Page 30 of 180

Posted: Tue Sep 08, 2009 12:43 am
by khieulong
Nông Đức Mạnh "Trận" Thứ Nhất

Canberra, ngày 7 tháng 9 năm 2009

Cộng Đồng Người Việt Tự Do - Úc Châu là một trong những Cộng Đồng chống Cộng hàng đầu. Quả thật không sai. Trong suốt bao năm qua, từ những sự kiện như VTV4, chương trình "Duyên Dáng Việt Nam", những khi các lãnh tụ CS bước chân đến Úc, những buổi trình diễn văn nghệ của các đoàn văn công VC, cho đến những dịp tưởng niệm ngày Quốc Hận 30 tháng 4 hàng năm, v.v., bao giờ cũng có từ hàng ngàn cho đến hàng chục ngàn người Việt yêu tự do trên khắp đất Úc đi biểu tình phản đối CSVN.

Những thành quả tốt đẹp nầy một phần nhờ vào tài năng lãnh đạo của Ban Chấp Hành Cộng Đồng Người Việt Tự Do Liên Bang Úc Châu cùng với tinh thần đấu tranh cho tự do, dân chủ của đồng hương Úc Châu đã đập tan những chiến dịch tuyên truyền hay những âm mưu gây rối, đánh phá Cộng Đồng NVTD/UC của CSVN.

Tuần qua, để phản đối hai buổi trình diễn văn nghệ "Tứ Đại Thiên Vương" của đoàn văn công Việt Cộng đến trình diễn ở Melbourne (ngày 28 và 30/08/09), CDNVTD/Vic cùng với sự hiêp lực của CDNVTD/NSW và Hội Cựu Quân Nhân NSW đã biểu tình trước Crown Casino với hơn 400 đồng hương tham dự. Trong khi đó vỏn vẹn chỉ có khoảng 100 người đi xem văn nghệ trong một hội trường có cả ngàn ghế để trống.

Sáng hôm nay, Thứ Hai ngày 7 tháng 9 năm 2009, mặc dù cái lạnh của cuối đông còn sót lại và cơn mưa xuân dai dắt, trước tiền đình Quốc Hội Liên Bang Úc Châu, hơn 800 đồng hương đến từ các tiểu bang trên khắp nước Úc để phản đối phái đoàn CSVN. Cầm đầu phái đoàn là Nông Đức Mạnh, tổng bí thư đảng CSVN, người được tổ chức Phóng Viên Không Biên Giới đặt cho biệt danh là "Tên Ác Thú của Tự Do Ngôn Luận" - Press Freedom Predator (http://www. rsf.org/en- predateur1087- Nong_Duc_ Manh.html) . Bất chấp dư luận quốc tế, tên Ác Thú nầy thi hành nhiệm vụ là phải tận diệt Tự Do Báo Chí ở Việt Nam.

Trong mấy tuần qua, sự việc liên tiếp bắt bớ và giam cầm các blogger ở Việt Nam cũng không ngoài bàn tay của Nông Đức Mạnh. Xấu hổ thay CSVN quá hèn nhát, cố tâm đàn áp những người không một tấc sắt trong tay, họ chỉ dùng ngòi bút nói lên tiếng nói từ lương tâm của mình cho đất nước, cho quê hương và dân tộc.

CDNVTD/UC biểu tình hôm nay là để cực lực lên án CSVN hèn nhát dâng nạp lãnh thổ, lãnh hải cho Trung Cộng, đàn áp giáo dân các Giáo xứ Thái Hà, Tam Tòa và những nhà đấu tranh cho tự do và dân chủ trong nước, đồng thời cũng để lên án việc Thủ tướng chính phủ Úc, Kevin Rudd, tiếp đón Nông Đức Mạnh - một kẻ thù của Tự Do Ngôn Luận.

Ngày mai, ngày 8 tháng 9 năm 2009, trước Quốc Hội Tiểu Bang NSW, nơi hơn 30 ngàn Người Việt Tỵ Nạn cư ngụ và cũng là nơi có đông người Việt nhất nước Úc, Nông Đức Mạnh một lần nữa sẽ không tránh khỏi sự phản đối kịch liệt của đồng bào Sydney. Cuộc biểu tình này được dự kiến là sẽ quy mô và rầm rộ hơn.

Image

Image

[imghttp://www.take2tango.com/MyFiles/image/News/0 ... anh-04.jpg][/img]

Image

Image

[i,g]http://www.take2tango.com/MyFiles/image ... anh-05.jpg[/img]

Image

Image

Posted: Thu Sep 10, 2009 4:17 am
by vuphong
Hãy Hỏi Ý Dân

Trần Khải
Nếu chúng ta muốn về quê nhà khi đất nước đã có phần nào cởi mở chính trị, nói cụ thể, như là một hình thức nào đó của dân chủ đa đảng, thì có vẻ như chưa thấy được trong một tương lai gần. Bởi vì, tuy các nhà nước Trung Quốc và CS Việt Nam không lộ vẻ sắt máu như Bắc Hàn và Cuba, nhưng vẫn chưa thấy dấu hiệu nhà cầm quyền sẵn sàng nghe các tiếng nói dị biệt. Trừ phi chúng ta có cách nào thúc đẩy Đảng CSVN vào ngõ hẹp, đường cùng để phải chấp nhận các khuynh hướng dị biệt.

Trong nhiều thời gian qua, nhà cầm quyền CSVN không sẵn lòng lắng nghe các tiếng nói dị biệt trong nhiều vấn đề – như trường hợp tiếng nói từ những người gắn bó với chế độ, như Trần Xuân Bách, Võ Văn Kiệt, hay gần đây như Võ Nguyên Giáp và nhóm trí thức Bauxite Tây Nguyên http://www.bauxitevietnam.info – thì chúng ta phải chờ đợi tới bao giờ để cho Đảng CSVN chịu cải tổ chính trị, hay là phải tạo ra các sức ép mới nào để được như thế?

Thấy được tình hình Việt Nam mình như thế, giữa những người suốt đời giữ vai đảng viên Đảng CSVN còn bao vây ngờ vực nhau như thế, mới thấy được các gian nan thập phần nhiều hơn của Đức Đạt Lai Lạt Ma, người mà nhà nước Bắc Kinh hiển nhiên là sẽ không bao giờ tin cậy bất kể tâm lượng ngài có từ bi thế nào.

Đức Đạt Lai Lạt Ma hôm Thứ Sáu nói rằng ngài “luôn luôn sẵn sàng trở về Tây Tạng,” khi kết thúc chuyến thăm Đài Loan dài 5 ngày, mà chuyến đi này đã làm Trung Quốc giận dữ. Khi tới phi trường Taoyuan International Airport ở ngoại ô Đài Bắc, sửa soạn rời Đài Loan, vị lãnh đạo tinh thần Tây Tạng 74 tuổi trả lời câu hỏi của thông tấn AFP, “Chúng tôi luôn luôn sẵn sàng trở về Tây Tạng. Dĩ nhiên, tất cả mọi người Tây Tạng luôn luôn suy nghĩ như thế.”

Ngài nhiều lần nói rằng ngài chỉ muốn “tự trị có ý nghĩa” cho dân tộc Tây Tạng, nhưng Trung Quốc nói rằng ngài chỉ muốn đòi độc lập hoàn toàn và đang tiến hành các hoạt động “ly khai” trong khu vực, điều mà Đức Đạt Lai Lạt Ma liên tục bác bỏ.

Hoàn cảnh của Đức Đạt Lai Lạt Ma tất nhiên là phức tạp hơn hoàn cảnh của những người hoạt động dân chủ tại Việt Nam. Nhưng nếu bạn thử nheo mắt lại, nhìn nghiêng một tí, sẽ thấy có một số điểm tương đồng. Và chính các điểm tương đồng này cho thấy tâm lượng của cả hai chính phủ Bắc Kinh và Hà Nội.

Bắc Kinh nhìn ngài như “âm mưu ly khai,” còn Hà Nội nhìn các nhà hoạt động dân chủ tại VN như những người có “âm mưu lật đổ chính phủ.”

Bắc Kinh nhìn ngài, các sắc tộc vùng Tây Tạng và Tân Cương như cánh tay nối dài của CIA muốn Trung Quốc tan vỡ thành nhiều mảnh để mất hẳn thế siêu cường Châu Á, còn Hà Nội nhìn các nhà dân chủ VN như những người bị các đảng phái hải ngoại bơm tiền trợ giúp để xóa sổ thể chế độc đảng toàn trị.

Như thế, Bắc Kinh nhìn thấy Đức Đạt Lai Lạt Ma như kẻ tử thù của thế bá quyền Đại Hán, còn Hà Nội nhìn các nhà dân chủ như kẻ tử thù của chế độ. Đã nhìn như thế, thì làm sao còn đối thoại được?
Nhà nước Hà Nội không hề giấu giếm rằng tất cả những người tư tưởng dị biệt, cho dù là vị trí phản biện hay vị trí khác đảng pháí, kể cả người thuộc phe đệ tứ quốc tế, đều là “phản động... cách mạng đầu lưỡi, chẳng có đóng góp gì...”

Chính xác, các nhận xét đó chính là lời của “Giáo sư Nguyễn Trọng Phúc, thuộc Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, từ Hà Nội, khẳng định với BBC Việt ngữ hôm 01/9/2009 rằng "Đảng Cộng sản Việt Nam dứt khoát, trước sau như một, không chấp nhận có đa nguyên, đa đảng ở Việt Nam"...” (nguồn: BBCvietnamese.com)
Tuy nhiên, GS Nguyễn Trọng Phúc cũng biết sợ trưng câù dân ý, cho nên còn nói:
"Người ta có nhiều con đường để đi đến khẳng định chế độ chính trị nào được toàn dân ủng hộ, chứ không phải chỉ trưng cầu dân ý. Nước Anh, nước Mỹ có trưng cầu dân ý không?"

Hiển nhiên, câu nói đó là sai. Chuyện nước Anh thì người viết không rõ, nhưng chuyện Hoa Kỳ trưng cầu dân ý vẫn là thường trực vài năm, đủ thứ chuyện cứ đưa ra trưng cầu dân ý. Gần nhất, sôi nổi nhất tại tiểu bang California là Đề Luật 8, tên gọi là Proposition 8, trong đó hỏi ý cử tri California trong cuộc bầu cử hồi tháng 11-2008 về hôn nhân đồng tính luyến ái, nội dung đòi sửa Hiến Pháp California để thêm một đoạn mới (7.5) vào Điều I (Article I), đòi viết: “Chỉ có hôn nhân giữa một người nam và một người nữ là giá trị hay là được công nhận tại California.”

Chúng ta nơi đây không bàn sâu về Đề Luật 8, mà chỉ muốn nói với giáo sư Phúc rằng trưng cầu dân ý là chuyện thường trực tại Hoa Kỳ. Cụ thể, giáo sư có thể vào trang Smart Voter (http://www.smartvoter.org/2008/11/04/ca/state/prop/) còn lưu các thông tin về các đề luật trong cuộc bầu cử ngày 4-11-2008, trong đó (không kể chuyện bầu các quan chức dân cử) thì trưng cầu dân ý tại California có tới 12 Đề Luật, tức là chỉ trong một ngày có tới 12 cuộc trưng cầu dân ý, mà bắt đầu bằng Đề Luật 1A (Proposition 1A) hỏi rằng dân chúng có muốn xây tuyến xe điện cao tốc xuyên Nam-Bắc California hay không, và vân vân. Để dẫn ra vài đề luật nơi đây. Như Đề Luật 6 hỏi ý dân về tiền quỹ cho ngành cảnh sát California. Hay Đề Luật 8 là chuyện đồng tính vừa nói. Hay Đề Luật 11 là hỏi ý dân về chuyện vẽ lại biên giới các khu bầu cử của các chức dân cử như nghị sĩ và dân biểu. Hay Đề Luật 12 là hỏi ý dân rằng có nên phát hành 900 triệu đô la trái phiếu để giúp cựu chiến binh hay không.
Có thực giáo sư Phúc tin rằng đa đảng không dân chủ? Có thực giaó sư Phúc tin là Mỹ không có trưng cầu dân ý?

Nơi đây, chúng ta tránh bàn về Đề Luật 8, bởi vì Việt Nam thực khó có chuyện trưng cầu dân ý về hôn nhân đồng tính. Nhưng thử hỏi, như Đề Luật 1A tại California năm 2008, Đảng CSVN có dám trưng cầu dân ý về việc xây tuyến xe lửa cao tốc xuyên Việt hay không? Hay như Đề Luật 6, Đảng CSVN có dám hỏi ý dân về tiền quỹ nuôi công an hay không? Hay có dám hỏi ý dân về chuyện vẽ lại biên giới các tỉnh, thành, hay khu bầu cử? Hay có dám hỏi ý dân về tiền bán trái phiếu giúp cựu chiến binh?

Hay chỉ đơn giản thôi: thử trưng cầu dân ý một câu hỏi thôi, rằng dân Việt Nam có muốn có chế độ đa đảng hay không? Một câu thôi, không cần nhiều. Không hỏi ý dân, thì làm sao giáo sư Phúc dám nói là toàn dân ủng hộ thể chế độc đảng CSVN?

Thực tế, không cần tới một câu, có vẻ như hở ra một chữ là bị công an bắt liền, như trường hợp các người viết blog gần đây. Mới biết, dân chủ là chuyện có vẻ như còn rất xa tại quê nhà.

TRẦN KHẢI

Posted: Fri Sep 11, 2009 3:21 am
by dailien
Y tế toàn dân áp dụng tại Nhật

Image
Bệnh viện Ðại Học Tokyo. (Hình: Getty Images)
L.S. Nguyễn Quang Trung

Hiện nay tại Nhật, hệ thống y tế cho toàn dân được thực hiện chỉ tốn một nửa số tiền so sánh với hệ thống y tế tại Hoa kỳ, nhưng kết quả lại có phần tốt đẹp hơn. Làm thế nào mà một hệ thống y tế như vậy được thực hiện?

Cái hay của hệ thống y tế tại Nhật

Dân Nhật trung bình đi khám bác sĩ 10 lần trở lên trong một năm, gấp 4 lần hơn dân Hoa Kỳ. Họ có thể chọn lựa bác sĩ căn bản (primary doctor) hay chuyên ngành (specialist). Ðặc biệt hơn là hầu hết họ có thể đến gặp bác sĩ ngay trong ngày. Nhờ vậy dân Nhật sống lâu hơn hết và có số tử vong trẻ em thấp nhất.

Ðể có thể cung cấp y tế cho tất cả mọi người, chính phủ Nhật đã kiểm soát chặt chẽ tiền chi phí cho y tế. Cứ 2 năm chính phủ lại đặt lại giá cả để trả cho tiền khám bệnh, thuốc men và cấm ngặt những giá cả cao hơn.

Vì thế cho nên các bác sĩ tại Nhật thua kém các bác sĩ tại Hoa kỳ rất xa về tiền kiếm được hàng năm. Tiền chi phí quản trị cũng rất thấp vì các công ty bảo hiểm không có quyền đặt ra tiêu chuẩn trả tiền khám bệnh. Các công ty này bị ngăn không được kiếm lợi (profit) khi cung cấp dịch vụ y tế.

Dân Nhật theo thói quen lại thích ở lại nhà thương để được chăm sóc lâu hơn. Thí dụ một sản phụ rất thông thường ở lại nhà thương sau khi sanh từ 5, 6 ngày trở lên. Trong khi tại Hoa kỳ, một người mẹ vừa sinh con xong chỉ vỏn vẹn 1 hay 2 ngày sau là phải xuất viện. Ngay cả những trường hợp khám bệnh thường tình họ cũng ở lại nhà thương để “dưỡng bệnh”. Ðể đối phó với tình trạng này, số giường bệnh của các nhà thương trên toàn quốc nhiều 3 lần hơn tại Hoa kỳ cho từng một người dân.

Tuy vậy, số tiền mỗi một người dân Nhật phải đóng bảo hiểm hàng năm lại ít hơn tại Hoa Kỳ rất nhiều. Những người nào đi làm tại Nhật thì phải trả khoảng $2,000 một năm cộng thêm tiền công ty cung cấp bằng số tiền phải đóng là $2,000 để có được bảo hiểm. Trong khi đó, trung bình người đi làm tại Hoa kỳ phải đóng trên $3,300 một năm và công ty của họ phải trả thêm từ $10,000 trở lên để mua bảo hiểm cho nhân viên.

