Page 29 of 180

Posted: Tue Aug 04, 2009 5:54 am
by dailien
Mot la thu lich su lam dau nhoi tim can cua mot cuong quoc.

Image
Từ trái qua phải : Sisowath Sirik Matak,
Lon Nol, and In Tam.

Vào tháng 4 năm 1975 , khi quân đội Cộng sản đang trên đường tiến vào Nam vang
thì người Mỹ đã mời Thủ tướng Sirik Matak và toàn bộ chính phủ Miên nên ra đi, vì
ở lại thì sẽ bị Khờ Me Đỏ sát hại.
Ngày 16 tháng 4 năm 1975, Thủ tướng Sirik Matak đã viết một lá thơ vô cùng cảm động
gởi cho Đại sứ Mỹ tại Nam Vang là ông John Gunther Dean . Lá thơ đầy nghĩa khí và
tiết tháo của một người anh hùng “sinh vi tướng, tử vi thần” như sau :

Image


Phỏng Dịch.-

Nam Vang ngày 16 tháng 4 năm 1975.

Thưa Ngài và Bạn,
Tôi thành thật cảm tạ ngài đã viết thư và còn đề nghị giúp tôi phương tiện đi tìm tự do .
Than ôi ! Tôi không thể bỏ đi một cách hèn nhát như vậy !
Với Ngài (đại sứ John Gunther Dean) và nhất là với xứ sở vĩ đại của Ngài , không bao giờ
tôi lại tin rằng quý vị đã nhẫn tâm bỏ rơi một dân tộc đã lựa chọn tự do .
Quý vị từ chối bảo vệ chúng tôi và chúng tôi chẳng thể làm được gì hết .
Ngài ra đi, tôi cầu chúc Ngài và xứ sở của Ngài được hạnh phúc dưới bầu trời này ..
Nhưng xin Ngài nhớ cho rằng nếu tôi phải chết ở đây và ở lại đất nước tôi yêu dấu thì tuy
đó là điều tệ hại , nhưng tất cả chúng ta đều sinh ra và cũng sẽ chết vào một ngày nào đó .
Tôi chỉ ân hận một điều là đã quá tin và chót tin ở nơi quý vị, những người bạn Hoa Kỳ !
Xin Ngài nhận những cảm nghĩ chân thành và thân hữu của tôi .

Sirik Matak

Posted: Thu Aug 06, 2009 11:47 pm
by quaichao
Em gái tác giả ‘Hồi Ký Của Một Thằng Hèn’:
‘Anh Tô Hải không đập vỡ bia mộ của cha mình’


Image
Bà Tô Ánh Tuyết tại báo Người Việt. (Hình: Nguyễn Hùng/Người Việt)
Thực hiện: Ðinh Quang Anh Thái/Người Việt


Ngày 13 Tháng Sáu vừa qua tại phòng sinh hoạt Lê Ðình Ðiểu của nhật báo Người Việt, tủ sách Tiếng Quê Hương trụ sở tại Virginia đã ra mắt tác phẩm “Hồi Ký Một Thằng Hèn” của nhạc sĩ Tô Hải hiện sống ở Sài Gòn. Số người tham dự buổi sinh hoạt đông đến nỗi không còn chỗ ngồi.

Sau khi cuốn hồi ký được phổ biến, dư luận rất hoan nghênh tác giả nhưng cũng có người đưa ra một số tin khó kiểm chứng. Về một vài tin liên quan đến tác giả, người em gái của ông Tô Hải là bà Tô Ánh Tuyết (hiện ở miền Nam California) đã dành cho Ðinh Quang Anh Thái của Người Việt cuộc phỏng vấn sau đây.


-ÐQAThái: Thưa bà, có dư luận nói rằng, khi vào Nam sau ngày 30 Tháng Tư 1975, nhạc sĩ Tô Hải đi thăm mộ bố được an táng tại nghĩa trang Mạc Ðỉnh Chi ở Sài Gòn, khi thấy trên bia mộ hàng chữ “Hiền tế Trung Tướng Lâm Quang Thi lập mộ”, ông Tô Hải đã ra lệnh đập vỡ bia mộ cha mình. Xin nghe ý kiến của bà về dư luận này.

-Bà Tô Ánh Tuyết: Dư luận đó hoàn toàn bịa đặt. Tôi đã viết một lá thư gửi cho giới truyền thông và nói rõ về hành vi bịa đặt này. Ðiều bịa đặt đó không thể nào là sự thật, vì khi thân phụ tôi qua đời năm 1971 và được an táng tại nghĩa trang Mạc Ðỉnh Chi, lúc đó mẹ tôi là người lập mộ. Hơn thế nữa, chúng tôi có 6 anh chị em, trong đó ba người anh trai đều có địa vị trong xã hội, cho nên không thể có việc để cho người con rể là Trung Tướng Lâm Quang Thi đứng ra lập mộ. Vì theo truyền thống Việt Nam, con rể không thể đứng ra lập mộ, khi mẹ và các con ruột người quá cố vẫn còn sống.

-ÐQAThái: Trung Tướng Lâm Quang Thi từng là tư lệnh tiền phương Quân Ðoàn I, có đúng không thưa bà?

-Bà Tô Ánh Tuyết: Ðúng vậy. Năm 1971, khi bố tôi mất, ông Thi là thiếu tướng chứ chưa lên trung tướng. Thành ra người nào nói là “Trung Tướng Lâm Quang Thi lập mộ” đã tỏ ra không biết gì cả.

-ÐQAThái: Bà có thể cho biết thêm về các anh chị em của bà.

-Bà Tô Ánh Tuyết: Anh Tô Hải là anh cả, kế đó là anh Tô Hiền, giáo sư Trung học Nguyễn Trãi và Nguyễn Bá Tòng ở Sài Gòn; tiếp theo là hai người chị tôi; rồi tới anh Tô Tiến Phát, trung tá Không Quân Việt Nam Cộng Hòa; kế anh Phát là tôi và sau chót là Tô Tiến Ðạt, đại úy Không Quân lái vận tải cơ C130.

-ÐQAThái: Trong thời gian đất nước chia đôi và chiến tranh Quốc-Cộng, gia đình bà có biết tin về nhạc sĩ Tô Hải lúc đó ở ngoài Bắc không?

-Bà Tô Ánh Tuyết: Trước năm 1975, gia đình chúng tôi hoàn toàn không có liên lạc nào với anh Tô Hải và cũng không biết tin gì về anh Hải. Sau 1975, mẹ tôi có liên lạc với anh Hải.

-ÐQAThái: Bà có trực tiếp gặp ông Tô Hải lần nào chưa, sau năm 1975?

-Bà Tô Ánh Tuyết: Lần đầu tiên sau hơn nửa thế kỷ, Tháng Tám năm 2008, tôi gặp anh Hải ở Sài Gòn khi tôi từ Mỹ về thăm Việt Nam. Lúc đó tôi mới được nghe anh nói và được đọc bản thảo cuốn “Hồi Ký Một Thằng Hèn”, nhờ vậy tôi mới hiểu anh. Trước đó, tôi chỉ biết anh là anh cả trong gia đình nhưng tình cảm thì mờ nhạt lắm.

-ÐQAThái: Khi đối diện với một ông anh từng là “Cộng sản thứ thiệt” - như ông Tô Hải tự nhận trong cuốn hồi ký - tâm trạng của bà ra sao?

-Bà Tô Ánh Tuyết: Trước khi quyết định về Việt Nam thăm anh Hải, tôi đã nhiều lần nói chuyện với anh bằng điện thoại. Nhưng tình cảm không có gì đặc biệt. Mẹ tôi trước khi nhắm mắt, có căn dặn chúng tôi thỉnh thoảng phải tiếp tế cho anh, vì anh nghèo lắm mà còn bị bệnh nữa. Khi gặp anh ở Sài Gòn, hai tuần liền, ngày nào tôi cũng đến thăm anh và ngồi nghe anh nói chuyện. Tình cảm lúc bấy giờ mới thật sự chan hòa yêu thương.

-ÐQAThái: Bà có thấy con người ông Tô Hải có “hèn” như ông tự nhận không?

-Bà Tô Ánh Tuyết: (cười thoải mái) Chuyện đó nhất định là không. Bởi vì anh ấy hăng lắm. Anh nói chuyện rất hay và trí óc rất minh mẫn. Anh chỉ trích chế độ thẳng thừng mà không sợ gì cả. Thế thì làm sao mà bảo rằng anh ấy “hèn” được.

-ÐQAThái: Ðọc “Hồi Ký Một Thằng Hèn”, độc giả đã biết lập trường của ông Tô Hải đối với chế độ Cộng Sản; nhưng cá nhân bà khi nói chuyệntrực tiếp với ông, bà có nghe ông kết luận điều gì về cái đảng mà ông đã theo lúc ông còn thanh niên?

-Bà Tô Ánh Tuyết: Anh Tô Hải nhấn mạnh nhiều lần với tôi rằng anh bị lừa, anh đã đi lầm đường và lúc nào anh cũng ân hận là anh đã cãi lời bố nên mới theo cộng sản để rồi lầm lỡ cả cuộc đời.

-ÐQAThái: Có bao giờ ông Tô Hải thổ lộ với bà về mong ước vào tuổi xế chiều của ông?

-Bà Tô Ánh Tuyết: Anh Hải có tâm sự với tôi, rằng niềm mơ ước lớn nhất cuối đời của anh là làm sao tuổi trẻ tại Việt Nam đứng lên chống lại những áp bức hiện nay và tranh đấu cho dân chủ thì Việt Nam mới có thay đổi. Anh nói rằng, bây giờ anh già rồi, không làm được gì, chỉ còn ngòi bút để viết được gì thì viết.

-ÐQAThái: Cám ơn bà đã trả lời phỏng vấn của Người Việt.

Posted: Sat Aug 08, 2009 1:08 am
by vuphong
Ba tỷ đô la tiêu không đúng

Ngô Nhân Dụng
Nhà tỷ phú Bill Gates có thể yên tâm được tặng 4,500 đô la, nếu muốn. Nếu ông có một chiếc xe cũ chạy hao xăng, Bill Gates có thể đem đổi cho nhà bán xe (car dealer) để mua một chiếc Ford Focus hay Honda Civic mới, tiết kiệm xăng không kém gì chiếc Volkswagen mà ông đã có trong nhà. Như vậy, người giầu nhất thế giới là ông Gates có thể được người dân đóng thuế ở Mỹ tặng 4,500 đô la, theo kế hoạch kích thích kinh tế của chính phủ Obama. Ðó là nhờ nỗ lực của các nghị sĩ quyết tâm thông qua dự luật do Hạ Viện chuyển lên trong tuần này, trước khi quý ông bà nghị sĩ đi nghỉ Hè. Tại sao Thượng Viện phải biểu quyết nhanh lẹ như vậy? Vì họ sợ rằng nếu đem ra bàn bạc nữa, rồi sửa đổi vài điều trong dự luật của Hạ Viện thì sẽ mất rất nhiều thời giờ. Sau khi Thượng Viện bàn bạc rồi thông qua một dự luật khác, sẽ còn phải đưa ra bàn với Hạ Viện để tìm cách thỏa hiệp giữa hai bản văn. Như vậy không thể nào kịp cho quý vị đại biểu trở về với đơn vị của mình. Thôi thì cứ thông qua luôn, chuyển ngay sang Tòa Bạch Ốc cho Tổng Thống Obama ký, tất cả các đại biểu có thể đem một món quà nóng hổi về cho đồng bào cử tri yêu quý. Vì thế nên các nghị sĩ muốn bỏ phiếu gấp, không bàn bạc ý kiến nào mới. Trong đó có những ý kiến muốn thêm một điều khoản buộc chính phủ phải chấm dứt ngay chương trình trợ giúp các ngân hàng và bán gấp các cổ phần trong những công ty GM và Chrysler mà chính phủ bất đắc dĩ phải làm chủ. Ðây là những vấn đề lâu dài, phải bàn hàng tháng mới xong. Ðưa ý kiến này ra chỉ nhằm “phá đám” để bỏ luôn cả kế hoạch trợ cấp mua xe; không đem bàn là đúng. Nhưng cũng có những ý kiến rất có lý và đáng bàn bạc. Thí dụ, nên giới hạn chỉ những người có lợi tức vừa phải, thí dụ dưới 50,000 đô la một năm, mới được trợ cấp; những ai khá giả hơn xin miễn. Nếu ghi thêm điều hạn chế này, thì ông Bill Gates chắc chắn sẽ không được hưởng món tiền 4,500 đô la, trong đó quý vị nộp thuế ở Mỹ mỗi người đều được đóng góp mỗi người vài ba xu. Nhưng các nghị sĩ bác bỏ không bàn đề nghị này, chắc vì khi đem tiền của công chúng đóng thuế ra làm phước, giúp cho kỹ nghệ xe hơi sống trở lại, họ không muốn phân biệt giầu nghèo, cho ông Bill Gates được đối xử bình đẳng như các công dân Mỹ khác! Khi Hạ Viện làm dự luật tăng số tiền trợ cấp mua xe mới thêm 2 tỷ đô la nữa, phần lớn dân Mỹ đều hoan nghênh, vì thấy một tỷ đô la đầu tiên được phân phát rất nhanh, trong một tuần hết gần 800 triệu. Ðọc báo thấy cảnh bà con đi mua xe ào ào, mọi người cảm thấy như cơn khủng hoảng kinh tế sắp chấm dứt đến nơi, trong lòng cũng phấn khởi hơn. Ít khi quý vị trong chính phủ Mỹ, cả Hành Pháp lẫn Lập Pháp, lại thấy một chương trình của họ hiển nhiên được nhân dân hoan nghênh như vậy! Nhưng nói chung, khi ai đem tiền ra đứng đầu phố bắt đầu phân phát thì đều được những người cần tiền hưởng ứng và những người chung quanh vỗ tay hoan hô cả! Lên đến Thượng Viện, có nhiều ý kiến phản đối cả dự luật này (sẽ đề cập tới trong phần sau), nhưng các nghị sĩ không muốn bàn mất thời giờ. Có những ý kiến yêu cầu sửa đổi chút đỉnh, cũng bị bác bỏ. Vì quý vị đại biểu sợ rằng nếu không làm ngay luật tăng thêm 2 tỷ đô la nữa thì số tiền một tỷ đầu tiên sẽ hết trong mấy ngày, chương trình trợ cấp mua xe sẽ phải tạm ngưng trong khi chờ những tỷ đô la mới. Làm như thế, để cho người bán xe, mua xe chờ đợi lâu quá, dân Mỹ sẽ... chán không muốn hưởng món trợ cấp 4,500 đô la mua xe mới nữa thì làm sao? Liệu người Mỹ có chán tiền, những món “tiền chùa” do các đại biểu Quốc Hội đem tặng hay không? Chắc các đại biểu sợ dân chúng chán tiền thật cho nên họ mới đua nhau biểu quyết cho lẹ! Lý do chính khiến các đại biểu Quốc Hội muốn làm luật cho lẹ, ông tổng thống cũng muốn ký ban hành cho nhanh, vì đây là một cơ hội làm việc thiện, được cả các công ty sản xuất xe lẫn những người dân đang cần trợ cấp ủng hộ. Còn những người dân khác cũng vui, vì họ không thấy thiệt hại cho túi tiền của mình bao nhiêu. Nếu đem chia 3 tỷ đô la trợ cấp đó ra cho tất cả mọi người dân Mỹ trả, thì mỗi người cũng chỉ tốn có 10 đô la! Nhiều người Mỹ không để ý là chính họ đóng thuế để giúp ông, bà hàng xóm mua xe cùng các công ty sản xuất và cửa hàng bán xe. Các nhà chính trị thì thường hay chờ những lúc dân chúng lơ đễnh không để ý mà hành động, móc túi tiền của dân cho mình làm việc thiện, theo kiểu “mượn hoa cúng Phật.”

Nhưng dù người dân Mỹ có biết, mà thấy mình chỉ tốn 10 đô la để cho kinh tế được kích thích, kích thích ngay trước mắt mình, chắc họ cũng cảm thấy đáng đồng tiền giúp dân giúp nước!

Bây giờ đến câu hỏi là liệu chương trình trợ cấp mua xe có thật sự đáng đồng tiền hay không? Nhiều ý kiến đã được đưa ra, tỏ ý nghi ngờ về hiệu quả kích thích tiêu thụ của chương trình này, nhưng không lọt tai các đại biểu Quốc Hội! Từ khi kế hoạch trợ cấp đổi xe được thi hành, vài trăm ngàn người Mỹ đã đổi xe cũ, mua xe mới bớt hao xăng. Các nhà làm xe và bán xe vui mừng. Nhưng hoạt cảnh mua xe tấp nập bây giờ không chắc đã kéo dài được đến hết mùa Thu năm nay. Vì 3 tỷ trợ cấp của nhà nước chỉ “thay đổi thời gian” của quyết định mua xe mới chứ không chắc đã thay đổi quyết định có mua xe hay không mua. Mỗi năm trước đây trung bình có 14 triệu dân Mỹ mua xe mới, mà hai năm nay con số đó xuống chỉ còn mươi triệu. Tự nhiên, trong tương lai thế nào cũng có nhiều người phải đi mua xe vì xe họ đã cũ quá. Trong vòng một năm thế nào cũng có cả triệu người Mỹ đi mua xe mới, mà vì giá xăng lại đang tăng lên, phần lớn họ sẽ mua xe ít tốn xăng. Gần hai năm nay, vì kinh tế suy thoái, mấy triệu người đã phải “nhịn” không mua xe mới. Họ có thể nhịn nửa năm hoặc một năm nữa cũng được. Nhưng bây giờ thấy có dịp chính phủ trợ cấp thì họ đi mua ngay. Tội gì được cho lại không hưởng?

