người, cơ thể và tâm hồn không thể tách rời, thì trong một xã hội sự phát triển và an sinh xã hội không thể tách rời khỏi nền tảng đạo đức của nó.

Nguyên do của bệnh ung thư về tâm hồn có nhiều, nhưng bài viết ngắn này chỉ tập trung vào một nguyên nhân mà thôi: cái phong bì.

Cái phong bì có thể biến những thực phẩm độc hại thành ra thực phẩm an toàn. Tại sao chứng chỉ về vệ sinh an toàn thực phẩm lại có thể được cấp cho các doanh nghiệp sản xuất không tuân thủ các yêu cầu nghiêm ngặt về kỹ thuật chế biến ? Đương nhiên đó là nhờ cái phong bì. Một cái phong bì bỏ ra để mua chứng chỉ ấy dù nặng thì vẫn còn đỡ phức tạp và đỡ tốn kém hơn là phải cố gắng để thực hiện những quy trình phức tạp của công nghệ thực phẩm. Khi quá trình chuyển giao chứng chỉ được thực hiện trên dây chuyền phong bì như thế này, lòng tự trọng của người đưa phong bì và của người nhận phong bì đương nhiên đều đã bị biến dạng thành một thứ tế bào độc hại. Thứ tế bào độc hại này nhanh chóng phát triển thành bệnh ung thư tâm hồn và thức ăn duy nhất của nó là tiền. Người đưa phong bì vì muốn có nhiều tiền hơn mà không phải vất vả. Người nhận phong bì vì muốn có tiền mà không phải làm gì cả. Đối với cả hai bên, sự trung thực, sự tôn trọng đối với tâm hồn của chính họ, niềm tin vào hành động của họ, giá trị sống của họ, phẩm chất của họ… tất cả đều bị gói vào trong chiếc phong bì. Nói cách khác, tất cả những thứ đó đều bị chết dưới áp lực của phong bì, của cái thứ được đựng trong phong bì.



Điều nguy hiểm là căn bệnh ung thư tâm hồn không chỉ gây tác hại đối với hai đối tượng cụ thể cho và nhận phong bì trong trường hợp này, mà nó còn khiến cho hàng bao nhiêu triệu người tiêu dùng có nguy cơ mắc bệnh ung thư thực thể. Bởi vì một cái chứng chỉ dởm sẽ cho phép các chất độc hại trong thực phẩm đi vào cơ thể của hàng triệu người tiêu dùng tin tưởng vào nó.

Một khi ta để cho mầm bệnh ung thư phát triển trong chính tâm hồn mình, trong chính con người mình thì việc người khác bị bệnh ung thư hay không, không còn là vấn đề nữa. Nghịch lí này có thể đã trở thành chuyện thường ngày ở huyện : trong số các bác sĩ chữa bệnh ung thư cho bệnh nhân, có những bác sĩ bị bệnh ung thư tâm hồn trầm trọng, vì họ thẳng tay nhận phong bì của bệnh nhân mà đôi khi trong thực tế họ không giúp gì được cho bệnh nhân cả, vì có những trường hợp bệnh đã ở giai đoạn cuối, và cứu chữa chỉ là đưa lại một ảo tưởng cho bệnh nhân để giúp họ vững vàng hơn về mặt tinh thần mà thôi, vậy mà có những bác sĩ đã thu phong bì cả trên những ảo tưởng này.

Cái phong bì có thể còn nguy hiểm hơn chúng ta có thể hình dung. Nó giống như một thứ virus có khả năng lây lan theo tốc độ internet, và đến khi mà mọi thứ đều giải quyết bằng phong bì thì lòng tự trọng sẽ chỉ còn là một hoài niệm của quá khứ. Một sinh viên năm thứ ba ở khoa Văn của một trường đại học đã viết trong một bài kiểm tra giữa kỳ như thế này: «Khi mà tất cả học sinh trong một lớp học đi phong bì cô giáo, còn một học sinh không đi, thì cái gì là phi lí và cái gì là có lí ở đây?». Quan hệ thầy trò ở đây thành ra là một quan hệ mua bán. Trong mối quan hệ mua bán này, lòng tự trọng của cả thầy lẫn trò đều bị triệt tiêu. Lòng tự trọng như vậy đã chết ngay từ thưở thiếu thời, phần đời còn lại cả thế hệ học sinh ấy sẽ sống trong căn bệnh ung thư về tâm hồn.

Cái phong bì liệu có tiếp tục phát huy tác dụng đến mức người ta có thể mua bán được tất cả mọi thứ? Điểm giới hạn sẽ là ở đâu?

Để trả lời câu hỏi này, tôi đưa ra một hình dung mang tính giả tưởng, hy vọng chỉ là giả tưởng mà thôi:

Mỗi một cá nhân là một thành tố cấu thành nên cộng đồng, cấu thành nên dân tộc, quốc gia. Khi mỗi một cá nhân đánh mất các nền tảng riêng của mình, đánh mất sự tôn trọng đối với bản thân mình, đánh mất sức mạnh giúp họ tự xác lập như một bản thể cá biệt với các giá trị mà họ có thể hãnh diện tự hào, thì cái dân tộc mà họ tạo nên cũng sẽ đánh mất tất cả những thứ đó. Một khi các giá trị của bản thân bị quy thành tiền, thì các giá trị của quốc gia rất có thể cũng bị quy thành tiền. Trong trường hợp này, có thể giả định (hãy nhớ rằng đây chỉ là giả định) một tương lai không mấy vui vẻ: nếu ta có thể để mất mọi thứ thuộc về tâm hồn mà không cần phải băn khoăn, miễn là có tiền, thì ta cũng có thể để mất những thứ khác, kể cả cái gọi là đất nước. Vì đất nước là một giá trị chỉ khi nó được cảm nhận và đánh giá bằng tâm hồn ; còn khi nó nằm trong hệ quy chiếu của phong bì, khi giá trị của đất nước được đồng nhất với túi tiền cá nhân, khi không còn tâm hồn để cảm nhận về đất nước nữa, thì có nó hay mất nó, có thể cũng không quan trọng nữa.