Những người làm tự túc (self-employed) hay không có việc làm thì chỉ trả khoảng $1,600 một năm. Nhưng họ phải trả 30% tiền cước phí (co-payment) với điều kiện không quá $850 trong vòng một tháng. Nếu hơn con số trên thì chỉ phải trả 1% tiền phụ trội.

Ðể ngừa các bệnh trầm trọng hơn, dịch vụ khám bệnh hàng năm được khuyến khích và cung cấp đều đặng cho trẻ em như trong mùa cúm hay cho phụ nữ để tránh ung thư.

Dân Nhật cũng nhận thức là hệ thống y tế tốt không chưa đủ để cho họ được khỏe mạnh nếu không chú ý về ăn uống và đời sống hàng ngày. Hiện nay, chính phủ Nhật còn bắt ai bị bệnh nặng cân phải đi gặp các vị cố vấn về y tế để thay đổi đời sống của họ.

Các điều lo âu chưa giải quyết được.

Với một hệ thống y tế tốt, dân Nhật sống lâu hơn nên đến năm 2050 sẽ có 40% dân số trên 65 tuổi. Với tuổi già, các bệnh trầm trọng sẽ tốn tiền hơn để chữa trị. Số người bị bệnh quên lãng (Alzheimer) hay ung thư gia tăng rất nhanh. Theo như tổ chức nghiên cứu McKinsey & Co. thì nhu cầu y tế sẽ tăng gấp 3 lần trong vòng 25 năm tới.

Kinh tế của Nhật cũng không gia tăng hay có chiều hướng đi chậm dần nên số người đi làm ở lứa tuổi thành niên lại giảm đi, không tạo thêm được nguồn tiền mới cung cấp vào tổng số tiền chi phí về y tế. Chính phủ Nhật đang lo nếu không thay đổi kịp thời thì hệ thống y tế sẽ tốn gấp đôi trong vòng 10 năm nữa. Oái oăm, là ngân sách y tế lại chạy theo kịp đà chi phí của Hoa Kỳ, một điều mà họ không bao giờ muốn xảy ra.

Các bác sĩ chuyên ngành lại thường hay bỏ ngành chuyên môn sau khi đã làm cho các nhà thương một khoảng thời gian. Lý do tại các nhà thương họ phải làm từ 80 tiếng một tuần trở lên nhưng lương căn bản chỉ khoảng $100,000 một năm. Sau khi rời nhà thương các bác sĩ chuyên ngành chỉ cần cung cấp dịch vụ khám bệnh tổng quát tại phòng mạch riêng của họ cũng có thể kiếm gấp đôi số tiền kể trên. Kết quả, là số bác sĩ chuyên ngành như sản phụ khoa, gây mê hay cấp cứu càng lúc càng giảm đi không đủ để lo cho số bệnh nhân tại các bệnh viện.

Chính phủ Nhật lại cũng không thể kiểm soát thời gian dân Nhật muốn ở lại “dưỡng bệnh” tại các nhà thương khiến cho số lượng giường mặc dầu rất nhiều vẫn không cung cấp đủ. Một trường hợp thảm thương đã xảy ra năm ngoái là một sản phụ bị mất sau khi 7 nhà thương không cho nhập viện mặc dầu đã nói là bị đau đầu. Người phụ nữ này chết vì máu chảy trong đầu nhưng không được chẩn bệnh kịp thời sau khi vừa sanh con xong.

Các nhà thương Nhật thường chỉ tính khoảng $10 một đêm để ở lại nhưng không có dịch vụ 24 tiếng chăm sóc như tại Hoa Kỳ. Hiện nay, khoảng 50% các nhà thương đều bị thiếu hụt tiền thu vào.

Một trong những tính chất đặc biệt của nước Nhật giúp cho việc thực thi y tế toàn dân thành công là đất nước Nhật được xem như một sắc tộc không như tại Hoa kỳ là đa sắc tộc. Bên cạnh đó, chính quyền Nhật từ hơn 50 năm qua đều do một đảng cầm quyền nên không có chính trị đối lập như tại Hoa Kỳ với tính cách lưỡng đảng. Dĩ nhiên, mỗi một đất nước có ưu điểm và khuyết điểm để thực thi chính sách theo nhu cầu của toàn dân. Người Hoa Kỳ có câu “cỏ nhà hàng xóm thường xanh hơn cỏ nhà mình”, ý nói nhìn xem hoàn cảnh của người khác thì thấy tốt đẹp hơn của mình nhưng có thực hiện được không thì phải xem lại.

(Trích các tài liệu của McKinsey & Co, WashingtonPost, NPR)

Posted: Sat Sep 12, 2009 4:29 am
by tranphuongdong
Người Mỹ tưởng nhớ nạn nhân 11/9

Lễ tưởng niệm những người đã thiệt mạng trong các vụ tấn công kinh hoàng nhằm vào nước Mỹ cách đây 8 năm sẽ diễn ra tại New York, Washington và Pennsylvania.

Image
Tòa tháp đôi ở New York bốc cháy sau khi bị máy bay đâm vào hôm 11/9/2001. Ảnh: Bigfoto.com.
Những tên khủng bố thuộc mạng lưới Al-Qaeda đã cướp máy bay và lao vào trung tâm thương mại thế giới và Lầu Năm Góc, biểu tượng tài chính và quân sự của Mỹ, hôm 11/9/2001 tại New York. Phi cơ thứ ba lao xuống cánh đồng gần Shanksville, Pennsylvania, khi đang thực hiện âm mưu lao vào Nhà Trắng hoặc tòa nhà Capitol.

Theo CNN, người dân New York sẽ có hàng loạt hoạt động tưởng nhớ 2.926 người thiệt mạng trong hai vụ tấn công, trong đó tên của tất cả các nạn nhân sẽ được đọc lên.

Tại Washington, Tổng thống Mỹ Barack Obama cùng đệ nhất phu nhân và các nhân viên Nhà Trắng sẽ mặc niệm những người đã mất trong loạt vụ khủng bố đẫm máu đó tại Nhà Trắng, vào đúng thời điểm chiếc máy bay đâm vào tòa phía bắc của tháp đôi. Sau đó, ông sẽ đến Lầu Năm Góc và đặt vòng hoa tưởng niệm 184 người thiệt mạng khi chiếc máy bay của hãng American Airlines lao vào phía tây tòa nhà.

Lễ tưởng niệm 40 hành khách trên chiếc phi cơ của United Airlines lao xuống cánh đồng sẽ được tổ chức tại Shanksville.

Theo một cuộc trưng cầu của CNN mới đây, 8 năm sau những vụ tấn công làm thay đổi thế giới đó, mức độ lo ngại của người dân Mỹ về khủng bố giảm xuống còn một nửa so với thời điểm ngay sau đó.

34% người Mỹ cho rằng nước Mỹ sẽ gánh chịu một vụ khủng bố trong vòng vài tuần nữa. Hơn 60% tin rằng chính quyền của Tổng thống Obama có thể bảo vệ nước Mỹ.

Ngọc Sơn

Posted: Sun Sep 13, 2009 5:16 am
by thienthanh
Kinh tế Mỹ chưa thật sáng sủa

Ngô Nhân Dụng

Tháng trước, mục này đã trình bày những tia hy vọng về sự phục hồi của kinh tế Hoa Kỳ, với một điều dè dặt: Thất nghiệp sẽ còn lên cho tới đầu năm 2010. Các số thống kê của Sở Kiểm Tra Dân Số (US Census Bureau) trong tuần này cho thấy mối lo đó vẫn còn nguyên.

Cơn suy thoái kinh tế đã tác động nặng nề trên đời sống dân Mỹ: Lợi tức các gia đình trung lưu giảm sút, số người mất bảo hiểm y tế tăng lên và số người bị xếp vào loại “nghèo” cao hơn. Nhiều người chịu ảnh hưởng vì kinh tế suy yếu hơn người khác; đặc biệt là giới trẻ ở miền Nam California là lớp người kém may mắn nhất vì nhà cửa của họ xuống giá và luật lệ khiến họ phải đóng thuế nhà đất cao hơn các cụ già!

Trước hết là dân Mỹ trung bình kiếm được ít tiền hơn. Mức lợi tức đứng giữa (median, trung số) của dân Mỹ hiện nay là 50,303 đô la mỗi gia đình trong một năm. Có 50% dân Mỹ ở trên và 50% ở dưới mức lợi tức đứng giữa này. Nhìn số 50 ngàn nghĩ là cao, nhưng mức lợi tức trung số này đã giảm bớt 3.6% so với năm trước, và đây là tỷ lệ giảm sút nặng nề nhất trong 40 năm qua. Khi trừ đi hậu quả của lạm phát làm giá trị của đồng đô la giảm bớt, thì lợi tức mức giữa của người Mỹ hiện nay thấp nhất kể từ năm 1997. Nói chung, các gia đình trung lưu Mỹ đã tụt lùi 10 năm, trở về lợi tức cũ.

Số tiền kiếm được của dân Mỹ không giảm đồng đều. Mầu da khác nhau, phụ nữ thiệt thòi hơn nam giới, và tuổi trẻ bị thua tuổi già.

Lợi tức xuống nặng nhất là những người thuộc gốc Tây Ban Nha (Hispanics), nặng hạng nhì là người gốc Á Châu. Người Hispanics thấy lợi tức năm 2008 giảm bớt 5.6% so với năm trước, còn người gốc Á Châu bị mất 4.4%. Trong khi đó người da trắng cũng bị giảm 2.6% và người gốc Phi Châu giảm 2.8%. Khi kinh tế xuống thì những người làm các dịch vụ, những việc vặt, việc phụ bị mất việc trước, đặc biệt là trong các ngành dịch vụ như tiệm ăn, tô móng tay và làm đẹp, lau nhà, cắt cỏ, vân vân. Phần lớn đó là người gốc Á Châu và La tinh.

Lợi tức trung số của đàn ông làm việc toàn thời gian bị giảm 1%, xuống 46,367 đô la; còn phụ nữ mất gần gấp đôi, giảm 1.9% xuống 35,745 đô la. Chỉ có một nhóm người thấy lợi tức tăng thêm là quý vị trên 65 tuổi, tăng được 1.2%. Các tiểu bang cũng chịu ảnh hưởng khác nhau. Lợi tức các gia đình xuống tệ nhất là ở vùng công nghiệp West Virginia, giảm hơn 13%. Những tiểu bang New Mexico, Goegia, Minnesota bị giảm từ 8.5% đến 9%; còn California may mắn hơn chỉ giảm 1.5%.

Một hiện tượng đáng chú ý là kể từ khi kinh tế suy thoái vào cuối năm 2007 thì tình trạng chênh lệch giầu nghèo ở Mỹ vẫn thế. Bình thường khi kinh tế xuống thì khoảng cách chênh lệch giầu nghèo cũng bớt, nhưng trong năm qua điều đó không xẩy ra. Cán cân lợi tức đã nghiêng về phía những người giầu từ năm 2001, đến khi kinh tế suy thoái vẫn không đổi. Một phần năm các gia đình khá giả nhất chiếm một nửa số lợi tức cả nước trong năm 2008; và 21.5% tổng số lợi tức được trả cho 5% dân Mỹ, những người lợi tức cao nhất. Ðây là điều đáng ngạc nhiên vì trong năm 2007 số 5% giầu nhất đó chỉ chiếm 21.2% tổng số lợi tức mà thôi.

Khi kinh tế phồn thịnh, người lao động có cơ hội thăng tiến vì khi có nhiều công việc làm thì mỗi người có thể chạy đi làm 2 hoặc 3 việc, tăng lợi tức và mức sống gia đình. Nhưng từ khi kinh tế xuống, số việc làm giảm bớt thì kiếm ra việc cũng khó, vì vậy nhiều gia đình lao động rơi trở lại cảnh nghèo.

Số gia đình Mỹ được xếp vào tình trạng “nghèo khó” đã tăng 13.2% trong năm qua, tỷ lệ tăng cao nhất kể từ năm 1997. Ở Mỹ, được xếp vào loại nghèo (poverty) nếu một gia đình 4 người có lợi tức từ 22,000 đô la một năm trở xuống. Trong năm 2008 nước Mỹ đã có thêm 2.6 triệu người rơi vào loại “nghèo”. Phần lớn những người “mới nghèo” đó là dân lao động mất việc, không phải đã về hưu hoặc sống nhờ trợ cấp xã hội. Trong lớp tuổi từ 18 đến 64 có 11.7% được xếp loại “nghèo” so với tỷ lệ 10.9% năm 2007. Nhưng tỷ lệ nghèo gia tăng nhiều nhất trong lớp trẻ em, tăng từ 18% lên 19%. Ở thành phố New York số người lãnh phiếu mua thực phẩm (food stamps) đã tăng 22% lên 1.6 triệu người. Số người “rất nghèo” (tức là lợi tức chỉ bằng 11,000 đô la một năm cho gia đình 4 người hoặc thấp hơn) đã tăng thêm một triệu rưỡi, lên 17 triệu người Mỹ.

Vì nhiều người mất việc làm cho nên cũng mất bảo hiểm y tế, trong năm 2008 có thêm 700,000 người Mỹ mất bảo hiểm y tế so với năm 2007. Tuy nhiên tỷ lệ những người không có bảo hiểm y tế không tăng vì trong cùng thời gian đó nhiều người khác đủ điều kiện tham gia các chương trình y tế của chính phủ như Medicaid, MediCal.

Một đặc điểm của tiểu bang California là ảnh hưởng của kinh tế suy thoái đè nặng trên những người trẻ; theo một cuộc nghiên cứu của mấy giáo sư Ðại học Nam California (USC). Trong khi trị giá ngôi nhà họ mua gần đây đã sụt giảm thì số thuế nhà họ phải đóng lại cao hơn số trung bình. Một lý do là luật thuế khóa do Ðề án số 13 (Proposition 13) từ năm 1978 tính thuế dựa trên giá mua nhà, khiến những người mới mua nhà phải chịu thuế quá cao so với những người đã mua nhà trước đây 5, 7 năm. Giới trẻ ở lớp tuổi 30, 40 và những người mới mua nhà ở California phải đóng thuế thổ trạch có khi gấp 10 lần, 20 lần người hàng xóm già đã mua nhà nhiều thập niên trước.

Bài nghiên cứu tại Ðại học USC nhận xét trong năm 2007 những người lớn tuổi mua nhà từ trước năm 1978 chỉ trả trung bình 1,571 đô la thuế một năm, thấp hơn số trung bình toàn quốc là 1,994 đô la. Trong khi đó giá trị ngôi nhà họ ở tăng lên thành gần 590,000 đô la, so với trị giá 240,000 trung bình khắp nước Mỹ. Những cư dân cố cựu được hưởng như vậy, còn những người mới mua nhà gần đây thì ngôi nhà họ ở có thể mất đến 40% giá trị trong kỳ kinh tế suy thoái hiện nay. Có thể nói những người từ 35 đến 45 tuổi đang đóng thuế để những người 55 đến 65 tuổi được thụ hưởng những tiện ích do đồng thuế đóng góp mang lại cho dân tiểu bang.

Mặc dù Ðề án 13 khiến giới trẻ và những cư dân mới chịu thiệt thòi như vậy, nhưng số người được lợi nhờ đóng thuế nhà thấp do đề án đó mang lại sẽ không bao giờ chấp nhận ý kiến bãi bỏ các điều khoản gây bất công trong đó (Ðể minh bạch với quý vị độc giả, xin khai người viết bài này cũng được hưởng thuế nhà tương đối thấp chỉ bằng nửa nhà hàng xóm, nhờ có Ðề án số 13). Trong tình trạng kinh tế suy thoái, tình trạng bất công về thuế khóa cảng nổi bật lên, nhất là khi thị trường địa ốc xuống dốc.