Nhưng sau khi số tiền 3 triệu phân phát hết rồi, sẽ có nhiều hay ít người mua xe hơn? Chắc là sẽ ít hơn. Vì ngân sách các gia đình dự trù cho việc mua xe đã được tập trung lại, đem chi vào mấy tháng Hè năm 2009; những tháng sau đó trong túi sẽ không còn nhiều nữa. Mục tiêu kích thích nhu cầu mua xe của dân Mỹ không đạt được đầy đủ vì chỉ khiến người dân chuyển đổi thời gian quyết định mua xe sớm hơn, chứ không chắc đã tăng nhu cầu mua xe thực sự. Nhu cầu sẽ tăng thật khi nào kinh tế phục hồi, và lúc đó sẽ tăng nhanh vì người ta tin tưởng hơn vào tương lai, yên trí sẽ có tiền, họ sẽ bắt đầu tiêu thụ lại. Mà thói quen cứ ba năm lại đổi xe của người Mỹ không thể sớm bỏ đi được, cùng lắm họ đổi ba năm thành bốn năm thôi. Nhưng đem 3 tỷ đô la ra phân phát để khuyến khích dân chúng đem cả đống xe cũ đi tiêu hủy, như thế có ích lợi về mặt kinh tế thực hay không? Tưởng tượng bây giờ có 600 ngàn chiếc xe cũ vẫn chạy được vài ba năm, mà đem đi thủ tiêu hết, hành động đó ích lợi hoặc gây thiệt hại như thế nào, không thấy các đại biểu Quốc Hội nói tới!

Và nhiều người còn đặt câu hỏi: Nếu đem tiền dân đóng thuế phát cho dân tiêu thụ, thì tại sao lại chọn một món hàng tiêu thụ làxe hơi? Các nhà sản xuất máy vi tính cũng đang ế hàng, sao không “kích cầu” giúp họ? Hiện tôi đang cần mua giầy đi bộ thật tốt cho đỡ đau gót chân; tại sao không nhà nước nào trợ cấp cho những người đem giầy cũ đi đổi mua giầy mới? Nhưng việc kích thích người ta mua xe trong lúc các hãng xe đang cố thoát khỏi cảnh phá sản còn có thể gây hậu quả xấu nữa. Vì đây là một hành động “bao cấp” giúp các hãng xe sẽ bán được những chiếc xe mà với giá bán bình thường người tiêu thụ ngần ngại không muốn mua. Khi các hãng xe được bao cấp như thế, nhu cầu cải thiện kỹ thuật và cải thiện việc quản trị của họ sẽ không còn cấp bách nữa. Kế hoạch trợ cấp mua xe làm trì hoãn các công tác cải thiện của các hãng xe ở Detroit. Mà chính vì trong mươi năm qua họ đã trì hoãn không cải thiện, không dám đối đầu với những khó khăn khi thay đổi, cho nên mấy công ty mới phá sản làm tốn tiền dân Mỹ đóng thuế. Chính phủ Mỹ có nên giúp họ trì hoãn thêm nữa hay không? Nếu muốn giúp các công nhân mất việc ở Detroit tại sao không đem tiền thuế ra tổ chức tái huấn luyện họ những kỹ năng mới để tìm việc làm mới? Cuối cùng, chúng ta phải công nhận là những người phản đối chương trình trợ cấp mua xe có lý. Nếu nhà nước muốn dân mua loại xe bớt hao xăng, để tiết kiệm năng lượng và bớt ô nhiễm, thì phương cách giản dị nhất là tăng thuế xăng lên. Khi giá xăng lên, dù không ai trợ cấp người Mỹ cũng đi mua xe nhỏ, nhẹ, ít hao năng lượng.

Posted: Wed Aug 12, 2009 2:19 am
by khieulong
Hội chứng tự tử của sinh viên Trung Quốc

Image
Sinh viên Trung Quốc xếp hàng tìm việc làm. Ảnh: TTVH.
Hơn sáu triệu sinh viên Trung Quốc sẽ ra trường trong tháng này, 1/3 trong số đó sẽ không tìm thấy việc làm và đó chính là nguyên nhân khiến nhiều cử nhân nước này chán sống.

Đối với Liu Wei, con gái của cặp vợ chồng nông dân nghèo khó ở làng Liu Hebei, cách Bắc Kinh 200 km về phía nam, tấm bằng tốt nghiệp đại học là “giấy thông hành” để cô bước vào một thế giới mới, thoát khỏi cảnh chân lấm tay bùn, hay công việc “cu ly” trong các xưởng máy bụi bặm.

Nhưng ước mơ của cô không bao giờ thành hiện thực. Bởi quá thất vọng, cộng thêm nỗi tủi hổ vì tấm bằng đại học bị rẻ rúng, và cảm giác tội lỗi vì bắt gia đình phải bóp mồm bóp miệng để mình ăn học mà không có cơ hội đền đáp, Liu đã tìm đến cái chết.

“Con gái tôi làm như vậy vì cháu lo lắng thái quá khi không tìm được việc làm, không kiếm được tiền để đền đáp cha mẹ”, Liu Shangyun, cha của cô gái xấu số, nói trong nước mắt.

Liu Wei đã quá cực đoan khi phải đối mặt với khó khăn. Nhưng trên thực tế đây không phải là trường hợp hiếm gặp. Đầu tháng 4, bản báo cáo của Hội đồng Giáo dục Thượng Hải cho thấy tự tử chiếm tỷ lệ lớn nhất trong số những nguyên nhân đã cướp đi mạng sống của nhiều sinh viên và cựu sinh viên.

Theo thông báo mới đây của Hội đồng, thì 1/3 sinh viên tốt nghiệp năm nay không có khả năng tìm việc làm và sự thất vọng của Liu Wei cũng là nỗi lo chung của hầu hết sinh viên ở đất nước đông dân nhất thế giới này.

“Tôi sợ mình sẽ thất nghiệp”, Chen Meijun, sinh viên chuẩn bị tốt nghiệp Đại học Kinh tế và Kinh doanh ở Bắc Kinh nói. “Như vậy sẽ chịu rất nhiều áp lực bởi gia đình tôi sẽ lo lắng. Bố mẹ luôn an ủi, nhưng áp lực chính vẫn là từ bản thân tôi”.

Trung Quốc đang phải đối diện với thực trạng dư thừa cử nhân rất lớn. Hiện có 1,5 triệu sinh viên tốt nghiệp từ năm ngoái vẫn chưa tìm được việc làm và tình hình càng trầm trọng hơn do khủng hoảng kinh tế toàn cầu.

Ở một đất nước mà sự phân chia giàu nghèo ngày càng lớn thì tấm bằng cử nhân được coi là chìa khóa thành công cho tương lai. Đối với con cái của hơn 700 triệu nông dân Trung Quốc, giống như Liu Wei, thì đây là cách duy nhất để thoát cảnh đói nghèo.

Cha mẹ Liu Wei cũng có suy nghĩ như vậy và khuyến khích con gái thực hiện ước mơ đổi đời. Bà Wang nằm bẹp trên giường sau khi con gái chết. Bà nhớ lại thành tích học tập của Liu Wei: “Cháu là một học sinh xuất sắc. Liu giành được học bổng của ngôi trường tốt nhất trong huyện vì thành tích học tập tốt. Đó là một vinh dự lớn của gia đình. Cháu ít nói, nhưng hay viết nhật ký”.

Theo học công nghệ thông tin tại Đại học Thạch Gia Trang, tỉnh Hà Bắc, Liu Wei là một trường hợp hiếm có trong làng. “Nhiều người ghen tị vì cháu vào được đại học. Hầu hết các cô gái quanh đây đều lấy chồng ở tuổi 20 hoặc thoát ly đi làm công nhân ở xa”, mẹ Liu Wei tự hào nói về con gái.

Cha mẹ Liu Wei biết rằng việc cô vào đại học khiến họ càng gặp sức ép về tài chính khi mỗi năm phải chu cấp cho con 9.000 nhân dân tệ (khoảng 18 triệu đồng) tiền học phí và một khoản tiền tiêu vặt. Với thu nhập từ nghề nông tối đa được 15.000 nhân dân tệ mỗi năm (khoảng 30 triệu đồng), ông Liu đã có một quyết định táo bạo - cho con trai nghỉ học trung học và hai cha con tới Thượng Hải để làm việc tại một công trường xây dựng, để vợ ở nhà đảm nhiệm đồng áng.

Liu Wei ghi nhận sâu sắc sự hy sinh mà gia đình dành cho mình và cô đã ghi lại những suy nghĩ đó trong nhật ký. Năm thứ nhất, Liu Wei viết rằng cô muốn học tập chăm chỉ, sau này có việc làm để có thể chu cấp cho gia đình.

Đến cuối năm thứ hai, Liu Wei bắt đầu tìm việc làm. Giống như hầu hết các sinh viên khác, cô muốn tham gia các hội chợ diễn ra từ tháng 2 đến tháng 6. Nhưng để có một công việc ở đây không dễ dàng chút nào vì số sinh viên tới tìm việc cao gấp 10 lần so với số người cần tuyển. Tháng 6/2008, lần đầu tiên Liu Wei tìm việc tại một hội chợ, cố gắng mãi cô cũng gặp được một người quản lý phụ trách việc tuyển nhân lực, nhưng Liu Wei đã thất vọng ra về vì công việc bán hàng và quảng cáo không phù hợp với cô.

Thất bại đó khiến Liu Wei chán nản vô cùng. “Tôi là một sinh viên đại học nhưng không thể tìm được việc làm. Tôi sẽ rất xấu hổ nếu phải về làng sau khi tốt nghiệp. Tôi cảm thấy vô cùng mệt mỏi. Tôi muốn ngủ mãi và không bao giờ dậy nữa”, Liu Wei viết như vậy trong nhật ký đề ngày 9/10/2008.

Tháng 12/2008, bạn bè Liu Wei lo lắng cho cô đến mức họ phải gọi điện cho cha cô. Đến trường thăm con, ông đã bị sốc khi thấy thể trạng và tinh thần của con gái.

“Cháu gầy quá và ăn uống thất thường. Đến lúc đó tôi mới nhận thấy cháu tuyệt vọng đến mức nào”. Ở nhà một thời gian ngắn, có vẻ Liu đã lấy lại tinh thần, mặc dù vậy cô hầu như chẳng chuyện trò gì với cha mẹ mà chỉ nói: “Đừng lo, con ổn mà”. Nhưng chỉ vài ngày sau khi trở về trường, Liu Wei đã biến mất. Ngày 23/1, ngay trước Tết Nguyên đán, Liun Wei đã trẫm mình ở dòng sông của huyện nhà.

Trước thực trạng các cử nhân trẻ không tìm được việc làm và lâm vào trạng thái tuyệt vọng, Chính phủ Trung Quốc đã cố gắng giải tỏa sức ép của các sinh viên chuẩn bị ra trường bằng cách tạo cho họ những công việc như giáo viên hay nhân viên hành chính cấp thấp ở vùng nông thôn. Chỉ có một số ít cử nhân chấp nhận về quê làm việc vì đồng lương quá thấp. Sinh viên cảm thấy chính quyền chưa giúp họ bằng những cách thiết thực.

“Chính phủ nên làm nhiều hơn nữa, đặc biệt là năm nay bởi có khủng hoảng kinh tế. Chính phủ nên tạo nhiều cơ hội cho chúng tôi tìm được việc làm”, Zhang Haigang, sinh viên chuẩn bị tốt nghiệp Khoa Công nghệ Tin học, Đại học Tổng hợp Cáp Nhĩ Tân, bày tỏ.

(Theo Vietnam Plus)

Posted: Thu Aug 13, 2009 2:39 am
by khieulong
Nguyễn Tấn Dũng bịt miệng cả nước
Tuesday, August 11, 2009

Ngô Nhân Dụng
Hôm qua có một bản tin đưa ra trên mạng lưới, đọc qua thấy là một tin đùa cợt. Bản tin nói rằng ông bộ trưởng Bộ Văn Phòng Chính Phủ gửi một cái thông báo “nội bộ” về “tin đồn 150 triệu đô la” dính đến ông Nguyễn Tấn Dũng. Ðọc xong thì thấy đây chắc là anh chị em nào muốn đùa chơi. Vì theo lời lẽ trong thông báo nội bộ này, một là, hai là... cho tới năm là, bao nhiêu điều biện hộ cho ông Nguyễn Tấn Dũng, không có một chỗ nào xác định rằng “Ông Nguyễn Tấn Dũng không nhận 150 triệu đô la nào để cho khai thác bô xít ở Việt Nam cả.”

Người viết bản tin đùa cợt trên cốt ý nhắc nhở bà con đến cái tin đồn ông Dũng và vụ 150 triệu đô la mà thôi. Nhiều người đem cái tin trên chuyển đi khắp nơi cho bạn bè, lối xóm đọc, cho thấy người ta tin rằng đây là tin có thật. Hoặc ít nhất, họ tin rằng vụ 150 triệu là có thật! Nếu bây giờ các ông trong nhà nước Nguyễn Tấn Dũng mắc bẫy, viết một bản thông báo mới để phủ nhận tin đồn trên, thì mới thật là khôi hài. Thí dụ, ông bộ trưởng văn phòng chính phủ có thể viết rằng rằng trong mấy ngày qua ông không hề viết bản một “thông báo nội bộ” nào với nội dung bác bỏ tin đồn ông Nguyễn Tấn Dũng được hối lộ 150 triệu đô la cả. Do đó, ông xác nhận các tin đồn mới đưa ra nói rằng ông đã ra thông cáo phủ nhận tin đồn 150 triệu đô la là hoàn toàn bịa đặt của những kẻ xấu! Liệu chuyện khôi hài này có thể xẩy ra được không? Có thể lắm. Chính quyền Nguyễn Tấn Dũng có khả năng làm nhiều chuyện còn buồn cười hơn nữa, nhiều chuyện có thể gọi là “cực kỳ hài hước!”

Thí dụ, khi người ta hỏi ông yêu thích cái gì nhất, thì thay vì nói như người bình thường rằng mình yêu vợ, yêu con, yêu đảng, yêu nước, vân vân, ông Nguyễn Tấn Dũng lại tuyên bố rất hùng hổ rằng ông chỉ yêu có “sự thật” thôi! Ngầm hiểu rằng ông yêu cái gọi là “sự thật” hơn cả yêu vợ, yêu con, yêu tổ tiên, yêu đảng, vân vân.

Nhưng sau khi nói xong câu đó, Nguyễn Tấn Dũng lập tức ra lệnh bắt mấy anh nhà báo đưa ra tòa! Mấy ông ký giả nghe lời ông thủ tướng hăm hở đi tìm sự thật trong những vụ tham nhũng tầy trời, đùng một cái bị tóm, ngẩn người ra không biết tại sao!

Tiếp theo, một quan lớn làm việc thông tin trong chính quyền ra lệnh báo chí phải đi đúng lề bên phải, không được đi qua bên trái. Lúc đó mới hiểu có những “sự thật” ở cả hai bên đường nhưng đảng và nhà nước chỉ cho phép ngó vô những “sự thật lề bên phải” mà thôi! Nhưng trên đường có người đi ngược, người đi xuôi, bố ai biết lề đường bên nào mới thật là lề bên phải? Cách tốt nhất là nhắm mắt không nhìn, không nghe, không nói một “sự thật” nào nữa! Cái óc hài hước của ông Nguyễn Tấn Dũng đã phát triển lên hàng “cao cấp” khi ông ký một cái quyết định số 97, áp dụng kể từ ngày 15 Tháng Chín, 2009, tức là tuần sau. Nội dung quyết định này nhằm lập hàng rào cản ngăn cấm không cho người dân tự do “phản biện.” Ðặc biệt là những người trong các tổ chức khoa học và công nghệ, họ không được nhân danh tổ chức của mình mà công bố các ý kiến “phản biện” đối với những đường lối, chủ trương, chính sách của đảng và nhà nước Cộng Sản. Vậy người dân Việt Nam nghe các đường lối, chính sách của đảng rồi muốn “phản biện” thì họ phải làm gì, cho đúng khẩu hiệu “Ðảng lắng nghe Dân”? Theo quyết định số 97 thì ai muốn “phản biện” cái gì thì hãy đem các ý kiến đó nộp cho các cơ quan nhà nước! Ðọc bản tin trên phải bật buồn cười. Tuy nhiên, đây không phải là một bản tin đùa cợt như câu chuyện 150 triệu đô la. Vì tin tức này được đăng trên tạp chí Pháp Luật xuất bản ở Sài Gòn, với những bài phỏng vấn và ý kiến bình luận kèm theo. Tức là cái quyết định số 97 của ông Nguyễn Tấn Dũng là có thật. Và nội dung của quyết định này đúng như báo Pháp Luật đã đưa ra, là có thật.

Một điểm hài hước đầu tiên là cách dùng hai chữ “phản biện.” Ðó là hai chữ gốc cũng từ Trung Quốc đưa qua, mặc dù không dính dáng gì tới chuyện khai thác Bô xít cả. Hai chữ này có nghĩa rất rộng, cho nên cũng trở thành trừu tượng. Thế nào là phản biện các đường lối, chủ trương, chính sách của đảng và nhà nước? Theo lối bình dân thì ta nói là “góp ý kiến với,” hoặc mạnh hơn, nói là “phản đối,” hoặc là “bắt bẻ,” hay “phản bác,” vân vân. Một người góp ý kiến với các đường lối, chủ trương, chính sách của đảng và nhà nước trong đó hoàn toàn ủng hộ nhưng chỉ có một điều coi là sai, cũng là “phản biện.” Tại sao phải dùng một từ trừu tượng, có nghĩa rất rộng như vậy, khi muốn ký một cái quyết định ra lệnh dân chúng phải “phản biện đúng lề đường bên phải?” Không phải vì các ông nhà nước thích chữ Hán, không phải họ tin tưởng rằng “Chữ Hán còn thì người Hán còn.” Nhưng dùng những chữ Hán với nghĩa rộng rãi để viết một quyết định thì sau này các ông dễ xoay xở, lúc nào muốn gọi cái gì là “phản biện,” theo luật phải cấm, hay là không phải “phản biện,” không bị cấm, cũng được hết! Xưa nay ở cái nước “Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa” này nhà nước vốn đã có quyền cấm gì thì cấm, cho gì thì cho, phải bầy đặt rắc rối như vậy làm gì không biết!

