Bình Luận , Quan Điểm

vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Mùa từ thiện … kéo dài

(Nguyễn Mỹ Linh) - Khi viết bài “Mùa Từ Thiện” tôi đã nhìn thấy trước “chắc chắn là bài viết này sẽ làm cho nhiều người khó chịu hay nổi giận, nhất là các hội đoàn từ thiện hay cơ quan truyền thông đang chăm chú kêu gọi cứu trợ bão lụt miền Trung Việt Nam”. Vì vậy thật không có gì ngạc nhiên khi tôi đọc bài trả lời gần đây của một nhà từ thiện lỗi lạc và nổi tiếng trong cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ (và ngay cả ở Việt Nam nữa chứ !).

Để viết được “Mùa từ thiện”, đúng như lời một vị độc giả đã nói là nhờ trải qua “kinh nghiệm xương máu”, tôi đã không còn lạ gì với các chiêu thức mà các cai thầu từ thiện cho VN đã dùng để quyên tiền bá tánh tứ phương. Cho nên tôi cũng không ngạc nhiên với chiêu bài lấp liếm nhằm khích động cái “thiện” trong mỗi con người, đại loại như “Ai làm được điều gì chúng ta nên trân trọng. Ai chưa làm được một chút gì chúng ta nên khuyến khích. Thiết tưởng những điều ấy tốt hơn là không làm gì cả. Hay tệ hơn là chỉ biết chê bai” (Trịnh Hội, “Để trả lời bài viết Mùa Từ Thiện”, báo Người Việt Online, 28 tháng 11, 2009).

“Nhân chi sơ tính bản thiện”, nhất là đã từng sống dưới chế độ Cộng Sản VN thì tôi tin chắc là mỗi người trong chúng ta không nhiều thì ít, bằng cách này hoặc cách khác, đều đã đóng góp cho người VN ở quê nhà trong suốt bao năm qua. Vì vậy nếu bài trả lời đó hàm ý rằng tôi (hay bất cứ ai trong chúng ta) “không biết làm gì chỉ biết chê bai” thì tôi e rằng những lời lẽ đó quá hồ đồ, thiếu suy nghĩ, mang tính tự mãn, tự cao, và đầy ác ý, nhất là đối với một người mà ông chưa từng quen biết.

Xin thưa:

“Rằng tôi thân phận đàn bà,
Đi làm, bếp núc, cửa nhà, chồng con.”

Là một người rất bình thường, “vô danh, tiểu tốt” như biết bao người Việt tỵ nạn bình thường khác đang sống trong một cộng đồng người Việt to lớn ở quận Cam, chắc chắn là tôi không dám so tài với nhà làm việc từ thiện nổi tiếng kể trên. Và dĩ nhiên, so với những công việc từ thiện vĩ đại mà ông đã làm thì những đóng góp từ thiện nhỏ nhoi của tôi thật chẳng “nhằm nhò” gì để mà kể lể. Nhưng không phải vì thế mà những đóng góp từ thiện nhỏ bé đó của tôi lại có thể biến tôi trở thành người “chưa làm được một chút gì” hay “không làm gì cả” như ông đã chụp mũ.

Tương tự như vậy, với công việc làm hèn mọn của mình, chắc chắn là tôi không đóng thuế nhiều bằng các chuyên gia lỗi lạc, nhưng đó là sự đóng góp công bằng của tôi đối với xã hội, và chắc chắn là nó công bằng hơn nhiều so với số tiền đóng thuế rất khả nghi của nhiều vị cai thầu từ thiện đi mây về gió giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Đó là chưa kể nhiều vị nhân danh “tổ chức từ thiện & phi chính trị” để thỏa mãn tham vọng thầm kín cá nhân thấy mình trở thành nổi tiếng không thua gì Bồ Tát cứu nhân độ thế, hoặc thánh Martin de Pores của thế kỷ 21. Và còn tệ hơn nữa khi tôi khám phá ra rằng có những vị quảng cáo ầm ĩ trên radio & tivi cho công tác cứu trợ ở Việt Nam nhưng họ vẫn tiếp tục ăn “welfare” ở Mỹ.

Như vậy thì ai đáng “chê bai” ở đây ?

Còn bảo rằng bài viết “Mùa Từ Thiện” đã “chính trị hóa một vấn đề hoàn toàn nhân đạo” thì xin thưa là chính Cộng Sản Việt Nam đã “chính trị hóa” các công tác về nước làm từ thiện của một ông thiền sư nổi tiếng khi ông về nước bỏ ra hàng triệu dollars tiền đóng góp của người Việt hải ngoại để xây dựng các cơ sở hạ tầng cho công cuộc từ thiện ở VN, và cũng chính Cộng Sản VN đã và đang “chính trị hóa” các tu sĩ Bát Nhã chỉ biết lặng thinh cầu nguyện, không một tấc sắt cầm tay khi công an VN tấn công, qui tội họ là “vi phạm luật pháp VN” và quyết truy đuổi họ đến tận cùng.

Bạn nghĩ sao nếu chính bạn đã giao tiền bạc cho ông thiền sư để xây dựng những cơ sở từ thiện ở Bát Nhã ? Bài học của ông thiền sư và các môn đệ của ông vẫn còn mới toanh, và còn đang tiếp diễn ở VN. Tôi tin chắc là đã có nhiều bài học “bỏ của chạy lấy người” khác nữa mà các nhà làm việc từ thiện “chui” của chúng ta đã và đang “ngậm bồ hòn làm ngọt”, chịu khó “ngậm đắng nuốt cay vì chính nghĩa từ thiện”, hoặc “im lặng là vàng” để “chìm xuồng” luôn hàng trăm ngàn dollars “lót tay” cho công an nhà nước VN như một vài chuyện tôi đã được nghe qua. Như vậy thì ai là kẻ đã “chính trị hóa” vấn đề làm từ thiện ở Việt Nam ?

Có thể tôi và nhiều người VN bình thường khác trong cộng đồng không có công đóng góp nhiều bằng nhà làm việc từ thiện lỗi lạc và tiếng tăm kia. Chúng tôi cũng không có “thành tích” làm việc chung với “nữ xướng ngôn viên khả ái” này, hay cô MC duyên dáng nọ, hoặc ông nhạc sĩ nổi tiếng kia như ông đã hợm hĩnh khoe khoang trong bài “Để trả lời bài viết Mùa Từ Thiện”. Chúng tôi cũng không làm được chuyện như gọi điện thoại mời cô ca sĩ này hay “anh em nghệ sĩ “ nọ tham gia trình diễn văn nghệ cứu trợ VN như ông đã kể lể trong một bài viết khác để tự “nâng bi” chính mình. Thế nhưng những đồng tiền đóng góp âm thầm và nhỏ nhoi của chúng tôi cho Việt Nam là do chính mồ hôi, công sức làm ra mà chúng tôi đã chắt chiu, dè sẻn sau khi
trả tiền thuế, tiền nhà, tiền bills, tiền xe, tiền học, tiền lo cho con cái, … Đó là những đồng tiền mồ hôi, nước mắt mà đáng lẻ chúng tôi phải dành dụm để trả tiền college cho tương lai sau này của các con nhưng vì thấy chúng còn nhỏ, chưa cần gấp nên chúng tôi đã không ngần ngại khi bỏ số tiền đó vào các thùng tiền cứu trợ VN của quý vị. Chính vì vậy mà tự nhiên chúng tôi cảm thấy xót xa khi nghe những chuyện thất thoát hàng trăm ngàn dollars để “lót tay” hối lộ cho nhân viên nhà nước VN. Và đương nhiên chúng tôi có quyền tự hỏi thực sự có bao nhiêu tiền đã đến chính tay nạn nhân cần được cứu trợ, có bao nhiêu tiền quảng cáo đã chi cho báo, đài, tivi, có bao nhiêu tiền “lo lót” cho “lệ phí hành chánh”, bao nhiêu đã tiêu vào
vé máy bay, khách sạn, di chuyển xe cộ, và có bao nhiêu tiền các nhà làm việc từ thiện “chui” đã tiêu dùng để “chén chú, chén anh”, và các cuộc mây mưa khác với cán bộ Cộng Sản trong chuyến “công tác du lịch” về VN ? Hay chúng tôi không có quyền đếm xỉa vì đó là tiền “chùa”, hoặc “của chung không ai khóc”?

Bao năm qua chúng tôi đã nghe ra rả những lời kêu gọi cứu trợ cho VN ở trên các phương tiện truyền thông, hết cơn bão này tới nạn lụt nọ. Nhưng tuyệt nhiên không có quý vị nào cho chúng tôi một bản báo cáo chi tiết là số tiền quyên góp đã được dùng vào những việc gì, đã trả cho những ai, có biên nhận hay không, …. Sau hàng tiếng kêu gào cứu trợ đủ loại trên tivi, radio, sau những buổi trống kèn văn nghệ đình đám là một sự im lặng khó hiểu, để rồi chúng tôi lại tiếp tục nghe thêm những đợt kêu gọi cứu trợ triền miên và bất tận khác cho VN.

Ắt hẵn các nhà làm từ thiện thừa biết rằng khi thu tiền dưới danh nghĩa từ thiện mà lại tiêu dùng mờ ám, không biên nhận, sổ sách, báo cáo rõ ràng để nhân viên sở thuế có thể “audit” là vi phạm luật thuế Hoa Kỳ. Đó là chưa kể đến tội biển thủ (embezzlement), gian lận (fraud), và cũng chưa kể đến tội giấu giếm không khai báo cho quan thuế (US Customs) khi mang trong người hơn $10,000 tiền mặt ra khỏi nước Mỹ. Chỉ mới điểm sơ sơ qua luật pháp Hoa Kỳ thôi nhé, chưa kể đến luật rừng của VN, và chắc có lẻ các “dịch vụ” từ thiện nên nghĩ đến việc chịu trách nhiệm (accountable) cho mỗi đồng bạc thất thoát không biên nhận.

Viết đến đây tôi cần phải mở ngoặc để cảm ơn sự minh bạch, rõ ràng của vài hội đoàn cứu trợ các thương phế binh VNCH mà tôi đã được xem qua các bảng báo cáo trên báo chí, và đặt đây là trường hợp ngoại lệ mà tất cả chúng ta cần phải tiếp tục ủng hộ vì ai cũng biết rằng nhà nước VN sẽ mãi mãi coi họ là kẻ thù, không thuộc diện “nhân dân” để nhà nước có bổn phận chăm sóc. Điều này còn được thể hiện qua một sự kiện đã được báo chí đề cập đến là các nghệ sĩ ở trong nước đã không dám lên sân khấu trình diễn trong một buổi văn nghệ lạc quyên cứu trợ thương phế binh VNCH tại quận Cam, mặc dù họ vẫn thường xuyên xuất hiện trong các chương trình lạc quyên khác của giới cai thầu từ thiện cho VN.

Hãy nhìn lại suốt hơn 30 năm qua chúng ta đã có bao nhiêu công cuộc cứu trợ cho VN ? đã có bao nhiêu hàng tỷ dollars đổ về VN như đổ nước vào một chiếc bình rỗng không đáy trong khi dân nghèo VN ngày càng nhiều hơn, nghèo hơn, và giai cấp thống trị & tư bản đỏ càng giàu hơn và tham nhũng hối lộ nhiều hơn, tinh vi hơn ? Xin nhìn cho rõ vấn đề mà bài viết “Mùa Từ Thiện” đã nêu ra là tại sao các công cuộc kêu gọi cứu trợ và làm việc từ thiện cho dân nghèo VN lại không tập trung, không chú ý vào giai cấp thống trị và đám nhà giàu nhàn rỗi, dư tiền, lắm của ở ngay chính VN ? Chúng tôi hoàn toàn đồng ý là những con người nghèo khổ và đáng thương ở VN kia rất cần được giúp đỡ, chỉ xin các nhà cai thầu từ thiện vui lòng chuyển “mũi dùi tấn
công” của quý vị đến đám nhà giàu, đầy quyền thế ở VN và đến cả đám “celebrities” mang nhãn “Ziệt kiều” (hay Việt gian ?) đang sống đề huề với Cộng Sản VN.

Vì sao ư ? – Vì con bò Mỹ quốc này đã cạn kiệt bơ sữa, và đang gầy đói giơ xương sau hơn 30 năm bị vắt kiệt, vì chúng ta đang ở trong thời kỳ suy thoái kinh tế trầm trọng, vì cộng đồng chúng ta vẫn còn nghèo, còn nhiều vấn nạn phải lo toan, còn nhiều nợ nần chưa trả đối với những quốc gia đã cứu vớt chúng ta trên bước đường tỵ nạn, vì chúng ta còn bổn phận công dân đối với chính đất nước đã và đang cưu mang chúng ta bao năm qua và sẽ còn tiếp tục cưu mang gia đình & con cháu chúng ta trong tương lai. Chỉ có đơn giản và dễ hiểu vậy thôi ! Xin đừng mất công diễn dịch thêm bài viết “Mùa Từ Thiện”, đừng hiểu lầm, đừng xuyên tạc, đừng lấp liếm, xập xí xập ngầu mà qui tội, chụp mũ cho bài viết “Mùa Từ Thiện”, hoặc lợi
dụng nó để tô bóng, đề cao cái mác “Việt gian yêu nước” hay “celebrity” cho chính mình. Tội lắm, ai ơi !

Cứ thử nghĩ mà xem, mái nhà bạn bị dột tứ tung trong cơn dông tầm tã thì bạn sẽ lo cứu nhà mình trước hết, hay bạn sẽ bỏ mặc con cái bạn ở đấy để chạy qua bên kia đường “ra tay nghĩa hiệp” cứu giúp cho nhà cửa đang bị lụt của cái anh nhà giàu nứt đổ vách người VN ? Và sau khi bạn đã tạm ổn định căn nhà của bạn, tôi hy vọng là bạn sẽ nghĩ đến hai căn nhà vọp vẹo đang bị dông bão tứ bề của ông hàng xóm X và bà hàng xóm Y ở ngay sát hai bên nhà bạn vì ngày xưa lúc bạn còn nghèo rách mồng tơi, hai nhà hàng xóm này đã không “kỳ thị” khi cho bạn tạm tá túc mặc dù họ cũng chẳng khá giả gì và mặc dù bạn không cùng màu da, tiếng nói với họ. Hay nay bạn sẽ kỳ thị, không mủi lòng giúp họ chỉ vì họ không phải là người Việt Nam


Cũng có vị độc giả đắn đo “nếu không giúp thì nhà nước Việt Nam cũng chẳng bị hại chút nào. Thử nhìn sang Bắc Hàn mà xem. Dân càng nghèo đói thì nhà nước độc tài chỉ càng mạnh thêm mà thôi“. Xin thưa là nhà nước VN có bị hại hay không thì lịch sử sẽ có câu trả lời trong tương lai và chúng ta hãy kiên nhẫn để cho bánh xe tiến hóa của lịch sử có cơ hội làm việc. Sự “bảo bọc” của chúng ta đối với VN hơn 30 năm qua rõ ràng là một sức cản lớn đạp bàn thắng kềm hãm vòng quay bánh xe tiến hóa của đất nước vì chúng ta chỉ “chữa cháy” ở ngọn, chứ không ở gốc. Trong những ngày tháng đen tối bị giam hãm ở trong tù, nếu ông Lech Walesa (lãnh tụ công đoàn Đoàn Kết) chua chát nghĩ là chế độ CS ở Ba Lan sẽ “cũng chẳng bị hại chút
nào” vì xe tăng của Liên Xô sẽ tràn vào bảo vệ đàn em CS Ba Lan như họ đã từng làm trong thập niên 1960s thì chắc chắn là ông đã dẹp bỏ công đoàn Đoàn Kết từ lâu và ông đã không bao giờ trở thành tổng thống đầu tiên của một nước Ba Lan không cộng sản, và dĩ nhiên là chuyện đó đã không xảy ra trong một sớm một chiều. Vì vậy xin hãy kiên nhẫn và hãy để cho các nhà đấu tranh dân chủ trong nước có cơ hội. Cũng xin đừng so sánh Bắc Hàn với Việt Nam hiện nay vì đó là sự so sánh “orange” với “apple”. Bắc Hàn hiện nay chỉ có thể so sánh với miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa của VN trước 1975 khi dân chúng còn mù quáng tin vào chế độ, vào lãnh tụ, vào hy sinh gian khổ “hạt muối cắn làm đôi” để giải phóng miền Nam “bị Mỹ Ngụy kềm
kẹp”. Họ chỉ mở mắt khám phá ra rằng mình bị nhà nước CS lừa bịp khi vào tới nhìn miền Nam sau 30 tháng 4, và đó cũng là lý do cho làn sóng vượt biên của dân miền Bắc VN đến Hồng Kông sau 1975. Bắc Hàn vẫn chưa đạt đến giai đoạn này.

Dù biết rằng có rất nhiều độc giả đồng ý với bài viết “Mùa Từ Thiện”, tôi vẫn không tin là bài viết đã “đập vỡ nồi cơm” của các cai thầu từ thiện cho VN như một độc giả đã lo xa. “Nhân chi sơ tính bản thiện”. Bằng chứng hùng hồn là sau khi bài viết “Mùa Từ Thiện” được tung lên các mạng điện tử (đa phần là nhờ các độc giả làm giùm chuyện này) thì tôi vẫn tiếp tục được xem trên tivi những cảnh quyên tiền marathon cho VN mà khán giả gọi vào đóng góp thật vô tư, hào hứng. Thậm chí tôi còn nghe hai ông xướng ngôn viên trên một đài truyền hình ở quận Cam bàn với nhau trước mặt khán giả là hai ông sẽ lập một quỹ từ thiện để giúp VN xây lại “cây cầu tử thần”. Và mùa từ thiện vẫn tiếp tục … nở rộ trong các
buổi trình diễn văn nghệ cứu trợ VN thành công ngoài sức tưởng tượng của các nhà cai thầu. Như vậy thì xin các ngài cai thầu từ thiện cho VN cứ yên tâm vì mùa từ thiện của quý vị vẫn … kéo dài. Làm sao mà một bài viết tầm thường như “Mùa Từ Thiện” lại có thể “đập vỡ nồi cơm” của quý vị được ? Ngược lại, tôi xin được mạn phép “trộm” bài thơ Chúc Tết của cụ Trần Tế Xương mà rằng:

“Phen này tôi quyết đi buôn … giỏ” (để quý vị đựng tiền quyên góp từ thiện)
“Vừa bán vừa la cũng đắt hàng”.

Tuy nhiên, trong tinh thần “nghệ thuật vì nghệ thuật” mà nhiều nghệ sĩ VN đã cổ võ cho việc “giao lưu văn hóa 2 chiều”, tôi mạo muội đề nghị thêm là xin các nhà làm việc từ thiện lỗi lạc cho VN hãy đứng ra tổ chức những buổi đại nhạc hội quy mô, những buổi văn nghệ thật xôm tụ ở ngay tại Việt Nam để kêu gọi quyên tiền từ các nhà tư bản đỏ, các doanh nhân, “celebrities” & “Việt gian yêu nước”, nhất là các quan chức Cộng Sản VN vẫn thường bày tỏ mối “quan tâm ái ngại” đến 3 triệu con dân thuộc “khúc ruột dư ngoài ngàn dặm” để … nhờ họ giúp cho cộng đồng chúng ta “tí” tiền nhằm thay thế và sửa chữa các đường ống nước “fountain drink” dơ bẩn trong các trường học của con em chúng ta, để họ giúp người già trong
cộng đồng chúng ta có nơi nương tựa, có trung tâm sinh hoạt, giúp các em học sinh vô gia cư có nơi trú ngụ (vì nhà cửa đã bị ngân hàng xiết nợ), …… So với những số tiền hối lộ khổng lồ và lối xài tiền vung vít của các quan chức Cộng Sản VN thì những sự thiếu thốn và khó khăn hiện tại của cộng đồng chúng ta nào có bỏ bèn gì ? Nhưng xin đừng quên nhắn gửi cho CSVN biết là chớ có mà “chính trị hóa” vấn đề hoàn toàn nhân đạo này với nghị quyết số 36, 39 gì đó nhá !

Tôi nghe đâu tháng 11 vừa rồi Cộng Sản VN đã tổ chức “Đại Hội Ziệt Kiều” lớn lắm. Chẳng hay các nhà làm việc từ thiện đi mây về gió như tác giả của bài “Để trả lời bài viết Mùa Từ Thiện” chẳng hạn có tham dự cái Đại Hội đó không ? Quý vị đi đâu hết cả rồi ? Và còn những nghệ sĩ thích “giao lưu 2 chiều” nữa ? Tại sao quý vị không biết lợi dụng cơ hội ngàn vàng này mà “báo cáo” cho Đảng và nhà nước VN biết được những nỗi khốn khó của “khúc ruột dư ngoài ngàn dặm”, để ca bài “bầu ơi thương lấy bí cùng”, để kêu gọi CSVN tinh thần “máu chảy ruột mềm” mà quyên tiền cho cộng đồng mình ? “Chiếc lá” ở ngoài này đã “rách” tả tơi lắm rồi sau hơn 30 năm “đùm” bọc cho quê hương dân tộc VN. May ra kỳ
này “chiếc lá” của nhà nước VN và các tay tư sản lớn nhỏ trong nước có “đùm” giùm cho cộng đồng chúng ta một tí được hay không ? Nếu được như vậy thì quý hóa quá, và tôi tin chắc rằng “mùa từ thiện” của quý vị sẽ … kéo dài lê thê, và rất là … được mùa nữa là đằng khác.

Xin gửi lời chúc may mắn đến quý vị “vác ngà voi” ở VN này !