Cơn suy thoái kinh tế ở Mỹ từ năm 2007 bắt nguồn từ cơn khủng hoảng trong thị trường cho vay mua nhà. Hiện nay tình trạng giá nhà thấp vẫn chưa có hy vọng qua khỏi trong tương lai gần, khiến cho ít người tin tưởng là giá nhà sắp có cơ hội đi lên. Một dấu hiệu đáng lo ngại nhất là thị trường nhân dụng còn ngưng trệ. Ðây là đám may đen trên bầu trời kinh tế Mỹ chưa cho các tia sáng lạc quan xuất hiện. Hiện nay nước Mỹ có gần 15 triệu người “thất nghiệp” tức là đang tìm việc làm mà chưa có, chưa kể nhiều người khác ngưng tìm việc thì không nằm trong số thống kê. Tỷ lệ thất nghiệp 9.7% chắc sẽ tăng tới 10% từ nay đến năm 2010, vì số việc làm mới rất hiếm.

Theo thống kê của Bộ Lao Ðộng Mỹ thì Tháng Bẩy vừa qua cả nước Mỹ chỉ có 2.4 triệu công việc mở ra để tuyển người (job openings). Ðây là con số thấp nhất kể từ năm 2000. So với lúc cực thịnh vào giữa năm 2007, có tới 4.8 triệu công việc tìm người làm thì thị trường nhân dụng đã giảm một nửa. Theo cuốn sách báo cáo kinh tế của Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang, gồm 12 chi nhánh ngân hàng trung ương Mỹ thì thị trường nhân dụng còn rất yếu.

Nhật báo Wall Street tham khảo ý kiến ban giám đốc các công ty, xí nghiệp và thấy mọi người đều dè dặt, chờ khi nào tình trạng kinh tế thực sự sáng sủa mới bắt đầu tuyển nhân viên mới. Trong khi chờ đợi, dù số thương vụ có tăng họ cũng chỉ yêu cầu các nhân viên cũ làm nhiều hơn hoặc thêm giờ phụ trội. Một hậu quả là “sản năng lao động” của người Mỹ làm việc đã tăng rất cao trong quý thứ nhì năm nay, nghĩa là cũng một giờ trả lương mà nhân viên Mỹ làm việc giỏi hơn trước! Sản năng đã tăng 6.6% một năm, tỷ lệ cao nhất trong 6 năm qua. Bình thường, khi kinh tế xuống thế nào năng suất lao động cũng tăng, vì không có cách nào khác!

Theo nhật báo Wall Street, điều khiến các nhà nghiên cứu kinh tế lo ngại là thị trường nhân dụng yếu sẽ ảnh hưởng xấu đến số tiền dân chúng tiêu pha, mà đó là 2 phần 3 tổng cộng của cả nền kinh tế Mỹ. Trong quý thứ ba năm nay số tiêu thụ đã tăng 2% so với cùng thời gian trước, nhưng con số đó không biết có giữ vững được không. Các công ty nghiên cứu tiên đoán rằng quý thứ tư số tiêu sẽ yếu hơn, sau khi các biện pháp trợ cấp để mua xe hơi chấm dứt và thị trường địa ốc chưa phấn khởi được. Vì vậy, trong năm 2009 Tổng Sản Lượng Nội Ðịa Mỹ sẽ thay đổi với một tỷ lệ số âm: trừ 2.5%, không đến nỗi quá nặng nhưng vẫn đi xuống.

Ðã thấy ánh sáng ở cuối đường hầm hay chưa? Có tia sáng le lói nhờ chương trình kích thích kinh tế của chính phủ; và số tiền gần 800 tỷ đó sẽ giữ cho tia sáng đó còn le lói trong ít nhất một năm nữa. Nhưng muốn ra khỏi con đường hầm kinh tế suy thoái thì chưa biết còn phải chờ bao lâu. Ngày hôm qua một bài nghiên cứu của Ðại học Chicago mới công bố cho biết chỉ số niềm tin của giới tiêu thụ đã tăng lên thành 70.2 điểm trong Tháng Chín, cao hơn số 65.7 trong Tháng Tám. Chỉ số tiên đoán kinh tế của đại học này cũng tăng thêm. Sang năm 2010, nhiều nhà kinh tế tiên đoán tổng sản lượng sẽ tăng được khoảng 2.7%. Nếu được như vậy là đáng mừng lắm rồi!

Posted: Thu Sep 17, 2009 1:08 am
by thienthanh
Ðiều lo nhất về Trung Quốc

Ngô Nhân Dụng
Có bẩy triệu người Việt Nam đã vào mạng lưới của nhóm trí thức chống việc các công ty Trung Quốc khai thác bô xít (bauxite). Người Việt ở trong và ngoài nước đều lo lắng về vụ này. Không biết đến lúc nào những người chủ trương mạng lưới đó sẽ bị bắt, như các ông Ðiếu Cầy và Người Buôn Gió.

Người Việt Nam cũng lo lắng về chủ trương bành trướng của Trung Quốc ở biển Ðông. Tờ Tuổi Trẻ tại Sài Gòn mới thuật lại cuộc chiến đấu của Hải quân Việt Nam Cộng Hòa chống quân Trung Quốc chiếm Hoàng Sa vào Tháng Chín năm 1974. Trên các mạng lưới đang truyền nhau những tin tức về việc Trung Quốc phát triển hải quân và so sánh lực lượng giữa nước này với nước Mỹ ở vùng Á Ðông.

Các hiện tượng trên cho thấy hai mối lo lớn của người Việt trước mối đe dọa của nước láng giềng phía Bắc. Một là Trung Quốc đang củng cố sức mạnh quân sự, họ có thể tái diễn những cuộc xâm lăng Việt Nam như vào thế kỷ 15 và 18 hay chăng? Hai là một “diễn biến hòa bình,” đang biến nước Việt Nam thành mảnh đất cho người Trung Quốc khai thác mà không cần phải xâm chiếm. Họ chỉ cần nắm đầu được một đảng độc tài là có thể sai bảo cả công an lẫn quân đội để dẹp tan những đám dân Việt phản đối.

Nhưng thực sự đâu là mối lo lâu dài và lớn nhất của dân tộc Việt Nam trước tham vọng bành trướng của Bắc Kinh?

Một người bạn tôi mới trở về Mỹ sau nhiều chuyến đi Tầu có một nhận định khác. Theo anh, những vụ Hoàng Sa, Trường Sa và Bô xít chỉ là chuyện trước mắt và ngắn hạn. Mối lo dài hạn cần chú ý là trong lúc người Trung Hoa đang quyết tâm tiến tới trên con đường cải tổ để bước vào thế kỷ 21 thì người Việt Nam vẫn bị lúng túng không thoát ra khỏi tình trạng lạc hậu còn rơi rớt từ thế kỷ 19. Cứ như vậy thì trong một hai thế hệ nữa người mình sẽ trở thành lệ thuộc, nếu không phải là “nô lệ” cho người Trung Hoa; dù họ không đem quân chiếm nước mình, dù mình vẫn còn tên nước Việt Nam, vẫn có một chính phủ người Việt cai trị dân Việt. Trung Quốc sẽ làm chủ, người Việt làm công, và điều đáng buồn là cả thế giới coi đó là chuyện tự nhiên không cần can thiệp. Vì trong thế cạnh tranh sinh tồn hiện nay, dân tộc nào yếu thì sẽ đóng vai làm công cho dân tộc mạnh.

Tại sao có thể xẩy ra tình trạng đó? Anh Trần là người quốc tịch Mỹ, công ty anh đang đầu tư ở Trung Quốc làm một sản phẩm mới, sản phẩm này đang thông dụng rồi sẽ tràn ngập khắp thế giới trong vài chục năm nữa, chúng tôi xin phép không nói rõ hơn để khỏi làm phiền cho bản thân anh. Những cuộc gặp gỡ với quan chức và cán bộ quản lý kinh doanh ở Trung Quốc làm cho một người Việt như anh phải thấy sợ. Người Trung Quốc họ làm việc ào ào, mở rộng cửa đón tư bản nước ngoài để tiếp nhận các kỹ thuật mới, học cách tấn công các thị trường mới. Anh Trần so sánh giới quan chức, cán bộ Trung Quốc khác những người ở Việt Nam: Họ có ăn nhưng cũng có làm việc. Trong khi ở nước mình thì không lo công việc mà chỉ biết ăn. Công ty của anh đã thăm dò việc đầu tư ở Việt Nam mấy năm trước đây; nhưng phải bỏ ý định đó vì cả guồng máy cai trị từ trên xuống dưới vẫn coi người ngoài quốc đến nước mình đầu tư là đến “xin ân huệ” chứ không phải đem đến cho dân mình kỹ thuật mới, mở mang cho nước mình những ngành hoạt động mới. Có lẽ họ coi thường đồng bào người Việt mà chỉ biết kính trọng các ông chủ ngoại quốc. Nhưng họ vẫn giữ một thói quen: Chỉ lo bòn rút cho bản thân mình, không cần đến công việc.

Ở Trung Quốc thì khác. Từ trung ương đến các tỉnh, thành phố, họ chiều đãi các công ty ngoại quốc đến đầu tư. Họ sẵn sàng cung cấp đất để mở cơ xưởng mà không lấy tiền thuê đất trong nhiều năm. Họ sẵn sàng góp một phần vốn nhỏ hơn 50% và người ngoại quốc đầu tư có quyền mua lại số cổ phần đó trong tương lai. Nghĩa là nếu công việc thất bại thì người ngoại quốc chỉ mất ít, là phần vốn đã bỏ vô dưới 100%; mà nếu thành công thì vẫn có hy vọng hưởng nhiều hơn bằng cách mua lại các cổ phần của người Trung Quốc. Một viên chức trẻ tuổi ở Bắc Kinh nói thẳng rằng anh ta có một quỹ đầu tư hàng tỷ Mỹ kim, lấy trong số ngoại tệ dự trữ hơn 2,000 tỷ của ngân hàng trung ương; và anh ta có quyền chi vào các dự án đầu tư với người nước ngoài.

Họ có tham nhũng hay không? Anh Trần thấy chắc là phải có. Thế nào họ cũng chấm mút khi được quyền sử dụng những món tiền lớn như vậy. Cứ xem cách ăn ở, giao dịch của họ thì biết. Nhưng có một điều là họ có làm, làm việc thực sự, một dự án nhà máy được hai bên đồng ý và chấp thuận rồi, ba tháng sau nhà máy đã được khánh thành. Họ chạy hối hả, và họ biết rõ đang muốn gì: Sản xuất đến xuất cảng. Du nhập kỹ thuật mới, phương pháp quản lý mới, phương pháp mới để chinh phục thị trường thế giới như các công ty Mỹ đang làm. Sang năm 2010 hội chợ Thượng Hải sẽ trưng bầy những sản phẩm mới cho cả thế giới thấy, trong đó sẽ có những sản phẩm của công ty anh Trần đang làm.

Họ coi anh Trần là người Mỹ, và nhiều người tỏ vẻ ngạc nhiên lúc đầu khi anh tự giới thiệu là gốc người Việt Nam. Họ tỏ ra lễ phép với anh, nhưng không ngần ngại cho thấy là họ coi thường người Việt Nam. Ðây là một điều đau lòng, nhưng anh phải nói thật: Người Trung Hoa vẫn còn nhắc đến vụ đảng Cộng Sản Việt Nam “vô ơn bạc nghĩa” khi sau năm 1975 quay theo Nga để chống Tầu. Họ nhắc lại sự kiện này như để giải thích thái độ của họ: Khinh thường người Việt Nam! Chúng ta có thể thấy trong những mạng lưới bên Tầu khi họ công khai phổ biến những tài liệu chứng tỏ nếu không có quân đội Tầu giúp thì người Việt Nam không chống nổi Pháp mà cũng không đánh nổi Mỹ! Họ không ngần ngại sẵn sàng nói những lời miệt thị tất cả giới lãnh đạo của đảng Cộng Sản Việt Nam, dù trước mặt một người Việt như anh Trần họ vẫn tỏ ra lịch sự, tôn kính. Ngay bây giờ, nhiều người Trung Hoa ở lục địa nói thẳng, các công ty Trung Quốc vẫn còn chú ý đến thị trường Việt Nam một chút. Vì họ coi đó là một nơi để “đổ rác,” tức là những sản phẩm thiếu tiêu chuẩn không được thị trường thế giới chấp nhận. Chính người Trung Hoa có tiền cũng không muốn mua những sản phẩm tiêu chuẩn thấp đó. Các xí nghiệp Trung Quốc sẵn sàng bán đổ bán tháo (dumping) những món hàng này sang Việt Nam, vì nếu không cũng vứt bỏ đi. Vì vậy, bán giá nào cũng được; mà người Việt Nam thấy rẻ thì vẫn ham mua. Nhưng đối với Trung Quốc, Việt Nam không đáng quan tâm. Họ lo chinh phục cả thế giới, và chỉ tôn trọng những nước có lực, có tiền!

Nhưng điều anh Trần lo lắng muốn chia sẻ với chúng tôi khi anh trở về Mỹ sau nhiều chuyến đi Tầu lo công việc, là người Trung Hoa họ quyết tâm tiến bộ thật, trong khi nước mình vẫn lúng lúng vì cả guồng máy cai trị tham nhũng và bất lực. Anh nhắc lại nhiều lần: Chúng nó cũng ăn, nhưng chúng nó có làm việc thật. Quan chức Việt Nam thì chỉ lo ăn mà không cần làm! Trong vài chục năm nữa, trong nửa thế kỷ nữa, người Tầu sẽ tiến xa, khoảng cách phát triển giữa hai dân tộc sẽ càng ngày càng rộng. Và lúc đó mình sẽ hoàn toàn đóng vai một nước phụ thuộc, nếu không nói là lệ thuộc, biến thành một thị trường và người làm công cho cường quốc kinh tế lớn nhất nhì thế giới ở ngay bên láng giềng!

Hiện nay người Việt chúng ta coi việc khai thác Bô xít ở Tây nguyên là một cuộc xâm lăng kinh tế đe dọa chủ quyền đất nước. Nhưng đối với người Trung Hoa ở lục địa thì đó cũng chỉ là một dự án nhỏ trong hàng ngàn dự án đầu tư để khai thác tài nguyên khắp thế giới, từ Á Châu sang Phi Châu và Châu Mỹ La Tinh. Họ cũng sang Congo, sang Sudan khai thác quặng mỏ. Họ đầu tư vào dầu khí ở các nước Trung Á, ở Canada. Các công ty Trung Quốc đang đi mua cổ phần của các công ty tiên tiến nhất từ Âu Châu sang Mỹ Châu, dù chỉ một phần nhỏ. Một vụ nổi tiếng là dự án của Chinalco tính bỏ ra 19 tỷ rưỡi để tăng gấp đôi phần hùn trong công ty Rio Tinto ở Úc lên 18%, đã bàn cãi cả năm và mới bị Úc gạt bỏ vào Tháng Sáu vừa qua. Trung Quốc là thị trường lớn nhất mua quặng mỏ của Úc. Nhưng chính phủ Úc vẫn không cảm thấy sợ sệt lo làm vui lòng chính quyền Trung Quốc.

Ông thủ tướng Úc nói tiếng Tầu thông thạo, nhưng không ngần ngại tỏ ra bất cần trước những áp lực của Bắc Kinh. Trước khi ông Nguyễn Minh Triết sang Úc, một người đã được dân Úc tiếp đón là bà Rebiya Kadeer, một người gốc Uighur đang sống ở Mỹ và đang bị bộ máy tuyên truyền của Bắc Kinh mô tả là người thúc đẩy dân Uighur ở Tân Cương nổi loạn. Ðầu Tháng Tám, khi nghe tin dân Úc sắp mời bà Kadeer sang dự một liên hoan phim ảnh tại Melbourne trong đó chiếu một cuốn phim về cuộc đời tranh đấu của bà, Ngoại Trưởng Trung Quốc Hà Á Phi đã bãi bỏ một chuyến viếng thăm để tỏ ý phản đối. Chính phủ Tầu còn làm áp lực với ban tổ chức yêu cầu họ ngưng chiếu cuốn phim đó. Họ cũng làm áp lực lên thị trưởng thành phố Melbourne, đòi bãi bỏ việc kết nghĩa giữa thành phố này với Thiên Tân. Và họ làm áp lực cả với câu lạc bộ Báo chí Quốc gia tại thủ đô Canberra không muốn họ mời bà Kadeer đến diễn thuyết. Nhưng tất cả các áp lực đó đều vô hiệu. Và bên cạnh những la lối ồn ào đó, các bộ trưởng hai nước vẫn ký một hợp đồng, công ty PetroChina Trung Quốc mua 41 tỷ Mỹ kim khí đốt của công ty Exxon Mobil tại Úc. Dân Úc chống, cứ chống. Chính phủ Trung Quốc không bằng lòng thì rán chịu.

