Page 32 of 187

Posted: Mon Jan 04, 2010 6:57 am
by caubennoc
Lãnh Đạo Tài hay Lãnh Đạo Tồi (?)

Ts. Nguyễn Đình Thắng
Khi cần thoát ra khỏi cơn khủng hoảng hay một vấn nạn, chúng ta cần người lãnh đạo.

Lãnh đạo là khả năng dẫn đường, đưa tập thể từ hiện trạng xấu đến một hoàn cảnh tốt đẹp hơn. Tập thể có thể là tổ chức, công ty, cộng đồng, quốc gia, hay cả nhân loại. Người lãnh đạo phải có tầm nhìn xa, chỉ ra được điểm mốc cho cả hành trình. Không những vậy, người lãnh đạo còn phải biết chuyển ý tưởng thành hành động, để đoàn người cùng nhịp bước tiến lên.

Đó là lãnh đạo. Còn lãnh đạo tài là người tạo ra được cơ chế có khả năng tự vận hành dài lâu mà không cần đến mình nữa. Lãnh đạo tài có thể ví như người chế tạo ra chiếc đồng hồ, ai muốn sử dụng chỉ cần lên dây cót mà chẳng cần biết đến người thiết kế ra nó.

Để làm ví dụ, chúng ta hãy so sánh cuộc cách mạng dân chủ Pháp và Hoa Kỳ. Khác với mấy nhà cách mạng dân chủ Pháp, các vị khai sinh ra đất nước Hoa Kỳ đã khéo tạo dựng cơ chế thể hiện các tư tưởng dân chủ qua hiến pháp, hệ thống luật pháp, và những định chế xã hội dân sự.

Nền dân chủ ấy có khả năng tự tồn lâu dài và mọi người dân, trong hành sử bình thường mỗi ngày, góp phần phát huy nền dân chủ qua cơ chế sẵn có. Như vậy các tư tưởng dân chủ không còn lửng lơ ở mức trừu tượng mà đã được cài ngay vào cơ chế vận hành của toàn xã hội, trong từng hoạt động bình thường của người dân và tự tồn qua nhiều thế kỷ. Và cũng chính cơ chế ấy đào tạo nên những lớp người lãnh đạo cho hôm nay và ngày mai.

Người lãnh đạo tài do đó phải có bản lĩnh về tư duy để đề ra những nguyên tắc vận hành cho cơ chế, có khả năng huy động phương tiện và nhân sự để thiết lập cơ chế và, trước khi rút lui vào hậu trường, có đảm lược để chuẩn bị cho lớp người kế thừa duy trì và phát triển cơ chế. Điều cần chú ý là lãnh đạo tài thường không phải là một người mà là một nhóm, mỗi người một sở trường và một phận sự.

Thay vì thiết kế một đồng hồ, người lãnh đạo tồi là người giữ giờ, nghĩa là ai muốn biết giờ giấc đều phải qua tay mình. Mình là cơ chế, cơ chế là mình. Mình là nhất hạng và kiểm soát tất cả, còn mọi người chỉ có vâng phục hay phụ trợ. Mình là cha, là bác còn thiên hạ chỉ là con, là cháu. Người mắc tâm bệnh trầm kha như vậy không thể nào dẫn dắt tập thể đi lên vì “cái tôi” che lấp quyền lợi của tập thể và cản chặn bước tiến của người khác; họ sợ người khác nổi bật hơn mình. Người lãnh đạo tồi sẽ dẫn tập thể đi lòng vòng và có khi xuống hố sâu.

Đó là tình trạng ở nước ta. Người được tôn vinh là “cha già” dân tộc chỉ biết hô hào độc lập, tự do, hạnh phúc nhưng không thiết kế nổi một cơ chế để thể hiện những điều ấy; chỉ biết điều hành quốc gia bằng khẩu hiệu và mưu mô chứ không đề ra được nguyên tắc vận hành trường tồn cho xã hội; tốn rất nhiều thì giờ để tự đánh bóng mình thay vì xây dựng cho đội ngũ lãnh đạo và quản trị đất nước có tài có đức để thay thế mình. Người lãnh đạo với khả năng chỉ có vậy thì đất nước khó mà ngóc đầu lên được.

Xét vậy, người mang “hội chứng lãnh tụ” thì tất nhiên không thể nào là người lãnh đạo tài. Tiếc rằng hội chứng này không chỉ có nơi người cộng sản mà ít nhiều bàng bạc trong hàng ngũ những người Việt tự nhận là tranh đấu cho tự do, dân chủ.

Vì tiền đồ của cộng đồng và của dân tộc, mọi người Việt phải dứt khoát không tôn thờ và cũng không đi tìm lãnh tụ mà hãy cùng nhau tạo dựng nên một đội ngũ lãnh đạo cho ngày hôm nay và mai sau. Ở bước căn bản nhất, chúng ta phải đòi hỏi thái độ nghiêm túc nơi những người muốn đóng vai trò lãnh đạo: phải nêu ra được sách lược để chuyển ý tưởng thành hành động, phải chứng minh được khả năng quán xuyến qua việc thiết lập những cơ chế phát triển cộng đồng ở hải ngoại hay phát triển dân chủ trong nước, và phải đào tạo được những con người giỏi giang và chân chính để nối tiếp vai trò lãnh đạo.

Chúng ta cần những người lãnh đạo tài.

Posted: Sat Jan 09, 2010 7:31 am
by hoanghoa
Thế nào là Văn Minh?

Ngô Nhân Dụng
Muốn biết trình độ tinh thần của một xã hội, hãy coi nguyên nhân nào gây ra những cuộc tranh chấp giữa người với người. Tục ngữ ta có câu “Hôn nhân, điền thổ, vạn cổ chi thù.” Thù ghét nhau vì những cuộc hôn nhân bất thành, hoặc vì tranh giành nhau những mảnh ruộng đất, đó là những mối thù lớn. Ruộng đất gây tranh tụng về kinh tế, còn chuyện hôn nhân liên quan tới danh giá của một gia tộc. Nền văn minh làng xã của chúng ta đề cao danh giá, danh giá một giòng họ cũng lớn bằng hoặc còn quan trọng hơn cả quyền lợi kinh tế.

Ở nước Mỹ chúng ta thường thấy các nhà chính trị đem nhau ra tố cáo tội này tội nọ để hất cẳng lẫn nhau. Có người đang được ông tổng thống mời làm bộ trưởng thì bị tố là đã từng thuê một di dân bất hợp pháp giữ con cho mình. Thực ra một người Mỹ khi thuê mướn nhân viên thì không có bổn phận phải điều tra xem người đó có giấy tờ hợp pháp hay không; đó là việc của nhà nước. Nhưng chính trị gia kia bị coi là có tội vì đã không đóng thuế an sinh xã hội cho người làm. Vừa tội trốn thuế, lại thêm tội bóc lột sức lao động của di dân! Thế là phải xin ông tổng thống rút tên mình ra. Có mấy người được ông Obama mời vào nội các nhưng phải rút lui sau khi bị tố giác đã từng quên đóng thuế. Có người Mỹ đã được đề cử làm Thẩm phán Tối cao nhưng phải rút lui vì bị người trong đảng mình tố đã có lúc “nghiêng ngả” không giữ đúng lập trường chống phá thai. Vừa rồi lại có mấy nhà chính trị nổi danh bị tố giác về tội ngoại tình, phải từ bỏ giấc mộng làm ứng cử viên tổng thống. Nếu nước Pháp cũng theo phong tục đó thì chắc các ông tổng thống phải từ chức hết. Nghe mấy chuyện đó thì chúng ta biết phong hóa cả nước Mỹ nó như thế nào. Kể chuyện nước người ta để suy ngẫm về chuyện nước mình.

Ở Việt Nam, chúng ta không có những chính trị gia theo nghĩa bình thường, vì chỉ có một đảng được quyền làm chính trị. Nước ta chỉ có các quan chức, các cán bộ tranh giành nhau địa vị, để có quyền và sinh lợi. Vậy các quan chức này thường viện những lý do nào để tranh giành, hất cẳng lẫn nhau?

Báo Người Việt trong tuần rồi thuật lại một bản tin trên từ các báo Pháp Luật và Dân Trí ở trong nước kể chuyện một quan chức quận Hà Ðông bị mất chức (một chức thanh tra hái ra tiền) vì lỡ tổ chức tiệc cưới cho con trai đặt dư hai mâm cỗ vượt qua quy định của đảng Cộng Sản. Rất nhiều độc giả đã chăm chú đọc tin trên và viết thư bầy tỏ ý kiến. Chỉ có chuyện 2 mâm cỗ mà mất chức! Tưởng nước nhà đã đổi mới rồi, thế mà vẫn còn chuyện các đồng chí dình dập nhau, chờ cơ hội ám hại nhau, và hất cẳng nhau được chỉ vì hai mâm cỗ! Chẳng khác gì chuyện chốn đình trung trước đây 100 năm!

Nếu quý vị không biết hoặc đã quên câu chuyện trên, xin quý vị tìm đọc lại trong báo Người Việt ngày Thứ Ba tuần qua. Một đảng viên cao cấp tên là Nguyễn Hữu Dàng tổ chức tiệc cưới cho con, hai bên nhà trai nhà gái mỗi người mời 40 mâm cỗ. Nhưng ông Dàng đặt thêm 2 mâm nữa. Năm, bẩy tháng sau ông bị đảng ủy quận Hà Ðông tố cáo tội vi phạm “nếp sống văn minh” và bị mất chức thanh tra xây dựng, một chức vụ được các báo mô tả là “hái ra tiền!”

Phần lớn thư góp ý của quý vị độc giả Người Việt đọc câu chuyện trên đã chú ý tới cảnh “chạy chức” và mua quan bán tước trong xã hội Cộng Sản, như tờ báo trong nước đã phân tích. Nhưng câu chuyện này có một khía cạnh đáng chú ý khác, là quan niệm của đảng Cộng Sản Việt Nam về một xã hội văn minh. Thế nào là Xã Hội Văn Minh? Ðó là những chữ được viết rất long trọng trong cương lĩnh của đảng Cộng Sản từ hàng chục năm nay. Họ đang tiếm quyền “lãnh đạo nhà nước và xã hội” của cả nước ta. Họ quan niệm về xã hội văn minh như thế nào, cái đó sẽ ảnh hưởng đến tương lai dân tộc.

Chính quyền một nước cũng có thể xây dựng nếp sống văn minh, trong một chừng mực giới hạn. Chính sách giáo dục, văn hóa của quốc gia có ảnh hưởng tới nếp sống hàng ngày của dân chúng. Trong mục này tuần trước chúng tôi đã nhắc đến kinh nghiệm ở Singapore, “Lâu lâu, thể chế và pháp luật cũng ảnh hưởng đến đạo đức con người; giống như dân Singapore đã tập được thói quen không xả rác, không vẽ bậy lên tường” sau khi có luật trừng phạt rất nặng. Bởi vì, khi bị luật pháp ràng buộc mãi, dù không muốn thì tính tình người ta dần dần cũng thay đổi, các thói quen sống hàng ngày cũng đổi. Nói như vậy lại nhớ đến các xứ Ðức, Nhật Bản, Thụy Sĩ, Thổ Nhĩ Kỳ, là những nơi tôi không thấy người dân xả rác ngoài đường. Một độc giả đã góp ý kiến rằng ở các nước đó người ta phạt tội xả rác rất nặng cho nên người dân mới giữ sạch sẽ. Nhân đây xin cải chính. Tôi đã hỏi người dân mấy xứ này, ở nước họ không có luật lệ cấm xả rác như ở Singapore.

Có hai đường lối cai trị cổ truyền ở Ðông Phương. Dùng hình luật để xây dựng “Nếp Sống Văn Minh” là chủ trương của Pháp gia; các ông Lý Quang Diệu, Mao Trạch Ðông đều theo Hàn Phi Tử. Còn ở các nước Nhật, Thụy Sĩ, họ thiên về lối Nho gia: “phú chi, giáo chi.” Làm sao cho dân đủ ăn đủ mặc rồi giáo hóa họ; những người cầm quyền, các bật trưởng thượng nêu gương và khen người đạo đức thì dân sẽ bắt chước. Cứ như thế, xã hội sẽ dần dần văn minh hơn.

Ðảng Cộng Sản Việt Nam theo lối Mao Trạch Ðông, uốn nắn đảng viên và dân chúng bằng những quy định đến cả cách ăn ở của người ta. Khi đọc bản tin trên báo Pháp Luật trong nước chúng ta mới biết đảng Cộng Sản Việt Nam muốn áp dụng “Nếp Sống Văn Minh” cho cán bộ một cách nghiêm ngặt, không khác gì Singapore cấm dân nhai kẹo cao su. Nghiêm đến mức họ quy định cán bộ làm đám cưới không được mời quá 40 mâm cỗ. Mời 41 mâm là kém văn minh. Chỉ vì ông Nguyễn Hữu Dàng làm sai quy định đó cho nên mới mất cái ghế hái ra tiền!

Nhưng chúng ta vẫn không khỏi thắc mắc tại sao đảng Cộng Sản đã dùng quyền lãnh đạo xã hội để đi quy định những chuyện bắt cán bộ phải theo, như làm đám cưới thì không được làm quá 40 mâm cỗ? Bộ không có chuyện gì thiết thực hơn, quan trọng hơn để đưa vào chương trình xây dựng “Nếp Sống Văn Minh” hay sao? Có quy định nào bắt bước các cán bộ phải biết nói những lời như “xin lỗi,” hay “cảm ơn” hay không? Có luật nào bắt các ông thanh tra mấy ngày phải đi tắm một lần hay không? Chuyện giữ thân thể sạch sẽ cũng biểu hiện nếp sống văn minh lắm chứ? Người lãnh đạo có thói quen hay rửa tay chắc sẽ thấy có ý thức phải giúp cho dân chúng chung quanh mình sống sạch sẽ hơn!

Trong những quy định xây dựng xã hội văn minh, những xã, thôn văn hóa, thế nào người ta cũng ghi đủ các quy tắc sống vệ sinh, giữ sạch sẽ. Nhưng trong một chế độ đã hư hỏng đến tận xương tủy thì bất cứ chính sách, luật lệ, quy định nào cũng chỉ là bánh vẽ, chỉ nói mà không cần thực hiện. Chúng trở thành những võ khí người ta dùng để tấn công nhau, tranh giành quyền lực với nhau. Ngay luật đi đường cũng vậy, luật về vệ sinh nơi công cộng cũng vậy. Cuối cùng, mọi thứ luật lệ có mục đích tốt đẹp tới đâu cũng chỉ tạo cơ hội cho những người có quyền trong tay tham nhũng. Và giữa giai cấp chiếm độc quyền cai trị thì họ sử dụng các quy định lẩm cẩm đó để chờ cơ hội hất cẳng nhau.

Nhắc lại một chuyện cũ để suy ngẫm. Năm 2008, có triển lãm hoa anh đào Nhật tại khu triển lãm Giảng Võ, Hà Nội vào Tháng Tư. Tổng cộng 300 cành hoa anh đào nhỏ kết thành 3 cây hoa anh đào lớn. Nhưng ngay trong ngày khai mạc, nhiều người đã xúm vào bẻ cành, vặt hoa chung đem về làm của riêng. Sang năm 2009, một lực lượng đông hơn 500 công an cảnh sát cầm dùi cui, được lực lượng dân phòng của phường Liễu Giai điều động giúp, để bảo vệ 6 sáu cây hoa anh đào giả sân vận động Quần Ngựa ở Hà Nội, trước khi cho dân coi hoa thật. Những người Nhật Bản tặng hoa chắc phải ngạc nhiên vì chưa thấy quốc gia nào phải dùng đến bấy nhiêu người để bảo vệ mấy cây hoa giả! Ðạo lý, văn minh của người dân nước đó đã xuống đến như thế nào?

Trước cảnh dân Hà Nội nước trước bẻ hoa như vậy, nhà thơ Hoàng Hưng đã nhận xét: “Rõ ràng đây là chuyện mang tính tất yếu, bản chất, hệ thống, sự hư hỏng từ bên trong con người Việt Nam sau một quá trình dài tích tụ phát triển đã lên đến đỉnh cao.”

Cái “đỉnh cao” đó là do một chế độ độc tài tạo ra. Khi một đảng nắm độc quyền cai trị hơn nửa thế kỷ thì tình trạng hư hỏng tất nhiên sẽ xẩy ra. Nhà thơ gọi đó là “tính tất yếu.” Một guồng máy độc tài áp bức lúc nào cũng đi kèm theo một hệ thống gian dối, phô bầy một nếp sống giả trá. Khi đảng độc tài đó lại muốn chỉ huy tất cả mọi mặt trong đời sống người dân, nắm độc quyền từ chính trị, kinh tế đến văn hóa, nghệ thuật, cho đến phong tục, cách ăn mặc nữa, nói năng nữa, thì sự hư hỏng của nhóm người nắm quyền đó sẽ tác hại đến nền móng tinh thần, đạo lý của cả xã hội. Nó hư từ trong bản chất, nó phổ biến từ trên xuống dưới một cách có hệ thống. Nó tích tụ từ hơn nửa thế kỷ nay trong nước Việt Nam, làm hư hỏng, mục nát cả nền móng tinh thần của xã hội.

Người Việt Nam yêu nước đều phải tự hỏi nếu cứ tiếp tục như vậy thì tương lai dân tộc sẽ đi về đâu? Bởi vậy, những nhà trí thức như Hoàng Hưng, Nguyễn Huệ Chi, Hà Sĩ Phu, Nguyễn Quang A, vân vân, đã phải lên tiếng đòi đảng Cộng Sản phải bớt độc tài đi. Không một ai trong những người này tính đến chuyện sẽ lên cầm quyền thay thế cho các ông lý ông xã trong Câu Lạc Bộ Ba Ðình. Nhưng trông thấy nền móng tinh thần của đất nước bị phá hoại suốt nửa thế kỷ, ai cầm lòng được?

Các tờ báo ở trong nước như Pháp Luật đã tường thuật câu chuyện mất chức vì hai mâm cỗ, dù không bình luận cũng cho thấy một hình ảnh về cách sống của đám cán bộ, quan chức Cộng Sản. Người đọc chắc đều hiểu nghĩa bóng ở đằng sau câu chuyện. Trong tay đảng Cộng Sản Việt Nam, một chính sách nghe rất tốt đẹp như “xây dựng xã hội văn minh” cũng trở thành một trò múa rối nhảm nhí. Và mọi quy tắc, luật lệ của đảng đều được các quan chức cán bộ lợi dụng để tranh giành quyền hành, lợi lộc. Sự hư hỏng đến từ bản chất, trong hệ thống, và tích tụ mấy thế hệ rồi. Dân tộc Việt Nam còn phải chịu đựng cái nạn này cho tới bao giờ?

Posted: Mon Jan 11, 2010 5:28 am
by khieulong
Tại sao người ta cướp hoa?

Ngô Nhân Dụng
Dân New York đang nổi giận khi nhật báo Times tiết lộ cửa hàng bán quần áo H&M có chính sách đem vứt bỏ những thứ hàng ế, trước khi vứt đi họ cho nhân viên cắt xé những cái áo, những găng tay để không ai còn dùng được nữa. Cửa hàng này thanh minh rằng họ cũng đã đem tặng các hội từ thiện nhiều quần áo khi không bán được. Nhưng chắc mọi người sẽ không hài lòng với lời giải thích đó. Chắc cả nước Mỹ sẽ lên tiếng phản đối. Còn người Việt Nam, người mình nghĩ gì về cảnh những thanh niên đi cướp hoa ở hội chợ Tết, suốt mấy năm liền? Có ai chịu trách nhiệm hay không?

Xin kể mấy câu chuyện ở nước khác trước đã. Mấy lần đến Thái Lan, sống ở một vùng ngoại ô Bangkock hàng tháng trời, tôi sinh lòng kính trọng người dân Thái chỉ vì thấy trong những ngõ hẻm người ta hay treo những giỏ hoa phong lan trên thân cây, ngay bên ngoài hàng rào; những giỏ lan trổ bông diễm lệ, mà không ai sợ có kẻ đến lấy trộm cả giỏ hoa đem đi mất. Cũng vậy, khi sống một tuần trong một làng nhỏ ở Thụy Sĩ, thấy những quầy bán hoa không có người trông coi, ai mua hoa cứ theo giá đề mà trả tiền vào một cái hộp kim loại để trên bàn, tôi cũng ngạc nhiên và cảm phục. Một nhà khác trong làng, bán sữa và trứng gà cũng vậy, ai muốn mua cứ mở tủ lạnh ra, lấy chai sữa hay hộp trứng gà, trả tiền trong cái lon, cũng đặt trong cái tủ lạnh đó. Không ai trông nom, canh gác.

Trong dân tộc nào cũng có người tốt, người xấu. Nhưng khi đến một xứ, nhìn vào cách cư xử thấy người ta tin cẩn vào tính thật thà của nhau, nghĩ chung quanh mình toàn người lương thiện, gặp người lạ nào trước hết cũng cứ giả thiết đó là một người lương thiện đã, thì mình phải công nhận người dân ở nước đó đa số họ sống có đạo lý, đó là một dân tộc đáng khâm phục.

Hồi ở thành phố Montréal bên Canada, nhà tôi ở gần một vườn hoa hồng, mang tên ông Thủ Tướng Pierre Trudeau - ông là đại biểu của địa hạt Mont Royal này trong Quốc Hội. Vườn trồng rất nhiều giống hoa, đủ thứ màu kể cả những màu lạ, cây cao cây thấp, chỉ toàn là hoa hồng, xếp đặt rất khéo. Cuối Tháng Tư mỗi năm, các gốc hồng được bới ra khỏi lớp lá mục phủ kín suốt Mùa Ðông; những gốc hồng được phơi ra dưới nắng rạo rực trổ mầm non, nụ hoa lên chúm chím, rồi trong một, hai tháng, hoa bắt đầu đua nở.

Một bữa tôi gặp một cô gái đang đi dạo trong vườn, lâu lâu cô nghiêng mình cúi mái tóc vàng xuống để thử mùi hương một đóa hoa. Cô hỏi: Vườn hoa này là của ai vậy? Khi biết đây là một công viên, cô lại thắc mắc: Vườn không có hàng rào, không ai canh gác, thế không sợ đêm có người đến hái trộm hay sao? Không biết trả lời thế nào, tôi chỉ nêu nhận xét là sau khi đã ở đây hàng chục năm, tôi luôn luôn thấy sau mấy tháng Hè các gốc hồng vẫn còn nguyên cành, còn hoa lá đầy đủ. Mà hình như không ai lo lắng chuyện mất trộm cả. Cô cho biết ở xứ cô thì một vườn hoa để trống như thế không thể nào tránh bị người ta hái trộm được. Cô đến từ một nước Tây phương giàu có, tôi xin miễn nói tên để tránh gieo rắc thêm thành kiến bất công về một quốc gia khác. Có thể cô ta quen sống trong một thành phố lớn với những thành phần dân chúng hỗn tạp, cho nên cô mới có những kinh nghiệm đáng buồn như thế.

Chúng ta cũng không nên nuôi một thành kiến xấu về người Việt Nam mình, sau khi đọc bản tin tả cảnh người ta giành giật nhau cướp những cành hoa, những chậu hoa trong những cuộc triển lãm, hội chợ gần đây. Cảnh này đã diễn ra và được báo chí tường thuật từ năm 2007 đến năm nay, khiến nhiều người Việt cảm thấy xấu hổ lây rồi cũng sinh ra thành kiến xấu đối với đồng bào mình. Có người còn vạch ra rằng chuyện đó chỉ thấy xảy ra ở Hà Nội liên tiếp mấy năm, không thấy tại các thành phố lớn khác.

Chúng ta không nên nghĩ oan về đồng bào mình, về đồng bào sống ở Hà Nội. Tôi nghĩ rằng những bạn trẻ đi cướp hoa ở hội chợ mấy năm liền đó chỉ là những nhóm thiểu số, không tiêu biểu cho người dân cả một đô thị được. Chính đám trẻ này có thể là những thanh niên cũng được gia đình giáo dục, hàng ngày họ không sống như vậy. Họ đua nhau cướp giật hoa giống như tham dự một trò chơi, trong lúc ham vui vì tranh đua với chúng bạn, họ không biết, hoặc biết mà không có ý thức được rằng đi cướp hoa như vậy là một hành động xấu. Nói chung, lấy cái gì không phải của mình là một hành động xấu. Họ ít có dịp được thấy những tấm gương tốt để noi theo vì xã hội bây giờ đang gặp lúc đi xuống. Có thể chỉ vì cả xã hội đã làm họ mất đi ý thức bén nhậy về cái xấu và cái tốt, thiện và bất thiện. Nhưng nếu có người chỉ bảo, khi biết có những xã hội nơi người ta có lối sống lành mạnh, thanh cao hơn, chính những thanh niên đó vẫn có khả năng quay trở về, lại thành những người công dân lương hảo.

Mười lăm năm trước đây, ở một khu phía Nam thành phố Los Angeles đã có cảnh cướp phá, hôi của, sau khi mấy người Mỹ gốc Phi Châu biểu tình phản đối cảnh sát ngược đãi một thanh niên cùng màu da. Trước đó mấy chục năm, ở New York cũng có cảnh như vậy. Khi trông thấy hình ảnh những người đàn ông, đàn bà cười tươi như đi xem hội, cùng nhau khiêng những chiếc tủ, chiếc giường cướp lấy từ cửa hàng đi ra, nghễu nghện bước đi trên lề đường ở New York, chúng ta có cảm tưởng như nền đạo lý của cả một nhóm người, hoặc cả một thành phố đang tan rã.

Trông như loài người đang quay trở lại thời man dã, hết đường cứu chữa! Và từ đó, chúng ta phát sinh những thành kiến, phân biệt chủng tộc, thành kiến rất bất công.

Sau vài chục năm, nhớ lại và nghĩ lại, chúng ta phải thấy rằng chính hoàn cảnh xã hội chung quanh chia phần trách nhiệm về những vụ cướp bóc và bạo loạn đó. Khi con người thoát được ra khỏi hoàn cảnh sống trong u tối, tuyệt vọng và hết niềm tin, thì người ta ai cũng có thể quay trở lại sống như những con người lương hảo.

