Page 30 of 68

Posted: Sat Oct 08, 2011 4:17 am
by tiendung
Le Saint Michel 2011 tai Paris

01-10-2011 lễ Saint Michel (Thánh Tổ binh chủng Nhảy Dù) đã được UNP "Hội Nhảy Dù Pháp" và UEP "Hội Nhảy Dù Âu Châu" tổ chức trọng thể tại Paris.
Sau phần diễn hành trên đại lộ Champs Elysées là phần đặt vòng hoa trước mộ những chiến sĩ vô danh tại Khải Hoàn Môn và ký sổ lưu niệm.
Buổi lễ có sự hiện diện của Tổng Trấn vùng Paris và đại diện chính phủ Pháp cũng như các cựu Nhảy Dù VNCH, Ba Lan, Anh Quốc, Đức, Bỉ, Mỹ, Liên Sô v.v....

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Posted: Sat Oct 08, 2011 5:28 pm
by KýCóp
Sau 36 năm, tìm thấy hài cốt
Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Ðiềm, Ðại Tá Võ Toàn


Sĩ quan Sư Ðoàn 1 Bộ Binh lâm nạn tháng 3/75 trên đường bay từ Ðà Nẵng

Huy Phương & Nam Phương

- Suốt nhiều năm tìm kiếm, gia đình của cố Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Ðiềm và cố Ðại Tá Võ Toàn đã tìm thấy hài cốt của họ với các tấm thẻ bài đầy đủ họ tên và số quân.

Image
Di ảnh Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Ðiềm khi còn mang cấp bậc đại tá. (Hình: Gia đình cung cấp)

Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Ðiềm là tư lệnh Sư Ðoàn 1 Bộ Binh. Ðại Tá Võ Toàn là trung đoàn trưởng Trung Ðoàn 1 Sư Ðoàn 1 Bộ Binh. Cả hai sĩ quan này thiệt mạng trong một chuyến bay vào đêm 28 tháng 3, 1975 từ Ðà Nẵng dự trù về Qui Nhơn chuẩn bị phòng tuyến mới để cầm cự khi Ðà Nẵng thất thủ và Quảng Nam không còn an toàn.

Theo nguồn tin của gia đình Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Ðiềm và Ðại Tá Võ Toàn, tìm ra địa điểm hài cốt của họ mới cách đây khoảng 3 tuần lễ tại một địa điểm sát bờ biển thuộc làng Lá Ngái, thôn An Hải, xã Bình Châu, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.

Ðược sự giúp đỡ của người dân địa phương đã chôn cất những tử thi này, gia đình đã dễ dàng kiếm ra địa điểm. Trước đó, gia đình Chuẩn Tướng Ðiềm đã tổ chức rất nhiều lần tìm kiếm nhưng không thành công.

Khi khai quật lên, ngoài hài cốt của Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Ðiềm (còn thẻ bài và một lá bùa trong túi áo- được gia đình xác nhận), Ðại Tá Võ Toàn (còn thẻ bài và một nhẫn cưới), còn có hài cốt một thiếu úy (có cấp bậc trên cổ áo), một phi công (mặc đồ bay), một phụ nữ và một em bé.
Image
Thẻ bài của Chuẩn Tướng Ðiềm. (Hình: Gia đình cung cấp)

Ðiều này trùng hợp với ký ức của cựu Trung Tá Lê Ngọc Bình, người lái chiếc máy bay bị rớt, cho biết trong số người trên máy bay ngoài hai sĩ quan Sư Ðoàn 1 còn có nhiều người quá gian tránh pháo kích.

Trong cuộc nói chuyện với báo Người Việt trưa ngày 7 tháng 10, ông Lê Ngọc Bình nói rằng máy bay do ông lái bay trong sương mù dày đặc, chở nặng (khoảng 16 người gồm cả quân và một vài người là thân nhân không quân chạy nạn) không bay cao được và bay dọc theo bờ biển. Tới một khu vực thuộc tỉnh Quảng Ngãi thì bị bắn và máy bay rơi xuống biển.

Ông Bình, nguyên phi đoàn trưởng phi đoàn trực thăng 275 của Sư Ðoàn 1 Không Quân VNCH, kể rằng buổi tối 28 tháng 3 năm 1975, phi trường Ðà Nẵng bị pháo kích dữ dội. Ông được lệnh dời phi đoàn sang một phi trường nhỏ ở Non Nước lâu nay không sử dụng, để tránh pháo kích và “đợi êm quay lại chứ không định đi đâu”. Ðược một ít lâu thì có mấy xe díp chạy tới, ngừng lại. Ông thấy có Chuẩn Tướng Ðiềm, Ðại Tá Toàn và một số sĩ quan cao cấp khác.

Dịp này, Tướng Ðiềm liên lạc với tỉnh trưởng Bình Ðịnh thì được cho hay nơi đây vẫn còn an toàn nên ông muốn được vào đó để lập tuyến phòng thủ mới. Ông Bình trình bày rằng trời mưa và sương mù nặng nên bay rất khó khăn, nguy hiểm. Trong khi đang thảo luận thì “dân trong làng gần đó túa ra nói xe tăng Cộng Sản đang đi về hướng này”.

Vì vậy mọi người cùng lên máy bay và quyết định bay dọc biển về hướng Qui Nhơn ở phía Nam.

“Trên máy bay có một y tá, một phụ nữ với 4 đứa con nhỏ là những người quá giang tránh pháo kích ở Ðà Nẵng, tất cả ngồi đầy máy bay tới 16 người. Máy bay bay thấp vì nặng”. Ông Bình kể.
Image
Thẻ bài và nhẫn cưới của Ðại Tá Võ Toàn. (Hình: Gia đình cung cấp)

Máy bay bay ngang qua Chu Lai bị bắn, may không bể bình xăng, nên không mất cao độ. “Nhưng khi chưa tới Sa Huỳnh, Quảng Ngãi, thì bị bắn lên. Nghe tiếng súng nhỏ bắn rồi máy bay không còn điều khiển được và rớt xuống nước”.

Theo lời ông Bình kể “Ðụng nước, máy bay trực thăng lật ngửa. Tôi cố sức ra được, trồi lên mặt nước, mang giày nặng không bơi được nên lặn xuống cởi giày. Trồi lên lại thì thấy ông Ðiềm cũng nổi lên, còn mang áp giáp. Tôi la lớn kêu ông cởi áo giáp. Cũng thấy ông Toàn nổi lên.”

Lúc này, ông nói đã uống rất nhiều nước biển, rất mệt lại đêm tối không nhìn thấy gì, “sóng đánh rầm rầm, mạnh ai nấy đi”. Ông ráng bơi được vào bờ, rất mệt, bám được mô đá nhưng lại bị sóng đánh dạt ra ba lần mới bám được một chỗ, tay sứt móng máu chảy rất nhiều. Ông không thấy ai bơi vào như ông, lúc này ông đoán khoảng 11 tới 12 giờ đêm.

Ông Bình kể tiếp là ông đi dọc biển một hồi thì thấy một máy bay trực thăng trước mặt. Ông chạy tới, may nhờ một người trong nhóm người này là trung úy thuộc cấp cũng thuộc phi đoàn của ông nhìn ra ông nên đã không bị bắn.

Chiếc máy bay này đã đáp xuống vì sương mù dày đặc không bay nổi.

Khi họ đang bàn tính và chờ bớt sương mù thì bị một nhóm quân cộng sản tới tấn công. Nhóm của ông đã bắn trả, rút lên máy bay và bay đi kịp. Cố gắng lên được cao độ 2,000 feet, trời bớt sương mù và lúc này cũng đã khoảng 7 giờ sáng ngày hôm sau. Máy bay ra khỏi mây và bay về được tới phi trường Phù Cát.

“Tôi nghĩ là ông Chuẩn Tướng Ðiềm và những người kia đều đã chết đuối. Họ đã uống nhiều nước biển” nên mất sức, không thể chống chọi với sóng biển.

“Hai đêm qua tôi đã không ngủ được khi nghĩ đến chuyến bay hôm đó”. Ông Bình nói.

Posted: Sat Oct 08, 2011 8:13 pm
by tranphuongdong
VC Trả Thù 20.000 Tử Sĩ VNCH:
Trận Đồ ‘Rừng Cây Xuyên Tâm’


Trồng cây muồng, cây sao khắp Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa để rễ cây rừng mọc xuyên thủng quan tài và di cốt 18.000 tử sĩ VNCH...

Chiến dịch Rừng Cây Xuyên Tâm: CSVN trồng cây khắp Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa để biến nơi này thành rừng,
và để rễ cây xuyên phá quan tài và di cốt tử sĩ VNCH.

Image

Image
BIÊN HÒA -- Đảng Cộng Sản VN đang trả thù các chiến binh Việt Nam Cộng Hòa bằng cách trồng rừng ngay trong Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa để rễ cây sẽ xuyên qua các quan tài và di cốt đang mục rã của gần 20.000 tử sĩ Miền Nam.

Lời báo động về chiến dịch “Rừng Cây Xuyên Tâm” được đưa ra bởi người viết blog có tên là Lê Tùng Châu.

Bài viết nhan đề “Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa, Tiếng Kêu Khẩn Thiết Từ Ngôi Đền Thiêng” đưa lên từ hôm Thứ Năm 6-10-2011 trên blog riêng có điạ chỉ:

http://letungchau.blogspot.com/2011/08/ ... g-keu.html

đã nói lên dã tâm của CSVN trong chiến dịch trồng rừng để rễ cây xuyên phá các quan tài và di cốt tử sĩ VNCH.

Nhiều hình ảnh kèm theo đã cho thấy cây rừng đã bao phủ màu xanh nhiều nơi, đặc biệt là Khu B và Khu E, thấy rõ nhiều thân cây rừng đã lớn trồng từng hàng bên các mộ, và như thế, rễ cây đã và đang mọc xuyên quan tài và di cốt tử sĩ.

Bài viết của blogger Lê Tùng Châu trích như sau:

“Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa (*), nơi an nghỉ của gần 20.000 binh sĩ quốc gia miền Nam trong cuộc chiến tự vệ của VNCH trước sự xâm lăng của cộng sản miền Bắc sau Geneve 1954 cho đến 1975...

...Công trình tổng thể Nghĩa Trang có hình con ong trên một diện tích ước chừng 125 hectares.

...Theo các số liệu phổ biến (chưa thống nhất chính xác) thì cho đến 4-1975, số mộ phần tử sĩ là 16.000, cùng với mấy trăm di hài binh sĩ chuyển về Nhà Xác (Đại Đội Chung Sự) chưa kịp an táng. Số lớn di hài này đã bị toán lính VC chiếm lấy Nghĩa trang tháng 4/1975 cho chôn tập thể một cách tàn ác phía bên trái, cách Nhà Xác chừng 15, 20 met, và không cho đắp nấm đắp nấm, hiện vẫn còn tồn tại cho tới nay tuy đã bị lấp lên bởi 1 ngôi nhà của "trường Cao đẳng nghề" kế bên hông Nghĩa trang (Khu I)

...Việc đầu tiên là VC cho giật sập Tượng Thương Tiếc, (một tuyệt tác nghệ thuật rất có hồn, đúc bằng đồng đen); sau đó là các hành vi trả thù người đã chết một cách tiểu nhân man rợ quái đản mà không một con người văn minh nào có thể tưởng tượng nổi: Dùng súng bắn thẳng vào mặt những tấm hình trên mộ bia, xô đổ, lấy buá đập tan nát bia mộ, tiểu tiện lên, mắng chửi, nguyền rủa mộ phần… bằng những ngôn từ của loài man rợ vô nhân tính! Nếu đi khắp hết 8 Khu mộ, ta có thể thấy số bia mộ (có gắn hình người đã khuất) bị đập phá, bể sứt, hoặc bị đục thẳng bằng búa bằng đinh vào mắt, mặt, đầu trên di ảnh người quá cố là một con số quá lớn có thể lên tới hơn 50%. Phải nói một cách kinh hãi rằng, cái chủ nghĩa mà tên tội đồ Hồ chí Minh đem về VN, gầy dựng, nhồi nhét vào đầu đàn em của y ta quả là nơi nuôi dưỡng cho hận thù kiên cố khủng khiếp nhứt trần gian, hơn cả phát xít Đức hay Nhật hay Staline: Trả Thù Người Đã Chết!

...Sau 1990, có nhiều tin được tung ra là hanoi sắp bán đất Nghĩa Trang cho tư bản châu Á, gây ra một nỗi hoang mang đau đớn cùng khắp, và khá nhiều thân nhân người quá cố tìm mọi cách đút lót cho bọn này để được bốc mộ. Số mộ đã được di dời khỏi Nghĩa Trang áng chừng 5, 6 ngàn. Nhưng theo thống kê từ các đồng đội tử sĩ còn sống và hiện vẫn đang âm thầm chăm sóc mộ, thì hiện số mộ còn lại xấp xỉ 18.000, nghĩa là số mộ thực có tại Nghĩa Trang là chừng 22.000, hoặc 23.000 cho tới 1975!

Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt

Một thời gian quá dài bỏ hoang đã dần làm hư hoại, đổ nát các mộ phần và rêu phong, sụp lở các công trình chính của Nghĩa Trang. Nhưng thật kiên cố thay, hiện Cổng Tam Quan, Nghĩa Dũng Đài và Đền Tử Sĩ vẫn còn vững chắc và gần như nguyên vẹn!

...Từ trước 1975, đây là nơi thiêng liêng còn được dự trù sẽ trở thành Nghĩa Trang Quốc Gia, nên xung quanh gần như là khu vực cấm cư trú, xây cất dân sự. Sau 75, VC đã tùy tiện xem Nghĩa Trang như thể là khu đất hoang chiếm được, nên họ đã cho xây "nhà máy nước Bình An” chắn giữa lối đi từ phía sau Đền Tử Sĩ vào lộ chính dẫn vào Nghĩa Trang. Chung quanh, các cán bộ VC, bộ đội dần dà chiếm đất và xây cất nhà ở, làm xưởng, lò gạch v.v…, một số mộ ở Khu B, D, G, I bị xâm phạm, phần đất nguyên thủy của các Khu này bị xâm chiếm biến dạng so với ban đầu.

Từ thiên nhiên đến con người thi nhau xâm thực thế mà lạ thay, Nghĩa Trang vẫn đứng vững, trừ vài biến dạng nhỏ như: bộ đội VC xây kín và lắp cửa cho nhà chính Đền Tử Sĩ khi còn ở đó; cắt cụt 16 met cây kiếm béton nằm giữa Vành Khăn Tang để làm vọng gác ở trên ngọn, rồi xây 1 nhà nhỏ bên dưới chân Nghĩa Dũng Đài (khoảng 2003) để ở và “quản lý” Nghĩa Trang, nơi mà giờ đây sau bao biến thiên của một hơn một phần ba thế kỷ chỉ còn là một bãi tha ma hoang lạnh.

Vậy thì họ quản lý cái gì ở đây?

Một Chính Sách Độc Ác và Hận Thù Dai Dẳng: Trồng cây.

Họ không có cái gì ở đây để quản lý hết, chỉ trừ một mục đích: Cầm tù Nghĩa Trang, nghĩa là quân sự hóa cốt để cấm không cho thân nhân người chết tu sửa thăm nom hằng năm hằng tháng.

...Năm 2002 khi “trung đoàn Gia định” tới cắt cụt ngọn Nghĩa Dũng Đài làm vọng gác và xây nhà nhỏ ở dưới chân, rồi dùng phần đất trống trong Nghĩa Trang để làm nơi tập luyện…thì cũng tự đây, họ, không rõ theo lệnh ai, đã bắt đầu một việc độc ác quái ác có chủ mưu, đó là trồng cây khắp Nghĩa Trang và kín khắp Đền Tử Sĩ.

...Nên biết rằng, về thổ nhưỡng, khu đất được các Tướng lãnh VNCH khi xưa chọn làm Nghĩa Trang là một ngọn đồi đất đỏ với đá non, nhỏ. Cho nên về mặt dinh dưỡng, là loại đất chẳng phù hợp để trồng cây.

Vả lại, nếu ta so sánh với các “nghĩa trang liệt sĩ” của VC rải rác khắp nước từ bắc chí nam, thì trong nghĩa trang chẳng có trồng cây bao giờ. Các khu mộ, dù là dân sự hay quân đội…trên khắp thế giới, cũng không hề có nơi đâu lại trồng cây trong nghĩa trang!

Vì lẽ đây là không phải là đất trống, mà bên dưới mỗi diện tích kim tĩnh nhỏ bé 1m,2 x 2m,4 là di cốt của người quá cố. Các loại cây trồng, nhất là cây lấy gỗ hay cây rừng… sẽ có lớp rễ ăn sâu và rộng nếu đó là loại đất nghèo dinh dưỡng, do đó, theo thời gian, chúng sẽ xâm phạm tàn phá biến dạng hoàn toàn các mộ phần.

Thêm nữa, với tập tục Á Đông, người Việt mình tối kỵ mồ mả cha ông bị rễ cây đâm vào bởi tin rằng sẽ làm “đau đớn, khó chịu” linh hồn người chết và con cháu sẽ không thể sống yên hay làm ăn yên ổn được.

Năm 2006, khi Ng tấn Dũng “ký chuyển dân sự” Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa về tỉnh Bình Dương và gọi tên tự đặt mới là “nghĩa trang Bình An” thì người cộng sản đã bộc lộ rõ sự dùng dằng trì hoãn (trong việc lẽ ra phải xử sự một cách chính đáng) với câu Nghĩa Tử là Nghĩa Tận -tức là Người đã chết thì thôi không còn thù hận nữa- đối với Nghĩa Trang.

Năm 2007 ông Ng Cao Kỳ về VN, trong chuyến về này ông Kỳ có vận động hanoi tu sửa tôn tạo Nghĩa Trang nhưng họ không làm.

Năm 2004-2008 và sau đó, ông Vũ văn Lộc và IRCC, Inc. nhiều lần cố gắng bắt liên lạc và trực tiếp thương lượng với Hanoi với cùng mục đích, nhưng đề nghị tôn tạo Nghĩa Trang đã bị từ chối.

Cuối 2008, nhóm Quốc Gia Nghĩa Tử Heritage trực tiếp về VN, công khai “làm đơn” tu bổ quy mô Nghĩa Trang thì bị “chuyền banh”: khi gặp phó chủ tịch Bình Dương thì bị chỉ về huyện Dĩ An. Về Dĩ An thì bị chỉ xuống Ban Quản Trang (một tốp chừng 6 nhân viên quèn coi cổng Nghĩa Trang). Tại đây họ lại bị chuyền lên tỉnh Bình Dương và sau rốt họ nhận được “mách miệng” của bà phó chủ tịch Dĩ An: “do trung ương chứ tụi tôi không có quyền”. Các giấy tờ đơn trương xin trùng tu Nghĩa Trang mà họ nộp lên bị “chơi cú lơ” 3 năm nay.

Tất cả chìm vào một im lặng rợn người như một nấm mồ!

Nhưng cây trồng thì không im lặng!

Từ đó đến nay, 2011, lượng cây mà bộ đội VC trồng hồi 2003 đã lớn dần (xin xem các hình dưới đây) đến nỗi giờ đây, người qua kẻ lại khó còn nhận ra Đền Tử Sĩ, và bên trong Nghĩa Trang, khắp các khu mộ, là một rừng cây muồng, cây sao và cây rừng hoang họ lá dầu, có cây đã cao mười mấy met và đường kính lên tới gần 30cm! Đó là không gian bên trên.

Còn bên dưới? Người có chút quan sát, khi đi vào Nghĩa Trang ắt không thể không thấy lượng cây này đang biến Nghĩa Trang thành rừng, và đám rễ của cả rừng cây này đang âm thầm làm công việc phụ trợ cho mưu đồ độc ác, đó là tàn phá cấu trúc bên dưới của các phần mộ, nơi mà giờ đây đã 36 năm chấm dứt chiến tranh, chỉ còn là hài cốt của các anh hùng tử sĩ xưa! Họ đã và đang bị xâm hại một cách tàn nhẫn khủng khiếp sau khi từ giã cõi đời xấp xỉ 4 chục năm!”(hết trích)

Cuối bài, blogger Lê Tùng Châu đưa ra Lời Kêu Khẩn Thiết, trích:

“Sau một thời gian thu lượm thông tin lẫn thăm viếng thực địa, tôi viết bài ngắn gọn này nhằm kêu lên lời khẩn thiết: Nghĩa Trang đang lâm nguy! đồng thời cũng là Bản Tố Cáo Tội Ác thâm độc của VC đối với 20.000 anh linh người quá cố ba bốn chục năm trước!

Người Việt trong và ngoài nước hãy chung tay đoàn kết, có hành động thực tiễn nhanh nhất có thể, ngăn chận ngay sự xâm hại độc ác đang âm thầm diễn ra cho các anh linh tử sĩ quốc gia ở Nghĩa Trang...”

Xin mời độc giả đọc toàn văn bài viết và nhiều hình ảnh ở trang: http://letungchau.blogspot.com/2011/08/ ... g-keu.html.

Posted: Sun Oct 09, 2011 6:33 am
by khieulong
Image

TĐ4/TQLC -
Đêm Hạ Lào ! Đêm sao dài quá!


MX Trần Vệ
Suốt cuộc chiến ở Cambodia, từ lúc vượt biên giới đổ bộ ở Neak-Luong cho đến khi tiến chiếm Prey-Veng, rồi về đóng quân ở Ban-Nam, Tiểu đoàn 4 Kình Ngư như dẫm chân hết khu phía Đông của sông Mekong. Lúc bấy giờ tôi giữ chức vụ Đại đội trưởng Đại đội 4. Cuối cuộc chiến, Tiểu đoàn 4 được lệnh hành quân lục soát dọc bờ sông Mekong hướng về phía Nam. Trong một trận chiếm mục tiêu ở cuối làng thì tôi bị thương vì mảnh lựu đạn gài. Tôi được tải thương về Hồng Ngự, sau đó chuyển về hậu cứ Vũng Tàu. Vì vết thương nhẹ nên chỉ một tuần sau tôi được xuất viện. Sống cuộc đời lính, đôi khi cái rủi lại là cái may. Tôi được nghĩ dưỡng thương gần 3 tuần lễ, phất phơ lên xuống Vũng Tàu - Sài Gòn thăm gia đình, mấy khi có được một cái phép ngon lành như thế trong khi Tiểu đoàn phải đi hành quân xa.

Hôm ấy, trong khi đang thưởng thức gió biển mát mẻ ở Bãi Sau Vũng Tàu thì tôi được Đại úy Đặng Văn Học, chỉ huy hậu cứ Tiểu đoàn 4 Thủy Quân Lục Chiến chạy ra báo Tiểu đoàn đã về hậu cứ. Sau một ngụm bia, Học vỗ vai tôi:

- Ông già dẫn Tiểu đoàn về rồi, ông cho gọi mày gấp.

Tôi vội hỏi:

- Ổng có khỏe không, Tiểu đoàn mình có khá không?.

Học cười ha hả:

- Ông già kỳ này đen thui à, có lẽ bắt màu của mấy em Cambodia, ông hỏi bộ mày bị mấy em Vũng Tàu cầm chân sao không thấy ra hành quân ?.

Tôi cũng cười:

- Mình là thương binh mà.

Ông già là Thiếu tá Võ Kỉnh, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 4 Thủy Quân Lục Chiến. Ông tuy lớn tuổi (hồi ấy đã gần 5O trong khi bọn tôi chỉ từ 25 đến 3O tuổi) nhưng rất trẻ trung. Chúng tôi hay đùa ông già chịu chơi, khi hành quân thì rất gan dạ, khi về hậu cứ hễ chúng tôi đâu thì ông đó. Ngoài ra ông có ngón nhảy Tango, đưa em “ter” rất sát, chúng tôi cố học mãi nhưng không theo kịp.

Không khí ở Tiểu đoàn hôm nay có vẻ nhộn nhịp, lính tráng ra vào tấp nập trông như ngày Tết. Tôi bước vào Bộ Chỉ huy Tiểu đoàn thì thấy ông già đang đứng nói chuyện với các sĩ quan Đại đội trưởng. Tôi chưa kịp chào thì ông đã đưa tay ngoắc:

- À thằng Vệ đây rồi ! Sao, đã chưa mày, có em nào mới không ?.

Tôi chào ông xong, xoa hai tay:

- Thưa Đại bàng đâu có, bị thương phải dưỡng bệnh suốt mấy tuần.

Hòa râu tức Nguyễn Đăng Hòa, Tiểu đoàn phó, đứng bên cạnh cười nói:

- Đâu mày đưa vết thương tao xem.

Tôi vén ống quần lên, chỉ thấy mấy vết lấm chấm nhỏ do mảnh đạn đã lành. Từ Đức Thọ, Đại đội trưởng Đại đội 3 xuýt xoa:

- Chà, vết thương nặng dữ, xin ông già cho Vũng Tàu nghĩ thêm hai tháng nữa !.

Tất cả đều cười ồ, tôi không biết làm sao hơn đành cười theo. Đợi cho tất cả dứt tiếng cười, ông già lấy giọng nghiêm:

- Thôi được rồi, kỳ này cho chú về giữ Trưởng ban 3 thay cho Đại úy Trần Văn Chí. Đại úy Chí coi Đại đội chỉ huy, tôi đã ra lệnh cho Ban 1 rồi, ngày mai bàn giao.

Tôi hỏi:

- Thưa Đại bàng, kỳ này Tiểu đoàn nghỉ lâu không?.

Ông già lắc đầu:

- Đâu có nghỉ gì, Tiểu đoàn chỉ về hậu cứ 2 tuần để bổ sung, chuẩn bị hành quân. Tôi đã ra lệnh cấm trại 1OO% rồi.

Thế là Tiểu đoàn chuẩn bị quân số và vũ khí. Bộ Chỉ huy Tiểu đoàn và các Đại đội làm việc suốt ngày. Hai tuần sau, Tiểu đoàn được không tải ra Huế. Thời tiết của Huế đang vào mùa nắng, mà cái nắng ở Huế thì rất gắt. Tiểu đoàn lại được di chuyển bằng quân xa ra Đông Hà, một quận ở phía Bắc tỉnh Quảng Trị. Lệnh hành quân kỳ này rất bí mật , chúng tôi cũng chưa biết đi hành quân ở vùng nào, lại được lệnh huấn luyện binh sĩ đổ bộ cho nên có người đoán sẽ đổ bộ miền Bắc. Do đó ai cũng bàn tán xôn xao, vẻ mặt người nào cũng lộ vẻ nôn nao. Thủy Quân Lục Chiến là lực lượng Tổng trừ bị, đi khắp 4 vùng chiến thuật, nếu kỳ này có đổ bộ miền Bắc thì cũng không sao, lại thêm một chuyến vui chơi mà thôi. Chúng tôi lại nói chuyện tiếu lâm về miền Bắc, nào là dịp này được làm quen gái Bắc, có người lại nói sẽ đi 36 phố phường...

Hôm ấy tôi đang ngồi thảo kế hoạch huấn luyện đợt 2 thì có lệnh lên Lữ đoàn 147 Thủy Quân Lục Chiến lãnh bản đồ. Tôi sắp bản đồ thì thấy trải dài theo quốc lộ 9 lên Khe Sanh, Lao Bảo và một lô bản đồ qua đến Tchépone thuộc Nam Lào, dọc theo sông Tchépone. Tuy nhiên vẫn chưa có lệnh hành quân, chỉ nhận được lệnh ngày N giờ G sẽ di chuyển bằng quân xa lên Khe Sanh.

Con đường quốc lộ mang số 9 do Pháp làm hồi trước, trải đá chạy dọc theo các triền núi, qua thung lũng, vì đất núi nên khi xe chạy bụi đỏ mịt mù, chúng tôi phải lấy khăn quấn quanh mặt, nhưng khi tới nơi thì ai cũng lấm lem hết. Tiểu đoàn đến Khe Sanh thì trời sắp tối, được trú ngụ ở một căn cứ cũ của quân lực Hoa Kỳ để lại. Khe Sanh là một làng nhỏ cách Lao Bảo giáp giới với Lào khoảng 6-7 cây số. ở đây có 2 đồn điền cà phê của người Pháp để lại, giờ đây bỏ hoang vì chủ đã về nước. Vào năm 1968, Khe Sanh nổi tiếng vì những trận đánh giữa quân lực Hoa Kỳ và Bắc Việt. Nay quân đội Mỹ đã rút khỏi Khe Sanh, để lại những căn cứ hoang tàn đổ nát. Sau khi đi họp với Tiểu đoàn trưởng ở Bộ Chỉ huy Lữ đoàn 147 tôi được biết lực lượng Thủy Quân Lục Chiến làm trừ bị cho Sư đoàn 1 Bộ binh đang tiến chiếm Tchépone.

Kế hoạch của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa là tiến chiếm Tchépone, tiêu diệt địch và rút lui chứ không chiếm đóng. Nổ lực chính là Sư đoàn 1 Bộ binh, Dù và Biệt Động Quân án ngữ hướng Tây và Tây Bắc. Vì là lực lượng trừ bị cho nên trong giai đoạn đầu chúng tôi được thong dong ở Khe Sanh tắm suối và nếm những trái cà phê đỏ chín nặng trĩu ở các cành cây cà phê. Tuy nhiên với chức vụ trưởng Ban 3 Tiểu đoàn, mỗi sáng tôi phải đi bay C&C quan sát, khi thì đi máy bay của Không quân Việt Nam, khi đi máy bay Mỹ. Tôi và Chính rỗ (người lính Truyền tin mang máy cho tôi) sáng nào cũng lên Lữ đoàn chờ máy bay rồi đến gần tối mới trở về Tiểu đoàn. Cũng nhờ đi bay với cố vấn Mỹ, tôi mới rõ lối đánh giặc của anh mũi lõ. Rất chán! Theo hiệp ước không biết ký ở đâu, máy bay quan sát của Mỹ chỉ bay đến dãy núi Koroc mà thôi, tức là chỉ qua khỏi Lao Bảo độ vài cây số. Tôi cự nự với thằng cố vấn hoài:

- Máy bay đến đây thì thấy cái đếch gì ? Việt cộng nó ở tuốt bên kia!.

Thằng Mỹ cười hề hề:

- Sorry, tao nhận được lệnh không được qua bên đó .

Chỉ có máy bay của Không quân ta, tôi mới thoải mái để quan sát. Lúc ngồi trên máy bay tôi không thấy ngán nhưng về rồi nghĩ lại thấy ớn da gà. Bởi vì rừng Hạ Lào rậm rạp, cây cối xanh dờn, bay chập chờn giữa cảnh trời bao la chẳng khác nào máy bay giấy, chỉ một phát phòng không của Việt cộng là rồi đời. Phe ta lại chơi bạo, hễ thấy phòng không bắn lên thì đảo xuống để quan sát cho rõ.

Sáng hôm đó, tôi lên Bộ Chỉ huy Lữ đoàn thì được nghe tin một Tiểu đoàn của Sư đoàn 1 Bộ binh do Thiếu tá Trần Ngọc Huế, khóa 18 Võ bị Đà Lạt chỉ huy đã đặt chân lên Tchépone và đang quần với địch. Trong khi đó Lữ đoàn 2 Nhảy Dù của Đại tá Thọ đụng mạnh với một Sư đoàn Cộng sản Bắc Việt. Tiểu đoàn 21 Biệt Động Quân ở Tây Bắc chạm địch cấp Trung đoàn. Tôi nhận được lệnh: Lữ đoàn 147 Thủy Quân Lục Chiến gồm các Tiểu đoàn 4, 2 và 7 chuẩn bị trực thăng vận cùng Bộ Chỉ huy Lữ đoàn và Tiểu đoàn 2 Pháo binh đến án ngữ cho các đơn vị Bộ binh, Biệt Động Quân và Nhảy Dù rút quân. Lại được tin Bộ Tư lệnh Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến sẽ từ Sài Gòn không vận ra đóng bản doanh tại Khe Sanh để chỉ huy hành quân. Ngoài ra còn có Bộ Tư lệnh Tiền phương của Quân đoàn 1, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh, Sư đoàn Dù, Liên đoàn 21 Biệt Động Quân và Lữ đoàn 1 Thiết kÿ.

Lực lượng đổ quân của Thủy Quân Lục Chiến do Đại tá Hoàng Tích Thông, Lữ đoàn trưởng chỉ huy với thành phần như sau:

- Tiểu đoàn 2 Pháo binh do Thiếu tá Đặng Bá Đạt làm Tiểu đoàn trưởng.

- Tiểu đoàn 2 Trâu Điên của Thiếu tá Nguyễn Xuân Phúc.

- Tiểu đoàn 4 Kình Ngư của Thiếu tá Võ Kỉnh.

- Tiểu đoàn 7 của Thiếu tá Phạm Nhã.

Các đợt đổ quân đều tiến hành tốt đẹp, có lẽ địch chưa phát hiện được vị trí của ta. Sau khi đáp xuống đồi 55O của Bộ Chỉ huy Lữ đoàn 147 Thủy Quân Lục Chiến, Tiểu đoàn 4 Kình Ngư chúng tôi tiến về hướng Đông Bắc. Trên đường di chuyển chúng tôi phát hiện được nhiều đường mòn chằng chịt. Nói là đường mòn chứ thật ra là những con đường đất đỏ lớn cỡ xe Molotova của quân Bắc Việt di chuyển. Đồng thời đường lên các núi cao đều có bậc cấp để đi cho dễ dàng, chứng tỏ Cộng sản Bắc Việt thiết lập để Bộ đội và dân công dùng. Các nơi đóng quân của Thủy Quân Lục Chiến vẫn yên tĩnh, nhưng qua thông tin của Lữ đoàn chúng tôi được biết Sư đoàn 1 Bộ binh và Thiết kÿ bị Bắc Việt truy kích nặng nề khi rút lui theo đường số 9. Trong khi đó Bộ Chỉ huy Lữ đoàn Dù của Đại tá Thọ bị địch tràn ngập, đồng thời Tiểu đoàn 21 Biệt Động Quân cũng bị tấn công dữ dội. Bộ Tư lệnh Tiền phương phải xin B.52 trải thảm để ngăn các đợt tiến quân của Cộng sản Bắc Việt.

Sáng hôm sau, khi Tiểu đoàn 2 Pháo binh khởi sự bắn yểm trợ và các điểm nghi ngờ thì đại pháo 13O ly của địch cũng hướng về phía ta. Đạn rớt trên các triền núi của Bộ Chỉ huy Lữ đoàn, địch đã đánh hơi được các điểm đóng quân của Thủy Quân Lục Chiến. Tôi đang liên lạc với Lữ đoàn thì nghe trên đầu có tiếng máy bay, tôi vội qua tần số không trợ để liên lạc thì biết đó là máy bay quan sát của Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến. Tôi vội báo là đừng bay lên hướng Bắc vì hôm qua khi đổ quân tôi thấy phòng không địch ở hướng đó bắn lên. Nhưng đã trễ, máy bay đã vượt qua đầu chúng tôi, chưa kịp quay trở lại thì phòng không đã bắn lên rồi. Nhìn chiếc máy bay lượn qua lượn lại giữa những lằn đạn, tôi lắc đầu ái ngại cho số phận của các đồng đội. Quả nhiên qua tần số không trợ, tôi biết tin Trung úy Pháo binh (tôi không còn nhớ tên) bị thương. Cũng may máy bay đã trở lại kịp và bay về hướng Khe Sanh.

Tôi đang còn nhìn theo chiếc L.19 thì âm thoại viên đến báo:

- Trình Đại úy, Trung úy Thọ, Đại đội trưởng Đại đội 3 muốn gặp.

Tôi cầm máy hỏi:

- Cái gì đó Tango ?.

- Trình Vũng Tàu, con đầu của tôi quan sát thấy địch, xin Vũng Tàu cho mấy tô phở.

- OK, muốn ăn phở ở đâu cho biết.

Tôi gọi pháo bắn vào các điểm Thọ vừa cho, phía bên trái Đức, Đại đội trưởng Đại đội 4 cũng xin pháo. Tôi chuyển bớt pháo qua điểm Đại đội 4 xin. Các đợt pháo của ta vừa ngưng thì có tiếng “tong tong” qua đầu, tôi la lên “Pháo kích” để tất cả chui hầm. Rồi 2 tiếng nổ ở sau lưng chúng tôi, tôi nhìn qua đồi 55O của Bộ Chỉ huy Lữ đoàn 147 thấy 2 cột khói bốc lên. Địch đã phát hiện điểm pháo của ta. Suốt ngày hôm đó, ta và địch đều dùng pháo để thăm dò nhau. Sau này tôi được biết pháo địch đặt trong lòng núi, ở các hốc đá lớn nên rất khó phát hiện và tiêu diệt. Còn căn cứ hỏa lực của ta thì trống trải, lại ở trên cao nên rất dễ thấy mà còn không di chuyển được nên càng dễ ăn pháo địch. Rút kinh nghiệm này, trong các trận đánh sau như Quảng Trị Bộ Chỉ huy Lữ đoàn không đóng chung với Pháo đội nữa mà để Pháo đội ở riêng và di chuyển khi cần. Trời tờ mờ sáng thì Đại đội 3 báo cáo địch đã tiến sát, tôi cho gọi Pháo và báo cáo với Đại bàng Kỉnh. Tiểu đoàn trưởng ra lệnh tác xạ và yểm trợ 81 ly cho Đại đội 3. Vừa nói chuyện với Thọ xong thì Đức báo cáo nghe tiếng động cơ nổ, tôi vội la lên trong máy:

- Coi chừng chiến xa địch đó, cho ông già 72 sẵn sàng. Tiếng Đức trả lời:

- Vũng Tàu yên tâm, chúng tôi đã sẵn sàng.

Nói xong thì tôi nghe tiếng M.72 nổ rầm rầm từ phía Đại đội 4. Tiểu đoàn trưởng bảo tôi xin pháo thêm và nhắc:

- Vũng Tàu nhớ kéo pháo sát một chút.

Pháo binh bắn rất chính xác và gần, nhiều lúc mảnh đạn còn văng đến chỗ chúng tôi nữa.

Sau đợt pháo thứ hai thì Đức báo cáo với giọng hổn hển:

- Vũng Tàu ơi! tôi hạ được một con cua rồi.

- OK, tôi báo Đại bàng thưởng cho.

Tôi trình lại với Tiểu đoàn trưởng và báo cáo về Lữ đoàn. Ta và địch quần nhau suốt ngày, Đức hạ thêm 2 chiến xa nữa, trong khi đó bên Thọ địch bám rất sát. Đến 5 giờ chiều thì tình hình bắt đầu găng, bất chấp pháo binh của ta, chiến xa địch cùng bộ binh của chúng tấn công liên hồi nhưng bên ta đều chận đứng được. Phía Bộ Chỉ huy Lữ đoàn bị pháo kích liên miên, ta bị hỏng mất 2 khẩu 1O5 ly. Tôi và Chính rỗ cả ngày ngồi dưới hố, mà cái hố quá chật nên chân chúng tôi phải đan lấy nhau. Trong tiếng đạn nổ của súng thường và pháo, tôi bỗng nghe hai ba tiếng nổ rất gần, hình như ngay trên đầu của Đại đội 3. Tôi check lại với Bộ Chỉ huy Lữ đoàn để xác nhận pháo của ta hay địch thì vừa lúc đó có tiếng nổ dồn dập trên đầu chúng tôi, bên trái rồi bên phải. Tôi la lên trong máy:

- Đại bàng Tango, đừng bắn trên đầu chúng tôi, ngưng tác xạ đi.

Tiểu đoàn trưởng Võ Kỉnh cũng la bên tôi:

- Vũng Tàu, mày bảo Pháo binh ngưng bắn ngay!. Trưởng ban 3 Lữ đoàn cũng la lên trong máy:

- Tao đã ngưng rồi, pháo địch đó!.

Thôi rồi, đúng là pháo 13O ly của địch với tiếng nổ ầm ầm chát chúa trên đầu chúng tôi, nghe long cả óc. Bỗng tôi nghe bên tai:

- Đại úy ơi, em bị thương rồi!.

Tôi vội quay lại Chính rỗ máu me đầy mình, văng cả lên người tôi, hình như chân nó cũng bị mà chân hai đứa lại đan nhau nên tôi không rõ mình có bị hay không ? Trong khi đó thì Đại đội 3 và 4 đều bị địch tràn lên, ta và địch đang bắn tay đôi, gần nhau trong gang tấc. Một loạt 13O ly nữa lại nổ, tình hình không tốt rồi. Chúng tôi được lệnh “cho chó ăn chè” nghĩa là rút lui về Bộ chỉ huy Lữ đoàn. Trong bóng tối, vừa cố né mảnh đạn pháo tôi vừa thì thào bên tai Chính rỗ:

- Mày chạy được không, ta rút đi thôi.

Chính rỗ lắc đầu:

- Đại úy đi đi, em không đi được nữa.

Tôi cố kéo Chính rỗ lên khỏi hố nhưng không được, vừa lúc đó pháo lại nổ liên tục, cuối cùng đành xách cái máy truyền tin vọt đi, để nó ở lại. Đến đây, tưởng cũng nên để vài hàng nói về Chính rỗ, người giữ máy truyền tin của tôi, kẻ đã ở lại vĩnh viễn tại Hạ Lào:

Chính rỗ con nhà nghèo, cha mất sớm, mẹ phải đi bán chè nuôi con cho nên Chính thất học. Nó đi bụi đời rất sớm nhưng rất có hiếu với mẹ, kiếm được đồng nào là đưa về cho mẹ. Đến năm 18 tuổi Chính đăng lính Thủy Quân Lục Chiến, vào lính nó lại rất kỹ luật, thi hành lệnh cấp trên răm rắp nên được thương cho đi học Truyền tin. Sau khóa Truyền tin nó về mang máy cho tôi và thường tâm sự là mẹ già rồi nó phải nuôi mẹ nên không lấy vợ, dù có con nhỏ bán nước mía ở đầu chợ Vũng Tàu rất thương nó. Nó bảo:

- Đại úy à, đời lính nay đây mai đó, lấy vợ thêm khổ.

Tôi an ủi:

- Khổ gì mày, vậy mày để con gái ở giá thì họ không khổ à ?.

Nó cười hề hề:

- Đại úy nói cũng có lý, phen này về, em đem con nhỏ ra mắt bà già xem sao.

Thôi rồi, Chính rỗ ơi! Đã muộn rồi! mày không còn cơ hội để đạt giấc mộng cỏn con đó nữa. Thôi hãy an giấc ngàn thu ở xứ Hạ Lào xa lạ chết chóc này. Và cuộc chiến còn kéo dài thì rồi con gái họ cũng ở giá mà thôi !

Lên đến Bộ Chỉ huy Lữ đoàn, cảnh tượng còn thương tâm hơn: các khẩu pháo bị hỏng nằm nghiêng ngã, khắp nơi bề bộn những thùng đạn và bao cát. Tôi vào hầm chỉ huy nhận lệnh thì thấy toàn thể Bộ Chỉ huy cũng đã chuẩn bị gọn gàng. Đại tá Lữ đoàn trưởng nói rất bình tỉnh:

- Ta chỉ án ngữ cho các đơn vị bạn rút, giờ ta cũng rút về thôi, các anh gắng chu toàn con cái.

Tôi bước ra cửa hầm thì gặp Chuẩn úy Phạm Hiệp Sĩ, nó mừng rỡ ôm chầm lấy tôi. Sĩ học cùng khóa 19 với tôi nhưng vì kỹ luật nên bị ra trường sớm với cấp bậc Trung sĩ, mặc dù nó học rất giỏi. Ra trường rôi cũng vẫn cái tính ngang tàng đi hai ba binh chủng, sau cùng về Thủy Quân Lục Chiến và vào Tiểu đoàn 4. Ông già thấy Sĩ và tôi học cùng khóa nên cho nó về Đại đội 4 của tôi hồi tôi chưa bị thương. Vẫn chứng nào tật ấy, đi hành quân thì rất giỏi, mà về hậu cứ thì lại say sưa, vô kỹ luật. Tôi cho Sĩ giữ chức vụ Trung đội trưởng, trong khi Sĩ chỉ mang cấp bậc Trung sĩ. Cuối cùng tôi xin ông già cho Sĩ đi học khóa Sĩ quan và đã ra Chuẩn úy về Đại đội Viễn thám. Sau cái bắt tay, tôi bảo Sĩ:

- Tình hình này chắc phải rút quân, và có lẽ sẽ lộn xộn đó, mày nhớ chạy theo hướng Koroc, có đơn vị bạn đón ở đó. (Theo kế hoạch rút lui, Tiểu đoàn 3 Sói Biển của Thiếu tá Nguyễn Năng Bảo để nằm ở dãy Koroc để đón phe ta với sự yểm trợ của Tiểu đoàn 3 Pháo binh của Thiếu tá Trần Thiện Hiệu).