Ví thử bây giờ chúng ta dịch hai chữ “phản biện” là “đóng góp ý kiến,” thì tính hài hước của cái quyết định 97 mà Nguyễn Tấn Dũng mới ký càng rõ rệt hơn.

Cái ông thủ tướng tự xưng mình là người yêu sự thật ra lệnh cho dân rằng ai muốn “góp ý kiến với những đường lối, chủ trương, chính sách của đảng và nhà nước” thì phải đưa ý kiến của họ cho các “cơ quan có thẩm quyền” mà thôi.

Như vậy thì giữa hai thằng dân đi ngoài đường, không ai được “phản biện” với nhau bất cứ điều gì về những đường lối, chủ trương, chính sách của đảng và nhà nước cả! Thí dụ có một thằng dân nghe báo nghe đài loan tin một công ty Trung Quốc đang đưa hàng ngàn công nhân người Trung Quốc vào nước ta khai thác bô xít, và ông thủ tướng tuyên bố chính sách bô xít là đường lối, chủ trương lớn của đảng và nhà nước, thằng dân thắc mắc về nhà hỏi vợ: “Bô xít là cái gì, má thằng nhỏ có biết không?” Làm như vậy là vi phạm quyết định số 97! Bởi vì má thằng nhỏ không phải là “cơ quan có thẩm quyền” để nói chuyện bô xít, bô xịt gì hết! Mà không cứ chuyện bô xít, bất cứ cái gì được “đường lối, chủ trương, chính sách của đảng và nhà nước” đụng vào đều bị cấm hết! Không được góp ý kiến nào với ai cả, ngoài việc bẩm báo với đảng và nhà nước! Ðó là mục tiêu của quyết định số 97! Nhưng quyết định 97 của Nguyễn Tấn Dũng không nhắm vào những thằng dân bình thường, mà nhắm vào giới trí thức, trong đó có các nhà khoa học và kỹ thuật gia ở trong nước! Cho nên trong quyết định có cả những đoạn dài nói riêng về những người này. Gần đây đã có phong trào bàn tán về việc khai thác bô xít. Hàng vạn người đã góp ý kiến với nhau, đã thảo luận công khai trên mạng lưới. Trong đó có những nhà văn, nhà nghiên cứu, các khoa học gia, và cả những cựu tướng lãnh. Lại có một phong trào bàn tán về chủ quyền đất nước ở biển Ðông. Các ông hòa thượng, các ngài linh mục, giám mục, các sử gia cũng đem ra bàn tán và bầy tỏ ý kiến công khai. Những hoạt động đó đều có thể gọi là “phản biện” được cả.

Bây giờ quyết định số 97 cấm hết. Ai muốn “phản biện” từ nay phải làm đơn nộp cho các “cơ quan có thẩm quyền” cứu xét. Cái ông thủ tướng “yêu sự thật” này muốn bắt mọi người dân chỉ được đi tìm sự thật trong các “cơ quan có thẩm quyền.” Bên ngoài “cơ quan có thẩm quyền” thì không có sự thật nào cả! Có khác gì bịt mồm bịt miệng cả nước, không cho ai nói hay không? Cho nên, đọc qua nội dung cái quyết định số 97, ai cũng phải bật cười. Chỉ có ông Nguyễn Tấn Dũng chắc không cười, cho nên ông ta mới ký!

Nhưng một cái quyết định như vầy nó sẽ gây ra những hậu quả lớn, rất lớn, không thể lường trước được.

Ví dụ bây giờ ông bí thư xã ra lệnh xung công ruộng đất của bà con để cho Hàn Quốc làm sân cù, cho các đồng chí lớn và các nhà tư bản đỏ tập chơi golf với người ngoại quốc. Nếu các nông dân muốn góp ý kiến phản đối thì sao? Theo quyết định số 97, bà con được tự do phản biện, nhưng chỉ được phản biện với “cơ quan có thẩm quyền” mà thôi. Các nhà khoa học công nghệ cũng vậy. Hãy đi tìm những “cơ quan có thẩm quyền” mà phản biện. Và cái “cơ quan có thẩm quyền” ở đây chính là ông bí thư! Trong một bài trước, chúng tôi kể chuyện các công nhân ở tỉnh Cát Lâm bên Trung Quốc đã giết chết một giám đốc xí nghiệp. Con người ta ai cũng muốn làm ăn sinh sống bình thường, không ai muốn giết người cả. Cùng quẫn lắm mới đi phạm tội giết người. Cùng quẫn, là vì nói không được, vì không được nói. Cả một xã hội bị bịt mồm, bịt miệng, báo chí không có tự do, Quốc Hội là Quốc Hội gật, đi tới đâu cũng phủ bênh phủ, huyện bênh huyện. Những nỗi phẫn uất không biết “phản biện” vào đâu, tích tụ lại bao nhiêu năm làm sao giải tỏa được? Phẫn uất quá, những con người hiền lương bỗng nhiên trở thành một bọn sát nhân. Ông Nguyễn Tấn Dũng nên suy nghĩ về hiện tượng đó mà rút lại cái quyết định bịt mồm bịt miệng này đi.

Posted: Fri Aug 14, 2009 1:59 am
by tranphuongdong

Image

Tin báo động về dịch cúm heo H1N1.
Cơ quan CDC vừa đưa ra một thông cáo đặc biệt kêu gọi dân chúng Mỹ cần có những biện pháp đề phòng một cơn đại dịch cúm heo sẽ nổ ra vào mùa Thu năm nay.
Tổ chức WHO của Liên Hiệp Quốc đã công nhận dịch cúm heo là một cơn đại dịch, pandemic, có nghĩa là dịch này sẽ lây lan rất mau lẹ và không thể nào ngăn chặn được ngoài việc dùng thuốc chủng ngừa. Tuy vậy dịch cúm heo này không có ác tính như các loại cúm gà hay cúm vịt nên không làm chết nhiều người và thuốc trụ sinh Tamiflu vẫn có công hiệu chống lại dịch cúm heo.
Sở dĩ chính phủ Mỹ và CDC phải quan tâm về một cơn đại dịch cúm heo, swine flu, vào mùa Thu năm nay là vì trong mùa Hè đã có nhiều trường hợp cúm heo vẫn xảy ra tại nhiều nơi, nhất là tại các trại hè khác với mọi khi trong mùa Hè thường không có dịch cúm mà chỉ xảy ra vào mùa Thu hay mùa Đông mà thôi.
Các khảo sát tại các nước Nam Bán Cầu đang ở trong mùa Đông cũng cho biết là dịch cúm heo đã bùng nổ tại Úc, Á căn Đình, Chí Lợi.. Vì thế CDC tiên đoán là sẽ có một cơn đại dịch H1N1 vào mùa Đông tại Mỹ và các nước tại Bắc Bán Cầu và cần phải có một kế hoạch chủng ngừa trên cả nước hòng chống lại cơn đại dịch. Nhưng một số người cần phải được ưu tiên chủng ngừa trước hết vì theo thống kê của CDC thì tỷ lệ tử vong của phụ nữ mang thai bị lây cúm heo cao gấp 6 lần mức bình thường. Nguyên do là khi người phụ nữ mang thai thì hệ thống miễn dịch (immune system) bị suy yếu nên cơ thể không có đủ sức để chống lại những trường hợp nhiễm trùng. Những trường hợp tử vong tại các phụ nữ mang thai bị lây cúm heo đều là do viêm phổi (pneumonia. Sau đó ưu tiên dành cho những trẻ em từ 6 tháng đến 24 tuổi, những người chăm sóc cho trẻ sơ sinh, những nhân viên Y tế và những người lớn tuổi có bệnh mãn tính như tiểu đường, suy thận, suy tim..
Tổng số khoảng 140 triệu người dân Mỹ sẽ được chủng ngừa trong đợt đầu tiên. Trong tháng 8, chính phủ sẽ tổ chức trên cả nước một số trường hợp chủng ngừa H1N1 trên những người tình nguyện để xem kết quả thuốc chủng có hữu hiệu hay không. Những thí nghiệm trên loài vật cho thấy là thuốc chủng H1N1 có khả năng chống lại siêu vi rất tốt và số lượng kháng thể đã lên cao sau khi chủng ngừa.
*Những điều cần biết về dịch H1N1
Trước hết là thuốc chủng ngừa cúm hàng năm (seasonal flu) không có khả năng bảo vệ chống lại cúm heo vì do một loại siêu vi hoàn toàn khác hẳn. Mọi người vẫn phải được chủng ngừa chống lại cả hai loại cúm vào mùa Thu năm nay. Cúm thường niên vẫn nguy hiểm như mọi năm vì trung bình làm cho khoảng 36,000 người chết và 200,000 người phải được điều trị tại bệnh viện. Chủng ngừa hàng năm là biện pháp tốt nhất chống lại cúm seasonal flu và hiện nay chính phủ có đầy đủ thuốc chủng ngừa vì đã được chế tạo trước từ nhiều tháng nay theo đúng dự đoán của các chuyên viên dịch tễ quốc tế.
Những biện pháp phòng ngừa cổ điển như khẩu trang, khăn mặt không đủ khả năng chống lại cúm heo và cần tránh giao tiếp với những người bệnh. Nên giảm bớt các hoạt động trong xã hội, như giải trí công cộng, hội
họp không cần thiết nhất là vào những dịp cuối năm...dù rằng có ảnh hưởng không tốt lên kinh tế đang bị suy thoái !
Cần có kế hoạch đối phó một khi cơn đại dịch cúm heo nổ ra như tích trữ thực phẩm tươi, dụng cụ vệ sinh cá nhân, thuốc khử trùng, giấy sanitizers, tổ chức việc học hành của con cái tại nhà nếu chẳng may trường học bị đóng cửa lâu dài. Tại một số sở làm cần có kế hoạch làm việc qua máy điện toán, on line processing.. nói chung giảm thiếu tối đa những sinh hoạt nơi công cộng.
Giữ vệ sinh cá nhân và các dụng cụ văn phòng, vật dụng hàng ngày vì siêu vi H1N1 có thể lây lan dễ dàng qua trung gian các vật dụng như máy điện thoại cầm tay, giấy bút, khăn lau tay, dụng cụ nấu nướng và ngay cả các trái cây, thực phẩm rau tươi.. mua tại các siêu thị bị nhiều người cầm phải rồi truyền bệnh cho người mua vì qua tay nhiều người. Rửa tay sạch bằng thuốc sát trùng sanitizer là hữu hiệu nhất và nên tránh đụng chạm tới bàn tay người lạ (nên tránh bắt tay mà chỉ nên chào kính theo kiểu trước đây là chắp hai tay vái chào như tại Hương Cảng khi có dịch SARS nổ ra). Bắt tay giao thiệp là một hình thức truyền bệnh cúm mau lẹ nhất trong mủa dịch sắp tới.. nhưng khó từ bỏ được thói quen này !
Không nên hoảng hốt vì dịch cúm H1N1 tuy là một cơn đại dịch nhưng siêu vi H1N1 không có nhiều ác tính và vẫn có thuốc trụ sinh trị được là thuốc Tamiflu, Relenza. Các triệu chứng cũng nhẹ và không gây ra biến chứng nguy hiểm, ngoại trừ những trường hợp phụ nữ mang thai. Tuy rằng có một vài trường hợp tử vong xảy ra ở những người trẻ mạnh khỏe nhưng không có lý do gì để lo ngại và cần nhất là được chữa trị thật sớm bằng thuộc trụ sinh. CDC khuyến cáo những phụ nữ mang thai khi mới chớm có dấu hiệu bị cúm thì nên được dùng trụ sinh nội trong vòng 48 tiếng thì mới công hiệu, không cần đợi kết quả thử nghiệm tìm siêu vi H1N1.
Không nên tích trữ thuốc Tamiflu và không nên lạm dụng vì có thể dẫn đến tình trạng thuốc bị mất công hiệu do hiện tượng siêu vi H1N1 trở nên đề kháng.
Nếu có dấu hiệu bị cúm như hắt hơi, sổ mũi, nóng sốt, đau nhức, đau cổ họng, mệt mỏi, tiêu chảy, run ớn lạnh, ói mửa.. thì nên ở nhà, không ra ngoài hòng tránh truyển bệnh cho người xung quanh.
Trẻ em bị lây bệnh thì có những triệu chứng như sau và cần được điều trị gấp như khó thở, mệt mỏi, da khô và tím, bỏ ăn, bỏ uống, ói mửa, mê man vật vã, nóng sốt cao độ, co giật, ho khan. Nói chung là có những phản ứng không bình thường.
Cần đem đến khu cấp cứu nếu người bệnh có những triệu chứng như: khó thở, đau và tức ngực, chóng mặt, choáng váng, tâm thần mê sảng (confusion) thay đổi (change of mental status) ngất xỉu, ói mửa nhiều lần, ho khan nóng sốt cao độ.. nhất là sau 3 ngày không thuyên giảm.
Cần giáo dục con em về những biện pháp phòng chống dịch cúm như giảm bớt sinh hoạt bên ngoài, tránh hắt hơi nơi đông người, nên nghỉ học nếu có dấu hiệu nóng sốt, đau cổ và nhất là rửa tay sạch sau khi tiếp xúc với bạn bè.
Theo thông cáo của CDC thì đợt chủng ngừa cúm heo H1N1 sẽ khởi sự vào tháng 9 cho những người thuộc diện ưu tiên trong khi những đợt chủng ngừa cúm thường niên thì vẫn tiến hành như mọi năm vào tháng 10 và năm nay tất cả mọi người sẽ phải được chủng ngừa 3 mũi vì chủng ngừa cúm heo H1N1 cần phải có 2 mũi mới công hiệu./.

Posted: Sat Aug 15, 2009 1:37 am
by thienthanh
Có quyết tâm thì chống được tham nhũng
Thursday, August 13, 2009

Ngô Nhân Dụng

Báo chí trong nước mới loan tin về một bản báo cáo do Tòa Ðại Sứ Ðan Mạch ở Hà Nội mới công bố tuần này. Các chuyên gia của Bộ Ngoại Giao Ðan Mạch nghiên cứu về tình trạng phòng chống tham nhũng tại Việt Nam đã đưa ra những câu hỏi về nhận định của Bộ Xây dựng chính phủ Việt Nam rút kinh nghiệm “hai năm thực hiện phòng chống tham nhũng (2006-2008)” trong đó họ kết luận rằng “mức độ tham nhũng và lãng phí đã giảm hẳn.”

Câu hỏi là: Khi thấy số trường hợp tham nhũng bị phát hiện giảm đi thì Bộ Xây Dựng coi là “mức độ tham nhũng đã giảm;” nhưng phải tự hỏi lý do vì sao số các vụ tham nhũng lại giảm. Hoặc là số người tham nhũng và số tiền tham nhũng giảm đi nhờ có các biện pháp phòng ngừa mới. Hoặc là khả năng khám phá và tố cáo các vụ ăn cắp của các cơ quan chịu trách nhiệm chống tham nhũng đã giảm bớt. Cũng giống như khi thấy hàn thử biểu đo nhiệt độ của một bệnh nhân giảm xuống thì có thể vì một trong hai lý do: Bệnh sốt đã thuyên giảm thật; hoặc cái nhiệt kế nó bị “tê liệt” rồi!

Bộ Xây Dựng ở Hà Nội từng nổi danh về những vụ khám phá cột xi măng bê tông cốt bằng tre; nhưng những người đầu tiên khám phá ra cái tài “xây dựng hiện đại” này là các trẻ em đi ăn trộm. Các em đào, đẽo cột bê tông để lấy sắt đem bán mà không thấy sắt chỉ thấy tre! Một vụ các quan chức trong Bộ Xây Dựng bị đưa ra tòa vì tham nhũng chỉ xẩy ra sau khi một người bị bắt vì đi đánh bạc thua vài triệu đô la. Nếu không có các cảnh sát bắt bạc thì cũng không có việc “phát hiện” này. Rồi tới vụ đường đại lộ xuyên thành phố Sài Gòn bị phát hiện cũng là do mấy ông cảnh sát Nhật Bản đi bắt các người quản lý công ty Nhật về tội hối lộ các quan chức Việt Nam.

Như vậy thì nếu trong những năm 2006-2008 số thống kê những vụ tham nhũng giảm đi không phải chỉ vì các quan chức bỗng tu tâm sửa tính hay luật lệ nghiêm minh hơn; mà có thể vì người ta không có dịp “phát hiện” tham nhũng nữa. Mà điều này cũng dễ hiểu. Sau khi các nhà báo bị bắt bỏ tù vì tội đi điều tra tham nhũng rồi, còn ai có “nhã hứng” đi tìm tòi nữa làm chi?