Viết tại Quận Cam, ngày 5 tháng 12, 2009.
Nguyễn Mỹ Linh


Tái bút: Tác giả xin chân thành cảm tạ các độc giả đã có lòng yêu thích bài viết “Mùa Từ Thiện” và đã giúp loan tải bài viết này thật nhanh chóng trên các mạng điện tử. Xin được mạn phép trích lời của một độc giả ở VN : “Hậu quả của thiên tai tại Việt Nam thương tâm thật đó nhưng quý vị cũng nên sáng suốt khi ủng hộ giúp đỡ. Tôi nghĩ rằng bài viết này nên được gửi đến từng người trong cộng đồng người Việt tại ngoại quốc để họ đọc và suy nghĩ đến tính hiệu quả cũng như hậu quả của việc mình làm”. Tác giả xin trân trọng đa tạ nhận định sáng suốt này, và ước mong bài viết “Mùa Từ Thiện” sẽ được các độc giả tiếp tục giới thiệu đến với mỗi gia đình VN ở hải ngoại. Nguyễn Mỹ Linh
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

DÂN VIỆT TRỞ THÀNH NGƯỜI THIỂU SỐ TRÊN CHÍNH QUÊ HƯƠNG MÌNH ?
Thật khó ai có thể hình dung được rằng vào tháng 10 năm 1949, khi vệ binh Trung Cộng cưỡng chiếm một quốc gia hoàn toàn độc lập chủ quyền - Cộng Hòa Đông Thổ- East Turkestan – của người Duy Ngô Nhĩ – Uyghur để sát nhập vào nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa của Mao Chủ tịch, thì tỷ lệ người Hán trên cả xứ Tân Cương này chỉ xấp xỉ 4% .

Với 60 năm cai trị và áp đặt chính sách Hán hóa trên lãnh thổ tự trị Tân Cương này, đến nay, tỷ lệ người Hán đã lên đến 46%, nghĩa là chiếm gần một nữa dân số của xứ tự trị này. Từ một dân tộc độc lập, sống trên một lãnh thổ với toàn vẹn chủ quyền của mình kể từ khi giành được độc lập vào năm 1933, thế rồi sau khi nước Trung Cộng ra đời vào năm 1949, thì chỉ sau một đêm ngủ, người Duy Ngô Nhĩ thức dậy và đã trở thành một dân tộc thiểu số trên chính quê hương của mình.

Nhiều người Duy Ngô Nhĩ thấy được nỗi nhục mất nước và nguy cơ diệt vong của giống nòi do chính sách Hán hóa với nhiều biện pháp kìm hãm của chính quyền cộng sản Bắc kinh, đã phải đào thoát đi tỵ nạn chính trị ở các nước tự do ở phương tây và cũng không ít những cuộc nổi dậy của người dân trong nước đấu tranh giành độc lập và chủ quyền lãnh thổ cho dân tộc họ. Mà với nền chuyên chính vô sản, với bạo lực cách mạng như những nước cộng sản khác, chính quyền Bắc kinh đã đàn áp đẫm máu và dễ dàng dập tắt ngay những ngọn lửa đấu tranh này của người Duy Ngô Nhĩ ngay khi nó vừa khởi phát. Vụ gần đây nhất là vào ngày song thất 07 tháng 7 năm 2009 vừa qua, tại thủ phủ Urumqi của xứ tự trị này với hàng ngàn người Duy Ngô Nhĩ xuống đường biểu tình chống lại các chính sách Hán hóa và đòi lại độc lập cho dân tộc, và cũng như những cuộc nổi dậy trước đó, những người Duy Ngô Nhĩ yêu nước đã bị quân đội cộng sản Bắc Kinh đàn áp đẫm máu, khiến hơn 160 người bị giết chết tại chổ, hơn 1,000 bị trọng thương, hơn 1,400 người bị bắt giữ bị kết án lên đến 10 năm tù giam và vào hôm 10 tháng 11 vừa qua đã có 9 người “nổi loạn” này đã bị đưa ra hành quyết ngay sau khi bị tòa án tuyên phạt với mức án tử hình, nhưng vẫn chưa hết, nhằm dằn mặt những người Duy Ngô Nhĩ dám yêu nước thương nòi, ngày 03 tháng 12 vừa qua lại thêm 5 người yêu nước Duy Ngô Nhĩ nữa vừa bị đem ra hành quyết.

Trông Người Mà Nghĩ Đến Ta…
Với một ngàn năm Bắc thuộc cũng với chính sách cai trị vô cùng hà khắc, rợ Hán đã áp đặt chính sách Hán hóa lên tộc người Nam Việt chúng ta, và hàng ngàn người dân Nam cũng đã từng bị rợ Hán bắc phương hành quyết vì họ đã dám yêu nước, thương nòi, dám đứng lên đấu tranh giành độc lập cho dân tộc, và ông cha chúng ta đã giữ vững được cõi bờ không bị sát nhập vào đế quốc Đại Hán, tổ tiên chúng ta đã giữ vẹn toàn quốc túy quốc hồn nhờ tướng sỹ luôn một lòng chống ngoại xâm để giữ nước. Nhờ hào khí Diên Hồng mà vó ngựa của quân Nguyên Mông dẫu đã chinh phạt muôn phương từ Á sang Âu đành phải chùn bước trước tinh thần quyết chiến của vua tôi Nam Việt và 50 vạn quân Mông cổ đã bị quân dân Nam Việt đánh cho tan tác cho hồn tiêu phách lạc mỗi khi nghe đến hào khí của dân Nam. Những trang sử vàng dân tộc còn lưu danh một Lý Thường Kiệt phá Tống bình Chiêm, một Ngô Quyền, một Hưng Đạo Đại Vương đã hai lần nhuộm đỏ dòng Bạch Đằng Giang bằng máu xương của hàng vạn quân cướp nước Nam Hán và Nguyên Mông. Lịch sử Việt tộc vẫn còn những trang lẫy lừng với chiến thắng Xuân Kỷ Dậu 1789 với 20 vạn quân Thanh không còn một manh giáp, với một Tôn Sỹ Nghị phải quăng cả ấn tín để chạy tháo thân về cố quốc, với một Sầm Nghi Đống phải treo cổ tự vẫn ở gò Đống Đa… Trong hầu hết các cuộc chiến chống ngoại xâm quân dân Nam chúng ta đã luôn luôn chiến thắng dẫu ta phải thường lấy yếu để đánh mạnh, lấy ít để địch nhiều… bởi ông cha ta đã biết vì nợ nước, quên thù nhà và luôn đặt lợi quyền của quê hương, của dân tộc lên trên lợi quyền của chế độ, của giai cấp.

Nhưng than ôi, thời oanh liệt nay còn đâu khi tinh thần quốc gia, tinh thần dân tộc bị thay thế bởi tinh thần quốc tế cộng sản, khi lòng yêu nước phải gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội, khi “quan san muôn dặm một nhà, bốn phương vô sản đều là anh em” để từ khi nắm quyền cai trị đất nước từ năm 1945 đến nay, “Bác” và Đảng đã hữu hảo cắt dâng hết các hải đảo đến thềm lục địa rồi cả nhiều vùng đất liền Việt nam cho rợ Hán của “Bác Mao” và “ Ngài” thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lại tiếp tục dâng bán cả Tây Nguyên cho Hán tặc và đón hàng vạn cháu con của Mã Viện, của Tô Định đến để tàn hại môi trường thiên nhiên lẫn môi trường văn hóa của dân tộc, khiến nhân tâm ly loạn, bởi ý đảng đang chống lại lòng dân, bởi quyền lợi của đảng, của giai cấp thống trị đang được đặt lên trên quyền lời của dân tộc. Trong Nam ngoài Bắc ngày nay đâu đâu cũng thấp thoáng bóng dáng của con cháu bác Mao.

Do áp lực dân số đã vượt hơn 1,3 tỷ người, trong suốt 4 thập niên qua nhà nước Trung cộng đã nghiêm khắc áp đặt một chính sách về dân số và kế hoạch hóa gia đình là “mỗi gia đình chỉ có một con” lên phạm vi cả nước. Bởi chính sách này cùng với tư tưởng trọng nam khinh nữ cố hữu của người Hán mà ở Trung cộng hiện có hơn 20 triệu thanh niên không thể nào lấy được vợ do nạn gái thiếu trai thừa. Nhằm tạo điều kiện cho các thanh niên ế vợ này tại cố quốc có điều kiện “làm chồng”, có điều kiện cấy hạt giống đỏ lên các thiếu nữ Nam phương, Trung Nam Hải đã có chính sách bảo hộ cho các công ty xây dựng công trình nhà máy của Trung cộng bằng mọi giá với mục đích là họ liên tục thắng từ gói thầu này đến gói thầu khác để rồi những làng công nhân quốc phòng Tàu nối đuôi nhau mọc lên khắp miền xuôi lẫn miền ngược mà theo đó những hàng quán ăn uống giải khát, những quán bia ôm, những dịch vụ mát-xa tươi mát cũng liên tục phát triển khiến cho đến nay đã có hàng ngàn thiếu nữ Tây nguyên và hàng ngàn chị em ở miền xuôi khác, sau một thời gian phục vụ nhu cầu “vui chơi” của các công nhân “Hán Chệc” đó, thì “bụng đã tấn công, mông đã phòng thủ” và đã nhiều, quá nhiều những chú “Chệc con” lần lượt ra đời để giúp gia tăng tỷ lệ cháu con của “Bác Hồ Cẩm Đào” trên mãnh đất hình cong chữ S vốn đã nghèo nàn, chật hẹp và đông người này.

Khắp các phố thị từ miền ngược đến miền xuôi, từ Đồng Xuân của Hà nội đến An Đông của Sài gòn nơi nào cũng đầy đặc những gian hàng của tiểu thương Hán Chết kinh doanh đủ loại ngành hàng nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ các sản phẩm độc hại để hủy diệt nhanh chóng những người “đồng chí tốt” “ láng giềng tốt” Nam man. Ngay cả ở khu làng sinh viên HACINCO tại phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân Hà nội, là khu liên hợp cao cấp chủ yếu làm nơi ký túc cho sinh viên các trường đại học, thì hiện nay cũng đã có trên 500 “công nhân quốc phòng” của Hán Chệt đến thuê ở, cát cứ và chiếm giữ luôn các thang máy để bài bạc, để đùa nghịch suốt ngày không cho bất cứ ai sử dụng và cũng đã không ít nữ sinh viên Việt nam trong làng sinh viên này đã từng bị các công nhân quốc phòng là cháu con của “Mao Xếnh Xáng” cưỡng hiếp để gieo hạt giống đỏ ngay trong những chiếc thang máy này.

Sau một ngày làm việc căng thẳng tại công sở, với chút thời giờ nhàn rỗi sau lúc tan tầm, nếu quyết định đi thư giãn vào các trung tâm thương mại, các quán sá, hay ngay cả vào các khu giải trí của làng sinh viên HACINCO này, người ta sẽ hốt hoảng khi tưởng rằng đang đi lạc vào một đô thị nào đó ở Thượng Hải, ở Bắc Kinh bởi đâu đâu cũng nghe tiếng khạc nhổ, tiếng chào mời, cười nói bô bô theo đúng phong cách của Hán Chệt “ Nị Hảo Ma? Shen ma? Nị Shuo shen ma?” .

Với tinh thần 16 chữ vàng mà lãnh đạo của hai nước cộng sản Việt-Trung đã thống nhất:

“Láng giềng khốn nạn,
Cướp đất toàn diện
Lấn biển lâu dài
Thôn tính tương lai”

Trong thời gian vừa qua có nhiều ngư phủ Việt nam bị hải quân Tàu cộng trấn cướp hết ngư cụ, bị bắt giam đòi tiền chuộc, hoặc bị bắn chết khi họ đang khai thác hải sản trên vùng biển của tổ quốc mình, rồi có nhiều người Việt nam yêu nước thương nòi mà lên tiếng khẳng định chủ quyền về các quần đảo Hoàng Sa Trường Sa, đã bị cơ quan an ninh của nước nhà tịch thu tài sản, bị tra tấn, bị giam cầm… tất cả chỉ mới là khúc dạo đầu của chính sách Hán hóa mà Bắc Kinh đã áp dụng hết sức thành công trên hai xứ tự trị Tây Tạng và Tân Cương… Rồi ngày đó cũng sẽ đến với dân tộc Việt nam như những gì đã đến với người Tây Tạng và người Duy Ngô Nhĩ… Rồi dân Việt cũng sẽ trở thành một dân tộc thiểu số trên chính quê hương của mình… và những người yêu nước thương nòi cũng sẽ không chỉ bị các “đồng chí” công an Việt nam đánh đập giam cầm hay bị các tòa án của Việt nam xét xử như hiện nay… mà rồi đây họ sẽ bị xét xử và hành quyết bởi chính quyền trung ương Bắc Kinh như những người Duy Ngô Nhĩ vừa bị hành quyết trong tháng 11 và tháng 12 vừa qua.

Ôi tổ quốc tôi bao giờ sẽ trở thành một tỉnh Việt nam nằm bên cạnh tỉnh Vân Nam của Đại Hán?

Ôi dân tộc tôi bao giờ sẽ trở thành người thiểu số trên chính quê hương của mình?


Nguyễn Phúc Bảo Ân
Huế, trước ngày Đông chí 2009
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Mỹ Hoa đấu khẩu

Ngô Nhân Dụng
Hai nước Mỹ và Trung Hoa đang đấu khẩu tại Copenhagen, trong Hội nghị về Thay đổi Khí hậu kỳ thứ 15 do Liên Hiệp Quốc tổ chức, gọi tên là COP15. Trong hai ngày nữa, nếu hội nghị không đưa tới một kết quả nào đáng gọi là “có tiến triển” thì, trước mặt đại biểu 192 quốc gia tham dự, nước này sẽ chỉ tay vào nước kia mà tố: Lỗi tại bên đó cả!

Trung Quốc đã thành công một bước khi lôi kéo được 77 quốc gia cùng kết lại thành một khối những nước “đang phát triển,” (cũng gọi là “nước nghèo”) đứng đối lập với các “nước giàu,” tức là đã phát triển. Trước khi hội nghị khai mạc, Thứ Trưởng Ngoại Giao Hà Á Phi đã lên án Mỹ không theo gương Âu Châu đóng góp tiền cho quỹ giúp những nước nghèo giảm bớt việc thải khí CO2 làm bầu khí quyển Trái Ðất nóng lên dần. Các nước nghèo ở đây đại đa số là các nước Á Phi!

Ðại diện Mỹ đã đáp lễ nói rằng dân Mỹ không thể nào chấp nhận đóng thuế để chính phủ đem tiền đi giúp Trung Quốc làm bổn phận đó. Cuộc đấu khẩu “hâm nóng” hội nghị không khác gì khí CO2 làm khí hậu nóng thêm. Các nước nghèo khác thấy thái độ gây gổ của Trung Quốc chỉ làm cho cuộc bàn cãi bị trì hoãn và có thể chấm dứt mà chẳng thấy được đồng nào cả, cho nên đã bất bình. Mấy ngày sau, phía Trung Quốc phải thanh minh rằng họ chỉ kêu gọi Mỹ phải góp tiền giúp các nước nghèo, nhưng chính họ sẽ không nhận đồng nào trong đó cả! Các nước Á Phi càng bực mình. Nếu Trung Quốc không cần tiền thì đừng tố cáo gây ồn ào làm gì, để yên cho các nước nghèo bàn thẳng chuyện ai sẽ nhận được bao nhiêu tiền, có phải nhanh chóng hơn không?

Cuối cùng, cuộc bàn cãi trong hội nghị này là vấn đề Tiền. Tại sao lại dính đến tiền, cần tìm hiểu nguồn cơn cho rõ.

Nguyên do là bầu không khí bao quanh Trái Ðất đang bị đe dọa sẽ nóng lên dần dần, có thể tai hại cho tương lai nhân loại. Một lý do chính khiến nhiệt độ tăng là việc đốt các nhiên liệu, như dầu lửa, than đá, khí đốt, vân vân, thải ra chất CO2 ngày càng nhiều mà không tiêu đi đâu được. Lớp khí đó giống như một chiếc chăn, mền phủ lên khí quyển mỗi ngày một dầy thêm. Tấm mền giữ sức nóng mặt trời tỏa xuống mỗi ngày giống như trong nhà kiếng trồng cây cảnh vậy. Cho nên Trái Ðất ngày một nóng thêm. Người ta sẽ hỏi: Nếu khí hậu nóng hơn thì “mở máy lạnh,” tại sao phải lo? Lo vì nếu nhiệt độ trung bình trên Trái Ðất tăng thêm 2 độ nữa thì sẽ có nhiều hậu quả không thể biết trước sẽ đối phó ra sao: Mùa mưa, hướng gió sẽ thay đổi, ruộng nương mùa màng sẽ bị ảnh hưởng; băng đá trên địa cực sẽ tan ra, mực nước biển sẽ lên cao, nhiều thành phố và vườn ruộng ven biển sẽ bị ngập, vân vân. Người ta đã tính ra rằng kể từ khi có cuộc cách mạng kỹ nghệ đến nay, đốt than đốt dầu mãi, nhiệt độ trên mặt đất đã tăng thêm 0.7 độ bách phân. Nhưng trong 2 trăm năm đã qua tốc độ tăng còn chậm, bây giờ tăng nhanh hơn vì các nước đều đang kỹ nghệ hóa, họ tiêu thụ số dầu lửa, hơi đốt và than nhiều gấp trăm lần hồi thế kỷ trước!

Hội Nghị Kyoto năm 1997 đã công nhận mối nguy cơ khí hậu nóng dần, kết luận rằng cả thế giới phải giảm bớt tốc độ thải CO2 vào trong khí quyển. Không thể nào không phun thêm CO2 lên trời được, nhưng phải kềm chế cho phun lên ít ít thôi. Công ước Kyoto chỉ đòi hỏi các nước giàu hạn chế số khí CO2 thải ra, còn các nước nghèo được miễn. Nhưng có hai nước hiện nay thải nhiều khí CO2 nhất, cộng chung hai nước thải 40% số khí CO2 vào trong khí quyển mỗi ngày, thì không hạn chế số khí thải của họ. Ðó là Mỹ và Trung Quốc. Mỹ đã rút ra khỏi công ước Kyoto, không ký thì không nhận trách nhiệm phải thi hành. Trung Quốc thì được xếp vào loại nước nghèo, cho nên không phải tự hạn chế. Công ước Kyoto sẽ hết hiệu lực vào năm 2012, nếu không được các quốc gia ký kết triển hạn. Cho nên các nước nghèo hiện đang nghi ngờ các nước giầu muốn cứ để mặc cho nó chết nhẹ nhàng. Mà họ cũng không chấp nhận cho Trung Quốc, hiện nay đang thải nhiều khí CO2 nhất thế giới nhiều hơn cả Mỹ, mà lại đi “phá đám” có thể làm cho hội nghị bị vỡ, mọi người ra về tay không!

Ðiều mà các nước nghèo muốn đạt được là Tiền. Hội nghị COP 15 phải đưa tới những cam kết của các nước giàu giúp đỡ các nước nghèo trong kỹ thuật hạn chế khí thải CO2. (Trung Quốc, Ấn Ðộ, hiện nay làm ô nhiễm không khí thế giới nhiều nhất nhưng không phải đóng góp!)

Tại sao cần giúp đỡ? Vì muốn giảm bớt số khí CO2 phun vào khí quyển thì phải có những kỹ thuật mới rất tốn tiền. Nước giàu có thể bầy ra những “kỹ thuật sạch” đó, giống như phú quý sinh lễ nghĩa; còn các nước nghèo khó có tiền để được xài sang như vậy. Cho nên các nước tiên tiến phải góp tiền trợ giúp các nước nghèo. Trong những thế kỷ trước các nước giàu đã thải nhiều khí CO2 quá rồi, bây giờ họ không những phải giảm bớt mà còn có bổn phận giúp các nước nghèo giảm tốc độ thải CO2 nữa. Từ năm 1890 đến 2007, các nước giàu thải vô không khí 60% số CO2, riêng nước Mỹ với dân số bằng 5% số dân thế giới, đã chịu trách nhiệm 30%! Cho nên một hiệp ước về khí hậu trước đây đã quy định các nước giàu phải giúp tiền các nước nghèo mua hoặc sản xuất kỹ thuật hạn chế khí CO2.

Chính phủ Mỹ không chấp nhận quy tắc đóng góp vì các xí nghiệp Mỹ phản đối. Ấn định giới hạn số khí CO2 được phép thải ra tức là bắt các xí nghiệp phải tiêu tiền thay đổi kỹ thuật sản xuất cho “sạch” hơn, thải ít CO2 hơn trước. Tốn tiền tức là chi phí tăng lên, giá thành sẽ lên, hàng sẽ khó bán. Dân Mỹ không muốn đóng thuế để giúp các xí nghiệp Ấn Ðộ hay Trung Hoa có tiền thay đổi kỹ thuật sạch, rồi chính họ sẽ cạnh tranh với hàng hóa Mỹ!

Hiện nay các nước nghèo đang phát triển chính là nơi đang phun nhiều khí CO2 vào khí quyển nhất. Họ muốn các nước giàu phải hứa giúp. Muốn giúp, phải góp tiền, mà số tiền chi ra có thể lên tới 100 tỷ đô la một năm, hay còn nhiều hơn.

Trong hội nghị, các nước giàu đặt điều kiện ngược lại: Họ muốn trước hết các nước nghèo phải tự mình ấn định chỉ tiêu phải đạt được trong việc hạn chế việc thải khí CO2! Nếu không, thì không thể bàn chuyện giúp đỡ mua kỹ thuật sạch. Trong khi các nước nghèo chỉ muốn hứa hẹn chung chung thôi. Trung Quốc đã bị các nước nghèo khác phản đối khi chính phủ Bắc Kinh ủng hộ việc bắt các nước nghèo phải ký kết với giới hạn rõ ràng!