Khi nào ta có thể tự cho phép mình làm những chuyện đồi bại, bất chấp dư luận, bất chấp đạo lý, bất chấp truyền thống, bất chấp luật pháp? Khi nào thì những quyết định có ảnh hưởng trầm trọng đến tương lai của dân tộc được đưa ra một cách dễ dàng và được chấp nhận một cách dễ dàng? Khi nào ta có thể nhìn từng mảnh của giang sơn bị lấy đi mà không tiến hành các giải pháp hữu hiệu để bảo vệ? Tất cả những điều đó có thể xảy ra khi cảm giác xấu hổ, cảm giác nhục nhã không còn nữa; khi những cái phong bì làm tê liệt các dây thần kinh xấu hổ, giết chết ý thức về sự nhục nhã, tức là tiêu diệt lòng tự trọng.

Marquez, trong cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của mình, đã cho ta thấy sự cô đơn và loạn luân có khả năng xoá bỏ cả một cộng đồng như thế nào. Cái phong bì còn vận hành với sức mạnh hiện tại liệu nó có thể đi tới chỗ xoá bỏ cả một đất nước không ? Chưa biết trong bao nhiêu năm, nhưng cũng có thể lắm chứ, nếu như không còn lòng tự trọng cá nhân và không còn lòng tự trọng quốc gia.

Cái phong bì thực chất là vấn đề miếng ăn. Chẳng lẽ lại để cho quốc gia tiêu vong chỉ vì miếng ăn? Xin hiểu cho, đây là câu hỏi được cất lên từ lòng tự trọng.

Liệu những chiếc phong bì có thể hủy hoại cả một quốc gia?

Hà Nội, 18/11/2009
N.T.T.H.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Từ thiện - thật và ảo

(Nguồn: hieuminh.org)

Dân ta có câu “Lá lành đùm lá rách” để nói lên truyền thống có từ lâu đời muốn chia sẻ với đồng bào bị hoạn nạn có từ bao đời nay.
Image
Một cảnh lũ lụt tại miền Trung Việt Nam hồi năm 2010. (Hình: old.thuvienhoasen.org)


Nhưng thời nay đôi lúc đã bị biến tướng và trở nên méo mó, thể hiện đạo đức xã hội xuống cấp tới mức báo động.

Có lần ở Hà Nội, tôi chứng kiến một thanh niên đi xe máy ngã vật xuống đường, máu me đầm đìa và bất tỉnh. Rất nhiều người xúm lại giúp đỡ. Nhưng có mụ ra lần túi, móc ví của nạn nhân một cách thản nhiên. Trục lợi trên nỗi đau của người khác đáng sợ làm sao.


Từ thiện thật cũng không dễ

Mấy hôm trước gặp một bác người Việt làm cho tổ chức quốc tế lớn với hàng chục ngàn nhân viên. Vừa nhìn thấy tôi, bác giữ lại để hỏi, tại sao các nước như Philippines, Thái Lan, Trung Quốc, kể cả nhiều nước nghèo bên Châu Phi, mỗi lần quốc gia của họ bị thảm họa thì nhân viên trong sở đều tổ chức quyên góp.

Họ để một cái bàn trước cửa ra vào, vài hình ảnh lụt lội, động đất, nhà đổ, trẻ con bà già khóc lóc, trông thương tâm, người qua lại dễ động lòng trắc ẩn. Ðôi khi họ quyên góp hàng chục ngàn đô la gửi về cho đồng bào bị thiên tai.

Trong khi đó, dân VN làm tại đây có vài trăm người, bác chưa bao giờ nhìn thấy “người của ta” tổ chức thế bao giờ. Rồi bác ngậm ngùi tự giải thích, dân mình vẫn còn hai miền, còn cờ đỏ, cờ vàng, mới ra nông nỗi này.

Một cháu gốc Việt, sinh ra ở Pháp, sang Mỹ làm việc. Bố mẹ dù xa tổ quốc mấy chục năm nhưng vẫn dạy con gái rằng, gốc gác của cháu là VN, và cần yêu thương người nghèo như cha mẹ của cháu.

Vài mùa Hè trước, cháu và vài bạn về thăm đồng bào miền núi ở Tây Nguyên. Thấy học sinh nhỏ nơi đây nghèo quá nên cháu rủ các bạn lần sau mang ít quần áo, thuốc men về tặng.

Khi tặng xong thì địa phương quyết định thu hồi toàn bộ áo phông vì “áo tẩm thuốc độc,” rồi “thuốc đó là thuốc lú,” mẹo “diễn biến hòa bình” hay cả trăm lý do khác.

Cháu kể với tôi giọng vô cùng oan ức, như muốn khóc. Lý do đơn giản, các cháu không đi qua đường chính thống là liên lạc với UB xã trước khi làm việc thiện.

Các cháu muốn đóng góp nhưng lại sợ tiền viện trợ không đến tay người cần vì chuyện xà xẻo của người nghèo đã từng xảy ra. Trong vài trường hợp, muốn làm người tốt cũng khó và muốn giúp người nghèo cũng không dễ.

Những việc từ thiện “ảo”

Vài tuần trước đay có tin nhiều túi quà gửi cho miền Trung bị lụt lội có chứa cả đồ phế thải. Rồi có kẻ lấy quần áo gửi tặng đồng bào đang thiếu thốn để làm giẻ lau xe hay cứu trợ bằng hàng hết hạn. Người ta thản nhiên kiếm lời trên nỗi đau của người khác.

Gần đây trong đêm hội Hoa Hậu Trái Ðất và doanh nhân hướng về miền Trung với sự tham gia của 90 hoa hậu từ khắp thế giới và hàng trăm doanh nhân giầu có. Vật đấu giá có những đồ quí như hòn rubi 10kg, trống đồng, rồi bộ tứ linh “Long Lân Qui Phụng” bằng gỗ lũa hóa thạch. Tổng số tiền đấu giá tới 74 tỉ.

Vài người nỡ biến cuộc đấu giá lấy tiền giúp người nghèo thành một nơi quảng cáo cho công ty, trả giá rất cao rồi xù hay nuốt lời hứa. Có kẻ gọi điện đến mua rồi bặt vô âm tín, từ thiện “ảo” để đùa cợt số phận của những người đang sống trong khốn cùng thật.

Viết lại câu chuyện này tôi chợt nhớ ra kẻ ngang nhiên móc túi người bị tai nạn xe máy trên đường phố. Và nhớ ra cô cháu đồng nghiệp muốn giúp học sinh nghèo mà không thể. Thói thờ ơ hay trục lợi trên nỗi đau của đồng loại thể hiện sự xuống cấp về đạo đức tới mức báo động.

