Chân Dung Người Lính VNCH

Quân sử, những bài viết, ký sự, ...
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »


Image

“Trước Sau Như Một”
C.vanto

Trại Vĩnh Quang A có 14 đội tù, mỗi đội phụ trách một ngành nghề khác nhau, nông nghiệp, mộc, rèn, xây cất v.v.. mà nghề nào cũng ói máu, xì hơi ra đằng sau, duy chỉ có đội 9 trồng trà là có vẻ tà tà hơn cả. Sáng sáng tù theo cán bộ trai hoặc gái rủ nhau “trèo lên đồi đá, đá cho leo” để hái búp trà, búp non nhất để về xấy khô thành trà tàu (?), 4 kg lá búp, mà là búp số 1 hay 2 thì mới xấy được 1kg trà “móc câu”, thứ này thuộc loại quý hiếm, chỉ trại trưởng mới có quyền uống và dùng để biếu thủ trưởng lon to hơn. Nhưng trong “quá trình*” chế biến thì tù ta cũng “xà-xẻo” một nhúm cho vào “gô” (lon guigoz), đổ nước sôi uống trước, bụng đói mà uống thứ trà quặu này thì bật ngửa, đã đ.. chịu được.

Đồi trà và chỗ xấy trà nằm sát đường nên các “bò vàng” (công an coi tù mặc đồ bàng) đi ngang thường tạt vào “tham quan” nhưng thực ra là muốn làm quan tham … nhũng xin một nhúm, vì thế họ mới kiếm câu chuyện làm quà làm quen với mấy anh tù có nhiệm vụ xấy trà, mà lệnh trại trưởng là không được cho “cán bộ” nào hết. Thỉnh thoảng có vài “bò vàng” gái tạt ngang, cũng kiếm chuyện an ủi tù, khuyên cố gắng “nao động tốt, chính sách khoan hồng nhân đạo của nhà lước ta trước sau như một”!.

Nghe mãi nhức đầu, anh Trọng-Nha Trang hóm hỉnh, thâm nho, hay cướp lời cán bộ gái. Khi cán bộ gái (CBG) vừa nói tới chính sách khoan hồng nhà nước .. thì Trọng cướp lời

_CBG: …Chính sách khoan hồng nhà nước..

_Trọng-NT nói ngay: Thưa … cán bộ trước sau như một

_ CBG: Anh nói đúng, học hành mau tiến bộ, chính sách nhà nước..

Nhưng Trọng-Nha Trang thì lại cứ luôn miệng cướp lời:

_“Cán bộ trước sau như một”.

Có tên “cần câu” nào đó tâu với cán bộ cái rằng Thọ-Già nó đểu, nó bôi bác chính sách của đảng, nó dám so sánh cái ngực và lưng phằng lì của cán bộ gái với chính sách khoan hồng của nhà nước. Lời bàn của tên mao-tôn-cương này khiến cán bộ gái đỏ mặt. Chỉ vì hiểu sai “trước sau như một” mà Thọ-NT bị cùm.

Cùm là phải, thà phản đối chính sách của đảng thì OK, chứ chê ngực phụ nữ lép xẹp thì chỉ có nước chết, chê bác thì được, chê cái ấy của phụ nữ là tiêu đời. Tại trại 8 Hoàng Liên Sơn, đội trưởng Minh Khố Chuối (quần rách lòi cu hắn lấy là chuối che đi) ca tụng “bác Hồ là vĩ nhân” của nhân loại, ang-ten mao-tôn-cương với quản giáo Môn rằng đội trưởng Minh nói bác Hồ là cái đuôi của nhân loại, vĩ là cái đuôi, nhất thủ nhì vĩ mà lị. Minh bị cùm. Bọn an-ten này trước sau như một, dù chúng có làm thầy năm, sáu gì đi nữa thì an-ten vẫn là an-ten.

Đội 12 của đội trưởng Ngo-Lùn có bố Ánh-Già* khéo tay may vá trạm trổ nên được quản giáo cho ngồi một chỗ để “nao động nhẹ”. Lao động nhẹ thì đói trong khi lao động nặng cũng đói nhưng nhờ xông pha vào rừng vào suối, “bới đất cuốc cỏ mà nhét cho đầy bụng đói” (lời cụ Phan), lao động “hăng say” phá hoại tài sản của trại như ND Võ Văn Đ..thì tuyệt. Hăn bẻ 200 trái bắp sai tôi nhét vào hang đá rồi lấp cửa hang để ăn dần, no. Nhưng bố Ánh Già thì đọi, quản giáo Mô chôm ở đâu được miếng da trâu đã phơi khô lâu ngày để làm mặt trống rồi giao cho bố Ánh-Già bào gọt rồi làm cho hắn cái ví mà người miến Nam gọi là bóp. Vì ngồi một chỗ nên đói, bố già Ánh cho những miếng da thừa vào lon gô hầm rồi nuốt, bố làm gì có răng mà nhai, có răng cũng không nhai nổi da trâu phơi khô hằng mấy năm trời. Đội trưởng Ngo thấy được bèn hỏi đểu:

_ Ngon không? Bổ không?

Bố Ánh-Già là cha mấy thằng đểu nên nhẹ nhàng sỏ là kềnh thưa với đội trưởng:

_ “Trước sau như một”.

Hoan hô bố Ánh-Già, đem chất phế thải mà so sánh với chính sách khoan hồng của đảng thì đúng quá rồi. Khi được tha, bố về ở gần chỗ tôi, đường Tô Hiến Thành Q10. Nhưng không biết bây giờ bố ở đâu, có đi tỵ nạn không? Tôi học được ở bố nhiều điều.

Đội 4 trại 8 Hoàng Liên Sơn, lao động giỏi có bố già* to khỏe là Đạt “đi.m”, anh là Bắc Kỳ di cư nên không “đu.m” mà “đi.m”. To khỏe nên khẩu phần tù chỉ đủ xỉa răng, anh lại nhanh chân lẹ tay nên cũng “bới đất cuốc cỏ cho đầy bụng đói..”. Sau một đêm mưa to, gió bão, sáng hôm sau lên rừng “kéo cưa lừa xẻ, anh nào khỏe thì về ăn cơm trưa, anh nào thua thì về bú mẹ”, Đạt không thua, nhưng không có cơm ăn nên anh ăn “tai gỗ”, mộc là gỗ, nhĩ là tai tức là mộc nhĩ hay nấm tai mèo, thứ này ẩn mình trong gỗ mục, trời mưa là nở rộ. Cái thứ này mà bà xã trộn với thịt heo xay, thêm ít miến để làm chả giò thì số một, ăn sựt sựt dòn-dòn, tưởng ngon, mà ngon thật, tuy chẳng có mùi vị bổ béo gì. Già Đạt ém mộc nhĩ vào lon gô, đổ nước, thêm ti nước muối (VC không phát muối hột) đem đun sôi rổi ngồi thưởng thức mà NM (anh em) tù xung quanh không biết anh ăn thứ gì, tôi hỏi anh trả lời ỡm ờ có vẻ bí mật như sợ đồng tù khám phá ra nguồn cung cấp thực phẩm của anh:

_ Tao ăn chả giò.

Tối đó về anh no căng bụng, ôm bụng kêu rên, nằm bên cạnh, tôi định báo đội trưởng để hắn kêu to cho bò vàng nghe “có người đau cần cấp cứu” như những lần trước có “sự cố”, nhưng già Đạt cản lại bảo đừng, tụi nó biết được thêm rắc rối, biết tỏng tôi hỏi:

_Á à, hồi sáng anh “cải thiện” ăn sắn non của trại phải không?

_ Không không, không phải, nói khẽ thôi, tao ăn mộc nhĩ.

_ Thế là khổ rồi, nó nở sình lên làm anh no rồi bây giờ lo, lo mà đi ỉa đi.

Sáng sớm hôm sau, thấy anh tươi tỉnh, tôi hỏi “sao” thì anh mỉm cười bẽn lẽn:

_ “Trước sau như một”.

_ Anh đểu vừa thôi chứ.

(* tôi gọi các anh là bố già, nhưng thực ra vào thời điểm đi tù ấy, 1979-80, các anh chỉ ở độ tuổi 50, còn chúng tôi 35).

Đội 12 Vĩnh Quang A, có bạn tù rất trẻ tên An, thiếu úy, hình như mới tốt nghiệp khóa.. thì phải, không hiều lý do nào mà nai vàng ngơ ngác này lại nhập chung với toán “ tá ác ôn” rồi ra Bắc. Ngày mùa gặt lúa mà VC gọi là thu hoạch, An đói bụng quá trong khi gặt lúa thì An nhai trộm thóc cho đỡ đói lòng, tuổi trẻ mà, sợ chi, ngoài là thóc trong là gạo, chỉ khác nhau một lớp vỏ trấu, cũng như vỏ khoai, nhai đại nuốt đại cho no bụng. Đêm đó An chổng mông kêu bác, “bác ôi ..bác.. không ra đau quá bác ôi”! Đội phó là Phan Trừng** đến săn sóc đàn em, khám bệnh, hỏi bệnh tình của An xong rồi anh đi tìm cái móc, bắt An chổng mông rồi anh móc, sau một hồi An thoải mái, nhìn đám thóc do đội phó Phan Trưng vừa móc ra hộ, An cười bẽn lẽn như bà già sồn sồn mới về nhà chồng:

_ Trước sau như một.

Già Ánh, già Đạt đã đểu, trẻ như An lại sỏ lá kềnh, dám so sánh chính sách khoan hồng nhân đạo của nhà nước trước sau như một của đảng với phế thải của tù thì không thể tha thứ được. Theo “quá trình phân tích đánh giá” về phầm chất của công ty TNHH-Phan thì “thành phẩm” của phân ngoại là số 1, tức hốt ở các tòa đại sứ, còn sản phẩm ở các trại giam thì vất đi.

(** Đội phó Phan Trừng gốc tr/tá KQ, rất tận tụy với NM tù, anh hiện định cư tại Nam CA, Little Saigon, nếu anh có đọc đoạn này thì làm chứng cho tôi là tôi thật thà kể lại chứ không có ý xỏ xiên chuyện trước sau như một).

Báo VNExpress online trong nước XHCN vừa đăng tin một “ông” trung tá công an dùng dùi cui đánh gẫy cổ một người dân chết ngắc tại giữa thủ đô. Đầu đuôi tóm tắt là thế này, người dân tên Hùng đi xe honda ôm không đội mũ an toàn, trung tá công an chặn lại phạt anh lái xe rồi hai bên cãi nhau, Hùng thấy CA làm quá nên can ngăn, nào ngờ tên CA quay dùi cui đập Hùng té xuống đất lại còn gọi thêm đồng bọn đến đấm đá và còng Hùng kéo về đồn điều tra. Tại đồn Hùng bị đau đớn xin đi nhà thương nhưng CA không cho, gia đình cha mẹ vợ con đến đồn năn nỉ CA cho Hùng đi bệnh viện nhưng cũng không được chấp thuận. Cho tới khi thấy Hùng sắp chết, chúng mới cho chở Hùng đi bệnh viện để xoa tay “ta vô tội”, nhưng khi đến BV thì Hùng chết ngắc, pháp y kết luận Hùng chết vì gãy cổ.

Dư luận quần chúng thủ đô phẫn uất về thái độ “vô cảm” này. Người dân XHCN gọi là vô cảm, nhưng danh từ thông thường của xã hội loài người thì gọi trường hợp này là vô nhân đạo, dã man, không còn tính người. Đó là chuyện tháng 10/2011 taị Hà Nội.

Ngày 22 tháng 2 năm 1976 lúc 1 giờ trưa tại trại tù Suối Máu Biên Hòa xẩy ra một vụ chui hàng rào kẽm gai, bỏ lớp “học tập cải tạo” vì lý do chính sách khoan hồng của VC trước sau không như một, bảo mang tiền và quần áo đi học 1 tháng, mà đến 10 lần 1 tháng vẫn lơ đi và có chiều đi lên 100, 200 tháng. Bực mình vì thái độ lươn lẹo của VC, Thiếu tá Phạm Văn Tư K19 VB, giã từ trại giam Sưối Máu chui rào kẽm gai ra về. Chẳng may áo anh bị vướng vào kẽm gai, lùng nhùng mãi chưa thoát được nên bị lộ và cây thượng liên trên chòi canh xả đạn xuống tấm bia người trong vòng kẽm gai. Thực ra thì không cần bắn chết mà bắt sống để xử tội “lăng trì”. Khi chúng kéo anh Phạm Văn Tư ra khỏi hàng rào thì thân Tư nát như tương, nhưng kỳ diệu thay là anh vẫn còn thở, còn sống, thấy vậy tên thiếu úy Hải VC rút K54 ra tặng thêm cho Tư bốn phát vào tứ chi cho thêm thịt nát xương tan!

Tư vẫn không chết, chúng kéo xác Tư còn thoi thóp thở vứt trên nền đất của căn nhà tôn bỏ hoang. Tới 6 giờ chiều, tức 5 tiếng sau, cai tù vào bảo anh em cùng phòng mang hết đồ đạc của Tư sang cho anh. Anh em tù kín đáo cử anh bác sĩ Lãng Uyên mang đồ đạc đi với mục đích là nhờ BS Uyên xem xét bệnh tình của Tư ra sao. Khi xong việc trở về BS Uyên cho biết:

_ Anh Tư không được băng bó gì cả, máu ra quá nhiều, não bị động mạnh, vì anh Tư đang nôn mửa, chỉ có thể chịu đựng được vài tiếng nữa thôi”!

Sáng hôm sau, 23/2/76, mấy vệ binh vào lán dẫn 6 anh tù đi chôn cất anh Tư! Anh Tư ra đi trên nền đất lạnh, xung quanh là côn trùng cùng kiến lửa bu quanh!

Trước…, 2/1976, anh Tư bị bắn trọng thương, bỏ đó cho chết, cho kiến bu.

Sau.., 10/2011, anh Hùng bị đánh gẫy cổ, còng tay, không cho đi BV rồi chết.

_ “Trước sau như một”.

Tàn ác dã man như nhau, bản chất đó trước sau như một.

Người lính VNCH thì không có cái khoan hồng trước sau như một mà trước khác sau khác. Người viết xin nêu ra một thí dụ cụ thể trong ngàn vạn trường hợp tương tự

Tháng 10 năm 1968, Tiểu Đoàn Trâu Điên quần thảo với 1 trung đoàn VC trong mật khu Bời Lời suốt cả đêm tới sáng. Thông thường đụng nhau, dù nặng hay nhẹ thì các chú chém vè trước khi trời sáng, nhưng trận này thì khi mặt trời mọc rồi mà vẫn còn súng nổ. Sáng banh mắt, một tên VC núp bên hố bom B52 với CKC có ống nhắm, hắn bắn chết HS1 Thà, nguời mang máy cho tôi, rồi bắn thêm Hạ Sĩ Tha đi luôn, Tha là cao bồi của ĐDP Tr/ Úy Thạnh Lâm, nhưng rối hắn cũng bị anh em phát giác bắn lật nhào xuống hố bom.

Anh em kéo xác hắn lên thì nó chỉ bị thương nhẹ vào cánh tay, trong trường hợp nóng hổi này, đệ tử ruột mang máy vừa bị hắn bắn chết thì cho hắn một tràng M16 vừa nhẹ nhàng vừa đỡ tức, chiến tranh mà, đối diện kẻ thù ai bắn chậm thì chết. Nhưng ở đây đã nắm được địch trong tay, chưa nói đến quy luật chiến tranh, mà bản tính con người VN không thể sát hại địch đã bị bắt hay đầu hàng nên tôi cho gọi y tá đại đội đến băng bó cho nó. Thấy nó ướt sũng, run cầm cập, tuy cái đầu tôi không chủ ý nhưng rồi cái tay lại tự động rút Ruby Queen, quẹt zippo cho hắn hút, không đành cho nó một viên “bỏ hút”.

Nhưng tr/úy ĐĐP của tôi thì nóng mặt, Tha là cao bồi ruột, người lo café, cơm sấy nước suối vừa bị tử thương vì nó nên Thạnh co chân đạp cho nó một phát té ngửa, bất ngờ bác sĩ tiểu đoàn là Qu.. đang đi kiểm soát thương binh cả hai phía, trông thấy Thạnh đá tù binh, Qu la:

_ Tại sao tr/uy đánh tù binh?

_ CCCC, nó vừa bắn chết lính tôi, anh biết đéo gì.

_ Nhưng nó đã bị bắt, là tù binh.

Thấy đđp của mình và bác sĩ tiểu đoàn to tiếng chỉ vì một tên tù binh nên tôi phải cản ra. Cả hai anh đều đúng về tình và lý, tình người và lý luật chiến trường, lòng nhân đạo, khác hẳn với “khoan đỏ nhân đạo trước sau như một” của thú dữ.

Ngày 3 tháng 11 năm 2011, công an Hà Nội đóng kịch giả dạng côn đồ du đãng vào dánh đập tu sĩ và phá hoại nhà thờ giáo xứ Thái Hà ngay trung tâm thủ đô Hà Nội. Bỏ qua một bên về việc mượn đất, cướp đất dẫn đến tranh chấp ai trái ai phải. Chỉ biết đây là một vụ kiện thưa của người dân với nhà cầm quyền, hai vế chênh lệch rõ ràng, luật pháp trong tay, quyền lực trong tay, quân đội và công an Nhân Dân trong tay, nếu muốn thì cứ thẳng tay trừng trị “bọn dân ngoan cố”, như Gadhafi, như Tailiban đem xe tăng cà nông bắn sập đền đài tượng thờ, mặc xác Liên Hiệp Quốc của ông Ky-Mun khuyến cáo, cần gì phải đóng kịch cởi bỏ quần áo quân đội và CA nhân dân để mặc đồ côn đồ, uống rượu say, giả điên để hành hung và dập phá một cơ sơ tôn giáo? Giả say để mai mốt nếu dân có kiện ra tòa thì chánh án nhân dân tối cao phán rằng vì say rượu, mất binh tĩnh nên không có tội. tha tù, xử ný nội bộ thôi, cho làm kiểm điểm là đúng luật XHCN rồi. Một màn kịch “dân chủ” quá ư là tồi.

Ngày 22 tháng 2 năm 1976 tại trại tù Suối máu Biên Hòa, cùng vượt ngục với Phạm Văn Tư có Trần Văn Bé K19VB. Tư bị kẹt trong hàng rào, bị bắn, chưa chết nhưng “được” để cho kiến cắn chết. Bé trốn thoát nhưng sau đó bị bắt lại.

Ngày 10 tháng 4 năm 1976, VC thiết lập tòa án để xử Trần Văn Bé và anh Thịnh (Thủ Đức, trốn trại tại Hóc Môn). Tòa án là Niệm Phật Đường trước 1975, nay chúng phá bỏ tượng Phật, treo hình HCM để làm tòa án. Chánh án là tr/tá trung đoàn trưởng QK7/ Đoàn 775 Nguyễn Văn Bản, hai công tố là thượng úy Nguyễn Tử Mùi va Hà Minh Thuyết thuộc quân huấn và quân pháp QK7. đ/úy Lê Văn Giác, đại diện viện kiểm soát QK7. Thư ký tòa là tr/úy quân pháp Nguyễn Văn Thành, luật sư không có, khán giả là bạn tù của Bé và Thịnh.

Chánh án Bản tuyên bố khai mạc phiên tòa xử Bé với lời lẽ nhân đạo như sau:

_ Anh có điều gì cứ trình bày, cứ khai thật, khia hết, để đảng và nhà nước sẽ xử khoan hồng tha cho anh về với vợ con.

Lời tuyên bố của chánh án được thư ký ghi ngay vào biên bản, Bé chưa kịp nói gì thì hai viên công tố đã dọc ngay bản luận tội “can tội trốn trại cải tạo mục đích phản cách mạng ..vv” và trăm thứ tội khác. Sau hơn 3 tiếng đồng hồ kết tội, cuối cùng chánh án Bản đứng dậy nhìn một vòng các ‘cử tọa” dõng dạc đọc bản án do “nhân dân” quyết định:

“ Căn cứ vào chính sách khoan hồng nhân đạo trước sau như một

“Căn cứ vào điều 2 chương 1 luật số 03/SL.. ngày 15/3/76 của chính phủ …

“Căn cứ vào…

“Căn cứ vào…

“ Tòa án Quân Sự Quân Khu 7 quyết định xử phạt:

Trần Văn Bé ….. tử hình.*

(* tất cả diễn tiến thủ tục pháp lý xử án công khai và công minh đã được thư ký tòa ghi vào biên bản và mấy năm sau, biên bản này mới được trao cho bà quả phụ Trần Văn Bé)

Đồng hồ chỉ 10 giờ 10 phút ngày 10 tháng 4 năm 1976, bọn vệ binh chạy lại tử tù Trần Văn Bé, bịt mặt, bịt miệng còng chân tay, lôi ra cột đã đóng sẵn, lấy dây thừng quấn anh vào với cột, đội hành quyết đã sãn sàng.. nhiều tràn AK nổ, đầu Trần Văn Bé gục xuống, một phát súng K54 “ân huệ” vào tai tử tội. Đồng hồ chỉ 10 giờ 30 sáng ngày 10 tháng 4 năm 1976

Vệ binh cắt dây thừng cột tử tội, bỏ xác vào hòm đã đóng sẵn, và chôn vào huyệt đã đào sẵn ngay trong vòng rào “tòa án”.

“Trước ngày xử án, hội đồng xét xử đã nhân đạo lo cho tử tội được chôn cất tử tế bằng cách cho đóng sẵn 2 quan tài và đem để ngay bên cạnh “tòa án? Một hòm cho Bé vào buổi sáng, một hòm cho Thịnh xử vào buổi chiều cùng ngày.”

“Trước ngày xử án một ngày, ban chỉ huy trại tù đã lo mồ mả cho tử tội sẵn sàng đàng hoàng bằng cách ra lệnh cho bạn tù đào 2 lỗ chôn người ngay bên cạnh tòa án.”

Trước khi xử phạm nhân thì án đã được quyết định sẵn, và đây cũng là những thủ tục mà bản án dành cho những người trong nước đòi dân chủ tự do hiện nay và sau này cùa nhà nước XHCNVN: “Trước sau như một”.

Nhà nước XHCNVN diễn một màn hài kịch triệt hạ đối với giáo xứ Thái Hà quá tệ

Nhà nước XHCNVN diễn một màn hài kịch giết Trần Văn Bé quá tệ

“Trước sau như một” … quá tệ và tàn ác.

Ác cho đến nỗi ông trời còn phải kêu lên: “ Trời ơi là trời”

Ngay sau khi Th/tá Trần Văn Bé vừa gục đầu xuống vì những tràng AK thì trời đất bỗng nổi cơn gió bụi, mây đen từ đâu kéo tới bao phủ bầu trời nơi “tòa án” và cũng là nơi anh Bé bị băn, phủ toàn vùng trại tù Suối Máu Biên Hòa,, gió lốc từ đâu bay tới cuộn. bốc tất cả cát bụi sỏi đá bay lên mù mịt, cát đá rơi xuống mái tôn trại tù nghe lộp bộp, rơi vào những thau cơm săp sẵn để phát cho tù vào buổi trưa. Không phải cơn mưa bình thường, mà là những hạt nước thật to rơi lộp bộp lên mái tôn trại tù.

Tất cả sự kiện này xảy ra trong vòng 5 tới 10 phút rồi tan đi như tiễn đưa linh hồn người chiến sĩ Trần Văn Bé.

Tùy vào niềm tin của mỗi người mà có suy tư về hiện tượng này khác nhau, nhưng cùng chung ý nghĩ trời cũng phải phẫn uất, phải khóc vì sự giả dối và tàn bạo này của CSVN.

Đọc giả nào không có mặt tại nơi và thời điểm chính phủ XHCNVN xử án Trần Văn Bé thì có thể nghi ngờ sự kiện kể trên, nhưng hơn 4 ngàn cựu sĩ quan VNCH bị nhốt tại trại tù Suối Máu tháng 4/1976 đều chứng kiến hiện tượng lạ lùng này. Những Cọp Biển là nhân chứng cho hiện tượng lạ lùng này thì còn đây, là những TQLC:

Trần Vệ, (người bị bắt đi dự phiên tòa), Đoàn Trọng Cảo, Nguyễn Đức Ân, Trần Ngọc Toàn, Đinh Xuân Lãm, Trần Kim Hoàng, Lê Văn Cưu, Lê Văn Huyền, Phan Công Tôn, Huỳnh Văn Phú, Trần Văn Hợp, Trần Xuân Bàng, Tô Văn Cấp, Trần Văn Duật, Doãn Thiện Niệm, Quách Ngọc Lâm, Lâm Tải Thạnh v.v..

Lâm Tài Thạnh, TĐT/TĐ.9 TQLC ghi lại như sau:

Tôi Cựu MX Lâm Tài Thạnh cựu tù Long Giao, Suối Máu xác nhận sự hiện tượng "kỳ bí" ở trại tù Suối Máu Tháng 4 Năm 1976 là gió lốc và mây đen tự nhiên kéo đến sau khi cựu Thiếu Tá Trần Văn Bé bị xử bắn. Thời điểm nầy tôi còn nhớ sau khi xảy ra hiện tượng đó thì cựu Thiếu Tá Đoàn văn Lý, tức Lý Lùn trường Sinh Ngữ QD và Uy Ban Liên Hợp QS 4 Bên mời các cha tuyên úy Công Giáo trong đội chúng tôi là cha Trần Ngọc Minh (SĐ.5),cha Ngô Đình Thỏa, cha Quế để làm lễ cầu nguyện cho Anh Bé, nhưng sau đó chúng tôi bị an-ten báo cáo nên bị gọi lên ban chỉ huy làm việc (điều tra) và giảm khẩu phần ăn hết một tuần”.

Chuyện “trước sau như một” của nhà nước XHCN thì là “chuyện thường ngày ở huyện”, nhưng cái không bình thường là những tên gốc là tỵ nạn CS, trốn CS vượt biển vượt biên, HO v.v.. van lạy thề thốt không là CS, không làm tay sai cho CS để được vào đất Mỹ sống cuộc đời ăn nhờ ở đậu, cố ăn gian nói dối để được làm công dân Mỹ. Khi đã là công dân Mỹ rồi thì lại phản nước Mỹ quay lại làm tay sai cho VC quậy phá cồng đồng người Việt tỵ nạn CS. VC quăng cho khúc xương, cái vé máy bay, cho vài ngàn đô là hí hửng quay về XHCN ngồi chung bàn, ăn chung đũa, ngủ chung phòng, tướng CA trên giường, tay sai Ziệt-Kiều iêu nước truyền thông báo chí nằm dưới gầm giường để nhận chỉ thị:

“Khi trở lại Mỹ, tụi mày cứ vin vào điều 1 hiến pháp HK là tự do báo chí rồi cứ chửi vung lên, bịa chuyện bôi bẩn hạ nhục tất cả những tên chống CS,chống nhà nước XHCN”

_ “Dạ thưa các thủ trưởng, chúng em tuyệt đối trung thành với đảng, miễn sao thủ trưởng giúp $ cho tụi em nuôi sống tờ tuần báo VC Weekly này”.

Tên trung tướng CA xoa đầu, đưa cho đám phóng hòn, phóng viên “báo chí phá hoại” này bao thư, nhưng trong đầu tên trung tướng CA này chửi thầm:

_ “Địt mẹ tụi chó đẻ này, tụi bay là lũ phản phúc thì “trước sau như một” vẫn là lũ phản phúc, chó nó cũng không tin được bọn bay”.

(Bé&Tư: Tham khảo bài viết “Cái Tang Chung Cuối Đời Binh Nghiệp” của tác giả Nguyễn Nho K19VB và “Phiên Tòa Bên Cỗ Quan Tài” của tác giả Chế Văn Thức K19VB)
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Image

Vinh Danh Chúa cả trên trời!Bình an dưới thế cho người thiện tâm.

Một Câu Chuyện Cảm Động.
Sáng nào cũng thấy thằng nhỏ cầm cái Lon đứng chầu chực trước quán ăn.

Tôi để mắt theo dõi thì hễ thấy thực khách vừa kêu tính tiền thì thằng bé chạy vào nhìn vào những cái tô, nếu còn thức ăn dư mứa thì nó vội vã trút vào cái Lon rồi chạy Ra ngoài đứng ngóng tiếp.

Khi cái Lon gần đầy thì nó biến mất, chập sau thấy nó lại có mặt thập thò trước quán tiếp tục. Bàn tôi ngồi thì đứa bé không bao giờ quan tâm tới, vì mỗi sáng tôi chỉ đủ tiền uống 1 ly xây chừng vì tôi cũng nghèo cải tạo mới về sáng nhịn đói ngồi uống cà phê đen như một cái thú hay một cái tật không bỏ được.

Cứ thế, mà hơn một năm tôi mới quen được và tìm hiểu chút ít về hoàn cảnh gia đình của đứa bé. Tôi cố tình làm quen với thằng bé nhờ hôm ấy trời mưa, thằng bé đứng nép vào trong quán. Thằng bé đứng nép vào ngày càng sâu hơn trong quán vì mưa ngày càng lớn chỉ cách tôi chừng độ nửa thước. Tôi vói tay kéo nó ngồi xuống bàn và hỏi nó có thích uống cà phê không ?

Thằng bé lắc đầu lia lịa và nói không uống. Tôi hỏi nó làm gì ngày nào cũng Ra đây? và hiện sống với AI? Thằng bé như đoán được rằng: tôi chỉ là người khách ghiền cà phê nặng nên hàng ngày đóng đô ở đây nên nó cũng trả lời nhanh nhẹn rằng:

- “Con sống với ba má con, Ba con đi làm xa còn Má con đi phụ buôn bán ở ngoài chợ…”

Tôi hỏi tiếp:

- “Còn con có đi học không ?”