Trước khi lên đường đi Copenhagen, Tổng Thống Barack Obama đã đề nghị lập một quỹ 350 tỷ đô la để giúp các nước nghèo phát triển năng lượng sạch trong 5 năm, nước Mỹ sẽ xin góp 85 tỷ vào trong quỹ đó. Chương trình này sẽ giúp mua kỹ thuật dùng năng lượng mặt trời để bớt dùng than, dầu sản xuất điện. Sẽ dùng những khí cụ trong nhà loại mới ít tốn điện hơn, như máy lạnh, máy giặt, vân vân. Và sẽ nghiên cứu phát triển các nguồn năng lượng sạch mới, không thải ra khí CO2. Hiện nay chính phủ Mỹ cũng đang khuyến khích các doanh nhân hướng về nghiên cứu và sản xuất các kỹ thuật năng lượng sạch mới, với chương trình kích thích kinh tế. Ðây là một ngành đang lên, có hy vọng sẽ là một ngành hái ra tiền trong tương lai, khi cả thế giới thấy phải bớt hoặc ngưng dùng than đá, khí đốt và dầu lửa.

Cuối cùng trong hội nghị Copenhagen các nước giàu sẽ phải cùng ấn định hạn chế việc thải khí CO2, từ nay đến năm 2020, hoặc lâu nhất là 2050. Các nước nghèo nhưng lớn như Ấn Ðộ, Trung Quốc, Brazil cũng sẽ ấn định mức giới hạn phải đạt được. Các nước giàu sẽ hứa giúp tiền cho các nước nghèo và nhỏ thay đổi kỹ thuật năng lượng sạch, nhưng chưa biết sẽ đặt ra nhưng điều kiện nào.

Ông Obama sẽ khó hứa hẹn nhiều với các nước khác trong hội nghị Copenhagen. Vì ông còn bị Quốc Hội kiểm soát chi tiêu. Trước khi ông lên đường, 10 nghị sĩ đảng Dân Chủ đã công khai gửi thư khuyến cáo rằng ông đừng quên “Chỉ Quốc Hội Mỹ mới có quyền hứa hẹn lâu dài, chứ không phải ông tổng thống!” Chính sách ngoại giao ở Mỹ là do Thượng Viện quyết định. Ngân sách chi tiêu là do cả hai viện Quốc Hội kiểm soát. Cho nên quyền hành của ông tổng thống Mỹ bị giới hạn, mà giới hạn lớn nhất chính là lòng dân.

Gần 50% dân Mỹ vẫn không tin rằng việc họ thải chất CO2 lại làm cho khí quyển Trái Ðất nóng hơn! Họ không tin như vậy thì không những chính phủ sẽ khó thuyết phục họ hạn chế họ tiêu thụ than và dầu, mà càng khó hơn nếu muốn dùng tiền đóng thuế của họ để giúp dân Á Châu, Phi Châu tiết kiệm năng lượng! Dân Mỹ đã quen dùng điện, hơi đốt để sưởi hồ bơi, chạy máy lạnh, lái xe, cắt cỏ, hành động nào cũng thải CO2 cả, thải nhiều nhất là các nhà máy điện dùng than. Làm sao can ngăn họ được? Hiện nay tiểu bang California đang dẫn đầu nước Mỹ, và thế giới, trong việc sử dụng điện mặt trời, nhưng không phải người Mỹ nào cũng thích những kỹ thuật mới lạ như dân California!

Cho nên trong ngày Thứ Sáu này, chúng ta không hy vọng ông Obama và ông Hồ Cẩm Ðào gặp nhau sẽ vui vẻ như tháng trước gặp ở Bắc Kinh. Khi đó, hai ông đều lên tiếng hứa hẹn hai nước sẽ hợp tác cùng hạn chế khí CO2 thải vào không khí. Nhưng bây giờ là lúc đi vào chi tiết, cả hai đều sẽ ngập ngừng. Nếu kết quả hội nghị chỉ là nói suông chứ không cam kết điều gì cụ thể, Mỹ sẽ đổ lỗi tại Tàu và Tàu sẽ đổ tội cho Mỹ!
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Rắn Độc Khủng Bố

Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh
Các tướng lãnh cao cấp nhất của Mỹ đã đến Afghanistan và Pakistan giữa lúc Mỹ mở cuộc hành quân đại quy mô để tiễu trừ khủng bố ở biên giới hai nước. Đô đốc Mike Mullen, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu Liên quân, đã đến Kabul để bầy tỏ mối quan tâm về tình trạng "gia tăng thông đồng" giữa bọn nổi loạn Taliban và khủng bố al-Qaida, khi bọn này vượt biên trốn qua Pakistan. Ông cũng thảo luận với chính quyền Afgha về các đợt tăng quân Mỹ cùng việc huấn luyện quân đội và cảnh sát nước này theo quyết định của TT Obama. Đô đốc Mullen nói với các phóng viên ông sẽ qua Islamabad cuối tuần này để thảo luận với chính quyền Pakistan.

Trong khi Đô đốc Mullen đến Kabul, Đại tướng David Petraeus,Tư lệnh cao cấp của hai mặt trận Iraq và Afghanistan, đã đến Islamabad để thảo luận với chính quyền Pakistan về chiến lược mới chống khủng bố của TT Obama, theo đó một phần quan trọng dành cho Pakistan là tiễu trừ và phá tan các nơi ẩn trú của bọn khủng bố al-Qaida dọc biên giới Afghanistan. Về việc tăng quân đầu tuần này một tướng lãnh cao cấp Mỹ, Trung tướng David Rodriguez nói số quân Mỹ gia tăng 30,000 người sẽ tiến hành chậm từ nay đến khoảng 1 năm nữa mới hoàn tất.

Tại Pakistan quân đội chính phủ truy lùng gắt gao bọn Taliban và khủng bố trong khu vực Bắc và Tây Bắc nước này. Quân đội cho biết các cuộc đụng độ ở Tây Bắc gần thị trấn Peshawar, đã giết được 16 tên Taliban. Sáng thứ hai, bọn Taliban đã nổ bom ở một trường nữ Tiểu học, làm sụp 5 lớp học, nhưng không gây thương vong. Một viên chức chính quyền nói: "Bọn chúng không muốn cho trẻ em được đi học". Trong những năm gần đây, bọn cực đoan Hồi giáo chống lại việc trai gái học chung với nhau trong một trường, nên đã đặt bom phá hàng trăm trường học, phần lớn là nữ học ở Tây Bắc Pakistan.
Pakistan là địa bàn quan trọng nhất trong chiến lược chống khủng bố của TT Obama. Hãy nhìn qua bản đồ của nước này. Pakistan phía Bắc tiếp giáp Trung Quốc, phía Đông tiếp giáp Ấn Độ với đường biên cương kéo dài từ Bắc xuống Nam đến tận Ấn độ dương. Phía Tây biên giới Pakistan tiếp giáp với Afghanistan một đọan rất dài ở vùng trên, nhưng có một đoạn ngắn ở phía dưới lại tiếp giáp với Iran. Với địa hình đó, người ta hiểu tại sao năm 1987, siêu cường Liên Sô đã thua trận ở Afghanistan phải bỏ chạy. Aghanistan không có bờ biền để Liên Sô có thể vận tải vũ khí và tiếp vận cho quân đội của họ, nên phải dùng đường bộ nhỏ hẹp qua núi hiểm trở, rất xa với Nga ở Bắc Âu. Ngày nay đối với Mỹ lại khác. Mỹ dùng Không quân chuyển vận người và vũ khí qua phi trường Tashken của nước Uzbekistan, nay đã độc lập ở phía Bắc Afghanistan.

Từ địa hình đó, người ta có thể nhìn thấy những điểm quan trọng của chiến lược Obama. Trước hết về Hồi giáo và bọn khủng bố. Hồi giáo đã xuất hiện ở Saudi Arabia Trung Đông từ Thế kỷ 7, chia ra hai hệ Sun-ni và Shi-a. Phong trào khủng bố al-Qaida do Osama bin Laden tổ chức ở Afghanistan. Bin Laden người gốc Saudi Arabia, đa số là Hồi giáo Sun-ni. Afghanistan tiếp giáp Pakistan mà hầu hết dân cũng theo hệ Sun-ni. Nhưng dân Pakistan thù hận al-Qaida vì một tên khủng bố đã giết chết bà Benazir Bhutto, cựu Thủ Tướng Pakistan. Trong những ngày gần đây sau khi Mỹ mở trận đánh lớn ở Afghanistan, bọn khủng bố bắt đầu tấn công liên tục bằng bom tự sát ở Pakistan. Một xe bom tự sát đã nổ ở khu chợ thị trấn Dera Ghazi Khan, thuộc tỉnh Punjabi ở miền Trung, giết chết 27 người dân, hơn 70 người bị thương. Đây là đòn trả đũa vụ quân chính quy Pakistan đang mở cuộc hành quân truy nã al-Qaida và Taliban ở vùng biên giới, nơi cấp lãnh đạo khủng bố đã từ Afghanistan chạy qua. Hôm thứ ba, một xe bom tự sát đã nổ ở Kabul gần nhà một cựu Tổng Thống của nước này và một khách sạn có nhiều người ngoại quốc trú ngụ, làm chết ít nhất 8 người và bị thương hàng chục người.
Ở cạnh phía Đông Pakistan có Ấn Độ cũng là nước đã bị khủng bố tấn công. Nhưng giữa Ấn Độ và Pakistan có mối cựu thù là tranh chấp vùng đất Kashmir ở phía Bắc cả hai nước, nên Mỹ đang tìm mọi cách để hai nước tạm gác sự tranh chấp qua một bên mà nhìn đến mối họa ngay trước mắt là khủng bố. Ở phía Tây Nam Pakistan biên giới tiếp giáp nước Iran. Nước này theo hệ Shi-a, nên cũng chống khủng bố al-Qaida. Ở Iraq ngày nay, những người gốc Shi-a đã bị khủng bố al-Qaida theo hệ Sun-ni tàn sát. Chiến lược Obama cũng có thể nhìn đến hay trông đợi một sự xung đột quy mô hơn giữa hai hệ Shi-a và Sun-ni ở bên ngoài biên giới của Iraq. Ở phía Bắc, hai nước Pakistan và Afghanistan tiếp giáp Trung Quốc.

Đây cũng là một yếu tố quan trọng cho chiến lược đánh khủng bố. Trung Quốc đã nếm mùi khủng bố ở Tân Cương, nơi nước này đang nỗ lực xây dựng thủ phủ Urumqi ở phía Bắc, có dân bản xứ theo Hồi giáo và đã xẩy ra những trận đụng độ đẫm máu với một nhóm khủng bố của đạo Hồi từ Trung Á (Kazakhstan) truyền đến. Trước đây Trung Quốc đã có nhiều lần chiến tranh với Ấn Độ về đường phân ranh biên giới, nhưng ngày nay với sự khích lệ của Mỹ, Trung Quốc đang cần hiện đại hóa kinh tế, có thể sẽ tạm gác vụ tranh chấp biên giới để hợp tác đối phó với mối nguy khẩn cấp ngay trước mắt là nạn khủng bố của phe cực đoan Hồi giáo Sun-ni.

Hãy trở lại tình hình thực tế trong lúc này. Tổ chức khủng bố giống như một con rắn độc. Những đòn tấn công của quân đội Mỹ ở Afghanistan đã tạo ra một sự ly kỳ. Đầu và đuôi con rắn đó, bọn cầm đầu al-Qaida và bọn Taliban theo đuôi, đã cùng chạy về ẩn náu tại vùng biên giới Pakistan. Mỹ không thể đem quân qua Pakistan, nhưng Mỹ có một thứ vũ khí vô cùng lợi hại là phi cơ không người lái (drone). Trong các cuộc chiến gần đây, sử dụng phi công không người lái để do thám và bắn phi đạn là chuyện thường xẩy ra. Nhưng lần này Mỹ dùng loại phi cơ không người lái hiện đại nhất, nó có thể bay cao đến độ mắt thường không nhìn thấy hay lẩn vào trên mây, theo dõi và bắn vào những xe chạy trên đường núi hiểm trở và cả những hang ở suờn hay khe núi. Cho đến nay các nguồn tin báo chí cho biết đã có hàng trăm tên al-Qaida hay Taliban đã bị giết vì phi cơ không người lái hiện đại.

Chiến tranh chống khủng bố là chiến tranh không giới tuyến, vì bọn khủng bố không dám dàn mặt trận để đánh. Chúng chỉ đánh lén bằng bom tự sát để chết theo bom, nếu bị tấn công chúng bỏ chạy. Để đối phó với kiểu chiến tranh mới này, phi cơ không người lái là loại vũ khí thích ứng nhất.

SƠN ĐIỀN NGUYỄN VIẾT KHÁNH
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Một nhà kinh tế Mỹ lạc quan

Ngô Nhân Dụng

Vào dịp cuối năm, mọi người vẫn hay dự đoán về tương lai năm sắp tới. Năm 2010 kinh tế Mỹ sẽ ra sao? Giáo Sư Alan S. Blinder, thuộc Ðại Học Princeton, mới đưa ra một viễn tượng rất lạc quan, người nghi ngờ sẽ coi là quá lạc quan. Ông Blinder, đã từng làm phó chủ tịch Federal Reserve, tức ngân hàng trung ương Mỹ, thuộc loại “nhà kinh tế một bàn tay.” Theo ông tính toán thì kinh tế Mỹ sang năm sẽ rất khá, ông đã thấy toàn dấu hiệu tốt lành!

Trong một bài viết tuần trước, Giáo Sư Blinder phân tích thấy cuộc khủng hoảng tín dụng đang dần dần nguôi và hệ thống ngân hàng sắp hoạt động bình thường trở lại. Ông đoán chỉ trong mấy tháng nữa thôi các xí nghiệp sẽ bắt đầu tuyển thêm người, tạo thêm công việc làm mới.

Từ Tháng Bẩy năm 2009 ông Blinder đã viết một bài trên nhật báo Wall Street tiên đoán kinh tế Mỹ đang xuống đến chỗ thấp nhất rồi (đụng đáy), chỉ còn hướng đi lên thôi. Bây giờ vào Tháng Mười Hai, ông thấy đó là một sự thật. Nếu quý vị đang mong có một tin vui về nền kinh tế Mỹ, xin đọc tiếp những lý luận của ông.

Vào cuối Tháng Bẩy, ông Blinder mới nhận thấy 6 tháng đầu năm có chuyện lạ. Số tiền “đầu tư” trong nền kinh tế Mỹ đã giảm bớt quá nhiều, giảm 38%. Trong khi đó, toàn thể các hoạt động kinh tế thì giảm 3.6%. Tại sao lạ? Vì ai cũng biết trong nền kinh tế Mỹ có ba phần chính, tiêu thụ, đầu tư, và chi phí của nhà nước, thì phần “đầu tư” chiếm 14% tổng số GDP. Nếu phần đó giảm 38% thì riêng nó không đã kéo toàn thể GDP xuống, giảm mất 5.4% (tức 14% x 0.38). Nếu GDP chỉ giảm 3.6% tức là ở các khu vực khác đã tăng lên được 1.8%. Ai cũng thấy, đó là do chính phủ Mỹ đã gia tăng chi tiêu, bù cho cảnh dân chúng giảm chi và các xí nghiệp giảm đầu tư.

Nhưng điều khiến ông Blinder lạc quan là trong quý thứ ba năm nay phần đầu tư trong kinh tế Mỹ không còn giảm nữa là đã tăng lên 11%. Ðang xuống nặng, nếu xuống nhẹ hơn đã là phước rồi; nay lại tăng lên nữa thì đúng là đại phúc. Khi tính tổng số đầu tư, thấy có 3 phần: máy móc thiết bị mới; xây cất nhà cửa mới; và sản xuất thêm hàng không để đem bán nhưng để gia tăng hàng tồn kho. Trong nửa đầu năm 2009, các xí nghiệp Mỹ đã giảm sản xuất vì lấy hàng trong kho ra dùng hoặc bán; nhưng đến lúc họ cũng phải lo thiếu hàng cho nên phải chất thêm hàng vào kho. Ðây là một lý do để chúng ta lạc quan là hoạt động sản xuất sẽ tăng trở lại thay vì giảm đi. Trong khi đó thì các xí nghiệp hoãn việc mua sắm thiết bị mới sẽ tới lúc phải đi mua trở lại, và kỹ nghệ xây dựng gia cư cũng sẽ phải ngóc lên sau những tháng ngưng trệ.

Cuối cùng thì dù phần đầu tư có tăng lên nhiều cũng không đủ để vực cả nền kinh tế lên, vì đó vẫn là một phần rất nhỏ. Chính phủ tăng chi tiêu nhưng sẽ bị giới hạn vì không dám chấp nhận khiếm hụt ngân sách quá đáng. Phần quan trọng nhất vẫn là trách nhiệm người tiêu thụ, họ đóng góp vào hai phần ba tổng sản lượng nội địa. Trong một năm nay, người Mỹ giảm tiêu thụ. Người không may mất việc thì giảm chi, người khác còn khá giả cũng giảm chi khi thấy tài sản của mình tự dưng nghèo hơn vì nhà xuống giá, cổ phần cũng xuống giá. Ðây là điều Giáo Sư Blinder không dám tiên đoán lạc quan lắm. Nhưng ông đã tính rằng giả thử dân Mỹ bớt chi tiêu, tỷ lệ tiết kiệm từ 2.7% lợi tức khả dụng tăng lên thành 5%, thì kinh tế Mỹ năm 2010 vẫn có thể gia tăng với tốc độ 3 hoặc 4% một năm. Ðược như vậy thì tốt quá rồi!

Một điều khiến Giáo Sư Blinder lạc quan là cảnh gia tăng năng suất trong thị trường nhân dụng. Năng suất lao động (productivity) được đo lường bằng trị giá số sản xuất trung bình trong một giờ người lao động làm việc. Khi kinh tế suy thoái thế nào năng suất trong cả nước cũng tăng lên. Lý do vì các xí nghiệp giảm bớt nhân viên và công nhân khiến cho những người còn giữ được việc làm sẽ phải làm giỏi hơn, nhanh hơn trước. Công việc trước kia do 4 người làm, bây giờ chỉ có 3 người làm thôi, dù số việc có giảm đi chút đỉnh thì cả 3 người còn lại đều có năng suất lao động cao hơn trước.

Một dấu hiệu đáng chú ý là trong sáu tháng vừa qua chỉ số tính năng suất lao động ở Mỹ đã tăng lên đến hơn 8%. Ðây là một hiện tượng bất thường. Một lý do có thể là những người đang làm việc được dùng máy móc tốt hơn. Trong thời gian qua số máy móc mới, phương pháp làm việc mới đã được phổ biến thêm trong sinh hoạt kinh tế nước Mỹ, giúp cho người lao động tăng năng suất. Trong lúc kinh tế đi xuống, các hoạt động sáng chế cái mới, hoạt động phổ biến những cái mới chưa được dùng nhiều, đều đã gia tăng lên.

Nhưng khi nhìn vào tỷ số 8% gia tăng của năng suất lao động thì người ta cũng phải thấy ngay rằng nhân viên và công nhân các xí nghiệp ở Mỹ đã làm việc “tận lực” rồi - nói cách khác, họ đã bị “bóc lột sức lao động” tối đa để xí nghiệp khỏi phải tuyển nhân viên mới. Hệ quả là: Trong thời gian sắp tới, các xí nghiệp sẽ bắt buộc phải tuyển mộ thêm người! Thị trường nhân dụng chắc chắn sẽ phục hồi trong mấy tháng tới. Tháng Mười Một vừa qua, nước Mỹ chỉ mất 11,000 công việc làm, một con số rất nhỏ; đó cũng là một dấu hiệu lạc quan.

Nhưng trên đây là chưa nói tới những số tiền chính phủ Mỹ sẽ chi tiêu mà đạo luật kích thích kinh tế hồi Tháng Hai đã quyết định là 787 tỷ Mỹ kim. Từ khi được chuẩn chi đến cuối năm, bộ máy hành chánh liên bang cũng chỉ đủ sức chi ra 30% số tiền đó. Còn lại 70% sẽ tiêu nốt trong năm 2010 và 2011. Khi số tiền đó được đem trả lương cho nhân viên hay mua từ các xí nghiệp, chúng sẽ được đem ra tiêu dùng, góp vào số tiền tiêu thụ trong xã hội Mỹ.

Cuối cùng, còn một yếu tố nữa để giúp người Mỹ lạc quan: Chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương. Ông Ben Bernanke, chủ tịch Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang mới được tuần báo Time chọn làm “Nhân vật năm 2009” (Năm ngoái họ chọn ông Obama khi ông mới đắc cử). Ben Bernanke trở thành “nhân vật” nổi bật, cho thấy điều người Mỹ quan tâm nhất hiện nay là kinh tế. Từ cuối năm 2008 Ngân Hàng Trung Ương Mỹ đã giảm lãi suất xuống đến gần số không. Lãi suất giảm nhằm khuyến khích người ta vay tiền để tiêu thụ hoặc đầu tư, hậu quả là thúc đẩy kinh tế. Hành động của Ngân Hàng Trung Ương Mỹ đã thúc đẩy được gì chưa?

Các nhà kinh tế đều biết rằng sau khi Ngân Hàng Trung Ương giảm lãi suất, không phải ai cũng chạy tới nhà băng vay tiền ngay. Không phải ai tới xin vay thì ngân hàng cũng thuận ngay. Một xí nghiệp phải mất hàng tháng hay hàng năm mới quyết định được một dự án đầu tư. Người tiêu thụ cũng chỉ đi vay khi biết trước công việc làm ổn định không lo thất nghiệp trong năm tới! Cho nên phải chờ cả năm sau ảnh hưởng của quyết định giảm lãi suất mới thấm đến tất cả xã hội, kích thích cho kinh tế hồi phục. Bây giờ đã là một năm kể từ khi lãi suất ở Mỹ xuống gần số zero.