Trong lúc chính quyền Úc bình tĩnh và cứng rắn đối với Trung Quốc như vậy, thì ở Việt Nam những ai bầy tỏ ý kiến chống đối việc Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa trước sau đều bị đàn áp. Ðàn áp để làm gì? Có phải vì công an bắt người Việt Nam không được mặc áo phông viết chữ bảo vệ chủ quyền ở Hoàng Sa mà chính quyền Bắc Kinh tử tế hơn với nước Việt Nam, với đảng Cộng Sản Việt Nam hay không?

Mà trong lúc chính quyền Cộng Sản chỉ lo đàn áp dân như thế, người Trung Hoa họ vẫn tiến tới. Thế giới sẽ không thèm quan tâm đến chủ quyền của Việt Nam trên những vùng đất và biển đã bị chiếm. Vì nước nào lo quyền lợi của nước đó, không ai lo giúp chuyện người ngoài, dân tộc nào cố giữ lấy chủ quyền của mình. Bây giờ người Trung Quốc đã bắt đầu sang Việt Nam đóng vai ông chủ ở Cao Bằng, Lạng Sơn; cho người Việt đóng vai làm công và chạy việc. Anh Trần lo sẽ có ngày chính người Trung Quốc cũng không thèm đóng vai ông chủ nhỏ ở Việt Nam nữa. Vì họ còn lo đầu tư ở những nơi sinh lợi hơn và lo đi chinh phục các thị trường khắp thế giới.

Vậy thì người Việt Nam chúng ta phải làm gì? Ðây là một câu hỏi để mọi người Việt cùng suy nghĩ và thảo luận. Bởi vì dân Việt Nam không phải là dân hèn. Hãy coi mối lo lắng của anh Trần là tiếng chuông báo động.

Posted: Sat Sep 19, 2009 1:29 am
by quaichao
Tại sao Việt Nam lo về Trung Quốc nhất?


Ngô Nhân Dụng

Giới trí thức Việt Nam đang lo ngăn cản không cho các công ty Trung Quốc mang người vào khai thác bô xít (bausite) làm nguy hại môi trường sống, biến các cư xá của công nhân Trung Quốc thành những làng tự trị sống ngoài luật pháp nước Việt Nam. Người Việt Nam nào cũng đau lòng trước cảnh Hải Quân Trung Quốc bắt đồng bào ngư dân ngay trong hải phận nước Việt đưa về giam giữ ngay ở Hoàng Sa mà họ đã chiếm của nước Việt Nam từ năm 1974.

Từ hai ngàn năm nay, người Việt vẫn lo tự vệ trước sức mạnh bành trướng của người Hán. Ðến bây giờ mối lo đó càng lớn hơn vì Trung Quốc đang nỗ lực thay đổi để trở thành một cường quốc kinh tế đứng hạng nhì thế giới, mà trong một thế hệ nữa, đến giữa thế kỷ này một tỷ dân Trung Hoa sẽ vượt qua Hoa Kỳ để đứng hạng nhất về tổng sản lượng quốc gia. Trước viễn anh đó người Việt Nam phải lo lắng.

Nhưng nhìn chung quanh, chúng ta phải tự hỏi tại sao các nước khác trong vùng Á Ðông cũng lo nhưng không ai mang mối lo lớn như nước mình? Hàn Quốc và Ðài Loan nằm sát bên Trung Quốc, như những con mèo nằm bên cạnh con cọp. Những quốc gia nhỏ khác trong vùng như Phi Luật Tân, Mã Lai Á, Indonesia, nhỏ bé đến như Singapore, họ đều ý thức về vai trò đang lên của Trung Quốc và biết họ phải làm gì; nhưng không hoảng hốt trước sự bành trướng của cường quốc mới này. Tại sao vậy?

Hãy nhìn vào hai nước Á Ðông láng giềng của Trung Quốc, gần không khác gì Việt Nam. Hàn Quốc đến giờ vẫn còn bị chia đôi. Nước họ đã từng bị đế quốc Trung Hoa đặt làm An Ðông Ðô Hộ Phủ vào thời gian mà nhà Ðường gọi nước ta là An Nam, bây giờ trong nước họ không ai báo động nhau về sự bành trướng của Hán tộc! Tại sao Ðài Loan, hòn đảo vẫn bị coi là một tỉnh của Trung Quốc, họ không lo bị Trung Quốc lấn áp hay xâm chiếm mà còn mở rộng giao thương, trao đổi văn hóa, và mua thêm vũ khí của Mỹ để củng cố sức mạnh quân sự? Nước Việt Nam khác hai nước trên ở những điểm nào mà dân họ bình tĩnh, tự tin, còn dân mình thì lo sợ đến thế? Trả lời được câu hỏi này là biết được người Việt Nam phải làm gì để đứng vững trước mối đe dọa về sự bành trướng của Trung Quốc trong thế kỷ 21.

Lý do thứ nhất là kinh tế. Ðài Loan và Nam Hàn đang là những cường quốc kinh tế trong khu vực Á Ðông. Sản lượng bình quân ở Nam Hàn trên 24,000 đô la một đầu người, Ðài Loan trên 30,000 đô la, còn Trung Quốc chỉ có hơn 5,000 (Việt Nam bằng một nửa Trung Quốc, và đây là lối tính PPP, dựa theo mãi lực tương đối của người dân chứ không theo lối chỉ tính bằng đô la Mỹ). Dù tới khi tổng sản lượng nội địa của Trung Quốc tăng gấp ba lớn bằng GDP của Mỹ thì một người dân trung bình ở nước Ðại Hán vẫn còn nghèo, chưa bằng một phần ba người dân hai nước nhỏ láng giềng. Dân giầu thì nước mạnh, nhất là trong thời “thế giới hậu cộng sản” và kinh tế toàn cầu hóa bây giờ.

Sau khi chiến tranh lạnh đã chấm dứt, những quốc gia nhỏ không phải mang mối lo bị một cường quốc nào xâm chiếm nữa. Mỹ không có tham vọng chiếm đóng Iraq lâu dài cũng như Nga không dám đem quân vào các nước Georgia và Ukraine trước kia từng thuộc lãnh thổ Liên Xô. Trung Quốc dù có tăng sức mạnh quân sự gấp trăm lần cũng vẫn chưa đuổi kịp Mỹ; mà từ năm 1950 họ vẫn chưa dám đem quân sang đánh các hòn đảo Kim Môn và Mã Tổ thì bây giờ họ càng phải dè dặt hơn.

Tuy Việt Nam và Trung Quốc vẫn còn do những đảng tự gọi là cộng sản cai trị, nhưng chúng ta đang sống trong một “thế giới hậu cộng sản” vì chủ nghĩa Cộng Sản đã bị vứt bỏ từ hai chục năm nay rồi. Ngày nay vẫn còn những hội nghị về chủ nghĩa Mác xít trong đó người ta bàn về những lời Karl Marx phê bình xã hội tư bản chứ không phải để tìm đường thực hiện những viễn tượng mà ông vẽ ra để thay đổi các xã hội đó. Kinh tế tư bản, mang tên gọi khác là kinh tế thị trường, đang trở thành lối làm ăn duy nhất để tiến tới dân giầu, nước mạnh.

Nhưng trong “thế giới hậu cộng sản” này nền kinh tế của tất cả các nước đều liên hệ đến nhau. Tất cả các cường quốc đều muốn duy trì một tình trạng ổn định. Ðể yên tâm làm ăn. Mục tiêu của các quốc gia là nâng cao mức sống của người dân chứ không phải là thực hiện một chủ nghĩa hay một lý thuyết nào. Không hề có một “chủ nghĩa tư bản” như người cộng sản thường hô hoán. Kinh tế tư bản là một cách tổ chức xã hội cạnh tranh để sinh tồn theo luật tự nhiên; mà cơ cấu tổ chức tư bản đó sẵn sàng biến hóa theo nhu cầu từng giai đoạn, cũng là một luật tiến hóa tự nhiên. Sức mạnh của một quốc gia nằm trong lãnh vực kinh tế: Mạnh vì gạo, bạo vì tiền.

Nhưng các quốc gia, đặc biệt là các cường quốc về quân sự cũng như kinh tế, không ai muốn thế quân bình hiện có bị xáo trộn. Không một cường quốc nào sẵn lòng đi giúp một nước này chống nước khác nếu không phải vì muốn bảo vệ thế quân bình tương đối ổn định đó. Ý nghĩ kết thân với một nước này để chống lại nước khác hoàn toàn dựa trên địa lý chính trị là một ảo tưởng. Trái đất đã “bằng phẳng” hơn, núi, sông, biển cả không còn quyết định các mối tương quan quốc tế. Chiến tranh lạnh đã chấm dứt, mỗi cường quốc kinh tế chỉ lo bảo vệ quyền lợi của họ và họ biết các quốc gia khác cũng như vậy. Các quốc gia liên kết với nhau qua những hiệp ước thương mại chứ không phải qua những liên minh quân sự như 50 năm trước nữa. Ý tưởng liên kết với một nước khác qua một chủ nghĩa, vì cùng một chế độ, một mô hình tổ chức xã hội, là một ý tưởng lạc hậu và nguy hiểm cho chính bản thân nước mình.

Các nước như Ðài Loan, Nam Hàn không lo lắng trước sự bành trướng quân sự và kinh tế của Trung Quốc vì họ đã đi trước lục địa Trung Hoa trên con đường tư bản hóa, dân họ giầu hơn nhờ thế nước họ vững chắc.

Nhưng một sức mạnh không thể chối cãi được là ở các nước trên dân chúng và chính quyền đều đồng ý phải làm sao cho dân giầu, nước mạnh thì mới đứng vững được trong cuộc chạy đua với một tỷ người Trung Hoa. Và họ biết phải làm gì để dân giầu, nước mạnh. Dân chúng nước họ có “đồng thuận” với nhau không? Có thể trả lời ngay là không! Chính sách tăng cường giao thương với Trung Quốc của chính phủ Quốc Dân Ðảng ở Ðài Loan đang bị đảng đối lập và báo chí tự do chỉ trích, nêu rất nhiều lý do khác nhau. Tại Nam Hàn mỗi lần thay đổi tổng thống là lại xác định một chính sách mới đối với Bình Nhưỡng cũng như Bắc Kinh. Ðồng thuận là một từ ngữ đầy ảo tưởng và nguy hiểm. Các chế độ độc tài dùng khẩu hiệu này để ép buộc dân phải vâng lời chính quyền. Trong một xã hội tự do dân chủ người ta không cần “đồng thuận.” Mọi người luôn luôn bất đồng ý kiến, nhiều ý kiến khác nhau thì người dân càng có dịp so sánh và lựa chọn. Những cuộc tranh luận đó trông có vẻ lộn xộn, không “nhất trí” nhưng lại giúp quốc gia tránh được những nhầm lẫn lớn, khó sửa. Chỉ cần mọi người cùng theo những luật chơi minh bạch, công khai để quyết định những chính sách chung. Chính nhờ những luật chơi dân chủ mà một khi chính sách quốc gia đã được đa số đồng ý và dùng lá phiếu để lựa chọn rồi, cả nước trên dưới một lòng. Mặc dù lúc nào cũng vẫn có người không vẫn đồng ý và tiếp tục tìm cách chinh phục đa số theo ý kiến của mình.

Chính chế độ tự do dân chủ đã gây nên sức mạnh của Hàn Quốc và Ðài Loan. Các đảng chính trị ở hai nước đó vẫn “đấu đá” nhau thẳng tay để giành quyền lãnh đạo, nhưng các quyền tự do căn bản của người dân được tôn trọng và người dân nắm quyền lựa chọn tối hậu. Trong nước họ cũng có những người lợi dụng quyền thế làm tiền; cũng có những nhà kinh doanh tìm cách hối lộ cho được việc; nhưng nhờ báo chí tự do và bầu cử tự do cho nên trong xã hội có cả một mạng lưới ngăn ngừa tham nhũng tự nhiên. Ðiều đáng nể nhất là xã hội công dân ở các nước trên đã phát triển rất mạnh nhờ các công dân đều được tự do lập hội. Mỗi nhóm công dân có những nhu cầu và quyền lợi riêng được tự do hoạt động và phát triển mà không bị guồng máy nhà nước ngăn cản. Vừa rồi Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đến thăm Ðài Loan do lời mời của các Phật tử để cầu nguyện cho các nạn nhân bị bão, Bắc Kinh đã kịch liệt đả kích cuộc thăm viếng này. Chính phủ Quốc Dân Ðảng ở Ðài Loan cũng chống vì không muốn làm mất lòng chính quyền cộng sản lục địa, nhưng vẫn phải chịu thua dân. Chỉ trong một nước tự do người ta mới thể hiện được đủ các quyền công dân như vậy.

Ðối với nước Việt Nam ta, điều đáng lo lắng nhất không phải là Trung Quốc tiến lên địa vị mạnh hơn; mà là lo nhất là nước Việt Nam đã chậm tiến lại càng ngày càng bị bỏ lại phía sau. Trong khi các nước khác trong vùng Á Ðông tiếp tục trên con đường tiến bộ về chính trị và kinh tế như vậy, thì chính quyền cộng sản ở Việt Nam còn đang đẩy lùi cả nước đi ngược dòng tiến hóa. Họ đang lo bắt bớ những bloggers, cấm đoán dân phát biểu ý kiến khác với đảng; cấm người dân Công Giáo ở Thái Hà, ở Tam Tòa không được sử dụng những miếng đất vốn thuộc nhà thờ của họ; cấm các thiền sinh ở Bát Nhã, Lâm Ðồng không được tu tập theo phương pháp của họ, cũng như cấm giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất không được sinh hoạt tự do trở lại. Khi các chuyên gia và giới trí thức cũng phải tự giải tán một tổ chức chỉ nhằm mục đích nghiên cứu phát triển và bảo vệ môi trường thì các công dân khác làm sao góp phần xây dựng quốc gia?

Với một chính quyền lạc hậu như thế, dân tộc ta không lo lắng sao được? Cứ để cho một nhóm tham nhũng và bãt lực tiếp tục cầm đầu, nắm cổ mọi người mãi hay sao?

Posted: Tue Sep 22, 2009 2:51 am
by thienthanh

Image

Biểu Dương Lực Lượng tại Houston, Texas, 20-9-2009.

Protest the Establish of Communist Vietnam Consulate in Houston, Texas, USA.


Thư Kêu gọi đồng hương YỂM TRỢ chống tòa Tổng Lãnh Sự Việt Cộng tại Houston

Sau khi thông báo chính thức lập tòa Tổng Lãnh Sự tại thành phố Houston, Texas vào ngày 2 tháng 9 vừa qua, Cộng Sản Việt Nam đã vận động treo Lá Cờ Máu cho bằng được tại thành phố San Francisco. Lực lượng anh em chiến sĩ và đồng bào San Francisco đã "đem" nó xuống ngay trong vòng 4 tiếng. Hoan hô tinh thần đoàn kết của đồng hương Bắc Cali!

Lá Cờ Máu kinh hoàng này đã xua đuổi chúng ta ra đi trong thập tử nhất sinh từ ngày miền Nam Tự Do bị cưỡng chiếm vào năm 1975. Cũng chính vì lá cờ ấy mà chúng ta phải lưu lạc khắp nơi trên thế giới trong 34 năm qua. Chỉ lý luận chừng đó thôi là đã quá đủ để chúng ta có thể tự trả lời rằng chúng ta dứt khoát không chấp nhận nó hiện diện ở bất kỳ nơi nào trên phần đất tự do này.

Ngày 20 tháng 9 sắp tới, đích thân Nguyễn Tấn Dũng sẽ đến khánh thành tòa lãnh sự tại Houston. Chúng ta có chấp nhận sự hiện diện "chính thức" của Lá Cờ Máu Cộng Sản ở nơi này hay không? Chúng tôi tin toàn thể độc giả, đồng hương đã có câu trả lời.

Chúng ta đã rượt đuổi Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng khắp nơi tại Hoa Kỳ khi chúng đặt chân đến để ăn xin viện trợ. Không lý do nào chúng ta chấp nhận chúng "xây dựng lãnh thổ" công khai tại Houston được. Nhất định như thế!