Trong cuốn tiểu thuyết “Beloved” (Cưng Yêu) của nhà văn Toni Morrison (giải Nobel Văn Chương) có nhân vật Baby Suggs, một phụ nữ da đen nô lệ vào giữa thế kỷ 19 ở Mỹ. Bà sống trong xã hội những người nô lệ da đen trong các đồn điền. Họ bị chủ nhân coi như súc vật, như đồ vật, những cái máy làm việc để chủ nhân khai thác sinh lời, những tài sản được mua, bán, dùng làm vật cầm thế, đem cho người khác thuê sử dụng, không phải là những con người. Người đàn bà sinh con chỉ được gần con ba tuần rồi phải ra đồng làm việc, có khi không còn được thấy đứa con của mình nữa. Phần lớn các đứa con không biết bố là ai. Người chồng bị đem bán đi thì người vợ gá nghĩa với người khác. Bà mẹ có 8 đứa con, với 6 người đàn ông khác nhau. Khi bị đối xử như súc vật, người ta cũng tập thói quen sống như súc vật.

Baby Suggs may mắn được bán cho hai vợ chồng trại chủ tốt. May mắn được bán cùng một đứa con trai 10 tuổi. Giá bán thằng bé cao hơn giá bà mẹ vì bà bị tật ở hông, chân đi không vững (như một con chó chỉ có 3 chân, Suggs tự mô tả). Khi làm việc cho bà chủ tốt bụng, lâu lâu Suggs cũng ăn cắp vài món thừa đem về cho con ăn, hay một mảnh khăn mầu cho chính mình. Ðứa con lớn lên xin làm việc thêm trong những ngày được nghỉ, lấy tiền chuộc mẹ. Một nô lệ đàn ông khỏe mạnh thời đó bán được khoảng 900 đô la. Baby Suggs cuối cùng được chủ nhân bán chịu, cho nợ hơn 100 đô la, bà được ký giấy trả tự do.

Tự do để làm gì, Baby Suggs tự hỏi, khi một mụ nô lệ đã ngoài 60 tuổi, chân bước không vững, loạng quạng như một con chó 3 chân?

Nhưng ngay sau khi được “giải phóng,” thành một con người tự do, Suggs nhìn hai bàn tay của mình. Một ý nghĩ chợt đến: Những bàn tay này bây giờ thuộc về mình. Ðây là tay MÌNH (in nghiêng trong sách).” Tự nhiên, Suggs đưa tay sờ lên ngực: Tim mình đập. Ðây là nhịp đập của trái tim CỦA MÌNH.

Trở thành một con người tự do, ông chủ đưa tới gặp hai người da trắng chuyên giúp đỡ các nô lệ được giải phóng, Suggs được họ giới thiệu đi làm phụ bếp ở một quán ăn. Ðược trả lương. Ðây là một điều hoàn toàn mới lạ đối với một người từng làm thân nô lệ: Làm việc, rồi được trả lương! Suggs dành dụm tiền bạc, nuôi ba đứa cháu, và khi có thời giờ thì giúp đỡ người khác. Bà trở thành một bà mẹ của bao nhiêu người da đen tự do khác. Ngôi nhà bà trở thành nơi người ta đến xin bà cố vấn, hoặc họ tới chỉ để gặp gỡ trò chuyện với nhau, nhắn tin cho những người ở xa. Ngôi nhà trở thành nơi che chở, giấu diếm và nuôi nấng những người nô lệ trốn chủ từ xa tới. Bà trở thành một cột trụ của “cộng đồng” da đen trong làng, trở thành một người giảng đạo vào những chiều Chủ Nhật, mặc dù không có nhà thờ mà Suggs cũng không biết đọc để học Thánh Kinh.

Một con người có thể hoàn toàn thay đổi, tự tạo một nhân phẩm cho chính mình, khi hoàn cảnh sống thay đổi. Những người bị đối đãi như súc vật thì dần dần có thể cũng sống theo lối cầm thú. Một người tự do, tự ý thức được giá trị của mình, thì sẽ trở nên một con người có giá trị.

Tại sao người ta đi ăn cướp hoa? Chúng ta có thể tự hỏi, chính mình có thể có lúc cũng xúm lại giành giật mấy cành hoa, mấy bông hoa trong hội chợ hay không? Hoàn cảnh nào có thể đưa mình tới những hành động ăn cướp như vậy? Khi nào thì chúng ta giữ được ý thức đạo đức, và khi nào thì bỗng dưng chính mình lại cư xử như kẻ bất lương? Khi nào thì chúng ta cảm thấy mình là người có giá trị, có phẩm cách, và khi nào thì bỗng dưng không cần nghĩ tới tư cách, đến giá trị của mình nữa?

Tại sao người dân ở ngoại ô Montréal không bẻ trộm hoa trong công viên, ở ngoại ô Bangkok không lấy trộm chậu kiểng trong ngõ hẻm? Tại sao người Thụy Sĩ tin nhau đến mức không cần trông coi cửa hàng bán hoa, bán sữa? Khi dậy học ở Montréal tôi gặp mấy sinh viên người Mã Lai, họ cũng khoe ở vùng quê xứ họ có những quầy bán trái cây bên đường không cần người trông coi, giống như vậy.

Những câu hỏi trên đây nêu ra chỉ để cùng suy nghĩ. Chúng ta đều biết có câu trả lời, nhưng chỉ khi nào cả xã hội cùng tự vấn, tự tra hỏi, thì mới tìm được những câu trả lời thiết thực. Nhiều người cho là cảnh các bạn trẻ cướp hoa xẩy ra là tại thiếu giáo dục gia đình. Nhiều người cho là vì nhà trường đã xuống dốc. Nhưng vì đâu mà cả gia đình lẫn học đường đều thất bại? Phải nhìn vào toàn cảnh xã hội nước ta. Như Giáo Sư Hoàng Tụy mới nhận xét về giáo dục trên tạp chí Tia Sáng vào Tháng Mười năm 2009:

“...Muốn lay chuyển tình hình phải thừa nhận nguyên nhân chủ yếu, nguyên nhân của mọi nguyên nhân, đó là lãnh đạo, quản lý bất cập, bất cập cả tâm lẫn tầm và từ trên xuống dưới.”

Posted: Wed Jan 13, 2010 6:45 am
by khieulong
Công nhân VN đang là nô lệ thời đại mới trên đất Malaysia

XIN MỞ LÒNG QUẢNG ĐẠI ĐỂ LIÊN ĐỚI VỚI CÁC NÔ LỆ THỜI ĐẠI MỚI
TRÊN ĐẤT MALAYSIA

Tôi là linh mục Trương văn Phúc, S.J., thuộc Tỉnh Dòng Tên Việt Nam.
Nhân dịp tôi được sai đến đất Malaysia để chăm sóc mục vụ cho các công nhân người công giáo và đồng thời cũng tìm cách liên đới với tất cả các công nhân Việt nam đang làm việc tại Địa Phận Melaka - Johor. Tôi đã đi thăm nhiều nơi làm việc, nơi ở và cả nhà tù nơi giam giữ những người Việtnam một cách bất công. Dưới đây, tôi xin chia sẻ một vài điều mắt thấy tai nghe với mong ước xin quý vị, vì tình đồng bào Việt Nam, hãy mở rộng lòng quảng đại để liên đới với các công nhân nhân Việt nam, “ những nô lệ thời đại mới”, trên đất Malaysia.

Ngày 06.03.09
Tôi đến thăm nhóm công nhân ở Masai, Johor Bahru, chị Nguyễn Thị Loan, đến từ vùng Phương Lâm - Đồng Nai, đang làm việc cho công ty Điện ôtô, cho biết: đã mấy tháng trôi qua rồi, mỗi tuần công nhân của nhả máy nơi chị đang làm việc chỉ được làm việc có 1 hoặc 2 ngày thôi. Công ty hiện đang không có việc làm. Những ngày không đi làm việc, các chị không được phép đi đâu cả, vì nhóm quản lý, cũng là nhóm môi giới, đã giữ tất cả các giấy tờ tùy thân của các chị hầu các chị không thể tìm việc làm nơi khác. Các chị xin họ giải quyết cho về nước nhưng không được chấp nhận.

Ngày 07.03.09
Tôi gặp gỡ các bạn công nhân ở Plentong, Johor Bahru. em Hải, một công nhân đến từ vùng Bắc Cạn, đang làm việc cho công ty Venture cho biết, cứ mổi lần các nữ công nhân có việc đi đâu đó về sau 10 giờ tối, thì ông bảo vệ block nhà trọ lại ép các cô phải ngũ với ông với lập luận xàm sở: “ mày đi ngủ với bạn trai được thì mày cũng ngủ với tao được, vì tao cũng là đàn ông vậy”. Hải cũng cho biết hôm gần tết vừa rồi, có một nữ công nhân bị mệt đang khi làm việc, cô này được người quản lý sản xuất đưa vào nhà vệ sinh để ngồi nghỉ ở đó. Thế nhưng, vì thấy lâu không quay trở lại làm việc nên người quản lý nay cửa nhà vệ sinh vào gọi. Khi cửa nhà vệ sinh mở ra thì thấy cô ta đã chết trong nhà vệ sinh.

Ngày 08.03.09
Tôi đến thăm nhóm công nhân vùng Krupong, Melaka. Giang, một cô gái đến từ Phú Thọ, cho biết: cô và các bạn trong nhóm bị bán cho các nơi làm việc đến 2 lần rồi. Lúc còn ở Việt nam, các cô ký hợp đồng làm việc cho một nơi, nhưng qua đến Malaysia, các cô bị đưa tới làm việc moat nơi khác. Chủ hợp đồng củ đã bán các cô cho một công ty khác để kiếm lời. Giang cũng cho biết, khi đến làm việc, nếu ai đó không làm được việc như chủ mong muốn, thì họ bị trả về cho chủ môi giới. Ở đó, họ bị nhốt không cho ăn, bị đánh đập, bị uy hiếp, được răn bảo đôi điều và sau đó là được bán trở lại cho moat công ty khác. Theo những người bạn của Giang cho biết, có ít nhất 2 trường hợp nữ công nhân Việt Nam bị bán làm người giúp việc nhà và cũng là vợ bé của gia đình người Malaysia. Họ gặp các chị này ở chợ, đang khi các chị gánh trái cây đi bán hàng rong. bên cạnh các chị có một người vừa canh gác vừa thu tiền. Hiện các chị đã có con với người Malaysia nhưng chỉ là người giúp việc nhà không được phép liên lạc với bất cứ người Việt nam nào.

Ngày 09.03.09
Báo chí Malaysia đưa tin: tại vùng Penang, cảnh sát đã nổ súng bắn chết 5 người Việt Nam bị nghi là cướp có vũ trang.
Thưởng, một công nhân đang làm việc ở Melaka đến thăm tôi và kể cho tôi nghe tình hình hiện tại của khá nhiều công nhân Việt Nam ở vùng Melaka. Họ chỉ thu nhập hàng tháng được từ 150 RM đến 250 RM ( # 50 - 70 USD), do chỉ có việc làm mỗi tuần được 3 buổi và mỗi buổi chỉ 8 giờ. Họ phải làm việc ăn lương theo số sản phẩm, nên càng ít việc họ càng ít thu nhập. Tuy thu nhập của họ đã quá thấp, vậy mà mỗi tháng họ còn bị những người môi giới thu 100 RM. Do vậy, tình trạng sống của họ nay đã đến mức bần cùng. Nhiều tháng qua, họ không đủ tiền sống chứ chưa nói đến có một chút gởi về phụ giúp gia đình.
Những người bạn của Thưởng kể cho tôi nghe chuyện họ đình công đòi công ty phải tìm việc làm cho công nhân. Công ty đã gọi Đại Sứ Quán Việt nam đến để đối thọai giải quyết. Sau khi nhóm Đại Sứ Quán ra về, tất cả những người có tên trong danh sách nhóm đình công hôm đó đều bị công ty phạt 500 RM trừ vào lương của họ. Thật là bất công và đau xót!

Ngày 11.03.09
Tôi đến thăm các bạn công nhân thuộc công ty Konica vùng ngọai ô Melaka. Bích, một bà mẹ trẻ đến từ Nghệ An, cho biết: hơn một tháng nay nhóm của cô cứ bị công ty hẹn đến 4 lần rồi sẽ có việc cho các cô làm. Thế nhưng đến giờ này thì vẫn thất nghiệp. Bích may mắn vì công ty Konica cho mỗi công nhân 200 RM như một khỏang phụ cấp thất nghiệp.
Tôi được chị Vi, một bà mẹ luống tuổi vùng Hương Sơn - Hà Tĩnh, kể về tình trạng của mình: Chị đến đây qua trung gian môi giới. Công ty của chị chẳng bao lâu sau khi chị đến làm việc thì bị phá sản. Chị bị môi giới nhốt, không cho đi làm ở bất cứ nơi đâu vì lý do chưa tìm được nơi làm việc mới cho chị. Bây giờ chị mới mượn được tiền của bạn bè để đóng cho môi giới 1700 RM hầu để có thể có tự do ra ngòai kiếm việc. Chị hiện tại đi lau dọn nhà cho các gia đình gần nơi chị ở với ao ước có đủ tiền trả nợ và mua vé máy bay về nước. Chia sẻ với tôi, chị bảo: “ Họ ác lắm em ơi! Aùc không tưởng tượng được!”

Ngày 14.03.09
Tôi đi thăm nhóm công nhân vùng Saleng. Lành. cô gái trẻ của vùng Lộc Mỹ - Nghệ An cho biết: cô đã sống nhờ bè bạn giúp đến nay là 3 tháng rồi. Cô bị thất nghiệp do công ty không có việc làm. Các cô không được phép đi đâu cả, và cũng không được giải quyết để tìm việc nơi khác hoặc là cho về nước. Các cô mong sao sớm có việc làm để có cơm an hằng ngày.

Ngày 15.03.09
Tôi đến thăm vùng Ulu Tiram, nơi vừa xảy ra nhiều vụ cướp liên tục tuần vừa qua. Tôi đã gặp 56 bà mẹ nông dân chân chất đến từ Hải Dương, Nghệ An, Hà Tĩnh, đang hoang mang trong nước mắt. Tối hôm 11.03.09 vừa qua, nhà của họ bị nhóm cướp 10 tên xông vào nhà khống chế và cướp đi tất cả những gì họ có: tiền bạc, điện thọai, thẻ ngân hàng… Chúng tôi có mang theo 100 Kg gạo và 120 gói mì gói để bày tỏ tình liên đới với họ, nhưng chừng đó thì thấm vào đâu so với nổi đau mật mát của họ. Do tình hình khủng hỏang kinh tế tòan cầu, nhiều công nhân bi thất nghiệp đã liều mình đi cướp của người khác. Họ làm thành những nhóm hổn hợp Ấn-Indonesia- Việtnam. Thường họ nhắm tấn công các nhà của những người không biết nói tiếng Malaysia hoặc tiếng Anh hòng để không biết báo cho cảnh sát kịp thời. Tôi cũng được biết tuần vừa qua ở Tanjong Lansat, các nhóm cướp cũng đã tấn công và rất nhiều người Việt nam trở thành nạn nhân đang cần được sự giúp đỡ.

Ngày 16.03.09
Ông John Foo, một tình nguyện viên giúp công nhân Việtnam ở Majodi Center đưa tôi đến thăm một gia đình người tàu địa phương. Tôi đến đó để cám ơn gia đình này vì vừa qua họ đã giúp 2 chiếc quan tài để chôn 2 người công nhân Việtnam xấu số, chết trong một giấc ngũ đêm sau khi làm việc tăng ca quá tải. Dạo này một số công ty, như công ty Venture … ép công nhân làm việc đôi lúc không cho nghĩ ăn trưa. Một số công ty còn lấy lý do tiết kiệm điện nên không cho chay quạt thông gió khi các công nhân làm việc. Do vậy, các công nhân bị ngộp và dẫn đến tình trạng tử vong là tất yếu. Khi các công nhân tử vong trong nhà máy thì công ty còn bồi thường chút ít, nhưng khi họ tử vong ở nhà thì công ty hòan tòan phủi tay, không hề bày tỏ liên đới chút nào.

Ông John Foo cũng đem tôi đến gặp chị Phạm Thị Kim Tuyến, một bà mẹ trẻ đến từ Thạnh Phú - Bến Tre. Đây là người mà ông John Foo vừa dùng mưu kế để giúp chị thóat khỏi nhà của ông Jame đang giam giữ chị một cách phi nhân. Chị Tuyến được công ty môi giới Sona tại Sài gòn do ông Trường làm giám đốc đưa đi làm công nhân lại Malaysia vào ngày 20/8/2007. Đến Malaysia, chị được công ty môi giới của ông Jame ( ở vùng Putri Wangse) tiếp nhận. Sau đó, công ty môi giới này đưa chị đi làm ở công ty Sinco. Lương của chị bị môi giới ăn chặn đến 50%. Từ tháng 11/2008 đến nay, chị trở bệnh. Công ty môi giới đã đưa đi khám sức khõe đến 5 lần và kết quả là chị bị suy tim, rối loan chức năng nhiều bộ phận nội tạng. Theo chị cho biết ông Jame đã gọi chị đến văn phòng để lo thủ tục về nước, nhưng khi chi lên văn phòng thì chị bị nhốt chung với chừng 20 người khác trong một căn nhà do vợ ông Jame làm quản giáo. Mấy tháng trôi qua, chị chỉ được ăn mỗi ngày một bữa. Một số người Việt Nam biết nơi này và thỉnh thỏang có tiếp tế cháo cho chị. Cách nay gần một tuần, do nhờ một cuộc đột nhập khám xét nhà của cảnh sát, vợ của ông Jame mới cho nhóm bị nhốt này chuyển sang công việc “ đục tường nhà” như là một trá hình tránh cảnh sát. Chị đã liên lạc được với chị Hồng làm phiên dịch cho cảnh sát địa phương sắp xếp cho chị chạy thoát. May thay, chị Hồng biết ông John Foo và nhờ ông đưa xe đến gần ngôi nhà ấy để chị Tuyết vượt ra cửa là đón ngay. Cuộc vượt ngục thành công. Hiện chị Tuyến đang ở với nhóm công nhân Việtnam ở địa chỉ: No. 7, Jalan Batik 8, Taman Putri Wangse, Ulu Tiram. Chi rất cần được giúp đỡ để có thể về nước trước khi bị nhóm ông Jame lùng bắt trở lại

Ngày 17.03.09
Tôi đến thăm trại tù Pekan Nanes ở địa chỉ 81500 Ponian Johor. Ở đó tôi biết có 57 trường hợp các công nhân Việt nam đang bị giam giữ. Họ vào đây vì không có giấy tờ tùy thân khi đi trên đường. Các công nhân việt nam đến làm việc ở Malaysia đều bị môi giới giữ hết giấy tờ tùy thân. Họ chỉ có một giấy do công ty cấp cho, với giới hạn đi lại trong một vùng nào đó có nhà máy họat động. Chính vì vậy, trong trường hợp họ ra khỏi vùng cho phép, họ sẽ bị bắt vì giấy tờ không hơp lệ. Đến đó, tôi trao một chút quà liên đới với các tù nhân. Tôi cũng được phép gặp một số trường hợp đặc biệt, đó là những trường hợp bị nhốt từ 7 đến 9 tháng không người đến thăm nuôi giúp đở. Trong số những trường hợp này, tôi đã gặp 8 bà mẹ đáng thương:1/ chị Quách Thị Hằng, số tù: 2531.08, 38 tuổi, đến từ hải Dương, bị nhốt ở nay 9 tháng rồi, với tội trạng: lãnh đạo nhóm công nhân đòi tăng lương. Theo chị kể: nhóm chị làm ca đêm mỗi giờ được trả 7 RM nhưng môi giới ăn chặn 5 RM, chỉ trả cho các chị 2 RM mà thôi. Do chị biết một chút tiếng Malaysia, nên chị em nhờ chị viết thư lên công ty. Chị đã bị công ty môi giới lừa và đem nộp cho cảnh sát với lý do không có giấy tờ tùy thân; 2/ Chị Nguyễn Thị Nga, số tù 474.09, 31 tuổi, đến từ Tân Kỳ - Nghệ An, do công ty May của chị bị phá sản, chị trốn chủ môi giới để đi phụ bán quán với mong ước kiếm tiền đủ trả nợ 27.000.000 VNĐ chi phí cho thủ tuc chị đi xuất khâu lao động. Chị bị bắt chẳng bao lâu sau khi trốn khỏi nhà của nhóm môi giới; 3/ chị Hà Thị Dinh, số tù 68.09; 4/ chị Hà Thị Nga, số tù 645.09; 5/ chị Hà Thị Hoa, số tù 646.09. nay là ba bà mẹ true đên từ Phú Thọ, cùng làm công ty may, cùng bị thất nghiệp, cùng trốn, cùng bị bắt khi chưa tìm được việc làm. 3 trường hợp khác:6/ chị Dương Hồng Hạnh; 7/ chị Lê Thị Ngọc; và 8/ chị Đinh Thị Hạnh, số tù 115.09, đều là những người bị bắt trong khi lang thang tìm việc làm do công ty của họ bị phá sản. Theo luật hơp đồng, khi công ty phá sản thi công ty phải trả chi phí vé may bay cho các công nhân về nước. Thế nhưng các công ty ở Malaysia lại mua công nhân từ các môi giới lao động nên họ không chịu trách nhiệm chi trả trong các khỏang này. Hiện nay 8 bà mẹ trong tù này đang sống trong những ngày không có niềm hy vọng. Họ không có bạn bè, thân quen trên đất Malaysia. Họ cho tôi số điện thoại ở gia đình của họ tại Việtnam. Tôi đã liên lạc với gia đình họ và cũng không sao giải quyết được, vì gia đình họ nghèo quá. Tôi có hỏi khỏan chi phí cho mọi thủ tục, kể cả vé máy bay cho một trường hợp từ trong tù về ViệtNam, và được cảnh sát cho biết: mỗi trường hợp mất chừng 1000 RM ( # 300 USD hoặc # 450 SGD). Mong sao các bà mẹ này sớm có người rộng lòng giúp đỡ, để họ sớm đạt ước nguyện đòan tụ với gia đình sau những tháng ngày dài thất vọng trong lao tù.

Còn quá nhiều điều thương tâm đã, đang và sẻ xảy ra cho người công nhân nghèo trên đất Malaysia mà tôi không sao tả hết được. Tôi chỉ biết rõ một điều: những gì tôi kể cho quy vị trên nay chỉ là một vài trường hợp mà tôi được dịp chứng kiến bằng mắt thấy tai nghe. Lòng tôi quặn đau khi thấy người Việt của mình bị bán làm nô lệ, bị trở thành những nạn nhân của bất công. Tôi muốn liên đới với họ, và chắc chắm cũng muốn quý vị rông lòng liên đới với họ. Những chia sẻ của quy vị sẽ phần nào thoa dịu nỗi khổ đau của những anh chị em này, hay ít là góp phần đem lại tự do cho một vài bà mẹ trẻ đáng thương đang ngồi trong lao tù. Theo tôi được biết hiện đang có chừng 130.000 công nhân Việt nam đang làm việc ở Malaysia, trong số này có chừng 30.000 công nhân đang thất nghiệp do ảnh hưởng khủng hỏang kinh tế tòan cầu.Tôi cầu nguyện xin Chúa - Trời chúc phúc cho những tấm long hảo tâm của quý vị qua việc bày tỏ tình liên đới bằng cách này hay cách khác cho những người nghèo Việtnam trên đất Malaysia.
Vai dòng chia sẻ với quý vị. Tôi mong có dịp sẻ kể thêm những gì mình chứng kiến về nổi khổ của người Việt Nam trên đất Malaysia.

Malaysia ngày 18.03.2009
LM. Trương Văn Phúc, S.J.

Posted: Fri Jan 15, 2010 6:26 am
by quaichao
Chế độ côn đồ

Ngô Nhân Dụng
Lực lượng vũ trang của chế độ Cộng Sản Việt Nam đã chọn lúc 2 giờ sáng ngày 6 Tháng Giêng năm 2010 để triệt hạ một cây Thập Tự Giá do đồng bào Công Giáo Ðồng Chiêm dựng lên trên núi, cũng giống như tấn công trong lúc đang đình chiến nhân ngày Tết. Theo một bản tin của đồng bào Thiên Chúa Giáo, chế độ đã huy động từ 500 đến một ngàn người, gồm công an và cảnh sát và tay sai, với súng ống, dùi cui, lựu đạn cay, mang theo cả chó công an chuyên nghiệp, bao vây phong tỏa giáo xứ Ðồng Chiêm, chặn tất cả các lối đi và khu vực Núi Thờ rồi bắt đầu triệt hạ và đập nát Thánh Giá.

Người không từng sống trong chế độ Cộng Sản thì không thể hiểu được một chính quyền có thể sử dụng bạo lực làm những hành động bất xứng như vậy đối một biểu tượng của tôn giáo. Nhất là sau khi những người đứng đầu chế độ đó như Nguyễn Minh Triết và Nguyễn Tấn Dũng đã tới La Mã bệ kiến Ðức Giáo Hoàng để chuẩn bị tái lập bang giao với Tòa Thánh Vatican.

Nhưng ai đã có kinh nghiệm sống với Cộng Sản Việt Nam thì hiểu. Ðây là một đảng cầm quyền không những vẫn coi các tôn giáo là kẻ thù giống như các chế độ Cộng Sản khác, mà còn thêm một đặc tính nữa là xưa nay họ vẫn quen dùng các thủ đoạn côn đồ với bất cứ người nào không tuân theo chính sách của đảng.

Hành động của chế độ Cộng Sản đập phá Thánh Giá trên ngọn núi chôn các ngôi mộ trong đó có những người theo đạo là một hành động vô luân không xã hội văn minh nào chấp nhận. Nhưng đó là một lối cư xử quen thuộc của một chế độ côn đồ, vì nó cũng không khác gì việc chính quyền Cộng Sản Việt Nam yêu cầu các chính quyền Mã Lai, Indonesia đục, phá những tấm bia tưởng niệm các thuyền nhân thiệt mạng trên con đường vượt biển để chạy trốn chế độ Cộng Sản. Rất may là các người lãnh đạo tại các nước Ðông Nam Á này vẫn còn có tình người và còn biết giữ gìn, tôn kính những giá trị của nền văn minh của nhân loại, cho nên đã họ cho phục hồi lại những tấm bia sau khi người tị nạn Việt Nam ở các nơi lên tiếng phản đối.