Nhưng cuộc khủng hoảng kinh tế lần này đặc biệt hơn trong quá khứ vì nó bắt nguồn từ trong hệ thống ngân hàng. Thường thường, kinh tế khủng hoảng trong hệ thống sản xuất và tiêu thụ, khi số cung và cầu bị chênh lệch quá đáng. Khi số sản xuất lên quá cao không bán kịp, các xí nghiệp lo ế hàng sa thải nhân viên khiến nhiều người thất nghiệp làm số tiêu thụ lại giảm đi, các xí nghiệp khó bán hàng lại cho thêm nhiều người nghỉ, cứ như vậy cái vòng luẩn quẩn làm cho cả nền kinh tế đi xuống với nhau. Cuộc khủng hoảng từ năm 2007 không giống kiểu đó. Nó bắt nguồn từ sự sụp đổ trong hệ thống ngân hàng. Vì vậy, trong cơn khủng hoảng này tất cả các ngân hàng đều rụt rè không cho vay dễ dãi như thường lệ. Do đó, chính sách giảm lãi suất của Ngân Hàng Trung Ương sẽ phải đợi hơn một năm, có thể đến 2 năm mới tác động được vào sinh hoạt tiêu thụ và đầu tư! Tính ra thì trong năm 2010 tác động đó sẽ biểu hiện trong kinh tế nước Mỹ. Trong lúc này, hệ thống ngân hàng đang hồi phục, nhiều ngân hàng lớn đã trả lại chính phủ Mỹ những món tiền 10 tỷ, 45 tỷ được cho vay lúc khốn khó (cùng với tiền lời). Ngoài ra, Ngân Hàng Trung Ương Mỹ vẫn còn những “món võ” khác chưa thi triển hết, để kích thích cho tiền tệ lưu hoạt hơn. Chính sách đó sẽ cùng với các yếu tố khác kể trên đây đóng góp vào sự hồi phục của kinh tế Mỹ trong năm tới.

Giáo Sư Alan S. Blinder thú nhận rằng ông đã đưa ra những viễn ảnh rất lạc quan, có vẻ “một chiều.” Nói cách khác, ông tình nguyện làm một “kinh tế gia một tay.” Hoặc là ông có đủ hai tay nhưng tình nguyện chỉ dùng một tay trong câu chuyện đang bàn này, giống như một võ sư thượng thừa chấp đối thủ, chỉ đánh một tay thôi.

Xin giải thích danh hiệu “nhà kinh tế một tay” nếu quý vị chưa quen thuộc với hình ảnh này. Khi có nhiều ý kiến phân vân, người Mỹ không nói như người Việt mình rằng, “một mặt thì kinh tế rất lạc quan”... “nhưng đứng trên mặt khác thì lại có vẻ bi quan.” Họ không dùng chữ “mặt” mà dùng bàn tay.

Họ có thể vừa nói vừa khua hai tay: “on the one hand... on the other hand,” nghĩa là “trên bàn tay này (thì)... trên bàn tay kia (thì),” vân vân. Cho nên ông Tổng Thống Mỹ Harry Truman có lần hỏi ban tham mưu của ông: Kiếm cho tôi một kinh tế gia chỉ có một bàn tay được không? Rất khó kiếm. Nhà kinh tế nào mà chỉ có một bàn tay chắc sẽ thất nghiệp, thà đi làm nghề hớt tóc còn hơn!

Nhưng trong lúc năm hết Tết đến, ai cũng muốn nghe những tin tức lạc quan cho cả làng vui vẻ; chính ông Blinder thú nhận như vậy. Khi người ta vui vẻ, lạc quan, họ sẽ sẵn sàng đem tiền ra xài, ai cũng nghĩ như vậy thì có thể thúc đẩy cho kinh tế hồi phục sớm hơn!

Nếu sang năm mới các số thống kê cho thấy thái độ lạc quan trên đây là không tưởng, ký giả này sẽ trình bày những lý luận ngược lại; để quý vị thấy trong kinh tế học có nhiều nhà nghiên cứu đầy đủ cả hai tay!
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Hai Phụ Nữ Bất Khuất

Vi Anh
Hai gương mặt phụ nữ nổi bật ở Á Châu trong khúc quanh thế kỷ 20 và 21 là hai Bà Aung San Suu Kyi ở Miến Điện và Rebiya Kadeer ở Tân Cương. Hai Bà nổi bật ở tinh thần bất khuất chống độc tài, độc tài quân phiệt và độc tài cộng sản.

Một là Bà Aung San Suu Kyi ở Miến Điện. Nhìn lại hình ảnh Bà Aung San Suu Kyi, khôi nguyên Nobel Hoà Bình, một phụ nữ cao chỉ 1m 62, nặng 50 kg. Nhưng tinh thần đại hùng, đại lực, đại từ bi của Bà cứng như kim cương trong công cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền Miến Điện. Bà xuất hiện khi ra toà án của quân phiệt, người ta thấy đúng là một người phụ nữ hoa sen của Miến Điện.

Nhà cầm quyền quân phiệt với tướng tá sao lớn sao nhỏ và nửa triệu quân binh trang bị tận răng và cả một chế độ Trung Cộng hậu thuẫn nhưng, như Tướng Than Shwe cầm đầu chế độ độc tài quân phiệt Miến điện, quá cô đơn giữa lòng dân tộc, ngày đêm lo sợ Bà và nhân dân đang chống đối họ - như sợ chính cái bóng của mình. Sợ đến đổi phải dời thủ đô Rangoon, xây dựng một kinh đô mới cho chế độ trong vùng rừng núi cheo leo, hẻo lánh để tránh xa dân chúng, để dễ phòng ngự.

Vì Bàø Aung San Suu Kyi là một biểu tượng của lực lượng đối lập sáng chói nhứt như Mandela được cả Nhân Loại ngưỡng mộ khi chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc ở Nam Phi. Nhà cầm quyền quân phiệt sợ Bà vì Bà là một người tù lương tâm của chế độ. Chế độ giam cầm, quản thúc Bà cả chục năm. Bà là người ít được thấy nhứt nhưng lại là một trong một số ít phụ nữ nổi danh nhứt thế giới.

Hai là Bà Rebiya Kadeer ở Tân Cương. May mắn hơn Bà Aung San Suu Kyi bị quân phiệt giam cầm ở Miến Điện, Bà Rebiya Kadeer được tỵ nạn chánh trị ở Mỹ. Ơû hải ngoại, từ mấy tháng nay Bà bôn ba qua Nhật Bản, Úc, Thụy Điển, Ý, Đức, Thụy Sĩ, và đến Pháp để vận động công luận ủng hộ chính nghĩa của thiểu số Duy Ngô Nhĩ.

Bộ Ngoại Giao Pháp tiếp đón Bà. Nhưng Trung Cộng mở cả một chiến dịch đánh phá Bà, chẳng những triệt Bà ở ngoại quốc mà còn triệt con cái Bà trong quốc nội nữa. Đến nổi báo Pháp Libération đã trích dẫn một câu nói của bà để chạy thành tựa : " Bắc Kinh muốn đập tan ý chí của tôi bằng cách bỏ tù mấy đứa con tôi ".

Rebiya Kadeer có 11 người con. Năm người hiện đang sống ở Hoa Kỳ, một người tại Uùc. Và 5 người còn kẹt ở TC thì một người bị kêu án chín năm tù, ba người khác cùng chín người cháu bị quản thúc tại gia. CS Bắc Kinh dùng con Bà còn kẹt ở TC để áp lực Bà. Mạnh nhứt là sau khi Bà được bầu làm chủ tịch Đại hội Thế giới Duy Ngô Nhĩ, vào năm 2006. Bà thú thật cũng có người con không đồng ý Bà làm chánh trị.

Vì yêu dân thương nước mà Bà nay gần như tán gia bại sản. Chớ sống một đời sống bình thương thì phú quí vinh hoa Bà có thừa cho Bà và cho con cháu. Bà là nữ doanh nhân giàu nhất ở Tân Cương với tài sản đứng hành thứ bảy tại Trung Quốc. Bà được Đảng cử để đại hội bầu vào Đại hội Tham vấn nhân dân Trung Quốc. Nhưng trước vụ " thảm sát ở Kuldja" năm 1997, Bà không chịu nổi nữa. Nhà cầm quyền Bắc Kinh không thích và e ngại những cuộc tụ tập đông người đã ra lệnh bắt giam từ 200 đến 300 thanh niên Duy Ngô Nhỉ ở Kuldja đã tổ chức sinh hoạt thể thao trong khuôn khổ một chiến dịch chống ma tuý. Người Duy Ngô nhỉ biểu tình ôn hòa để đòi trả tự do cho những người bị bắt. Quân đội TC đã bao vây thành phố và bắn vào đám đông. Hàng ngàn người Duy Ngô Nhĩ đã bị bắt giam và hàng trăm người bị hành quyết.

Thế là ý thức và tinh thần quốc gia dân tộc, lương tâm công chính của Con Người trong Bà bùng dậy. Làm sao chấp nhận được quốc gia dân tộc, đồng bào của Bà mất đi. Nước Đông Turkestan trong lịch sử, dân tộc Duy ngô nhĩ theo văn minh Thổ Nhĩ Kỳ, đạo Hồi đều bị Hán hóa. Tân Cương thành một cái tỉnh, "đất mới" của TC, và TC cho là một "phần đất không thể chuyển nhượng được" của lãnh thổ Trung Quốc. Năm 1949, khi Mao gồm thâu cả nước, người Hán chỉ có 6% ở Tân Cương, bây giờ người Hán đã lên 45% của tổng dân số là 21 triệu. Tân Cương trởû thành thuộc địa khai thác tài nguyên, nguyên liệu cho TC từ dầu lửa, khí đốt và đến kim loại màu. Chưa đủ, gần đây nhơn danh chống khủng bố CS Bắc Kinh cào bằng văn hóa Duy Ngô nhĩ, ra lệnh cấm dạy ngôn ngữ của thiểu số này tại Tân Cương, đóng cửa nhiều đền thờ Đạo Hồi.

Ba và sau cùng, theo báo Libération, trên thế giới hiện nay có khoảng 1,2 triệu người Duy Ngô Nhĩ. Ít hơn người Việt ở hải ngoại, người Việt ở hải ngoại sống ngoài chế độ độc tài CS Hà nội có trên ba triệu người. Cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN tuy vậy mà khó hơn của người Duy Ngô nhĩ. Ở Tân Cương CS Bắc Kinh lấy nước của người Duy ngô nhỉ, cho dân Tàu tràn ngập, cho quan Tàu cai trị - dễ chống đối hơn. Chống đối thực dân cũ khác văn hóa, khác dân tộc, khác tiếng nói dễ hơn chông đối chế độ "tự thực dân" như ở VN. CS Hà nội là những người da VN nhưng tâm TC. CS Hà nội dễ dùng tình tự quê hương, nghĩa đồng bào để lung lạc tinh thần đấu tranh của người Việt trong lẫn ngoài nước. CS Hà nội dễ lập lờ đánh lận con đen bằng tuyên truyền với kỹ thuật đồng hóa Tổ Quốc VN là Tổ Quốc Xã hội Chủ Nghĩa, đồng hóa chế độ chánh trị, cai trị, nhà cầm quyền CS Hà nội, Đảng Nhà Nước CS Hà nội với quốc gia dân tộc để lôi kéo những người hời hợt. CS dễ dùng kỹ thuật hình sự hóa biến những hành động đấu tranh chánh trị thành tội phạm hình sự, hoàn toàn chối bỏ không có tù chánh trịï ở VN, khiến quốc tế khó can thiệp.

Nhưng quốc gia dân tộc VN với 1000 năm kinh nghiệm chống Tàu khiến Tàu không đồng hóa nước VN thành tỉnh quận của nước Tàu như Tân Cương. Ba lần Bắc Thuộc, bao quân Tàu hung hãn như Nguyên Mông, người Việt đều có cách, đều đứng lên đánh đuổi được quân Tàu. Không có lý do gì người Việt bó tay chịu chết trước âm mưu thực dân mới của TC. Có thể trong nhiều giai đoạn, nhiều chánh nghĩa đấu tranh chống CS Hà nội, chánh nghĩa đấu tranh chống Tàu Cộng chiếm đất, chiếm biển, xâm lấn bờ cõi, giang sơn gấm vóc VN, là cuộc đấu tranh nhiều người Việt đoàn kết, đứng lên nhứt. Ở Bắc, ở Trung, ở Nam, ở hải ngoại; từ ngoài Đảng Nhà Nước đến trong Đảng Nhà Nước CS; ở mọi nơi. Nhiều những Aung San Suu Kyi, Rebiya Kadeer đang xuất hiện, đúng như lời Nguyễn Trãi nói, VN đất nước có lúc thịnh suy nhưng anh hùng hào kiệt thời nào cũng có.

VI ANH
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Cái bánh vẽ
Cuộc đời thực có nhiều chuyện không ai ngờ, thế mà vẫn xảy ra. Ba mươi sáu năm về trước, người VN trốn lánh công an VC băng qua biên Đông để đi tìm tự do. Ba mươi sáu năm về sau, người VN lại lũ lượt chính thức đi máy bay hay đường bộ , để tụ tập ở cánh rừng miền cực bắc nước Pháp, chờ đợi đi lậu vào Anh Quốc với mục đích được đổi đời.

Hai lần vượt biên có khác nhau về mục đích, về hành trình, về nguyện vọng, tuy nhiên, cùng phải trải qua những nguy hiểm, và gian khổ giống như nhau.

Cuộc vượt biên của 36 năm về trước là cuộc vượt biển vì lý do chính trị, đại đa số thuyền nhân là những người dân miền Nam, VC gọi là “ngụy dân, ngụy quân, ngụy quyền”. Nhũng người này bỏ nước ra đi để tránh sự hận thù, sự kỳ thị của lũ người chiến thắng, để được sống tự do. Người vượt biển biết trước mối nguy trên biển nhưng quyết định một chết hai sống ra đi, vì ở lại là sống không ra sống. Cuộc vượt biên vi thế được thế giới cảm thông và hết lòng giúp đỡ. Đa số những người vượt biên này đều ôm ấp nguyện vọng là chế độ CS sụp đổ để được trở về quê hương..

Cuộc vượt biên của 36 năm về sau là vượt biên vì lý do kinh tế. Những người này, đại đa số ở vùng Nghệ An, Hà Tĩnh, Đồng Hới, quê của “Bác Hồ”, trưởng thành trong môi trường xã hội chủ nghĩa, là những con người xã hội chủ nghĩa. Họ rời bỏ quê hương ra đi, rũ cái hãnh diện là dân vô sản, để làm giầu nhanh như lãnh đạo của họ đã biến thái để trở thành đại gia. Họ trả tiền để được cấp giấy sang Nga hay Tầu. Từ những nơi này, họ được đưa bằng đường bộ qua nhiều nước tới vùng Calais miền cực bắc nước Pháp. Họ sống khổ cực trong những lều dựng trong rừng, để chờ cơ hội nhảy lên những chiếc xe chở hàng, nhập cảnh lậu vào Anh Quốc. Tr ên chặng đường chót này, có người chết v ì rơi từ nóc xe chở hàng xuống đất, có người ch ết ngộp vì trốn trong thùng xe đóng kín.

Hai cuộc vượt biên đều nguy hiểm khổ cực như nhau, chỉ khác một điều là những người vượt biên khi xưa bị công an săn đuổi, bắn giết, còn những người đi vượt biên hiện nay thì được nhà nước tiếp tay với đường dây buôn người đưa sang Tầu sang Nga an toàn. Từ những nơi này đến rừng Calais, những người này đã kể lại rằng đã bị cướp bóc đánh đập dã man khảo của, còn phụ nữ thì bị hiếp dâm suốt chặng đường, mà tiếng dễ nghe là “đóng thuế thân”, bởi đủ các loại người. Nhiều người đã hối tiếc rằng đã quyêt định ra đi như thế. Bởi vì, họ đã bị rỉ tại đánh lừa rằng sang Anh đi trồng cần sa hay đi làm nhà hàng là những việc dễ kiếm, không cần có tài nghề gì, cũng được 5,000 đô la một tháng. Cho nên, những con người lớn lên trong khẩu hiệu “lao động là vinh quang” do đó sẵn sàng mang sức lao động bắp thịt của mình để đưọc đổi đời mau chóng.

Đúng rằng ờ Anh cũng như ở Mỹ và Canada, có tình trạng trồng lậu cần sa, mà những người bỏ quê này gọi là “trồng cỏ”. Nhưng những lối kiếm tiền này đã bị tiết lộ từ mấy năm nay, và báo chí đều đã có những phóng sự điều tra cũng như các cơ quan an ninh lùng bắt. Có thể là nếu không bị bắt hết thì nghề này không phải là có thể thu hút nhiều nhân công. Cho nên, toàn bộ kế hoạch bỏ quê đi trồng cỏ là phiêu lưu, bế tắc. Nghề nhà hàng thì không dễ kiếm và lương không phải là 5,000 đô la như tưởng tượng. Vì thế, những người này không có nhiều hy vọng được cho định cư, vì phương cách kiếm tiền của họ không phải là phương cách lương thiện, và khả năng thì không có, ngay cả khả năng nói tiếng Anh hay tiếng Pháp để mà truyền đạt cho đúng tiêu chuẩn gọi là “làm bồi” ở các nước văn minh.

Cái bánh vẽ thiên đường vô sản mà Hồ chí Minh và đảng Cộng sản đem vào cho dân Việt hơn nửa thế kỷ, đã tạo nên những con người xã hội chủ nghĩa tin rằng có thể biến sỏi đá thành cơm gạo, nhờ Bác và đảng. Cái bánh vẽ 5,000 đô la đi làm bồi và trồng cần sa cũng lại lừa những con người xã hội chủ nghĩa này một lần nữa, để lâm vào sự khốn khổ trong rừng miền Bắc Pháp. Trước mặt họ là gì? Chờ chực để tiếp tục lao vào con đường nhập cảnh lậu từ bắc Pháp sang Anh, với rất nhiều hiểm nguy và rất dễ bi khám phá, khi mà câu chuyện vào Anh trồng cỏ đã bị phanh phui rộng rãi trên truyền thông. Chờ chực để được đưa về nguyên quán, khi Pháp tìm ra tiền để cho lên phi cơ trục xuất. Chờ chực để tìm cách biến vào những cộng đồng người Viêt Động Âu, sống ngoài vòng pháp luật, hay là trở thành tay chân của bọn Mafia Cộng sản, mà các báo điạ phương đã từng điều tra làm phóng sự.

Dù sao thì cũng vẫn có thể kết luận rằng là “nhờ ơn Bác và đảng”.

Đan Tâm
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Tặng quà không phí phạm

Ngô Nhân Dụng
Không cần biết ngày sinh tháng đẻ cũng có thể bấm lá số đoán được rằng, nếu quý vị đang sống ở nước Mỹ, tuần này sẽ đầy xao xuyến âu lo, băn khoăn, ân hận. Quý vị không cần phải băn khoăn về các cuộc chiến tranh ở Afghanistan hay Iraq, hoặc lo âu về dự luật cải tổ y tế sẽ được Thượng Viện thông qua. Phần lớn những người lớn tuổi ở Mỹ đang mang một mối lo giản dị: Không biết có kịp mua quà Giáng Sinh tặng cho đủ mọi người trong thân bằng quyến thuộc hay không! Và sau ngày 25 tháng 12 nhiều người lại ân hận vì mình đã bỏ quên một vài người thân chưa tặng quà.

Bây giờ một người có thể giúp quý vị gạt bỏ những âu lo và ân hận đó. Giáo Sư Joel Waldfogel thuộc trường Quản trị Wharton trong Ðại Học Pennsylvania sẽ giúp quý vị quên hết những suy tư thắc mắc khi chọn quà, và không cần phải ân hận nếu bỏ quên không tặng quà cho một bà cô họ hoặc cho người phụ tá ông giám đốc ở trong sở.

Bởi vì ông Waldfogel đang thuyết phục tất cả mọi người rằng chúng ta không nên tặng quà cho nhau. Quá khích hơn nữa, ông nói ai tặng quà cho người khác là “hủy hoại giá trị kinh tế,” làm phí phạm những của cải bao nhiêu người mất công làm ra! Ông đã cổ động cho lý thuyết đó từ hàng chục năm nay.

Vậy tại sao chúng ta không nên mua quà tặng trong những dịp như Lễ Giáng Sinh này? Vì Giáo Sư Joel Waldfogel đã khám phá ra rằng một món quà tặng bao giờ cũng giảm giá trị, trung bình mất khoảng 20% so với số tiền đem trả để mua. Nói cách khác, chúng ta đem 100 đồng trả cho một món hàng làm quà tặng; nhưng đối với người nhận món quà đó thì trung bình nó chỉ đáng giá nhiều nhất là 80 đồng! Hai chục đồng bạc đã tan ra mây khói!

Mỗi năm dân Mỹ tiêu khoảng 65 tỷ đô la vào việc tặng quà, trung bình mỗi người Mỹ xài 600 đô la. Ðem 600 đồng đi mua quà mà những người nhận quà thấy chỉ đáng giá 480 đồng thôi, quý vị đã “hủy hoại” đi 120 đồng đô la Mỹ! Sự mất mát còn có thể còn cao hơn nữa, nếu chúng ta tính rằng nếu số tiền 600 đồng đó được đem đầu tư với lợi suất 4.5% một năm, trong 10 năm sẽ thành 930 đồng! Nhưng mỗi năm ta để ra 600 đồng đầu tư với mức lời đó thì trong 10 năm sẽ dành dụm được 7,700 đồng, và trong 35 năm sẽ thành 51,000 đồng tiền tươi! Có ai muốn để dành mỗi năm 600 đô la để khi con trai lớn đến 35 tuổi thì tặng nó một món tiền mua nhẫn cưới cho vợ nó hay không? Cứ việc ngưng tặng quà, để ngân sách đó đầu tư cho con trai lấy vợ!