Chúng ta tôn trọng pháp luật Hoa Kỳ và chúng ta cũng hành động đúng theo luật pháp Hoa Kỳ. Nghĩa là chúng ta sẽ "tống cổ" chúng ra khỏi Houston theo đúng pháp luật. Dứt khoát như thế!

Cộng đồng Người Việt Quốc Gia tại Houston đã cương quyết "xây pháo đài" bao vây chúng ngày đêm. Chi phí an ninh đó, Plaza chứa chúng phải chịu trách nhiệm. Thành phố Houston sẽ tốn một số tiền lớn để giữ an ninh trật tự cho chúng. Ai là người phải trả số tiền này? Chính những người thọ thuế phải trả, trong số đó có tập thể người Việt Quốc Gia chúng ta phải gánh chịu.

Người Mỹ gốc Việt không quá khích, không hành động trái pháp luật.

Ngay từ giây phút này, theo tin tức chúng tôi được biết, đã có trên 30 cộng đồng Người Việt Quốc Gia toàn Hoa Kỳ sẽ kéo về "dàn chào" Nguyễn Tấn Dũng, khi y đến khánh thành tòa Lãnh Sự tại Houston.

Hàng trăm xe bus, hàng ngàn xe tư nhân sẽ xuyên xa lộ liên bang, hàng vạn đồng bào sẽ tràn ngập thành phố Houston vào ngày 20 tháng 9 năm 2009. Chắc chăn như thế!

Khí thế đấu tranh của đồng bào tại Úc Châu đã nhiều lần làm chúng ta khâm phục. Vài chục ngàn đồng bào đã dùng phương tiện công cộng, vai kề vai "chiến đấu" bên nhau mổi khi phải đấu đầu với bọn VC và bọn Việt gian khi chúng xuất hiện trên phần đất tự do này..

Bằng mọi cách, bằng mọi phương tiện, chúng tôi khẩn thiết kêu gọi tất cả độc giả, đồng hương thân thương... hãy kéo về biểu dương tinh thần bất khuất của người Việt tỵ nạn. Chúng ta sẽ tập trung thành 30 ngàn, 50 ngàn, 100 ngàn người tại thành phố Houston trong ngày 20 tháng 9 năm 2009. Nhất định như thế!

Xin liên lạc ngay với cộng đồng địa phương để cùng tháp tùng, cùng chia sẻ trên những chiếc "xe tăng" lịch sử hướng về Houston. Nếu chúng ta không đánh bật Việt Cộng ra khỏi ngay tuyến đầu Houston thì lần lượt chúng sẽ lập tòa Lãnh Sự tại nhiều thành phố khác.

Quý đồng hương tự túc trong trận chiến lịch sử này, xin liên lạc ngay với Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Houston để nhờ thu xếp nơi cư ngụ thuận tiện nhất. Vì những ngày trước và sau đó, chắc chắn Houston sẽ tràn ngập Người Việt Tị Nạn. Nơi ăn ở sẽ hơi khó khăn. Xin liên lạc anh Trịnh Du (713) 253-2110 hay chị Kim Xuyến (713)447-0588 để biết thêm chi tiết.

Quý đồng hương không đi được, xin yểm trợ tài chánh để những anh em trẻ tại đây thi hành nhiệm vụ. Chi phiếu xin đề VNCH (memo Chống Tòa Lãnh Sự CSVN) và gửi về địa chỉ Ban Đại Diện Cộng Đồng - 7100 Clarewood Dr - Houston, Texas 77036.

Chúng ta đã đổ xương máu để bảo vệ cổ thành Quảng Trị, Bình Long anh dũng, Xuân Lộc oai hùng... Trận chiến trực tiếp Quốc - Cộng lần đầu tiên mở màn công khai tại Houston. Với sự quyết tâm và dứt khoát, chúng ta sẽ bảo vệ trận chiến ý thức hệ của người Việt Quốc Gia trước ngọn cờ chính nghĩa Tự Do Dân Chủ Cho Việt Nam. Quyết tâm đánh bật Việt Cộng ra khỏi Houston, Texas và bất cứ nơi nào chúng xâm nhập, quấy nhiễu sự bình an của người Việt ti nạn.

TẤT CẢ XIN HƯỚNG VỀ HOUSTON TỐNG CỔ BỌN VIỆT CỘNG VỀ NƯỚC

http://www.thegioimoionline.com/

Kêu Gọi Tham Gia Biểu Tình Phản Đối Nguyễn Minh

Posted: Tue Sep 22, 2009 11:49 pm
by dutu
8)



Kêu Gọi Tham Gia Biểu Tình Phản Đối Nguyễn Minh Triết tại New York
(Thứ sáu, 25/9 12 giờ Trưa)


THƯ MỜI

THAM DỰ BIỂU TÌNH TRƯỚC TOÀ NHÀ LIÊN HIỆP QUỐC


Kính Thưa quí vi. Nguyễn Minh Triết sẽ hướng dẫn phái đoàn cộng sản Việt Nam tham dự khoá họp thường niên của Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc khai mạc vào ngày 24-9-2009.

Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia New York Kính mời Quí Cộng Đồng, Quí Hội đoàn cùng phối họp tổ chức cuộc biểu tình trước toà nhà Liên Hiệp Quốc để phản đối sự có mặt của tên chủ tịch nước cộng sản Việt Nam đại diện cho tập đoàn bán nước cầu vinh.

Cuộc Biểu tình dự trù thực hiện vào lúc 12 giờ trưa ngày 25 tháng 9 năm 2009.
(Ngày Nguyễn Minh Triết Đọc Diễn Văn trong khi họp)
Địa điểm trước trụ sở Liên hiệp Quốc tại góc đường 46 street và đường số 01 ave.

Kính xin Quí Cộng đồng và Đoàn Thể cùng liên lạc về Cell phone
LS Nguyễn Thanh Phong CT Cộng Đồng NY: 646 – 867 – 4555,
Ông Nguyễn Trung Châu Hội Đồng Đại Diện Cộng Đồng NY: 646 – 867 – 4744.
E Mail: ptnlaw95@mns.com hoặc: Tonghoictnctvn@yahoo.com

Để cùng phối họp tổ chức cuộc biểu tình Phản Đối Tập Đoàn Cộng Sản Việt Nam Độc Tài Đảng Trị, Buôn Dân và Bán Nước trước Cộng Đồng thế giới.

Trân trọng kính mời Quí vị cùng phối họp tổ chức.
New York , Ngày 20 tháng 9 năm 2009
TM Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia New York

Chủ Tịch Ban Chấp Hành
Ls Nguyễn Thanh Phong

Thay Mặt HĐĐD
Nguyễn Trung Châu



:roll:

Posted: Wed Sep 23, 2009 3:22 am
by vuphong
Đi Tìm Động Cơ Của Một Án Mạng
Sơn Tùng


Trong một đất nước mà án mạng xảy ra mỗi ngày, cái chết của Cô Annie Le ngày 8.9 vừa qua có những yếu tố khiến dư luận tại Mỹ đặc biệt chú ý: vụ giết người đã xảy ra tại một trường đại học danh tiếng, nạn nhân là một nữ sinh viên đã chết thương tâm trước khi lấy chồng vài ngày, án mạng đã xảy ra gần như “không duyên cớ”.

Nghi can đã bị bắt và bị giam giữ chờ ngày ra tòa, nhưng không nhận tội và không tiết lộ những gì đã thực sự xảy ra đưa đến cái chết của cô sinh viên. Cảnh sát chỉ khẳng định không có quan hệ tình cảm giữa nạn nhân và nghi can, và nạn nhân đã không bị cưỡng dâm, và coi đây là một trường hợp “bạo động tại nơi làm việc” (work place violence) mà “có thể không bao giờ biết động cơ của vụ án mạng”.

Cộng đồng người Việt tại Mỹ đặc biệt quan tâm đến vụ án mạng này vì nạn nhân là một người Việt, hay người Mỹ gốc Việt. Cô Annie Le, 24 tuổi, sinh viên ban tiến sĩ dược khoa tại Đại học Yale, dự định làm lễ thành hôn vào ngày Chủ nhật 13.9.2009 với Jonathan Widawsky, tốt nghiệp cao học Đại học Columbia ở New York. Nhưng hôn lễ đã không bao giờ diễn ra vì cô dâu tương lai đã biến mất từ ngày 8.9 và xác được tìm thấy vào ngày 13.9, đúng ngày cưới. Xác cô được giấu bên trong một bức tường phía dưới phòng thí nghiệm nơi cô làm việc trong khuôn viên đại học.

Với những phương tiện khoa học ngày nay, các thám tử không khó khăn lắm để tìm ra kẻ tình nghi của vụ án mạng thương tâm này. Hơn 70 máy thu hình tự động đặt chung quanh tòa nhà trong khu đại học ghi hình tất cả những người ra vào cho thấy Annie Le đã đi vào cửa sáng ngày 8.9 nhưng không thấy đi ra, và sau đó cảnh sát đã tìm thấy những vật dụng cá nhân của cô bỏ lại trong phòng thí nghiệm, rồi chiếc áo dính máu và nhiều tang vật khác. Các thám tử cũng kiểm tra các thẻ điện tử từ tính được dùng để ra vào các phòng trong khu thí nghiệm để biết những ai đã có mặt tại đâu và vào giờ phút nào. Sau khi điều tra, thẩm vấn, và với kết quả của thử nghiệm DNA, cảnh sát đã bắt giữ Raymond Clark III, kỹ thuật viên phụ trách phòng thí nghiệm. Phúc trình của cảnh sát cho rằng đã có sự xô xát trước khi nạn nhân bị bóp cổ đến chết.

Đó là những gì được biết cho đến khi bài này được viết.

Trừ khi có những diễn biến bất ngờ trong các phiên xử trước tòa, tôi tin nhận định của cảnh sát là chính xác: án mạng thương tâm này là hậu quả của một vụ “bạo động nơi làm việc”.

Dựa theo những dữ kiện của cuộc điều tra tư pháp và lời khai của một số nhân chứng, diễn biến của vụ bạo động này có thể đã xảy ra như sau: sáng ngày 8.9, cô sinh viên tiến sĩ Annie Le, một thiếu nữ gốc Việt lớn lên và được giáo dục tại Mỹ, đầy tự tin và Mỹ hóa, đã vào phòng thí nghiệm vắng vẻ làm việc một mình trong tâm trạng yêu đời trước cuộc hôn nhân sắp tới với một thanh niên da trắng đẹp trai có học. Trong khi làm việc cô gặp điều gì đó không vừa ý và đã có những lời qua tiếng lại giữa cô và Raymond Clark, một nhân viên phụ trách phòng thí nghiệm được một số sinh viên nhận xét là tính tình “khó chịu”. Việc tranh cãi giữa đôi bên tăng dần cường độ, không bên nào nhịn bên nào. Raymond muốn chứng tỏ là kẻ có quyền trong phòng thí nghiệm, phần nào đó mang mặc cảm thua kém trước cô gái da vàng nhỏ bé và học giỏi. Ngược lại, Annie lại nghĩ rằng mình là một cô gái Mỹ một trăm phần trăm, tân tiến và thông minh, phần nào mang mặc cảm tự tôn trước anh nhân viên da trắng thua kém địa vị xã hội. Những lời lẽ trao đổi tới một lúc nào đó đã vượt khỏi sự kiểm soát của đôi bên, và Raymond đã sử dụng bạo lực để đàn áp cô gái nhỏ bé cao 1.5 mét, nặng khoảng 41 ki-lô. Annie đã chống cự lại để tự vệ, và Raymond đã hoàn toàn không còn tự chủ, biến thành một con thú dữ, bóp cổ đối thủ yếu thế cho đến chết.

Trong lúc vùng vẫy để cố bám lấy sự sống và trước khi thở hơi cuối cùng, có lẽ Annie Le đã nghĩ đến gia đình, đến những người thân yêu giờ phút ấy đang ở quá xa, không còn cứu giúp gì được cô, và cô đã nhận thấy sự sai lầm của cô: đã quá tự tin và nghĩ rằng lẽ phải luôn luôn được tôn trọng trong xã hội rất văn minh này, nhất là trong khuôn viên một trường đại học.

Annie Le nhận ra sai lầm ấy khi đã quá muộn và đã phải trả giá bằng mạng sống. Cuộc đời đầy tương lai hứa hẹn đã đột ngột chấm dứt mà không một dấu hiệu báo trước.

Theo tin tức được cung cấp, Annie Le được nuôi dưỡng và lớn lên trong một gia đình người Việt bình thường tại Placerville, một thành phố nhỏ với khoảng 10,000 dân tại phía bắc California. Trong truyền thống hiếu học và yểm trợ con em ăn học của hầu hết các gia đình người Việt ở hải ngoại, cùng với tư chất thông minh, Annie Le đã là một học sinh xuất sắc ở bậc trung học. Tại trường Union Mine High School ở phía đông Sacramento, thủ phủ tiểu bang California, Annie Le cùng một học sinh ưu tú khác đã được tặng danh hiệu “Most likely to be the next Einstein”. Lên bậc đại học, Annie Le tốt nghiệp khoa sinh học tại Đại học Rochester ở New York năm 2007 và làm việc mùa hè tại Viện Y Tế Quốc Gia (National Institute of Health) trước khi ghi danh học tại Yale để lấy bằng tiến sĩ với mộng làm giáo sư hay nhà nghiêu cứu.

Tất cả tương lai rực rỡ ấy sau những năm tháng học hành chuyên cần đã vụt tắt một cách phi lý và đau thương. Vẫn biết phi lý và đau thương là định mệnh không báo trước của kiếp người vô thường, nhưng phải chăng thảm kịch đã có thể tránh được với một chút nhận thức khôn ngoan trên bước đường hội nhập vào xã hội mới?

“Bi kịch Annie Le” đã nhắc tôi nhớ tới cái chết thương tâm của một người trẻ khác cách nay hơn 15 năm tại Florida: Nguyễn Phan Luyện.

Năm 1992, Nguyễn Phan Luyện 19 tuổi, một sinh viên y khoa, nuôi mộng theo nghề cha: Bác sĩ Nguyễn Đạt. Thời Việt Nam Cộng Hòa, Ông Đạt là một quân y sĩ và đã bị đi “cải tạo” ba năm sau biến cố tháng 4.1975. Sau khi ra tù, Ông Đạt cùng bà vợ đã đưa hai con trai đi vượt biên, may mắn đến được Malaysia và được định cư tại Mỹ. Gia đình ông Đạt khởi sự làm lại cuộc đời tại Houston, Texas. Bà Đạt, một nhà giáo tại Việt Nam, đã làm việc tại một tiệm gà chiên Kentucky để giúp chồng có điều kiện đi học lại để lấy bằng hành nghề y sĩ tại Mỹ. Năm 1982, Ông Đạt tốt nghiệp y khoa và trở thành bác sĩ tại Mỹ và làm việc trong một bệnh viện ở Buffalo. Vài năm sau, gia đình Bác sĩ Đạt di chuyển về Coral Spring, Florida.

Coral Spring được cư dân địa phương tự hào gọi là “America’s Best Hometown” với những câu lạc bộ dành cho thành phần khá giả trong xã hội, với những trường công phẩm chất cao và tỉ số tội ác thấp. Tại trường trung học, Nguyễn Phan Luyện là một học sinh xuất sắc với toàn điểm A và cũng nổi bật trong những hoạt động xã hội và thể thao. Sau khi tốt nghiệp trung học, Luyện theo học y khoa tại trường Đại học Miami.

Mọi sự có vẻ đều tốt đẹp đối với gia đình Bs Đạt. Một sự hội nhập toàn hảo của những “thuyền nhân” Việt Nam đã bỏ lại tất cả để ra đi vì tự do. Một câu chuyện “mộng thành sự thật”.