Thằng bé nói:

- “Con không có đi học… con ở nhà phụ với má nuôi heo…”.

Đó là lý do để nói lên sự hiện diện hằng ngày của nó nơi quán ăn nầy. Nghe thằng bé nói như thế, tôi nói với chị chủ quán ăn giúp cho nó lấy những cơm và thức ăn thừa, và cũng từ đó nó không còn đứng lúp ló ngoài cửa quán nửa. Và nhờ tánh tình hiền hậu thật thà chị chủ quán cho nó vô phụ dọn bàn đề lấy thức ăn dư mang về và cho nó ăn uống để phụ việc. Từ đó tôi và nó gần gũi nhau hơn và thân với nhau lắm.

Có lần thằng bé hỏi tôi:

- “Chú làm nghề gì vậy hả chú?”

Tôi chỉ trả lời ngắn gọn là ” Chú đang làm thinh”.
'
Đúng vậy mới cải tạo về mà, vợ con thì đã theo bên ngoại vượt biển hết rồi, nghe đâu đã định cư bên Úc, nay về ở với mẹ già ngày 1 buổi cà phê hai bửa cơm độn qua ngày. Thời gian ngột ngạt chậm chạp trôi qua, may mắn vợ chồng tôi đã bắt liên lạc được với nhau. Thế là những bữa cơm không còn ăn độn khoai củ hay Bo Bo nữa nhưng vẫn quen cử sáng cà phê quán gần nhà. Không biết chị chủ quán có bỏ bùa mê hay tôi ghiền chổ ngồi mà không bữa nào vắng tôi. Một hôm, tôi đề nghị theo thằng bé về nhà nó chơi cho biết vì nó nói ở cũng gần không xa lắm. Thấy nó do dự và tỏ vẻ sợ sệt, tôi biết ngay nó đang dấu diếm điều gì. Thương nó lắm, tôi dúi tiền cho nó hoài. Mấy hôm sau tôi lẳng lặng đi theo nó khi nó mang cơm và thức ăn dư về nhà buổi trưa. Khi thấy nó lủi vô một cái chòi nhỏ xíu thì tôi thật sự không ngờ.

Đứng dưới gốc cây Gòn cách nhà nó không xa tôi thầm nghĩ, nhà chút xíu như vậy gia đình 3 người ở thì chổ đâu mà nuôi heo. Tôi đang đứng suy nghĩ đốt cũng hết mấy điếu thuốc thì thằng nhỏ lục tục xách Lon xách nồi đi Ra quán để thu dọn thức ăn buổi chiều. Đợi thằng bé đi khuất tôi lò mò đến nơi mà hồi nãy nó vào. Đến đó mới nhìn rõ thì thật Ra đâu có phải là nhà, một lõm trống được che dựng lên bằng những phế liệu đủ loại muốn chui vào phải khom mọp xuống. Nghe thấy có tiếng chân dừng lại, có tiếng đàn bà vọng Ra hỏi. Tôi trả lời là đi kiếm thằng Tuất, thì nghe giọng đàn ông cho biết nó vừa đi khỏi rồi, và hỏi tôi là AI, mời tôi vào…. Vừa khom người chui vào tôi mới thật sự không ngờ những gì hiển hiện trước mắt tôi.

Người đàn ông hốc hác cụt hai giò tuổi cũng trạc tôi nhưng trông yếu đuối, lam lũ và khắc khổ lắm. Một người đàn bà bệnh hoạn xác xơ cả hai đang ăn những thức ăn thừa mà thằng bé vừa mới đem về. Vừa bàng hoàng, vừa cảm động vừa xót xa, nước mắt tôi bất chợt tuôn rơi mặc dù tôi cố nén…

Từ đó, tôi hiểu rõ về người phế binh sức tàn lực kiệt sống bên người vợ thủy chung tảo tần nuôi chồng bao năm nay giờ mang bịnh ác tính nặng nề thật đau xót. Tôi móc hết tiền trong túi biếu tặng và cáo lui. Về đến nhà tôi vẫn mãi ám ảnh hoàn cảnh bi thương của gia đình thằng bé mà tôi bỏ cơm nguyên cả ngày luôn. Sáng hôm sau ra uống cà phê, thằng bé gặp tôi nó lấm lét không dám nhìn tôi vì nó đã biết trưa hôm qua tôi có tới nhà nó. Nó thì tỏ vẻ sợ tôi, nhưng tôi thực sự vừa thương vừa nể phục nó nhiều lắm. Tôi kêu nó lại và nói nhỏ với nó tại sao không cho tôi biết. Tội nghiệp nó cúi đầu im lặng làm lòng tôi thêm nỗi xót xa. Có khách kêu trả tiền, như có cơ hội né tránh tôi nó chạy đi dọn bàn và tiếp tục công việc thu dọn thức ăn. Hèn gì sau nầy nó để thức ăn dư phân loại đàng hoàng lắm. Tội nghiệp hoàn cảnh của thằng bé mới mấy tuổi đầu mà vất vả nuôi cha mẹ theo khả năng chỉ tới đó. Cha là một phế binh cũ trước 75 cụt hai chân, mẹ thì bị bệnh gan nặng bụng phình trướng to khủng khiếp và cặp chân sưng vù lên đi đứng thật khó khăn, nước da thì vàng mét như nghệ. Thằng bé là lao động chánh trong gia đình, nó có hiếu lắm. Từ đó tôi thường cho tiền đứa bé mua bánh mì cơm gạo về nuôi cha mẹ.

Vợ tôi làm thủ tục bảo lãnh tôi sang Úc. Ngày tôi đi tôi đau xót phải để lại hai nỗi buồn đó là để mẹ và em gái lại quê nhà và không còn cơ hội giúp đỡ thằng bé nữa. Sang Úc định cư, tôi sống tại tiểu bang Victoria mấy năm đầu tôi hết sức cơ cực vì phải vật lộn với cuộc sống mới nơi đất mới và đối với tôi tất cả đều mới mẻ và xa lạ quá. Từ ngôn ngữ đến thời tiết đã làm tôi lao đao không ít. Thỉnh thoảng tôi gởi tiền về nuôi mẹ và em gái không quên dặn em gái tôi chuyển cho thằng bé chút ít gọi là chút tình phương xa.

Mấy năm sau tôi về thăm gia đình, tôi có ghé tìm thằng bé thì nó không còn lấy thức ăn trong quán đó nữa. Tôi mới kể rõ hoàn cảnh thằng bé cho chị chủ quán biết. Chị chủ quán đôi mắt đỏ hoe trách tôi sao không cho chị biết sớm để chị tìm cách giúp gia đình nó. Tôi chỉ bào chữa rằng tại thằng bé muốn giấu không cho ai biết! Tôi ghé vội qua nhà thằng bé thì mới hay mẹ nó đã qua đời vì căn bệnh ung thư gan. Chỉ còn chèo queo một mình ba nó ở trần nằm một góc trông hết sức thương tâm. Hỏi thăm thì mới biết nó đã xin được việc làm đi phụ hồ kiếm tiền về nuôi cha.

Chúa nhật tôi tới tìm thằng bé, chỉ mới có mấy năm mà nó đã cao lớn thành thanh niên rất đẹp trai duy chỉ đen đúa vì phơi nắng để kiếm đồng tiền. Tôi dẫn nó trở ra quán cà phê cũ, thấy nó hơi ái ngại, tôi trấn an là bà chủ quán tốt lắm tại không biết được hoàn cảnh gia đình nó. Ra đến quán ăn chị chủ quán năn nỉ nó về làm với chị, dọn dẹp và bưng thức ăn cho khách nhẹ nhàng hơn đi phụ hồ và chị sẽ trả lương như đang lãnh bên phụ hồ, tối về thức ăn thường bán không hết chị cho đem về nhà dùng khỏi phải mua hay đi chợ. Lần đầu tiên tôi thấy nó khóc, chị chủ quán cũng khóc theo làm tôi phải đứng dậy bỏ ra ngoài để khỏi phải rơi nước mắt vì chịu không nỗi.

Thằng Tuất vừa khóc vừa nói: “Sao ai cũng tốt với gia đình con hết đó, nhưng vì con đang làm phụ hồ cho anh Năm, anh ấy cũng tốt lắm giúp đỡ gia dình con nhiều lắm, sáng nào cũng mua cho ba con gói xôi hay bánh mì trước khi tụi con đi làm. Con cũng mang ơn ảnh nhiều nên con không thể nghỉ được, con xin lổi”. Không biết thằng Tuất nó nói thật hay nó ái ngại khi quay về chỗ mà ngày nào cũng cầm cái lon chầu chực trút đồ ăn dư về nuôi cha mẹ. Phải thông cảm nó, phải hiểu cho nó, phải cho nó có cái hiện tại và tương lai tốt hơn, đẹp hơn ngày trước. Chị chủ quán vừa gạt nước mắt vừa nói “Bất cứ lúc nào con cần đến cô thì con đừng ngại, cho cô biết nhé “…

Đời nầy cũng còn có những hoàn cảnh bi đát ít ai biết đến, và cũng có những đứa con xứng đáng như thằng Tuất. Ngày về lại Úc, tôi đến biếu hai cha con nó hai triệu đồng, thấy nó và ba nó mừng lắm tôi cũng vui lây. Không biết phải giúp gia đình nó như thế nào, tôi chụp hình ba nó, photo giấy tờ ba nó đem về Úc gởi cho Hội cứu trợ thương phế binh bị quên lãng trụ sở ở Sydney. Mấy tháng sau nhận được thư ba thằng Tuất viết qua, ông quá vui mừng khi được Hội bên Úc giúp đở gởi tiền về, ông cho biết suốt bao nhiêu năm qua lần đầu tiên ông thấy được niềm hạnh phúc khi cuộc đời phế binh của ông còn có người nhớ đến.

Không biết ông ấy vui bao nhiêu mà chính tôi cũng hết sức vui mừng khi thực hiện một việc làm đem niềm vui đến cho những người phế binh sống hết sức đói nghèo bên quê mẹ. Tôi xin cảm ơn cả hai: người chiến sĩ vô danh sống trong hẩm hiu và Hội cứu trợ thương phế binh đã thể hiện tình người trong công việc hết sức cao cả này.

Minh Tạo
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Cô bé Việt Nam với lá cờ vàng ba sọc đỏ
Mong rang nhung the-he thu hai, thu ba va tiep noi mai mai mang trong long khi tiet va yeu nuoc nong-nan nhu "Co Be dang cam phuc" nay .

Cuối tuần vừa qua, Thợ Câu tham dự buổi hòa nhạc do một Trung tâm Huấn luyện Mầm non tại địa phương tổ chức. Số nhạc sinh gồm đủ mọi thành phần sắc tộc được ban Giảng huấn đề nghị trong dịp này trình tấu một bản nhạc cho quốc gia của mình, và đặc biệt được trưng một lá quốc kỳ nhỏ tượng trưng cho Quê Hương trong khi trình diễn.

Buổi hòa nhạc diễn ra rất thành công cho đến khi ban Giảng huấn giới thiệu một cô bé người Á Đông nhỏ nhắn và rất dễ thương lên sân khấu trình tấu nhạc phẩm Lòng Mẹ.

Nghe cô bé trình bày bằng Anh ngữ lý do tại sao mình chọn bản nhạc này khiến mọi người chú ý, Thợ Câu càng ngạc nhiên hơn khi nghe cô bé phát âm hai chữ “Lòng Mẹ” bằng một giọng Việt Nam thật rõ ràng, thật chuẩn.

Chuyện rắc rối cho ban Tổ chức khởi đầu từ lúc cô bé VN khựng lại khi lên đến bục trình diễn: trên mặt đàn dương cầm có trưng một bình cắm hoa và bên cạnh là một lá cờ đỏ sao vàng.

- Thưa thày, lá cờ này không phải là quốc kỳ của nước con.

- Đây là cờ VN mà! con là người Mỹ gốc Viêt Nam phải không?

- Con đúng là người Mỹ gốc Việt, nhưng ba mẹ con nói quốc kỳ nước Việt Nam màu vàng có 3 sọc đỏ.

Con thấy treo trên bàn thờ trong nhà, chứ không phải lá cờ màu đỏ này!

Mặc cho ông thày hết lời giải thích nhưng cô bé nhất quyết từ chối phần trình diễn của mình.

Cuối cùng cô bé đồng ý: Nếu không có lá cờ vàng thay thế - vì mọi người đều biết gốc VN của cô rồi nên không trưng quốc kỳ cũng được - nhưng xin ban Tổ chức rời lá cờ đỏ khỏi chiếc dương cầm thì cô bé mới trình diễn!

Một số khán giả người địa phương (có lẽ là cựu quân nhân) và Thợ Câu cùng đứng lên vỗ tay nhiệt liệt hoan hô cô bé VN khiến hầu hết mọi người đều hưởng ứng.

Buổi hòa nhạc kết thúc trong bầu không khí thật thoải mái cho mọi người. Xin cảm phục sự giáo huấn và lòng tự trọng của cô bé Việt Nam đáng yêu.

Thợ Câu.

TB.- Sau buổi hòa nhạc, Thợ Câu dò hỏi và được biết cô bé này là Cháu Nội của một cựu SVSQ khóa 20 Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Đúng là “con nhà tông, không giống lông cũng giống cánh”!
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »


Image

Thiên Đàng và Địa Ngục

Tác Giả: Huy Phương

“Bọn chúng ta hèn như bầy thỏ đế
Khổ đau chia, khi sung sướng một mình
Lúc lửa đỏ bèn cao bay xa chạy
Còn nhớ gì nghĩa huynh đệ chi binh!” (HP)

(Viết cho những hội cứu trợ thương binh)

Nhà văn Ba Tây, Paolo Coelho có một câu chuyện kể được xếp hạng là một trong những câu chuyện hay, đại khái như sau:
Một người đàn ông đang rong ruổi trên một con đường cùng hai con vật bạn đường thân yêu là một con ngựa và một con chó. Chẳng may họ bị sét đánh và cả ba đều qua đời, tuy vậy người đàn ông không biết mình đã chết, linh hồn của người và vật vẫn tiếp tục con đường của mình đi. Con đường dài và gian nan, người và vật phải qua bao nhiêu ngọn đồi dưới cơn nắng cháy da, họ đổ mồ hôi nhuễ nhại và vô cùng khát nước. Vừa qua khỏi một ngọn đồi, trên một triền núi, người lữ hành trông thấy một lâu đài tráng lệ, bèn đến gõ cửa. Ông nói với người gác cổng:
- Thưa ông, cho phép tôi hỏi, lâu đài đẹp đẽ này gọi là gì?
- Ông không biết đó thôi. Nơi này gọi là Thiên Ðàng.
Trong hoàn cảnh của người và vật bấy giờ, Thiên Ðàng hay Ðịa Ngục đối với họ không là gì cả, họ chỉ cần nước:
- Chúng tôi hoàn toàn kiệt sức và cần nước uống, tôi có thể vào đây để xin nước uống được không.
- Vào đây, ông muốn uống bao nhiêu nước cũng được, và muốn gì cũng có.
Người gác cổng mở cửa cho người lữ khách bước vào nhưng khi hai con vật bạn đường của ông tiến lên, người gác cổng ngăn chúng lại:
- Chỉ mình ông thôi, hai con vật này không được vào đây

Nghe vậy người lữ khách đứng sững lại. Mặc dầu khát khô cổ họng, ông không thể uống nước một mình. Ông cám ơn người gác cổng và mệt mỏi kéo hai con vật rời khỏi lâu đài.

Họ lại đi qua mấy ngọn đồi cát, gần như kiệt lực, cuối cùng thấy một chiếc cổng đã cũ nát, dẫn vào một con đường có bóng mát và trồng đầy hoa. Tiếng động của họ đánh thức một ông già đang nằm ngủ dưới gốc cây.

Người lữ khách lên tiếng:
- Chào ông, chúng tôi quá khát nước, hai con vật này cũng vậy.
- Có một con suối sau tảng đá kia, ông muốn uống bao nhiêu cũng được.
Sau khi đã no nê với những ngụm nước mát, họ trở lại con đường gặp ông già để cám ơn. Ông già nói:
- Không có gì, chừng nào thấy khát thì quý vị cứ trở lại đây!
- Ðây là đâu? Thưa ông?
- Ðây là Thiên Ðàng!
Người lữ khách ngạc nhiên:
- Ðằng kia người ta cũng nhận đó là Thiên Ðàng. Mình có thể nào ngăn chận một sự lạm danh như thế này không?
- Không cách nào cả ông ạ! Thật ra họ cũng chấp nhận một đặc ân lớn cho những ai có thể bỏ được bạn bè tốt nhất của mình, đều ở lại đó hết!

Ðừng bao giờ bỏ bạn bè của chúng ta, những người bạn chân thật đã cho chúng ta sự yêu thương và đồng hành. Ðừng bao giờ bỏ rơi họ, đừng bao giờ! Trên đời này có một người bạn là được một ân huệ. “Có được một người bạn là được một món quà. Giữ gìn và không bỏ bạn đạo đức. Ðược làm bạn của một người bạn là một vinh dự”.

Vậy mà chúng ta ra đi vào cổng “Thiên Ðàng” uống nước một mình, để lại biết bao nhiêu người gọi là “chiến hữu”, là “đồng ngũ”, là “huynh đệ chi binh”- danh xưng đó còn cao hơn cả tình bạn bè- mơ một ngụm nước giữa cơn khát cháy khô cổ họng. Tháng 4-1975, chúng ta đã có bao nhiêu anh hùng liệt sĩ hy sinh cho tròn danh tiết, như người hạm trưởng không bỏ con tàu lúc lâm nguy. Dần dà chúng ta còn tìm ra không biết bao nhiêu con người dũng cảm khí phách như Nguyễn Ðình Chi tự sát tại nhiệm sở, như Nguyễn Văn Long nổ phát súng vào đầu giữa công trường trong ngày Saigon thất thủ, như Nguyễn Hoàng Ân lao máy bay xuống biển không để lọt vào tay giặc khi phải bỏ miền Trung, như những người lính vô danh choàng tay chụm đầu chia nhau những mảnh đạn trên bãi biển Tư Hiền hay ở ngã ba Ông Tạ trên đường rút quân. Không phải ai cũng hành động được như họ. Họ không nỡ bỏ nhau, họ không thể bỏ bạn bè.

Nhưng chúng ta bỏ lại quá nhiều chiến hữu sau lưng. Nhiều người mất xác trong trại tù. Nhiều người chết ngoài biển Ðông. Chúng ta ra đi quá lành lặn, nhiều người còn đem theo của cải tích lũy từ máu xương của những người bạn đường cùng đi với chúng ta trong hai mươi năm. Chúng ta để lại hàng nghìn, hàng nghìn cô nhi quả phụ thương binh trong vùng đất địch. Ba mươi sáu năm nay, chúng ta đã thấy có vị tướng “công thành” nào nhớ đến “vạn cốt khô,” làm lấy một hành động có ý nghĩa cho những người “bạn đường” năm cũ đang giữa cơn đói khát nhục nhằn chưa? Kể cả một buổi lễ tưởng niệm, cầu siêu cho những người lính thuộc quyền ở lại chiến đấu anh dũng và chết oan khuất cho cấp chỉ huy lên máy bay lành lặn ra đi, cũng không thấy bóng dáng người tư lệnh năm xưa. Họ như “kẻ chăn chiên quay đầu chạy, bỏ bầy chiên lại cho lũ sói rừng!” Nhiều người đã trở về trận địa cũ năm xưa, không phải để tìm lại những chiến hữu ngày tháng cũ mà để bắt tay với kẻ thù hay đi tìm lạc thú, xát muối thêm vào vết thương của người ở lại.

Và chúng ta đang vào một nơi gọi là Thiên Ðàng để được sung sướng một mình. Những người lương thiện khi bỏ bạn bè, dù đang được no ấm, cũng có cảm tưởng mình đang ở địa ngục.

Thiên đàng như vậy phải chăng là nơi chúng ta có bạn bè và không bao giờ bỏ bằng hữu.
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

Câu chuyện đổi đời của một gia đình H.O.
Huy Phương
Cựu Trung Úy Lê Văn Thiệu, tốt nghiệp khóa 1 Ðại Học Chiến Tranh Chính Trị Ðà Lạt bị tập trung trong các trại tù cộng sản 7 năm.

Sau khi đi tù về, ông làm nghề thợ mộc nuôi con, cho mãi đến năm 1995, gia đình mới sang Mỹ theo một chương trình H.O. khá muộn màng: H.31. Sau 5 năm định cư tại Hoa Kỳ, năm 2000 con đầu là Lê Thành học xong bằng Master về ngành điện tử tại đại học UTA (University of Texas at Arlington). Năm 2004 con trai thứ ba, Lê Ðức Hiếu tốt nghiệp Master Computer science. Năm 2005, Lê Huy, con trai thứ nhì lấy bằng tiến sĩ cũng ngành điện tử. Năm 2010 con trai út Lê Ðức Hiển, ra đời năm 1972 sau khi ông Thiệu từ trại tù trở về, cũng đã tốt nghiệp y khoa.

Vào năm 2005, nhân ngày lễ kỷ niệm 15 năm ngày thành lập hội H.O. Dallas-Fort Worth, gia đình ông Lê Văn Thiệu đã được vinh danh là một gia đình đến Mỹ muộn màng nhưng đã sớm thành công trên đất người.

Năm 2006, ba anh em nhà họ Lê thành lập công ty “Luraco technologies, Inc.” sử dụng kỹ thuật cao (high-tech) chuyên về nghiên cứu và chế tạo sản phẩm cho quốc phòng Mỹ. Ba năm trước công ty được cấp kinh phí từ US Army để nghiên cứu và chế tạo ra một bộ cảm ứng thông minh (Intelligent Multi-Sensor) cho hai động cơ trực thăng chiến đấu hàng đầu của Mỹ là Blackhawk và Apache. Ðể làm được điều này, nghiên cứu (research proposal) của công ty Luraco phải xuất sắc và vượt trội hơn nhiều công ty danh tiếng khác. Phát minh bộ cảm ứng thông minh này của công ty Luraco sẽ tiết kiệm hàng tỷ Mỹ kim mỗi năm cho Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ về vấn đề bảo trì và an toàn cho hai loại máy bay trên. Hãng WPI tại Fort Worth, Texas đã mời Tiến Sĩ Lê Huy làm việc với chức vụ là khoa học gia (scientist) để đảm trách việc nghiên cứu về Flexible Active Circuits và Optical Sensors dùng trong hỏa tiễn và phi thuyền không gian.

Hai năm qua công ty Luraco cũng thắng được hai hợp đồng với US Air Force và được cấp kinh phí để chế tạo hệ thống kết nối những sensors FADEC (Full Authority Digital Electronic Control) trong động cơ phản lực F.35 của Không Quân Hoa Kỳ. FADEC là project lớn dưới sự giám sát của cơ quan NASA Hoa Kỳ. Ngoài NASA, công ty Luraco vinh dự được làm việc chung với Boeing và GE là hai công ty chế tạo động cơ phản lực (jet engine) cho phản lực cơ Hoa Kỳ.

Ðây là công ty duy nhất của người Việt Nam nhận được kinh phí trực tiếp từ Bộ Quốc Phòng Mỹ để nghiên cứu và chế tạo những sản phẩm kỹ thuật cao cho quân đội. Người Mỹ khó tin được là các em trong công ty mới mẻ này là con một gia đình tỵ nạn cộng sản chỉ mới đặt chân đến Hoa Kỳ từ năm 1995.

Thực dụng trong ngành thẩm mỹ ở Mỹ, Luraco là công ty đầu tiên sáng chế ra ghế Mini Pedicure Spa cho trẻ em, Jet nam châm (Magna-Jet) cho bồn Spa, máy khử mùi hóa chất (ChemStop) và máy hút bụi nail (Partigon) cũng như ghế Massage iRobotics. Hai năm liền 2010 và 2011 công ty Luraco được vinh dự đón nhận bằng khen là một trong 50 công ty Châu Á phát triển nhanh nhất trên toàn quốc Hoa Kỳ. Năm 2010 công ty Luraco được xếp hạng thứ 69 trong 100 công ty phát triển nhanh vùng Dallas Fort Worth do Khoa Thương Mại trường Ðại Học SMU bình chọn.

Trong bốn anh em nhà họ Lê, Tiến Sĩ Kevin Huy Lê là một thành viên trong Hội Quang Học Quốc Tế (The International Society for Optical Engineering) và là người giám định (Peer Reviewer) cho nhiều công bố về khoa học kỹ thuật cũng như tác giả của hơn 20 “technical publications in journals and conference proceedings.”

Những ngày ở Gio Linh

Nhớ lại những ngày xa xưa, Lê Thành, giám đốc công ty Luraco, ngày nay cũng là một MC và “Mạnh Thường Quân” của cộng đồng tị nạn tại Dallas, Ft. Worth đã nói rằng anh không bao giờ quên những ngày khốn khổ ở vùng quê Gio Linh, một vùng bị chiến tranh tàn phá rất nặng nề, ngổn ngang những đống gạch vụn và những hố bom. Sau tháng 4, 1975, khi thân phụ phải vào trại tù tập trung, mẹ anh phải đưa các con về nương tựa bên ngoại. Khi mẹ anh kiếm được một chân y tá tại trạm y tế Gio Linh, Thành mới lên 5 tuổi, cùng với đứa em kế theo mẹ về trạm xá, còn hai em nhỏ trong đó có một đứa mới sinh phải “rứt ruột” gởi cho ông bà ngoại nuôi. Ba mẹ con ở trong một căn phòng lợp tranh, vách đất, không có điện bên cạnh trạm xá. Sau những giờ đi học, Thành phải đi mót củi, nấu cháo hay khoai và trông chơi với em. Thành rất thương mẹ, nhớ đến những lúc mẹ khóc, nước mắt ướt cả mặt anh, vì cuộc sống quá cơ cực, cô đơn, mà chồng không biết lưu lạc ở trại tù nào. Con đến trường thì bị gọi là “con ngụy,” mẹ nơi chỗ làm thì được xem là “chồng có nợ máu!”

Sau 7 năm, khi cha của ông đi tù về mở một tiệm mộc, mẹ ông bỏ việc trở về sum họp với gia đình tại thôn Gio Mai. Thành lên trung học rồi thi đỗ vào Ðại Học Sư Phạm Huế, những năm cuối cùng trước khi lên đường đi Mỹ, Thành dạy tại trường Cao Ðẳng Sư Phạm Quảng Trị. Nhờ những tín chỉ của ÐH Sư Phạm, chỉ 5 năm sau khi đến định cư tại Dallas- Ft Worth, Lê Thành đã lấy xong Master ngành điện tử, cùng với các em Lê Hiếu, bốn năm sau lấy bằng tiến sĩ cùng ngành để xây dựng lên một công ty có đủ khả năng cạnh tranh với các công ty lớn của Mỹ.

So với những gia đình cựu tù nhân khác, gia đình ông Lê Thiệu đến Mỹ tương đối muộn, vì lúc ra tù, ông tìm về quê cũ, một vùng đất xa xôi, nghèo khổ, xa ánh sáng đô thị, thiếu hẳn tin tức và bạn bè. Nhất là sau khi Thừa Thiên, Quảng Trị sát nhập với Quảng Bình của miền Bắc để thành Bình Trị Thiên, tỉnh này thuộc cơ chế hành chánh của miền Bắc, khắt khe và đầy sự kỳ thị. Mãi đến đầu năm 1990, khi thấy thấy rõ, chắc chắn bạn bè lên đường đi định cư ở Mỹ, ông Lê Thiệu mới dám nộp đơn cho công an địa phương.

Nhờ tinh thần hiếu học và sự cố gắng vươn lên trong hoàn cảnh khắc nghiệt của tuổi ấu thơ, đến Mỹ, anh em nhà họ Lê như giống tốt gặp môi trường đất đai, khí hậu, phân bón tốt đã đâm chồi, nẩy lộc, cho trái tốt. Tuy vậy “nhớ công ơn cha mẹ đã trải qua những nỗi nhọc nhằn, tạ ơn nước Mỹ, đất của cơ hội đã cưu mang cho chúng con một đời sống mới, và cộng đồng người Việt tị nạn luôn luôn gần gũi, thương yêu gia đình chúng con,” đó là những lời giãi bày của những đứa trẻ từ mảnh đất Gio Linh nghèo khó, hôm nay đã thành công trên đất nước Hoa Kỳ.
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »

Giáng Sinh Năm Ấy!

Giuse Thẩm Nguyễn

Sau 30 tháng 4 năm 1975 khi Miền Nam Việt Nam bị rơi vào tay Cộng Sản thì tôi và những anh chị em Sĩ Quan phục vụ trong Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa phải đi tù cải tạo. Tôi bị nhốt ở Hốc Môn, một căn cứ Công Binh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong khu ngoại ô Sài Gòn.

Chúng tôi bị lừa bởi chính sách cà-lăm của chính quyền Cộng Sản Việt Nam khi họ kêu gọi mang thức ăn đủ cho mười, mười, mười…. ngày. Chúng tôi phải ngồi nghe những anh cán bộ chính trị lên lớp mỗi ngày. Những anh cán bộ này có cùng một giọng điệu ngớ ngẩn giống nhau, như những cái loa tuyên truyền. Họ học thuộc lòng như con vẹt: nào là chính sách nhà nước, nào là chủ nghĩa xã hội, nào là Kác-Mác, nào là Lê-nin… Nếu đặt câu hỏi là họ bị bí liền, và khi bí thì họ chụp ngay cho người hỏi một cái mũ phản động. Sau ở lâu, chúng tôi còn khám phá ra một điều là nữa là anh cán bộ nào khi vào lớp cũng có một cái cặp đeo ngang vai, mà trong cặp thì chẳng có gì. Đúng là cái cặp Xã Hội Chủ Nghĩa. Thêm nữa mỗi anh lại phải sắm cho mình một cây viết, gài lên túi áo để chứng tỏ là mình cũng biết chữ.