Theo nhật báo Wall Street tường trình vào đầu tháng này thì các cửa hàng như Nordstrom và Neiman Marcus đều được lời sổi 35% trên giá bán; còn tiệm Tiffany ở New York kiếm lời tới 57% trước khi trừ các chi phí. Ông Joel Waldfogel cho biết đối với các cửa hàng bán nữ trang và quà tặng vào dịp Lễ Giáng Sinh, riêng trong Tháng Mười Hai thường họ thu được một phần sáu số bán cho cả năm. Cho nên, nếu quý vị bỏ không tặng quà cho nhau nữa thì kinh tế Mỹ sẽ còn trì trệ rất lâu mới hồi phục được! Nhưng ông Waldfogel vẫn không sờn lòng trước mối đe dọa cho nền kinh tế. Vì ông không tin rằng việc chi tiêu về quà tặng trong những ngày lễ này có đủ ích lợi đến mức bù lại được với những “mất mát kinh tế” vì chúng ta phí phạm khi mua quà tặng nhau hay không! Nói cách khác, nước Mỹ chi 65 tỷ vào việc mua quà, làm phí mất 130 tỷ vì những người nhận quà thấy nó không đáng giá đó. Con số bị mất mát về kinh tế là 130 tỷ, thì liệu việc tặng quà có tạo ra được 130 tỷ ích lợi thêm cho nền kinh tế hay không? Ông Waldfogel cho là không chắc!

Ông trình bày lý luận của ông như vầy: Một người bỏ ra đồng mua một món hàng nếu thấy giá trị của nó “ít nhất” cũng bằng 50 đồng, nếu cảm thấy giá trị nó cao hơn thì người mua được hưởng một thứ giá trị “thặng dư.” Ông cho một thí dụ: Con trẻ đang khóc vì tai bị nhiễm trùng, bạn lo sợ cho con, mua thuốc về trị bệnh, mất mấy đồng bạc. Cháu khỏi bệnh, không khóc nữa mà cười tươi như hoa, trong lòng bạn thấy liều thuốc đó đáng giá hàng trăm hay hàng ngàn đồng. Giá trị thặng dư trong trường hợp này rất lớn!

Khi tặng quà thì khác. Bạn có thể bỏ ra 500 đồng mua một bức tranh làm quà, nhưng người nhận được món quà đó không treo nó vào đâu cho hợp với cách trang trí trong nhà người ta, cuối cùng thấy nó chỉ đáng treo trong ga ra để xe thôi. Một bức tranh treo ở ga ra thì người ta thường trả 50 đồng là cùng. Như vậy là bạn đã “hủy diệt” mất 450 đồng, 90% số tiền đã trả rồi! Ðây là một thí dụ “quá khích” cho dễ hiểu. Nhưng khi bạn mua chiếc áo hay món nữ trang tặng người khác mà không biết sở thích hay nhu cầu người nhận quà thì bạn cũng có thể “hủy hoại” một tỷ lệ 20% số tiền đã bỏ ra mua!

Nhưng còn “giá trị tinh thần” của món quà tặng nhau thì sao? Giáo Sư Waldfogel cho biết ông có tính toán rồi. Ông cho một thí dụ: Bà cô Sally mua cái áo mất 50 đô la để tặng tôi (Waldfogel), nhưng tôi không thích kiểu áo, mầu áo cho nên nếu tự mình bỏ tiền ra mua tôi thấy chỉ trả tối đa 10 đô la. Cái áo trị giá 10 đô la đối với tôi. Giả thiết rằng khi cô Sally tặng quà cho cháu, lòng cô vui sướng, niềm vui đó trị giá 20 đô la; và khi thấy tình yêu của cô đối với mình, tôi cũng vui sướng trong lòng, tính thêm 20 đô la cho niềm vui đó. Cộng lại, trị giá món quà tặng là đủ 50 đô la, mua mất 50 đô la thì coi như “huề vốn!”

Nhưng nếu bà cô cho cháu 50 đô la để tự mua lấy một món vừa ý, trị giá của món quà có thể lên tới 55 đô la, thặng dư 5 đô la ngay! Sau đó, nếu cộng thêm 20 đô la là niềm vui của bà cô, và 50 đô la nữa là niềm vui của ông cháu, tổng cộng giá trị của món quà đã lên tới 95 đô la! Giá trị thặng dư có thể đạt được là 45 đô la, cao hơn số tiền thực sự bỏ ra để mua quà! Cho nên, tặng quà mà không biết đúng sở thích và nhu cầu người nhận quà vẫn làm cho kinh tế “kém hiệu quả!”

Cuối cùng thì chúng ta không nên tặng quà cho nhau một cách miễn cưỡng, tặng cho đúng phép. Chỉ nên tặng quà cho những người mà mình biết chắc nhu cầu, sở thích. Còn đối với những người khác thì gửi lời chúc nhau trong dịp lễ, Tết cũng tốt rồi. Trừ khi quý vị muốn tham dự vào một cuộc chơi thử đoán xem ai là người hiểu mình, biết mình và quan tâm, chú ý đến mình. Cứ coi cách người đó tặng cho mình món quà thế nào. Nếu món quà đúng là thứ mình đang cần, đem sử dụng thấy hoàn toàn hợp với ý thích của mình, thì đó là một người “tri kỷ, tri âm.” Ngược lại, thì bạn biết ngay rằng người tặng quà không thèm chú ý đến mình, không quan tâm tìm hiểu nhu cầu và sở thích của bạn, chỉ tặng quà bạn vì áp lực xã hội mà thôi! Cả xã hội vẫn tham dự vào trò chơi này mà không biết đấy thôi!

Cho nên những lời khuyên của ông Waldfogel rất đáng suy ngẫm trong dịp lễ Giáng Sinh cũng như trong dịp Tết sắp tới. Ðừng lo kinh tế nước Mỹ sẽ suy thoái nặng nề hơn nếu quý vị không mua quà tặng cho ông “boss” hoặc bà cô họ xa. Hãy lo lắng rằng nếu mình tặng một món quà để rồi những người đó lại phải tìm cách “tống nó đi” bằng cách đem tặng người khác ngay lập tức, thì không những người đó biết người tặng quà là kẻ rất “vô tình” mà còn mắc tội “Phá hủy giá trị kinh tế” của hàng hóa nữa! Trừ khi có người đi mua quà tặng cả họ hàng, vì thấy cần phải giúp cho nền kinh tế Trung Quốc sớm hồi phục! Vì hầu hết những món người ta mua tặng nhau ở các cửa hàng năm nay đều có viết “Made in China!”

Một tháng trước ngày Lễ Giáng Sinh ông Waldfogel mới xuất hiện trên báo chí lần nữa để quảng cáo cho cuốn sách của ông: “Scroogenomics: Why You Should not Buy Presents for the Holidays,” tức là “Kinh tế học của Scrooge: Tại sao quý vị không nên mua quà tặng trong những ngày lễ hội.” Scrooge là tên một nhân vật trong truyện Christmas Carol của Charles Dickens, nhân vật này nổi tiếng về tánh rất hà tiện. Các cửa hàng bán lẻ không bầy bán cuốn sách này, điều đó có thể hiểu được! Ðiều đáng ngạc nhiên là bao lâu nay chưa thấy chủ nhân các cửa hàng bán quà tặng tổ chức biểu tình trước cửa Ðại Học Wharton để tố cáo ông một tội nặng nào đó. Chẳng hạn, họ có thể ghép ông vào tội khủng bố, tội đồng tính ái, hoặc là tội thân Cộng, rồi yêu cầu nhà trường phải sa thải ông, nếu không sẽ biểu tình vĩnh viễn không nghỉ!

Nhưng cho tới nay Giáo Sư Waldfogel vẫn bình an nghiên cứu và dậy học! Thế mới biết dân Mỹ họ tôn trọng quyền tự do phát biểu của mọi người. Ở một quốc gia tự do, ai cũng có thể trở thành giáo sư kinh tế học!
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Thợ Trung Quốc Tràn Ngập VN
Trần Khải

Tình hình công nhân Trung Quốc tại Việt Nam đã tới mức đáng ngại: có nhiều làng bây giờ toàn là công nhân Trung Quốc cư ngụ, theo lời báo động của bà Phạm Chi Lan trên báo New York Times hôm 21-12-2009. Báo này cũng cho biết chính phủ Hà Nội bắt đầu chịu giảm làn sóng công nhân Trung Quốc tràn về phương Nam bằng biện pháp hạn chế cấp visa, nhưng cán bộ địa phương khi nhận tiền hối lộ vẫn mở cửa cho “kẻ lạ” vào đất Việt ào ạt.

Tình hình thực là đáng ngại. Thế cho nên, khi nghe tin một công ty Úc chịu vào khai thác mỏ bauxite ở Việt Nam, phản ứng đầu tiên của thính giả là sự an tâm. Cả hai đàì phát thanh VOA ởû Mỹ và RFI ở Pháp hôm Thứ Ba 22-12-2009 loan tin rằng công ty Atlantic Ltd có trụ sở tại Úc Châu cho hay công ty này đã ký kết bản ghi nhớ với Việt Nam để khai thác mỏ bauxite tại tỉnh Lâm Đồng và Đắk Nông.

Bản tin đàì VOA viết rằng: “công ty Atlantic sẽ phối hợp với phía Việt Nam trong công tác khai thác khoáng sản, xây dựng đường sắt nối với mỏ, và các cơ sở hạ tầng liên hệ. Đôi bên hy vọng sẽ ký kết một thỏa thuận hợp tác chính thức vào nửa đầu năm sau.

Các dự án khai thác quặng bauxite ở Tây Nguyên đã khơi ra nhiều quan ngại trong dư luận trong và ngoài nước về những tác hại cho môi trường-đời sống xã hội của cư dân địa phương, cũng như sự xuất hiện ngày càng nhiều các công nhân Trung Quốc tại khu vực.” (hết trích)
Thông tấn BusinessGhana thì viết rằng, theo thông báo của Atlantic Ltd., hãng này dự kiến khai thác mỏ bauxite ở VN với sản lượng hàng năm 25 triệu tấn, trong khi “tiếp cận khối lượng lên tới 1.5 tỉ tấn bauxite ở 2 tỉnh Lâm Đồng và Đắk Nông.”

Điều để suy nghĩ, Đài RFI tường thuật, “Theo nhà báo Lưu Tường Quang tại Sydney, điểm đáng nói là công ty Atlantic Ltd rất nhỏ, lại không chuyên về khai thác bauxite.”
Tất cả chúng ta đều biết rằng dân số Úc rất ít, và không bao giờ cò chuyện đưa công nhân Úc sang VN làm nghề khai thác mỏ. Do vậy, khi công ty Úc sang VN, tất nhiên sẽ chỉ thuê công nhân Việt Nam, và sẽ giúp giảỉ quyết vấn đề thất nghiệp. Nhưng, từ kế hoạch vẽ ra, cho tới thực hiện như ý muoôn, cũng là cả nan đề. Thêm nữa, các công ty Trung Quôc trong khi cạnh tranh, có thể sẽ hối lộ cán bộ CSVN để chèn ép công ty Úc. Đó là điểm để quan sát.

Thực sự, khai thác bauxite chỉ là một khía cạnh để nêu ra, vì quan tâm lớn nhất của dân Việt là lo sợ ngùi Trung Quốc tràn vào chiếm đất, chiếm biển và đồng hóa -- một hiện tượng đã và đang diễn tiến ở Tây Tạng, Tân Cương.

Bài báo nhan đề “China’s Export of Labor Faces Scorn” (Xuất Cảng Lao Động của TQ Bị Coi Thường) trên tờ New York Times viết bởi Xiyun Yang và Sun Huan từ Bắc Kinh đã cho thấy nỗi lo đó của người Việt Nam.
Bài báo kể về làng Trung Sơn ở miền Bắc VN, nơi dân chúng tưởng là trúng mỏ vàng khi một hãng TQ và một hãng Nhật tới liên doanh xây một nhà máy điện chạy than. Nhiều ngàn việc làm sẽ tạo ra, theo hy vọng của người dân.

Nhưng, bài báo kể, rằng vào bốn năm sau, Nhà máy Nhiệt Điện Hải Phòng gần hoàn tất, nhưng chỉ có vài trăm người Việt là tìm được việc làm. Hầu hết công nhân là người Trung Quốc, ở nơi đỉnh cao là có tới 1,500 công nhân TQ. Bây giờ thì vẫn còn hàng trăm công nhân TQ đó oỏ lại, hàng ngày làm việc ở công trường xây cất đầy bụi. Và đêm về thì tụ tập ở các khu nhà ngủ tăm tối.

Báo NYT kể lời ông Nguyễn Thái Bằng, một thợ điện Việt Nam 29 tuổi, “Công nhân Trung Quốc đông tràn ngập so với công nhân VN ở đây.”
Tất nhiên là giới trí thức đã lên tiếng, theo bài báo NYT kể. Một luật sư (Cù Huy Hà Vũ) đã kiện Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng vì đã chấp thuận cho hãng TQ vào làm dự án khai thác mỏ bauxite.

Báo NYT còn ghi lời của bà Phạm Chi Lan, cựu Phó Giám Đốc Phòng Thương Mại và Kỹ Nghệ VN, “Bây giờ đã có những ngôi làng toàn người Trung Quốc. Chúng tôi chưa bao giờ thấy các công ty nứơc khác có kiểu cách thực hiện như thế đối với các dự án.” Ý của bà Phạm Chi Lan là, Trung Quốc là nước duy nhất trên thế giới thầu làm các dự án và đưa thợ vào tràn ngập các làng xã của nước ký kết hợp đồng.

Báo NYT kể rằng tại nơi công trường phía đông bắc thành phố Hải Phòng, một thế giới Trung Quốc đã mọc lên: 4 khu nhà ngủ có tường vây quanh, các tiệm ăn mang bảng hiệu chữ Tàu quảng cáo cơm chiên và món điểm tâm, mời gọi đổi tiền và tiệm mát-xa nữa. Thậm chí, có một bản chỉ đường viết chữ “Guangxi Road” (Đường Quảng Tây); Quảng Tây là tỉnh nhà của hầu hết các công nhân này.

Một đêm, 8 công nhân mặc đồng phục xanh ngồi ở một tiệm ăn nhỏ hẹp nguyên mở ra bởi một người từ Quảng Tây dựng theo yêu cầu của công ty thầu lại của dự án: Công Ty Xây Cất Điện Lực Quảng Tây. Mặt họ đỏ lừ vì uống rượu đế TQ. Ông Lin Dengji, 52 tuổi, nói, “Tôi được gửi tới đây. Và tôi đang thi hành bổn phận yêu nước của tôi.”

Báo NYT nhắc rằng, hồi tháng 7-2009, một cán bộ cao cấp thuộc Bộ Công An noí là có 35,000 công nhân Trung Quốc có mặt tại VN, theo lời báo Tuổi Trẻ. Con số này làm chấn động nhiều ngườiviệt.
Tiến sĩ kinh tế Lê Đăng Doanh nói, theo tờ NYT, “Sự hiện diện kinh tế của Trung Quốc tại VN thì sâu hơn, rộng hơn nhiều và lan nhanh hơn là người ta có thể nhận thấy.”

Thế đấy. Có phải triều đại nối dõi nhà Hồ này sẽ là triều vua cuối cùng của Việt Nam? Bao giờ thì công tác ngăn chận sự xâm chiếm và đồng hóa này được chính phủ Hà Nội công khai cho toàn dân ý thức, và bao giờ cuộc kháng chiến lặng lẽ cần thiết sẽ được nêu lên thành một “chủ trương lớn”?
Hay có phải, Bộ Chính Trị CSVN đã bị mua chuộc và khống chế bởi tình báo Trung Quốc? Nếu đúng như thế, việc đưa công ty Úc vào Lâm Đồng chỉ là để trình diễn thôi.

TRẦN KHẢI
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Niềm vui mùa Giáng Sinh

Ngô Nhân Dụng
Năm nay tôi lại được sống giữa cảnh tuyết trắng trong những ngày lễ Giáng Sinh, một khung cảnh giúp cho những ngày lễ hội đoàn tụ với gia đình trở thành đầm ấm và thiêng liêng hơn. Nhưng nếu quý vị không yêu màu tuyết trắng thì sẽ không ai muốn phải lái xe đi tìm địa chỉ trong lúc tuyết lông ngỗng phấp phới tỏa xuống mịt mờ trong một thành phố lạ.

Trước đây 10 năm nếu phải lái xe từ phi trường Chicago tới một khách sạn ở trung tâm thành phố, thì công việc sẽ nhiêu khê lắm. Chúng ta sẽ phải hỏi trước và ghi lại đường đi như thế nào. Nên có cái bản đồ chi tiết. Tới các ngã tư sẽ phải nhìn kỹ bảng tên đường (nhiều bảng tên bị tuyết rơi bao phủ) và phải tính trước nếu cần rẽ quẹo về phía nào, thì lái xe ngả về bên đó trước. Phải tránh quẹo gắt, nhất là khi đường phủ tuyết trơn trượt.

Nhưng năm nay công việc lái xe không phức tạp và mệt nhọc như trước nữa. Vì trong xe đã có cái máy GPS dùng vệ tinh chỉ đường. Chỉ cần bấm cái địa chỉ nơi mình muốn đến vào máy, nó sẽ dẫn đường cho mình, từng bước một, bằng hình vẽ bản đồ hiện trên màn ảnh, và bằng lời nói. Máy còn báo cho mình biết phải đi sát lề bên phải hay bên trái trước khi đến chỗ quẹo.

Dùng thử nhiều lần khi cần đi tìm địa chỉ để tới những nơi mình chưa biết, chúng ta sẽ thấy việc sử dụng máy GPS có thể giúp người lái xe tiết kiệm được khối thời giờ. Trước đây cần hỏi thăm đường, ghi chép và vẽ bản đồ, rồi tìm đọc tên đường, đổi đường nếu bị lạc, vân vân, bây giờ không cần nữa. Lái xe trong mưa tuyết tìm một khách sạn ở gần trung tâm thành phố với nhiều đường một chiều, cái máy GPS có thể giúp mình giảm được nửa số thời giờ tìm kiếm. Thử tưởng tượng trong một nước mỗi ngày có vài chục triệu người tiết kiệm được mỗi người nửa giờ, thì cả xã hội sẽ có dư ra được một triệu giờ để những người đó làm việc khác, thay vì dùng để đi tìm đường. Một triệu giờ làm việc ở nước Mỹ này sẽ tạo ra biết bao nhiêu của cải!

Vài chục năm trước đây, ít người dùng những cái “máy lãnh đạo” tài xế này. Nếu có bán thì giá cũng quá mắc. Bây giờ, giá hạ xuống trung bình chỉ còn vài trăm đô la. Kỹ thuật căn bản cho máy GPS thì đã có từ mấy chục năm trước, nhưng người ta chỉ dùng trong những công việc “trọng đại,” như là để định vị trí của những hỏa tiễn, những máy bay hay tầu thủy vượt đại dương.

Quân đội là nơi người ta sử dụng các kỹ thuật mới này sớm nhất, vì họ có ngân sách lớn dành cho việc nghiên cứu, sẵn sàng đầu tư nhiều tiền để chế tạo những cái máy đầu tiên. Những kỹ thuật mà chúng ta dùng hàng ngày hiện nay, như vào Internet, gửi email, vân vân, đã có từ lâu, được Bộ Quốc Phòng Mỹ khai phá sử dụng thử, hàng chục năm trước khi giảm được phí tổn sản xuất để bán cho công chúng. Nếu không có hệ thống sử dụng Internet đã phát triển thì việc sử dụng các máy GPS cũng không phổ biến được. Nhờ các nhà kinh doanh dám thử “thương mại hóa” các kỹ thuật tân tiến đó cho người dân bình thường sử dụng, cho nên xã hội mới tiến bộ được. Ðó là một “chìa khóa” tạo ra phép lạ của hệ thống kinh tế tư bản.

Kinh nghiệm sử dụng máy GPS khiến tôi nhớ đến một câu hỏi được nghe trước đây ba chục năm. Một ông chú vốn đã làm công chức cao cấp ở Bộ Kinh Tế Việt Nam trong mấy chục năm, khi qua sống ở Mỹ, cụ vẫn thắc mắc: Làm sao mà guồng máy sản xuất tư bản nó chạy mãi mãi được? Mỗi ngày các cơ xưởng chế tạo ra bao nhiêu thứ, cung ứng cho tất cả mọi nhu cầu của người tiêu thụ. Sẽ tới lúc các nhu cầu đều được thỏa mãn rồi, thì sản xuất thêm nữa sẽ bán cho ai? Nhà sản xuất sẽ phải đóng cửa, nhân viên sẽ bị sa thải, họ thất nghiệp sẽ không có tiền tiêu, nhiều xí nghiệp khác sẽ phải đóng cửa theo vì không bán được hàng! Cứ như thế thì kinh tế tư bản sẽ bị khủng hoảng mãi mãi không bao giờ hết! Ngay bây giờ, cụ lo kinh tế chạy được chỉ vì các nhà tư bản “bịa ra” những nhu cầu giả tạo, bằng phương pháp quảng cáo, khêu gợi cho người ta thèm để bán hàng mà thôi!

Tất cả mối lo lắng trên dựa trên một giả thiết là có lúc “mọi nhu cầu của mọi người sẽ được thỏa mãn.” Ðây là một điều đáng nghi!