Bản nghiên cứu của các chuyên gia Ðan Mạch nêu lên một số nguyên nhân khiến công việc tìm tòi và khám phá: “(1)do các cơ quan chức năng không đủ thẩm quyền; (2) do các luật và quy định vênh nhau, không có hướng dẫn và chỉ thị cụ thể, rõ ràng; (3) không có cơ chế khuyến khích cho những người làm tốt; và (4) không có cơ chế giải trình cũng như không có cơ quan kiểm tra và hệ thống giám sát độc lập.” Cả một bản báo cáo 4 không trên đây tóm tắt lại, là do người ta không thật tình muốn chống tham nhũng! Nếu thật tình thì người ngu đến mấy cũng phải biết: (1) trao cho các cơ quan lo chống tham nhũng đầy đủ thẩm quyền để làm việc; (2) đặt các quy luật rõ ràng để họ làm việc; (3) tưởng thưởng những người tố cáo tham nhũng thay vì bỏ tù người ta và (4) đặt đường dây tố cáo tham nhũng độc lập với những cơ quan làm công việc dễ tham nhũng, và đặt ra những cơ quan điều tra, truy tố độc lập.

Khi nói đến việc chống tham nhũng, nhiều người thường nhún vai tỏ ý tuyệt vọng, nói rằng công việc này khó lắm, phức tạp lắm, chính quyền nào cũng chịu thua những cái vòi bạch tuộc tham nhũng.

Nhưng lý do quan trọng nhất vẫn là thiếu quyết tâm. Một chính quyền quyết tâm chống tham nhũng thì sớm hay muộn cũng tìm ra cách chống tham nhũng.

Xin kể một câu chuyện cũng khó khăn tương tự như việc chống tham nhũng để chúng ta thấy không nên nản lòng. Ðó là kinh nghiệm chống cướp bóc, trấn lột trong hệ thống đường xe điện ngầm ở New York vào đầu thập niên 1990. Không cần đặt ra thêm luật lệ, không cần cổ động rùm beng, chỉ cần quyết tâm, một vấn đề nhức nhối kéo dài mấy chục năm cuối cùng có phương pháp giải quyết.

Ðường xe điện ngầm trong thành phố New York nổi tiếng nhiều tội phạm khiến nhiều người không dám sử dụng, nhất là vào ban đêm. Tội ác tràn lan như một thứ bệnh truyền nhiễm, người ta cũng thấy tuyệt vọng, nghĩ rằng không có cách nào bài trừ được. Năm 1984 có một vụ án mạng cả thế giới đều nghe tin, là vụ Bernhard Goetz bắn chết mấy thanh niên da đen trong đường xe điện ngầm khi mấy cậu này vây quanh anh ta rồi thản nhiên bảo anh ta đưa tiền, giữa ban ngày và trong một toa xe có nhiều hành khách khác. Goetz hỏi lại: Các anh muốn gì? Trả lời: Năm đô la! Goetz rút khẩu súng trong túi ra bắn từng người một, rồi tới trạm sau thì thản nhiên đi ra khỏi xe, lên đường. Mấy ngày sau, báo chí khắp nơi đã loan tin, Goetz ra trình diện cảnh sát.

Năm 1990 cơ quan Chuyên Chở New York bổ William Bratton làm cảnh sát trưởng cho cả hệ thống đường xe điện ngầm. Bratton là người tin ở lý thuyết “Cửa Sổ Hư” (Broken Windows) của các nhà nghiên cứu về tội phạm. Thuyết này cho là những căn nhà vô chủ, cửa sổ bị phá vỡ không ai sửa sang, là một nguyên nhân chính tạo nên những khu phố đầy tội phạm. Những trẻ em thiếu giáo dục sẽ tới vẽ bậy lên tường, phá thêm những cửa sổ khác, rồi các tay giang hồ sẽ tìm cách vào trong nhà đó, dùng làm sào huyệt và nơi giải trí, trao đổi,buôn bán ma túy, và tổ chức những tội ác khác. Muốn ngăn ngừa chuyện này, thành phố thấy nơi nào có cửa sổ vỡ kính phải tới sửa ngay, để không cho tội ác nẩy mầm.

Bratton giải quyết vấn đề tội phạm trong hệ thống xe điện ngầm New York bằng cách tấn công một trọng điểm làm gương. Ðó là bắt phạt những người đi xe điện ngầm lậu, không mua vé. Mỗi ngày có khoảng 170,000 người đi lậu trong hệ thống đường xe điện ngầm New York! Có khi một đám thiếu niên nhẩy hàng rào bước vào, cười nói, nhởn nhơ đi trên chỗ chờ xe điện, thế là mấy người lớn cũng bắt chước! Bratton tin rằng đa số những tay gây tội phạm cũng là những tay nhẩy hàng rào, đi xe không trả tiền. Nhưng lý do quan trọng hơn là hình ảnh những thanh thiếu niên nhẩy rào đi xe lậu là một “dấu hiệu xấu” giống như cảnh những khung cửa sổ kính bị bể; khiến cho người ta có cảm tưởng là quanh đây là một nơi vô pháp luật, ai muốn làm gì thì làm. Chiến thuật của Bratton cũng rút từ kinh nghiệm của cơ quan Chuyên Chở New York trong một chiến dịch bài trừ nạn viết bậy trên tường và trên thành, cửa các toa xe. Họ quyết tâm hễ thấy một hình, một chữ viết hay vẽ bậy nào là xóa bỏ ngay, không để cho ai thấy rồi bắt chước. Trong vòng 5 năm, cả hệ thống đường xe điện ngầm New York đã hết cảnh viết, vẽ bậy (graffiti).

Tại sao ban giám đốc cơ quan Chuyên Chở không bài trừ nạn đi xe lậu này từ trước? Vì họ thấy vấn đề nặng nề quá, mối lợi nhỏ mà công sức bỏ ra lớn không bõ, nên thà chịu bó tay. Mỗi vé xe điện lúc đó chỉ có 1.25 đô la. Sở cảnh sát thấy không đáng công đi bắt mấy cậu bé con, mất công đưa về sở hỏi cung, làm tờ trình, tất cả mất một buổi; rồi sau đó lại chờ ngày truy tố mấy chú bé ra tòa, để đòi hơn một đô la!

Bratton đã chọn một trạm có những hành khách nhảy hàng rào nhiều nhất, đặt 10 cảnh sát viên tại đó, thấy cậu nào đi lậu bắt ngay tại chỗ, còng tay, cho đứng xếp hàng chờ đợi cho bàn dân thiên hạ ngó. Thay vì đưa các người vi phạm về sở cảnh sát, Bratton cho lập luôn một văn phòng lưu động trong trạm xe điện, làm việc tại chỗ, mỗi trường hợp chỉ mất một tiếng đồng hồ.

Riêng khung cảnh trên đã là một tín hiệu cho tất cả mọi người thấy “quyết tâm” làm việc của cảnh sát. Nhưng Bratton còn ra lệnh các cảnh sát viên phải khám xét và truy tầm lý lịch các tay đi xe lậu, nhờ thế khám phá ra nhiều tay có đem súng trong túi hoặc đã từng bị bắt về những tội nho nhỏ.

Sau một thời gian, số người đi xe điện lậu giảm, và nhiều kẻ gian không dám mang vũ khí vào trong hệ thống xe điện ngầm. Cùng lúc đó, cảnh sát xe điện đi bắt những người say rượu hoặc ngủ trong hầm xe điện, hoặc có những hành động lỗ mãng. Trong 5 năm trời Bratton đã chứng tỏ cho công chúng thấy, và những kẻ gian phải thấy là cảnh sát trong đường xe điện New York nhất định bài trừ những tội phạm dù nhỏ nhặt nhất; và họ làm việc hữu hiệu. Từ đó số tội phạm trong hệ thống xe điện ngầm New York giảm hẳn. Năm 1994, ông thị trưởng mới của New York mời Bratton làm cảnh sát trưởng thành phố. Năm năm sau, số tội phạm trong thành phố này cũng giảm bớt, ông thị trưởng nổi tiếng, có lúc nhiều triển vọng ứng cử làm tổng thống Mỹ. Ngày nay, dân New York sống trong trật tự, an ninh hơn trước, nhờ những người quyết tâm giải quyết một vấn đề tưởng như nan giải.

Một câu chuyện trên cho thấy có những vấn đề xã hội tưởng như là nan giải, nhưng vẫn giải quyết được nếu người ta có quyết tâm. Cảnh sát New York không cần thêm những đạo luật bài trừ tội phạm mới nào. Không cần thêm quyền hành hoặc ngân sách lớn lao nào. Ðiều quan trọng nhất là quyết tâm.

Cho nên nếu đồng bào Việt Nam mình muốn bài trừ tham nhũng thì cũng cần một hành động quyết tâm. Phải thay đổi cái cơ chế gây nên đại họa tham nhũng này. Cơ chế đó là độc quyền chính trị của một đảng bịt miệng toàn dân không cho nói.

Posted: Tue Aug 18, 2009 1:09 am
by TranAnhDung
Không ngạc nhiên khi nghe CSVN không ủng hộ
kêu gọi phóng thích bà Suu Kyi của ASEAN

Trong lúc cả thế giới, trong đó có các quốc gia vùng Đông Nam Á, lên tiếng chỉ trích chính quyền quân phiệt Miến Điện đã xử bà Aung San Suu Kyi 18 tháng quản thúc tại gia, thì dư luận thế giới cũng muốn nghe quan điểm của chính quyền CSVN – một quốc gia độc tài và độc đảng, cũng đã và đang nhốt tù nhiều nhà đấu tranh cho dân chủ. Trong chương trình phát thanh Phố Đêm, chúng tôi đã dự đoán là CSVN sẽ không phản đối phán quyết của nhà cầm quyền quân phiệt Miến Điện. Ngày hôm nay, tin VOA đã đưa rằng CSVN không ủng hộ lời kêu gọi phóng thích bà Aung San Suu Kyi. CSVN không thể nào vừa nhốt tù các nhà đấu tranh dân chủ lại vừa kêu gọi nước khác trả tự do cho người đấu tranh vì dân chủ. Quyết định đó của CSVN không làm ngạc nhiên nhiều người. Bản tin của đài VOA về vấn đề này như sau:

VOA - Việt Nam không ủng hộ lời kêu gọi trả tự do cho lãnh tụ đối lập Miến Điện Aung San Suu Kyi của các nước khác trong Hiệp hội Các Quốc gia Đông Nam Á – ASEAN.

Hôm thứ Sáu hãng thông tấn Đức trích thuật báo chí Việt Nam cho hay Việt Nam không chỉ trích quyết định của Miến Điện tiếp tục quản thúc tại gia trong vòng 18 tháng đối với bà Aung San Suu Kyi.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Dũng nói rằng theo quan điểm của Việt Nam phiên tòa xét xử bà Aung San Suu Kyi là 'công việc nội bộ của Miến Điện'.

Hôm thứ Tư, chính phủ Thái Lan đã kêu gọi Miến Điện trả tự do cho bà Suu Kyi ngay lập tức và cho phép bà được tham gia vào các cuộc bầu cử. Một số các nước thành viên khác của ASEAN cũng đồng tình với tuyên bố này của Thái Lan.

Tuy nhiên, Việt Nam lại không đồng tình với tuyên bố này, và ông Dũng nói rằng Việt Nam luôn ủng hộ Miến Điện và hy vọng Miến Điện sẽ tiếp tục thực hiện lộ trình dân chủ như chính phủ đã đề ra.

Miến Điện gia nhập ASEAN vào năm 1997 và kể từ đó họ luôn gây nên những tình huống khó xử cho hiệp hội.

Miến Điện cũng là một nước có thành tích nhân quyền tồi tệ nhất thế giới. Việc chính quyền quân nhân nước này không chấp nhận trả tự do cho bà Suu Kyi, khôi nguyên giải Nobel Hòa bình năm 1991, đã bị quốc tế lên án và chỉ trích gay gắt.

Bà Suu Kyi là lãnh đạo của đảng Liên minh Toàn quốc Đấu tranh cho Dân chủ, đảng của bà đã thắng trong các cuộc bầu cử năm 1990 nhưng quân đội không hề để cho họ lên nắm quyền.

Bà bị chính quyền quân nhân coi là một thế lực chính trị có khả năng hủy họai lộ trình tiến tới điều mà họ gọi là 'một nền dân chủ thịnh vượng và có kỷ cương'.

(Theo VOA)

Posted: Sun Aug 23, 2009 2:55 am
by tankhoasinh
Cải tổ y tế trong mùa Hè nóng hổi!

Ngô Nhân Dụng

Một vị độc giả Người Việt mới viết thư đặt câu hỏi về chương trình cải tổ y tế đang được bàn luận sôi nổi ở Mỹ. Câu hỏi giản dị, “Chúng tôi cũng muốn biết thuế má tại sao có bên chống và bên ủng hộ?” Câu hỏi này quá phức tạp, cần được trình bày nhiều lần mới đủ.

Nhiều người Mỹ ủng hộ một kế hoạch cải tổ y tế vì thấy nó cần thiết để hệ thống y tế đạt hiệu năng cao hơn và giảm bớt tình trạng 46 triệu người không có bảo hiểm y tế. Một số người chống những kế hoạch đang được đem bàn, vì quyền lợi hoặc vì nguyên tắc; số người chống tăng lên bắt đầu từ những tháng mùa Hè, khi những chi tiết trong các kế hoạch cải tổ mà họ không đồng ý được đặt ra cho các đại biểu Quốc Hội. Cuộc tranh cãi ồn ào và gay go đáng gọi là một mùa Hè nóng hổi!

Những người chống gần đây gồm hai nhóm khác nhau và có lúc đối nghịch với nhau. Một bên là những người chống cải tổ, nhắm vào ý định lập chương trình bảo hiểm y tế công cộng do chính phủ phụ trách. Phần lớn nhóm này là những người có khuynh hướng bảo thủ, ở cả hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa. Bên kia có những người thuộc phe cấp tiến nhất trong đảng Dân Chủ, họ bắt đầu phản đối khi nghe tin Tòa Bạch Ốc có vẻ muốn bỏ qua chương trình y tế công cộng. Vì số người chống đối từ hai phía cộng lại cho nên số người Mỹ ủng hộ Tổng Thống Obama đã giảm xuống chỉ còn 57%, so với 69% vào Tháng Tư. Số người tin ông Obama sẽ quyết định con đường đúng cho quốc gia còn giảm hơn nữa, chỉ còn 49% so với 60% trước đây. Và số người Mỹ ủng hộ kế hoạch cải tổ y tế của ông Obama đã giảm xuống rõ rệt sau khi bị tấn công mạnh mẽ từ cả hai phía.

Cuộc thảo luận về cải tổ y tế đã bắt đầu từ mùa Xuân nhưng được hâm nóng lên trong mùa Hè này, càng ngày càng nóng hổi. Vì đây là một vấn đề rất phức tạp với nhiều chi tiết mà người dân bình thường không ai có thể nắm vững dễ dàng, cho nên có rất nhiều “tin thất thiệt” được thổi phồng lên để kích thích dư luận. Những tin đồn sai sự thật nói nhiều lần sẽ được nhiều người tin, cũng giống như bà mẹ Thầy Tăng Tử nghe người ta nói, “Tăng Sâm giết người” nhiều lần cũng tưởng thật. Hơn nữa, chiến thuật từ đầu của Tổng Thống Obama là đứng ngoài những cuộc tranh luận, phó mặc cho các đại biểu Quốc Hội bàn với nhau về chi tiết, vì ông Obama không muốn vấp ngã như ông bà Clinton trước đây; cho nên những người loan tin thất thiệt có cơ hội lấp vào chỗ trống với những chi tiết không đúng sự thật. Họ chiếm diễn đàn khi liên tục tấn công các đại biểu Quốc Hội trong những cuộc gặp gỡ cử tri. Mùa Hè hầu hết người Mỹ nghỉ ngơi, trong nước không có biến cố nào quan trọng; cho nên báo chí, ti vi ở Mỹ đua nhau loan báo và chiếu hình bất cứ “tin giật gân” nào, ai gây ồn ào nhất đều được lên đài truyền hình! Riêng bức hình bà Michelle Obama mặc quần cụt cũng được giới truyền thông Mỹ và thế giới chú ý đặc biệt, mặc dù trước đây đã có nhiều bức hình bà ăn mặc như vậy. Có đài ti vi đã mời các “chuyên gia” tới thảo luận xem việc bà tổng thống mặc quần cụt ra trước công chúng sẽ ảnh hưởng thế nào đến uy tín chính trị của ông chồng!

Phe chống đối kế hoạch cải tổ y tế đã huy động được những người chịu đi dự tất cả các cuộc tiếp xúc giữa cử tri và các đại biểu Quốc Hội, mỗi lần họ lập lại những câu hỏi tấn công kế hoạch cải tổ y tế như cũ, tạo một hình ảnh “cử tri phẫn nộ” lôi kéo dư luận về phía mình. Và dư luận đã bị ảnh hưởng rõ rệt khiến uy tín của ông Obama bị giảm sút rõ ràng. Một bản tin của hãng thông tấn AP đã vạch ra những điều “thất thiệt” trong số tin tức mà dư luận hiểu lầm về kế hoạch cải tổ y tế. Sau đây là những thí dụ mà AP nêu ra:

Có 45% dân Mỹ nghĩ rằng với kế hoạch cải tổ y tế, chính phủ Mỹ có quyền quyết định nên tiếp tục chữa bệnh cho những người già, hay là nên để cho họ chết đi - 50% không nghĩ như vậy.