Khi giáo dân Ðồng Chiêm yêu cầu những kẻ căm thù tôn giáo hãy ngừng tay lại, đồng bào đã bị công an cảnh sát ném lựu đạn cay, một số đã bị đánh đập tàn nhẫn, hai người vốn là thương binh từng phục vụ cho chế độ đã bị bắt. Công an còn đổ tội cho một người “mang ma túy trên xe” giống như các hào lý thời Pháp thuộc bỏ rượu lậu vào vườn, ruộng người khác rồi đi tố cáo! Hành vi côn đồ của chế độ vẫn tiếp tục: Chính quyền đã bất chấp luật pháp, bất chấp tính người lắp thêm hàng loạt loa vào bốn phía nhà thờ, cứ suốt ngày ra rả để quấy nhiễu người dân ngay trong giấc ngủ! Buổi trưa ngày 11 Tháng Giêng 2010 một chiếc xe chở giáo dân đỗ ngoài cánh đồng lò gạch đã bị xịt hết hơi hai lốp trước. Trên thế giới ít có một chính quyền nào đối xử với dân của mình theo lối bần tiện, tiểu nhân như thế.

Nhưng đó là một đường lối “trước sau như một” của các chế độ bạo tàn. Kinh nghiệm đã cho thấy khi các tay công an tư tưởng, văn hóa của chế độ Cộng Sản không đủ lý lẽ để đối phó họ đã đóng vai côn đồ để đàn áp những người kêu gọi dân chủ cho nước Việt Nam, như các ông Phạm Quế Dương, Hoàng Minh Chính, Nguyễn Văn Ðài, các bà Lê Thị Công Nhân, Trần Khải Thanh Thủy, Hồ Thị Bích Khương, vân vân. Côn đồ luôn luôn là một cánh tay đắc lực, một công cụ cần thiết của chế độ.

Một chế độ quen sử dụng côn đồ, cuối cùng chính họ cũng cư xử như côn đồ, cuối cùng sẽ trở thành côn đồ. Chính sách côn đồ của Cộng Sản Việt Nam cũng không khác gì những chế độ độc tài tàn bạo khác ở Congo hay Tân Cương; nhưng điều nguy hiểm cho cả xã hội ta là những hành động côn đồ đó lại được chế độ biện minh một cách trâng tráo. Họ sẵn sàng chối bỏ những sự thật hiển nhiên về tội lỗi do họ gây ra, mà không mảy may tỏ ra là biết xấu hổ.

Chính những thái độ trâng tráo đó gây tai hại cho nền tảng đạo lý của cả xã hội. Sau khi sống dưới một chế độ tàn bạo mà không biết xấu hổ, sẵn sàng gọi trắng là đen, đen là trắng, bất chấp sự thật; miệng nói chống tham nhũng, tay thò ra đòi tiền hối lộ; kinh nghiệm sống đó khiến cho nhiều người từ người lớn đến trẻ em, sau khi phải chứng kiến cảnh tượng đó lâu ngày cũng sẽ nhiễm thói quen đối xử với nhau như côn đồ và dần dần cũng tập thói quen sống trâng tráo không còn phân biệt thiện và ác nữa. Nền tảng đạo lý của cả xã hội bị phá nát.

Khi có những thanh niên Hà Nội cướp hoa trong những kỳ hội chợ Hoa Anh Ðào, năm này sang năm khác, chúng ta biết rằng các bạn trẻ này sinh ra hư hỏng không phải vì bản tính họ, không phải vì gia đình thiếu giáo dục; lý do chính là vì họ phải sống trong một hoàn cảnh xã hội nhiều thứ xấu quá. Không cần phải nói, ai cũng biết hoàn cảnh xấu đó là do chế độ Cộng Sản tạo ra. Như Soljenitsyn đã nhận xét, một chế độ dùng bạo lực áp bức người dân bao giờ cũng phải kèm theo một guồng máy dối trá để trốn tránh trách nhiệm, để vu oan giá họa cho những người không đồng ý kiến và không chịu khuất phục.

Ðồng bào giáo dân ở Ðồng Chiêm và các nơi khác trong vùng Hà Nội đã tới nhà thờ cầu nguyện, đầu chít khăn tang. Họ để tang cho cả nền đạo lý của đất nước đang bị chế độ Cộng Sản giết chết dần mòn.

Khi đọc bài giảng của Linh Mục Phạm Minh Triều nói với giáo dân xứ Ðồng Chiêm sau khi cây Thánh Giá bị công an côn đồ đập phá, chúng ta có thể biết trong xã hội Việt Nam vẫn có cái Thiện, khác với cái Ác mà chế độ là tiêu biểu. Vị linh mục nói, “Khi mà quyền lực bóng tối đã bao phủ thì chúng không còn cơ hội để nhìn ra ánh sáng.

Nhưng chúng ta không chống đối. Chúng ta không cầu nguyện để rồi Chúa làm cho những con người đã đập Thánh Giá của Chúa phải chết một cách bất ưng hoặc là gặp sự khốn khó. Ðức Tin Công Giáo của chúng ta không cho phép chúng ta làm điều ấy.”

Toàn thể các linh mục Tổng Giáo Phận Hà Nội tham dự kỳ tĩnh tâm tháng tại Tòa Giám Mục đã lên đường tới giáo xứ Ðồng Chiêm để chia sẻ cảnh tang tóc với giáo dân tại đây. Một bản tin viết: Vành khăn tang trắng xóa chít chặt mọi mái đầu từ già đến trẻ.

Cây Thánh Giá bằng tre được dựng vội tại hiện trường với cờ tang ủ rũ, những nén nhang cháy dở, là dấu tích của các hành động đàn áp.

Linh Mục Phạm Minh Triều đặt câu hỏi: “Tại sao không đi ra biên giới phương Bắc mà đòi hải đảo Hoàng Sa đang bị Trung Quốc mở các tour du lịch, lấn chiếm; rồi các ngư dân của chúng ta đang bị đánh đập. Tại sao lại đi đàn áp tôn giáo từ Thái Hà, Tòa Khâm Sứ, rồi xứ Loan Lý, rồi Tam Tòa? Không chỉ Công Giáo, rồi còn chùa Bát Nhã nữa.”

Những gì công an côn đồ Cộng Sản đang làm ở Ðồng Chiêm, tháng trước họ đã diễn cùng một vở tuồng đó ở Bảo Lộc. Cũng dùng đám côn đồ quấy nhiễu (thuê 200 ngàn một ngày, theo lời một chị được thuê từ ngoài Bắc vào Bảo Lộc, chị nói thực với một ni cô). Cũng những ống loa gây ô nhiễm không khí thanh tịnh của nơi tu hành. Và sau 3 tháng, chế độ Cộng Sản đã đạt được mục tiêu: Giải tán 400 tăng ni Bát Nhã, buộc Thượng Tọa Thái Tuận chùa Phước Huệ gạt nước mắt tiễn các đứa con tinh thần của mình ra khỏi chùa. Và chế độ Cộng Sản vẫn giữ thái độ trâng tráo, chối biến trách nhiệm của họ!

Phó trưởng ban thường trực Ban Tôn giáo Chính phủ là Nguyễn Thanh Xuân đã mở một cuộc họp báo quốc tế ở Hà Nội chiều ngày 11 Tháng Giêng để “cung cấp thông tin chính thức” về thành tích phá tan tăng đoàn Bát Nhã của đảng Cộng sản. Ai không sống trong chế độ cộng sản thì không thể hiểu được cảnh tượng một viên chức chính quyền trâng tráo nói trái sự thật một cách tự nhiên như vậy! Những người có liêm sỉ không thể nào hiểu nổi tại sao đến bay giờ chính quyền còn có thể nói rằng các tăng ni Bát Nhã đã “tự nguyện rời khỏi chùa Phước Huệ, chính quyền chưa rõ họ trở về địa phương ra sao.”

Cùng một giọng điệu đó, ông Nguyễn Ngọc Ðông, phó chủ tịch Lâm Ðồng giải thích rằng các “Phật tử thị xã Bảo Lộc và các tăng sĩ tại chùa Phước Huệ” đã “yêu cầu tu sinh rời về địa phương theo ý kiến của GHPGVN.” Tất cả những người có mắt, có tai đều biết đó là những lời dối trá. Ðồng bào Phật tử không ai đang tâm chống các tăng ni đã chọn con đường chỉ biết tu tập để cứu độ chúng sinh. Nếu không có đám công an và đám côn đồ do họ thuê mướn đến quấy phá, làm áp lực, thì chùa Phước Huệ không nỡ lòng nào để các vị tăng ni đó ra đi.

Chế độ Cộng Sản đã chối bỏ trách nhiệm, và tiếp tục nói dối. Họ không dám nhận là chính họ quyết tâm phá không cho các tăng ni Bát Nhã tu tập ở cùng một nơi. Họ vẫn dùng luận điệu gian dối cũ khi giải thích, “Ðây là va chạm giữa các môn phái tôn giáo.” Họ tiếp tục nói dối khi “khẳng định chính quyền địa phương không gây bất cứ sức ép nào đối với các tu sinh.” Tất cả là những lời dối trá.

Linh Mục Phạm Minh Triều nhận xét: “Một tổ chức, một chính quyền nào mà xúc phạm đến biểu tượng tôn giáo thì chính quyền đó đang đi dần vào sự tự sát!” Linh Mục chỉ nói đến một chế độ tự sát, ông không có ý nói đến những con người nắm giữ chế độ đó. Ông đã kêu gọi các giáo dân hãy cầu nguyện cho cả những người đến đập phá Thánh Giá và đánh người ta. Tất cả chúng ta có thể chia sẻ những lời cầu nguyện này. Cầu nguyện cho những người đang đóng vai côn đồ sẽ nhìn thấy hành động của họ là sai lầm mà sửa đổi đi. Cầu cho những quen người nói dối sẽ tỉnh ngộ, thấy việc nói dối đó vô ích và từ nay không tiếp tục nữa. Hai điều nguyện này đạt được thì đó là đại phúc cho nước Việt Nam. Khi đồng bào chúng ta được sống trong một chế độ biết kính trọng tín ngưỡng của dân, biết tôn trọng sự thật, thì nền tảng đạo lý của dân tộc có thể bắt đầu được khôi phục.

Posted: Sun Jan 17, 2010 4:03 am
by vuphong
Gọi lại tên chế độ côn đồ

Ngô Nhân Dụng
Sau bài “Chế Ðộ Côn Ðồ” trên báo Người Việt đầu tuần này, một số độc giả đã góp ý kiến. Người viết bao giờ cũng cảm ơn quý vị đã đọc báo, đặc biệt là biết ơn quý vị đã bỏ công viết mấy lời bày tỏ ý kiến.

Trong số các bức thư phản hồi về bài này, chúng tôi xin trích đăng lại một bức thư sau đây, vì thấy có nhiều ngộ nhận cần bàn lại. Những ngộ nhận này không phải chỉ hiểu lầm riêng về bài “Chế Ðộ Côn Ðồ” mà liên hệ tới nhiều vấn đề khác, rất đáng làm cho rõ ràng, sáng tỏ hơn.

Lá thư của một độc giả ký tên Thanh, ngày 12 Tháng Giêng, năm 2010, viết như sau: “Tôi không hiểu sao lại có bài viết quá hằn học như thế này, nơi tôi ở có nhiều tôn giáo sinh sống trong đó có cả người Công Giáo, họ sống hòa thuận, vui vẻ và đi cầu nguyện theo ý mình mà không có bất kỳ một xem xét nào của chính quyền địa phương. Tôi dám khẳng định những nơi tôi đã đi thì tự do tôn giáo thật tốt đẹp như địa phận Hải Phòng, Ðức Cha Thiên quản, các giáo xứ đều thấy vô cùng thỏa mái bày tỏ ý nguyện của mình trong nhà chung và trò chuyện với các linh mục, không hề thấy có chuyện nào bị ngăn cản mà chỉ thấy mình cần làm tốt hơn các việc xã hội để mọi người cùng chung sống vui vẻ và hạnh phúc. Như nhận thức của tôi người viết bài viết “Chế Ðộ Côn Ðồ” không phải vì tôn giáo mà vì mục tiêu chính trị nằm trong các tôn giáo, như vậy thì chẳng nên chút nào vì tuyệt đại da số người dân trong đó có người dân các tôn giáo khác nhau đã đổ máu để xây dựng nên chế độ này và đang được hưởng thành quả tốt đẹp của nó, không thể vì một vài khúc mắc nhỏ lại được nêu lên như một sự kiện chính trị để lật đổ xã hội và là kẻ làm nô lệ cho kẻ khác thống trị được. Mong tác giả bình tĩnh và kiềm chế tư tưởng trước khi viết bài tương tự.” Ký tên: Thanh.

Người viết rất kính trọng quyền phát biểu với thiện chí. Ðáng lẽ có thể viết thư riêng để trả lời nhưng chúng tôi e ngại rằng nhiều vị có thể cũng chia sẻ những ý kiến trên dù không nói ra, cho nên xin giãi bày chung ở đây để tránh những hiểu lầm có hại chung.

Ðiều đầu tiên nên bàn cho rõ là vấn đề tự do tôn giáo. Tác giả bức thư cho biết ông đã trông thấy những giáo dân đi lễ không bị ngăn cản, họ bày tỏ ý kiến thoải mái, từ đó ông kết luận rằng, “Tôi khẳng định những nơi tôi đã đi thì tự do tôn giáo thật tốt đẹp.”

Ðây là lối suy luận theo phương pháp quy nạp, nghe có vẻ hợp lý nhưng không đúng tinh thần khoa học. Bởi vì tự do không có nghĩa là người ta được phép làm cái gì, mà là có ai bị ngăn trở, bị cấm đoán hay không (Isaiah Berlin đã bàn trong bài “Hai khái niệm về tự do” - Two Concepts of Liberty, năm 1958). Dù chỉ một người bị cấm đoán, mất tự do vì bị cưỡng chế, thì xã hội không có tự do.

Thí dụ, chúng ta biết các nhà văn ở Việt Nam không được tự do. Người ta có thể đưa bạn tới các tiệm sách, chỉ cho thấy hàng ngàn cuốn sách vẫn được bày bán, cả nước có 600 tờ báo, để chứng tỏ rằng nước Việt Nam có tự do phát biểu, tự do sáng tác. Nhưng hỏi nhà văn Bùi Ngọc Tấn thì biết, tiểu thuyết của ông in ra là bị thu hồi, sau đó muốn xuất bản phải sửa bản thảo theo yêu cầu của nhà nước. Sách của Dương Thu Hương có được xuất bản tự do ở Việt Nam hay không? Lại hỏi các nhà báo trong nước đang làm việc, xem khi viết thì họ phải nghe những mệnh lệnh của ai, những điều gì bị cấm không được nhắc tới. Chỉ kể vài thí dụ đó thôi, tự nhiên, ai cũng hiểu là các người viết văn, viết báo ở nước ta không có tự do.

Muốn biết tôn giáo ở nước ta có được tự do hay không thì không nên căn cứ vào những buổi lễ có hàng chục ngàn người tham dự. Nó cũng giống hàng ngàn cuốn sách, hàng trăm tờ báo đang được bày bán. Phải hỏi Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ có được tự do đi thăm các ngôi chùa thuộc giáo hội của ngài hay không? Hãy hỏi các tăng ni Tu viện Bát Nhã, xem họ có được tự do tu học với nhau hay không? Tại sao họ bị cấm cản, xua đuổi để lâm vào cảnh tan đàn sẻ nghé?

Còn một vấn đề quan trọng nữa, là lời khẳng định của vị độc giả trên lại thiếu tính chất khoa học. Cần biết cách suy luận khoa học như thế nào, thì chúng ta hiểu tại sao lời khẳng định trên là một thứ sai lầm rất dễ mắc phải, cần phải tránh. Ðây là một vấn đề triết lý về công việc nghiên cứu khoa học, nhưng không có gì khó hiểu cả. Ðầu thế kỷ 20, Karl Popper đã giúp các nhà khoa học hiểu rõ hơn bản chất những khám phá của họ, gọi là những “hiểu biết khoa học.” Một câu nói, một lời phát biểu, một mệnh đề, chỉ được coi thuộc phạm vi kiến thức khoa học khi nó có thể bị phủ nhận, có cách để chứng minh là nó sai; chứ không phải vì nó có thể được chứng minh bằng cách quan sát cho thấy nó đúng. Vì những hiện tượng chúng ta có thể quan sát được, những thứ gọi là sự thật khách quan thì vô vàn. Và cũng có vô vàn cách giải thích các hiện tượng đó, ai cũng có thể tìm ra một cách giải thích.

Cho nên một ý kiến chỉ được coi là khoa học khi nào nó có thể dùng thực nghiệm để phản bác, chứ không phải để chứng minh. Khi nào tìm cách phản bác một giả thuyết bằng thực nghiệm mà không bác bỏ được, thì tạm coi đó là một hiểu biết khoa học - cho đến khi có phương pháp quan sát kỹ hơn để thấy nó sai. Bản chất của khoa học rất khiêm tốn như vậy.

Thí dụ, một người tuyên bố rằng, “vì con cóc kêu nên trời mưa.” Nhiều người quan sát thấy quả nhiên khi cóc kêu thì trời mưa thật, chuyện xảy ra rất nhiều lần. Ý kiến đó có thể gọi là khoa học hay chăng? Muốn biết, phải tìm xem có khi nào cóc kêu mà trời không mưa hay không, hoặc trời mưa dù không thấy cóc kêu hay không. Nếu không bao giờ thấy cả, thì lý thuyết Con Cóc là Cậu Ông Trời là một lý thuyết khoa học. Những người quen suy luận một cách khoa học thì không tin rằng vì cóc kêu nên trời mưa, vì đã chứng kiến những lần hai hiện tượng đó không đi đôi với nhau. Lối suy nghĩ khoa học như vậy giúp chúng ta không suy luận hồ đồ.

Vị độc giả viết bức thư trên đây chỉ trích rằng “người viết bài viết ‘Chế độ côn đồ’ không phải vì tôn giáo mà vì mục tiêu chính trị nằm trong các tôn giáo.”

Khi bàn về các quyền tự do thì chúng ta chắc chắn bàn về chính trị, không bàn chuyện tôn giáo nữa. Vì tự do, dù trong phạm vi nào cũng là một quyền chính trị. Tự do tôn giáo chỉ được thực hiện khi người dân không bị cấm đoán thi hành những quyền tự do khác. Tại sao giáo dân ở Tam Tòa mất tự do tôn giáo? Vì họ mất quyền tự do sử dụng một mảnh đất vẫn thuộc về chủ quyền của nhà thờ từ bao nhiêu đời trước và chưa bao giờ bị trưng dụng hợp pháp. Tại sao các tăng ni Bát Nhã bị mất quyền tự do tôn giáo? Vì họ không có quyền tự do hội họp để sống như một tăng đoàn (sangha), vì họ không có quyền tự do cư trú; Thầy Thái Thuận đã chấp thuận cho họ được ở trong chùa Phước Huệ rồi nhưng bị áp lực phải để họ ra đi. (Xin đừng cãi rằng chính quyền không hề có áp lực. Ðó là lối nói dối trá không ai tin; ở đây mình đang nói chuyện giữa những người đứng đắn; không thể nói chuyện với quý vị côn đồ được vì họ không theo những quy tắc đạo lý giống mình. Ai muốn tin những lời dối trá thì xin đi chỗ khác, chúng tôi xin cảm ơn).

Bây giờ đến lời ca ngợi, “tuyệt đại da số người dân trong đó có người dân các tôn giáo khác nhau đã đổ máu để xây dựng nên chế độ này và đang được hưởng thành quả tốt đẹp của nó.” Chúng tôi hoàn toàn đồng ý rằng rất nhiều người Việt Nam thuộc đủ các tôn giáo đã đổ máu để xây dựng nên chế độ hiện đang cai trị dân ta. Họ đổ máu chỉ vì lòng yêu nước, không ai chối cãi được. Họ đã bị lừa dối thế nào, chúng ta không bàn ở đây. Nhưng chính vì đã đổ máu, họ có quyền đòi hỏi chế độ đó phải tôn trọng các quyền tự do của các công dân, như ở các nước văn minh người dân vẫn được hưởng. Nhiều đảng viên cộng sản cũng đã nói thẳng rằng họ không ngờ đã xây dựng chế độ hiện nay; họ phải nói ra vì không muốn chia sẻ trách nhiệm về những tội ác của chế độ đó.

Và chúng ta cũng không biết những “thành quả tốt đẹp” nên kể là những thành quả nào? Nhưng chắc chắn việc đập phá cây thánh giá ở trên ngọn đồi có mồ mả chôn cất là một “thành quả” mà người dân không chấp nhận, dù thuộc bất cứ tôn giáo nào.

Bây giờ đến lời kết tội, “không thể vì một vài khúc mắc nhỏ lại được nêu lên như một sự kiện chính trị để lật đổ xã hội và là kẻ làm nô lệ cho kẻ khác thống trị được.” Khi một chính quyền mang súng ống, lựu đạn cay tới đàn áp, thuê du côn đến đánh đập dân chúng, từ các giáo dân ở Thái Hà, Ðồng Chiêm, tới các tăng ni ở Bát Nhã, thì những người có lương tâm trông thấy cảnh đó có thể nào giữ im lặng được hay không? Lên tiếng phản đối như vậy có nhất thiết là muốn “lật đổ xã hội” hay không? Người ta muốn chế độ phải thay đổi, trả các quyền tự do căn bản cho dân, thì đó là xây dựng cho xã hội tốt hơn, chứ sao lại coi là “lật đổ xã hội?” Tại sao cứ có người mở miệng phê bình những cái xấu, cái ác của chế độ thì vu cho người ta là muốn nước Việt Nam “làm nô lệ cho kẻ khác thống trị”?

Ðó là những lối nói “cả vú lấp miệng em” quen thuộc từ thời Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn, một thói xấu đã bị cụ Phan Khôi bác bỏ và chế nhạo ngay từ thời 1956. Hễ ai phê bình cái xấu, cái ác, cái sai lầm của chế độ cộng sản độc tài thì lập tức bọn lãnh tụ này ra lệnh đám văn nô tố cáo người ta là “Việt gian, phản động, tay sai đế quốc,” vân vân. Thời Hồ Chí Minh như vậy, thời Nông Ðức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng bây giờ vẫn còn, nghệ thuật gian dối, kỹ thuật đàn áp có vẻ còn tinh vi hơn.

Bài này là mấy ý kiến để đáp lại một bức thư, vì người viết thư nhân danh một người sống ở Việt Nam. Tôi mong rằng nếu đồng bào trong nước còn ai nghĩ giống như ông ta thì đây là một dịp để giải thích rõ ràng. Bức thư trên kết tội người viết là “quá hằn học” khi viết bài “Chế Ðộ Côn Ðồ.” Nếu trong khi biện luận chúng tôi đã để cho người đọc cảm thấy có lời lẽ “hằn học” thì chúng tôi xin quý vị tha lỗi. Khi nghĩ đến cảnh người ta đập phá một cây thánh giá, chúng tôi không theo đạo Chúa nhưng cũng cảm thấy rất đau. Chúa thì không sợ đau đớn. Ðau đớn cho nền đạo lý của nước Việt Nam mình.

Nhưng một chế độ chuyên sử dụng các thủ đoạn côn đồ đối với các nhà tu và các tín đồ tôn giáo thì cuối cùng phải gọi nó là cái gì nếu không phải là Chế Ðộ Côn Ðồ? Nếu hai chữ “Côn Ðồ” có vẻ hằn học quá thì xin sửa lại, chỉ gọi nó bằng tên thật thôi. Gọi là Chế độ Hồ Chí Minh? Hay là chế độ Nông Ðức Mạnh, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng cũng đủ rồi?

Posted: Thu Jan 21, 2010 4:01 pm
by hoanghoa
Không thể đồng lõa với tội ác

Ngô Nhân Dụng
Nghe tin công ty Google công bố lời đe dọa sẽ rút khỏi thị trường Trung Quốc nếu không giải quyết được vấn đề tin tặc, chúng ta chứng kiến một cuộc va chạm giữa hai lối sống và lối suy nghĩ khác nhau.

Ðây không phải là một xung đột giữa văn minh Trung Hoa và văn minh Tây phương, như những người thích triết lý có thể làm ra cho to chuyện. Ðây chỉ là biểu hiện sự xung khắc giữa hai lối sống mới và cũ, ở bất cứ nơi nào trên thế giới. Một bên là lối sống và lối suy nghĩ của những người làm công việc kinh doanh tự do, sống được nhờ xã hội có tự do. Bên kia là nếp sống và nếp suy nghĩ quen thuộc của những người có đầu óc gia trưởng, đặc biệt đó lại là những người chiếm được quyền điều khiển một quốc gia theo lối độc tài đảng trị. Hai nền nếp, hai “văn hóa” khác nhau, rất khó sống chung.

Công ty Google Inc. là hiện tượng kinh doanh độc đáo trong kinh tế thị trường; chỉ trong một xã hội tự do mới sinh ra được một công ty trẻ, đầy sáng kiến, đã ra đời, lớn lên, đứng hàng đầu thế giới trong ngành của mình nhờ sáng kiến và phát minh. Chính phủ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa là tiêu biểu cho một chế độ độc tài với những quan chức có tham vọng đặt tất cả xã hội trong bàn tay kiểm soát của họ.

Khi thiết lập Google vào năm 1999, hai người trẻ tuổi đã chọn một châm ngôn: Không làm ác (Don't be Evil); chứng tỏ ngoài mục tiêu lợi nhuận họ làm công việc kinh doanh với một lý tưởng. Châm ngôn này khiến người ta nghĩ tới khẩu hiệu Ahimsa (Chữ Phạn, nghĩa là Bất hại) của Thánh Gandhi, mà người Tây phương thường dịch theo nghĩa hẹp là Bất bạo động. Công ty đứng hàng đầu thế giới về kỹ thuật tra tìm trong các mạng lưới, hai thanh niên ngoài 20 tuổi, Page và Brin trở thành những tỷ phú. Google Inc đã bị chính quyền Trung Quốc ngăn cản nhiều lần, khiến các người ở lục địa không thể vào được mạng này mà tra tìm tài liệu. Năm 2006, Google Inc thành lập một công ty riêng, Google.cn để hoạt động ở Trung Quốc trong khuôn khổ những ràng buộc có sẵn, trong đó có việc phải tự kiểm duyệt, không cho thân chủ truy cập được nhiều mạng lưới mà Bắc Kinh cấm đoán.