Trước đây 20 năm chúng ta khó tưởng tượng được là có ngày trong văn phòng nào cũng phải đặt một cái máy vi tính, tiệm giặt ủi, tiệm cơm tấm đầu phố cũng dùng máy vi tính, trong một cái máy hút bụi cũng có bộ phận vi tính. Trước đây 10 năm khó tưởng tượng những người lái xe có máy GPS tìm đường! Trước đây 5 năm khó nghĩ ra là các cụ bà 80 tuổi cũng thư từ cho nhau bằng email!

Tất cả đều là những nhu cầu có thật, chứ không phải do ai tạo ra bằng quảng cáo khêu gợi! Cuộc “cách mạng tin học” đưa tới các hoạt động dùng Internet, riêng phát minh này đã tạo ra cả một “nền kinh tế” trị giá một ngàn tỷ đô la. Trước đây 40 năm, bao nhiêu người thông minh xuất chúng lo “tiên đoán” thế giới loài người sẽ sống thế nào, họ sinh ra cả một ngành nghiên cứu gọi là “tương lai học.” Nhưng lúc đó không ai đoán trước được trong đời sống kinh tế sẽ có một ngàn tỷ đô la chi tiêu vào những thứ sản phẩm gọi là Internet!

Những biến đổi lớn nhất trong đời sống phần lớn do các nhà kinh doanh xướng xuất trong khi đi tìm thêm lợi nhuận, chứ không phải do nhà nước nào hoạch định ra. Trước đây 40 năm khi các công ty lớn ở Mỹ như IBM chế ngự việc sản xuất computer, những máy vi tính lớn để chật một căn phòng, thì chính phủ Nhật Bản mời các chuyên gia thượng thặng họp lại nghiên cứu chế ra loại computer thuộc “thế hệ thứ tư, thứ năm” để vượt qua các công ty Mỹ. Nhưng không một chính phủ nào hay một đại công ty nào đoán trước được cuộc cách mạng tin học với những chiếc máy nhỏ đặt trên bàn gọi là PC.

Sức mạnh của kinh tế thị trường là do hàng triệu tư nhân tìm cách thỏa mãn những nhu cầu của nhân loại, khi loài người đóng vai người tiêu thụ. Hiện nay, nhiều người đã báo động dân Mỹ rằng nếu họ không chạy nhanh thì trong vòng mươi năm tới nước Mỹ sẽ bị thế giới qua mặt trong những lãnh vực gọi là “kỹ thuật sạch,” trong đó có những phương pháp tạo ra năng lượng sạch. Nhưng ngay bây giờ các doanh nhân Mỹ đã bắt đầu chạy về phía đó rồi, đặc biệt là ở tiểu bang California.

Tháng trước, tuần báo TIME dành một chủ đề về tương lai kinh tế tốt đẹp của tiểu bang California, nơi chính quyền đang lo phá sản vì khiếm hụt ngân sách. Trong khi các nhà chính trị đi tìm cách thoát khỏi cảnh lúng túng do chính họ gây ra, thì giới kinh doanh tiên phong ở tiểu bang này đã bắt đầu bỏ tiền cho rất nhiều dự án nghiên cứu và sản xuất trong những ngành kỹ thuật của tương lai. Hiện nay số tiền đầu tư ở California cho lãnh vực năng lượng mặt trời và những nguồn năng lượng mới thay thế dầu lửa và than đá đang dẫn đầu thế giới. Những doanh nhân đã thành công trong cuộc cách mạng tin học trước đây 20, 30 năm, hiện giờ đang bỏ tiền đi tìm cách tiết kiệm và sản xuất năng lượng sạch: Cisco, Amazon, Google, vân vân. Xưa kia, một công ty mới lập như Google chỉ cần 25 triệu tiền vốn khởi công là hy vọng có ngày bứt phá vượt lên phía trước, để sau cùng ra trước công chúng thì trị giá bốn, năm tỷ đô la. Bây giờ muốn bước vào các kỹ thuật sạch thì cần gấp mười số tiền đó. Nhưng, tương lai cả thế giới sẽ tùy thuộc vào những sáng chế, phát minh về năng lượng sạch. Những hoạt động trong ngành này sẽ tạo ra một nền kinh tế trị giá 6 ngàn tỷ đô la, gấp 6 lần giá trị của các hoạt động về Internet bây giờ. Mà những nhu cầu về kỹ thuật sạch, năng lượng sạch, là có thật, nếu không kịp phát triển thì cả nhân loại sẽ gặp nguy. Ai đáp ứng được nhưng nhu cầu đó sẽ được thị trường tưởng thưởng, thành những Bill Gates tương lai.

Trước kia guồng máy quân sự Mỹ đã làm cái nôi nuôi những kỹ thuật mới trước khi được thương mại hóa. Ngày nay ngược lại, chính quân đội Mỹ đang đi tìm các sản phẩm thông dụng trong thị trường tiêu thụ để chính họ tiết kiệm năng lượng. Mỗi ngày quân Mỹ dùng một triệu ga lông xăng dầu ở Afghanistan, một triệu khác ở Iraq. Theo tính toán của Bộ Quốc Phòng Anh thì muốn có một lít xăng dùng ở mặt trận phải tốn bẩy lít xăng khác để đem nó tới nơi! Bây giờ Bộ Quốc Phòng Mỹ đang đặt mua các “máy phát điện” không dùng dầu, xăng. Một tiểu đoàn 500 người thải ra mỗi ngày một tấn rác. Nếu dùng cách biến những rác rưởi đó thành điện thì sẽ sản xuất được 64 kilowatts, đủ điện cho một ban chỉ huy tiểu đoàn sử dụng.

Một công ty mang tên Better Place mới ra đời năm 2007 ở California với viễn ảnh có ngày xe chạy điện sẽ thay thế xe hơi chạy bằng xăng, công ty này sẽ bán các bình điện, mở các “trạm điện” thế chỗ các trạm xăng để “chạc” bình hoặc thay bình mới. Viễn ảnh đó còn quá xa vời? Hiện nay công ty này đã bắt đầu bán bình điện cho công ty xe hơi Renault-Nissan; và các chính phủ Israel và Ðan Mạch đã đồng ý để họ mở một hệ thống trạm điện vào năm 2011.

Bên cạnh các hoạt động phát triển năng lượng sạch, một ngành công nghiệp tương lai khác đang phát triển tại California, từ San Jose xuống tới San Diego, là kỹ thuật y khoa dùng các khám phá sinh học để chữa bệnh. Trong quý thứ ba năm 2009 ở Mỹ đã có hơn 900 triệu Mỹ kim mới “đầu tư thử” vào kỹ thuật y khoa so với 860 tỷ trong năng lượng sạch. Ðó là loại vốn đầu tư mạo hiểm, một ăn mười thua, mà hệ thống kinh tế kiểu Mỹ thịnh hành hơn ở Nhật Bản hoặc Âu Châu.

Hiện nay kinh tế thế giới đang từ từ bước ra khỏi cuộc khủng hoảng bắt đầu năm 2007, tuy nhiên cơn hồi phục lần này sẽ diễn ra rất chậm chạp. Chúng ta không hy vọng năm 2009 kinh tế Mỹ sẽ lên nhanh chóng. Nhưng điều đáng mừng là ngay trong lúc kinh tế còn đang xuống thì ở ngay bên cạnh chúng ta vẫn có những ngành kinh doanh mới đang chuẩn bị xuất hiện để thỏa mãn những nhu cầu mới của loài người trong vòng một thế hệ nữa. Loài người sẽ dùng bớt xăng dầu, bớt than đá, nhờ có những nguồn năng lượng mới và hệ thống truyền điện sẽ được cải thiện để không phí phạm nữa. Loài người sẽ có những phương pháp chữa bệnh mới, và hy vọng nhiều thứ bệnh hiện nay không chữa được sẽ có cách điều trị. Khi mọi người được sống trong tự do, tự do kinh doanh và hưởng lợi, tự do thí nghiệm các ý kiến mới mà không bị ngăn chặn, cấm cản, thì xã hội sẽ tiến bộ.

Nhân ngày Lễ Giáng Sinh, xin chia sẻ với quý vị những tin đáng mừng lâu dài về kinh tế để chúc quý vị những ngày sống an lành.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Cuối Năm 2009, Nhìn Lại

Vi Anh
Năm 2009 là một năm cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ nhân quyền VN được thêm lửa. Do Trung Cộng quăng thêm bổi lấn đất, lấn biển, lấy đảo của VN vào lửa đấu tranh chống CS Hà nội để giành lại quyền sống của người VN. Cuộc đấu tranh của người dân Việt bắt đầu thành cuộc cách mạng quốc gia dân tộc chống Tàu Cộng xâm lăng và Việt Cộng mãi quốc cầu an, cầu vinh.

Thực vậy, Nga cứ bán cho CS Hà nội máy bay, tàu lặn "hiện đại" của Nga. Mỹ cứ tìm cách bắt rễ quân sự để có mặt lại ở Đông Nam A. Tàu cứ việc canh chừng đàn em CS Hà Nội không được gần gũi Mỹ. Người Việt trong ngoài nước Việt không còn chọn lựa nào khác.

Người dân Việt cứ Đường ta ta cứ đi, cứ đấu tranh tới cho tự do, dân chủ, nhân quyền Việt Nam và cho chủ quyền của đất nước. Đó là kết tinh của bao nhiêu nỗi nhục da vàng, nỗi buồn nhược tiểu, bao nhiêu kinh nghiệm máu, nước mắt mồ hôi của người Việt, ở Bắc, ở Trung, ở Nam, và ở hại ngoại. Hơn một phần ba thế kỷ người Việt trong nước mất quê hương ngay trên quê cha đất tổ của mình, phải sống trong cảnh nhà tù lớn là xã hội Việt Nam bị CS Hà Nội thống trị. 35 năm người Việt Hải ngoại thất quốc sa bang, phải định cư nơi đất khách. 35 năm người dân Việt trong ngoài nước đau khổ suy tư, rụng từ sợi tóc về lẽ thăng trầm của vận mạng nước non nhà trong bàn cờ quốc tế.

Một chân lý sáng ngời hiện ra như nắng ấm mặt trời giữa mùa đông. Đó là không có ai thương dân Việt hơn người Việt. Đó là nội lực dân tộc Việt là thành đồng vách sắt bảo vệ nước non, là sức mạnh của Phù Đổng Thiên Vương chống ngoại bang, không thế lực ngoại bang nào ngăn cản được. Nhưng cũng chính người Việt mình lại hay gây chia rẽ, kích động căm thù nhau, và mang các chủ nghĩa ngoạị lai về phá hoại dân tộc mình.
Nên chi, mặc kệ Nga, Tàu, Pháp, Mỹ muốn làm gì thì làm. Đường người dân Việt chúng ta, chúng ta cứ đi. Đường ta ta cứ tiến tới vì không có người Mỹ, người Nga, người Tàu, thế lực ngoại bang nào mạnh hơn thế lực dân tộc Việt, ngay trên đất Việt, về chuyện nước, việc dân Việt.

Cái chết của chế độ CS Hà nội đã bắt đầu khi tóm thâu được Miền Nam. Đúng như lời tiên đoán của Tướng Do Thái Moshe Dayan hồi tháng 3.1975, sau khi thăm chiến trường Việt Nam về Do Thái nói, "Ngày CS Bắc Việt chiếm được Sài Gòn, họ sẽ bắt đầu thua cuộc". Quá thua đi, 35 năm CS Hà Nội thống nhứt được giang sơn, con tàu Thống Nhứt đi hàng vạn chuyến mà lòng dân không xích lại gần Đảng được một ly nào. Quá thua, cán bộ đảng viên đã mất tinh thần cách mạnh, mất "tính đảng" là yếu tính tồn vong của một chánh đảng. Thay vào đó đảng viên sanh suy bì, kèn cựa vì quyền lợi cá nhân, tự tư, tự lợi và bè phái, địa phương Nam Bắc. Đảng phân hóa lập trường, chia rẽ khuynh hướng, kỳ thị Bắc Nam. Phe hay người nào có cơ hội nắm quyền hành, việc đầu tiên là lo "thu vén cuối đời".
Chết nên "vô cảm" đáng sợ trước cái nghèo khổ của người dân, và sự lạc hậu của đất nước. Trong lịch sử VN, chưa bao giờ tham nhũng trở thành quốc nạn như thời CS. Chưa bao giờ con gái Việt Nam phải đi làm nô lệ tình dục cho Miên, cho Xiêm, cho Tàu, cho Đại Hàn như bây giờ.

Cái chết của chế độ CS là một qui trình không thể đảo ngược được nữa.. Chết từ thập niên 1990. Cái nôi của CS, cả một đế quốc của CS đã chết tươi, chết yểu sau khi Liên xô và các nước CS Đông Âu chư hầu đột quị kinh tế chánh trị và nhân dân nổi dậy. Hai nước lớn ở Á Châu còn sót lại với chế độ CS phải đổi màu kinh tế mà họ gọi là đổi mới, đúng ra là trở về hệ kinh tế cũ lấy tự do kinh doanh và quyền tư hữu làm gốc.

Cái chết của chế độ CS vì CS Hà Nội là cả một tập đoàn cầm quyền vô tài, bất tướng, phi chánh nghĩa. Đúng như lời vị Tổng Thống đầu tiên của đảo quốc Đông Timor, một thuộc địa sau cùng trên thế giới giành được độc lập, nói, những người du kích giỏi không phải là những người lãnh đạo quốc gia giỏi.

Cái chết của chế độ CS Hà Nội vì chính cái độc tài đảng trị toàn diện của CS giết CS Hà Nội. Độc tài là mẹ đẻ sanh ra vô vàn cán bộ đảng viên và địa phương tham nhũng, quan liêu, cửa quyền, dối trên lừa dưới, vô kỷ luật, vô tổ chức, vô chánh phủ làm rối beng, lũng đoạn guồng máy điều hành quốc gia. Loạn và nhiều đến mức nếu thẳng tay trừng trị thì Đảng chẳng còn ai mà xài. Loạn và nhiều đến mức sửa đầu này lòi đầu kia, càng sửa càng sai vì những thứ bịnh ấy đã nhập lý từ trên xuống dưới từ dưới lên trên từ trong ra ngoài và từ ngoài vào trong rồi.

Lịch sử đã chứng minh, thông thường người dân chỉ chịu đựng đến mức nào thôi. Phong trào người dân Việt chống CS Hà Nội đã trở thành một qui trình không thể ngăn cản, không thể đảo ngược nữa. Trong hàng ngũ lãnh đạo CS cũng biết, cố gắng trấn áp để xoay sở thu vén cuối đời trong 20 năm nữa. CS Trung quốc, tài phiệt Mỹ Nga, không một thế lực thực dân mới nào có thể ngăn cản được. Thật là không tưởng những người Mỹ, những người Tây hy vọng dùng kinh tế để chuyển hóa CS Hà Nội.

Người dân Việt thực tế hơn, đã tự rèn luyện vượt qua nỗi sợ không rời của dân Ba Lan đối với CS trước khi Đức Giáo Hoàng về nước khuyên người dân Ba Lan đừng sợ nữa. "Diễn tiến hòa bình" của tự do, dân chủ, nhân quyền của người dân đã diễn tiến không còn hòa bình nữa, mà trở thành bất tuân hành dân sự, khiếu tố, biểu tình, đình công, lãng công, có nơi đánh đập Công An CS. Phong trào nhân dân chống Cộng đang phát triển từ điểm đấu tranh tôn giáo sang diện đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền Việt Nam. Hố sâu ngăn cách thành thị nông thôn, giàu và nghèo - điều mà Đảng CS Trung quốc sợ là sẽ biến cuộc cách mạng nổ bùng; hố sâu đó ở VN sâu rộng hơn ở TC. 99,6% dân số VN là dân chúng chỉ chiếm được 30% tài nguyên quốc gia, trong khi 0.4% dân số là cán bộ, đảng viên chiếm tới 70% tài nguyên quốc gia.

Lửa cách mạng chánh trị chông phi nhân quyền, phi dân quyền, xã hội bất công, bóc lột, áp bức đó đang ngún ở Việt Nam mà Hà Nôi không có đủ khôn ngoan và cũng không biết giải quyết - trừ việc trấn áp. Lại bị Tàu quăng thêm bổi vào qua hành động Tàu lấn đất, lấn biển, lấy đảo của VN. Cơn bão đấu tranh đang tiến dần thành cách mạng nhân dân mang màu sắc quốc gia dân tộc, chống xâm lăng Tàu và tay sai của TC - là Việt Cộng.

VI ANH
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Điểm Nóng Sẽ Là Lào?

Trần Khải
Chúng ta nhìn về Biển Đông, chúng ta quan ngại, lo lắng và nổi giận khi thấy ngư dân Việt bị hải quân và kiểm ngư Trung Quốc ức hiếp, cướp bóc... Chúng ta nhìn về Cam Ranh và chúng ta vui mừng, khi thấy Nga hiện diện nhiều hơn và cụ thể hơn, đặc biệt là khi Hà Nội đặt mua nhiều taù ngầm mới từ Nga... Và chúng ta hài lòng khi thấy tàu chiến của Mỹ ghé thăm các hải cảng Việt Nam, trong đó có một người Việt tị nạn về thăm với tư cách hạm trưởng... Ít nhất, có vẻ như nhà nước CSVN cũng đang lo phòng thủ Biển Đông.

Và chúng ta đặc biệt tin tưởng là sẽ có những chuyển biến mới ở Châu Á, có thể giúp làm ngăn cản bước tiến của đàn anh Phương Bắc đang lấn chiếm lặng lẽ lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam – nơi đó, một cách tinh vi, nhà nước Bắc Kinh đã đưa nhiều ngàn công nhân Trung Quốc vào các tỉnh phía Bắc và Tây Nguyên của VN – mà Mỹ sẽ là một nhân tố mới cho khu vực.
Ngày 14-12-2009, chính phủ Obama chính thức thông báo cho Quốc Hội Mỹ rằng Hoa Kỳ sẽ thương thuyết về bản thương ước khu vực có tên là Trans-Pacific Partnership (Hợp Tác Xuyên Thái Bình Dương) -- cụ thể, bản thương ước này là hiệp định tự do thương mại giữa Mỹ với Việt Nam, Singapore, Úc Châu, Tân Tây Lan, Brunei, Chile và Peru. Nếu được chấp thuận, khối 8 nước này sẽ hình thành khu thương mại tự do lớn nhất mà Mỹ tham dự, tính về số quốc gia.

Phó Sở Thương Mại Hoa Kỳ Demetrios Morantis lúc đó noí với báo New York Times rằng Châu Á Thái Bình Dương là vùng năng động nhất trong thế giới, và bản thương ước tự do giữa 8 nước này sẽ là tiêu chuẩn cao và rồi các nước khác có thể tham gia khi họ sẵn sàng. Có một thực tế, khi Việt Nam vào được thương ước này, tất cả những rào cản trước giờ về cá basa, hay luật chống phá giá đều có thể êm đẹp giảỉ quyết, hoặc sẽ lặng lẽ bỏ qua... Có phảỉ, Mỹ muốn lặng lẽ giúp đỡ Việt Nam thoát khỏi các áp lực thị trường từ Liên Âu tới Trung Quốc?

Một diễn biến mới để suy nghĩ: Thái Lan sẽ ép buộc hồi hương 4,000 người Hmong về Lào. Hãy hình dung rằng, nhóm người có tinh thần chống cộng cao tột độ này về lại Lào, và họ có thể sẽ bị chính phủ Vạn Tượng truy bức hay không?

Bản tin đài Pháp Quốc RFI hôm 23-12-2009 viết:
“Phát ngôn viên bộ Quốc phòng Thái Lan, đại tá Thanathip Sawangsaen, khẳng định hôm nay là Thái Lan sẽ hoàn tất việc đưa hồi hương số người tỵ nạn nói trên ngay trong năm 2009 này, vì đây là ''chính sách đã được thảo luận với Lào''. Cộng đồng quốc tế tỏ ý quan ngại cho số phận của người Hmong.

Những người tỵ nạn này đang ở trại Huay Nam Khao, tỉnh Petchabun, miền đông bắc Thái Lan. Lời xác định kể trên được đưa ra mặc dù đã có những cuộc thảo luận cấp bộ trưởng giữa Thái Lan với giới ngoại giao ở Bangkok và trợ lý ngoại trưởng Mỹ Eric Schwartz, vừa viếng thăm Thái Lan.
Theo đại sứ quán Mỹ, ông Schwartz,đã rời Thái Lan sáng hôm nay, và một trong những mục tiêu ghé Bangkok của ông là để bàn về vấn đề người Hmong. Ông Schwartz,đã đến viếng thăm trung tâm tỵ nạn của họ...”(hết trích)

Có vẻ như Mỹ tới lúc nghe loan báo mới biết? Hay thực sự, có bàn tay lông lá nào của Mỹ để xúi giục Thái Lan đưa nhóm nhiều ngàn người chống cộng tột độ naỳ về lại Lào? Và nếu như thế, có phải chính phủ Vạn Tượng đã có thỏa hiệp ngầm để đón nhóm người tị nạn này để để hòa hợp hòa giải cùng làm rào chắn đối với làn sóng Nam Tiến của biển người Trung Quốc?
Không phải chỉ người tị nạn Hmong từ Thái Lan bị ép về Lào, mà chính vị cựu tư lệnh của họ là Tướng Vang Pao từ Mỹ cũng tình nguyện về Lào. Sau Tết Tây 2010, Tướng Vang Pao sẽ được tiếp đón nồng nhiệt ở Lào. Không thể nói rằng Tướng này về mà không tham khảo các bạn CIA của ông, những người mà ông hoạt động chung ở nuí rừng Đông Nam Á nhiều thập niên.