Sự thật là không một dự luật nào ở Quốc Hội cho chính phủ Mỹ quyền quyết định đó. Chỉ có một dự luật tại Hạ Viện cho phép các cụ thuộc chương trình y tế cho người về hưu Medicare nếu muốn tham khảo ý kiến các bác sĩ về quyết định rút các dụng cụ trợ sinh hay không, về di chúc cho con cháu trong việc này, thì Medicare sẽ trả tiền cho những bác sĩ làm công việc tham khảo đó. Nếu các cụ không muốn hỏi ý kiến thì các bác sĩ không cho ý kiến, chính phủ khỏi phải trả tiền. Ngược lại, dự luật trên còn cấm không trả thù lao các bác sĩ làm cố vấn cho hành động tử tử hay giúp người bệnh tự tử. Nhưng lãnh tụ Cộng Hòa John Boehner ở Hạ Viện đã đe dọa rằng dự luật này có thể đưa tới con đường là chính phủ khuyến khích việc ngưng chữa bệnh để mặc cho người già chết đi (euthanasia). Ông Boehner chỉ nói “có thể;” nhưng phe chống đối biến ý kiến đó thành chắc chắn. Nhiều cử tri đã chất vấn đại biểu Quốc Hội về vấn đề này, coi như đó là một sự thật. Một dân biểu đã giải thích rằng không ai dám làm việc đó vì luật lệ ở nước Mỹ coi hành động euthanasia là phạm tội hình; nhưng đến một cuộc gặp gỡ cử tri sau, người đặt câu hỏi đó lại tới và hỏi lần nữa! Ðó là chiến thuật “Tăng Sâm giết người” được sử dụng lại.

Một ý kiến chống đối khác cũng nhấn mạnh vào mối lo của những người hưởng Medicare là các dịch vụ y tế của họ sẽ bị cắt. Trong các dự luật có tìm cách giảm chi phí y tế toàn quốc bằng cách cắt bớt các món chi tiêu trong Medicare, nhưng họ nhắm tới việc giảm tiền trả thù lao cho các bác sĩ và bệnh viện và tránh lạm dụng. Nhưng nhiều người già đã lo lắng, có 50,000 cụ già đã rút khỏi hội các người về hưu AARP, lập ra một hội mới chống cải tổ y tế. Nhưng hội AARP, với 40 triệu hội viên trong nước Mỹ, vẫn ủng hộ kế hoạch cải tổ y tế. Hội AARP cho biết năm 2003 cũng có 70,000 hội viên rút ra khi hội này ủng hộ kế hoạch của Tổng Thống Gorges W. Bush để chính phủ trả tiền thuốc cho người hưởng Medicare.

Một tin thất thiệt khác cũng được nhiều người (55%) tin, nói rằng luật cải tổ y tế sẽ cung cấp dịch vụ y tế cho những di dân bất hợp pháp. Nhiều người (50%) cũng nghe rồi tin rằng luật cải tổ y tế sẽ lấy công quỹ trả tiền cho những vụ phá thai. Sự thật là không một dự luật nào ở Quốc Hội chủ trương chữa trị cho các di dân bất hợp pháp. Và không một dự luật nào cho phép dùng công quỹ do người dân đóng thuế vào việc phá thai, mà phải lấy tiền từ phần đóng góp của người tham dự chương trình bảo hiểm y tế công cộng hay bảo hiểm tư. Hiện nay luật lệ ở Mỹ đã cấm không được lấy công quỹ trả tiền phá thai, Tổng Thống Obama mới nhắc lại rằng ông nhất quyết giữ nguyên các luật lệ đó.

Những tin thất thiệt sẽ được nhiều người gạt bỏ sau khi họ biết sự thật, nhưng thế nào cũng còn nhiều người vẫn ghi nhớ mãi mãi vì họ từ chối nghe những lời cải chính. Vì ở nước Mỹ hay nước nào cũng vậy, có những người không muốn thay đổi ý kiến. Từ năm 2002 đã có một phần ba các người theo đảng Dân Chủ tin rằng chính phủ Gorges W. Bush đã biết trước vụ tấn công ngày 11 Tháng Chín, năm 2001 mà không ngăn, để lấy cớ tấn công Iraq sau này. Dù có những người bất chấp sự thật như vậy, nhưng năm 2004 ông Bush vẫn được tái cử vẻ vang. Tương tự như vậy, có một phần ba người theo đảng Cộng Hòa tin rằng Tổng Thống Obama không sinh trong nước Mỹ, tức là đáng lẽ không được phép ứng cử tổng thống! Ông Rush Limbaugh, một nhà bình luận bảo thủ trên radio đã nói từ đầu rằng ông ước mong tất cả mọi kế hoạch của ông Obama sẽ thất bại. Mỗi ngày có vài chục triệu người vẫn lắng nghe say sưa các ý kiến của ông, vì họ được nghe đúng những lời họ muốn nghe.

Cuộc thảo luận nào trong một quốc gia cũng có những người đi quá sự thật khi muốn bảo vệ lập trường của mình. Có người sẽ “cho lương tâm đi nghỉ hè” để dùng tới các thủ đoạn xuyên tạc. Ðó là điều không thể tránh được trong một xã hội tự do! Nhưng cuối cùng những người ôn hòa và trung dung sẽ đóng vai trò quyết định qua những cuộc bầu cử.

Có những sự thật phải được nhấn mạnh, là hệ thống bảo hiểm y tế ở Mỹ hiện nay không có hiệu năng (chi quá nhiều và kết quả không khá hơn các nước tiên tiến khác). Ngoài ra có 46 triệu người không có bảo hiểm y tế, chính họ cũng góp phần làm cho hệ thống tốn kém hơn.

Chi phí về y tế chiếm 16% tổng sản lượng nội địa (GDP) ở Mỹ, trong đó 8% do các chương trình của chính phủ có sẵn, như Medicare và Medicaid (ở California gọi là MediCal). Tại các nước tiên tiến thuộc nhóm OECD tổng số chi phí chỉ chiếm gần 9% GDP, phần lớn qua các chương trình y tế công cộng. Theo bảng thống kê của OECD “Health Data 2009” thì trong năm 2007 nước Mỹ chi 7,300 đô la về y tế cho mỗi đầu người. Những nước giầu nhất trong nhóm OECD chỉ chi tiêu trung bình 3,000 đô la. Những người Mỹ có tiền mua loại bảo hiểm y tế “thượng hảo hạng” được hưởng các dịch vụ tối tân đắt tiền nhất, các công ty dược phẩm và viện nghiên cứu ở Mỹ tìm ra những phương pháp chữa trị mới giỏi nhất. Nhưng đa số người Mỹ không được hưởng những dịch vụ đắt tiền này khi công ty bảo hiểm của họ từ chối.

Kết quả của một hệ thống bảo hiểm y tế tốt hay không có thể được đo lường bằng vài chỉ số trong toàn quốc, thí dụ tuổi thọ trung bình (life expectancy) và số trẻ sơ sinh chết yểu (infant mortality). Theo bảng sắp hạng của cơ quan Tình Báo Trung Ương (CIA) cho năm 2009 thì tuổi thọ trung bình của dân Mỹ là 78.67 năm đứng hàng thứ 50 trong số hơn 200 nước. Tại Nhật Bản là 82 tuổi, tại Úc là hơn 81 tuổi (thứ 7), Canada cũng vậy (thứ 8), tại Ðức là hơn 79 tuổi (thứ 32), Anh Quốc cũng hơn 79 tuổi (thứ 36). Tuổi thọ trung bình ở Việt Nam được CIA ước tính là 71.

Tỷ lệ trẻ em yểu tử tại Mỹ là 6.26 trong số 1,000 trẻ ra đời, tại các nước tiên tiến khác đều thấp hơn. Tại Nhật Bản là 2.79, ở Pháp là 3.33, Ðức là 4, Anh Quốc là 4.85, Canada là 5. Tệ nhất là ở Angola cứ 1,000 trẻ ra đời có 180 em chết yểu, Việt Nam có gần 23 em, đứng hàng thứ 128 trong số 224 quốc gia.

Tại sao một nước giầu mạnh nhất như nước Mỹ, chi tiêu về y tế nhiều gấp đôi các nước giầu khác nhưng kết quả lại thấp hơn?

Ðó là câu hỏi mà các kế hoạch cải tổ hệ thống bảo hiểm y tế phải tìm cách giải quyết. Nước Mỹ không thể trì hoãn việc thay đổi hệ thống bảo hiểm y tế, dù quốc hội có chấp nhận chương trình bảo hiểm công cộng của Tổng Thống Obama hay không.

Posted: Sun Aug 23, 2009 5:35 am
by quaichao
10 năm quyền lực của Putin
Thời điểm này cách đây 10 năm, lần đầu tiên Vladimir Putin, một cựu điệp viên KGB với nụ cười bí hiểm, xuất hiện trên chính trường Nga.


Khi đó ông vừa trở thành thủ tướng thứ năm của Nga trong vòng một năm, một nhân vật không tên tuổi trong chính giới. Ông được giao cho một công việc khó nhằn, bởi một nhà lãnh đạo ốm yếu và ngày càng mất dần thế lực, Boris Yeltsin, vị tổng thống đứng đầu một bộ máy chính quyền lỏng lẻo và đầy tham nhũng đang đứng trước nguy cơ sụp đổ.

Báo chí khi đó lập tức tràn đầy sự ngạc nhiên và chê bai "sai lầm mới nhất" của Yeltsin. Không một ai cho rằng tay thủ tướng mới toe này có thể tồn tại ở ghế hơn vài tháng. "Mọi người đều cho rằng Putin là một kẻ vô danh, chả có cơ hội nào", Sergei Strokan, bình luận viên của tờ nhật báo Kommersant, nhớ lại. "Chính quyền của Yeltsin giống như một con tàu đang chìm, và bất cứ ai có chút năng lực đều bỏ chạy khỏi nó".

Nhưng thực tế đã mở mắt biết bao người. Yeltsin bất ngờ từ chức vào đêm giao thừa năm 1999, đưa Putin trở thành quyền tổng thống. Ông giành chiến thắng thuyết phục vài tháng sau đó, và từ đó thẳng tiến không hề lui.
Image
Vladimir Putin năm 2000, trong quân phục hải quân. Ảnh: AP.


Putin, trở lại vị trí thủ tướng sau hai nhiệm kỳ tổng thống, giờ đây được coi là nhà lãnh đạo không thể thiếu của nước Nga. Ông luôn luôn nhận được tỷ lệ ủng hộ rất cao của công chúng - khoảng 74% trong suốt 10 năm qua - cao hơn cả mức dành cho vị tổng thống kế nhiệm Dmitry Medvedev. Một số nhà quan sát phương Tây vẫn cho rằng nhà lãnh đạo cao nhất của nước Nga trên thực tế là Putin, và ông có thể trở lại ngôi vị tổng thống vào năm 2012 với nhiệm kỳ dài hơn trước.

Báo chí Nga thường cho rằng bí quyết thành công của Putin là sự kết hợp giữa phong cách quyết liệt của cựu điệp viên KGB, lòng yêu nước và quyết tâm lấy lại sức mạnh cường quốc cho nước Nga, cùng với những tính cách đặc biệt của ông.

Từ khi lên nắm quyền, Putin trở thành một hình mẫu về lối sống lành mạnh, tích cực và điềm tĩnh - ông có đai đen nhu đạo. Putin thổi làn gió mới vào chính trường Nga vốn đang bị người dân chán ngán vì một Yeltsin run rẩy và đôi khi lảm nhảm say khướt. Hình ảnh của một Putin hành động cho đến nay vẫn hữu ích đối với thủ tướng Nga. Tuần trước, nhiều báo Nga và thế giới đưa hình ảnh về kỳ nghỉ hè ở Siberia của Putin trong đó ông khoe bộ ngực trần khỏe mạnh, leo núi, bơi trên sông băng và thám hiểm lòng hồ sâu nhất thế giới.

Putin có một tầm nhìn rõ ràng về mục tiêu mà ông muốn nước Nga đạt được. Đầu nhiệm kỳ tổng thống lần thứ nhất, Putin có lần đưa lên mạng một tuyên bố về những mục tiêu của mình, trong đó ông khẳng định bản thân là một nhà lãnh đạo nhà nước đặt mục tiêu hiện đại hóa quốc gia bằng cách kết hợp hài hòa truyền thống Nga với các giá trị dân chủ châu Âu.

"Ý tưởng cơ bản nhất của Putin là tạo ra một nước Nga mạnh, đoàn kết; và tìm cách có được nó thông qua một hệ thống quyền lực chặt chẽ từ trên xuống, với các nhân sự trung thành với ông ta", Alexei Mukhin, giám đốc Trung tâm Công nghệ Chính trị ở Matxcơva, nhận xét. "Ông ấy nỗ lực để định vị trong tâm trí mọi người như một 'sa hoàng tốt', và đã thành công phần nào. Nhưng mục tiêu biến nhà nước thành một công cụ hữu hiệu để phát triển quốc gia thì chưa được như những gì vẫn quảng bá".

Bình luận gia Strokan của tờ Kommersant ví Putin với "kỵ sĩ trên lưng ngựa". Strokan nói Putin "xuất hiện khi nền dân chủ dường như sắp đổ sụp, ông mang hình ảnh của một chiến binh có đôi tay sạch và một trái tim quả cảm, điều đó khiến dân chúng khâm phục... Nhưng khi đã nắm trong tay quyền lực, Putin cũng đã kiểm soát giới truyền thông để đảm bảo không một ai có thể sử dụng vũ khí này chống lại ông".

Kinh tế Nga dưới thời Putin phát triển mạnh mẽ, một phần là nhờ giá dầu tăng vọt. Sự thịnh vượng thấm dần xuống dân chúng và nhiều người cảm thấy hài lòng khi mức sống tăng lên nhanh chóng.

Tuy thế không phải ai cũng có cái nhìn màu hồng về sự lãnh đạo của Putin. Những năm ông năm quyền được đánh dấu bởi những cuộc chiến tranh và tấn công khủng bố. Bối cảnh ấy góp phần giúp Putin đè bẹp những tiếng nói bất đồng về chính trị và củng cố quyền lực của Kremlin.

Chỉ vài tuần sau khi Putin lên làm thủ tướng, nước Nga rung chuyển bởi một loạt vụ nổ bom ở tòa nhà chung cư giết chết 300 người. Kremlin mở một cuộc chiến mới chống các phần tử ly khai ở Chechnya. Trong cuộc bầu cử tháng 12/1999, giữa hoàn cảnh chiến tranh, cử tri nhất loạt bỏ phiếu cho đảng thân Putin.

Cuộc chiến ở Chechnya, vụ tấn công khủng bố khiến 120 người chết ở nhà hát Matxcơva, rồi thảm kịch khủng bố đẫm máu của hàng trăm học sinh ở Beslan đã dẫn đến những thay đổi mạnh mẽ về chính trị, khiến phủ tổng thống và giới an ninh có quyền lực mạnh hơn bao giờ hết.





Tuy nhiên, những người chỉ trích cho rằng việc Putin đề cao những người có gốc gác từ giới an ninh trong chính quyền đã khiến tình trạng tham nhũng trở nên trầm trọng.

"Putin đưa những người bên an ninh vào, bởi nghĩ rằng đó là những người có thể tin tưởng được", Andrei Soldatov, biên tập của Agentura.ru, một website chuyên về tin tức an ninh, nhận xét. "Nhưng trên thực tế, Putin đã tạo ra một tình trạng mà trong đó có sự hội tụ giữa các tổ chức kinh tế lớn và nhà nước. Cơ quan an ninh giờ làm việc cho các tập đoàn nhiều hơn là cho lợi ích quốc gia".

Nhà phân tích Masha Lipman, tổng biên tập tạp chí Pro et Contra thuộc Carnegie Center ở Matxcơva, dự đoán rằng khi sự giàu có nhờ dầu lửa phai nhạt dần vì khủng hoảng kinh tế thế giới, Putin có thể bị kẹt trong chính hệ thống mà ông đã tạo ra.

"Putin rời ghế tổng thống năm ngoái nhưng lại đảm nhiệm vai trò thủ tướng, bởi ông ấy không thể không ở lại", bà Lipman nói. "Ông ấy là điều kiện sống còn đối với sự vận hành của hệ thống. Nếu ông ấy đi, hệ thống sẽ nhanh chóng trở nên bất ổn".

T. Huyền (theo CSM)

Posted: Wed Aug 26, 2009 11:59 pm
by quaichao
Cuộc tranh luận y tế công cộng

Ngô Nhân Dụng

Cuộc thảo luận về cải tổ hệ thống y tế ở Mỹ đang tới giai đoạn “tác động tình cảm.” Những người chống chương trình cải tổ đã thành công khi tấn công vào mối lo sợ lớn của nhiều tầng lớp dân chúng. Nói chung, đa số người Mỹ chống những kế hoạch gia tăng quyền hành của guồng máy chính phủ. Nói riêng, những người về hưu đang hưởng chương trình Medicare sợ mất các quyền lợi. Chính phủ Obama và đảng Dân Chủ đang bị nghi ngờ là khi cải tổ y tế họ sẽ tăng quyền cho nhà nước và cắt bớt các dịch vụ y tế cho người già hưởng Medicare. Trong thời gian tới họ sẽ phải lo giải thích để xóa tan những mối lo sợ này.

Chương trình bảo hiểm y tế công cộng là một vấn đề nóng hổi nhất vì nó rõ ràng gia tăng quyền hạn của nhà nước vào trong lãnh vực bảo hiểm y tế. Nước Mỹ có nên lập ra một cơ quan bảo hiểm y tế do chính phủ phụ trách hay không? Câu hỏi này sẽ được Quốc Hội giải đáp sau khi các đại biểu đi nghỉ Hè trở về. Những người ủng hộ và chống đều lên tiếng, mỗi bên nêu ra những lý do rất mạnh mẽ. Ðiều quan trọng là chúng ta không nên nghe những điều sai lạc mà coi đó là sự thật chỉ vì nó thuận tai, thỏa mãn những tình cảm của mình. Cho nên một bổn phận của nhà báo là viết ra những sự thật mặc dù nhiều người không muốn nghe.