Thiên tai gây ra cho con người đã khủng khiếp, nhân tai cũng tàn phá không kém. Thảm họa xảy ra và nếu mục đích làm từ thiện không xuất phát từ trái tim mà dùng nỗi thống khổ của đồng loại cho việc đánh bóng tên tuổi hay trục lợi, thì sự tàn phá man rợ hơn cả thiên tai và nhân tai cộng lại.
tramthaiha
Posts: 453
Joined: Tue Sep 08, 2009 7:54 pm
Contact:

Post by tramthaiha »

TO, NHỎ......NHỎ, TO

VIỆT NAM là một nước hơi nhỏ .
Trong cái nước hơi nhỏ , có một thủ đô thật to .
Trong thủ đô thật to , có những con đường rất nhỏ .
Trong những con đường rất nhỏ , lại có những căn nhà thật to .
Trong những căn nhà thật to , lại có những cô vợ bé rất nhỏ .
Những cô vợ bé rất nhỏ , lại dành cho những ông quan thật to .
Những ông quan thật to , lại đeo một cái cặp hơi nhỏ .
Những cái cặp hơi nhỏ , thường có những dự án rất to .
Những dự án tuy rất to , nhưng hiệu qủa lại qúa nhỏ
Hiệu qủa qúa nhỏ , nhưng thất thoát lại thật to .
Tuy thất thoát thật to , lại được coi là cái lỗi rất nhỏ .
Vì thế VIỆT NAM ta , từ từ biến thành một đất nước nho nhỏ .
Trong cái đất nước nho nhỏ , lại có những ông lảnh đạo thật to .
Trong những ông lảnh đạo thật to , lại có những cái đầu qúa nhỏ .
Những cái đầu qúa nhỏ , lại có những túi tham thật to .
Những túi tham thật to , lại có những hiểu biết rất nhỏ .
VÀ NHỮNG HIỂU BIẾT RẤT NHỎ ...LẠI ..GÂY HẠI CHO ĐẤT NƯỚC ...THẬT TO
caubennoc
Posts: 553
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:43 pm
Contact:

Post by caubennoc »

Con gấu và cái chuồng

“Hồi đó, trên dẫy núi mênh mông có một con gấu đen to lớn, khỏe và đẹp, ngênh ngang tung hoành. Nó sống cuộc đời đầy tự do và hạnh phúc. Ngoài những lúc lăn ra ngủ, nó dùng hầu hết thời giờ để đi kiếm thức ăn. Cũng có khi nó kiếm được ê hề, nhưng cũng có khi nó đi không rồi lại về không. Cuộc đời nó cứ thế mà trôi, tự do tự tại.

Thế rồi một ngày kia, có một đám người tới bắt nó đem về nhốt vào chiếc chuồng nhỏ của một gánh xiếc lớn. Chẳng mấy chốc nó đã được một nhà luyện thú dậy cho biết cách đóng trò trong gánh xiếc này. Mỗi lần con gấu biểu diễn đúng theo lời dậy thì nó được cho ăn no nê.

Ngoài giờ đóng trò, nó chỉ đi tới đi lui trong chuồng. Cái chuồng thì nhỏ, nên nó biết rõ đến nỗi thuộc làu từng chi tiết. Đồ ăn thì luôn luôn ê hề cho nên chẳng bao lâu nó đã quên biến mất quãng đời liệt oanh, khi mà nó một mình một giang sơn nơi rừng sâu núi thẳm.

Nhiều năm trôi qua, một đêm kia có mấy kẻ phá hoại lẻn vào gánh xiếc phá bung tất cả các chuồng để thả thú ra. Con gấu bỗng nhiên được tháo cũi xổ lồng, vội vã bỏ gánh xiếc chạy thục mạng một mạch về vùng núi xưa, nơi đã một thời là giang sơn của nó.

Nhưng dẫy núi xưa đó sao nay có vẻ xa lạ quá khiến cho nó không còn dễ dàng kiếm được đồ ăn như trước nữa. Thế là nó bèn quay ra biểu diễn vài màn nhào tới lộn lui, rồi lại nhào lui lộn tới.

Có mấy con gấu đi ngang qua dừng lại coi, rồi hỏi rằng nó đang làm gì, thì nó trả lời:

- Ồ, tao đang làm trò xiếc để sẽ được cho ăn đấy mà.

Cả đám gấu khán giả lăn ra cười:

- Rõ thật là cái thằng ngốc! Mày đang ở trên núi. Ai sẽ đem thức ăn đến để thưởng công biểu diễn xiếc cho mày. Hãy tự đi mà kiếm ăn, thằng ngu kia!

Nhưng bây giờ thì con gấu đã trở nên quá gắn bó với cái chuồng của nó, khiến cho nó quên tuốt luốt tất cả mọi sinh hoạt của đời sống tự do tự tại.

Loài người thì cũng thế. Mỗi người đều có một cái lồng mà họ bị dính mắc vào -- cái lồng của bác sĩ, cái lồng của luật sư, cái lồng của giáo sư, cái lồng của công việc, cái lồng của tình bằng hữu, cái lồng của tình gia đình.

Vì con người sống trong những cái lồng này cho nên họ không còn thật sự thấu hiểu thế nào là tự do nữa. Điều đó có nghĩa là họ không hiểu biết phần còn lại của vũ trụ. Họ chỉ thấu suốt được cái đời sống loanh quanh hẹp hòi, đóng khung trong cái lồng của họ.”


Trích ''Only Don't Know, The Teaching Letters of Zen Master Seung Sahn''
Người dịch Vy Khanh
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

Xin một chút bận rộn cho đời

Tạp ghi Huy Phương

Trong cuộc đời khổ đau nhiều hơn hạnh phúc này, nói đến chữ nhàn hạ hay nhàn rỗi, gần như một sự mỉa mai cay đắng và đầy vẻ bất công. Ông Nguyễn Công Trứ theo cung cách Nho giáo muốn hưởng nhàn thơ túi rượu bầu, “Gót tiên đeo đủng đỉnh một đôi dì - Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng,” hưởng thú “trăng hoa tuyết nguyệt”. Ông Nguyễn Bỉnh Khiêm thì “Thanh thản ngắm hoa, nghe chim hót- Uống rượu ngâm thơ, hưởng thú đời.” Loài người khốn khổ không mấy ai được nhàn hạ, thong dong như quý cụ, muốn “sỏi đá cũng thành cơm”, con người phải “trầy vi, tróc vy” , làm mửa mật ra mới có miếng ăn.


