Bình Luận , Quan Điểm

hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Ngộ nhận về Trung Quốc

Ngô Nhân Dụng

Ít khi đọc tin tức thể thao trên báo, một người bạn mới gửi cho tôi bản tin trên nhật báo New York Times về trận tranh chức vô địch thế giới môn Cờ Vua dành cho phụ nữ (Women World Team Championship 2009), mới tổ chức vào đầu Tháng Chín ở Trung Quốc, chỉ vì bài báo này nhắc đến tên nước mình, Việt Nam.

Bài báo cho biết năm 1991 một nữ kỳ thủ Trung Quốc đã thắng giải vô địch thế giới Cờ Vua của phụ nữ, các nước còn nghi ngờ; nhưng đến nay họ đã thắng ba lần rồi, và trong 10 nữ kỳ thủ hàng đầu thế giới thì có 4 người Trung Hoa. Trong trận vô địch năm nay Trung Quốc có 2 đội tham dự, và đội A đã lấn áp các đội từ Nga và Ukraine cuối cùng thắng giải trong vòng chung kết “một cách bất thường” (an unusual finish). Ông bạn tôi gửi cho bài bào để đặt một câu hỏi, nguyên nhân vì có một đoạn được anh gạch dưới viết thế này: “Trong vòng đấu chót, Trung Quốc chỉ cần thủ huề cũng chiếm chức vô địch, phải đấu với Việt Nam, là đội đứng hạng chót bảng.”

Ðiều khiến nhà báo coi là bất thường được mô tả trong câu: “Cả 4 trận đấu đều gay go và đều kết cục là hòa. Nhưng trong một trận đấu, kỳ thủ người Việt vào lúc cuối ván cờ đang thắng thế thì bất ngờ đề nghị xin hòa luôn, thế là chức vô địch vào tay Trung Quốc.” Nguyên văn xin trích dẫn như sau, để quý vị biết nhiều về thủ tục tranh giải coi lại, xem chúng tôi dịch sai hay không, “In the last round, China, needing a tie match to win the tournament, faced Vietnam, the last-place team. All four games were hard-fought and ended in draws. But, in one of the games, the Vietnamese player was winning at the end when she unexpectedly proposed a draw, which clinched the title for China.”

Anh bạn tôi tỏ ý nghi ngờ về quyết định “xin hòa” của nữ kỳ thủ Việt Nam mà tờ báo không nêu tên. Tại sao kỳ thủ người Việt đang thắng thế mà lại đề nghị hòa? Nếu đấu tới cùng thì sao? Nếu cô thắng, cá nhân cô được vẻ vang, nhưng đội tuyển Việt Nam cũng không lên được địa vị cao hơn hạng chót. Nếu cô thua, hoặc hòa, đội tuyển nước mình cũng vẫn đứng hạng chót. Nhưng chỉ trong trường hợp cô hòa với đối thủ thì đội tuyển Trung Quốc mới chiếm chức vô địch. Tất nhiên đề nghị xin hòa (proposed a draw) của cô được đối thủ chấp nhận ngay, vì chỉ cần hòa, không cần thắng trong cả 4 trận đó thì đội Trung Quốc cũng chiếm chức vô địch một cách chắc chắn.

Người gửi cho tôi bản tin trên nghi ngờ là đấu thủ người Việt đã được lệnh của “bí thư đảng bộ” phải nhường đội Trung Quốc để tránh cho đội tuyển nước Cộng Sản “trước là đồng chí sau là anh em” được thắng giải vô địch thế giới. Ðể cho công bằng, chúng tôi không cổ động cho niềm ngờ vực của ông bạn. Vì phóng viên báo New York Times chưa chắc đã hiểu rõ các thế cờ trong trận đấu chót, chưa chắc họ đã nói đúng khi nhận xét rằng cô người Việt đang thắng thế. Có thể là nhìn thấy hai bên cuối cùng sẽ hòa, cho nên cô ta mới xin hòa.

Quý vị, và nhiều người đọc tin trên, cũng có thể đặt câu hỏi nghi ngờ như vậy. Chúng tôi nhắc đến bản tin và mối nghi ngờ này chỉ muốn nhắc đến mối lo lắng của người Việt Nam trong bất cứ cuộc cạnh tranh, đua tài nào đối với nước láng giềng phương Bắc. Lo lắng nhất là lo chính quyền Cộng Sản Việt Nam không bảo vệ quyền lợi của nước Việt Nam. Lo hơn nữa là lo đảng Cộng Sản Việt Nam sẵn sàng hy sinh quyền lợi quốc gia dưới áp lực của Trung Quốc. Mối lo đó có thật. Vì lo lắng cho nên người Việt Nam nghi ngờ, chứ không phải vì nghi ngờ cô kỳ thủ người Việt trong giải vô địch năm nay đã “bán độ.” Không ai biết tên cô và gốc tích của cô. Nhưng tôi tin rằng bất cứ đấu thủ nào trong các cuộc tranh giải thể thao cũng muốn thắng, không thắng giải thì cũng phải thắng từng ván cờ một, thắng một ván, huề ba ván cũng là một vinh dự rồi. Cô kỳ thủ người Việt có thể nhìn rõ thế thắng bại hơn những quan sát viên cố vấn cho nhà báo New York Times. Khi thấy có thể thua, hoặc cố lắm cũng chỉ hòa, cô xin hòa. Chỉ tiếc là cô không để cho chính đối phương xin hòa nếu cô thấy mình khó lòng thua được! Khiến cho đồng bào đọc tin mà cứ thắc mắc, vì quá lo lắng về những chuyện không phải chuyện đấu cờ!

Mối lo lắng của người Việt Nam đối với Trung Quốc là có thật. Trong một bài trước, chúng tôi viết rằng người Nam Hàn và Ðài Loan không lo lớn như vậy mặc dù họ cũng sống ngay bên Trung Quốc như nước mình. Có độc giả đã ngộ nhận, phản bác lại ý kiến đó, nói rằng dân chúng và chính phủ hai nước kia cũng rất lo lắng trước sự bành trướng của Trung Quốc chứ không riêng gì Việt Nam. Hàm ý rằng tình trạng ba nước cũng giống nhau. Ký giả này hoàn toàn đồng ý, không hề nói rằng hai nước đó họ không lo. Chỉ nhấn mạnh rằng không dân chúng nước nào lại lo nhiều như dân Việt mình.

Một ngộ nhận khác của độc giả sau khi đọc bài Bình Luận trước, là thấy trong đó một sự thành công của chế độ Cộng Sản ở nước Tầu. Tức là nghĩ rằng hễ có nhiều nước sợ nước Tầu như vậy thì chắc hẳn nước Tầu đã hùng mạnh, và nguyên nhân gây ra cảnh hùng mạnh đó là chế độ Cộng Sản của ông Mao Trạch Ðông! Chế độ Cộng Sản làm cho Trung Quốc mạnh cho nên, chế độ Cộng Sản là tốt, ai cũng nên bắt chước!

Kết luận như vậy ai cũng biết là tào lao.

Thứ nhất, hiện nay kinh tế Trung Quốc giầu mạnh hơn hồi ông Mao cai trị gấp bội chính nhờ họ đã vứt bỏ những nguyên tắc căn bản của chế độ ông Mao. Kinh tế họ lên vì họ bắt chước theo kinh tế thị trường, cũng gọi là kinh tế tư bản.

Thứ nhì, sự phồn thịnh kinh tế tại Trung Quốc còn rất mong manh. Họ sản xuất nhiều hơn vì khi được tự do hơn thì người dân Trung Hoa làm việc giỏi bằng trăm lần khi bị đảng Cộng Sản trói buộc. Nhưng chính sách của Cộng Sản Trung Quốc vẫn còn kìm hãm chưa cho kinh tế quốc dân được phát triển đầy đủ. Chính sách chỉ huy của Bắc Kinh đang nhắm vào xuất cảng, ép dân không được tiêu dùng, hoạt động kinh tế dựa trên đầu tư vào cơ sở, thiết bị chứ không đặt trên nhu cầu tiêu thụ trong nước, cho nên không vững chắc. Cũng giống như các kế hoạch kích thích kinh tế ở Mỹ và Âu Châu hiện nay, chỉ có kết quả tốt sau khi chấm dứt nếu tư nhân bắt đầu tiêu thụ và sản xuất trở lại, chứ nếu chỉ trông vào tiền nhà nước chi ra để kích thích thì sẽ thất bại. Kinh tế thị trường không sống bằng tiền nhà nước kích thích hết năm này sang năm khác được. Cộng Sản Trung Quốc đang can thiệp vào sinh hoạt kinh tế bằng việc kích thích như vậy cho nên không vững chắc. Một nền kinh tế chưa giải phóng được hệ thống tài chánh để nâng cao hiệu năng, chưa tạo nền tảng vững chắc trên giới tiêu thụ, thì vẫn chỉ là “phồn vinh giả tạo” mà thôi. Nếu người dân được tự do hơn nữa thì nước Trung Hoa còn tiến xa hơn.

Cần phải xóa bỏ ngộ nhận này vì không hiểu mà bắt chước Trung Quốc thì có hại. Nhìn vào những thống kê kinh tế ở Trung Quốc hiện nay mà kết luận rằng nên bắt chước “mô hình” ưu việt của Trung Quốc thì cũng chẳng khác gì những năm 1930 đến 1950 thấy kinh tế Liên Xô tiến rất nhanh thì coi đó là kiểu mẫu! Mô hình Stalin và mô hình Ðặng Tiểu Bình có thể tạo nên cảnh “phồn vinh giả tạo” trong một thời gian, có khi kéo dài mấy chục năm. Nhưng trong nền tảng, những cách tổ chức kinh tế đó sẽ đến lúc đụng phải trần nhà và sẽ khựng lại. Khi thấy người ta lóa mắt trước cảnh tiến bộ kinh tế ở Trung Quốc, nhiều nhà kinh tế chỉ cần nêu thí dụ Nhật Bản. Những năm 1970, 80 bao người nghĩ kinh tế Nhật cứ một tốc độ như thế mà tiến mãi; nhưng từ 1990 đến nay cơ cấu kinh tế Nhật Bản cũng đụng trần nhà, cố gắng cải tổ mà chưa gỡ ra khỏi. Vì tháo gỡ một cơ cấu rất khó, để càng lâu càng khó gỡ.

Người Việt chúng ta đang lo lắng về sự bành trướng của Trung Quốc, nhưng không nên ngộ nhận rằng tất cả phải cùng quay ra chống Trung Quốc. Ðó cũng là một ngộ nhận nguy hiểm. Chúng ta chỉ chống những chính sách nào của Bắc Kinh làm hại cho nước Việt Nam mà thôi. Một độc giả đã nhắc cho chúng tôi một đề tài quan trọng trong mạng lưới của đài RFI. Theo RFI: “Một kết quả khảo sát của viện nghiên cứu thuộc trường đại học Colorado Hoa Kỳ đăng trên báo Nature Geoscience ngày 20 Tháng Chín báo động là 2/3 các đồng bằng quan trọng của địa cầu- trong đó có Ðồng Bằng Sông Cửu Long của Việt Nam - trong thế kỷ này sẽ bị mất bớt đi diện tích hiện có do đất bị lún xuống và mực nước biển dâng cao.” Ðây là một đề tài đã được nhóm Cửu Long báo động đồng bào trong và ngoài nước từ nhiều năm qua. Trung Quốc có thể gây thêm tai họa cho dân Việt với những chương trình xây đập của họ. Ðó là điều chúng ta phải lên tiếng tranh đấu.

Vị độc giả này, lấy tên là Taylor, cũng không chủ trương chỉ thù ghét và chống Trung Quốc. Ông viết: “Hãy chiến thắng ‘kẻ thù’ không phải bằng thù hằn nhiều hơn, mà bằng xây dựng tốt hơn. Ưu tiên đã quá rõ, chế ngự thiên nhiên để sinh tồn, hội nhập với thế giới để phát triển.”

Nhiều vị độc giả đọc những bài trước trong mục này cũng thấy như vậy. Mối lo lắng của dân tộc Việt Nam đối với Trung Quốc không phải vì họ mạnh hơn (dù sức mạnh chưa vững chắc) nhưng lo vì nước mình yếu quá, và các nước khác đều chạy rất nhanh còn nước mình đi rất chậm. Mối lo lớn nhất là cả guồng máy kinh tế của Trung Quốc đang mở hết tốc độ chạy tới, mà ở nước mình thì vẫn “cà rịch cà tàng!” Lý do vì guồng máy điều khiển nền kinh tế ở Việt Nam vẫn nằm trong tay các quan chức Cộng Sản tham nhũng và bất lực, chưa được trả cho tư nhân hoạt động trong thị trường tự do thật sự. Và vì chế độ chính trị độc tài độc hại cho nên người dân Việt không được góp ý kiến để thay đổi. Các nước Ðài Loan, Nam Hàn người dân được tự do hơn, chính vì thế họ không lo lắng nhiều như dân Việt Nam.

Như một doanh nhân người Mỹ gốc Việt Nam đã làm việc ở Trung Quốc nhiều năm nhận xét, ở bên đó “chúng cũng ăn, nhưng chúng có làm việc thật. Quan chức Việt Nam thì chỉ lo ăn mà không thiết làm, không làm vẫn có ăn!”
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Image


"Chúng Tôi Muốn Đổi Mới"

Brian Hanrahan
BBC News
Ông Mikhail Gorbachev đã tỏ ra rất bình thản về giai đoạn ông là lãnh đạo cuối cùng của Liên Bang Xô Viết.

Ông nói rằng ông dự đoán sẽ có một kết cuộc khác và ông sẽ làm lại từ đầu nếu có được một dịp nữa.

Chính các sách lược mà ông áp dụng đã đưa đến các cuộc cách mạng hồi năm 1989, xóa đi chủ nghĩa cộng sản tại Đông Âu.

Nước Nga cũng vậy, cũng kinh qua một tiến trình chuyển hóa, và hai năm sau khi đế chế Xô Viết sụp đổ, thì bản thân của Liên Bang Xô Viết cũng tan rã.

Kết quả là những năm cầm quyền của ông Gorbachev vẫn còn là một đề tài được rất nhiều người dân tranh luận sôi nổi.

Tự do nhiều hơn

Trước cuộc phỏng vấn này, tôi nghĩ trong đầu là tôi sẽ đối diện với một ông lão lúc nào cũng cau có, hậu quả của nhiều năm bị người đồng hương lên tiếng chỉ trích vì những chuyện không đâu vào đâu.

Trái lại, trước mặt tôi là người đàn ông 78 tuổi đời vui vẻ và thoải mái, đi vào phòng, không thắt cà vạt và không người hầu cận, bắt tay chào hỏi mọi người trước khi ngồi xuống để phỏng vấn.

Và khi nói chuyện, ông đã bào chữa thành tích của mình rất vững chãi.

Với lối trả lời ngắn gọn súc tích, ông thao thao bất tuyệt về những lợi ích mà ông đã mang lại nước Nga, mà cho tới nay người dân vẫn được hưởng: tự do nhiều hơn và một trật tự mới trong liên hệ giữa nước Nga và thế giới bên ngoài.

Ông nói: "Tôi nghĩ rằng cuộc cách mạng năm 1989 đã đem lại những điều tốt đẹp hơn cho mọi người-không ai có thể hồ nghi về chuyện này. Trước đó, người dân Nga không có được các quyền tự do căn bản, đặc biệt là tự do ngôn luận."

"Nói là một trong các nước có giáo dục nhất trên thế giới nhưng lại không có được bầu cử, nói ngắn gọn, không có được bầu cử thật sự mà là bầu cử nửa vời, vì người dân chỉ có một ứng viên để lựa chọn."

"Vào dạo đó, nhiều chuyện cần phải làm ngay. Chúng tôi muốn đổi mới."

Đổi mới
Một trong các đổi mới ngoạn mục nhất là sự sụp đổ của Bức Tường Berlin, mà sau đó, nước Đức đã chạy hết tốc độ để hướng về mục tiêu tái thống nhất đất nước.

Ông Gorbachev e ngại và ông cũng được biết là cả nữ Thủ tướng của Anh bà Thatcher và Tổng thống Pháp, ông Mitterrand cũng e ngại.

Và sau đó, ông phát hiện rằng các lãnh đạo Tây Âu đều tựa vào ông để ngưng tiến trình tái thống nhất nước Đức.

Một hệ quả của chính sách cải tổ là bức tường Berlin bị đập đổ.

Ông nói: "Họ nhất mực nói rằng không nên tái thống nhất, và phải ngưng tiến trình này lại."

"Tôi hỏi họ là họ có đề nghị gì không. Họ chỉ có mỗi một đề nghị: đó là phải có một ai đó rút các củ khoai mà họ đang nướng ra khỏi đống lửa."

Ông nói rằng họ muốn tôi nói "không" với tiến trình tái thống nhất và gởi quân đội tới nước Đức. Ông nói tiếp: "Thật là vô trách nhiệm. Họ sai lầm hết cả rồi."

Ông lập đi lập lại câu: " Họ sai lầm hết cả rồi."

Ông cảm thấy bị bỏ rơi bởi các lãnh đạo Tây Âu nào mà ông nghĩ rằng đã lợi dụng tình trạng yếu kém của nước Nga hồi thập niên 1990, và nay quay ngược lại chỉ trích khi nước Nga khẳng định vị thế của mình.

Coi như chết rồi

Cuộc phỏng vấn diễn ra tại Quỹ Gorbachev Foundation, một tòa nhà hiện đại được xây dựng riêng ở vùng ngoại ô Moscow.

Trông giống như bất cứ một thư viện của một vị tổng thống Mỹ với văn khố chứa các văn kiện thời họ đương quyền, một thư viện để cho các nhà nghiên cứu và một nơi triển lãm các giải thưởng và vật lưu niệm về người ấy.

Trong số này có giải Nobel Hòa Bình mà ông được trao tặng hồi năm 1990.

Mặc dù được cả thế giới tán dương công đức, nhưng trong sinh hoạt chính trị của nước Nga, ông Gorbachov được coi như là "một người chết rồi".