Có rất nhiều hiểu lầm về chương trình bảo hiểm y tế công cộng mà một số dự luật trong Quốc Hội đang đề nghị. Một ký giả Người Việt khi phỏng vấn đã mở đầu bằng câu nói rằng “hiện nay hệ thống bảo hiểm y tế ở Mỹ hoàn toàn do tư nhân phụ trách.” Lời xác định này sai. Vì hai chương trình Medicare và Medicaid (hay MediCal ở California) hoàn toàn do chính phủ đảm nhiệm, chiếm một nửa số tiền tiêu cho dịch vụ y tế trong nước Mỹ. Những người chống bảo hiểm y tế công cộng không ai muốn xóa bỏ hai chương trình trên, mà chỉ muốn chính phủ không thiết lập thêm một chương trình mới.

Những người chống đối chương trình “bảo hiểm y tế công cộng mới” đã tác động vào một niềm tin tưởng của đa số dân Mỹ là các cơ quan chính phủ thường chỉ phí phạm và thiếu hiệu năng. Người Mỹ đa số tin là chính phủ càng làm ít việc càng tốt, càng tiêu ít tiền càng đỡ hại. Ðây là một lý luận mạnh và đáng chú ý nhất trong cuộc bàn cãi hiện nay. Chúng ta không thể đoán trước được khi nào dân Mỹ chịu hy sinh niềm tin tưởng này để chấp nhận một chương trình mới tăng thêm quyền hạn của nhà nước. Lâu lâu dân Mỹ mới chịu “đánh cá” cho đặt ra thêm một cơ quan chính quyền mới, vì thấy nó cần thiết. Mỗi lần chính phủ Mỹ lập thêm một bộ mới, thí dụ Bộ Năng Lượng (1977), Bộ Giáo Dục (1979), Bộ An Ninh Quốc Nội (2003), hoặc những cơ quan mới như An Sinh Xã Hội (Social Securiry 1935), Medicare (1965) luôn luôn có những người chống lại và bàn cãi hàng chục năm trời chưa dứt.

Hiện nay dân Mỹ đang lo ngại vấn đề “chính phủ lớn” nhiều hơn trước. Người ta lo lắng sau khi chính phủ đã đưa ra những chương trình 700 tỷ trợ giúp các ngân hàng, bắt đầu từ thời Tổng Thống Gorges W. Bush; đến chương trình kích thích kinh tế gần 800 tỷ của chính phủ Obama, và càng lo ngại khi thấy kế hoạch cải tổ y tế sẽ tốn kém hàng ngàn tỷ đô la. Chính phủ đang chi nhiều tiền quá! Trong một cuộc nghiên cứu dư luận vào Tháng Sáu 2009 có 54% dân Mỹ tỏ ý chống chính phủ lớn và làm nhiều việc, chỉ có 41% ủng hộ, tỷ số này đã tăng lên so với năm ngoái chỉ có 50%/45%.

Với khuynh hướng dư luận như vậy, đề nghị hệ thống bảo hiểm công còn bị chống đối vì bị mô tả là bắt chước các hệ thống y tế ở Anh và Canada. Sự thật là các dự luật tại Quốc Hội Mỹ hiện nay không có ý định nào nhắm vào mục đích đó mà trái lại còn hạn chế rất ngặt việc người dân tham gia vào chương trình bảo hiểm của chính phủ nếu họ đang có bảo hiểm tư. Tuy nhiên, vẫn có 54% dân Mỹ tin rằng cải tổ y tế sẽ khiến cho chính phủ có thể kiểm soát toàn thể hệ thống dịch vụ y tế, chỉ có 39% nghĩ khác. Người ta rất dễ bị khích động với những tin tức sai lạc một chiều khi các tin đó nhắm đúng vào mối sợ chung. Có người đã đưa ra nhiều dữ kiện và tin tức sai đến nỗi chính phủ thuộc đảng Bảo Thủ ở Canada đã phải cải chính. Lãnh tụ cả hai đảng ở Anh Quốc cũng đều lên tiếng biện hộ cho chương trình y tế quốc gia của Anh (NHS) sau khi bị nhiều người Mỹ chỉ trích oan. Nhà bác học người Anh Stephen Hawking cũng bị lôi vào vòng chiến khi có nhà chính trị Mỹ nói rằng ông đã được bảo hiểm y tế tư chữa khỏi chứng bệnh thời trẻ, nếu không thì hệ thống NHS đã để cho ông chết rồi. Ông Hawking đã phải lên tiếng cải chính rằng chính hệ thống bảo hiểm công cộng ở Anh Quốc đã cứu sống ông để tiếp tục làm việc và sau này đoạt giải Nobel về Vật Lý học.

Thay vì chỉ trích các chương trình y tế ở Anh Quốc và Canada, hai nước có hệ thống kinh tế gần gũi nhất với nước Mỹ, người ta nên đặt ra câu hỏi là những hệ thống y tế ở hai nước đó có thích hợp với nước Mỹ hay không? Người ta có thể đưa ra rất nhiều lý luận để trả lời là không thích hợp, mà không cần nêu ra những khuyết điểm một chiều chỉ nhằm tìm các khuyết điểm. Vì không có hệ thống bảo hiểm y tế ở nước nào hoàn hảo.

Nhiều người công kích kế hoạch cải tổ y tế, nói rằng nó sẽ đưa tới tình trạng “hạn chế” (rationing) việc chữa trị. Trong thực tế, ngay những người có bảo hiểm tư ở Mỹ cũng nhiều khi phải chờ hãng bảo hiểm chấp thuận thì bác sĩ mới được dùng một số phương pháp chữa trị tốn tiền, mà nhiều lần họ từ chối, nghĩa là hạn chế việc chữa trị. Chỉ những người mua loại bảo hiểm thượng hạng đắt tiền nhất mới có hy vọng chữa trị bằng bất cứ phương pháp tốn kém nào không giới hạn.

Một điều chúng ta biết chắc là các hãng bảo hiểm tư không muốn bị một chương trình của chính phủ cạnh tranh. Chính phủ Obama đang phải “đi dây” vì họ đang được các công ty bảo hiểm tư ủng hộ trên nguyên tắc trong chương trình cải tổ y tế; mặt khác họ muốn tiến tới một chương trình bảo hiểm y tế công cạnh tranh với các công ty đó. Các hãng bảo hiểm tư đồng ý sẽ không từ chối bảo hiểm mới cho những người đang bị bệnh mà mất bảo hiểm cũ, chẳng hạn khi mất việc làm. Họ cũng tán đồng ý kiến làm sao để tất cả mọi người Mỹ đều có bảo hiểm y tế. Nếu được như vậy thì các hãng bảo hiểm sẽ có thêm mấy chục triệu thân chủ mới, trừ khi lại có một chương trình bảo hiểm của chính phủ lấy mất nhiều thân chủ cũ của họ!

Các hãng bảo hiểm tư nói rằng chính phủ không cần kiếm lời như doanh nghiệp tư, do đó sẽ giảm giá mua bảo hiểm và thu hút hết thân chủ, gây thiệt hại cho lợi nhuận của họ. Nói như vậy cũng giống như công kích việc chính phủ trợ cấp công ty xe buýt trong thành phố khiến các nhà bán xe bị thiệt hại vì bán được ít xe hơn. Ngược lại, những người ủng hộ chương trình y tế công cộng cho là khi bị cạnh tranh thì các hãng bảo hiểm tư sẽ phải cải thiện cách làm việc để hạ bớt chi phí vì hiện nay họ phí rất nhiều tiền vào việc hành chánh. Khi theo dõi ý kiến các đại biểu Quốc Hội, chúng ta nên biết họ có thể chống chương trình bảo hiểm công cộng vì áp lực của các công ty bảo hiểm tư.

Ở California không một công ty tư nào đủ mạnh để chiếm lãnh được thị trường; vì không hãng nào thu hút được hơn 24% số người mua bảo hiểm y tế. Ở các tiểu bang New York và Florida cũng vậy, công ty mạnh nhất cũng chỉ làm chủ 26%, và 30% thị trường. Nhưng trong nước Mỹ có 17 tiểu bang trong đó một công ty bảo hiểm y tế làm chủ trên 50% thị trường. Riêng trong 9 tiểu bang tỷ số tập trung còn cao trên 70%. Trong những tiểu bang đó thật khó bảo đảm là người tiêu thụ có khả năng tự do lựa chọn chương trình bảo hiểm tư cho mình nếu các công ty chủ nhân của họ đã chọn hãng bảo hiểm mạnh nhất.

Những đại biểu Quốc Hội thuộc các tiểu bang với một hãng bảo hiểm y tế chiếm lĩnh thị trường chắc chắn không muốn đi ngược lại quyền lợi của hãng bảo hiểm vì đến mùa tranh cử sang năm các công ty này có thể sẽ dồn hết sức ủng hộ cho đối thủ của họ, ngay trong cùng một đảng.

Max Baucus là một nghị sĩ rất mạnh, chủ tịch Ủy Ban Tài Chánh Thượng Viện thuộc đảng Dân Chủ nhưng ông không muốn có chương trình bảo hiểm y tế của chính phủ mà đảng ông chủ trương. Trong tiểu bang Montana của ông, công ty Blue Cross chiếm 75% thị trường những người mua bảo hiểm. Cũng như Nghị Sĩ Charles Grassley, Cộng Hòa, đã ngưng không bàn chuyện thỏa hiệp về bảo hiểm y tế với đảng Dân Chủ nữa. Tiểu bang Iowa mà ông đại diện có một hãng bảo hiểm y tế Wellmark chiếm 71% thị trường. Tại tiểu bang Maine của Nghị Sĩ Olympia Snowe có một công ty WellPoint chiếm 78% thị trường bảo hiểm. Bà Snowe đã thỏa hiệp với đảng Dân Chủ trong nhiều cuộc bỏ phiếu ở Thượng Viện nhưng khó thỏa hiệp trong vấn đề y tế. Với những ý kiến chống đối mạnh như vậy, chương trình bảo hiểm y tế công cộng khó đạt được đủ 60 phiếu ở Thượng Viện để khỏi bị ngăn cản. Ông Max Baucus đã đề nghị thay thế chương trình chính phủ bằng một hình thức “hợp tác xã” vô vị lợi nhưng do tư nhân phụ trách. Ngay ý kiến này cũng bị các công ty bảo hiểm tư chống lại.

Như trong bất cứ cuộc cải tổ nào, khó nói dứt khoát là tất cả mọi người sẽ chắc chắn sẽ được lợi hay bị thiệt hại ra sao. Hơn nữa, việc cải tổ y tế năm nay dù kết quả cuối cùng như thế nào cũng chỉ là một bước đầu trên con đường cải tổ mà nước Mỹ sẽ thực hiện. Vì ai cũng biết hệ thống y tế quá tốn kém cần thay đổi, ai cũng đồng ý nên cải tổ. Mọi người chỉ bất đồng ý kiến trong một số biện pháp cải tổ. Mỗi quyết định thay đổi trong xã hội đều dẫn tới những hậu quả một phần biết trước và nhiều phần không lường trước được. Ở một nước tự do dân chủ người dân có quyền nêu lên tất cả các mối nghi ngờ và đòi tranh luận. Ðó là một ưu điểm của chế độ dân chủ

Posted: Thu Aug 27, 2009 1:30 am
by thienthanh
ÚC CHÂU: ĐỒNG HƯƠNG TẠI PERTH VÀ MELBOURNE
HÂN HOAN ĐÓN NHẬN PHIM "SỰ THẬT VỀ HỒ CHÍ MINH"


Melbourne, Úc, Chủ Nhật, 23 tháng 8, 2009: Hơn 700 đồng hương tại Melbourne, thuộc tiểu bang Victoria, Úc Châu đã tham dự buổi ra mắt phim "Sự Thật về Hồ Chí Minh" tổ chức vào chiều Chủ Nhật, 23 tháng 8. Địa điểm tổ chức, nhà hàng Happy Receiption, với sức chứa hơn 600 chỗ, đã không còn một ghế trống. Hàng trăm người phải đứng ở cuối phòng và hành lang cửa vào.

Buổi ra mắt khai diễn lúc 2 giờ chiều với diễn văn khai mạc của Ông Nguyễn Khương Ninh, trưởng Ban Tổ Chức. Sau khi ngỏ lời chào mừng và cám ơn đồng hương tham dự, Ông Ninh tuyên bố "Cộng đồng người Việt Tị nạn Úc châu đã được Cộng đồng Việt Nam hải ngoại, nhất là tại Hoa Kỳ rất thán phục chúng ta là một Cộng đồng đoàn kết và có tinh thần chống cộng rất mãnh liệt. Những thành tích như vụ dập tắt truyền hình Cộng sản VNTV4, làm thất bại những đoàn văn công cộng sản hùng hậu như Duyên dáng Việt Nam cũng vô duyên ra về..." Ông Ninh kết thúc phần phát biểu với nhân định "...trong hơn một tháng qua, với 14 địa điểm mà Phong trào đã ra mắt phim Sự thật Hồ Chí Minh đều được đồng bào tại những nơi đó nhiệt liệt ủng hộ cả về tinh thần cũng như tài chánh. Tuy tôi không dám lạc quan nghĩ rằng chúng ta sẽ yểm trợ Phong trào trong công tác này hơn những nơi ấy, nhưng ít ra cũng không thua kém. Chúng tôi mong rằng trước khi kết thúc buổi lễ, kết quả công bố tài chánh sẽ chứng minh điều này".

Tiếp đó, Ông Nguyễn Thế Phong, Chủ tịch Cộng Đồng Người Việt Tự Do Liên Bang Úc Châu, kiêm chủ tịch Cộng Đồng Người Việt Tự Do tiểu bang Victoria, đã thay mặt các đồng hương chào mừng phái đoàn Phong Trào Quốc Dân Đòi Trả Tên Sài Gòn gồm Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ, đại diện Phong Trào, và Ông Trân Quốc Bảo, Chủ tịch Tổ Chức Phục Hưng Việt Nam kiêm Trưởng Ban Điều Hành Phong Trào. Trong dịp này Ông Phong đã nhấn mạnh "Việc thực hiện những tài liệu sự thật về lịch sữ như cuốn DVD "Sự Thật về Hồ Chí Minh" như thế này không phải chỉ là một việc nên làm của những nhân chứng và nạn nhân mà là còn là một bổn phận thiêng liêng phải làm" và tuyên bố " Tập thể người Việt tỵ nạn của chúng ta có được cái cái may mắn có Lm Nguyễn Hữu Lễ và ông Trần Quốc Bảo hy sinh đứng ra làm công việc vô cùng hệ trọng, thiết yếu và lịch sử này thay cho chúng ta. Chúng ta phải vui mừng trân quý và cổ suý những nỗ lực tuyệt vời như thế này thay vì “vạch lá tìm sâu” hoặc “bới lộng tìm vết”, thậm chí còn cáo buộc những người thực hiện như thể họ đã phạm một tội tày trời nào đó. " Ông Nguyễn Thế Phong đã kết luận "Ban chấp Hành Cộng Đồng Người Việt Tự Do tiểu bang Victoria, giống như tuyệt đại đa số đồng bào người Việt tỵ nạn hải ngoại đều trân quý và công nhận ý hướng chân chánh và mục đích chống Cộng rỏ ràng của cuốn phim tài liệu này."

Trong bài nói chuyện về chiến dịch "Tẩy Trừ Huyền thoại Giả Trá Hồ Chí Minh" và phim " Sự Thật về Hồ Chí Minh ", Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ đã trình bày lý do Phong Trào thực hiện cuốn phim và khẳng định " .. điều quan trọng hơn hết là trong chiếc hộp DVD này chứa đựng một nguyện vọng thiết tha và cấp bách của đổng bảo Việt nam 'Phải phá vỡ huyền thoại giả trá Hồ Chí Minh, là tảng đá cuối cùng để chế độ CSVN bám vào đó mà tồn tại.” Nói về những dự tính của Phong Trào trong tương lai, Linh Mục cũng cho biết "... phim Sự Thật về Hồ Chí Minh chỉ là bước khởi đầu của một tiến trình hành động cụ thể và quyết liệt" của Phong Trào và kêu gọi đồng bào hỗ trợ, tiếp tay trong thời gian tới khi kế hoạch này được công bố.

Sau phần trình chiếu đoạn phim ngắn trích dẫn một số chủ đề của cuốn phim, Ông Trần Quốc Bảo, trong vai trò Giám đốc Sản xuất, đã nói qua tiến trình thực hiện và kế hoạch quảng bá cuốn phim. Ông cho biết 2 bản phim tiếng Anh và tiếng Pháp của cuốn phim dự tính hoàn tất vào cuối tam cá nguyệt năm 2010 để "thế hệ con em người Việt hải ngoại không rành tiếng Việt, cũng như những người bạn ngoại quốc biết rõ sự thật về Hồ Chí Minh". Theo Ông, các bản phim này cũng sẽ được gửi đến các thư viện, các trường đại học các quốc gia trên thế giới để mọi người cùng xem. Trong phần trình bày về tài chính để thực hiện và quảng bá cuốn phim, Ông Trần Quốc Bảo cho biết Melbourne là một trong những điạ điểm có nhiều mạnh thường quân ứng trước tài chính để Phong Trào thực hiện cuốn phim. Hội trường đã vỗ tay nhiệt liệt hoan nghênh những nhà hảo tâm ẩn danh này.

Tiếp đó, nhà báo Long Quân, chủ nhiệm Tuần báo Nhân Quyền, đã ngỏ lời tán thưởng cuốn phim và hoan nghệnh những người đã bỏ công sức hoàn tất công trình. mà theo Ông rất có ý nghĩa và giá trị. Ông Long Quân cũng đã loan báo tự nguyện tặng số tiền 2000 úc kim mà trong năm 2008 Ông đã ứng trước cho Phong Trào để có phương tiện tài chính thực hiện cuốn phim.