Ở Huế, cụ Ðặng Huyền 98 tuổi còn phải đạp xích lô kiếm sống. (Hình: VNExpress.net)

Trong khi nhiều vị rủng rỉnh đồng đô la, bỏ ra nửa tháng, hai mươi ngày để đi du lịch về Việt Nam, tắm nắng Vũng Tàu, Nha Trang, đi chơi trên vịnh Hạ Long, hay nằm dài thoải mái trong tiệm tắm hơi hay massage, thì có những người như bà cụ Phạm Ðoàn, 76 tuổi ở Nha Trang, một giờ khuya đã dầm mình xuống biển mò cua bắt ốc, cụ Ðặng Huyền, 98 tuổi ở Huế còn đạp xích lô hay nhiều ông bà già tuổi đã ngoài 70, còn phải lê lết ngửa tay đi ăn xin để cuối ngày có cái gì mà bỏ vào miệng.

Chúng ta cũng biết rằng theo cách chiết tự trong chữ nho thì “Thị tại môn tiền náo- Nguyệt lai môn hạ nhàn” (chữ thị nằm giữa chữ môn là chữ náo, chữ nguyệt ở giữa chữ môn là chữ nhàn). Người sống ở nơi chợ búa lúc nào cũng bận rộn toan tính lỗ lời, có khi tất bật vì miếng cơm manh áo, có đâu ung dung như kẻ phú quý thanh nhàn, biết đến thú vui nhìn cảnh trăng lên, hoa nở. Cũng trăng, cũng trời, cũng mây ấy, mà người nông dân vất vả, trời chưa sáng đã ra đồng, tối mịt mới dắt trâu về nhà, than thở một đời: “Một ngày hai buổi cơm đèn, lấy gì má phấn răng đen hở chàng!” Ðó là nói chuyện quê hương, còn nỗi khổ đau của loài người thì vô tận, con người sống suốt đời chỉ biết gục mặt xuống đất với miếng ăn, có giây phút nào cho trăng hoa, mây gió, “khi chén rượu, khi cuộc cờ, khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên”. Sao thế giới này bất công đến thế!

Nhiều ý tưởng lại không thích sự nhàn nhã, cho nhàn là cha đẻ của tội lỗi: “Nhàn cư vi bất thiện”. Trong nhiều xứ sở, những kẻ ăn không ngồi rồi đi phá làng phá xóm, phụ nữ nhàn hạ sinh ra ngồi lê đôi mách, và phải chăng cờ bạc cũng phát sinh từ chuyện quá ư rảnh rỗi. Những ông bà nội ngoại dành nhiều thời gian chăm sóc con cháu đâu còn có thời gian ngồi xe bus đi casino. Nhiều người cho rằng chính thời gian về hưu hay đến tuổi già là lúc bận rộn nhất của đời người.

Ở nước Mỹ này chúng ta thấy nhiều ông cụ già bước đi không vững, giờ tan học còn ra đứng đường làm “crossing guard” hay những bà cụ móm mém còn đứng bán hàng trong “thrift store”, tôi chắc chắn họ đi làm không phải vì tiền. Cũng rất nhiều vị cao niên Mỹ đi làm “thiện nguyện” trong các cơ quan cảnh sát, trường học, bệnh viện, người già Việt Nam thì đến chùa, nhà thờ để cho đời sống của mình không quá tẻ nhạt vì nhàn rỗi. Một ông cụ được đưa vào bệnh viện ba hôm, bà cụ nuôi bệnh, đi theo năn nỉ: “Ông làm ơn ráng ăn uống, thuốc men, mau bình phục mà về nhà!” Ông cụ chán nản, rên rỉ: “Ở đâu cũng vậy, về nhà thì tôi cũng nằm lên nằm xuống, ăn ngủ có gì khác ở đây đâu, mà đòi tôi về!” Ðó chính là cuộc sống nhàn hạ, nhàm chán, một thứ “địa ngục dịu dàng”.

Nhưng cũng chính vì tham tiền hay tham làm việc người suốt đời tất bật, không ngơi nghỉ, có khi quên cả ăn uống và không có cả thời gian để ngủ. Chúng ta thử tưởng tượng đến hoạt động của một tiệm ăn khi bà chủ ham công tiếc việc, không biết phân công, không hề tin cậy ai, dù là con cháu trong nhà, sợ mất túi tiền, một mình ôm hết công việc từ sáng đến tối. Nghỉ một ngày là mất một số lợi tức, cứ như thế năm này qua tháng nọ, cho đến lúc vào thẳng bệnh viện, vô nursing home hay ra thẳng nghĩa địa, rồi thì số tiền tom góp, dành dụm ấy để cho ai. Trên thế giới, Âu cũng như Á bệnh “điên vì mê làm việc”, một thứ bệnh dịch do làm việc quá nhiều, quá sức đến nỗi gây ra tình trạng tâm thần, căng thẳng đưa đến việc tự tử.

Nhiều người biết bớt công việc, mỗi năm sắp đặt cho mình những cuộc du lịch xa cũng không phải là người biết hưởng nhàn. Cứ nghĩ chương trình dày đặc của những chuyến đi cũng đủ kinh hoàng. Sáng tinh mơ đã thức giấc, chuẩn bị xuống phòng khách sạn ăn sáng, lật đật ra điểm hẹn, tham quan thì vừa đi vừa chạy cho đúng giờ hẹn lên xe. Lỡ đi trễ thì bao nhiêu con mắt đổ dồn vào mình như nhìn con quái vật. Ði du lịch là phải chấp nhận ăn uống những món nơi địa phương mình đến và vì khác biệt văn hóa, ăn uống thường là một niềm vui đã trở thành một nghĩa vụ. Sau một chuyến du lịch về, không lên cân, yêu đời mà có khi sút cân, mệt mỏi.