Và ông chọn lời nói một cách rất cẩn thận: ca tụng cá nhân ông Vladimir Putin như là một người đã ổn định được đất nước nhưng ông cũng đã để lộ cho mọi người hiểu rõ rằng ông đã thấy rất nhiều sai trái trong cách điều hành nước Nga hiện nay.

Ông Gorbachov và bà Thatcher.

Ông nói rằng đảng Nước Nga Thống Nhất (United Russia), tức là đảng chủ lực ủng hộ ông Putin, như là một bản sao nhòe của đảng Cộng Sản dưới thời Liên Xô. Và ông tin rằng nước Nga ngày nay cần dân chủ nhiều hơn.

Ông nói "Chúng tôi cần biến đổi đất nước, chúng tôi cần hiện đại hóa đất nước."

"Đổi mới đất nước không thể thực hiện được bằng áp lực, bằng cách ban hành luật lệ và thông tư nghị quyết. Đổi mới đất nước chỉ có thể thực hiện được qua tinh thần dân chủ, bằng cách lập ra một môi trường tự do và dân chủ với sự tham gia của đông đảo quần chúng."

Theo ông "rõ ràng, đây là điều người dân Nga phải chọn lựa, mà không cần đến những lời thuyết giảng từ thế giới bên ngoài.

Ông nói tiếp: "Đôi khi ông Putin tỏ ra cứng rắn, nhưng đây chỉ là phong cách lãnh đạo mà thôi.

Quyền cử tri
Khi được hỏi là điều gì đã khiến cho ông Putin "nói bóng nói gió" rằng rất có thể ông ấy sẽ ra ứng cử tổng thống một lần nữa vào năm 2012 và rồi sẽ cai trị nước Nga thêm 12 năm nữa ?

Ông Gorbachev trả lời nhanh chóng: "Tôi không thích câu "Tôi sẽ ngồi xuống với Tổng thống và chúng tôi sẽ quyết định".

Ông nói "Tôi nghĩ rằng mọi chuyện sẽ được cử tri quyết định, nhân dân quyết định, và tôi không nghe ông Putin nói gì đến người dân. Tôi nghĩ rằng chuyện này không đúng."

Một tội trạng mà ông Gorbachov công nhận đã phạm phải trong thời gian ông cầm quyền là có thể ông đã thúc đẩy sự thay đổi quá nhanh.

Nhưng bây giờ, trong cuộc phỏng vấn, ông lại để cho người nghe có cảm giác là sự thay đổi đang không đủ nhanh.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Khi chất phế thải tan rữa

Ngô Nhân Dụng
Như quý vị biết, chưa bắt đầu mùa Thu mà đã có nhiều nơi ở California đã xẩy ra nhiều trận cháy rừng, sở cứu hỏa phải lo vấn đề đó, cho nên mới có một bản tin trên báo L.A. Times. Ðọc bản tin này, tôi chợt nghĩ tới di hài của ông Hồ Chí Minh. Chỉ nghĩ thoáng qua thôi, vì nói đúng ra, tôi nghĩ tới tình trạng của đảng Cộng Sản Việt Nam hiện nay nhiều hơn.

Bản tin nói rằng khi những chất phế thải (thí dụ như phân) của loài vật tàn rữa thì nó sinh ra tình trạng rất bất ổn, bấp bênh (volatile). Phân và xác súc vật tan rữa phát sinh ra các loại khí, trong đó có khí mê tan (methane) có thể tích tụ lại ở những nơi không được gió thổi tới. Khi trời nóng quá loại khí bất ổn đó rất dễ bốc cháy và phát nổ, có thể gây ra nạn cháy rừng.

Nhưng khi đọc tin trên thì, tự nhiên không tránh được, tôi nhớ mới đọc bản tin nào đó mới nói cái di hài ông Hồ Chí Minh gần đây được các chuyên gia người Nga đem ra xét nghiệm lại vì sợ nó bị rữa nát nếu không được bảo trì đầy đủ. Nhưng ý nghĩ đó chỉ thoáng qua thôi; cái di hài của một người đã chết từ lâu không còn quan trọng nữa, điều đáng suy nghĩ hơn là tình trạng cái di sản mà Hồ Chí Minh còn để lại, là đảng Cộng Sản đang cai trị nước Việt Nam.

Gần đây cái đảng cầm quyền này có nhiều hành động rất lạ lùng. Họ nói năng cũng tỏ ra lúng túng, không còn giảo hoạt như những anh quản giáo lên lớp hồi xưa nữa. Họ giống như những người tâm thần bất định vậy. Làm sao mà cái mạng lưới chính thức của đảng “lãnh đạo nhà nước và xã hội” Việt Nam (theo điều 4 trong Hiến Pháp) mà lại hớ hênh viết những lời công nhận Hoàng Sa là lãnh thổ Trung Quốc, để cho tất cả những người Việt Nam biết chữ đều phải bất bình? Một người tỉnh táo thì nếu trong bụng có nghĩ như thế nhưng ngoài miệng cũng phải giả bộ nói cách khác để khỏi chọc tức, chọc giận các người Việt Nam còn yêu nước chứ? Ðây là một hiện tượng lạ. Người ta vẫn nói “Nói dối như Vẹm!” Bao nhiêu mánh khóe tuyên truyền do “Bác” dậy, họ quên hết rồi hay sao? Các cụ nói, “Hết khôn dồn ra dại” là như thế này chăng?

Một hành động có vẻ tâm thần bất định nữa là việc bắt bớ những người làm mạng lưới phê bình các chính sách của đảng đối với Trung Quốc trong những vụ Hoàng Sa hoặc Bô Xít. Cả thế giới bỗng nhiên biết tên những ông Ðiếu Cầy, Người Buôn Gió, cô Mẹ Nấm, vân vân. Làm gì mà phải cuống quít lên như vậy? Hàng trăm triệu người khắp thế giới người ta làm mạng, người ta vào mạng, vì nhu cầu tự nhiên và kỹ thuật sẵn sàng ở đó ai dùng cũng được. Làm sao mà bịt miệng được cái mạng lưới tin học đang như gió nổi lên khắp bốn phương trời này? Kế đến lại cái quyết định số 97 chi đó, bắt buộc các tổ chức nghiên cứu khoa học không được công bố các công trình của họ trước khi trình lên các cơ quan nhà nước! Ðúng là một quyết định tối dạ, ngu dốt, “phản khoa học, phản tiến bộ và phản dân chủ” như ông Tiến Sĩ Nguyễn Quang A nhận xét không oan chút nào. Những người tỉnh táo không làm như vậy, nhất là họ có thể làm cách khác đạt cùng một mục đích. Vì quyết định 97 này mà ai cũng phải công nhận là ông Nguyễn Tấn Dũng tính bịt miệng cả nước. Nhưng làm sao bịt được miệng cái mạng lưới toàn cầu?

Không phải chỉ những người lãnh đạo chóp bu trong đảng Cộng Sản mới luẩn quẩn. Cả những đảng viên về hưu còn rất nhiều thiện ý muốn giúp đảng tìm đường cho tai qua nạn khỏi cũng nghĩ quẩn lo quanh nữa. Ông Tống Văn Công, cựu tổng biên tập báo Lao Ðộng, đã viết một bức thư tha thiết kêu gọi đảng của ông thay đổi mạnh hơn nữa. Bức thư rất nhiệt thành, rất sắc bén, trừ một vài chỗ lẫn cẫn. Những lời ông phê bình đảng của ông đều rất đúng, ai cũng thấy như vậy cả. Nhưng các đề nghị của ông để “xây dựng đảng” thì nó không đâu vào đâu cả.

Thí dụ, cái tội lỗi lớn nhất gây ra tai họa cho nước Việt Nam là thể chế chính trị độc tài, ông Tống Văn Công cũng biết vậy. Nhưng ông không dám yêu cầu bỏ cái điều số 4 trong Hiến Pháp là căn bản của chế độ độc tài độc hại đó. Ông chỉ khép nép xin “luật hóa” điều 4 này. Nhưng bao nhiêu thứ luật mà đảng Cộng Sản đã đặt ra, từ Luật Cải Cách Ruộng Ðất do ông Hồ làm theo ý kiến các cố vấn Trung Quốc, làm xong rồi lại long trọng thông báo với đồng chí Stalin, cho tới Luật Báo chí của ông Nguyễn Tấn Dũng, đến quyết định số 97 gần đây, tất cả là những công trình biến quy tắc “chuyên chính” thành ra luật cả. Chưa đủ sao mà bây giờ còn “luật hóa” thêm cái gì nữa?

Bức thư của ông Tống Văn Công chứa rất nhiều tâm tư đáng kính trọng, tuy nhiên cách suy nghĩ vẫn là “lẫn,” như khi chúng ta nói các cụ già lẫm cẫm. Ông vẫn lập lại cái ý của nhiều đảng viên già: “Nếu như Bác còn sống.” Ý nói, nếu còn sống thế nào “Bác” là con người khôn ngoan sáng suốt cũng thi hành những đề nghị đổi mới mạnh bạo của ông. Nhưng cũng trong bức tâm thư đó, ông viết về những sai lầm của đảng Cộng Sản, có câu: “Tuy nhiên, vào đầu những năm 50 trở đi đã nảy mầm tai họa:

- Nhầm đồng minh giai đoạn là đồng minh chiến lược, trong khi Bắc Kinh từ đầu đã có ý đồ bành trướng của chủ nghĩa Ðại Hán.

- Ðường lối cách mạng uốn dần theo ý thức hệ cộng sản.”

Thế thì vào những năm 1950, 51 “Bác” của ông còn sống nhăn, còn đầy đủ sức khỏe và đóng vai trò quyết định, thì ai là kẻ gây ra những mầm tai họa này? Lúc đó “Bác” chỉ cần phán một câu, “Ðồng chí Stalin nói như vậy” là tất cả tất cả các cán bộ đảng viên phải im thin thít (ông Nguyễn Văn Trấn là một nhân chứng)! Thế thì ai là người làm cho “Ðường lối cách mạng uốn dần theo ý thức hệ cộng sản,” mà lại là thứ cộng sản kiểu Mao? Kẻ nào đã phạm lỗi “nhầm đồng minh giai đoạn là đồng minh chiến lược,” đưa hình ông Mao ông Xít (sau đổi thành ông Ma lăng cốp) lên bàn thờ bắt cả nước tôn sùng, thờ cao hơn hình ông bà ông vải? Ai là người lú lẫn không biết điều mà ông Tống Văn Công cho là ai cũng phải biết: “à trong khi Bắc Kinh từ đầu đã có ý đồ bành trướng của chủ nghĩa Ðại Hán?”

Thế thì “Bác” khôn ngoan sáng suốt hay là “Bác” cũng lú từ lâu rồi?

Ông Tống Văn Công còn đưa ra một giải pháp lạ lùng là chia đảng Cộng Sản thành hai đảng. Dân chúng Việt Nam sẽ được tự do bỏ phiếu chọn một trong hai đảng đó cho nắm quyền, còn đảng kia thua sẽ đóng vai đối lập. Tức là cái đảng hiện nay sẽ bầy ra trò bầu cử như chơi xóc đĩa, trong đó chẵn thì đảng cũng thắng, lẻ đảng cũng ăn! Nếu như thế thì tại sao không chia luôn ra làm ba đảng, bốn đảng cho nó có vẻ dân chủ hơn nữa? Ðọc những ý kiến như vậy thì chỉ muốn vỗ vai con người có Thiện Ý này, kêu lên: “Cụ lẫn rồi cụ ơi!”

Ngày xưa ông Nguyễn Khắc Viện đã thấy những tai hại mà đảng ông gây ra cho dân tộc, cho nên ông đã đề nghị đảng Cộng Sản trả lại quyền bầu chọn chính phủ cho dân Việt Nam, cho người khác cai trị, còn đảng của ông sẽ quay về lo việc đối lập, tranh đấu cho quyền lợi của dân. Ðề nghị của ông Nguyễn Khắc Viện rất không tưởng, nhưng cho thấy cái tâm lành của một nhà trí thức.

Có thể ông Tống Văn Công chủ trương chia đảng làm hai vì cũng “lẫn” như ông Nguyễn Minh Triết hồi ông sang Mỹ lần đầu. Hồi đó ông Triết bênh vực chế độ độc đảng ở Việt Nam, nói rằng mỗi nước có một tổ chức chính trị khác nhau. Ông còn hỏi tại sao nước Mỹ chọn chế độ “lưỡng đảng” chỉ có hai đảng thôi thì không bị ai chỉ trích hết? Ông Triết tưởng rằng luật lệ nước Mỹ chúng nó chỉ cho phép hai đảng chính trị hoạt động, còn thì cấm hết, không cho ai tranh giành với hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ! Trời đất ơi, dốt ơi là dốt! Ông không biết rằng mỗi lần bầu tổng thống ở Mỹ có hàng tá ứng cử viên, hàng chục đảng ra tranh giành! Hy vọng tháng tới này khi tới Mỹ gặp ông Obama ông Triết sẽ ít nói hơn, nếu không thì lại nhục cho cả nước Việt Nam lần nữa!

Nói chung, những suy nghĩ của một đảng viên lão thành như ông Tống Văn Công cũng luẩn quẩn như trong giới lãnh tụ đang cầm quyền. Chúng ta còn nhìn thấy tình trạng tinh thần hoảng loạn trong những tài liệu chính thức của đảng Cộng Sản Việt Nam về chủ trương đường lối của họ nữa. Tài liệu học tập các nghị quyết Hội Nghị Trung Ương 6, khóa 10, Nhà Xuất Bản Chính Trị Quốc Gia in năm 2008, trang 33 viết giải thích chủ trương kinh tế của đảng như thế này:

“Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là một nền kinh tế vừa tuân theo quy luật của kinh tế thị trường vừa chịu sự chi phối bởi các quy luật kinh tế của chủ nghĩa xã hội” (trích lại từ bức thư của ông Tống Văn Công, ông dẫn ra để chỉ trích là nó sai lầm).

Ðọc câu đó xong, chắc ông Tống Văn Công không cười. Nhưng chúng ta đọc thì có thể chợt thấy hiện ra hình ảnh một người bệnh tâm thần đi ngoài đường, lẩm nhẩm nói một mình: “Con bò là con bò. Con heo là con heo. Con bò heo vừa là con bò cũng vừa là con heo. Con heo bò vừa tuân theo quy luật của con bò mà cũng vừa chịu sự chi phối bởi các quy luật con heo! Mời quý khách xơi cho nó nóng!”

Ðó là sản phẩm của những đỉnh cao trí tuệ đang bị rữa từ bên trong, không còn tự làm chủ tâm thần mình nữa.

Khi những chất phế thải của loài thú tan rữa thì nó sinh ra các loại khí rất bất ổn, bất định. Có thể bốc cháy. Có thể nổ. Hình ảnh đó có gợi cho quý vị nghĩ tới tình trạng hiện nay của đảng Cộng Sản Việt Nam hay không?
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Xin đừng xuất cảng nền giáo dục XHCN
Bảo Ân
Trong mọi xã hội, giáo dục đóng một vai trò hết sức quan trọng: Là cơ sở đào luyện con người về nhân cách và tri thức. Tri thức hậu thuẫn cho nhân cách để tránh cho con người khỏi bị lợi dụng vào những mục đích bất thiện hoặc phi nhân bản, đồng thời nhân cách cũng trợ giúp biến tri thức của con người trở thành những phát minh, những công trình, hữu ích cho cuộc sống và cũng tạo môi trường cho con người gần gũi nhau hơn, bởi trong thế giới loài người dù phát triển ở mức độ nào, mọi sinh hoạt của họ đều có tính hổ tương lẫn nhau.

Chế độ cộng sản không coi giáo dục là nền tảng quan trọng của xã hội với mục tiêu đào luyên con người về cả nhân cách lẫn tri thức mà chỉ nhằm đào tạo họ thành những con người chỉ biết cúi đầu tuân phục, biết hô khẩu hiệu và biết dối trá một cách có hệ thống, biết đánh lừa người khác và biết đánh lừa luôn cả nhận thức của bản thân, vì lẽ này mà trong các xã hội do cộng sản cai trị không thể có những công dân đích thực mà chỉ có những thần dân như những con rối không hơn không kém mà thôi.

Từ năm 1945 ở miền Bắc và sau năm 1975 ở miền Nam, nhiều thầy cô giáo giàu lòng tự trọng đã mạnh dạn rời khỏi bục giảng, chấp nhận mưu sinh bằng tất cả mọi việc làm nặng nhọc và bần hèn nhất trong xã hội, bởi chính cái sỹ của những kẻ sỹ đã không cho phép họ phủ nhận chân lý, bóp méo sự thật, bôi đen hay tô hồng cho lịch sử để tào tạo thế hệ trẻ thành những con rối, những thần dân chỉ biết cúi đầu tuân phục. Một số khác vì sự sống còn của bản thân và gia đình mà chấp nhận uốn lưỡi mình để nói theo chủ trương đường lối của đảng dù từ sâu thẳm trong nhân thức của cá nhân, họ hiểu rằng họ đang dối trá, họ đang đánh lừa lương tri của họ và đang nói hoàn toàn dối trá với các thế hệ đàn em, thế hệ cháu con, bởi đảng và nhà nước đang cho họ bước đi trong một hành lang thật thấp, thật hẹp, họ không thể ngẩng đầu, cũng không thể quay trái, ngoảnh phải, bởi chính từ các buổi "quán triệt" nghị quyết của cấp trên đảng và nhà nước vẫn luôn nhắc nhở họ rằng "sách giáo khoa là pháp lệnh!"