Tôi chưa kịp nói gì nhiều thì pháo địch đã tới tấp nổ trên đồi. Lính ở đâu ùn ùn kéo tới làm tôi cũng dạt theo. Chiến xa địch cũng bám sau lưng ta để tránh B.52 vì lúc đó bom nổ rất gần. Trời tối nên chẳng thấy đường, nhiều lúc ngã lăn, tôi bị trượt theo sườn đồi. Đến khi xuống tới đất bằng mới thấy toàn là rừng cây rậm rạp, cây nào cây nấy to cả người ôm. Lúc bấy giờ binh sĩ ta rất đông, cả hơn trăm người, tôi không nhận diện được đơn vị nào. Kẻ nói người la inh ỏi, người bảo đi hướng này, kẻ chỉ đi lối kia, không ai nghe ai cả. Thấy thế tôi la lớn lên:

- Tôi là Đại úy Trần Vệ, trưởng Ban 3 Tiểu đoàn 4 đây, tất cả hãy im lặng để nghe tôi nói.

Tất cả đều im, tôi dặn dò:

- Vì trời tối , tất cả hãy bám theo nhau mà đi, không được nói chuyện. Tuyệt đối giữ im lặng khi di chuyển, không được bắn bừa bãi. Ai có máy truyền tin lên đây đi bên cạnh tôi.

Hai ba người có máy truyền tin chạy lên , vừa lúc đó tôi nghe có tiếng nói bên cạnh:

- Chết rồi, tay Đại úy bị thương, đưa em băng cho.

Tôi vội nhìn lại bàn tay trái của mình mới biết mảnh đạn ở ngón áp út nên vội đưa tay cho anh lính y tá băng giúp . Có tiếng nổ phía sau, tôi ra lệnh đoàn quân di chuyển, nhưng không thấy ai nhúc nhích cả, có lẽ người đứng đầu không biết đi hướng nào và đi về đâu. Tôi đành lên dẫn đầu đoàn quân, dùng địa bàn định hướng đi về phía Koroc. Cứ thế chúng tôi lần bước trong đêm, lúc đó khoảng 9 giờ tối. Chúng tôi như đoàn quân ma, chập chờn im lặng lên đồi, vượt suối. Đi độ một tiếng đồng hồ, vừa lên đỉnh một ngọn đồi tôi bỗng nghe có tiếng xôn xao ở đồi bên phải. Tôi cho tất cả dừng lại bố trí cẩn thận, một người mang máy bò lại cạnh tôi:

- Đại úy, có người nói trong máy. Tôi cầm ống liên hợp thử lên giọng:

- Cọp Biển, Cọp Biển! Đây Rằn ri gọi.... Bỗng bên kia trả lời:

- Có phải Vẻ Vang đó không ?.

Tôi nhận ra tiếng của Trần Văn Hợp, Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 2 Trâu Điên, là bạn khóa 19 Đà Lạt nên vội lên tiếng:

- Hồng Hà, Hồng Hà ! Vẻ Vang đây, có phải mày đang ở bên cạnh tao không? Mày thử bắn một phát súng xem.

Một phát súng nổ ở đồi bên phải, cách tôi chừng một cây số. Tôi đáp nhận và 2 bên ước hẹn cùng đi về Koroc để tránh ngộ nhận nhau. Chúng tôi lại tiếp tục đi hết rừng cây lại đến rừng tranh. Đằng sau, tôi nghe B.52 nổ từng loạt một, tôi đoán đồi 55O đã thành bình địa. Chợt nghĩ tới Chính rỗ chắc giờ này đã tan thành mây khói mà lòng quặn đau. Tôi quên hẳn chính mình cũng đang mò mẫm trong rừng sâu, chưa biết phận mình sẽ ra sao nữa. Chúng tôi vừa băng qua một con suối thì có hai ba người lính bò lên gần tôi thì thầm:

- Đại úy, em thấy tụi nó cứ lò dò sau đuôi mình, chúng bám kỹ quá. Đại úy để tụi em dợt một cái.

Tôi suy nghĩ một chút rồi gật đầu:

- Ừ, tụi mày lấy độ 1O người ẩn nấp lại. Trên này sẽ lục tục đi cho chúng tưởng mình đi hết, diệt tụi nó xong nhớ dọt ngay nhé. Tao sẽ chờ ở cánh rừng trước mặt.

Một lát sau tôi nghe phía sau súng nổ dữ dội, có cả tiếng M.79, lựu đạn. Tôi vừa cho bố trí dừng lại xong thì nghe có tiếng thở hổn hển đằng sau:

- Đại úy, Đại uý! tụi em chơi tụi nó hết rồi. Thịt cũng được chục tên.

Tôi khen rồi cho lệnh tiếp tục đi, ở đầu máy tôi nghe tiếng Hợp:

- Vẻ Vang, Vẻ Vang! Mày bắn gì thế?.

Tôi vui vẻ trả lời:

- Hồng Hà yên tâm, tao vừa zu-lu thịt tụi nó xong. Đang zu-lu tiếp đây!.

Chúng tôi đi được một lúc lâu, nhìn đồng hồ đã 5 giờ sáng. Tôi ước lượng đi khoảng 3 cây số đường rừng nữa sẽ đến Koroc, vừa lúc đó tôi nghe tiếng “bục” trên không. Một cánh dù nhỏ, một trái sáng chiếu lơ lững và tôi cũng bắt được truyền tin của Tiểu đoàn 3 Sói Biển cho biết Tiểu đoàn 3 Pháo binh của Trung tá Trần Thiện Hiệu bắn soi sáng cho các đơn vị rút quân. Tôi thấy yên lòng và đốc thúc đoàn quân đi nhanh hơn. Đến 6 giờ rưỡi sáng thì chúng tôi đến chân núi Koroc, tôi cũng thấy lác đác những toán khác, mọi người trở lại với hàng ngũ của đơn vị mình. Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến sẽ cho trực thăng đến bốc chúng tôi về Khe Sanh. Tôi cho tập họp cứ 1O người một toán và ưu tiên cho những người bị thương. Độ nửa giờ sau máy bay đến, chuyến bốc đầu tiên an toàn nhưng qua đợt thứ hai thì địch bắt đầu pháo kích. Tình hình trở nên lộn xộn, cho nên hễ máy bay xuống là chạy ra ngay. Địch lại pháo 13O ly, chứng tỏ chúng đã bám sát ta rất kỹ. Tuy nhiên trước lằn đạn địch, máy bay cũng cố bốc cho hết binh sĩ. Có chuyến vừa đáp xuống là gặp pháo kích lại bay lên, binh sĩ chưa kịp vào lòng máy bay phải đeo càng trực thăng rất nguy hiểm. Gần đến chuyến chót tôi chạy ra vọt lên và bấy giờ mới cảm thấy nhức nhối ở bàn tay bị thương. Về đến Khe Sanh, toán Quân y lựa thương liền xin trực thăng tải thương cho tôi ra bệnh viện Quảng Trị ngay. Cũng tại Khe Sanh, tôi được biết đáng lẽ chúng tôi phải lội bộ về nhưng Đại tá Bùi Thế Lân, Tư lệnh phó kiêm Tham mưu trưởng Sư đoàn TQLC đã bắt buộc Bộ tư lệnh Tiền phương Quân đoàn 1 phải cho máy bay bốc Lữ đoàn 147 về với bất cứ giá nào.

Trong thời gian chữa trị vết thương, tôi nghe đài phát thanh tổng kết thiệt hại đôi bên, mới biết đó là một cuộc thử lửa vô tiền khoáng hậu. Quân lực ta đã nhảy vào một khu trận địa sắp sẵn của địch, như một ổ kiến lửa thì làm sao không thiệt hại cho được. Tuy nhiên ta cũng đã phá vỡ biết bao kho tàng, đường dây giao liên của địch và khám phá chỗ dấu vũ khí, đạn dược, các ổ pháo của địch. Làm cho chúng phải mất khả năng tấn công miền Nam ít nhất một thời gian dài mới cũng cố lại được lực lượng chuyển tiếp vũ khí đạn dược.

Chiến sĩ ta bao gồm các lực lượng như Sư đoàn 1 Bộ binh, Nhảy Dù, Biệt Động Quân, Thủy Quân Lục Chiến đã hy sinh cho chiến trường Hạ Lào khá nhiều. Một số bỏ thây lại chiến trường làm người chiến sĩ vô danh, trong đó có Chính rỗ, người lính truyền tin hiền hòa và dũng cảm của tôi. Một số bị bắt trong lúc rút lui như Phạm Hiệp Sĩ và Hiển của Đại đội Viễn Thám mà sau này khi gặp lại nhau ở trại cải tạo Sơn La, chúng tôi đã ôm nhau khóc, khóc cho phận mình, cho binh chủng và cho đất nước. Số anh em bị bắt ở Hạ Lào đã nói với chúng tôi là trong thời gian bị giam cầm từ 71-76, họ cứ hy vọng miền Nam sẽ chiến thắng. Họ không tin biến cố 75 mà cho là Cộng sản lừa bịp... cho đến khi gặp lại chúng tôi. Ngoài ra tôi còn gặp các chiến hữu đơn vị bạn như Đại tá Thọ, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 2 Dù bị bắt ở phía Bắc Tchépone. Cả Trần Ngọc Huế, Tôn Thất Mãn, Nguyễn Văn Thuế là các Tiểu đoàn trưởng gan lì của Sư đoàn 1 Bộ binh bị bắt ở Tchépone khi rút lui trên quốc lộ 9.

Tuy nhiên những người anh hùng đó cũng đã để lại một trang sử vẻ vang cho hậu thế và thế giới biết về sức mạnh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa qua cuộc thử lửa mà chính Quân đội Hoa Kỳ phải đánh giá rất cao.

MX Trần Vệ

Posted: Tue Oct 11, 2011 1:03 am
by hoanghoa
Image

Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù ( 1965 - 1966 )

Tháng 9 năm 1965, Thiếu Tá Nguyễn Khoa Nam được đề cử đảm nhiệm chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù thay thế Thiếu Tá Hồ Trung Hậu qua nắm Chiến Đoàn 1 Dù. Được thành lập vào tháng 9 năm 1953, TĐ5ND là tiểu đoàn nổi tiếng và vất vả nhất của Sư Đoàn Nhảy Dù. TĐ5ND là tiểu đoàn độc nhất của Việt Nam nhảy xuống Điện Biên Phủ dù rằng lúc đó các sĩ quan chỉ huy còn là người Pháp. Bị thiệt hại gần hết, tiểu đoàn được tái thành lập sau hiệp định Genève mà các cấp chỉ huy nổi tiếng như Nguyễn Chánh Thi, Ngô Xuân Soạn, Hồ Tiêu, Ngô Quang Trưởng, Hồ Trung Hậu.

Tiểu Đoàn Phó là Đại Úy Nguyễn Viết Cần, bị thương vào đầu năm 1966 và được thay thế bởi Đại Úy Nguyễn Vỹ. Một trong những đại đội trưởng thâm niên là Đại Úy Ngô Lê Tỉnh.

Hành quân An Dân 564 tại Hậu Nghĩa

Hành quân An Dân 564 khai diễn ngày 30 tháng 12 năm 1965 tại vùng tiếp giáp biên giới Miên-Việt thuộc tỉnh Hậu Nghĩa. Đơn vị địch là tiểu đoàn D9 thuộc Công Trường 9, quân số khoảng hơn 200 tên trang bị 2 súng cối 61 ly, 1 DKZ 57 ly, súng phòng không, đại liên và 3 thượng liên cùng các vũ khí cá nhân. Nhiệm vụ của chúng là yểm trợ cho đoàn hậu cần thu gom lúa gạo và các thực phẩm tại vùng này. Địch đặt các chốt rải rác quanh vùng để kịp thời báo động và chặn đánh khi QLVNCH hành quân vào vùng này. Tại khu trung tâm, địch đào các công sự kiên cố và đặt các ổ phòng không chống trực thăng vận.

TĐ5ND được sử dụng như là đơn vị xung kích, trực thăng vận xuống khu trung tâm của địch sau khi phi cơ đã oanh kích và pháo binh đã tác xạ vào khu này. TĐ1ND đổ quân sát biên giới Miên-Việt để chặn đánh đường rút lui của địch đồng thời ngăn chặn không cho địch tăng cường tiếp viện từ biên giới qua.

TĐ5ND đổ quân ngoài đồng trống đã bị địch sử dụng các loại súng cộng đồng bắn xối xả chế ngự mặc dù trước đó phi pháo đã xạ kích vào mục tiêu. Tình trạng rất nguy hiểm, vừa hoàn tất việc đổ quân, tiểu đoàn đã có khoảng 20 chiến sĩ bị thương. Không trù trừ, Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng ra lệnh cho tiền sát viên pháo binh đi theo tiểu đoàn gọi pháo binh bắn đạn khói trước mặt mục tiêu đồng thời cho toàn bộ chuẩn bị xung phong vì nếu chậm trễ tình trạng thương vong sẽ gia tăng.
Trong khoảnh khắc, các khẩu 155 ly và 105 ly đã tạo được màn khói dày đặc trước tuyến phòng thủ của địch. Nhờ màn khói che mắt địch quân, các chiến sĩ TĐ5ND nhanh nhẹn băng đồng ruộng, xung phong tràn vào vị trí địch quân khiến chúng ngơ ngác, hoảng hốt chạy tứ tán. Một số lợi dụng hầm hố kiên cố, cố gắng cầm cự hy vọng lúc màn đêm xuống sẽ dễ dàng lẩn trốn. Nhưng các chiến sĩ ta đâu để chúng yên, từng trái lựu đạn lần lượt tung xuống các hầm còn địch và nhanh chóng khai tử tiểu đoàn D9 Việt Cộng trong đó có viên thủ trưởng.

Kết quả gần 100 địch quân chết tại trận cùng toàn bộ vũ khí nặng. Lúc bấy giờ là 4 giờ chiều, nắng vẫn còn gắt và trải vàng trên đồng lúa vừa chín tới. Tiểu đoàn tiếp tục tung rộng ra để lục soát và kiếm vị trí đóng quân qua đêm cũng như lo bảo vệ bãi đáp để trực thăng xuống di tản các chiến sĩ bị thương và hy sinh, đồng thời nhận tiếp tế đạn dược bổ sung.

TĐ1ND từ hướng biên giới tiến về hướng TĐ5ND. Trên đường tiến quân qua khu đồng ruộng lúa đã gặt rồi, chỉ còn lại những ụ rơm rạ nhỏ rải rác khắp nơi, TĐ1ND đã gặp toán tàn quân của địch đang cố gắng rút lui về biên giới Việt-Miên. Có lẽ trước đó, từ đằng xa, chúng đã thấy quân Nhảy Dù đang tiến về phía chúng. Ruộng trống, địch biết khó có thể lẩn tránh được nên tên chỉ huy ra lệnh gom những đống rơm rạ lại thành một cây rơm lớn giữa đồng và tất cả chun vào trong đó núp. Khi đại đội trưởng đại đội dẫn đầu tiến gần khu có cây rơm, thấy khả nghi, cho toán khinh binh lên xem xét. Bị lộ, địch tung rơm bỏ chạy. Chiến sĩ ta đuổi theo tiêu diệt được 14 tên cùng tất cả vũ khí.

Ngày hôm sau, khoảng giữa trưa thì TĐ1ND từ biên giới giao tiếp được với TĐ5ND. Hai tiểu đoàn tiếp tục ở lại vùng hành quân để bảo vệ cho dân chúng đến gặt lúa và đưa về vùng an ninh. Trong trận này, hai đại đội trưởng có công nhất của TĐ5ND được ân thưởng Đệ Ngũ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương và thiếu tá tiểu đoàn trưởng cũng được ân thưởng Anh Dũng Bội Tinh với nhành dương liễu.

Hành quân Liên Kết 62 - 66 tại Quảng Ngãi

Khoảng cuối năm 1965, vào dịp lễ Giáng Sinh và Tết Nguyên Đán, tình hình quân sự tại Vùng 1 Chiến thuật tương đối yên tĩnh. Đến cuối tháng 1 năm 1966, Cộng Sản pháo kích vào phi trường Đà Nẳng và phi trường Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ tại Non Nước bằng súng cối 120 ly. Đây là lần thứ hai Cộng Sản dùng loại súng lớn này để pháo kích các căn cứ quân sự của ta. Sư Đoàn 2 Bộ Binh bắt đầu tăng cường các cuộc hành quân lùng và diệt địch qua các cuộc hành quân Liên Kết. Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đã phóng ra cuộc hành quân qui mô Double Eagle gồm 4 tiểu đoàn TQLC lục soát khu vực giữa Quảng Ngãi và Bình Định trong gần 3 tuần lễ để truy lùng dấu vết của Sư Đoàn 325C Bắc Việt nhưng không có kết quả.



Ngay sau đó, dấu vết của một trung đoàn thuộc Sư Đoàn 2 Bắc Việt được ghi nhận trong vùng Tây Bắc của thành phố Quảng Ngãi. Vào ngày 3 tháng 3, cuộc hành quân liên quân Liên Kết 62/Utah được khởi diễn ngay lập tức với các đơn vị Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, Sư Đoàn 2 Bộ Binh Việt Nam với sự tăng cường của 2 Tiểu Đoàn 1 và 5 Dù. Các pháo đội 155 ly và 105 ly của Hoa Kỳ được di chuyển ngay lập tức vào các vị trí yểm trợ và 3 phi đội chiến đấu cơ TQLC/HK sẵn sàng để yểm trợ tiếp cận.

Mặc dù các bãi đáp đã bị oanh tạc tơi bời, đợt trực thăng vận đầu tiên chở hai đại đội của TĐ1ND đã gặp hỏa lực phòng không 12 ly 8 dày đặc của địch quân. Một phản lực cơ F-4 bị bắn rơi và 4 trực thăng vũ trang bị hư hại. Tuy nhiên, đợt đổ quân thứ hai cũng được hoàn tất vào 11 giờ sáng ở ngay chân đồi mà trên đỉnh đồi đó địch đã đào các giao thông hào chằng chịt để bố trí các súng phòng không. Các đại đội của TĐ1ND đã nương theo vùng cây cối rậm rạp, xung phong chiếm được cao điểm 50, tịch thu 2 đại liên phòng không 12 ly 8 và một súng cối 61 ly. Tiểu đoàn 2/7 TQLC/HK cũng được đổ xuống các ngọn đồi cách đó một cây số về phía Nam.

Trong suốt 5 tiếng đồng hồ sau đó, hai tiểu đoàn Việt-Mỹ đánh bật các đợt tấn công liên tiếp của địch từ các ruộng mía dày đặc. Đến chiều thì đạn dược và lựu đạn đã gần cạn. Phía TĐ1ND đã có gần 20 binh sĩ tử thương và hơn 60 bị thương mà chưa tản thương được. Tiểu đoàn 2/7 TQLC/HK bị thiệt hại nặng hơn. Trực thăng tản thương và tiếp tế đạn không đáp xuống được phải thả từ trên cao, đạn dược rơi xuống bị hư hại khá nhiều. TĐ1ND phải tái phối trí các vũ khí và đạn dược tịch thu được của địch cho cuộc phòng thủ đêm. Đến tối, hai tiểu đoàn bạn thiết lập được tuyến phòng thủ với sự yểm trợ của các pháo đội 105 ly để chờ viện binh. Suốt đêm, pháo binh từ Bình Sơn liên tục nã đạn vào các vị trí địch với mức độ 1,000 quả một giờ. Đạn tiêu thụ cấp bách đến nỗi lần đầu tiên, hai đoàn công voa chở đạn dược từ Chu Lai phải khởi hành trong đêm để tiếp tế đạn cho các pháo đội, đạn đưa từng viên từ xe xuống thẳng các khẩu đại bác. Khoảng 11 giờ đêm và rồi lần nữa lúc 3 giờ sáng, địch pháo kích dữ dội và mở hai đợt tấn công ác liệt vào các vị trí của 2 tiểu đoàn 2/7 TQLC/HK và TĐ1ND. Nhờ sự yểm trợ tiếp cận của pháo binh, nhiều khi chỉ cách công sự phòng thủ 200-300 thước, hai đơn vị này giữ vững được vị trí trước các đợt tấn công liên tiếp của địch trong đêm.

Tờ mờ sáng 4 tháng 3, Tướng Jonas M. Platt, Tham Mưu Trưởng Quân đoàn III TQLC/HK điều động thêm một pháo đội 155 ly xuống Bình Sơn, đổ tiểu đoàn 3/1 TQLC/HK xuống cao điểm phía Bắc và tiểu đoàn 2/4 TQLC/HK đổ xuống phía Nam trận địa. Tướng Hoàng Xuân Lãm, Tư Lệnh Sư Đoàn 2 Bộ Binh Việt Nam điều động Tiểu Đoàn 37 BĐQ và Tiểu Đoàn 1 Trung Đoàn 5 Bộ Binh án ngữ dọc theo đường xe lửa phía Đông đồng thời trực thăng vận TĐ5ND do Thiếu Tá Nguyễn Khoa Nam chỉ huy chỉ huy xuống giữa vị trí 2 tiểu đoàn 2/7 TQLC/HK và TĐ1ND. Địch quân xem như đã bị vây hãm cả ba phía. Các tiểu đoàn tăng viện bắt đầu tiến quân từ ba mặt vào khu vực ruộng mía để giải tỏa áp lực cho hai tiểu đoàn bạn. Bom Napalm được sử dụng tối đa ... Đến trưa, cuộc chiến giảm dần cường độ, những ruộng mía tình nghi là vị trí của địch bị bom Napalm thiêu rụi. Đến đêm, các đại đội địch quân với sự yểm trợ của súng cối và đại liên, cố gắng tấn công các vị trí phòng thủ đêm của TQLC/HK nhưng không đạt được kết quả. Cuộc hành quân xem như chấm dứt vào ngày 6 tháng 3 khi các đơn vị Việt-Mỹ làm chủ các cao điểm, còn tàn quân địch phân tán mỏng rút về vùng rừng núi phía Tây. Sau 4 ngày ác chiến, địch để lại 600 binh sĩ tử trận, liên quân Việt-Mỹ có khoảng 500 người vừa chết vừa bị thương trong đó có 98 TQLC/HK tử trận.

TĐ1ND và TĐ5ND thay vì được về hậu cứ ở Sài Gòn để chỉnh bị và bổ quân quân số thì lại được điều động ngay ra Đà Nẳng rồi Huế vì biến cố Phật Giáo tại miền Trung. Tình hình tại Huế tạm yên, thì hai tháng sau đó TĐ5ND lại được điều động khẩn cấp trở lại Quảng Ngãi vì tin tình báo cho biết một trung đoàn mới của Cộng Sản Bắc Việt, lợi dụng tình hình lộn xộn tại miền Trung, bắt đầu xâm nhập khu vực phía Tây quận Sơn Hà.

Cuộc hành quân Liên Kết 66 khai diễn với Bộ Chỉ Huy nhẹ của SĐ2BB đặt tại núi Tròn, khoảng 10 cây số Tây Bắc Quảng Ngãi. Trong khi bay quan sát với cố vấn trưởng Hoa Kỳ khoảng 15 cây số phía Tây núi Tròn để quyết định vị trí đổ quân, Thiếu Tá Nam đã phát hiện những đám cỏ lau bị rạp xuống, điều này chứng tỏ có đơn vị địch vừa mới di chuyển qua vùng. Sáng sớm hôm sau, toàn bộ TĐ5ND được trực thăng vận xuống các khu đồi thấp phía Tây quận Sơn Hà với mục đích chặn đánh hậu quân của địch trong khi các tiểu đoàn của SĐ2BB được sẵn sàng để tiếp viện khi cần. Năm đại đội liên tiếp đổ xuống trận địa, dẫn đầu bởi hai đại đội 52, 53 do Đại Úy Ngô Lê Tỉnh chỉ huy. Vượt quá sự dự liệu của tình báo, TĐ5ND đụng độ ngay với đơn vị súng nặng và phòng không đang di chuyển. Suốt ngày hôm đó, những trận đánh cận chiến ác liệt đã xảy ra giữa các đơn vị bảo vệ của địch và các chiến sĩ TĐ5ND với sự yểm trợ liên tục của không quân. Trận chiến kết thúc vào buổi chiều và TĐ5ND tịch thu toàn bộ súng nặng và phòng không của địch. Trung đoàn địch, rút kinh nghiệm về sự tổn thất nặng trong cuộc Hành Quân Liên Kết 62 sau khi thấy mất đơn vị súng nặng yểm trợ, đã quyết định phân tán vào vùng núi phía Tây.

Sau các trận này, TĐ1ND và TĐ5ND được tuyên dương trước Quân Đội, Thiếu Tá Nguyễn Khoa Nam được ân thưởng Đệ Tứ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương, thăng cấp Trung Tá đặc cách tại mặt trận và lên nắm Chiến Đoàn 3 Dù, giao TĐ5ND cho Tiểu Đoàn Phó là Thiếu Tá Nguyễn Vỹ.

Posted: Sun Oct 16, 2011 8:43 pm
by TranAnhDung
Image
Theo Chân Người Pháo Thủ SÐ23BB
Từ Đức Tài
Kính Thưa các Bác, Chú, Cô

Cháu tên là Tăng Ngọc Thanh muốn biết thêm về cha cháu là Tăng Thanh Tâm thuộc Sư đoàn 23 Bộ Binh Tiểu đoàn 231 Pháo binh trước 75 đóng quân ở Ban Mê Thuột. Cháu không biết ba cháu đã chết hoặc mất tích ở đâu. Có người thì nói đã chết v.v.v. nhưng chưa bao giờ thấy xác. Các Bác,Chú, Cô ai biết được lúc cha cháu còn sống xin gửi cho cháu vài lời cháu muốn biết rõ thêm về cha mình. Cháu xin cảm ơn Xin gửi về địa chỉ e-mail
thanhtang71@hotmail.com

Ưu ái gửi cháu Tăng Ngọc Thanh, thứ nam cố Ðại úy Pháo binh Tăng Thanh Tâm, Pháo đội trưởng Pháo Ðội B thuộc Tiểu Ðoàn 231 Pháo binh đã kiên cường chiến đấu đến giây phút cuối cùng tại căn cứ hỏa lực Ðức Lập, Quảng Ðức vào ngày 7 và ngày 8 tháng Ba năm 1975.

TỪ ÐỨC TÀI
Portland

Cháu Thanh thân ái:

Cháu chào đời vài năm trước ngày tàn cuộc chiến, đi đứng nói năng chưa thành thạo, cả tiếng kêu ba thân yêu còn ngọng nghịu, và cháu đã sớm mất cơ hội bập bẹ thêm tiếng ba ngọt ngào trên đầu môi. Ba cháu đã từ giã các cháu trong lúc các cháu còn nhỏ dại. Ba cháu đã vĩnh viễn ra đi, thân xác tả tơi tan nát theo đoàn quân VNCH, theo đất nước miền Nam thân yêu vào ngày 7 và 8 tháng Ba năm 1975. Các cháu dần dần trưởng thành trong tình thương yêu đùm bọc của người mẹ đầy bất hạnh, đã sớm thành quả phụ trong lúc tuổi còn thanh xuân. Mẹ các cháu, bà mẹ hiền thêm nặng gánh làm cha dạy dỗ nuôi nấng các con nên người. Thật vô vàn trân quý!

Bác lớn hơn ba cháu vài tuổi, ba cháu nhập ngũ trước bác một khóa, cùng đi Pháo binh. Ðơn vị ba cháu Tiểu Ðoàn 231 PB đóng ở Ðà Lạt, bác ở Bộ chỉ huy PBSÐ23BB (Ban Mê Thuột). Bác liên lạc với ba cháu vài lần qua điện thoại và đã gặp ba cháu môt lần tại Ban Mê Thuột. Từ đó hai người quen biết nhau 3, 4 năm sau, đến năm 1974 tình cờ bác gặp ba cháu tại Pleiku. Ba cháu đi với một người bạn; dường như Ðại úy Bùi Minh Ngọc, Phan Thiết. Cuộc tao ngộ trong chớp nhoáng, chỉ nhìn nhau thăm hỏi vài câu rồi chia tay vĩnh viễn. Bác đi với người bạn về lại đơn vị đang đóng ở Hàm Rồng, Pleiku. Bác ở Pleiku cho đến ngày tàn cuộc chiến. Mọi việc tưởng như đã chìm trong dĩ vãng. Kẻ mất để lại bao thương nhớ đau buồn cho gia đình, vợ con và người thân, người còn cũng trải qua những năm tháng dài đắng cay chua chát&Bây giờ vợ con người đồng đội năm xưa đã làm trỗi dậy một thời khói lửa trong lòng bác, biết bao hình ảnh của những chàng trai trẻ, đầy ước mơ mộng đẹp cho tương laị Tất cả đều trôi theo dòng định mệnh của dân tộc.

Mới đây bác có điện thoại hỏi người bạn năm xưa. Quách Văn Ðại, San Jose, còn nhớ buổi chiều trên phố Pleiku gặp Ðại úy Tăng Thanh Tâm. Mọi chuyện xảy ra gần 40 năm cho nên ai cũng còn lờ mờ trong tâm trị Ông bạn nói : “Còn nhớ lúc đó Ð/úy Tâm đẹp trai, hào hoa, và phong độ tướng tá giống như đại ca nhưng đại ca ngày ấy hơi ốm hơn.” Lúc nào bác cũng nhớ đế n ba con, và nhớ cả tên họ rõ ràng. Ngày mới vào trại tù cải tạo, gặp ai người Ðà Lạt bác cũng hỏi thăm ba con. Bác có hỏi Ð/úy Nho, Ðà Lạt, cùng đơn vị với ba con : “ Không biết anh Tâm, sau trận Ðức Lập có về lại Ðà Lạt không? Chiến tranh vốn đã phũ phàng! Trận chiến Ðức Lập quá ác liệt. Không nghe thấy ai được trở về!

Những ngày tháng cuối cùng của cuộc chiến ba cháu có mặt tại Ðức Lập chỉ huy pháo đội trừ (-) 4 khẩu 105 ly. Pháo đội của ba cháu được phối trí bên trong Chi khu Ðức Lập, và 2 khẩu tại Núi Lửa cách Ðức Lập vài cây số thuộc Pháo binh Diện Ðịa Quảng Ðức. Chắc chắn hôm đó ba cháu có mặt tại hầm chỉ huy vừa là Ðài tác xạ của Pháo đội bên trong khuôn viên Chi khu Ðức Lập. Phía trên đồi cách Bộ chỉ huy Chi khu khoảng nửa cây số đường chim bay là Căn cứ hỏa lực của Chiến đoàn 53 (-).Dĩ nhiên đều có hầm hố kiên cố phòng thủ vững vàng. Ðại úy Bùi Minh Ngọc, bạn của ba cháu là Sĩ quan liên lạc Pháo binh (SQLL/PB) cạnh Trung tá Trần Nguyên Khoa, Trung đoàn phó Tr. Ð53. Căn cứ hỏa lực còn có một Chi đội Thiết giáp 4 chiếc M41 trang bị đại bác 76 mm và một Tiểu đoàn bộ binh của Trung đoàn 53.


Quận Ðức Lập, thuộc tỉnh Quảng Ðức, nằm trên quốc lộ 14 đường Ban Mê Thuột đi Quảng Ðức. Ðức Lập cách Ban Mê Thuột từ 45 đến 50 cây số về hướng Tây nam và cách biên giới Cam Bốt từ 6 đến 7 cây số, và xa hơn nữa gần tới Quảng Ðức có chỗ chỉ cách Cam Bốt 3 cây số. Có ngã ba Tam biên, ranh giới giữa Trung phần, Nam phần của Việt Nam và Cam Bốt. Dân chúng phần lớn là người Bắc di cư sống bằng nghề trồng cà phê, ngũ cốc hoa màu. Có những vườn cà phê ngút ngàn xa tít tận chân núi. Rừng có nhiều gỗ quý.

Bác cũng có mặt trên vùng Ðức Lập vài lần. Mỗi lần độ 2 hay 3 tháng, theo Bộ Tư Lệnh nhẹ, Sư Ðoàn hành quân. Lần mới nhất trước ba cháu độ nửa năm. Lúc đó các trận chạm súng giữa đôi bên còn chưa tới cấp Tiểu đoàn. Quốc Lộ 14 chạy dài từ Bắc xuống Nam: lần lượt qua các tỉnh Kontum, Pleiku, Darlac, Quảng Ðức & Phước Long. Vào khoảng thập niên 1950 bọn thổ phỉ Fulro thường xuất hiện chặn xe đò, xe taxi chở khách để cướp bóc, bắn giết và hãm hiếp; gây bao tang tóc cho dân lành trên đoạn đường từ Ðức Lập đi Quảng Ðức. Và cũng trên quốc lộ 14 này vào thời Pháp thuộc đã xảy ra nhiều trận đánh đẩm máu và ác liệt. Chiến tích được ghi lại bằng các tên gọi: ÐỒI ÔNG HOÀNG, và ÐÈO TỬ SĨ. Có đoạn rừng già mọc lấn ra đường, cây lá um tùm bao phủ cả con đường. Khúc đường từ Ðức Lập tới quận Nghi Xuân sắp đến Quảng Ðức, hai bên đồi cát chập chùng nối tiếp nhau nhấp nhô đến tận biên giới Cam Bốt, đường hẹp quanh co khúc khuỷu, dễ bị phục kích. Chiến tích được truyền miệng: Ðồi Ông Hoàng. Ngược lại đoạn từ Ban Mê Thuột đi Pleiku, ra khỏi Buôn Hô chừng hơn chục cây số, xe vừa lên tới đầu dốc, ai đó đã dựng một bia đá bên đường: Ðèo Tử Sĩ. Chắc chắn nơi này là nấm mồ chung của cả hai bên. Dân tộc ta triền miên đau khổ!

Chiến tranh xảy ra từ ngàn xưa, bao thế hệ cha ông đã tiếp nối nhau nằm xuống cho quê hương được trường tồn.

Thưở xưa bác là lính, một đời Pháo thủ “trấn thủ lưu đồn”, theo chân người lính bộ binh Sư đoàn 23, “Nam bình, Bắc phạt, Cao nguyên trấn”, gót giầy một thời cũng xuyên rừng vượt suối khắp cả cao nguyên. Có lúc bác theo doàn quân hộ tống đoàn xe xuôi ngược trên Quốc lộ 14 và Quốc lộ 21 đường về Nha Trang. Ðời chiến binh mấy người đi trở lại!

Bác may mắn còn lại sau cuộc chiến, hôm nay làm người bạn vong niên của các cháu, ba người con trai của cố Ðại úy Tăng Thanh Tâm. Bác là người trong cuộc, bác ghi lại vài địa danh, và phác họa một vài hình ảnh. Hy vọng các cháu sẽ hình dung được đôi nét những nơi ba các cháu đã đến, đã đi để người thân chờ mãi không thấy về!

Ðêm ngày 9 rạng 10 tháng Ba năm 1975 vào khoảng 2 đến 3 giờ sáng, giữa đêm trường tịch mịch cả thị xã Ban Mê Thuột bừng tỉnh dậy trong kinh hoàng, hoảng hốt, và lo sợ nhốn nháo khác thường với những tiếng nổ long trời vỡ đất. Tiếng đạn pháo vèo vèo xé nát không gian, tóe lửa làm sáng rực cả bầu trời. Bom đạn khô khan, chát chúa vô tình cày nát một phần mảnh đất quê hương. Mảnh đạn tung tóe xé nát da thịt người vô tội thành trăm mảnh. Quân đội Bắc Việt đã khai pháo bất ngờ, rót hàng trăm hàng ngàn quả đạn pháo vào Ban Mê Thuột, vào tổng hành dinh của Bộ Chỉ Huy Sư Ðoàn 23 Bộ Binh.

Tiếng thét, tiếng kêu đau thương vì mảnh bom đạn của cả hai bên. Tiếng gọi nhau ơi ới tìm nhau trong hỗn loạn. Xác người, lớp chết lớp bị thương nằm la liệt bên đường. Dòng người tìm nơi an toàn; xa lánh vùng giao tranh ác liệt.

Cảnh tượng hãi hùng và kinh hoàng đã diễn ra trước mắt của Bác gái và hai người con trai của Bác lúc ấy độ 10-13 tuổi. Hơn 30 năm trôi qua gia đình có dịp nhắc lại vẫn còn bị ám ảnh hãi hùng. Lúc đó bác đang ở Pleiku và vài ngày sau theo cả Sư đoàn trực thăng vận về Phước An, cách Ban Mê Thuột 30 cây số, định giải tỏa Ban Mê Thuột.

Bác gái và hai người con của bác, nhà sát bên Bộ Tư Lệnh Sư đoàn nên đã trải qua mấy ngày sống trong vùng lửa đạn và gánh chịu bao nhiêu hiểm nguy như người lính chiến. Phập phồng, lo sợ, và số mệnh rủi may phó thác cho Trời Ðất. Gia đình mất hết tất cả, chịu đựng khổ cực và nguy hiểm còn hơn 10 năm tuổi lính của bác. Gia đình tan tác, không tin tức, đến hai tháng sau mới đoàn tụ đầy đủ tại quê hương Phan Thiết. Nhờ Phật Trời phù hộ, may mắn tất cả đều an toàn nguyên vẹn!

Cháu Thanh thương mến! Các cháu thiếu tình thương yêu của cha trong tuổi còn thơ dại. Khi trưởng thành và tương đối đầy đủ điều kiện vẫn không biết cha được chôn cất nơi nào, để đi thăm mộ, thắp cho cha một nén huơng. Hài cốt cha bây giờ ở đâu?. Không nghe ai kể chuyện cha mình trong những giây phút lâm chung, trước khi từ giã cõi đời có trăn trối nhắn nhủ với bạn bè cùng cảnh ngộ chuyển cho vợ con điều gì không?. Trường hợp của gia đình cháu là trường hợp của trăm ngàn gia đình Việt Nam đau thương khác. Nhiều khi bất hạnh hơn bác cháu mình, còn ở lại bên nhà giờ này đang sống lây lất qua ngạy

Mọi gia đình Việt Nam đều bị cuốn theo giòng lịch sử đau thương của dân tộc, vận nước lúc đó đã đến hồi suy yếu, như ánh tà dương trong buổi bóng xế chiều tà dần dần nhường lại cho đêm đen dầy đặc. Chiến tranh phũ phàng, tàn nhẫn đã gây bao tang tóc cho nhiều gia đình bị phân chia ly tán, mất mát do con người tàn ác gây ra. Chúng ta cùng chung số phận. Gia đình bác ai ai cũng đã trải qua những giờ phút hãi hùng trong những ngày hấp hối của miền Nam, và sau đó còn bị ảnh hưởng, chịu đựng thêm những năm dài gian nan vất vả của gần 8 năm tù cải tạo của bác. Cháu Thanh! Cuộc đời như đám phù vân dễ tan biến, đầu hôm sớm mai thành mây khọi

Trong những ngày khói lửa Ban Mê Thuột, có một cô giáo dạy cùng trường với bác gái, vợ của một Thiếu tá Bác sĩ, gia đình giàu có. Trong lúc chạy loạn gặp bác gái hỏi: “Chị Tài có dư cái áo, cái quần nào, tôi xin một cái.

” Ðời vô thường, không có gì vĩnh cửu cả; vạn vật đều thay đổi.

Cháu Thanh, cháu đã cho bác biết không rõ từ trại tù nào đã gửi cho gia đình một tờ giấy viết tay sơ sài, không con dấu chứng nhận ba cháu đã chết vào ngày 1 tháng 7 năm 1975. Như vậy, ba cháu là tù binh, bị bắt tại mặt trận. Tiếc thay! Quy chế tù binh cũng trôi theo nước.

Bác phác họa đôi nét về cuộc đời của những người chung số phận như ba cháu vào những ngày tháng đầu tiên trong trại tù cải tạo. Gia đình cháu có thể hình dung được phần nào hình ảnh của người cha quá cố. Chắc chắn ba cháu cũng đã trải qua cái buổi giao thời đầy ác mộng đó. Ðời tù cải tạo nơi nào cũng giống nhau “Nhất nhật tại tù, Thiên thu tại ngoại.”

Vào đầu tháng 5 năm 1975 bác đi “trình diện học tập” tại Phan Thiết. Bác gặp một số bạn bè cũ hồi còn ở bậc Tiểu học, Trung học& “Sĩ quan ngụy” cấp Thiếu tá trở xuống, kể cả Bác sĩ. Cả trăm cả ngàn người được đưa vào rừng Cà Tót, chỗ mật khu của họ ngày xưa cách Phan Thiết độ 15-20 cây số về hướng Tây Bắc. Rừng thiêng nước độc! Họ bắt tất cả cởi giầy nhà binh, tịch thu mùng mền, những gì thuộc “Mỹ Ngụy”&Gạo, sữa, kể cả thuốc men, muối mè, chà bong, cá khô, nuớc mắm, xì dầu cũng đều bị tập trung. Trong thoáng mắt tất cả thành vô sản. Mỗi bữa ăn một chén cơm độn (khoai nhiều hơn gạo, em bé lên 5 ăn chưa thấy no) với nước trà pha muối cho giống nước mắm, chút ớt bột nổi lềnh bềnh, “canh toàn quốc” với vài con cá khô trơ xương chìm đáy nược

Có người lúc “đi cải tạo” mập mạp khoảng 60 kg, vài ngày sau ốm thấy rõ và chừng một tháng sau đã có người chống gậy lê từng bước&đi không nỗi! Người bị bệnh sốt rét nằm la liệt. Mới gần hai tháng đi tù đã thấy có người chết vì bệnh không thuốc chữa. Chính bác khiêng một người bạn ra góc rừng đào lỗ chôn. Người chết được cuốn tròn trong manh chiếu, kẹp bảy thanh tre, vùi nong một nấm, chẳng nhang đèn bia mộ gì cả. Anh em xin bộ đội cho làm thủ tục quân đội tiễn biệt người chiến binh một thời về cõi vĩnh hằng. “Nghiêm! Chào tay. Vĩnh biệt anh ở lại với núi rừng, an giấc nghìn thu.” Bác cũng bị bệnh sốt rét, nhưng may mắn cả trại lần lượt được chuyển ra khỏi rừng sang trại khác. Bác mượn tiền, nhờ mua thuốc uống khỏi bệnh và đi tiếp quảng đời cải tạo đầy nghiệt ngã còn lại.

Ngày mới vào trại tù cải tạo, người trại trưởng biết bác là Pháo binh đã nói: “Nhất Phi, nhì Pháo, không có chính sách khoan hồng, ta làm ráo.” Khiếp!

Cháu Thanh, ngày xưa ba cháu đường đường là một sĩ quan Pháo binh QLVNCH, đầy đủ phong độ. Binh chủng Pháo binh hào hoa thông thái, vừa là sát thủ chiến trường. Dân gian thường khôi hài: “Ai ơi đừng lấy pháo binh, đêm đêm súng nổ rung rinh cửa nhà.”

Kể từ khi Ðồng Minh Hoa Kỳ phản bội bỏ rơi miền Nam Việt Nam bằng cách rút quân và cắt viện trợ, VNCH phải một mình đương đầu chiến đấu với cả khối Cộng Sản. Quân Lực VNCH cạn nguồn tiếp liệu, thiếu đạn dược, thuốc men, xăng dầu&Quân đội phải phân chia mỏng để bảo vệ vẹn toàn lãnh thổ. Trong khi đó CS Bắc Việt được cả hai siêu cường CS Nga Tàu hậu thuẩn, ủng hộ triệt để. Họ viện trợ súng đạn tối đa để quân Bắc Việt ồ ạt xâm nhập vào Nam, hầu thanh toán sớm chiến trường Việt Nam. Cán cân lực lượng giữa hai miền Nam Bắc đã nghiêng hẳn về phía Quân đội Bắc Việt. VNCH như con bệnh ngày một yếu, không thuốc chữa, chờ chết và tử thần đã vung lưỡi hái từ Căn cứ Hỏa lực Ðức Lập-Quãng Ðức.

Cháu Thanh! Bác nhớ rất rõ trước khi tấn công vào Ban Mê Thuột, vào Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 23 BB, trước đó hai ngày vào ngày 7 và 8 tháng 3 năm 1975, Bộ đội Bắc Việt đã ồ ạt tấn công Ðức Lập.