Tuần trước, Google đã thú nhận rằng cái giá mà họ sẵn lòng trả để được hoạt động ở Trung Quốc quá đắt. Vì mạng lưới của Google.cn đã liên tiếp bị “tin tặc” xâm nhập, nhắm vào các nhà hoạt động cho tự do dân chủ để xem lén các thư tín mà họ trao đổi qua dịch vụ điện thư gmail của Google. Ai cũng biết dưới một chế độ kiểm soát dân chặt chẽ như cộng sản Trung Hoa, bọn “giặc tin học” này có thể do công an chủ trương, hoặc đạt dưới sự bảo trợ của guồng máy công an; không khác gì những tổ chức buôn bán ma túy ở Việt Nam! Từ năm ngoái, nhân dịp kỷ niệm 60 năm thành lập chế độ cộng sản và 20 năm sau cuộc thảm sát ở Thiên An Môn, chính quyền cộng sản đã tăng cường việc kiểm duyệt và cấm đoán tin tức trên mạng. Hoạt động của các mạng lưới cung cấp Facebook, YouTube, Twitter đã bị ngăn cản. Sau khi công bố nhận định về nạn “tin tặc,” Google ngưng không làm công việc kiểm duyệt các mạng lưới đi qua họ như chính phủ Bắc Kinh đòi hỏi, vì trái với tinh thần tôn trọng quyền tự do phát biểu.

Ngay sau khi Google tuyên bố có thể rút khỏi thị trường Trung Quốc, có 60 ngàn người lên tiếng trong một ngày đầu, phần lớn ủng hộ quyết định này. Một người Trung Hoa nhận xét rằng nếu không có Google thì nước này sẽ trở về “thời đồ đá của Internet.” Tuy mạng tra tìm Baidu.com của người Trung Quốc chiếm tới 60, 70% thị trường trong khi Google chỉ chiếm được phần còn lại, nhưng trình độ kỹ thuật và kết quả phong phú khi sử dụng Google hiện nay chưa công ty nào bằng.

Nhiều công ty nước ngoài đã từng bị làm khó dễ ở Trung Quốc và từng phản đối. Trong lời tuyên bố chính thức Google cũng nói bọn “tin tặc” đã từng đột nhập vào nhiều công ty khác. Có nguồn tin cho biết tới 20 công ty bị ăn cắp thường xuyên. Nhưng chưa có một công ty nào dùng những lời lẽ nặng nề như bản tuyên bố chính thức của Google khi họ đe dọa sẽ rút khỏi thị trường Trung Quốc. Ngay sau khi Google ngưng làm công việc kiểm duyệt, nhiều người Trung Hoa trong nước đã thử vào mạng tra tìm của công ty để tìm tài liệu về những đề tài trước đây không được phổ biến. Thí dụ, họ đã viết những chữ Thiên An Môn 1989 để tìm những tài liệu trước đây vẫn bị cấm.

Nhiều người có thể cho là quyết định của Google tương đối dễ vì số lợi nhuận của họ kiếm được ở trong nước Trung Hoa rất nhỏ so với tổng số. Nhưng nếu công ty này thực sự rút ra ngoài, uy tín của cả chế độ cộng sản ở Bắc Kinh sẽ bị sa sút. Từ 30 năm nay, các công ty quốc tế đã đóng vai đồng minh khách quan của chế độ Bắc Kinh, giúp họ thay đổi nền kinh tế. Nhưng họ sẽ phải đặt lại câu hỏi có nên tiếp tục hỗ trợ một độc tài chuyên vi phạm nhân quyền hay không.

Một tuần sau khi Google tuyên bố có thể rút chân ra, chính quyền Trung Quốc chỉ đưa ra một phản ứng chung chung, đại ý nói các công ty ngoài đều phải tuân thủ luật lệ ở nước họ. Trước lời tố cáo những hoạt động ăn cắp tin tức trong mạng lưới, Bắc Kinh còn nêu lên vấn đề “an ninh” trên Internet, mà theo họ, “Muốn bảo vệ an ninh trong Internet thì phải hướng dẫn các ý kiến phổ biến trên đó.”

Ðây là một quan niệm về “an ninh” theo lối suy nghĩ của chế độ độc tài. Ðối với Google, an ninh là bảo vệ các thông tin trên mạng không bị kẻ cắp đọc trộm, lấy trộm. Ðối với các cán bộ công an thì an ninh là truy tầm được những người có ý kiến khác với đường lối của đảng Cộng Sản. Gần đây, một nhà tranh đấu cho dân chủ là ông Lưu Hiểu Ba đã bị kết án 11 năm tù vì trao đổi các thông tin đòi hỏi dân chủ tự do cho người Trung Hoa. Trong tháng trước, họa sĩ Ai Weiwei (Ải Vị Vị) ở Bắc Kinh đã biết các email của ông qua mạng lưới Google đã bị đột nhập nhiều lần và bị chép lại, ngay cả trương mục ngân hàng của ông cũng bị người vào tìm đọc! Ông là người đã tổ chức các cuộc hội thảo về dân quyền ngay giữa thủ đô. Từ Tháng Tám năm ngoái, cả vùng Tân Cương đã không được tự do vào Internet, sau cuộc biểu tình của người Uyghur bị tàn sát khiến 200 người chết. Ðây là một vùng đất rộng gấp 3 lần tiểu bang Texas nhưng Internet bị hạn chế đến nỗi các doanh nhân muốn nhận và gửi email phải đi xa hàng ngàn cây số, có người bay về Bắc Kinh cho đỡ mất thời giờ, có người đi sang nước Kazackhstan để viết email. Một người dân đã than: Chúng tôi đã trở thành những người điếc! Tình cảnh giống như thời 1970, mọi thông tin đều nghe qua loa phóng thanh của nhà nước!

Thông tin là huyết mạch của thị trường, của đời sống kinh tế. Người ta đo tình trạng dân trí bằng số lượng thông tin mà người dân nhận được, ngày xưa là số người đọc báo, ngày nay thêm số người vào Internet. Mặc dù các nguồn thông tin bị hạn chế, 300 triệu người Trung Hoa đang dùng Internet, lớn bằng dân số nước Mỹ.

Ðối với một chế độ độc tài thì điều quan tâm duy nhất của họ không phải là phúc lợi của người dân, mà là sự an toàn nhất thời của các những người nắm quyền. Nhưng đối với một công ty quốc tế thì điều quan trọng nhất là giữ được lòng tin của thân chủ, đặc biệt là đối với một công ty chuyên về thông tin. Cho nên, quyết định có thể rút khỏi thị trường Trung Hoa của Google là theo đúng quyền lợi kinh doanh của họ, vì nếu mất lòng tin của công chúng thì về lâu về dài chính họ sẽ bị thiệt hại. Ðó là chưa kể là quyết định trên cũng theo đúng tý tưởng “Không làm điều ác” trong châm ngôn của họ.

Người ta có thể làm điều ác một cách thụ động khi nhắm mắt đồng lõa với việc ác; như việc ăn cắp tin tức; nhất là khi những tay tin tặc này thuộc Bộ Công An của một chế độ có ghế ngồi thường trực trong Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc. Năm 2008, một nhà tranh đấu Dân Chủ ở Trung Quốc đã lên án cả 2 công ty Google và Yahoo! Vì hai mạng lưới tra tìm này đều kiểm duyệt không cho ai tìm đọc được mạng lưới của ông. Ông Guo Quan lên án hai công ty này là “những con chó vẫy đuôi theo lệnh của chế độ cộng sản.” Ông Quách Tuyền sau đó đã bị kết án tù 10 năm vì đòi tự do dân chủ.

Một công ty làm việc thông tin không có thể đóng vai “con chó vẫy đuôi” theo lệnh của người khác được. Nhất là nghe theo lệnh một đảng độc tài tham nhũng đã sẵn sàng giết các người gốc thiểu số ở Tân Cương, và đưa xe thiết giáp đàn áp sinh viên, công nhân của họ ở Thiên An Môn.

Posted: Sat Jan 23, 2010 7:05 am
by tankhoasinh
Massachusetts chấm dứt tình trạng độc đảng

Ngô Nhân Dụng
Cử tri tiểu bang Massachusetts đã nhắc lại cho Tổng Thống Barack Obama và đảng Dân Chủ nghe một ý kiến của Lord Acton: Quyền hành sinh nhũng lạm, quyền hành tuyệt đối thì nhũng lạm tuyệt đối (Power tends to corrupt; absolute power corrupts absolutely). Ðảng Dân Chủ đảng kiểm soát cả quyền hành pháp và 2 viện Quốc Hội Mỹ. Trong cuộc bầu cử bổ túc ngày Thứ Ba, 19 Tháng Giêng, 2010, tại Massachusetts, các cử tri đã chọn ứng cử viên Cộng Hòa Scott Brown, với tỷ lệ thắng 52%-47%. Tuy chỉ thay đổi một nghị sĩ, nhưng cán cân quyền lực tại Quốc Hội sẽ hoàn toàn thay đổi. Tất cả chương trình lập pháp của ông Obama và đảng Dân Chủ bị đe dọa không thể tiến hành được như họ mong muốn. Trước khi ông Brown đắc cử, quyền lực của đảng Dân Chủ quá lớn, và bây giờ dân Massachusetts bắt họ phải giảm bớt quyền.

Khi ông Brown tuyên thệ chính thức, đảng Cộng Hòa sẽ có 41 nghị sĩ; họ có thể sử dụng quyền “Nói liên miên không nghỉ” (Filibuster) để không cho Thượng Viện ngưng thảo luận mà bỏ phiếu về bất cứ dự luật nào. Theo thủ tục này, cần phải có 60 nghị sĩ mới đủ phiếu để quyết định ngưng thảo luận. Trước đây đảng Dân Chủ nắm được đủ 60 phiếu, nên có thể thông qua một dự luật cải tổ bảo hiểm y tế mà không bị cản trở. Có thể nói là họ nắm quyền hành tuyệt đối. Nay, bản dự luật mới sau khi tổng hợp với dự luật mà Hạ Viện đã đồng ý, sẽ phải đưa ra bỏ phiếu lần nữa. Và bây giờ, biết ông Brown có thể bỏ lá phiếu thứ 41 để sử dụng thủ tục Filibuster, đảng Dân Chủ không thể cứ một mình tiến tới nữa. Họ sẽ phải tìm cách thỏa hiệp với phe đối lập để có một đạo luật mới về bảo hiểm y tế. Nếu không, thì cả chương trình Cải tổ Y tế sẽ tan biến, sau khi đã được ông tổng thống và đảng Dân Chủ cổ động, bàn cãi và soạn đi soạn lại gần suốt một năm qua. Hậu quả là ông Obama sẽ mất hết uy tín, và nhiều đại biểu quốc hội Dân Chủ chắc chắn sẽ thất cử vào Tháng Mười Một năm nay.

Việc đắc cử của ông Scott Brown có ý nghĩa đặc biệt vì Massachusetts là một tiểu bang lâu nay ủng hộ đảng Dân Chủ. Từ năm 1952, khi ông John F. Kennedy chiếm được cái ghế nghị sĩ tại tiểu bang Massachusetts, các em ông và những người được gia đình Kennedy ủng hộ thay phiên nhau ngồi vào ghế đó. Từ năm 1972, cả hai ghế nghị sĩ ở tiểu bang này đều thuộc đảng Dân Chủ. Ông Ted Kennedy đã thắng cử liên tiếp từ năm 1962, mới tạ thế gần đây. Suốt cuộc đời chính trị của ông đã lao tâm lao lực vận động cho việc cải tổ hệ thống y tế ở Mỹ. Khi đang tranh cử, ông Brown được hỏi rằng ông sẽ làm gì nếu được ngồi vào cái ghế nghị sĩ của ông Kennedy. Ông trả lời, “Với tất cả lòng kính trọng (đối với Ted Kennedy), tôi phải nói lại rằng đây không phải là cái ghế của Kennedy, không phải cái ghế của đảng Dân Chủ; đây là cái ghế nghị sĩ của mọi người dân.”

Và kết quả là số người dân Massachusetts muốn thay đổi đã cao hơn số người muốn “như cũ.” Một tháng trước đây không ai có thể ngờ rằng cuộc cờ chính trị ở Quốc Hội Mỹ lại thay đổi lớn như vậy, do lá phiếu chênh lệch của 100,000 cử tri quyết định. Vì tiểu bang Massachusetts cho tới giờ vẫn có 35% cử tri ghi tên thuộc đảng Dân Chủ, chỉ có 12% tự nhận là Cộng Hòa. Nhưng nhiều cử tri Dân Chủ đã bỏ phiếu cho ứng cử viên đối lập, vì họ thất vọng và muốn dạy một bài học cho ông tổng thống, hoặc cho đảng Dân Chủ ở Quốc Hội, hoặc cả hai. Số phiếu quyết định sự thay đổi là của những cử tri độc lập, khi ghi danh đi bầu họ tự coi không thuộc đảng nào cả. Số người này chiếm 49% tổng số cử tri. Ông Brown đã chiếm được 64% số phiếu của những người độc lập, bà Martha Coakley đảng Dân Chủ chỉ được 34%. Một cuộc phỏng vấn các cử tri đi bầu ngày Thứ Ba cho thấy 55% vẫn còn tín nhiệm Tổng Thống Obama. Nhưng đa số vẫn muốn gửi một nghị sĩ đối lập vào Thượng Viện. Các cử tri đã phán quyết, “(Với tất cả lòng kính trọng,) chúng tôi không muốn một đảng nắm quyền hành tuyệt đối điều khiển việc quốc gia.”

Kết quả cuộc bỏ phiếu ở Massachusetts cũng cho thấy khuynh hướng chung của cử tri trên toàn thể nước Mỹ. Ðó là bài học mà ông Obama và đảng Dân Chủ phải tiếp nhận, khi nghĩ tới cuộc bầu cử vào Tháng Mười Một năm nay. Hiện nay đảng Dân Chủ chiếm đa số 78 ghế dân biểu ở Hạ Viện nhưng không có gì chắc chắn. Có 49 dân biểu đó đắc cử năm 2008 tại những đơn vị mà đa số đã bầu cho ông Nghị Sĩ John McCain. Nếu uy tín của đảng Dân Chủ xuống và nếu đảng Cộng Hòa đưa ra được những ứng cử viên mới thì họ có thể chiếm đa số ở Hạ Viện sau kỳ bầu cử tới. Ðặc biệt là ở tiểu bang California, nơi có nhiều người Việt Nam cư ngụ. Năm nay Nghị Sĩ Barbara Boxer, Dân Chủ, sẽ phải tái tranh cử. Nếu một tiểu bang “lúc nào cũng bầu Dân Chủ” như Massachusetts đã đổi ý kiến, thì dân California cũng có thể làm như vậy. Theo một cuộc nghiên cứu dư luận gần đây Bà Boxer đang được 46% cử tri tín nhiệm nếu bỏ phiếu ngay bây giờ, chỉ hơn đối thủ Cộng Hòa mà Bà Carly Fiorina, cựu chủ tịch công ty Hewlett Packard, 3%. Tuy nhiên tỷ số chênh lệch 46%-43% rất mong manh, mà trong 10 tháng nữa sẽ còn rất nhiều biến chuyển. (Hai ứng cử viên Cộng Hòa khác chỉ được khoảng 40% nếu họ được đảng chọn ra tranh cử).

Dân Mỹ thường bỏ phiếu bầu Quốc Hội cho đảng đối lập của ông tổng thống đương nhiệm, vì họ có khuynh hướng muốn phân tản quyền hành để giữ các định chế độc lập và cân bằng trong guồng máy cai trị. Năm ngoái, hai ứng cử viên Cộng Hòa đã thắng chức thống đốc ở các tiểu bang Virginia và New Jersey. Nhưng cuộc đắc thắng của Scott Brown có những nguyên nhân cụ thể hơn: Người ta bắt đầu chán ông Obama và đảng Dân Chủ, vì không cảm thấy họ chia sẻ những mối lo trực tiếp của đa số dân chúng. Dân Massachusetts cũng lo lắng về tình trạng kinh tế, về triển vọng phải đóng thuế nhiều hơn, như mọi người Mỹ khác. Và họ bất mãn trước cảnh chính phủ trợ giúp các ngân hàng và các đại công ty trong khi tỷ số thất nghiệp lên tới 10%. Những chương trình bảo vệ môi trường sống, phát triển các năng lượng mới, và cải tổ hệ thống y tế để thêm 47 triệu người được bảo hiểm, tất cả là những ý tưởng rất đáng theo đuổi, nhưng không phải là mối quan tâm hàng đầu mỗi ngày của đa số người dân. Người dân lo trước mắt là các vấn đề thất nghiệp và thuế, và ông Scott Brown đã tấn công thẳng vào các vấn đề đó.

Một điều khiến các cử tri Mỹ chán ngán giới chính trị là họ đã chứng kiến các cuộc mặc cả ở Quốc Hội để đúc kết ra một dự luật cải tổ y tế, cho thấy các nhà chính trị vẫn “tầm thường, nhỏ nhặt” như cũ: Họ giành giật nhau những quyền lợi riêng cho địa phương hay cho những nhóm thế lực đứng đằng sau. Nghị Sĩ Ben Nelson, Dân Chủ, tiểu bang Nebraska đã khăng khăng không chịu đồng ý với đảng mình, cho tới khi được nhượng bộ, trong đó có một điều khoản buộc chính phủ liên bang phải cung cấp thêm tiền cho chương trình Medicaid ở Nebraska - mà các tiểu bang khác không được hưởng! Các nghị sĩ Dân Chủ khác im lặng chấp nhận cuộc mặc cả đó! Nghị Sĩ Joseph Lieberman, độc lập, Connecticutt, bỏ phiếu theo lập trường đảng Dân Chủ nhưng đã chống chương trình bảo hiểm công đến cùng và phe Dân Chủ đã nhượng bộ. Ông Lieberman đang bị chỉ trích là ông chỉ muốn bảo vệ quyền lợi của các công ty bảo hiểm tập trung tại tiểu bang này. Một người từ tiểu bang Wisconsin đã bỏ mọi công việc đi tới Massachusetts vận động cho ông Brown, đã giải thích, “Tôi ghét tình trạng bất quân bình quyền lực ở thủ đô Washington, tôi ghét sự lạm dụng quyền hành và giành quyền lợi bí mật cho những thế lực riêng biệt.”

Khi các nhà chính trị sử dụng quyền bỏ phiếu của mình trong Quốc Hội, họ có quyền giành các quyền lợi cho địa phương hoặc cho những nhóm người ủng hộ mình nếu không đi ngược với quyền lợi chung của quốc gia. Nhưng nếu hành vi của họ tỏ ra không cao thượng, không tôn trọng đạo công bằng và những quy tắc luân lý đơn giản khác, thì họ chỉ chứng tỏ đã trở thành những con người kiêu ngạo, coi thường dư luận, sẵn sàng lạm dụng quyền lực, và họ sẽ bị dân chúng trừng phạt bằng lá phiếu.

Trước khi ông Scott Brown chính thức tuyên thệ thành nghị sĩ (sẽ phải đợi vài tuần lễ), đảng Dân Chủ có thể vẫn đưa một dự luật cải tổ y tế ra mỗi viện Quốc Hội bỏ phiếu. Nhưng từ Tổng Thống Obama đến các đại biểu Dân Chủ đều đã bác bỏ ý kiến này. Vì làm như vậy là quá ngạo ngược, khinh thường lá phiếu của người dân. Họ cũng có thể áp dụng nhiều thủ tục khác để thông qua một dự luật như ý muốn. Thí dụ, nếu Hạ Viện đem biểu quyết chấp thuận dự luật đã được Thượng Viện thông qua, với vài thay đổi nhỏ, thì khi đem trở lại Thượng Viện để tái duyệt đảng Cộng Hòa sẽ không thể dùng thủ tục Filibuster được nữa như khi cứu xét một dự luật hoàn toàn mới. Nhưng chắc đảng Dân Chủ sẽ không theo kế này; vì nếu làm như vậy cũng là một cách tránh né khôn ngoan nhưng không đáng kính trọng.

Người dân không cần các chính trị gia phải hoàn hảo, nhưng ít nhất họ cũng phải tỏ ra có tư cách đáng kính chứ không để người ta khinh. Một nhà chính trị tự làm mất phẩm cách của mình tức là cũng làm mất danh dự của những người dân đã bỏ phiếu cho mình, và làm nhục cả quốc gia.

Kết quả cuộc bầu cử nghị sĩ ở Massachusetts giúp chúng ta hiểu thêm tâm lý của các cử tri nước Mỹ. Và hiểu thêm về sinh hoạt chính trị tự do dân chủ. Trong một nước dân chủ, người dân tránh hết sức để không trao quyền lực vào tay một nhóm người, một đảng phái nào. Bao giờ cũng phải giữ thế cân bằng giữa các định chế để kiểm soát lẫn nhau. Nước Mỹ sống ổn định trong 200 năm và đạt được những tiến bộ kinh tế cao nhất thế giới chính là nhờ thế cân bằng đó.

Posted: Sun Jan 24, 2010 7:45 pm
by tranphuongdong
Vì đâu nên nỗi?

Huỳnh Ngọc Tuấn

Tôi ngồi trong tiệm cắt tóc nói chuyện với mấy người khách đang đợi, bắt đầu bằng chuyện sức khỏe, với nhận xét rằng bây giờ có rất nhiều người bị bệnh hiểm nghèo, những cái chết đột ngột, rồi đến chuyện ẩm thực cũng với những lời ta thán và phẫn nộ…một người khách nói:

- Thời buổi này không biết phải ăn uống ra sao? thịt gà thịt vịt thì bị cúm gia cầm, heo bò thì bị lở mồm long móng, cá thì bị ướp hóa chất độc hại để giữ cho tươi... bây giờ thì có cảnh báo rằng trái cây, nhất là trái cây nhập từ TQ bị nhiễm thuốc trừ sâu và chất độc, rau sống bây giờ cũng thế... ăn cái gì đây?.

Không ăn thì chết mà ăn cũng chết. Tôi có thằng cháu lên 5, bây giờ chăm sóc nó thật khó, chẳng biết cho cháu ăn cái gì? ăn cái gì cũng sợ..anh ta thở dài..tận thế mất!

Tôi nhập cuộc: Tất cả đều do con người làm nên, thượng đế đã ban cho nhân loại một thiên đường nhưng con người biến nó thành địa ngục: Những dòng sống chết, những cánh rừng và núi non bị tàn phá để khai thác gỗ, làm khu công nghiệp, ở VN mình người ta đang cho khái thác Bauxite ở Tây nguyên bất chấp những lời cảnh báo của những nhà khoa học và giới trí thức.

Một người đàn ông trạc 60, ăn mặc lịch sự, anh ta có vẻ thạo tin và ăn nói “bạo miệng”:

“Mấy ông này đã làm thì ai khuyên can được..quyền ở trong tay họ muốn làm gì thì làm..việc thành thì ổng nhận hết công lao, thất bại ổng đổ lỗi cho trời hoặc cho thế lực phản động nào đó, còn mấy ổng thì không bao giờ sai”

Ở những nước dân chủ văn minh, lãnh đạo sai là phải xin lỗi và từ chức, còn ở mình sai lầm càng lớn thì càng thăng quan tiến chức (anh ta lắc đầu chán ngán)

Một anh bạn trẻ, người vạm vỡ da ngăm đen, đôi mắt rực sáng và hơi lồi..làm cho khuôn mặt anh ta dễ gây sự chú ý của người khác, anh ta vừa nói vừa làm những cử chỉ ngộ nghĩnh.

- Ở nước người ta đa đảng, ở nước mình độc đảng, người ta coi dân như cỏ rác, ai cũng biết nhưng làm gì được nhau?!

Anh ta phá lên cười chắc có lẽ anh ta khoái chí vì đặt người khác vào thế bí..thế “triệt buộc”.

Người đàn ông có vẻ ấm ức.

- Nói thế chứ bây giờ VN mình đã hội nhập quốc tế..đâu phải muốn làm gì cũng được..hơn nữa bây giờ người dân cũng đã mạnh dạn lên tiếng..đó các ông thấy vụ Thái Hà, vụ tòa Tòa khâm sứ, vụ Tam Tòa, bây giờ là vụ Đồng chiêm..người dân đã đấu tranh đòi công lý chứ không còn sợ cường quyền như trước đây.

Anh thanh niên phản bác:

- Thôi chú ơi..ai mình không biết..ở đâu mình không biết chứ như con, như chú mà lên tiếng là đi luôn.. “một đi không trở lại”

Người đàn ông không chịu:

- Bây giờ đâu có dễ rứa?!

Anh bạn trẻ vẫn tiếp tục cách nói làm cho người khác bối rối:

- Không dễ hả, chỉ cần bắt chú lên vài ngày tiêm cho chú một mũi thuốc rồi thả về..một tuần sau là chú đi lang thang ngoài đường, hát nghêu ngao và đếm chuồn chuồn..con nói thiệt luôn đó!!.

Người đàn ông phản ứng yếu ớt:

- Làm như vậy dư luận sẽ biết..quốc tế sẽ biết.

Anh thanh niên vừa nghiêm túc vừa bỡn cợt:

- Còn một cách nữa, đuổi việc vợ chú, dàn cảnh để con chú bị tai nạn, họ không cần phải đụng đến chú mà chú cũng phải “tắt tiếng ca” luôn… Ông Cách mạng này ổng giỏi lắm…cái đầu của ổng đa hệ mà…con nói thiệt luôn đó!!...Chú thấy không trong những vụ đàn áp giáo dân Công giáo như vụ Thái Hà, Tam Tòa, con là người Công giáo con biết ổng dùng bọn lưu manh và nói là do “quần chúng tự phát”. Vừa mới đây vụ tăng đoàn Làng Mai ở chùa Bát nhã, ông Cách mạng này dùng bọn lưu manh côn đồ tấn công các vị tu sĩ rồi nói đó là tranh chấp nội bộ còn những phần tử lưu manh hành hung tu sĩ là ”quần chúng tự phát”….không biết trong tương lai ổng còn có độc chiêu nào nữa …đúng là ông Cách mạng này giỏi thật, đa hệ thật.