Bởi thực tế này khiến gần 50 năm theo đảng, để đến những ngày tháng cuối đời, tướng Trần Độ phải ngậm ngùi và uất nghẹn nói ra những tâm tư của mình liên quan đến vấn nạn giáo dục ở quê nhà rằng: "Bộ máy quản lý xã hội đã thực hiện một nguyên tắc chuyên chính tàn bạo hơn tất cả các thứ chuyên chính. Đó là chuyên chính tư tưởng, được thực hiện bởi một đội ngũ nòng cốt là "những lưu manh tư tưởng". Nền chuyên chính tư tưởng định ra những điều luật tàn khốc để bóp nghẹt mọi suy nghĩ, mọi tiếng nói. Nó làm cho tất cả trí thức không dám suy nghĩ gì, hay ít nhất cũng không muốn suy nghĩ. Từ đó làm tê liệt toàn bộ đời sống tinh thần của dân tộc và biến họ trở thành những con rối, chỉ biết nhai như vẹt những nguyên lý bảo thủ giáo điều. Nó cũng làm cho nền giáo dục khô cứng, làm cho các hoạt động văn học nghệ thuật nghèo nàn, mất hết cơ hội sáng tạo và mất hết cảm hứng. Nó cũng làm cho các hoạt động khoa học bị khô cứng và nô dịch. Nó tạo ra và nó bắt buộc nhân dân phải có một tâm lý lệ thuộc đảng, lệ thuộc nhà nước, lệ thuộc cán bộ, và một tâm lý phải tuân phục, kể cả người cao nhất cũng phải tuân phục vào một cái gì bí và hiểm. Nói chung, nền chuyên chính tư tưởng hiện nay ở Việt Nam là một tổng hợp các tội ác ghê tởm của Tần Thủy Hoàng cùng các vua quan tàn bạo của Trung Hoa phong kiến, cộng với tội ác của các chế độ độc tài phát xít. Nó tàn phá cả một dân tộc, hủy hoại tinh anh của nhiều thế hệ. Suy cho cùng, đó là tội nặng nhất về sự vi phạm nhân quyền. Vì không phải nó chỉ xâm phạm đến quyền sống của con người, mà nó còn hủy hoại đời sống tinh thần, đời sống tư tưởng của cả một dân tộc. Nó đang làm hại cả một nòi giống".

Từ sau khi cướp chính quyền từ tay thực dân Pháp năm 1945 cũng như sau khi cưỡng chiếm hoàn toàn Miền Nam vào tháng 4 năm 1975, chính sách giáo dục của lãnh đạo Cộng sản Việt nam trên toàn cõi Việt Nam là nhằm mục tiêu phục vụ chính trị, nhằm đào tạo những thế hệ thần dân để tuân phục họ, trong khi dối trá ích kỷ với mọi người chung quanh. Giáo dục, chẵng những không giúp tuổi trẻ khai phá óc sáng tạo, trái lại chính sách của chế độ đã bịt mắt bịt tai bịt miệng tuổi trẻ và mọi người, đồng thời trừng phạt những ai suy nghĩ khác, làm khác, nói khác với những gì đảng dạy. Nói chung, để giữ vững vai trò độc tôn lãnh đạo của đảng, nhà nước cộng sản Việt nam đã và đang áp đặt lên xã hội một hệ thống giáo dục giáo điều cho cả người dạy và người học mà để tồn tại, để được trọng dụng thì cả người dạy và người học phải nhất nhất tuân theo cho dù những điều họ phải nghe, phải nói, phải nhìn là dối trá, là bịp bợm, là ngược hẳn với các quy luật của tự nhiên và trái hẵn với chân lý, với sự thật. Hệ lụy của hệ thống giáo dục giáo điều này mà theo tài liệu của một nhà giáo dục trong nước, tiến sỹ Bửu Sao thì:

"Hiện nay, trong cả nước, hệ giáo dục trung học, gồm cả hai bậc trung học cơ sở và trung học phổ thông có khoảng 17.600.000 học sinh. Đa số trong số hơn 17 triệu học sinh này có trình độ rất thấp về kiến thức xã hội, kỹ năng thực hành, và vận dụng kiến thức trong tinh thần sáng tạo. Đội ngũ giáo viên giáo sư trong tình trạng vừa thiếu lại vừa thừa, thiếu về số lượng và thừa vì trình độ thấp nên không sử dụng được bao nhiêu. Giáo dục trung học chuyên nghiệp, có 1.500.000 học sinh. Kiến thức chuyên nghiệp không cao so với đòi hỏi của thị trường lao động. Trong hằng chục năm qua đã đào tạo được khoảng 1.500.000 chuyên viên, nhưng khả năng của họ không thích ứng với nhu cầu việc làm, đã dẫn đến tình trạng "thầy không phải thầy mà thợ cũng chưa phải thợ", họ đành phải làm những công việc không phải là những gì mà họ đã học mấy năm trong trường. Giáo dục bậc đại học, có 1.030.000 sinh viên. Số lượng giáo sư vào khoảng 40.000 nhưng trình độ còn thấp, chỉ khoảng 45% có trình độ thạc sĩ mà đa số trong số này đều cao tuổi. Cơ sở vật chất nghèo nàn chất lượng giáo dục thấp. Tình trạng "học thì giả mà bằng thì thật" khá phổ biến trong xã hội Việt Nam ngày nay. Trong mấy chục năm qua, lãnh đạo đảng với lãnh đạo nhà nước xem Giáo sư với Phó Giáo sư đại học là "học hàm" do nhà nước phong, chớ không phải tước vị của người giảng dạy có trình độ đại học trở lên. Muốn được nhà nước phong chức "học hàm" này, cho dù có mấy cái bằng đại học đi nữa mà không có bằng chính trị do Học Viện Chính Trị Quốc Gia cấp, vẫn không được phong chức vị đó!".

Cũng theo Tiến sỹ Bửu Sao: "Việt nam hiện nay có khoảng 6.384 Giáo sư và Phó Giáo sư, mà một số đáng kể trong số này không đọc được một tờ báo ngoại ngữ. Thêm nữa, có khoảng 75% số nhân sỹ có học hàm giáo sư và phó giáo sư này lại không giảng dạy trong ngành giáo dục, trong khi ngành này chưa bao giờ đủ giáo sư. Hiện thời Việt nam đang có khoảng 20.000 thạc sĩ, và dự tính đến năm 2010 sẽ tăng lên 38.000 thạc sĩ và 15.000 tiến sĩ. Xem ra bằng cấp đại học và trên đại học khá nhiều, nhưng đa số là bằng cấp giả, hoặc những bằng cấp loại đặc cách, hữu nghị với vài năm đại học là có bằng tiến sĩ."

Một điển hình cho nhận định này đó là giáo sư Cao Xuân Hạo, khi làm phản biện cho một luận án tiến sĩ ngôn ngữ học dài 380 trang, trong tờ trình lên Bộ Giáo Dục, có đoạn ông viết: "Là tiến sỹ phải hơn một học sinh trung học. Nghiên cứu sinh này không bằng một học sinh lớp 3 thì làm sao trở thành một tiến sỹ?" Thế nhưng Bộ Giáo Dục vẫn cho nghiên cứu sinh này bảo vệ luận án, và Bộ cử 3 vị gọi là trong làng "ngôn ngữ học" vào Hội Đồng Phản Biện, kèm theo cái lệnh "bằng mọi cách phải giúp nghiên cứu sinh đó có bằng tiến sỹ!"

Khi nói về những trường hợp đặc cách, hữu nghị cho những học hàm, học vị này, tiến sỹ Dương Thiệu Tống, giảng dạy tại trường đại học Bách Khoa Hà Nội, mỉa mai rằng: "Thật ngược đời, khi có những người không có trình độ về chuyên môn lẫn đạo đức lại được cử vào Hội Đồng Phản Biện, còn người không có trình độ trung học lại có bằng tiến sĩ".

Cũng bởi chính sách giáo dục giáo điều nhằm đào tạo con người thành những con rối, những thần dân hơn là đào luyện công dân này mà xã hội Việt nam đã băng hoại đến mức không còn có thể băng hoại hơn được nữa, từ những bảo mẫu trong các nhà trẻ mẫu giáo dùng nhục hình với trẻ thơ ở Biên Hòa Đồng Nai, cho đến công an tra tấn học sinh lớp 4 ở Châu Thành Đồng Tháp vì bị giáo viên chủ nhiệm nghi học sinh này đánh cắp 47 ngàn đồng tiền quỹ lớp. Từ các học sinh ở Đông từ Liêm Hà nội và ở Cái Bè Tiền Giang đâm trọng thương thầy cô giáo ngay trong giờ học cho đến sinh viên ở Đại Học Nông Lâm, Sài gòn đâm chết thầy giáo, từ phó chủ nhiệm khoa ở trường cao đẳng phát thanh truyền hình ở Nam Hà gạ tình sinh viên để đổi diểm thi tốt nghiệp cho đến hiệu trưởng trường trung học Việt Lâm, Vị Xuyên Hà Giang đã mua trinh hàng chục học sinh tiểu học… và còn nhiều nhiều nữa, còn vô số nữa những hành vi vô đạo, trụy lạc, suy đồi của thầy cô giáo và sinh viên học sinh trong các cơ sơ giáo dục ở Việt nam cho thấy rằng lời tiên báo của cụ Tú Xương nay đã trở thành hiện thực: "Sự học ngày nay đã hỏng rồi….".

Với chính sách giáo dục bưng tai bịt mắt của đảng, những thầy cô giáo ở Việt nam không còn là những nhà mô phạm, những gương vàng thước ngọc như ngày xưa nữa, học sinh sinh viên cũng không còn là những sỹ tử, những thầy khóa dung dị mà đạo mạo của ngày nào nữa rồi và theo đó, những ý niệm mới cũng xuất hiện để thay cho những ý niệm xưa cũ lạc hậu như là tàn dư của nền giáo dục phong kiến, chẳng hạn, những nhà mô phạm ở Việt nam hiện nay được hiểu là những con người mà "ở bất cứ chổ mô cũng phạm" hay sư phạm là một ngành học đào tạo ra những con người "ăn như sư và ở như phạm"…

Ấy vậy mà gần đây đảng và nhà nước Việt nam có chủ trương xuất cảng giáo dục sang các nước phương tây nơi có đông đảo các cộng đồng người Việt đang sinh sống để thông qua dạy chữ mà dạy cho con em người Việt hải ngoại thành những thần dân chỉ biết tuân phục đảng và bác, biết dối trá, bịp bợm, biết đâm chém thầy cô giáo, biết dùng nhục hình với học sinh, biết gạ tình sinh viên để đổi lấy điểm thi, biết mua bán trinh tiết học sinh tiểu học. Hay bằng chính sách xuất cảng giáo dục này, đảng và nhà nước chỉ đơn thuần để vươn vòi bạch tuộc ra hải ngoại để truyền bá tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh để đào tạo con em người Việt hải ngoại thành những thần dân kệch cỡm biết dùng nhiều bút danh bút hiệu khác nhau để tự đánh bóng cho mình, biết tự tôn mình lên thành bậc "Cha già dân tộc", biết dùng xảo ngôn để có thể đi qua đời hàng trăm thiếu nữ, để có đến hàng chục đứa con rớt con rơi và rồi cũng biết cách để không thừa nhận chúng…

Ôi đảng ơi, chính sách giáo dục của đảng áp dụng trên đất nước này mấy chục năm qua đã làm băng hoại cả xã hội Việt nam này rồi, hãy có ngay những giải pháp nào thật hữu hiệu cho cái thực trạng đau thương này đi để còn kịp cứu lấy giống nòi. Con em của cộng đồng người Việt hải ngoại hiện biết rất rõ tại sao cha anh của họ đã phải bỏ nước ra đi và tại sao họ lại phải trở thành những người Mỹ người Pháp, người Úc… da vàng… Xin đừng cố gắng lằm băng hoại họ bằng chính sách giáo dục theo mô thức bịt mắt bưng tai của đảng nữa.

Huế những ngày đầu Thu 2009
Bảo Ân
caubennoc
Posts: 553
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:43 pm
Contact:

Post by caubennoc »

Giới trí thức và nhà nước Việt Nam
Trong tuần qua, sự kiện Viện Nghiên Cứu Phát Triển IDS công bố tự giải thể, đã khiến dư luận trong và ngòai nước rúng động, và các thông tấn xã ngọai quốc ào ạt đưa tin với nhiều tít lớn như “các chuyên gia VN giải thể để chỉ trích chính quyền” Cùng lúc đó, một tin khác cũng đựơc nhiều người chú ý là việc “đơn kiện Thủ Tướng” của LS Cù Huy Hà Vũ cuối cùng đã được tòa chánh án tối cao phúc đáp. Hai sự kiện này khiến những nhà phân tích bàn luận nhiều về phản ứng tuy có vẻ khác nhau nhưng lại cũng có điểm tương đồng của giới trí thức trước các hành vi mà họ cho là "trái với hiến pháp” của nhà nước Hà Nội. Hà Giang tìm hiểu những sự kiện liên quan và tường trình.

Mặc dù việc Viện Nghiên Cứu Phát Triển IDS thông báo tự giải thể vào cuối tuần qua để phản đối Quyết Định 97 do Thủ Tướng CHXHCNVN Nguyễn Tấn Dũng ban hành, chỉ được một tờ báo chính thức trong nước đăng tải một cách sơ sài, các cơ quan truyền thông hải ngọai và các diễn đàn điện tử đã dồn dập đưa tin, đăng tải một lọat các bài phỏng vấn nhiều thành viên của Viện, cũng như những bình luận và phản ứng của trí thức người Việt khắp nơi trên thế giới về sự kiện này.

Giới truyền thông quốc tế cũng nhanh chóng nhập cuộc với các tít lớn như: “Trí thức Việt Nam giải tán để chỉ trích hạn chế của chính quyền”, “Hội chuyên gia độc lập đầu tiên của Việt Nam giải tán để phản đối chính quyền bóp chặt tự do của trí thức.”

Tại sao Quyết Định 97 đã làm cho IDS phải đi đến quyết định tự giải thể?

Trả lời phóng viên Mặc Lâm của đài chúng tôi, TS Nguyễn Quang A cho biết:

“Quyết định đó cũng còn có điều sai phạm pháp luật khác mà chúng tôi nghĩ rằng những sai phạm đấy là rất nghiêm trọng.”

Ngay sau khi mới được ban hành, Quyết Định 97 đã bị nhiều nhà trí thức lớn tiếng chỉ trích và cho rằng đây là một quyết định nhằm bịt miệng cả nước.

Nhưng dư luận cho rằng chỉ sau khi Việt đến khi Nghiên Cứu Phát Triển IDS tuyên bố tự giải tán, người ta mới thấm thía hết thân phận của giới trí thức Việt Nam trong hòan cảnh đất nứơc hiện tại.

Trang mạng Bauxite ViệtNam Info tuyên bố sẽ đóng cửa website một ngày, để để tang cho Viện IDS, vào đúng ngày viện giải thể, và cũng là ngày Quyết Định 97 bắt đầu có hiệu lực.

Một thành viên của diễn đàn X-Café viết:

“QĐ 97 bắt buộc nếu có sáng kiến thì chỉ phản biện riêng với ban ngành là một điều khôi hài! Khôi hài vì NN cần đóng góp ý kiến của trí thức hơn hay lo sợ phản biện sẽ gây ảnh hưởng lớn trong xã hội làm Đảng và NN mất uy tín hơn? Điều cốt lõi của QĐ 97 vẫn là đảng và nhà nước rất sợ quần chúng hậu thuẫn cái gọi là “tổ chức dân sự” mà không dám nói trắng ra thôi! Còn chuyện cá nhân phản biện thì “nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ”. Chỉ cần xé lẻ từng cá nhân (như những người đấu tranh cho DC, TD) và đưa họ vào rọ là xong!”

Tại Úc, giáo sư Carl Thayer một chuyên gia chuyên nghiên cứu về tình hình Á Châu Thái Bình Dương, rất hành về tình hình phát biểu:

“Tổ chức xã hội dân sự tầm cỡ và độc lập duy nhất ở Việt Nam, giờ đây đã bị bóp chết, không còn nữa. Vào năm 2007, tôi đã có mặt để chứng kiến Tiến Sĩ Võ Đăng Doanh ký vào tài liệu thành lập tổ chức IDS, và sau đó cũng đã gặp Tiến Sĩ Nguyễn Quang A. Sinh họat của hội IDS, cũng tương tự như các think tanks khác của mọi quốc gia tân tiến, là một huyết mạch luân lưu những kết quả nghiên cứu, nhận định, phê bình và đề nghị quan trọng cho chính quyền. Tiếng nói của không nhằm lật đổ một chế độ, mà khiến chính quyền phải biện bạch cho những chính sách quốc gia, và phải xét đến những tư tưởng mới. Dập tắt tiếng nói của giới trí thức là Việt Nam đã tự làm thui chột mình!”

Ông nói thêm:

“Từ đây, Việt Nam sẽ bị tổn hại nặng nề, vì nhà nứơc sẽ thiếu trầm trọng những quan điểm khác biệt, mặc dù có thể gây nên tranh cãi, nhưng vẫn giúp cho chính quyền thấu hiểu biết mọi mặt của nhiều vấn đề, và đưa ra những chính sách khôn ngoan trong việc hội nhập với tòan cầu. Việc ngăn cấm các nhà trí thức lên tiếng, gạt bỏ những đóng góp của họ là một bước đi lùi của Việt Nam và sẽ khiến Việt Nam dần dà không còn cạnh tranh hữu hiệu được nữa với thế giới. ”

Một thành viên khác của diễn đàn X-café lại có một cái nhìn lạc quan hơn. Ông viết:

“Cái quyết định 97 này đã phản ánh cái tư duy không quản lý được là cấm đã len lỏi lên đến cấp Trung ương. Trước đây một số địa phương như Hà nội, Saigon cũng đã đề nghị một số qui định cấm liên quan đến Karaoke, giao thông .v.v... và đã bị phản đối cho nên thôi không thực hiện . Mong rằng hành động của mấy bác IDS sẽ có tác động tích cực tạo sự thay đổi cái tư duy "Không quản lý được là cấm" mà tôi nói ở trên.”

Nhưng không phải ai cũng chia xẻ cái nhìn lạc quan là việc tự giải thể của Viện Nghiên Cứu Phát Triển IDS may ra sẽ thay đổi được tư duy của nhà nứơc Hà Nội với kết quả là Nghị Quyết 97 sẽ được rút lại.