Nhưng nhàn cũng không có nghĩa là không làm gì, nằm lên nằm xuống, đi ra đi vào, vật vờ như ngọn cỏ để cho gió đùa. Tôi thích những người biết xếp đặt cho mình một ngày làm việc, giao tiếp nghỉ ngơi hợp lý. Nếu bạn muốn nhờ ai một công việc gì xin hỏi đến người bận rộn, đừng bao giờ nhờ đến người nhàn rỗi. Họ thật bận rộn đấy, có bao nhiêu việc phải làm, vẫn chu toàn, xếp đặt được thời gian, nhưng phong thái vẫn ung dung. Buổi sáng vẫn có ly cà phê pha xong, thưởng thức chậm rãi, không phải cái ông sáng dậy vừa đánh răng, vừa chải tóc, khi ra xe thì vừa đi vừa cài nút áo, tay cầm tờ báo, tay xách cái lunch-box. Buổi tối về, còn chút thời giờ chơi với con, đùa với con chó nhỏ hay dành chút riêng tư cho bạn đời.

Ðối với các cụ cao niên ở hải ngoại, ngày nay các cụ không còn phải lo cái ăn cái mặc vất vả, nhưng nếu các cụ không tạo cho mình một sự bận rộn nào ngoài chiếc giường và cái TV, không phải là bác sĩ, tôi cũng “chẩn đoán” cho các cụ là tuổi thọ chẳng còn bao lâu. Nhiều điều không được xem là công việc vẫn là chút bận rộn cho đời đỡ nhàm chán, một buổi hẹn hò với bạn cũ ở quán cà phê, thăm bạn nằm trong bệnh viện hay ở nhà quàn, một ngày cuối tuần vui chơi họp mặt. Nhiều người buổi sáng thức giấc không muốn ra khỏi giường vì nghĩ hôm nay không có việc gì phải làm, không đi đâu, không có hẹn hò với ai, không có dự định gì. Nói cho rõ ra, nếu hôm nay con người đó chẳng may qua đời, hay ngừng thở thì cũng chẳng có ai quan tâm, vì đời sống ấy chẳng liên hệ, thiệt thòi gì đến ai, với cả ngay đứa cháu ở ngay trong nhà.

Xin một chút bận rộn cho đời khỏi nhàm chán và lúc thong dong không quên người tất bật.
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »


Image

Tuổi già

Trần Mộng Tú

Bạn có bao giờ ngắm kỹ một con hạc trắng chưa? Nó trông thật mảnh mai; chân dài, người mỏng, trong một bộ lông trắng muốt. Trông nó thanh cao như một người luống tuổi mà vẫn giữ được phong cách ung dung.. Con hạc được coi là một con vật sống lâu cho nên người ta gọi tuổi của các cụ là tuổi hạc.

Ðầu tháng năm vừa qua, tôi sang chơi với vợ chồng người anh ở bên Vienna, D.C.
Ðằng sau nhà anh tôi có một con đường mòn dẫn tới một công viên. Con đường mòn vào cuối Xuân chớm Hạ thật là đẹp. suối róc rách chẩy, cây cỏ xanh mướt, những bông hoa núi nở trắng xóa. Chúng tôi mỗi buổi sáng dắt theo con chó đi bộ, vừa đi vừa trò chuyện.

Tôi bất giác hỏi:
- Sao con người không giống cây cỏ, vào mùa đông héo, úa, rụng, đến xuân,hạ lại hồi sinh nhỉ?
Anh tôi cười, nói:
- Cứ giữ mãi được Xuân, Hạ trong lòng mình là tốt rồi.

Chúng ta những người ở lứa tuổi đang bước vào tuổi già hay đã già. Tinh thần và thể xác không còn như hai mươi năm, mười năm về trước hay thậm chí như mới năm ngoái nữa.

Thông thường bất cứ người mang quốc tịch nào, sinh sống ở phần đất hay hoàn cảnh nào thì khi về già hay ngồi gặm nhấm lại quá khứ. Chúng ta là những người từ một quê hương mất mát đến ở trọ một quốc gia khác, chúng ta còn nhiều điều gặm nhấm hơn nữa.

Ở tuổi già, không có phương tiện di chuyển, bị trở ngại ngôn ngữ đã làm một số người sống một cuộc sống tẻ nhạt, từ tẻ nhạt đưa tới trầm cảm, khép kín. `
Từ đó sinh ra bao nhiêu bệnh và khi có bệnh, sự chạy chữa xem chừng không có hiệu quả lắm cho những người này.

Bác Sĩ Ornish, tác giả cuốn sách Love &Survival, nói rõ: Tách lìa tình thân gia đình và bạn bè là đầu mối cho mọi thứ bệnh từ ung thư, bệnh tim đến ung nhọt và nhiễm độc.

Tình thương và tinh thần là gốc rễ làm cho chúng ta bệnh hay khỏe.

Ba mươi năm trước mà nghe ai nói cô đơn sinh ra các chứng bệnh thì người ta sẽ chỉ cười nhẹ.. Nhưng bây giờ điều này đã được nhiều bác sĩ công nhận là đúng.
Những buổi tĩnh tâm chung, có cầu nguyện, có tịnh niệm (tùy theo tôn giáo của mỗi người) chia sẻ những buồn vui, lo lắng của mình cùng người khác cũng giúp khai thông được những tắc nghẽn của tim mạch như là ăn những thức ăn rau, đậu lành mạnh vậy.

Nếu không nói ra được những gì dồn nén bên trong thì chính là tự mình làm khổ mình. Khi nói ra, hay viết ra được những khổ tâm của mình thì hệ thống đề kháng được tăng cường, ít phải uống thuốc.

Theo Bác Sĩ Ornish, khi bị căng thẳng cơ thể sẽ tiết ra một hóa chất làm cho mọi sinh hoạt ứ đọng, ăn không ngon, đầu không suy nghĩ, mạch máu trì trệ,mất sức đề kháng, dễ cảm cúm.

Như vậy sự cô đơn cũng là chất độc như cholesterol trong những thức ăn dầu mỡ mà chỉ có tình thương mới cứu rỗi được.

Nếu bạn không mở tâm ra cho người khác thì bác sĩ bắt buộc phải mở tim bạn ra thôi.

Tuổi như thế nào thì gọi là già? Chúng ta biết khi một người qua đời ở tuổi 60 thì được gọi là 'hưởng thọ'. Vậy sau tuổi 60, mỗi ngày ta sống là một “bonus”, phần thưởng của Trời cho.

Chúng ta nên sống thế nào với những ngày 'phần thưởng' này. Lấy thí dụ một người lớn tuổi, sống cô đơn, biệt lập, không đi ra ngoài, không giao thiệp với bạn hữu, thế nào cũng đi đến chỗ tự than thân trách phận, bất an, lo âu, ủ dột và tuyệt vọng. Từ đó bắt nguồn của bao nhiêu căn bệnh.