Quận Ðức Lập đang trong đêm trường tĩnh mịch vụt bừng bừng rực lửa chiến tranh. Tiếng còi báo động, tiếng đạn nổ dồn dập, những chiến sĩ VNCH đang ngon giấc bỗng giật mình choàng dậy, phút chốc tại các hầm hố chiến đấu những tay súng đã sẵn sang tác chiến hờ địch. Những tiếng nổ sấm sét long trời vỡ đất của đại bác, hỏa tiển hòa cùng những tràng đại liên súng to, súng nhỏ tứ phía của toàn vùng Ðức Lập đã xé tan bầu không khí hiền hòa yên tĩnh của vùng rừng núi cao nguyên Ðức Lập. Tiếng đạn pháo kinh thiên động địa của cả hai bên đã làm rung chuyển một vùng trời. Ðến nỗi người con trai lớn của bác ở Ban Mê Thuột còn nhớ đêm đó có nghe tiếng đại bác từ xa vọng về. Có thể từ Ðức Lập hay một nơi nào khác cũng đang có chạm súng lớn.

Với quyết tâm chiếm trọn miền Nam Việt Nam, Cộng Sản Bắc Việt bằng mọi giá bất ngờ tấn công Ðức Lập, chiếm Ðức Lập làm bàn đạp, làm mồi lửa châm ngòi tiến đánh Ban Mê Thuột và toàn miền Nam. Họ sử dụng một lực lượng hùng hậu gồm mấy sư đoàn bộ binh, pháo binh, thiết giáp T54 tấn công vào Ðức Lập và Ban Mê Thuột, trong đó có Sư Ðoàn 320 Thép. Trước đó 3 năm, vào mùa hè đỏ lửa năm 1972 SÐ 320 đã đụng độ nảy lửa với SÐ 23 BB tại chiến trường Kontum. Bác theo SÐ23 vào khoảng hạ tuần tháng 4 năm 1972, có mặt suốt cuộc chiến tại Kontum. Chiến trường Kontum cũng đầy máu lửa, sự sống và cái chết kề nhau trong gang tấc, sinh mạng con người rất mong manh!. T54 của Cộng quân đã xâm nhập vào doanh trại của TÐ 69 PB, ven thị xã. Anh em binh sĩ PB đã hợp đồng tác chiến với bộ binh “bắt sống” một chiếc còn mới toanh. Anh em thiết giáp lái qua Bộ Tư Lệnh/Hành Quân , tướng Lý Tòng Bá, Tư Lệnh SÐ có lên ngồi lái thử, và sau đó đưa về Sài Gòn triển lãm. Có một khu dân cư trong thị xã, bom đạn đã cày nát thành bình địa. Bác không nhớ ba các cháu vào thời điểm đó có mặt ở Kontum hay không?.

Bác còn nhớ trên chiếc áo trận của người lính SÐ23 còn đính thêm phù hiệu “Kontum Kiêu Hùng”. Lúc đó còn trẻ bác thấy mình cũng “ngầu” lắm! Ba năm sau vào thời kỳ suy thoái của miền Nam, khởi đi từ mặt trận Ðức Lập, SÐ23 phải trả đủ món nợ cũ đã tạo ra ngày trước; chưa đánh đã tan rã và cuốn theo đôi chân mềm của toàn dân miền Nam.

Bộ đội Bắc Việt áp dụng chiến thuật tiền pháo hậu xung, dũng mãnh và ác liệt, lợi dụng đêm trường tịch mịch vạn vật đều chìm trong bóng đêm, bất ngờ nã những tràng đạn pháo 130 mm, hỏa tiễn 122 mm từ phía bên kia biên giới Việt Miên liên tục phủ đầy trận địa Ðức Lập hầu làm tê liệt sức kháng cự và uy hiếp tinh thần chiến đấu của QLVNCH. Không một sinh vật nào có thể tồn tại trong đêm đó, sắt thép cũng không chịu nổi! Sau đó T54 và bộ đội Bắc Việt ào ạt xung phong vào trận địa. QLVNCH sử dụng toàn bộ hỏa lực : pháo đội (-) 4 khẩu 105 mm kể cả hai khẩu tại Núi Lửa hợp đồng với 4 khẩu pháo 76 mm đặt trên thiết giáp M41 cùng với súng lớn nhỏ của lực lượng phòng thủ căn cứ và Chi khu đã bắn gục ngã và chận đứng nhiều đợt xung phong của địch. Những tiếng mìn bẫy nổ ngoài hàng rào phòng thủ, và những xác người tung lên khỏi mặt đất. Một trận cận chiến bằng súng cá nhân và lựu đạn đã diễn ra. Máu đổ thịt rơi, thây phơi nơi chiến địa của cả hai bên. Lực lượng quân Bắc Việt ngay đêm đó rất hùng hậu có thể gấp 5-10 lần bên QLVNCH, cho nên dù có gan trời cũng đành thất thủ thành người bại trận. Người bị thương hay còn sống sót, theo lệnh của lưỡi lê, họng súng của người chiến thắng. Hận thù, chiến tranh tự cổ chí kim phủ phàng và tàn bạo. Mạnh được, yếu thua.

Ðồi Ðức Lập kể từ ngày 7 và ngày 8 tháng 3 năm 1975 thành “Ðồi Tử Sĩ”, chiến tích thứ ba trên Quốc lộ 14, mồ chung của người Việt Nam, kể cả bộ đội Bắc Việt, sanh Bắc tử Nam. Chết, hết hận thù!

Cháu Thanh!
Mấy ngày qua bác cháu mình lần theo dấu chân của người lính Pháo binh SÐ 23 BB xuyên suốt gần hết Quốc Lộ 14, từ Kontum, Pleiku, Darlac (Ban Mê Thuột), Quảng Ðức (Ðức Lập)&vào thời điểm chiến trường nơi nơi đếu sôi động. Bác đưa cháu đi qua những vùng toàn máu, lửa và nước mắt. Ðưa cháu đi thăm chiến trường xưa -Mặt trận Ðức Lập- ít người biết đến nhưng nơi đó ba các cháu, Ðại úy Tăng Thanh Tâm, bạn của bác Ðại úy PB Bùi Minh Ngọc (Phan Thiết) và những chiến sĩ QLVNCH đã kiên cường, dũng cảm chiến đấu mất còn với Bắc quân đến sức tàn, lực tận. Con cháu hãnh diện với tinh thần kiên cường bất khuất của Cha Ông.

Khi Nỏ Thần hết linh nghiệm thì thành An Dương Vương một thời oanh liệt đã làm kinh tâm tán đởm quân thù cũng bị thất thủ phải rơi vào tay giặc Triệu Ðà (207-107 trước Công nguyên)
Than ôi!

***
Từ Ðức Tài Ðầu Thu Oregon 2008

Kính gửi Quý Sư Phụ Lê Ðình Ninh và Trần Văn Hiệp
Thân tặng Quý Ðồng Môn Khóa 22 SQ PB Thủ Ðức

Thư của cháu Thanh:
Con Kinh gửi bác Tài:
Ðọc những dòng chữ của bác, con như người trong cuộc. Tất cả những gì bác diễn tả, con thấy như rõ từng chi tiết. Con cứ đọc đi đọc lại mãi.

Con đã đọc rất nhiều sách báo, bài viết về cuộc chiến này, nhưng những gì bác viết gây cho con sự xúc động đến tột cùng. Con không hiểu sao? Có lẽ đó là vì bác viết về những giây phút cuối cùng của cuộc đời ba con chăng?
Con xin cảm ơn bác nhiều lắm. Bác đã làm sống lại hình ảnh người cha trong con...
Má con nói có biết về Ðại úy Nho. Má con gửi lời cảm ơn bác.

Tăng Ngọc Thanh

Các cháu thân thương!
Bác kể thêm vài người bạn cùng chiến đấu với ba các cháu. Trước cuộc chiến Ðức Lập, ba các cháu và Ðại úy Bùi Minh Ngọc (Phan Thiết), rất thâm tình và thường gặp Trung tá Nguyễn Cao Vực, khóa 13 Ðà Lạt, Quận trưởng Ðức Lập, nguyên là Tiểu Ðoàn trưởng TÐ 230 PB (BMT). Trong chiến đấu, mỗi người mỗi nơi, đều có trách nhiệm riêng.

* Trung tá Vực thoát ra khỏi vùng tử địa &3, 4 ngày sau được trực thăng bốc về Quảng Ðức rồi về Ðà Lạt. Trước 30/4 vài ngày trong khi bác chờ bổ nhiệm đơn vị mới, bác và Tr. Tá Vực có thoáng thấy nhau trên đường phố Sài Gòn. Khoảng năm 1962-1963, bác Vực là Trung úy Pháo đội trưởng Biệt khu Bình Lâm. Lúc đó bác là giáo sư toán vài trường Trung học tư thục tại Phan Thiết; bác quen biết và thân với bác Vực từ đó. Khi bác còn ở TÐ 232 PB (BMT), năm 1969 Ðại úy Vực về giữ chức TÐ phó, sau đó lên Thiếu tá, và Trung tá TÐ trưởng TÐ 230 PB. Trung tá Vực có mặt ở mặt trận Kontum trước khi được bổ nhiệm làm Quận trưởng Ðức Lập. Hình như ông lập gia đình sau năm 1972, ông có hỏi bác thủ tục lập hôn thú Tr. Tá Nguyễn Cao Vực, người đôn hậu, vui vẻ, khí khái, tánh tình phóng khoáng, thẳng thắn, và tiêu xài rất rộng rãi. Người thích uống rượu và hút thuốc liên miên. Khi bác được tin bác Vực thì bạn bè cho biết ông đã mất trước đó vài năm; chắc tại hút thuốc nhiều quá!

* Ðại úy Ngọc bị thương rất nặng cùng với Tr. Tá Khoa gãy gần lìa cánh tay vì đạn pháo 130 mm trúng hầm chỉ huy trong những giờ đầu cuộc chiến tại Ðức Lập. Tr. Tá Khoa bị thương nhưng còn đi được. Anh em binh sĩ dìu ra khỏi vùng lửa đạn và sau đó bị bắt. Bác Khoa có thể bị nhốt cùng trại với ba cháu. Ông đang sống ở Hoa Kỳ; chúng ta có thêm hy vọng

* Ðại úy Tánh, Phú Long, Phan Thiết, Chi đội trưởng Thiết giáp bị thương và chết tại mặt trận.

* Trung tá Nguyễn Cao Vực, Ðại úy Bùi Minh Ngọc, Ðại úy Tăng Thanh Tâm, “Ba chàng Ngự Lâm Pháo Thủ” “Les trois Mousque taires”, một thời “hô phong hoán vũ”, kẻ trước người sau vào ba thời điểm, ba hoàn cảnh khác nhau, cùng hội ngộ tại miền miên viễn, nơi đó không có đau thương và không hận thù.

* Chúng tôi, bạn bè, đồng đội vô cùng đau xót mong được chia sẻ niềm thương tiếc, nổi nhớ nhung với gia đình các chị và các cháu thân thương.

Trân trọng

Posted: Tue Nov 01, 2011 12:24 am
by tankhoasinh
Nhân chứng qua đêm

(Giao Chỉ)

Khi đi tìm nhân chứng của một chiến trường hết sức oan nghiệt và thê lương, hết sức dũng mãnh và hào hùng, tôi vẫn không quên đoạn đường đầy xác người trên Quốc Lộ số 1.

Ngay khi chiến trường còn vương khói súng, cây bút nhẩy dù, đại úy Phan Nhật Nam đã viết “Mùa hè đỏ lửa”. Tác phẩm đem vinh quang cho tác giả đồng thời cũng làm khổ ông sau 1975. Nhưng trước sau “Mùa hè đỏ lửa” đã gắn liền vào tên tuổi Phan Nhật Nam.

Phải chờ đến 32 năm sau, Hà Nội mới xuất bản cuốn “Mùa hè cháy” của đại tá pháo binh “quân đội nhân dân” viết về trận pháo kích của trung đoàn pháo Bông Lau, trận pháo dã man trên đường di tản của dân Quảng Trị, giết chết hàng ngàn người và làm đoạn đường trên 2 cây số giữa con sông Thạch Hãn và Mỹ Chánh trở thành “Ðại Lộ Kinh Hoàng”.

Chúng tôi vẫn đi tìm xem ai là người đặt tên cho đoạn đường của trận thảm sát mùa hè năm 1972. Có lẽ chỉ trong chiến tranh Việt Nam mới có cái đại lộ mang tước hiệu kinh hoàng.

Anh phóng viên của bộ thông tin có mặt tại Quảng Trị nói rằng bác đi hỏi ông Lê Thiệp trên Washington, D.C. Khi quân ta phản công ở Mỹ Chánh, ông nhà báo Lê Thiệp có đi theo trên Quốc Lộ 1 qua lối này. Năm 2005 tôi có nhân dịp gặp ông Thiệp tại DC, ông nói rằng không biết tay nào đặt cái tên “Ðại lộ Kinh Hoàng” thật hay. Câu chuyện dừng tại đó.

Một lần khác, chúng tôi rao lên là muốn tìm gặp những ai đã chạy trên con đường ác độc vào đúng lúc địch pháo kích. Tôi biết có trung tá Lê Huy Linh Vũ của Tổng cục Chiến tranh Chính trị là người đã trải qua và đã viết lại thành cuốn sách. Con gái của Trung tá Vũ là họa sĩ Hương, Alaska, có cho phép chúng tôi in lại cuốn này để tặng các bạn. Nhưng ông Vũ nay không còn nữa.

Ðại tá Hà Mai Việt, tỉnh trưởng Quảng trị thời kỳ 1972 đã nói rằng: “Tại ông không lưu tâm đọc sách của tôi. Mở trang này ra mà xem, nhân chứng sống là ông Phan văn Châu. Tôi đã viết rõ từng trường hợp của trận Quảng Trị trong tác phẩm Thép và Máu. Ông nhân chứng này không những chịu đựng trực tiếp trận pháo trên quốc lộ mà còn nằm lại một đêm giữa các xác chết.” Sau cùng nhờ ông Hà Mai Việt, chúng tôi đã gặp nhân chứng sống. Trung sĩ Phan văn Châu, năm nay 68 tuổi, quả thực là một người dân tiêu biểu của miền đất Quảng. Qua máy điện thoại, dường như cả một trời tâm sự tuôn tràn. Những hình ảnh quê hương, chiến tranh, loạn lạc, pháo kích, khói lửa, lẫn lộn giữa trận 1972 và trận 1975.

Nói đến chuyện đất nước biết bao nhiêu địa danh: nào là Nhan Biều, Cầu Ga, Ái Tử, Mai Lĩnh, Cầu Dài. Rồi đến biết bao nhiêu con sông, bao nhiêu rạch nước. Âm thanh đất Quảng của người dân chân chỉ hạt bột, vòng qua quay lại để sau cùng trở về với cái ngày cả gia đình bỏ Nhan Biều mà đi.

Ông Châu nói rằng, lúc đó dường như mọi người đã chạy hết. Phan văn Châu là trung sĩ thông dịch viên cho ngành tình báo tại Ðà Nẵng đang đi công tác về Ái tử.

Ðến khi thiên hạ bỏ chạy hết, thầy thông ngôn trẻ tuổi mặc đồ dân sự cùng một đứa cháu, dẫn vợ có bầu với ba đứa con nhỏ, năm một, 6, 7, và 8 tuổi. Tất cả vội vàng ra đi bỏ lại phía sau căn nhà mới cất tại Nhan Biều bên bờ bắc của sông Thạch Hãn.

Vợ con đi trước một đoạn với gia đình bà chị. Thằng cháu và ông Châu đi xe gắn máy kéo theo một chiếc xe gỗ hai bánh. Hành trang chất đầy, người kéo, người đẩy, chiếc xe qua khỏi cầu Ga, đi được một đoạn dài đến 9 giờ sáng thì pháo nổ ngay trên đường. Con đường đầy người chạy loạn. Cả dân cả lính với đủ mọi thứ xe. Ða số đi bộ vì đường tắc nghẽn nên không thể đi nhanh. Ðạn rơi chỗ nào cũng có người chết. Xác bắn tung lên trời. Khói lửa mù mịt. Mạnh ai nấy chạy. Vợ con thất lạc ngay từ lúc đó. Ông Châu nghĩ rằng vợ con có thể đang ở phía trước. Nhưng phía trước hay phía sau thì cũng bị pháo. Khi pháo tạm ngưng thì có người lại tràn ra đi tới. Nhưng phần lớn nằm yên chịu trận. Có nhiều người không chết ở đợt pháo đầu nhưng rồi bị chết ở các đợt pháo sau. Nhiều xác chết trên đường bị pháo đi pháo lại nhiều lần. Bị thương rồi lại bị pháo rồi cũng chết. Biết bao nhiều người cố chạy cho thoát bỏ lại cả gia đình vợ con. Những đứa nhỏ nằm khóc bên xác mẹ. Những em bé sơ sinh bú vú mẹ đã lạnh khô. Có người còn sống thấy đó mà phải bỏ đi. Ông Châu và đứa cháu chạy về phía đông quốc lộ, vùi thây xuống cát mà chịu đựng một ngày pháo kích. Ðủ loại pháo của cộng sản thay phiên bắn phá suốt một ngày dài. Pháo 122, pháo 130 và pháo 155. Chỉ khi nào có B52 đến thả bom mới thấy địch im tiếng súng được một lúc.Toàn thân ông tê liệt dưới trời nắng gắt. Phải bò đến các vũng nước có cả phân trâu và máu người để uống.

Khi trời tối dần, tất cả đều im lặng và ghê sợ. Ông Châu và đứa cháu bắt đầu bò quanh lật các xác chết đàn bà và trẻ em lên xem có phải vợ con. Lật một xác phụ nữ mà ông nghĩ rằng người vợ, đầu óc ông mê muội. Thằng cháu còn tỉnh táo nói rằng không phải mợ. Mợ có bụng mà cậu. Mấy người khác còn sống cũng làm như vậy. Tất cả đi tìm xác thân nhân. Nhưng rồi trời tối hẳn, bộ đội Việt Cộng bắt đầu xuất hiện. Chúng tìm đến các xe nhà binh và tìm các quân nhân mặc quân phục bắt đi hết. Cậu cháu ông Châu khai là dân thường nên được lệnh phải nằm yên tại chỗ. Ðêm hôm đó, ông Châu thức trắng trên bãi cát đẫm máu của Ðại lộ Kinh Hoàng. Hình như có đôi lúc ông cũng thiếp đi. Cũng chẳng còn nhớ rõ.

Chung quanh toàn xác chết. Người chết nhiều hơn người sống. Những xác chết cháy như than củi . Ông nghĩ rằng chắc xác vợ con cũng quanh đây. Sáng hôm sau, từ sớm mai những người còn sống đành phải bỏ lại một cánh đồng xác ở đằng sau để chạy về miền Nam. Ði đến cầu Dài gần sông Mỹ Chánh thì gặp toán tiền sát của thủy quân lục chiến Việt nam chận lại. Khi biết chắc là không phải quân địch, ông trung úy thủy quân lục chiến phất tay cho qua. Vừa đi khỏi một đoạn đường thì thấy ông sĩ quan bị du kích phía sau bắn sẻ chết ngay tại chổ. Ðó là cái chết cuối cùng ông chứng kiến tại Quảng Trị.

Tìm xe quá giang về Huế với tâm trạng hết sức não nề. Nhưng rồi phép lạ đầu tiên đến với cuộc đời ông. Ngay tại khu vực tạm cư Phú văn Lâu, thuộc thành phố Huế, ông gặp lại đầy đủ vợ con. Bà vợ mang bầu đã dẫn ba đứa con nhỏ đi xuống đường ven biển theo dân địa phương. Ðoàn người đi xa quốc lộ nên tránh được pháo kích.

Vợ con dắt díu nhau đi suốt một ngày một đêm về đến Mỹ Chánh, rồi được xe cho bà bầu quá giang về Huế. Hai năm sau người vợ đầu tiên của ông Châu qua đời, sau khi sinh cho ông thêm ba ngưới con nữa. Cô gái còn nằm trong bụng mẹ trên đại lộ kinh hoàng năm nay đúng 37 tuổi, tốt nghiệp đại học và đã có gia đình, hiện cư ngụ tại miền đông Hoa kỳ.

Những bước chân trần ai trên bãi cát Quảng Trị mùa hè năm 1972 của bà mẹ mang bầu không biết có còn vương vấn chút nào trong lòng cô bé nghe pháo kích từ lúc chưa ra đời. “Tụi nhỏ chẳng biết gì đâu,” ông Châu nói. “Chỉ có đứa lớn nhất năm nay ngoài 40 tuổi là còn nhớ đôi chút.” Hỏi rằng thế ông có được bao nhiêu con tất cả. Ông tính nhẩm rồi nói rằng tất cả 10 con. Bà đầu tiên sáu con. Bà thứ hai ba con. Bà này bỏ tôi đi lấy chồng nên bây giờ vẫn còn ở Việt Nam. Tôi đưa cả ba cháu sang đoàn tụ bên này. Bà hiện nay ở với tôi có một cháu, năm nay cháu 24 tuổi rồi. Bà sau này có một con riêng. Như vậy là chúng tôi có 11 con. Thế bác có hạnh phúc không? “Hạnh phúc chứ. Tất cả là số trời,” ông Châu nói, “Cái đêm nằm ở đại lộ kinh hoàng, uống nước máu người và phân trâu tôi không bao giờ giờ nghĩ đến có ngày đi Mỹ như bây giờ. Tôi nghĩ bấy giờ vợ con chết hết thì mình sẽ ra sao. Làm sao tìm xác? Rồi chôn ở đâu? Hàng trăm xác người chung quanh, biết bao nhiêu xác trẻ con, vợ con tôi đều trong số đó. Không hiểu nó bắn pháo đạn gì quá ác. Tất cả xác chết như than củi chẳng làm sao biết được người nào là người nào.”

“Năm 1973 tôi có trở lại, đi qua con đường thấy có đài tưởng niệm, rồi có các mồ chôn tập thể, có mồ chôn riêng rẽ. Lòng tôi hết sức xúc động,” ông Châu nói. “Cho đến bây giờ tôi vẫn còn xúc động. Con cháu tôi thì nhiều nhưng mà làm sao các con hiểu được những gì tôi đã trải qua. Trận 72 quân ta mới lấy lại một nửa Quảng Trị. Ðứng bên này dòng Thạch Hãn, bên kia là Nhan Biều, nơi tôi ra đời còn cả ngôi nhà thân yêu. Bên ta đã bị địch chiếm bờ Bắc, chỉ giữ được bờ Nam, đến 75 thì bờ Nam cũng chẳng còn.”

“Vâng thưa bác, năm nay em 67 tuổi,” ông Châu nói tiếp, “Quê ở Nhan Biều, bờ bắc sông Thạch Hãn, ngay dưới cầu Ga. Nhà em thi vào làm trung sĩ thông dịch viên năm 1966 khóa 11 tại Quân đoàn I . Sau 75 em trốn được. Nếu khai thật chắc là bị buộc tội CIA. Sau đó em vượt biên rồi đoàn tụ. Trước sau ba vợ, 11 người con. Bà sau này là bà bền chặt nhất đã sống với nhau 25 năm. Vâng, thưa bác, đây chắc chắn là bà sau cùng. Gia đình em rất hạnh phúc. Phần em, dù có bị kinh hoàng nhưng cũng chỉ có một ngày một đêm. So với người ta có người cả đời kinh hoàng thì nỗi khổ của chúng em có thấm vào đâu.”

Ðó là câu chuyện của ông Châu, nhân chứng số 1 của chúng tôi. Tôi hỏi ông Châu câu cuối cùng.

“Ông có biết ai đặt tên Ðại Lộ Kinh Hoàng.” “ Không đâu,” bây giờ ông gọi tôi là cụ. “Cụ với cụ Việt không biết thì ai mà biết. Nhưng quả thực là kinh hoàng thực đấy các cụ ạ.”

Tuy hỏi vậy, nhưng tôi đã tìm ra ai là người đặt tên …

(Giao Chỉ)

Posted: Thu Nov 03, 2011 6:46 am
by vuphong
Image

Ngày Tàn Cuộc Chiến III:
Vĩnh Biệt Nha Trang

Lời tác giả:

Đây là một hồi ký chiến trường ghi lại những biến chuyển cũng như những giây phút cuối cùng về cuộc di tản của phi đoàn trực thăng 215 Thần Tượng trú đóng tại Nha Trang, Không Đoàn 62 Chiến thuật, cùng với những kỷ niệm của một hoa tiêu trong những tháng năm phục vụ tại thành phố này.

Những chi tiết cũng như tên tuổi trong bài hồi ký này đã được viết lại hoàn toàn trên sự thật, vì thế nếu có gì sai trái thì xin tất cả các Niên Trưởng cũng như các chiến hữu và độc giả tha thứ.

Bài này để tưởng nhớ đến anh Trần Văn Vân, một người bạn thân, một khóa sinh xuất sắc đã tử nạn tại trường bay Fort Hunter, Georgia, trong một phi vụ huấn luyện .

Vĩnh Hiếu

Image

Phi Đoàn 215, Thần Tượng
Vài Dòng Sơ Lược:

Khi thành phố Ban Mê Thuột thất thủ ngày 13 tháng 3 năm 1975, toàn bộ vùng Cao Nguyên hầu như đã lọt vào tay của CSBV. Hai Sư đoàn F10 và Sư đoàn 320 của Cộng quân thừa thắng, tiến quân dọc theo Quốc lộ 21 về hướng đông. Mục tiêu kế tiếp của Bắc quân là tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa.

Hai trung đoàn của Sư Đoàn 23 Bộ Binh đóng quân tại Pleiku tức tốc được không vận xuống quận Phước An cách Ban Mê Thuột 12 km hướng đông bắc, để làm bàn đạp phản công tái chiếm. Cuộc chuyển quân đang tiến hành tốt đẹp thì được lịnh hủy bỏ, cùng với quyết định rút tất cả chủ lực quân của Quân Đoàn II từ Kontum và Pleiku về vùng duyên hải, sau khi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu họp khẩn cấp với các tướng lảnh tối cao tại Cam Ranh ngày 14 tháng 3 năm 1975.

Để ngăn chận sự bành trướng của Bắc quân từ vùng Cao Nguyên, Quân Đoàn II chỉ thị Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù tăng viện cho Trung Đoàn 40/SĐ22 Bộ Binh và hai tiểu đoàn Địa Phương Quân, trải dài tuyến phòng thủ từ quận Khánh Dương đến đèo Phượng Hoàng, dọc theo QL- 21, con đường nối liền hai tỉnh Đắk Lắt và Khánh Hòa.

Cuối tháng 3, 1975 nút chặn chiến lược này bắt đầu lung lay dưới sức áp đảo dồn dập của địch quân với một quân số đông đảo gấp bội phần, trang bị đầy đủ xe tăng, pháo binh hạng nặng. Mặc dù được trấn thủ bởi một đơn vị thiện chiến nhất của QL/VNCH nhưng vì thiếu hụt đạn dược, vũ khí nặng cũng như lương thực, mãnh hổ nan địch quần hồ, phòng tuyến của Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù đã hoàn toàn tan vỡ ngày 2 tháng 4/ 1975. Hơn ba tiểu đoàn thiện chiến nhất của quân đội miền Nam, quân số khoảng vài ngàn người chỉ còn lại hơn năm ba trăm người rút lui được bằng đường bộ về tới Nha Trang.

Mục tiêu đã mở rộng trên đường tiến quân của Bắc quân. Nha Trang hầu như bỏ ngõ cho bước chân của đoàn quân xâm lược, không một đơn vị chủ lực quân nào còn lại được chỉ thị để phòng thủ, bảo vệ. Con đường tiến chiếm trọn miền duyên hải của CSBV, cũng như những phần đất còn lại chỉ còn là yếu tố thời gian…  

Nếu một mai ra đi không trở lại
Nha Trang ơi, xin vĩnh biệt cùng người.
Đời phi công vẫy vùng trong bão lửa
Đứa ra đi …đứa gãy cánh ngang trời.

M.r.
Con Đường Rộng Mở …

Làm thủ tục tắt máy tàu xong, tôi gỡ chiếc nón bay ra khỏi đầu treo sau lưng ghế bay, đẩy tấm thép chắn đạn lùi về phía sau mở cửa nhảy xuống đất. Trên mặt bãi đậu trực thăng được lót bằng những tấm vỉ sắt ghép lại, hơi bốc nóng lên dưới ánh nắng chói chan ban trưa tạo thành một ảo tưởng của một tấm gương lung linh, sinh động . Cách chỗ tôi đứng không xa là chiếc trực thăng võ trang số hai của phi đoàn Thần Tượng đang đậu, cánh quạt còn quay chầm chậm, chưa ngừng hẳn. Thấy Trung Úy Thành “Râu” trên đang miệng phì phà điếu thuốc lá cùng người hoa tiêu phụ vừa mở cửa bước xuống tàu, tôi bước nhanh tới chỗ hai người.

- Này Thành…, tao vào thăm ông anh một chút, nghe nói ổng phục vụ tại Dục Mỹ này mà tao chưa có dịp ghé. Mày chờ ngoài này, nếu cần cất cánh gấp thì cứ quay máy trước, tao chạy ra ngay.

- OK,… đi đi …

Nghe Thành trả lời xong, tôi quay người bước vội vã ra khỏi bãi đậu trực thăng, chạy băng qua bãi đất trống trước mặt, đến con đường nhựa dẫn tới một cái cổng gác lớn, bằng xi măng quét vôi trắng, trên tường viết: Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân. Tôi tiến đến gần một người lính đang đứng gác.

- Chào anh…, anh có biết Trung Tá Vĩnh Nguyên hiện đang ở đâu không anh ?

Người lính gật đầu, xong đưa tay chào rồi quay người chỉ về phía trong trại.

- Ổng đang ở căn trại thứ ba, đằng kia kìa.

Tôi chào cám ơn rồi cắm đầu bước nhanh qua cổng trại theo con đường trải nhựa đen. Trong trại im lặng và vắng vẻ một cách bất thường, một vài người lính rảo bước đây đó. Hàng dương liễu trồng thẳng tắp bên đường, soi bóng mát xuống một dãy barrack tường sơn màu vàng, mái lợp tôn nằm sát bên nhau. Đến căn trại thấy cửa chính hé mở, tôi đẩy nhẹ bước vào. Một người đàn ông tóc húi cua trong bộ đồ rằn ri Biệt Động Quân, trên cổ áo mang hai bông mai bạc, đang ngồi im lặng bất động sau một bàn giấy thật rộng giữa căn phòng trống trải. Tôi nhận ra ngay người anh chú bác ruột đã bao năm không gặp.

- Anh Nguyên!

Ông anh tôi ngẩng đầu lên chau mày nhìn. Có lẽ đã nhận ra tôi, anh bước tới miệng nở nụ cười hai cánh tay dang rộng.

- Trời…, em.., ngọn gió nào đã thổi em đến nơi này ?

Đứng trước mặt là một là một khuôn mặt quen thuộc tôi còn nhớ rõ khi tôi đang còn là một học sinh, anh trở về thăm nhà từ mặt trận bận bộ đồ trận đeo phù hiệu đầu cọp đen nhe răng, hai bông mai vàng sáng chói trên cổ áo. Nghe nói sau một thời gian tác chiến cho binh chủng Biệt Động Quân, anh đã được biệt phái về Cảnh Sát Đô Thành theo nhóm của Tướng Nguyễn Ngọc Loan, giữ chức vụ khá quan trọng nào đó tại Sài Gòn. Sau vụ thất sủng của Tướng Loan trong vụ xử bắn tên đặc công Việt Cộng “Bảy Lốp” tại Chợ Lớn trong vụ biến động Mậu Thân, anh được chỉ định về Trung Tâm Huấn Luyện Dục Mỹ này. Từ đó cuộc đời binh nghiệp của anh coi như là “dậm chân tại chỗ”. Tôi nhìn khuôn mặt của anh bây giờ có vẻ rắn rỏi, dày dặn sương gió hơn nhưng vẫn còn giữ được nét phong độ như ngày nào.

- Dạ…, em đáp đây chờ phi vụ yểm trợ cho tiểu đoàn Dù đóng trên đèo Phượng Hoàng, nhân tiện em ghé thăm anh. Anh Nguyên, lâu quá em chưa được gặp lại anh, anh vẫn mạnh khỏe chứ?

- Cám ơn em, anh vẫn thường. Chú thím có khỏe không em?

- Dạ…, vẫn khỏe anh ạ.

Tôi chưa kịp nói tiếp thì anh đột ngột hỏi tôi:

- Này, em đi bay trên vùng thường chắc rõ, nghe nói tình hình trên Khánh Dương bi đát lắm phải không?

- Đúng như vậy, chắc không xong rồi anh ạ…. Ba bốn ngày trước Tiểu Đoàn 5 Dù bị đánh tan hàng ở Khánh Dương rồi. Hiện tụi nó đã đến sát chân đèo Phượng Hoàng ở cách đây có mấy chục cây số thôi. Em ghé vào đây cũng có mục đích là hỏi anh có muốn rời khỏi đây không? Theo em nghĩ là anh phải tính trước đi, coi chừng kẹt lại đó. Hay là anh theo tàu em về Nha Trang lo cho hai bác và mấy anh chị? Nếu anh đồng ý chút thì nữa xong phi vụ em sẽ ghé đón anh.

Anh mỉm cười, đượm trong ánh mắt tôi thoáng thấy phảng phất một nỗi buồn xa vắng. Anh bước tới choàng vai tôi rồi lắc đầu:

- Không được đâu em,… anh phải chờ lệnh cấp trên, không phải dễ dàng như em nghĩ đâu. Em về gấp lo cho chú thím đi, cho anh gủi lời thăm tất cả nghe. Nhắn dùm hai bác là anh vẫn bình thường, đừng lo cho anh.

Chợt có tiếng trực thăng bay vù ngang trên đầu cùng với tiếng o…o…của mấy chiếc tàu đang quay máy…

- Chắc em phải đi rồi, anh ở lại.., ráng cẩn thận nghe anh.

Vừa dứt câu, tôi ôm choàng người anh họ siết chặt trong vòng tay, cố nén cơn cảm xúc đang dâng trào, tôi quay người vội vàng bước ra khỏi cửa, sải bước về hướng của hai chiếc trực thăng võ trang đang chờ.

Tại bãi đậu, hai con tàu đã quay máy, cánh quạt vùn vụt thổi bụi mù mịt. Tôi phóng lên ghế bay cánh cửa đã mở sẵn. Vừa choàng chiếc áo giáp nặng nề lên người, chưa kịp gài giây an toàn và đội nón bay lên đầu người hoa tiêu phụ đã vội vã kéo tàu rời mặt đất. Trong tiếng động ầm ĩ của con tàu tôi hét với người hoa tiêu phụ:

- Chuyện gì đã xảy ra?

- Charlie (chiếc trực thăng chỉ huy) chở Bộ Chỉ Huy Dù cất cánh trước rồi, mình lên vùng gặp Charlie sẽ có chỉ thị.

Hai chiếc trực thăng võ trang nặng nề lướt trên mặt những vỉ sắt một khoảng ngắn rồi rùng mình vươn lên cao. Tôi quay mặt qua khung cửa nhìn xuống những dãy nhà mái tôn đang nằm im lìm núp bóng bên hàng dương xanh, hy vọng được thấy lại hình bóng của người anh họ tôi một lần cuối. Tàu đã lên cao, gió lộng qua khung cửa luồn vào chiếc áo bay ướt đẫm mồ hôi trên lưng. Đàng sau tôi, Trung Úy Thành “Râu” bay chiếc võ trang số hai đang bám gót ở cao độ thấp hơn, cánh quạt chấp chóa dưới ánh mặt trời. Dưới chân, con Quốc Lộ 21 đang uốn éo leo lên triền dốc của dãy núi cao trước mặt.
Image
Vài phút sau tàu đã lên cao gần năm ngàn bộ, tôi nghiêng mình nhìn xuống con đường đèo trải nhựa đen chạy ngoằng ngòeo dọc theo sườn núi. Bên dưới là ngọn đèo Phượng Hoàng được tử thủ bởi hai Tiểu Đoàn 6 và 2 của Dù. Ngọn đèo chiến lược này còn được gọi là M’Drak, tên của một huyện lỵ nằm bên QL- 21, đa số dân cư là người dân tộc thiểu số gốc Ê đê.

Hiện tại phòng tuyến này đang bị áp lực nặng của hơn hai trung đoàn của CSBV thuộc hai Sư đoàn 968 và 320 đang trên đà chiến thắng, mở đường tràn xuống miền đồng bằng duyên hải.

Trong trận đánh bốc lửa vừa qua tại Khánh dương, địch quân đã ngang nhiên sắp hàng giữa ban ngày, hơn chục chiếc xe tăng T- 54 tấn công vào tuyến phòng thủ của Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù, không cần che dấu, ngụy trang. Những phi tuần A- 37 xuất phát từ căn cứ Phan Rang, Không Đoàn 92 Chiến Thuật, đã nổ lực yểm trợ nhưng không đủ sức ngăn cản bước tiến của một lực lượng địch quân quá đông đảo.

Trận chiến đã bùng nổ trong một hoàn cảnh hoàn toàn thất lợi cho miền nam Việt Nam, thiếu hẳn sự hậu thuẩn của đồng minh Hoa Kỳ, cán cân quân sự nghiêng hẳn về phía Bắc quân. Trên bình diện lớn hơn của cuộc chiến, ở cương vị của một hoa tiêu, tôi không đủ yếu tố để hiểu rõ nguyên nhân của những sự thất bại liên tục đang xảy ra ngoài sức tưởng tượng của tôi. Có những khi bay cao trên vòm trời nhìn xuống quê hương mịt mù khói lửa, tâm tư tôi hỗn loạn, hoang mang lo âu cùng cực khi nghĩ đến những gì sẽ xảy ra cho vận mạng của Tổ Quốc trong những ngày sắp đến.

Trong giây phút này, dưới chân tôi là một mặt trận cấp sư đoàn của địch, tôi tự hỏi hai chiếc trực trăng võ trang chậm chạp này được gủi đến đây để có mục đích thiết thực gì hơn là một phi vụ “tượng trưng”, chỉ để nâng cao tinh thần những chiến sĩ Dù đang trên đà bị tràn ngập bởi Bắc quân?

- Mãnh Hổ,… Charlie gọi,…trả lời ? (Mãnh Hổ tên gọi của trực thăng võ trang phi đoàn 215, Thần Tượng).

Nghe tiếng của Đại Uý Huỳnh Râu bay chiếc C@C (tàu chỉ huy) trên tần số, tôi ngước mắt nhìn. Một chấm đen nhỏ đang bay vòng tròn mãi tít trên cao.

- Nghe…nói đi Charlie…

- Hổ cho biết vị trí.

- Đang ở trên đầu đèo Phượng Hoàng, cao độ năm ngàn bộ… nghe rõ trả lời.

- Nghe năm…, hai bạn “hold” trên đầu quân bạn, đừng bay quá chân đèo hướng bắc. Chờ chỉ thị…

Nghe Huỳnh Râu nói xong trên tần số, tôi hướng ánh mắt dưới thấp về phía trước. Xa xa hướng chân đèo, một đoàn công voa chừng sáu bảy chiếc xe nhà binh, nhỏ tí tẹo như những đồ chơi trẻ con đang nằm ngổn ngang, rải rác bất động dọc theo lề đường, hình như đã hư hại hoặc cháy đen.

- Charlie…, đây Mãnh Hổ, … đoàn xe dưới chân đèo của phe ta phải không?…

- Hổ…, đúng rồi…, đừng đến gần…, đoàn xe tiếp tế của Dù bị phục kích tối hôm qua…

- Mãnh Hổ…, thấy đám rừng nằm trên sườn đồi phía đông đoàn công voa không?… Tác xạ xuống đám rừng trên sườn đồi…, nghe rõ. Đừng vào gần quá coi chừng SA- 7…Lúc nào sẵn sàng tác xạ cho biết…nghe rõ?
Image
 

Coi chừng SA- 7! … Tất cả giác quan trong cơ thể tôi bừng dậy như vừa chạm phải một luồng điện mạnh, sau câu nói của Huỳnh Râu. Cách đây khoảng hơn hai tuần lễ, một chiếc võ trang của phi đoàn 219 King Bee đã lảnh nguyên trái SA- 7 nổ tung khi đang bay yểm trợ cho cuộc đổ quân tái chiếm phi trường Phụng Dực, gần Ban Mê Thuột. SA- 7 (Strela- 2) do Nga Sô chế tạo là một loại hỏa tiễn địa- không cá nhân, bay với tốc độ siêu thanh và tầm sát hại từ năm bảy chục bộ cho đến khoảng hơn năm sáu ngàn bộ, đuổi theo hơi nóng phát xuất từ động cơ máy bay, cực kỳ hữu hiệu, nhất là đối với những chiếc trực thăng tốc độ chậm ở cao độ thấp.

- Hổ…, tin tình báo cho biết địch quân dàn quân rất đông gần chân đèo, “hold” trên đó…đừng bay về hướng bắc. Coi chừng,…cẩn thận…

Trong giọng nói của Huỳnh Râu chứa đựng một sư lo ngại và quan tâm tới sự an toàn của hai phi hành đoàn, cũng như một lời nhắc nhở của một người bạn thân đã từng chung chia hung hiểm ngọt bùi qua những năm tháng chiến đấu bên nhau. Huỳnh có khuôn mặt bậm xị, hàm râu mép dày và một thân hình khá nặng nề. Tuy là một phi công nhưng anh thích bận bộ đồ hai mảnh “nomex”, đầu đội mũ vành, vải dù. Trông Huỳnh có cốt cách của một người lính biệt kích hơn là một hoa tiêu. Anh là một trong những phi công nòng cốt, lì lợm của phi đoàn Thần Tượng trong phi đội tải quân, đã vào sinh ra tử bao nhiêu phen trên chiến trường miền Tây Nguyên. Huỳnh có một thói quen đặc biệt tôi vẫn nhớ là anh không bao giờ xài ví da. Tiền bạc giấy tờ luôn luôn bỏ trong bao ni lông. Mỗi khi cần tiền, anh lục đục móc trong túi quần lấy bao ny lông xếp hai ba lớp ra, lôi ra xấp tiền xẹp dí vì bị ngồi đè lên. Tôi tò mò hỏi anh tại sao không xài ví thì anh thản nhiên trả lời : “Tụi mình ở trên trời suốt ngày, không biết lúc nào bị bắn, nếu lỡ có… rớt xuống nước thì tiền khỏi bị ướt”. Nghe qua, không ai khỏi bật cười vì lý sự ngộ nghĩnh của anh ta.

Tôi cho con tàu bay trở lại, vòng trên cao của ngọn đèo. Dưới chân đèo hướng đông, bên phải của đoàn xe công voa nằm bất động, mảng rừng xanh đậm từ chân núi kéo dài lên đến gần tới lưng chừng rồi tiếp nối bằng trãng cỏ tranh màu vàng úa lên tới đỉnh núi, nhiều chỗ cháy nám đen vì bom đạn của những phi tuần khu trục.

Những mảnh nắng chiếu loang lổ xuống mặt rừng núi yên tĩnh, không một vật di động, ngoài những cột khói đó đây đang còn âm ỉ cháy… Con đường đèo chạy quanh co, không một chiếc xe, không một bóng người, lãng vãng đâu đó hình bóng của tử thần đang rình rập. Tất cả im lặng, bất động trong một tư thế sẵn sàng bùng nổ.

Trận chiến hình như đang bước vào giờ thứ hai mươi lăm, sự liều lĩnh táo bạo thiếu tính toán của tôi trong giai đoạn này là một hành động vô ích nếu không nói là rồ dại. Khi quỳ gối dưới lá Cờ- Vàng- Ba- Sọc- Đỏ để lãnh nhận bộ quân phục mang lên người, tất cả chúng ta đều tâm nguyện sẵn sàng hy sinh tánh mạng mình để bảo vệ Tổ Quốc, Quê Hương. Tuy nhiên theo tôi nghĩ, sự hy sinh đó cần phải cân nhắc, suy tính để đánh đổi xứng đáng công ơn của đất nước đã đào tạo cho chúng tôi được trở thành như ngày hôm nay. Tôi cần phải đặt tính mạng của hai phi hành đoàn trực thăng võ trang, những người chiến sĩ đã từng vào sanh ra tử với tôi bao nhiêu năm qua, lên hàng đầu.