Nhiều nhà phân tích đã cho rằng trong việc tự giải thể, mục đích chính của viện IDS, thật ra nhằm đánh động công luận thế giới về những vi phạm hiến pháp Việt Nam của nhà nước, tương tự như việc LS Cù Huy Hà Vũ khởi đơn kiện Thủ Tướng.

Nhà văn Tô Hải viết trong blog của ông:

“Các bạn cùng tớ ‘hãy đợi đấy’ xem 16 cây đũa này, khi bị tháo rời sẽ múa ra sao rồi hãy kết luận là họ ngây thơ? hay là bị đánh lừa? Hay là họ cao tay ấn, muốn tạo điều kiện để đưa ra dư luận thế giới một hành động phản dân chủ chưa từng thấy đối với trí thức Việt Nam.”

Tại sao dư luận lại cho rằng việc tự giải thể của viện IDS và việc “đi kiện thủ tướng” của LS Cù Huy Hà Vũ là những sự kiện liên quan và là hai biện pháp khác nhau để cùng giải quyết một vấn đề?

Muốn trả lời câu hỏi này, người ta phải nắm vững diễn tiến của lá đơn kiện Thủ Tướng hi hữu kia:

Vào trung tuần tháng Sáu, LS Cù Huy Hà Vũ làm đã dư luận hết sức xôn xao khi ông nộp đơn kiện Thủ Tướng CHXHCVN vi phạm hiến pháp và luật pháp VN trong việc phê chuẩn dự án khai thác Bô Xít tại Tây Nguyên.

Và sau khi đơn của ông bị Tòa Án Nhân Dân Hà Nội trả lại, như đã dự đóan, thì vào ngày 3 tháng Bẩy, LS Cù Huy Hà Vũ lại làm một đơn kiện khác, với cùng một nội dung, nhưng lần này gửi cho chánh án Tòa Án Nhân Dân tối cao, là ông Trương Hòa Bình.

Dự đóan trước là đơn này của ông có nhiều phần l bị Tòa Án Tối Cao cho chìm xuồng, LS Cù Huy Hà Vũ đã dù g công luận để ép chánh án Trương Hòa Bình phải lên tiếng. Ông phát biểu:

“Trong đề nghị ngày 28 tháng Tám vừa qua tôi đã yêu cầu rất rõ là chánh án phải thụ lý cái đơn khởi kiện Thủ Tứơng của tôi, nếu như muốn cái nhà nước pháp quyền này còn tồn tại, Và trong cái buổi phỏng vấn với cho trang mạng Beauxite Việt Nam ngày 28 tháng Tám, tôi khẳng định rằng, chánh án Trương Hòa Bình không thể im lặng mãi được, vì chánh án tòa tối cao, mà cố tình vi phạm pháp luật tố tụng, là sát hại nhà nứơc pháp quyền Việt Nam, mà vị này là đại diện, đồng nghĩa với tự sát chính trị. Có thể nói là tôi lên án rất mạnh mẽ cái thái độ im lặng của chánh án Tòa Án Tối Cao Trương Hòa Bình.”

Quyết tâm của LS Cù Huy Hà Vũ đã khiến Tòa Án Tối Cao không thể giữ được mãi thái độ im lặng, mà cuối cùng đã phải gửi giấy mời ông lên làm việc.

So sánh hai sự kiện trên, Giáo Sư Carl Thayer phân tích rằng, việc thưa kiện Thủ Tướng trong một quốc gia không có một nền Tư Pháp độc lập chắc chắn sẽ không mang lại chiến thắng về mặt luật pháp cho người đi kiện.

Nhưng ông cho rằng về mặt công luận, LS Cù Huy Hà Vũ sẽ gây được những tiếng vang đáng kể, vì chắc chắn vụ kiện sẽ không đựơc mang ra xử. Nhưng khi Tòa Án Tối Cao đưa ra bất cứ một lời giải thích nào đó về việc không cho vụ kiện này được thụ lý, thì cũng sẽ bị công luận đặt ra những câu hỏi khó trả lời về những phê phán liên quan đến một “nhà nước pháp quyền” Việt Nam.

Ông nói:

“Vụ đi kiện sẽ không mang đến kết quả tại tòa án, nhưng sẽ thách thức được chính quyền, và đặt nhà nước vào tình trạng một là phải biện minh cho chính sách của mình, hai là phải chịu sự phê phán của công luận quốc tế.”

Trở lại sự việc tự giải thể của Viện Nghiên Cứu Phát Triển IDS, Giáo Sư Carl Thayer nhận định rằng “tự giải thể” là một biện pháp “đấu tranh chính trị”, để mang ra công luận thế giới sự hạn chế tiếng nói của người trí thức một cách không che dấu, một hành vi mà ông cho là vi phạm hiến pháp của chính Việt Nam. Ông nói:

“Chúng ta phải nhìn sự kiện này như một chiến thuật trong việc “đấu tranh chính trị”, cũng như việc thành lập viện trước đây, cũng phải đựơc xem như một chiến thuật đấu tranh, với mục đích mang kiến thức đóng góp cho nhà nước, góp phần phát triển quốc gia. Theo tôi, lẽ ra nhà nước Hà Nội phải biết hoan nghênh những ý kiến của họ. Ngược lại, nhà nước VN đã đưa ra cả một quyết định hòan tòan trái với hiến pháp Việt Nam để bóp nghẹn tiếng nói của giới trí thức."

Giáo sư Carl Thayer nhận định tiếp:

“Tôi đựơc biết rằng, Viện Nghiên Cứu Phát Triển IDS có thể cũng sẽ đưa việc này ra tòa. Ai cũng có thể bắt đầu từ hiến pháp VN, và lập luận rằng quyết định 97 vi phạm quyền tự do phát biểu của người dân, đã được hiến pháp Việt Nam công nhận.”

Hiện giờ dư luận vẫn chưa ngớt xôn xao về việc viện IDS tự giải thể. Cũng như không ai biết chuyện gì sẽ xẩy ra khi LS Cù Huy Hà Vũ lên phòng tiếp dân của Tòa Án để làm việc.

Cũng không ai biết liệu rồi Viện IDS sẽ có đưa Quyết Định 97 ra tòa hay không? Và nếu có thì dư luận cũng không mong đợi sẽ có kết quả cụ thể gì, từ một tòa án mà họ cho là “không được độc lập” của Việt Nam.

Nhưng người ta rất tin tưởng vào sự công minh của “tòa án công luận”!

Chương trình Câu Chuyện Hàng Tuần đến đây xin tạm kết thúc, Hà Giang hẹn gặp lại quý vị trong chương trình kỳ tới, mong quý vị đón theo dõi…

Hà Giang, RFA
9/23/2009
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Khi Dân Thành Du Kích
Vi Anh
CS Hà nội vừa mở một cuộc bắt bớ hàng loạt những nhà báo, những người viết nhựt ký trên mạng (blogger) đề cập đến việc TC xâm lấn biển, đảo của VN. Phong trào viết blog chánh trị ở nước nhà VN là hình ảnh tiêu biểu nhân dân "đồng khởi" đứng lên dùng du kích chiến trở thành du kích chống lại nhà cầm quyền phản dân hại nước.

CS Hà nội trong chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ khoa trương là những người vận dụng thành công qui luật chiến tranh du kích và chiến tranh nhân dân. Thời đó CS Hà nội vận dụng được nhờ phương tiện truyền thông còn hạn chế. CS Hà nội có thể dùng tuyên truyền dối gạt và dùng khủng bố để củng cố sự dối gạt. Như tuyên truyền thiết vận xa M113 của Mỹ là bằng carton. Nhưng nếu ai lại gần xe này để gỏ thử coi bằng gì thì tối hôm đó CS sẽ bắt cóc đem ra đường làng, ghim bản án và tử hình về tội "đặc tình" của địch. Tuyên truyền thiếu niên Lê văn Tám tẩm xăng tự thiêu cháy như ngọn đuốc mà còn có thể chạy vào làm nổ kho đạn, một chuyện phi lý về khoa học không thể tưởng được mà kỷ luật đảng đã khủng bố làm câm miệng tất cả, kể cả người đưa ra hình ảnh tuyên truyền này, người ấy gần chết mới tự thú.

Nhưng bây giờ đã khác, hoàn toàn khác với sự tiến bộ vượt bực của khoa học kỹ thuật tin học; tin đi nhanh như ánh sáng, trái đất trở thành xóm nhà, các nưóc những người láng giềng. Tiến bộâ khoa học kỹ thuật này đã giải phóng con người rất nhiều. Màn sắùt, màn tre, tường lửa đều bị xuyên thủng. Thế mà bộ máy tuyên truyền của Đảng CS Hà nội vẫn còn chậm tiến và lạc hậu, viện 1001 lý do an ninh, ngoan cố bưng bít thông tin và nghị luận trên Internet. Cho nên CS Hà nội rơi vào thế " đổi đời" đi ngược thời gian, thoái hậu, thoái hoá so với đà tiến hoá và sự hiểu biết của Con Người.

Do vậy CS Hà nội sa lầy vào cuộc chiến du kích của những người dân Việt trên mạng. Theo báo The Economist, VN là một nước mà tinh thần yêu tổ quốc rất nồng nàn. Nhà cầm quyền CS Hà nội là chế độ bị tổ chức nhân quyền, báo chí thế giới liệt vào 1 trong 12 chế độ kẻ thù của Intenet. VN có một dân số 84 triệu người trong đó có 21 triệu người có Internet theo con số chánh thức của nhà cầm quyền, con số thực người xài ké, xài nhờ ở các cơ sở có Internet, như café Internet phải cao hơn nhiều. Trong số người có Internet có từ 1 triệu đến 4 triệu người viết blog. Theo nhận định của nhiều báo Pháp, đại đa số những blogger không phải là những người hoạt động chính trị. Nhưng từ biến động TC xâm chiếm hải đảo và Biển Đông, vào Cao Nguyên Trung Việt khai thác bauxite, thì nhiều blog chánh trị ra đời. Phong trào blog chánh trị bùng nổ. CS Hà nội quen thói kiểm soát báo chí một cách chặt chẽ nhưng dễ dàng, trước sự bùng nổ của blog, cảm thấy hụt hẫng, lo sợ và bối rối.

Và thói quen kiểm soát và trấn áp của CS Hà nội đã thành bản tánh thư hai. 15 ông hội tề đầu óc bình vôi trong Bộ chánh trị, đa số là hồi dương liệt lão cứ bổn cũ soạn lại: cấm và cấm, bắt và bắùt. Theo lịnh của Bộ Chánh Trị, Cục Kỹ Thuật Nghiệp Vụ 1 thuộc Tổng Cục An Ninh của Bộ Công An VNCS là cơ quan thực hiện. Cục này mới đây đã tống đạt cho 10 nhà cung cấp dịch vụ Internet ở Việt Nam, yêu cầu ngăn chặn thêm 8 website có "nội dung xấu", để gọi là "đảm bảo yêu cầu công tác an ninh và đấu tranh với hoạt động tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước trên lĩnh vực Internet".

Nhiều dấu chỉ cho thấy CS Hà nội bị phản tác dụng, "gậy ông đập lưng ông ". CS Hà nội chỉ bắt được một số người nổi trội. Sức ép càng nhiều sức bật càng cao. Người này ngã người kia đứng lên. Tức CS Hà nội "đồ khôn nhà dạy chợ", sợ quân Tàu sẽ vào phong trào blog chánh trị. VN có tới từ 1 đến 4 triệu người viết blog, chớ không phải ít. Chim trời cá nước trên không gian ão cyberspace biết đâu mà tìm. Không gian ảo của Internet, hàng triệu du kích Tin học, blogger vô hình, vô tướng, cả trăm bí danh. Cuộc chiến du kích blogger trở thành cuộc chiến tranh nhân dân, không công an cảnh sát nào đủ người để theo dõi.

CS Hà nội thực sự đã sa lầy trong cuộc chiến du kích bloggers. Đây là cuộc chiến tranh nhân dân vì chánh nghĩa có tính quốc gia dân tộc, liên quan đến tinh thần quốc gia dân tộc, chủ quyền, lãnh thổ, danh dự quốc gia dân tộc và trách nhiệm của nhân dân. Quốc gia hưng vong thất phu hữu trách; giặc đến nhà đàn bà cũng đánh, là tinh thần bất khuất của nhân dân VN đã làm cho ngưòi Việt đánh giặc tàu 1000 năm trong lịch sử 4000 năm.
CS Hà nội từ những người du kích thời chốâng Pháp, chống Mỹ nay trở thành những nhà cầm quyền. Những người du kích giỏi đào hầm mau, chém vè lẹ, bắn sẻ nhanh trong chiến tranh ít khi thành những người cầm quyền giỏi. Nhà cầm quyền CS Hà nội đương đại trở thành kẻ địch đứng ngoài ánh sáng bị người dân du kích trong bóng tối đợi lúc nào chắc ăn, lúc địch mệt, ta khoẻ thì đánh. Qui luật chiến tranh nhân dân chống nhà cầm quyền thực dân cũ, thực dân mới hay tự thực dân như CS Hà nội, nhà cầm quyền nếu không diệt được phong trào nhân dân trong thời gia ngắn nhút thì nhà cầm quyền sẽ sa lầy và phong trào nhân dân sẽ trưởng thành và thắng lợi trên điêu tàn sụp đổ của nhà cầm quyền ngoại xâm hay nội xâm như CS Hà nội.

Dân blogger chống đối CS Hà nội để cho TC vào khai thác bô-xit tại Tây Nguyên và chiếm hai đảo Hoàng sa và Trường sa và Biển Đông.
Chính những người CS trẻ ở Cuba đã thấy mối nguy của chiến tranh du kích này của nhân dân có thề làm sụp chế độ đã kêu gọi Đảng Nhà Nước Cuba bãi bỏ. Theo đài RFI của Pháp , lớp trẻ CS ở Cuba, Đoàn Thanh Niên CS Cuba phản đối những lãnh tụ lão làng của CS Cuba đã kiểm duyệt thông tin. Báo Juventud Rebelde, tiếng nói của Đoàn thanh niên cộng sản Cuba tố cáo Đảng Cộng sản, ban văn hóa tư tưởng trung ương, kiểm soát mọi bài viết, mọi báo chí kể cả báo Gramma là tiếng nói của Đảng. Và Đoàn Thanh Niên CS yêu cầu Đảng phải tự kiểm những ám ảnh bịnh hoạn của mình. Đó là "ám ảnh một cách bệnh hoạn lúc nào cũng muốn giám sát hình ảnh đất nước, xí nghiệp và hoạt động các bộ "và cái bịnh ám ảnh "tâm thần thấy đâu cũng có kẻ thù " xuất phát từ một " thiểu số quan chức sợ mất chổ làm, sợ mất đặc quyền đặc lợi". Xu hướng kiểm duyệt thông tin cũng phát xuất từ suy nghĩ sai lầm cho rằng " trình bày công khai các khuyết điểm là làm hại cho cách mạng". Và do vậy "sự mù quáng này, do bọn cơ hội chủ nghĩa và lười biếng trong đảng chấp nhận, tạo ảo tưởng là mọi việc đều tốt. Hậu quả là thực tế dũng mãnh chứng minh ngược lại ". Các chế độ xã hội chủ nghĩa tại Đông Âu biến mất bởi vì họ đã đánh mất cặp kính soi cho phép họ nhìn thẳng vào thực tại, họ cũng đánh mất cả địa bàn cho phép họ đi đúng đường. Đây là một bài học không nên xao lãng. Và Đoàn Thanh Niên CS Cuba đi đến kết luận qua bài báo "Kiểm duyệt thông tin sẽ làm sụp đổ chế độ ".

Tiếng nói của Đoàn Thanh Niên CS Cuba thức thời và thực dụng. Nhưng bất hạnh cho VN và Cuba đang có những người lãnh tụ CS lão làng vừa có đầu óc bình vôi đặc sệt CS, vừa có thái độ và hành động bất nhân, bất nghĩa đối với chính đồng bào của mình.

VI ANH
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Không có chó bắt mèo ăn cứt


Đầu năm 2011 sẽ diễn ra Đại hội 11 của Đảng cộng sản Việt Nam. Mối quan tâm của nhiều người là ai sẽ là Tổng bí thư của Đảng cộng sản Việt Nam vào Đại hội 11 đó? Ở một nước độc tài 1 đảng như ở nước ta, thì Tổng bí thư của Đảng cầm quyền là to nhất, to hơn Thủ tướng và Chủ tịch nước. Chức vụ đó sẽ có ảnh hưởng quan trọng đến đường lối đối nội và đối ngoại của VN. Hiện nay có 3 ứng cử viên đang muốn ganh đua vào chức vụ này, đó là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Thường trực Ban bí thư Trương Tấn Sang, và Trưởng ban Tổ chức Trung ương Hồ Đức Việt.

Cái mạnh của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, là ông ấy là Thủ tướng, chức vụ quan trọng thứ hai của đất nước sau Tổng bí thư. Nhưng cái yếu của ông ấy là ông ấy không có thực tài, và đang bị nhiều dư luận về gia đình giàu có nứt đố đổ vách của con gái, và của em trai. Vây cánh của ông ấy cũng nhiều, nhưng chủ yếu là giới kinh doanh. Ông Dũng đã từng làm Thứ trưởng Bộ công an, nhưng chỉ hơn 1 năm, và ông ấy cũng không có nhiều thủ đoạn để kéo bè cánh, nên đàn em trong ngành công an đầy quyền lực cũng không nhiều. Phe cánh của ông ấy trong quân đội cũng hầu như không có ai, trừ Nguyễn Chí Vịnh, Tổng cục trưởng, Tổng cục 2. Nhiều người nói chỉ cần Nguyễn Chí Vịnh làm vây cánh cho ông Dũng là đủ để giành lấy chức Tổng bí thư. Nhưng hãy chờ xem.