Trong Những Lời Phật Dậy có câu:

Sai lầm lớn nhất của đời người là đánh mất mình.
Phá sản lớn nhất của đời người là tuyệt vọng..

Chắc trong quý vị không ai muốn rơi vào hoàn cảnh này.
Gặp gỡ bè bạn thường xuyên trong những sinh hoạt thể thao là điều tốt lành nhất cho thể lý.

Ði tập thể thao như Tài Chi, Hồng Gia, nhẩy nhẹ theo nhạc, tắm hơi, bơi lội v.v... đã giúp cho người lớn tuổi giữ được thăng bằng, ít ngã, và nếu có bệnh, uống thuốc sẽ công hiệu hơn, mau lành hơn.

Gặp bạn, nói được ra những điều phiền muộn cho nhau nghe, ngồi tĩnh tâm, đến nhà thờ, chùa cầu nguyện giúp được làm chậm lại sự phát triển của bệnh.

Bác Sĩ Jeff Levin giáo sư Ðại Học North Carolina khám phá ra từ hàng trăm bệnh nhân, nếu người nào thường xuyên đến nhà nguyện họ có áp suất máu thấp hơn những người không đến nhà nguyện, ông bỏ ra hàng đêm và nhiều cuối tuần để theo dõi, tìm hiểu những kết quả cụ thể của 'Tín Ngưỡng và Sức Khỏe'.

Cuốn sách ông phát hành gần đây nhất có tên là God, Faith and Health. Trong đó ông cho biết những người có tín ngưỡng khỏe mạnh hơn, lành bệnh chóng hơn, ít bị nhồi máu cơ tim, gặp sự thăng trầm trong đời sống họ biết cách đối diện, họ luôn luôn lạc quan.

Lạc quan là một cẩm nang quý vị nên luôn luôn mang theo bên mình. Ðừng bao giờ nói, hay nghĩ là 'Tôi già rồi, tôi không giúp ích được cho ai nữa' hoặc 'Tôi vụng về, ít học, chẳng làm gì được'.

Tôi xin kể câu chuyện Hai Con Ngựa của thầy phó tế George A.Haloulakos.
Cạnh nhà tôi có một cánh đồng cỏ, hàng ngày có một cặp ngựa, con nọ lớn hơn con kia một chút thong thả ăn cỏ ở đấy. Nhìn từ xa, chúng là đôi ngựa binh thường giống những con ngựa khác. Tuy nhiên, nếu bạn đến gần, bạn sẽ khám phá ra là có một con mù.

Chủ nhân của nó chắc thương nó không nỡ bỏ đi mà còn cho nó một chỗ ở an toàn. Chính điều này đã thành một câu chuyện tuyệt vời.

Ðứng bên chúng, bạn chợt nghe có tiếng chuông rung, phát ra từ cái đai nhỏ vòng quanh cổ con ngựa nhỏ hơn, chắc là một con cái. Tiếng chuông báo cho con bạn mù của nó, biết là nó đang ở đâu mà bước theo. Quan sát kỹ một chút bạn sẽ thấy cái cách con ngựa sáng chăm sóc con ngựa mù, bạn nó chu đáo như thế nào. Con ngựa mù lắng nghe tiếng leng keng mà theo bạn, nó bước chậm rãi và tin rằng bạn nó không để nó bị lạc.

Trên đường trở về chuồng mỗi chiều, con ngựa nhỏ chốc chốc lại ngoái cổ lại nhìn bạn, muốn biết chắc bạn mù của nó vẫn đi theo tiếng chuông của nó để lại đằng sau..

Cũng giống như chủ nhân của đôi ngựa có lòng nhân từ, Thượng Ðế không bao giờ vứt bỏ bạn vì bạn kiếm khuyết, hoạn nạn hay gặp khó khăn. Người luôn luôn đem đến cho chúng ta những người bạn khi chúng ta cần được giúp đỡ.

Ðôi khi chúng ta là con ngựa mù, được dẫn dắt bởi tiếng chuông mầu nhiệm mà Thượng Ðế đã nhờ ai đó rung lên cho chúng ta. Những khi khác chúng ta là con ngựa dẫn đường, giúp kẻ khác nhìn thấy.

Bạn hiền là như vậy. Không phải lúc nào ta cũng nhìn thấy họ nhưng họ thì luôn hiện diện đâu đó. Hãy lắng nghe tiếng chuông của nhau.

Hãy tử tế hết sức mình bởi vì có một người mà bạn gặp trên đời, biết đâu cũng đang ở trong một hoàn cảnh khó khăn nào đó họ phải phấn đấu để vượt qua.
Không gì hơn là tuổi già nương dựa vào nhau trong tình bạn. Luôn luôn nghĩ bao giờ mình cũng có cái cho đi mà người khác dùng được.

Trong một lần đến thăm Viện Dưỡng Lão, tôi thấy một cụ ông 70 tuổi, đút thức ăn cho một cụ bà 80 tuổi. Hỏi ra thì họ không có liên hệ gì với nhau cả.
Chỉ là một người có khả năng cho và một người vui vẻ nhận.

Tính hài hước, làm cho người khác cười cùng với mình là những liều thuốc bổ.
Thi sĩ Maya Angelou vào sinh nhật thứ 77, trong chương trình phỏng vấn của Oprah hỏi về sự thay đổi vóc dáng của tuổi già, bà nói:
'Vô số chuyện xẩy tới từng ngày... Cứ nhìn vào bộ ngực của tôi xem. Có vẻ như hai chị em nó đang tranh đua xem đứa nào chạy xuống eo trước'. Khán giả nghe bà, cười chẩy cả nước mắt.

Sinh, bệnh, lão, tử. Con đường đó ai cũng phải đi qua. Nhưng đi như thế nào thì hầu như 80% chính mình là người lựa chọn.