Từ ngày bị nhốt vào đây, sau bao nhiêu cái “mười ngày” qua đi, tôi không còn hy vọng gì được thả về nữa rồi.Trong cái tâm trạng vô vọng, rối bời như thế thì Giáng Sinh lại về .

Tôi và các bạn tù đã đón mừng Chúa Giáng Sinh dưới gầm những chiếc xe nhà binh cũ ở trại Hốc Môn. Mùa Giáng Sinh năm ấy thời tiết thay đổi bất thường. Sài Gòn trở lên lạnh hơn mọi năm. Lạnh ở ngoài trời và lạnh cả trong lòng. Cái lạnh đêm đông lại buốt gía hơn khi phải xa nhà trong cảnh tù tội, đói rách, nằm ngủ dưới đất không chăn chiếu.

Nỗi nhớ nhà làm cho lòng người chùn xuống. Những người Công Giáo lặng lẽ nhìn lên trời cao, ước ao được đi xưng tội để chuẩn bị tâm hồn đón Chúa, được đến nhà thờ bái lạy Chúa. Những người khác thì gục đầu nhớ về những cuộc vui Giáng Sinh năm xưa. Tất cả những ước mơ, kỷ niệm đó bây giờ đang bị chôn vùi dưới gầm những chiếc xe nhà binh cũ này.

Nghĩ lại và thấy hối hận vô cùng vì bao năm được sống trong tự do tôi đã không chuẩn bị đón Chúa một cách có ý thức và chu đáo. Đã có những năm tôi bỏ xưng tội rước lễ, tôi bỏ lễ Giáng Sinh để dành hết thời gian cho những cuộc vui, những cuộc truy hoan, những đam mê tuổi trẻ. Tôi hối hận vì đã không dùng thời gian và hoàn cảnh Chúa ban cho mình để thờ phụng Chúa. Tôi hối hận vì đã đánh mất bao nhiêu mùa Giáng Sinh, hối hận vì đã đánh mất tuổi trẻ vào những cuộc vui vô bổ.

Mọi người, kẻ ngồi buồn so ôm đầu, kẻ nằm co co run rẩy vì lạnh gía chờ đợi những giây phút linh thiêng của đêm Mừng Chúa Giáng Sinh. Không gian u tịch, tăm tối vì thiếu ánh điện, vì lòng người hoang mang trống vắng. Thế rồi tiếng chuông nhà thờ quanh vùng Sài Gòn vang lên. Ôi! Tiếng chuông thân quen kỳ diệu, tiếng chuông bay vút lên cao, tiếng chuông ngân nga thánh thót. Không gian bao la mà tiếng chuông như bị ngăn cách bởi hàng rào kẽm gai, tiếng chuông đã trở thành nhửng lưỡi gươm đâm thâu những tâm hồn tù nhân giữa đêm khuya. Tiếng chuông làm tắc nghẹn tiếng nấc ai oán của bác tù gìa, với chòm râu rung rung đang ôm cái bánh xe máy cày trong đêm sương rơi lạnh buốt.

Tiếng chuông đã dứt từ lâu mà những người tù vẫn còn thao thức. Một anh bạn tù, là một nhạc sĩ có tài, đã gõ nhẹ vào những cái đinh ốc được treo dưới gầm xe tạo nên âm thanh của bản nhạc Đêm Thánh Vô Cùng. Silent night, Holy Night. All is calm, All is bright…. Âm thanh ấy như xoáy vào tâm hồn chúng tôi, rồi vài người lại sụt sùi, nức nở khóc.

Chính giây phút cô đơn và lạnh lẽo này tôi lại nghĩ đến Chúa. Tôi cảm được cái lạnh của Chúa trong hang Belem vào đêm Giáng Sinh năm xưa. Tôi nghĩ đến cảnh Thánh Giuse và Mẹ Maria bị từ chối, bị hất hủi nơi các quán trọ. Tôi nghĩ đến cuộc hành trình vô định của Gia Đình Thánh vào đêm đông ấy. Tôi nghĩ đến những bước chân lầm lũi trong gió đông giá buốt mà không biết là đi đâu và cuối cùng thì đành tạt vào hang đá lạnh dành cho thú vật ngoài đồng. Ôi! Chúa Hài Đồng đã sinh ra trong thế gian như thế sao? Tôi thấy thương Chúa quá. Chính đêm ấy tôi đã đón Chúa vào lòng tôi và Chúa đã chia xẻ với tôi thân phận của một người tù. Chúa đem cho tôi niềm tin trong lúc tuyệt vọng. Chúa đã đồng hành với mọi người, nhất là những người khốn khổ như chúng tôi.

Chúa đến thế gian để làm người, không phải là người giàu có cao sang, không ở trong cung đình gác ngọc vì thế nếu tôi tìm Chúa ở những nơi đó tôi sẽ không gặp Người. Chúa đến để đem bình an xuống những tâm hồn ngay thẳng đơn sơ, những người nhỏ bé, những em bé ngây thơ, những người cô đơn nghèo khó, những cụ gìa bị con cái hất hủi, những kẻ không nhà, những người bị tù đày và những người tội lỗi đang ăn năn hối cải.

Đêm Giáng Sinh năm 1975 ấy, mặc dù tôi không được đến nhà thờ, không được hát Thánh Ca Giáng Sinh, không được ăn tối chung với gia đình nhưng tôi lại cảm nhận Chúa đã đến với tôi, Chúa đã thực sự an ủi tôi. Tôi đã khóc với Chúa và lúc đó chỉ có một mình Chúa chia sẻ nỗi buồn của tôi mà thôi. Tôi tìm ra một điều là không có gì có thể ngăn cản được Chúa đến với tôi nếu tôi thực sự mở tâm hồn ra và ao ước đón Chúa. Trong đời sống, tôi cần có những giây phút yên tĩnh, giữ cho tâm hồn lắng đọng để cảm nghiệm về sự hiện diện của Chúa.

Từ Giáng Sinh năm ấy tôi bắt đầu nhận ra Chúa trong cuộc sống của tôi. Chúa đã an ủi và cùng đi với tôi trong bao năm dài trong trại tù cải tạo. Tôi đã biết lần hạt Mân Côi, biết đọc Kinh Thánh, biết nhìn lên trời để tôn vinh, cảm tạ những hồng ân Chúa đã và đang ban cho tôi.

Biết bao anh em tù đã tự tử vì thất vọng. Biết bao nhiêu người đã chết dần chết mòn, đã trở nên điên khùng vì mất niềm tin. Đi tù cải tạo, gia đình tan nát và ngày về lại vô định thì tìm cái chết là cách giải quyết mà họ nghĩ là tốt nhất. Nhưng may mắn cho tôi, tôi thì không thất vọng vì niềm tin của tôi là Chúa. Tôi đã có Chúa trong lúc khó khăn ấy và Chúa chính là niềm hy vọng duy nhất của tôi. Chúa đã thực sự nâng đỡ tôi qua bàn tay quyền năng của Ngài.

Chính Chúa đã thêm sức cho tôi để tôi vượt qua những năm tháng tù đày. Chúa lại thương gìn giữ gia đình tôi, vợ tôi và các con của tôi, để khi tôi được ra khỏi tù, Chúa lại cho chúng tôi đoàn tụ trong một đất nước tự do. Chúa ban cho chúng tôi dư đầy. Ôi, Lạy Chúa, con biết lấy gì để cảm tạ Chúa về bao hồng ân Ngài đã ban cho chúng con đây!

Bây giờ mỗi lần lễ Giáng Sinh về tôi lại được dịp nhớ lại đêm Giáng Sinh kỳ diệu ấy. Đêm Giáng Sinh mà tôi thực sự đã có Chúa. Tôi muốn dành cho Chúa một món quà sinh nhật thật tuyệt vời. Quà sinh nhật tôi dâng lên Chúa là một tâm hồn trong sạch, đơn sơ, thánh thiện và một cuộc sống dấn thân làm chứng nhân tình yêu của Chúa nơi anh em mình. Không thể đón Chúa mà lại làm ngơ trước những khổ đau của anh em vì Chúa đang sống và chia se nỗi đau của những người cùng khổ.

Lạy Chúa, con vui mừng và chúc tụng Chúa trong ngày kỷ niệm Giáng Sinh của Chúa. Xin Chúa luôn ở cùng con và hướng dẫn con tiến bước theo lối bước của Ngài .

Chúa ơi, con yêu mến Chúa.

Giuse Thẩm Nguyễn
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Tâm thư của một phế binh
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa


Lời phi lộ:

Một anh bạn tôi ở Chicago đã nhận được một bức thư của một người phế binh QLVNCH bị cụt một chân và hư một mắt tại chiến trường An Lộc năm 1972 gởi từ Việt Nam sang Mỹ cho các cấp chỉ huy ngày xưa của mình. Tôi đã mạn phép nhuận sắc lại bức thư đó cho lời thư gãy gọn và nhẹ nhàng hơn. Kính tặng tất cả Cựu Quân Nhân QLVNCH. Chúng ta nên đọc bức thư nầy để suy gẫm.

North Carolina, USA


Việt Nam ngày... tháng.... năm...

Các Anh kính quý,

Thật tình tôi không biết phải xưng hô với các Anh thế nào cho phải đạo, bởi lẽ dù sao đi nữa, các Anh cũng đã có một thời là thượng cấp, là cấp chỉ huy của chúng tôi. Giờ đây, cho dù thời gian có vô tình lặng lẽ đi qua hơn 33 năm, trong lòng chúng tôi vẫn khắc ghi hằng khối những kỷ niệm của một thời binh lửa, thời mà chúng tôi và các Anh còn xông pha giữa lằn tên mũi đạn, thời mà chúng ta còn được vinh dự cầm súng bảo vệ quê hương.

Những trận chiến càng về cuối của năm 1975 càng khốc liệt, người lính chiến chúng tôi đã không nao núng, không rời hàng ngũ mà càng sát cánh hơn với các Anh, không màng nguy hiểm, không sợ cái chết lúc nào cũng sẵn sàng đến với người lính trong thời lửa đạn. Quả tình lúc ấy trong lòng chúng tôi khâm phục các Anh nhiều lắm, các Anh là những người có học thức, được huấn luyện những kiến thức quân sự để trở thành những sĩ quan chỉ huy chiến trường, chỉ huy chúng tôi. Lòng dũng cảm cùng với kiến thức của các Anh đã phát sinh từ trong thâm tâm của chúng tôi một thứ tình đồng đội tình thầy trò trong thời chinh chiến, mặc dù kỹ luật quân đội đã bắt buộc chúng tôi luôn luôn chỉ biết tuân lệnh của các Anh, nhưng trong lòng chúng tôi không hề than oán mà còn cảm thấy thật vui mỗi khi thực hiện được một việc gì cho đơn vị, hay nói đúng hơn là cho các Anh.

Chúng tôi là những người lính trơn ít học, nên với những suy nghĩ thật đơn giản lúc bấy giờ: Làm vui lòng các Anh chính là chúng tôi đã làm tròn nợ nước, nhiều lúc tuân hành và thực hiện mệnh lệnh xung phong vào mục tiêu, ôm súng băng mình qua tuyến, chúng tôi chỉ với hai điều tâm niệm: Thắng trận nầy thật nhanh và bảo vệ cho bằng được... các Anh.
Chúng tôi ít học chưa có ý niệm về quê hương dân tộc, chúng tôi thật tình lúc bấy giờ cũng chưa hiểu được thế nào là lòng yêu nước. Chính các Anh đã dạy cho chúng tôi những điều trọng đại ấy và với đầu óc của chúng tôi, chúng tôi chỉ hiểu nôm na: Bổn phận chúng tôi là những thanh niên Việt Nam, chúng tôi phải cầm súng bảo vệ Tổ Quốc, chấp nhận tất cả những hy sinh gian khổ cùng những hiểm nguy mà chiến trường đã dành riêng cho người lính. Và... chúng tôi đã cảm thấy vô cùng hãnh diện với việc làm của mình.

Cũng chính vì thế, chúng tôi đã lăn xả vào trận địa để trong mặt trận cuối cùng, chính tôi đã để lại chiến trường một phần thân thể. Không kịp nói lên một lời từ giã các Anh khi trực thăng bốc vội tôi về Quân Y viện. Sáu tháng dài ở bệnh viện đủ cho tôi lấy lại được chút hơi tàn mà đủ sức chống nạng khi di chuyển. Tôi rời khỏi quân đội trong một nỗi buồn không tả được, cuộc chiến đã đến giai đoạn sau cùng và tôi vẫn theo dõi tin tức của Miền Nam, nhất là bước tiến quân của đơn vị cũ của mình.

Ngày Miền Nam hoàn toàn sụp đổ làm tôi chết lặng người, bạn bè đồng đội tôi sẽ ra sao? và nhất là các Anh - những cấp chỉ huy của tôi sẽ ra sao? Mặc dù đã bị cắt phần tiền thương tật, “học tập” ở xã hết 1 tuần, tôi đã phải bán đi cái radio yêu quý đã theo tôi suốt đoạn đường chinh chiến để lấy tiền tìm đến nhà của các Anh mà hỏi thăm tin tức. Chị nhà cho hay Anh đã bị tập trung “cải tạo”. Tôi buồn quá lủi thủi về nhà, lòng vẫn luôn luôn van vái những an lành sẽ đến với các Anh. Bạn bè đồng ngũ về quê tôi khá đông nhưng không có công việc làm nên càng bi thảm hơn. Thằng vá xe đạp ở cuối phố, thằng khuân vác, thằng chạy xe ôm, chúng tôi không từ chối bất cứ một việc làm gì để kiếm được chút đỉnh tiền vừa để tạm sinh sống no đói qua ngày vừa gom góp lại được vài mươi đồng nhờ Chị nhà có đi thăm nuôi thì mua một ít thức ăn và đồ dùng cần thiết gởi đến Anh.

Chúng tôi dù trong nhọc nhằn vẫn thường hay nhắc đến các Anh, ở trong tù dù buồn nhưng nhận được quà của chúng tôi chắc các Anh cũng vui được phần nào vì nghĩ rằng mấy thằng em vẫn còn nhớ đến ông thầy xưa.Đó ! Chúng tôi chắt chiu những tình cảm trân quý, thủy chung gởi đến các Anh, mong mỏi các Anh một ngày nào đó được tự do mà tính chuyện quang phục lại quê hương mình. Thằng thượng úy trưởng Công an phường lợi dụng việc cấp giấy phép đi thăm nuôi đã hãm hiếp bà Trung Úy Phúc, sự nhục nhã nầy đã khiến Bà Trung Úy Phúc phải treo cổ tự tử. Tôi nghỉ từ trong tù các Anh buồn và hận lắm.

Ngày Anh được ra tù chắc Anh còn nhớ chứ? Chúng tôi đã đón mừng các Anh như đơn vị của mình được tái lập, bao nhiêu vui mừng không kể xiết, mừng đến rơi lệ, mừng vui khi nỗi mong mỏi rửa nhục của chúng ta đã được gần kề.Rồi các Anh được sang Hoa Kỳ, niềm vui thật sự càng nhân lên gấp bội, ngày chia tay rượu hồng đã pha nước mắt, tiễn các Anh đi mà lòng thầm mong đợi một ngày về trong danh dự của các Anh.Chúng tôi - những người lính QLVNCH vẫn ấp ủ một niềm tin tưởng vào các Anh như ngày xưa. Sự ra đi của các Anh là điều kiện thuận lợi cho công cuộc đấu tranh với bọn Cộng sản vô thần đang thống trị quê hương.

Các Anh a. ! Bây giờ thì buồn quá ! Các Anh - những sĩ quan hào hùng của QLVNCH ngày nào, những người Anh của chúng tôi, những Đại bàng, những Bắc Đẩu, Hắc Báo của một thời oanh liệt, một thời tung hoành ngang dọc khắp các chiến trường, các Anh đã có một thời vinh quang và một thời nhục nhã, giờ đây sau hơn 33 năm lặng lẽ, các Anh cũng bị nhòa đi hình ảnh của ngày xưa? Các Anh đã quên rồi sao? Quên rồi những chiến sĩ thuộc cấp của các Anh đã nằm xuống vĩnh viễn trên đất Mẹ thiêng liêng, quên đi những đồng đội còn sống sót trong một tấm thân tật nguyền đau khổ, sống lây lất ở đầu đường xó chợ.

Xin cảm ơn các Anh về những đồng Dollars mà các Anh đã gởi về cho chúng tôi trong chương trình giúp đỡ thương phế binh QLVNCH. Những đồng tiền đó dù có giúp cho chúng tôi trong một thời gian ngắn, dù có an ủi cho những đớn đau vật chất được đôi phần nhưng cũng không làm sao giúp chúng tôi quên đi nỗi nhục mất nước. Chúng tôi cần ở các Anh những chuyện khác, các Anh có thấu hiểu cho chúng tôi hay không?Tôi đã hiểu vì sao thằng khuân vác ở xóm trên, thằng vá xe đạp ở đầu đường, thằng chống nạng đi bán vé số ở cạnh nhà lại ghét cay ghét đắng đám Việt Kiều.

Họ là những người lính năm xưa, họ đã từng tuân hành lệnh của Đại bàng, Thần Hổ xông pha nơi trận mạc, họ đã từng chắt chiu từng đồng bạc nghĩa tình chung thủy gởi vào tận chốn tù đày cho các Anh, họ đã từng uống với các Anh chung rượu ân tình ngày đưa tiễn các Anh lên Phi cơ về vùng đất mới, họ đã từng nuôi nấng một hoài vọng, một kỳ vọng trong ngày về vinh quang của QLVNCH.

Nhưng chính các Anh đã làm họ oán ghét, oán ghét đến độ khinh bỉ khi các Anh áo gấm về làng, chễm chệ ngồi dựa ngữa ở nhà hàng khách sạn 5 sao, tung tiền ra để chứng tỏ mình là một "Việt Kiều yêu nước” là "Khúc ruột xa ngàn dặm" về thăm "quê hương là chùm khế ngọt". Thậm chí có những Anh còn đú đởn với những đóa hoa biết nói biết cười tuổi đáng con hoặc đáng cháu nội cháu ngoại mình.Các Anh có biết không? Từ trong sâu thẳm của cuộc đời, những người lính của QLVNCH đang lê lết ở ngoài cửa các nhà hàng mà các Anh đang ăn uống vui chơi, đang nhìn các Anh với một ánh mắt hận thù. Hận thù lớn nhất của người lính là sự bội bạc, là sự phản bội. Không biết khi tôi kết tội các Anh là phản bội có quá đáng hay không, nhưng các Anh tự suy nghĩ một chút sẽ hiểu rõ hơn chúng tôi. Tôi không tin là tất cả các Anh đã biến thái thành những tên Việt gian, nhưng sự trở về như các Anh trong hiện tại là đồng nghĩa với sự phản bội. Các Anh đã phản bội lại Tổ quốc và rõ ràng nhất các Anh đã phản bội lại chúng tôi. Các Anh chống Cộng mà cứ về Việt Nam hà rằm thì còn chống Cộng gì nữa? Ôi ! không lẽ nỗi nhục nầy đời ta không rửa được?

Các Anh kính quý,Chúng tôi là những người lính năm xưa của các Anh đây. Toàn thể quân nhân và đồng bào đang tin tưởng vào các Anh. Tin tưởng một ngày về rửa nhục, để Mẹ Việt Nam không còn cất lên tiếng than ai oán, để chúng ta cùng nhau trở lại kiếp làm người, chấm dứt đêm trường u tối đã phủ trùm lên Tổ quốc hơn 33 năm dài. Người lính chỉ biết tuân hành mệnh lệnh của cấp chỉ huy, nhưng qua bức thư góp ý nầy, mong các Anh thứ lỗi cho những suy nghĩ của chúng tôi.Các Anh, cho dù đã chậm, nhưng chúng tôi vẫn mong mỏi các Anh ở một ngày về.

Trân trọng,

Nhân Trần
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Image

TIỂU ĐOÀN 42 BIỆT ĐỘNG QUÂN - CỌP BA ĐẦU RẰN (KBC 4533)

Viết cho những Biệt Động Quân trên khắp bốn vùng chiến thuật,
Để tưởng nhớ hương hồn Cố Thiếu Tá Quách Hồng Quang
Tiểu Đoàn Trưởng cuối cùng của Cọp Ba Đầu Rằn.
Tác giả: NGUYỄN KHẮP NƠI
Được tuyển chọn kỹ lưỡng, được huấn luyện đầy đủ, với kỹ thuật chợt ẩn chợt hiện, đánh nhanh đánh gọn, binh chủng Biệt Động Quân, từ khi mới được thành lập vào ngày 1 tháng Bẩy 1960, đã lập được rất nhiều chiến tích, làm kinh sợ kẻ thù và là niềm hãnh diện của những người trai thời chiến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Trong những Tiểu Đoàn nổi tiếng của các Tiểu Đoàn nổi tiếng nhất của Biệt Động Quân, chúng ta phải nói tới:

Tiểu Đoàn 42 “Cọp Ba Đầu Rằn” với vị Tiểu Đoàn Trưởng lừng danh: Thiếu Tá Lưu Trọng Kiệt.
Tiểu Đoàn 44 “Cọp Đen” với Thiếu Tá Nguyễn Văn Dần và huyền thoại “Nữ Hổ Tướng Hồ Thị Quế”.
Tiểu Đoàn 52 “Sấm Sét Miền Đông” do Thiếu Tá Nguyễn Hiệp làm Tiểu Đoàn Trưởng.

Với tinh thần dũng mãnh, cộng thêm với bộ quân phục mầu áo hoa rừng, chiếc nón sắt sơn rằn ri với đầu con ben đen thui, cặp mắt đỏ rực sáng quắc trên nền ngôi sao trắng toát, đã làm cho người chiến binh Biệt Động có một dáng vẻ oai hùng, đáng nể và đáng sợ (đối với Việt Cộng mà thôi) Cũng từ những oai hùng đó, danh xưng “Cọp Ba Đầu Rằn” đã trở thành một cái gì đó huyền thoại!

Bất cứ ai, dù lính hay dân sự, cũng ít ra có một lần nhắc tới hoặc được nghe kể về “Cọp Ba Đầu Rằn”. Thậm chí, mỗi khi nói tới Biệt Động Quân, đã có nhiều người tưởng rằng, danh xưng “Cọp Ba Đầu Rằn” là dùng chung cho tất cả những chàng trai Biệt Động.
Được gọi là cọp, đã cảm thấy mình mạnh bạo, oai hùng rồi,
Lại được gọi là cọp . . . ba đầu, rằn ri nữa!
Nghe càng thấy hùng tráng, độc đáo, phải không các bạn?
Thế nhưng, khi được hỏi:
“Cọp Ba Đầu Rằn” là cái gì?
Ai đặt ra cái danh xưng này? Đặt ra hồi nào? Ở đâu?

Nhiều Biệt Động Quân (trong đó có tôi) đã không có câu trả lời thỏa đáng.
Mãi cho tới gần đây, khi đọc bài viết của huynh trưởng Hồ Viết Lượng, tôi mới được mở mang trí tuệ. Xin được viết lại ra đây để quý độc giả cùng thưởng lãm:
“Cọp Ba Đầu Rằn” hay là “Cọp Ba Chân Đầu Rằn” cũng giống nhau, cũng là danh xưng của Tiểu Đoàn 42 Biệt Động Quân.

Như chúng ta đã biết, binh chủng BĐQ được thành lập năm 1960 theo nhu cầu chiến trường lúc bấy giờ. Việt Cộng trong khoảng thời gian này, đã dùng những tên nằm vùng tổ chức những đám du kích để khuấy phá các vùng nông thôn hẻo lánh trên khắp lãnh thổ VNCH. Theo chính sách “Dĩ độc trị độc”, Tổng Thống Ngô Đình Diệm, dựa theo lời khuyến cáo của các Tướng Lãnh và những chuyên gia quân sự, đã quyết định thành lập những đơn vị “Phản Du Kích” được gọi là “Biệt Động Quân”.

Hầu hết các vị chỉ huy, các binh sĩ của Biệt Động Quân, đều là những chiến sĩ xuất sắc, được tuyển chọn từ những đơn vị thiện chiến. Sau một khóa huấn luyện đặc biệt về du kích chiến ở các Trung Tâm huấn luyện BĐQ, đã được đưa ra phục vụ tại 50 đại đội BĐQ biệt lập ở khắp bốn vùng chiến thuật.
Trong khoảng thời gian từ 1960 đến 1964, các ĐĐ biệt lập này đã hoạt động thật là hữu hiệu. Họ đã áp dụng chiến thuật phản du kích, để tiêu diệt phần lớn lực lượng du kích của địch, làm cho chúng không còn hoạt động được nữa.

Để chống lại chiến thuật “Biệt Động” thần diệu này, vào khoảng đầu năm 1965, VC đành phải sát nhập các đơn vị du kích còn lại vào lực lượng địa phương của chúng, tạo thành những đại đội, Tiểu Đoàn và trung đoàn, để mong dùng số đông dành lại phần nào những mất mát trước đây.

Biết được âm mưu này của bọn VC, Bộ Tổng Tham Mưu của QLVNCH cũng đã nghiên cứu và quyết định gom những đại đội BĐQ biệt lập lại để tổ chức thành các Tiểu Đoàn, Liên Đoàn BĐQ, để đáp ứng lại với nhu cầu gia tăng của chiến trường.

Vào khoảng tháng 2 năm 1966, bốn đại đội BĐQ biệt lập sau đây đã được gom lại để thành lập Tiểu Đoàn 42 Biệt Động Quân (KBC 4533):

* ĐĐ362/BL, được đổi tên thành Đại Đội 1/42, do Thiếu Úy Vương Văn Trổ (K.10 TĐ) làm Đại Đội Trưởng.

* ĐĐ 315/BL, được đổi tên là Đại Đội 2/42, do Thiếu Úy Nguyễn Tấn Giai (K.2 NT) làm Đại Đội Trưởng.

* ĐĐ 368/BL, được đổi tên là Đại Đội 3/42, do Thiếu Úy Hồ Viết Lượng (K.10 TĐ) làm Đại Đội Trưởng.

* ĐĐ 370/BL được đổi tên là Đại Đội 4/42, do Thiếu Úy Nguyễn Văn Út (K.18 VBĐL), sau là Thiếu Úy Nguyễn Văn Huy (K.16 VBĐL) làm Đại Đội Trưởng.

Khi đã thành lập xong, bắt đầu đi hành quân chung, thì Đại Úy Nguyễn Văn Biết (Biết “ống vố”) được chỉ định làm Tiểu Đoàn Trưởng.

Trên giấy tờ, thì TĐ 42 có 4 đại đội, nhưng trên thực tế, Tiểu Đoàn chỉ gom lại được có 3 đại đội mà thôi, còn đại đội 370 BĐQ Biệt lập (tức đại đội 4/42) vẫn còn . . . biệt lập.

Đ4/42 do Thiếu Úy Nguyễn Văn Huy (Huy lé) vẫn còn đang hành quân bảo vệ an ninh và là chủ lực của quận Thới Bình, thuộc tỉnh Cà Mau. Đại đội đang đóng đồn và khai quang, công tác còn dở dang nên chưa có thể về hành quân cùng TĐ được.

Trang bị ban đầu của các TĐ/BĐQ cũng như các TĐ/BB khác, chỉ có thêm một loại súng Shotgun, bắn đạn chài. Còn Quân phục thì BĐQ cũng vẫn mặc quân phục Bộ Binh màu xanh olive , chỉ khác bên vai trái có mang phù hiệu cọp đen và đội Mũ Nâu mà thôi.

Tiểu Đoàn 42/BĐQ trong thời gian đầu, được tăng phái cho Sư Đoàn 21 Bộ Binh, đã tham dự hầu hết các cuộc hành quân Dân Chí của Sư đoàn này tổ chức, tại các đia danh thuộc Khu 42/CT như sau:
· Kinh Thác Lác, Phụng Hiệp, Búng Tàu v…v… (thuộc tỉnh Cần Thơ).
· Đầm Dơi, Thới Bình, Khai Quang, Biện Nhị. Năm Căn, Bờ Đập v…v… (thuộc tỉnh Cà Mau).
· Rạch Sỏi, Đầm Răng, Đầm Rầy, Cán Gáo v…v… (thuộc tỉnh Rạch Giá).
· Hỏa Lựu, Hưng Long, Long Mỹ, Ngọc Hòa v…v… (thuộc tỉnh Chương Thiện).

Qua các cuộc hành quân này, TĐ 42/BĐQ đã chạm địch liên miên, giáng cho chúng những đòn chí tử, gây tổn thất nặng nề cho các đơn vị địa phương cũng như chủ lực của VC. Bọn nón cối bị đòn đau, sợ quá, bèn tìm hiểu điều tra cặn kẽ, xem ai đã đánh chúng những đòn tơi bời hoa lá như vậy? Sau khi biết rõ kẻ địch là Tiểu Đoàn 42 Biệt Động Quân, với quân số chỉ có 3 đại đội, mang huy hiệu “Cọp Đen” trên vai áo, bọn VC đã kính nể, đã kinh sợ mà đặt tên cho Tiểu Đoàn 42 là:“Cọp Ba Đầu”

Sau một thời gian hành quân lùng và diệt địch, Tiểu Đoàn 42 BĐQ được nghỉ dưỡng quân. Vì mới thành lập, chưa có hậu cứ, nên TĐ phải dưỡng quân bằng cách . . . đóng quân dọc theo quốc lộ, tỉnh lộ, hoặc trong nhà của dân.