Trong Bộ chính trị, ông Dũng cũng bị nhiều người ghét. Ông Tổng bí thư Nông Đức Mạnh thù ông Dũng vụ PMU18, vì ông Dũng định làm vụ PMU18 để đánh ông Mạnh, vì con rể ông Mạnh làm việc ở đó. Ông Phạm Gia Khiêm, Bộ trưởng Ngoại giao, và ông Nguyễn Sinh Hùng, Phó thủ tướng Thường trực cũng ghét ông DŨng, vì ông Dũng muốn bẩy 2 ông này sang Quốc Hội, để gài ông Nguyễn Thiện Nhân làm Bộ trưởng Ngoại Giao, và gài ông Hoàng Trung Hải vào thay ông Sinh Hùng. Âm mưu này của ông Dũng đến nay đã thất bại thảm hại, ông Nhân không vào được Bộ chính trị, mà là ông Tô Huy Rứa, vây cánh của ông Hồ Đức Việt. Ông Khiêm, ông Hùng vẫn tại vị.

Cái mạnh của ông Trương Tấn Sang là chức Thường trực Tổng bí thư, giống như chức Phó Tổng bí thư. Ông Sang cùng tuổi với ông Nguyễn Tấn Dũng, sinh năm 1949. Cái yếu của ông Sang là ông ấy không có sự ủng hộ sâu trong Đảng. Người ta biết ống Sang từng có nhiều mâu thuẫn với ông Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, khi ông Sang còn làm Bí thư Sài Gòn. Ông Triết làm Bí thư tính Sông Bé từ năm 1991 đến 1996. Ông Triết ủng hộ kinh tế tư nhân, nhất là công ty của Dũng lò vôi, và ông cũng ủng hộ công ty nước ngoài đầu tư vào Sông Bé, nên kinh tế Sông Bé phát triển rất nhanh.

Ông Triết sinh năm 1942, năm 1996 ông Triết 54 tuổi, được dự kiến sẽ làm Thủ tướng thay ông Kiệt. Nhưng Sông Bé chỉ là tỉnh nhỏ, nên Bộ chính trị dự kiến cho ông Triết về làm Bí thư Sài Gòn, thay ông Sang, để làm bước đệm trước khi làm Thủ tướng. Tháng 1 năm 1997, ông Triết được điều về làm Phó bí thư Sài Gòn, chờ ông Sang (khi đó là Bí thư Sài Gòn) ra Hà Nội, để ông Triết làm Bí thư Sài Gòn. Nhưng ông Sang nhất định không ra Hà Nội. Chờ không được, nên đến tháng 12 năm 1997, ông Triết phải ra Trung ương làm chức Trưởng ban Dân vận Trung ương, để chờ Trung ương giải quyết vấn đề ông Sang.

Năm 1997, ông Lê Khả Phiêu lên làm Tổng bí thư, ông Phiêu quyết tâm gải quyết vấn đề ông Sang, yêu cầu ông Sang phải ra Hà Nội, nếu không sẽ buộc về hưu non. Cuối cùng, đầu năm 2000, ông Sang mới chịu ra Hà Nội, làm chức Trưởng ban Kinh tế trung ương, một chức vụ “ngồi chơi xơi nước”, không có thực quyền. Tháng 1 năm 2000, ông Triết mới về Sài Gòn làm Bí thư được. Chậm mất 3 năm, và nhất là mất đi cơ hội làm Thủ tướng. Ông Triết đành làm chức Bí thư Sài Gòn tới năm 2006, để được bầu làm chức Chủ tịch nước. Nếu ông Sang không ghìm chân ông Triết mất 3 năm đó, thì bây giờ chức Tổng bí thư từ năm đã vào tay ông Triết rồi.

Như vậy quan hệ giữa ông Triết và ông Sang không thể gọi là tốt đẹp được. Ông Sang cũng rất may mắn, khi từ chức Trưởng ban Kinh tế trung ương được vào chức Thường trực Ban bí thư, do việc đấu đá nội bộ hồi Đại hội 10 năm 2006, nên ông Sang ở giữa được lợi.

Bây giờ ông Sang nhân cơ hội năm chức Thường trực Ban bí thư đầy quyền lực, và ông cũng còn trẻ, nên rất hang hái tìm cách nắm chức Tổng bí thư vào năm 2011.

Với ông Hồ Đức Việt, chức Trưởng Ban tổ chức Trung ương ngày nay không còn quyền lực như trước nữa. Ông Việt cũng sinh năm 1944, nhiều hơn ông Sang và ông Dũng 5 tuổi. Nhưng ông Việt có thuận lợi là người miền Bắc, lại quê hương Bác Hồ, và là con ông Hồ Tùng Mậu, nhà cách mạng lão thành cùng thời với Bác Hồ. Cái yếu nhất của ông Việt là tuổi.

Nếu Tổng bí thư là người miền Nam, thì chắc chắn Thủ tướng phải là người miền Bắc, và ngược lại. Chủ tịch nước thì thường là miền Trung, nhưng cũng có thể tùy tình hình, vì chức vụ này không quan trọng lắm.

Nhưng nếu vào Đại hội 11 năm 2011, chức vụ Chủ tịch nước được gộp vào chức Tổng bí thư, tức Tổng bí thư sẽ kiêm Chủ tịch nước, thì chắc chắn Thủ tướng, và Tổng bí thư phải là một người miền Bắc, một người miền Nam.

Nhưng nếu 3 ông nói trên đánh nhau kịch liệt để tranh chức Tổng bí thư, thì có thể người ở giữa sẽ lên, đó là ông Lê Hồng Anh, Bộ trưởng Công an, hiền lành, ít nói, và không tham gia đấu đá với ai cả. Khi đó thì Thủ tướng chắc chắn phải là một người miền Bắc, và rất có thể sẽ là ông Hoàng Trung Hải, sinh năm 1959. Ông Hải trẻ nhất, cũng hiền lành ít nói, và không tham gia đấu đá với ai cả.

Nếu 2 con người hiền lành, trong sạch đó lên lãnh đạo đất nước ta, thì quả là một diễm phúc lớn cho nước Việt Nam ta.

Hãy chờ xem.
http://www.x-cafevn.org/node/2226
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Thẹn nghìn thu rửa sạch lầu lầu
Thursday, October 01, 2009

Image
Thế cờ, khi kỳ thủ Bích Ngọc của Việt Nam xin huề, trong khi đang thắng thế kỳ thủ Hoàng Thiến của Trung Quốc.

Ngô Nhân Dụng

Ðoạn cuối bài Bình Ngô Ðại Cáo, một “bản tuyên ngôn độc lập” vào đầu thế kỷ 15 của nước ta, có hai câu, “Nền vạn thế xây nên chăn chắn - Thẹn nghìn thu rửa sạch lầu lầu” (Theo bản dịch trong Việt Nam Sử Lược; dịch sát nguyên văn là, 'Ðể mở nền thái bình vạn năm - Ðể rửa nỗi sỉ nhục ngàn đời'). Nỗi nhục ngàn thu nói đây là mối nhục bị nhà Minh đô hộ, bóc lột, nô lệ hóa; và tàn ác nhất là tịch thu hết sách sử, điển chương của nước ta đem về Kim Lăng để tính xóa sạch nền văn hóa Việt. May mắn là chế độ nhà Minh chỉ có 20 năm đã chấm dứt. Nếu chẳng may cuộc cai trị này kéo dài vài trăm năm thì không biết bây giờ còn tiếng nói Việt Nam, văn hóa Việt Nam nữa hay không. Nhưng mối nhục ngàn thu còn lâu dài hơn 20 năm thuộc Minh. Nước ta rất nhỏ nằm bên cạnh nước Trung Hoa quá lớn. Các vua chúa Trung Hoa từ hai ngàn năm trước vẫn coi Việt Nam chỉ là một nước phiên thuộc. Ngay cả khi dân ta đã giành được quyền tự chủ, vua nước Tầu vẫn gọi vua nước ta là An Nam Quốc Vương. Tên An Nam Ðô Hộ Phủ đặt ra khi nhà Ðường cai trị nước ta, họ vẫn dùng tên đó thì chúng ta vẫn còn nhớ một nỗi Thẹn Ngàn Thu. Rồi lâu lâu các vua quan bên Tầu vẫn đem quân qua “dạy cho một bài học,” như trong những năm 1408, 1788 và 1979, đó cũng là một “mối thẹn ngàn thu” cho người dân Việt.

Ðể rửa sạch mối nhục ngàn thu đó, ngay trong phần đầu Bình Ngô Ðại Cáo, Lê Thái Tổ đã tự gọi tên nước ta là “Ðại Việt,” trong tuyên cáo rõ ràng: “Duy ngã Ðại Việt chi quốc, thực vi văn hiến chi bang.” Ðó là một thái độ cứng rắn chứng tỏ tinh thần bất khuất không sợ hãi của Vua Lê và giới sĩ phu Việt Nam thời đó, mà Nguyễn Trãi là người tiêu biểu. Ngẩng mặt lên đối mặt với “thiên triều” mà không run sợ, đó là thái độ mà dân tộc Việt Nam đã lựa chọn.

Vì vậy, trong cả ngàn năm nay, người Việt Nam nào cũng ý thức là khi đối đãi với người Trung Quốc chúng ta phải giữ thể diện quốc gia. Trong văn học dân gian, từ Trạng nguyên thật Mạc Ðỉnh Chi, đến các nhân vật Trạng Quỳnh, Phi Lạc, được yêu mến, kính trọng vì họ biết bảo vệ danh dự của người Việt khi gặp người Hán. Nhưng người Việt Nam hiện nay có còn lo giữ thể diện khi giao thiệp với người Trung Hoa nữa hay không?

Tuần trước trong mục này có nhắc tới cuộc tranh giải vô địch Cờ Vua Phụ Nữ, mà bản tin trên một nhật báo ở Mỹ nói đấu thủ Việt Nam đã xin hòa với kỳ thủ Trung Quốc “một cách bất bình thường,” đã giúp cho đội tuyển Trung Quốc chiếm chức vô địch qua mặt Nga. Khi kể chuyện đó, chúng tôi tỏ ý không tin rằng phóng viên tờ báo đó nói đúng sự thật. Vì không lẽ lại có người Việt Nam đi bán độ giữa đấu trường quốc tế trong một giải thưởng quan trọng, một cách lộ liễu, có thể làm mất cả thể diện dân Việt Nam như vậy. Ðáng nhẽ thắng mà lại chịu hòa là gian dối, gian dối trước công chúng, gian dối đối với quốc gia mà mình là đại diện, gian dối đối với cả môn thể thao mà hàng trăm triệu người khắp thế giới say mê. Chúng tôi không tin có một kỳ thủ Việt Nam nào lại bán rẻ lương tâm như vậy.Nhưng một vị độc giả đã gửi cho chúng tôi hai địa chỉ mạng lưới để xác nhận câu chuyện trên. Chúng tôi xin cảm ơn người bạn quý đó, vì đã giải cho tôi một điều nghi hoặc. Một địa chỉ trên mạng lưới của dân đánh Cờ Vua ChessBaseNews.com xác nhận như bản tin trên báo New York Times, là ván cờ “xin hòa” đó rất khả nghi.

Bản tin ngày 14 Tháng Chín, năm 2009, của ChessBase tường thuật kết quả cuộc tranh giải tại thành phố Ngân Châu (YinXhou) tỉnh Chiết Giang. Ðội Trung Quốc về nhất, đội Việt Nam về hạng 10, tức là hạng chót. Trung Quốc chiếm huy chương vàng vì nhờ đã đấu huề với Việt Nam, vì thế đã hơn được đội Nga (huy chương bạc) nửa điểm, hơn đội Ukraine (huy chương đồng) một điểm rưỡi. Nếu thua Việt Nam một trận thôi, thì Trung Quốc sẽ đứng sau Nga. Vào đoạn chót của cuộc đấu, bài tường thuật của ChessBase News viết: “Ðội Trung Quốc đấu với Việt Nam, đội này đứng hạng chót nhưng có vẻ thắng thế trong hai bàn đối với đội đứng đầu. Tuy nhiên, cả hai ván cờ bỗng tự dưng được đồng ý thủ hòa, khiến người ta nghi ngờ có vụ bán độ - match fixing.” Xin dẫn nguyên văn như sau để phòng khi chúng tôi có thể dịch sai:

“In the final round the Chinese team played Vietnam, which was in last position but appeared to be winning two games against the leaders. However, both were suddenly agreed as drawn, which led to suspicion of match fixing.”

Mạng lưới của ChessBase cũng tường thuật nhận xét của Mark Crowther về các trận đấu trong vòng chót này.” Trung Quốc gặp Việt Nam trong vòng chót và huề 2- 2 nhưng đây là trận đấu gay go với những ván cờ kéo dài. Nhưng có những câu hỏi đặt ra phải chăng đây là những ván cờ đã được dàn xếp kết quả huề từ trước. Ðội Việt Nam có thế mạnh trong ván thứ nhất và đang thắng thế trong ván thứ tư vào lúc hai bên thỏa thuận thủ huề. Nhờ thế mà Trung Quốc qua mặt Nga sau trận huề này.” (Xin dẫn nguyên văn: Although there have now been questions asked as to whether the match was fixed as a draw in advance. Vietnam had a big advantage on board one and a winning advantage on board four when the draws were agreed.)

Quý vị yêu môn cờ Vua có thể vào mạng lưới trên để chính mình xét đoán. Vì trong đó có in cả diễn tiến trận đấu giữa cô Phạm Bích Ngọc và cô Huang Qian (tên viết chữ Hán, tra trong mạng lưới Bách Ðộ baidu.com thì tên có thể đọc theo lối Hán Việt là Hoàng Thiến; chữ Thiến cũng đọc là Tây, đọc là Thiến, phiên âm qian, khi gọi tên một loài cỏ).

Quý vị có thể theo dõi từng nước của hai đấu thủ suốt trận đấu này. Trong hình bàn cờ sau nước thứ 37 của cô Phạm Bích Ngọc, bên Trung Quốc còn 5 quân và Việt Nam còn 8 quân. Bài tường thuật trong ChessBase kể, “Sau khi cô gái Việt Nam đi nước 37.Bc5 thì cô đề nghị hòa, và tất nhiên (naturally) đối thủ Trung Hoa của cô chấp nhận.”

Có thể nào một kỳ thủ Việt Nam đã nhường cho đối thủ để giúp toàn đội Trung Quốc được được lãnh huy chương vàng hay không? Ðể các kỳ thủ người Việt Nam phán đoán, chúng tôi sẽ in lại bản là tường thuật từng nước cờ trong trận đấu Phạm Bích Ngọc - Hoàng Tây, lấy từ mạng lưới kể trên.

Nếu quả thật hai đội cờ Việt Nam và Trung Quốc đã dàn xếp trước, hai ông hay bà bí thư chi bộ đã gặp nhau để trao đổi (trao đổi gì không biết) rồi thỏa thuận để bắt các nữ kỳ thủ Việt Nam không được thắng các bạn người Trung Quốc, thì thật là đáng xấu hổ. Không phải chỉ xấu hổ vì âm mưu làm việc ám muội trong một sinh hoạt thể thao quốc tế, quan trên trông xuống người ta trông vào. Mà còn xấu hổ, nhục nhã vì người lãnh đạo đội cờ bắt các đoàn viên do mình kiểm soát phải chịu huề trong khi họ có cơ thắng, phải hy sinh danh tiếng cá nhân, cho một cái gì không biết. Một kỳ thủ, hay bất cứ đấu thủ thể thao nào khác, mà không chơi thẳng thắn, không đấu hết lòng, thì đáng khinh bỉ. Ðại diện một quốc gia mà làm như vậy thì nhục cả nước, một thứ “mối thẹn ngàn thu.”

Ai đã bắt kỳ một kỳ thủ Việt Nam phải nhường Trung Quốc? Họ có ý thức rằng làm như vậy là bị sỉ nhục không riêng đối với người Trung Hoa mà còn mang thêm“mối thẹn ngàn thu” trước cả thế giới loài người hay không? Dịch “mối thẹn ngàn thu” là dùng chữ nhẹ. Bản chữ Hán của Nguyễn Trãi viết là “thiên cổ vô cùng chi sỉ,” phải gọi là mối nhục vô cùng suốt cả ngàn năm. Giới lãnh đạo đảng CộngSản Việt Nam đã bắt dân của mình hy sinh những gì khi họ có những thỏa thuận ngầm với các đồng chí Trung Quốc trong các vụ Hoàng Sa, Trường Sa, khai thác Bô Xít?

Ðiều thú vị thấy trong bài tường thuật trên mạng ChessBase là cô Phạm Bích Ngọc đã đi một nước cờ thứ 37 trước khi cô đề nghị thủ huề. Tại sao cô Bích Ngọc không xin huề sau khi cô Hoàng Thiến đi nước thứ 36, cho nó tự nhiên? Như vậy các người quan sát chưa nhận thấy là cô Bích Ngọc thắng thế. Hoặc cô đợi tới sau nước thứ 38 của đối thủ hãy xin huề, cũng tự nhiên hơn. Tôi không rõ luật chơi cờ, nhưng hình như trong trận tranh giải này số nước cờ bị hạn chế ở nước thứ 40. Phải chăng cô Phạm Bích Ngọc chấp nhận tuân theo “sự lãnh đạo của đảng và nhà nước” mà chịu xin huề đối thủ, nhưng cô vẫn có niềm tự ái, muốn bảo vệ danh dự của mình, một kỳ thủ. Cô đi thêm một nước cờ rồi mới đề nghị huề, trước sự mừng rỡ của đối thủ. Ðể chứng tỏ cho mọi người thấy là cô đang ở thế mạnh, có thể thắng. Mà bao nhiêu quan sát viên quốc tế đã nhìn thấy như vậy. Hoàng Thiến chắc cũng thấy như vậy.

Cô Bích Ngọc đã chứng tỏ khả năng có thể thắng của mình, giữ lấy danh dự cá nhân của một nữ kỳ thủ. Mặc dầu cô chịu nép một bề để làm theo lệnh cấp trên! Quyết định xin huề đó nằm ngoài khả năng của cô, đó là một quyết định chính trị, do “đảng lãnh đạo.”