Những vấn đề chính ảnh hưởng đến sức khỏe của bạn (qua tinh thần) là:

Sự cảm thông giữa cha mẹ và con cái, giữa ông bà với các cháu.
Tinh thần chấp nhận và lạc quan.
Nghĩ đến những điều vui nhỏ mỗi ngày.
Tham gia những sinh hoạt nào phù hợp với sức khỏe.
Làm việc thiện nguyện.
Nhóm bạn: Ðọc sách, kể chuyện, đánh cờ, chơi bài (không phải ăn thua).
Tham gia các lớp thể dục: Như Yoga, lớp dậy Hồng Gia, ngồi thiền,khí công v.v...
Và ngay cả chỉ đi bộ với nhau 30 phút mỗi ngày cũng giúp cho tinh thần sảng khoái, sức khỏe tốt hơn là ở nhà nằm quay mặt vào tường.
Hãy thỉnh thoảng đọc lên thành tiếng câu ngạn ngữ này: 'Một nét mặt vui vẻ mang hạnh phúc đến cho trái tim và một tin vui mang sức khỏe cho xương cốt.'
Chúc quý vị luôn cảm thấy vui khoẻ và trọn vẹn an lành trong tâm hồn !

Trần mộng Tú
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Hiến pháp & đồng hồ
Nguyễn Hà

Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, tôi bỗng trở thành một thằng vô cùng rảnh rỗi. Rảnh, tôi hay đi lang thang cho nó qua ngày. Có chiều, tôi thấy một anh bộ đội vội vã buớc vào một tiệm sửa đồng hồ, với vẻ khẩn trương:

- Cái này tôi vừa mua hôm qua, còn mới nguyên, vậy mà hôm nay đã… hỏng. Mà loại không nguời lái đấy nhá. Cứ phải lắc lắc, đến mỏi cả tay, cái kim giây cũng chỉ nhúc nhích vài nấc rồi đứng.

Ông thợ chỉ mới nghe chứ chưa nhìn, đa lắc lắc đầu quầy quậy:

- Chịu thôi!

- Cố giúp cho đi, bao nhiêu là năm lương của tôi đấy, không phải ít đâu. Đây là món quà mà bố tôi vẫn ao uớc mãi…

Sự chân thật và vẻ khẩn khoản của ông khách khiến người thợ mủi lòng:

- Anh mua nhằm đồ rởm rồi.

- Giả à?

- Tui ngó qua là biết liền đồng hồ giả mà.

- Thôi chết! Thế bây giờ phải làm sao?

- Dục bà nó đi chớ đồ giả mà làm sao sửa đuợc, cha nội?

Anh lính trẻ ngớ ra một chút, rồi thẫn thờ quay buớc, mặt buồn thiu. Nguời thợ sửa đồng hồ (ái ngại) nhìn theo, trông cũng buồn không kém. Còn tôi, tôi cũng… buồn luôn!

Rõ ràng, tôi thuộc diện… buồn theo. Không những chỉ buồn theo mà (không chừng) tôi dám còn là nguời buồn nhất – dù ngay lúc đó tôi chưa biết vì sao mà khi khổng khi không mình lại buồn quá mạng, và buồn thảm thiết!

Rất lâu sau, có hôm, tôi đuợc nghe ông Phùng Quán kể chuyện “Đầu Năm Xông Đất Nhà Thơ Tố Hữu.” Trong buổi tương phùng (muộn màng) này, Tố Hữu cao hứng đọc một bài thơ tứ tuyệt mới nhất của ông:

Có anh bộ đội mua đồng hồ
Thiệt giả không rành anh cứ lo
Đanh hỏi cô nàng, cô tủm tỉm:
“Giả mà như thiệt khó chi mô!”

Theo nguyên văn lời của Phùng Quán: “Nhà thơ đọc lại lần thứ hai, nhấn mạnh từng từ một. Khách khứa nghe cung đều cuời tủm tỉm, nhưng không ai bình luận gì hết. Tôi thì đoán họ đều như bị hẫng.”

Tôi cũng bị “hẫng” luôn. Vẫn nói theo ngôn ngữ đương đại thì tôi thuộc diện… hẫng theo. Và nói tình ngay thì tôi hẫng lắm. Không chừng, tôi lại (dám) là nguời… hẫng nhất!

Tôi bỗng nhớ đến cái cảm giác hụt hẫng mà mình đa trải qua – khi nhìn nét mặt buồn ruời ruợi của anh lính trẻ, thất thểu buớc ra khỏi tiệm sửa đồng hồ – vào một buổi chiều buồn, hơn hai mươi năm truớc.

Lúc ấy, tôi mới chỉ mơ hồ cảm nhận đuợc là có cái gì không ổn trong cuộc chiến khốc liệt (vừa tàn) trên đất nuớc mình. Sao chung cuộc, kẻ chiến thắng (nếu còn sống sót) chỉ nhận đuợc những chiến lợi phẩm, nhỏ bé và thảm hại – chỉ là một cái đồng hồ – đến thế? Đã thế, dân chúng ở vùng địch tạm chiếm lại còn “trao tặng” cho những chiến sĩ giải phóng quân toàn là… của giả!

Sau khi nghe chuyện Tố Hữu đọc thơ, và hình dung ra nụ cuời “tủm tỉm” của cô hàng (cùng nét mặt láu cá của tác giả) tôi chợt nghĩ thêm rằng: chả riêng gì cuộc chiến “giải phóng” miền Nam, tất cả những gì thuộc về (cái được mệnh là) “cách mạng” ở Việt Nam – vào thế kỷ qua – đều có cái gì đó rất là không ổn, hay nói chính xác hơn là… không thật!

Và sự thật (nghĩa là sự giả trá) đuợc phơi bầy rõ nhất qua Hiến Pháp của đất nước này. Ngày 7 tháng 9 năm 2011, ông tân Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Sinh Hùng – kiêm Chủ Tịch Ủy Ban Sửa Đổi Hiến Pháp 1992 – long trọng tuyên bố:

“Việc nghiên cứu, sửa đổi Hiến pháp 1992 phải trên cơ sở kế thừa và tổng kết cả quá trình thực hiện Hiến pháp 1946 kết hợp với các bản Hiến pháp qua các thời kỳ; phù hợp với tình hình đất nước trong giai đoạn cách mạng mới trên tinh thần tất cả vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh.”