Trong thời gian đơn vị dưỡng quân tại xã Hoà Bình thuộc tỉnh Bạc Liêu. Một buổi sáng, Đại Úy Nguyễn Văn Biết, Tiểu Đoàn trưởng, đi ngang qua vị trí đóng quân của ĐĐ2/42, do Thiếu Úy Nguyễn Tấn Giai làm ĐĐT, ông thấy một số binh sĩ của đại đội này đang tụ họp để trang trí những cái nón sắt của họ bằng cách vẽ hình đầu cọp đen của binh chủng ở đằng trước và sơn rằn ri trên phần còn lại nón sắt bằng các màu đỏ, trắng, vàng, xanh v…v… trông rất “ngầu”.
Đại Úy Biết thấy cũng . . . hay hay, nên đã ra lệnh cho tất cả Tiểu Đoàn đều sơn và vẽ trên nón sắt giống như ĐĐ2 vậy.

Kể từ đó, mỗi khi Tiểu Đoàn đi hành quân, nhất là về ban đêm, cái nón sắt mầu trắng, đen, nâu, đỏ của Tiểu Đoàn 42 BĐQ hiện ra chập chờn như những bóng ma về đòi mạng bọn Việt Cộng, làm cho bọn chúng nổi da gà ớn lạnh sương sống, mất hết cả tinh thần chiến đấu. Vì thế, các đơn vị địa phương và chủ lực như Trung Đoàn 18B của bọn VC đã bị những thiệt hại nặng nề khi giao tranh với những “Thần Chết” ở Tiểu Đoàn 42 Biệt Động Quân, trong những vùng chiến trận chung quanh Cần Thơ, Sóc Trăng . . v. . . v.

Rồi tới các cuộc hành quân Dân Chí, Tiểu Đoàn 42 BĐQ ít khi đụng độ với các đơn vị của VC, mặc dù tin tình báo đã xác nhận sự có mặt của bọn chúng. Sau này chúng tôi mới vỡ lẽ, khi dân chúng trong vùng hành quân cho biết, bọn cán bộ VC cao cấp đã chỉ thị cho các cấp chỉ huy địa phương : “Khi gặp Tiểu Đoàn “Cọp ba chân đầu rằn” hoặc “Cọp Ba Đầu Rằn”, là phải né, vì kỹ thuật tác chiến của Tiểu Đoàn này rất giỏi, tinh thần binh sĩ rất cao, gan dạ, không sợ chết. Chỉ khi nào không tránh né được mới phải đương đầu mà thôi! Nhưng dù có đương đầu, cũng tìm cách rút dù để bảo toàn đơn vị”.
Kể từ đó Tiểu Đoàn 42/BĐQ mới có danh hiệu là “Cọp Ba Đầu Rằn” hay “Cọp ba chân đầu rằn”.

Tóm lại, Tiểu Đoàn 42 Biệt Động Quân, khi đi hành quân, chỉ có 3 đại đội và lính đội nón sắt có vẽ đầu cọp và rằn ri chung quanh. Tuy chỉ có 3 đại đội, nhưng Tiểu Đoàn đã giáng cho chúng những đòn chí tử, nên đám VC sợ quá, mới đặt tên cho Tiểu Đoàn này là: “CỌP BA ĐẦU RẰN”
Tiểu Đoàn 42 Biệt Động Quân . . . thành danh là từ sự sợ hãi của bọn VC như vậy đó!

Cũng vì sự sợ hãi của bọn Việt cộng, trong suốt khoảng thời gian từ 1966 đến 1967, Tiểu Đoàn đi hành quân rất ít khi đụng địch. Đi hành quân cùng nhau, trong khi các đơn bạn đụng địch đánh nhau bể đầu sứt trán, thì Tiểu Đoàn 42 từ sáng đến chiều phè cánh nhạn, tìm mãi cũng chẳng có con nhạn Việt Cộng lạc đàn nào mà đánh đấm. Binh lính 42 chỉ mong các lực lượng bạn gọi mình tiếp ứng, để nhẩy vào đánh “ăn ké”.
Mỗi khi trực thăng chở quân tới chiến trường, đổ xuống toàn là “Cọp ba đầu rằn”, bọn VC hoảng sợ, đâu còn tâm trí đâu mà đánh, chúng tốc hầm cá nhân bỏ chạy tứ tán, trở thành mục tiêu ngon lành cho các phi công trực thăng võ trang, tha hồ mà nhả đạn mà không cần nhắm.

Đầu năm 1967, Tiểu Đoàn 42/BĐQ được lệnh của vị Tư lệnh QĐ IV, QK4, lúc đó là Chuẩn Tướng Đặng Văn Quang:
“ Tiểu Đoàn 42 Biệt Động Quân phải sơn lại nón sắt bình thường như các đơn vị Bộ Binh khác”.
Thời gian này TĐ đã có đủ 4 Đại đội, ĐĐT Đại đội 4 bây giờ là Đại Úy Nguyễn Văn Út (Đại Úy Út đã hy sinh khi lên làm Tiểu Đoàn trưởng TĐ/41/BĐQ)

Khi TĐ42/BĐQ được lệnh tham dự Chiến dịch Dân Chí 42/SĐ21/BB, trong nhiệm vụ hành quân càn quét, tiêu diệt địch như các đơn vị bộ binh khác, Tiểu Đoàn đã đụng độ với Tiểu Đoàn chủ lực cơ động Tây Đô của VC trên bờ kinh Thác Lác, thuộc tỉnh Cần Thơ. Trong trận đụng độ này, TĐ 42 BĐQ đã tiêu diệt gần 2/3 quân số địch và bắt sống một số tù binh của đơn vị này.
Khi thẩm vấn, các tù binh cho biết: Cấp chỉ huy của họ, sau khi nhìn qua ống nhòm, thấy đơn vị trước mặt là bộ binh, nên đã ra lệnh cho bộ đội chuẩn bị giao chiến, không ngờ khi chạm trán mới biết là đã đụng với TĐ 42/BĐQ, vì thấy bên vai trái có dấu hiệu “Cọp Đen”.

Tiểu Đoàn 42/BĐQ là đơn vị đầu tiên của QLVNCH được huy chương của Tổng Thống Hoa Kỳ “President Unit Citation” và được nhận tới hai lần lận.
Tiểu Đoàn có giây biểu chương màu tam hợp (Bảo Quốc).
Trên cờ Tiểu Đoàn, có 6 lần được tuyên dương công trạng trước Quân Đội.

Những Sĩ Quan sau đây đã giữ chức vụ Tiểu Đoàn trưởng của Tiểu Đoàn 42 Biệt Động Quân “Cọp Ba Đầu Rằn”:
Đại Úy Nguyễn Văn Biết.
Đại Úy Nguyễn Tấn Giai.
Đại Úy Lưu Trọng Kiệt (hy sinh trước Mậu Thân).
Đại Úy Chung Thanh Tòng (thời gian Mậu Thân)

Đại Úy Lê Thành Long.
Vị Tiểu Đoàn Trưởng cuối cùng của Tiểu Đoàn 42 Biệt Động Quân, là:
Cố Thiếu Tá Quách Hồng Quang.

Theo lời kể của Huynh Trưởng Quách Thanh Thủy, anh của TT Quang, tôi xin ghi lại cái chết đau thương của Thiếu Tá Quang như sau:
“Những ngày cuối tháng tư đen năm 75, cũng như nhiều gia đình khác ở miền Nam Việt Nam có người thân làm việc trong chánh quyền Việt Nam Cộng Hòa, nhứt là các quân nhân ở những đơn vị tác chiến, gia đình tôi luôn ngồi đứng không yên. Những tin tức đau thương cứ dồn dập đưa về từ các vùng chiến càng lúc càng bi thảm hơn mà người thân của mình ở trong đó thì vẫn biền biệt, không có cách nào để liên lạc thăm hỏi.
Bốn đứa em tôi, mỗi đứa ở một nơi, một ở ngành Trung Ương Tình Báo không thấy về, một ở Sư đoàn 5 Bộ Binh, một ở Tiểu Đoàn 32 Biệt Động Quận và một ở Tiểu Đoàn 42 Biệt Động Quân.
Tiểu Đoàn 42/BĐQ trong cuộc triệt thoái Tây Nguyên của Tướng Phú, một tuần lễ sau trực thăng mới tìm được Bộ Chỉ Huy còn đang lội bộ trong vùng rừng núi Phú Yên, tất cả đều mang thương tích đầy mình. Tiểu Đoàn được đưa về căn cứ Long Bình ở Biên Hòa để tái trang bị và tiếp tục chiến đấu (hậu cứ của Tiểu Đoàn vẫn còn đóng ở cầu Rạch Ngỗng, Cần Thơ).

Chiều ngày 30/4/75, hai đứa em tôi, một ở TƯTB và một ở TĐ.32/BĐQ về tới nhà, trưa ngày 01/5/75 thì đứa ở SĐ.5/BB cũng về tới nhà, gia đình chỉ còn lo cho Quách Hồng Quang và trông đứng, trông ngồi. Má tôi không ngớt cầu nguyện Trời Phật thì xế chiều hôm đó Quang về tới nhà, trong mình vẫn cò mặc chiếc áo thun xanh, quần treillis rằn và đôi giày trận. Gia đình tôi hết sức vui mừng, mấy anh em chúng tôi được an toàn sau một cuộc chiến vô cùng bi thương và tàn khốc.
Gia đình chúng tôi xúm xít, hỏi tin nhau trong nổi vừa vui mừng vừa lo âu cho những ngày sắp tới. Mặc dầu có lịnh đầu hàng của Tổng Thống, nhưng Tiểu Đoàn 42 BĐQ vẫn tiếp tục chiến đấu như nhiều đơn vị bạn khác. Cho đến trưa ngày 01 tháng 5/75, khi không còn đạn dược và áp lực địch càng lúc càng nặng nề, thấy không còn cách nào duy trì được nữa, để bảo tồn sinh mạng anh em, Cọp Rằn đành phải tản hàng thoát hiễm.

Sau khi binh sĩ tản hàng, Quang và một số sĩ quan còn lại rời khỏi vị trí trên một chiếc xe Jeep chạy thẳng về Saigon trên xa lộ Biên Hòa. Trên lộ trình nầy, nhiều đơn vị Nhảy Dù vẫn còn đang chiến đấu với Cộng Quân. Xe Jeep vượt qua nhiều bức tường lửa, đến ngã ba Hàng Xanh thì đột nhiên có hai chiếc xe thiết giáp của Cộng Quân xuất hiện đuổi theo. Chạy tới cầu Phan Thanh Giản thì xe Jeep bị trúng đạn và bốc cháy, mọi người rời xe, cởi áo, thoát vào xóm.

Tiểu Đoàn 42/BĐQ Cọp Ba Đầu Rằn kể từ đây hoàn toàn bị xóa tên theo những đau thương của vận nước !
Luồn lõi đi bộ ra tới Saigon, ngang qua công viên có tượng đài Thủy Quân Lục Chiến, Quang kín đáo nghiêng mình chào kính Trung Tá Long, mặc sắc phục cảnh sát đả tự sát nằm chết trên thảm cỏ xanh, dưới chân tượng đài, trước Quốc Hội VNCH.
Trong lòng tràn ngập những nỗi niềm phẫn uất, không vội về nhà, Quang đón xe Honda ôm trước chợ Saigon chạy về trường đua Phú Thọ, nơi đặt Bản Doanh Hành Quân của Binh Chủng BĐQ, đến đây hy vọng sẽ gặp lại anh em và tiếp tục chiến đấu. Nhưng niềm hy vọng cuối cùng nầy bị gãy đổ : Phú Thọ lặng lẽ tiêu điều, nhìn vào bên trong thấy vắng hoe, không một bóng người, bên ngoài thì nhiều xác chết lính BĐQ nằm vương vãi trong bầu không khí đầy uất hận và tanh tưởi mùi máu của một cuộc chiến vừa tàn.

Quang trở ra bến xe đò chợ Bình Tây (Chợ Lớn Mới), với ý định tìm phương tiện về Miền Tây với Quân Khu IV, nhưng vô phương, vì mọi trục lộ lưu thông đều bị cô lập, Quang đành về nhà để chờ tin !
Chiều hôm đó thì bọn Cộng Sản nằm vùng ở lối xóm tìm đến ‘’thăm hỏi’’. Thiếu Tá Quách Hồng Quang, Con Chim Đầu Đàn của Tiểu Đoàn Cọp Rằn Miền Tây đành chịu bó tay thất thủ, đành mang ‘’Một Nổi Căm Hờn Trong Củi Sắt’’ dưới sự giám sát sắt máu của bọn người ô hợp, chân mang dép râu, đầu đội nón tai bèo và họng súng lúc nào cũng lăm le nhả đạn, cho đến ngày bị tập trung vào trường Quốc Gia Sư Phạm để vĩnh viễn ra đi vào chôn lao tù khổ sai được mệnh danh với mỹ từ ‘’Trại Học Tập Cải Tạo’’ !!!
Sau mấy tháng bặt tin thì có lịnh cho gia đình có thân nhân bị đi học tập cải tạo, được phép gởi thức ăn, quần áo và thuốc men vào bồi dưỡng. Quà được gởi đi vài lần, nhưng hồi âm thì không bao giờ nhận được !

Một đêm nọ, vào khoảng 3 giờ sáng thì có tiếng đập cửa của công an đòi xét nhà. Mở cửa ra thì thấy một bọn trên mười người, ăn mặc ô hợp, mang dép râu, đội nón cối, lăm le tay súng. Họ xông vào nhà, kêu mọi người trong nhà thức dậy, và lục soát kỹ lưỡng khắp mọi nơi. Sau một hồi lục soát, không tìm được gì khả nghi, một tên trong bọn lung mang súng K.54, lớn giọng trịch thượng hỏi:
“Tên nguỵ Quách Hồng Quang đâu ?”
Cả nhà tôi chưng hủng và nói:
“Quách Hồng Quang đã tuân lịnh nhà nước đi trình diện học tập cải tạo rồi, mấy ông hỏi như vậy là sao?”
Hắn nói:
“Tên ngụy Quách Hồng Quang đã trốn trại, bộ đội và nhân dân đang truy nã, nếu gia đình mà cố tình giấu giếm thì sẽ chịu trách nhiệm trước nhân dân. Nay tôi nói cho mà biết, phải thật tình khai báo với công an là hiện giờ nó trốn ở đâu thì sẽ được khoan hồng, bằng không thì chớ trách”.
Sau một hồi giảng thuyết chánh trị và đọc những qui định sắt máu nặng nề, những hăm dọa cố hữu, cả bọn rút lui. Hai hôm sau, bọn chúng còn trở lại hỏi gạn hạch phường khóm cùng một số người xung quanh là:
“Có thấy Quách Hồng Quang trốn trại trở về hay không?”

Gia đình chúng tôi lúc đó rất lo âu lẫn vui mừng, vì quả thật có nghe tin hiện có nhiều tổ chức Phục Quốc ở nhiều nơi và cũng có nghe tin nhiều sĩ quan trốn trại theo các tổ chức nầy. Nếu Quang thoát được thì là điều đại phúc vì sẽ thoát được những trả thù tàn bạo trong ngục tù Cộng Sản và anh em Phục Quốc có thêm được một chiến hữu giàu kinh nghiệm chiến trường, ngược lại, không biết rồi đây, bọn chúng sẽ có thái độ gì đối với gia đình chúng tôi trong những ngày sắp tới.
Sự chờ đợi của gia đình chúng tôi đã không lâu, vài tuần lễ sau đó, chúng tôi nhận được giấy báo qua đường bưu điện, yêu cầu chúng tôi đừng gởi quà cho Quách Hồng Quang nữa, vì:
“Quách Hồng Quang đã chết trong trại cải tạo rồi!”

Cầm tờ giấy báo nầy, gia đình chúng tôi đau buồn khôn xiết, xin được hướng dẫn đến viếng mộ. Sau nhiều lần tới lui, khiếu nại khó khăn, cuối cùng, chúng bằng lòng cho gia đình chúng tôi đi viếng mộ.
Thì ra, trại học tập cải tạo nầy là căn cứ trước đây của Liên Đoàn 5 Công Binh Kiến Tạo VNCH, gọi là Thành Ông Năm, ở Hốc Môn. Mộ phần ở ngoài đồng, do anh em tù đắp bằng đất và có gắn một tấm bia bằng nhôm, loại dùng lót phi trường trực thăng trước kia. Anh em dùng đinh đục thành chữ:
“Mộ Phần Thiếu Tá Quách Hồng Quang, chết ngày 28 12 1975 – 26/10 Âm Lịch”.
Bên cạnh đó còn có hai ngô mộ nữa của một ông Trung Tá Pháo Binh và một ông Trung Úy, chết cùng ngày.
Anh em cho biết, ba người cùng vượt ngục vào giữa đêm, nhưng rủi bị phát giác.
Ông Trung Tá bị bắn chết khi chui ra được bên ngoài.
Ông Trung Úy bị bắn chết ở phía sau.
Quách Hồng Quang bị bắn tại vòng rào kẽm gai cuối cùng, nhưng chưa chết, còn nằm tại chổ. Sáng sớm hôm sau, Quang bị bọn VC kéo ra sân cờ xử bắn trước mặt anh em tù đồng đội.

Sau nầy, một vài anh em ra khỏi tù, có chứng kiến buổi xử bắn ngày hôm đó thuật lại rằng:
“Cuộc vượt ngục của ba người có sự nghiên cứu kỹ lưỡng, nhưng vào giờ chót đã không thành công. Khi bị kéo vào sân cờ trước sự chứng kiến của anh em thì Quách Hồng Quang tuy bị mất máu quá nhiều nhưng vẫn còn sống.
Tên bộ đội thét bảo quỳ gối để nghe đọc lệnh xử, Quang dõng dạc trả lời:
“Tôi là sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, dù sa cơ nhưng không bao giờ quỳ trước kẻ thù. Bắn đi !”
Một loạt đạn AK chát chúa, kết liễu ngay tức khắc cuộc đời oanh liệt của một mãnh hổ Miền Tây!”
Quách Hồng Quang xuất thân khóa 14 trường Bộ Binh Thủ Đức. Đơn vị đầu tiên là Tiểu Đoàn 23 Biệt Động Quân ở Vùng II, với cấp bậc Chuẩn Úy, tham dự chiến dịch Đỗ Xá năm 1963 ngay khi trình diện đơn vị.
Sau Tết Mậu Thân, Quang được thuyên chuyển về Liên Đoàn 3/BĐQ ở Biên Hòa với cấp bậc Đại Úy. Khoảng một năm sau, thuyên chuyển về Liên Đoàn 4/BĐQ ở Miền Tây, khi ở TĐ41, có lúc ở TĐ43 và sau cùng lên Thiếu Tá, làm TĐT/TĐ42 cho đến ngày mất nước.
Cái chết oanh liệt trong hỏa ngục Cộng Sản của Quách Hồng Quang là một bi hùng ca, tuy ngắn gọn nhưng đủ biểu lộ một khí phách hiên ngang của người chiến sĩ VNCH, lưu lại bao nhiêu tiếc thương cho gia đình, cho bằng hữu. Thể phách tuy không còn, nhưng tinh anh chắc chắn vẫn còn bàng bạc với hồn thiêng, sông núi.

Cho đến nay, gia đình chúng tôi vẫn chưa tìm hiểu được hết các tài liệu về cuộc đời của Quách Hồng Quang trong quảng đời từ khi bước chân vào ngục tù Cộng Sản năm 75. nhưng chắc chắn rằng, cái chết của Quách Hồng Quang đã nói lên được tinh thần bất khuất của người chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa, không hổ danh Cọp Rằn Miền Tây, dù bị sa cơ trong hỏa ngục của tập đoàn Cộng Sản Việt Nam, một tập đoàn hung hản và tàn bạo, vô nhân vào bậc nhất trên thế giới.

Bài viết nầy, chúng tôi kính tặng Gia Đình Mũ Nâu ở khắp nơi trên thế giới để ghi lại một kỹ niệm bi hùng, một hào khí ngất trời của những người chiến sĩ mang lý tưởng tự do: Người Lính Việt Nam Cộng Hòa.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

NGƯỜI TÙ TRẠI PHONG QUANG

(Tưởng niệm Anh Hùng Biệt Kích Mai Văn Tuấn)

Ngày 14 tháng 10, năm 1970, Lê Văn Ngưng, toán trưởng toán Biệt Kích Hadley, bị hình phạt nặng nhất theo quy luật của trại tù Phong Quang. Anh bị cùm cả tay chân rồi bị tống vào phòng giam kỹ luật (xà lim). Anh Ngưng đã chờ dịp này từ bao lâu nay. Bây giờ, có thể anh sẽ tìm hiểu được chuyện gì đã xảy ra cho anh Biệt Kích Mai Văn Tuấn.

Trong căn phòng giam nhỏ và dơ bẩn này, Ngưng đọc thấy danh sách của những người đã từng bị giam giữ ở đây. Hàng chử viết bằng máu trên tường đập vào mắt anh: "Mai Văn Tuấn - ngày 2 tháng Tám 1970". Đây là di bút cuối cùng của anh Tuấn, người tù Biệt Kích khổ hình đã chết trong phòng giam kinh khiếp này.

Anh Ngưng bị nhốt ba mươi ngày với cả hai tay bị còng, hai chân cùm bắt tréo lại, xiết chặc không cựa quậy được. Đây là hình phạt thông thường giành cho tất cả mọi tù nhân vi phạm kỹ luật của trại tù Phong Quang.

Sau ba mươi ngày, Thượng Sĩ Thông mở cửa phòng giam, tháo còng và cùm chân, rồi ra lệnh cho Ngưng đi ra khỏi phòng. Sau đó Thông bắt anh Ngưng phải nhận tội anh đã vi phạm để đến nỗi phải bị giam cực hình này. Ngưng không chịu nhận tội và nói anh đã không làm gì sai quấy. Thượng Sĩ Thông nỗi cáu lên, la hét lớn tiếng và ra lệnh cai tù giam anh Ngưng trở lại vào phòng giam địa ngục trần gian đó thêm mười lăm ngày nữa.

Lê Văn Ngưng đã không bị chết trong xà lim này, nhưng anh Mai Văn Tuấn đã kém phần may mắn.

Ở trong Nam, Tuấn là một thanh niên trẻ, đã tình nguyện vào làm Dân Sự Chiến Đấu cho trại Huấn Luyện Biệt Kích ở Long Thành. Sau một thời gian ngắn, năm 1967, anh tình nguyện xung vào lực lượng Biệt Kích nhảy toán ra Bắc. Anh được gia nhập vào các toán nhảy ngắn hạn ở miền bắc vĩ tuyến 17, vùng Mụ Gia và Đồng Hới, với nhiệm vụ thu thập tin tức tình báo chiến lược liên qua đến việc cộng sãn bắc Việt chuyển quân vào Nam dọc theo đường mòn Hồ Chí Minh qua biên giới Lào. Sau rất nhiều chuyến công tác nhảy Bắc, anh đã được đề bạt lên làm trưởng toán Biệt Kích STRATA. Năm 1968, Mai Văn Tuấn sa cơ vào tay giặc.

Thoạt đầu, Tuấn và toán của anh bị giam ở trại tù Thanh Trì vùng ngoại ô Hà Nội. Ở đó, các người cai tù thường nói với nhau là Tuấn không được bình thường, có vẻ mát dây nặng. Chúng không bao giờ biết chắc được là Tuấn điên thật hay giả. Dù sao đi nữa, với tài diễn xuất giả khùng giả điên, Tuấn đã tha hồ chửi bới cộng sản và chọc cho các cai tù ở Thanh Trì tức giận lộn ruột, nhưng chúng không đánh đập gì anh nhiều vì trong thâm tâm, chúng tin là Tuấn điên khùng thật.

Vào năm 1970, cả toán của Tuấn bị đưa qua nhà tù Phong Quang. Có thể vì chức vụ "toán trưởng" hoặc vì những trận "quậy" tưng bừng ở trại tù Thanh Trì, Tuấn bị tách ra và giam riêng ngay khi mới đến, hoàn toàn cô lập và bị cấm liên lạc với các tù nhân khác. Anh bị bỏ vào xà lim biệt giam. Không như những tù nhân biệt giam khác, Tuấn bị cùm cả hai chân, chân này cùm xích lên chân kia thật chặc, đây là cách cùm ác nghiệt nhất vì máu không thể lưu thông xuống cả hai chân đồng đều, đồng thời, vì các bắp thịt không được co giãn nên sẽ dễ đưa đến tình trạng tê liệt nếu bị cùm quá lâu.

Tù nhân tử hình chỉ có một việc làm duy nhất là đếm từng ngày một còn lại trên cõi đời của họ.
Image

Sau hai tháng bị giam trong xà lim, Tuấn bắt đầu tuyệt thực để phản đối sự cư xử khắc nghiệt vô cớ của trại tù Phong Quang. Sau vài hôm, cai tù bắt đầu theo dõi và vào xà lim kiểm soát Tuấn mỗi ngày. Họ khuyên bảo Tuấn nên ăn để sống nhưng anh nhất quyết tuyệt thực cho đến khi nào được thả ra khỏi xà lim và được giam chung với các anh em Biệt Kích. Sau một tuần lể, Đại Úy Thích trưởng trại và cán bộ chính trị trại tù Phong Quang đến xà lim đích thân khuyên bảo Tuấn nên ngưng tuyệt thực. Một lần nữa, Tuấn từ chối. Đại Úy Thích ra lệnh cho nhà bếp nấu cháo gà đem đến cho Tuấn. Ông tự tay đưa bát cháo cho anh ăn. Tuấn nhận lấy bát cháo gà, chần chừ một tí rồi bất ngờ anh vung bát cháo gà nóng hổi vào mặt tên trưởng trại. Tức ứa gan, Thích đánh đập Tuấn túi bụi và sai cai tù "tẩm quất" thêm cho Tuấn một trận nhừ tử.

Hai ngày sau, tên cai tù vào xà lim coi Tuấn còn sống hay không. Hắn thấy Tuấn trần truồng nằm trên sàn đất trong những bải xú uế của chính mình. Hắn hỏi tại sao Tuấn làm như vậy. Tuấn trả lời:

"Manh áo này không phải của chúng tôi, áo này là sản phẩm của xã hội chủ nghĩa, không phải của tôi, tôi không mặc".

Đêm đó, Tuấn lặng lẽ lìa đời một mình trong xà lim lạnh lẽo. Ngày anh chết, mồng Hai tháng Tám năm 1970 anh đã viết lại bằng chính máu của anh.

Qua ngày sau, người cai tù thường trực tên Đại đi vào xà lim xem tình trạng của Tuấn. Hắn thấy Tuấn đã chết từ lâu, cơ thể cứng ngắt và lạnh giá, hai đầu gối tréo nhau chĩa lên trời. Đại phải đi lấy rượu xoa vào hai đầu gối của Tuấn để rồi dần dần mới kéo thẳng hai chân anh xuôi ra được để tháo cùm chân ra rồi đem xác Tuấn đi chôn.

Những bạn tù của Tuấn kể lại, oan hồn của Tuấn thường hiện về, vất vưỡng gần cái xà lim ác nghiệt này. Chỉ ba ngày sau khi Tuấn chết, nhiều người thấy một bóng đen thấp thoáng bên ngoài khung cửa sắt phòng giam của họ. Khi các bạn tù dùng đèn dầu chiếu ra khung cửa, họ thấy một bóng đen đứng yên lặng trông rất buồn thảm, dáng dấp trông như anh Tuấn.

Cứ khoảng mười một giờ đêm, mọi người bạn tù ai cũng thấy oan hồn của Tuấn. Lần nào Tuấn cũng chỉ đứng yên lặng nhìn vào phòng giam chung. Sau một tuần lễ, một người bạn gọi tên của Tuấn, xin Tuấn đừng về đứng ngoài sân nữa và nói với Tuấn là họ không có liên can gì đến chuyện Tuấn chết, chỉ xin Tuấn hiểu cho và việc Tuấn về chỉ làm cho các bạn tù thêm buồn. Sau đêm đó, bóng đen trong đêm tối không bao giờ trở về đứng ngoài phòng giam chung nữa.

Nguyện cầu hương hồn của người trưởng toán Biệt Kích Mai Văn Tuấn siêu thoát và xin anh linh anh hãy trở về phù hộ cho đồng bào và quê hương sớm thoát khỏi ác nghiệt gông cùm của bạo quyền cộng sản việt nam.


Ngô Xuân Hùng
(trích dịch lại từ sách "Secret Army, Secret War" của ông Sedgwick Tourison)
phỏng vấn các cựu Biệt Kích bị giam ở trại tù Thanh Phong, trang 260-261)
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Image
Nhật ký An Lộc.

Giao Chỉ, San Jose.
Cuốn nhật ký bỏ quên.
Cuốn sách 470 trang của bác sĩ giải phẫu tại mặt trận viết về 86 ngày tại An Lộc quả thực là tác phẩm hay nhất mà tôi đọc lần thứ hai trong năm 2011.

Giả thuyết đây là chuyện binh đoàn Mỹ bị vây tại Khe Sanh hay lính Liên hiệp Pháp bị vây tại Điện Biên Phủ thì dù kết quả ra sao, câu chuyện của một y sĩ giải phẫu duy nhất tại tiền tuyến như bác sĩ Nguyễn văn Quý cũng làm cho tác phẩm trở thành một Best Seller trên thị trường sách vở tây phương.