Cô Bích Ngọc phải là người có tài thật, giỏi thật, mới được đại diện cho nước Việt Nam đi tranh giải quốc tế. Người Việt Nam vẫn hãnh diện có những đứa con, đứa em tài giỏi như cô. Cô hoàn toàn không có trách nhiệm nào trong quyết định xin huề. Ðó là quyết định của đảng Cộng Sản Việt Nam. Họ đã bắt đầu xin huề ở Thành Ðô năm 1991, hơn 20 năm rồi. Bao đời tổng bí thư và thủ tướng đã xin huề từ đó tới nay. Nay mai nếu cô Bích Ngọc lên đài xác nhận rằng cô đã xin huề vì tự thấy không thắng được chứ không phải vì nhận lệnh trên, thì chúng ta cũng thông cảm. Có bao nhiêu người khác, đàn ông con trai và rất can đảm, nhưng có lúc cũng lên đài tự thú và xin khoan hồng!

Trong một xã hội sống bằng dối trá thì cứ đóng vai trò dối trá, chịu mặc áo giấy để sống với ma vậy! Nhưng đó không phải là lối ăn ở tốt đẹp nhất trong văn hóa Việt Nam, chúng ta không thể dạy cho lớp trẻ Việt sau này lối sống như thế. Ðó cũng không phải là lối sống, lối cư xử đẹp trong nền văn hóa Trung Hoa, Nhật Bản, Hàn Quốc, hay Pháp Quốc, Mỹ Quốc.

Cả một nền văn hóa đề cao tiết tháo, nêu gương chính trực, tín nghĩa, đã biến mất. Mấy thế hệ trẻ chỉ còn thấy những người chung quanh mặc áo giấy suốt ngày, trở thành một lối sống tự nhiên. Chúng ta nhìn biết đó là nhục, nhưng cũng biết thương những người phải chịu mặc áo giấy suốt đời. Nhưng dân tộc Việt Nam sẽ không chấp nhận lối sống gian dối, lươn lẹo đó nữa. Sẽ ngẩng đầu lên tự nhắc mình là một nước có văn hiến. Ðó là cách duy nhất để thẹn ngàn thu rửa sạch lầu lầu!

Sau đây là diễn tiến ván cờ nêu trong bài:


Pham Bich Ngoc (2145) - Huang Qian (2424) [A15]

2nd WTeam w Ningbo CHN (9), 11.09.2009

1.c4 Nf6 2.g3 g6 3.Bg2 d5 4.Nf3 Bg7 5.0-0 0-0 6.cxd5 Nxd5 7.Nc3 Nb6 8.d3 c6 9.Be3 h6 10.Qd2 Kh7 11.Rac1 N8d7 12.b4 Nd5 13.Nxd5 cxd5 14.Qc2 e5 15.Qc7 d4 16.Bd2 Nb6 17.Qxd8 Rxd8 18.Rc5 f6 19.Nh4 f5 20.f4 exf4 21.gxf4 Re8 22.Kf2 Re7 23.Rg1 Be6 24.Bh3 Bf7 25.Bxf5 gxf5 26.Nxf5 Bf6 27.Nxe7 Bxe7 28.Rc7 Nd5 29.Rxb7 Be6 30.e4 dxe3+ 31.Bxe3 Bc8 32.Bd4 h5 33.Rxe7+ Nxe7 34.Rg7+ Kh6 35.Rxe7 a6 36.Re8 Kg6
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Bát Nhã và sự tự do hành đạo

Lê Tuấn Huy
Việc Thiền sư Thích Nhất Hạnh lần đầu tiên lên tiếng về sự việc Bát Nhã, bằng bút danh học thuật, cho thấy sự vụ nay khó tránh khỏi sự mở rộng của nó. Rồi đây, lịch sử Phật giáo Việt Nam sẽ khó mà không ghi thành văn sự kiện ngày 27/09/2009 cùng hai thư “kêu cứu” của Nguyễn Lang – người viết sử “đạo Bụt” trên xứ sở hình chữ S.
Trên bề mặt, phía chính quyền dường như vô can trước các diễn biến bạo hành, vì những người có trách nhiệm xem đây là chuyện nội bộ tại Bát Nhã, và họ chỉ làm công việc an ninh trật tự. Lý lẽ có thể thế này: nếu thầy Thích Đức Nghi nhận tiền từ Làng Mai để tạo dựng cơ sở mới của Bát Nhã mà nay lại đuổi người để giành trọn, thì đó là một tranh chấp dân sự, và đương sự hai bên có thể khởi kiện để được giải quyết; còn phía chính quyền – mà cụ thể là lực lượng công an, cảnh sát – chỉ làm đúng chức trách, là áp dụng các biện pháp nghiệp vụ để chấm dứt tình trạng cư trú bất hợp pháp tại địa phương đối với những người không được chủ hộ cho phép tạm trú.

Thế nhưng, trên thực tế, dù có biện hộ “hợp lý” như thế nào bằng câu chữ pháp lý, thì hình ảnh của những lần bạo hành tại Bát Nhã, được xác thực bằng chính tường thuật của các tu sĩ, tu sinh tại đây, khiến người ta không khỏi bị sốc và có nhận định khác đi.
Chuỗi sự việc xảy ra tại Bát Nhã, mà đỉnh điểm là ngày 27/09 đó, là biểu hiện cao độ của sự thoái hóa đạo đức, đến mức mà ở một đất nước có truyền thống sùng kính và hiếu lễ đối với nhà Phật, lại xảy ra chuyện chưa từng có, là dùng đến sự bạo hành thô tục nhất để cưỡng bách cả một làng tăng, tống họ ra khỏi chốn tu đạo, ngay trong một ngày dầm dề mưa gió, khi cơn bão dữ đang đến. Nó cũng là biểu hiện của sự thoái hóa chính trị, đến mức mà một trong những chức năng nền tảng của nhà nước, là cung ứng sự bảo an đối ngoại và đối nội cho dân chúng cứ ngày một “mai một” đi, để rồi đến lúc chính nó lại xâm hại đến thành phần được xem như hướng thiện nhất trong xã hội, là giới tu hành. Và bên cạnh đó, nó cũng bộc lộ một số vấn đề về sự tự do hành đạo.

Phải thừa nhận rằng dù vẫn cần nhiều thay đổi tích cực hơn, trong những năm gần đây, tự do tôn giáo ở Việt Nam đã có tiến bộ, cả trong nhận thức lẫn thực tế, mà việc tăng đoàn Làng Mai về nước và tăng thân Bát Nhã tu tập theo pháp môn này là một biểu hiện đáng quý. Vậy mà giờ đây, với cái cớ là các tăng sĩ và tăng sinh này không còn được bảo lãnh cư trú, giới thẩm quyền (nào đó) quyết trục họ ra đường, thì liệu có chính trực?

Cần thấy rằng quy định tạm trú tạm vắng làm nền cho việc tống xuất tăng thân Bát Nhã là cái gắn liền với hộ khẩu, vốn đã là một định chế vi hiến, vì thực chất nó lật ngược lại quyền tự do cư trú. Đã lâu, trước cả khi Thượng Hải bỏ hộ khẩu, giới cải cách Việt Nam đã đề xuất chính điều này nhưng không kết quả. Dù công dân và giới chức vẫn phải tuân theo sự vi hiến này chừng nào nó còn chưa bị bãi bỏ, nhưng một khi đã nhận ra tính sai phạm đó mà vẫn cố tình dùng nó như công cụ chí mạng để thực hiện những hành động trái đạo lý, thì không thể lấy gì để biện minh.

Thực chất, tăng đoàn hay tăng thân cũng chỉ là một tập hợp công dân đang thực hành đạo giáo, có tổ chức và có hệ thống, tập trung hay không tập trung. Nhưng, chính cái vế “đang thực hành…” đã đem lại cho tập hợp này và từng thành viên của nó một chỗ đứng riêng so với công dân thế tục. Và điều đó cũng có nghĩa là cần có lối hành xử riêng, thích hợp với giáo quy của họ một khi quy phạm đó không xâm hại đến lợi ích của công dân và xã hội, chứ không thể nhất nhất áp tuyệt đối các quy định thế tục lên trên họ.

Ai cũng rõ, một trong những đặc trưng của tăng sĩ và tăng sinh Phật giáo là đời sống xuất gia và tu tập. Từ bao đời nay, đặc trưng này không hề xâm hại đến lợi ích của công dân và đời sống thế tục. Nay cũng thế. Nên, dù xuất phát từ bất kỳ chính sách nào, với bất cứ động cơ và lý do gì mà hành xử với họ trái với đặc trưng đó, đều là sự áp đặt độc đoán và hạn chế khắc nghiệt đối với việc hành đạo.
Việc buộc tăng thân ra khỏi Bát Nhã và nay tạo áp lực để họ phải rời khỏi Phước Huệ, về lại địa phương có hộ khẩu hoặc tự viện thường trú ban đầu thực chất chính là việc cưỡng bức hồi gia và dứt pháp. Đối với tăng sinh, điều này quá rõ. Về phần tăng sĩ, dù có được “đưa” về chùa cũ để tiếp tục tu hành, nhưng một khi phải rời bỏ pháp môn mà họ có duyên, đó chẳng khác là mấy với việc thoái pháp.

Vài so sánh bình dị thôi cũng đã thấy sự vô lý đến kỳ lạ ở việc tăng thân Bát Nhã phải thoái tu. Tại sao sinh viên có thể lựa chọn cho mình ngành học mà tu sinh lại không thể tự chọn cho mình pháp môn? Tại sao người học chữ có thể tùy chọn một trung tâm học vấn (theo nghĩa một địa phương có nhiều cơ sở giáo dục tốt) để đến và học hành, mà người học đạo lại không thể tự chọn một trung tâm Phật học để đến và tu tập? Tại sao người lao động có thể đến một địa phương khác để hành nghề mà người tu hành lại không thể đến địa phương khác để hành đạo?. V.v.

Như vậy, dù tăng sinh hay tăng sĩ Bát Nhã có được “tạo điều kiện” tại bản quán hay bản tự, thì cả ý nguyện tục thế lẫn ý nguyện đạo pháp của họ cũng đã bị áp đặt một cách cố định, và là sự hạn chế phi lí và phi pháp đối với quyền tự do hành đạo.

Nếu có những tính toán nay được nâng lên thành quyết sách, rằng chỉ để Làng Mai phát triển ở ngoài nước nhằm “marketing” cho Việt nam và tô điểm cho chính sách tôn giáo của chính quyền, chứ không để họ tiếp tục phát triển trong nước vì có thể “đe dọa an ninh quốc gia”, thì e rằng sẽ phản tác dụng. Chủ trương hai mặt đó không những làm xấu đi hình ảnh của Việt Nam trước thế giới và Phật tử năm châu, trước cộng đồng người Việt hải ngoại, mà còn tạo nên một mầm mống phản kháng ngay chính trong lòng của Giáo hội Phật giáo mà chính quyền hỗ trợ.

L. T. H.
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Ai cũng có một thời tuổi trẻ

Ngô Nhân Dụng

Những trận bão đổ vào miền Trung Việt Nam khiến khắp nơi lại kêu gọi nhau cứu giúp các đồng bào lâm nạn. Chúng tôi lại nhớ trận bão lụt năm Thìn, 1964. Tháng Mười năm đó, báo chí loan tin bão lụt làm hàng chục ngàn đồng bào mất nhà cửa, không đủ thức ăn; nhiều thanh niên, sinh viên đã tự động họp lại bàn chuyện “cứu lụt.” Họ thuộc nhiều đoàn thể, như nam và nữ Hướng Ðạo, thanh niên, sinh viên Phật tử, thanh niên, sinh viên Công Giáo, thanh niên thiện chí, các hội sinh viên ở Văn Khoa, Khoa học, trường Kỹ Thuật Phú Thọ, học sinh Cao Thắng, vân vân. Nhưng khi họp nhau thành lập một tổ chức tạm thời lo việc cứu trợ họ không cần xin phép đoàn thể của họ. Họ cũng không cần phải xin phép chính quyền, lúc đó cụ Phan Khắc Sửu là quốc trưởng. Phong trào “cứu lụt” này chỉ kéo dài trong mấy tháng rồi giải tán, nhưng đã gửi được nhiều đoàn sinh viên, học sinh ra miền Trung đem theo quần áo, chăn mền, thực phẩm và tiền quyên góp được ở Sài Gòn và các thành phố lớn đến tận tay các nạn nhân.

Khi phong trào khởi lên, các báo đài đều loan tin. Sinh viên, học sinh tự động đến ghi tên tham dự. Chính quyền lúc đó không nghi ngờ, không ngăn cản mà còn khuyến khích bằng cách giúp đỡ phương tiện di chuyển. Cụ Phan Khắc Sửu và ông Bộ Tr ưởng Phan Quang Ðán cho mở kho của Bộ Xã Hội, nhờ các thanh niên đem phẩm vật đến tận tay đồng bào, họ biết đường dây đó nhanh chóng hơn guồng máy của nhà nước và không lo bị mất mát. Mỗi đoàn thanh niên từ 50 đến 100 người gồm đủ sinh viên, học sinh các trường, được Bộ Giáo Dục cho nghỉ học, các giáo sư được nghỉ dậy để tham dự việc nghĩa trong hai, ba tuần.

Công tác xã hội đó là một kinh nghiệm sống quý báu cho giới trẻ. Vì họ có dịp chứng kiến những người bị hoạn nạn và mở rộng đức từ bi, chứng kiến cảnh chiến tranh mà trước đó họ chỉ đọc tin tức trên báo chí. Nhờ thế mà họ sống thật trong tình yêu nước thương nòi, thêm ý thức về trách nhiệm của mình đối với đất nước, và nuôi dưỡng lý tưởng phục vụ suốt cuộc đời của họ.

“Ai cũng có một thời trai trẻ,” đó là một câu thơ của một bạn trẻ viết vào thời 1960, 70. Thế hệ lớn lên trong thời đó rất dễ nẩy sinh lòng nhiệt thành muốn phục vụ xã hội chung quanh. Phải nói năm 1964 mở đầu một phong trào thanh niên ở miền Nam Việt Nam, nhờ chính quyền mới cho người dân được tự do hơn. Trong mấy năm sau đó xã hội công dân ở miền Nam phát triển mạnh vì chính quyền tin tưởng vào đám thanh niên có thiện chí. Bao nhiêu đoàn thể trẻ ra đời, một phần phát xuất từ các tôn giáo nhưng đa số là những nhóm người tự nguyện tự động họp nhau. Cứ 10 người, 20 người trẻ họp lại là có thể thành lập một tổ chức, xin Bộ Thanh Niên công nhận và được Bộ Nội Vụ cho phép. Từ đó họ phát triển thành những đoàn thể hàng trăm, hàng ngàn người, từ các thành phố lớn lan ra các tỉnh, quận. Tất cả đều nêu cao lý tưởng phục vụ xã hội, giúp đỡ đồng bào. Chính phủ miền Nam có lúc cũng tổ chức những đoàn thể thanh niên để chi phối hoặc hướng dẫn nhưng không thành công như các tổ chức tự do và tự nguyện của tư nhân. Sau năm 1971 thì phong trào này bớt mạnh vì áp lực của chiến tranh khiến các sinh viên, học sinh phải lo học nhiều hơn, nhiều người phải gia nhập quân đội, và nhiều thanh niên khác được lôi cuốn vào những phong trào chính trị hơn là xã hội.

Nhưng trong khoảng 5, 6 năm từ 1964 trở đi, tuổi trẻ ở miền Nam đã sống những ngày rất đẹp nhờ tự do hoạt động. Các thanh niên, sinh viên họp nhau để hội thảo. Các sinh viên, học sinh họp nhau để làm công tác giúp ích. Các đoàn thể tự nguyện không có cách nào khác là phải sống theo các quy tắc tự do dân chủ, vì thanh niên không thể chấp nhận cách nào khác. Trong khi làm các công việc cụ thể, họ rèn luyện bản thân, họ nuôi dưỡng lý tưởng. Các bạn trẻ này đã trở thành những hạt giống để phát sinh một xã hội công dân năng động, là nền tảng của mọi chế độ dân chủ. Không có một trường học dân chủ nào hữu hiệu bằng các sinh hoạt thanh niên tự do, tự nguyện.

Khi nói đến xây dựng chế độ dân chủ tự do người ta thường nghĩ đến việc thiết lập một bản hiến pháp mới, xây dựng các định chế, lập ra một chính quyền mới, vân vân. Nhưng một chế độ dân chủ có bền vững hay không là do xã hội công dân có đủ mạnh hay không. Khi các công dân một nước, trong từng khu phố, từng làng xóm biết tự động, tự nguyện họp nhau cùng thảo luận và tìm cách giải quyết các nhu cầu chung, không cần đợi chính quyền kêu gọi hoặc ra lệnh, khi đó họ đang sống tự do dân chủ và xây dựng dân chủ. Thói quen đó được huân tập lâu ngày cho thêm bền chặt, thì nền dân chủ sẽ bền vững. Ngày xưa Phan Châu Trinh khuyên dân ta phải bồi bổ dân trí, phải nâng cao dân khí. Phương pháp bồi bổ và nâng cao không gì bằng phát triển xã hội công dân (civil society). Trong nước hiện giờ hay dịch là “xã hội dân sự,” một từ ngữ không diễn tả đầy đủ ý nghĩa của vai trò các công dân tự do, tự nguyện, độc lập và ngang hàng với chính quyền. Trong đảng Cộng Sản Việt Nam cũng đang bàn đến nhu cầu phát triển xã hội dân sự. Nhưng một “xã hội dân sự” do chính quyền tổ chức theo nhu cầu của họ, mà không do các công dân tự nguyện đứng ra làm lấy, thì không phải là “xã hội công dân.” Vì vậy cần phải chính danh trước.