Lần này thì người đàn ông im bặt không phản ứng gì, ông giống như một người thất bại, anh thanh niên phá lên cười. Tôi vào cuộc để gỡ cho ông ta:

- Nếu có cái đầu đa hệ thì dùng nó để phục vụ đất nước, sáng tạo khoa học cho dân nhờ chứ ai lại đi làm việc thất đức hạ cấp như thế.

Người thanh niên:

- Vậy đó, làm gì được nhau?

Cách nói chuyện của anh chàng này làm người khác tức ách bụng!

Tôi nhớ lại khi mới mãn tù từ trại Nam Hà trở về, một người anh em họ xa hỏi tôi:

- Hồi ở trong tù, anh có bị người ta tiêm thuốc không?

Tôi nói:

- Trong 10 năm làm gì tránh được đau ốm, phải tiêm thuốc chứ..thậm chí rất nhiều.

Anh ta vỗ đùi cái bộp.

- Chết rồi.. vậy là anh không ổn rồi, anh không thọ được lâu đâu!

Một thời gian yên lặng trôi qua..căn phòng cắt tóc nhỏ hẹp, không khí u uất, lát sau người đàn ông lên tiếng:

- Tôi cũng biết ông cách mạng này đa hệ lắm, trong thời gian chiến tranh, ổng dùng vũ khí thu được của VNCH trong những trận đánh, bắn vào nhà dân rồi đổ lỗi cho Mỹ-Ngụy. Tôi nhớ năm 1972 học sinh trường Trưng nữ cắm trại ở sân vận động, bây giờ là chỗ cây xăng phường Hòa Hương. Đêm diễn văn nghệ mấy ổng cho du kích ném lựu đạn vào trại, nhiều người chết và bị thương toàn là nữ sinh..trong đó có con gái ông Mạnh úy (ông nhìn tôi và quay sang cậu thanh niên). Có biết tiệm thuốc tây Mạnh úy không?

Tôi trả lời:

- Tôi biết.. Cậu thanh niên thì không biết vì bây giờ tiệm thuốc tây đó không còn nữa mà gia đình họ giờ đi đâu cũng không rõ.

Ông nói tiếp:

- Sau năm 1975, người ném quả lựu đạn đó kể lại cho nhiều người nghe…bây giờ anh ta còn đó..làm bí thư xã đã nhiều năm.

Câu chuyện dần dần chuyển qua những đề tài khác.

Tôi nói về biển Đông, về Trường sa Hoàng sa, về việc Trung cộng bắn giết ngư dân, bắt cóc và đòi tiền chuộc..anh thanh niên có vẻ bực tức..

- Mấy ông cách mạng này đâu có lo bảo vệ đất nước, chỉ lo làm giàu, nếu mất nước thì ổng cùng gia đình vẫn hưởng đặc quyền, đặc lợi cho dù phải mang thân phận làm tay sai, chỉ có dân mình chết thôi!!

Người đàn ông nói rất khẽ:

- Nghe người ta nói ông Nguyễn Tấn Dũng, Nguyên Minh Triết, nhất là Nông Đức Mạnh được Trung quốc ủng hộ..đưa lên lãnh đạo cho nên mấy ổng phải phục vụ cho quan thầy đỡ đầu.

Đến lúc này thì anh thợ cắt tóc và vợ lên tiếng:

“Thôi thôi, em lạy mấy anh, mấy chú đừng nói chuyện chính trị ở đây, họ nghe được thì chết em, để cho em kiếm gạo nuôi con, thương vợ chồng và các con em, mấy anh mấy chú đến cắt tóc em rất cảm ơn nhưng em chỉ mong đừng nói chuyện chính trị!!!

Một người khách ngồi đợi nãy giờ im lặng cũng nói như thế.

- Công an hắn nghe được là chết cả đám.

Vậy là chúng tôi phải tạm gác câu chuyện đang nói dở, tôi rất thông cảm với vợ chồng người thợ cắt tóc, họ cũng như nhiều người VN khác nỗi sợ hãi vẫn còn ám ảnh nặng nề trong tâm thức và nó được duy trì bởi chính sách đàn áp có khi tinh vi có khi thô thiển.

Khi sắp đứng lên nhìn vào gương tôi thấy một người đàn ông cao lớn, béo tốt đi vào, hơi ngỡ ngàng một chút tôi nhận ra anh LN, một người bạn cũ, anh là thầy truyền đạo thuộc giáo hội Tin Lành Việt nam…. Anh L N cũng nhận ra tôi sau một hồi bối rối, anh ta à lên một tiếng, giọng anh to khỏe oang oang, anh vỗ nhẹ vai tôi: T phải không?

- Dạ đúng rồi chào anh LN.

Anh bắt tay tôi thật chặc và nói.

- Tuấn ngồi đây đợi mình cắt tóc rồi về nhà nói chuyện…lâu quá mới gặp nhau.

Tôi nhìn những người khách còn ngồi đợi 1,2,3,4 tôi nói với anh:

- Thôi hẹn anh khi khác, em còn về Tam phú, chờ anh thì tối mất.

Một người khách nói vào:

- Còn lâu đấy, những 4 người nữa.

Vậy là anh L mời tôi về nhà anh, trên đường đi anh hỏi tôi:

- Lâu quá Tuấn hỉ, bao nhiêu năm rồi hỉ??

- Cũng gần 20 năm, chính xác là 18 năm.

Anh à lên một tiếng.

Nhà anh vẫn ở nguyên chỗ cũ, bây giờ xây dựng lại khang trang và tiện nghi.

Tôi ngồi ở phòng khách đợi anh pha trà, nhà vắng và rộng quá tạo nên một cảm giác trống trải. Tôi biết các cháu nhà anh đã lớn, có gia đình, hoặc đi làm xa nhưng tôi vẫn hỏi khi anh từ dưới nhà đi lên với ấm trà trên tay:

- Nhà vắng quá anh! Chị và các cháu đâu?

Anh ngồi xuống vừa rót trà vừa kể chuyện:

- Chị vẫn bán ngoài chợ, các cháu có gia đình cả rồi.

Sau 18 năm gặp lại câu đầu tiên anh nói với tôi:

- Chúa sắp trở lại. Tuấn nên tin Chúa để được cứu.

Tôi là một Phật tử nên luôn kính trọng niềm tin của người khác, tôi chỉ cười và đánh trống lãng.

- Trà ngon quá

Anh L cười rất to và nói một cách hãnh diện

- Quà của con gái anh ở “Thành phố” gửi về. Nó đi làm và có chồng trong đó…giàu lắm…tí nữa anh dắt em đi thăm các phòng, tiền của nó gởi cho anh đó, từ bàn ghế tủ giường TV, tủ lạnh, máy giặt…tiền của nó cả. Lương của nó hiện nay là 10 triệu một tháng, tiền thưởng ngày Tết, ngày Lễ chưa nói.

Tôi bị sốc bởi từ “thành phố” (gọi tắt Thành phố HCM) bây giờ có khá nhiều người dùng từ này để chỉ Sài gòn, nó như một chỉ dấu cho ta biết quan điểm của người đó. Nếu không phải là VC cũng là thành phần ăn theo.

Cũng như 18 năm trước anh không cho tôi cơ hội để nói với anh điều tôi muốn nói. Anh nói về những lời Chúa dạy…về những câu chuyện nhiệm màu…trong kinh sách và trong đời thường…có những câu chuyện rất cảm động…Rồi 30 phút nửa trôi qua anh vẫn thao thao bất tuyệt…vì anh là Thầy truyền đạo nên anh quên mất tôi là bạn anh…tôi cần sự trao đổi giữa 2 người bạn.

Trời mùa đông nhanh tối mới hơn 5 giờ mà đã chập choạng…chờ một cơ hội để chào anh nhưng phải mất 30 phút sau mới có cơ hội đó.

- Bây giờ tối rồi tôi phải về anh ạ…hẹn anh khi khác có thời gian mình sẽ trao đổi nhiều hơn

Anh tiễn tôi ra đến cửa.

Tuần sau anh đến nhà tôi, chúng tôi ngồi uống trà trong không khí ấm cúng của một chiều mùa đông nắng đẹp. Tôi mong rằng lần này anh sẽ nói về những người bạn để tôi biết thêm một chút về đời sống của họ…nhưng tôi thất vọng vì anh lại nói với tôi y chang những gì anh nói lần trước…Vạn bất đắc dĩ tôi phải ngắt lời anh.

- Anh L à, niềm tin Tôn giáo là điều đáng quý trọng nhưng cũng phải biết là mình đang sống giữa đời thường với những vấn đề thiết thực cho mình cho cộng đồng như giáo dục, môi trường, đạo đức và sự công bằng xã hội, tương lai của đất nước và dân tộc, vì mình là một bộ phận của dân tộc và đất nước này, mình không thể tồn tại một cách biệt lập với quê hương đất nước được…

Tôi tranh thủ nói với anh về Hoàng sa, Trường sa và lãnh thổ, lãnh hải Việt nam đang bị TC xâm thực từng ngày và nguy cơ mất nước là nhãn tiền, vấn đề khai thác Bô xít và ô nhiễm môi trường, tôi nói vội vàng vì sợ anh cắt lời.

- Sự hung hăng, tham tàn của TC với những vụ bắn giết, bắt bớ, tống tiền, sỉ nhục, ngược đãi ngư dân VN, danh dự quốc gia bị chà đạp và sự sinh tồn của đất nước bị đe dọa, nếu mất nước thì tôn giáo còn đâu chỗ nương tựa và sẽ tiêu vong.

Anh trả lời tôi: Tôi không quan tâm đến vấn đề chính trị!

Tôi cố trấn tĩnh hỏi anh: Anh có đi bầu cử không?

- Có chứ

- Như vậy là anh đã có một quyết định chính trị rồi, cũng như anh gọi Sài gòn là thành phố Hồ chí Minh, đó là thái độ chính trị đó anh ạ!

Anh L lặng thinh có vẻ khó chịu, nhưng tôi quyết định nói với anh một lần rồi chấm dứt…để không bị làm phiền.

- Anh L à, tôi và anh đều là những người có niềm tin tôn giáo, anh Tin Lành, tôi Phật giáo, nhưng mình cũng là công dân VN, đang sống trên mãnh đất này. Tôi yêu đất nước này vì tôi là một phần trong đó, hơn nữa ở đó có cha mẹ, anh em, các con tôi, vợ tôi, bạn bè và những người thân yêu của tôi, ông bà và Tổ tiên của tôi, dân tộc tôi. Tôi yêu đất nước này vì tôi yêu các con tôi, vợ tôi những người thân của tôi, bạn bè tôi, những kỷ niệm của tôi. Tôi yêu đất nước này cũng như tôi yêu chính tôi và những gì thuộc về tôi cho nên tôi phải chịu trách nhiệm về tất cả những gì xảy ra cho đất nước tôi, dân tộc tôi.

Anh chận tôi lại:

- Đối với tôi Nước Chúa mới là đất nước của tôi, còn đất nước này tôi không quan tâm, ngày Thiên Chúa trở lại đã đến rất gần tôi không cần gì ở đất nước này.

Đến đây thì tôi không thể chịu đựng nổi, tôi chất vấn anh:

- Anh có đồng ý với tôi rằng cái tên LN của anh, thân hình cao lớn tốt đẹp của anh, một người vợ hiền thục và các con rất ngoan, rất giỏi của anh là ơn phước mà Thiên chúa ban cho anh không?!

Anh ta lặng thinh

- Anh được làm người VN, sống trên đất nước VN đó là ý Chúa, là ơn phước Ngài dành cho anh, anh nói anh không cần đất nước này, nói như vậy anh có thấy là đã phụ ơn Thiên chúa không? Là người vô ơn không?...Tất cả những gì anh có đều là ơn phước Thiên chúa dành cho anh đó, cả cái tên LN nữa…đáng lẽ anh phải cảm tạ ơn phước của Ngài bằng cách giữ gìn, bảo vệ, xây dựng cho tốt đẹp hơn những gì anh được hưởng …gia đình, con cái, đất nước, dân tộc này….đó là cách để đền ơn và vinh danh Thiên chúa…nói như anh thì vô ơn quá, là xúc phạm Thiên chúa!!!

Anh ta đứng lên ra về không buồn chào tôi một tiếng.

Tôi có những người bạn là tín hữu đạo Tin lành VN, họ là Mục sư, Thầy truyền đạo, họ vẫn nói với tôi và mọi người rằng họ không màng đến Chính trị, ngày Thiên Chúa trở lại đã rất gần, họ không cần gì cả, không cần đất nước này, nước của họ là nước Chúa.

Tôi kính trọng và cảm động trước niềm tin của họ, nhưng cảm thấy họ là những người dối trá. Họ nói không cần đất nước này, không cần gì cả vì ngày Chúa trở lại đã rất gần, nhưng họ tìm mọi cơ hội để thăng tiến, họ cho con cái đi du học, kết hôn với người ngoại quốc, Việt kiều, tích lũy tài sản (để làm gì?!)..Họ dối gạt mình, dối gạt người khác và dối gạt Thiên Chúa!!! Vì sao?...theo tôi vì sợ hãi và vị kỷ…sợ hãi và vị kỷ nên tránh né sự thật không dám gánh vác trách nhiệm.

Tôi thấy buồn và lấy làm lạ: Những người Công giáo cũng là con cái Thiên Chúa nhưng họ lại dấn thân đấu tranh cho tự tự do Tôn giáo, cho công lý, họ coi đất nước này là tặng phẩm thiêng liêng của Thiên Chúa mà họ phải có trách nhiệm giữ gìn.

Vì đâu nên nỗi??!!

Tôi mạo muội quay về quá khứ để tìm câu trả lời.

Trước năm 1975 người dân được tự do bày tỏ chính kiến, quan điểm của mình. Bất cứ ở nơi đâu, ở tầng lớp nào trong xã hội cũng bàn luận về chính trị về tình hình đất nước mà không sợ ai cấm đoán hay bỏ tù…Từ những vị Linh Mục, Mục sư, Tu sĩ Phật giáo, Cao Đài, từ nhà giáo đến anh xích lô, từ bác nông dân cho đến các bà bán cá bán tôm bán rau ngoài chợ, ai ai cũng nói chuyện chính trị, chuyện quốc gia đại sự.

Miền nam lúc đó có những cuộc xuống đường đấu tranh thường xuyên và liên tục (nhiều khi quá khích)…Huế , Sài gòn, Đà nẵng, Tam kỳ…Học sinh, sinh viên, nông dân, Thương phế binh, các Tôn giáo…Mỗi người, mỗi đoàn thể xuống đường đấu tranh với những mục đích khác nhau…Báo chí thì lên án, chỉ trích Chính quyền.

Chưa luận đến những cuộc đấu tranh xuống đường đó là đúng hay sai, nhưng ít nhất đó là cái quyền chính đáng của người dân trong chế độ Dân chủ…thể hiện chính kiến và quyền làm chủ vận mệnh của mình. Việt nam Cộng hòa lúc đó là một nhà nước Dân chủ, sinh động và đầy sức sống.

Sau khi Hoa Kỳ rút quân và cắt hoàn toàn viện trợ, Việt nam Cộng hòa một mình đối đầu với 3 thế lực lớn: Miền Bắc CS, Trung Cộng, và Liên Xô. Tương quan lực lượng chênh lệch quá lớn nên VNCH bị bức tử, xóa sổ một nhà nước tiên tiến nhất khu vực Đông nam Á lúc đó.

Sau 1975 chính quyền “Cách mạng” thường hay răn đe người dân là không được bàn luận chuyện chính trị nếu không sẽ bị nghiêm trị, một không khí sợ hãi bao trùm. Lúc đó không ai bảo ai đều phải biết giữ mồm giữ miệng vì nhìn thấy hàng trăm ngàn người thuộc chế độ cũ phải đi “Học tập cải tạo” không biết ngày về, rồi những vụ án Chính trị nổ ra khắp nước với rất nhiều bản án tử hình, chung thân, 20 năm làm người dân khiếp đảm…(riêng người viết bài này chỉ vì một tập truyện “Di tản” và một số truyện ngắn khác mà phải chịu bản án 10 năm tù, 4 năm quản chế, lúc đó các con tôi còn rất nhỏ: 4 tuổi, 6 tuổi và 8 tuổi, các cháu lại mồ côi mẹ, nỗi bất hạnh và đau đớn này không gì bù đắp nỗi, không bao giờ nguôi ngoai được)… cộng với chế độ Hộ khẩu, tem phiếu và một chính quyền chuyên chính vô sản nghiệt ngã làm cho người dân co rút lại sống trong bóng tối và sự yên lặng…lâu dần thành quen…không ai còn dám bày tỏ quan điểm và chính kiến của mình, họ sợ hãi chính suy nghĩ của họ, họ phải luôn luôn tự "kiểm duyệt”.

Hơn 30 năm không được bày tỏ quan điểm chính kiến của mình một cách tự do, người dân dần mất đi khả năng tư duy, mất đi chính kiến. Vì không được trình bày chính kiến của mình một cách tự do nên nhu cầu có chính kiến cũng không còn, một khi người dân không có chính kiến thì lấy gì trình bày (nó như một vòng luân chuyển hổ tương cái này có thì cái kia có).

Nhà cầm quyền muốn cho người dân cúi đầu lặng thinh để đất nước được ”ổn định”.

Một dân tộc không có chính kiến hoặc không được trình bày chính kiến của mình một cách tự do là một dân tộc chết, một xã hội không có tự do phản biện là xã hội chết.

Tam kỳ 15/1/2010
Huỳnh Ngọc Tuấn

Posted: Thu Jan 28, 2010 4:32 pm
by tranphuongdong
CHẾ ĐỘ VIỆT CỘNG TỰ DIỄN BIẾN
THÀNH CHẾ ĐỘ LƯU MANH CÔN ĐỒ

Lý Đại Nguyên
Kẻ lãnh đạo tư tưởng Cộngđảng, cầm vận mệnh truyền thông báo chí trong nước, Tô Huy Rứa, ủy viên Bộ Chính Trị, trưởng ban Tuyên Giáo Trung Ương, ngày 03/08/2009 đã cho đăng một bài trên báo Nhân Dân điện tử, với nhận định: “Đảng Cộng Sản Việtnam đang đứng trước một bối cảnh quốc tế phức tạp”. “Xu hướng cạnh tranh giữa các nước lớn sẽ ngày càng gay gắt, quyết liệt hơn, đặc biệt trên điạ bàn chiến lược, trong đó có biển Đông”. Đồng thời Tô Huy Rứa vẫn xác định đường lối chính trị của cộng đảng ở Đại Hội XI sắp tới là: “Chống Tự Diển Biến”, “tiếp tục làm sáng tỏ nhận thức, quan niệm về Chủ Nghĩa Xã Hội và con đường đi lên Chủ Nghĩa Xã Hội…” Theo đó Tô Huy Rứa cảnh báo về nguy cơ chuyển biến nội bộ đảng, thậm chí còn cao hơn “Diễn Biến Hòa Bình”.

Hiện tượng ‘tự diễn biến nội bộ đảng’ có nghiã là trong tư tưởng và trong thực tế quyền hành và quyền lợi riêng tư của mỗi đảng viên, từ Bộ Chính Trị trở xuống tới các Chi Bộ Cơ Sở, đại đa số, đã không còn tin tưởng tuyệt đối vào thứ Chủ Nghĩa Xã Hội chết tiệt đó và không còn trung thành với chủ trương, đường lối, sách lược lệ thuộc quốc tế của Trung Ương Đảng nữa. Mỗi đảngviên đang tự thủ thân, lập thế, để lúc nào đó cùng ‘ù té chạy’. Điều không may cho Dân Tộc và Quốc Dân Việt Nam là, trong sự ‘tự diễn biến’ ấy, những đảng viên, nhất là những người lãnh đạo đảng Việtcộng lại không hướng theo ‘Diễn Biến Hòa Bình’, dựa trên nhu cầu, nguyện ước chân chính thiết thực của toàn dân và dân tộc là Dân Chủ Hóa chế độ. Đa Nguyên Hóa tư tưởng. Tự Do Hóa xã hội. Tư Nhân Hóa truyền thông. Tư Hữu Hóa Ruộng Đất. Tư Doanh Hóa kinh tế. Toàn Cầu Hóa thị trường…theo hướng vận hành thăng hóa của Nhận Thức Nhân Chủ Nhân Văn thời đại. Mà chỉ lo mất quyền lực, lợi lộc của cá nhân và bè đảng.

Trong khi đó, dù ngoài miệng phải hô to, rống lớn là phải: “Tiến Lên Chủ Nghĩa Xã Hội”. Nhưng tất cả đảng viên từ trên xuống dưới đều biết thật rõ là thứ chủ nghĩa không tưởng quái ác đó đã chết tiệt thật rồi, không còn sống lại được nữa. Cái chế độ có tên là Chủ Nghĩa Xã Hội ở Việtnam hiện nay, nó đã tự diễn biến thành “Chủ Nghĩa Tư Bản Gia Tộc Man Rợ” không giống bất cứ ai.

Đảng viên có quyền có thế đều đã được đảng cho phép trở thành “Tư Bản Tư Doanh”, để từ đó kéo Gia Đình Dòng Tộc vào, biến các Công Ty Quốc Doanh, kể cả vốn liếng của nhà nước thành Tư Hữu Tư Doanh, độc quyền làm kinh tế thị trường. Các công ty Tư Doanh Thường Dân, kể cả các công ty Liên Doanh với Nước Ngoài cũng dễ bị các công ty Tư Doanh Đảng Viên chèn ép cho đến mất nghiệp. Trường hợp mới nhất xẩy ra với công ty Liên Doanh Việt-Úc, hãng hàng không giá rẻ Jetstar Pacific. Chính vì đảng viên quyền thế tham nhũng và được làm giầu không cần vốn, nên họ bằng mọi cách, mọi giá phải bám lấy quyền lực quốc gia, kể cả việc cam tâm làm nô lệ cho kẻ thù truyền kiếp của dân tộc là Tầucộng. Trong khi dân chúng Việtnam đang bừng lên khí thế đòi Tự Do Dân Chủ và chống Giặc Tầu Xâm Lăng.

Việtcộng hoàn toàn mất chính nghĩa trước dư luận quốc dân và quốc tế. Chúng không thể bám vào bất cứ thứ danh nghĩa cao đẹp nào để lừa mị toàn dân và che mắt thế giới nhằm duy trì chính quyền cộng sản độc đảng, độc tài, độc ác, tham nhũng được nữa. Nên từ tâm điạ độc ác, tham tàn và quán tính bất nhân, bất nghĩa, bất trung, bất tín, vô liêm sỉ của mỗi đảng viên đương quyền, đương thế, chúng đã tự diễn biến, biến luôn chế độ ‘xã hội chủ nghĩa’ thành chế độ ‘lưu manh côn đồ’ theo với bản tính, bản chất ngu xuẩn, xấu, sai, ác của chúng.

Tại biến cố Thái Hà, Bát Nhã, Tam Tòa, Đồng Chiêm… và còn nhiều cơ sở của các tôn giáo khác nữa. Việtcộng đã cho Công An, Dân Phòng đội lốt “Lưu Manh Côn Đồ” để đánh đập tàn nhẫn những Giáo Dân, Giáo Sĩ, Tăng, Ni, nhằm chiếm đất, chiếm chùa, trước sự điều động trực tiếp của các viên chức địa phương. Để rồi Hànội đỗ thừa cho dân chúng tự phát, và trách nhiệm thuộc về địa phương, khi bị báo chí quốc tế chất vấn. Nhưng toàn dân và cả dư luận quốc tế đều biết thật chính xác, là trong chế độ cộng sản toàn trị, trung ương tập quyền, tất cả mọi hoạt động của địa phương, nhất là có tính chính trị, nhậy cảm thuộc về tôn giáo, thì phải do Trung Ương chỉ đạo. Có như vậy báo chí, truyền thanh, truyền hình trong nước mới nhất loạt vu cáo cho hàng Giáo sĩ, Tăng sĩ có lỗi kích động dân chúng ‘chống lại nhà nước nhân dân’. Khiến cho Thiền Sư Nhất Hạnh, một tăng sĩ nổi tiếng trên thế giới, sẵn sàng hợp tác với Việtcộng, Ông đã nhiều lần đưa Tăng Đoàn Làng Mai tại Pháp về Việtnam giảng pháp và tiếp xúc với giới cầm quyền Hànội, để dư luận thế giới cho là Việtnam đã cởi mở về tự do tôn giáo. Nhờ đó chính phủ Hoakỳ đã lấy tên Việt Nam ra khỏi danh sách CPC, “các nước cần đặc biệt quan tâm về tự do tôn giáo”.

Rồi qua vụ chế độ Lưu Manh Côn Đồ Việtcộng đánh đuổi 400 Tăng, Ni trẻ tu học theo phưong pháp Làng Mai tại chùa Bát Nhã Lâm Đồng, và không cho Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam của nhà nước, được chứa chấp làm cho thiền sư Nhất Hạnh phải lên tiếng: “Bát Nhã Là Một Công Án Thiền”. Theo ông: “Nếu nghĩ rằng Bát Nhã là vấn đề của 400 tu sinh đang gặp khó khăn, đang cần một giải pháp hợp tình hợp lý thì đó không phải là một công án. Chỉ khi nào thấy rằng Bát Nhã là vấn đề chính của bản thân ta, nó liên hệ trực tiếp đến hạnh phúc, đau khổ của ta, của tương lai ta, và tương lai đất nước dân tộc ta, và chừng nào chưa giải quyết được công án Bát Nhã thì ta còn ngủ không yên, ăn không yên, làm việc không yên thì lúc ấy Bát Nhã mới thực sự là công án”. Là người tu thiền, cho Bát Nhã Là Một Công Án Thiền, đối với thiền sư Nhất Hạnh đó là một chướng ngại, khổ đau, phải thường xuyên quán chiếu để tự ngộ, tự thắng đó là lẽ đương nhiên. Nhưng dù vậy, vẫn không làm sao cho dư luận nguôi ngoai được sự chịu đựng khốn khổ của 400 người trẻ đang bị chế độ Lưu Manh Côn Đồ nghiền nát. Chỉ vì đất nước chưa có Tự Do Tôn Giáo, chưa có Sự Thật, Công Lý. Dân Chủ, Công Bằng.