Trong khoang tàu, tiếng gió lộng đập phần phật qua khung cửa mở rộng cùng tiếng máy của động cơ bán phản lực nổ đều đặn, hai người mê vô xạ thủ già dặn kinh nghiệm chiến trường đang ngồi yên trên hai thùng đạn đặt kế bên hai khẩu mini-gun sáu nòng, hai tay thủ chặt súng chỉa xuống bên dưới. Không ai nói một lời, nét mặt khẩn trương, căng thẳng. Người hoa tiêu phụ ngồi bên ghế trái, mắt nhìn vào đồng hồ phi cụ, tay phải để trên nút vặn của hộp điều hành vũ khí (armament control box) ở giữa hai ghế bay.

Kim đồng hồ cao độ đang chỉ khoảng năm ngàn bộ. Theo địa thế hiện tại, chúng tôi thực sự chỉ ở cao độ gần ba ngàn bộ đối với mặt đất, trong tầm sát hại của hỏa tiễn địa không SA- 7.

Theo kinh nghiệm đã qua với địa thế này chỉ còn một con đường độc nhất là bay sát trên đầu quân bạn, ẩn núp sau những triền núi quanh co.., oanh kích từ xa đến. Chiến thuật này tương đối an toàn, tuy nhiên hơi khó khăn cho hai chiếc trực thăng phải xoay xở tránh né trong một khoảng không gian khá nhỏ hẹp, nằm kẹp giữa hai sườn núi dốc cao.

Không có sự lựa chọn nào hơn, tôi thông báo cho chiếc số trực thăng võ trang số hai đang theo sau.

- Hổ hai đây Hổ một…

- Nghe…, nói đi…

Tiếng nói của Trung Úy Thành Râu bay chiếc Hổ số hai nghe trên tần số. Thành là một wingman (chiếc bay theo sau) gần gũi nhất của tôi trong phi đội trực thăng võ trang của phi đoàn Thần Tượng. Chúng tôi rất biết ý nhau, nói ít hiểu nhiều.

- Thành,…mình sẽ bay “low level” sát trên đường đèo đánh xuống nghe rõ.

Tôi chỉ nghe tiếng xè trong tần số của Thành trả lời.

- Hổ hai.., nhớ sau khi tác xạ, phải quẹo gắt 180 độ, đừng bay lố khỏi đèo…, coi chừng đụng núi…nghe rõ?…

- Hai nghe năm…

Hổ hai vừa trả lời xong, tôi đè mạnh cần cao độ, đẩy tay lái, con tàu đầy xăng và đạn dược nặng nề chúi mũi quay vòng trôn ốc, rơi nhanh như hòn đá cuội, đường đèo cùng vách núi dâng lên vùn vụt. Trong khoảng khắc, chiếc trực thăng đã lài sát mặt đường nhựa đen. Những chiếc thiết vận xa cắm đầy cành lá xanh, ẩn núp dưới tàng cây, sau tảng đá, những hố cá nhân còn phơi màu đất đỏ mới toanh, dần hiện rõ cùng với những người lính Dù lấp ló trong những công sự dọc theo con đường đèo. Cho tàu bay thấp ngang mặt đường, trên thung lũng giữa hai triền núi về hướng chân đèo. Sau lưng trên cao, chiếc Hổ hai đang xoắn ốc giảm cao độ.

- Charlie!…Hổ sẵn sàng…

Thông báo cho chiếc tàu chỉ huy xong, tôi kéo hết tốc độ, con tàu chúi mũi lao nhanh về hướng mục tiêu. Cảnh vật bên dưới thân tàu cùng con suối cạn, oằn èo trong thung lũng hẹp lùi vùn vụt về phía sau. Trong khoảng khắc trước mũi tàu, hiện rõ đoàn xe cháy nám đen trên đường dưới chân đèo cùng với những xác người nằm vương vãi. Kéo con tàu vươn lên vừa đủ, tôi chúi mũi phóng tất cả hỏa lực về hướng địch. Những trái hỏa tiễn vội vã rời dàn phóng, rít lên những âm thanh chói tai, lao xuống mục tiêu nổ bung. Những cụm khói trắng xám vương lên trên mặt rừng xanh. Tai nghe nhiều tiếng nổ lốp đốp của địch bắn trả, tôi kéo hết cần lái về phía trái, con tàu nghiêng mình quẹo lại 180 độ, lài sát trên mặt rừng cành lá cây xanh trên triền núi. Người xạ thủ nhoài hẳn người ra ngoài, hai tay trên khẩu súng bóp cò. Khẩu súng mini-gun sáu nòng quay tít, kêu như bò rống. Ở một góc độ quá nghiêng của thân tàu, những viên đạn lửa tua tủa bay vào khoảng không hướng lên trời. Thần kinh tôi căng thẳng tột độ khi con tàu nghiêng mình quay đầu đưa đuôi về hướng địch, ống thoát (exhaust pipe) của máy phản lực nóng đỏ trên lưng tàu là miếng mồi hấp dẫn cho mấy hỏa tiễn tầm nhiệt đang ẩn núp, rình rập đâu đó. Trên mặt mồ hôi đổ hột, tôi nhìn chiếc Hổ hai của Thành Râu đang bay ngược chiều ngang mặt đường đèo, trên con suối cạn.

- Hổ hai…, bắn hết tất cả, một “pass” thôi…, coi chừng đừng bay lố…

Nhìn ngang qua tấm thép chắn đạn bên khung cửa tôi thấy vài người lính Dù đang đứng hẳn lên khỏi hố cá nhân, hai tay cầm súng lên khỏi đầu làm một cử chỉ như cổ võ chiếc trực thăng đang bay vèo ngang trước mặt. Tôi đưa tay vẫy chào đáp lễ những người hùng Mũ Đỏ.

Cho con tàu quẹo gắt lại trên đầu con suối cạn kẹp giữa hai vách núi, nối đuôi với chiếc Hổ hai đang lao đầu xuống chân đèo phóng những trái hỏa tiễn xuống mục tiêu bên dưới. Trên mặt rừng xanh, giữa những cụm khói bốc lên cao vì những đầu đạn hỏa tiễn của Thành, một tiếng nổ dữ dội như một trái bom lửa lớn bốc lên cao.

- Charlie!…Hổ một gọi,…Thấy tiếng nổ phụ không Charlie ?…Nghe không Huỳnh…, Charlie?

- Chờ chút Hổ một…, OK…, Hổ một nghe không ? Hay lắm…, hay lắm…, rockets trúng ổ chứa đạn, hay xe nhiên liệu của địch …, nghe rõ không?

Mắt dán vào đám cháy khói đen tỏa rộng vươn lên cao, tôi cho con tàu lướt tới yểm trợ cho chiếc tàu của Thành đang quẹo lại. Bỗng trên mặt rừng, hai ba cột khói trắng nhỏ như từ đuôi của mấy hỏa tiễn phụt lên cao, tôi hét trên tần số:

- Hổ hai…, Hổ hai.., coi chừng…, SA- 7…, SA- 7,…Break!…, break!….

Vừa dứt lời tôi phóng vội vã những trái hỏa tiễn còn lại xuống hai cột khói trắng đang còn lơ lững treo trong không khí, xong tức thì bẻ lái con tàu quay trở lại. Con tàu nghiêng hẳn, cách quạt đập vào không khí kêu phành phạch, thân tàu rung bần bật như đang lên cơn sốt, lài dọc theo vách núi dưới con đường đèo.

- Ầm…, Ầm…, Ầm…

Nhiều tiếng nổ chát chúa bất thần nổ bung trên hai bên triền núi trước mặt con tàu. Tôi la lớn trên tần số:

- Pháo,…pháo,…pháo kích…

Những mảnh đạn từ những trái đạn đại pháo bay xé không khí rít lên âm thanh khủng khiếp. Bụi mù cùng đất đá, cây lá tả tơi , rơi rào rào xuống mặt đường đèo.
Image
Àm…, Ầm…, Ầm… Tôi ngước đầu lên nhìn hai bên sườn núi cao. Những đạn pháo nổ ầm liên tục rơi dọc hai bên sườn đồi, giữa con suối, trên mặt lộ, rơi như mưa xuống tuyến phòng thủ của quân bạn. Tôi kéo hết tốc lực, chiếc trực thăng cắm đầu bay theo dọc thung lũng về hướng Nam, len lỏi giữa những đám khói đen xám vừa mới bốc lên. Những tiếng nổ ầm liên tục vang vọng từ đàng sau đuôi sau hai con tàu. Địch đã bắt đầu mở cuộc tổng tấn công vào phòng tuyến cuối cùng của Dù. Trên bầu trời cao không còn thấy những chiếc pháo đài bay B- 52 của người bạn đồng minh Hoa Kỳ đến trải thảm bom như mùa hè đỏ lửa năm 72 nữa. Những người lính Dù đang sắp đối đầu một địch thủ có tầm vóc quá chênh lệch và không hề biết rằng họ sẽ không còn được một sự tăng viện nào từ hậu cứ. Họ phải chiến đấu đơn độc với những gì còn lại và với một lòng dũng cảm vô biên của những người lính trong Binh chủng Nhảy Dù. Máu của họ đã đổ và sẽ đổ xuống trên ngọn đèo ác liệt này cho quê hương một lần nữa, có thể là một lần cuối cùng. Trận chiến đã ngã ngũ trước khi nó sắp bắt đầu.

- Hổ, Hổ…, rời vùng,…về đáp Nha Trang nghe rõ…Hổ?

Tiếng Huỳnh Râu la to trên tần số.

- O K…, Hổ rời vùng…, nghe năm.

Hai chiếc trực thăng của Thần Tượng vừa ra khỏi núi, lên cao độ hướng về Nha Trang. Con lộ QL- 21 dưới chân, một khung cảnh hiền hòa thanh bình khác hẳn, vùng đồng bằng Dục Mỹ hướng về quận Ninh Hòa, vài ngôi xóm nho nhỏ êm ả dưới ánh nắng chiều bên những khóm tre xanh, con suối nhỏ uốn lượn giữa những mảnh ruộng khô vuông vức, bình thản vô tư trước chiến cuộc đang lan tràn trên quê hương.

- Hổ một đây Hổ hai…

Tiếng Thành Râu trên tần số riêng của Mãnh Hổ.

- Hai.., Hổ một nghe….

- Lúc nảy có phải SA- 7 bắn theo Hổ hai không? Thành hỏi.

- Không phải…, tao lầm. Nếu đúng là SA- 7 bắn thì mày không còn mạng tới giờ này đâu… Hổ hai, rockets mày đánh trúng cái gì của tụi nó, nổ lớn lắm thấy không?

Tiếng xạch xè trên tần số xen lẩn tiếng Thành Râu:

- …không thấy…, bắn đại xuống rừng, chắc là chó ngáp phải ruồi…ha ha…Thành Râu cười lớn trên tần số.

Tôi không còn cười nổi, nói tiếp:

- Tình thế không xong rồi. Tao cần về Nha Trang gấp để lo di tản cả gia đình tao đang còn ở đó. Phải lo trước khi tui nó đến không thì muộn, trở tay không kịp. Tao không muốn chuyện xảy ra như mấy thằng bạn ở Đà Nẵng.

- Chuyện gì xảy ra cho tụi nó?

- Chiều về tao kể cho.

Tôi chấm dứt điện đàm với Thành. Lòng nóng như lửa đốt, tôi rít hơi thuốc thật sâu rồi quay đầu thở mạnh ra khung cửa. Bất chợt trong đầu tôi hiện lên hình ảnh thằng bạn cùng khóa mới gặp lại tuần lễ trước đây, Hào Gàn! Tại sao tôi lại quên hẳn thằng bạn thân đang ngồi chờ tôi ở nhà. Tôi nhổm thẳng người dậy, tay vỗ bộp vào đùi. Người hoa tiêu phụ đang cầm cần lái, quay qua nhìn tôi ngạc nhiên hỏi:

- Chuyện gì vậy anh ?

Tôi không muốn người hoa tiêu phụ biết những gì tôi đang nghĩ:

- Không…, đâu có gì ?

Cách đây vài tuần lể, Hào, phục vụ cho Phi Đoàn 239 Hoàng Ưng tại Đà Nẵng, dẫn năm chiếc biệt phái cho cuộc không vận Sư Đoàn 23 tái chiếm Ban Mê Thuột. Vài hôm sau cuộc chuyển quân bị hủy bỏ, Hào trong chức vụ biệt đội trưởng, cùng hợp đoàn năm chiếc trực thăng được lệnh về tạm trú tại Không Đoàn 62 Chiến Thuật, ở Nha Trang, yểm trợ cho mặt trận Tuy Hòa. Nhiều ngày sau đó, tình thế càng hỗn loạn, lệnh lạc bắt đầu rời rạc, không còn chặt chẽ như trước, biệt đội của Hào hầu như bị lãng quên. Nhiều ngày anh bạn tôi ngồi không, chờ tại phi trường và chờ…tôi đi hành quân về để hai thằng đi ăn chơi. Hào đã từng nói với tôi nhiều lần rằng biệt đội này bây giờ như cây chùm gởi, không ai kiểm soát, mấy chiếc tàu này trong tay của Hào, muốn bay đâu thì bay. Tôi tin tưởng Hào “gàn” sẽ giúp được gia đình tôi hơn mười mấy người, rời vùng lửa đạn nay mai.

Ngửa người vào lưng ghế bay, tôi phun ra làn khói thuốc dày đặc, những quan tâm lo lắng như đã theo làn khói trắng tan biến trong không gian.

Chuyện gặp lại nhau giữa Hào và tôi tại mặt trận Tuy Hòa sau bao năm biệt tăm từ khi du học Mỹ về là một cái duyên lớn. Hào có một cá tánh ngang tàng, không đội trên đạp dưới nên ít được cấp chỉ huy cảm tình, có lẽ cái tên Hào “gàn” đã nói lên được phần nào chuyện đó và cũng là một trong những nguyên nhân Hào bị thuyên chuyển về Đà Nẵng, khi đang êm ấm gần bên gia đình vợ con tại căn cứ ở Biên Hòa. Một câu chuyện nhỏ sau đây đã xảy ra mấy ngày trước sẽ nói rõ lên cá tánh đó của Hào “gàn”.

Hôm đó tại quán Mộng, một quán ăn lịch sự gần nhà tôi, Hào bận bộ đồ bay đang rung đùi ngồi hút thuốc lá bên ly cà phê đen, chờ tôi đi hành quân về thì có một chiếc xe Jeep ngừng lại ngay cửa, trên xe ba người đàn ông đẩy cửa bước vào quán. Một người trong đồ tennis trắng đi trước, theo sau hai người bận bộ đồ thường phục tay xách khẩu súng M- 16. Hai người đi sau chọn một bàn ngay cửa, người áo quần trắng bước đến ngồi trên quầy rượu, kế bên bàn của Hào. Hình như ông ta là khách quen của quán này, người bồi không cần hỏi tự động bưng ra một chai Cognac Martel VS, trên cổ chai dán hình lưởi liềm bạc có ba ngôi sao. Thấy không dính dáng tới mình, Hào quay mặt ra đường nhìn thiên hạ qua lại.

Vài ba phút sau, người đàn ông tay cầm ly rượu pha sô đa sủi bọt trắng xóa, đưa mắt nhìn Hào và ra dấu như muốn gợi chuyện. Sau vài lần không gây được sự chú ý của Hào, ông ta bèn lấy ngón tay trỏ ngoắt Hào lại trong một thái độ trịnh thượng, kẻ cả. Hào hơi bực mình, cố làm ngơ nhưng không xong. Vị khách vẫn tiếp tục cố gây sự chú ý của Hào. Không chịu được, anh bạn tôi đứng dậy, bước lại gần bar rượu, hai tay chống nạnh đứng trước mặt vị khách, rồi hỏi:

- Ông có chuyện gì muốn nói không ?

Người đàn ông trả lời một cách tự nhiên, không một chút suy nghĩ:

- Không có gì cả “chú”, anh chỉ muốn mời “chú” đến uống ly rượu và nói chuyện cho vui thôi.

Đang sẵn bực mình trong bụng vì thái độ của người đàn ông, Hào nổi cơn:

- Xin lỗi, ông tưởng ông là ai mà có thái độ như vậy? Tôi đâu cần uống rượu của ông. Tôi cũng không phải là “chú” của ông. Ông thấy tôi đang mang trên vai cái gì không? Nói xong Hào chỉ vào mấy bông mai gắn trên vai.

Vị khách liền đổi giọng:

- Đừng nóng, “chú” chắc ở nơi xa tới nên không biết anh. Anh là Đề Đốc Châu, anh em thường gọi là Châu “cao bồi”, chỉ huy trưởng Trung Tâm Huấn luyện Hải quân ở đây.

Cơn giận chưa nguôi Hào sẵn trớn cao giọng:

- Xin lổi ông, tôi không cần biết ông là cái gì khi ông đang bận đồ dân sự, nhưng lịch sự tối thiểu ông phải kính trọng bộ đồ của tôi đang mặc trên người chứ. Vừa nói “Hào Gàn” vừa chỉ vào bộ đồ bay mình đang mặc.

Ngay lúc đó hai người đàn ông bận đồ dân sự ngồi ngay cửa ra vào đứng dậy, tay xách khẩu M- 16 bước đến gần bàn kế bên. Hào quay đầu lại nhìn hai người mới đến trong một tư thế đề phòng.

Bỗng nhiên, vị Đề Đốc xô ghế đứng hẳn dậy, rồi trong một cử chỉ bất ngờ, bước tới vỗ vai Hào nói:

- Thôi bớt nóng đi em. Anh khen em đó…lỗi ở anh. Anh không trách em, em đã có một thái độ rất đúng. Anh không ngờ em ở xa tới nên mới không biết anh là ai. Anh ở đây rất thích mấy ông đi bay, … Thôi anh em mình ngồi xuống làm vài ly rồi kêu gì nhậu nghe…

Những gì Hào kể lại đã không làm tôi ngạc nhiên. Đề Đốc Châu là một vị sĩ quan cao cấp rất chịu chơi và bình dân, đặc biệt có nhiều thiện cảm với những chàng trai đi mây về gió. Tôi là một trong những người đó và đã nhiều lần ăn nhậu với vị chỉ huy cao cấp chịu chơi này tại Quán Mộng.

Một lần tôi được mời tới nhà Đề Đốc ăn cơm tối. Căn biệt thự rộng rãi, tọa lạc trong một khu vườn cây bóng mát đối diện với bãi biển, ngay góc đường Hàm Nghi và đường Duy Tân. Sau khi ăn cơm xong, tôi cùng Đề Đốc leo chiếc xe du lịch màu xanh đậm mang bản số gắn một ngôi sao bạc đi vũ trường Baccara để giải trí. Một điều “không may” là tôi đã uống quá nhiều rượu chát trong khi ăn cơm, tuy chưa say nhưng bụng tôi căng phình như một con cóc. Khi xe đang chạy ngang một con đường khá đông đúc, tôi bất thần thò đầu ra ngoài xe, miệng kê trên cánh cửa, phun tung tóe ra tất cả những cái gì đã “thồn” vào bao tử xuống mặt đường nhựa. Đằng sau xe của Đề Đốc là một chiếc xe Quân Cảnh Hải Quân đang chạy theo sát nút để hộ tống. Hình ảnh không mấy đẹp này đã in sâu vào trong đầu tôi, và đã làm tôi rất “hổ thẹn” mỗi khi nghĩ đến…

Gió biển mát lạnh đập phần phật vào khoang tàu mở cửa, măn mẳn một mùi vị tanh tanh của nước biển làm tôi tỉnh hẵn người. Hai chiếc trực thăng võ trang đang bắt đầu vào không phận của thành phố Nha Trang. Trước mặt là một vùng đại dương mênh mông một màu xanh biếc, nổi bật những con sóng bạc đầu sủi bọt trắng nô đùa rượt đuổi nhau dọc theo bãi các vàng. Xa về hướng tây ngoại ô thành phố tọa lạc một bức tượng Phật khổng lồ màu trắng nổi bật, đang ngồi thiền tịnh trên đỉnh đồi chùa Phật Học, lặng yên hướng về thành phố, như đang ngậm ngùi thương xót cho chúng sanh sắp đi vào con đường chinh chiến điêu linh…

Image
Tượng Phật ngồi trên đồi chùa Phật học, Nha Trang

Quán Mộng và “những ngày xưa thân ái”


Rời phi trường, tôi chạy chiếc Honda 90 cũ kỹ dọc theo bờ biển trên đường Duy Tân trở về nhà. Trời đã về chiều, những vạt nắng vàng cuối cùng còn vương vấn trên những đọt cây bàng, cây dương liễu hay trải dài trên mặt đường tráng nhựa đen. Gió mát lồng lộng thổi vào người, qua mọi ngõ ngách trong cơ thể, như cuốn trôi đi những bụi bặm chiến tranh tôi đã mang về từ vùng trời mịt mù khói lửa. Dọc theo bờ biển, thưa thớt vắng vẻ khác thường, vài xe bán đồ ăn dọc theo những hàng dừa buồn bã vắng khách. Hình ảnh của một buổi chiều vàng đầy người đi tấp nập trên bãi biển hóng gió, cười nói đùa giỡn không còn tìm thấy nữa. Trên đường cái, xe cộ như đang chen lấn, vội vã tranh nhau chạy đua với thời giờ.

Có lẽ người dân Nha Thành đều linh cảm được những gì sắp xảy đến cho thành phố này. Viễn ảnh của một đoàn quân vô nhân khát máu đang sắp sửa tràn ngập đường phố, qua kinh nghiệm của Tết Mậu Thân đã gây lên nỗi kinh hoàng trong đầu mọi người. Giống như những con cá chen chúc vùng vẫy trong vũng nước bùn, cố thoát khỏi bàn tay của những người đang tát ao, những người dân trong thành phố hốt hoảng đi tìm đủ mọi phương tiện để rời khỏi Nha Trang. Những người có tiền và phương tiện đã cao chạy xa bay từ trước, còn lại những người dân khốn khổ chạy đôn chạy đáo khắp nơi. Từ Quảng Nam cho đến Phú Yên, những thành phố dọc ven biển đã bị nhuộm đỏ, Nha Trang là thành phố kế tiếp.

Chiều hôm nay tôi đã mượn được chiếc xe Jeep của Trung Tá Thông, Trưởng đoàn Phòng thủ phòng vệ KD/62 Chiến Thuật đưa tất cả gia đình vào phi trường giao cho Hào “gàn” để ngày mai anh ta chở vào Sài Gòn. Bây giờ tôi yên trí về nhà. Chạy vào tới trước sân, tôi dựng xe xong bước lên mấy bậc tam cấp vào phòng khách. Căn nhà rộng rãi bây giờ lại càng trống vắng hơn. Tôi đứng yên một mình ngay giữa nhà, tất cả đồ đạc vẫn y nguyên, ngay cả những bức ảnh gia đình đang còn treo trên tường. Một cảm giác bơ vơ lạc lõng kỳ lạ đang dâng ngập lòng, tôi không biết phải làm gì trong giây phút trống vắng này, mọi sự thay đổi quá nhanh. Cả gia đình tôi đã ra đi trên tay mang những áo quần tối thiểu, bỏ lại tất cả những gì đã gầy dựng lại sau lưng. Còn tôi ở lại một mình, làm bổn phận của người lính khi Tổ Quốc lâm nguy. Tuy nhiên tôi vẫn có linh cảm sẽ phải rời xa thành phố thân yêu này, nơi đã che chở, nuôi dưỡng tôi trong bầu không khí trong lành của đại dương suốt thời gian thơ ấu. Tôi sẽ không còn thấy ngôi nhà thân yêu ở gần biển, gần đến độ mỗi mùa biển động tôi có thể nghe tiếng sóng của đại dương vỗ ì ầm vang vọng. Căn nhà tôi đã sống qua bao nhiêu mùa hè rực nắng, đã biến tôi thành một thằng mọi con suốt ngày ngâm mình dưới làn nước trong vắt, đâm cá, bắt cua, bắt sò hến…Bao nhiêu đêm khuya, trải chiếu trên bãi cát cùng với những người thân yêu, bên mặt biển êm ả như mặt hồ thu, lấp lánh phản chiếu muôn ngàn ánh bạc trong đêm trăng vằng vặc, tai nghe tiếng sóng rì rào, vỗ về bờ cát. Những buổi sáng tinh sương, chạy ra biển khi mặt trời vừa ló dạng đỏ ối cuối chân trời. Đứng bên những người dân chài đang “hò dô ta”…kéo lưới trên bãi biển. Trố mắt nhìn những con cá óng ánh đang vùng vẫy trong lưới, chờ đợi để lượm những con cá nhỏ xíu rơi rớt trên mặt cát. Những giờ phút hồn nhiên ngây thơ đó vẫn còn mãi trong tâm trí tôi không bao giờ phai nhạt.

Ngôi nhà của cha mẹ tôi tọa lạc ngay góc đường Biệt Thự dẫn vào cổng trại phi trường. Hằng ngày đứng ngây người chiêm ngưỡng những người hùng trong bộ đồ bay, đeo đầy súng đạn chạy ngang qua đã gieo vào trong đầu tôi một ước mơ: trở thành phi công.

Giấc mơ đã trở thành sự thật, tôi được may mắn trở về lại thành phố thân yêu để phục vụ, gần gia đình và nhất là được sống lại bên bãi cát vàng bên bờ biển xanh, ngày ngày tung cánh chim sắt bay khắp vùng trời lửa đạn, Bảo Quốc Trấn Không như lời nguyền mang trên vai áo khi gia nhập một quân chủng ưu tú của Quân lực VNCH.

Ngồi lặng yên suy tư thẩn thờ trên ghế salon một mình hồi lâu, bên ngoài trời đã tối hẳn. Cảm thấy đói, tôi đứng dậy bước ra sân, lững thững đi bộ đến đầu đường Biệt Thự để kiếm gì ăn lót bụng. Ngoài đường, mọi sự đi lại đã bắt đầu thưa thớt, thỉnh thoảng một chiếc xe nhà binh chạy vụt ngang, vội vã… Những cột đèn điện bên đường chiếu xuống mặt đường nhựa ánh sáng vàng vọt. Đang rảo bước bên lề đường, đột nhiên tiếng nói của người bán hàng bên lề làm ngưng dòng tư tưởng đang miên man trong đầu:

- Mở hàng dùm em đi anh…

Ngay dưới chân cột đèn, kế bên đường một người đàn bà khoảng ba mươi, trong bộ đồ bà ba bông, đang ngồi lúi lúi quạt lò than, trên tấm vỉ sắt có mấy trái bắp nướng. Kế bên là một đứa bé gái khoảng năm bảy tuổi ngồi trên chiếc ghế nhựa bé tí, gần cái thúng đựng bắp tươi. Lò than cháy lốp đốp, nổ văng những đốm lửa đỏ bay trong không khí. Cách đó vài thước có hai chiếc xe xích lô đậu sát nhau, hai người đàn ông gầy ốm đang ngồi trên ghế trước đấu láo chờ khách.

Tôi nhìn chị bán hàng lắc đầu:

- Không, cám ơn chị.

- Bắp non ngọt lắm, mua dùng em đi.

Người đàn bà nài nỉ. Tôi đứng lại. Những người đang ở trước mặt tôi vẫn sinh hoạt bình thường để kiếm miếng cơm, manh áo, không hề quan tâm đến biến động của thời cuộc. Chắc họ không có gì để mất và không có gì để lo sợ.

- Chị bán có khá không ?

- Ế lắm anh ơi…, giờ này thiên hạ lo chạy, ít người đi ra đường lắm.

- Sao chị không lo kiếm đường chạy mà còn ngồi đây bán? Tôi hỏi.

Người bàn bà, tay phe phẩy quạt lò, tay trở mấy trái bắp cho đều:

- Có đồng “mô” trong túi mà chạy anh, mà không biết chạy đi chỗ “mô”. Còn chồng em thì đi lính mất biệt, mấy năm “ni” không thấy về thăm nhà, “chừ” em cũng không biết anh đang ở chỗ “mô” nữa.

Vừa nói xong người đàn bà gắp một trái bắp nướng còn nóng bỏng trên lò xuống để trên miếng giấy dưới đất trước mặt đứa con gái.

- Ăn đi con.

Tôi lắng nghe người đàn bà nói tiếng Huế trong một âm điệu thật bình thản, hình như cô ta đã quá quen với gian khổ. Khuôn mặt của người đàn bà phản chiếu ánh lửa hồng bập bùng của lò than vẫn còn phảng phất một nét mặn mà duyên dáng của người con gái đất Thần Kinh, cho dù đã sống trong những ngày tháng lam lũ khổ cực. Nỗi cay đắng, xót xa ngập tràn, xót thương cho thân phận của một con người. Tôi liếc nhìn vỉ sắt trên lò than rồi chợt đổi ý, chỉ vào hai trái bắp cháy vàng:

- Này,…chị bán cho tôi hai trái đi…, đừng trét mỡ hành nghe.

Đợi người đàn bà gói xong hai trái bắp trong lá chuối, tôi thò tay móc túi đưa chị tờ giấy bạc xong quay người cất bước không chờ lấy tiền thối.

Đi một khoảng ngắn, tôi đến trước quán Mộng. Quán đã đóng cửa tắt đèn. Tôi nhìn đồng hồ chưa tới tám giờ tối. Chắc mấy cô chủ quán đã rời thành phố rồi. Bước tới gần khung cửa lớn bằng kiếng, ghé mắt nhìn vào trong, những bộ bàn ghế bằng mây, trải khăn trắng toát trông lịch sự đang im lìm trong bóng tối mờ mờ từ ánh đèn đường hắt vào. Hình ảnh một quán ăn quen thuộc, đầy thực khách cùng những tiếng cười nói vui vẻ như đang trở lại trong tiềm thức của tôi. Trong thời gian phục vụ cho phi đoàn Thần Tượng trú đóng tại Nha Trang, tôi đã chia sẻ rất nhiều thì giờ tại quán này, chỉ cách xa nhà tôi chừng vài trăm bước. Tôi có thể coi quán Mộng như là một quán ăn nhà. Nếu ai đã từng phục vụ tại Không đoàn 62 này đều phải biết đến tên đó, trước đây đã mang một tên khác rất tây phương: Cristal Palace. Ban ngày là một tiệm ăn sang trọng, lịch sự, ban đêm biến thành một vũ trường đẹp đẽ, ấm cúng.

Quán Mộng tọa lạc trên con đường mang tên Biệt Thự, một con đường rất quen thuộc đối với hầu hết anh em Không Quân, chỉ dài chưa hơn nửa cây số, chạy từ cổng trường Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân ra đến bờ biển. Chính con đường này đã làm mòn giày “bốt đờ sô” cũa biết bao nhiêu chàng phi công tương lai, hằng ngày sắp hàng sầm sập chạy ra biển trong chiếc áo thun trắng tinh và chiếc quần xanh màu cức ngựa, miệng hát vang bài Không Quân Hành Khúc.

Những lúc đi bay về có được ” chiến lợi phẩm” như heo, nai, gà, thỏ, công, nhím hay bất cứ “sinh vật” nào…tôi đều mang đến quán Mộng để nhờ ba cô chủ quán vui vẻ, trẻ đẹp biến thành những món nhậu hấp dẫn, ngon lành. Còn những lúc tắm biển, thả lựu đạn trúng đàn cá nào thì tôi lại xỏ xâu xách đến quán nhà cho tiện việc “sổ sách”.

Nhớ lại một hôm tôi vừa đi bay về, trời đã sẫm tối, đang nằm nghỉ mệt trong phòng, áo bay còn mặc trên người. Bỗng có tiếng gõ cửa dồn dập…cộc…cộc…cộc.

Đang thiu thiu mơ màng, tôi ngồi nhỏm dậy.

- Ai đó…

- Em đây, mở cửa mau lên…

Vừa mở cửa, trước mặt tôi là thằng bé hàng xóm ở trước mặt nhà.

- Anh ơi, mau lên ra đây em chỉ cái này…, có con gì to lắm. Lúc nãy em đang ở trên sân thượng thì nó bay vù sát trên đầu em. Bây giờ nó đang đậu trên cột điện trước mặt nhà em đó.

Nghe thằng bé nói xong tôi vội vã xách khẩu súng M- 18 bước ra khỏi phòng, nhưng chợt suy nghĩ sao tôi quay trở lại đổi khẩu súng trường “Carbine” đang treo trên tường – giết gà không cần dao mổ trâu!

Trong khu tôi ở, rất nhiều con nít cỡ mười mấy tuổi coi tôi như “thần tượng”. Chắc vì bộ đồ bay trên người, cọng thêm khẩu súng đeo ngang hông còn khoác thêm cái áo lưới (survival vest), tôi trông giống như là cái gì “ghê gớm” lắm dưới đôi mắt của tuổi thơ.

Chạy theo thằng bé ra tới đầu đường. Một đám con nít cỡ mấy chục đứa đang bu quanh dưới chân trụ điện cao thế. Tôi ngước đầu lên nhìn, trên nền trời sẫm tối, hình thù một con gì đang đậu to gần bằng bên cục biến điện kế bên. Tôi chưa đoán ra loại chim gì quá lớn như vậy. Tôi nghĩ thầm: sau viên đạn này thì sẽ rõ. Đưa khẩu súng carbine lên nhắm kỹ càng sợ lạc đạn vào cục biến điện sát bên. Xung quanh đám con nít đang nín thở theo dõi “thần tượng” của chúng “biểu diễn tài năng”.

- Cạch…

Sau tiếng nổ nhỏ của viên đạn được chế biến lại của tôi, con vật đậu trên cột điện lộn nhào xuống đất đánh rầm.

Cả đám con nít hết hồn, nhảy lùi ra sau tránh… Tôi bước đến gần nhìn con vật. Trong ánh sáng chập choạng vừa sẩm tối, trước sự ngạc nhiên của tôi, một con gà tây bự tướng đang nằm xõa cánh bất động trên mặt đất.

Chiều hôm sau, khi đang ngồi quây quần tại quán Mộng với mấy người bạn cùng mấy em gái bên những món gà Tây đủ kiểu, cô chủ vừa sắp đồ ăn vừa cười tủm tỉm ghé tai nói nhỏ với tôi:

- Nè, để nói cho nghe, sáng hôm nay có Vĩnh Hy…, anh chú bác của anh ở gần nhà anh đó. Ổnh đến đây ăn sáng và ổng than phiền với tôi vừa mới mất con gà tây hôm qua, không biết thằng nào cả gan dám chui vào nhà ổng ăn trộm. Ổng dọa rằng nếu tìm ra thằng nào dám ăn cắp con gà tây của ổng thì sẽ biết tay…

Nghe cô chủ nói xong, miếng thịt gà tây tôi vừa mới nuốt chưa xuống như muốn mắc nghẹn…ngang cổ họng.

Làm chủ quán Mộng này là ba chị em ruột. Tất cả đều có “chủ” cả rồi. Cô lớn nhất là “sở hửu chủ” của một vị sĩ quan cao cấp trong ngành an ninh Không Quân của Không Đoàn 62 CT. Cô kế thì “dưới quyền” một anh bạn thân của tôi, Đại Uý Nguyễn Khoa Hoạt, tự nhận là Hoạt “đầu” (ma đầu?) trưởng đoàn chuyển vận Trung Tâm Huấn Luyện, em ruột của Đại tá Nguyễn Khoa Điềm, Chỉ huy trưởng Không Vận của Không Quân. Và cô chủ nhỏ nhất thì được sự “bảo trợ” của Đại Uý Trần Ngọc Đoan, trưởng phòng kiểm tục Cảnh Sát Nha Thành. Tất cả vị trên là “bộ chỉ huy hậu cứ” của quán Mộng, bao che mọi khía cạnh từ quân đội đến dân sự cũng như phương tiện chuyển vận. Riêng tôi thì được phong chức C.O.O. (Chief Operating Officer), sĩ quan quản lý mấy em “ca ve” làm việc cho vũ trường ban đêm, một công việc rất là “mệt mỏi” và “bận rộn”. Ngoài ra, ban quản trị “ngầm” này được sự yểm trợ của một số huấn luyện viên trường Phi Hành Nha Trang, như Đại Uý Huấn luyện viên Nguyễn Hữu Phúc với thân hình mảnh mai trên chiếc xe Lambretta bất hủ, Thiếu Tá Liễn cùng Đại Uý Đặng Minh Sơn, tự là Sơn “hèm”, đặc biệt phụ trách săn sóc “sức khỏe” của chị “tài pán” trong quán. Nói tóm lại, Quán Mộng được coi như là một hội quán làm nơi hẹn hò, ăn nhậu của đa số phi công cũng như những sĩ quan cao cấp tại thành phố Nha Trang.

Trong đó thấy sự có mặt thường xuyên Hải Quân Đề Đốc Châu, tự là Châu “cao bồi”, coi Trung tâm huấn luyện Hải quân Nha Trang; Chuẩn Tướng Lượng chỉ huy trưởng căn cứ Nha Trang; Đại Tá Đặng Duy Lạc sếp sòng Không Đoàn 62/CT ; Trung Tá Tôn Thất Lăng, Chỉ huy trưởng liên đoàn khóa sinh SVSQ của Trung tâm huấn luyện Nha trang, cũng là ông chủ của quán cà phê Liz lịch sự; Trung Tá Thông , Chỉ huy trưởng phòng vệ phòng thủ KD62/CT v…v…

Sau khi hiệp định hòa bình tại Paris được ký kết 27 tháng 1 năm 73 tại Ba Lê, tất cả mọi phi vụ hành quân của phi đoàn hầu như ngưng đọng, chỉ còn những phi vụ liên lạc hay những phi vụ linh tinh khác. Vào những lúc buồn và nhớ cầm cần lái, tôi thường lấy những phi vụ huấn luyện, bay vòng xung quanh thành phố hay bay quanh vùng ngoại ô hái những trái thanh long đỏ leo trên những cây rừng cao hay bắt vài con gà con thỏ về quán Mộng làm đồ nhậu. Về phía tây nam sát nách phi trường Nha Trang có một vùng đất trống thường được gọi là “Đồng Bò”, mọc nhiều cây rừng thấp, rời rạc, sống rất nhiều heo rừng, mễnh, gà, thỏ, công, giống như một sở thú nho nhỏ.Một buổi sáng đẹp trời, tôi cùng với anh bạn là Trung Úy Thái Hồng Đảnh, bạn bè chọc là Đảnh “chích” vì nước da men mét như người ghiền hút, bay chung một phi vụ duy trì khả năng. Trung Úy Đảnh “chích” là một hoa tiêu già dặn trong phi đội tải quân, bị phi đoàn nghi ngờ đã làm những chuyện bất hợp pháp trong những phi vụ liên lac, đã “khóa tay” anh ta bằng cách “đì” anh qua làm hoa tiêu phụ cho phi đội võ trang của tôi. Trong giai đoạn này Trung Úy Đảnh “chích” đã yêu cầu được bay chung với tôi thường trực để tránh tình trạng khó xử phải ngồi làm co-pilot cho một hoa tiêu đàn em. Có lẽ điều này những người trong nghề bay điều hiểu rõ. Buổi sáng hôm đó, sau gần hai tiếng đồng hồ bay lượn trên trời, tôi cho con tàu bay vòng lại gần dãy núi cao chót vót phía tây phi trường chừng năm sáu cây số, tiếp giáp với vùng Đồng Bò. Đột nhiên Đảnh “chích” chỉ lên sườn núi:

- Coi kìa, hình như có cái gì trên núi…, đó đó…

Theo tay của Đảnh, trên sườn núi cỏ xanh có một bóng đen nho nhỏ đang vạch cỏ leo lên đỉnh núi cao.

- Ờ thấy rồi.., à…, người hay con gì vậy?…

Đảnh “chích” chêm vào:

- Hình như người,… có khi nào là… mấy thằng tiền sát viên cho tụi Việt cộng pháo kích vào phi trường Nha Trang không?


[
Image
Thành phố Nha Trang và phi trường, núi Đồng Bò nằm phía tây nam, bên trái


Nghe bạn tôi vừa nói xong, không suy nghĩ tôi đẩy vội con tàu về hướng sườn núi. Khi chiếc trực thăng đến gần chừng vài trăm bộ, thì ra là một con gấu chó đen thui cao gần bằng người, đang ì ạch leo lên đỉnh núi. Hai đứa tôi trố mắt nhìn, ngạc nhiên không ngờ tại vùng này lại có gấu. Vốn tánh đã quen thói bắn giết, tôi liền đưa cần lái cho Đảnh “chích” .

- Mày lái đi. Tới gần gần một chút để tao “thịt” nó. Gió lắm đó coi chừng…

Lúc này trên tàu không có ai ngoài hai đứa tôi và một khẩu P- 38 tôi đang đeo ngang hông. Một vũ khí độc nhất, tôi không có quyền chọn lựa.

Chiếc trực thăng bay xề ngang như con cua , đưa hông trái sát dần vào sườn núi. Tiếng chém gió phành phạch vang dội cả vùng yên tĩnh. Con gấu thấy động, hốt hoảng chồm người phóng nước đại, hướng lên đỉnh núi. Thần kinh bị kích động trước con vật lạ lần đầu tiên được gặp, tim tôi đập thình thịch. Tôi ra dấu cho bạn bay gần hơn. Khi chiếc tàu chỉ còn cách con vật chừng mười thước, đột nhiên con gấu chó ngừng lại, quay người đứng hẳn lên, hai chân đưa cao trước mặt như làm một cử chỉ đe dọa. Hai hàm răng trắng lởm chởm nhe ra, miệng sủi bọt mép… Trong một động tác máy móc, tôi rút bên hông khẩu rouleaux, thò tay ra khỏi cửa bắn liên tiếp sáu viên đạn vào đầu con vật. Con gấu đáng thương phản ứng, đưa hai chân trước phủi loạn xạ lên mặt, giống như đang phủi những con ong mật tấn công khi chúng bị động ổ. Chỉ một giây sau nó té nhào, lăn lông lốc như trái banh, xuống tận gần chân núi rồi ngừng lại sau khi vướng vào một tảng đá to. Tôi đút vội khẩu súng lục vô hông, giật cần lái của Đảnh nghiêng cánh quạt lài theo triền núi, đến trên đầu con vật đang nằm ngửa đưa bốn chân lên trời, kế bên tảng đá.

Đang phân vân chưa biết sẽ phải đối phó như thế nào thì Đảnh “chích” đột ngột quay qua hỏi tôi:

- Này, …bây giờ… “thầy” định “xử trí” thế nào với con gấu này vậy?

Cái danh xưng “thầy” hay được những thằng bạn thân trong phi đoàn chúng tôi dùng, phần như để chọc ghẹo, đôi khi cũng có ý thán phục vì một hành động nào đó, đôi khi lại có ý mai mỉa, châm chọc… Những người ở trong quân ngũ, nhất là đã từng vào sanh ra tử mới có thể hiểu trọn vẹn được ý nghĩa của danh xưng này.

Câu hỏi bất ngờ của Đảnh “chích” làm tôi lúng túng không biết trả lời như thế nào. Đem con gấu lên tàu là một chuyện không thể làm được với độ dốc này cũng như với sức lực của hai chúng tôi. Chợt nghĩ đến ông bạn Hoạt “đầu”, “chỉ huy phó” quán Mộng, tôi liền có ý nghĩ nhờ anh phụ trách việc “thâu hồi” con gấu đang nằm kín đáo trên mõm đá này. Nhìn đồng hồ xăng đã gần cạn, tôi quay tàu rời sườn núi, đánh một vòng qua rừng dừa hoang kế cận cửa Bé, một làng chài ở gần Cầu đá, xong hướng mũi về phi trường chỉ cách chưa tới một phút bay.

Cho tàu bình phi khoảng năm trăm bộ xong, tôi định móc điếu thuốc lá ra hút xả hơi, đột nhiên thấy con tàu mất hẳn cao độ, đang rơi xuống như tàu vừa mới bị tắt máy. Tiếng động cơ vẫn nổ bình thường. Tôi chỉ có vừa đủ một giây ngắn ngủi để liếc thấy chiếc kim RPM trên đồng hồ vòng quay cánh quạt (rotation per minute indicator) đang xuống dần. Không còn thời giờ để suy nghĩ, đè mạnh cần cao độ xuống tận đáy, hướng con tàu vào bãi trống độc nhất trước mặt – một vũng nước nhỏ như hồ tắm, vây quanh bởi một rừng dừa. Con tàu như chiếc lá mùa thu lài nhanh xuống, rớt tủm ngay chính giữa vũng nước. Một con trâu rừng đen đủi, đang yên lành nằm ngâm mình dưới làn nước mát, tức thời vùng dậy, ba chân bốn cẳng phóng như bị ma đuổi, vừa kịp thời để khỏi bị đè bẹp bởi chiếc trực thăng. Tất cả biến chuyển đã xảy ra không hơn mười giây ngắn ngủi.