Năm 1964 đánh dấu một thời kỳ giới trẻ ở miền Nam Việt Nam phát triển thành những đoàn thể tự nguyện với lý tưởng phục vụ. Giống như mặt đất bước vào Mùa Xuân, không khí thay đổi trong xã hội thời đó tạo cơ hội cho bao nhiêu thanh niên có dịp sống cuộc đời có ý nghĩa.

Tuần trước, một nhóm anh em cùng hoạt động trong thời gian đó mới họp mặt với nhau ở Thiền Viện Tánh Không, miền Nam California. Ðó là những người đã khởi xướng và hoạt động trong phong trào Thanh Niên Chí Nguyện, thành lập năm 1964. Vị trụ trì thiền viện, thầy Thông Triệt trước khi xuất gia cũng là một Thanh Niên Chí Nguyện, mà nhóm này do anh Trần Ngọc Báu, một bạn cựu chủ tịch Sinh Viên Công Giáo khởi xướng cùng các thanh niên thiện chí khác. Các thanh niên chí nguyện đã huấn luyện được khoảng 300 thanh niên, gởi đi tới các làng thôn hẻo lánh để sống chung và phục vụ đồng bào trong thời gian từng 6 tháng một. Các thanh niên, sinh viên này giúp đồng bào cải thiện về y tế, vệ sinh. Họ mở lớp dậy học và dậy con em trong làng về cách cư xử có đạo lý trong gia đình, trong xã hội. Họ giúp đồng bào sửa sang đường sá, trường học, chợ, cải thiện kỹ thuật canh nông. Ngày nay đã ở tuổi giữa Ðiêu và 80, những thanh niên chí nguyện này gặp nhau vẫn công nhận họ đã dùng tuổi trẻ của mình vào những việc hữu ích. Ðiều đáng tiếc cho phong trào này là sau thời gian công tác ở mỗi làng, họ không thiết lập được những cơ cấu tại chỗ để tiếp tục công việc đang làm. Là Khai dân trí, Hưng dân khí như Phan Châu Trinh đã kêu gọi từ đầu thế kỷ 20.

Cùng thời gian đó, một tổ chức khác phát xuất từ Viện Cao Ðẳng Phật Học là trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội được Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất thành lập, cũng theo đuổi các mục tiêu trên. Ðiểm đặc biệt là các tác viên Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội đến mỗi làng đều ở một thời gian nhiều năm, lần lượt thay phiên nhau giúp đồng bào phát triển về y tế, giáo dục, kinh tế và tổ chức cuộc sống chung với tính cách các công dân, không cần chờ chính quyền giúp đỡ hoặc ra lệnh chỉ huy. Những hạt giống của xã hội công dân được gieo rắc những năm đó ngày nay vẫn còn tiếp tục sống, nhiều tác viên Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội vẫn âm thầm hoạt động phục vụ dù không còn được tập họp trong một tổ chức nào nữa. Vì khi một thanh niên đã quyết định dùng cuộc đời của mình cho có ích thì lý tưởng đó không bao giờ mất.

Thanh Niên Chí Nguyện và Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội chỉ là hai thí dụ trong rất nhiều nỗ lực của thanh niên, sinh viên, học sinh trong thập niên 1960-70 cùng ý thức về nhu cầu phục vụ và quyết tâm theo đuổi lý tưởng giúp ích đồng bào. Có những Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội đã phải sống ba tháng trong một làng mới thuyết phục được đồng bào đào hố cầu tiêu ở mỗi nhà để sống theo lối mới. Có những Thanh Niên Chí Nguyện là sinh viên con nhà giầu ở Sài Gòn đã xung phong làm việc dọn cầu tiêu công cộng trong trại tị nạn để làm gương cho đồng bào ý thức bổn phận giữ vệ sinh chung. Người ta có thể hăng hái và bền chí, nhẫn nại như vậy, vì các bạn trẻ này biết họ đang sống một cuộc sống có ý nghĩa, có lý tưởng, một cuộc đời rất đẹp, đáng sống!

Trong tuần này, chính quyền Cộng Sản sắp đưa một số nhà trí thức trẻ ra tòa. Họ cũng là những thanh niên khát khao sống với lý tưởng, và họ đã chọn con đường đấu tranh cho tự do dân chủ. Bao nhiêu thanh niên khác đang cần được tự do để được sống có ý nghĩa.

Ngay bây giờ ở trong nước ta có hàng triệu thanh niên, sinh viên, và học sinh đang muốn sống cuộc đời có lý tưởng, có ý nghĩa. Dù không được phép chính thức, các đoàn thể như Hướng Ðạo, Gia Ðình Phật Tử, các đoàn thể thanh niên Công Giáo đã hoạt động trở lại. Họ cũng nuôi dưỡng lý tưởng phục vụ. Trong mấy năm vừa qua khi các thiền sinh ở Tu Viện Bát Nhã mở những khóa tu tập cuối tuần, những ngày quán niệm, có hàng ngàn thanh niên, sinh viên, học sinh từ các thành phố đã kéo về tham dự. Tới đó, họ biết thế nào là sống an lạc, hạnh phúc, và họ muốn chọn một đời sống có ý nghĩa.

Chỉ có một điều kiện hiện nay còn thiếu là giới trẻ ở Việt Nam không được hưởng không khí tự do của thời 1964 như chúng tôi đã trải qua. Mà vì thế, xã hội công dân cũng không được phát triển tự do nữa. Nhưng chúng ta biết thanh niên Việt Nam không muốn sống cuộc đời vô vị, kể cả con cái của các đại gia. Họ đều không muốn bê tha trà đình tửu điếm, không muốn sa vào cái bẫy ma túy, nếu có cơ hội nuôi dưỡng lý tưởng vị tha. Ai cũng có một thời tuổi trẻ, và không ai muốn bỏ phí. Chỉ nhìn vào cuộc sống của các thiền sinh Bát Nhã trong những ngày hoạn nạn vừa qua. Họ là những người mới biết và tu tập đạo Phật trong vòng mấy năm! Nhìn họ không sợ hãi, không chán nản, chúng ta có thể tin vào chí khí cao thượng, khát khao sống lý tưởng của tuổi trẻ Việt Nam. Họ là một biểu tượng cho niềm tự hào và niềm hy vọng cho dân tộc.

Cho nên bây giờ khi chúng ta đòi cho người Việt Nam được sống tự do, trước hết phải đòi cho các thanh niên, sinh viên, học sinh được tự do sống có lý tưởng, được tự do phục vụ đồng bào. Như các bạn trẻ Bát Nhã chứng tỏ, tuổi trẻ Việt Nam là một kho tàng chưa được dùng để phục vụ đất nước. Chỉ cần được tự do tập họp và tự do phục vụ, họ cũng sẽ trở thành những viên đá xây dựng xã hội công dân làm nền tảng cho chế độ tự do dân chủ trong tương lai. Nếu không, một thế hệ thanh niên nữa sẽ bị phí phạm.
TranAnhDung
Posts: 297
Joined: Tue Oct 28, 2008 7:43 pm
Contact:

Post by TranAnhDung »

5 bai hoc quan trong trong cuoc doi

Bài số 1: Bài học về sự quan tâm
Trong tháng thứ 2 của khoá học y tá, vị giáo sư của chúng tôi đã cho chúng tôi một câu hỏi hết sức bất ngờ trong bài thi vấn đáp...

Tôi đã lướt qua hầu hết các câu hỏi trong bài thi, và ngạc nhiên dừng lại ở câu hỏi cuối cùng: “Hãy cho biết tên người phụ nữ quét dọn trường học của chúng ta?”. Một câu hỏi không có trong chuyên môn, chắc đây chỉ là một câu hỏi đùa thôi. Tôi đã nghĩ vậy!

Thật ra, tôi đã nhìn thấy người phụ nữ đó vài lần. Cô ấy cao, tóc sẫm màu và khoảng chừng 50 tuổi nhưng làm sao mà tôi có thể biết được tên cô ta cơ chứ? Tôi đã kết thúc bài làm của mình với câu cuối cùng bị bỏ trống.

Cuối giờ kiểm tra, một sinh viên đã hỏi vị giáo sư rằng: “Liệu ông có tính điểm cho câu hỏi cuối cùng kia không?”, ông ta trả lời: “Chắc chắn rồi”, rồi ông nói tiếp: “Trong công việc, các em sẽ gặp rất nhiều người, tất cả họ đều quan trọng, họ xứng đáng được nhận sự quan tâm của các em, dù chỉ là một nụ cười hay một câu chào”.

Tôi đã không bao giờ quên bài học đó trên mỗi bước đường đời của mình sau này, và tôi cũng không bao giờ quên tên của người phụ nữ đó, cô Dorothy.
Bài số 2: Bài học về sự giúp đỡ
Trong một đêm mưa bão bất thường trên đường phố Alabama vắng vẻ, lúc đó đã 11h30 khuya, có một bà lão da đen vẫn cứ mặc cho những ngọn roi mưa quất liên hồi vào mặt, cố hết sức vẫy vẫy cánh tay để xin đi nhờ xe.

Một chiếc xe chạy vút qua, rồi thêm một chiếc xe nữa, không ai để ý đến cánh tay dường như đã tê cứng vì lạnh cóng. Mặc dù vậy, bà lão vẫn hy vọng và vẫy chiếc xe kế tiếp. Một chàng trai da trắng đã cho bà lên xe. (Mặc cho cuộc xung đột sắc tộc 1960). Bà lão trông có vẻ rất vội vã, nhưng cũng không quên cám ơn và ghi lại địa chỉ của chàng trai.

Bảy ngày trôi qua, cánh cửa nhà chàng trai tốt bụng vang lên tiếng gõ cửa. Chàng trai ngạc nhiên hết sức khi thấy một cái tivi khổng lồ ngay trước cửa nhà mình. Một lá thư được đính kèm, trong đó viết: "Cảm ơn cháu vì đã cho bà đi nhờ xe vào cái đêm mưa hôm ấy. Cơn mưa không những đã làm ướt sũng quần áo mà nó còn làm lạnh buốt trái tim và tinh thần của bà nữa. Rồi thì lúc đó cháu đã xuất hiện như một thiên thần. Nhờ có cháu, bà đã được gặp người chồng tội nghiệp của mình trước khi ông ấy trút hơi thở cuối cùng. Một lần nữa bà muốn cảm ơn cháu đã không nề hà khi giúp đỡ bà."

Cuối thư là dòng chữ: “Chân thành - Bà Nat King Cole”.
Bài số 3: Bài học về lòng biết ơn
Vào cái thời khi mà món kem nước hoa quả còn rất rẻ tiền, có một câu chuyện về cậu bé 10 tuổi thế này:

Ngày nọ, Jim - tên của cậu bé - sau một hồi đi qua đi lại, ngó nghiêng vào cửa hàng giải khát đông nhất nhì thành phố, nơi có món kem nước hoa quả mà cậu rất thích, mạnh dạng tiến lại gần cái cửa, đẩy nhẹ và bước vào. Chọn một bàn trống, cậu nhẹ nhàng ngồi xuống ghế và đợi người phục vụ đến.

Chỉ vài phút sau, một người nữ phục vụ tiến lại gần Jim và đặt trước mặt cậu một ly nước lọc. Ngước nhìn cô phục vụ, cậu bé hỏi: “Cho cháu hỏi bao nhiêu tiền một đĩa kem nước hoa quả ạ?”. “50 xu“, cô phục vụ trả lời. Nghe vậy, Jim liền móc trong túi quần ra một số đồng xu lẻ, nhẩm tính một hồi, cậu hỏi tiếp: “Thế bao nhiêu tiền một đĩa kem bình thường ạ?”. “35 xu”, người phục vụ vẫn kiên nhẫn trả lời cậu bé mặc dù lúc đó khách vào cửa hàng đã rất đông và đang đợi cô. Cuối cùng, người nữ phục vụ cũng mang đến cho Jim món kem mà cậu yêu cầu, và sang phục vụ những bàn khác. Cậu bé ăn xong kem, để lại tiền trên bàn và ra về.

Khi người phục vụ quay trở lại để dọn bàn, cô ấy đã bật khóc khi nhìn thấy 2 đồng kẽm (1 đồng bằng 5 xu) và 5 đồng xu lẻ được đặt ngay ngắn trên bàn, bên cạnh 35 xu trả cho đĩa kem mà Jim đã gọi - Jim đã không thể có món kem nước hoa quả mà cậu ấy thích bởi vì cậu ấy chỉ có đủ tiền để trả cho một đĩa kem bình thường và một ít tiền boa cho cô.

Bài số 4: Bài học về sự tự giác và trách nhiệm
Xưa thật là xưa, có một ông Vua nọ, một hôm ông ta sai quân lính đặt một tảng đá lớn nằm chắn ngang đường đi. Xong, ông nấp vào một bụi cây gần đấy và theo dõi...

Lần lượt ông ta thấy, những thương nhân giàu có đi qua, rồi đến những cận thần của ông đi qua, nhưng không ai có ý định xê dịch tảng đá sang bên nhường chỗ cho lối đi cả, họ chỉ lẩm nhẩm đổ lỗi cho nhà Vua vì đã không cho người giữ sạch sẽ con đường.

Một lúc sau, nhà Vua nhìn thấy một người nông dân đi tới với một xe rau cồng kềnh nặng trĩu. Nhìn thấy tảng đá, người nông dân liền ngừng xe và nhảy xuống đất, cố hết sức mình ông ta đã đẩy được tảng đá sang bên kia vệ đường. Vừa làm ông ta vừa lẩm bẩm: “Thật không may nếu có ai đó không thấy mày và vấp phải, chắc là sẽ đau lắm đây”. Xong đâu đấy, người nông dân quay trở lại xe để tiếp tục đi tiếp, thì bỗng nhìn thấy một bao tiền to đùng đặt ngay chỗ mà ông đã di chuyển tảng đá. Đó là một một món quà của Đức Vua cho người nào dịch chuyển được tảng đá.

Câu chuyện của người nông dân này đã giúp chúng ta nhận ra một điều quý giá mà rất nhiều người trong chúng ta không bao giờ nhận thấy: Vật cản đôi khi cũng có thể là một cơ hội tốt.

Bài số 5: Bài học về sự hy sinh
Đã lâu lắm rồi, nhiều năm đã trôi qua, khi tôi còn là tình nguyện viên tại một bệnh viện, tôi có biết một cô gái nhỏ tên Liz - cô ấy đang mắc phải một căn bệnh rất hiểm nghèo.

Cơ hội sống sót duy nhất của cô là được thay máu từ người anh trai 5 tuổi của mình, người đã vượt qua được cơn bạo bệnh tương tự một cách lạ thường nhờ những kháng thể đặc biệt trong cơ thể. Bác sĩ đã trao đổi và giải thích điều này với cậu bé trước khi yêu cầu cậu đồng ý cho cô em gái những giọt máu của mình. Lúc ấy, tôi đã nhìn thấy sự lưỡng lự thoáng qua trên khuôn mặt bé nhỏ kia. Cuối cùng, với một hơi thở thật sâu và dứt khoát cậu bé đã trả lời rằng: “Cháu đồng ý làm điều đó để cứu em cháu”.

Nằm trên chiếc giường kế bên em gái để thuận tiện hơn cho việc truyền máu, cậu bé liếc nhìn em gái và đôi mắt ngời lên niềm vui khi thấy đôi má cô bé hồng lên theo từng giọt máu được chuyền sang từ người cậu. Nhưng rồi, khuôn mặt cậu bỗng trở nên tái xanh đầy lo lắng, cậu bé ngước nhìn vị bác sĩ và hỏi với một giọng run run: “Cháu sẽ chết bây giờ phải không bác sĩ?” Thì ra, cậu bé non nớt của chúng ta đã nghĩ rằng: cậu ta sẽ cho cô em gái tất cả máu trong người mình để cứu cô ấy và rồi cậu sẽ chết thay cô.

Bạn thấy không, sau tất cả những hiểu lầm và hành động của mình, cậu bé đã có tất cả nhờ đức hy sinh...

Cuộc sống có câu: “Hãy cho đi thứ bạn có, rồi bạn sẽ được đền bù xứng đáng”.
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Lệ thuộc Trung Quốc từ bao giờ?
Thursday, October 08, 2009


Ngô Nhân Dụng
Tổ tiên người Việt chúng ta bắt đầu bị vua quan người Hán cai trị từ năm nào? Có sử gia coi nước Nam Việt của ông Triệu Ðà hoàn toàn là của người Tầu; kinh đô nước này ở Phiên Ngung thuộc thành phố Quảng Châu, tỉnh Quảng Ðông bây giờ. Do đó có thể coi năm 208 trước Công Nguyên, khi Triệu Ðà chiếm nước Âu Lạc, là bắt đầu thời kỳ Bắc thuộc. Nhiều sử gia coi Nam Việt cũng là một nước của người Việt, chính ông Triệu Ðà khi tới đó đã “được đồng hóa” theo phong tục bản xứ. Phần lớn nước Nam Việt nay đã mất, các tỉnh Quảng Ðông, Quảng Tây đã hoàn toàn bị Hán hóa, chỉ còn nước Việt Nam ngày nay là giữ được “tộc phả” của giòng giống Việt. Như vậy thì khi quân Hán chiếm nước Nam Việt, năm 111 trước Công Nguyên, mới bắt đầu thời Bắc thuộc.

Gần đây có những sử gia như Lê Mạnh Thát lại coi thời kỳ lệ thuộc người Trung Hoa chỉ bắt đầu từ năm 43 sau Công Nguyên. Ðó là năm Hai Bà Trưng bị thua và Mã Viện bắt đầu áp dụng chính sách cai trị “trói buộc” (dĩ thằng nhi trị - dùng thừng mà trị). Trước đó, xã hội Việt Nam từ thời Hùng Vương vẫn không thay đổi, dân sống dưới quyền các lạc hầu, lạc tướng, các ông vua Nam Việt hay các thái thú, thứ sử nhà Hán chỉ đóng vai thu thuế nộp cống tiến về Tầu mà thôi.