Bằng một giọng văn của một bác sĩ trẻ tuổi, hết sức đơn giản, viết về những chuyện thực sự đã xẩy ra trong khoảng 3 tháng trên chiến trường Bình Long, tác phẩm đã làm cho độc giả hết sức xúc động.

Bác sĩ Quý đã ghi lại dưới hình thức hồi ký những chuyện xẩy ra đầu tháng 4-1972 tại An Lộc cho đến khi rời khỏi Bình Long vào tháng 8-1972.

Sau đó những trang nhật ký dường như bị bỏ quên cho đến khi tác giả ở lại Việt Nam, đi tù “cải tạo” rồi vượt biên. Khi đoàn tụ tại Hoa Kỳ cô em gái giữ được các trang nhật ký đã trao lại cho anh. Mãi đến năm 2002 cuốn sách mới được duyệt lại và do nhà Văn nghệ xuất bản.

Quả thực tôi không rõ năm 2002 tác phẩm đã phát hành bao nhiêu cuốn. Được đáp ứng ra sao. Tuy nhiên hiện nay sách không còn thấy trong các tiệm sách. Cuốn sách tôi mua và đọc gần 10 năm trước hiện đã bị thất lạc.

Cuốn sách đọc lại để giới thiệu tôi mới tìm thấy tại khu Việt ngữ của thư viện chính thành phố San Jose. Với nỗ lực tìm hiểu về trận An Lộc để làm DVD, tôi hết sức vui mừng gặp lại Nhật ký An Lộc.

Những chương sách.

Khi soạn lại để xuất bản tại Hoa kỳ, tác giả đã bổ túc và sắp xếp thành 32 chương sách. Mỗi chương sách viết về những giai đoạn của cuộc chiến nhưng cũng hướng về một chủ đề.

Đọc từng chương sách qua các chủ đề độc giả có thể hiểu được bao quát hoàn cảnh chiến trường. Tôi xin nhắc lại vài chương chính thí dụ bắt đầu bằng Ngày 6 tháng 4-72 là ngày những trái pháo kích đầu tiên rớt xuống An Lộc mở đầu cho cuộc tấn công. Rồi mất Lộc Ninh, Lương khô, Cứu trợ, Kho thuốc, Tản thương, Tù binh, Thả dù, Tấn công đợt nhất. Địa ngục trần gian.Di chuyển, Tái lập phòng mổ, Tấn công đợt II, Người ở lại, May rủi, Cô bé An Bình, Thăm chiến trường, Đi phép, Giã từ, Chiến sĩ xuất sắc và 30 năm nhìn lại.

Khi tác giả viết 30 năm nhìn lại là thời điểm duyệt lại tài liệu và phát hành sách lần đầu tiên năm 2002 tại Hoa Kỳ.

Ngày nay qua Hồi Ký An Lộc, chúng ta cùng nhìn lại thì chuyện Bình Long đã trải qua 40 năm.

Hậu phương ngay tại tiền tuyến.

Câu chuyện của bác sĩ Quý lôi cuốn và hấp dẫn ở chỗ đã mô tả cuộc sống hàng ngày của một bác sĩ giải phẫu làm việc trong điều kiện khó khăn. Thiếu phương tiện, thiếu tiếp liệu, thiếu nhân viên. Trong khi đó thương binh cần giải phẫu quá nhiều. Bệnh nhân bao gồm cả dân cả quân và cả địch.

Những ca mỗ liên tiếp trong lúc pháo kích vẫn dồn dập trên đầu. Trong lúc cấp thời, căn nhà rung chuyển vì bom đạn mưa bụi rơi xuống, bác sĩ theo phản xạ, vội lấy tay che bụng bệnh nhân đang mở toác ra giữa bàn mổ.

Các nhân viên y tế, cả nam lẫn nữ, cả dân sự lẫn quân sự, cả dân y lẫn quân y tiếp tục làm việc vì các y sĩ vẫn làm việc. Nhân viên của bệnh viện cũng chết vì pháo kích, cũng mất tinh thần cũng cố gắng để tiếp tục công việc. Điều quan trọng nhất là nỗ lực chịu đựng trong hoàn cảnh tệ hại nhất.

Một cách hết sức tình cờ, tác giả là bác sĩ giải phẫu duy nhất tại mặt trận nên đã thực hiện tổng cộng 248 trường hợp trong 86 ngày. Hầu hết đã được cứu sống. Một kỷ lục hiếm có.

Xem như cách tác giả trình bày, ông chưa từng có nhiều kinh nghiệm về giải phẫu tại chiến trường trước khi lên An Lộc.
Image
Đại úy Quý và toán nhân viên giải phẫu tại chiến trường
Y sĩ tiền tuyến.

Bác sĩ Nguyễn Văn Quý tốt nghiệp đại học y khoa Sài Gòn năm 1967. Vì là con một nên có điều kiện hoãn dịch, nhưng ông đã tình nguyện nhập ngũ. Sau khi học căn bản quân sự, bác sĩ Quý về làm đại đội trưởng đại đội quân y của trung đoàn xung kích 43, sư đoàn 18 bộ binh.

Tại đơn vị này trung úy Quý có cơ hội tham dự các cuộc hành quân tại miền Đông Nam Phần trong vai trò y sĩ tiền tuyến. Sau ông về Saigon học giải phẫu một năm và xin đổi về làm y sĩ giải phẫu tại An Lộc sau khi tốt nghiệp.

Thị xã An Lộc thuộc tỉnh Bình Long đầu năm 1972 vẫn còn là một nơi bình yên và gần Sài Gòn.

Khi từ giã sư đoàn 18, bác sĩ Quý đã từ giã cả vị trung đoàn trưởng là trung tá Trần Văn Nhật. Khi về Bình Long ông lại có dịp gặp lại tiểu khu trưởng là đại tá Trần Văn Nhật. Ngày nay ông và chuẩn tướng Nhật cùng cư ngụ tại Nam Cali. Khi về nhận việc tại Bình Long, bác sĩ Quý có cấp bậc đại úy thực thụ. Từ giã Bình Long sau 86 ngày trong địa ngục trần gian, ông trở thành chiến sĩ xuất sắc của ngành quân y với cấp bậc thiếu tá.

Trong suốt 86 ngày An Lộc, bom đạn đã tránh ông nhiều lần kể cả một lần pháo kích ban đêm ngay tại giường ngủ đúng lúc ông đi ngủ lang chỗ khác. Còn đạn pháo kích rơi chung quanh là chuyện rất thường.

Bên cạnh những thương binh và những xác chết, không phải là vài chục vài trăm mà là hàng ngàn thương binh và hàng chục ngàn tử sĩ cùng dân chúng, bác sĩ Quý không giải thích được ý nghĩa của chiến tranh và đời sống. Sau cùng ông chỉ còn tin vào định mệnh và phần số của con người.

Viết về nỗ lực làm tròn nhiệm vụ, trong niềm hãnh diện kín đáo, người y sĩ giải phẫu của An Lộc luôn luôn cho rằng chỉ cố làm bổn phận mà ai gặp hoàn cảnh đó cũng phải thi hành.

Người y sĩ trẻ tuổi đã lựa chọn cho mình con đường nghĩa vụ của thanh niên thời chiến. Cũng như mọi người, ông muốn về phục vụ đơn vị gần nhà trong thời gian tương đối ổn định, nhưng định mệnh đã đưa ông vào An Lộc trong thời gian thị xã nhỏ bé này biến thành địa ngục.

Giây phút vinh quang.

Trong suốt 86 ngày chiến cuộc An Lộc, không phải toàn là những giây phút đen tối. Bên cạnh súng nổ đạn bay cũng có những hạnh phúc nhỏ bé khi bữa ăn được dọn ra, những lần được tắm rửa, những ca mổ thành công và sau cùng là những tấm lòng. Tình nghĩa giữa cấp trên và bác sĩ. Giữa các chiến binh bằng hữu, đại tá Nhật, thiếu tá Diệm và các y sĩ đồng nghiệp. Các cộng sự viên quân y và dân y. Các bệnh nhân gồm dân, quân và cả địch. Thương binh cộng sản cũng được bên an ninh đem đến cho bác sĩ giải phẫu. Chữa trị xong thì khóa vào giường sắt. Cả cô giao liên và anh bộ đội. Kẻ thù sống hòa nhập tự nhiên vào thế giới của Việt Nam Cộng Hòa tại khu bệnh viện.
Image
Dược sĩ Tân, bác sĩ Quý, bs Phúc và bs Davis

Image
Thiếu tá Quý từ giã Bình Long
Rồi nỗ lực của bác sĩ Quý được biết đến để thế giới tán thưởng ngay tại chiến trường. Giây phút vinh quang là ông được phóng viên báo Time vào hỏi chuyện ngay tại lúc An Lộc còn trong khói lửa. Rồi phái đoàn quân y Mỹ liều mình vào thăm để chứng kiến ca mổ nhẹ nhàng và thành công của y sĩ tiền tuyến Việt Nam ngay tại mặt trận. Vị y sĩ Hoa Kỳ đã xin đứng mổ phụ với bác sĩ Quý trong niềm hào hứng và khâm phục.

Bên cạnh những phút vinh quang có những niềm đau khi bác sĩ bất lực với những ca quá nặng. Đau đớn hơn cả là khi ông phải cắt chân cắt tay các bệnh nhân, các chiến hữu, các anh hùng của quân đội và cả những tay chân của các em bé.

Những chuyện bên lề.

Trong gần 500 trang sách hồi ký không hề thiếu những chuyện bên lề. Hình ảnh những cô y tá cả dân lẫn quân y, các nhân viên bệnh viện, trải qua bao nhiêu vất vả, mất ăn mất ngủ, dưới bom đạn, vẫn tận tụy làm việc và giúp ông thầy giải phẫu ngay dưới ánh sáng của các ngọn đèn pin.

Những đối thoại trao đổi trong hoàn cảnh nghiệt ngã của phòng giải phẫu cấp cứu và khu bệnh viện. Việc nhận tiếp tế thả dù cũng là một chuyện hy hữu với con số bẩy tám người đã chết vì các kiện hàng từ trên trời rơi xuống.

Tình chiến hữu thể hiện qua những người lính đưa ông thầy vào cho bác sĩ cứu chữa. Khóc lóc xin bác sĩ cứu cho đại úy của anh. Nhưng khi nằm dưỡng thương, ban đêm không có đèn, Việt cộng pháo kích, mọi người chen nhau chạy xuống hầm đã đạp nhầm lên ông đại úy thương binh, ông thầy của anh lính cần vụ nằm chết ngay bên cạnh.

Lại thêm một chuyện khác nữa, cũng như mọi người bác sĩ Qúy nghe đồn bộ đội cộng sản bị khóa chân vào chiến xa hay vũ khí nặng. Khi chiến trường tạm ngưng tiếng súng, ông tò mò đến từng chiến xa để quan sát. Leo lên được một chiến xa địch và ông thấy tận mắt xác bộ đội chỉ còn xương với giây xích khóa vào chân dưới tay lái.

Trong lúc bị đạn, xe tăng cháy, các bộ đội trong xe đã chạy khỏi chiến xa, chỉ còn lại anh lái nằm chết dần cùng với ngọn lửa bùng cháy. Người chiến binh lái xe tăng trải qua ngàn dặm dọc đường mòn Hồ chí Minh suốt 3 tháng, đưa chiến xa từ Vân Nam qua Hà Nội, qua Thanh Nghệ Tĩnh, Hạ Lào, Cam Bốt để vào nằm chết cùng xe tại An Lộc. Tuổi thanh xuân của anh không hề có lựa chọn.

Và cũng cay đắng không kém, anh bộ đội tù binh được an ninh đưa đến cho bác sĩ Quý giải phẫu rồi sau đó bị khóa vào giường sắt trong lúc nằm điều trị. Pháo kích của Việt cộng rơi vào khu bệnh viện, các thương binh của ta bị chết. Cùng một lượt anh bộ đội bị khóa vào giường cũng chết theo. Không ai biết anh đã chết ngay tại chỗ hay đã còn hấp hồi với bàn tay bị khóa bên giường của kẻ thù đã từng cứu cho anh sống.

Chuyện tản thương cũng hết sức phiền phức bắt đầu bằng quyết định ai đi ai ở. Những người được chuẩn bị đưa đi gần như phải trốn tránh, giữ bí mật nhưng rồi chở ra bãi đáp chờ cả ngày dài giữa cơn nắng hè và khói lửa pháo kích rồi lại trở về. Những tin tức về phi cơ không xuống được hay bị bắn rớt đã xẩy ra hàng ngày.

Dường như điều may mắn không được kể ra là bác sĩ Quý vẫn còn trong tình trạng độc thân, chỉ có mẹ già và em gái nên những ngày đen tối ở An Lộc tương đối không bị ảnh hưởng gia đình.

Sau cùng, giá trị đáng kể của tác phẩm là sự chân thực đã được viết ra. Tuyệt đối không có cường điệu, tuyên truyền hay hận thù . Có thể sách này viết và xuất bản ngay thời gian cuối 1972 dù đáp ứng được nhu cầu thời sự nhưng chưa chắc đã được kiểm duyệt giữ cho toàn vẹn.

Sách phát hành năm 2002 nên tác giả đã có toàn quyền ghi nhận những cảm nghĩ thành thực hơn cho những hình ảnh đã trải qua năm 1972.

Mong rằng câu chuyện của một bác sĩ tiền tuyến tai An Lộc sẽ là phần quan trọng trong DVD Bình Long Anh Dũng để lại cho thế hệ tương lai.

Tuy nhiên, riêng tác phẩm Hồi ký An Lộc nếu dịch ra Anh ngữ cũng dễ dàng được độc giả chấp nhận.

Đã có khá nhiều tác phẩm Anh ngữ do các tác giả và chiến binh Hoa Kỳ viết về chiến tranh Việt Nam, nhưng chưa bác sĩ Hoa kỳ nào trải qua các kinh nghiệm như bác sĩ Quý để có thể kể lại.

Hồi ký An Lộc rất cần được ra đời qua ấn bản Anh ngữ, dù là đã muộn gần nửa thế kỷ.

Rất mong như vậy.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »


Image

Dòng nước mắt cho một bản quốc ca
Huy Phuong
Trải qua một thời gian dài nước mất nhà tan, bị tù đày, gia đình ly tán, phải sống dưới một chế độ thù nghịch, ngày được ra khỏi đất nước, được đứng nghiêm trang, mắt ngước nhìn lá quốc kỳ thân yêu xa vắng bao nhiêu năm, tai nghe lại điệu nhạc hùng tráng năm xưa, lòng bỗng dưng xôn xao bao kỷ niệm, hai dòng nước mắt tuôn rơi. Ðã bao nhiêu người mang tâm trạng như tôi vào những ngày đầu đặt chân đến xứ người. Phải chăng những điều gì đã mất khiến cho lòng chúng ta tiếc nuối và xót xa.

Nhớ mới một buổi sáng ngày nào, buổi chào cờ cuối cùng tại đơn vị và không ai ngờ đó là buổi chia ly, tan đàn sẻ nghé. Anh em đồng ngũ mỗi người đi về một hướng, người vượt thoát ra đi bỏ lại quê hương, người vào chốn lao tù nơi chốn rừng sâu nước độc. Gia đình miền Nam bỗng dưng tan tác, mỗi người lâm vào cảnh, không cách biệt giữa hai bên bờ sinh tử thì cũng nghìn trùng biệt ly.

Có những bản quốc ca xưa hàng trăm năm như quốc ca Hà Lan từ thế kỷ XVI, nhưng cũng có những bản quốc ca chỉ vang vọng trong một thời, non yểu trong hoàn cảnh chiến tranh, của một quốc gia vừa thành hình đã bị định mệnh chôn vùi. Trong đất nước ấy, tuổi trẻ bị dập vùi trong lửa đạn, tương lai mờ mịt trong khói súng, và những niềm hy vọng sớm tàn phai. Ðể bảo vệ cho tự do của miền Nam, một triệu thanh niên dưới lá quốc kỳ, đã nằm xuống, xương tàn cốt mục, mà bây giờ đã gần bốn mươi năm hài cốt vẫn còn xiêu lạc. Quốc ca đâu phải là một bản nhạc của một nhạc sĩ si tình nào đó viết cho một người, để đời sau những người ca sĩ hát lại cho những người mang cùng tâm trạng riêng lẻ ấy thưởng thức. Quốc ca là nhạc phẩm của một người viết cho triệu người nghe.

Xin đừng ai dạy bảo cho chúng ta biết định nghĩa thế nào là một bản nhạc hay. Lời đẹp, nhạc hay, nhưng tiếng “hay” không nói lên được một điều gì cả. Một bản nhạc mới được tác giả sáng tác xong, nếu mới nghe qua chỉ là đợt sơ khảo, mang cho người nghe cái cảm giác ban đầu hời hợt. Suối từ nguồn chỉ là những dòng nước, trở thành những con sông, chảy qua những bờ lau, cánh đồng, qua những chiếc cầu, qua xóm làng, tới những bình minh rực rỡ, đến những buổi chiều nắng xế và chan hòa với đại dương. Nhạc vô hồn nếu nhạc không mang những kỷ niệm, không in dấu được thời gian, không có quá trình vui buồn với cuộc sống của con người. Có ai nghe một bản nhạc mà không nhớ đến một quãng đời, không nhớ đến một kỷ niệm, không nhớ đến một người, ví dụ như trong câu hát nghe rất ngậm ngùi, liên tưởng trong thời chiến tranh: “Ai có nghe tiếng hát hành quân xa, mà không nhớ thương người mẹ già” (PD).

Tiến Sĩ Schubert là học giả nghiên cứu nghệ thuật trình diễn của Ðại Học New South Wales Úc cho rằng:”Nếu hỏi bất cứ ai bài hát họ ưa thích nhất là bài nào, nhiều người đã trả lời, đó là những bài hát mà họ đã từng nghe ở thiếu thời hay lúc mới trưởng thành”. Theo ông, những bản ca khúc luôn đọng lại trong tâm trí người nghe với nhiều nguyên do khác nhau như các khái niệm văn hóa, qua kinh nghiệm và sự việc được lặp lại nhiều lần. Chúng ta, vì vậy không lấy làm lạ khi những ca khúc thời chinh chiến hay những bản tình ca xuất hiện trong thời gian 65-75, gần 40 năm sau đều được đón nhận nồng nhiệt bởi những người bước vào tuổi 60 ngày nay ở ngoài hay trong đất nước.

Chúng ta thường mủi lòng nhớ đến quê hương đã bỏ xa khi nghe những khúc dân ca, những tiếng đàn bầu như lời than thở, những tiếng nhị hồ như lời khóc than. Và những con đò, những đêm trăng, những dòng sông, những bờ tre, những cánh đồng, những tiếng hò, những gì của làng mạc đã xa của một thời thơ ấu như sống lại. Ðó không chỉ là tiếng gọi của quê hương mà là tiếng thì thầm của dĩ vãng, bỗng dưng hiện về. Trong âm nhạc, dân ca hay những bản nhạc mang âm hưởng dân ca thường đánh động đến lòng người và dễ gây xúc động làm người ta rơi nước mắt.

Nhưng nếu có một ca khúc tác động vào lòng người nhất thì tôi không ngần ngại nói rằng đó là bản quốc ca. Không phải ngày đầu tiên lìa xa đất nước ra đi, bỏ lại tất cả những gì gọi là thân yêu từ quê hương ruột thịt mà người ta đã khóc khi nghe lại bài quốc ca, mà cho đến bây giờ, gần mấy mươi năm qua, tất cả tưởng như đã rơi vào quên lãng, nhạt nhòa theo thời gian, những dòng nhạc như đã khơi lên những “trào lệ cảm”(*) trong lòng chúng ta.

Nhiều bản nhạc chỉ nhắc cho chúng ta nhớ đến một người, hôm nay bài quốc ca làm cho chúng ta nhớ đến hàng triệu người. Những người đã phải rời bỏ đất nước vì tự do, xa cội nguồn, đã bị xô đẩy đi khắp chân trời góc biển. Bài hát nhắc cho chúng ta nhớ đến những người đã chiến đấu, hy sinh thân xác và chết dưới cờ trong suốt một thời gian giữ nước. Bài hát làm cho chúng ta nhớ lại những cánh rừng, những con đường, những bãi biển, là chiến trường, nơi mà anh em ta đã gục ngã. Bài hát làm cho chúng ta nhớ lại nỗi nhục tù đày, những chiến hữu cụt què bất hạnh, những góa phụ cô đơn. Bài hát nhắc lại cho chúng ta khoảng thời gian ba mươi năm, dù là ngắn ngủi nhưng tràn đầy kỷ niệm. Bạn đã thấy người khác khóc và chính bạn đã hơn một lần nhỏ lệ cho quốc ca.

Xin hãy hát lên bài quốc ca, hãy ràn rụa nước mắt để khóc cho một nền tự do đã bị đánh mất, hổ thẹn cho một nền hòa bình trong tủi nhục và để nghĩ đến những người chết cho chúng ta sống, những người bị thương tật cho chúng ta lành lặn, những người ở lại cho chúng ta ra đi.

Huy Phương
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Image

Những Ngày Cuối Đời Của Đại Tướng Cao Văn Viên
(Tháng 10-2003) Mùa Ðông năm nay, niên trưởng Cao Văn Viên sẽ trải qua những ngày băng giá khó khăn. Năm nay 82 tuổi, ông mới bị té ngã. Tưởng đã quỵ luôn, nhưng một lần nữa y khoa Hoa Kỳ đã đỡ vị Tổng Tham Mưu Trưởng cuối cùng của QLVNCH đứng lên để tập cho ông đi lại từng bước ngắn.
Chắc chắn là các bác sĩ và chuyên viên Mỹ đều không biết vị cao niên Á Châu này là người đã từng làm chức vụ gì ở Việt Nam. Bởi vì hàng ngày cũng không có nhiều người đến thăm ông. Sau trận té gẫy xương chậu, chân ông đã sưng thật to, nhưng mãi cả mấy tuần lễ sau ông mới có cơ hội chiếu điện và chữa trị chính thức. Trước đó ông tự xoa lấy bằng dầu nóng và mùi Nhị Thiên Ðường thơm ngát cả căn phòng tại khu chung cư cao niên lầu hai của quận Fairfax miền Virginia. Ông đang cố gắng đứng lên tập đi trở lại trong một chương trình hồi phục để tránh phải ngồi xe lăn là điều mà tuổi già rất quản ngại.

30 năm trong quân ngũ, ông Cao Văn Viên chỉ sống với cấp trên và cấp dưới. Riêng cá nhân ông, gần như không có nhiều bằng hữu tương giao để chén tạc, chén thù. Gần 30 năm sống cuộc đời di tản, vị Ðại Tướng đứng đầu Bộ Tổng Tham Mưu, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bây giờ cũng vẫn tiếp tục độc hành. Ông luôn luôn cố tránh liên hệ vào các tranh chấp chính trị ngay từ lúc còn trong quân đội cũng như trong hoàn cảnh di dân tỵ nạn hiện nay.

Từ khi người vợ quán xuyến của ông qua đời, rồi đến người con trai duy nhất của ông cũng vắn số, ông Cao văn Viên đã trải qua những mùa đông cô độc ở Nữu Ước, hoàn toàn xa cách mọi người. Ông đi chợ nấu ăn lấy, đóng vai ông già Á Châu vô danh giữa chốn đô thị phồn hoa đông đảo nhất thế giới. Những năm gần đây ông dọn về ở luôn trong một căn hộ của khu chung cư ở miền Ðông Hoa Kỳ, bên cạnh Thủ Ðô Hoa Thịnh Ðốn. Nơi đây đa số là người già Ðại Hàn. Ông tiếp tục đi chợ và nấu ăn lấy. Cô con gái lớn trưởng thành của ông đã tốt nghiệp luật, đi dạy học, lập gia đình và làm việc ở nơi xa.
Ðời sống đã không cho phép cha con được gần nhau và vị tướng già cũng đã quen sống như thế. Bây giờ thực ra ông cũng không có nhiều nhu cầu. Người già ở Hoa Kỳ lợi tức thấp hoặc không có lợi tức được lãnh bao nhiêu thì niên trưởng Viên của tôi cũng lãnh được bằng đó. Số tiền này đã dành trả hết cho gian phòng ông đang cư ngụ. Trung tá Tâm là một sĩ quan hiếm hoi trong số các thân hữu quân ngũ còn lại quanh ông. Vâng, chính cái anh Tâm đó đang tìm cách xin cho niên trưởng của anh vào một Nursing Home có người săn sóc ngày đêm. Ðó là nhu cầu thực tế và là một ước mơ nhỏ bé của một con người đã một thời mang hình ảnh lớn lao của quân đội chúng ta.

Vào đầu thập niên 50, gặp nhau tại tiểu khu Hưng Yên, bên bờ sông Hồng Hà có 3 sĩ quan Việt Nam còn trẻ. Trung úy Nguyễn Văn Thiệu, quê Phan Rang miền Trung, lém lỉnh tinh ranh. Ðại úy Trần Thiện Khiêm quê miền Nam, ít nói, thâm trầm. Trung úy Cao Văn Viên, quê miền Bắc, cao lớn, trắng trẻo và đẹp trai nhất. Nếu coi đây là nhóm bạn đầu đời quân ngũ thì quả thực họ đã từng là chiến hữu. Và Trung úy Cao văn Viên lại là niên trưởng.
Ông Viên tuy người Bắc nhưng thực ra vì cha mẹ làm ăn bên Lào nên ông ra đời tại Vạn Tượng và Thủ Ðô Vientian là dấu ấn của thân phụ đặt tên cho con trai. Vào thời còn trẻ trung, các sĩ quan quốc gia bắt đầu trưởng thành trong vòng tay của quân đội Liên Hiệp Pháp. Các ông quan một, quan hai còn đeo trên vai những gạch kim tuyến vàng chóe với tương lai mở rộng một đời binh nghiệp. Nhưng không ai có thể nghĩ rằng Trung úy Thiệu sẽ trở thành Tổng Thống. Ðại úy Khiêm trở thành Thủ Tướng và Trung úy Viên trở thành Ðại Tướng, Tổng Tham Mưu Trưởng. Ðó là chuyện sau này.

Ðịnh mệnh quả nhiên đã có những ước hẹn với lịch sử. Cả ba người chiến binh Bắc Trung Nam, cùng thăng trầm với chiến tranh, với đất nước để cùng thăng tiến. Họ làm việc với nhau, họ chia nhau những chức vụ tối cao của quân đội và chính quyền. Cùng yểm trợ nhau, nhưng đồng thời cũng rất xa cách dù ở bên trong hay bên ngoài công vụ. Họ không còn ngồi với nhau những giây phút tửu hậu trà dư. Ông Viên đã nói rằng mối liên hệ của ông với Tổng Thống Thiệu hoàn toàn là công vụ. Các niên trưởng của tôi khi nói chuyện đều thưa gửi với nhau bằng chức vụ. Thưa Tổng Thống, Thủ Tướng, Ðại Tướng vân vân. Khách sáo vô cùng. Cái thời “toa moa” ngày xưa ở Secteur Hưng Yên bây giờ đã xa lắm rồi, chẳng ai còn nhớ nữa.

Với sĩ quan Cao Văn Viên, từ cấp Úy lên cấp Tá, ông luôn luôn là người cần mẫn và hòa nhã. Bước ngoặt của đời ông là cánh chim bằng nhảy dù trên ngực áo. Khi ông còn là Trung Tá tại Tham Mưu Biệt Bộ lúc đó ông Nguyễn Chánh Thi đang coi Liên đoàn Nhảy dù. Cả hai cùng là bạn cũ. Thi rủ Viên học nhảy dù để gột rửa bớt cái vẻ sĩ quan văn phòng. Nhảy thì nhảy. Trung tá Viên lấy bằng Dù và tiếp tục ngồi bên Tham Mưu Biệt Bộ thời kỳ ông Diệm còn đang tại chức. Ðảo chính xẩy ra, Ðại tá Nguyễn Chánh Thi, Tư Lệnh Dù chạy qua Cam Bốt. Tổng thống Diệm vừa thoát nạn, ngó tới ngó lui thấy ông sĩ quan thân cận gần gũi có bằng cấp nhẩy dù bèn đưa qua nắm liên đoàn Mũ Ðỏ.

Từ đó ông Cao Văn Viên bắt đầu làm tư lệnh và cuộc đời đi vào khúc quanh mới. Nhảy dù vốn là đơn vị ưu tú của quân đội, nhưng mũ đỏ đang bị thất sủng vì cú đảo chánh hụt. Giai đoạn này là lúc thử thách của cả vị tư lệnh lẫn các tiểu đoàn nhảy dù. Hai bên thăm dò lẫn nhau. Ông Viên trở thành một vị Ðại Tá tư lệnh hăng hái xông xáo từ kỹ thuật nhảy dù đến các chiến trường trên khắp bốn quân khu. Ông lấy bằng huấn luyện viên Dù và nhảy biểu diễn tự điều khiển cùng với các cố vấn Hoa Kỳ. Cuộc đảo chánh ông Diệm lần thứ hai mới là giai đoạn đặc biệt của Ðại tá Cao Văn Viên. Trong khi hầu hết các tư lệnh quân đội đều ngả theo cách mạng thì riêng mình ông từ chối.