Sau phần phát biểu cảm tưởng, đồng hương đã xếp hàng để tiếp nhận DVD phim Sự Thật về Hồ Chí Minh do đích thân Linh mục Nguyễn Hữu Lễ ký tặng. Trong khi đó, Ban Tổ Chức đã trình chiếu danh sách các đồng hương tham dự đã ủng hộ tài chính, và thông báo, ngoài nhà báo Long Quân, một mạnh thường quân ẩn danh khác cũng đã tặng luôn số tiền 5000 úc kim mà Bà đã ứng trước cho Phong Trào vào tháng 9 năm 2008.

Buổi ra mắt phim Sự Thật về Hồ Chí Minh do Ông Hoàng Chính Đan làm MC, đã kết thúc vào lúc 4 giờ 30 chiều, sau khi Lm Lễ tặng quà lưu niệm cảm tạ chủ nhân nhà hàng Happy Receiption đã cho Ban Tổ Chức sử dụng miễn phí nhà hàng. Ban Tổ Chức cũng công bố kết quả tài chính đóng góp của đồng hương, kể cả số ủng hộ của hai mạnh thường quân, tổng cộng được 23,466.10 úc kim.

Được biết vào ngày hôm trước, Thứ Bẩy, 22 tháng 8 năm 2009, Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ và Ông Trần Quốc Bảo đã có mặt tại Perth, Tây Úc để tham dự buổi ra mắt phim Sự Thật về Hồ Chí Minh do Cộng Đồng Người Việt Tự Do tiểu bang Tây Úc bảo trợ tổ chức. Mặc dù chỉ chuẩn bị không đày 10 ngày, buổi ra mắt đã qui tụ hơn 200 đồng hương. Phát biểu trong phần chào mừng phái đoàn Phong Trào Sài Gòn, Ông Phạm Lê Hoàng Nam, chủ tịch Ban chấp Hành Cộng Đồng nêu nhận xét "cuốn phim Sự Thật về Hồ Chí Minh là muĩ tên bắn thẳng vào tim của con quái vật Cộng Sản Việt Nam, nên không ai ngạc nhiên trước những phản ứng lồng lộn của nó." Ông cũng kêu gọi đồng hương Tây Úc tích cực ủng hộ Phong Trào trong việc quảng bá cuốn phim "để làm tăng thêm mức độ hiệu quả của muĩ tên này". Đáp ứng lời kêu gọi này, đồng hương đã đóng góp yểm trợ Phong Trào 6,250 úc kim.

Theo tin của Phong Trào, tại Úc còn 2 buổi ra mắt, tại Sydney vào Thứ Bảy, 29 tháng 8, và Brsibane, vào Chủ Nhật, 30 tháng 8. Sau đó, phái đoàn Phong Trào sẽ bay qua Âu Châu để tổ chức các buổi ra mắt tại đây./.

Lưu Phong

Tường trình từ Melbourne, Úc Châu

Posted: Fri Aug 28, 2009 6:19 am
by tranphuongdong
Thư Gửi Sinh Viên Học Sinh
Hãy Cứ Đợi Đấy!

Ngày 20 tháng 8 năm 2009, nhà cầm quyền Hà nội cho ti-vi chiếu cảnh một số anh em dân chủ đã “ăn năn thú tội”. Bên cạnh anh Nguyễn Tiến Trung, anh Trần Huỳnh Duy Thức, ông Trần Anh Kim còn có thêm Luật sư Lê Công Định, người trước đây đã xin “hưởng lượng khoan hồng”. Mục tiêu của lần này ngoài việc đánh đổ uy tín cá nhân của anh em dân chủ nói riêng và Phong trào Dân chủ Việt Nam nói chung, Bộ công an Hà nội còn muốn nhắm vào phía chính giới Hoa Kỳ.

Bản thú tội được anh Nguyễn Tiến Trung, anh Trần Huỳnh Duy Thức và Ông Trần Anh Kim viết ngày 13 tháng 8 năm 2009 nhưng mãi đến ngày 20 mới chính thức phát hình, tức là sau vài ngày khi Nghị sĩ Mỹ Jim Webb có mặt tại Việt Nam. Những lời “buộc” phát biểu của anh Nguyễn Tiến Trung và Luật sư Lê Công Định cho thấy nhóm lãnh đạo an ninh CS thân Bắc Kinh muốn gây ấn tượng trong nội bộ CSVN trước Đại hội đảng 11 là có yếu tố chỉ đạo đòi Dân chủ của “nước ngoài”, và gửi tín hiệu với Mỹ “đừng can thiệp vào nội bộ Việt Nam, đừng đề cập đến vấn đề vi phạm nhân quyền”. Cảnh thú tội cũng nhằm khẳng định là những người này đã công khai nhận tội, vi phạm pháp luật Việt Nam và xin nhà nước khoan hồng. Vì vậy, Mỹ và dư luận quốc tế không còn lý do vững chắc để đặt vấn đề “nhân quyền” với Hà Nội. Không ai tin những anh em này lại thành khẩn “cúi đầu nhận tội”. Tuy nhiên trong cảnh “cá chậu chim lồng”, họ đã phải bước lùi, vừa trái với lý tưởng của họ, vừa đi ngược lại xu hướng của cuộc đấu tranh.

Những hiện tượng “thú tội” của Nguyễn Tiến Trung, Trần Huỳnh Duy Thức, Trần Anh Kim, luật sư Lê Công Định, nếu có làm dư luận bức xúc và lo lắng cho tương lại Phong trào Dân chủ, thì dư luận cũng cần vững tin vào những kiên cường của số anh chị em dân chủ sắp bị Hà Nội đưa ra xét xử như nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, nhà giáo Vũ Hùng, anh Ngô Quỳnh, anh Phạm Văn Trội, chị Phạm Thanh Nghiên v.v.. hay nhiều người khác đã từng bị Hà Nội tuyên án tù như Linh mục Nguyễn Văn Lý, luật sư Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Bắc Truyễn, Trần Quốc Hiền, bác sĩ Lê Nguyên Sang, Huỳnh Nguyên Đạo, Trương Minh Đức, Nguyễn Phong, Đoàn Văn Diên, Nguyễn Tấn Hoàng v.v… Hãy nhớ rằng, họ đã và đang bị tù tội lâu nhất, chịu cảnh trấn áp dã man nhứt, nặng nề nhứt, khốc liệt nhứt, nhưng không ai trong số họ đã “cúi đầu nhận tội” hay “xin hưởng lượng khoan hồng”.

Nước Hàn Quốc vừa mất đi một vị anh hùng. Ông cựu Tổng thống Kim Đại Trọng, người đã dũng cảm đấu tranh chống lại chế độ độc tài Phác Chính Hy. Vì là nhà bất đồng chính kiến, ông từng bị chế độ cho công an, đặc vụ ám sát nhiều lần, từng bị tuyên án tử hình. Năm 1973, ngay tại Tokyo, đặc vụ Hàn Quốc đã bắt cóc Kim Đại Trọng đưa ra ngoài biển, chuẩn bị giết và ném xác xuống biển phi tang. Khi được mật báo, ông Don Gregg, trùm tình báo CIA tại Hàn Quốc đã quyết định phải khẩn cứu. Ông đã cho máy bay trực thăng bay vòng vòng trên chiếc tàu đang giam Kim Đại Trọng, làm to chuyện nhằm áp lực chính phủ quân phiệt. Nhờ sự can thiệp quyết liệt của Don Gregg, Phác Chính Hy đã miễn cưởng tha mạng của họ Kim.

Nhờ lòng can đãm và quyết liệt đấu tranh đến cùng, vì sự nghiệp Dân chủ và Tự do cho Hàn Quốc của Kim Đại Trọng, chế độ độc tài Phác Chính Hy đã phải sụp đổ. Nếu họ Phác giết Kim Đại Trọng, hay họ Kim “đầu hàng” chế độ độc tài, lịch sử đấu tranh Dân chủ của Hàn Quốc đã đi về đâu? Nhân dân Hàn Quốc đã cử lễ quốc táng cho Kim Đại Trọng và gương đấu tranh chống độc tài của ông xứng đáng cho Nhân dân Việt Nam cảm phục và học hỏi. Kim Đại Trọng có thể không làm nên “lịch sử” cho Hàn Quốc, nhưng “lịch sử” đấu tranh lật đổ chế độ độc tài Phác Chính Hy thì không thể thiếu vai trò của Kim Đại Trọng.

Chúng ta không đòi hỏi luật sư Lê Công Định, anh Nguyễn Tiến Trung, anh Trần Huỳnh Duy Thức, ông Trần Anh Kim v.v…phải làm anh hùng. Không ai quyết định số phận của họ bằng chính họ. Cuộc đấu tranh vì Dân chủ cho Việt Nam vô cùng cam go, ngoài chế độ độc tài, toàn trị, còn phải liên tục tự đấu tranh trong chính chúng ta. Đây là cuộc đấu tranh tự nguyện, họ đã tự nguyện hy sinh, dấn thân và tự nguyện lùi bước, cho dù bị ép buộc, thì cuộc đấu tranh Dân chủ này không vì vậy mà gãy đổ, thoái trào.

Hãy cứ đợi đấy bạn ạ, vì thời gian sẽ trả lời. Lịch sử rất sòng phẳng, những kẻ có tội sẽ phải ra toà, hoặc toà án công luận hoặc toà án công lý. Hiện nay, kẻ có tội trước công luận không phải những anh em dân chủ bị ép “cúi đầu nhận tội” mà chính là nhà nước độc tài CSVN. Hãy cứ vững tin vào tương lai, vì đảng CSVN sẽ có ngày phải đối diện trước toà án công lý.

Ban Biên Tập Báo SVYN
Ngày 25 tháng 8 năm 2009
Ban biên tập – Điện thư: baosinhvienyeunuoc@gmail.com
http://baosinhvienyeunuoc.blogspot.com/

Posted: Tue Sep 01, 2009 4:07 am
by khieulong
Ðêm qua sân trước một cành mai
Sunday, August 30, 2009
Ngô Nhân Dụng

Ðấy là hình ảnh trong thơ của một thiền sư đời Lý ở nước ta. Trời vào cuối mùa Xuân, tưởng rằng bao nhiêu hoa đã rụng hết. Nhưng không phải vậy đâu, nhìn ra sân trước, một bông hoa mai mới nở trên cành. Một niềm vui đang nở dậy, chúng ta được thấy thì muốn đem chia sẻ với tất cả mọi người qua một câu thơ.

Hình ảnh gần 400 thiền sinh trong tu viện Bát Nhã thản nhiên chuyên trì tu tập theo pháp môn của họ cũng giống như một bông hoa nở trong khung cảnh đêm tối của xã hội Việt Nam vào cuối mùa Xuân, khi hầu hết các bông hoa đang tàn tạ. Các thiền sinh Bát Nhã đã tặng cho mọi người một niềm vui, một hy vọng. Tin ở tính Thiện của con người. Tin ở truyền thống đạo lý của tổ tiên. Tin rằng “thật thà là cha quỷ quái.” Tin rằng “Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài.”

Câu chuyện những thiền sinh trẻ tuổi tại Bát Nhã đang tu hành nghiêm mật, vững chãi và thảnh thơi, có khả năng khơi lại niềm tin. Dù theo bất cứ tôn giáo nào, chúng ta có thể nhìn vào cảnh họ đang sống mà thêm tin tưởng vào các giá trị tinh thần, tin tưởng sức mạnh tâm linh có khả năng vượt lên trên những dục vọng, sân hận và ngu tối. Khổng Tử nói, “Quân tử đức phong,” người quân tử có sức mạnh như gió thổi. Gió thổi, đám cỏ dại sẽ dẹp xuống. Người sống đức hạnh sẽ cảm hóa được mọi người, những kẻ tiểu nhân sẽ mất ảnh hưởng. Khổng Tử cũng ví đức hạnh của người quân tử giống như hương thơm của bông hoa lan mọc giữa núi rừng. Và một người quân tử sống trong một làng thì cũng có sức giáo hóa hàng xóm chung quanh. Mà trong nước Việt Nam của chúng ta suốt thế kỷ qua, những kẻ tiểu nhân đang lộng hành thật. Khắp đất nước nơi nào cũng đang cần những bông hoa lan quý.

Ðồng tiền đang ngự trị khắp nơi, người nghèo đang lo kiếm đủ miếng ăn, người giầu lo tích lũy thêm của cải. Giới thống trị tiếp tục sử dụng bạo lực và dối trá để bảo vệ quyền hành. Tất cả những thứ đó giống như cỏ dại mọc trên đất nước Việt Nam trong những năm qua. Ma túy tràn lan. Phụ nữ phải bán mình. Thanh niên bơ vơ sống không lý tưởng. Những bạn trẻ Nguyễn Văn Ðài, Lê Thị Công Nhân bị đầy ải chỉ vì dám thản nhiên cất lên tiếng nói của lương tâm. Các thanh niên trí thức làm “blog” đòi bảo vệ quê hương bị sách nhiễu, bị bắt giam. Các quan chức có quyền biểu diễn khả năng mua được nhiều gái đẹp, đánh bạc với hàng triệu đô la nhờ ăn cắp của công. Những “đại gia” tranh đua nhau mua xe hơi Rolls Royce, mua máy bay riêng. Báo chí loan tin về các người giầu nhất, giầu nhì, và các “siêu sao,” bên cạnh những cảnh cha mẹ bán con, các em bé đi ăn xin. Thanh niên nhìn vào đâu để thấy những tấm gương giúp họ xây dựng lý tưởng cho cuộc đời? Bất cứ ai kiên trì sống theo đạo lý không để cho dục vọng và lòng ích kỷ làm chủ mình cũng là một bông hoa để tặng cho giới trẻ Việt Nam.

Tên tu viện Bát Nhã gợi lại một câu chuyện đáng suy ngẫm. Hồi 1960 ở miền Nam có phong trào đọc truyện kiếm hiệp của Kim Dung. Một dịch giả rất thông thạo chữ Hán dịch chuyện, đã tả những nhà sư đánh võ có món Ban Nhược Chưởng. Cứ nghe ba chữ Ban Nhược Chưởng chẳng ai biết nó là gì, nhưng ai cũng mê. Nhưng những ai đã biết qua kinh Phật thì biết rằng dịch giả này đã đọc sai. Hai chữ Ban Nhược trong chữ Hán đó, người theo đạo Phật biết phải đọc là Bát Nhã. Các người dịch kinh Phật ở Trung Hoa đời trước thấy dịch chữ Phạn ra là Trí, hay là Trí Ðộ, cũng dễ gây hiểu lầm, cho nên phiên âm ra. Ðọc hai chữ Ban Nhược theo lối phát âm đời Ðường nghe giống chữ “Pra nha” trong tiếng Phạn, người Việt đọc là Bát Nhã. Một món võ phát xuất từ chùa Thiếu Lâm chắc phải gọi là Bát Nhã chưởng chứ không phải là Ban Nhược chưởng!

Câu chuyện trên đây cho thấy vào thế kỷ 20 ngay cả những dịch giả thông thạo chữ Hán ở nước ta cũng nhiều người không biết kinh kệ Phật Giáo. Mà nói chung giới trí thức nước ta trong thế kỷ trước đều như vậy. Phần lớn người ta mang một hình ảnh về đạo Phật theo lối cúng kiếng phổ thông, giới trí thức được giáo dục từ thời Pháp thuộc tự tách mình ra khỏi truyền thống mà không biết. Ðến thời cộng sản tình trạng này càng nặng nề. Những người theo chủ nghĩa Cộng Sản vốn khinh thường các tôn giáo. Họ coi những kẻ tu hành là loại người “không sản xuất” ăn bám vào xã hội. Cho nên họ chỉ tính lợi dụng tôn giáo để đạt các mục tiêu chính trị.

Nhưng các tôn giáo là những nền tảng giữ vững đạo lý chung. Những người tu hành nêu tấm gương sống đạo giúp cho mọi người dân giữ gìn đạo lý, như một nhà văn cộng sản rất kiên cường cũng có lúc tỉnh ra, viết, “Chùa là cái thiện của làng.”

Ðiều nguy hiểm cho xã hội là chính những người có tôn giáo cũng không đủ niềm tin mạnh để sống xứng đáng với tín ngưỡng của mình. Khi đó họ không giúp ích được cho xã hội. Nhưng khi chúng ta thấy một người, một nhóm người sống với hạnh nguyện vững chãi, thái độ thong dong, không sợ hãi, không bị mua chuộc, không ganh ghét, không hận thù, thì mọi người chung quanh dù theo tôn giáo nào cũng tự nhiên thấy một niềm an ủi và khích lệ giúp mình sống đạo cho xứng đáng với tín ngưỡng của mình. Ðó là những bông hoa đang nở trong lúc Xuân tàn này.

Nước Việt Nam đang cần phục hồi niềm tin vào các giá trị đạo lý, cần những ngọn gió quét sạch đám cỏ dại. Những bạn trẻ đang tu tập nghiêm mật trong tu viện Bát Nhã cho chúng ta hy vọng là điều đó sẽ được thể hiện. Như sư chú Pháp Hội trả lời trong một cuộc phỏng vấn, các thiền sinh có rất ít nhu cầu. Bị cắt điện, họ dùng đèn cầy khi cần thiết. Ðồng bào sống chung quanh tu viện, người Phật tử cũng như người Công Giáo, đã lén vượt vòng vây của công an tiếp tế cho họ, từ cây nến đến hạt gạo nấu cơm. Có nhiều ăn nhiều, có ít ăn ít, nhịn đói ngồi thiền cũng chẳng sao. Bị cắt nước, họ chỉ cần đi múc nước giếng từ xa. Nhu cầu quan trọng nhất của các thiền sinh này là chuyên cần tu tập, giữ gìn hạnh nguyện xuất gia.