Đây là trường hợp trục trặc tương tự như khi xe hơi đang chạy bị bể hộp số, máy vẫn nổ nhưng chỗ nối trục máy với trục quay cánh quạt đã bị tách rời, cánh quạt không còn lực đẩy để quay nữa. Trong trường hợp này, không kịp thời hạ cần cao độ (collective control stick) thì cánh quạt sẽ giảm vòng quay rất nhanh, không phương cứu chữa, con tàu sẽ rơi như hòn đá cuội. Trường hợp khẩn cấp này (short shaft failure emergency) vô cùng nguy hiểm vì hoa tiêu không có đủ thì giờ để tìm hiểu nguyên nhân sự giảm cao độ đột ngột của con tàu.

Nếu biến cố này xảy ra sớm hơn chừng một phút thì con tàu của chúng tôi sẽ rơi ngay trên sườn núi và lăn lông lốc xuống chân đồi như con gấu vừa rồi. Qua nhiều lần thoát chết trong đường tơ kẽ tóc, tôi thường tự hỏi có phải vị Tử Thần quái ác nào đó chỉ muốn chọc ghẹo hay đùa giởn với tôi, nhưng hình như chưa muốn đem tôi đi vĩnh viễn?

Ngồi kế bên, ông bạn của tôi còn sửng sốt chưa hoàn hồn, lí nhí trong miệng:

- “Thầy”!… may tui bay với “thầy” không thì chết mẹ rồi.

Câu nói của Đảnh “chích” theo tôi hiểu, nặng phần diễn đạt một sự mừng rỡ vừa mới thoát chết hơn là một lời khen tặng.

Image
Trái sang phải: Vĩnh “gấu”, Huỳnh “râu”, Tr/t Khưu v Phát, Đãnh “chích”, Vĩnh Hiếu trong một chuyến đi hải đảo .

Posted: Thu Nov 03, 2011 6:51 am
by vuphong
Đang nôn nóng về đáp cho sớm để ra quán Mộng nhậu một chầu ăn mừng bắt được gấu, bỗng nhiên lại bị rơi tỏm xuống một vũng nước cạn. Trong cuộc sống, có lẽ bất cứ biến cố nào cũng có thể xảy ra trong những giây phút mà mình ít ngờ nhất.

Sau khi báo cáo với Phòng Hành Quân Chiến Cuộc tai nạn đã xảy ra, tôi móc điếu lúc nãy chưa kịp hút, đốt một hơi dài rồi ngã người trên ghế chờ tàu đến đón. Ngồi phì phà điếu thuốc, tôi nhìn xung quanh là một hồ nước cạn ngập tới bụng chiếc trực thăng. Tôi chơt phì cười khi có ý tưởng như mình đang ngồi trên một chiếc “ca nô” câu cá. Điếu thuốc chưa cháy tới phân nửa tôi đã thấy trước mặt một chiếc trực thăng đang lù lù bay tới, trong tiếng chém gió phành phạch quen thuộc. Tàu mang phù hiệu Long Mã của phi đoàn 219, một phi đoàn bạn đồn trú sát nách phi đoàn Thần Tượng.

Chờ cho tàu rescue đến gần tôi mở cửa leo ra, ngần ngừ một lúc rồi nhảy tỏm xuống. Mặt nước lên gần tới háng. Hai thằng lội lõm bõm leo lên sàn tàu cấp cứu. Trên ghế bay của chiếc Long Mã tôi thấy Trung Úy Kim “mập” đang cầm cần lái. Kim là test pilot và anh chú bác của Trung Tá Nghĩa, cựu phi đoàn trưởng 219 Long Mã, người đã bị mất cắp chiếc trực thăng khi đậu tại bờ hồ Xuân Hương, Đà Lạt mới đây. Tôi bắt tay chào Kim, thì anh bạn tôi kéo đầu tôi lại gần rồi ghé miệng sát tôi nói t

- Tao đang bay test gần đây, nghe mày báo cáo với Phòng Hành Quân Chiến Cuộc, liền phóng tới đây “dzớt” mày lên cho lẹ. Mày có làm gì mà Trung Tá Bính biểu tao chở hai đứa mày đáp sân cờ, ổng đang đứng đó chờ tụi mày đó.

Tôi chẳng hiểu chuyện gì đã xảy ra ? Bụng phân vân suy nghĩ : hay là đài kiểm báo đặt trên núi gần phi trường nhìn thấy những gì chúng tôi đã làm. Chuyện vô lý, chưa bao giờ xảy ra, tôi la lớn với Kim:

- O K,…Thì mày cứ đáp,… tụi tao đâu có làm cái đ. gì mà sợ.

Tuy nhiên sau khi nói xong, tôi gỡ nguyên dây đạn và súng lục ra đưa cho Kim cất giùm, để chứng minh cho bất cứ ai chúng tôi là những người hoàn toàn “trong trắng”.

Trước sân cờ, Trung Tá Bính, Không Đoàn phó KD/62 và Trung Úy Hiến Phòng Hành Quân Chiến Cuộc đang đứng chờ. Tôi và Đảnh “chích” nhảy xuống đất, tay xách đôi bốt-đờ-sô, tay xách nón, đi chân đất, áo bay ướt lên tới bụng, bước tới chào Trung Tá Bính. Sau khi trả lời Trung Tá Bính một vài câu hỏi về tai nạn, mọi người vui vẻ tan hàng.

Sau vụ rớt tàu này, chúng tôi đã được Không Đoàn 62 Chiến Thuật, ban cho một bằng ” tưởng lục phi dũng bội tinh”- khả năng lèo lái con tàu bị nạn. Không biết sự ban thưởng cái “dũng cảm” của tôi trong phi vụ này có dính líu gì đến vụ bắn con gấu trên sườn núi không?

Một tuần lễ sau, một con gấu chó nhồi bông đã được đặt ngay chính giữa sân khấu quán Mộng để tất cả thực khách có quyền thưởng lãm. Tôi chợt nghĩ đến bằng ban khen của tôi cần phải viết thêm tên Đại Uý Hoạt “đầu” vì có công lao và “can đảm” băng rừng lội suối để đem con gấu về đi nhồi bông.

Một thời gian sau đó, trong buổi sáng chủ nhật đẹp trời, quán Mộng đầy những thực khách, đa số là mấy ông đi bay, đủ mọi thành phần lon lá. Tôi đang ngồi trên quầy rượu ăn tô hủ tiếu Nam Vang nổi tiếng của quán với Đại Uý Đoan, cảnh sát, người “bảo trợ” cô chủ nhỏ nhất trong quán. Kế bên tôi là một cái bàn đặt gần sân khấu, ngồi hai ba vị sĩ quan cao cấp, trong đó đặc biệt có Đại Tá Đặng Duy Lạc, Chỉ huy trưởng Không Đoàn 62 Chiến Thuật, cũng là một phi công phản lực A- 37, rất đáng kính và chịu chơi nổi tiếng trong Không Đoàn tác chiến. Sau khi ăn xong, mấy vị sĩ quan đang uống bia hút thuốc và nhìn con gấu đang đứng nhe răng trên sân khấu chỉ chỏ, bàn tán. Đột nhiên, Đại Tá Lạc quay qua tôi đang ngồi trên quầy kế bên, rồi hỏi với một giọng điệu nửa đùa nửa thật:

- Này anh,…có phải con gấu này “xuất xứ” từ mấy “ông” trực thăng không ?

Tôi nở nụ cười cầu tài rồi trả lời liền không hề suy nghĩ:

- Dạ,…thưa Đại Tá, chắc không phải đâu. Tôi nghĩ vùng này làm gì mà có gấu Đại Tá…Có thể bà chủ quán mua của mấy người Thượng trên Ban Mê Thuột đó…Nói xong tôi cúi mặt xuống tô hủ tiếu đã gần cạn, tiếp tục xì xụp ăn như đã bị bỏ đói ba ngày.

Cuốn phim dĩ vãng lần lượt trôi qua trong đầu, giờ đây quán Mộng với “những ngày xưa thân ái” đang nằm im lìm trong đêm khuya vắng lặng. Những ngày khách vào ra tấp nập, những cuộc vui gặp gỡ bạn bè sau những chuyến bay mệt mỏi căng thẳng, những đêm tiếng nhạc trầm bỗng trong tay người bạn gái dưới ánh đèn màu, tất cả đã tan biến vào hư không. Con đường Biệt Thự vắng vẻ dưới ánh đèn đêm, chị bán hàng rong từ hướng biển đi ngược chiều, gánh hột vịt lộn nhịp nhàng kẽo kẹt trên đôi vai gầy guộc. Những bước chân tôi rời rạc trên con đường xưa, bây giờ hình như đã trở thành xa lạ.

Nha Trang biển đầy, tình yêu không có đây
Tôi như là con ốc, bơ vơ nằm trên cát
Chui sâu vào thân xác lưu đầy
Dã tràng ơi! Sao lấp cho vơi sầu này?
Image
Nha Trang lúc rạng đông
Từ quân trường đến chiến trường

Căn nhà tối om không một ánh đèn khi tôi trở về, những cây ăn trái trong vườn im lìm bên những chậu bông hồng ba tôi săn sóc mỗi ngày. Tôi đứng trên vạt sân tráng xi măng trước nhà nhìn lên bầu trời đen hàng vạn ánh sao lấp lánh. Những viên đạn lửa bất chợt xẹt lên cao rồi vụt tắt. Lác đác vài tràng súng văng vẳng đâu đó cùng với tiếng chó sủa đổng trong một không gian im lắng lạ thường.

Đứng một lát, tôi về phòng thay đồ leo lên gường. Nằm trằn trọc mãi không ngủ được, những tư tưởng mông lung cứ quay cuồng trong đầu. Tôi nghĩ đến tương lai rất gần đây, tôi cũng như tất cả muôn ngàn chiến sĩ khác sẽ ra sao khi chiến tranh chấm dứt theo chiều hướng bi đát này. Cuốn phim cuộc đời binh nghiệp của tôi tuy không dài, nhưng đầy những cảm giác cao độ sát cạnh với tử thần cùng với bao nhiêu giây phút thú vị ngao du trên khắp nẻo đường đất nước. Những ngày tung mây lướt gió của tôi trên con tàu quen thuộc sẽ không còn nữa, nghiệp bay bổng là con đường tôi đã chọn và say mê không ngờ sẽ kết thúc quá sớm!

Nằm vắt tay lên trán, tai nghe tiếng thạch sùng chắc lưỡi, điếu thuốc lập lòe trong đêm, những hình ảnh cũ từ lúc chập chững bước chân vào quân trường đến những ngày dong duổi trên vòm trời quê hương chập chờn, ẩn hiện trong tâm trí…

Tôi đã gia nhập Không Quân trong thời gian Quân Đội VNCH bành trướng nhanh. Trung tâm Huấn luyện Không Quân tại Nha Trang không đủ sức để chứa một số lượng khóa sinh quá lớn. Những người khóa sinh mới được gủi đi học giai đoạn căn bản quân sự tại những trung tâm huấn luyện Bộ Binh khác. Đồng Đế là nơi tôi đã được gủi đến để học giai đoạn II căn bản quân sự.

Lúc xưa đây là trường Biệt Động Đội Thể Dục Đinh Tiên Hoàng, sau đổi thành Trường Hạ Sĩ Quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Dân địa phương thường gọi là “Trường Đồng Đế Nha Trang” hoặc “Trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế” để thay cho nhóm từ ngữ danh xưng trước quá dài. Đây là một quân trường kiểu mẫu, cũng là một lò luyện thép đã cung ứng hàng trăm ngàn chiến sĩ xuất sắc cho chiến trường miền Nam.

Trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế nằm phía bắc Nha Trang khoảng bốn cây số, gần cạnh bờ biển, dưới chân núi Hòn Ngang hùng vĩ, nơi có ngọn đèo tên thật là lạ lùng – đèo Rù Rì. Từ xa Hòn Ngang trông giống như một người con gái nằm xỏa tóc đợi người yêu. Ngang lưng chừng núi là tượng của một người lính đang đứng thao diễn nghĩ, sơn màu trắng nổi bật trên nền xanh cây cỏ. Có một câu thơ lưu truyền sau đây đã nói lên ý nghĩa đó:

Anh đứng ngàn năm thao diễn nghỉ
Em nằm xõa tóc đợi chờ anh !

Mỗi khi ngồi trên chiếc trực thăng bay ngang nơi này tôi không bao giờ quên để mắt nhìn xuống nơi tôi đã từng đổ mồ hôi trong bao nhiêu tháng trường, và đặc biệt bức tượng người lính đứng thao diễn nghỉ sơn màu trắng toát dựng lưng chừng ngọn núi cao chót vót là nơi tôi đã mất hơn nửa ngày và gần một “bi-đông” mồ hôi để leo lên, trên vai vác khẩu trung liên nặng chĩu trong ngày di hành dã trại cuối khóa.

Trở lại giây phút đầu tiên khi cả khóa tôi vừa mới bước chân đến quân trường Đồng Đế, tất cả tập họp ngay trước sân cờ. Một vị Thiếu Tá có một khuôn mặt nghiêm trọng, đứng chống nạnh trước hàng quân, tuyên bố:

- ” ….Các anh nên hãnh diện đã được gủi tới đây để huấn luyện. Đây là một quân trường thép, sẽ đào tạo các anh thành những chiến sĩ can trường dũng cảm. Các anh sẽ gia nhập một quân đội thiện chiến nhất để bảo vệ quê hương xứ sở chống bọn Cộng Sản xâm lăng.

Nghe tới đây, trong đầu óc còn ngây ngô, tôi muốn đưa tay lên nói lớn rằng :” Thưa Thiếu Tá…, xin Thiếu ta đừng quên rằng chúng tôi đã đầu quân để lái máy bay, chớ không phải để đánh giặc trong rừng!”. Nhưng tư tưởng “chống đối” đó chỉ lóe lên trong đầu chưa đến một giây liền tắt ngúm khi nghĩ đến mấy trăm cái hít đất đang chờ đợi.

Vị Thiếu Tá nói tiếp:

- Các anh có thấy gì không? Vừa nói vị sĩ quan vừa chỉ vào bức tượng người lính bằng tượng đồng đen mun, đặt cao trên bục xi măng giữa sân cờ.

- Vài tháng tới, khi các anh rời khỏi quân trường Đồng Đế này, tất cả các anh sẽ trở thành như bức tượng đồng đen này.

Bọn chúng tôi đứng trong hàng quân, ngơ ngác không hiểu ý vị Thiếu Tá nói gì. Có phải là chúng tôi sẽ thành thạo như người lính này hay là sẽ đen thui như tượng đồng đen, hoặc là cả hai?

Giây phút đó, trong đầu óc của những thằng con trai ngờ nghệch, chưa ai hiểu thâm ý của vị Thiếu Tá cán bộ liên đoàn trưởng cho đến khi chương trình huấn luyện bắt đầu. Một chương trình khắc nghiệt, sắt đá gần giống như chương trình huấn luyện của binh chủng Nhảy Dù (!). Trong những lúc thức khuya dậy sớm, tập luyện, có đôi khi quá nhọc nhằn, khổ cực, thân xác bị đày đọa ngoài sức chịu đựng, tôi phân vân tự hỏi con đường tôi đã chọn đây để trở thành một phi công tung mây lướt gió có phải là con đường sai lầm hay không? Nhưng tất cả rồi cũng phải trôi qua, những sự khổ cực đó đã phai mờ, trong tiềm thức tôi chỉ còn sót lại những hình ảnh đẹp, cũng như những giây phút tuyệt vời mà tôi đã có được trong thời gian thụ huấn tại một quân trường tọa lạc bên bờ biển xanh, với hàng dương vi vu trong gió.

Có một giai thoại đã xảy ra trong thời gian thụ huấn về một người bạn thân đã làm tôi nhớ mãi: anh Trần Văn Vân, đã không may tử nạn cùng với một fly-mate (người bay chung) trong một phi vụ ” team solo” ở trường bay Fort Hunter tại Hoa Kỳ, khi chiếc máy bay trực thăng UH-1 của anh vướng vào một sợi giây điện cao thế nổ tung. Khi mất, anh Vân đã chưa kịp biết đứa con trai đầu lòng của anh đã ra đời hai ngày trước đó. Gia đình còn lại của anh là một mẹ già và một người em gái đang sửa soạn, chuẩn bị chờ anh trở về nước trong hai tuần tới sau khi mãn khóa để cùng đón Xuân. Một điều nên biết anh là một khóa sinh phi công đậu ưu hạng (graduated with honors) tại Fort Wolters, Texas trong thời gian học bay giai đoạn I trước đó.

Image
Trần Văn Vân và Vĩnh Hiếu giai đoạn học sinh ngữ sau khi mãn khóa Đồng Đế

Trong một đêm thực tập hành quân, bên một bờ biển cát trắng dưới ánh trăng rằm vằng vặc. Sau một thời gian bố trí, đào hố cá nhân, phân chia canh gác, đại đội được lệnh tập trung tại bãi biển để điểm danh quân số. Dưới ánh trăng, những tiếng nói lao xao kêu tên điểm danh hòa lẫn với tiếng rì rào của sóng biển. Tất cả quân số đầy đủ, chỉ trừ trung đội tôi thiếu một người. Đếm lui đếm tới, sau cùng cũng vẫn còn thiếu một người. Vị Thiếu Úy cán bộ bắt đầu mất kiên nhẫn. Tất cả đại đội được tung ra lục soát tất cả mọi nơi, từ những bìa cây thấp, đến từng mọi hang hố ngõ ngách cho đến tận chân núi. Sau hơn một tiếng đồng hồ lục lọi chúng tôi đã “tìm ra” người “mất tích”. Khóa sinh dự bị sĩ quan Trần Văn Vân đang nằm ngáy khò khò dưới một hố cá nhân, trên bãi cát dưới tàng cây thấp.

Anh Vân được đem “giải giao” trước mặt vị Thiếu Úy cán bộ. Mặt dù ánh trăng chưa đủ sáng nhưng chúng tôi vẫn thấy rõ được nét “phẩn nộ” hiện rõ trên nét mặt. Trước sự ngạc nhiên của mọi người, vị cán bộ không hề la mắng hay chửi bới Vân. Ông ta chỉ ra chỉ thị cho anh bạn “thiếu ngủ” của tôi: cứ mỗi ba mươi phút Vân sẽ phải đi xuống biển ngâm mình dưới làn nước “mát lạnh” năm phút. Thi hành ngay. Bắt đầu từ lúc mười một giờ khuya cho đến sáng mai khi đại đội nhổ lều trở về trại. Anh Vân khỏi phải lo dậy đúng giờ để thi hành lệnh phạt, sẽ có người trong ca trực đến đánh thức anh. Có lẽ những ai đã từng ở trong đời lính đều đồng ý rằng, được nhắm mắt ngủ trong giai đoạn huấn luyện tại quân trường là một điều hạnh phúc “tối thượng”.

Những giây phút thú vị nhất của chúng tôi là được đi ứng chiến ở Ba Làng, một xóm chài lưới nhỏ sát mé biển được tạo lập bởi đa số người Bắc đánh cá di cư, chỉ cách quân trường chưa tới một cây số. Tôi không hiểu danh từ “dân ba làng” của một số người Trung thường dùng để ám chỉ những ai quê mùa, hay thiếu phong cách, có phải xuất xứ từ xóm chài này không?

Trong những đêm ứng chiến đó, sau khi treo chiếc võng dưới rặng dương liễu cạnh bãi cát trắng dưới ánh trăng vằng vặc, bốn năm đứa kéo nhau đến quán nhỏ sát bên bờ nước, ngồi trên chiếc bàn gỗ nhìn thẳng ra mặt biển phẳng lặng như nước hồ thu, phản chiếu ánh trăng bạc lóng lánh, cùng chia nhau vài chai bia với đĩa mực tươi rói chấm nước mắm gừng, rồi về nằm đong đưa trên võng hút thuốc lá nói chuyện đời lính, nghe tiếng rì rào của biển cả hòa nhịp với những bài ca trữ tình, văng vẵng từ chiếc radio nhỏ xíu treo đầu võng.

Nhớ lại những buổi chiều vàng, di hành dã trại trên đồi cao, gió biển lồng lộng, thổi phần phật chiếc lều cá nhân vừa được dựng lên. Xung quanh là một rừng ớt, trái chín đỏ rực cả một vùng. Ngồi trong chiếc lều “poncho” với hai ba người bạn thân, chia nhau bửa cơm vắt với thịt kho muối sả đựng trong hộp sữa “gi gô” được Mẹ gói ghém gửi vào, cắn trái ớt vừa tươi vừa cay, mới hái. Nhìn xuống dưới thấp, bờ vực dựng đứng, những con sóng bạc đầu nô đùa rượt đuổi, đập vào bãi sỏi tung bọt trắng xóa. Xa xa là những con thuyền đánh cá nhấp nhô trên mặt đại dương mênh mông xanh biếc một màu. Còn một cảm giác nào tuyệt vời hơn trong lòng của những người trai mới lớn đầy lý tưởng mộng mơ này?

Những giây phút đó, tôi mới thấm thía những bài tình ca của lính do nhạc sĩ Trần Thiện Thanh sáng tác, cho dù chưa có một người để yêu, để mộng mơ nhung nhớ.

Từ khi anh thôi học,
và từ khi anh khoác aó treilli
Từ khi anh xa nhà,
một ngàn đêm nhung nhớ giữa trời mây…

Ngày tháng trui luyện khổ cực tại quân trường Đồng Đế rồi cũng qua, tôi đã trở thành một sĩ quan phi hành chưa bao giờ rờ được cái đuôi của chiếc máy bay.

Không biết trường Đồng Đế có biến tôi thành một người lính thiện chiến như vị Thiếu Tá cán bộ đã nói trước hay không, nhưng chắc chắn đã biến tôi thành một tượng đồng, đen mun. Cái đen mun đeo đẳng tôi dai dẵng cho đến khi qua trường bay, cả vài tháng sau mới chịu buông tha.

Image
Khóa sinh Không Quân Bảo “địa” và Minh “mập” khóa 6/68 tại Đồng Đế
“Thao trường đổ mồ hôi chiến trường bớt đổ máu”, một câu mà tôi thấy gắn nhan nhản khắp nơi trong quân trường. Những bài học trầy da tróc vảy, những buổi di hành dã trại triền miên trong rừng sâu núi thẳm cùng những cuộc thao dợt súng đạn, bò dưới hỏa lực của những viên đạn bay vèo vèo trên đầu, hay những phút rứt tim đu giây tử thần, tất cả đã làm tôi đổ hàng chục lít mồ hôi. Nhưng sau này tôi cảm thấy mấy chục lít mồ hôi của tôi đã đổ ra chẳng thấy “dính dáng” gì tới công việc của tôi làm, đó là ngồi chết dí trên ghế bay sáu bảy tiếng đồng hồ một ngày lăn lộn trên trời cao. Tôi chưa bao giờ có một cơ hội nào để liệng một trái lựu đạn vào hầm của địch quân, cho nổ tung tóe ra như trong phim xi-nê, hay núp trong bụi rậm cầm khẩu súng trường nhắm kẻ thù từ lổ chiếu môn đến đỉnh đầu ruồi để bóp cò, ngoài chuyện bóp cò bắn mấy con chuột cống lấp ló dưới mấy chậu bông hồng của ba tôi.

Từ giai đoạn rời quân trường cho đến lúc chân ướt chân ráo mới về phi đoàn, ngồi rụt chân trên ghế bay của chiếc trực thăng võ trang, trố mắt thán phục nhìn vị đàn anh lái con tàu lướt vùn vụt sát trên đầu mật khu Việt Cộng, cho đến giờ phút thứ hai mươi lăm của cuộc chiến này, trong đêm khuya thanh vắng, nghĩ đến quá trình của cuộc đời bay bổng của mình, tôi đã trải qua biết bao nhiêu trận mạc, từ chuyện rượt đuổi những tên du kích lẻ tẻ cho đến đương đầu những trận chiến bùng nổ cấp sư đoàn. Không thể kể xiết bao lần con tàu chậm chạp lơ lững trên đầu trên đủ loại mọi họng súng của quân thù, nhìn thấy quá nhiều những người bạn đồng ngũ của mình gãy cánh, nổ tung ngang lưng trời, giã từ cuộc đời khi còn đang đầy nhựa sống. Còn riêng bản thân tôi, chưa bao giờ bị một viên đạn nào trên trận chiến làm nguy hại tới tính mệnh, hay hư hại con tàu đáng kể, ngoài những lổ lủng vô hại, trong khi tôi phải làm một công việc của một hoa tiêu trực thăng võ trang, luôn luôn phải đối đầu với hỏa lực của địch quân . Có phải đó là số mệnh an bài hay là chỉ là những sự may mắn tình cờ? Câu hỏi đó không ít thì nhiều có lẽ đã làm cho những người đã từng vào sinh ra tử thắc mắc suy tư, nhưng mấy ai tìm được câu trả lời.

Điều đã làm cho tôi cảm thấy éo le, nếu là không nói khôi hài trong cuộc đời chinh chiến, là một lần lãnh một viên đạn vào người và một lần đối diện với những viên đạn trong đường tơ kẽ tóc, mạng sống tưởng chừng như đã đi đứt. Hai lần đó không xảy ra trên trời cao khi đối đầu với quân địch, mà ở dưới đất, sau khi đã an toàn trở về từ mặt trận. Người ta thường hay nói: ” Đi sông đi biển không chết mà chết vì con lạch cỏn con”. Những chuyện tôi sắp viết lên đây để sẽ nói lên sự trớ trêu đó.

Trong những lần đi chơi ngoài phố, ban đêm tôi luôn luôn “lận” khẩu súng 22 ly nhỏ như gói thuốc lá vào lưng quần dấu dưới áo khoác, để bảo vệ tánh mạng trong những trường hợp nguy hiểm xảy ra bất ngờ. Khẩu súng đó đã được phi đoàn trưởng của tôi, Trung Tá Khưu Văn Phát, tặng riêng trong một trường hợp đặc biệt.

Một đêm khoảng hai giờ sáng, sau đi chơi trở về nhà với hai người bạn gái trên xe Jeep của ông bạn tôi, Trung Úy Thủy, Trưởng phòng nhiên liệu Không Đoàn 62/CT. Bước chân vào nhà, người đã mệt mỏi, mạnh cặp nào về phòng nấy. Tôi uể oải thay áo quần. Khi mở giây nịt, tháo nút quần, tôi quên bẵng mất khẩu 22 đang nhét bên hông. Khẩu súng rớt xuống ngay trên sàn gạch bông.

- Đoành!…Một tiếng nổ như tiếng pháo chuột vang lên trong đêm vắng.

Giật mình tôi nhìn xuống dưới, khẩu súng lục xinh xắn màu đen đang nằm trên sàn gạch nhà giửa hai bàn chân tôi. Tôi cúi xuống lượm và ngạc nhiên khi thấy từ ống quần một giòng máu đỏ tươi đang chảy xuống bàn chân trắng bóc suốt ngày mang giày “bốt đờ sô” của tôi. Sững sờ, tôi vén vội quần theo ngược dòng máu đỏ, một lổ nhỏ như đầu đủa nằm ngay bên trong bắp chuối, máu đang trào ra. Vội vã lấy ngón tay bịt ngay lổ để làm ngưng máu chảy, đồng thời tôi nghiêng đầu nhìn bên ngoài bắp đùi “hy vọng” tìm lổ thoát ra của viên đạn. Tôi không thấy gì ngoài một cục u nhỏ trồi lên – viên đạn đã đi xéo trong bắp thịt, tới gần da thì ngừng lại. Tôi bóp nhẹ bên ngoài thấy rõ ràng hình dáng của viên đạn nhỏ như đầu đủa đang nằm “yên nghỉ” trong thớ thịt của tôi. Lạ lùng thay, tôi không có một chút cảm giác đau nhức nào cả.

Vừa lúc đó, người bạn gái tôi từ buồng tắm chạy ra cùng với hai người kia từ phòng khác chạy vào. Tất cả cùng la:

- Trời đất ơi, chuyện gì vậy ?

- Không có gì đâu…mẹ,… xui quá, quên hẳn khẩu súng nhét trong người. Tôi cố lấy giọng bình tỉnh, rồi như tự an ủi, tôi nói tiếp:

- May mà nó trúng bắp chuối chứ lên thẳng một chút nữa đúng ngay giữa hai chân thì tàn đời…

Mọi người bu quanh nhìn vào chân tôi, không ai cười cả. Trung Úy Thủy lên tiếng:

- Thôi, tao phải đưa mày đi nhà thương rồi. Hai cô này thay đồ đi. Đại khái thôi, nhanh lên…

Thế là tôi lại phải choàng vai hai người bạn gái khập khểnh leo lên xe Jeep cùng với Thủy nhà thương trực chỉ. Tôi lầm bầm chửi thầm số con rệp khi nghĩ đến phải bỏ chiếc gường êm ấm và người bạn gái để lên nằm trên chiếc băng ca lạnh lẽo trong đêm khuya khoắc như thế này. Đây là viên đạn “oái oăm” độc nhất đã làm tôi bị thương, không phải từ quân thù mà từ một hành động bất cẩn của chính mình.

Một sự kiện thứ hai đã xảy ra cũng không kém phần bất ngờ, nếu không nói là “rức tim” đã xảy ra trong thời gian phục vụ tại phi đoàn Thần Tượng.

Trong một bữa dạ vũ nọ của một đơn vị bạn, tôi tình cờ gặp được một người con gái có một vóc dáng thật đẹp, cao ráo, có khuôn mặt rất Tây phương. Sau một vài câu chuyện trao đổi tôi được biết người đẹp đó là một thư ký riêng cho một vị sĩ quan cao cấp của Mỹ, cố vấn cho Không Đoàn 62 Chiến Thuật tại Nha Trang, ở một mình trong căn biệt thự rộng rãi nằm trong phạm vi của phi trường, kế cận đường Phạm Phú Quốc. Con đường này chỉ dài vài trăm mét, toàn là những villa đẹp đẽ, chạy từ phi đoàn 215 Thần Tượng của tôi ra tới biển, nơi đó có cổng ra vào phi trường cũng mang tên Phạm Phú Quốc. Có một sắc đẹp mặn mà như người bạn gái của tôi, không khác nào một đóa hoa dịu ngọt gần bên một tổ ong mật, đã được sự chú ý, tán tỉnh của rất nhiều chàng phi công hào hoa phong nhã cũng như nhiều người khác.
Image
Phi đoàn 215 Thần Tượng cuối đường Phạm Phú Quốc lúc xưa

Cũng nhờ cơ duyên đưa đẩy, từ lúc gặp gở sau một thời gian lui tới, tôi đã được người đẹp xem như là một người bạn gần gủi thân tình nhất. Từ đó tôi thường xuyên ghé đến nhà nàng. Trong nhà người đẹp lúc nào cũng đầy đủ mọi thứ bia rượu và đầy những đồ ăn mua từ P.X (Post Exchange) dành riêng cho những người Mỹ. Nhờ những tiện nghi cũng như phương tiện vật chất phong phú đó, tôi thường đem mấy người bạn trong phi đoàn của tôi như Trung Úy Thành Râu, Hổ hai của tôi trong phi đội võ trang, hoặc là Trung Úy Tôn Thất Kim cùng phi đoàn, được gọi là Kim “nhi đồng” thường đi vũ trường với tôi, đến nhà bạn gái mới ăn nhậu.

Tuy nhiên cuộc đời đã không đơn giản như tôi nghĩ. Trong đám những chàng trai trồng cây si, đặc biệt có một Thiếu Úy phòng thủ, người vui vẻ, cởi mở, dong dỏng cao có một giọng nói trầm ấm của người Hà Nội. Tuy làm việc cho Đoàn Phòng Thủ Phòng Vệ, nhưng buồn cười thay, anh ta luôn luôn bận đồ bay, đeo súng, đeo flare – súng báo hiệu cho những phi công bị rơi trong rừng – và thường mặc áo lưới cấp cứu (survival vest), một loại áo chỉ để dùng cho những phi công bận khi đi bay. Tôi có nghe phong phanh anh ta là con của một vị Đại Tá Không quân có chức vị lớn ở Tân Sơn Nhất và đã bắn chết một quân nhân Quân Cảnh nên phải thuyên chuyển ra Nha Trang để tránh sự rắc rối. Tôi vẫn xem anh ta như người bạn mới, thỉnh thoảng chúng tôi đi ăn uống với nhau, cho dù tôi có nghe một số người nói anh Thiếu Úy này là một người rất nguy hiểm, có tánh bạo động, nhất là sau khi có năm ba chai bia trong người. Điều này tôi chưa có cơ hội đễ kiểm chứng, cho đến một đêm nọ…

Sau một đêm dạ vũ tại Không Đoàn, tôi và cô bạn gái cùng anh Thiếu Úy phòng thủ trở về nhà trên chiếc xe Jeep của anh ta. Sau khi về đến nhà, cả ba đều khá say. Ông bạn Thiếu Úy muốn ở lại nhà cô bạn tôi ngủ và được nữ chủ nhân mời vào căn phòng dành riêng cho khách.

Mọi việc trôi qua êm đẹp. Tới khoảng ba giờ sáng, tôi đang triền miên trong giấc điệp bổng có tiếng gỏ cửa dồn dập, đồng thời nghe tiếng nói của anh Thiếu Úy phòng thủ:

- Mở cửa…, mở cửa….Mở cửa mau lên.

Mơ mơ màng màng, tôi và người bạn gái gật mình tỉnh dậy, chưa hiểu sự tình gì, thì nghe tiếng nói to qua cánh cửa:

- Mở cửa mau lên, có thằng nào đang ngủ trong đó không?

Tôi bắt đầu tỉnh ngủ nhưng cố làm lơ, hai đứa tôi không trả lời, thì tiếng gỏ cửa dồn dập tiếp tục.

- Mở cửa, mở cửa…, mau lên…

Muốn cho mọi chuyện trôi qua êm đẹp, tôi ghé tai người bạn gái thì thầm:

- Em mở cửa đi, anh vào phòng tắm. Em nói là anh đã về rồi.

Nói xong tôi ngồi dậy bước vội vào phòng tắm khóa cửa lại, xong đứng nép sát bên bức tường, lắng nghe. Sau tiếng cửa mở là giọng nói nhỏ nhẹ của người bạn gái tôi đang còn ngái ngủ:

- Ảnh về rồi, không có ai đây cả, anh có chuyện gì không ?

- Đừng nói dối,… tôi thấy xe nó còn đậu trước nhà. Chắc nó đang trốn đâu đây.

Sau câu nói giận dữ của anh Thiếu Úy một khoảng thời gian, tôi không nghe gì cả. Trong phòng tắm tối đen, chỉ còn lại hơi thở dồn dập trong lồng ngực cùng tiếng đập mạnh của trái tim tôi. Câu chuyện người lính bị anh ta bắn chết bất chợt trở về trong đầu tôi. Tôi đứng im, nép sát tường, đang nghĩ cách đối phó, đột nhiên có tiếng dộng cửa rầm rầm ngay cửa buồng tắm tôi đang núp:

- Mở cửa ra không tao bắn. Một, hai, ba,… mở cửa…

Tôi chưa kịp phản ứng thì nghe liên tiếp mấy tiếng nổ chát chúa: đoành, …đoành…, đoành…tiếp theo là tiếng thét lớn của cô bạn gái. Tấm kiếng treo trên tường trong phòng tắm tôi đang đứng vỡ toang rơi loảng xoảng xuống sàn gạch. Mấy viên đạn xuyên qua tấm cửa gổ, chỉ cách tôi chừng vài phân. Trong bóng tối, ánh sáng từ phòng ngoài chiếu qua mấy lổ đạn. Tôi đếm đúng sáu lổ, khẩu súng rouleaux đã hết đạn! Cơn thịnh nộ của tôi bùng vỡ như một hỏa diệm sơn. Tôi mở toang cánh cửa. Trước mặt tôi anh Thiếu Úy đang đứng, tay cầm khẩu súng còn bốc khói. Với tất cả sinh lực còn lại trong người cọng thêm cái đai đen Thái Cực Đạo mà tôi đã để mốc meo trong xó tủ từ ngày vào lính, tôi nhào vào người anh ta, tôi không nhớ rõ đã làm gì, nhưng không hơn mười giây sau, anh chàng điên khùng này biến thành một xác chết bất động nằm sóng soài trên sàn gạch bông. Bên cạnh người bạn gái tôi đang đứng co rúm trong bộ đồ ngủ, gương mặt nhợt nhạt, khiếp đảm. Sau vài phút đứng thở hổn hển để lấy lại hơi thở, tôi cùng người bạn gái hè nhau lôi cái xác xềnh xệch về phòng ngủ, bồng anh ta lên gường, đắp mền cẩn thận. Và trước khi rời phòng tôi không quên tước hết tất cả những viên đạn cũng như cây súng “flare” gắn trên giây súng anh ta treo đầu gường.

Đêm trôi qua, không động tịnh…, cho đến sáng hôm sau.

- Cọc…cọc…, mở cửa…., cọc…, cọc.

Mở bừng mắt dậy, ngoài trời đã sáng, tôi ngồi nhỏm dậy không suy nghĩ, bước nhanh tới mở cửa phòng ngủ. Trước mặt tôi, anh Thiếu Úy đã nai nịt gọn gàng, tay cầm khẩu rouleaux, nòng súng đen ngòm đang chỉa thẳng vào mặt tôi.

- Đ.m…, thằng nào đánh tao hồi tối, mày phải không?

Đinh ninh cây súng không có đạn, tôi trả lời đại khái cho qua chuyện:

- Ai mà đánh bạn, chắc tối hôm qua bạn quá say vấp té đâu đó thôi.

- Đừng có xạo, té sao mà tao bị bầm cả người đây, mày đánh tao phải không?

Người bạn gái đã dậy bước lại đứng cạnh tôi chen vào:

- Đâu đánh anh, tối qua anh say quá mà…

- Mày đánh tao hả, tao bắn chết mẹ mày luôn.

Anh ta hét lớn như muốn ăn tươi nuốt sống tôi, đồng thời một tiếng nổ đoành…như xé nát màng nhỉ. Tai tôi điếc rặc, chỉ còn nghe o…o…như tiếng vo ve của đàn ong đang bay. Cô bạn gái tôi hốt hoảng nhảy núp sau lưng tôi, như muốn dùng tôi làm cái bia đỡ đạn. Tôi đứng sững người bàng hoàng chưa kịp phản ứng, chưa hiểu tại sao tên khùng này lại còn đạn để bắn? Tôi nhớ rõ ràng đã rút từng viên đạn găm trên dây đeo súng của hắn. Hay là cái bao da bò nhỏ màu đen đựng đạn kẹp kế bên con dao mà tôi quên đã không mở ra xem?

Như đã tỉnh rượu, anh ta nhét súng vào bao rồi quay người bước ra khỏi phòng leo lên xe nổ máy chạy, sau khi phán cho một câu:

- Tao tha cho mày đó.

Tôi đứng ngẩn ngơ, lỗ tai còn ù. Còn người bạn gái tôi ôm cứng lấy tôi run rẩy, gần khóc. Chừng khoảng vài tiếng sau, tôi nghe tiếng xe Jeep tắt máy trước nhà. Có tiếng gõ cửa phòng, lần này nhẹ nhàng hơn trước.

- Trễ rồi dậy đi…, tôi xin phép mời hai người đi ăn sáng.

Quá đổi ngạc nhiên, tôi mở cửa. Lại anh chàng Thiếu Úy phòng thủ trong bộ đồ bay, không quên choàng thêm cái áo lưới “bất hủ”, đang tươi cười nhìn tôi trong một giọng nói của người Hà Nội nghe thật ngọt ngào:

- Hai bạn đi ăn sáng với tôi nhé, tôi mời. Cứ thong thả, tôi ngồi chờ ngoài phòng khách…

Anh ta nói như không hề có chuyện gì quan trọng đã xảy ra. Anh ta đã trở lại con người bình thường. Một điều lạ mà tôi vẫn không hiểu, tại sao trong lòng tôi không hề có một thái độ giận dữ hay oán thù người đã “tặng” cho tôi đúng bảy viên đạn rouleaux, suýt nữa đưa tôi qua bên kia thế giới. Hay là tôi đã được thỏa mãn tự ái khi nhìn thấy những vết bầm tím đầy trên thân thể của anh chàng điên khùng này chăng?

Đứng yên một giây, tôi nhìn mặt anh ta dò xét rồi bình thản trả lời:

- O K,.. chờ chút, tôi đi tắm đã…

Mười lăm phút sau, cả ba chúng tôi cùng leo lên xe jeep của phòng thủ chạy đến quán Mộng ăn sáng như ba người bạn thân tình vừa trải qua một đêm “vui” kinh hoàng. Đến nơi, anh ta không ăn, ngồi lau muỗng đũa tiếp chuyện cho hai chúng tôi ăn. Hôm đó tôi có cảm tưởng như đã ăn một bữa ăn sáng lạ lùng nhất trong đời.

Một thời gian sau đó, vì đã gây nhiều rắc rối khác, anh Thiếu Úy phòng thủ điên khùng này đã bị thuyên chuyển lên Pleiku và nghe nói anh ta đã tử thương trong một tai nạn máy bay trực thăng khi ngồi trong một phi vụ phòng thủ phi trường.

Sống chết có số. Đạn tránh người. Đó là những câu nói cho những ai tin vào định mệnh. Cũng như đến giây phút giờ thứ 25 của trận chiến tàn khốc này, tôi vẫn còn được nằm trên chiếc gường trong đêm khuya để suy tư. Ngày mai này dù có đi về đâu tôi phải bình tâm chấp nhận, như tôi đã từng chấp nhận ngay từ giây phút đầu tiên khi leo lên chiếc trực thăng võ trang để lao vào vùng trời ngập đầy máu lửa này.

Giấc ngủ chợt đến lúc nào không hay…, những tư tưởng đang vần vũ quay cuồng trong đầu đột tan biến vào hư vô, sâu thẳm…

Posted: Fri Nov 04, 2011 3:42 am
by quangminh
Image
‘Đại Lộ Kinh Hoàng’ trước khi được công binh của Việt Nam Cộng Hoà mang xe ủi qua, gạt các xác xe dạt xuống hai bên vệ đường,
mở một lố đi nhỏ trên mặt nhựa cho các xe tiếp tế đạn dược lên phía Quảng Trị̣, cũng như lấy thương binh và xác tử sĩ.

(Ảnh NgyThanh, chụp ngày 1 tháng 7, 1972)


Quảng Trị Mùa Hè Đỏ Lửa 1972
Hốt Xác Đồng Bào Tử Nạn trên "Đại Lộ Kinh Hoàng"

Lời giới thiệu:

Loạt bài bên dưới do ba người -- nhà văn Giao Chỉ, ký giả và phóng viên nhiếp ảnh NgyThanh, và cá nhân tôi, Trùng Dương -- viết từ ba góc nhìn về ba thời điểm khác nhau, song cùng một chủ đề:

“Đại Lộ Kinh Hoàng”, nơi gần 2.000 con người chạy loạn đã bị Cộng quân pháo kích chết thê thảm, không bút nào tả siết được, vào Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 khi Cộng quân từ phiá bắc tràn qua sông Bến Hải đánh chiếm Quảng Trị, trắng trợn vi phạm Hiệp Định Ngừng Chiến Genève 1954.

Nhân chứng sống, cựu Trung sĩ Phan Văn Châu, người đã sống và chứng kiến tận mắt cảnh đồng bào bị pháo kích Cộng sản tàn sát trên cái mà phóng viên chiến trường của nhật báo Sóng Thần, NgyThanh, đã đặt tên là "Đại Lộ Kinh Hoàng" sau khi anh và đồng nghiệp Đoàn Kế Tường là hai người đầu tiên đật chân lên đọan đường này hai tháng sau cuộc tàn sát, và Chương trình hốt xác đồng bào tử nạn trên ĐLKH do nhật báo Sóng Thần phát động-- (Trùng Dương).

(Giao Chỉ)


Khi đi tìm nhân chứng của một chiến trường hết sức oan nghiệt và thê lương, hết sức dũng mãnh và hào hùng, tôi vẫn không quên đoạn đường đầy xác người trên Quốc Lộ số 1.