Ðó là hành động mà sau này ông cũng không chắc là một thái độ khôn ngoan. Ông Viên thực sự cũng không muốn đóng vai anh hùng, nhưng chỉ muốn giữ tấm lòng chung thủy. Ðã có những người chống đảo chánh bị giết chết như vị Tư lệnh Hải quân, Tiểu đoàn trưởng Nhảy dù và sau này chính anh em Tổng thống Diệm cũng bị giết chết. Nếu viên Tư lệnh Nhảy dù không chịu theo cách mạng mà bị thanh toán thì cũng là chuyện có thể xảy ra. Nhưng chính bà vợ quán xuyến và can đảm đã lên tiếng khi ông chồng bị giam riêng một chỗ. Bà Viên đã quyết liệt can thiệp trực tiếp với tất cả các tướng lãnh đảo chánh mà ngày hôm trước vẫn còn là anh em thân hữu với gia đình ông. Cho đến sau này ông Viên vẫn còn ghi nhớ thái độ mạnh mẽ của người vợ đã cứu sống ông trong năm đảo chánh. Ông cũng không ngần ngại mà nói thẳng ra như thế.

Sau khi cách mạng thành công, ngôi sao bản mệnh của ông lại trở nên rực rỡ. Phe thân hữu của Ðệ Nhất Cộng Hòa tuy đang bị thất thế nhưng vẫn kín đáo ca ngợi thái độ của vị Tư lệnh Nhảy dù. Ngay cả các tướng lãnh và sĩ quan phe cách mạng cũng đều vì nể thái độ của ông. Ông Cao Văn Viên gần như là người duy nhất không theo cách mạng nhưng vẫn được tiếp tục về chỉ huy nhảy dù.

Ðịnh mệnh vẫn tiếp tục chiều đãi. Ông tham dự hành quân Cao Lãnh miền Tây đạt chiến thắng và bị thương. Thêm vào chiến thương bội tinh với ngôi sao đỏ, ông lên Thiếu Tướng với hai sao lấp lánh trên cổ áo và nón đỏ vẫn đội trên đầu.Trong thời gian đảo chánh ông Diệm xảy ra, ông Cao Văn Viên đã không có những kỷ niệm tốt đẹp với tướng Dương Văn Minh. Mấy năm sau, vào giai đoạn chỉnh lý bắt các tướng cách mạng giam lỏng trên Ðà Lạt và cô lập Big Minh thì cũng toàn là lính Nhảy dù của ông Cao Văn Viên. Vì vậy lại thêm một kỷ niệm không đẹp giữa hai người.
Ðó cũng là lý do mà sau này ông nghĩ rằng không thể ngồi lại trong chính phủ Dương Văn Minh. Phải chăng đây cũng là một cái cớ chính thức để có thể ra đi vào đúng thời điểm cần thiết. Tuy nhiên, đó là câu chuyện 75.

Trở lại với giai đoạn giữa thập niên 60, từ giã nhảy dù, tướng Viên về làm Tư lệnh Quân đoàn III và sau cùng lên chức Tổng Tham Mưu Trưởng. Với chức vụ quan trọng nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, tướng Viên là người có vóc dáng đường bệ nên trong các cuộc thăm viếng đơn vị, hình ảnh của ông cạnh các tướng lãnh Hoa Kỳ đem lại niềm hãnh diện cho các binh đoàn. Lớn tuổi hơn các tướng lãnh cùng thời, nhưng ông có khuôn mặt trẻ trung và giữ được thân thể gọn gàng của một cựu huấn luyện viên thể dục lúc còn niên thiếu.

Và mặc dù có dư luận chê trách, nhưng tướng Viên vẫn thực sự là người hiếu học ngay từ lúc còn làm Tư lệnh Quân đoàn III. Ông rất chịu những bài giảng về triết học bay bướm của thầy Trần Bích Lan tức nhà thơ Nguyên Sa đã một thời là Trung úy Quân nhu. Phần lớn các tư lệnh quân chủng và các quân đoàn đều kính nể vị Ðại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng vốn từ bên Nhảy Dù đi lên. Ngay cả sau này khi các Tư lệnh Quân đoàn liên lạc thẳng với Tổng thống Thiệu những vẫn giữ lễ độ lịch sự với Bộ Tổng Tham Mưu. Tướng Viên có biệt nhãn với ngành Tiếp Vận vì ngày xưa ông đã từng là trưởng phòng 4 đầu tiên dưới thời quân đội quốc gia phôi thai năm 1954.

Mặt khác, ông cũng giữ mối thiện cảm và theo dõi các hoạt động của binh chủng mũ đỏ mà ông luôn luôn hãnh diện đã góp phần trong binh nghiệp. Tướng Viên cũng được sự tin cậy và vị nể của các giới chức Hoa Kỳ. Tuy nhiên, chính ông cũng tự nhận thấy chưa bao giờ nghĩ đến ngày có thể lên đến chức tước lớn lao như vậy. Ông luôn luôn mong được làm tròn nhiệm vụ, nhưng ông không phải là hàng tướng lãnh nóng nẩy ồn ào, lấy gậy chỉ huy đập vào đầu sĩ quan, hay la hét thuộc cấp tối ngày. Tướng Viên cảm nhận vai trò phối hợp của một vị Tổng Tham Mưu Trưởng Liên Quân như bên Ngũ Giác Ðài Hoa Kỳ chứ không phải là Tổng Tư Lệnh ban hành các lệnh trực tiếp. Như ông đã giãi bày trong tác phẩm mới xuất bản, khi nhận thấy bị Tổng thống Thiệu qua mặt dành trực tiếp quyền điều hành bộ máy chiến tranh thì ông lặng lẽ lui vào vai trò tư vấn cho đến khi xin từ nhiệm.

Tháng 10-2003 khi dịch giả Nguyễn kỳ Phong cho phát hành bản Việt ngữ tác phẩm của Ðại tướng Cao Văn Viên, phóng viên BBC Luân Ðôn có hỏi đi hỏi lại Kỳ Phong nhiều lần một câu hỏi. Ðó cũng là thắc mắc của rất nhiều thính giả và độc giả. Tại sao Ðại Tướng bị thất sủng, xin từ nhiệm lại không được chấp thuận. Dịch giả Kỳ Phong không thể thay mặt tác giả mà trả lời cho xuôi câu hỏi phức tạp này. Quả thực đã có lúc ông Thiệu muốn tìm người thay ông Viên nhưng không phải là dễ dàng. Chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng phải lựa chọn trong các Tư lệnh Quân đoàn xuất sắc.

Tướng Ngô Quang Trưởng với sự yểm trợ của phía Hoa Kỳ cũng không phải là người làm ông Thiệu an tâm. Tướng Ðỗ Cao Trí cũng đã được phía Hoa kỳ tiến cử trong danh sách nhưng ông Trí vừa nghe tin đã tuyên bố lăng nhăng nên đã làm ông Thiệu quản ngại và gạch tên ngay cả trước khi trực thăng của ông Trí lâm nạn.
Ðối với Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, việc thay thế tướng Cao Văn Viên chưa phải là nhu cầu cấp thiết. Ông Thiệu hoàn toàn yên tâm với một vị Tổng Tham Mưu Trưởng dứt khoát không chịu tham dự vào các cuộc đảo chánh chính trị. Ông không sợ ông Viên làm phản. Trước sau như một, tướng Viên đã kiên định như thế.

Thông thường ông Viên thân với tướng Kỳ hơn là gần gũi ông Thiệu. Nhưng không bao giờ ông Kỳ rủ được ông Viên tham gia đảo chánh ông Thiệu, ngay như vào giờ thứ 25 của thời điểm năm 75. Ông Thiệu và ông Viên, như trên đã viết ra, các niên trưởng của tôi sinh hoạt xa cách và khách sáo. Không có cái kiểu như thời kỳ còn ở Hưng Yên: “Này, Moi làm ở État Major lâu quá, thôi Toi kiếm thằng khác để Moi nghỉ một thời gian. Việc gì Toi cũng chơi thẳng với các Quân đoàn như thế thì còn cần Moi ở đây làm gì?” Không, các Xếp của tôi không ăn nói lăng nhăng như vậy. Ðại Tướng thưa rằng xin Tổng Thống cho tôi tạm nghỉ vì sức khỏe. Tổng Thống nói là xin Ðại Tướng vui lòng tiếp tục ở lại một thời gian. Bây giờ là lúc khó khăn, quân đội cần ổn định v.v… Và Ðại tướng Viên có lúc đã nhờ quân nhu tìm cho một số dụng cụ làm vườn để thực sự chuẩn bị vui thú điền viên, nhưng khi ông Thiệu nói như vậy đành chần chờ ở lại Bộ Tổng Tham Mưu cho qua ngày.

Cũng phải ghi lại là trong chức vụ cao cấp nhất của quân đội, tướng Viên đã có lần phác thảo kế hoạch tấn công ra Bắc và đó là một trong các phương cách tự vệ mãnh liệt nhất. Tuy nhiên chắc chắn rằng phía Hoa Kỳ hoàn toàn không yểm trợ và ông Thiệu không thể nào đơn phương quyết định được. Thêm vào đó, một trong các quyết định quan trọng nhất của tướng Cao Văn Viên là xử dụng tướng Ðồng Văn Khuyên từ Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy 3 Tiếp Vận lên Tổng Cục Trưởng, Tổng Cục Tiếp Vận rồi là Tham Mưu Trưởng Liên Quân. Ông Khuyên đã không phụ lòng tin cậy của tướng Viên trong các chức vụ này và đặc biệt ông cũng được Hoa Kỳ hoàn toàn yểm trợ. Và chính guồng máy Tiếp Vận với viện trợ Mỹ là con bài tẩy của chiến tranh Việt Nam.
Trong phần ghi chú của tác giả Cao Văn Viên viết trong tác phẩm Việt ngữ mới phát hành, một đề nghị chiến lược tối mật quan trọng nhất cho chiến tranh Việt Nam là việc bỏ đất, triệt thoái do Tổng Cục Tiếp Vận, Tổng Tham Mưu soạn thảo. Hoàn toàn dựa vào bài toán quân viện, nghiên cứu khả năng thực sự giữ đất, giữ dân, Việt Nam Cộng Hòa muốn tồn tại thì phải thu về các vùng đồng bằng và duyên hải. Kế hoạch phải áp dụng ngay từ sau Hiệp Ðịnh Paris chứ không thể căng mỏng quân lực ra khắp nơi theo kiểu dành dân lấn đất và chôn chân các đơn vị Tổng Trừ Bị tại các tiền đồn.
Ðại tướng Viên đã chỉ thị tướng Ðồng Văn Khuyên lên trình riêng Tổng Thống để rồi không hề nghe được bất cứ một chỉ dấu gì của ông Thiệu cho đến những ngày đau thương 30 tháng 4-1975.

Ba mươi năm trôi qua như một giấc mộng dài. Tháng tư năm 2005 từ San Jose CA, chúng tôi lên thủ đô tổ chức họp mặt anh em chiến hữu trại Trần Hưng Ðạo. Ðây chính là tổng hành dinh của bộ Tổng tham Mưu ngày xưa. Ba mươi năm hội ngộ, gặp lại lần đầu nhưng ai cũng biết đây là lần cuối. Ðại tướng lấy lý do già yếu nên không đến được. Hội họp xong, tôi nhờ trung tá Tâm đưa đến thăm ông.

Tháng tư là tháng không vui mà cảnh trí nơi ông ở trông thật là buồn. Tâm nói rằng, đại tướng rất đúng hẹn và rất nguyên tắc. Khi chúng tôi bước vào phòng khách của khu cao niên Á châu, “Mon General” đã đứng chờ sẵn, quần áo chỉnh tề. Hình ảnh của vị tướng lãnh cao lớn mang 4 sao, áo hoa dù, mũ đỏ không còn nữa.
Image
Ðại tướng của tôi bây giờ là một cụ già tóc bạc lưng còng, vóc dáng nhỏ bé, chỉ còn lại cặp mắt long lanh, và tiếng nói dịu dàng. Chúng tôi ngồi xuống bên nhau nói chuyện không có chủ đề. Trung tá Tâm ngồi một bên luôn luôn để ý săn sóc cho ông cụ.

Bao nhiêu câu hỏi cần tìm hiểu vị niên trưởng mà tôi đã chuẩn bị bây giờ buông xuôi hết. Nào là rút quân, nào là tử thủ, từ chuyện ông Thiệu đến chuyện ông Kỳ, chuyện Mỹ, chuyện Tàu. Trong cái buổi chiều buồn và ảm đạm đó, tôi chợt thấy tất cả đều trở nên vô nghĩa. Toàn quân, toàn dân, cấp trên cấp dưới, bây giờ không quá khứ, chẳng vị lai….
Lời người xưa còn vẳng bên tai : Bại binh chi tướng, bất khả ngôn dũng. Tướng lãnh thua trận, không thể nói mạnh. Bây giờ là tháng tư, 30 năm sau ngồi đây mà đổ tội cho ai. “Nhất tướng công thành, vạn cốt khô”. Mà công thành, có thành công cho cam. Tôi không hỏi và ông cũng chẳng nói. Tôi đưa cả hai tay cho ông nắm thật chặt. Hình như có một lời ca từ 50 năm trước trong bài Tình Lính: Thương nhau, tay nắm lấy bàn tay; Ông nắm thật chặt và Ông bắt đầu giảng cho tôi về Thiền Tông và Phật Pháp. Chẳng có thu thanh, thu hình phỏng vấn gì cả.
Hai mươi năm chinh chiến điêu linh và ba mươi năm lưu lạc tù đầy của cả đạo quân nay bỏ qua một bên để ngồi bàn về đường đi của Phật. Trước khi chia tay, tôi ngỏ lời xin đại tướng một di vật cho viện Bảo tàng. Ông nói: Tôi có còn gì đâu. Bèn hỏi rằng hôm niên trưởng ra đi đem theo cái gì. Ông cho biết có cầm cái cặp. Bên trong có cuốn sách viết về đạo Phật.
Tôi xin ông cuốn sách đó, có bút tự ghi dấu của đại tướng. Quay sang anh Tâm, tôi xin xác nhận, khi nào… Chúng tôi ra xe, ông cụ đứng ngó theo… Giữa những người lính trẻ ngày xưa, cuộc ra đi nào cũng có thể là lần cuối. Bây giờ chúng tôi là những người lính già, chắc chắn phải hẹn nhau gặp lại ở nơi khác.

Lần cuối. ( Tháng Giêng 2008 )
Giây phút .. khi nào.. đã đến. Ðại tướng Cao văn Viên ra đi ngày 22 tháng 1 năm 2008 tại Fairfax, VA. cũng không xa nơi ông cư ngụ những ngày sau cùng. Gia đình tuy đơn chiếc nhưng chiến hữu rất đông đảo.
Những vị niên trưởng lừng lẫy của tôi, quý vị do thời thế tạo nên. Lúc còn trẻ tôi có thể đã kỳ vọng và trách cứ quý vị rất nhiều, nhưng bây giờ cấp dưới chúng tôi cũng già rồi, tôi đã suy nghĩ khác đi nhiều. Quả thực chúng ta không thay đổi được định mệnh và không vượt qua được thời thế. Tôi cũng đã từng là anh Thiếu Úy trẻ Bắc kỳ của mùa thu 54, bây giờ cũng đã cao niên như mọi người. Tôi bao dung với chính tấm thân già của mình.
Nhìn cuộc đời nhẹ nhàng hơn và tôi thông cảm với niên trưởng Cao Văn Viên. Tôi vẫn hình dung những buổi chào cờ đầu năm ở Bộ Tổng Tham Mưu. Lá cờ sao của Ðại Tướng Tổng Tư Lệnh bay trên nhà lầu chính. Tướng Cao Văn Viên đội mũ đỏ, áo hoa dù đứng giữa hàng quân để đọc nhật lệnh tại Vũ Ðình Trường Tổng Tham Mưu mênh mông. Hàng chục ông tướng xếp hàng ngang. Trên 50 cấp Ðại Tá xếp hàng dọc. Các sĩ quan, HSQ và binh sĩ của các phòng sở với đủ mọi loại quân phục Liên Quân. Bên trái
là đoàn xe với quân cảnh hộ tống thật uy nghi lẫm liệt. Phía xa là trực thăng riêng đậu chờ sẵn.

Cách đó thật xa hơn nữa về cả không gian lẫn thời gian là hình ảnh Trung úy Cao Văn Viên trẻ trung của Secteur Hưng Yên trên chiến trường Bắc Việt. Rồi đến những ngày qua khi niên trưởng Cao Văn Viên sống một mình từ Nữu Ước đến DC. Ông chậm chạp đi bộ từ chợ về nhà, leo lên lầu hai của căn phòng nhỏ, tự mình chuẩn bị bữa ăn. Sáng nay ông ăn món gì? Bánh mì trứng hay trứng bánh mì? Ông có uống sữa hay không? Ông còn nhớ gì đến chuyện di tản ở miền Bắc 54
Chuyện di tản ở miền Nam 75. Trung úy Thiệu ngày xưa nay đã đi xa rồi, Ðại úy Khiêm ngày xưa vẫn im lìm như thuở nào. Và Trung úy Viên ngày xưa mãi mãi vẫn cô đơn. Tuổi trẻ và danh vọng rồi cũng qua đi. Ai rồi cũng chỉ còn lại một mình. Khi ra đi lần cuối cũng chỉ có một mình.

Tất cả quý niên trưởng và chúng tôi ai cũng muốn sống lại cái thời đeo lon cấp Úy của tuổi hoa niên. Phải mà được làm lại từ đầu thì chúng ta sẽ làm biết bao nhiêu điều tử tế hơn, đẹp đẽ hơn, cho bản thân, cho chiến hữu và cho đất nước.“Tuổi hoa niên cùng mặc áo chinh y. Lòng mở rộng giữa dòng đời ấm áp. Tám mươi năm, kiếp người như gió thoảng. Chiều cô đơn về chậm hồn cao niên.”

Giao Chỉ – San Jose
Mùa Ðông 2008
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Hai người bạn
- Có phải Đức “cụt”, Đại úy dù đấy không ? Thiệu đây. Thiệu cũng ở nhẩy dù, ngày trước thường đi với Tùng, Phát, Nhân. Nhóm tụi mình 5 đứa, có một thời mài mòn gót giầy trên đường Tự Do từ La Pagode đến Majestic, nhớ không ? Bao nhiêu năm rồi mà mày vẫn thế. Vẫn Django như thưở nào. Ê ! thằng con trai đứng dậy, đi nhậu !

Thiệu cố gợi thêm một vài kỷ niệm nữa nhưng Đức vẫn im lặng. Anh thản nhiên duỗi dài chiếc chân lành lặn gác lên ống quần của chiếc chân cụt, những ngón tay của cánh tay lành lặn kẹp điếu thuốc lá, thỉnh thoảng đưa lên môi nhắp nhắp. Chỗ anh dựa lưng là hàng rào của nhà ga xe lửa dơ bẩn đầy ruồi nhặng rác rưởi và tàn thuốc.

Thiệu biết rõ bạn đã nhận ra mình nhưng chắc có vấn đề. Không lấy thế làm buồn, anh không ngần ngại ngồi bệt xuống bên cạnh, quàng tay qua cổ bạn, nắn bóp chiếc vai gầy. Phe phẩy ống tay áo của cánh tay cụt đuổi ruồi, Đức há miệng ngáp rồi nhắm mắt vờ tọa thiền.

Tôn trọng bạn, Thiệu cũng không nói thêm lời nào.
Cả hai cứ giữ tư thế đó không biết bao lâu. Mỗi người theo đuổi ý nghĩ riêng.

Thiệu từ Mỹ về đưa đám người anh ruột vừa qua đời.
Ngay ngày đầu tiên anh đã tình cờ nhìn thấy Đức khi chiếc xe Taxi chở anh bị kẹt cứng giữa rừng xe đủ loại gần nhà ga. Anh tự hẹn sẽ phải trở lại tìm bạn sau tang lễ.

Đây là lần thứ ba về VN. Lần nào anh cũng có cảm tưởng mình là một người ngoại quốc ngay trên đất nước mình.
Tuy ở Mỹ gần hai chục năm nhưng công việc trong hãng xưởng không đòi hỏi phải nói nhiều nên tiếng Anh của anh chỉ đủ ăn đong. Tất cả mọi chuyện giao dịch, chợ búa, mua sắm đều có người VN phục vụ vì thế sống trên đất Mỹ nhưng Thiệu vẫn thấy mình giống như một “Ba Tầu Chợ Lớn trong khu Chợ lớn”.

Về VN anh ăn mặc rất xuềnh xoàng, nói tiếng Việt, âm hơi quê của dân miền Bắc, nhưng đi đâu cũng bị nhận diện là Việt kiều. Có người quen nói với anh rằng Việt kiều có “mùi” khang khác, không dấu được. Anh cười ruồi, cho rằng khéo tưởng tượng. Bây giờ anh mới thấy có lý khi bỗng nhiên Đức mở miệng nói trống không:
- Ông Việt kiều vinh quy bái tổ. Hừm…hừm…tốt, tốt. Đi chỗ khác tìm lọng rước vài nàng về dinh mà trả thù dân tộc. Đất nước này chỉ có chỗ cho ăn mày, không có chỗ cho ông Việt kiều bảnh chọe.
- Đức ! Tao là bạn mày. Tại sao mày nói vậy ? Mấy chục năm rồi nhưng tính tao có đổi thay đâu. Ừ, tao không dấu mày, tao ở Mỹ về nhưng tao không phải là loại “Việt kiều yêu nước” như mày nghĩ. Tao là một người VN có hộ khẩu ở nước ngoài. Mày biết đó, người ta cắt hộ khẩu của tao ở đây khi tao đi tù về, tao phải tìm cách mưu sinh thoát hiểm chứ. Tao chỉ là thằng thợ tiện ở xứ người chứ có làm cha chú gì đâu mà vinh quy bái tổ. Chưa bao giờ tao nhận Hoa Kỳ làm quê hương. Tao là người VN. Đất nước này là của mọi người VN, kể cả những thằng nguỵ như mày và tao. Tổ quốc VN không của riêng ai. Tổ quốc VN ở trong máu thịt của tao, không ai có quyền tước bỏ.

Đức đã trầm ngâm lại càng trầm ngâm. Anh móc bao thuốc, xoóc xoóc rất thiện nghệ, một điếu lòi khỏi miệng bao vừa đủ để lấy răng cắn kéo ra.
Thiệu mò túi áo bạn, tìm hộp quẹt, châm lửa.
Đức nhưóng mắt lên, nhìn thẳng vào mặt bạn, bỗng chửi thề: – Đ.M thằng con trai nhảy dù. Nhảy dù_ _ nhảy dù, cố gắng !_ _ cố gắng !

Biết bạn mình đã vui vẻ trở lại, Thiệu ôm chầm lấy bạn, lắc mạnh: – Nhẩy dù_ _ nhẩy dù, chỉ biết_ _ chạy bộ, không biết_ _ đi xe. Nhẩy dù_ _ nhẩy dù, một ngày_ _ là bạn, một đời_ _ là bạn.
Cả hai ôm nhau, đấm nhá nhau, cùng phá lên cười nắc nẻ.

Đức lấy tay gỡ chiếc kính cận thị xậm màu, dụi mặt vào vai áo của cánh tay cụt.
Thiệu cũng xúc động như bạn, nói như mếu: – Nhẩy dù_ _nhẩy dù, không biết_ _ khóc nhè, chỉ biết_ _ sụt sịt. Thôi, để tao đỡ mày dậy, tụi mình lại đi bụi đời như ngày xưa. Sống với nhau được phút nào thì cố tận hưởng phút ấy. Tụi mình đã già. Đừng để phí thời gian. Tao chỉ ở chơi với mày ngày hôm nay thôi. Ngày mai lại phải về Mỹ để tiếp tục kiếp trâu cày.

Quán vắng. Những lon bia, những tràng cười sảng khoái. Đôi bạn có biết bao nhiêu chuyện để hàn huyên. Hỏi thăm nhau tin tức từng người bạn cũ.
- Thế còn mày ? Tại sao mày không về quê sống với ông bà già mà lại chấp nhận sống ở vỉa hè ? Dẫu sao cha mẹ cũng vẫn là chỗ tựa vững chắc nhất trong mọi hoàn cảnh. Có cha mẹ nào bỏ con bao giờ đâu.
- Chuyện của tao dài như truyện dài nhiều tập. Từ từ tao sẽ kể. Mày hãy nói về mày trước đi.
- Tao…ơ. Đơn giản lắm. Trình diện học tập ở trường Taberd rồi được đưa đi nhốt trong các trại tù Long Khánh, Suối máu Hàm Tân, và sau cùng là Hóc Môn. Ở tù khoảng 6 năm. Ra tù không hộ khẩu, không việc làm. Sống lây lất nhờ chợ trời. Tối lẻn về ngủ tại nhà ông anh ruột ở bên quận 8 mà tao vừa đưa đám hôm qua.

Móc nối được với một tên anh chị bến tầu, hắn gởi đám “canh me” nhét lên chiếc tầu vượt biên. Biển êm sóng lặng, sau 3 ngày 4 đêm tới Bidong Mã Lai. Ăn cơm Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc được 13 tháng thì qua Mỹ.

Hội nhà thờ bảo lãnh. Được cho học nghề Tool & Die rồi đi làm. Lâu lâu bị layoff, xin trợ cấp thất nghiệp. Hết hạn thì vác đơn tìm việc chỗ khác. Cái vòng luẩn quẩn cứ như thế kéo dài đến gần hai chục năm. Không giàu có nhưng cũng không đến nỗi mạt rệp. Cái thằng đế quốc sừng sỏ nhất thế giới không dám để ai chết rét chết đói trên đất nước nó nên tao vẫn sống nhăn răng để được gặp lại mày ngày hôm nay.
Chuyện vợ con ư ? Thứ đồ xa sỉ phẩm không bao giờ tao nghĩ tới nữa. Lúc ở đảo, ghép form với một em độc thân có hai con để cùng đi Mỹ. Chịu đựng nhau được gần mười năm thì rã. Tiêu tán hết môt gia tài nhỏ. Ở giá từ đó.

Gãi mãi chỗ lăn tăn chán chê thì cách đây vài năm duyên trời dung dủi gặp một bà nạ giòng làm nghề tóc, quen từ hồi chuyển đến nhà mới. Thỉnh thoảng rủ nhau đi ăn cơm chiều, rồi tối rủ nhau về nhà…gãi ngứa cho nhau. Cũng xong !
Tao chỉ còn ở ngoài quậy được ít năm nữa là phải đáo Nursing Home.
Còn mày sao ? Thật ra tao vẫn chưa biết gì nhiều về mày trước 75. Đi chơi với nhau nhưng tao không dám đụng đến những vấn đề tế nhị nên không hỏi. Bây giờ nếu muốn mày có thể nói.
- Mày nhớ cái thời các ông tướng trẻ làm loạn trên chính trường không ? Lúc đó tao là một trong những sinh viên tranh đấu của Đại Học Huế. Những con cừu non như tụi tao bị tổ chức nằm vùng khai thác triệt để. Chúng lợi dụng lòng nhiệt thành và máu nóng của tuổi trẻ, thổi phồng một cuộc cách mạng xã hội, xô đẩy tụi tao vào những cuộc biểu tình bạo động nguy hiểm.
Tao bỏ học và thi rớt liên tiếp 2 năm nên không đủ điều kiện để được tiếp tục hoãn dịch. Bị chính quyền bắt lính và đưa đi thụ huấn quân trường Đồng Đế, trừng phạt tội ngu xuẩn, rồi được gắn một chiếc “cánh gà chiên bơ”.
Tao vào nhảy dù, được cho đi học khóa bổ túc sĩ quan, tham gia đủ mọi cuộc hành quân lớn nhỏ của binh chủng.
Lần cuối trở về, không chết nhưng bỏ quên một cánh tay và một ống chân ở hỏa ngục Đông Hà cho chó sói gậm.
Mạ tao khóc, em tao khóc nhưng tao không khóc.
Tao chỉ nghẹn ngào khi được biết mối tình tưởng như vô vọng của tao trước đó thật ra là một mối tình đáng lẽ phải tuyệt đẹp.
Nga, người con gái tao thầm yêu, vào Tổng Y Viện Duy Tân thăm lúc toàn thân tao đầy băng bó, ẻn thú thật tình yêu chân thành giành cho tao ngay từ phút đầu gặp gỡ. Vì cả hai đều nhút nhát, hiểu lầm nên tụi tao đã đánh mất cơ hội. Tao đã làm lỡ làng đời tao và tao cũng phá vỡ duyên phận đời nàng, dù ẻn hứa sẽ chờ đợi tao vô thời hạn.
Đó là mối tình lớn và duy nhất trong đời tao. Suốt đời, tao không còn yêu ai. Nghe nói ẻn cũng thế.
Để tránh cái thế khó xử cho người con gái đương độ xuân thì, tao để lại cho ẻn trái tim rỉ máu mà đạn thù bắn không thủng, vào Saigon sống lang thang và gặp tụi mày.
- Ừ, ngày đó miền Nam đang sôi động với chiến cuộc nhưng Saigon vẫn đèn xanh đèn đỏ và nhạc vàng.
Một lần tao, thằng Tùng, thằng Phát và thằng Nhân đã ngà ngà, ghé vào “Quán Gió” trên đường Võ Tánh kiếm ly café giải nghể. Quán nhỏ, tối, có dàn nhạc dã chiến để các ca sĩ tài tử tự diễn.
Có một giọng ca khàn đục, nhừa nhựa khói thuốc, uể oải cất lên từ một người lính dù cao gầy, hai nách cặp đôi nạng gỗ, dáng đứng rất Django, một cánh tay cụt một chiếc chân cụt, áo bỏ ngoài quần, không lon lá, nón béret đỏ vắt cầu vai, mắt đeo kính cận đen. Tao nhớ mãi lời hát:

Xin cho mây che đủ phận người
Xin cho tôi một sáng trời vui
Xin cho tôi đến tận nụ cười
Cho tôi quên một nấm mộ tươi
Xin cho tôi xin vạn lần rồi
Một góc này chỉ biết rong chơi
Xin cho tôi yên phận này thôi
Xin cho tôi yên ngủ một ngày
Xin cho đêm không có đạn bay
Xin cho chim góp nhạc về trời
Xin cho tôi là kiếp của mây
Xin cho tôi ra khỏi cuộc đời
Để bao giờ trời đất yên vui
Xin cho tôi xin lại cuộc đời
Cho tôi đi xây lại chuyện tình
Cho tôi đi nâng dậy hòa bình
Cho tôi đi qua tận gập ghềnh
Nhìn giòng máu trong tim anh
Cho tôi xin tay mẹ nồng nàn
Cho tôi nghe chân trẻ rộn ràng
Cho quê hương giấc ngủ thật hiền
Rồi từ đó tôi yêu em
Xin cho tôi nguyên vẹn hình hài
Cho tôi nghe lời hát cỏ cây
Xin cho tôi quên phận tù đầy
Xin cho tôi là thoáng rượu cay
Xin cho tôi xin cả cuộc đời
Một hôm nào trẻ hát trong nôi
Xin cho tôi xin chỉ một ngày
Đó chính là mày. Một thằng lính bụi như tụi tao.