Trong đạo Phật có hàng vạn phương pháp tu trì để hướng đến giải thoát. Ðảng Cộng Sản Việt Nam muốn tất cả mọi Phật tử và người xuất gia phải quy tụ trong một tổ chức cho họ dễ kiểm soát. Vì họ không biết gì về đạo Phật. Cũng vì họ vốn khinh thường các tôn giáo. Mà cũng vì có những người có tôn giáo tiếp tay cho họ. Ðảng Cộng Sản muốn biến vụ Bát Nhã thành một cuộc tranh chấp giữa nhóm thiền sinh này với giáo hội Phật Giáo chính thức được nhà nước công nhận. Ðó là một thủ thuật gian dối. Nếu không có công an làm áp lực thì chẳng nhà sư nào trong giáo hội đó thấy cần phải bắt buộc nhưng người xuất gia khác phải ra khỏi những tu viện mà chính nhờ có họ nên mới được dựng lên. Hòa Thượng Thích Tâm Châu đã kêu gọi vị sư thuộc giáo hội của nhà nước hãy nói chuyện với các thiền sinh ở Bát Nhã. Ðây là lời kêu gọi những người con Phật hãy đoàn kết với nhau, không nên để quyền lực chính trị thao túng nữa. Lời kêu gọi này đặt trách nhiệm lên tất cả những người lãnh đạo giáo hội đang nghe lệnh Ban Tôn giáo của đảng Cộng Sản. Quý vị này là những người đã học Phật Pháp. Trong hàng vạn pháp môn của nhà Phật, tại sao họ không tôn trọng phương pháp tu tập của 400 thiền sinh, mà phương pháp đó đã chứng tỏ con đường giải thoát là có thật, hiệu quả là đã đào tạo được những tăng ni sống đạo giữa đời, vững chãi và thảnh thơi như vậy? Mà giải tán đám thiền sinh này rồi có giải tán được tâm nguyện giải thoát của họ hay không?

Trong ba ngày nữa các thiền sinh này có thể sẽ bị đuổi ra khỏi những ngôi tự viện mà đồng bào Phật tử khắp thế giới, người Việt cũng như người ngoại quốc, đã hỗ trợ để xây dựng lên. Nhưng dù các bạn trẻ này có bị đưa đi bất cứ nơi nào trong nước Việt Nam, mỗi người, mỗi nhóm người sẽ mang theo hạnh nguyện là nhưng bông hoa mới nở cống hiến cho đất nước. Dù trong nhóm 400 người đó sau này chỉ có một số người vững vàng hạnh tu mãi mãi, thì đó cũng là một tặng phẩm quý báu cho dân tộc. Ðức của người quân tử như ngọn gió, tập hợp nhưng ngọn gió đó lại, chúng ta sẽ có ngày thấy nền đạo lý dân tộc sống lại. Chúng ta sẽ thấy hồn thiêng sông núi là có thật, con cháu của những Chu Văn An, Nguyễn Ðình Chiểu sẽ sống xứng đáng với di sản đạo lý của tổ tông.

Ðừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết

Ðêm qua sân trước một nhành mai.

Posted: Sat Sep 05, 2009 12:49 am
by tankhoasinh
Tự do mới tạo được niềm tin

Ngô Nhân Dụng
Cô cháu nội tôi còn bé mà đã biết phát biểu ý kiến không hề sợ hãi. Có chuyện gì không hài lòng, cháu lên tiếng một cách quả quyết, “Oe oe! Oe oe!” Và cứ như vậy nhất định không ngưng trước khi được người trên chú ý.

Mẹ cháu dỗ dành, “Mế Mế!” Anh trai cháu cũng phụ họa, “Mế Mế!” (Muội muội, đọc theo lối Hán Việt, tức là em bé gái). Ông nội thử đoán ý cháu, “Nhân dân phản kháng chắc vì khát nước đấy.” Mẹ cháu cho con uống nước. Uống xong, “nhân dân” lại tiếp tục phản kháng không khoan nhượng, “Oe Oe! Oe oe! Oe oe!”

Cuối cùng mẹ cháu đưa giả thuyết là nhân dân đang làu bàu vì đói. Bố cháu ghé xe vào một tiệm ăn. Nhưng vào trong tiệm, Mế Mế lại không màng gì đến thức ăn. Cháu chỉ chạy tung tăng nhìn quanh từng bàn, lũn cũn bước từ bàn này sang bàn khác, miệng cười tươi làm quen với hết người nọ đến người kia.

Giới lãnh đạo nhất trí kết luận là Mế Mế không khát nước mà cũng không đói, cháu chỉ muốn ra khỏi chiếc xe tù túng để được chạy qua chạy lại cho đỡ cuồng cẳng! Nhờ lên tiếng một cách cương quyết và dai dẳng, cuối cùng cuộc tranh đấu của cô bé đã thành công vẻ vang. Nếu không lên tiếng thì làm sao bố mẹ biết được ý nguyện của mình! Mà đối với tầng lớp nhân dân tuổi mới 18 tháng, phương pháp lên tiếng có hiệu quả nhất chỉ là “Oe Oe! Oe Oe!”

Bài học cho người lớn là: Khi được tự do phát biểu ý kiến (Oe Oe), một đứa trẻ cũng biết nó muốn gì. Và đứa trẻ hơn một tuổi cũng có những nhu cầu khác ngoài chuyện thức ăn, nước uống: Nhu cầu được tự do. Trong việc tề gia, chúng ta theo nhiều đường lối khác nhau. Có nhà theo lối “mẹ lãnh đạo, bố quản lý, các con làm chủ.” Nhà khác thì “bố lãnh đạo, mẹ quản lý, các con cứ yên phận làm con!” Những mô hình này cũng có khi dùng trong việc trị quốc.

Ở Việt Nam hiện nay, mô hình thứ nhì đang áp dụng. Công an lãnh đạo, đảng và nhà nước lo việc quản lý. Còn nhân dân, muôn đời vẫn là nhân dân. Ðảng và nhà nước đối xử với nhân dân như con cháu, chút chít trong nhà, không hơn.

Nhưng nghe đảng bảo ban ra lệnh mãi có lúc nhân dân cũng muốn lên tiếng phản kháng “Oe Oe” mấy tiếng chứ? Có, hiện nay nhiều người đang lên tiếng. Trong mấy năm qua nhiều nhà trí thức đã lên tiếng về các vấn đề chung. Nghe những tiếng nói đó, tinh thần cả xã hội đã phấn khởi một thời gian, cho đến khi bị dập tắt trở lại.

Khi báo chí chính thức không được phép lên tiếng thì người ta dùng các phương tiện truyền thông mới. Bị bịt miệng không cho nói thì có người bày tỏ ý kiến bằng cách “mặc áo!” Anh Lê Minh Phát đã mặc chiếc áo trên đó có những lời phản đối việc khai thác bô xít ở Tây Nguyên. Các ông Nông Ðức Mạnh và Nguyễn Tấn Dũng đã bảo đó là một chủ trương lớn của đảng và nhà nước. Cho nên anh Phát bị làm việc lên, làm việc xuống, cuối cùng anh được lệnh không được mặc cái áo “Oe Oe” nữa. Anh phản đối việc Trung Quốc chiếm các đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nhưng đảng và nhà nước không muốn ai làm mất lòng các đồng chí Trung Quốc. Nhân dân có muốn “Oe Oe” cũng không được!

Các đồng nghiệp của chúng tôi là Bùi Thanh Hiếu, còn gọi là Người Buôn Gió và nhà báo Phạm Ðoan Trang đã bị bắt chỉ vì muốn“Oe Oe” trên mạng cho mọi người cùng nghe. Họ đều bị công an sách nhiễu, bắt bớ, thẩm vấn như những kẻ phạm tội. Người Buôn Gió đã bị bắt rồi, công an còn tịch thâu cả máy vi tính của anh. Công an còn đến tận nhà cha mẹ anh để lục soát, cho thấy chế độ hiện nay vẫn không khác gì vua quan thời phong kiến: con bị tình nghi thì cha mẹ cũng bị nghi ngờ! Nhà báo blogger nổi tiếng Huy Ðức chủ trì mạng Osin từ bao năm. Anh bị mất việc làm trong Sài Gòn Tiếp Thị, một tờ báo của đảng. Những nhà báo Huy Ðức, Bùi Thanh Hiếu, cũng như chư tăng trong Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, các Luật Sư Nguyễn Văn Ðài, Lê Thị Công Nhân chỉ muốn góp sức xây dựng một nước Việt Nam có tín nghĩa, có luật lệ rõ ràng. Bao giờ thì họ được tự do lên tiếng? Nếu không ai được nói ngoài các nghị quyết của đảng thì làm sao xây dựng được xã hội chính trực, ngay thẳng?

Chế độ độc tài nào cũng sợ người dân lên tiếng nói vì họ biết dân chỉ tin những lời nói trung thực, thẳng thắn, không còn ai tin lời nói của bọn cầm quyền nữa. Vì đảng đã quen nói một đằng, làm một nẻo từ lâu, nhưng bây giờ họ thực hiện chính sách đó trên căn bản tư tưởng.

Ðảng Cộng Sản Việt Nam đang tự chuyển hóa biến các cán bộ cao cấp thành những nhà tư bản. Họ không còn là những “đảng Cộng Sản” như họ vẫn hô khẩu hiệu đi theo các ông Marx và Lenin nữa. Trong thực tế, xã hội Trung Hoa và Việt Nam hiện nay là tư bản hoang sơ nhưng vẫn còn di sản của thời phong kiến. Ðảng Cộng Sản muốn làm kinh tế tư bản trong khuôn khổ một xã hội phong kiến! Trong chế độ tư bản người dân còn được lên tiếng. Còn trong chế độ phong kiến thì khác, vua quan là cha mẹ của dân, không đứa nào được phép “Oe Oe” một tiếng. Tuyên bố theo Marx Lenin, nhưng hành động theo phương pháp Tần Thủy Hoàng. Ðó là đường lối “nói một đàng, làm một nẻo” ở trình độ căn bản nhất.

Những lương dân đọc Người Buôn Gió, đọc Ô Sin, chỉ muốn đề đạt lên các nhà lãnh đạo đảng một câu hỏi là: Tại sao quý vị không thành thật một lần trong đời, trong đời sống cá nhân cũng như đời sống đảng, bằng cách tuyên bố thẳng rằng quý vị đã ngưng, stop, thôi hẳn, từ nay không theo đuổi chủ ngãi Mác Lê nin nữa? Hơn 20 năm trước ông Hà Sĩ Phu đã dõng dạc tuyên bố “Chia tay ý thức hệ” mà không ai chịu nghe, bây giờ cứ làm theo cũng chưa muộn.

Khi một đảng chính trị tự đặt mình vào tình trạng phải tự mâu thuẫn với chính mình; cương lĩnh, lý thuyết mâu thuẫn với hành động thực tế, thì chỉ làm cho người dân khinh bỉ. Nguy hiểm hơn, thái độ dối trá đó sẽ làm hư hỏng luôn giềng mối tinh thần của cả quốc gia. Khi một ông vua hay một đảng cầm quyền nói một đằng, làm một nẻo, thì trong xã hội không còn ai thấy cần tôn trọng chữ Tín nữa. Không lấy chữ Tín làm căn bản của mọi tương quan, mọi giao tế xã hội, thì xã hội đó không còn một hệ thống giá trị để chia sẻ cùng nhau. Hơn thế nữa, xã hội không có chữ Tín thì cũng không thể phát triển tinh thần tôn trọng luật pháp, là nền tảng của mọi sinh hoạt kinh tế, chính trị trong thế giới hiện đại. Tái lập chữ Tín trong xã hội là điều quan trọng và đáng theo đuổi hơn là thực hiện bất cứ một chủ nghĩa mơ hồ và không tưởng nào.

Sự thay đổi trong đường lối căn bản này là hệ quả của những biến chuyển căn để trong xã hội. Chế độ toàn trị (totalitarian) đã biến dần sang một chế độ độc tài (authoritarian) bình thường. Guồng máy của đảng và nhà nước không hoàn toàn kiểm soát được toàn thể đời sống xã hội nữa. Ðời sống mỗi cá nhân được giải phóng một phần nào, không còn hoàn toàn tùy thuộc vào sự xếp đặt của đảng và nhà nước. Xã hội công dân đang tự tách rời khỏi chế độ chính trị.

Một vấn đề lớn là guồng máy quản lý xã hội cũ vốn được các ông Stalin, Mao Trạch Ðông vẽ ra để trị dân trong một tương quan kinh tế đơn giản, dưới xin, trên cho, có cấp bậc trên dưới rõ ràng. Nay guồng máy đó không còn thích hợp để cai quản một xã hội phức tạp, các tương quan cũ bị đứt, vỡ, và các tương quan mới đang ra đời. Tương quan cũ dựa trên quyền hành, bây giờ thêm tương quan mới đặt trên lợi lộc. Ðảng Cộng Sản không dám xóa bỏ hệ cấp quyền hành, nhưng vẫn phải chấp nhận hệ thống duy lợi trên con đường tự tư bản hóa. Hệ thống duy lợi dựa trên tiền bạc, nhưng chưa đặt ra các luật lệ ràng buộc, kiểm soát việc kiềm lời như trong các nước thị trường tư bản lâu đời. Hai mạng lưới chính trị dựa trên quyền hành và kinh tế dựa trên lợi lộc chồng chéo lên nhau, đẻ ra tham nhũng. Ý thức hệ được tuyên dương thì đề cao một xã hội bình đẳng, mà trong thực tế thì chính chế độ đó lại nuôi dưỡng tình trạng giầu nghèo chênh lệch, tham nhũng, bất công. Người dân còn biết tin cái gì?

Kể từ khi chiếm chính quyền, Cộng Sản Việt Nam đã nỗ lực xóa bỏ giềng mối cũ của xã hội cổ truyền, những “quan hệ sản xuất” và “quan hệ xã hội.” Họ thấy không cần những quy tắc hiếu đễ, tiết nghĩa trong xã hội cũ. Họ xóa bỏ những tương quan mà xã hội cũ vẫn tôn trọng. Từ tình hàng xóm láng giềng cho đến niềm tin tôn giáo, tương quan vợ chồng, cha con, bằng hữu, vân vân, cần dẹp bỏ hết để đảng Cộng Sản xây dựng một xã hội mới trong đó điều quan trọng nhất là lập trường chính trị. Chế độ cộng sản không cần đạo lý, không cần pháp luật, chỉ cần chính trị. Nước Việt Nam đang đứng trước cảnh đã mất nền tảng cũ, lại mất luôn cả cái nền tảng mới mà đảng chưa hoàn thành. Ðó là thảm cảnh của một dân tộc: Vô pháp, vô thiên, “Trên không có trời, dưới không luật lệ.” Ðảng Cộng Sản phá giỏi, nhưng không xây dựng được nền tảng đạo lý mới. Muốn thay đổi tình trạng đó thì phải cho mọi người được sống tự do, xã hội công dân phải tự do phát triển, nhà tu được tự do xây nhà thờ, tự do lập am miếu, chùa chiền, và nhà báo phải được viết tự do.

Ðiều đáng lo nhất là lo cho thế hệ tương lai, những em bé bây giờ đang lớn, từ các em bé bằng tuổi cô cháu nội của tôi bây giờ. Nhìn cháu mình, không ai tránh khỏi không nghĩ đến những đứa cháu đang sống thiếu thốn. Có cháu mới 9 tuổi đã đảm đang đóng vai làm mẹ cho em mình. Một câu chuyện đáng kể lại làm gương cho trẻ em khắp thế giới. Nhiều trẻ em may mắn sống trong các xã hội bình an và thịnh vượng sẽ không hiểu nổi tại sao có những nơi một em bé phải cực nhọc như thế.

Cô cháu nội tôi số gặp may. Bữa trước bố mẹ cho cháu đi coi một sở thú ở thành phố Madison, tiểu bang Wisconsin. Khi trở về thành phố Dubuque, tiểu bang Iowa, cách xa hai giờ lái xe, mới biết cái nón của Mế Mế rớt đâu mất. Cái nón rẻ tiền nhưng cháu đội đã quen, rất thích. Lâu lâu cháu lại chỉ tay lên đầu, nhìn bố, nhìn mẹ, như hỏi: “Mũ đâu rồi?” Ði ngoài đường nắng quá, đội cho cháu cái mũ của Mẹ, cháu lắc đầu không chịu. Cái mũ của ông nội, cháu cũng không chịu. Ðúng là một đứa bé tí xíu cũng dám bầy tỏ ý kiến muốn cái gì, nếu được tự do, không sợ hãi. Hôm sau, tìm không đâu thấy mũ con, bố cháu gọi điện thoại tới sở thú hỏi. Ấy thế mà có người đã thấy cái mũ đó và văn phòng họ vẫn giữ! Không những giữ hộ, nhân viên ở sở thú còn đồng ý sẽ gửi cái mũ qua bưu điện về địa chỉ cha mẹ cháu ở thành phố New York, cách xa cả ngàn cây số. Và họ không đòi tiền cước phí. Cô nhân viên cho biết nếu cha mẹ cháu muốn thì cứ gửi tiền tặng cho quỹ sở thú, để góp phần giữ gìn một nơi cho mọi người, người lớn và con nít cùng du ngoạn và học hỏi!

Tại sao trong một xã hội con người có thể đối xử với nhau tử tế như vậy? Bao giờ thì trẻ em trong nước Việt Nam được thấy chung qunh toàn những người tử tế như vậy? Bao giờ thì Bùi Thanh Hiếu, Huy Ðức, được tự do lên tiếng để cùng mọi người Việt Nam xây dựng một xã hội có đạo lý và có pháp luật?