Ngay khi chiến trường còn vương khói súng, cây bút nhẩy dù, đại úy Phan Nhật Nam đã viết “Mùa hè đỏ lửa”. Tác phẩm đem vinh quang cho tác giả đồng thời cũng làm khổ ông sau 1975. Nhưng trước sau “Mùa hè đỏ lửa” đã gắn liền vào tên tuổi Phan Nhật Nam.

Phải chờ đến 32 năm sau, Hà Nội mới xuất bản cuốn “Mùa hè cháy” của đại tá pháo binh “quân đội nhân dân” viết về trận pháo kích của trung đoàn pháo Bông Lau, trận pháo dã man trên đường di tản của dân Quảng Trị, giết chết hàng ngàn người và làm đoạn đường trên 2 cây số giữa con sông Thạch Hãn và Mỹ Chánh trở thành “Ðại Lộ Kinh Hoàng”.

Chúng tôi vẫn đi tìm xem ai là người đặt tên cho đoạn đường của trận thảm sát mùa hè năm 1972. Có lẽ chỉ trong chiến tranh Việt Nam mới có cái đại lộ mang tước hiệu kinh hoàng.

Anh phóng viên của bộ thông tin có mặt tại Quảng Trị nói rằng bác đi hỏi ông Lê Thiệp trên Washington, D.C. Khi quân ta phản công ở Mỹ Chánh, ông nhà báo Lê Thiệp có đi theo trên Quốc Lộ 1 qua lối này. Năm 2005 tôi có nhân dịp gặp ông Thiệp tại DC, ông nói rằng không biết tay nào đặt cái tên “Ðại lộ Kinh Hoàng” thật hay. Câu chuyện dừng tại đó.

Một lần khác, chúng tôi rao lên là muốn tìm gặp những ai đã chạy trên con đường ác độc vào đúng lúc địch pháo kích. Tôi biết có trung tá Lê Huy Linh Vũ của Tổng cục Chiến tranh Chính trị là người đã trải qua và đã viết lại thành cuốn sách. Con gái của Trung tá Vũ là họa sĩ Hương, Alaska, có cho phép chúng tôi in lại cuốn này để tặng các bạn. Nhưng ông Vũ nay không còn nữa.

Ðại tá Hà Mai Việt, tỉnh trưởng Quảng trị thời kỳ 1972 đã nói rằng: “Tại ông không lưu tâm đọc sách của tôi. Mở trang này ra mà xem, nhân chứng sống là ông Phan văn Châu. Tôi đã viết rõ từng trường hợp của trận Quảng Trị trong tác phẩm Thép và Máu. Ông nhân chứng này không những chịu đựng trực tiếp trận pháo trên quốc lộ mà còn nằm lại một đêm giữa các xác chết.” Sau cùng nhờ ông Hà Mai Việt, chúng tôi đã gặp nhân chứng sống. Trung sĩ Phan văn Châu, năm nay 68 tuổi, quả thực là một người dân tiêu biểu của miền đất Quảng. Qua máy điện thoại, dường như cả một trời tâm sự tuôn tràn. Những hình ảnh quê hương, chiến tranh, loạn lạc, pháo kích, khói lửa, lẫn lộn giữa trận 1972 và trận 1975.

Nói đến chuyện đất nước biết bao nhiêu địa danh: nào là Nhan Biều, Cầu Ga, Ái Tử, Mai Lĩnh, Cầu Dài. Rồi đến biết bao nhiêu con sông, bao nhiêu rạch nước. Âm thanh đất Quảng của người dân chân chỉ hạt bột, vòng qua quay lại để sau cùng trở về với cái ngày cả gia đình bỏ Nhan Biều mà đi.

Ông Châu nói rằng, lúc đó dường như mọi người đã chạy hết. Phan văn Châu là trung sĩ thông dịch viên cho ngành tình báo tại Ðà Nẵng đang đi công tác về Ái tử.

Ðến khi thiên hạ bỏ chạy hết, thầy thông ngôn trẻ tuổi mặc đồ dân sự cùng một đứa cháu, dẫn vợ có bầu với ba đứa con nhỏ, năm một, 6, 7, và 8 tuổi. Tất cả vội vàng ra đi bỏ lại phía sau căn nhà mới cất tại Nhan Biều bên bờ bắc của sông Thạch Hãn.

Vợ con đi trước một đoạn với gia đình bà chị. Thằng cháu và ông Châu đi xe gắn máy kéo theo một chiếc xe gỗ hai bánh. Hành trang chất đầy, người kéo, người đẩy, chiếc xe qua khỏi cầu Ga, đi được một đoạn dài đến 9 giờ sáng thì pháo nổ ngay trên đường. Con đường đầy người chạy loạn. Cả dân cả lính với đủ mọi thứ xe. Ða số đi bộ vì đường tắc nghẽn nên không thể đi nhanh. Ðạn rơi chỗ nào cũng có người chết. Xác bắn tung lên trời. Khói lửa mù mịt. Mạnh ai nấy chạy. Vợ con thất lạc ngay từ lúc đó. Ông Châu nghĩ rằng vợ con có thể đang ở phía trước. Nhưng phía trước hay phía sau thì cũng bị pháo. Khi pháo tạm ngưng thì có người lại tràn ra đi tới. Nhưng phần lớn nằm yên chịu trận. Có nhiều người không chết ở đợt pháo đầu nhưng rồi bị chết ở các đợt pháo sau. Nhiều xác chết trên đường bị pháo đi pháo lại nhiều lần. Bị thương rồi lại bị pháo rồi cũng chết. Biết bao nhiều người cố chạy cho thoát bỏ lại cả gia đình vợ con. Những đứa nhỏ nằm khóc bên xác mẹ. Những em bé sơ sinh bú vú mẹ đã lạnh khô. Có người còn sống thấy đó mà phải bỏ đi. Ông Châu và đứa cháu chạy về phía đông quốc lộ, vùi thây xuống cát mà chịu đựng một ngày pháo kích. Ðủ loại pháo của cộng sản thay phiên bắn phá suốt một ngày dài. Pháo 122, pháo 130 và pháo 155. Chỉ khi nào có B52 đến thả bom mới thấy địch im tiếng súng được một lúc.Toàn thân ông tê liệt dưới trời nắng gắt. Phải bò đến các vũng nước có cả phân trâu và máu người để uống.

Khi trời tối dần, tất cả đều im lặng và ghê sợ. Ông Châu và đứa cháu bắt đầu bò quanh lật các xác chết đàn bà và trẻ em lên xem có phải vợ con. Lật một xác phụ nữ mà ông nghĩ rằng người vợ, đầu óc ông mê muội. Thằng cháu còn tỉnh táo nói rằng không phải mợ. Mợ có bụng mà cậu. Mấy người khác còn sống cũng làm như vậy. Tất cả đi tìm xác thân nhân. Nhưng rồi trời tối hẳn, bộ đội Việt Cộng bắt đầu xuất hiện. Chúng tìm đến các xe nhà binh và tìm các quân nhân mặc quân phục bắt đi hết. Cậu cháu ông Châu khai là dân thường nên được lệnh phải nằm yên tại chỗ. Ðêm hôm đó, ông Châu thức trắng trên bãi cát đẫm máu của Ðại lộ Kinh Hoàng. Hình như có đôi lúc ông cũng thiếp đi. Cũng chẳng còn nhớ rõ.

Chung quanh toàn xác chết. Người chết nhiều hơn người sống. Những xác chết cháy như than củi . Ông nghĩ rằng chắc xác vợ con cũng quanh đây. Sáng hôm sau, từ sớm mai những người còn sống đành phải bỏ lại một cánh đồng xác ở đằng sau để chạy về miền Nam. Ði đến cầu Dài gần sông Mỹ Chánh thì gặp toán tiền sát của thủy quân lục chiến Việt nam chận lại. Khi biết chắc là không phải quân địch, ông trung úy thủy quân lục chiến phất tay cho qua. Vừa đi khỏi một đoạn đường thì thấy ông sĩ quan bị du kích phía sau bắn sẻ chết ngay tại chổ. Ðó là cái chết cuối cùng ông chứng kiến tại Quảng Trị.

Tìm xe quá giang về Huế với tâm trạng hết sức não nề. Nhưng rồi phép lạ đầu tiên đến với cuộc đời ông. Ngay tại khu vực tạm cư Phú văn Lâu, thuộc thành phố Huế, ông gặp lại đầy đủ vợ con. Bà vợ mang bầu đã dẫn ba đứa con nhỏ đi xuống đường ven biển theo dân địa phương. Ðoàn người đi xa quốc lộ nên tránh được pháo kích.

Vợ con dắt díu nhau đi suốt một ngày một đêm về đến Mỹ Chánh, rồi được xe cho bà bầu quá giang về Huế. Hai năm sau người vợ đầu tiên của ông Châu qua đời, sau khi sinh cho ông thêm ba ngưới con nữa. Cô gái còn nằm trong bụng mẹ trên đại lộ kinh hoàng năm nay đúng 37 tuổi, tốt nghiệp đại học và đã có gia đình, hiện cư ngụ tại miền đông Hoa kỳ.

Những bước chân trần ai trên bãi cát Quảng Trị mùa hè năm 1972 của bà mẹ mang bầu không biết có còn vương vấn chút nào trong lòng cô bé nghe pháo kích từ lúc chưa ra đời. “Tụi nhỏ chẳng biết gì đâu,” ông Châu nói. “Chỉ có đứa lớn nhất năm nay ngoài 40 tuổi là còn nhớ đôi chút.” Hỏi rằng thế ông có được bao nhiêu con tất cả. Ông tính nhẩm rồi nói rằng tất cả 10 con. Bà đầu tiên s áu con. Bà thứ hai ba con. Bà này bỏ tôi đi lấy chồng nên bây giờ vẫn còn ở Việt Nam. Tôi đưa cả ba cháu sang đoàn tụ bên này. Bà hiện nay ở với tôi có một cháu, năm nay cháu 24 tuổi rồi. Bà sau này có một con riêng. Như vậy là chúng tôi có 11 con. Thế bác có hạnh phúc không? “Hạnh phúc chứ. Tất cả là số trời,” ông Châu nói, “Cái đêm nằm ở đại lộ kinh hoàng, uống nước máu người và phân trâu tôi không bao giờ giờ nghĩ đến có ngày đi Mỹ như bây giờ. Tôi nghĩ bấy giờ vợ con chết hết thì mình sẽ ra sao. Làm sao tìm xác? Rồi chôn ở đâu? Hàng trăm xác người chung quanh, biết bao nhiêu xác trẻ con, vợ con tôi đều trong số đó. Không hiểu nó bắn pháo đạn gì quá ác. Tất cả xác chết như than củi chẳng làm sao biết được người nào là người nào.”

“Năm 1973 tôi có trở lại, đi qua con đường thấy có đài tưởng niệm, rồi có các mồ chôn tập thể, có mồ chôn riêng rẽ. Lòng tôi hết sức xúc động,” ông Châu nói. “Cho đến bây giờ tôi vẫn còn xúc động. Con cháu tôi thì nhiều nhưng mà làm sao các con hiểu được những gì tôi đã trải qua. Trận 72 quân ta mới lấy lại một nửa Quảng Trị. Ðứng bên này dòng Thạch Hãn, bên kia là Nhan Biều, nơi tôi ra đời còn cả ngôi nhà thân yêu. Bên ta đã bị địch chiếm bờ Bắc, chỉ giữ được bờ Nam, đến 75 thì bờ Nam cũng chẳng còn.”

“Vâng thưa bác, năm nay em 67 tuổi,” ông Châu nói tiếp, “Quê ở Nhan Biều, bờ bắc sông Thạch Hãn, ngay dưới cầu Ga. Nhà em thi vào làm trung sĩ thông dịch viên năm 1966 khóa 11 tại Quân đoàn I . Sau 75 em trốn được. Nếu khai thật chắc là bị buộc tội CIA. Sau đó em vượt biên rồi đoàn tụ. Trước sau ba vợ, 11 người con. Bà sau này là bà bền chặt nhất đã sống với nhau 25 năm. Vâng, thưa bác, đây chắc chắn là bà sau cùng. Gia đình em rất hạnh phúc. Phần em, dù có bị kinh hoàng nhưng cũng chỉ có một ngày một đêm. So với người ta có người cả đời kinh hoàng thì nỗi khổ của chúng em có thấm vào đâu.”

Ðó là câu chuyện của ông Châu, nhân chứng số 1 của chúng tôi. Tôi hỏi ông Châu câu cuối cùng.

“Ông có biết ai đặt tên Ðại Lộ Kinh Hoàng.” “ Không đâu,” bây giờ ông gọi tôi là cụ. “Cụ với cụ Việt không biết thì ai mà biết. Nhưng quả thực là kinh hoàng thực đấy các cụ ạ.”

Tuy hỏi vậy, nhưng tôi đã tìm ra ai là người đặt tên …

(Giao Chỉ)

Bài Viết Của Ngy Thanh
Năm ấy tôi 23 tuổi, mặc đồ lính mới được một năm, chịu trách nhiệm phòng nhiếp ảnh của Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 10 Chiến Tranh Chính Trị, KBC 3463, đóng tại bờ biển Thanh Bình, Đà Nẵng. Với số tuổi oắt con của thời chiến sau khi vừa rời quân trường chỉ một năm, tôi còn ngu ngốc lắm, lại ham vui, và hiếu thắng, ngày nào không ra mặt trận để chiều về làm bản tin hành quân, là một hổ thẹn với tất cả đạo quân phóng viên nằm tại Huế, một thành phố lỏng lẻo vì phần lớn thường dân và vợ con lính đã chạy vào Đà Nẵng, sau kinh nghiệm “di tản chiến thuật” khỏi Quảng Trị Đông Hà.

Bấy giờ, phía Nhảy Dù vẫn giữ cánh trái giữa Quốc Lộ 1 trải dài lên phía Động Ông Đô và căn cứ Barbara, đánh cuốn chiếu ra từ sông Mỹ Chánh. Thủy Quân Lục Chiến cặp sườn QL1 bên trái giăng hàng ngang theo sông Mỹ Chánh ra tới các làng Mỹ Thủy, Gia Đẳng ở trên bờ biển, cùng nhắm hướng tây bắc.

Hôm 1-7-1972 , đám phóng viên chiến trường "ăn cơm tháng ở quán ăn trước khách sạn Hương Giang Huế" không đi tập trung như mọi ngày, mà tản mác theo các đơn vị Nhảy Dù và TQLC bố phòng hơn là theo các mũi dùi tấn công chính trên đường đánh về Quảng Trị. Cái ngày rất dễ nhớ vì vừa chẵn 2 tháng sau khi ông anh họ tôi ném trái CBU-55 xuống cầu Đông Hà để diệt sống đoàn xe tăng T-54 đang qua cầu để tấn công phía sau lưng của quân Việt Nam Cộng Hoà đang "di tản chiến thuật", bỏ ngỏ phần đất tỉnh Quảng Trị, và tái bố trí ở bờ sông Mỹ Chánh. Hôm ấy tôi đi chung với Đoàn Kế Tường, cả hai chúng tôi là phóng viên chiến trường của báo Sóng Thần. Bên cạnh tình bạn, Đoàn Kế Tường là người Quảng Trị, anh cũng là quân nhân của một đơn vị pháo binh Sư Đoàn 3 Bộ Binh, nên rành rẻ đường đi nước bước trong thành phố, nếu chúng tôi có may mắn lọt vào được thành phố tái chiếm trong tư cách là phóng viên đầu tiên -- nhưng chuyện ấy sau mới xẩy ra trên đường Lê Huấn.

Khoảng 10 giờ sáng, đầu cầu Bến Đá vắng lặng và không có lính trấn thủ khi chúng tôi đến: những mũi dùi tấn công của Nhảy Dù và TQLC đã được trực thăng vận vượt sông đánh lên quá sông Trường Phước. Bến Đá bấy giờ có hai cầu. Cầu xe hơi trên QL1 bị phá sập, hoàn toàn không qua được. Chiếc cầu sắt xe lửa nằm ở phía núi gảy gục đoạn giữa cắm xuống sông thành hình chữ V, khu đất đầu cầu do quân VNCH trấn giữ trước đó đã được cài nhiều mìn chống chiến xa.

Thấy yên lặng và không có người, cả ta lẩn địch, hai chúng tôi bò theo khung cầu sắt gẫy qua bên bờ bắc, len lách giữa đám mìn chống chiến xa, để quay trở lại QL1.

Trước mắt chúng tôi, ngay trên bề mặt QL1, là xác xe chiếc ngược chiếc ngang, phần lớn giở mui không biết vì lý do gì. Trong nhiều xe cứu thương đã bị bắn cháy nhưng còn đọc được phù hiệu Hồng Thập Tự hai bên hông, chúng tôi nhìn vào cánh cửa xe hé mở và thấy xác thương binh chết nằm chết ngồi trong đó, mùi tử khí đã dịu thành mùi thối, thay vì mùi tanh nồng của xác người như khi mới chết ít hơn hai tuần. Chúng tôi tiếp tục lội xuống bãi cát hai bên đường, bãi phía biển có nhiều xác chết hơn bãi phía núi, có lẽ vì khi bị tàn sát, người ta có khuynh hướng chạy ra phía đông là khu vực có thể có người tiếp cứu mình, trong khi phía núi chỉ là vùng hoang vu, không có ai sinh sống. Trên bãi cát nầy chúng tôi thấy xác người lớn và xác trẻ em, xác quân nhân và xác thường dân, cảnh sát. Nhiều xác úp mặt chồng lên nhau, có lẽ bị bắn chết khi đaang chạy tới để thoát hiểm và bị bắn từ sau lưng.

Vì không có xe cộ lưu thông, hai chúng tôi luẩn quẩn dọc đoạn đường xác người nầy trong vòng khoảng non cây số. Chúng tôi đã chụp (bằng phim) rất nhiều ảnh của đoạn quốc lộ nầy, khi công binh VNCH chưa bắc cầu dã chiến qua sông Bến Đá, nên hình chúng tôi chụp còn nguyên vẹn bãi chiến trường. Tấm ảnh duy nhất còn lại hiện được lưu giữ tại :
http://www.pbase.com/ngythanh/image/78971287

Vào xế trưa, công binh bắc xong cầu, và mang xe ủi qua, gạt các xác xe dạt xuống hai bên vệ đường, mở một lối đi nhỏ trên mặt nhựa cho các xe tiếp tế đạn dược lên phía Quảng Trị, cũng như lấy thương binh và xác tử sĩ về. Do đó, ngoài hình ảnh của chúng tôi, những hình chụp sau khi xe ủi qua, đã không còn cảnh nguyên thủy của nét kinh hoàng.

Buổi tối về tới Huế, như mọi khi, tôi gọi cho anh Đỗ Quý Toàn bên Phú Nhuận để nhờ anh ghi lại tin tức về hoạt động của chúng tôi trong ngày, để sau đó anh ấy chuyển cho anh Đỗ Ngọc Yến, là người ngồi cạnh anh Uyên Thao, tổng thư ký tòa soạn. và các anh Trương Cam Vĩnh, Đường Thiên Lý để làm tin và chọn tin. Anh Yến vẫn chuyển tin của chúng tôi tới anh UT như thế mỗi ngày. "Đại Lộ Kinh Hoàng" là cái tên tôi chọn làm đề tựa bài viết ngày hôm ấy. Chọn "Đại Lộ Kinh Hoàng" thât ra cũng chỉ do một phút ngẩu hứng thôi, như môt vế cho câu đối "Con Phố Buồn Thiu" (La rue sans joie) mà Bernard Falls đặt cho hương lộ 555 chạy dọc bờ biển Quảng Trị, cách đó vài cây số, trong thời kỳ chiến tranh Đông Dương Lần thứ nhất, 1946-54.

Vài tuần sau, chị chủ nhiệm Trùng Dương và anh chị em Sóng Thần tổ chức chiến dịch thu lượm xác người trên "Đại Lộ Kinh Hoàng". Tòa báo bỏ chi phí ra làm việc nầy.

Đích thân chủ nhiệm từ Saigon ra ăn chay nằm đất với chúng tôi, hàng ngày kết hợp với anh Nguyễn Kinh Châu, trưởng văn phòng đại diện Sóng Thần Huế, và các thân hữu, chúng tôi liên tục tới hiện trường thu nhặt xác chết gói vào từng bao nylon, trước khi bỏ vào quan tài bằng gỗ thô sơ, mai táng ở một khu đất xin được ở phía đông của QL1, ở làng Mỹ Chánh. Khi làm việc nầy, chúng tôi không treo băng dựng bảng để khoe công. Tấm bảng thật lớn cắm ở đầu cầu bên trái sau khi qua khỏi cầu Bến Đá (trước ngày mất nước) là do lệnh của Tổng thống Thiệu. Bốn chữ "Đại Lộ Kinh Hoàng" là chữ của tôi, nhưng bên dưới tấm bảng ghi là "Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu".

Những chuyện vụn vặt quanh cái tên ĐLKH đã cũ quá rồi, tôi không nhớ hết. Anh Uyên Thao còn sống. Anh Đỗ Quý Toàn còn sống. Ký giả Anh Điển còn sống. Chị Trùng Dương còn sống. Đoàn Kế Tường còn sống (đang làm báo Công An TP HCM). Tôi quý anh [Giao Chỉ, trong nhóm thực hiện phim tài liệu Quảng Trị] nên ghi lại một ít chi tiết để anh đọc chơi, nhưng nếu có ai muốn nhận bốn chữ "Đại Lộ Kinh Hoàng" là của họ, thì cứ giao cho họ, anh ạ. Mất nước, nhưng chúng ta còn nhiều việc phải làm hơn là tranh nhau cái chức vị "tác giả" của bốn chữ sáo rỗng ấy.

Houston, Tháng 9, 2009
Ngy Thanh

Bài Viết Của Trùng Dương

Viện Bảo Tàng Thuyền Nhân và Việt Nam Cộng Hòa với trụ sở đặt tại San Jose, California, qua nhà văn Giao Chỉ Vũ Văn Lộc, vừa chuyển đến chúng tôi lời mời tham dự vào việc thực hiện cuốn phim tài liệu về trận phản công tái chiếm Quảng Trị của quân đội Việt Nam Cộng Hòa vào Mùa Hè 1972. Đây là một trong một loạt phim tài liệu nhằm viết lại lịch sử 20 năm của Việt Nam Cộng Hòa trong đó, theo Viện BTTN&VNCH, loạt phim Chân Dung Người Lính Việt Nam Cộng Hòa gồm bốn DVD, tổng cộng 8 giờ, được coi là “sản phẩm tiêu biểu".

Ông Lộc cho biết Viện BTTN&VNCH hiện đang xúc tiến thực hiện một bộ phim tài liệu về trận Quảng Trị 1972, còn gọi là "Mùa Hè Đỏ Lửa", khi Bắc quân đem quân và chiến xa tràn qua Vùng Phi Quân Sự tại vĩ tuyến 17, trắng trợn vi phạm Hiệp Định Geneve 1954, xâm chiếm Quảng Trị vào tháng 3-1972, song bị quân đội VNCH đẩy lui sáu tháng sau đó.

"Trong chiến tranh VN có ba trận đánh quy mô cần quan tâm. Đó là trận Mậu Thân, Hoa Kỳ gọi là Tet Offensive 1968. Trận thứ hai là trận Quảng Trị 1972, Hoa Kỳ gọi là Easter Offensive. Trận thứ ba là 30-4-1975," Ông Lộc cho biết trong lá thư gửi tới thân hữu. "Lịch sử chiến tranh Việt Nam cần có một phim tài liệu về Quảng Trị. Ðây sẽ là phim đầu tiên."

Được biết cuốn phim tài liệu về Quảng Trị sẽ gồm hai đĩa. Ðĩa thứ nhất dành cho thời gian từ ngày lui binh sau khi thất thủ Đông Hà - Quảng Trị từ cuối tháng 3 đến đầu ngày 1-5-1972; và đĩa thứ hai dành cho thời gian phản công từ tháng 5 đến tháng 9-1972. Bộ phim Quảng Trị là một phần của chương trình sản xuất các tài liệu song ngữ của Viện BTTN&VNCH để phổ biến khắp thế giới và dành cho thế hệ tương lai.

Chúng tôi được ông Vũ Văn Lộc mời đóng góp vì những bài báo của các phóng viên chiến trường của nhật báo Sóng Thần tường thuật tại chỗ về Mùa Hè Đỏ Lửa, mà một trong những tác giả của những bài tường thuật bấy giờ hiện có mặt tại Hoa Kỳ, là NgyThanh, có thể đóng góp cho dự án phim tài liệu với tư cách một nhân chứng.

Nhật Báo Sóng Thần, do tôi làm chủ nhiệm và chủ bút, cố nhà văn nhà báo Chu Tử làm chủ biên và ký giả Uyên Thao, hiện định cư tại Virginia, làm tổng thư ký, ngoài phần vụ thông tin, đã có những đóng góp ngoài nghề nghiệp mà chúng tôi, vì tính chất nhân đạo của những việc này, ít khi đề cập tới.

Trước hết, về mặt thông tin: Khi chiến trận bùng nổ, văn phòng đại diện Sóng Thần Quảng Trị do anh Nguyễn Quý coi sóc phải di tản vào Huế, sáp nhập với văn phòng đại diện Sóng Thần Huế do anh Nguyễn Kinh Châu điều hành, cộng với NgyThanh đặc phái viên Sóng Thần Quân Khu I từ Đà Nẵng ra tăng cường. Kết quả là nhờ số nhân sự đông đảo của văn phòng ba tỉnh nhập lại, chúng tôi may mắn có đủ lực lượng để bao sân nhiều lãnh vực. Đặc biệt là nhờ văn phòng trưởng Nguyễn Kinh Châu, vốn là một "thổ công" địa phương, có nhiều móc nối quen biết từ cấp tỉnh trưởng trở xuống; Đoàn Kế Tường, quân nhân đồng thời cộng tác với văn phòng Sóng Thần Quảng Trị, vì “đánh mất” Quảng Trị nên ngày nào cũng bám theo các mũi dùi tái chiếm với lời thề sẽ là nhà báo đầu tiên đặt chân trở lại thành phố thân yêu; Trần Tường Trình theo chân Sư Đoàn 1 kiên cường trấn thủ Bastone, Birmingham và Tà Rầu ở cạnh sườn phía tây; và Ngy Thanh, phóng viên và cũng là một nhiếp ảnh viên xông xáo, ra bám trụ tại Huế để hằng ngày theo các mũi tiền quân của QLVNCH săn tin. Trong khi nhiều ký giả trong nước cũng như ngoại quốc, lúc ấy vì bất ngờ, chưa kịp trở tay, thì Sóng Thần đã có tin cập nhật hàng ngày do các đặc phái viên “nằm vùng” của các văn phòng này gửi về. Do đấy, báo Sóng Thần có số bán lớn nhất trong thời kỳ này.

Song có lẽ một trong những điều đáng nói hơn cả, và cũng ít người biết tới, là chương trình hốt xác của ngót 2.000 đồng bào thiệt mạng vì pháo kích lẫn bom bay đạn lạc trên đoạn Quốc lộ 1 từ cầu Bến Đá tới cầu Trường Phước – đoạn đường máu mà NgyThanh trong bài tường thuật qua điện thoại tối 1-7-1972 đã gọi bằng tên "Đại Lộ Kinh Hoàng", và bốn chữ đó trở thành tên của đoạn quốc lộ của Tử Thần này.

Ngay sau bài tường thuật tại chỗ và những hình ảnh do NgyThanh chụp cảnh máu đổ thịt rơi của các nạn nhân, anh chị em Sóng Thần chúng tôi ở mỗi nơi không hẹn mà gặp trong tâm tư dằn vặt về vô số xác chết phơi nắng dầm mưa trên Đại Lộ Kinh Hoàng. Hồi ấy Nhật Báo Sóng Thần đang thực hiện chương trình "Sống Một Mái Nhà" và tòa soạn ủy thác việc trông coi cho Vũ Ngọc Long, một sinh viên trẻ tới với nhóm ST từ khi còn phôi thai. Hàng tuần hay tháng, tôi không còn nhớ rõ, Long đều đặn dẫn một số sinh viên học sinh tình nguyện đi xây lại nhà cho một gia đình nghèo ở quanh thành phố Saigon. Khi chúng tôi ngồi lại bàn với nhau về việc phải làm một cái gì cho các nạn nhân chiến cuộc này, ký giả Đường Thiên Lý đề nghị quyên tiền để giúp hốt xác nạn nhân và đặt tên cho chương trình này là "Thác Một Nấm Mồ", có lẽ là cho có được tính liên tục với chương trình do Long trông coi. Trong khí đó ngoài miền Trung, không hẹn mà Nguyễn Kinh Châu cũng bàn bạc với cố bác sĩ Phạm Văn Lương, người trông coi văn phòng Sóng Thần Đà Nẵng. Hai anh đồng ý nhân danh tập thể Sóng Thần để tiến hành thu nhặt xác, và anh Lương gọi vào Saigon đúng lúc chúng tôi cũng vừa bàn xong, và định gọi ra xin quyết định của các văn phòng địa phương.

Máu chảy ruột mềm, đáp ứng của độc giả đối với lời kêu gọi đóng góp của Sóng Thần cho chương trình "Thác Một Nấm Mồ" vừa mau mắn vừa đông đảo, cho thấy tính nhân bản và tình thương rất cao của người Việt miền Nam đối với các đồng bào ruột thịt miền Trung thiếu may mắn chết mà chưa yên, thân xác còn phơi nắng dầm sương ròng rã đã nhiều tháng trời, khiến không ai là không khỏi đau xót. Tôi được anh chị em trong nhóm chủ trương tờ báo đề cử đem gói tiền đầu tiên góp được ra Huế trao anh Nguyễn Kinh Châu để xúc tiến chương trình hốt xác.

Tôi không bao giờ quên được một tuần lễ ở Huế dạo ấy. Hồi ấy, tôi không nhớ đích xác tháng nào, quân Cộng hoà đã lấy lại được phần đất phía dưới Quảng Trị, nơi có đoạn đường có hỗn danh là Đại Lộ Kinh Hoàng, song chưa mở ra cho dân chúng vào vì chiến cuộc vẫn còn diễn ra, với đạn pháo tầm xa 130 ly của quân Cộng sản vẫn thỉnh thoảng rót xuống vùng này từ trên dãy Trường Sơn. Và hễ mỗi lần có pháo kích từ núi xuống là sau đó không bao lâu ta có thể nghe tiếng rung chuyển trời đất của máy bay bỏ bom B-52 dội bom phản kích.

Qua sự dàn xếp của anh Nguyễn Kinh Châu, chúng tôi – gồm anh Châu, NgyThanh, tôi, và cả chị Châu cũng không bỏ lỡ dịp xin đi theo trong một, hai chuyến đầu – vào được khúc đường này, mướn đem theo mấy người phu chuyên nghiệp cải táng. Đối với các ông thợ này – tôi để ý thường họ đem theo vài chai rượu đế, vừa để uống vừa để khử trùng – hốt xác không phải là việc xa lạ: Họ đã trở thành các tay chuyên nghề sau khi phía Cộng Sản chôn sống quá nhiều người trong vụ Tết Mậu Thân 1968 để họ thực hành việc hốt xác của nhiều ngàn người bị chôn trong những hố tập thể.

Ngày đầu nhặt xác dọc hai bên Đại Lộ Kinh Hoàng, tôi như đi trong một cơn mộng dữ, không uống rượu mà như say, bước đi mà chân như không chạm đất, giữa một bầu không khí đầy mùi tử khí trong một khung cảnh với nhiều chiếc xe, kể cả chiến xa, cháy rụi nằm ngang dọc đó đây, áo quần đồ đạc vương vãi bên những xác người đã rữa nát nằm chết đủ kiểu la liệt, trong đó có nhiều đàn bà và trẻ con.

Trong khi NgyThanh bấm máy không ngừng, tôi đi quan sát những xác người. Một trong những hình ảnh tôi nhớ nhất, tới tận bây giờ, là cảnh một người mặc đồ lính đã rách nát, nằm xoãi hai chân hai tay, đầu gối trên một khúc cây gẫy, khuôn mặt gần như chỉ còn xương với tí thịt rữa còn vương dính lại, hai hốc mắt là hai cái lỗ đen ngước lên như chất vấn trời cao. Tự dưng tôi nghĩ anh ta đã chỉ bị thương, chưa chết, đã cố lết tới đây nằm vật ra, mặt ngửa lên trời, và chết dần. Tôi tự hỏi anh đã nghĩ gì trước khi trút hơi thở cuối cùng. Mẹ cha, anh chị em, vợ con hay người tình ở đâu? Lớn lên trong chiến tranh và sống phần lớn ở Sàigòn, thỉnh thoảng có thấy người ta chết vì súng đạn, vì pháo kích, nhưng đây là lần đầu tôi thấy nhiều người chết như vậy, và chết đủ kiểu. Tôi có mô tả những cảnh này trong bài phóng sự đăng làm nhiều kỳ trên báo Sóng Thần, như một báo cáo lại với những nhà hảo tâm đã mau mắn đóng góp tiền bạc để chúng tôi thực hiện công tác nhân đạo này.

Những ngày kế đó chúng tôi hàng ngày, sau khi ăn sáng rất thanh đạm, chất nhau lên một cái xe cam-nhông nhà binh do anh Châu điều đình mượn được, cùng với mấy người thợ bốc xác, trở lại Đại Lộ Kinh Hoàng. Có lúc tôi ngồi xem mấy người thợ bốc xác làm việc, vừa nghe họ kể chuyện hồi hốt xác nạn nhân Tết Mậu Thân, như thể những gì đang diễn ra chưa đủ kinh hoàng bằng. Nào là có linh hồn nọ, linh hồn kia về than còn thiếu bàn tay, khúc xương, cái sọ, vv. Thỉnh thoảng có ông thợ ngưng tay lôi chai rượu đế ra nốc một ngụm. Vì họ làm việc bằng tay trần, không có bao tay, nên ruợu cũng còn được dùng để mấy ông thợ rửa tay trước khi ăn trưa.

Những gì có thể giúp để nhận diện xác chết, như thẻ căn cước, hay một món đồ đặc biệt nào đó tìm thấy gần xác đều được anh Châu ghi lại trong sổ tay, bên cạnh số của xác đã được ghi trên bọc plastic đựng xác. Tôi xem và ghi chép. Khi nào mỏi mệt, tôi ra đứng ngoài lộ nhìn lên rặng núi Trường Sơn, nhớ lại những mẩu chuyện nhà văn hồi chánh Xuân Vũ kể trong Đường Đi Không Đến, tự hỏi sao con người ta ở đâu không chịu ở yên đấy để xây dựng xã hội, phát triển kinh tế, vun sới đời sống và con người, như các nước khác trong vùng Đông Nam Á này? Sao gây ra chiến tranh? để chi? được chi? Rồi tôi ngóng về phía bắc lắng nghe tiếng súng vẳng lại từ phía Quảng Trị, nơi quân Cộng Hòa đang đánh chiếm lại từng thước đất đã bị Cộng quân chiếm đóng, và thầm cầu nguyện cho những người lính Cộng hoà.

Có lần, chúng tôi đang làm việc thì nghe mấy người lính Cộng Hòa gọi nhau ơi ới, và vẫy gọi cả chúng tôi. Anh Châu ra lệnh cho mọi người ngưng tay chạy tìm chỗ ẩn náu vì pháo kích từ trên Trường Sơn bắt đầu rót xuống quanh chỗ chúng tôi. Ai đó kéo tôi xuống một hố bom bảo bám chặt vào thành hố bằng cát, đã hẳn là dù vậy vẫn thấy mình từ từ tuột xuống vì cát rời. Tôi đang thắc mắc sao không xuống hẳn lòng hố cho chắc ăn thì có người chỉ cho tôi thấy một trái bom bi chưa nổ ở dưới lòng hố.

Mỗi chuyến xe chúng tôi chở xác về xếp trong ngôi trường của thị trấn Mỹ Chánh, nhiều người có thân nhân trong đám nạn nhân trên Đại Lộ Kinh Hoàng chờ chực sẵn ở đó xúm lại tíu tít hỏi thăm, mặt ai cũng bơ phờ, thất thần, thấy thương tâm hơn cả người đã chết nay không còn gì để phải vương vấn nữa. Trong một cuộc điện đàm gần đây với NgyThanh, anh Châu cho biết con số đích xác của những xác người đã được hốt về từ Đại Lộ Kinh Hoàng năm ấy: 1.841 xác. Một ngàn tám trăm bốn mươi mốt xác người, anh nói không một giây do dự hồi tưởng, như thể con số ấy đã được ghi tạc trên phiến đá của ký ức anh từ 37 năm qua chỉ chờ dịp bật ra khi được hỏi tới! Những xác người bất hạnh này đã được ch ôn tại một khu đất sau lưng trường tiểu học Phong Nguyên ở Mỹ Chánh, được biết tới với tên Nghĩa trang Đồng bào Chiến nạn Quảng Trị.

Cứ vậy mà một tuần trôi qua đến ngày tôi phải về lại Saigòn, trước sự bịn rịn của anh chị Châu. Tôi mất ngủ nhiều ngày sau đó, vì sợ thì ít mà vì những gì đã thấy đã khiến tôi như tê dại hẳn đi – cảm giác tê dại mà tôi lại được biết tới vào ba năm sau đó, ngày 30 tháng 4, năm 1975 ...

Vì nhận thấy đây là một sinh hoạt có tính cách nhân đạo, nếu đưa vào phim có thể làm loãng đi chủ đề của phim, đó là về cuộc chiến đấu dũng cảm của Quân lực Việt Nam Cộng Hoà nhằm tái chiếm lại Quảng Trị, nên chị em chúng tôi bàn nhau viết bài này để ghi lại một sinh hoạt mà nếu không ghi lại cho các thế hệ tới thì sẽ bị mai một đi, cùng với bao nhiêu câu chuyện khác của một thời Việt Nam Cộng Hoà nhân bản, đầy tình người, dù những hạn chế không tránh được của một chế độ vừa lo phát triển vừa phải lo chống lại tham vọng của những người quyết tâm áp đặt chủ nghĩa Cộng sản phi nhân lên phần đất tự do cuối cùng của Việt Nam.

Bài này cũng xin được coi là thêm một lần nữa, tri ơn những vị hảo tâm đã đóng góp để chương trình "Thác Một Nấm Mồ" được hình thành cách đây đã gần 40 năm. Đồng thời như một nén hương tưởng niệm những người đã bỏ mạng trên Đại Lộ Kinh Hoàng, xác phơi nắng mưa tới hơn hai tháng trời trước khi chúng tôi xin được phép vào tới nơi để làm cái việc hốt xác.



Oregon, Tháng 9, 2009).
Trùng Dương

Bảy tháng giữa xác người

(NgyThanh ghi lại, các chi tiết dựa theo buổi nói chuyện qua điện thoại với Nguyễn Kinh Châu từ quận Bình Thạnh, Saigon vào tháng 10-2009)

Ba mươi bảy năm sau khi cùng nhau cầm bao nylon lom khom lội vào vùng chiến sự để thu nhặt xác đồng bào bị thảm sát bởi đạn của Sư Đoàn Pháo Bông Lau mà cứ như lén lút vào kho tội ác của Cộng sản để đánh cắp, câu đầu tiên anh Nguyễn Kinh Châu nhắc đi nhắc lại với tôi (như cứ sợ chính mình cũng sai sót) là tên đầy đủ của nghĩa trang mà nhật báo ST đã mai táng 1,841 xác, “Ngĩa Trang Đồng Bào Chiến Nạn Quảng Trị̣ do nhật báo Sóng Thần và thân hữu phụng lập”.

Một lần đi hốt xác đồng bào bị Việt Cộng chôn sống trong tết Mậu Thân ở Huế, và lần thứ nhì hốt xác đồng bào bị Việt Cộng tàn sát trên Đại Lộ Kinh Hoàng ở Quảng Trị, những hình ảnh ghê rợn đã khắc chạm thật sâu vào ký ức anh Châu, như một thứ đền tưởng niệm Cánh Đồng Chết của nạn nhân Pol Pot ở Cam-Pu-Chea – “trăm năm bia đá thì mòn, ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”. Trả lời câu hỏi của tôi, anh Nguyễn Kinh Châu nhắc lại con số 1,841 xác nạn nhân một cách dễ dàng như không cần khui một gói thuốc lá để biết trong đó có 20 điếu. Tôi hỏi tiếp, làm sao anh nhớ được chính xác như thế, anh tâm sự, “Làm sao không, có ngày nào là áo quần không thấm mùi hôi của xác chết, có xác nào không là xác đồng bào, anh em?”

Khi mới bắt tay vào việc, chính quyền và quân đội chưa cho phép thường dân qua sông Mỹ Chánh vì vấn đề an ninh (sợ Việt Cộng trà trộn để hoạt động) và vì vấn đề an toàn (sợ đạn pháo binh Việt Cộng bắn trúng làm chết nhóm người đi lượm xác đồng loại). Vấn đề mang một nhóm thường dân vượt qua phòng tuyến quân sự Mỹ Chánh để tìm và thu nhặt xác là chuyện chưa từng xảy ra trước đây trong chiến tranh Đông Dương. Mặt khác, anh em báo ST ngại một khi đăng lời kêu gọi xin độc giả tiếp tay đóng góp, tiền tới tay rồi mà lỡ xác đồng bào lấy về không được sẽ bị mang tiếng lừa phỉnh, nên anh Châu hội ý với anh em phóng viên ST đang có mặt tại Huế, rồi vào Đà Nẵng bàn thêm với bác sĩ Phạm Văn Lương. Kết quả: chúng tôi quyết định thử nghiệm trước bằng cách tự lực. Anh Châu đã mang chiếc xe gắn máy Honda 68 tới xin cầm cho một thân hữu là anh Huỳnh Văn Phúc, chủ tiệm vàng Phúc Ân kiêm tổng thư ký Hội Đồng Tỉnh Thừa Thiên, lấy 50 ngàn đồng để làm vốn liếng khởi công. Ngạc nhiên thấy anh Châu cầm xe, anh Phúc hỏi dồn, nên đã biết sự thật là anh Châu cần tiền để trao cho thầy Thích Đức Tâm ở chùa Pháp Hải bên cồn Hến đóng quan tài để ra Quảng Trị lượm xác đồng bào bị pháo chết. Biết việc chúng tôi làm như thế, anh Phúc bảo anh Châu cứ mang xe về, và cho anh chị em ST mượn 50 ngàn tiền mặt, một số tiền không nhỏ lúc bấy giờ, để khởi công. Bên cạnh đó, anh em ST vào Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Quân Đoàn 1 tiếp xúc với Quân Y Viện Nguyễn Tri Phương. Chỉ huy trưởng, thiếu tá Nguyễn văn Cơ đã cho nhóm Sóng Thần 200 bao nylon loại dùng để tẩm liệm quân nhân tử trận. Ngoài ra, nhóm mượn được một xe GMC của Tiểu Khu Thừa Thiên làm phương tiện vận chuyển đoàn hốt xác và xác hốt được. Về sau khi số xác lượm được tăng lên tới con số gần hai ngàn, anh Cơ vẫn cung cấp đầy đủ để gói ghém tử thi đồng bào, đồng thời phía Tiểu Khu Thừa Thiên tăng cường cho mượn thêm một xe GMC nữa, và phía Tiểu Khu Quảng Trị cho mượn 2 GMC khác, để di chuyển xác chết.

Sóng Thần đã tiến hành hốt xác tất cả 3 đợt. Khi chị chủ nhiệm Trùng Dương từ tòa soạn ra tham dự để ăn đạn pháo kích là đợt một. Đợt nầy đoàn hốt xác có 4 tổ, mỗi tổ 4 người, thu được trên 800 xác. Về sau đoàn hốt xác tăng lên thành 7 tổ. Sợ mùa mưa tới xác đồng bào bị vữa và trôi hết phần thịt, chúng tôi đã tăng gấp đôi số nhân công để rút ngắn thời gian.

Khởi đầu, thầy Đức Tâm thuê đóng và giao cho đoàn 20 quan tài để mang theo, xem thử đủ thiếu thế nào. Lên đường, anh em ST chúng tôi chỉ dám cầu mong lượm được tới 20 xác như mong muốn của thầy Đức Tâm, vì khu vực giữa hai cầu Bến Đá và Trường Phước là đụn cát trắng không nhà cửa cây cối, hễ thấy bóng người di chuyển là tiền sát viên Việt Cộng gọi pháo tầm xa từ Trường Sơn bắn xuống. Kết quả của ngày đầu thật bất ngờ với con số 96 xác. 20 xác đầu tiên được xếp vào quan tài, phần xác còn lại gói tạm vào bao nylon mang về đặt trong các phòng học của trường Mỹ Chánh.