Nhưng, tất cả đã tan vỡ vào tối 15.8.1992. Theo biên bản điều tra của cảnh sát và theo các nhân chứng, Luyện đã tới tham dự một “party” với một số bạn cùng lứa tại một chung cư ở Coral Spring vào lúc 11 giờ đêm. Tại đây, Luyện đã tham dự vào một cuộc tranh cãi giữa đám thanh thiếu niên da trắng về tính “chì” giữa hai binh chủng Thủy quân Lục chiến và Bộ binh Hoa Kỳ, trong đó anh đứng về phía một người bạn vừa mãn khóa huấn luyện “boot camp” TQLC về phép. Những người khác bênh vực Bộ binh. Cuộc tranh cãi mỗi lúc một thêm gay gắt, tăng dần sức nóng, lôi kéo thêm nhiều người. Bất ngờ, một đứa đứng dậy chửi thề, gọi Luyện là “chink” (thằng chệt). Nhiều tên khác tham gia cuộc sỉ nhục chủng tộc với những lời lẽ lỗ mãng, dơ bẩn, trong đó có đứa chửi “thằng Việt Cộng, đáng lẽ tao phải giết mày tại VN”!

Có lẽ cảm thấy không thể ngồi lại, Luyện bỏ ra về. Đám thanh thiếu niếu da trắng đuổi theo trong lúc tiếp tục tuôn ra những lời lăng mạ chủng tộc và khởi sự hành hung Luyện trên một bãi cỏ trước mắt khoảng 20 người điềm nhiên đứng làm khán giả.

Theo biên bản cảnh sát, trong lúc Luyện cố chạy trốn “như một con nai bị thương”, đám thanh thiếu niên da trắng đã đuổi theo đánh đập cho đến khi anh nằm bất tỉnh trên bãi bỏ. Người quản lý khu chung cư nghe tiếng ồn chạy ra thì thấy một đám đông đứng nhìn Luyện nằm chết mà không ai thốt một lời “Oh, my God!”

Tôi không nhớ sáu can phạm trong vụ án mạng đã bị tòa phạt ra sao, nhưng vụ giết người dã man này đã gây “sốc” cho cư dân tại cái “tỉnh nhà tốt đẹp nhất nước Mỹ”. Bà thị trưởng Coral Spring đã chỉ trích những kẻ điềm nhiên đứng xem trong khi một đồng loại bị đám đông vô cớ đánh đập tàn nhẫn và gọi đó là một sự “phi nhân” (inhumanity). Còn Bà Đạt, người mẹ đau khổ, đã nói với báo chí Mỹ: “Chúng tôi tới đây để tìm tự do ... Giờ đây, mỗi khi nghĩ đến cách người ta giết con tôi, tôi không tin là đang sống trên đất Mỹ, chúng tôi đang sống ở địa ngục.”

Thiên đàng đã biến thành địa ngục mà không một dấu hiệu báo trước. Và, phải chăng đó cũng là trường hợp của Annie Le.

Tôi không muốn làm một sự suy đoán vì khác với Nguyễn Phan Luyện, Annie Le đã bị giết trong một căn phòng khóa kín, không một nhân chứng. Tuy nhiên, có lẽ hai nạn nhân đã giống nhau một điểm: họ đã Mỹ hóa, đã quá tự tin, đã tưởng rằng mọi người sống trên Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ đều như nhau trong cái “melting pot”.

Một hiện tượng không thể chối cãi trong cộng đồng người Việt tại Mỹ là có một số người chọn lối sống cách biệt với đồng hương, mua nhà dọn vào những khu không có người Việt, tránh tiếp xúc với cộng đồng Việt Nam. Những người này thường là đã có đời sống ổn định, thành công trong xã hội Mỹ, kể cả một số người trở nên giàu có nhờ làm ăn với cộng đồng người Việt. Việc Bác sĩ Đạt dọn vào sống trong cái “tỉnh nhà tốt đẹp nhất nước Mỹ” là một thí dụ. Có lẽ ông bà Đạt nghĩ rằng sống như thế an toàn hơn, và ít phiền hà hơn là chung đụng với đồng hương.

Một hiện tượng khác là người Việt, hay Mỹ gốc Việt, ít quan tâm tới việc nhắc nhở con em tới nguồn gốc của chúng để giới trẻ Việt Nam sinh ra và lớn lên tại Mỹ có ý thức rằng dù họ làm gì hay thành công đến đâu, cộng đồng Việt Nam vẫn là chỗ dựa của họ. Hãy nhìn những người Mỹ gốc Do Thái, gốc Ý, gốc Ái Nhĩ Lan, gốc Cuba, Triều Tiên... Họ vẫn là người Mỹ, vẫn yêu nước Mỹ, và phục vụ nước Mỹ, nhưng vẫn gắn bó với nguồn gốc của họ, đóng góp xây dựng cộng đồng của họ. Họ không quay lưng lại cộng đồng của họ vì họ khôn ngoan biết rằng đó là chỗ dựa của họ, về tinh thần cũng như sức mạnh của họ trong xã hội. Cộng đồng của họ càng vững mạnh, địa vị của họ trong xã hội càng lớn, và càng được kính nể.

Nhìn lại cộng đồng người Việt, người ta không thể không lo ngại khi thấy giới trẻ rất thưa thớt trong những sinh hoạt cộng đồng, ít người nói được tiếng Việt trôi chảy, biết đọc biết viết tiếng Việt càng ít hơn. Họ nghĩ rằng họ đã Mỹ hóa, và dường như cha mẹ cũng nghĩ như vậy. Đó là một sai lầm cần sửa chữa.

Trường hợp của Nguyễn Phan Luyện và Annie Le chỉ là những thảm kịch rất hiếm và mọi người sẽ dễ quên đi, nhưng có thể xảy ra cho bất cứ ai, bất cứ lúc nào, bất cứ tại đâu, nếu ta quá tự tin và tưởng rằng an toàn trong “nồi xúp tạp chủng”.

Cuối tháng 9, 2009

Sơn Tùng

Posted: Sun Sep 27, 2009 4:53 am
by caubennoc
TẠI SAO HOA KỲ
CHẤM DỨT KẾ HOẠCH PHI ĐẠN PHÒNG THỦ TẠI ĐÔNG ÂU ?


Từ lâu nay, kế hoạch lá chắn phi đạn phòng thủ của Mỹ, vẫn được xem như đứng hàng ưu tiên trong chiến lược toàn cầu của Hoakỳ, nhằm để bảo vệ chính quốc và đồng minh của mình từ Tây sang Đông. Khởi đi từ thời Tổng Thống Cộng Hoà Mỹ, Ronald W. Reagan, qua ý niệm ‘chiến tranh các vì sao’, rồi được Tổng Tống George W. Bush tích cực triển khai ở Balan và Cộng hoà Czech. Năm 2008, chính phủ Bush đã đạt được thỏa thuận đặt 10 dàn hỏa tiễn ở Balan và dàn radar tại Cộng Hòa Czech, nằm ngay sát nách nước Nga, tuy với danh nghĩa là chống lại các phi đạn của Iran. Nhưng nước Nga cho đó là việc Mỹ nhân danh bảo vệ đồng minh để đe dọa tới an ninh của mình. Từ đó Nga và khối NATO rơi vào thế ghìm nhau. Nhân cơ hội chính quyền Gruzia xua quân giải phóng các khu đòi tự trị, Nga đem quân vào chiếm Nam Ossetia và Abkhazia của Gruzia, trước sự bất lực của NATO và Mỹ. Đến khi chính quyền Dân Chủ Mỹ, Barack Obama nhận chức thì bang giao Mỹ Nga mới dịu hẳn lại.


Cuộc chiến chống khủng bố của Mỹ ở Trung Đông, từ Iraq đuợc chuyển sang Afgghanistan và Pakistan, 2 nước thuộc vùng Nam Á với sự tham chiến của NATO, nằm sát nách 2 nước khổng lồ Ấn và Tầu. Nước Nga đã hào phóng mở cửa cho đồ tiếp tế của Mỹ và NATO đi qua lãnh thổ Nga vào chiến trường Afghanistan. Sau chuyến công du của Phó Tổng Thống Mỹ, Joe Biden, rồi Ngoại Trưởng Mỹ, Hillary Clinton, thì Ngoại Trưởng Nga, Sergei Lavrov đã bày tỏ lạc quan về những thoả thuận cho những vấn đề kiểm soát vũ khí, cấm phổ biến vũ khí nguyên tử tại Iran và Bắc Hàn. Ngay từ đó giới quan sát đã cho rằng, rồi ra việc thiết lập hệ thống lá chắn tên lửa phòng thủ tại Đông Âu sẽ có chuyển cơ. Đúng vậy, ngày 17/09/09, tại Tòa Bạch Ốc, Tổng thống Mỹ, Barack Obama loan báo quyết định: “Từ bỏ dự án Lá Chắn Chống Tên Lửa ở Đông Âu”.



Ngay lập tức Tổng Thống Nga, Dmitri Medvedev hoan nghênh việc loan báo của Tổng Thống Barack Obama và cho biết; “Nga đang chuẩn bị tiếp tục đối thoại về tên lửa phòng thủ”. “ Nga sẽ làm việc với Mỹ để chống lại việc phổ biến tên lửa và đảm bảo an ninh cho tất cả các quốc gia châu Âu”. Tổng Thống Obama tuyên bố: “Hoan nghênh sự hợp tác của Nga về chương trình tên lửa phòng thủ rộng lớn hơn trong vùng”. Tại Ngũ Giác Đài, Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ, Robert Gates nói: “Hệ thống mới sẽ kết hợp những công nghệ có hiệu quả hơn và phạm vi hoạt động rộng hơn…sẽ bao gồm các phi đạn trên tàu và các địa điểm khác trên đất liền”. Ngày 18/09/09, tại trụ sở Khối NATO ở Bruxelles, Tổng Thư Ký, ông Anders Fogh Rasmussen đề nghị: “Nga, Hoakỳ và các đồng minh châu Âu cùng suy nghĩ về phương cách nối các hệ thống phòng thủ tên lửa của Mỹ, NATO và Nga thành một hệ thống chung”. Đồng thời kêu gọi: “Nga tham gia cùng với Tây Phương gây tối đa áp lực lên Iran để buộc nước này từ bỏ tham vọng chế tạo vũ khí hạt nhân và tên lửa tầm xa”.



Trước đó, năm ngoái, tổng thống Nga, Medvedev đã đề nghị về Hiệp Ước An Ninh mới, bao gồm Âu châu, Bắc Mỹ, và các nước thuộc khối Liênxô cũ, thay thế cho các hiệp ước hiện nay đã có từ thời chiến tranh lạnh. Nhưng các nước Tây Phương phản ứng dè dặt với đề nghị đó. Tuần vừa rồi, ông Medvedev lại nêu vấn đề này ra với Hội Nghị Thượng Đỉnh G 20 sắp họp tại Pittsburgh ở Hoakỳ, quy tụ các nước giàu và các nước đang phát triển, như một cơ hội để xúc tiến các hiệp ước mà Nga đề nghị. Phải chăng việc Hoakỳ quyết định chấm dứt triển khai kế hoạch lá chắn tên lửa ở Đông Âu đã mở đường cho các hiệp ước an ninh, phát triển giữa Mỹ-Nga và Âu châu? Xem vậy, chính Nga đã đi bước trước để Mỹ chuyển chiến lược toàn cầu sang một thế mới. Việc trước kia Mỹ bỏ Miền Nam Việt Nam để Việtnam hoàn tòan rơi vào tay Việtcộng, làm cho Liênxô và Tầucộng húc nhau chí mạng, khiến Đế Quốc Liênxô tự tan rã. Đông Âu được tự do. Nay Mỹ bỏ dự án phòng thủ ở Balan và Cộng Hoà Czech, tuy 2 nước này cảm thấy lạnh cẳng, nhưng vẫn còn tự do độc lập trong Liên Âu, mà Liên Âu sẽ nằm trong hệ thống an ninh chung giữa Mỹ, Nga và Âu châu. Vậy chẳng biết đến lượt Đế Quốc nào bị tan rã đây? Câu trả lời đúng nhất có lẽ là Đế Quốc Tầu.



Hiện nay, từ ngoài nhìn vào thì nước Tầu có những tiến bộ vượt bậc về kinh tế, và có thể về kỹ thuật. nhưng những thứ đó đều là đồ giả, chứa đầy chất độc hại, kể cả về thực chất lẫn giá trị ẩn dụ. Vì chúng không được tạo tác, khiển dụng bởi những Con Ngươi có Tâm Linh, Trí Tuệ, Đức Độ, Vị Tha, mà bị chế tạo, khiển dụng bởi những “Con Vật Người” sống bằng tham vọng bản năng, tinh ranh, lừa lọc, giành dật lẫn nhau, dẫm đạp lên nhau của loài thú đội lốt người, không còn biết gì tới tội phúc, công bằng và liêm sỉ như bọn Tầucộng, Việtcộng hiện nay, thì sớm muộn gì đất nước đó cũng đại loạn. Sở dĩ Tầucộng vẫn còn đưọc thổi phòng như hiện giờ, là cả thế giới đang cố ý, hoặc vô tình vỗ béo cho họ, để làm công cụ cho các thế lực tư bản quốc tế lợi dụng về nhiều mặt. Đại đa số dân Tầu vẫn sống trong mức bần cùng, nhưng lại được giới cầm đầu bơm vào đầu óc một thứ khí độc nguy hiểm là tinh thần Đại Hán cực đoan, để đi tới đâu cũng cho mình là “Con Trời”. Tại các nước Phi châu, cũng như ở Việtnam, nhân công Tầu đã thường hung hăng dùng bạo lực để đối phó với người dân địa phương, khi có tranh cãi. Khiến cho người dân thế giới chán ghét Tầu. Nước Tầu cộng sản đang tự đánh mất vị thế của mình trong các nước Hồi Giáo, mà từ trước tới nay họ vẫn dựa và đó để mặc cả với Mỹ, khi họ đàn áp những người Duy Ngô Nhĩ, gốc Thổ Nhĩ Kỳ theo Hồi Giáo ở Tân Cương. Tầucộng dần dần rơi vào thế cô lập. Thế mà bọn Mancộng Hànội cứ cố bám lấy thầy Tầu, quay lại đàn áp dân chúng với hy vọng là giữ ghế cai trị nhầy nhuạ lâu dài ấy là thế nào?



Trong khi đó Mỹ công khai, chính thức tuyên bố: “Đã trở lại châu Á”. Tuy không nói ra, nhưng tất cả đều hiểu đó là nhằm vào việc ngăn sức bành trướng của Tầucộng, mà không để cho chiến tranh thế giới xẩy ra. Chính vì vậy, nước Mỹ luôn luôn phải áp dụng chính sách mềm dẻo về ngoại giao, đối tác về kinh tế, uyển chuyển về chính trị, hợp tác về quốc phòng, tương tác về an ninh, mà quyết liệt về ngăn bành trướng và giúp các nước chung quanh Hoa lục đủ khả năng tự phòng vệ. Khi Mỹ đã hóa giải được những mâu thuẫn giữa Nga, Mỹ và các nước châu Âu, rồi nước Nga ra khỏi ảnh hưởng của chế độ “Gia Trưởng Putin” để Dân Chủ Hóa chế độ thì một Liên Minh Các Nước Dân Chủ Âu Mỹ sẽ có tiếng nói quyết định trên chính trường và kinh trường thế giới, kéo theo các nước Dân Chủ Á Châu như Ấn Độ, Nhật Bản, Nam Hàn, Úc, Tân Tây Lan thúc đẩy cho một số nưóc trong khối ASEAN dân chủ hóa, từ đó buộc Tầucộng cũng phải sớm Dân Chủ Hóa cho kịp với tiến trình thời đại để tránh nước Tầu khỏi sụp đổ tan tành. Chỉ có như vậy, Việtnam mới được độc lập tự do dân chủ. Áchâu mới ổn định phát triển, toàn thể thế giới mới được hưởng tự do dân chủ thái hòa.

Lý Đại Nguyên

Posted: Wed Sep 30, 2009 1:55 am
by dailien
Image

NHÂN QUYỀN CHO VIỆT NAM
Ngày 26 tháng 9 vừa qua, thông tín viên báo chí của Pháp từ Hà Nội đã đưa tin Việt Nam coi thường những kiến nghị của Tổ Chức Giám Sát Nhân Quyền (Human Rights Watch). Bản tin của Tổ Chức Giám Sát Nhân Quyền ngày 25 tháng 9 từ New York cho hay chính quyền CSVN đã bác bỏ những yêu cầu của Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc (UN Human Rights Council) nhằm cải tiến tình hình nhân quyền ở Việt Nam đang trong tình trạng quá tồi tệ. Thật hết nước nói! Vậy mà chính quyền VN vẫn mở miệng cải chính được là họ không hề bắt bớ và giam tù hàng trăm nhà đấu tranh cho tự do dân chủ và thành viên các tổ chức tôn giáo, bà Elaine Pearson phó giám đốc đặc trách vùng châu Á của Tổ Chức Giám Sát Nhân Quyền cho biết.