Về phía Thiên Chúa Giáo, hồng y Phạm Minh Mẫn, Tổng Giáo Phận Saigòn, người đã có lần cho là: “nên bỏ cờ vàng, giữ cờ đỏ” làm cho giáo dân và người tỵ nạn cộng sản phản đối mạnh mẽ. Ngày 25/01/10, cũng đã phải lên tiếng về nguyên nhân tranh chấp giữa Giáo Hội và Nhà Nước Việtcộng như sau: “Tôi thấy có một nguyên nhân chính, đó là đi ngược chiều với truyền thống văn hóa cùng những giá trị đạo đức của dân tộc. Nền văn hóa cùng những giá trị đó từ ngàn xưa được xây dựng trên tình nghĩa đồng bào tôn trọng lẫn nhau, tương thân tương trợ lẫn nhau, chứ không phải trên hệ thống quyền lực cùng bạo lực loại trừ đồng bào, đồng loại.

Lịch sử cho thấy công cuộc phát triển xã hội tự do và dân chủ, bình đẳng và công bằng, văn minh và khoa học, mà thiếu tình nghĩa đồng bào, thiếu tình nghĩa huynh đệ đại đồng, luôn để lại nhiều vấn đề nan giải, cản trở sự phát triển toàn diện của con người và đất nước”. Đến đây cho thấy, dù cho các nhà lãnh đạo tinh thần vốn có thái độ ôn hòa, sẵn sàng đối thoại, hợp tác với Việtcộng, như Hồng Y Phạm Minh Mẫn, Thiền Sư Thích Nhất Hạnh cũng không còn chịu đựng được cái chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa tự quái hóa thành chế độ Lưu Manh Côn Đồ, coi ‘Dân là Kẻ Thù’, coi ‘Tầu là Thầy Tổ’. Không biết bọn họ sống được với ai nữa đây??? Little Saigon ngày

26/01/2010.

Posted: Sat Jan 30, 2010 4:02 am
by vuphong
Vô cảm
Thursday, January 28, 2010

Ngô Nhân Dụng
Trên con đường vào công viên, tôi thấy một phụ nữ đang lúi húi lượm những trái thông khô trên mặt đất, bỏ vô cái túi ni lông xách trên tay. Người đàn bà da trắng đã lớn tuổi ngẩng lên cười, giải thích: “Ðem về đốt lò sưởi.” Chiều hôm đó chúng tôi cũng bắt chước. Trong khi đi tìm những trái thông khô để nhặt lên bỏ vô túi, tôi chợt nhớ đến một tiếng Việt lâu lắm không dùng: Ðộng từ Mót. Tôi đi “mót quả thông.” Các bạn trẻ không quen nghe, có thể không hiểu động từ này.

Trước đây 50, 60 năm, ở làng quê tôi sống, người ta đi “mót lúa, mót ngô, mót đỗ.” Một bữa đi qua thửa ruộng thấy mấy người đang đi mót những hạt thóc còn bỏ sót, tôi cũng tính bước xuống tìm nhặt, mẹ tôi níu lại, không cho. Thời gian đó, gia đình tôi cũng ăn cơm độn ngô, độn khoai hay sắn (khoai mì). Mẹ bảo: Nhà mình còn có cái ăn, mình không mót tranh của họ.

Tức là trong làng đã có một “giao ước” với nhau, không thành văn, nhưng ai cũng đồng ý. Người còn miếng ăn thì không đi mót lúa, mót ngô. Ðể cho những người nghèo nhất làng còn cơ hội kiếm được mấy hạt cơm hạt bắp. Nếu cũng đi mót lúa thì mình ăn tranh của họ hay sao? Trong nền văn minh nào cũng vậy, ngoài những luật lệ thành văn có những tập tục giúp chúng ta ăn ở cho phải đạo làm người. Khi lúa chín, các hạt thóc thuộc quyền sở hữu của chủ ruộng. Nhưng sau khi gặt hái xong rồi, còn lại những hạt thóc rơi vãi bỏ đó cũng “phí của giời,” được coi là của chung, ai muốn vào mót cũng được. Nhưng mọi người lại đồng ý nên để dành những hạt thóc rơi đó cho những người nghèo nhất làng, không được “tranh ăn” với họ. Ai vi phạm quy tắc này chắc sẽ bị người làng khinh rẻ. Người ta không sợ luật pháp bằng sợ bị người khác khinh rẻ, đó cũng là một nền tảng của đạo lý.

Nói đến những chuyện trên, lại nhớ đến chữ “mót” mới được dùng trong câu chuyện được báo chí trong nước đăng tuần trước. Ba phụ nữ vào đồn điền Trường Ngọc ở Ban Mê Thuột “mót cà phê,” những trái cà phê rơi vãi sau khi công nhân đồn điền đã làm xong việc. Ðồn điền có chó canh, bà Phạm Thị Ngắn chạy chậm chân bị một con chó Béc giê quật ngã.

Người trông đàn chó đi xe máy tới, bà Ngọc van xin, ông ta nói: “Ai bảo vào? Cho chết.” Rồi thả đàn chó 5 con ra tấn công. Bà Ngắn bị đàn chó cắn chết. Ông cai chó đồn điền huýt sáo thu binh. Hai cô gái khác chạy kịp leo lên cây, chứng kiến cảnh đàn chó ăn thịt bà Ngắn, kéo lê thi hài bà hàng chục thước. Ai cũng phải cảm thấy xấu hổ vì không ngờ người Việt Nam lại đối xử phi nhân với nhau như thế.

Ðọc bản tin trên thì phải thấy là những người dân nghèo nhất ở làng tôi, sống trước đây 50, 60 năm, là những người may mắn. Họ sống trong một xã hội mọi người đối xử với nhau có tình cảm, có bao dung, biết thương hại. Sống trong một làng với nhau, biết thương xót nhau một cách kín đáo, nên để cho người nghèo đi mót những hạt thóc, hạt ngô rơi vãi sau mùa gặt. Ngày nay, người mình sống trong một khung cảnh khác hẳn, cho nên câu chuyện phi nhân trên mới xảy ra.

Trong cuốn phiếm luận “Nhân Nào Quả Ðó,” nhà văn Vương Trí Nhàn có lúc tóm tắt vài quy tắc sống, mà ông gọi là những Luật Miệng, bất thành văn trong xã hội chung quanh ông: “Chỉ biết đến đồng tiền mang về, còn như uy tín, danh dự, việc ấy không quan trọng. Chỉ biết nhà mình, còn việc chung của cả xã hội hơi đâu mà lo cho mệt!” (xuất bản năm 2004 ở Hà Nội, trang 33).

Có phải vì người ta quen sống với những quy tắc này mà trong xã hội có những chuyện như ông cai đồn điền thả chó săn ra cắn chết người, chuyện cha mẹ đánh chết con, hay chuyện bố mẹ chồng trói con dâu bỏ ra đường mà đánh đập không cho hàng xóm can hay không?

Nhưng những “luật miệng” mà Vương Trí Nhàn nêu ra thì ở nước nào cũng thấy có, không riêng gì ở nước ta. Tham tiền là một động cơ thúc đẩy cho kinh tế phát triển. Chỉ những người đi tu họa chăng mới từ bỏ được dục vọng đó. Quyền tư hữu cũng là một nền tảng của sự phát triển văn minh, bỏ cái quyền tư hữu đi, những người chủ trương công hữu tha hồ vơ vét vào túi riêng, đạo đức xã hội càng xuống thấp. Người dân những nước văn minh nhất cũng thường cũng lo cho mình, cho gia đình mình, trước khi lo cho người chung quanh. Những người như bà Mẹ Tê Rê Sa rất hiếm cho nên chúng ta mới tán thán và kính trọng.

Nhưng tại sao ở nhiều xã hội khác, họ vẫn theo những “luật miệng” đó mà phong tục không suy đồi như những cảnh phi nhân mà báo chí ở nước ta tường thuật?

Có lẽ bởi vì ai cũng biết lòng tham và óc ích kỷ vốn có sẵn trong loài người cho nên ở các xã hội văn minh người ta lo tìm cách hạn chế các tật đó. Ðể sống đúng tư cách con người hơn. Khi lòng tham và óc ích kỷ được phóng tay thả lỏng không biết đâu là giới hạn thì nó sẽ làm cho cả phong hóa xuống thấp, con người không còn nghĩ đến danh dự, uy tín nữa.

Có cái gì để hạn chế lòng tham và lòng ích kỷ? Một phần là luật lệ, phần nữa là người ta trông mà bắt chước lẫn nhau, nhất là trông lên những người nắm quyền bính.

Ở các xã hội văn minh người ta tôn trọng quyền tư hữu, nhưng không cho phép ai nhân danh quyền đó mà giết người một cách phi nhân như cảnh xua đàn chó ra cho chúng ăn thịt người, rồi thản nhiên nói: Cho chết. Luật lệ các thành phố thường bắt buộc những chủ nhà nuôi chó dữ phải yết bảng báo cho công chúng biết, để người ta tránh. Phải đặt nhiều tấm bảng như vậy, sao cho ai vô tình cũng phải trông thấy. Ở các xã hội tiến bộ có rất nhiều luật hạn chế việc sử dụng quyền tư hữu để bảo vệ sự an toàn của người khác, nói chung là của công chúng. Anh lái một chiếc xe chở dầu, khí đốt, thì phải viết hàng chữ lớn báo động: “Chất dễ cháy, dễ nổ,” cho người khác đề phòng. Khi mua một món hàng gói bằng bao ni lông, ai cũng thấy trên bao viết rõ những hàng chữ đủ lớn cảnh cáo công chúng phải coi chừng đừng để trẻ em chơi với cái bao ni lông, có thể bị chết ngạt. Người bỏ rác có chất độc hại, chất nổ ở nơi công cộng thì bị phạt, vì những người đi lượm rác vô tình có thể bị tai nạn. Một lối đi trong cửa hàng mới lau rửa bằng nước phải để tấm bảng “Ðường trơn trượt. Coi chừng té” để mọi người biết mà đề phòng.

Những luật lệ như vậy đặt ra thường để hạn chế quyền của những người có tiền và có quyền trong xã hội. Cho nên khi những người có quyền và có nhiều tiền mà không bị bắt buộc thì họ không tự ý đặt ra những thứ luật lệ như vậy. Chỉ khi nào công chúng, tất cả mọi người dân đòi hỏi, những đại diện của họ, từ các nghị viên thành phố cho đến các đại biểu quốc hội, mới làm ra luật để bảo vệ công chúng. Chỉ cần một tai nạn xảy ra là cả nước xôn xao, người ta phải tìm hiểu tại sao và làm cách nào tránh những tai nạn tương tự. Khi đó, các đại biểu của dân làm ra các luật lệ mới. Tất nhiên điều đó chỉ diễn ra khi các đại biểu là do dân chúng tự do lựa chọn, chứ không phải do một đảng cầm quyền chọn trước trong phe cánh của mình. Chỉ khi nào các đại biểu biết mình chịu trách nhiệm trực tiếp với cử tri, chứ không phải chỉ cần làm theo “lệnh trên” của đảng là đủ, thì chúng ta mới có những luật lệ bảo vệ người dân trước những kẻ nhiều tiền và nắm quyền bính.

Cho nên, khi được một đài phát thanh quốc tế phỏng vấn về vụ thả chó cắn chết người, Sử gia Hà Văn Thịnh ở Việt Nam không phê phán ông chủ đồn điền cà phê mà lại nói, “Cái buồn lớn nhất của tôi là có nhiều người bất tài đang nắm cương vị lãnh đạo.”

Những người nắm cương vị lãnh đạo không cảm thấy trách nhiệm họ là phải bảo vệ sự an toàn của công chúng, trong đó có những người nghèo khổ phải đi mót cà phê, những em bé đi lượm rác. Cho nên mới không có luật lệ hạn chế quyền của các vị chủ nhân, hoặc có những luật lệ từ thời Pháp thuộc nhưng bây giờ không ai thi hành. Người ta không thi hành, biết vì nếu có tai nạn thì họ cũng được tha, nhờ quyền thế hoặc nhờ tiền đút lót.

Ông Hà Văn Thịnh đã nêu ra những thí dụ cho thấy những kẻ có quyền thế ở Việt Nam thuộc một giai cấp được ưu đãi. Họ sống bên trên luật pháp. Ông kể trường hợp 3 nông dân ở Lâm Ðồng ăn trộm hai con vịt để nhậu, ra tòa bị tổng cộng 13 năm tù; còn một ông giám đốc ở Hà Nội lái xe không có bằng, đâm chết hai người, chỉ bị 36 tháng tù treo! Mạng hai con người không lớn bằng 2 con vịt!

Ông Hà Văn Thịnh nhận xét, “Hàng ngàn năm người dân bị sức ép, phải luồn cúi, phải chịu đựng, phải khom lưng lại. Và phải chấp nhận tất cả mọi điều đó. Nó làm cho mệt mỏi chai lỳ. à Vô cảm hầu như trở thành một căn bệnh, căn bệnh kinh niên của xã hội bây giờ. Họ thấy đấy nhưng mà họ (mặc) kệ, mỗi người lo thân mình.” Câu cuối cùng cũng là nhận xét của nhà văn Vương Trí Nhàn, đã nêu trên đây.

Nhưng khi báo chí trong nước cũng như ở nước ngoài đều loan tin và bàn luận về cái chết thảm thương của bà Phạm Thị Nhắn, thì chúng ta có thể thấy là xã hội Việt Nam cũng không hoàn toàn vô cảm như ông Hà Văn Thịnh lo lắng. Cái chết của bà sẽ không vô ích, nếu như nó thúc đẩy sự thay đổi trong xã hội Việt Nam. Người Việt Nam vẫn còn rất nhậy cảm trước những hành động tàn nhẫn, bất công. Không ai chấp nhận cách đối xử tàn ác, phi nhân đối với những phụ nữ nghèo phải đi mót.

Như nhà văn Vương Trí Nhàn dẫn lời Tchekov trong cuốn sách của ông: “Người Trí thức là lương tâm của một dân tộc.” Các nhà văn, các sử gia, các người viết báo, đều là những nhà trí thức. Lương tâm của dân tộc không chấp nhận người Việt Nam sống với nhau một cách phi nhân như những kẻ thả chó cắn chết người. Muốn chấm dứt cảnh phi nhân đó, phải đặt ra luật lệ hạn chế quyền của những kẻ có tiền và có quyền thế. Phải trả lại cho mọi người dân quyền chọn những kẻ cầm quyền, từ trung ương tới địa phương. Những người chiếm độc quyền lãnh đạo mà không chịu sự kiểm soát của người dân bỏ phiếu thì họ sẽ tiếp tục để mặc cho xã hội sống phi nhân như vậy.

Posted: Mon Feb 01, 2010 2:35 am
by dailien
Ngón đòn xâm lược thâm hiểm và bẩn thỉu của Tàu Cộng_

Vũ Cao Đàm.

Giới thiệu vài dòng tiểu sử của GS. Vũ Cao Đàm" .... Gần hết cuộc đời, tôi đã nuôi trong lòng tình hữu nghị cao cả với đất nước quê hương của Đức Tổ họ Vũ của tôi. Tôi có lai lịch là người gốc Trung Hoa. Đức Tổ khai sinh ra dòng họ Vũ của tôi là một người thuộc dòng họ Vũ xã Long Khê, huyện Phúc Điền, tỉnh Phúc Kiến, bên Trung Hoa. Đức Tổ của tôi là Vũ Hồn, được Vua Đường Vũ Tông cử làm An Nam Đô hộ sứ cai trị xứ An Nam ...

trong khoảng thời gian 841-843 theo Tây lịch. Nhưng rồi vì thất sủng với Nhà Đường, Vũ Hồn đã về sống ẩn dật với người vợ An Nam ở làng Mộ Trạch, huyện Đường An, nay thuộc tỉnh tỉnh Hải Dương sinh cơ lập nghiệp, dựng nên dòng họ Vũ ở Việt Nam ngày nay.
Tôi nuôi những tình cảm ấm áp với người Trung Hoa từ cuối những năm 1930, khi tôi mới 3-4 tuổi, ở một vùng quê rất xa thành phố. Đó là châu Dực Yên thuộc tỉnh Hải Ninh ngày xưa, mà hôm nay vẫn còn giữ nếp sống bằng lặng, yên bình, ngay sát thành phố Móng Cái, ở đó, vẫn còn dấu ấn của hàng xóm là những người Hoa chất phác, đôn hậu, tắt lửa tối đèn cùng gia đình chúng tôi chia sẻ từng bát cháo hoa ăn với chao và trứng muối ... "



Lướt nhanh trên mạng những ngày này, chúng ta luôn tìm được nhiều thông tin đắt giá:
Thương lái Trung Quốc (dân thường nói ngắn gọn, là bọn Tàu) về các chợ nông thôn Việt Nam thu mua móng trâu với giá rất cao, thậm chí những cái móng từ 4 chân của một con trâu được bọn Tàu mua với giá hơn hẳn một con trâu. Thế là nông dân Việt Nam và bọn "trâu tặc" ra sức chặt móng trâu đem bán,… vẫn còn lãi một con trâu thịt mang bán ở chợ. Chỉ một thời gian rất ngắn, bọn chúng đã triệt phá tan hoang sức kéo của nông dân nghèo Việt Nam . Tiếp đó, dân loan tin cho nhau, hàng lũ lái trâu từ bên Tàu tràn qua biên giới để "tiếp thị" bán trâu. Trong cái lũ thương lái mới này còn có cả kẻ tiếp thị bán trâu sắt (máy kéo). Dân tình vỡ lẽ: Thì ra chúng thu mua móng trâu là vì như thế!

Ở một nơi khác, thương lái Tàu đi các chợ thu mua rễ hồi, thế là những bọn "hồi tặc" mở chiến dịch triệt phá rừng hồi, một dược liệu quý hiếm của Việt Nam; chúng mua râu ngô non, xúi giục nông dân triệt phá nương ngô mang bán, đánh vào trúng cái dạ dày của những người mà bọn Tàu gọi là "đồng chí tốt" Việt Nam; chúng thu mua mèo nhằm triệt phá một nguồn trừ chuột cắn lúa; rồi chúng mua ốc bươu vàng, xúi giục nông dân nuôi ốc bươu vàng tràn ngập đồng ruộng phá hoại mùa màng, tấn công vào chiến lược an ninh lương thực của quốc gia "láng giềng tốt" Việt Nam.

Hàng tốp thương lái Tàu xuất hiện từ Hà Giang cho đến Lâm Đồng để thu mua chè vàng, là thứ chè chặt thô phơi tái, không cần chế biến. Thương lái Tàu mua chè vàng với giá rất cao, kích thích nông dân chặt trụi đồi chè mang bán. Thế là thương lái Tàu đã triệt hạ vùng nguyên liệu cho các nhà máy chè Việt Nam . Không còn con đường nào khác, các doanh nghiệp chè Việt Nam phải sang mua chè nguyên liệu từ Trung Quốc. Đến khi nông dân Việt Nam cần trồng lại đồi chè, thì các "đồng chí tốt" từ bên kia biên giới, vì tình quốc tế vô sản lại lọ mọ xuất hiện, "giúp" mua giống chè từ Trung Quốc chở qua cho nông dân Việt Nam.

Thâm độc hơn, chúng mở chiến dịch thu mua dây đồng vụn với giá cao "trên trời", đẩy từng đoàn "đồng tặc" lùng sục chặt trộm dây đồng từ các đường điện cao thế, băm nát mạng lưới điện quốc gia của nước "láng giềng tốt" để nước này đốt đèn dầu đi theo họ "hướng tới tương lai". Có nơi, bọn "đồng tặc" lẻn vào kho ăn cắp từng cuộn dây đồng mới "coong" mang bán, thì "các đồng chí tốt" lên mặt đạo đức: "Ấy chết, cái ngộ không mua cái cuộn dây tôồng ăn cắp tài sản xã hội chủ nghĩa của các tôồng chí tâu lố!" (Chúng tôi không mua cái cuộn dây đồng ăn cắp tài sản xã hội chủ nghĩa của các đồng chí đâu nhé).
Cho đến khi bọn thương lái Tàu đi thu mua cáp quang phế liệu, thì các nhà đương cục của chúng ta mới được phen ngớ ra, không hiểu bọn chúng mua cái "của nợ" này để làm gì. Vì mua dây đồng thì còn có thể hiểu là chúng lấy nguyên liệu, nhưng cáp quang thì thật không thể hiểu được chúng mua để làm gì? Đến khi dân nghèo lặn xuống biển chặt phá mạng cáp quang viễn thông, thì mới "ngã ngửa" ra, là chúng đang phá hoại con đường huyết mạch thông tin của Việt Nam… Chắc là các "đồng chí Việt Nam" nghĩ mãi không biết xử thế nào với những người "đồng chí tốt" bên nước vô sản Trung Hoa, đành phải đưa ra tòa vài thằng dân nghèo "trót dại" lặn xuống biển chặt trộm cáp quang.
"Láng giềng tốt" giúp… xây dựng các công trình thủy lợi
Sau 1954, Việt Nam được Trung Quốc giúp xây dựng nhiều công trình thủy lợi. Tôi đã tiến hành một cuộc phỏng vấn với Giáo sư TTA, Viện trưởng một viện nghiên cứu thủy lợi ở Hà Nội về sự giúp đỡ thủy lợi của người "đồng chí tốt", vị Giáo sư kéo tôi vào phòng làm việc và cho xem một video clip quay suốt dọc dòng sông biên giới Việt – Trung.

Trời ơi, chúng ta không thể tưởng tượng được, người "đồng chí tốt" đã làm những trò gì đâu! Các "đồng chí" xây 120 cái kè chắn chéo dòng nước trên các dòng sông biên giới, tạo những luồng nước xoáy để làm sạt lở bờ phía Việt Nam, ăn cắp đất mang về phía đất nước "láng giềng tốt" bên kia biên giới. Đất bồi sang phía bắc đến đâu, các đồng chí xây nhà cao tầng và kéo giai cấp vô sản quốc tế Trung Hoa đến đó.

Xem xong clip của Giáo sư TTA, tôi bàng hoàng… Tất cả các triều đại Đường, Nguyên, Tống, Minh, Thanh, chưa có bất kỳ một triều đại nào trước Triều đại cộng sản Trung Hoa sử dụng những biện pháp tồi tệ như vậy với Việt Nam.

Việt Nam đã đối đầu với những đế quốc lớn, đã đối mặt với đủ loại thủ đoạn tàn bạo của nhiều loại đế quốc, nhưng có lẽ đây là ngón đòn xâm lược thâm hiểm và bẩn thỉu nhất của một loại đế quốc mới nổi: Đế quốc Trung Cộng.

Tôi hỏi Giáo sư TTA: "Ông có thể cho biết, có công trình thủy lợi nào mà Cộng sản Trung Hoa giúp Việt Nam không chứa đựng những "yếu tố đểu" tương tự như vậy không?". Ông chau mày trầm ngâm suy nghĩ hồi lâu…

"Tôi khó trả lời anh quá", Giáo sư nói với tôi như vậy.
Đến hành vi gây ô nhiễm môi trường "gien" Việt Nam
Trên đường phố và sân bay Việt Nam hôm nay tràn ngập người Trung Quốc. Tôi vừa ngồi ở sân bay Đà Nẵng. Tôi đến hơi trễ, hỏi anh bạn ngồi bên phải tôi: "Máy bay Hà Nội gọi vào chưa?", thì nghe câu hỏi lại bằng tiếng Tàu "Shen ma?" (Cái gì?). Tôi quay bên trái hỏi, thì lại nghe "Shen ma?". Tôi quay phía sau hỏi, lại thấy "Ni shuo shen ma?" (Ông nói cái gì?)… Tôi ngỡ ngàng, tưởng mình lạc vào sân bay Bắc Kinh..

Làng sinh viên HACINKO (Phố Ngụy Như Kontum) không còn chỗ cho thuê vì hơn 500 người Trung Quốc đã "trấn" ở đó. Họ chen lấn trong thang máy và trong nhà ăn, thậm chí chiếm đứt thang máy để chơi đùa leo lên leo xuống, không cho bất kỳ ai sử dụng thang máy. Người Tàu đến đó mở hàng ăn, hàng bán quần áo, mua bán tấp nập như một chợ Tàu. Tối tối sinh viên Tàu trượt patin và la ó huyên náo một góc phố… Họ làm cho tôi liên tưởng tới hai mươi vạn quân Tàu Tưởng tràn vào Việt Nam năm 1945,… ghẻ lở, bẩn thỉu, ngông nghênh và láo xược.

Sao mà người Trung Quốc thắng thầu lắm thế? Chuyện bauxite Tây Nguyên đã có quá nhiều người nói rồi. Tôi đơn cử vài chuyện vặt vãnh khác: Chỉ ở một tỉnh ở rất gần Hà Nội thôi, Trung Quốc chưa làm xong Nhà máy điện HB, hàng ngàn công nhân Tàu chưa kịp rút, thì Tàu đã thắng thầu làm Nhà máy điện MK, và hàng ngàn công nhân Tàu lại xuất hiện. Những người Tàu từ các cơ sở sản xuất này lan tỏa khắp nơi để gieo rắc "hạt giống đỏ" cho cách mạng vô sản Trung Hoa, đỡ cho các công ty xuất khẩu lao động Việt Nam và các công ty môi giới hôn nhân khỏi phải xuất con gái qua Tàu… Tôi có dịp trao đổi với các chị phụ trách hội phụ nữ ở mấy tỉnh Tây Nguyên, thì được biết, các chị đang rất lo ngại, chưa biết xử lý thế nào với nạn con gái Tây Nguyên có bầu với công nhân Tàu (!).

Chúng ta nhìn thấy một cảnh tượng đang đến gần: Đội quân thứ 5 của Trung Cộng đang ngày càng được mở rộng. Cần cảnh báo: Khi Trung Cộng mới sáp nhập Tân Cương vào Trung Quốc, dân Hán ở đây chỉ chiếm chừng 4-5%. Sau nửa thế kỷ, dân Hán đã lên tới 45%. Tôi nhớ đã đọc ở đâu đó, chúng ta có thể rất cần đặt câu hỏi: "Bao giờ dân tộc Việt Nam trở thành dân tộc thiểu số trên chính đất nước mình?".