Dạo 1968, anh Nguyễn Kinh Châu là ký giả đã theo chân đoàn người đi khai quật các hố chôn tập thể và đã có loạt hình chạy 8 cột bề ngang trên báo Hòa Bình tường thuật tội ác rùng rợn nầy. Cũng nhờ quen biết cũ từ 4 năm về trước, lần nầy đề xuất việc đi lượm xác, anh Châu đã quay lại Phú Thứ để tìm gặp và thuyết phục các người chuyên về di dời xác chết bốn năm trước, sau Tết Mậu Thân, để họ bằg lòng tham gia công việc nghĩa tử dưới làn đạn pháo của Sư Đoàn Pháo Bông Lau. Đúng là Việt Cộng đã dành cho những người nầy những việc làm có một không hai trong lịch sử tội ác chiến tranh. Nhưng vì lãnh thổ Quảng Trị vẫn còn giao tranh và bom đạn, nên những người phu chỉ bằng lòng nhận lời với chi phí 1.600 đồng mỗi ngày, so với giá thuê mướn làm công nhật ở thành phố Huế lúc bấy giờ là 100 đồng/ngày, và giá vàng 1.600 đồng một chỉ. Sở dĩ giá cả cao như thế mà nhóm ST phải chấp nhận vì khu vực “Đại Lộ Kinh Hoàng” vẫn còn rất kinh hoàng, phu hốt xác ra đó để thu lượm xác không những phải làm việc giữa điều kiện mất vệ sinh giữa những xác chết, mà còn phải đưa lưng đội đạn pháo từ Trường Sơn bắn xuống. Những tay làm báo chúng tôi vì nghiệp dĩ của mình mà lăn lưng ra chốn tên bay đạn lạc, nhưng người dân họ có lý của họ, nhất là khi phải đổi bát máu lấy bát cơm để nuôi thân và nuôi gia đình. Khi tới bãi xác người, những phu lượm xác nầy mỗi người đều mang theo một lọ mắm ruốc. Họ đã lấy ngón tay chấm mắm ruốc bôi lên mũi, dùng mùi thối của mắm để mong át đi mùi thối của xác chết, và cũng để đánh lừa khứu giác của mình.

Sau những ngày đầu vừa làm vừa rút kinh nghiệm, đoàn hốt xác buổi tối về hay tập trung ở nhà từ đường của chị Tôn Nữ Mộng Nhiên ở số 100 đường thuận An, là nơi “đóng đô” của đám phóng viên ST trẻ Trần Tường Trình, Đoàn Kế Tường và NgyThanh. Nghe đám nhà báo bàn bạc chuyện lượm xác, ban đầu hai cô chủ nhà là chị Mộng Nhiên và chị Lẫm góp ý. Từ từ bén chuyện, hai cô tình nguyện tham dự trò chơi với đạn pháo kích. Thế là đoàn hốt xác có thêm hai khuôn mặt hoàng phái, đảm nhiệm việc ghi chép sổ sách và ghi số mỗi xác, cùng những giấy tờ hay di vật gì chúng tôi lấy được trên thi thể của họ̣. Những vật dụng và tư trang cá nhân ấy được cho vào bao nylon có ghi số trùng với số của quan tài, để về sau trả lại cho thân nhân người quá cố.

Công tác hốt xác kéo dài ròng rã tới bảy tháng mới hoàn tất.

Sau khi thu nhặt hết xác trên hai bãi cát dọc hai bên đoạn quốc lộ̣ mang tên “Đại Lộ Kinh Hoàng” và mai táng xong, anh em ST còn giữ lại nửa triệu, tức một phầ sáu tổng số tiền lạc quyên được từ đọc giả hảo tâm, chúng tôi đã dùng số tiền nầy dựng một bức tượng Đức Địa Tạng rất lớn ngay chỗ có nhiều xác chết nhất, lập một đền thờ oan hồn, và tổ chức một lễ cúng do anh Lý Đại Nguyên từ Saigon đại diện tòa soạn ra chủ tọa. Đền thờ này vẫn còn cho đến ngày nay.

Lời cuối:

Cuộc chiến nào mà không có thảm sát, chiến tranh nào mà chẳng có nạn nhân. Nhưng hình ảnh của một đứa bé ngồi khóc bên xác mẹ giữa một chiến trường thảm khốc đầy xác thường dân như ở Đại Lộ Kinh Hoàng vẫn là một hình ảnh đau thương nhất mà chúng ta không thể nào quên được.

Vì vậy tôi cố tìm cho được câu chuyện của một nhân chứng đích thực, còn sống để kể lại hầu quý vị và riêng tặng cho đại tá Nguyễn Việt Hải, chỉ huy trung đoàn pháo Bông Lau của Quân đội Nhân dân của nước Cộng hòa Sã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Trong tác phẩm “Mùa hè cháy”, xuất bản năm 2005, tác giả đã viết thật rõ ràng là đơn vị của ông khai hỏa tập trung pháo 122, pháo 130 và pháo 155 mà ông gọi là trận địa pháo cường tập trên Quốc lộ 1 vào đám ngụy quân trên đường bỏ chạy.

Ông đại tá pháo binh tác giả của tác phẩm “Mùa hè cháy” đã đích thân quan sát trong vai trò tiền sát viên để trực tiếp chỉ huy bắn.

Bài báo ngắn ngủi và khiêm nhường hôm nay hy vọng sẽ đến tay các pháo thủ miền Bắc ngày xưa để họ nhớ lại thành quả vào ngày 1 tháng 5 trong chiến dịch Nguyễn Huệ 1972.

Ðịnh mệnh nào đã dành cho ông Phan văn Châu còn sống để định cư tại Hoa Kỳ với 11 người con thành đạt, hàng năm vẫn gửi tiền về giúp cho miền quê nghèo khổ xứ Nhan Biều. Bây giờ, những mộ phần tập thể của dân oan chết vì trận mưa pháo Bông Lau năm 72 đã chẳng còn dấu vết. Những đứa bé đói sữa nằm bên xác mẹ rồi cũng đã chết hết trên đại lộ kinh hoàng 37 năm về trước.

Nhưng mà sao tiếng khóc của em vẫn còn nghe văng vẳng đâu đây …

Giao Chỉ, San Jose

Posted: Sun Nov 06, 2011 7:58 am
by tranphuongdong
Image

Câu chuyện trên đồi Charlie

Tại Việt Nam cuối mùa Xuân 1972, tình hình chiến sự ngày thêm khốc liệt. Hiệp Định Paris hội họp căng thẳng. Trận mùa hè đỏ lửa bắt đầu. Địch quân đưa chính quy vào mặt trận quân khu II trên chiến trường Cao Nguyên tại Tân Cảnh, nơi đồn trú Bộ Tư Lệnh Tiền Phương của Sư đoàn 22.

Tổng Tham Mưu cho tăng phái Lữ Đoàn II Nhảy dù của Đại Tá Trần Quốc Lịch đóng tại căn cứ Võ Định. Trung Tá Nguyễn Đình Bảo, tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù mang huy hiệu “song kiếm trấn ải” vào chiếm đóng ngọn đồi quyết tử Charlie. Bốn đại đội chia ra chiếm giữ các cao điểm. Địch quân cấp sư đoàn với các đơn vị pháo và phòng không bắt đầu khai hỏa. Pháo 130 ly và đại bác 122 ly. Mỗi ngày trên một ngàn trái. 600 lính mũ đỏ gồng mình chịu pháo chờ địch tấn công.

Trận địa pháo của địch khởi sự mãnh liệt từ 1 tháng 4-1972.

Đồi Charlie được gọi là căn cứ C2 trong suốt gần 2 tuần lễ kịch chiến đã lãnh trên 10 ngàn quả đại bác. Nhảy Dù, Không Quân và Pháo Binh của ta phản ứng mãnh liệt, xác định la liệt trận địa và tràn vào cả các phòng tuyến của mũ đỏ.

Cộng quân quyết tâm dứt điểm Charlie bằng mọi giá. Lấy quân số của hai trung đoàn tràn ngập một tiểu đoàn. Sáu trăm chiến binh Nhảy Dù của Tiểu Đoàn 11 chỉ còn một số nhỏ thoát khỏi trận địa. Phần lớn bị hy sinh và nằm lại đồi Charlie cùng với Tiểu Đoàn Trưởng Nguyễn Đình Bảo. Có các chiến sĩ Nhảy Dù cả tháng sau mới băng rừng về trình diện.

Tháng 5-1972, cảm thương người anh hùng mũ đỏ, nhạc sĩ Trần Thiện Thanh viết bài ca “Người Ở Lại Charlie” và trình bày trên Đài Phát Thanh Quân Đội đã làm cho cả hậu phương Sài Gòn phải nhỏ lệ.

Bây giờ 34 năm sau, trên đồi Foothill trong hí viện của trường đại học ở Los Gatos, California, ban hợp ca tuổi trẻ của đại đội C2 Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương cất tiếng hát bài ca cho người ở lại Charlie. Lời ca cuối cùng là giọng đơn ca của chiến sĩ dù Đoàn Phương Hải, người lính mũ đỏ còn lại của tiểu đoàn 11. Người về từ Charlie. Lúc đó là chiều Chủ Nhật 17 tháng 12-2006 tại Hoa Kỳ.

Và sau cùng bộ quân phục Nhảy Dù của Tiểu Đoàn Trưởng Nguyễn Đình Bảo tặng cho Pháo Binh Dù Bùi Đức Lạc hiện còn để trong Viện Bảo Tàng Việt Nam tại San Jose.

Có người hỏi, sau trận Charlie, số phận Tiểu Đoàn 11 ra sao. Xin trả lời. Trong quân sử Việt Nam có nhiều trận lừng lẫy cấp tiểu đoàn. Trong đó có hai trận do Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù tham dự.

Tại Charlie, Tiểu Đoàn 11 Dù mất 4 đại đội và hy sinh tiểu đoàn trưởng. Đổi lại Sư Đoàn 320 quả đấm thép của Bắc Việt hy sinh quân số hơn 1 trung đoàn. Phần còn lại của Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù được tập trung về hậu cứ và bổ xung quân số, huấn luyện cấp tốc tháng 5-1972 đặc biệt về chiến thuật dùng hỏa tiễn TOW đánh chiến xa.

Tháng 6, tiểu đoàn tái tổ chức lại lên đường tham dự trận tái chiếm Quảng Trị. Chỉ riêng ngày 1 tháng 6-1972, tiểu đoàn song kiếm trấn ải với 2 số 1 đã hạ được 26 chiến xa địch trên trận chiến bên bờ sông Mỹ Chánh. Đó là trận lừng danh lần thứ hai của tiểu đoàn 11 Nhảy Dù.

Bây giờ, nếu các bạn đi chợ trời San Jose chợt thấy có ông già đứng nhìn đống áo nhà binh cũ, dáng điệu suy tư, có thể đây là một cựu chiến binh đã về từ Charlie hay đã từng diệt tăng ở phòng tuyến Mỹ Chánh. Đó là những anh hùng ở bên cạnh chúng ta. Một cái bắt tay, bạn sẽ thấy gần hơn với lịch sử. Và nếu hỏi chuyện, lịch sử sẽ trả lời.

Posted: Tue Nov 08, 2011 3:42 am
by khieulong
Viên đạn cuối cùng

Trần Như Xuyên

Tháng 8-1974, một trận đánh lớn xẩy ra tại Thường Đức giữa hai Lữ đoàn Nhẩy Dù của Quân lực VNCH và 3 Sư Đoàn quân Bắc Việt,
trận chiến rất khốc liệt, sau 3 tháng quần thảo, số tổn thất của hai bên rất to lớn.
Trận chiến đã trôi qua 37 năm, nhưng những người lính Nhẩy Dù năm xưa vẫn không quên âm vang của trận đánh và những đồng đội đã nằm xuống.
Xin mời đọc câu chuyện của một người Đại Đội Trưởng Nhẩy Dù tham dự trong trận đánh này tại Thường Đức.

Image
Tâm Anh bước những bước nhẹ trên hè đường Tự Do, cơn gió lạnh cuối năm khiến nàng khoanh hai tay lại suýt xoa. Những chiếc lá me khô lăn tròn như điệu nhạc luân vũ dưới chân nàng. Sài gòn năm nay được hưởng một cái lạnh khác thường, gần Noel rồi còn gì. Ngang qua Brodard, nhiều cặp mắt trong đó nhìn nàng, còn anh trong đó nữa đâu? Vậy là anh vĩnh viễn xa em rồi... Phải chi anh đừng mê đời lính, phải chi anh đừng mê súng đạn thì giờ này em đâu có cô đơn như thế này. Tâm Anh nhớ lại, cũng là Broadard này một ngày nào đó, ngày hai người còn quấn quýt bên nhau, khi đang ngồi uống nước, ngắm thiên hạ qua lại, bất chợt Chương nắm tay nàng:
- Em, anh đã suy nghĩ kỹ rồi, anh sẽ nhập ngũ, vào Võ Bị Đà Lạt.

Cái ống hút rời khỏi đôi môi xinh xắn, nàng không ngạc nhiên nhưng có bàng hoàng. Tâm Anh chờ đợi ngày này sẽ đến và bây giờ nó đến, vậy mà vẫn không tránh được. Nàng hiểu tính Chương, thời gian gần đây, Chương luôn than phiền về một cái gì đó, không rõ ràng, có lúc Chương bảo sao chàng thấy thành phố này ngột ngạt quá, chỉ muốn xa khỏi đây, có lúc Chương đứng sững nhìn một người lính phía bên kia đường, lẩm bẩm: ”Vậy mà Trung nó chết cũng được nửa năm rồi” -Trung là một trong ba người bạn thân của chàng, cùng đang học Đại học, rồi cả ba bỏ đi lính. Khi mãn khóa, Trung chọn binh chủng Nhẩy dù, hai người kia chọn bộ binh và đổi đi xa, chỉ có Trung thỉnh thoảng về phép, rủ Chương và nàng đi chơi như ngày xưa, ngày mấy người còn vui chơi với nhau chung một nhóm. Trung đen hơn nhưng rắn rỏi, mỗi lần về, Trung say sưa kể về một trận đánh nào đó mà anh tham dự, nàng bắt gặp ánh mắt Chương rực sáng khi nghe Trung nói chuyện. Thế rồi Trung không còn dịp về nữa để kể chuyện chiến trường cho Chương nghe, anh đã hy sinh trong một trận đánh ở đâu đó, nàng không nghĩ Chương lại nối gót theo mấy người kia sớm tới như thế.
Nàng bất chợt hỏi Chương:

- Anh bỏ đi như vậy, còn tình yêu chúng mình, còn em thì sao?
- Thì tình yêu mình cũng vẫn còn đấy chứ em, biết đâu sự xa cách này chẳng là một thử thách cho đôi ta, nếu mình vẫn giữ vững được, nếu mình vẫn chỉ nghĩ đến nhau thì cuộc hôn nhân mới thực bền vững.

Cuối năm 1972, chiến trường đã qua đi những trận đánh lớn, tháng giêng 1973, Hiệp định Paris được ký kết đúng với sự mong đợi của Hoa Kỳ và VC. Về phía Hoa Kỳ, có người bảo nhiệm vụ của họ đã xong, tức chiến lược toàn cầu của họ đã hoàn tất, giờ Mỹ có thể rút hết quân về nước, để hai bên VN giải quyết với nhau, đúng ra phải nói là để miền Bắc giải quyết miền Nam vì Mỹ không giữ lời cam kết là sẽ yểm trợ chính phủ VNCH. Trong khi miền Nam đơn độc chiến đấu thiếu cả về vũ khí lẫn viện trợ kinh tế thì CS Bắc Việt lại được sự yểm trợ to tát của toàn khối CS.

Về phía Bắc Việt, ký kết Hiệp định Paris là cơ hội để họ xâm chiếm miền Nam, khi người Mỹ bắt đầu rút quân thì cũng là lúc CS đem quân ồ ạt vượt qua vĩ tuyến 17, chúng hoàn thành con đường đông Trường Sơn để chuyển quân và vũ khí được nhanh hơn, xe cộ và bộ đội rầm rộ chuyển vào như chỗ không người, trước đây chúng không dám ngang nhiên như vậy vì sợ B52 và quân ta phục kích. Hiệp ước Paris qui định ai ở đâu thì yên đó nhưng với VC, có khi nào ta tin được chúng. Kinh nghiệm cái Tết Mậu thân còn đó. Tuy quân VC gia tăng nỗ lực chuẩn bị cho cuộc chiến nhưng chúng vẫn chưa nắm vững không biết người Mỹ có quay trở lại hay không nếu chúng mở các cuộc tấn công lớn. Qua nhiều cuộc lấn chiếm thăm dò, Mỹ vẫn giữ thái độ im lặng, chúng quyết định mở một cuộc tấn công và nơi chúng lựa chọn cho cuộc thử thách này là Thường Đức, nếu chúng thắng cuộc chiến ở đây, chúng sẽ đưa quân thẳng ra biển, chia cắt miền Nam làm hai và sự sụp đổ của VNCH chỉ đếm từng ngày.

Thường Đức là một quận nhỏ thuộc tỉnh Quảng Nam, được tách ra từ Quận Đức Dục, nằm phía Tây Đà Nẵng trên liên tỉnh lộ 4, cách Quốc lộ 1 khoảng 40 cây số. Đây là một điểm chiến lược quan trọng, coi như tiền đồn của của Đà Nẵng. Thường Đức trước kia là một trại LLĐB Mỹ, xây dựng kiên cố với những hầm ngầm bê tông cốt sắt.

Quân trú phòng tại Thường Đức có 2 ĐĐ Địa phương quân, 14 Trung đội Nghĩa quân, tháng 6, 1974, tin tức tình báo cho biết VC đang chuẩn bị lực lượng có thể tấn công Thường Đức. Tiểu Đoàn 79 BĐQ được tăng cường thêm cho Chi khu này, gọi là Chi khu nhưng nó có tính cách chiến lược hơn là yếu tố kinh tế, dân thì toàn là gia đình của binh sĩ trú đóng tại đây, đất đai khô cằn sỏi đá, ba hướng bao quanh là núi cao dốc đứng, chỉ có hướng Đông để ra QL1 là bằng phẳng.

VC tấn công Thường Đức với SĐ 304 (SĐ Điện Biên), SĐ 324 và nhiều Trung Đoàn tăng cường cùng các đơn vị Pháo và xe tăng. Quân trú phòng chống cự mãnh liệt, TĐ 79 BĐQ chiến đấu dũng cảm, gây thiệt hại to lớn cho quân tấn công; phía trú phòng cũng bị thiệt hại, Trung Tá Quân Trưởng bị thương nặng, Th/T TĐT /79 BĐQ cũng bị thương và gọi pháo bắn ngay trên đầu. Sau gần 10 ngày chống cự, với quân số địch quá đông và các họng pháo ở những ngọn đồi chung quanh bắn trực xạ vào Thường Đức, Quận bị thất thủ.

Lo sợ cho Đà Nẵng, Tướng Trưởng xin Bộ TTM cho SĐ Dù tham chiến, Lữ đoàn 1 gồm 3 TĐ: 1,7 và 9 được không vận từ SG bằng C130 xuống Đại Lộc.
Trung Úy Nguyễn thanh Chương, khóa 25 VB Đà Lạt lúc này là ĐĐT của TĐ 1 Nhẩy Dù tham dự cuộc hành quân tái chiếm Thường Đức, Lữ Đoàn 3 Nhẩy Dù cũng chuẩn bị vào vùng từ Huế.

Đường vào Thường Đức rất bất lợi cho quân giải tỏa, chỉ có một con đường độc đạo là liên tỉnh lộ 4 từ ngoài Đại Lộc tới Thường Đức mà hai bên đường có nhiều ngọn đồi mà VC đã chiếm, thiết lập công sự phòng thủ kiên cố trong vách đá, trong đó có ngọn đồi 1062, từ đây chúng có thể kiểm soát mọi sự di chuyển trên LTL4. VC đã chiếm ngọn núi này trước khi chúng tấn công Thường Đức vì chúng biết thế nào phía ta cũng đem quân giải cứu Quận lỵ này.

Lữ đoàn 1 dàn quân xuất phát mà ưu tiên phải chiếm được ngọn đồi 1062, họ biết là quân VC đã sẵn sàng đợi họ ở đây. Tiểu Đoàn 1 của Chương được chỉ định chiếm ngọn đồi này, đường tiến quân rất khó khăn vất vả, phải băng qua những khoảng trống mà pháo của chúng đã có tọa độ sẵn, rồi các đồi đá phải vượt qua, bứng những chốt Cộng quân cài chung quanh để cầm chân bước tiến của quân Dù. Khi gần tới được gần 1062, TĐ1 đã bị một số tổn thất nhưng nhiệm vụ trước mắt vẫn là làm sao phải chiếm cho được ngọn đồi này để kiểm soát con đường nằm phía dưới dẫn vào Thường Đức.

TĐ1 dàn quân dưới chân đồi 1062, một cái lưng yên ngựa phải vượt qua trước khi tới sát được dưới chân đồi, địch từ trên cao có lợi thế hơn và hầm hố chúng xây dựng trong hốc đá kiên cố với nhưng cây cổ thụ to được chúng cưa làm nóc hầm. Cả hai Đại Đội Dù được pháo binh yểm trợ xung phong chiếm mục tiêu nhưng gặp sức kháng cự mãnh liệt của địch, cối 120 ly và hỏa tiễn 122 ly được địch bắn xối xả vào vị trí quân Dù. Những mục tiêu tác xạ chúng đã tiên liệu trước và tiền sát của chúng từ những ngọn đồi chung quanh gọi pháo chính xác, suốt một ngày, Dù bị cầm chân. Đại Đội Chương mất một Th/U Trung đội trưởng và 5 binh sĩ cùng khoảng một chục bị thương.

Lệnh từ TĐ cho ĐĐ Chương lùi lại, bố trí tuyến phòng thủ đêm lấy sức cho cuộc tấn công ngày hôm sau. Rạng sáng, ĐĐ Chương, bọc qua hướng khác, nơi có nhiều dốc đá thẳng đứng, hướng này địch có lơ là vì không nghĩ Dù sẽ chọn để tấn công. Pháo ta dồn dập đổ xuống đỉnh đồi, địch co cụm trong hầm hố tránh pháo, lính Dù bám từng hốc đá âm thầm leo lên ,khi gần tới đỉnh đồi, họ đồng loạt khai hỏa xung phong. Dù dùng lựu đạn ném xuống hầm, bị bất ngờ, chúng hốt hoảng bung hầm chạy. ĐĐ Chương chiếm được đồi 1062 nhưng ngay lập tức, địch pháo kích dữ dội với đủ loại pháo từ những ngọn đồi chung quanh. Lính Dù nhờ có hầm hố kiên cố sẵn của bọn chúng, tránh được nhiều thiệt hại. ĐĐ Chương được lệnh bố trí giữ ngọn đồi, sáng hôm sau sẽ có một ĐĐ bạn lên tăng cường nhưng tối đó, Chương không thể giữ được ngọn đồi mà suốt ngày hôm nay đã đổ bao xương máu mới chiếm được. Mới chập tối, địch pháo tàn sát ngọn đồi rồi cho nguyên một Trung đoàn xung phong tái chiếm. Ở tuyến phòng thủ phía Tây, Th/U Thành, một Trung đội trưởng xuất sắc của Chương gọi máy cho biết địch rất đông, đang tràn ngập mục tiêu, Thành xin pháo binh bắn ngay trên đầu. TĐ cho lệnh Chương rút xuống, Chương gọi máy cho lệnh, không có tiếng Thành trả lời, tuyến của Thành bị tràn ngập. Thành bị nguyên một băng AK nát hết người. Khi lính của ĐĐ rút hết, Chương xuống sau cùng, chàng gọi pháo dập xuống đỉnh 1062. Lúc Chương đang lao xuống gần chân đồi, một trái pháo nổ ngay cạnh Chương, không biết của ta hay của địch, Chương thấy tối tăm mặt mũi và rồi không biết gì nữa.

Ngày hôm sau, một ĐĐ khác được lệnh tấn công tái chiếm ngọn đồi, họ gặp Chương nằm trên vũng máu, người lính mang máy và cận vệ của anh nằm chết bên cạnh. Chương bị thương rất nặng, pháo cắt đứt một chân anh, mặt phủ đầy máu, Chương được tải thương ngay lập tức. Suốt mấy ngày ở bệnh viện, Chương ở trong biên giới giữa cái sống và cái chết.

Cuối cùng, người ta đã cứu được Chương thoát lưỡi hái của tử thần nhưng không cứu được cái chân của anh, và khuôn mặt, một mảnh pháo chém sạt một bên má. Khi tỉnh lại, Chương biết mình bị thương nặng lắm, cái đầu cuốn trong băng trắng xóa và đau nhức khủng khiếp. Chương cũng biết mình mất mất một chân. Các Bác Sĩ khi thấy Chương đã đủ khỏe, họ cho anh biết sự thực về khuôn mặt, họ nói sẽ cố gắng đắp vá cho anh nhưng không thể nào có được hình hài như xưa.

TĐ cho một người lính thân cận của Chương ở hẳn Bệnh viện để chăm sóc anh cùng với chiếc xe jeep. Đầy, người Hạ sĩ theo Chương từ ngày Chương gia nhập Nhẩy Dù. Đầy là người lo cho anh từ cái ăn, cái ngủ như người mẹ hiền, giờ vẫn cạnh ông thầy. Khi ông thầy bị thương quá nặng, vẫn chăm sóc anh từng li, từng tí. Chương không cho Đầy báo gì Tâm Anh biết, cho đến một ngày, Chương dặn dò Đầy đến cho Tâm Anh biết tin nhưng là một cái tin Đầy thấy khó khăn để nói.
Gần hai tháng nay, Tâm Anh không nhận được thư từ hay tin tức gì của Chương cả, nàng có nghe về những trận đánh xẩy ra với đơn vị Nhẩy Dù ở đâu đó. Một buổi trưa, một cái xe jeep đỗ xịch trước cửa nhà, nàng thấy Đầy bước xuống, Tâm Anh chạy vội ra:

- Chú Đầy, Trung Úy không về hả, có thư không vậy chú?

Đầy không nói gì cả, anh bước vào trong nhà, tay cầm chiếc mũ béret đỏ xoay xoay trong tay.

Nhìn cử chỉ khác thường của Đầy, Tâm Anh biến sắc, nàng đưa tay lên ngực: gì thế này, có chuyện gì xẩy ra cho Chương rồi sao, đừng nói gì không may nghe chú Đầy, sao mặt chú lại buồn thế kia, đừng, chắc không có gì đâu, có gì nói đi, nói đi chú Đầy.

Sau một chút ngập ngừng, Đầy lên tiếng:

- Xin cô bình tĩnh, mời cô ngồi xuống, Trung Úy Chương đã hy sinh, ở mặt trận Thường Đức, quân địch tràn ngập mục tiêu, chúng tôi không lấy được xác Trung Úy, Trung Úy đã chiến đấu dũng cảm nhưng địch đông quá.

Tâm Anh choáng váng mặt mày, nàng buông rơi mình trên ghế, không còn nghe những gì Đầy đang nói tiếp. Thế đấy anh ơi, sao giản dị quá: Trung Úy đã hy sinh. Câu nói thật đơn giản mà như đất trời sụp đổ, bao nhiêu người đã được nghe những câu đơn giản như thế này, bao nhiêu cõi đời tan nát?

Hạ sĩ Đầy đã hoàn thành nhiệm vụ được Chương trao phó, một nhiệm vụ khác thường trong bao nhiêu việc Chương đã bảo anh làm trước đây. Công việc chút nữa đã không hoàn thành khi Đầy nhìn thấy sự đau khổ tột cùng trên gương mặt Tâm Anh. Nhờ là một người lính tác chiến sắt đá nên đã kềm chế được mình vì anh hiểu những gì ông thầy mình muốn cho quãng đời còn lại của ông ấy và nhất là cho Tâm Anh. Đầy cũng thương ông Trung Úy của mình không kém gì Tâm Anh, có điều hai tình thương khác nhau; với Đầy, Chương là một cấp chỉ huy gương mẫu, can đảm và thương yêu binh sĩ hơn cả tình đồng đội, những ngày ở Bệnh viện, đã bao lần Đầy ngăn nước mắt khi nhìn Chương trong hình hài không còn nguyên vẹn.

Tâm Anh bỏ ngang việc học, nàng không còn tâm trí để nghĩ đến sách vở, nàng đi hát để tìm quên. Nhờ làn hơi thiên phú, chỉ trong thời gian ngắn, tiếng ca nàng vút cao trong nền ca nhạc ở Sài Gòn, nhiều nơi săn đón mời nàng hát cho phòng trà của mình, Tâm Anh chọn chỉ hát độc quyền cho Tự Do, một phòng trà mà lúc còn sống Chương rất thích. Ở đây, nàng như thấy Chương của một ngày mà Hey Jude, don’t let me down, ngày hai người quấn quýt bên nhau với tiếng hát của Billy Shane, của Strawberry Four. Nàng cũng thuộc lòng câu thơ Chương làm cho nàng trong một lần lên Đà Lạt thăm Chương về:

Anh cứ sợ rồi mình sẽ quên nhau
như con đường nơi đó
như ngày nao trên thềm phố chợ
sáng Chủ Nhật
em chờ anh
vẫn trên cao là những nhánh thông xanh
và dưới thấp là mặt hồ yên lặng
có phải mùa Thu làm mắt em xa vắng
rồi mình sẽ quên nhau

Tâm Anh rưng rưng nước mắt, đấy, anh ơi, đang yêu nhau mà anh cứ nghĩ đến chuyện cách chia, giờ ta xa nhau thật rồi, xa nhau vĩnh viễn, em giờ đây như rừng thu. Anh đang yên nằm ở đâu, sao người ta không đem anh về cho em? Tâm Anh vẫn buốt lòng mỗi khi nghĩ tới Chương.


oOo


Chương ở trên một căn gác nhỏ, có Đầy lo cho mọi chuyện, thời gian đầu khi còn phải tới lui bệnh viện cho các Bác sĩ tái tạo lại khuôn mặt, Đầy vẫn lái xe chở Chương trên cái xe jeep mà TĐ cung cấp, khuôn mặt chỉ làm đỡ được phần nào trong sự tàn phá của trái pháo, khi soi gương, Chương cũng không nhận ra mình, chiến tranh ghê gớm quá.

Cứ mỗi tối, đúng 10 giờ, Tâm Anh xuất hiện trên sân khấu Tự Do, sau lời giới thiệu, nàng bước ra trong chiếc áo dài lộng lẫy, Tâm Anh cúi chào khán giả, mái tóc ngang vai xõa xuống che khuôn mặt u buồn, nàng hất mái tóc ra phía sau, giọng hát cất lên, nàng hát như gửi hồn vào một thời nào đó, có lúc nức nở như gửi tiếc thương cho một ai ở nơi xa xôi.

Xong bài hát, người bồi mang lại mảnh giấy nhỏ đưa cho Tâm Anh, nàng liếc nhanh: ”Người đi qua đời tôi, cám ơn.” Quái lạ, mấy tuần nay, cứ đúng thứ bẩy, nàng lại nhận được mảnh giấy yêu cầu bài hát Người đi qua đời tôi, chắc vẫn là người khách này. Tiếng hát cất lên: “Người đi qua đời tôi, trong những chiều đông sầu...” Giọng Tâm Anh như nức nở “Anh đi qua đời em, có nhớ gì không anh?...”

Hết phần trình diễn của mình, Tâm Anh ra về, nàng ngập ngừng trước cửa: vị khách kia chắc có một tâm sự buồn lắm, cùng tâm trạng như mình. Nàng đưa tay nhìn đồng hồ, để hôm nào mình phải gặp vị khách đó để thăm hỏi xem sao.
Một lúc sau, một chiếc xe jeep chạy tới, đậu gần nơi cửa, Đầy xuống xe bước vào phòng trà. Cũng sắp hết giờ, anh tiến lại phía chiếc cột khuất trong bóng tối, nghiêng xuống nói với một người ngồi ở đấy: “Trung Úy để em đỡ ra xe”. Chương chống tay xuống bàn, đứng dậy. Đầy dìu ông thầy ra xe, gió đêm thổi làm Chương thấy bớt ngột ngạt.


oOo


Sáu tháng sau, Tâm Anh lấy chồng, cũng một người trong Quân đội. Trong căn gác nhỏ, Chương nghĩ thôi thế cũng xong, mình đã chẳng từng cầu mong Tâm Anh được hạnh phúc hay sao, ngày rồi cũng lụi tàn, mình coi như đã chết trong Tâm Anh và nàng coi như đã xa khỏi đời mình. Chương bật cười - như cái chân nó cũng xa khỏi đời mình. Chương nhớ đồng đội khôn tả, nhớ những lúc băng mình trong lửa đạn, nhớ tiếng reo hò xung phong chiếm mục tiêu.

Rồi tình hình chiến sự trong những ngày kế tiếp hết sức khẩn trương, Ban mê Thuột có thể thất thủ, Chương theo dõi báo chí và tin tức trên đài phát thanh. Đầy chạy đi chạy về hậu cứ Tiểu Đoàn cho Chương biết TĐ hiện đang ở đâu, làm gì. Tình hình càng ngày càng xấu đi, Lữ Đoàn đang chống giữ tại Khánh Dương, rồi đang đánh nhau ở Long Khánh... Chương giật mình, Long Khánh à, vậy là gần quá rồi, sao mà lại nhanh như vậy, mới đây thôi, mình còn làm cho chúng tan hoang ở Thường Đức mà.

29 tháng Tư, Đầy chạy vội lên căn gác:

- Ông thầy, Tiểu Đoàn mình đang giữ cầu xa lộ, VC với xe tăng đang tiến từ Biên Hòa xuống, chắc sẽ đụng lớn ở đây.

Chương nhỏm dậy, với tay lấy bộ quần áo hoa dù mặc vào người, dắt theo khẩu colt hấp tấp hỏi Đầy:

- Có đúng Tiểu đoàn đang ở cầu xa lộ không?
- Đúng ông thầy, em mới gặp thằng Tư Đen nó nói vậy.
- Chú lái xe đưa tôi ra đó ngay, đi, nhanh lên.

Chiếc xe Đầy lái chạy như bay qua ngã ba Hàng Xanh, quẹo theo hướng xa lộ, dọc đường, Chương thấy dân chúng nhốn nháo, có người sách cả đồ đạc như chạy loạn, chiếc xe chạy tới giữa cầu thì ngừng lại, lính Dù bố trí dọc theo hai bên thành cầu, có pháo rớt chung quanh. Chương chống nạng tới chỗ có mấy cái cần ăng ten, Trung Tá TĐT Tiểu đoàn Dù mà Chương phục vụ trước đây đang nói chuyện trên máy. Chương bước tới đứng nghiêm chào vị TĐT, người cách đây mấy tháng đã cùng anh xông pha trong lửa đạn ở Thường Đức.

- Trời ơi Chương, cậu tới đây làm gì, lui xuống dưới kia, tụi nó sắp tới, có cả tăng nữa, lui xuống.
- Không đích thân, đích thân cho tôi được chiến đấu với anh em lần cuối, Nhẩy Dù cố gắng mà đích thân.

Vị Tiểu Đoàn Trưởng Dù nhìn Chương trừng trừng, môi ông run run, một người vào sinh ra tử cả bao nhiêu trận, bỗng dưng thấy lòng chùng xuống, ông chào Chương, một thượng cấp chào thuộc cấp, chưa bao giờ Chương gặp trường hợp như vậy...

Chàng lọc cọc chống nạng bước đi, cúi nhặt khẩu M16 của ai vứt cạnh đó cùng sợi dây ba chạc. Có tiếng Đầy:

- Ông thầy chờ em, em đi cùng với ông thầy.

Hai thầy trò xách 2 cây súng, ngồi dựa vào thành cầu, những người lính Dù đang nhắm súng vào hướng địch, có tiếng súng nổ từ hướng bên kia đầu cầu, tiếng đạn AK mà cả hai đã từng nghe quen, Chương lẩm bẩm: bài hát sao mà đúng thế, tai nghe quen đạn thù, chàng cao giọng:

- Nhẩy Dù cố gắng nghe Đầy.
- Dạ, Nhẩy Dù cố gắng ông thầy.

Tiểu Đoàn Dù đã thiết lập được hai lô cốt tạm ở đầu cầu hướng về phía nhà máy xi măng Hà Tiên, bộ binh địch bắt đầu xông lên nhưng chạm phải Dù bắn trả, chúng lùi lại rồi xốc tới, một lần rồi hai lần, chúng bị chặn lại. Chưa bao giờ đánh nhau mà không được một sự yểm trợ nào cả như lần này, từ pháo binh tới phi cơ, Chương và Đầy nhắm vào toán VC gần chân cầu, lâu rồi Chương mới cầm khẩu M16 mà bắn như vậy, không còn lệnh lạc, không còn chỉ huy, chỉ còn nhắm quân thù mà bắn.

Buổi tối, địch thôi tấn công, đêm yên lặng, thỉnh thoảng nghe tiếng pháo kích hướng Tân sơn Nhất và những tràng đạn nổ ở đâu xa nghe như pháo tết. Đầy kiếm được bịch gạo sấy và hộp thịt ba lát, Chương không ăn, hai thầy trò nằm cạnh nhau, trời trong và đẹp, những vì sao trên cao không sáng bằng sao ở Thường Đức. Đầy kể cho Chương nghe về những người người lính trong Đại Đội đã hy sinh ở đấy, về những người bạn ĐĐT và Trung đội Trưởng đã nằm xuống, Chương nhớ vô cùng những người lính trong ĐĐ trước đây, mỗi lần nói chuyện với họ, Chương luôn thấy ấm áp và một sự khoan khoái trong lòng, những người mà mới chuyện trò với họ hôm qua, hôm nay đã hy sinh, chịu đựng gian khổ và hiểm nguy, để được gì ngoài tình yêu quê hương.

Đêm mấy tháng trước ở đó đâu có yên lặng như thế này, mà chắc cũng không yên được lâu đâu, chúng đang chuẩn bị đấy, khi chúng im lặng là chúng đang chuẩn bị cho cuộc tấn công tiếp theo. Không biết cả hai thiếp đi được bao lâu, có tiếng súng nổ ran từ phía đầu cầu. Trời mờ sáng, địch bắt đầu tấn công. Chương và Đầy gom mấy dây đạn lại. Chúng xuất hiện ngay dưới chân cầu, những người lính Dù chuyển đổi vị trí ẩn nấp. Có tiếng ì ì từ xa, xe tăng địch tới. Chẳng còn gì ở đây cả, chỉ còn ít cây M72, mấy ngày nay, Dù vừa di tản vừa phải chiến đấu, đạn dược, lương thực đã cạn, chưa được tiếp tế. Hai chiếc xe tăng địch đi đầu khai hỏa, địa thế trống trải, chúng bắn dọc theo cầu, pháo tăng nổ cấp tập trên mặt cầu, quân Dù rút dần về phía đầu bên này, một viên đạn pháo xe tăng nổ ngay chỗ Đầy nằm cách Chương mấy thước, Chương bò tới, Đầy bị trái pháo nát bấy người, nhìn thấy Chương, anh chỉ kịp thều thào “Trung Úy...” rồi ra đi. Chương nắm tay Đầy, vuốt mắt cho người lính thương yêu, người đã sống chết với anh bao lâu nay nơi chiến trường và săn sóc Chương trong những ngày đau đớn. Chiến tranh chưa ngưng, còn tàn hại tới giây phút cuối cùng, chàng nắm cây M16 nghiến răng bắn một loạt về phía mấy tên VC đi đầu. Tiếng tăng mỗi lúc mỗi gần, Chương tuyệt vọng, mấy tháng trước mình đã không chết ở Thường Đức, giờ mình chết ở đây, cũng không sao, Chương rút khẩu colt, lên đạn. Tiếng xe tăng nghe càng rõ dần, nhìn Đầy nằm bên cạnh, anh thì thầm: “Thầy trò mình có nhau, Đầy a!ỉ”. Một tiếng vang lên, không phải Chương đang lao xuống từ ngọn đồi 1062, anh đang lao xuống một vực sâu, sâu lắm.

Trưa 30 tháng Tư, sau khi Dương văn Minh tuyên bố đầu hàng, dân chúng xuôi ngược trên cầu xa lộ nhìn thấy xác hai người lính Nhẩy Dù, trong đó có một người cụt mất một chân và tay họ nắm chặt lấy nhau.

VIẾT THÊM CHO LỜI KẾT

– Trận Thường Đức có thể nói là trận đánh lớn nhất của SĐ Nhẩy Dù, hơn 3 tháng quần thảo với hai SĐ cộng quân là SĐ 304 và 324, thêm nhiều Trung đoàn tăng cuờng cùng các Trung đoàn pháo, Cộng quân rút khỏi Thường Đức, ngọn đồi 1062 trước xanh tươi, giờ trơ trụi cây cối, được chiếm đi chiếm lại nhiều lần của hai bên, số thiệt hại như sau :
- Sư Đoàn Dù có 2 Lữ Đoàn 1 và 3 tham dự với 7 TĐ thay phiên nhau xa luân chiến, 500 tử thương , khoảng hơn 2000 bị thương, số tổn thất bằng 50% quân số.
- Cộng quân, ba Trung đoàn 24, 26, 66 coi như xóa sổ, hơn 2000 bị chết, 5000 bị thương.

Trong số những người hy sinh của SĐ Dù, có nhiều ĐĐT và Trung đội trưởng, Đại Úy Ngụy văn Đàng, một ĐĐT của TĐ 3 Dù đã phải gọi pháo binh và phi cơ dội ngay trên đầu mình vì địch quá đông, tràn ngập điên cuồng trong chiến thuật biển người. Khi tìm được xác anh, ĐU Đàng chết trong thế ngồi, mắt mở trừng trừng, người đầy vết đạn, anh chết mà chúng vẫn tiếp tục bắn vào anh. Người bạn thân cùng khóa 25 Võ Bị với Chương là Đại Úy Võ Thiện Thư, Đại Đội trưởng ĐĐ34 cùng Trung Úy Tô văn Nhị khóa 26 lên tiếp cứu cho Đàng cũng đã chiến đấu dũng mãnh. Địch xử dụng 1 Trung đoàn, cuồn cuộn biển người, cuối cùng, cũng như Đàng, Thư đã gọi pháo binh bắn ngay lên đầu khi bị địch tràn ngập, cả hai hy sinh. Khóa 26 VB về Nhẩy Dù 10 Sĩ Quan thì nội trong trận Thường Đức cũng đã hy sinh 5 người. Các Sĩ quan tốt nghiệp Trường Võ Bị Đà Lạt phải trải qua một hành trình 12 năm ở Tiểu học và Trung học, 4 năm tại Trường Võ Bị, tổng cộng 16 năm, tốt nghiệp cấp bậc Thiếu Úy, những người sẽ là rường cột của Quân Đội sau này, nhưng chỉ cần một viên đạn, ngay trận đánh đầu tiên, đã hy sinh, có uổng phí không? Không, người Sĩ Quan Hiện dịch là như vậy, cần được tôi luyện trong khói lửa.

Hơn 5 tháng sau trận đánh tàn khốc này, miền Nam rơi vào tay Cộng Sản. Một sự thật đau lòng bởi sự phản bội của người Mỹ, cả một Quân đội hùng mạnh bị trói chân, trói tay trong cuộc chiến tuyệt vọng. Ở Thường Đức, Nhẩy Dù đã anh hùng chiến đấu giữ vững được bờ cõi, những năm tháng trước đó, ở Quảng Trị, Bình Long, Kontum, Qưân lực VNCH đã chiến đấu dũng cảm, rồi bao trận đánh oai hùng năm xưa. Khi người Mỹ đã xong công việc, họ gọi là cuộc rút quân trong danh dự, thật ra đây là cuộc rút quân nhục nhã, cuộc rút quân phản bội, chỉ tội nghiệp, ta đã hy sinh uổng phí, mấy trăm ngàn người chết để đổi lấy một kết cuộc bi thảm.