Thú thật với mày lúc đó tao muốn vò nát xé rách cái màn đêm bao quanh, cào cấu da thịt, tự hành xác cho thật đau đớn. Mày đã đưa tao đến chỗ tận cùng của cảm giác.
Sau đó mày tìm đến bàn tụi tao, kéo ghế ngồi như đã quen biết từ lâu. Tự giới thiệu Đức cụt, quan ba dù. Chữ “cụt” mày nói thật tự nhiên, có một chút hãnh diện. Thằng Nhân quan ba tầu bay chỉ từng đứa giới thiệu, Thiệu quan một Trinh Sát dù, Tùng quan hai TĐ81/BCND LLĐB, Phát quan hai TQLC.
Tụi mình thân nhau thật dễ dàng. Năm đứa kéo nhau đi uống tiếp ở bar Crazy Horse trên đường Tự Do.

Thấy một thằng Mỹ trắng to lớn đang đùa giỡn nham nhở với đám chiêu đãi viên, tao nổi điên xô ghế đá bàn đấm cho cu cậu một cú trời giáng rồi đá ra khỏi bar. Tội nghiệp cu cậu, không dám đánh trả chỉ thụ động đỡ đòn. Lần đó tao bị nhốt tù TTM ba ngày và lãnh năm củ.

- Nhớ rồi. Mấy tháng sau đó con chuồn chuồn sắt của thằng Nhân bị B40 bắn rơi. Tao đưa vợ nó đến Phi đoàn 247 Trực thăng Biên Hòa để được hướng dẫn đi nhận xác. Nó cháy đen, mỡ vàng ứa ra từ những vết nứt, chân tay co rút quắp lại trong thế ngồi, không nhận diện được mặt mũi. Vợ nó, mắt lạc thần, thẫn thờ ôm cứng xác chồng, cho đến lúc tẩm liệm vẫn không khóc. Chị biết cái ngày phải đến đã đến.

Ngưới ta bằng lòng cho chị được mang xác về thăm nhà 24 giờ. Chỉ 24 giờ phép rồi phải trả nó vĩnh viễn về đơn vị mới cùng với các chiến hữu đã giã từ vũ khí và với giun dế của Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa.

Tao chưa thấy một phụ nữ nào can đảm như vợ nó. Chị là một cựu hoa khôi Trưng Vương. Yêu nó chị bỏ cả học bổng du học New Zealand, chấp nhận ở lại làm chinh phụ rồi quả phụ. Nghe nói bây giờ chị là Giáo Sư đại học ở Pháp, vẫn đẹp não nề và nhất định không tái giá.
Đêm đó, tao thức canh quan tài. Nhìn vợ nó, áo xô trắng, đầu quấn khăn tang, tay vân vê chiếc áo bay của chồng, xúc cảm trào dâng trong tao. Vịn vai chị, tao hát nho nhỏ :

Hôm nay đi nhận xác chồng
Say đi để thấy mình không là mình
Hôm nay đi nhận xác anh
Cuồng si thuở ấy, hiển linh bây giờ
Cao nguyên hoang lạnh ơ hờ
Như môi góa phụ nhạt mờ vết son
Tình ta không thể vuông tròn
Say đi mà tưởng như còn người yêu
Phi cơ đáp xuống một chiều
Khung mây bàng bạc mang nhiều xót xa
Dài hơi hát khúc thương ca
Thân côi khép kín trong tà áo đen
Chao ôi! thèm nụ hôn quen
Chong đèn, hẹn sẽ đêm đêm đợi chờ
Bây giờ anh phủ mầu cờ
Bây giờ anh phủ mầu cờ
Em không nhìn được xác chàng
Anh lên lon giữa hai hàng nến trong
Mùi hương cứ tưởng hơi chàng
Ôm mồ cứ tưởng ôm vòng người yêu

Tao chưa dứt bài hát thì chị bật òa lên khóc nức nở. Nước mắt ứ đọng từ bao lâu tuôn trào, ướt đẫm áo chồng. Tao cũng không cầm được nước mắt, lọc cọc nhảy ra ngoài trốn cái không khí thê lương.
Buổi sáng hôm sau có mày và Phát. Tùng bận hành quân không liên lạc được.
Sau đợt kinh cầu siêu của vị Đại Đức già, Phát lấy ly rượu cúng chia mỗi thằng uống một hớp, còn lại định đổ lên nắp quan tài thì vợ Nhân giật lấy uống cạn rồi úp ly. Chị nói, em uống thay cho Nhân đây, em say giùm cho Nhân nhé, Nhân ơi, em muốn say mãi đừng tỉnh. Chị khuỳnh tay y hệt dáng điệu thằng Nhân, nói với tụi mình bằng giọng trầm chậm rãi đúng giọng của thằng Nhân, tụi bay làm gì đến nhà tao đông thế, em ơi mở chai Hennessy rót cho mấy thằng bạn trời đánh của anh đi, anh đang bay không được phép uống rượu.

Thiệu ạ, tao lạnh mình vì ngỡ thằng Nhân nhập xác vợ hoặc giả chị đã hóa điên hóa dại rồi chăng.
Cả ba thằng thắp nhang vái nó, rồi giơ tay lên trán chào kiểu nhà binh trước di ảnh, cùng hẹn tái ngộ một ngày nào đó khi “tới số”.
Tội nghiệp thằng Phát, không biết giờ này ở đâu ? Không ai biết rõ tin tức của nó sau ngày gãy súng. Phường khóm đồn rằng nó vượt trại tù và bị bắn chết nhưng không được xác nhận. Có lẽ nó và thằng Nhân quanh quẩn đâu đây bên cạnh mình mà mình không thể thấy không chừng?
Thằng Tùng sướng nhất, ông chú nó nói, qua Mỹ nó học Dược và trở thành “ông Dược Sĩ”. Mày có gặp nó ở Mỹ không ? Không thấy mặt mũi nó bén mảng về VN.

- Nó tuyệt tích giang hồ từ lâu. Thằng Tùng vui lắm. Nó kể mỗi lần mày nhậu la de và khi bắt đầu lè nhè ngâm nga, tui xin các bạn đừng cười, tui đi tháo nước trong người tui ra, là nó biết điều đứng dậy, cho mày kẹp cổ thay đôi nạng dẫn đi toilet. Nó phải kéo fermeture quần cho mày, móc thằng nhỏ ra cầm cho mày đái, xong phải vẩy vẩy trước khi nhét vào lại trong quần. Nó nói đào của nó mà biết được chắc sẽ khóc thét lên vì mày không mấy khi cho nó được đi rửa tay…
- Sau 1975, chuyện tình của tao tưởng rằng hợp nhưng rồi lại tan. Nga tìm đến tao, rủ vượt biên.
Thất bại. Tao không có chân chạy khi bị bể bãi nên thoát. Du kích, công an mải xua bắt những người cố trốn chạy, bỏ quên tao.
Nga bị bắt, được cán bộ bảo lãnh ra, rồi lấy hắn.
Tao bị ném vào lòng hè phố từ đó. Tao sống sót và “trưởng thành” bất đắc dĩ từ cái xã hội đen kinh khiếp ấy. Không có mùi vị chua chát nào của cuộc đời mà tao không nếm qua. Tao không sợ vì tao chẳng còn gì để sợ. Nếu tao nói với một tên đầu gấu hoặc đại bàng nào đó, tao muốn ăn thua đủ thì nó biết tao nói thật và chào thua, mặc dù chỉ với một cú đấm nó có thể hóa kiếp tao nhưng không đứa nào dám thử. Tao liều mạng nên tụi nó không đổi mạng. Công an phường hành hạ tao chán rồi cũng buông tha.
Có một thời gian dài chân tao bị đau nhức không cựa quậy được.
Tao muốn tự giải thoát. Nhưng nợ trần gian không dễ quịt nên chưa được gặp Lucifer.

Vào bệnh viện đa khoa quận nhất, bị đuổi ra vì không có sổ khám bệnh. May gặp một ông Bác Sĩ mới học tập cải tạo về nhận là thân nhân. Mày biết Y Sĩ Đại Úy Tuấn, có bằng huấn luyện viên dù, trước ở bệnh xá Đỗ Vinh không? Ổng kết nghĩa anh em với tao sau đó và giúp đỡ tao tận tình.
Tao không có tiêu chuẩn được mua tại các hiệu thuốc quốc doanh nên ổng bỏ tiền túi mua các loại thần dược giảm đau rất đắt ở các nhà thuốc tư. Tội nghiệp, ổng nặng gánh gia đình, lại không khá giả, phải cưu mang tao nữa nên đôi khi phải cầu viện các bạn bè ở nước ngoài. Những tên thuốc như Oxycodone, Morphine, Codeine…không xa lạ gì với tao.
Bị chân hành hạ và phải uống thuốc với liều lượng mỗi ngày mỗi tăng, tao đã bao lần làm ổng phải vò đầu bứt tóc vì ổng biết tao dùng thuốc không theo chỉ định và đã nghiện lậm. Thương ổng tao thề không uống thuốc nữa, nhưng khi thấy tao quằn quại đánh vật với cơn đau thì chính ổng lại đưa thuốc cho tao uống.

Ngày ông đi HO qua Mỹ tao lết ra tận Tân Sơn Nhất tiễn. Tao đã mất một người anh, một ân nhân và một người bạn chân thành.
Không thuốc, tao sa vào thế giới mới, thế giới của những con ma chích choác. Ông Tuấn từ bên Mỹ nghe tin buồn lắm, gởi thơ về khuyên nhủ và nhờ một đàn em trong nghề, BS Châu, đến tìm tao và bắt tao đi cai. Chết lên chết xuống, nhập viện xuất viện không biết bao nhiêu lần, cuối cùng với sự kiên nhẫn bền bỉ, BS Châu đã giúp tao thành công.

- Tao mừng cho mày đã gặp được những “Lương Y như huynh đệ” chứ không phải thứ “Luơng Y như từ mẫu ghẻ”.
Họ tốt quá làm tao đâm ra có mặc cảm tội lỗi vì xưa nay đã chẳng bao giờ nghĩ đến cái bổn phận hay trách nhiệm của những người Việt Nam may mắn sau cuộc chiến.
Có ai muốn mua một cái chân hoặc một cánh tay của tao với giá bạc triệu đô la tao cũng không bán. Có ai gắn cho tao lon Đại tướng để đổi lấy một chiếc chân cụt, tao cũng không ham. Ấy thế mà mày đã tặng không cho đời một cánh tay và một ống chân, để trở thành người tàn phế cùng khổ nhất của xã hội. Đời thật bất công với mày.
Có mấy ai còn nhớ đến những “anh hùng què cụt đui mù sứt mẻ” đã vác thập tự giá cho họ?
Chưa đủ ô nhục, mày còn được đương nhiên đại diện cho toàn gia họ Ngụy, trong và ngoài nước, nhận lãnh những đòn thù của tiểu nhân quất trên tinh thần và thân xác què quặt của mày.
Đời sống vật chất dư thừa chỉ làm cho tao no thân ấm cật, ích kỷ. Tao có xin lỗi mày ngàn lần thì mày cũng không nhận, tao biết, bởi vì mày vẫn còn giữ cái khí khái của một quân nhân.
Mày đã chấp nhận mọi hoàn cảnh tệ mạt nhất mà không xin xỏ lòng thương hại.
Sống trong một môi trường nặng trĩu hận thù đầy kỳ thị, và trong một thân thể chỉ còn lại một nửa, tao không hiểu làm sao mày có thể sống sót đến ngày nay.
- Đó cũng là nhờ anh em phế binh tụi tao luôn luôn nâng đỡ tinh thần nhau, cùng chia đói chia no trong tình huynh đệ chi binh. Một thằng ngã có mười thằng nâng. Tụi tao vẫn hiên ngang chống nạng đi thẳng ngửng mặt nhìn trời.
Có người hỏi tụi tao, thương binh bộ đội cầm lựu đạn đi các hàng quán “xin đểu”, làm ăn rất khấm khá, tại sao tụi mày không bắt chước ? Cái tay cụt, cái chân què của thằng bộ đội hay của thằng nguỵ có gì khác, ai hỏi giấy ? Tụi tao không làm được, dù có cầm lựu đạn giả đe dọa. Đồng bào mình mà mày, nỡ nào kiếm sống bằng khủng bố. Hèn lắm.

Đức dẫn bạn đến vườn Tao Đàn, chọn một gốc cây cổ thụ phía đường Nguyễn Du, trải tấm giấy dầu, bỏ cặp nạng sau lưng, ngồi xuống. Thiệu ngồi đối diện, cách hơi xa một chút. Đức hát vu vơ một vài câu rồi bắt đầu đi vào bài bản. Những bản nhạc thời chiến đưa Thiệu về với quá khứ, nhắc bao kỷ niệm. Anh ngả người nhắm mắt, chống tay ra sau, nuốt từng lời ca của bạn. Đức hát say mê. Giọng rất chuyên nghiệp và truyền cảm, anh có âm vực rất rộng, xuống thấp lên cao rất ngọt, không bị gãy. Tiếng láy tròn trịa. Độc đáo hơn nữa, anh biết giả tiếng đàn guitar. Âm thanh phát ra từ cổ họng nghe hệt tiếng đàn điện.

Nghe có tiếng vỗ tay lộp bộp, Thiệu mở mắt. Có vài người khách đứng hai bên anh. Họ lần lượt bước lên bỏ tiền vào túi áo Đức. Một người khách để tiền kẹp dưới chiếc nạng gỗ, anh không nhận. Biết điều ông khách xin lỗi, nhặt lên bỏ lại vào túi Đức.
Trọn một ngày đi chơi với bạn, Thiệu hơi mệt vì không quen cái nóng ẩm và ô nhiễm khó chịu của Saigon. Tuy nhiên anh rất vui. Lúc từ giã cả hai đều bịn rịn. Anh hứa kỳ tới sẽ ở chơi lâu hơn để nghe cho hết truyện dài nhiều tập của bạn. Đức nói, chân tao bây giờ yếu lắm, không thể đứng hoặc ngồi lâu, tao không thể lên phi trường tiễn mày được. Thôi chúc mày đi thượng lộ bình an.
* * *
Về Mỹ, Thiệu vẫn nhớ lời hứa. Anh thương bạn đã già mà vẫn phải lê lết trên vỉa hè, trong công viên. Trước mắt, nó phải có một chiếc xe lăn, anh thầm nghĩ, sau đó mới tính tới chuyện khác.
Thiệu bỏ ra hẳn một tuần lễ tìm kiếm một chiếc xe lăn thích hợp cho bạn.
Anh tham khảo ý kiến của các Bác Sĩ VN chuyên khoa về phục hồi và vật lý trị liệu. Họ giới thiệu, cho anh chi tiết để so sánh giữa những tiện lợi và bất tiện lợi của hai loại electric wheelchair và electric scooter.
Đức là dân của đường phố nhưng lại có những giới hạn của thể chất, tay đã run, chân rất yếu, nên hơi khó chọn lựa.
Cuối cùng anh ra ngân hàng vét gần hết tiền trong trương mục tiết kiệm, quyết định mua chiếc electric wheelchair vì dễ xử dụng bằng những ngón tay, giữ thăng bằng tốt hơn, ghế ngồi tự động điều chỉnh độ cao thấp, và có thể bật ngửa lưng tựa ra phía sau kéo dài chân tựa ra phía trước làm thành một ghế nằm khá thoải mái.
Thiệu sửa sọan cho một chuyến đi mới, chọn ngày đến VN đúng sinh nhật của Đức.
** *
Sau gần 23 tiếng đồng hồ cưỡi mây lướt gió, chiếc máy bay của hãng hàng không United thả hành khách xuống phi trường TSN đúng hẹn. Làm thủ tục nhận lãnh hàng khá lâu.

Về đến nhà nguời anh thì đã quá trưa. Thiệu tắm rửa sơ sài, thay quần áo ngắn.
Anh mang chiếc xe lăn đến một nhà hàng trên đường Phạm Ngũ Lão chuyên tổ chức tiệc sinh nhật, nhờ nhân viên gói hộ. Đặt một phòng nhỏ phía trong kín đáo, hàng chữ “mừng sinh nhật Đức cụt” đơn giản được chọn, giăng ngang cửa.

Xong xuôi anh thả bộ đến khu nhà ga tìm Đức. Không gặp bạn, anh đi quanh quẩn hỏi thăm. Gã lái xe ôm nhanh nhẩu đề nghị anh lên xe, tìm giúp. Hơn một giờ chạy cùng khắp thì thấy Đức đứng dựa góc tường phía sau hông nhà thờ Đức Bà. Anh vừa hút thuốc vừa hát vu vơ không thành lời. Khán thính gỉa của anh là một đám trẻ bụi đời.

Có nhiều tiếng lao sao, tiếng con nhỏ bán vé số rõ nhất:
- Chú hát bài “anh không chết đâu anh, người anh hùng mũ đỏ tên Đương” đi chú. Hôm trước chú hát bài ấy có ông khách mua cho con một tập vé số mà hổng nhận vé, biểu con đưa cho chú nhưng chú sỉn quá con sợ tụi xóm Chà lại móc túi chú nên hôm nay con mới đưa. Chú hát đi rồi con đưa, bài đó hay lắm đó chú.
Đức không chần chừ hát liền.
Con bé trông hơi lem luốc nhưng có đôi mắt sáng tròn xoe nổi bật trên khuôn mặt thanh tú dễ nhìn. Nó ngồi chống cằm nghe như người lớn. Thiệu lẳng lặng đến ngồi sau nó, hôn lên mái tóc khét mùi nắng, nói:
- Cháu ơi, chú mua cho cháu 2 tập vé số. Một tập chú tặng cho cháu, giữ lấy đừng bán, chờ ngày xổ, nếu may mắn sẽ đổi đời, mai mốt biết đâu cháu sẽ trở thành hoa hậu ? Một tập cháu mang cho chú Đức nói với chú có một người khách hâm mộ tiếng hát của chú muốn mời chú đi ăn cơm chiều nay. Chú cũng mời tất cả các cháu ở đây đi luôn.

Cả bọn vỗ tay reo mừng, nhưng có 3 đứa cúi mặt lững thững bỏ đi. Thiệu gọi giật lại, hỏi lý do. Cả 3 im lặng. Gặng mãi, đứa lớn nhất trả lời lí nhí, tụi con mắc đi bán, nếu không đủ tiền mang về tối nay má đánh đòn đau lắm. Thiệu an ủi, các cháu đừng lo, còn thiếu bao nhiêu chú sẽ bù đắp, cứ đi chơi chung với các bạn, chịu không ? 3 đứa quệt nước mắt, gật đầu.

Cả bọn kéo nhau lên ngồi chật cứng chiếc xe Taxi minivan Mercedes 10 chỗ. Tên tài xế tỏ vẻ khó chịu. Thiệu làm bộ không chú ý, ra lệnh lái thẳng đến nhà hàng Phạm Ngũ Lão.
Một đứa biết đọc chữ reo lên:
-Tụi bay ơi, coi kìa, hôm nay là ngày sinh nhật của chú Đức cụt. Chú Đức sướng quá ta !
Con bé bán vé số có đôi mắt sáng ra vẻ sành sỏi:
- Chú Việt kiều này là bạn chú Đức đó tụi bay. Mấy chú công an hổng ưa chú Đức nhưng tụi mình ai cũng thương chú hết. Hôm nào có tiền chú còn bao tao uống nước mía, nước xí muội, nước đá chanh nữa. Chú biểu tao là con gái nuôi của chú đó.
- Con nhỏ này xí xọn, bộ tụi tao không biết chú Đức, chỉ có mình mày biết chú thôi hả ? Tao còn biết có mấy ông sang lắm có xe hơi mời chú mà chú chê đó tụi bay.
Bữa tiệc không có món gì đặc biệt nhưng tất cả ăn rất ngon miệng. Các đĩa đồ ăn được thanh toán gọn sạch, không một chút dư thừa. Đến phần cuối, cắt bánh, lũ trẻ reo hò như ong vỡ tổ. Đức cảm động vịn bàn đứng dậy cầm dao, tay run run không cắt nổi miếng bánh. Thiệu hô lên:
- Con gái nuôi của Bố Đức đâu, cầm tay giúp Bố cắt bánh coi.
Đức định nói một vài lời gì đó, nhưng Thiệu dơ một ngón tay lên miệng suỵt suỵt:
- Có một thằng lính họ Ngụy chịu ơn trời biển của Đại Úy, đã giải vận hạn cho nó và họ hàng Nguỵ nhà nó bằng cách hy sinh một cánh tay và một cái chân cúng dường cho ma quỷ để tất cả giữ được toàn vẹn thân thể, có một món quà muộn màng gửi đến Đ/U, mong Đ/U hoan hỉ nhận.
Thùng quà được mang ra. Đức xé bao giấy, gục mặt trên chiếc xe lăn, lắp bắp:
- Thiệu, Thiệu có phải tao đang nằm mơ không ?
Thiệu dậy thật sớm, bắt xe ôm đến nhà ga.
Anh tò mò muốn xem khuôn mặt bạn mình lúc còn ngái ngủ nên ẩn mình sau một gốc cây kín đáo thật gần để quan sát.
Đức dậy còn sớm hơn anh, đang tập xử dụng mọi chức năng của chiếc xe lăn chưa bao giờ mơ tưởng. Anh điều khiển cho xe chạy lui chạy tới, quay phải quay trái, quay nửa vòng, quay trọn vòng, thử đủ kiểu, giống một đứa trẻ thử đồ chơi.

Trời còn se lạnh nhưng anh vã mồ hôi. Mệt, anh ngừng lại, hút một điếu thuốc, ngửa mặt lên trời thở khói.
Khuôn mặt sáng lên bởi những tia nắng trong vắt đầu ngày xuyên qua từ cành lá. Thiệu đọc được trên đó nét rạng rỡ. Niềm hạnh phúc đến bất chợt, anh hít một hơi mạnh sảng khoái. Anh biết bạn anh cũng thế. Đức ơi, tao đang chia xẻ hạnh phúc với mày đây. Cái hạnh phúc sao nhỏ bé và mong manh quá. Có phải nó là giọt sương đang đọng trên chiếc lá kia, long lanh như hạt kim cương óng sắc, nhưng chỉ một chốc thôi sẽ tan thành nước ?
Tao sợ, tao sợ. Tao cầu nguyện cho hạnh phúc ở lại với mày. Tao là thằng hoang đạo nhưng tao tự hứa sẽ đi lễ chủ nhật này. Sẽ xưng tội, sẽ dâng lời cầu nguyện cho mày. Sẽ làm tất cả những gì Thiên Chúa muốn để cho mày được sống bình an hết kiếp này.

Mày phải có một đường đi mới không tăm tối, mày cần phải có một lòng tin.
Con “Đường Bác Đi ” người ta “tử tế” nhường cho mày hãy để lại phía sau, lấp nó đi đừng để cho người khác dẫm nữa.
Hay là tao sẽ lôi cổ mày vào nhà thờ với tao hoặc tao sẽ hộ tống mày tới cửa chùa, đến với Đức Phật mà mày từng nói Mạ mày rất sùng kính ? Đức ơi, làm ơn dễ dãi một chút, kéo được mày đi đến chốn ấy thì cũng khó như bảo cô dâu đừng trang điểm trong ngày cưới.
Không biết đang nghĩ gì, bỗng nhiên Đức giơ cánh tay không cụt lên cao, rồi vỗ đùi, nhe răng cười hí hửng như đứa trẻ được kẹo.
Thiệu mỉm cười, lắc đầu, nói với mình, thằng con trai cười khó có cảm tình quá, ngày mai chắc phải đưa nó tới Nha sĩ gắn hai chiếc răng khuyết, cho nó có nụ cười Fernandès dễ thương hơn.

Ra khỏi chỗ nấp, Thiệu len lén đứng sau chiếc xe lăn, hét vào tai bạn làm Đức giật mình suýt té xấp: – Đức cụt ! Nhẩy dù_ _nhẩy dù, không thích_ _ bia ôm, chỉ thích_ _ café. Đi uống café với tao !
Nắng lên rất nhanh, chan hòa, ấm áp, không đuổi kịp bước chân và bánh xe reo vui của đôi bạn.

Viết ngày 10 tháng giêng năm 2009
(Cám ơn Milou đã ngoan ngoãn bất thường, không phá Bố )

TCN
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »


Image

Năm Thìn Nói Chuyện Rồng

Kha Lăng Đa

Năm nay là năm Nhâm Thìn 2012, tức là “năm rồng”. Thìn là con giáp thứ 5 trong 12 con giáp và rồng là con vật thứ nhứt trong bộ tứ linh long, lân, qui, phụng.
Rồng là con vật cao quý nhứt. Người xưa chỉ dám so sánh bậc thánh hiền với con Phụng chớ không dám so sánh với rồng. Do đó, rồng được làm biểu tượng cho vua, chúa.

Thiên hạ nghĩ rằng rồng là con vật tưởng tượng, theo truyền thuyết, nhưng người ta cũng phân biệt 2 loại rồng: rồng châu Á và rồng châu Âu.
Rồng Á châu thì hình dạng giống con rắn còn rồng Âu châu thì giống con kỳ nhông (Dragon). Rồng Á châu tượng trưng cho sự cao quí, giúp người (Theo truyền thuyết: rồng lấy nước làm mưa cho mùa màng tươi tốt) còn rồng Âu châu lại là con ác thú, giết hại loài người.
Con Dragon thì có thật. Nó giống như con kỳ đà, thuộc loại thú ăn thịt và có nhiều loại Dragon. Chữ La tinh gọi nó là Draco, chữ Anh, Pháp, ý là Dragon. Có loại Dragon nhỏ như con thằn lằn, có loại lớn như con Dragon Komodo ở đảo Komodo và Indonésia, dài 2m, nặng 150kg ( Tên khoa học là Varamuo Komodoens). Loại Dragon nhỏ hơn có con Dragon volan mà người ta thường gọi là”thằn làn bay”(Physignathus cocinon). Ở miền thượng du Bác Việt của nước ta cũng có loại nầy, tên gọi là ‘rồng đất”, dài khoảng 50cm.
Ở Mỹ có nhiều loại Dragon nhỏ được bày bán trong các tiệm “thú cưng?(Pets).

Hình tượng con rồng thì có từ thời lập quốc của vua Hùng mà người ta gọi là con Giao long ( Rồng của nước Giao chỉ). Thời thượng cổ, con Giao long và nhiều loài thủy quái thường xuất hiện ở khu vục hoang vu của sHCMng, Long Biên và Vịnh Hạ Long, giết hại ngư dân nên dân đánh cá có tục xâm mình (để cho loài thủy quái tưởng là đồng loại, không tấn công họ).
Đến thời Pháp tuộc, loài thủy quái vẫn còn. Ông Oudermans xác nhận rằng người ta đã thấy thủy quái xuất hiện hàng trăm lần trong khoảng 1802-1890. Chính ông đã thấy thủy quái hình con rồng dài khoảng 15 đến 30m, đầu nhỏ, có râu, đưôi dài, có 4 vây to. Nó lội nước, uốn mình như con rắn khổng lồ.
Tháng 7 năm 1897, Ông Lagrisill là thuyền trưởng tàu Avanlanche đã quan sát bằng ống dòm thấy con ròng đang lội. Ông liền cho tàu tới gần và bắn nó bằng súng đại bác, nhưng không trúng. Con rồng lặn mất. Sau khi lặn, nó phun nước lên như cá voi. Năm sau, rồng lại xuất hiện nữa . Như vậy là con Giao long có thật! đến thế kỷ 19, còn sót lại vài con, bị người Pháp tiêu diệt.
Hình tượng con rồng xuất hiện ở Trung Hoa vào đời Tuyên Đức (1426-1435), được vẽ trên đồ gốm, đồ sành, đồ đồng. Người ta nhận xét rằng Trung Hoa lấy con Giao long của nước ta vẽ thêm chân, sừng, râu ria trông rất hùng dũng, oai nghi!
Người Đại Hàn chọn con rồng xanh ( Thanh long) làm rồng thiêng của tổ quốc. Người Nhựt chọn con rồng đen ( Hắc long) làm rồng thiêng của nước họ cho nên có đảng Hác long trước năm 1945.