Và rồi xoa dịu bằng mấy công trình văn hóa?

Gần đây chắc là Trung Nam Hải đã nhận ra sự phẫn nộ của dân chúng Việt Nam trước những hành vi xâm lược của họ, họ đã "kỷ niệm" cho dân Việt Nam mấy pha ngoạn mục: Trước hết là 30 triệu USD xây dựng ký túc xá cho Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh để đào tạo cán bộ cho Đảng. Tiếp đó là Cung Văn hóa hữu nghị Việt – Trung, chắc rồi đến Viện Khổng Tử,… và rồi không biết còn những thứ gì nữa.
*
Viết đến đây, tôi chợt nhớ cái thời lớp thanh niên chúng tôi say mê theo các nghệ sỹ ca ngợi,… những cánh hoa mộc miên bay tới đâu, tình hữu nghị của dân tộc Trung Hoa lan tỏa đến đó… Sao mà lãng mạn.

Ngẫu nhiên, tôi ngồi để hồi tưởng tâm tình lãng mạn theo những "Cánh hoa mộc miên" với Giáo sư Phạm Huy Tiến, một nhà địa chất, cũng có thời đi tu nghiệp "tiến tu Giáo sư" ở Học viện Địa chất Bắc Kinh (đối diện Học viện Khoáng nghiệp của tôi). Giáo sư Tiến cười rũ ngắt lời tôi: "Các bố nhầm hết rồi. Các nghệ sỹ cũng nhầm rồi. Cánh rừng mộc miên khi xưa nằm trên đất Việt Nam . Bọn địa chất chúng tôi lăn lộn ở đó quá nhiều. Cả đỉnh thác Bản Giốc nữa, cánh địa chất chúng tôi từng lên đó nấu cơm ăn… Nhưng rồi Trung Quốc lấn chiếm, nuốt toàn bộ cánh rừng mộc miên vào lòng Tổ quốc Trung Hoa"… Và thế là những cánh hoa mộc miên lại hồn nhiên bay "từ đất Trung Hoa", lan tỏa tình hữu nghị "vạn cổ trường sinh" giữa hai dân tộc.

Ấy thế mà, trong khi tôi được nghe các bạn nghệ sỹ của chúng ta ca ngợi "Hoa mộc miên mọc đến đâu, lan tỏa tình thữu nghị của dân tộc Trung Hoa đến đó", thì, trong một trang mạng nào đó, tôi lại nghe những người cộng sản Bắc Kinh lập luận: "Hoa mộc miên bay đến đâu gieo hạt đến đó; Cây mộc miên mọc ở đâu, đất trung Hoa ở đó. Việt Nam chỉ có cây tre, làm gì có cây hoa mộc miên!".

*
Trung Hoa là một đất nước có một đảng lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối. Như vậy có thể suy luận, mà không sợ sai lầm: Tất cả những sự kiện nêu trong bài viết này đều do các nhà lãnh đạo cộng sản Trung Quốc đưa đường chỉ lối.

Chính những người cộng sản Trung Hoa đã làm tan vỡ hoàn toàn tình cảm nồng ấm của những người thuộc thế hệ chúng tôi với một đất nước đã sinh ra Đức Tổ Vũ Hồn của dòng tộc của tôi, một đất nước, mà có thời tôi đã coi là Tổ quốc thứ hai của mình.

Vũ Cao Đàm

Posted: Wed Feb 03, 2010 4:48 am
by khieulong
Thật Sự Dân Chủ?

Trần Khải
Đảng CSVN đã học một điều rất nhanh chóng là các chữ như “dân chủ” và “nhân quyền” có sức thuyết phục rất mạnh đối với quần chúng. Thế cho nên, trong khi vây bắt, dùng bạo lực đàn áp và đẩy các nhà hoạt động dân chủ vào nhà tù, các quan chức Đảng CSVN bèn xài ngay các chữ này một cách ầm ĩ, và cho khuếch âm loa kèn vang dội.

Một bản tin trên báo VietnamNet hôm Thứ Ba 2-2-2010, nhan đề “Tổng Bí thư: Dân chủ để chọn nhân sự được dân tín nhiệm” đã tường thuật về bài diễn văn của ông Nông Đức Mạnh, nhân lễ kỷ niệm 80 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam hôm 2-2, cũng có nhiều lời tuyên xưng và tung hô dân chủ.

Một lý do nữa để tuyên xưng dân chủ, không chỉ đề “phất cao ngọn cờ dân chủ kiểu xã hội chủ nghĩa,” còn để xóa đi suy nghĩ của người dân về hiện tượng mua quan bán chức đang diễn ra trong năm nay, khi chuẩn bị bầu bán các cấp.

Bản tin cho biết, rằng “năm 2010 là năm tiến hành đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng. Đại hội sẽ bổ sung, phát triển cương lĩnh năm 1991, quyết định chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011 - 2020 và nhiều vấn đề quan trọng khác.” Như thế, đaị hội đảng bộ là phảỉ tranh chức, và có nghĩa là phải phong bì, một hiện tượng xảy ra nổi cộm mà quan nào cũng từng than phiền về người khác và tự thanh minh về chính mình.

Trong tình hình đó, ông Mạnh phaỉ tung hô dân chủ, mặc dù mới vài ngày trước, ông nhận được một thư khiếu kiện của luật sư Cù Huy Hà Vũ về tình hình các quan phường đập bể tường rào ngay giữa thủ đô, mà không có văn bản tòa án chỉ đạo và cũng được nói riêng là do lệnh Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng là để trả thù.

Ông Mạnh nói, rằng Đảng CSVN phải "đổi mới tổ chức, bộ máy và công tác cán bộ. Đổi mới phong cách và lề lối làm việc thật sự dân chủ, thiết thực, nói đi đôi với làm... Chính sách, chủ trương, văn bản pháp luật, quy định nào mà nhân dân cho là không đúng hoặc không phù hợp thì dứt khoát phải bàn bạc với dân để tìm cách sửa chữa, điều chỉnh để đảm bảo lợi ích chính đáng của nhân dân... cần nêu cao cảnh giác, kiên quyết đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, diễn biến hòa bình, đòi đa nguyên, đa đảng, lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền hòng phá hoại chế độ xã hội chủ nghĩa.” (hết trích)

Nói đi đôi với làm? Nhà nước đã nói là không liên hệ gì tới vụ trấn áp Tu Viện Bát Nhã, nhưng còm làm thì công an và an ninh địa phương tới thị sát để kẻ lạ ra tay bạo lực.

Phải bàn với dân để sửa chữa? Ông Mạnh nói thế, nhưng khi kỹ sư Đỗ Nam Hải đòi trưng cầu dân ý về dân chủ thì lập tức bàn tay sắt đưa ra siết ngay.
Nói là chống diễn biến hòa bình? Nhưng làm thì để lặng lẽ cho nhiều chục ngàn công nhân Trung Quốc vào lãnh thổ VN để diễn biến hòa bình lấy đất, lấy biển.

Lợi dụng dân chủ, nhân quyền? Có một quan chức CSVN cũng từng nói rằng VN đang có nền dân chủ cả triệu lần nước Mỹ. Nói là thế, nhưng hễ ai mà nói hay viết về “dân chủ, nhân quyền” là lập tức trở thành kẻ thù của đảng ngay.

Cũng một bản tin khác trên báo VietnamNet, nhan đề “Về bốn nguy cơ và dân chủ trong Đảng” đăng hôm Thứ Hai, ghi lời ông Hữu Thọ, người được giới thiệu là “đảng viên có 60 năm tuổi đảng, nguyên Trưởng Ban Tư tưởng - Văn hóa TƯ nói về dân chủ trong Đảng.”

Ông Hữu Thọ nói, “Thực hiện dân chủ liên quan tới việc được cung cấp thông tin đầy đủ, không ngừng nâng cao trình độ hiểu biết và phải có thái độ thẳng thắn phản biện... Không có thông tin, thiếu hiểu biết rồi cứ nói toáng lên, khăng khăng cho ý kiến của mình là đúng, thì đó là thiếu trách nhiệm.”(hết trích)

Tuyệt vời, câu nói này hiển nhiên là chôm từ một bản văn nào đó của các nhà dân chủ VN -- nếu không phảỉ là từ một bài viết của Nguyễn Tiến Trung, thì cũng là từ một câu tuyên bố của cô Phạm Thanh Nghiên. Cả anh Trung và cô Nghiên đều vừa bị kêu án tù mấy ngaỳ qua, và lập tức, các quan chức CSVN liền cầm nhầm các lời kêu gọi dân chủ của họ.
Thể theo lời yêu cầu phản biện của ông Hữu Thọ, chúng ta nơi đây có thể dẫn ra vài ý kiến thẳng thắn.

Đài VOA hôm 1-2-2010, trên bài nhan đề “Đảng CS đang tự xoá bỏ tính chính đáng trước nhân dân” ghi lại lời nhà baó Bùi Tín trả lời thông tấn AFP nhân dịp 80 năm Đảng CSVN 3-2-1930 /3-2-2010. Trích như sau:
“Vừa qua, từ Hà Nội, nhà báo Aude Genet giám đốc Thông tấn xã Pháp AFP ở Việt Nam đã phỏng vấn qua ghi âm nhà báo tự do Bùi Tín ở Paris. Dưới đây là tóm tắt nội dung cuộc phỏng vấn, được chuyển ngữ từ tiếng Pháp.
A.Genet: Nhân dịp này, xin ông nhận định Đảng CS hiện đang đứng trước thách thức gì?

Bùi Tín: Thách thức lớn nhất đối với Bộ Chính trị CS hiện nay là họ phải trả lời minh bạch với nhân dân là vì sao họ lại tỏ ra yếu đuối, ươn hèn, thỏa hiệp với bành trướng Bắc Kinh. Cái bóng Bắc Kinh cứ lù lù sau những sự kiện mất đất, mất biển,mất đảo, rước công ty và công nhân TQ vào Tây nguyên khai thác bôxít, tàn sát ngư dân Việt trên vùng biển VN, xử án tù rất nặng những trí thức, sinh viên, luật sư lên tiếng tố cáo sự ươn hèn của họ trước họa xâm lăng.

Thách thức lớn là đòi hỏi họ phải sớm từ bỏ độc quyền đảng trị rất tệ hại, trả lại cho xã hội quyền công dân đầy đủ, trước hết là quyền tự do bầu cử và ứng cử, từ bỏ kiểu "đảng chọn dân bầu" phi pháp trơ trẽn đã kéo dài quá lâu.

Họ chỉ có một lối ra danh dự là trả lại quyền công dân đầy đủ cho mọi công dân, tôn trọng thật sự nhân dân Việt Nam đã trưởng thành trong thời hội nhập, để cho công dân Việt Nam thực hiện quyền lập hội, quyền tự do báo chí, để Đảng CS không còn một mình một chiếu trong không khí chính trị cưỡng bức, ngạt thở...” (hết trích)

Tuy nhiên, Đảng CSVN có thể khiếu kiện rằng ý kiến từ hải ngoại không cần lắng nghe, vì ông Bùi Tín rời VN đã hai thập niên nên mới nói theo kiểu Tây. Nếu thế, chúng ta lại phải trích dẫn phản biện từ quốc nội theo phong cách “thẳng thắn phản biện.”

Trên trang http://boxitvn.blogspot.com, nơi tị nạn của nhiều trí thức quốc nội sau khi bị tin tặc đánh sập trang web của họ, bài viết “Tâm lý không bị trừng phạt” của giaó sư Phạm Toàn đăng ngày 30-1-2010, kể tình hình công an gây phiền nhiễu các nhà trí thức đã từng “thẳng thắn phản biện.” GS Phạm Toàn kể, trích:

“Ngày thứ sáu, 29 tháng 01 năm 2010, giáo sư Nguyễn Huệ Chi nhận được một cú điện thoại của “người quen”, tức là những người “cùng làm việc” hơn chục ngày vừa rồi. Nội dung: hỏi xem ngày mai “Bác” có thể làm việc không? Cái “ngày mai” nói đến ở đây không phải cái hạng ngày mai thơ mộng kiểu “ngày mai tươi sáng”, “ngày mai thanh xuân của nhân loại”, mà là cái ngày mai cụ thể, Ngày Thứ Bẩy, cái ngày cùng với ngày Chủ Nhật được cả nước đang buộc phải sính tiếng Anh gọi là “Uých-Ken”.
Giáo sư Huệ Chi gọi ngay cho tôi, và nói thêm: “Thật vô cùng khó chịu, huyết áp lại lên đây này!” “Thế ông trả lời sao?” Tôi bảo họ: “Các cậu định khủng bố và bức cung mình đấy à?” “Thế họ trả lời ông ra sao?” “Họ cười: chúng cháu muốn làm với bác cho nhanh cho gọn thôi mà” (!?)... (,,,)
Một ông giáo về hưu, từng có chức vụ cao ở một địa phương danh tiếng kia, chuẩn bị đi Hoa Kỳ thăm bạn bè, họ hàng. Đến sân bay, ông bị giữ lại “vì lý do an ninh”. Tấm vé khứ hồi giá cả ngàn đô-la Mỹ thế là tiêu vong. Món tiền thiệt hại đó ai trả?

Một cô giáo sinh năm 1982 có luận án thạc sĩ về thơ Hoàng Cầm chuẩn bị đi du lịch Thái Lan, đồng thời nắm lấy một cơ hội được phỏng vấn để kiếm việc làm. Khi đến sân bay, cô cũng bị giữ lại “vì lý do an ninh”. Khác với ông giáo sư về hưu, cô giáo trẻ tiếc tiền đã hỏi thẳng “Các anh có trả lại tiền vé máy bay cho tôi không?” “Có trả nhưng trừ mười phần trăm”.
Lời đáp lại trâng tráo thế thôi, thực ra thì sau nhiều tháng nền an ninh của đất nước không có gì suy suyển, hai nhà giáo một già một trẻ kia bỗng thấy mình mất toi tiền mua hai tấm vé – có nên coi hai người đó đã hy sinh tiền riêng của mình cho nền an ninh chung?” (hết trích)

Hay là ý kiến phản biện từ nhà văn Mai Thái Lĩnh, qua bài nhan đề “Hai chữ ‘dân quyền’” trên trang Talawas (http://www.talawas.org), một trang bị tin tặc đánh sập từ cả tháng và mới hồi phục tuần này.

Tác giả Mai Thái Lĩnh viết:
“...Đã từng có một thời người ta còn tin tưởng một cách ngây thơ rằng người trong cùng một nước cai trị lẫn nhau sẽ nhân đạo hơn, dân chủ hơn so với sự cai trị của ngoại bang. Thực tế lịch sử đã làm cho người dân các nước thuộc thế giới thứ ba phải mở mắt để nhìn ra một sự thật: kẻ thống trị là “đồng chủng” – thậm chí là “đồng bào”, không hề kém phần độc ác, nguy hiểm so với kẻ thống trị là ngoại bang. Ngược lại, người dân đôi khi còn bị trói tay, không thể đấu tranh để tự bảo vệ mình, bởi vì các nhà thống trị đời mới hiểu rõ văn hóa, tâm lý dân tộc, học được nhiều hơn từ kinh nghiệm của chủ nghĩa chuyên chế cổ xưa. (...)

...Cuộc đấu tranh để gỡ bỏ ách thống trị mới do đó trở nên khó khăn hơn, gian khổ hơn so với trước đây, bởi lẽ đẳng cấp thống trị ngày nay dựa vào công lao giải phóng dân tộc như một lá bùa để bảo vệ đặc quyền đặc lợi. Người yêu nước thường xuyên bị chụp mũ là phản bội Tổ quốc, người đấu tranh cho dân quyền luôn luôn bị gán cho cái nhãn hiệu là “tay sai của phương Tây”, bị vu cáo là “những người câu kết với thực dân, đế quốc để phá hoại sự an bình của đất nước”. Trong khi đó kẻ phản bội nhân dân, chạy theo quyền lợi riêng tư lại nghiễm nhiên khoác lên mình cái áo của cách mạng, của dân tộc. Họ luôn mồm nói về nhân dân, miệng thơn thớt hai chữ “bà con”, nói leo lẻo hai tiếng “đồng bào”, nhưng lại lén lút kéo cả gia đình, dòng họ vào các vị trí quyền lực, chia chác nhau tiền ăn cắp từ ngân sách hay từ các nguồn vốn vay của nước ngoài, tự do ăn của đút, hăng hái bao che nhau để lọt qua lưới pháp luật. Ngược lại, họ sẵn sàng sử dụng những biện pháp hết sức khắc nghiệt để đàn áp, bịt miệng bất cứ ai – từ những trí thức ưu tú cho đến những thanh niên đầy nhiệt huyết của đất nước mỗi khi những người này mở miệng phê phán những khuyết điểm, đòi hỏi sửa chữa những mặt tiêu cực của chế độ hay nêu lên những yêu sách, nguyện vọng chính đáng của nhân dân...”(hết trích)

Đó là những lời phản biện thẳng thắn từ người ngoàì và trong nước.
Dân chủ, nhân quyền, phản biện... thực sự đang ở đâu trên quê hương mình? Chắc chắn là không ở trên lời nói của các quan chức CSVN.

Posted: Thu Feb 04, 2010 4:18 am
by quaichao
Hồi Giáo Tương Tàn

Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh

Vụ bom nữ tự sát nổ đầu tuần này ở Baghdad giết chết 54 người, trong số có 18 phụ nữ và 12 trẻ em, khiến người ta lại phải nhìn đến tình hình rất phức tạp Iraq, có ảnh hưởng mạnh đến nạn khủng bố xuất phát từ Hồi giáo. Vụ đánh bom xẩy ra vào lúc hàng trăm ngàn người theo hệ phái Shi-a bắt đầu tiến về phía thành phố Karbala để làm lễ chấm dứt mùa chịu tang Trưởng lão Iman Hussein, một Giáo sĩ từ thời xa xưa vẫn được hệ Shi-a phụng thờ như một vị Thánh. Kẻ đánh bom mặc quần áo nữ. Theo lệ các nước Á Rập, phụ nữ mặc áo choàng đen dài từ đầu tới gót chân, chen lẫn vào đám đông tập trung ở Karbala, ngoại thành Baghdad, để chuẩn bị lên đường.

Đây không phải là lần đầu tiên có vụ kẻ đánh bom tự sát là phụ nữ. Tháng 1 năm ngoái kẻ đánh bom mặc áo nữ chùm đầu đã giết chết gần 40 người hành hương. Kế đó đến tháng 2, cũng lại một nữ bom tự sát hành hương ở Karbala đã làm chết hơn 40 người, bị thương 60 người. Nói chung các vụ đánh bom tự sát ở Iraq đã thuyên giảm từ hơn hai năm qua, đó là vì Cảnh sát Iraq đã khám xét rất kỹ kẻ đi đường. Nhưng các vụ nữ đánh bom có vẻ gia tăng. Phụ nữ mặc áo chùm kín người, theo lệ Hồi giáo không ai có quyền đụng vào người họ, kể cả việc dùng máy dòm qua áo cũng bị cấm. Vì thế có những toán nữ cảnh sát dùng những căn lều vải riêng để khám các cô, các bà đạo Hồi. Khi đông, mọi người phải chen chúc lẫn lộn ở trước các lều đó. Chính nơi đây kẻ nữ đeo bom tự sát đã hạ độc thủ, nhấn nút làm nổ bom đeo trong áo để giết càng nhiều càng tốt.

Những kẻ khủng bố ra tay giết những nguời hành hương hệ Shi-a dĩ nhiên thuộc nhóm al-Qaida thuộc hệ Sun-ni của bin Laden, liên minh với đám bộ hạ của Saddam Hussein cũng thuộc hệ Sun-ni, nay đang nổi loạn chống chính quyền của al-Maliki, thuộc hệ Shi-a. Trong các cuộc chiến tranh từ cổ xưa đến nay, người dân chết là chuyện thường có. Nhưng đến thời nay khi có môn võ khí mới là "bom tự sát", không thể nào kể xiết sự thảm khốc của người dân vô tội bị chết oan như vậy. Shi-a và Sun-ni cùng chung một gốc phát sinh từ Thế kỷ 7 khi đấng Tiên tri Mohammad rao giảng. Lúc đó dân Hồi giáo ở bán đảo Á Rập tin rằng đạo của họ có một ông tổ chung với Thiên chúa giáo là ông Abraham. Tuy nhiên sau khi đấng Tiên tri Mohammad về Trời, đạo Hồi đã chia ra làm hai hệ riêng biệt là Sun-ni và Shi-a. Lúc đầu hai hệ cũng có sự va chạm nhỏ, nhưng trong mấy trăm năm sau, sự va chạm bớt dần, vì thời xa xưa đó Trung Đông đất rộng người thưa, các bộ lạc phần lớn sống về du mục nên ít khi đụng vào nhau.

Tình thế bắt đầu thay đổi vào thời Trung Cổ khi Đế quốc La Mã và các Đế quốc Âu châu như Anh Pháp tràn ra qua Trung Đông rồi đến Á Đông để chiếm các nước chậm tiến làm thuộc địa, tình thế bắt đầu thay đổi. Trung Đông có các mỏ dẩu lửa, chỉ có các nuớc Tây phương mới tìm ra được và có kỹ thuật để khai thác, bộ mặt Trung Đông thay đổi hẳn. Hạt giống văn minh nở rộ, dân thuộc địa hưởng chút ơn mưa móc cũng đủ sướng rồi. Những thành phố lớn mọc lên như nấm ở sa mạc, người Sun-ni và người Shi-a sống bên nhau, tuy thờ phụng khác nhau nhưng hết chém giết lẫn nhau. Vả lại dân Á rập lúc đó sống dưới mũi súng của Thực dân cai trị, lại được có ăn có mặc nhờ dầu lửa, đâu còn nghĩ đến chuyện giết nhau làm chi cho mệt. Vả lại dù muốn cầm súng cũng không xong, vì mấy ông quan Thực dân Tây phương sẽ đem đại bác đến dẹp loạn là hết.

Nhưng đến đầu Thiên niên kỷ 2, khi Đế quốc Tây phương đem Thiên chúa giáo vào Do Thái và các nước Á Rập, gây ra những cuộc Thập tự chinh, sự kình chống nhau giữa hai phe Shi-a và Sun-ni hầu như biến mất. Cả hai cùng có chung một ông chủ ngoại lai thì còn chống nhau làm chi nữa. Vậy mà thời thế lại đổi khác vì sau Đệ nhị Thế chiến, Tây phương mất luôn các nước thuộc địa. Đây chính là lúc ngọn lửa Hồi giáo tương tàn bắt đầu bùng lên trở lại dữ dội. Trong số các nước Hồi giáo từ Đông chí Tây trên Thế giới hiện nay không có nước nào hai hệ Sun-ni và Shi-a chém giết nhau kỹ bằng nước Iraq.

Hãy trở lại cuộc bầu cử Quốc hội Iraq được dự liệu vào tháng tới. Cuộc bầu cử này sẽ quyết định con đường đi tới của Iraq song song với chương trình rút quân của Mỹ. Nó cũng là một thử thách về một vấn đề rất gay go cho tương lai của nước này. Đó là sự hợp tác giữa hai hệ phái Sun-ni và Shi-a của Hồi giáo. Cuộc bầu cử này trước đây dự liệu vào tháng 1-2010, nhưng vì những chuyện bất ổn xẩy ra và sự thương thảo giữa một số phần tử ôn hòa của các hệ phái, đã phải hoãn đến 7-3. Phát ngôn nhân Chirstopher Hill của chính quyền Iraq nói ông ta tin rằng các lãnh tụ chính trị của hệ Shi-a sẽ sớm thỏa hiệp về một khúc mắc hiện nay là việc loại trừ ra khỏi danh sách ứng cử viên khoảng 450 nguời thuộc hệ Sun-ni bị tố cáo là những kẻ đã từng trung thành với chế độ độc tài Saddam trước đây. Danh sách "đen" này cũng gồm cả một số ứng cử viên thuộc hệ Shi-a.

Hill tiên đoán chính phủ Iraq sẽ giải thích đầy đủ tên tuổi mỗi ứng cử viên và lý do tại sao họ đã được bao gồm trong danh sách ứng cử viên. Hill nói: "Chúng tôi không muốn có tình trạng mà một số người hay một số nhóm người không chịu chấp nhận danh sách đó". Dĩ nhiên nếu không có sự đồng thuận này, vấn đề giữ an ninh trong cuộc bầu cử sẽ trở thành một vấn đề lớn. Đặc biệt trong số những người bị loại có một chính trị gia Sun-ni được nhiều người biết là ông Salah al-Mutlak, đã từng xác nhận ông là người theo đảng Baath của Saddam trước đây cho đến cuối năm 1970 ông đã tuyên bố ly khai khỏi đảng này. Hamdiya al-Hussaini, một ủy viên trong Ủy hội Tranh cử có tính cách độc lập, cho biết một Tòa án tuần này đã bác bỏ lời xin Tòa xét lại của al-Mutlak và 41 người khác.

Ngoài ra một giáo sĩ Sun-ni trong tỉnh Anbar, lãnh đạo một Hội đồng có tên là "Thức tỉnh", nghĩa là quyết từ bỏ phe Sun-ni thân Saddam để đứng ra hợp tác với Mỹ, lại nói những người trong phe Sun-ni của ông sẽ tẩy chay cuộc bầu cử nếu việc cấm nguòi Sun-ni ra tranh cử còn tiếp tục.
Trước một tình thế phức tạp như vậy các cuộc đánh bom tự sát của khủng bố al-Qaida toa rập với bọn Sun-ni phản loạn đã cho thấy một sự thật hiển nhiên. Chúng tổ chức đánh bom tự sát không phải để bênh vực cho hệ phái Sun-ni mà chỉ vì muốn có một ghế ngồi trong Quốc hội. Chúng muốn có "danh" và "lợi". Ở các nước dân chủ trên thế giới, thường vẫn có một thiểu số ra tranh cử vì "danh" và "lợi". Nhưng chỉ riêng ở Iraq ngày nay, người ta giết nhau một cách tàn bạo cũng chỉ vì hai chữ "danh và lợi."