Cần nhớ rằng, mới hai năm trước, Tướng Vang Pao bị các thám tử FBI bắt về cái gọi là “âm mưu lật đổ chính phủ Lào.” Bản tin KFSN nói rằng người Hmong khắp thế giới tuần này đang nhìn về thành phố Fresno (miền Trung California) để xem một Tết Hmong sắp tổ chức lớn nhất tại Hoa Kỳ, cũng là để ăn mừng Bộ Tư Pháp Mỹ xóa bỏ hồ sơ truy tố Tướng Vang Pao về “âm mưu lật đổ chính phủ Lào.”

Nghe có vẻ như FBI đang sửa soạn vai trò gì cho tướng này. Bởi vì người ta tin rằng còn hàng trăm, có thể là hàng ngàn, theo KFSN, du kích Hmong đang lần trốn trong rừng vì không chịu ra đầu hàng chính phủ Lào. Bên cạnh đó, là hơn 4,000 người Hmong đang tị nạn ở Thái Lan.

Tết Hmong chính thức là khai mạc từ Thứ Bảy, và kéo dài cho hết ngày 2-1-2010. Sau đó, Tướng Vang Pao sẽ về Lào vào ngày 10-1-2010.
Nhà hoạt động Paula Yang nói về vị lãnh đạo Vang Pao của dân tộc Hmong rằng, “Ông ta không sống ở đó [Lào], hiển nhiên, mà chỉ là để mang hòa bình laị cho dân tộc của ông thôi. Ông nói, chính xác lời ông, tôi sẽ sống cho dân tôi, tôi sẽ chết cho dân tôi...” Bản tin nói rằng, Tướng Vang Pao về Lào để vận động chính phủ Lào làm hòa với dân tộc Hmong, và ngưng truy bắt, áp bức...

Theo chương trình, dân biểu Jim Costa sẽ dự lễ đón Tướng Vang Pao về dự lễ ở Fresno. DB Costa nói, chuyến đi sắp tới của Vang Pao về Lào sẽ “thiết lập hòa bình lâu dài.”
Nghĩa là, khi Thái Lan trả về 4,000 người tị nạn Hmong về Lào, và khi Tướng Vang Pao về Vạn Tượng (hiểu là theo sắp xếp của Mỹ), thì tất cả các cuộc nội chiến ở Lào hoàn toàn kết thúc.
Và cũng cần thấy rằng chính phủ Thái Lan cũng đang dàn dựng đón Tướng Vang Pao như một người hùng. Thực sự, chính Thái Lan trong nửa thế kỷ qua được an ổn xây dựng kinh tế là nhờ chính phủ Việt Nam Cộng Hòa ở Nam VN, và nhờ Tướng Vang Pao ở núi rừng Lào chung sức ngăn cản làn sóng cộng sản.

Summer Vue, chủ tịch hội bất vụ lợi về tư pháp Hmong Justice USA, nói quyết định của Tướng Vang Pao về Lào là dấu mốc lịch sử, nhưng bà quan ngại vì từ nhiều năm bà đã mở chiến dịch vận động để xin Mỹ đón nhận hơn 4,500 người Hmong (con số 4,500 là do Hội này đưa ra) từ các trại tạm cư Thái Lan sang Mỹ định cư.
Bà Summer Vue muốn gặp Tướng Vang Pao trước khi tướng này về Lào để “Tướng Vang Pao sẽ tham dự một lễ hội hòa giải tại chiếc Cầu Tự Do nằm giữa Thái Lan và Lào.”

Như thế, Lào mở hội đón Tướng Vang Pao tưng bừng. Chúng ta có thể đoán là nhóm hơn 4,000 người tị nạn Hmong cũng sẽ được Thái Lan chở tới chiếc cầu này, để Tướng Vang Pao nói chuyện về hòa hợp hòa giải. Chính phủ Vạn Tượng có thực tâm hay không? Đó là điều chúng ta cần quan sát. Tuy nhiên, khi đón nhận nhiều ngàn người chống cộng nhiệt tâm naỳ về, nhà nứơc Lào cũng đã đắn đo, vì thực sự, lực lượng du kích cuả Tướng Vang Pao là những người yêu nước, yêu rừng, yêu núi hết lòng hết dạ. Hòa giải với những người yêu nứơc naỳ, sẽ thu hút nhiều đầu tư từ Làò Kiều và từ người Hmong toàn cầu về giúp.

Đó là tuyệt vời nhất. Thêm nữa, Vạn Tượng kết thúc nội chiến nhiều thập niên để chung sức dựng rào ngăn chận làn sóng biển người Trung Quốc ở Lào là kế hoạch lâu dài vậy.

Bàn tay của Mỹ như thế là thấy rõ. Vì áp lực Trung Quốc ở Lào là thấy rõ. Nếu không đưa người của Tướng Vang Pao về, sau này làm sao có người đấu tranh tin cậy? Điều này, thực ra cũng có lợi cho Việt Nam.
Bản tin BBC nhan đề “Trung Quô´c vào Lào, Việt Nam làm gì`?” đăng ngày 28-9-2009 viết như sau:
“Tân Hoa Xã vừa loan tin Trung Quô´c sẽ chế tạo và phóng vệ tinh viễn thông cho Lào.
Vệ tinh "Laos-1" theo mô hi`nh vệ tinh Đông Phương Hồng của Trung Quô´c sẽ được tên lửa Trường Chinh mang lên quỹ đạo Tra´i đâ´t trong một thời điểm chưa được công bô´.
Đi kèm với nó, sẽ có mộ trung tâm thu nhận vệ tinh và một hệ thô´ng truyền thông hiện đại...” (hết trích)

Như thế, Mỹ không đặt chân vào Lào, thì Trung Quốc sẽ lấn bước. Và như thế, thấy rõ, Mỹ sẽ kết thân với cả Lào, Việt Nam, Miến Điện... trong một vòng vây Trung Quốc. Chiến dịch này, sẽ có hỗ trợ từ Thái Lan, Úc Châu...
Một ván cờ mới đang mở ra, không chỉ ở Biển Đông, mà còn cả trên núi rừng Châu Á...

TRẦN KHẢI
TranAnhDung
Posts: 297
Joined: Tue Oct 28, 2008 7:43 pm
Contact:

Post by TranAnhDung »

Những Ngày Cuối Năm

Trần Khải
Như thế là sắp qua một năm của quá nhiều sóng gió, nhiều mệt mỏi, và của quá nhiều bước lùi dân chủ. Năm 2009 sắp qua, và năm 2010 sẽ tới trong vài ngày tới. Đất nước rồi sẽ ra sao nếu không thể chuyển biến tốt hơn?

Nổi bật về phương diện tôn giáo trong năm 2009 là hiện tượng công an hỗ trợ du côn trấn áp, xua đuổi 400 tăng ni sinh Làng Mai, phảỉ bỏ chạy khỏi Tu Viện Bát Nhã, để về Chùa Phước Huệ tạm lánh, nhưng lệnh ra hạn chót là ngày 31-12-2009 nhóm gần 200 tăng ni sinh Làng Mai tạm trú nơi đây phaỉ ra đi tiếp. Nhưng đi đâu thì chưa ai biết. Không lẽ về lại đời thường ở điạ phương?

Một kỷ lục mới là thành quả của Tin Lành nhiều hệ pháí, khi tổ chức chung một buổi Thánh Lễ ngoài trời trứơc Giáng Sinh ở một sân bóng đá thuôc quận Gò Vấp, Saà Gòn, với 40,000 người tham dự, và trong đó tới 8,000 người bước lên tuyên xưng Đức Tin để làm nghi thức tân tòng. Buổi lễ trực tuyến qua nhiều mạng Internet toàn cầu, với tại sân bóng có tới 28 máy chủ để truyền đạt thông tin.

Một tuần sau, một buổi lễ tương tự cho Tin Lành thực hiện ở sân Mỹ Đỉnh, Hà Nội, với 12,000 tín hữu. Nhuũng con số tham dự thánh lễ ngoaì trời của tín đồ Tin Lành Sài Gòn và Hà Nội đều là kỷ lục.
Cần ghi nhận, chính phủ CSVN rất do dự khi cấp giấy phép cho Tin Lành tụ họp ngoaì trời: tại Sài Gòn, nhiều mục sư phải cắm lều ở ngoaà Tòa Đô Chính 3 ngày mới đươc giấy, vừa 48 giờø đồng hồ trước khi làm lễ. Tại Hà Nôäi, tín đồ quỳ ngoaì hè phố, trước sân Mỹ Đình nhiều đêm để cầu nguyện xin giấy phép.

Trường hợp Công Giáo, như thế là bắt đầu Năm Thánh 2010, sau Lễ Khai Mạc Năm Thánh tại Hà Nội, là hy vọng về cải thiện bang giao giữa VN và Vatican. Nhưng Chủ Tịch Nguyễn Minh Triết rời Vatican về Hà Nội, vẫn không có tin gì khích lệ về bang giao, trong khi các tranh chấp về đất vẫn còn nguyên trạng. Chỉ trừ trường hợp Thánh Địa La Vang, nơi được tin là đã có giấy phép đầu tư 25 triệu đô xây thành nơi tiếp đón khách hàng hương tầm cỡ quốc tế.

Một tin ngay trong tuần lễ cuối của năm 2009: cựu trung tá Trần Anh Kim bị kêu án 5 năm rưỡõi tù giam, cộng 3 năm quản chế về hoạt động “âm mưu lật đổ chính phủ.” Ông Trần Anh Kim vừa hoạt động trong Đảng Dân Chủ, vừa trong Khối 8406. Và bản án này là quá nặng và phi lý. Quá nặng vì hoạt động của ông Trần Anh Kim không có gì nguy hiểm đôi với an nguy của chế độ. Phi lý, vì đó chỉ là các hoạt động ôn hòa để đòi hỏi dân chủ, nhân quyền.

Năm 2009 cũng là năm vui như hội, với các màn giễu trên sân khấu quốc tế của Chủ Tịch Nguyễn Minh Triết, và được các băng hình video phóng lên mạng YouTube.com. Trong đó, ông Triết tuyên bố rằng Cuba và VN là 2 nước anh em canh giữ hòa bình thế giới, rằng khi Cuba ngủ thì VN gác, khi VN nghỉ thì Cuba canh giữ.

Hay là khi ông Triết nói về lý do tham nhũng chỉ vì thấy quỹ dư thì “mượn tí, mượn rồi không thấy ai đòi, nên mới mượn thêm...”
Hay là khi ông Triết làm “phân hóa nội bộ chính phủ Obama.”
Tệ hại cũng hiển lộ là khi tin tặc (không rõ, nhưng ai cũng nghi ngờ và đoán là phải có nguồn từ Hà Nội) đánh phá các mạng Talawas.org và http://bauxitevn.info -- hai mạng được giới trí thức trong nước ưa chuộng và quan sát. Tin tặc là ai? Có phải là “kẻ lạ” hay “kẻ quen”? Ai muốn bịt miệng trí thức VN? Và khi đánh phá như thế, thì độc giả vào đọc bauxitevn.info lại tăng vọt, theo ghi nhận của nhà báo Bùi Tín.

Một chuyện bất ngờ mới đọc thấy hôm Thứ Hai 28-12-2009. Đó là một cuốn Danh Nhântừ Điển in ở VN lại ghi rằng chính ông Hồ Chí Minh đã bán cụ Phạn Bội Châu cho thực dân Pháp.

Bản tin nhan đề: “Thành ngữ - Điển tích - Danh nhân Tư` điển (Nxb Văn Học): Lý Thụy đã bán Phan Bội Châu cho thực dân Pháp?” đăng ở mạng X-Cafevn (http://www.x-cafevn.org/node/2524) hôm 29-12-2009, viết:

“Chúng tôi vừa nhận được vài thông tin của một bạn đọc giấu tên, liên quan đến cuốn Thành ngữ - Điển tích - Danh nhân Tư` điển của tác giả Trịnh Vân Thanh (Trịnh Chuyết). Sách được Nhà Xuất bản Văn học xuất bản năm 2008. Các bạn có thể xem chi tiết giới thiệu về cuốn sách ở trang Sachhay.com.

Vị độc giả đã chỉ ra rằng ở trang 742, trong mục nói về Phan Bội Châu, các nhà soạn sách đã viết việc Phan Bội Châu bị bắt như sau:
Năm 1925, nghe theo lời của Lý Thụy và Lâm Đức Thụ, Phan Bội Châu gia nhập vào tổ chức "Toàn thế giới bị áp bức nhược tiểu dân tộc", nhưng sau đó Lý Thuỵ và các đồng chí lập mưu bắt Phan Bội Châu nộp cho thực dân Pháp để:

1 - Tổ chức lấy được một số tiền thưởng (vào khoảng 15 vạn bạc) hầu có đủ phương tiện hoạt động.

2 - Gây một ảnh hưởng sâu rộng trong việc tuyên truyền tinh thần ái quốc trong quốc dân.

Như chúng ta đã biết Hồ Chí Minh trong giai đoạn ấy có bí danh là Lý Thụy. Và như thế, căn cứ vào cuốn tự điển này, chính Hồ Chí Minh đã bán Phan Bội Châu cho thực dân Pháp với những lý do đã nêu trên. Đến nay, vẫn có nhiều tranh cãi trong giới quan tâm về sử Việt về tính xác thực chung quanh sự kiện này...”

Độc giả quan tâm có thể vào xem các bức ảnh chụp trên mạng vừa nói để tham khảo.

Xin đưa tiễn năm 2009 với tất cả những ngậm ngùi, thương tiếc cho những điều tốt đẹp bị vùi dập. Và nơi đây xin chuẩn bị đón năm mới 2010 với nhiều hy vọng, rằng cái thiện tất sẽ thắng cái ác, như lời nhà giáo Phạm Toàn nói trên đài Pháp Quốc RFI hôm Thứ Hai.
Thời gian -- ngày và tháng và năm -- rồi sẽ qua đi. Nhưng tấm lòng chắc chắn rồi sẽ ở lại với lịch sử.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Chuyện Có Thật Mà Cứ Như Đùa Ấy

Đoàn Thanh Liêm
(Trích từ các giai thoại chính trị quốc tế)

Nhân dịp đầu năm mới, tôi xin sao lục lại một số chuyện có thật, mà ngộ nghĩnh lượm lặt trong các giai thoại chính trị quốc tế nhằm cống hiến đến quý bạn đọc xem cho vui nhé.

1/ Chuyện của Stalin và Mao Trạch Đông.

Hai vị “đại lãnh tụ cộng sản “ này đều có cá tính và lòng tự ái khác người, nên họ có rất nhiều đụng chạm với nhau. Theo như Kruschev kể lại trong cuốn hồi ký được xuất bản vào cuối đời, thì hai ông đó luôn luôn có sự căng thẳng trong mối quan hệ song phương. Cụ thể là : Khi Mao Trạch Đông chiến thắng và làm chủ toàn thể nước Trung hoa, thì Stalin rất mừng rỡ và hăm hở đề nghị với Mao để cho Liên Xô qua trồng cao su và lập các nhà máy làm đồ hộp về trái cây của xứ nhiệt đới, đó là các thứ mà Liên Xô không thể nào mà có được, vì lý do khí hậu quá lạnh lẽo. Nhưng sau nhiều lần giới chuyên gia gặp gỡ, bàn thảo với nhau, thì Liên Xô cũng không thể tiến hành được một dự án hợp tác Trung-Xô nào đáng kể hết. Trái lại, bên phía Trung quốc thì lại nằng nặc yêu sách, đòi hỏi phía Liên Xô là “ bậc đàn anh” phải chi viện tối đa cho phía mình, với lý do là Trung quốc còn quá nghèo túng, thiếu thốn đủ mọi thứ, nên phải cần xin Liên Xô giúp đỡ làm sao cho thật tiến bộ khấm khá lên mới được. Mà Liên Xô hồi đó vào năm 1950-53, thì vẫn còn chưa phục hồi được sau cuộc tàn phá thời đại thế chiến thứ hai, khiến người dân vẫn còn thiếu thốn khổ cực nhiều bề. Do vậy mà hai bên Stalin và Mao vẫn còn hục hặc lẫn nhau, giữ thế với nhau, mặc dầu bên ngoài thì vẫn phải giữ thể diện, uy tín cho khối cộng sản. Rõ ràng là giữa hai ông chỉ có sự “ bằng mặt”, mà “ không có sự bằng lòng”.
Đàng khác, vẫn theo sự tiết lộ của Kruschev, thì hai vị lãnh tụ này lại còn đụng độ căng thẳng với nhau về mặt quan điểm nữa. Câu chuyện xảy ra đại khái như sau : Mao vẫn tự hào mình là một nhà tư tưởng, nên muốn có một nhà tư tưởng khác từ Liên Xô để cùng hợp tác biên tập lại các bài viết của mình để rồi xuất bản cho công chúng đọc. Lời yêu cầu này được Stalin đáp ứng bằng cách đề cử ông Yudine, là một thứ triết gia trong hàng ngũ cơ quan an ninh (gọi nôm na là chekist = cớm), để qua Bắc kinh làm đại sứ của Liên Xô. Như vậy là thuận tiện cho việc hợp tác biên soạn tác phẩm với Mao Trạch Đông. Nhưng sau mấy buổi hội họp riêng để bàn thảo công việc biên soạn này, thì hai bên lại đâm ra có nhiều sự bất đồng về quan điểm này nọ. Mao thì tự phụ mình là một lý thuyết gia tầm cỡ lớn của một đảng cộng sản lớn lao với bao nhiêu thành tích lãy lừng, do vậy mà cứ giữ lập trường quan điểm của cá nhân mình. Trong khi đó thì đại sứ Yudine cũng tự cho mình mới là người nắm vững tư tưởng chính thống Marxist-Leninist xuất phát từ đảng cộng sản đàn anh Liên Xô. Rút cục là hai bên bế tắc, không thể tiếp tục làm việc chung với nhau được. Và Stalin đành phải rút đại sứ Yudine trở về lại Liên Xô.

Qua một số vụ việc đại khái như thế, Kruschev kết luận là sự nứt rạn, đổ vỡ giữa Liên Xô và Trung cộng đã manh nha ngay từ thời Stalin còn là lãnh đạo đầu thập niên 1950, chứ không phải là do Kruschev gây ra như một số đảng viên đổ vấy tội cho ông ta, lúc ông đã bị các “đàn em” hạ bệ từ năm 1964.

2/ Stalin và Hồ Chí Minh.

Cũng trong cuốn hồi ký nhan đề “Kruschev remembers”, người kế vị Stalin này còn dành cả một chương nói về Hồ Chí Minh, với một mối thiện cảm đối với một người cộng sản kiên trì mà ông gọi đó là “vị thánh tông đồ” của chủ nghĩa Marxist-Leninist (apostle). Ở đây chỉ xin thuật lại chuyện ông Hồ xin tiếp kiến đàn anh Stalin vào hồi năm 1950-51.

Hồi đó ông Hồ còn đang phải ở tại chiến khu Việt bắc và rất bận rộn với cuộc chiến tranh chống Pháp. Nhưng sau khi cộng sản Trung quốc toàn thắng ở lục địa Trung hoa, thì ông Hồ tìm cách đi qua ngả Bắc kinh để đến viếng thăm vị lãnh tụ đàn anh tại Moscow và đồng thời xin Stalin viện trợ thuốc men, võ khí v.v… cho quân đội kháng chiến Việt nam. Theo lời thuật lại của Kruschev, thì Stalin không tiếp đón ông Hồ như là một vị quốc khách, mà chỉ có những cuộc gặp gỡ kín đáo riêng tư mà thôi. Và giới báo chí truyền thông Liên Xô cũng không thấy đề cập gì nhiều về chuyến viếng thăm này của ông Hồ. Về khoản ông Hồ xin Stalin cấp phát cho bộ đội Việt minh một số thuốc chống sốt rét, thì Stalin đồng ý dễ dàng và ra lệnh cho xuất kho thuốc quinine để cung cấp cho ông Hồ. Còn các lời thỉnh cầu khác, thì Stalin nói là đó là trách nhiệm của bên Trung quốc, vì Liên Xô đã phân công cho nước này đặc trách mọi việc chi viện cho phía Việt nam. Do vậy, ông Hồ cứ việc thương lượng với Trung quốc, mà khỏi cần mất công phải đi xa và làm phiền đến Liên Xô nữa.

Nhân tiện cũng xin ghi thêm chi tiết khá lý thú và ngộ nghĩnh này nữa. Đó là trong dịp tiếp kiến với đàn anh Stalin, thì ông Hồ có xin với vị lãnh tụ cho một tấm hình để làm kỷ niệm cho nhân dân Việt nam. Stalin bèn gật đầu và lấy một tờ báo bằng tiếng Anh nhan đề : “ The Soviet Union under reconstruction” (Liên Xô dười thời tái kiến thiết), rồi ký tặng cho vị khách này. Ông Hồ thật hớn hở vui mừng và đem về phòng mình ở nhà khách. Nhưng vài bữa sau, Stalin nghĩ lại và đã sai mật vụ đến tận phòng ông Hồ lúc ấy đi vắng, để lấy lại tờ báo có chữ ký tặng này. Kruschev ghi thêm là ông Stalin vốn có tính đa nghi thái quá, nên sợ ông Hồ lợi dụng bức ảnh có chữ ký đề tặng này để làm chuyện gì không hay chăng, nên đã có chuyện tìm cách lấy lại cái “kỷ niệm mà ông Hồ rất trân trọng” đó.

3/ Đặng Tiểu Bình làm cố vấn cho Liên Xô.