Tưởng cũng nên nhắc lại, theo cơ chế định kỳ toàn cầu của Hội Đồng Nhân Quyền LHQ, 4 năm một lần, Hội Đồng luân phiên xét duyệt tình hình nhân quyền của 192 quốc gia thành viên, trong đó có Việt Nam. Ngày 8 tháng 5 vừa qua tổ chức Human Rights Watch (HRW) đã có một buổi Phê Chuẩn Định Kỳ (Universal Periodic Review) để duyệt xét về vấn đề nhân quyền. Trước đó một tuần HRW đã có những buổi họp với các đại diện các quốc gia thành viên tại LHQ tại văn phỏng ở Geneva để vận động trước. HRW kêu gọi các quốc gia này lên tiếng đặt những câu hỏi liên quan đến nhân quyền tại VN. HRW nêu lên nhiều vấn đề, từ những vi phạm nhân quyền nghiêm trọng tại VN, đến những quyền từ kinh tế và xã hội của người dân; đàn áp dân sắc tộc, đến vấn đề trẻ em bị bỏ rơi bởi xã hội.

Phê Chuẩn Định Kỳ, gọi tắt là UPR, là một phương thức mới để Hội Đồng Nhân Quyền của LHQ (HRC) duyệt xét tình hình nhân quyền trên thế giới. Phương thức cũ của HRC là chỉ duyệt xét tình hình nhân quyền của một số quốc gia bị mang tiếng mà thôi. Phương thức này bị chỉ trích nhiều. Phương thức mới bắt buộc tất cả thành viên của LHQ phải qua tiến trình duyệt xét 4 năm một lần. Trong tiến trình UPR, dân chúng, đoàn thể và quốc gia nào cũng có thể nộp câu hỏi lên Hội Đồng Nhân Quyền để đặt ra cho chính phủ đang bị duyệt xét. Chính phủ đang bị duyệt xét cũng có thể đưa ra bản tường trình về tình hình nhân quyền của quốc gia của họ. Tất cả những câu hỏi đó được đưa ra bàn thảo trong Hội Đồng Nhân Quyền. Mặt tiêu cực của việc này là quốc gia đang bị duyệt xét không bắt buộc phải sửa đổi tình hình, nếu có vi phạm nhân quyền. Tuy nhiên mặt tích cực là quốc gia đang bị duyệt xét phải chuẩn bị trả lời trước quốc tế. Một chính phủ như chính phủ CSVN chắc chắn phải cảm thấy khó xử, nếu không muốn nói là xấu hổ, trước thế giới khi có những vi phạm nhân quyền nghiêm trọng như vậy. Hẳn nhiên chính phủ VN sẽ phủ nhận những điều đó, nhưng đây là cơ hội tốt để những hành động vi phạm nhân quyền này đuợc đưa ra ánh sáng.

Đúng như vậy, Phê Chuẩn Định Kỳ của Hội Đồng Nhân Quyền gồm 564 trang tung ra ngày 4 tháng 5, đề cập đến tình hình nhân quyền tại hơn 90 quốc gia dựa trên các điều tra mà nhân viên của HRW thực hiện, trong có chương dành nói về Việt Nam. Ngay ngày hôm sau, Lê Dũng phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao VN đã tức tốc phản bác: “Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (Human Right Watch) thường xuyên đưa ra những thông tin sai lệch về Việt Nam. Báo cáo ngày 4/5/2009 của tổ chức này là thiếu khách quan và không phản ánh đúng tình hình thực tế ở Việt Nam”. Chính phủ Việt Nam bác bỏ các kiến nghị chính mà Hội Đồng Nhân Quyền đưa ra để tháo bỏ các hạn chế đối với quyền tự do diễn đạt ý kiến và quyền lập hội, báo chí tư nhân và bảo vệ nhân quyền. Hà Nội đã bác bỏ 45 kiến nghị của Hội Đồng đề ra bao gồm những yêu cầu rất là căn bản như bãi bỏ kiểm duyệt và ngăn cấm Internet và Blog đối với các phương tiện truyền thông tư nhân; cho phép các tổ chức, cá nhân đẩy mạnh vấn đề nhân quyền, xoá bỏ án tử hình, và trả tự do cho các tù nhân lương tâm. Với 93 đề nghị mà Hà Nội buộc lòng phải chấp nhận thì họ cũng chỉ ỡm ờ trả lời chung chung và “hứa cứu xét” như họ vẫn thường làm. Ông Brad Adam, Giám đốc phân bộ Á Châu của HRW nói rằng “Thay vì hợp tác với LHQ để làm luật và thực thi theo tiêu chuẩn quốc tế, thì chính phủ VN tiếp tục sử dụng luật pháp của họ để trấn áp các tiếng nói chỉ trích chính phủ. Ngay cả khi họ bị các thành viên chất vấn tại Hội đồng Nhân quyền LHQ, họ vẫn không chịu tiếp nhận các kiến nghị đòi cải thiện hồ sơ nhân quyền”. Theo hiến pháp VN, và theo Công Ước Quốc Tế Về Quyền Dân Sự và Chính Trị, mà VN là một thành viên, thì nhà nước VN phải tôn trọng quyền bày tỏ ý kiến, niềm tin và quan điểm. Kinh nghiệm cho thấy các chính phủ khi bị duyệt xét đều tôn trọng và ghi nhận những đề nghị của quốc tế, trừ Việt Nam.

Chỉ trong 4 tháng từ khi VN hiện diện trong Hội Đồng, số người bị bắt bớ giam cầm đã không giảm mà còn tăng. Ấy vậy mà VN vẫn không ngượng nghịu tuyên bố trong quá trình duyệt xét rằng VN không hề bắt bớ những nhà đấu tranh ôn hoà và không bao giờ giam cầm những nhà dân chủ bất đồng chính kiến. Hội Đồng đã trưng bằng cớ cho thế giới thấy rõ là dầu cho quốc tế có quan tâm bao nhiêu đi chăng nữa VN vẫn không có thiện chí cải tiến tình hình. Chính phủ VN đã nhiều lần từ chối các đề nghị bãi bỏ hoặc sửa đổi các điều khoản của bộ luật hình sự như Điều 88, là một điều luật cho phép hình sự hóa các hành động đấu tranh. Họ sẽ lấy cớ rằng những người tù nhân luơng tâm là những người vi phạm luật pháp và họ là những nhân tố đe dọa chính phủ VN.

Cũng như Trung Quốc, Hà Nội rất giỏi “bố lếu bố láo”, tránh né hay cãi chày cãi cối về những vấn đề nhân quyền tại VN. Điều đó xưa rồi. Ngày nay ai cũng biết rõ bộ mặt của CS, của chính quyền VN. Vấn đề là VN có chịu lắng nghe, có chịu sửa và sửa bao nhiêu mà thôi. Chính phủ Hoa Kỳ hay Âu Châu có thể liên tục đặt vấn đề với chính phủ VN về từng cá nhân bị bắt bớ tù đầy hay những vấn đề rộng lớn hơn. Chính phủ Việt Nam muốn được chấp nhận trên bình diện quốc tế chính phủ Việt Nam phải cải thiện những vấn đề nhân quyền.

Trong quá khứ tổ chức Human Rights Watch đã có những nỗ lực đưa vấn đề vi phạm nhân quyền của chính phủ Việt Nam lên với diễn đàn thế giới. Điểm son của Phê Chuẩn Định Kỳ cùng việc làm của Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc là những việc làm của chính phủ VN được đưa ra ánh sáng, được phơi bày ra cho thế giới và nói lên thực chất của chính phủ đó. Do vậy, ông Brad Adams, giám đốc Human Rights Watch đặc trách vùng châu Á đã phải buộc miệng than “Việt Nam là một trong số ít quốc gia mà người dân có thể bị giam cầm vì ‘lạm dụng các quyền tự do dân chủ’ nhưng điều trớ trêu ở đây là Việt Nam lại là một nước không có các quyền tự do dân chủ”.

Người Việt Ly Hương Úc Châu
28 tháng 9, 2009

Posted: Thu Oct 01, 2009 2:33 am
by TranAnhDung
Bốn trăm hạt giống Bồ Ðề

Ngô Nhân Dụng

Quế Ðường Lê Quý Ðôn (1726-1784) là một nhà Nho, một học giả đại danh trong lịch sử Việt Nam. Trong cuốn Kiến Văn Tiểu Lục (bài tựa viết năm Cảnh Hưng 38, tức 1777) có một chương “Thiền Dật” nói về đạo Phật ở nước ta. Trong đoạn mở đầu chương này, Lê Quý Ðôn đã phải dùng nhiều lời biện minh cho những đóng góp của Phật Giáo. Ðiều đó chứng tỏ trong thế kỷ 18 và trước đó đã nhiều nhà Nho bầy tỏ ý kiến chống đối đạo Phật. Ðể chứng tỏ đạo Phật có vai trò tích cực, Lê Quý Ðôn đã chứng minh rằng trong giáo lý của Ðức Thích Ca có đủ cả đạo hiếu, đạo trung; và ngược lại chính Khổng Tử cũng khuyên răn người quân tử phải trừ bỏ ba tật xấu Tham, Sân, Si không khác gì Phật Ðà (trong thiên Quý Thị, sách Luận Ngữ).

Chúng ta kính trọng ý kiến của phu tử Quế Ðường. Nhưng với con mắt của những kẻ hậu sinh đã được tiếp xúc với nhiều trào lưu tư tưởng và kinh nghiệm sống khác, phải nhìn nhận rằng Phật Giáo còn đóng góp nhiều hơn cho cuộc sống của loài người chứ không phải chỉ có vai trò hỗ trợ cho Nho Giáo, là học thuyết chính thức được chế độ quân chủ tập quyền công nhận. Hiện nay người Tây phương cũng đi tìm học và tu tập theo Phật Giáo chính vì họ tìm thấy trong đó những cách nghĩ và sống mang lại an lạc cho con người và cho xã hội. Ðạo Phật cống hiến những phương pháp Sống An Lạc, nói theo lối ngày nay, là sống hạnh phúc đích thực. Bao nhiêu người Việt Nam đang tu tập theo cách chỉ dẫn của các Thiền Sư Thích Thanh Từ và Thích Nhất Hạnh, họ đang đem bản thân và cuộc đời của mình chứng minh ai cũng có thể đạt tới hạnh phúc chân thực đó. Và mọi người nên tìm cách rèn luyện cho mình sống được như vậy. Nhất là những người muốn lo việc chính trị hay kinh doanh, có ảnh hưởng lớn lao trên những người khác. Vì một người không sống bình an, hạnh phúc với chính mình thì sẽ không thể tạo nên an vui cho người khác được.

Sáng hôm qua tôi gặp một người bạn trẻ tuổi đang chủ trương một công ty đầu tư lớn ở Huntington Beach, California. Trong câu chuyện thân tình tôi có khuyên anh nên tìm dự một khóa tu tập thiền quán, như các thầy người Thái Lan, Tây Tạng, Ấn Ðộ hoặc Tích Lan đang dậy ở khắp nơi trong nước Mỹ. Thị trường lên xuống do lòng Tham và sự Sợ hãi thúc đẩy. Nếu mình tập làm chủ được lòng Tham và nỗi Sợ thì có thể tránh được nhiều lầm lẫn, sẽ dễ thành công hơn. Tôi nghĩ các bạn trẻ khác ở Việt Nam, đang kinh doanh, đang đi học hay hoạt động trong những lãnh vực khác cũng nên tu tập để sống như vậy. Chính họ sẽ tìm được hạnh phúc đích thực và có thể trở thành hữu ích cho đất nước hơn.

Một hình ảnh làm nhiều người ngạc nhiên và phát lòng kính trọng là các thiền sinh ở Tu Viện Bát Nhã sống trong cảnh đe dọa và đàn áp của công an tỉnh Lâm Ðồng với thái độ thong dong và dũng cảm. Họ chứng tỏ đã làm chủ được sân si và không hề sợ hãi. Gần bốn trăm người sống dưới áp lực của căm thù và bạo động nhưng không bị lay chuyển. Họ sống trong những xóm mang tên Bếp Lửa Hồng, Mây Ðầu Non, Rừng Phương Bối, vân vân. Trong những video được truyền bá trên các mạng lưới chúng ta có thể vào coi, những tăng ni phần lớn ở lớp tuổi 20 hoặc trẻ hơn xuất hiện như những hình ảnh trang nghiêm, hiền hòa, giữ đúng cung cách “đi, đứng, nằm ngồi” mà các thiền sư Liễu Quán, Bách Trượng, Quy Sơn đã vẽ ra từ hàng ngàn năm trước, gọi là “uy nghi” của người xuất gia. Trong lúc video chiếu cảnh công an và những người được thuê đến đập phá các ngôi nhà trong tu viện, phá đến cả pho tượng bà mẹ cầm tay dắt hai con, một pho tượng vô tội, thì từ trong tự viện vẫn vang lên ngân nga tiếng niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm. Những người tu hành trẻ tuổi này cho thấy họ không sợ, không giận, không tham, ung dung, thanh thản, theo đúng một danh hiệu khác của Bồ Tát Quan Âm là Quán Tự Tại.

Ðó là những cây bồ đề nhỏ đang mọc lên ở nước Việt Nam. Họ là những tấm gương sống động cho tuổi trẻ nước ta nhìn vào, tìm hiểu, và noi theo. Phật Giáo có thể đóng góp cho tuổi trẻ nước Việt Nam rất nhiều, để tự xây dựng mình và giúp cho đất nước. Dù họ theo bất cứ tôn giáo nào hay không có tôn giáo, mỗi thanh niên Việt Nam cũng nên đi tìm cho mình một cách sống có ý nghĩa, xây dựng một lý tưởng cho cuộc đời của họ. Hãy sống như những tăng ni đã tu tập ở Bát Nhã, mà bây giờ đang lâm cảnh “lưu vong” ngay trên đất nước của mình. Họ muốn tu hành nhưng không được phép tu, mặc dù không ai nói một lời, làm một việc nào chống lại chính quyền và cái đảng độc tài tham nhũng đang cai trị. Khi được các nhật báo và đài phát thanh ở nước ngoài phỏng vấn, tất cả những vị thiền sinh còn có dịp lên tiếng đều cho biết họ không hề nhận được một chỉ thị nào của thầy của họ ở nước ngoài. Ðảng gán và chính quyền Cộng Sản không thể nào vu cáo cho họ là đã bị “những thế lực phản động ở ngoài” xúi giục, như họ đã ghép cho các ông Nguyễn Văn Ðài, Lê Công Ðịnh, hoặc cô Lê Thị Công Nhân.

Nhiều Phật tử ở Việt Nam lên tiếng, “Hãy cứu lấy gần 400 cây bồ đề nhỏ này!” Nhiều vị tôn đức trong nước đã can đảm đứng ra bênh vực và sẵn sàng đùm bọc các tăng ni trẻ đó. Hòa Thượng Thích Toàn Ðức, trong ban lãnh đạo Phật Giáo Lâm Ðồng, đã dũng cảm khi tuyên bố các tăng ni Bát Nhã không có tội nào đối với đạo Phật, không làm hại gì cho đất nước, cho nên phải được phép tiếp tục tu tập. Thượng Tọa Thái Thuận, chùa Phước Huệ là người đã bị công an đánh khi ông tới thăm các thiền sinh Bát Nhã trước đây, nay đã đưa tay đón nhận các thiền sinh này. Ngôi chùa Phước Huệ nhỏ nằm kế bên một nhà thờ Thiên Chúa Giáo trong thị xã Bảo Lộc, không biết đến lúc nào công an sẽ tấn công chùa, các thiền sinh có thể chạy qua xin trú ẩn trong ngôi nhà của Chúa Giê Su! Hòa Thượng Pháp Chiếu đã tuyên bố từ chức và lên tiếng ủng hộ hành động của Thượng Tọa Thái Thuận. Một vị hòa thượng ở vùng Thủ Ðức, Sài Gòn, Thầy Minh Nghĩa cũng sẵn sàng tiếp nhận tất cả các tăng ni nếu không bị ngăn cản.