SƠN ĐIỀN NGUYỄN VIẾT KHÁNH

In Trang Gởi cho bạn [Trở về]

Posted: Fri Feb 05, 2010 4:15 pm
by khieulong
Nước Mỹ: Từ "Đế quốc" đến "Lãnh đạo"

Tác giả: Cao Huy Thuần
"Nước Mỹ lãnh đạo" là niềm tin vững như núi của nước Mỹ, dựa trên một tình trạng mà ít ai chối cãi. Tuy vậy, ngay cả sự lãnh đạo đó, bây giờ có người cho là đã lung lay, có người cho là vẫn còn đấy nhưng đã đổi khác. Vấn đề này liên quan mật thiết đến ta.

Đế quốc

Quan hệ giữa các quốc gia là quan hệ dựa trên sức mạnh. Khi một nước trở nên mạnh nhất, có khả năng bắt tất cả các nước khác phải quy phục uy quyền của mình, ta gọi nước ấy là đế quốc. Đế quốc là nước có sức mạnh tuyệt đối. Trong lịch sử, Đông hay Tây, đều có những đế quốc như vậy. Nhưng dù lâu hay mau, đế quốc nào cũng sụp đổ, không bao giờ có một đế quốc trường tồn, kể cả đế quốc La Mã ở Tây, kể cả nhà Chu, nhà Tần ở Đông. Tại sao? Tại vì nhiều lý do, từ bên trong cũng như từ bên ngoài, nhưng lý do tổng quát là: chính trị quốc tế, cũng giống như mọi chính trị, là một sự tranh giành quyền lực, nghĩa là sức mạnh.



Khái niệm vô thường áp dụng cho nước Mỹ là quá đúng và quá thích hợp. Ảnh: dangtinnhadat. vn


Trước sau gì, sức mạnh tuyệt đối cũng phải va chạm với những sức mạnh đang lên, và đế quốc, đến một lúc nào đó, hoặc phải nhường chỗ cho một đế quốc khác, hoặc phải trở thành một sức mạnh tương đối. Trong cả hai trường hợp, ta đều có thể nói theo thuật ngữ Phật giáo: sức mạnh tuyệt đối là vô thường.

Không cần đi xa vào lịch sử mấy ngàn năm ở Đông hoặc ở Tây, chỉ xét quan hệ quốc tế trong thế kỷ 20 thôi, ai cũng có thể nói: đế quốc Anh đã mất sức mạnh tuyệt đối sau Thế chiến thứ hai để trở thành một sức mạnh tương đối. Nói cách khác, đế quốc Anh đã thực chứng vô thường khi sức mạnh tuyệt đối của họ bị tương đối hóa.

Đó là tình trạng mà nước Mỹ đang gặp ngày nay. Khái niệm vô thường áp dụng cho nước Mỹ là quá đúng và quá thích hợp, vì ngay trong khi nước Mỹ đang ở trên đỉnh cao nhất của sức mạnh tuyệt đối, ngay trong khi mà cả thế giới chỉ còn một cực thôi là cực Mỹ, các chuyên gia về quan hệ quốc tế ở Mỹ đã lo lắng đặt vấn đề: liệu nước Mỹ còn trụ được ở vị thế chúa tể này lâu không, hay là sẽ rơi vào số phận của đế quốc La Mã ngày xưa, số phận của đế quốc Anh gần đây? Chưa bao giờ đề tài "suy tàn của các đế quốc" nở rộ đến thế trong tranh luận như lúc nước Mỹ vừa lên ngôi đế quốc. Tranh luận đó ngày nay vẫn còn chưa dứt tuy rằng chỉ mới có mấy năm gần đây thôi mà sức mạnh tuyệt đối của Mỹ đã bị tương đối hóa và nước Mỹ đã trở thành đế quốc mất ngôi.

Đế quốc? Danh hiệu đó đã được gán cho nước Mỹ từ lâu rồi, nhưng đích thực mà nói, vị thế đó chỉ có thể đúng khi khối Liên Xô sụp đổ. Vậy mà trong khoảng thời gian 1987-1993, đếm mấy cũng không hết những bàn cãi về đề tài đế quồc sụp đổ. Phát súng đầu tiên là quyển sách nổi tiếng của Paul Kennedy: "The Rise and Fall of the Great Powers: Economic Change and Military Conflict from 1500 to 2000 " (Sự thăng tiến và sụp đổ của các cường quốc: Biến chuyển kinh tế và tranh chấp quân sự từ 1500 đến 2000) xuất bản lần đầu năm 1987. Sau đó, bức tường Bá Linh tan vỡ, đại quân Hoa Kỳ chiến thắng lẫy lừng trong chiến tranh Vùng Vịnh, Liên Xô tiêu vong, toàn là những đại biến cố đáng lẽ phải xác nhận vị thế chủ tể của nước Mỹ, nhưng không, luận thuyết suy tàn vẫn nổ ran sau quyển sách của Kennedy.


Tự ái của Mỹ bị chích rất đau khi những công ty đầu đàn của Mỹ bị Nhật mua. Ảnh: baomoi.com


Quyển sách đó nói gì? Nói rằng: sức mạnh quốc tế của một nước gắn liền với sức vóc kinh tế của nước đó, bởi vậy đế quốc Anh đã tàn lụi khi bành trướng quá mức - quá mức chịu đựng của kinh tế, hút cạn tài nguyên, vắt sạch khả năng tài trợ những chiếm đóng và chiến dịch quân sự. Nước Mỹ lúc đó cũng vậy, cũng vướng mắc những cam kết chiến lược quan trọng không thua gì 25 năm trước, nhưng GDP và tỷ lệ sản xuất kỹ nghệ của Mỹ 25 năm trước đây lớn hơn nhiều so với những năm 1980. Thêm nữa, 7% GDP dùng cho phí tổn khí giới hút hết tiền dành cho nghiên cứu, đẩy chất xám vào kỹ nghệ chiến tranh do Bộ Quốc phòng điều khiển, trong khi các nước khác, Nhật chẳng hạn, đổ tiền vào nghiên cứu dân sự để canh tân kỹ nghệ.

Nhu cầu ngắn hạn phục vụ chiến tranh gây ảnh hưởng tai hại trên nhu cầu dài hạn phát minh khoa học, làm suy giảm tỷ lệ sản xuất kỹ nghệ của nước Mỹ. Tất nhiên, chiến tranh thúc đẩy nhiều phát triển khoa học trong một số lĩnh vực, về khí giới, về robot, về hàng không, về tin học... nhưng luận cứ của Kennedy vẫn được khai triển tiếp về sau để nhấn mạnh công nghệ của Mỹ đã bị công nghệ của Nhật vượt qua, kinh tế của Mỹ đã bị kinh tế của Nhật lấn lướt.


Ảnh: giacaphe.com
Đó lầ đầu mối của tình trạng cơm thiếu lành canh thiếu ngọt giữa đồng minh Mỹ-Nhật trong những năm 1980. Không bóp còi, Nhật qua măt. Về hiệu quả? Tổ chức xí nghiệp của Nhật hiệu quả hơn. Về cạnh tranh? MITI của Nhật năng động hơn. Mô hình sản xuất và quản lý nào hiện đại hơn? Nhật! Chưa bao giờ, sau 1945, dân Nhật làm rợn lên vừa e dè vừa ganh ghét như thế trong lòng dư luận Mỹ. Đó là thời gian mà danh từ "Japan bashing" xuất hiện. "Đánh đòn Nhật!" Đại loại những câu bài Nhật như thế nổ ra trên báo chí. "Nước Nhật như là anh cả" ("Japan as number one"- E. Vogel), "hiểm họa đến từ Nhật", "Pearl Harbor kinh tế", "nước Nhật biết nói: không"... Nước Nhật thành công như công ty Nhật thành công.
Từ đó, nước Nhật trở thành "Công ty Nhật Bản". Tự ái của Mỹ bị chích rất đau khi những công ty đầu đàn của Mỹ bị Nhật mua, Columbia Pictures và CBS Records rơi vào tay Sony, MCA lọt vào túi Matsushita.. . Cuối những năm 1980, nước Mỹ từ vai chủ nợ của thế giới trở thành con nợ, và Nhật là nước mua nhiều trái phiếu nhất của ngân khố Mỹ. Nợ, lệ thuộc, xài nhiều, sản xuất ít, cán cân thương mại bất quân bình, ngân sách quốc phòng quá nặng, cứ thế nước Mỹ sa sút dần, thầm lặng.

Rất sơ lược, đó là luận cứ của "phe suy tàn". Những luận cứ ấy bị "phe chống suy tàn" đả kích kịch liệt, nhất là trên lĩnh vực kinh tế. Phe suy tàn có tiếng nói của Paul Kennedy. Phe chống suy tàn có danh tiếng của Joseph Nye. Trong quyển sách cũng nổi tiếng không kém: "Bound to lead: The Changing Nature of American Power"(Bắt buộc phải lãnh đạo: sự thay đổi bản chất trong sức mạnh của nước Mỹ) xuất bản năm 1990, Nye khai triển một khái niệm mới về sức mạnh bây giờ đã trở thành quá phổ thông: sức mạnh mềm.

Ông nói: những tiêu chuẩn mà cho đến nay vẫn được xem là căn bản để đánh giá sức mạnh - nguyên liệu, sản xuất công nghệ, khí giới vv...- không đủ để đánh giá đúng thực lực của một nước, vì đó chỉ là "sức mạnh cứng"; nước Mỹ còn có một sức mạnh khác, vô địch, mà ông gọi là "sức mạnh mềm", nghĩa là những của cải không sờ mó được, ví dụ sức lôi cuốn của văn hóa, sức nặng trong các tổ chức quốc tế, sức ép thế giới phải theo lịch làm việc của mình. Muốn hiểu sức mạnh mềm, phải biết rằng thế giới của năm 1990 không phải là thế giới của 1941 hay 1961.

Toàn cầu hóa, kinh tế hỗ tương, vai trò quan trọng của các thế lực tư nhân (truyền thông, công ty đa quốc gia...), bước nhảy vọt từ giai đoạn kỹ nghệ qua giai đoạn hậu kỹ nghệ, phát triển của các tổ chức quốc tế, khuynh hướng mở rộng hợp tác đa phương... tất cả những biến chuyển đó đã làm thay đổi hệ thống quốc tế. Trong hệ thống mới đó, nước Mỹ vẫn nắm tất cả mọi nguồn sức mạnh như đã nắm trước đây - "sức mạnh mềm" để hấp dẫn, lôi cuốn, "sức mạnh cứng" để ép buộc. Quân sự, kinh tế, công nghệ thông tin, cứng hay mềm, nước Mỹ đều đứng đầu.

Thật ra, tranh luận về "suy tàn" của nước Mỹ không phải lúc nào cũng đặt trên cơ sở khoa học. Trừ vài quyển sách của đại học, và vài tác giả lớn như vừa nói, hầu hết các bài viết, nhiều vô kể, trên các báo và tạp chí, đều trộn lẫn tính cách khoa học và bút chiến giữa phe bảo thủ và phe cấp tiến, nhằm những mục đích khác có tính chính trị nội bộ.

Chưa kể, ngay trong giới đại học, một tác giả lừng danh thường có khuynh hướng nhấn mạnh quá mức cần thiết một luận cứ đáng gọi là khoa học, với cái nghĩa là nó làm thúc đẩy một tranh luận mới, những suy nghĩ mới. "Suy tàn của đế quốc" là một ví dụ, giống như "lịch sử chấm dứt" của Fukuyama hay "đụng độ giữa các văn minh" của Huntington.

Lại cũng chưa kể tâm lý của người Mỹ, chuyển biến theo chu kỳ, sau một giai đoạn hãnh tiến, tự hào, thỏa mãn, phách lối, thường tiếp theo một giai đoạn bi quan, hoài nghi, đặt dấu hỏi, xuống tinh thần. Từ 1945, bốn giai đoạn lên xuống như thế đã tiếp nối nhau. Lần thứ nhất, cuối những năm 1950, sau khi Liên Xô phóng vệ tinh Sputnik. Lần thứ hai, đầu những năm 1970 khi giá dầu tăng vọt làm chậm lại mức tăng trưởng kinh tế ở Mỹ. Lần thứ ba, vào giữa những năm 1980 khi dư luận ngay ngáy lo Nhật sẽ vượt Mỹ (1). Lần thứ tư, giữa lúc nước Mỹ vinh quang đại thắng chiến tranh lạnh: lạ thật, vào năm 1989 ấy, hơn nửa dân số Mỹ cho rằng nước Mỹ bắt đầu đi xuống!


Nhưng nước Mỹ không đi xuống mà lại đi lên! Đi lên với Clinton - một Clinton rạng rỡ (và đào hoa) đã mang lại phồn thịnh cho nước Mỹ. Ảnh: truyenhinhvietnam. tv

Nhưng nước Mỹ không đi xuống mà lại đi lên! Đi lên với Clinton - một Clinton rạng rỡ (và đào hoa) đã mang lại phồn thịnh cho nước Mỹ và đã dõng dạc tuyên bố nước Mỹ là mẫu mực của thế giới. Xa rồi, ám ảnh bị Nhật qua mặt. Kinh tế Nhật bây giờ tụt dốc, kinh tế Mỹ thăng thiên. Nước Mỹ tiếp tục đi lên như thế, về kinh tế, và nhất là về quân sự, với hai chiến dịch lẫy lừng: một chiến thắng từ trên không, với bom dội xuống Nam Tư cũ, kết thúc một chiến tranh mà Âu châu không thắng nổi, một chiến thắng ngay trên bộ, với một quân đội điều động từ xa tiến thẳng vào thủ đô Bagdad trong vòng sáu tuần lễ.
Sau đó, với một ông tổng thống tầm thường như Bush, nước Mỹ một mình cai quản thế giới, muốn làm gì thì làm, đánh không cần báo trước, quyết định không cần đồng minh, hành động đơn phương bất chấp luật quốc tế, lấy lợi ích của mình đè bẹp lợi ích của thiên hạ. Chưa bao giờ nước Mỹ ngạo mạn đến thế, hách dịch đến thế, "đế quốc" đến thế. "Từ sau đế quốc La Mã, chưa có tay chơi quốc tế nào thượng phong đến vậy" (2)

Thế nhưng, đây là lần thứ năm, luận thuyết suy tàn tái xuất, kéo dài tranh cãi cho đến ngày nay, với một nội dung tất nhiên dần dần khác trước. Dần dần, tại vì quả thực, chỉ trong vòng vài năm thôi, không ai còn nghĩ nước Mỹ như là đế quốc nữa. Tranh luận chuyển qua một khái niệm khác, đúng với vị thế của nước Mỹ bây giờ hơn, khái niệm mà không ngôn ngữ nào khác dịch sát nghĩa được, "leadership", mà tôi tạm dịch là "lãnh đạo". Từ vô thường của đế quốc, không chừng ta lại sắp phải nghe vô thường của lãnh đạo.

Lãnh đạo

"Nước Mỹ lãnh đạo" là niềm tin vững như núi của nước Mỹ, dựa trên một tình trạng mà ít ai chối cãi. Tuy vậy, ngay cả sự lãnh đạo đó, bây giờ có người cho là đã lung lay, có người cho là vẫn còn đấy nhưng đã đổi khác. Vấn đề này liên quan mật thiết đến ta.

Trước hết, nói đến lãnh đạo là nói đến sức mạnh, vẫn là sức mạnh. Vậy sức mạnh của Mỹ còn đủ để nước Mỹ đóng vai trò lãnh đạo và để thế giới nhận vai trò ấy không?

Còn đủ, phe "chống suy tàn" xác quyết như vậy. Không có một nước nào trên thế giới, ngoài Mỹ, nắm trong tay tất cả những yếu tố tạo nên sức mạnh: từ kinh tế, công nghệ, khoa học, sáng kiến, cho đến văn hóa, ý thức hệ.

Riêng về quân sự, không ai quả quyết chắc chắn hơn Robert Kagan vì ông này vẫn xem đó là tiêu chuẩn quan trọng nhất của sức mạnh. Mặc dù Mỹ vướng khó khăn ở Irak và Afghanistan, Kagan nhắc nhở: ngân sách quốc phòng của Mỹ vượt quá 500 tỷ đô la mỗi năm, không kể những chi phí phụ thuộc trị giá trên 100 tỷ nữa cho hai nước vừa kể. Cùng với ngân sách quốc phòng gia tăng, căn cứ quân sự của Mỹ ở nước ngoài cũng gia tăng theo.

Từ 11-9-2001, nước Mỹ đã xây hoặc bành trướng các căn cứ ở Afghanistan, Kyrgiztan, Pakistan, Tajikistan và Uzbekistan ở Trung Á; ở Bulgari, Georgia, Hungari, Ba Lan và Rumani phía châu Âu; ở Philipin, Djibuti, Oman, và Qatar. Mỹ không thiếu tiền để duy trì và khuếch trương hiện diện quân lực cùng khắp, mà cũng chẳng thiếu nước sẵn sàng hiến đất cho Mỹ làm căn cứ quân sự - nghĩa là không thiếu nước sẵn sàng nhận địa vị tối ưu của Mỹ nếu điều đó cần thiết để bảo vệ an ninh.

Thế nào là "vị thế tối ưu"? Kagan định nghĩa lại, chính xác hơn trước: tối ưu không phải là toàn quyền muốn làm gì thì làm, cũng không có nghĩa nước Mỹ lúc nào cũng có thể ép buộc được các nước khác phải làm theo ý mình. Nước Mỹ tối ưu vẫn có thể không thắng được ở Triều Tiên năm 1953, vẫn có thể thất bại ở Việt Nam năm 1975, vẫn phải rút lui thảm thiết khỏi Liban năm 1983, khỏi Somali năm 1994, vẫn không loại được Castro, vẫn có thể bất lực ở Trung Đông, vẫn bị chôn chân ở Afghanistan, vẫn dùng dằng nửa ở nửa về ở Irak.

Một siêu cường có thể thua một chiến tranh mà vẫn siêu cường nếu những điều kiện căn bản tạo nên sức mạnh quốc tế của siêu cường ấy vẫn tiếp tục hỗ trợ vị thế đó. Chừng nào nước Mỹ vẫn ở trung tâm của kinh tế thế giới, vẫn là sức mạnh quân sự bậc nhất, chừng nào những đối thủ của nước Mỹ vẫn còn làm cho láng giềng e sợ, cấu trúc của chính trị quốc tế vẫn sẽ đúng như Trung Quốc nói: một siêu cường, nhiều đại cường (3).

Đó là cách biện minh dễ chấp nhận nhất trong lý luận của phe tân bảo thủ. Sự thực, nước Mỹ ngày nay chỉ còn là nước mạnh nhất trong các nước mạnh nhất. Do đâu mà tình trạng ấy xảy ra? Ít nhất có 5 nguyên nhân (4).

Nguyên nhân gần nhất và dễ thấy nhất là lãnh đạo thảm hại của ông Bush. Ngay cả những đồng minh thân tín nhất của Mỹ - Đức và Thổ Nhĩ Kỳ - cũng mất tin tưởng ở Hoa Kỳ. Thế giới Hồi giáo thù ghét nước Mỹ. Thế giới nói chung mất cảm tình. Ông Bush đã thành công trong việc đánh mất uy tín của nước Mỹ. Ông tưởng có thể lãnh đạo bằng sức mạnh quân sự: với ông, cứng đã thế mềm, trong khi mềm mới chính là sức mạnh vô địch của nước Mỹ.

Nguyên nhân thứ hai là sự trỗi lên của những nước mạnh khác. Nga đang tìm lại vị thế của mình ở Đông Âu. Đang khẳng định mình phải có tiếng nói trên những điểm nóng của thế giới. Nhưng thấm gì Nga! Có ông đại cường kia đang hưng phấn rần rần, thách thức lãnh đạo của Mỹ, nghênh ngang đòi chia Biển Đông làm hai, đòi "lãnh đạo chung", đòi G2, khỏi cần nói tên, tự thiên tử chí ư thứ dân, nhóc con cũng biết. Phiền thêm cho nước Mỹ: phóng nhiễm nguyên tử đã cho phép ít nhất hai nước ngang nhiên thách đố lãnh đạo của Mỹ: Bắc Hàn và Iran.

Nguyên nhân thứ ba là khó khăn càng ngày càng lớn trong việc diễn dịch sức mạnh. Nước Mỹ có thể là nước duy nhất có khả năng điều quân ra tận những chiến trường xa xôi, có thể là nước giàu nhất, tiên tiến nhất về công nghệ vv... , nhưng tất cả những lợi thế đó của sức mạnh vẫn có thể không đưa đến chiến thắng quân sự hoặc ngay cả ảnh hưởng. Cách mạng trong truyền thông tạo khả năng cho các nhóm vũ trang, các nhóm khủng bố đánh phá nước Mỹ hoặc đồng minh của Mỹ. Can thiệp quân sự cũng không phải dễ: khác với các nước độc tài, các nước dân chủ phải thuyết phục dân chúng, dư luận, bên tả bên hữu, kéo dài can thiệp lại càng khó hơn.

Nguyên nhân thứ tư là sự hình thành một thế giới vô trật tự, trong đó các thành viên mất phương hướng để định nghĩa rõ ràng ai là đồng minh, ai là đối thủ, đâu là tranh chấp, đâu là hợp tác. Cả Nga lẫn Trung Quốc đều là đối tác bắt buộc của Tây phương, nhưng đồng thời cũng là hai kẻ cạnh tranh nhức óc trong lĩnh vực này, địch thủ ghê gớm trong lĩnh vực khác.

Trong thế giới vô trật tự đó, kẻ yếu bắt nạt được kẻ mạnh, Al Qaida chẳng có sư đoàn nào mà chuột vẫn vuốt được râu mèo, chiến tranh với lực lượng bất cân xứng bị kẻ yếu khai thác triệt để, một trái bom chưa nổ trên máy bay đủ làm điên đảo cả hệ thống an ninh của kẻ mạnh nhất hoàn cầu. Mỹ vẫn mạnh nhất nhưng không kiểm soát được nữa vận mạng của thế giới.

Trước đây, Nam Mỹ là sân sau của Hoa Kỳ, bây giờ không phải chỉ có một Castro mà còn có một Chavez, một Morales. Ai tưởng tượng được rằng Mêhicô có thể bỏ phiếu chống quyết nghị của Mỹ ở Hội Đồng Bảo An hồi 2003 trong vụ Irak? Ai dám thấy trước lá cờ nhân quyền của Mỹ ngừng lại ở giữa cột cờ khi tiền bạc và nhân công của Trung Quốc chảy như suối vào các nước độc tài Phi châu?

Tình trạng phức tạp đó khiến cho Mỹ mất cái thế lãnh đạo, nếu lãnh đạo được hiểu theo nghĩa trước đây. Chúng ta, nói như một tác giả tên tuổi, đang chuyển dịch vào một "thế giới hậu Hoa Kỳ"(5) trong đó có nhiều ngón tay cùng chỉ đâu là sao Bắc đẩu.

Đó ý thức rõ rệt nhất hiện nay ở Mỹ: trong quan hệ giữa các quốc gia, cũng như trong quan hệ với những thế lực và những vấn đề xuyên quốc gia, nước Mỹ không còn đủ sức nữa để đương đầu một mình. Ngay cả trong lĩnh vực quân sự, hợp tác với các quốc gia khác là cần thiết cho nước Mỹ, dù là ở Afghanistan. "Rạng đông của một lãnh đạo mới" mà tổng thống Obama vẽ ra cho thế giới bắt nguồn từ nhận thức đó.

Tất nhiên, không tổng thống nào từ bỏ vị thế "lãnh đạo" của nước Mỹ. Vấn đề là phải định nghĩa lại "lãnh đạo" trong một thế giới mà sức mạnh của kẻ mạnh nhất đã bị tương đối hóa, hay nói cho đúng với ngôn ngữ của các tác giả Mỹ hơn, trong một thế giới mà nước Mỹ phải chứng kiến sự "đi lên của các nước khác" - "the rise of the rest". Thế nào là "lãnh đạo" khi nước Mỹ bắt buộc phải hợp tác vì không đủ sức để hành động một mình?

Đây là quan điểm của một chính khách lớn, đồng thời cũng là một tác giả lớn, Z. Brzezinski: Hoa Kỳ phải "gợi ý đề ra những thái độ mà không phải là mệnh lệnh. Lãnh đạo này phải soi sáng một cách hợp lý ý nghĩa của quá khứ và hướng đi cho hiện tại; phải giúp để hiểu những tiến triển có tính quyết định thực sự của thế kỷ 21 này, lợi ích gì mà ta có thể rút ra từ đó, đe dọa gì mà thế giới đang gánh chịu.

Lãnh đạo như thế của nước Mỹ có chức năng xúc tác, xúc tiến, làm quy tụ, làm thay đổi. Không phải quy tụ đàng sau những sáng kiến do Hoa Kỳ quyết định mà là để định nghĩa những mục tiêu mà cộng đồng thế giới sẵn sàng cùng nhau theo đuổi. Một lãnh đạo như vậy là cần thiết"(6).

Nói như một nhân vật chính trị khác, đồng thời cũng là một tác giả lớn, lại là khách của nước ta đầu năm nay, Joseph Nye, "Hoa Kỳ phải động viên những thế liên kết quốc tế để đối phó với những đe dọa chung, thách thức chung. Như là nước lớn nhất, lãnh đạo của Mỹ vẫn còn là cốt tủy.

Vấn đề của nước Mỹ sau khủng hoảng kinh tế này không phải là vấn đề của suy tàn, mà là ý thức rằng ngay cả nước lớn nhất cũng không thể thực hiện mục tiêu của mình mà không cần đến sự giúp đỡ của những kẻ khác"(7) .

Câu nói đó liên quan tha thiết đến vận mệnh của nước ta. Ta không nhận một nước Mỹ đế quốc. Nhưng ta cần một nước Mỹ lãnh đạo trong định nghĩa vừa nói. Tại sao? Tại vì trong định nghĩa đó, nước Mỹ cũng cần ta. Hai bên cần nhau. Làm cho nhau hiểu sự cần thiết của nhau, đó là nền tảng của một nền an ninh mới, không những của Mỹ và của ta, mà của cả khu vực trong