Bây giờ bỗng dưng nổi lên có những người mà năm xưa khi khói lửa chiến tranh, họ còn nhỏ, chưa phải cầm cây súng, chưa biết thế nào là chết chóc, chưa có cảm giác khi đồng đội ngã xuống bởi đạn thù, tóm lại, họ chẳng phải hy sinh gì hết, giờ họ lớn tiếng hỏi các Tướng lãnh (Quân Đội) đã xin lỗi nhân dân chưa? Câu hỏi thật lạ, chính họ phải xin lỗi những người đã nằm xuống vì đất nước, vì sự an toàn cho họ, họ phải xin lỗi vì sự nhởn nhơ ngoài vòng chiến mà bao người khác đã chết thay cho họ, những Don Quichotte thời đại cầm kiếm múa may, họ nghĩ rằng Quân Đội phải chịu trách nhiệm trong việc miền Nam bị mất mà họ thì không chăng?

Một Don Quichotte khác lớn tiếng thóa mạ các Tướng Lãnh hèn nhát, làm mất nước, lạ một điều, những người này chưa hề cầm súng chống lại quân thù trong cuộc chiến vừa qua, những người này khi đất nước chìm trong lửa đạn, họ vắt mũi chưa sạch, nhưng giờ họ làm như thể nếu họ chỉ huy thì ta sẽ không thua. Các Tướng có hèn nhát không? Tướng Nguyễn viết Thanh, Tướng Đỗ cao Trí, Trương quang Ân đã hy sinh tại mặt trận, 5 vị Tướng đã tuẫn tiết không đầu hàng giặc, còn bao nhiêu Sĩ Quan khác nữa mà họ là những anh hùng trong bóng tối, họ có hèn không?

Chương, cho đến khi dành viên đạn cuối cùng cho mình, nằm xuống mà vẫn không hiểu tại sao miền Nam lại mất, bao nhiêu bạn bè, đồng đội anh cũng đã nằm xuống mà không biết mình bị phản bội, giá biết được, liệu họ có liều hy sinh cho một điều vô lý như thế? Họ là những người lính, mà người lính lúc nào cũng nghĩ tới nhiệm vụ và thi hành lệnh. Xin kính chào những người lính Quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã nằm xuống cho quê hương.

Trần Như Xuyên

Posted: Thu Nov 10, 2011 10:37 pm
by quangminh
TRUNG TÁ VÕ VÀNG
XIN MỘT LẦN ĐƯỢC NHẮC TÊN ANH


Trương Đức Thủy


Thời gian vẫn vô tình trôi qua, như nước chảy dưới cầu, như vó câu qua cữa sổ …. Và lòng ngươì thì bị cuốn hút vào trong cơn lốc xoáy nghiệt ngã của thời cuộc. Tháng Tư uất hận một lần nữa lại về ……
Đã bao lần tôi muốn viết vài giòng trân trọng, để tưởng nhớ anh , nhưng tiếc thay tôi biết quá ít về đời tư của anh, dù đã có thời gian anh đối xử và thương mến tôi như thằng em nhỏ dại. Sau khi cãi taọ về, tôi đã cố tìm gặp những người có mặt bên anh trong những giây phút cuối, để lấy thêm dữ kiện sống, nhưng cũng không thỏa mản được những điều tôi muốn biết. Ngay khi mới đinh cư tại Hoa kỳ, tôi đã tìm tòi qua báo chí, nhất là những thiên hồi ký trong tù của nhiều người, nhưng cũng chỉ thoáng qua tên anh .Tháng Tư năm 1975, tháng Tư 2004: 29 năm, một phần ba đời người sống thọ. Thời gian thật dài. Sợ chờ đợi mãi, có khi trí óc bị bào mòn và thời gian sẻ đưa tất cả vào quên lảng. Thà thắp lên tia lửa nhỏ, còn hơn ngôì nguyền ruả bóng đêm. Tôi quyết định, mạo muội viết những kỷ niệm về anh, goị là thắp nén hương tưởng niệm người anh hùng, tôi hằng kính yêu nhân ngày giổ thứ 27 sắp tới của anh . Tháng 7 năm 1977 ………. Tháng 7 năm 2004.

QUEN ANH NHƯ LÀ MỘT ĐỊNH MỆNH :
. Ngươì ta ở đời có hai trường hợp.

Thứ nhất : Mới thoáng gặp nhau là đã có cảm tình, muốn trò chuyện, muốn kết thân, hay trai gái mơí gặp nhau đầu mày ,cuối mắt đã phãi lòng nhau, muốn trao nhau trái tim yêu nóng hổi , sách tướng số, bói toán goị là hạp căn , hạp tuổi , hạp mạng v v …. Thứ hai : Mới gặp nhau dù chưa từng quen biết , mới thoáng qua là đã muốn doa', muốn đục, muốn đuổi đi cho khuất mắt, sách tướng số gọi là xung khắc, không hạp căn , không hạp mạng, gần nhau là như chó với mèo … Tôi hân hạnh quen anh nằm trong hai trường hợp trên. Sau chuyến công tác, trở về Đànẵng, buổi chiều hôm đó tôi dẫn cô bé Lệ H…đi ăn ở nhà hàng nổi, trước khách sạn Bạch đằng, đây là lần đầu tiên tôi đưa cô bé đi ăn ở nhà hàng. Thường thường chúng tôi đi ăn kem Diệp hãi Dung, cơm gà Hãi Nam , hay bánh hỏi thịt nướng , chè Ngã Năm ….đi vào chỗ nào, cô bé cũng rụt rè , e-lệ, tôi muốn đưa vào nhà hàng để cô bé làm quen với không khí mới lạ .Bước chân vào trong , cô bé đã tỏ ra mất bình tỉnh trước không khí nhiểm đầy khói thuốc và sắc aó rằn ri. Tôi trấn tỉnh em và đưa vào một góc cuối , hai đứa đang cúi xuông' trên tấm thực đơn , chọn thức ăn , thì có một bóng người đến đứng trước bàn tôi , tôi ngẩng đầu lên , bắt gặp khuôn mặt đỏ ké . trong bộ quân phục rằn ri Biệt động , trên cổ aó một bông mai đen , tôi tưởng bạn nhìn lầm người, nên định đứng lên chào , nhưng không , anh chàng đưa mắt nhìn Lệ H.. và gằn giọng nói vơí tôi: Ai cho phép mầy nghinh bọn tao ??? Tôi biết mình đang bị kiếm cớ gây sự. Tôi thầm kêu khổ trong bụng , không phãi tôi sợ , tôi là thằng lì có tiếng , ngàn lần tôi không sợ , nhưng làm sao tránh cho cô bé khỏi bị tổn thương. Tôi xin vắn tắt vài giong, xem tôi đã làm gì mà các bạn Biệt Động ngứa mắt. Tôi vưà ra trường trên một năm, xông pha trận mạc vài lần , nhưng nhỏ con , chưa qua khỏi tuổi 21 , nên còn rất thư sinh , nếu cởi bỏ binh phục thay vào aó trắng quần xanh , tôi cũng chỉ là cậu hoc trò trung học. Thế mà dám dẫn đào vào đây rước đèn, aó quần cũng rằn ri nhưng khác màu cuả Biệt động, binh chũng chúng tôi có cái thói quen lập dị là không bao giờ mang cấp bậc, nếu có mang cũng rất kín đáo , như muốn không cho ai thấy, gắn ở chuôi dao găm, sau nắp túi aó …..Rừng nào thì cọp nấy , thanh` phố Đa`Nang là rừng của anh em Liên đoàn I BĐQ. Tôi biết tôi đã làm cho các anh gai con mắt, và muốn đục tôi, dằn mặt. Anh Thiếu uý chưa thấy tôi trả lời, đã cao giọng ra lệnh : Mầy hảy đến bàn kia xin lổi mấy anh đi, thì tau tha cho ! Tôi biết tình hình quả gay go. Thực khách lần lượt ra khỏi nhà hàng. Xin lổi ư ? Không bao giờ, vì tôi có lổi gì đâu. Vì tự- aí, vì màu aó tôi đang mặc, tôi biết chắc là có đổ máu , đổ máu một cách vô ich ,vì trong tuí' quần trận tôi luôn luôn có khẩu Breta nhỏ , Lệ H.. tái mét mặt mày. Tôi bảo nhỏ : Em qua ghế đá ngồi đợi anh. Tôi bỏ tay vào tuí quần, chạm cục thép lạnh, tôi nghĩ nếu anh bạn xáng tôi bạt tai , thì máu sẻ đổ. Trong giây phút quả bong bóng căng sắp nổ, thì có tiếng tằng hắng nghe rỏ mồn một ở gần quầy, anh chàng Thiếu úy nhìn lên, lẳng lặng về bàn và cả bộ ba keó nhau rời nhà hàng. Lệ H.. như chết khiếp , tôi phãi trấn an nàng, nên chưa để ý xem ai vưà tằng hắng, mà mấy ông thần gây sự bỏ đi , thì một ngươì cao to, bước đến trước mặt, tôi nhìn thấy cặp galong Thiếu tá trên cổ aó rằn ri, bảng tên trên túi : VANG. Tôi đứng thẳng ngươì chào, nhưng Thiêú tá vổ vổ vào vai tôi và noí' : Em hay ngồi xuống và tự nhiên cùng bạn gái em ăn uống , xem như không có gì xẫy ra. Ông hỏi tôi về đơn vị , tôi trinh bày đơn vị, cấp bậc và noí : Em vừa về sau chuyến nhảy dài nên chưa cắt tóc, các anh kia thấy gai mắt mà sinh chuyên , xin Thiếu tá tha lổi. Ông dịu dàng : Em không có lổi gì cả , thôi quên đi mà vui vẻ với bạn gái. Chúng tôi chưa ăn gì cả, và thức ăn cũng chưa mang ra . Lệ H… một mực đòi về , tôi đành chìu nàng. Tôi đứng lên : Thưa Thiếu tá, cho em đưa bạn gaí về , không ngờ ông sốt sắng lấy xe Jeep đưa chúng tôi về , dù tôi quyết liệt từ chối, sợ làm phiền ông. Sau khi trả Lệ H…về nhà nàng , tôi lại đi chơi và tâm sự với ông gần sáng đêm . Đó là Thiếu tá VÕ VÀNG, Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 21 BĐQ, lừng dang trên chiến trường Miền Trung. Từ lúc còn mài đủng quần trên ghê' Trường TH/PCT/ ĐN , tôi đã nghe danh và ngưởng mộ người anh hùng nầy , không ngờ tình cờ như một định mênh xui khiến , tôi được quen Ổng và được ổng thương mến như em út. Ông bắt tôi gọi bằng anh và goi tôi bằng mày ( tiếng mày từ miệng ông sao mà thân mật quá , không như tiếng mày của anh bạn Thiếuuý BĐ gọi tôi trong nhà hàng, nghe qua đã lộn máu nóng lên đầu….) Tôi thưa : Trước mặt lính tráng cuả Thiếu tá, mà em goị như vậy e bất tiện qúa ! Ổng nghiêm giọng : Có sao đâu, mầy là em tau, là em tau thì phãi gọi tau bằng Anh.

NHỮNG NĂM THÁNG CÓ ANH TRONG ĐỜI:

Từ đó sau ,những lần về ĐN tôi thường ra căn cứ Liên đoàn 1/BĐQ ở Phú lộc (trên đường ra Hoà Khánh, quẹo tay mặt) để thăm anh , nhờ đó mà tôi quen gần hết cac bạn trong Tiểu đoàn 21/BĐQ , kể cả anh Thiếu uý T . người đòi đục tôi trong nhà hàng. Thơì gian những năm 66, 67, chiến trường miền Trung vô cùng sôi động. Đồng minh ào ạt đổ quân vào. Tiểu đoàn 21 BĐQ của Thiếu ta' Võ Vàng đã tạo những chiến công vang dội, báo chi trong và ngoài nước nức lòng ngơị khen, các cấp chỉ huy Quân Đồng minh nể mặt. Những lần gặp lại anh, tôi được anh thương mến đặc biệt, thường dặn dò và bày vẽ những kinh nghiệm chiến trường, vì duới mắt anh, tôi chỉ là con dê non ưa húc càn. Anh luôn nói về đời lính và yêu đời quân ngủ trên hết mọi chuyện, ở anh chỉ có chiến công và mong sớm có thanh bình cho Quê hương. Tết Mậu Thân, hai anh em cùng hành quân trên một địa bàn, Nam sông Hương. Khi tạm yên tiếng súng, anh goị tôi sớm mai đến Bộ chỉ huy (BCH) cuả anh để uống bia, nhưng đêm đó, tôi nhận lệnh bàn giao khu vực trách nhiệm cho đơn vị bạn , để đến vùng hành quân khác ,thất hẹn với anh. Sau Mậu Thân, anh được vinh thăng Trung tá và giữ chức vụ Liên đoàn phó LĐI /BĐQ . Sau đó anh được thuyên chuyển về Trường Vỏ Bị Quốc Gia Đà- lạt, giữ nhiệm vụ Trưởng ban Quân vụ ; đây là thời gian dài, chúng tôi không gặp nhau , Trương` Vỏ bị Đà-lạt là chỗ dung thân tốt nhất cho những ai muốn tìm chữ THỌ, nhưng trong những bức thư anh gởi cho tôi, anh luôn luôn than buồn chán và nhớ chiến trường. Hơn ai hết, tôi biết con hổ bất đắc dĩ phãi xa nuí rừng thì rất nhớ rừng xanh núi thẳm. Anh mong được trở lại thời ngang dọc cũ. Và anh được toai nguyện, anh trở ra cầm quân trong chức vụ Trung đòan trưởng trung đòan 5 SĐ2 BoBinh , tôi cứ đinh ninh với tài thao lược và kinh nghiệm của anh, đương` tiến thân của anh sẻ thenh thang, rộng mở. Những ngaỳ trước khi Hiệp dịnh Paris được bốn bên ký kết , VC cố đánh chiếm Sa Huỳnh để làm cữa khẫu và cắt đứt con đương` huyết mạch Nam Bắc của VNCH; đây là đất anh dụng võ, anh muốn đánh trận đánh để đời, nhưng đột nhiên tôi nghe anh bị cất chức Trung Đoàn trưởng. Nguời cách chức anh là Chuan tuong' Trần Văn Nhựt , Tư lệnh SĐ2 BB. Tôi xin dành it giòng để điểm qua báo chi' về vị tướng nầy :

Trong suốt cuộc đời binh nghiệp của Ch/ Tuong' Nhựt thì canh bạc xì phé ông ăn đậm nhất là khi mặt trận Bình Long nổ ra. O^ng đã về nhiệm sở kịp thời để xí phần vì trên cương vị Tỉnh trưởng và Tiểu khu trưởng Bình Long, ông không góp tí công lao nào cả , mà moị chuyện đã có Ch/Tướng Le^ Van HƯNG Tư lệnh SĐ5/ BB, Đ/Tá Lê Quang LƯỞNG LuĐoan` Dù, Đ/Tá HUẤN, Liên đoàn 81 Biệt cách Dù lo trọn gói. Khi An lộc được quân dân anh hùng tái chiếm, Bà vợ Ch/Tướng Nhựt đã chạy cửa hậu với chi Sáu Thẹo , kiếm cho cái chức Tư lệnh SĐ2BB và một ông sao (ông này có số núp bóng quần hồng ). Trong trận tái chiếm Sa Huỳnh, SĐ2BB dưới tài cầm quân của Ch/T Nhựt thì ra sao (?) xin mời qúy vị hảy nghe nhân chứng sống, Tr/ Uy Trần Thy VÂN, ngươì trực tiếp dự trận đánh với chức vụ Đai đội trương ĐĐ1 / Tiểu đoàn 21 BĐQ , kể sau đây trong tập bút ky' chiến trường ANH HÙNG BẠT MẠNG của Ông: (Theo lời Th/ tá Quách Thưởng kể, trước khi T/T Nguyễn Văn Thiệu đến BCH Trung đoàn 6 xem thành quả tái chiếm Sa Huỳnh, các khối vũ khí được trình bày riêng rẻ, với tấm bảng đề tên đơn vị tịch thu. Dĩ nhiên chiến lợi phẫm của LĐI /BĐQ cũng được ghi rỏ . Đặc biệt thêm một tấm tương tự treo trên nòng súng phòng không 12 ly 8. Nhưng khi phài đoàn Tong Thong đáp trực thăng xuống và các Sĩ quan Mũ nâu ra sân đón rước, thì Ch/T TRẦN VĂN NHỰT LIỀN CHO BỘ HẠ NƠI PHÒNG TRIỂN LÃM ĐANH' THÁO HẾT CÁC TẤM BẢNG GHI CHIÊN' LỢI PHẪM, NGHĨA LÀ MỘT DÃY 300 CÂY SÚNG ĐỦ LOẠI DO BĐQ TICH THU, BỖNG TRỞ THÀNH CHIẾN LỢI PHẪM CỦA SĐ2 BB. Ông còn trắng trợn, bỉ ổi không thể tả được là độc nhất có cây phòng không 12ly8 của Đ/Đ tôi cũng bị đánh tráo luôn, không chút ngượng taỵ Rỏ ràng hành đông của Ch/T NHỰT như anh hàng thịt, treo đầu heo bán thịt chó. Tội nghiệp đám tướng sĩ tượng , cả xe pháo mã đứng xem chỉ biết tâm tắc khen tài, chứ đâu có ngờ ông bình vôi, nữa người nữa ngợm, vừa làm trò aỏ thuật cướp công xương máu BĐQ ….) ( Xin ngưng trích ).

Tháng Tư năm 1975, Ch/T NHUT ( hay là GIỰT chạy) kéo được ít quân tháo chạy về Tuy Hoà, được Tr/Tuong' Vĩnh Nghi, Tư lệnh Tiền Phương Quân Đoàn 3, giao cho làm phụ tá hành quân tái phối trí lực lượng. Gìữa lúc dầu sôi lữa đỏ, Ch/T Nhựt lên trực thăng xin đi thị sát mặt trận, nhưng vù thẳng ra Hạm đội 7, đào ngủ. Theo kỹ luật Quân đội: khi đối diện với đich mà đào ngũ thì ra toà án binh, bị tước đoạt binh quyền và có thể bị Tử hình. Nhưng khi qua đến Mỹ, Ch/T Nhựt đã không bị lột lon, mà còn tự phong là Thiếu tướng, ba hoa chích choè...Khi bị báo chí vạch lưng, thì đánh lận con đen, xưng là Tướng ( General )để người ta có thể tưởng là Major General, hay Lieutenant General, hay hơn nữa... mà thực cha^t' là phường biển lận, tên hèn nhát, kẻ vô liêm sĩ, bất tai`. Đất nước chúng ta để cho những tên như vậy, giữ trọng trách trấn nhậm những vùng hiểm yếu, mà mãi đến 1975 mới rơi vào tay VC , âu cũng là một phép lạ, hy vọng sữ sách sẻ dành cho những tên tướng Quảng-lạc nầy vài chương, để hậu thế tránh vết xe cũ. Hiệp định Paris được ký kết, trong đó có kèm theo 2 Nghị định Thư, tổ chức hai cơ quan thi hành, đó là ICCS ( International Commission Control, Surpervision) goi là Uỷ ban kiểm soát và giám sát quốc tế gồm hai nước CS la Ba Lan và Hungary, hai nước tự do là Indonesia và Canada. Nhưng sau Canada thấy không đi đến đâu nên rút lui và Iran vaò thay thê' ( thời gian nầy Iran còn có Vua Palavi, thân Mỹ ) và cơ quan kia là Ban liên hợp quân sự bốn bên và sau còn lại hai bên ( VNCH và Thằng Giải Phong' đội lốt ). Trung tá VÕ VÀNG bị đưa về Phú Bài/Hue' giử chức vụ trưởng toán BLH/QuanSu VNCH Phú Bài, một chức vụ ngồi chơi xơi nước vối . Anh như con cọp bị chặt hết nanh vuốt, buồn rầu , chán nản. Tôi đến thăm anh, tìm cách an uỉ anh, cũng như tìm hiểu nguyên nhân tại sao cờ đến tay anh đang phất mà bị ngươì ta giựt mất. Anh chỉ buồn rầu nói : Chỉ vì anh biết qúa nhiều, ngươì ta sợ anh nổi lên thì ngươì ta sẻ mờ đi. Nó nhiều tham vọng nhưng tài hèn và nhiều thủ đoạn ….

Tôi sợ anh buồn chán, nên đem đến cho anh đủ dụng cụ thể dục và khuyên anh tập đều đặn, để giữ sức khoẻ, ngươì ta sẻ cần đến anh. Trong thời gian ở Phú Bài, công việc của anh có phần nghi lể, nghĩa là đón tiếp các phài đoàn từ Sài gòn ra tại sân bay Phú Bài . Một hôm anh ra đón một Đại tá người Hungary, Tr/Ta' Võ Vàng trong cái bắt tay xả giao, đã bóp nát tay tên Đ/Tá CS , tên Đại tá nầy sau đó làm lớn chuyện, gởi văn thư phản kháng đến Trung ương. Anh rất căm thù CS dù dưới màu da nào. Hiệp định Paris chưa ráo mực, CSVN đã vi phạm khắp nơi, Tướng Ngô Quang Trưởng sáng suốt, thấy được viên dõng sĩ đang ngồi chơi xơi nước vối, nên vội gọi vào trình diện và giao cho Liên đội ĐPQ Quảng Nam, hình thức tổ chức của Liên đội ĐPQ, cấp số cũng tương đương với Lữ đoàn hay Trung đoàn. Khi đi nhận nhiệm vụ, anh có hỏi tôi : Muốn làm việc cạnh anh không ? Tôi biết anh thương tôi, muốn nâng đỡ tôi. Tôi qúa quyến luyến màu aó đang mặc, nên xin cho thời gian nữa. Nhưng không có thời gian nào cho chúng tôi nữa cã . Tháng 3/75, ĐaNang tan tác, ĐN uất nghẹn đau thương, tan đàn rẻ nghé …..Ngày 5 tháng Tư năm 1975, một buổi sáng tôi ra giếng nước trong Quâ.n Điện Bàn / QuangNam ( nơi đám tù tàn binh tập trung ) để lấy nước, bất ngờ gặp anh , tôi như chết lặng. Tay trái anh được treo lên : Anh cho biết ngaỳ 29 /3 mới về đến ĐaNang, đang đi trên đương` Thống Nhất gần Câu Vòng , thì bi một chiếc xe dân sự tông anh , may mà anh văng lên lề , chỉ bị thương. Tôi thật sự lo lắng cho anh , vì anh nổi tiêng' quá. Ngay đây, nơi tập trung tù binh, cũng không có ai dám gần anh để giúp anh trong khi anh đang bị thương. Tôi chỉ nói với anh, ngay bây giờ anh phãi tìm cách thoát, lợi dụng lúc nầy để thoát, nguy hiểm quá. Tuần lể sau , tôi bị đưa đi chổ khác với thầy Hoàng Thế Diệm , không còn qua lại thăm anh.

NGƯỜI ANH HÙNG BỊ THỦ TIÊU:

Sau thời gian tập trung tại Quận đường Điện bàn / QN, tất cả tù tàn binh trình diện hay bị bắt tại ĐaNang, được đưa lên Trại Kỳ Sơn. Trại Cãi tạo Kỳ Sơn gồm 1 tổng trại và 4 phân trại. Sĩ quan cấp tá ở traị I gần mỏ vàng Bông` Miêu. Trại 2 nằm sâu về hướng Tây, dành cho Sĩ quan cấp Đại uý. Trại 3 và 4 dành cho cấp Trung uý trở xuống, gần trại 1 và Tổng trại. Anh Võ Vàng nằm trong trại 1. Sau thời gian đầu lo xây dựng doanh trại, phát rẩy canh tác, ổn định nơi ăn chốn ở. Tháng 5 năm 1977, đợt hoc tập chính trị được mở ra trên quy mô rộng lớn. Tất cả đều nghĩ lao động và tham dự 100% . Những buổi học, tất cả tập trung tại hôi trường để nghe cán bộ chinh trị lên lớp và sau đó về tổ thảo luận những bài: Đế quốc Mỹ, tên sen đầm quốc tế, kẽ thù số I cuả nhân dân ta và loai` ngươì tiến bộ trên trai' đất. Hệ thông' Xã hôị chũ nghĩa ….. Nhưng hóc búa và điên đầu nhất là bài Nguỵ quân và Nguỵ quyền, tập đoàn tay sai bán nước. Sau khi ngồi nghe chưởi ruả trên hội trường, trở về tổ phãi liên hệ bản thân, tự giác khai ra những viec đã làm trong thời gian phục vụ trong quân đội VNCH. Đây là bản án , tự mình viết cho mình , ai cũng phãi tìm cho mình một cái tội. Sau đợt hoc tập chính trị, có ngươì như bị kiệt sức vì bị những đòn tra tấn cân não. Nhiêù lúc giữa đêm khuya bị goi lên khung ( bộ chi huy) làm việc , cứ tra đi hỏi laị nhũng họat động đã qua. Tr/ Ta' Võ Vàng là mục tiêu chính, bọn cai tù nhắm đến , luôn luôn chúng đặt câu hỏi : Trong quá trình chỉ huy BĐQ , Trung đoàn trưởng , Liên đội trưởng , anh đã giết bao nhiêu Cán bộ CS và dân lành ? Mấy ngày đầu anh trả lời : Trên cương vị chỉ huy , tôi chưa bao giờ trực tiếp bắn còn lính dưới quyền, lúc xung trận , ai bắn chậm thì chết, tôi không biết. Bọn chúng đâu có chịu...bọn chúng quay anh từ sáng tới tối, ngày nọ sang ngaỳ kia, nhưng anh vẫn kiên gan giữ vu*ng~ lơì khai.... đến lúc đó, bọn chúng mới đem những tờ báo cũ có ghi kết quả các trận đánh ra và tổng kết tổn thất địch ( VC) trong khoảng thơì gian anh Vàng chỉ huy, không dưới 20 ngàn VC phơi thây. Bản án Tử hình cho anh đã manh nha thành hình. Trong số các vệ binh coi tù, có nhiêù tên mới theo VC sau 30 thang 3/ 75 , gồm nhiêù thành phần, có tên rất khát máu, thù hận vì có thân nhân bà con chết trong cuộc chiến, nhưng cũng có tên nguyên trước 30 thang' 3 là hoc trò của vợ tù, nên cũng dễ dãi và dễ bị mua chuộc để lấy tin tức. Sau đợt học tập chính tri quy mô kéo daì trên một tháng, tất cả tù được lệnh đi lao động trở lại Một đêm đầu tháng 7 năm 1977 , bộ chi huy trại 1 có cuộc họp chi bộ đãng, bản án tử hình danh` cho Tr/Tá VÕ VÀNG đã được tổng trai Kỳ Sơn ký từ trước. Buổi họp nầy có mục đích tìm ngươì tình nguyện thi hành bản án. Tên Nguyễn Bốn, tên vê binh loắt choắt, nhỏ con nhưng khét tiếng ác độc và khát máu đối vời tù, đứng lên tình nguyên thi hành.(tên Bốn nầy có cha hoạt đông nằm vùng cho VC bi nghĩa quân giết). Buổi trưa hè tháng 7 năm 1977 , tổ của Tr/tá Võ VÀNG có nhiệm vụ tiả bắp trong rẩy, cạnh sông Vàng ( nói là sông, nhưng thật sự là giòng suôí nhỏ chảy qua các ghềnh đá bị xoi mòn rất đẹp )trong khu vực Mỏ Vàng Bông` Miêu. Trời đứng bóng, nắng chang chang, tất cả tổ nghĩ lao động kéo nhau vào bóng mát, lấy vắt cơm sắn và chút nước mắm cáí ra ăn, thì tên Nguyễn Bốn xuất hiên với AK trên tay, ra lệnh: Anh Vàng theo tôi lên đồi nhổ sắn ( củ mì ) về bồi dưởng cho cả tổ. Linh tính báo cho biết việc chẵng lành, anh em trong tổ nhao nhao lên : Xin anh cho tôi đi nhổ sắn thay, vì anh Vàng mấy hôm nay bi kiết lị, yếu lắm. Nhưng tên Bốn vẫn khăng khăng bắt anh Vàng đúng lên đi lên đồi. Khoảng từ 7 đến 10 phút sau, thì một loạt AK nổ. Lát sau, tên Bốn trở xuống noí: Các anh lên đem xác tên Vàng xuống chôn cất, nó giựt súng tôi, nên tôi đã xử lý. Bọn khốn nạn, lủ hèn nhát đã giết anh một cách hèn hạ. Tại sao chúng lại dựng nên tấn tuồng giết người tay không một cách hen` hạ như vậy ??? vì bản chất chúng là bọn ngươì hèn hạ, đê tiện, làm việc gì cũng không quang minh, chính đại, hành động của lủ đầu trộm, đuôi cướp ….Anh đã tức tưởi nằm xuống bên giòng sông Vàng, trong khu Mỏ Vàng Bông` Miêu , như là một định mệnh.


Anh VÕ VÀNG kính yêu, đã 29 năm, ngày Tổ quốc bị bức tữ , 27 năm ngày anh bị chúng hành hình một cách hèn nhát. Thời gian đủ để mọi ngươì mở mắt nhìn thấy rỏ Thiên đường Cong San , thời gian đủ dài để xác thân anh trở về với cát bụi , và em tin tưởng linh hồn anh đang oai nghi , thanh thản ở cỏi vĩnh hằng. Xin hảy cho em một lần được nhắc đến tên Anh , Anh VÕ VÀNG , với lòng kính phục và thương tiếc sâu xa, một ngươì anh, một chiến sĩ QLVNCH kiệt xuất, hy sinh hết tuổi thanh xuân và cống hiến thân xác cho đại cuộc : Bão vệ tự do cho Tổ Quốc. Xin anh cho em được đốt nén hương tưởng niệm anh nhân ngày giổ thứ 27 của anh . Xin anh cho em một lần nữa nhỏ nước mắt nho*' thuong Anh !

Posted: Fri Nov 11, 2011 3:49 am
by dailien

Image
Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù

Khiếu Hữu Diêu

Tôi tự nguyện xin về Nhảy Dù sau cuộc đảo chánh 11-11-1960 và được bổ nhiệm Trưởng Phòng 3 Lữ Đoàn Dù. Nhằm mục đích gia tăng viện trợ quân sự cho Miền Nam, Phó Tổng Thống Lyndon Johnson đã sang thăm viếng Việt Nam để nghiên cứu về khả năng tác chiến của Quân Lực Việt Nam Cọng Hòa. Sau cuộc biểu diễn thành công về hành quân đổ bộ bằng trực-thăng-vận có Phó Tổng Thống Hoa Kỳ Lyndon Johnson dự khán, tôi được bổ nhậm làm Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù.

Đại Úy Nguyễn Khoa Nam, Ban 3 Tiểu Đoàn 3 Dù

Vài tháng sau thì Đại Úy Nam được Bộ Tư Lệnh Lữ Đoàn Dù chỉ định xuống làm Trưởng Ban 3 cho tiểu đoàn của tôi. Thật ra, theo tôi biết thì Đại Úy Nam đã tình nguyện. Có lẽ vị Tư lệnh Nhảy Dù lúc ấy cũng đã nhận thấy khả năng và đức độ không thường của Đại Úy Nam nên tìm cách đưa ông về một đơn vị tác chiến để chuẩn bị tương lai cho ông, chứ nếu cứ để ông ấy luẩn quẩn mãi ở Đại Đội Kỹ Thuật Dù mà nhiệm vụ chính là huấn luyện nhảy dù, rồi thu dù và xếp dù, thì thật uổng phí tài năng của một sĩ quan ưu tú.

Đại Úy Nam dần dần được sự mến phục của mọi người, kể cả hàng hạ sĩ quan và binh sĩ. Chỉ sau thời gian ngắn công tác, tôi cũng nhận ra ngay khả năng của Đại Úy Nam: ông am hiểu tường tận những kỹ thuật, nguyên tắc và thủ tục tham mưu mặc dầu chưa dự khóa huấn luyện nào.

Tính tình của Đại Úy Nam điềm đạm đến hiền lành, ít nói và rất kín đáo. Trong lúc tiếp xúc riêng tư, hay giữa các buổi họp đơn vị hoặc tham mưu, đôi khi ông cũng chêm vào một câu ý nhị, pha chút tiếu lâm cho vui, nhưng không bao giờ quá trớn, lỗ mãng, bông đùa hay cợt nhả. Lúc nào ông cũng nghiêm túc, chỉnh tề. Chữ viết tay của ông khá đẹp nên ông trang bị bản đồ hành quân cũng rất tươm tất và rõ ràng. Tôi chưa bao giờ thấy ông nóng giận, bực tức hoặc la rầy thuộc cấp. Rất khiêm cung, từ tốn, ông có một trình độ tự chủ và khắc kỷ rất cao. Ông sống giản dị, thanh đạm, không uống rượu nhưng nghiền thuốc lá Ruby Queen bao đỏ và thỉnh thoảng mới đi ăn uống với anh em. Lúc ngồi một mình thì với điếu thuốc trên tay, mắt nhìn chăm chú hàng giờ vào bản đồ hành quân. Bề ngoài tâm tư hình như khép kín đến xa cách anh em, ngược lại về công vụ ông lại hăng say, cởi mở. Ông luôn luôn tận tâm làm tròn bổn phận và rất chân tình với cấp chỉ huy.

Có lẽ, với nhận xét sắc bén của một vị Tướng tương lai, Đại Úy Nam biết “chọn mặt gởi vàng” khi xin về Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù, vì rằng trong số 6 tiểu đoàn Nhảy Dù tác chiến lúc ấy, TĐ3ND là tương đối vượt trội hơn cả mọi mặt. Đại Úy Nam rất hãnh diện được về tiểu đoàn của tôi và tôi cũng rất hãnh diện có được một sĩ quan phụ tá giàu khả năng như ông. Đối với tôi, Đại Úy Nam là một sĩ quan toàn hảo, đầy đủ khả năng và đức tính, có thể làm tròn nhiệm vụ không những trong hiện tại, mà còn trong tương lai xa nữa. Hồi đó, tôi đã nghĩ thầm rằng một ngày không lâu, ông sẽ qua mặt tôi và có thể sẽ là cấp chỉ huy của cả tôi nữa.

Tiếc rằng, giai đoạn 2 năm 1962-1964, chiến cuộc rất bình thường, ngoài các cuộc chạm súng lẻ tẻ chẳng đáng kể, không có những trận chiến quy mô lớn để ông có dịp lập công, nhưng Đại Úy Nam cũng học được rất nhiều về điều động, phân công cho các đơn vị trong mọi tình huống, liên lạc giao tế với Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn-Khu Chiến Thuật hoặc Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn-Vùng Chiến Thuật mà tiểu đoàn tăng phái đến.

Sau khoảng 6 tháng ở đơn vị, nhân có khóa học Căn Bản Bộ Binh ở trường Bộ Binh Lục Quân Hoa Kỳ tại Fort Benning, tôi đã chỉ định Đại Úy Nam đi học khóa này. Sau khi mãn khóa, ông lại được hoàn trả về đơn vị và nhận nhiệm vụ cũ.

Cuộc đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963.

Tuy cường độ chiến tranh trong giai đoạn 1962-1964 kém căng thẳng, nhưng ngược lại tình hình chính trị lại lắm biến động, xã hội bất ổn trầm trọng đã đưa đến cuộc cách mạng của quân đội nhằm lật đổ chế độ gia đình trị của Tổng Thống Ngô Đình Diệm vào ngày 1-11-1963.

Rút kinh nghiệm về cuộc đảo chánh hụt của Đại Tá Nguyễn Chánh Thi và một nhóm quân nhân ngày 11-11-1960. Bộ chỉ huy TĐ3ND đã gián tiếp xác nhận vai trò thuần túy của quân đội là tuân hành mệnh lệnh của cấp trên để bảo vệ quê hương và đứng ngoài mọi tranh chấp chính trị. Thái độ thẳng thắn đó đã được vị sĩ quan thâm niên thuộc phe cách mạng đồng ý nên khi cuộc cách mạng xảy ra, TĐ3ND được ở lại trại Hoàng Hoa Thám để bảo vệ hậu cứ và giải giới đoàn Thanh Niên Cọng Hòa tại sân vận động Hoa Lư, trong khi các đơn vị tác chiến Nhảy Dù khác đều phải tung về những vùng rất xa thủ đô. Trong biến cố này, các chiến sĩ TĐ3ND đã thi hành nhiệm vụ của cấp trên giao phó một cách bình thản và dễ dàng mà không tham dự vào mọi tranh chấp chính trị.

Rồi không đầy một tuần sau cuộc cách mạng, dù là lực lượng tác chiến tổng trừ bị, TĐ3ND được lệnh lên Đức Hòa, nằm giữ an ninh cho việc xây cất tòa hành chánh tỉnh Hậu Nghĩa mới được thành lập. Trong suốt thời gian hơn 2 tháng đóng đồn giữ nhiệm vụ an ninh lãnh thổ tại Đức Hòa, tôi để cho Đại Úy Nam hoàn toàn tự do quyết định mọi việc điều động các đại đội của TĐ3ND như chính ông là vị Tiểu Đoàn Trưởng vậy.

Ông làm việc hữu hiệu đến nỗi Phòng 2 Tiểu Khu Hậu Nghĩa và Phòng 2 Lữ Đoàn Dù đều chận bắt được tin tức của địch báo cáo về khả năng cũng như hoạt động tình báo và quân sự của họ trong vùng này. TĐ3ND đã tung ra những cuộc tấn công đè bẹp các hoạt động quân sự của địch từ trong trứng nước và kìm hãm hoạt động của địch ở mức tối thiểu, điều này cũng được chính những tù binh Cộng Sản bị bắt xác nhận.

Cuộc chỉnh lý đêm 30 rạng 31 tháng 1 năm 1964

Được một tiểu đoàn bạn thay thế, TĐ3ND trở về hậu cứ vào cuối tháng 1, 1964. Về hậu cứ nghĩ được một ngày thì TĐ3ND lại lên ứng trực hành quân bộ. Thế rồi biến cố chính trị bất ngờ khác xảy ra và TĐ3ND vô tình tham dự mà không biết, bởi lẽ chúng tôi chỉ thi hành lệnh do cấp trên trao cho mà thôi.

Mười giờ khuya ngày 30-1-1964, TĐ3ND nhận được lệnh từ Bộ Tư Lệnh Lữ Đoàn Dù di chuyển lên Bộ Tổng Tham Mưu trình diện Trung Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn III-Vùng 3 Chiến Thuật. Tôi y lệnh thi hành, điều động đơn vị vào Bộ Tổng Tham Mưu không hề biết rằng TĐ3ND đã được dùng như một áp lực trong cuộc chỉnh lý thành công của Tướng Nguyễn Khánh. Sáng hôm sau, tướng Nguyễn Khánh, vị thủ lãnh cuộc chỉnh lý đến cám ơn cả tiểu đoàn chúng tôi, giải thích lý do tại sao có cuộc chỉnh lý, xong bắt tay tôi rồi ra về. Thế là TĐ3ND lại hoàn tất một nhiệm vụ.

Có điều không chủ ý mà nên là sau hai biến cố chính trị khác thường đó, tinh thần binh sĩ TĐ3ND nói chung và các đại-đội-trưởng nói riêng, rất gắn bó với nhau hơn. Chắc họ nhận thức rằng, không một ai vì danh lợi mà đưa họ vào cuộc phiêu lưu chính trị, mọi người đều bình thản trước biến cố.

Sau đó không lâu, một biến cố ngoài ý muốn xảy ra ở Bộ Tham Mưu Lữ Đoàn Dù khiến vị sĩ quan đương kim Trưởng Phòng 4 phải rời nhiệm sở. Tướng Tư Lệnh Lữ Đoàn Dù gọi điện thoại cho tôi đòi lại Đại Úy Nam về đảm nhiệm chức vụ Trưởng Phòng 4. Thế rồi tôi và Đại Úy Nam phải xa nhau thật bất ngờ mà lòng đầy luyến tiếc vì sự cộng tác đang tốt đẹp và tình chiến hữu một ngày càng thêm khắng khít. Có thể nói, trong thời gian hai năm ở đơn vị, Đại Úy Nam đã chín mùi trong khả năng để làm một tiểu đoàn trưởng Nhảy Dù. Và cũng nhờ hai biến cố chính trị bất thường đã đề cập, Đại Úy Nam và tôi sống gần nhau hơn, hiểu rõ từng cử chỉ, hành động và lời ăn tiếng nói của nhau, chúng tôi tương kính lẫn nhau, cảm mến nhau hơn.

Phần tôi cũng chỉ ở TĐ3ND cho đến tháng 5-1965 rồi được cử đi học khóa Chỉ Huy và Tham Mưu Cao Cấp tại trường Chỉ Huy và Tham Mưu Lục Quân Hoa Kỳ và sau đó ra khỏi binh chủng Nhảy Dù.


Trích phần đầu trong bài hồi ký của cựu Đại Tá Khiếu Hữu Diêu. Ông nguyên là Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng TĐ3ND trong thời điểm 1961-1965.

Posted: Tue Nov 15, 2011 7:38 am
by quaichao
Đại Kỳ Việt Nam Cộng Hòa, Một Bảo Vật Lịch Sử.

Đinh Lâm Thanh
Một cơ hội đặc biệt vì đây là lần đầu tiên, hai bảo vật của Việt Nam Cộng Hòa xuất hiện cùng lúc trong ngày Liên Hiệp Quốc kiểm điểm tình trạng nhân quyền của cộng sản Việt Nam tại Genève. Đó là lá Quốc Kỳ lớn treo trên chiến hạm của Hải Quân Việt Nam trước năm 1975 và Đại Quốc Kỳ Việt Nam Cộng Hòa, bảo vật của Tòa Đại Sứ VNCH tại Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn (Mỹ) đã xử dụng đến ngày cuối cùng 30.4.1975.
Image
Bảo vật Đại Quốc Kỳ chiều ngang 15 Ft (5 mét), chiều dài 25 Ft (8 mét), cân nặng khoảng gần 7 Kg và được dệt bằng một loại lụa đặc biệt. Đại Quốc Kỳ nầy được một nhân viên tòa Đại Sứ cất giữ từ 33 năm qua kể từ ngày cộng sản Bắc Việt cưỡng chiếm miền Nam. Mãi đến ngày 07.3.2008, Đại Kỳ đã được trao lại cho Bảo Tàng Viện Fresno Discovery Museum ở California, USA.

Đại Kỳ VNCH lịch sử đại diện cho Chính Phủ và Nhân Dân Việt Nam tại Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ trước ngày 30.4.1975, đã được xử dụng trong đại lễ, tiếp đón nhiều vị quốc khách, nhiều chính khách tên tuổi trên thế giới. Đại Kỳ đã một thời biểu trưng cho sức mạnh hào hùng, ý chí bất khuất và tinh thần yêu chuộng Tự Do Dân Chủ của nhân dân miền Nam trước 1975.

Đây là một báu vật của dân tộc Việt Nam, của cộng đồng người Việt xuất hiện lần đầu tại Âu-Châu, chúng tôi kêu gọi các đoàn thể, tổ chức cũng như cộng đồng dành ngày 08.5.2009, đến biểu tình trước trụ sở Liên Hiệp Quốc để:

1. Cùng đứng chung dưới Đại Kỳ lịch sử để chứng minh cho thế giới biết rằng nước Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn tồn tại trên hành tinh nầy và người Việt hải ngoại ngày đêm đang tranh đấu để mai kia sẽ cùng Đại Kỳ trở về kiến thiết quê hương.

2. Cùng đứng chung dưới Đại Kỳ lịch sử để đặt vấn đề Nhân Quyền với đảng cộng sản cũng như đỏi hỏi LHQ phải có biện pháp với nhà nước Việt Nam hiện nay là một tập đoàn đang chà đạp lên quyền sống, quyền làm người của 80 triệu dân trong nước.
Đáp lời mời của Hội Văn Hóa Người Việt Tự Do, một phái đoàn thanh niên từ Hoa Kỳ sẽ rước Đại Kỳ qua Genève cùng tham dự ngày kiểm điểm nhân quyền trước trụ sở Liên Hiệp Quốc.
Image
Chúng tôi xin chân thành cảm tạ các bạn trẻ, bảo tàng viện Fresno Discovery Museum California đã chấp thuận yêu cầu của chúng tôi.

Cầu xin hồn thiêng sông núi và vong linh những anh hùng đã xả thân dưới màu cờ, hãy phù hộ cho cuộc tranh đấu của chúng ta chóng đến ngày thành công.