Sách xưa đã phân loại rồng như sau:
_ Ưng long là loại rồng có cánh.
_ Cù long là loại rồng có sừng.
_ Ly long là rồng không có sừng.
_ Rồng có vảy gọi là Giao long ( tức là con rồng của nước Giao chỉ)
_ Bàn long là loại rồng chưa biết bay.
Rồng phát triển thân thể theo tưởi:
_ 500 tuổi, rồng có sừng.
_ 1.000 tuổi thì rồng có cánh.

Rồng là hoá thân của cá thi đậu ở vũ môn. Vũ môn là tên của một khúc núi ở thượng lưu sông Trường giang thuộc tỉnh Tứ Xuyên. Chân núi có một cái vực rất sâu, tương truyền mỗi năm đến mùa Thu, nước lụt lớn, các loài cá đua nhau đến đó dự cuộc thi. Con nào nhảy qua được 3 tầng vũ môn sẽ hoá thành rồng. Huyện Hương khê – Hà tỉnh của nước ta cũng có một cái vực sâu cạnh núi giống như vũ môn.

Vì là con vật cao quý biểu tượng cho vua chúa nên những từ ngữ thuộc về “thiên tử” đều có chữ “long” kèm theo:
Long vương: vua biển – Long bào: áo của vua – Long nhan: mặt vua – Long xa: xe của vua – Long sàng: giường của vua nằm – Long mạch: mạch rồng, chỉ đất hưng thịnh, ai được mai táng nơi đó thì con cháu vinh hoa, phú quý, rỡ ràng danh phận....
Đây là một số thành ngữ có chữ “long”:
_ Rồng bay phụng múa.
_ Rồng mây gặp hội.
_ Rồng đến nhà tôm.
_ Rồng thiêng uốn khúc.
_ Đầu rồng đuôi tôm.
_ Rồng ở với giun.
_ vẽ rồng vẽ rắn.
_ Thêu rồng vẽ phụng.
_ Chạm rồng trỗ phụng.
_ Ăn như rồng cuốn, uống như rồng leo.
_ Long bàn hổ cứ ( rồng nằm hổ ngồi)
_ Long đầu xà vĩ ( chỉ việc trước hưng thịnh, việc sau suy thoái)

Trong văn chương Việt Nam, rồng được đề cập đến rất nhiều:

Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt,
Xếp bút nghiên theo việc đao cung,
Thành liền mong tiến bệ rồng,
Thước gươm đã quyết chẳng dung giặc trời.
( Chinh Phụ Ngâm Khúc)

Trai anh húng, gái thuyền quyên,
Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cỡi rồng.
(Truyện Kiều)

Nhứt là trong ca dao, rồng được ví von, thêu dệt rất phong phú:

Trăm năm trăm tuổi may rủi một chồng,
Dù ai thêu phụng vẽ rồng em cũng không ham.

Tình cờ ta gặp mình đây,
Như cá gặp nước, như mây gặp rồng.

Rồng nằm đáy vực rồng đoanh,
Em nằm phòng vắng chờ anh đêm ngày.

Trứng rồng lại nở ra rồng,
Liu điu lại nở ra dòng liu điu.

Trong lưng chẳng có một đồng,
Lời nói như rồng cũng chẳng ai nghe.

Làm trai lấy được vợ hiền,
Như cầm đồng tiền mua được của ngon.
Phận gái lấy được chồng khôn,
Xem chừng cá vượt vũ môn hoá rồng.

Rồng chầu xứ Huế, ngựa tế Đồng nai,
Nước sông trong chảy lộn sông ngoài.
Thương người xa xứ lạc loài tới đây.
Tới đây thì phải ở đây,
Bao giờ bến rễ xanh cây mới về.


Rồng vàng tắm nước ao tù,
Người khôn ở với người ngu bực mình.

Rồng giao đầu, phụng giao đưôi,
Nay tui hỏi thiệt: mình thương tui không mình?

Rồng đen lấy nước thì nắng.
Rồng trắng lấy nước thì mưa.

Có lẽ vì nguồn gốc dân tộc Việt Nam là nòi giống Rồng Tiên nên người xưa đã đật tên cho nhiều địa danh từ Bắc chí Nam mang chữ “long”, như: Long biên, Thăng long, Vịnh hạ long, Kim long , Long khánh, Long điền, Long hải, Long giao, Phước long, Bình long, Long thành, Long bình, Long an, Vĩnh long, Long hồ, Long mỹ, Long xuyên, Thới long ( 1 xã của quận Ô môn- Cần thơ), Long tuyền ( 1 xã của quận Bình thủy - Cần thơ), Long Toàn...

Đặc biệt, nước Việt Nam có dòng sông Cửu long là mạch sống của nông nghiệp nước ta vì hằng năm nó đem phù sa vào đồng bằng miền Nam làm xanh tốt mùa màng. Sông Cửu long phát nguyên từ Tây Tạng, dài 4.000 km, chảy qua Trung Hoa, Lào, đến Campuchia thì có nhánh “Tonlésap” rẽ vào Biển hồ rồi xuôi về miền Nam bằng 2 nhánh Tiền giang và Hậu giang ( còn gọi là sông Bassac), thoát ra biển bằng 9 cửa: của Tiểu, cửa Đại, Ba lai, Hàm luông, Cổ chiên, Cung hầu, Định an, Ba thắc, Tranh đề.

Theo sử gia Trần trọng Kim thì cội nguồn của Lạc Long Quân từ vua Đế Minh là cháu ba đời của Thần Nông, đi tuần thú ở phương Nam, đến Ngũ Lĩnh ( thuộc tỉnh Hồ Nam bây giờ)gặp một nàng tiên, lấy nhau, sinh ra một người con tên là Lộc Tục. Đế Minh truyền ngôi cho con trưởng là Đế Nghi, làm vua phương Bắc và phong cho Lộc Tục làm vua phương Nam, xưng là Kinh Dương Vương, quốc hiệu là Xích Quỹ.
Nước Xích Quỹ Bắc giáp Động Đình Hồ ( Hồ Nam), Nam giáp nước Hồ Tôn (Chiêm Thành), Tây giáp Ba thục (Tứ Xuyên), Đông giáp biển Nam Hải. Kinh Dương Vương làm vua nước Xích Quỹ khoảng năm Nhâm Tuất 2879 trước Tây lịch và lấy con gái của Động Đình Quân là Long Nữ, sanh ra Sùng Lãm, nối ngôi vua, xưng là Lạc Long Quân.
Lạc Long Quân lấy con gái của vua Đế Lai tên là Âu Cơ, sinh ra một lần được 100 người con trai (1). Lạc Long Quân bảo Âu Cơ rằng: “Ta là dòng dõi Long Quân, nhà ngươi là dòng dõi thần tiên, ăn ở lâu với nhau không được, nay được một trăm đứa con thì nhà ngươi đem năm mươi đứa lên núi, còn năm mươi đứa ta đem xuống bể Nam Hải.
Gốc tích truyện nầy có lẽ từ Lạc Long Quân về sau, nước Xích Quỹ chia ra những nước gọi là Bách Việt. Bởi vậy ngày nay, đất Hồ Quảng (Tỉnh Hồ Nam, Quảng Đông và Quảng Tây) còn xưng là Bách Việt.
Lạc Long Quân cho người con trưởng sang làm vua nước Văn Lang, xưng là Hùng Vương và tiếp nói trị vì đất nước đến 18 đời Hùng Vương.

Cái thành nổi tiếng của Hà Nội “Ngàn năm văn vật” là thành Thăng Long. Nói đến thành nầy, chúng ta nhớ đến nhân vật lịch sử Lý Công Uẩn. Ông làm quan đời Tiền Lê, chức Tả Thân Vệ Điện Tiền Chỉ Huy Sứ. Khi vua “ngoạ triều” Lê Long Đỉnh băng hà thì Lý Công Uẩn được nhóm Đào Cam Mộc kết hợp với Sư Vạn Hạnh đưa Lý Công Uẩn lên làm vua vì lòng dân lúc đó oán hận nhà Tiền Lê.
Lý Công Uẩn lên ngôi xưng là Lý Thái Tổ. Vua thấy đất Hoa Lư chật hẹp, không thể làm kinh đô được nên quyết định dời đô về thành Đại La. Tháng 7 năm Thuận Thiên Nguyên Niên (1010), khi dời đô đến thành Đại La, Thái Tổ lấy cơ có điềm trông thấy rồng vàng hiện ra bèn đổi tên Đại La thành Thăng Long.

Theo truyền thống của tổ tiên, Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà đã đưa hình ảnh con rồng vào quốc huy. Quốc huy mang hình 2 con rồng “chầu” 2 bên, ở giữa là cờ vàng ba sọc đỏ. Báo chí thời Đệ Nhị Cộng Hoà hay gọi Dinh Độc Lập là “Phủ Đầu Rồng”. Hãng Hàng Không Việt Nam Cộng Hoà cũng mang phù hiệu con rồng xanh.
Đặc biệt, phù hiệu “Tổ Quốc Không Gian” của Không Quân VNCH có hình con rồng rất oai dũng, rồng nầy thuộc loại “Ưng long”, tức là rồng có cánh mà cánh của nó mang màu sắc quốc kỳ VNCH. Quân chủng Không Quân có nhiều Phi Đoàn mang danh hiệu là “rồng” như Phi Đoàn 219 - Long Mã, Phi Đoàn 413 - Xích Long, Phi Đoàn 415 - Thanh Long, Phi Đoàn 817 - Hoả Long, Phi Đoàn 819 - Hắc Long, Phi Đoàn 821 - Tinh Long, Phi Đoàn 229 - Lạc Long, Phi Đoàn 249 - Mãnh Long, Phi Đoàn 431 - Phương Long, Phi Đoàn 518 - Phi Long, Phi Đoàn 720 - Hải Long.
Có một Phi Hành Đoàn (8 người) của Phi Đoàn 821 - Tinh Long ( Phi cơ C119 vũ trang) mang danh hiệu “Tinh Long 07” đã bay thấp nhiều vòng để xạ kích những vị trí địch quân gân Tân Sơn Nhứt trong ngày 29-4-75 và đã anh dũng hy sinh trong phi vụ cuối cùng khi bị trúng hoả tiển tầm nhiệt SA7 của Việt Cộng . Ba mươi lăm năm sau (2010), thân hữu Không Quân và thân nhân của Phi Hành Đoàn đã tim được vị trí phi cơ bị rớt và đào tìm được những mảnh Hài Cốt của 8 Nhân Viên Phi Hành, đem cải táng chung một ngôi mộ tại nghĩa trang An Khánh (2), sau chùa Đông Hiệp - Thủ Thiêm với mộ bia :

TỔ QUỐC GHI ƠN
Nơi yên nghỉ của 8 vị anh hùng Tinh Long 07
đã hy sinh ngày 29-04-1975 (19 tháng 3 - Ất Mão)
Trang văn Thành – Tào Thuận
Trương Ngọc Anh – Phan Tấn Đức
Phạm Quốc Tuấn - Nguyễn Thái Bình
Nguyễn văn Tân - Nguyễn Tiến Cường
Gia đình và các chiến hữu VNAF đồng lập mộ.

Phi Hành Đoàn Tinh Long 07 đã trung dũng, quyết chí hy sinh vì Tổ Quốc, nêu tấm gương sáng chói trong quân sử của Không Lực Việt Nam Cộng Hoà.

Những người mang tuổi con rồng có sức khoẻ rất tốt ( Những tay hảo hớn thuộc “làng nhậu”, tuổi Thìn thì uống rượu như rồng lấy nước!). Đa số tuổi Thìn có tính thẳng thắn, tháo vác, phản ứng nhanh, nhưng dễ bị kích động, đưa đến mất lập trường. Con người tuổi rồng rất ngang tàng, nhưng có đạo đức và có thế lực, được nhiều người kính nể. Lúc nhỏ thì bị trắc trở, lận đận, nhưng lớn lên thì vùng vẫy, dọc ngang như rồng. Tuổi nầy về già thì được nhàn hạ, ăn nhậu khoẻ re!
Tuổi Thìn hợp với tuổi Tỵ, Thân, Tý, Dậu, nhưng xung khắc với tuổi Sửu, tuổi Tuất.

Các nước có nền kinh tế phát triển ở Á Châu người ta thường tặng cho cái mỹ danh là “rồng Châu Á”. Chúng ta đều biết Hồng Kông, Singapore, Nam Hàn và Đài Loan... được gọi là “rồng Châu Á”, nhưng Cộng Sản Việt Nam không bao giờ được gọi là rồng mà chỉ là.. rắn vì nền kinh tế chỉ huy lạc hậu, bản chất độc ác, bán nước, hại dân đàn áp tôn giáo, chà đạp nhân quyền, khiếp nhược trước quân Tàu Cộng tham tàn, đã và đang âm mưu xâm chiếm Việt Nam.

KHA LĂNG ĐA
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Câu Chuyện Đầu Năm Về Tình Yêu Của Ông Mike Murray

Tác giả : Đoàn Hưng

Image
Ông Mike Murray, đại diện cho Verizon, trao tấm ngân phiếu tài trợ cho BPSOS.
Câu chuyện đầu năm Nhâm Thìn của Việt Báo khởi nguồn từ buổi tiệc gây quĩ của BPSOS (tổ chức nhân đạo của cộng đồng người Việt ở Mỹ) tại Quận Cam hồi tháng 12 năm rồi. Quan khách Việt đến dự tiệc thấy có một ông người Mỹ lăng xăng làm đủ thứ việc, giống như là một nhân viên của BPSOS vậy. Sau đó ông còn lên đọc một bài diễn văn bằng tiếng Việt nữa. Hỏi ra thì mới biết ông tên là Mike Murray- Giám Đốc Phụ Trách Chính Quyền & Đối Ngoại của Verizon, tập đoàn vô tuyến viễn thông lớn vào bậc nhất ở Mỹ. Verizon là một trong những nhà tài trợ chính cho nhiều hoạt động hỗ trợ cộng đồng của BPSOS trong nhiều năm gần đây. Mọi người thắc mắc: thường thì các nhà tài trợ chỉ lên sân khấu nhận bằng khen, phát biểu cảm tưởng thôi, tại sao đại diện cho một nhà tài trợ lớn như Verizon mà phải làm đủ thứ với nhân viên BPSOS như vậy? Ông Mike giải thích với phóng viên Việt Báo rằng: ông phục vụ cộng đồng người Việt không đơn thuần như là một nhà tài trợ. Ông làm để đền đáp lại phần nào ơn nghĩa của hai người bạn Việt Nam đã từng tặng ông cảm giác về tình yêu không điều kiện. Ông đã không gặp lại những người bạn đó từ hơn 40 năm rồi. Nếu họ còn sống, thì chắc là họ còn ở Việt Nam. Ông biết họ từ khi họ là hai đứa con nít Việt Nam, một gái một trai, có tên là Bé và Sinh…
Vào năm 1968, giữa lúc chiến trường Việt Nam nóng bỏng với trận chiến Tết Mậu Thân, ông Mike gia nhập Thủy Quân Lục Chiến Mỹ và được chuyển sang tham chiến tại mặt trận Huế. Năm đó ông mới 18 tuổi. Ông tạm biệt nước Mỹ, tạm biệt gia đình với những ký ức về một tuổi thơ buồn, không có tình thương. BỐ ông là một thương binh nghiện rượu, thường xuyên say xỉn và đáng đập con. Ông Mike tham gia lực lượng chiếm đóng đặc biệt 0311. Ông nằm trong đơn vị xung kích, những người đeo M16, M60, súng phóng lựu M79 ở tuyến đầu. Đơn vị của ông thường xuyên hành quân trong rừng núi Trường Sơn hiểm trở, hiểu rõ hơn ai hết những cuộc phục kích của du kích Việt Cộng và những cuộc chạm trán với lực lượng chính qui Bắc Việt khác nhau như thế nào. Ở đơn vị của ông, khoảng cách giữa sự sống và cái chết hầu như không có ranh giới rõ rệt…
Image
Ông Mike đang nhận huân chương thời còn là lính TQLC.
Sau 03 tháng tác chiến trong lực lượng xung kích, ông Mike xin gia nhập Chương trình Hoạt Động Phối Hợp (Combined Action Program - CAP) của Thủy Quân Lục Chiến. Đây là một chương trình mang tính dân sự, dân vận nhiều hơn là quân sự. Những người lính Mỹ sẽ vào sống trong những làng xã Việt Nam, giúp họ xây cầu, đào giếng, sửa chữa nhà… Ông gia nhập CAP để có cơ hội tìm hiểu đời sống của người dân Việt Nam trong các làng quê. Ông được đưa về Đà Nẵng vài tuần để học tiếng Việt, đủ để làm quen với dân quê, và đủ để thấy là tiếng Việt với 6 thanh âm không- sắc- hỏi- huyền- ngã- nặng khó phát âm như thế nào đối với một người ngoại quốc. Ông vẫn còn nhớ cái ngày hôm đó, khi ông được một chiếc xe nhà binh thả xuống trên con đường quốc lộ I gần làng Ngọc Nóc (???), Huyện Phú Lộc, một làng quê năm giữa Huế và Đà Nẵng, cách Huế khoảng chừng hơn 40 cây số, là nơi ông phải trình diện đơn vị mới. Ông đi trên con đường đất dẫn vào làng, cố gắng dùng số vốn từ tiếng Việt ít ỏi để hỏi chỗ ở của đơn vị mình, nhưng hình như người dân làng không quan tâm đến ông lắm. Đúng lúc ông đang định đi ngược trở lại quốc lộ, thì từ đằng xa ông thấy hai bé gái chừng 10 tuổi, với chiếc giỏ xách đeo trên vai, chạy thật nhanh về phía ông. Ông chưa kịp chào chúng bằng tiếng Việt thì cả hai cô bé đã đồng thanh nói: “Wash clothes”.

Ông hỏi lại: “What?”, thì câu trả lời được lập lại: “Wash clothes” và “Work for you”. Thì ra Bé -một trong hai đứa bé- muốn làm người giúp việc cho ông. Hoa, cô bé còn lại, thì đang làm cho một lính thủy quân lục chiến khác ở trong làng rồi. Bé và Hoa dắt ông đến chỗ tiểu đội CAP đang ở, một trong những căn nhà trong làng mà thủy quân lục chiến Mỹ thuê lại. Ông nhập bọn và giữ Bé làm người giúp việc cho mình. Bé trở thành người thân Việt Nam bé nhỏ đầu tiên của ông, và cũng là người ban cho ông nhiều tình cảm sâu đậm nhất. Ông nhanh chóng nhận ra cô bé nhà quê 10 tuổi này hữu ích và dễ mến như thế nào. Bé phụ ông giặt đồ, đi chợ, nấu ăn, đổi tiền, và cả việc làm thông dịch viên nữa, vì xem ra vốn tiếng Anh của Bé còn khá hơn vốn tiếng Việt của ông. Bé chăm lo sức khỏe của ông, săn sóc ông lúc ông đau ốm. Lúc ông phụ trách trạm xá, Bé còn phụ ông rửa vết thương, phát thuốc cho bệnh nhân. Chỉ huy của ông khen ngợi rằng từ lúc ông phụ trách trạm xá, bệnh nhân đến đây đông hơn, có lẽ là vì ông và Bé phối hợp làm việc thật tốt.
Image
Ông Mike chụp chung với Bé & Hoa ở Phú Lộc (Thừa Thiên Huế) 1968.
Bé là một cô bé thông minh, thực thà, phụ thuộc và quấn quít với ông vô cùng. Ông cũng xem Bé như cô em gái của mình,như để bù lại cho sự thiếu thốn tình cảm trong thời thơ ấu trong một gia đình kém hạnh phúc. Bé hầu như ít khi nào chịu rời ông nửa bước. Ông nhận ra điều này vào một buổi tối, khi ông tham gia vào một cuộc phục kích. Ông tạm biệt cô bé ở con đường làng, rồi cùng cùng 10 đồng đội TQLC Mỹ và 15 địa phương quân Việt Nam lặng lẽ băng qua cánh đồng để tiến đến điểm mai phục. Trong bầu không khí hành quân yên lặng và bao trùm sự chờ đợi chết chóc, bỗng một đồng đội TQLC Mỹ chỉ về phía ông và cười khúc khích, rồi cả những người lính Việt Nam cũng thế. Ông quay lại thì mới phát hiện ra là Bé, vẫn với chiếc giỏ xách đeo trên vai, lặng lẽ theo ông từ nãy đến giờ mà ông không hề biết! Cả đoàn phục kích dừng lại trên con đê.

Marks, một đồng đội la khe khẽ: “Lạy Chúa! Mày có đem con bé ra khỏi chỗ này ngay không?”.
Ông Mike kéo bé lại dỗ dành: “Bé! Ngày mai tôi sẽ đi Phú Bài, mua đồng hồ cho Bé nghe. Bây giờ thì Bé làm ơn về nhà giùm nghe!”
Bé ngây thơ mừng rỡ hỏi: “Phú Bài? Đồng hồ?”. Rồi cô mở cái giỏ xách, khui một lon Coke cho ông như là một cử chỉ cám ơn! Ông phải tạm rời hàng ngũ, dắt Bé chạy ngược trở lại quốc lộ, chỉ cô lối về làng trở lại, rồi vội vã quay lại địa điểm và xin lỗi đồng đội.

Sáng ngày hôm sau, Ông ra quốc lộ I đón xe đi Phú Bài. Bé theo ông ra đợi và bịn rịn tiễn ông lên xe, không muốn rời xa ông. Khi xe từ từ chuyển bánh và tăng tốc, bé đứng tần ngần rồi chạy theo xe, cho đến khi không bắt kịp, mới dừng lại và đưa tay vẫy chào ông. Ông vẫy chào lại và la to: “Đồng hồ!”… Tim ông lúc đó như muốn rớt ra ngoài… Hình ảnh đó đến nay vẫn còn như in trong trí nhớ của ông…Chính ông cũng bắt đầu cảm thấy thiếu thốn nếu không có Bé ở bên cạnh trong một ngày, một tình cảm chưa bao giờ xảy ra với ông ở Mỹ.

Vài tháng sau đó, Ông gặp Sinh- một bé trai cũng giúp việc cho TQLC Mỹ như Bé- sau khi ông bị thương do một cuộc phục kích của Việt Cộng, được đưa đến bệnh viện Phú Bài để điều trị, rồi được chuyển sang một đơn vị khác ở Huyện Cầu Hai. Sinh lúc đó đang làm “người giúp việc” cho một người lính TQLC khác. Vào thời điểm ông tới Cầu Hai, người lính này trở về Mỹ, cho nên ông nhận Sinh về với mình. Ông còn nhớ là Sinh rất thương người lính này. Ông đã từng giúp Sinh viết thư gởi cho ông ta, nhưng không bao giờ nhận được hồi âm.

Sinh là một cậu bé trai 12 tuổi, điển trai với mái tóc thật dầy, hàm răng to và hơi hô. Nếu Sinh ở Mỹ, thì chắc hẳn Sinh là một ngôi sao trong trường học với cái dáng vẻ rất đáng ưa của mình. Mà Sinh còn đặc biệt hơn thế nữa, với nhiều tính cách đáng yêu như vui tính, nhảy nhót đẹp, đóng kịch hay… Sinh được xem như là “xếp sòng” của các đứa trẻ giúp việc cho TQLC trong khu vực Cầu Hai. Cũng như Bé, Sinh là người phụ tá đắc lực của ông trong hầu như mọi sinh hoạt. Sinh luôn luôn là người đầu tiên chào đón ông mỗi buổi sáng bằng nụ cười hiền hòa, và tiễn ông ra đầu làng trong những đêm đi tuần tra. Sinh là người nghĩ ra cách làm cho ông những chiếc hamburger từ cơm gạo. Ở trong trạm xá, Sinh góp ý hữu hiệu cho ông trong việc chăm sóc những bệnh nhẹ, với vốn “kiến thức y khoa” khá phong phú so với ở độ tuổi 12 của một em bé quê. Sinh không đơn thuần chỉ là người giúp việc giỏi, siêng năng, mà còn là người em trai của ông, đem lại cho ông biết bao nhiêu niềm vui, tình thương yêu, giúp ông tạm quên đi những lo âu của cuộc chiến tranh tàn nhẫn lúc nào cũng cận kề.

Image
Ông Mike cõng Sinh ở Cầu Hai (Thừa Thiên Huế) 1968.
Kỷ niệm đáng nhớ nhất của ông Mike với Sinh cũng liên quan đến một cuộc mai phục khác của TQLC. Sau một đêm đi mai phục bình yên không có giao chiến, vào lúc sáng sớm tiểu đội của ông cùng lính địa phương quân tan hàng để trở về công việc thường nhật. Chỉ riêng ông còn nằm lại và ngủ quên trên cánh đồng lúa gần sát quốc lộ I. Viên chỉ huy nói với mọi người: “ Cứ để nó ngủ. Lát nữa thế nào thằng Sinh cũng ra đây với nó mà…”. Là người dân xứ Mỹ đầy đủ tiện nghi vật chất, ông Mike không thể tưởng tượng ra được cái cảm giác an bình mà một cánh đồng lúa có thể ban tặng cho mình. Trong cái nắng sớm mai, đống rơm nằm gọn trong một góc nhỏ của cánh đồng lúa bao quanh bởi 04 con đê trở nên ấm áp lạ thường. Hẳn là ông đã có một giấc ngủ bình yên với nhiều mộng đẹp. Khi ông mở mắt dậy, ông bắt gặp những tia nắng bình minh ấm áp, giữa một cảnh đồng quê yên ả, thanh bình, như thể là chiến tranh chưa bao giờ có mặt. Và cũng chính lúc ông mở mắt dậy, ông cũng thấy Joe đứng đó tự bao giờ, với nụ cười hiền lành chào đón ông, giống như một thiên thần bảo vệ che chở cho ông vậy. Không có từ ngữ nào có thể diễn tả hết cái cảm giác thanh thản, bình an, vô tư mà ông cảm nhận được trong cái giây phút ấy. Lúc đó ông chỉ còn biết sống trọn vẹn với giây phút hiện tại nhiệm mầu, không nghĩ lại quá khứ buồn, không màng đến tương lai bất định. Ông không muốn ngồi dậy, cũng không muốn đi đâu hết. Ông chỉ muốn duy trì thật lâu cái cảm giác độc nhất vô nhị lúc ấy. Chắc là Sinh cũng không thể hiểu được hết cảm giác tuyệt vời của ông lúc đó, nhưng em vẫn chia xẻ được phần nào niềm hạnh phúc không bờ bến của ông. Một người bạn bên cạnh mình trong những giây phút đáng nhớ trong đời như vậy, chắc hẳn phải là tri kỉ?

Ít lâu sau đó, ông cũng chia tay với Sinh cũng ngay trên con đường quốc lộ I giống như cuộc tạm biệt với Bé trước đây vậy. Nhưng lần này thì ông trở về Mỹ sau 13 tháng phục vụ tại VIệt Nam. Được trở về thế giới văn minh, về với nước Mỹ bình yên, trở về với gia đình, vậy mà ông không có được niềm vui trọn vẹn. Ông bắt đầu nhớ Việt Nam, nhớ Bé, nhớ Sinh. Sinh đã khóc rất nhiều trong ngày chia tay đó. Ông cũng muốn khóc. Ông để lại cho Sinh tất cả những gì mà ông có lúc bây giờ: tiền bạc, máy cassette, quần áo… Nhưng ông biết là không gì có thể trả ơn đủ cho người đã cho mình tình yêu không điều kiện. Ông nhớ là ông có hứa là sẽ viết thư cho Sinh, là sẽ gặp lại Sinh & Bé trong ở Cầu Hai, hay ở Mỹ một ngày nào đó. Nhưng ông ân hận có một điều ông chưa nói với Sinh, với Bé: “Tôi yêu em, Sinh ơi!”. “Tôi yêu em, Bé ơi!”…

Trở lại Mỹ, Ông Mike có viết thư cho Bé, cho Sinh vài lần, nhưng không nhận được hồi âm. Rồi ông bận bịu với chuyện đi học, đi làm, chuyện gia đình con cái…Thấm thoát mà đã 43 năm qua rồi. Ông chưa bao giờ trở lại Việt Nam vì quá bôn ba với đời sống ở Mỹ. Nhưng ông vẫn nghĩ đến cái ngày ông trở lại VIệt Nam. Đáp xuống sân bay Phú Bài. Đi theo quốc lộ I để trở lại Cầu Hai, Phú Lộc. Nhìn lại dãy Trường Sơn trùng điệp. Tìm lại cánh đồng lúa mà ông đã từng có được giây phút an lạc nhiệm mầu trong thời chiến. Và quan trọng hơn cả, ông được gặp lại Bé và Sinh, những người đã cho ông tình yêu không điều kiện… Ở cái đất nước triền miên chiến tranh, ly loạn, rồi sau đó cả triệu người bỏ nước ra đi, ông biết là giấc mơ hạnh ngộ của ông khó mà thực hiện được. Nhưng ước mơ vẫn là lẽ sống của con người. Ông vẫn đang mơ, và mơ ước ngày giấc mơ của mình trở thành hiện thực…

“…Tôi đang mơ giấc mộng dài
Đừng lay tôi nhé, cuộc đời chung quanh…” (Tôi Đang Mơ Giấc Mộng Dài- Phạm Duy)

Đầu năm Nhâm Thìn, Việt Báo cùng các độc giả Việt Nam cầu chúc cho Ông Mike Murray thực hiện được giấc mơ đẹp nhất của đời mình…
Đoàn Hưng
Quí độc giả nào có biết tin tức về Bé & Sinh hiện nay đang ở đâu, xin vui lòng liệc lạc với:

Đoàn Hưng - Tel: 714 766 6422
hungdoan@vietbao.com
Xin chân thành cảm tạ.
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 3 guests