Nhưng công an đã ngăn cấm tất cả. Một viên công an đã nói thẳng với vị thầy của anh ta rằng đây là lệnh của trung ương chứ không phải là quyết định của địa phương. Ðảng Cộng Sản Việt Nam không cho phép những hạt giống bồ đề được mọc lên, không cho phép những cây bồ đề nhỏ được lớn lên.

Nhưng trong nước Việt Nam còn nhiều người đang muốn tưới tẩm cho những hạt giống bồ đề được sống mãi trong lòng dân tộc. Ðồng bào đã tự động tiếp tế cơm ăn, áo mặc cho các thiền sinh Bát Nhã. Nhiều người đã tiếp tế cả các phương tiện truyền thông, từ máy chụp hình tới những điện thoại di động để các tăng ni có thể liên lạc được với nhau và với bên ngoài. Những thiền sinh trẻ nhất, những em 14, 15 tuổi đã được các anh, các chị khuyến khích về với gia đình nhưng còn những người khác vẫn tiếp tục giữ chí nguyện xuất gia không sợ hãi.

Thái độ của các tăng ni thể hiện từ bi và trí tuệ, sẽ khuyến khích tín tâm nơi người Phật tử Việt Nam và cả những người trẻ tuổi sống trong truyền thống tôn giáo khác. Ðây là một tin mừng. Khi nào còn những thanh thiếu niên Việt Nam biết sống có lý tưởng, vững tin ở lý tưởng của mình, không tham lam, không giận dữ, không sợ hãi; lúc đó chúng ta còn tin tưởng ở tương lai đất nước. Không phải chỉ có Phật Thích Ca dậy loài người sống như thế, Ðức Thánh Khổng, Chúa Giê Su cũng dậy loài người như vậy. Những người sống hết mình với đạo lý của tôn giáo mình được cha mẹ ông bà truyền thụ thì có thể giúp cải hóa xã hội chung quanh. Ðó là niềm hy vọng mà các tôn giáo đang cống hiến cho dân tộc ta.

Lê Quý Ðôn kể một câu chuyện cảm động vào cuối chương Thiền Dật trong Kiến Văn Tiểu Lục. Ông cho biết vào niên hiệu Vĩnh Hòa, cuối thế kỷ 17, ở chùa Lâm Ðộng, thuộc huyện Ðông Triều có một thiền sư hiệu là Như Ðức. Lê Quý Ðôn mô tả ngài là người “giới luật tinh nghiêm, xa gần đều kính mến”. Mỗi khi lên kinh đô đi qua cửa nhà ai thì già trẻ lớn bé đều vui mừng nói, “Thầy của chúng ta đã tới.”

Mỗi năm sư ông Như Ðức làm giỗ Tổ Ðiều Ngự, tức Vua Trần Nhân Tông là tổ sáng lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, năm nào cũng thấy có một đàn khỉ từ trên núi xuống cửa chùa, như đến dự lễ giỗ. Sau lễ giỗ, thầy Như Ðức mang một mâm oản và sôi ra đặt xuống đất trước cửa chùa, và nói: “Ða tạ chúng sinh đã nhớ ngày giỗ sư tổ mà đến đây...” Lê Quý Ðôn kể rằng những con khỉ, con vượn “kéo đến mỗi con cầm lấy một miếng oản rồi bước đi mà không hề tranh giành nhau gì cả. Năm nào cũng vậy.” Ðức độ của nhà sư đã cảm hóa được cả những loài thú vật.

Chúng ta hy vọng rằng những hạt giống bồ đề mọc lên từ Tu Viện Bát Nhã cũng sẽ cảm hóa được những loài khỉ và vượn thời nay.

Posted: Thu Oct 01, 2009 5:54 am
by quaichao
Ðâu Là Sự Thật ?
Bài Của: Ðặng Xuân Khánh (Sinh viên trẻ đang sống trong lòng quê hương VNXHCN)
Giới trẻ chúng tôi, thành phần lớn lên sau chiến tranh không hiểu biết lý do tại sao đã có cuộc chiến Ðông Dương lần thứ 2 (1954-1975), mà báo chí ngoại quốc thường gọi là chiến tranh Việt Nam (Vietnam War).Chúng tôi đã được học tập dưới hệ thống nhà trường xã hội chủ nghĩa (XHCN) về lý do tại sao có cuộc chiến tranh Việt Nam qua những cụm từ như “chế độ khát máu Mỹ-Diệm”,
”miền Nam bị Mỹ, nguỵ kìm kẹp”, “đánh cho Mỹ cút đánh cho Ngụy nhào”, “ách thống trị thực dân kiểu mới của Mỹ”, “giải phóng miền Nam” v.v…

Nhưng ngày nay, với sự phổ biến của công nghệ thông tin, chúng tôi đã biết nhiều hơn trước. Về lý do tại sao đã có và do ai gây ra cuộc chiến Việt Nam 1954-1975, hoàn toàn không phải như chúng tôi đã được tuyên truyền trong nhà trường.

Tuy nhiên, chúng tôi cũng còn vài thắc mắc rất đơn giản. Kính mong các bác, các chú, là những người đã và đang phục vụ cho đảng và nhà nước Việt Nam và những người vẫn khư khư cho rằng chiến tranh Việt Nam là cần thiết để “giải phóng miền Nam” thoát khỏi sự “kìm kẹp của Mỹ, Ngụy” v.v giải thích giùm:

1. Sau năm 1954, sau chiến thắng Ðiện Biên Phủ, Hiệp định Geneve đã được ký kết ngày 27/10/1954 chấm dứt chiến tranh Ðông Dương lần thứ nhất. Trong thời gian chủ tịch Hồ Chí Minh (HCM) lãnh đạo chính quyền miền Bắc, tại sao 1 triệu người miền Bắc đã phải lên tàu đua nhau bỏ chạy vào miền Nam để cho “Mỹ - Diệm kìm kẹp” mà không ở lại cùng nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà và chủ tịch HCM? Số 1 triệu người này có thể còn nhiều lần hơn nếu nhà nước không dùng bạo lực ngăn chặn, không cho họ ra đi! Tại sao ngoại trừ một số các cán bộ đảng viên cộng sản (CS) tập kết ra Bắc, người dân miền Nam lại không đua nhau chạy ra Bắc theo chế độ CS của chủ tịch HCM, mà tuyệt đại đa số cứ nhất quyết ở lại cho “Mỹ - Diệm kìm kẹp”? Theo hiệp định Geneve thì lúc đó mọi người được hoàn toàn tự do lựa chọn đi ra miền Bắc hay ở lại miền Nam cơ mà??

2. Tại sao hồi còn chiến tranh Việt Nam (trước 30/4/1975), mỗi khi có giao tranh giữa quân đội miền Nam (VNCH) và bộ đội “giải phóng” thì dân chúng đều chạy về phía có lính miền Nam trú đóng, chứ không chạy về phía bộ đội “giải phóng”? Nếu dân miền Nam bị “Mỹ, Ngụy kìm kẹp”, cần phải được “giải phóng”, thì lẽ ra họ phải hồ hởi mà chạy về phía các “đồng chí bộ đội”, tay bắt mặt mừng và cám ơn “được giải phóng”, chứ sao lại bồng bế nhau mà chạy trối chết để xa lánh các “đồng chí” ấy? Ðua nhau chạy vế phía có lính miền Nam để tiếp tục bị “kìm kẹp”, không lẽ họ ngu đần đến nỗi chỉ thích bị “Mỹ, Ngụy kìm kẹp” chứ không muốn được “giải phóng” à?

3. Năm 1975, sau khi chiến tranh chấm dứt, “bộ đội giải phóng” chiếm toàn bộ miền Nam, đất nước thống nhất, Mỹ đã cút, Ngụy đã nhào. Tại sao dân miền Nam lại lũ lượt trốn chạy ra đi, bất chấp nguy hiểm, bão tố, cá mập, hải tặc mà vượt Biển Ðông; bất chấp các bãi mìn, hay bị Khơ-me Ðỏ chặt đầu; để bằng đường bộ băng qua Campuchia sang Thái Lan?

Theo ước tính của các cơ quan truyền thông, thông tin quốc tế thì hơn 1 triệu người đã đi bằng hình thức này (h**p://archives. cbc.ca/id- 1-69-324/ l...ty/boat_ people).

Chúng tôi đã được học tập là “Mỹ- Diệm đã ban hành đạo luật 10/59 tố Cộng, diệt Cộng, lê máy chém đi khắp miền Nam”, nào là “bè lũ tay sai quân phiệt Nguyễn Văn Thiệu”, nào là “ghi khắc tội ác dã man của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai”… v.v…. Khi học xong, đọc hay nghe những dòng chữ như thế, thì chúng tôi nghĩ, chắc hẳn chế độ ở miền Nam dù với Diệm hay Thiệu thì cũng tàn ác kinh khủng lắm, thế nhưng tại sao lại suốt từ 1954 cho thời điểm ngày “Giải phóng” 30/4/1975 - 20 năm trời, không hề có hiện tượng người dân miền nam từ bỏ, trốn khỏi miền Nam để xuống tầu đi vượt biên? Thay vì đến khi bộ đội ta từ miền Bắc vào Nam “giải phóng”, lẽ ra phải ở lại mừng vui, thì họ lại kéo nhau ra đi là thế nào? Thế thì có tréo cẳng ngỗng không? Tại sao hàng ngàn dân miền Bắc, nhất là từ Hải Phòng, đã có kinh nghiệm sống dưới sự lãnh đạo của Bác và Ðảng hơn 20 năm, cũng bỏ miền Bắc XHCN, vượt vịnh Bắc Bộ sang Hong Kong mong có cơ hội được sống với thế giới tư bản, chứ nhất định không ở lại miền Bắc XHCN “tươi đẹp”?

4. Năm 2005, sau khi hoà bình đã về trên quê hương được 30 năm, đảng CS đã lãnh đạo đất nước được 30 năm, (chính quyền Sài Gòn chỉ lãnh đạo miền nam có 20 năm thôi, 1954-1975), thì tại sao dân chúng vẫn còn lũ lượt tìm cách rủ nhau ra đi. Trai thì đi lao động cho nước ngoài, rồi tìm cách trốn ở lại, gái thì cắn răng chịu đựng tủi nhục lấy toàn đàn ông (già cả, tàn tật, hết thời, …) của Ðài Loan, Singapore, Ðại Hàn, để có cơ hội thoát khỏi Việt Nam??? Tại sao du học sinh, thành phần gọi là tương lai của đất nước vẫn luôn tìm mọi cách (ngay cả khi chưa học xong) để ở lại nước ngoài, như lập hôn thú (giả có mà thật cũng có) với người Việt hải ngoại, chứ nhất định không chịu trở về Việt nam???

5. Những năm gần nay, những người Việt trước nay đã trốn đi vượt biên, chạy theo để “bám gót đế quốc”, là “rác rưởi trôi dạt về bên kia bờ đại dương”, là “thành phần phản động”, là “những kẻ ăn bơ thừa, sữa cặn” như nhà nước Việt Nam vẫn từng đã nói. Nay được chào đón hoan nghênh trở về Việt Nam làm ăn sinh sống và được gọi là “Việt kiều yêu nước”, “khúc ruột ngàn dặm”? Có đúng họ “yêu nước” không? Tai sao họ không dám từ bỏ hoàn toàn quốc tịch Mỹ, Pháp, Canada, Úc, xé bỏ hộ chiếu nước ngoài và xin nhập lại quốc tịch Việt Nam và vĩnh viễn làm công dân nước Cộng Hoà XHCN Việt Nam???

6. Trong bộ môn lịch sử chương trình lớp 12, chúng tôi được giảng dạy rằng, “Mặt trận Giải phóng Miền Nam” thành lập ngày 20/12/1960 với mục tiêu “đấu tranh chống quân xâm lược Mỹ và chính quyền tay sai, nhằm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”. Theo như chúng tôi tìm hiểu, năm 1961 khi Ngô Ðình Diệm ký Hiệp ước quân sự với Mỹ, thì miền Nam lúc ấy chỉ có các cố vấn Mỹ và một ít quân mang tính yểm trợ (US Support Troopes) với nhiệm vụ chính là xây dựng phi trường, cầu cống, đường xá… Mỹ chỉ bắt đầu đưa lính vào miền Nam từ năm 1965, sau khi lật đổ và giết Ngô Ðình Diệm do cương quyết từ chối không cho Mỹ trực tiếp can thiệp quân sự. Quân Mỹ thực sự đổ quân vào miền Nam sau sự kiện vịnh Bắc Bộ năm 1964. Vậy thì vào thời điểm 20/12/1960, làm gì có bóng dáng lính Mỹ nào ở Miền Nam, làm gì đã có ai xâm lược mà chống?? Các bác, các chú chống ai, chống cái gì vào năm 1960???

Ðặng Xuân Khánh

Posted: Fri Oct 02, 2009 4:44 am
by khieulong
Phóng sự qua hình ảnh :300 người chết vì bão Ketsana
Cơn bão kinh hoàng Ketsana quét qua Đông Nam Á,
san phẳng làng mạc ở Campuchia và tàn phá nhà cửa ở Việt Nam sau khi gây lụt lội khắp Philippines.

Image
Người dân lội qua dòng nước lũ ở Huế, Việt Nam, hôm 29/9 trong mưa bão.
Giới chức đã phải sơ tán gần 170.000 người khi cơn bão Ketsana kéo tới khu vực này. Ảnh: AP.

Image
Ngôi nhà bị ngập trong nước lũ ở Kon Tum. Bão Ketsana đã khiến 48 người chết ở Việt Nam. Ảnh: AP.
Xem video bão Ketsana tàn phá miền trung Việt Nam ở đây.

Image
Mênh mông nước ở Kon Tum. Ảnh: AP.

Image
Nước ngập tới lưng chừng một ngôi nhà ở tỉnh Kampong Thom, cách Phnom Penh 168 km về phía bắc.
Ít nhất 11 người thiệt mạng và 29 người bị thương khi cơn bão Ketsana quét qua miền trung Campuchia. Ảnh: Reuters.

Image
Nước lũ tràn trên đường phố tỉnh Kampong Thom.
"Chúng tôi quá quen thuộc cảnh bão phá tan một hai ngôi nhà tuy nhiên tôi chưa từng thấy trận bão nào mạnh thế này",
Nam Tum, người đứng đầu tỉnh Kampong Thom nói. Ảnh: Reuters.

Image
Dân Philippines ở ngoại ô thành phố Pasig, phía đông thủ đô Manila, lội trong dòng nước lũ.
Số người thiệt mạng ở quốc gia này lên tới 246 người và 42 người còn mất tích.
Ảnh: AP

Image
Cháu bé tìm đồ trong ngôi nhà đã bị phá hủy hoàn toàn tại ngoại ô thành phố Quezon, phía bắc Mania. Ảnh: AP:

Xem video bão tàn phá Philippines tại đây.

Image
Một số người cố gắng tìm lại đồ trong đống đổ nát của cơn bão trong khi những người khác rửa đồ
dưới dòng sông ở ngoại ô thành phố San Mateo, đông Manila.
Ảnh: AP
Hải Ninh

[brown]Miền Trung chìm trong mưa bão[/size=3][/brown]
Bão kèm theo mưa lớn khiến nhiều tuyến đường, khu dân cư ngập sâu, cây đổ ngổn ngang, giao thông tê liệt.
VnExpress.net[/I] ghi nhận hình ảnh tại Huế và Đà Nẵng.


Image
Đường Đinh Tiên Hoàng trong nội đô Huế biến thành sông.

Image


Image
Người dân di chuyển rất khó khăn.

Image

Cây nhỏ thì gãy cành.

Image
Gió to, cây đổ, đường phố vắng tanh.

Image


Image
Tại Đà Nẵng, từ đêm qua, gió bão rất mạnh.

Image
Người dân Đà Nẵng sơ tán đến những ngôi nhà an toàn.

Image
Do mưa bão, một cây xanh tại Đà Lạt (Lâm Đồng) đổ, đè chết một cô giáo.

Ảnh:Minh Tâm - Trà Bang