Theo lời thuật lại của Harrison Salisbury nguyên là một chủ bút nổi danh của tờ New York Times, thì vào đầu năm 1956, khi xảy ra vụ nhân dân Ba lan nổi dậy đòi thay đổi chế độ cộng sản ở đây, Kruschev thật bối rối vì còn quá mới mẻ, chưa có thẩm quyền vững vàng của một vị lãnh tụ có tầm vóc như Stalin. Do vậy mà giới lãnh đạo Liên Xô phải cậy nhờ xin ý kiến cố vấn của Trung quốc. Mao bèn cử Đặng Tiểu Bình lúc đó giữ chức Bí thư đảng cộng sản Trung quốc, để qua bàn thảo với giới lãnh đạo Liên Xô anh em. Sau khi nghiên cứu tình hình, thì Đặng nói ngay với các đại diện Liên Xô : “Việc này, các đồng chí phải giải quyết êm thắm bằng cách nhượng bộ với khuynh hướng “cộng sản dân tộc” của Ba lan vậy thôi “. Kruschev đã nghe theo ý kiến này và đã dàn xếp để cho lãnh tụ Gomulka trở về lãnh đạo ở Ba lan. Ông lãnh tụ này trước đây đã từng bị Stalin đưa qua quản chế tại Liên Xô, vì sợ ông này có chủ trương tách Ba lan ra khỏi ảnh hưởng của Liên Xô theo gương của Tito ở Nam Tư. Nhờ vậy, mà chuyện ở Ba lan hồi đó mới được dàn xếp êm thắm.

Nhưng đến tháng 10 cũng trong năm 1956, thì lại có chuyện nổi dậy ở Hungary. Lần này, Liên Xô cũng lại phải nhờ Trung quốc cho ý kiền xem phải giải quyết ra sao. Đặng Tiểu Bình lại cho ý kiến khác hẳn lần trước với chuyện của Ba lan. Ông nói với phía Liên Xô : “ Không được rồi, các đồng chí ơi. Hungary khác, Ba lan khác. Tôi nghĩ là ta phải mạnh tay đàn áp bọn nổi dậy ở Hungary, để tái lập lại uy quyền của đảng cộng sản….” Và rốt cuộc, Liên Xô đã “ngoan ngoãn” nghe theo sự chỉ dẫn của Trung quốc và đem quân đội đi dẹp “chuyện làm loạn của Hungary”. Qua chuyện này, ta không ngạc nhiên về chuyện Đặng Tiểu Bình đã ra lệnh cho quân đội Trung quốc tàn sát chính đồng bào của mình trong vụ Thiên An Môn năm 1989.

Salisbury bình luận : “ Sau trên 100 năm bị các cường quốc Tây phương hạ nhục kể từ trận chiến tranh nha phiến hồi giữa thế kỷ XIX và sau đó là bị các liệt cường túm vào xâu xé nước Tàu, bây giờ Trung cộng đã trở thành một cường quốc được mời tham gia giải quyết vấn đề của Âu châu xa lắc xa lơ. Đó là một dịp để rửa được cái mối nhục quốc thể cả một thế kỷ trước…”
Về mục giai thọai chính trị quốc tế, thì rõ rệt đó là cả một kho tàng đồ sộ, có thể kê khai ra trong nhiều cuốn sách thì mới gọi là tạm đày đủ, thỏa mãn tính hiếu kỳ của quý độc giả được. Nhưng vì bài báo có giới hạn, dịp này người viết chỉ xin ghi ra mấy chuyện tương đối gần gũi với người Việt mình trong vòng mấy chục năm qua mà thôi.
Xin hẹn sẽ tường thuật thêm với các bạn đọc về các chuyện lý thú, ngộ nghĩnh nữa trong một dịp khác vậy nhé.

California, cuối năm Kỷ sửu 2009
Đoàn Thanh Liêm
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Hy vọng của nước Mỹ

Ngô Nhân Dụng
Hai cháu ngoại tôi thường vẫn đi vườn trẻ trong một nhà thờ. Tuần trước, nhân mẹ các cháu được mời đàn cho đêm Giáng Sinh, cả gia đình đến xem lễ. Ông mục sư trẻ nói rất có duyên, làm các tín đồ bật cười lên nhiều lần. Ông dùng computer chiếu hình, phim và các câu trong Kinh Thánh, lâu lâu các tín đồ đứng dậy hát nhiều bài rất hay, lời bài hát chiếu trên màn ảnh lớn cho người không thuộc đọc. Vào lúc cuối buổi lễ, ông mời tất cả mọi người lần lượt lên trước bàn thờ “nhận Thiên Chúa vào mình;” và ông nhấn mạnh, “Dù quý vị theo tôn giáo nào hoặc không có tôn giáo cũng xin mời lên dự!” Tôi rời ghế ngồi, bước tới, lần đầu tiên tham dự vào một nghi thức rất thiêng liêng đã được đặt ra từ hai ngàn năm nay. Khi tôi cầm miếng bánh mì nhúng vô ly rượu nho ông mục sư cầm trên tay, ông cười tươi, chúc tụng và cám ơn tôi đã chia vui ngày Thiên Chúa giáng trần.

Tôi chắc ông nói thành thật. Vì ở đây là một thành phố nhỏ, có người lạ tới người ta biết liền. Nhìn tôi là ông có thể đoán cháu ngoại tôi vẫn đem gửi ở đây. Dân ở thành phố Dubuque đi đổ xăng hay vào chợ mua bánh mì là có dịp gặp và chào hỏi một vài người quen. Tôi nhìn thấy độ 4 người Á Ðông trong số khoảng 150 người dự lễ ở nhà thờ. Trong không khí một đêm Giáng Sinh như vậy, ai cũng vui mừng và thành thật với nhau, kể cả những người không tôn giáo.

Người Mỹ rất sùng đạo, tín ngưỡng mạnh hơn dân các nước Âu Châu cùng trình độ phát triển kinh tế. Nhưng lòng mộ đạo của họ không làm cho người khác sợ; như cô Ayaan Hirsi Ali nhận xét. Khi những người Mỹ có đạo nghe trả lời rằng cô vô thần, thì “Họ không dọa giết tôi, mà nói sẽ cầu nguyện cho tôi.” Ðó là một kinh nghiệm mới lạ đối với cô Hirsi Ali; vốn gốc theo Hồi Giáo ở Somali. Cô đã trốn khỏi quê hương để tránh bị đối xử kỳ thị, đã đi qua nhiều nước trước khi định cư tại Hòa Lan. Cô ngạc nhiên khi thấy “Cảnh sát ở đây không đòi hối lộ, mà lại sẵn sàng giúp mình!” Cô tham gia phong trào tranh đấu cho các phụ nữ bị áp bức, rồi đắc cử làm đại biểu Quốc Hội Hòa Lan. Cô cộng tác với một nhà làm phim, về tình trạng các phụ nữ Hồi Giáo bị chồng hành hạ, ngay ở Âu Châu. Nhà làm phim bị ám sát. Trên ngực áo ông ghim một miếng giấy hẹn sẽ giết nốt cô Hirsi Ali. Biết là họ không nói đùa, cô di cư lần nữa, sang Mỹ để “tị nạn.”

Năm ngoái cô Hirsi Ali và hai người Mỹ bạn đồng nghiệp cùng coi ti vi hai ứng cử viên phó tổng thống Mỹ tranh luận với nhau. Một người Mỹ đảng Dân Chủ thì nghe bà Palin nói câu nào cũng chê, còn người kia đảng Cộng Hòa thì không thể nào chịu nổi cái mặt ông Biden trịch thượng. Họ cãi nhau kịch liệt suốt buổi, nghe xong cô Hirsi Ali nghĩ rằng nước Mỹ sắp có nội chiến đến nơi, giống như cảnh chém giết lẫn nhau ở xứ Somali - biết đâu, cô sẽ phải đi tị nạn lần nữa! Nhưng sau khi mùa tranh cử chấm dứt, cô gặp hai đồng nghiệp đó thấy họ vẫn đi với nhau, đang chia nhau ăn một miếng bánh ngọt. Tôi quen hai vợ chồng người Mỹ ở miền Trung Tây, ông chồng luôn luôn bầu Dân Chủ, bà vợ lúc nào cũng Cộng Hòa, nhưng chắc vì đã lớn tuổi nên không bao giờ họ nói chuyện chính trị với nhau, hoặc với các con.

Mùa Hè năm ngoái tôi cũng ở Dubuque mấy tuần, vào lúc mùa tranh cử tổng thống đang mở màn. Có bữa tôi theo con cháu đến coi một ngôi nhà đề bảng bán. Trong lúc mọi người đang đi thăm thú bên trong, tôi vô sự dạo quanh nhà. Một người đàn ông Mỹ to lớn mở cửa bước từ trong chiếc xe vận tải ra bắt tay tôi, chắc ông ta tưởng tôi nhìn thấy ông ở trong xe nên phải ra chào. Chân ông đi hơi khập khiễng. Ðó là ông chủ nhà, nhưng ông phó mặc việc bán nhà cho vợ, ông ra ngồi trong xe “trốn khách.”

Ông Hansen là một người lao động, giới trung lưu tiêu biểu; ông đi làm từ lúc trẻ, lớn lên phải thi lấy bằng tương đương tốt nghiệp trung học để được vô trường kỹ thuật học nghề, và suốt đời ông làm cái nghề thợ nguội đã học. Ông đã về hưu, đang bán nhà để về ở gần các con và cháu nội.

Tôi tò mò hỏi tại sao khu đất nhà ông lại bị thắt nhỏ lại ở phía sau, ông Hansen cho biết khu đất vẫn vuông vắn, chỉ có cái hàng rào bị bẻ quẹo thôi. Vì ông cho ông hàng xóm mượn đất xây cái ga ra để hai xe. Ga ra lớn nên lẹm sang đất nhà ông vì bên đó họ đất không rộng đủ. Vì vậy phải lái cái hàng rào quẹo vào, trông thấy đất thót lại nhưng trên giấy tờ thì mảnh đất của ông vẫn vuông vắn.

Hàng xóm ở đây rất tốt, ông Hansen nói. Chỉ tay vào những tấm bảng tranh cử trên bãi cỏ trước nhà, ông cười, nói: Tụi tôi chỉ cãi nhau hai năm một lần thôi. Thằng đó nó phò đảng Dân Chủ, còn tôi tôi chỉ thích Cộng Hòa. Như để giải thích lý do, ông nói, “Tôi không thể nào chấp nhận được chuyện tự do phá thai! Giản dị như vậy!” Cứ đến mùa bầu cử là ông hàng xóm đem các tấm bảng cổ động cho các ứng cử viên Dân Chủ về cắm dọc con đường trước cửa nhà ông ta. Ðủ loại quảng cáo, từ những người tranh cử hội đồng thị xã, tới đại biểu nghị viện tiểu bang, đại biểu quốc hội liên bang, hay là ứng cử viên tổng thống. Mỗi lần như vậy, ông Hansen lại đi xin mấy tấm bảng của ứng cử viên Cộng Hòa về cắm trước cửa nhà mình để đáp lễ. Trong mùa tranh cử là họ ít khi gặp nhau. Nhưng tháng trước ông Hansen phải vô nhà thương mổ cái đầu gối, nằm dưỡng bệnh mất cả tháng mới đi lại được. Cả tháng trời, mấy người hàng xóm thay phiên nhau cắt cỏ đằng trước đằng sau, mà “cái thằng theo đảng Dân Chủ” cắt giúp nhiều nhất. Vì ở đây ai cũng tử tế như vậy cả!

Trong cuộc sống cá nhân, người Mỹ rất “nhiệt thành” về tôn giáo cũng như chính trị, người không ưa thì bảo là họ quá khích. Nhưng họ đã tập được thói quen là, ở trong gia đình, giữa bạn bè hay xóm làng, khi đối xử với nhau thì hãy đặt những niềm tin và khuynh hướng chính trị của mình ra ngoài. Không ai ép buộc người khác phải theo mình cả, vì vô ích.

Ðây không phải lối sống tự nhiên một sớm một chiều mà một quốc gia tạo nên được. Nếu cứ để yên, loài người ở đâu cũng chứa đầy thành kiến, óc phân biệt, đầy tự ái và mặc cảm, thấy người lạ thì nghi kị, khinh thường, hoặc sợ hãi. Vào thế kỷ 17, những di dân đầu tiên từ Anh Quốc sang tiểu bang Massachusetts có lúc còn giết nhau vì những tín điều và giáo lý khác biệt. Một “nhà hiền giả” nổi danh vào thời lập quốc Mỹ là Benjamen Franklin còn tỏ ý nghi ngờ rằng những người di dân giống Ðức khó mà hội nhập vào lối sống của dân Mỹ! Hai trăm năm sau, dân gốc Ðức chiếm khoảng 50 triệu, ít có ai để ý tổ tiên họ là người gốc Ðức. Một người mang tên Eisenhower đã làm lên đến tổng thống. Và giờ thì đến lượt con trai của một di dân từ Phi Châu đến ở mấy năm rồi lại về, lên làm tổng thống Mỹ!

Bây giờ không còn ai ở Mỹ chủ trương phải giết lẫn nhau vì tín ngưỡng bất đồng hay vì vì xung đột chính trị. Dân xứ này đã tập được thói quen sống lối mới nhờ hai trăm năm được uốn nắn sống theo một bản Hiến Pháp trong đó các quyền tự do và bình đẳng được nhấn mạnh và được thi hành một cách nghiêm mật. Bị luật pháp ràng buộc mãi, dù không muốn thì tính tình người ta cũng đổi. Lâu lâu, thể chế và pháp luật cũng ảnh hưởng đến đạo đức con người; giống như dân Singapore đã tập được thói quen không xả rác, không vẽ bậy lên tường. (Nếu thành phố Westminster cũng làm luật phạt tội xả rác như vậy thì chắc chắn trong vài năm phong tục Little Saigon cũng thay đổi!) Ðối với di dân thì cũng ít có người Mỹ nào còn lo lắng họ “không thể hội nhập” như ông Benjamen Franklin. Vì nhìn chung quanh họ, cũng khó phân biệt được ai là Mỹ ba đời, ai là Mỹ đời thứ nhất. Trên thế giới chỉ có ba nước là di dân dễ “bị đồng hóa” nhanh chóng thành như dân bản xứ mà không cảm thấy bị “mất gốc.” Ðó là Mỹ, Úc Châu, và Canada, những quốc gia được các đám di dân lập thành.

Một sức mạnh của nước Mỹ là di dân từ khắp thế giới đã tìm tới đây để sống. Trong dân số Mỹ hiện nay có 38 triệu người sinh ở nước khác. Không quốc gia nào có nhiều “người ngoại quốc” như vậy. Cả nước Tầu chỉ có một triệu người dân sinh ở ngoại quốc, Nhật Bản có 2 triệu. Ðức là nước đông di dân nhất Âu Châu, có gần 10 triệu. Nhiều nước Tây Âu, đặc biệt là Bắc Âu, có chính sách rất cởi mở đối với di dân, nhờ truyền thống tự do dân chủ lâu đời. Nhưng di dân thành công trong xã hội thì ở Mỹ vẫn đông nhất so với các nước khác.

Một sức mạnh của nước Mỹ là nhiều người khắp thế giới muốn đến sống ở đây. Vì họ thấy những tấm gương thành công của di dân tới trước. Có những người mới đến đời thứ nhất đã thành công, ông Arnold Schwarzenegger, đương kim thống đốc California là một thí dụ. Tỷ phú Soros là một di dân. Một người Cuba, trốn sang Mỹ năm 15 tuổi, chưa hề học hết trung học, là cha dượng của ông Jeff Bezos, một tỷ phú sáng lập công ty Amazon bán sách trên mạng lưới. Không phải các di dân chỉ đến đây lợi dụng nước Mỹ để làm giầu, chính họ đóng góp vào sự thịnh vượng của nước này bằng sáng kiến, phát minh, óc mạo hiểm trong kinh doanh.

Trong số những công ty kỹ thuật tân tiến thành lập ở Mỹ từ 1995 đến 2005, một phần tư là của các di dân mới đời thứ nhất. Trong số những bằng sáng chế của người Mỹ đã trình lấy tác quyền tại các nước khác, cũng có một phần tư là của di dân. Nhưng ngay cả những người lao động không chuyên môn cũng tìm thấy cơ hội. Ở nước Mỹ không có những cuộc biểu tình đập phá của những thanh niên trong đám di dân; chắc vì họ đều bận đi kiếm việc hoặc đang đi làm, chưa ai cảm thấy tuyệt vọng vì lo bị gạt ra bên lề xã hội mãi mãi.

Ở những nước Canada, Úc, Mỹ, người di dân cảm thấy họ thành dân bản xứ một cách dễ dàng, vì nhòm chung quanh thấy hầu như ai cũng là di dân, nếu không phải một đời thì cũng chỉ ba bốn đời. Ðó là một điều khác biệt giữa Mỹ với các nước tiền tiến về kinh tế ở Tây Âu, và những nước chưa phát triển nhưng rộng lớn như Trung Quốc, Ấn Ðộ.

Ðó là một lý do bao nhiêu người trẻ tuổi từ khắp nơi đổ vào nước Mỹ sống. Và họ sẽ sinh con đẻ cái. Trong 50 năm tới, Mỹ là quốc gia duy nhất trong số các cường quốc mà dân số sẽ tăng lên chứ không giảm, và trong dân số vẫn còn nhiều người trẻ. Một lý do khiến kinh tế Nhật Bản có thể còn trì trệ là dân chúng càng ngày càng già. Số người già ở Trung Quốc sẽ tăng vọt lên trong năm, mười năm tới. Hai nước đó sẽ phải chi tiêu rất nhiều cho việc nuôi nấng và chăm sóc sức khỏe cho các cụ! Ai hồ hởi nghĩ rằng kinh tế Trung Quốc sẽ lên cao mãi không ngừng thì cứ nhìn vào kinh nghiệm Nhật Bản. Trước đây 30 năm người ta cũng nghĩ kinh tế Nhật là vô địch hoàn cầu mãi mãi. Mô hình phát triển kinh tế của hai nước này kiềm chế tiêu thụ và tùy thuộc xuất cảng sẽ theo nhau lần lượt lâm vào ngõ bí. Ở nước Nhật, chế độ dân chủ có tính linh động hơn, có thể chuyển hướng chính sách dễ dàng hơn ở Trung Quốc, mà gần 20 năm nay vẫn chưa thay đổi xong. Và Trung Quốc sẽ còn mối lo xã hội sẽ bất ổn vì sự phát triển của cả nước bị một đảng lợi dụng để hưởng lợi, gây ra cảnh tham nhũng và chênh lệch giầu nghèo ngày càng trầm trọng, mà cứ tiếp tục độc tài thì chưa biết làm sao gỡ được.

Kinh tế Mỹ hiện vẫn đứng hàng đầu về sáng chế, phát minh. Bây giờ ai phát minh được cái gì thường đem “trình tòa” ở ngay nước Mỹ để giữ bản quyền cho chắc. Trong năm 2008, Văn phòng Bản Quyền của chính phủ Mỹ đã phát 8731 bằng sáng chế cho người Nam Hàn, 37,000 bằng sáng chế cho các công ty hoặc cá nhân Nhật Bản. Nhưng cũng trong năm đó, có 92,000 bằng sáng chế được phát cho người Mỹ. Ấn Ðộ, Trung Quốc, đều đứng rất xa phía sau. Trong 30 năm qua, chỉ có 8 người Á Châu chiếm các giải Nobel về khoa học, trong đó 8 người Nhật Bản. Rất nhiều người Mỹ được giải Nobel đã di cư từ các nước khác tới. Các đại học ở Mỹ thu hút nhân tài khắp thế giới, vì họ đãi ngộ xứng đáng với ngân sách nghiên cứu lớn và không khí đề cao tự do tư tưởng trong xã hội. Nhưng các “nhân tài” cũng được cả xã hội tưởng thưởng bằng tiền bạc khi các sáng kiến của họ được thương mại hóa và thành công.

Một người bạn trẻ của tôi đã đi học rồi làm việc ở Áo Quốc từ vài chục năm. Sau nhiều lần du lịch sang Mỹ, năm nay đang chuẩn bị cùng gia đình di cư sang ở luôn. Tôi hy vọng giúp các bạn trẻ đó thêm tin tưởng vào lựa chọn của họ. Nhân ngày đầu năm 2010, tôi cũng xin gửi quý vị độc giả Người Việt sống tại Mỹ những hình ảnh lạc quan trên đây, để chúc quý vị một năm mới an lành và thịnh vượng. Quý vị đã sống ở nước Mỹ thì biết những ưu điểm và nhược điểm của xã hội này. Nhưng quý vị có thể giữ niềm tin vào tương lai của con cháu mình. Vì điểm đáng quý nhất của xã hội Mỹ là nó luôn luôn tự tìm tòi các nhược điểm của mình rồi không ngần ngại phô bầy ra cho cả thế giới thấy. Cơ chế dân chủ cho phép dân Mỹ liên tục tranh luận, đối chọi, rồi bỏ thăm chọn lựa, thí nghiệm các phương thuốc mới để sửa chữa những khuyết điểm của nước Mỹ. Niềm hy vọng của nước Mỹ là do chế độ tự do dân chủ tạo ra. Quý vị là di dân, nhưng đừng nghĩ chỉ có mình phải tới đây nhờ vả nước Mỹ. Chính nước Mỹ cũng nhờ có những người như quý vị nên mới được như ngày nay. Cũng như khi bước ra khỏi ngôi giáo đường vào đêm lễ Giáng Sinh, chúng tôi lại được ông mục sư bắt tay cảm ơn lần nữa; chúng tôi biết chính mình cũng đem lại một niềm vui cho ông và các tín hữu trong nhà thờ, trong một đêm lạnh giá tuyết rơi lất phất, khi mọi người vội vã lên xe trở về nhà mở tiệc.
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 11 guests