Tôi đã có lần nghe ông Vi Đức Hồi buột miệng khen:”Đảng nói nghe cứ như hát vậy.” Ông Nguyễn Sinh Hùng quả đã không làm hổ danh của đảng (mình) trong chuyện hát ca. Năm trước, vào ngày 12 tháng 6, trong tuồng “Dự Án Đường Sắt Cao Tốc,” ông hát tỉnh queo:

“Với đà tăng trưởng hiện nay, đến 2020, GDP sẽ đạt gần 300 tỷ USD; 2030 là 700 tỷ USD; 2040 đạt 1.200-1.400 tỷ USD và đến 2050 sẽ gấp đôi số đó. GDP bình quân đầu người đến 2050 dự kiến lên 20.000 USD, thay vì mức hơn 1.000 USD hiện nay. Nếu cứ lấy ngưỡng an toàn vay nợ là 50% GDP, đến 2020, Việt Nam có thể vay 150 tỷ mà vẫn an toàn… Với mức vay nợ như vậy, chúng ta có thể làm được… Tôi yên tâm. Yên tâm rằng phải làm…”

Gần hai tháng sau, vào ngày 4 tháng 8, qua một vở tuồng khác (“Vinashin Vỡ Nợ”) ông ca nghe cũng mùi không kém:

“Tình hình (của Tập đoàn Vinashin) hiện nay vẫn trong tầm giải quyết và năng lực của ta, chưa tuột khỏi tay ta, nên nếu để Vinashin phá sản thì ta lại phải dựng lên một ngành công nghiệp tàu thuỷ mới. Vì thế Chính phủ xác định rõ chủ trương phải quyết tâm xây dựng lại …năm 2015 sẽ có một Vinashin mới.”

Người Việt có câu “một tấc đến Giời.” Riêng với những người cộng sản, kiểu như ông Nguyễn Sinh Hùng, thì Giời chưs chắc đã cao đến … một tấc. Bởi vậy, việc sửa đổi hiến pháp trên “trên tinh thần tất cả vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh”– do ông lãnh đạo – kể như chỉ là chuyện nhỏ!

Chỉ có điều đáng tiếc là cái mịêng leo lẻo (thiếu tâm và thiếu tầm) của ông Hùng không thuyết phục được ai. Trước khi Ủy Ban Dự Thảo Sửa Đổi Hiến Pháp 1992 mở phiên họp đầu tiên, ông Huy Đức đã có lời dự báo không được lạc quan cho lắm:

“Quyền sửa đổi Hiến pháp 1992 chưa thuộc về nhân dân mà đang ở trong tay Đảng Cộng sản Việt Nam, thay vì kiến tạo một nhà nước pháp quyền (rule of law), bản Hiến pháp mới chỉ có thể là bộ luật cơ bản để tiện bề “quản lý” (rule by law).”

….

“Cho dù tiếp tục giữ quyền viết Hiến pháp thì Đảng cũng hãy vì sự thịnh vượng của quốc gia mà chia sẻ bớt quyền lực cho nhân dân. Đừng nghĩ là tình hình chưa đủ xấu… Nên nhớ là những cuộc nổi dậy thường bắt đầu từ những uất ức của người dân trước những bất công chứ không phải từ những trí thức đang lên tiếng nhằm thức tỉnh chính quyền. Thay vì đào những đường hầm để thoát thân khi có biến như Gaddafi, ngay bây giờ hãy khai thông các lối ra cho toàn dân tộc.”

Và ngay sau phiên họp này, ông Nguyễn Hà đã đưa ra nhận xét rất bi quan:

“Nhìn sơ qua Ủy ban sửa đổi Hiến pháp lần này, có thể thấy rằng đa số – nếu không muốn nói là tất cả – đều là viên chức nhà nước, không có đại diện của các đoàn thể hay đảng chính trị, mà nếu có cũng là viên chức của nhà nước. Có thể thấy, giới luật gia, luật sư, và thành phần trí thức ngoài xã hội – những nhân tố cực kì quan trọng, để góp ý kiến cho việc sửa đổi Hiến pháp đều không hiện diện trong Ủy ban này…”

“Dân chỉ có thể tin khi dân được biết và được hỏi ý kiến về những chuyện liên quan mật thiết đến cuộc sống hằng ngày của họ: từ chuyện chống tham nhũng đến chuyện quản lý các doanh nghiệp nhà nước, cho nước ngoài thuê đất, thuê rừng, đến chuyện ngoài hải đảo xa xôi… Dân khó tin khi quan chức nói một đằng làm một nẻo, rất khó tin khi tham nhũng vẫn tràn lan…”

Từ thành phố Tam Kỳ, Quảng Nam, bà Huỳnh Thục Vy cũng có “Vài Suy Nghĩ Về Việc Sửa Đổi Hiến Pháp” bi quan không kém:

“Sự thay đổi, sửa đổi chóng vánh và chắp vá chỉ thể hiện một điều là người ta muốn đối phó tình thế, thiện chí giả tạo và xoa dịu những căng thẳng bề nổi hơn là thực tâm thúc đẩy tiến bộ. Hơn nữa, việc thay đổi tùy tiện đối với một văn bản có tầm quan trọng như thế của những người cộng sản trong bao nhiêu năm qua làm cho ta thấy thái độ coi thường Hiến pháp của họ. Đối với họ, Hiến pháp không phải là bản cam kết, mà chỉ là cái công cụ trong tay, muốn định đoạt thế nào tùy nghi. Và sự thiếu vắng tiếng nói đóng góp của các tầng lớp dân chúng cũng nói lên rất nhiều cái vai trò mờ nhạt, mang tính danh nghĩa của định chế quan trọng này ở Việt Nam.”

“Thật buồn cười khi một việc tốn nhiều thời gian, tâm sức chuyên gia và công quỹ quốc gia, chẳng mang lại sự thay đổi và hiệu quả cụ thể nào lại cứ được truyên truyền và liên tục thực hiện. Tiền thuế của dân đâu phải được nộp để các nhà lãnh đạo thỉnh thoảng mang Hiến pháp ra đổi Hiến pháp mới, hay sửa lại cho có công có việc mà làm!”

Tui thì còn bi quan hơn nữa, và không chừng tui dám là người bi quan nhứt đám. Cứ mỗi lần nghe đến nhà đương cuộc Hà Nội rục rịch chuyện sửa đổi hiến pháp là tôi lại nhớ đến mẩu đối thoại mà mình nghe được ở tiệm sửa đồng hồ, vào ngày 30 tháng 4, hơn 30 năm trước:

- Dục bà nó đi chớ đồ giả mà làm sao sửa đuợc, mấy cha!

© Tưởng Năng Tiến – RFA’s blog
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 13 guests