Chắc giống như nhiều người Việt không chuyên nghiên cứu lịch sử, chúng tôi thích cách nhìn của Lê Mạnh Thát, hoàn toàn với lý do tình cảm. Bởi vì cứ nghĩ thương tổ tiên mình, muốn các cụ lâm vào cảnh nô lệ chậm được ngày nào tốt ngày đó!

Ông Lê Mạnh Thát mới bị cách chức viện trưởng Viện Phật Học Vạn Hạnh, để hai vị sư bị gọi là “quốc doanh” lên thay. Không biết có phải vì sử gia tu sĩ này đã phạm lỗi quá yêu nước, đem cắt ngắn thời kỳ Bắc thuộc hơn một trăm năm, mà mất chức hay không! Có người nghĩ như vậy, vì trong dân chúng Việt Nam bây giờ nhiều người cũng đang lo mối đe dọa lệ thuộc Trung Quốc. Tất cả những vụ Thác Bản Dốc, ải Nam Quan, huyện Tam Sa, các phong trào phản đối về các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, vụ Bô Xít, cho thấy lòng dân đang phẫn uất về một tình trạng lệ thuộc có thật, không thể phủ nhận được. Có những web site của chính phủ Việt Nam “của mình nhưng do Trung Quốc phụ trách” viết theo quan điểm Bắc Kinh. Tờ báo mạng tiếng nói chính thức của đảng Cộng Sản Việt Nam thì đăng cả bản tin Hải Quân Trung Quốc diễu võ dương oai, đương nhiên coi Hoàng Sa, Trường Sa là của người Tầu! Người Việt cũng đang tự hỏi trong thế kỷ 20 nước ta bị lệ thuộc Cộng Sản Trung Quốc bắt đầu từ năm nào? Từ thời ông Nguyễn Tấn Dũng, ông Lê Khả Phiêu, hay Nguyễn Văn Linh? Hay là bắt đầu từ xa hơn nữa?

Ông Tống Văn Công là một đảng viên cộng sản với 50 tuổi đảng mới viết một lá thư chân thành, trong đó ông công nhận đảng của ông có những lỗi lầm đối với lịch sử. Hai sai lầm mà ông nêu lên là, từ thập niên 1950 đã “Nhầm đồng minh giai đoạn là đồng minh chiến lược, trong khi Bắc Kinh từ đầu đã có ý đồ bành trướng của chủ nghĩa Ðại Hán,” và “ Ðường lối cách mạng uốn dần theo ý thức hệ cộng sản.”

Chúng ta rất kính trọng tấm lòng chân thành của ông Tống Văn Công. Nhưng nhận xét của ông về hai lỗi lầm của đảng Cộng Sản vẫn chưa thấu đáo.

Nói rằng “Bắc Kinh từ đầu đã có ý đồ bành trướng của chủ nghĩa Ðại Hán,” là không đúng. Mao Trạch Ðông không yêu thương gì dân Hán. Nếu biết thương, ông ta đã không thi hành những chính sách làm chết vài chục triệu người Hán mà không thấy ghê tay từ cuối thập niên 1950, sau đó mươi năm lại đưa ra các chính sách giết thêm vài chục triệu người Hán nữa. Lý tưởng của Mao Trạch Ðông không phải là Ðại Hán mà là làm cách mạng vô sản thế giới. Ông ta luôn luôn hô hào “chủ nghĩa quốc tế” và chống đối “chủ nghĩa quốc gia” kịch liệt. Khi tiễn phái đoàn 40 cố vấn Trung Quốc đầu tiên sang Việt Nam năm 1950, cả Mao Trạch Ðông nhắc các cố vấn này chuyện ngày xưa Mã Viện đã sang đánh chiếm Việt Nam và người Việt còn thù ghét lắm. Và sau đó Lưu Thiếu Kỳ ủy lạo đoàn cố vấn quân sự cũng kể chuyện Mã Viện và nhắc nhở như vậy. Họ đều khuyên các cố vấn phải tuân thủ “chủ nghĩa quốc tế” trong khi làm nhiệm vụ cách mạng ở Việt Nam.

Hồ Chí Minh cũng chọn “chủ nghĩa quốc tế” giống Mao. Ông Hồ là người lãnh đạo đảng Cộng Sản và chính phủ kháng chiến Việt Nam lúc đó, và ông hoàn toàn đồng ý với Mao Chủ Tịch. Cho nên không thể nói Hồ Chí Minh đã chọn “nhầm đồng minh giai đoạn là đồng minh chiến lược.” Trung Quốc lúc đó không phải chỉ là “đồng minh chiến lược” của Cộng Sản Việt Nam mà có một địa vị còn cao hơn nữa. Ðó là đồng minh trong ý thức hệ, trong tư tưởng, trong đường lối, chính sách, trong tất cả mọi mặt. Theo Oliver Todd thuật lại, Hồ Chí Minh từng nói rằng ông không thấy cần phải viết sách gì để phát triển chủ nghĩa cộng sản nữa, vì tất cả mọi điều cần viết thì đã có Mao Trạch Ðông viết hết rồi.

Trên đời có nhiều hình thức nô lệ, không có thứ nào nguy hiểm bằng nô lệ về tư tưởng. Vì khi đã quyết tâm theo một ý thức hệ của người khác rồi thì họ bảo gì cũng phải nghe, vì họ có thể giải thích mọi hành động theo đúng ý thức hệ. Con đấu tố cha là đã bóc lột mình, vợ tố cáo chồng đã hãm hiếp mình, việc nào cũng có thể biện minh bằng ý thức hệ cả. Ðồng minh chiến lược cũng có khi thay đổi được. Ðồng minh trong tư tưởng thì không thể đổi, trừ khi chính mình tuyên bố từ bỏ ý thức hệ đó.

Chúng ta có thể rộng lượng nghĩ rằng Hồ Chí Minh chỉ “giả bộ” theo ý thức hệ cộng sản thôi, còn trong hành động ông vẫn theo hướng khác để khỏi bị lệ thuộc Trung Quốc. Cho nên, phải nhìn vào hành trạng của chính ông mới biết thực tình Hồ Chí Minh có bị Mao Trạch Ðông lèo lái hay không.

Ông La Quý Ba là “đại diện liên lạc” đầu tiên của Cộng Sản Trung Quốc với Việt Nam, sau khi Hồ Chí Minh sang Bắc Kinh vào Tháng Giêng năm 1950 xin viện trợ. Sau này La Quý Ba được đưa lên làm tổng cố vấn rồi làm đại sứ. Hồi ký của La Quý Ba kể ngày 14 Tháng Mười năm 1950, Hồ Chí Minh viết cho Mao bức thư cảm ơn các cố vấn Trung Quốc, “Chúng tôi đã thắng lợi hoàn toàn trong chiến dịch Thất Khê, Cao Bằng. Nguyên nhân lớn nhất của thắng lợi này là sự viện trợ tận tình của Ðảng Cộng Sản Trung Quốc, Ðảng Cộng Sản Liên Xô, các đồng chí Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Ðông.” Và Hồ Chí Minh nhấn mạnh, “Tóm lại, tôi nghĩ rằng thắng lợi này là thắng lợi của đường lối cách mạng, quốc tế chủ nghĩa của Mao Trạch Ðông.”

Trong các trận Thất Khê, Cao Bằng có hơn một ngàn thanh niên Việt Nam anh dũng hy sinh. Hồ Chí Minh coi đó là một “thắng lợi của đường lối cách mạng, quốc tế chủ nghĩa của Mao Trạch Ðông.” Cũng giống như khi về ở Hang Pắc Bó sau mấy chục năm xa quê hương, Hồ Chí Minh đã đem một ngọn núi và một con suối nguồn của sông đặt tên theo tên Karl Marx và Lenin. Lòng ông ta lúc nào cũng hướng về chủ nghĩa quốc tế cộng sản.

Hồi ký của La Quý Ba kể rằng mùa Ðông năm 1951 Hồ Chí Minh một lần nữa lại bí mật đến Bắc Kinh. La Quý Ba đã theo Hồ tới yết kiến Mao Trạch Ðông tại Di Niên đường, “Người gặp Mao Chủ Tịch như anh em xa cách lâu ngày...” Trong cuộc gặp gỡ đó, La kể, Hồ Chí Minh xin với Mao Trạch Ðông chỉ thị cho La Quý Ba “khi tham gia hội nghị Bộ Chính Trị Trung Ương của chúng tôi” đừng “quá thận trọng, quá khiêm tốn” mà hãy “nêu nhiều ý kiến hơn.” Sau đó, Mao, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ðức nói chuyện riêng với La Quý Ba cũng nhắc nhở La phải “nêu nhiều ý kiến, giúp đỡ nhiều hơn đối với họ.”

Ðọc hồi ký này mới biết là Hồ Chí Minh đã mời La Quý Ba tham dự các cuộc họp của Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam. Ðây là một hành động hiếm khi xảy ra, vì Bộ Chính Trị là cơ quan quyết định tất cả mọi việc trong đảng, trong chính quyền. Vào thế kỷ 19 khi quân Pháp đánh chiếm Việt Nam trong hơn 20 năm, một điều họ đòi hỏi là viên khâm sứ Pháp phải có quyền tham dự các cuộc họp của Cơ Mật Viện trong triều đình Huế. Tám mươi năm sau, Hồ Chí Minh tự ý tặng cho cố vấn Trung Quốc đặc quyền đó. Nếu không phải vì tình đồng chí cùng theo đuổi một cuộc cách mạng thế giới thì không ai làm như vậy. Ông Hồ lúc đó là chủ tịch đảng, chủ tịch nước, những việc ông làm là khuôn phép cho các đồng chí cấp dưới noi theo.

Xin nhắc đến một thí dụ khác trong hành trạng của ông Hồ. Khi cuộc cải cách ruộng đất được phát động theo từng bước đúng bài bản của các cố vấn Trung Cộng, Hồ Chí Minh có lúc muốn tha chết cho bà Nguyễn Thị Năm, một địa chủ đã có công cứu giúp nhiều lãnh tụ cộng sản Việt Nam, có con đi bộ đội và đã hiến của cải cho kháng chiến. Ông Hồ là chủ tịch nước, ông có quyền ân xá. Ông họp cả Bộ Chính Trị để bàn việc đó. Nhưng cuối cùng ông đã không dám ân xá cho một phụ nữ có công với tổ quốc Việt Nam. Chỉ vì một cố vấn Trung Quốc nói: “Con hổ đực, hay hổ cái, con nào cũng ăn thịt người!”

Người đứng đầu một chính phủ, đứng đầu một đảng ở cấp quốc gia, mà không dám làm trái lời một cố vấn Trung Quốc cấp huyện. Trong lịch sử chưa thấy người nào nhịn nhục đến như thế. Vì khi đã nô lệ về tư tưởng, thì sẽ bị ràng buộc trong tất cả mọi hành động.

Có thể nói Lê Duẩn đã phản ứng ngược lại, sau năm 1975 quay đầu theo Liên Xô, chống Trung Quốc đến độ cực đoan cũng vì phẫn uất vì đã thấy Hồ Chí Minh phải nhịn nhục với các cố vấn nhiều quá. Nhắm mắt theo Trung Quốc là dại, chống đối một nước lớn láng giềng đến độ viết cả vào Hiến Pháp, để đi theo một cường quốc ở xa, lại càng dại dột hơn. Ðến năm 1992 sau khi Liên Xô đã sụp đổ, phái đoàn Nguyễn Văn Linh, Ðỗ Mười, Phạm Văn Ðồng sang Thành Ðô xin thần phục trở lại thì lúc đó chính quyền Trung Quốc cũng không còn theo “chủ nghĩa cách mạng quốc tế” của Mao Trạch Ðông nữa rồi. Lúc đó ở Bắc Kinh họ rất mừng vì “chủ nghĩa Ðại Hán” đã thực sự trở thành quốc sách, họ có cơ hội thực hiện ngay. Khi ông Lê Khả Phiêu sang Tầu xin tái lập một “quốc tế cộng sản” mới thì các đồng chí Trung Quốc đã cảm ơn và từ chối! Chủ nghĩa Ðại Hán không cần đến thứ chiêu bài lỗi thời đó nữa.

Vậy thì trong thế kỷ 20 nước ta bắt đầu chịu lệ thuộc Trung Quốc từ năm nào? Từ năm 1992 hay là từ năm 1950? Chắc các sử gia sau này sẽ còn bàn mãi. Nhưng người Việt Nam đang sống trong cảnh lệ thuộc đó thì không quan tâm đến chuyện nó bắt đầu từ bao giờ. Cả nước chỉ mong tìm cách làm sao chấm dứt cảnh lệ thuộc đó mà thôi.
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Ai sẽ là Tổng bí thư vào Đại hội 11 năm 2011?

Đầu năm 2011 sẽ diễn ra Đại hội 11 của Đảng cộng sản Việt Nam. Mối quan tâm của nhiều người là ai sẽ là Tổng bí thư của Đảng cộng sản Việt Nam vào Đại hội 11 đó? Ở một nước độc tài 1 đảng như ở nước ta, thì Tổng bí thư của Đảng cầm quyền là to nhất, to hơn Thủ tướng và Chủ tịch nước. Chức vụ đó sẽ có ảnh hưởng quan trọng đến đường lối đối nội và đối ngoại của VN. Hiện nay có 3 ứng cử viên đang muốn ganh đua vào chức vụ này, đó là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Thường trực Ban bí thư Trương Tấn Sang, và Trưởng ban Tổ chức Trung ương Hồ Đức Việt.

Cái mạnh của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, là ông ấy là Thủ tướng, chức vụ quan trọng thứ hai của đất nước sau Tổng bí thư. Nhưng cái yếu của ông ấy là ông ấy không có thực tài, và đang bị nhiều dư luận về gia đình giàu có nứt đố đổ vách của con gái, và của em trai. Vây cánh của ông ấy cũng nhiều, nhưng chủ yếu là giới kinh doanh. Ông Dũng đã từng làm Thứ trưởng Bộ công an, nhưng chỉ hơn 1 năm, và ông ấy cũng không có nhiều thủ đoạn để kéo bè cánh, nên đàn em trong ngành công an đầy quyền lực cũng không nhiều. Phe cánh của ông ấy trong quân đội cũng hầu như không có ai, trừ Nguyễn Chí Vịnh, Tổng cục trưởng, Tổng cục 2. Nhiều người nói chỉ cần Nguyễn Chí Vịnh làm vây cánh cho ông Dũng là đủ để giành lấy chức Tổng bí thư. Nhưng hãy chờ xem.

Trong Bộ chính trị, ông Dũng cũng bị nhiều người ghét. Ông Tổng bí thư Nông Đức Mạnh thù ông Dũng vụ PMU18, vì ông Dũng định làm vụ PMU18 để đánh ông Mạnh, vì con rể ông Mạnh làm việc ở đó. Ông Phạm Gia Khiêm, Bộ trưởng Ngoại giao, và ông Nguyễn Sinh Hùng, Phó thủ tướng Thường trực cũng ghét ông DŨng, vì ông Dũng muốn bẩy 2 ông này sang Quốc Hội, để gài ông Nguyễn Thiện Nhân làm Bộ trưởng Ngoại Giao, và gài ông Hoàng Trung Hải vào thay ông Sinh Hùng. Âm mưu này của ông Dũng đến nay đã thất bại thảm hại, ông Nhân không vào được Bộ chính trị, mà là ông Tô Huy Rứa, vây cánh của ông Hồ Đức Việt. Ông Khiêm, ông Hùng vẫn tại vị.

Cái mạnh của ông Trương Tấn Sang là chức Thường trực Tổng bí thư, giống như chức Phó Tổng bí thư. Ông Sang cùng tuổi với ông Nguyễn Tấn Dũng, sinh năm 1949. Cái yếu của ông Sang là ông ấy không có sự ủng hộ sâu trong Đảng. Người ta biết ống Sang từng có nhiều mâu thuẫn với ông Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, khi ông Sang còn làm Bí thư Sài Gòn. Ông Triết làm Bí thư tính Sông Bé từ năm 1991 đến 1996. Ông Triết ủng hộ kinh tế tư nhân, nhất là công ty của Dũng lò vôi, và ông cũng ủng hộ công ty nước ngoài đầu tư vào Sông Bé, nên kinh tế Sông Bé phát triển rất nhanh.

Ông Triết sinh năm 1942, năm 1996 ông Triết 54 tuổi, được dự kiến sẽ làm Thủ tướng thay ông Kiệt. Nhưng Sông Bé chỉ là tỉnh nhỏ, nên Bộ chính trị dự kiến cho ông Triết về làm Bí thư Sài Gòn, thay ông Sang, để làm bước đệm trước khi làm Thủ tướng. Tháng 1 năm 1997, ông Triết được điều về làm Phó bí thư Sài Gòn, chờ ông Sang (khi đó là Bí thư Sài Gòn) ra Hà Nội, để ông Triết làm Bí thư Sài Gòn. Nhưng ông Sang nhất định không ra Hà Nội. Chờ không được, nên đến tháng 12 năm 1997, ông Triết phải ra Trung ương làm chức Trưởng ban Dân vận Trung ương, để chờ Trung ương giải quyết vấn đề ông Sang.

Năm 1997, ông Lê Khả Phiêu lên làm Tổng bí thư, ông Phiêu quyết tâm gải quyết vấn đề ông Sang, yêu cầu ông Sang phải ra Hà Nội, nếu không sẽ buộc về hưu non. Cuối cùng, đầu năm 2000, ông Sang mới chịu ra Hà Nội, làm chức Trưởng ban Kinh tế trung ương, một chức vụ “ngồi chơi xơi nước”, không có thực quyền. Tháng 1 năm 2000, ông Triết mới về Sài Gòn làm Bí thư được. Chậm mất 3 năm, và nhất là mất đi cơ hội làm Thủ tướng. Ông Triết đành làm chức Bí thư Sài Gòn tới năm 2006, để được bầu làm chức Chủ tịch nước. Nếu ông Sang không ghìm chân ông Triết mất 3 năm đó, thì bây giờ chức Tổng bí thư từ năm đã vào tay ông Triết rồi.

Như vậy quan hệ giữa ông Triết và ông Sang không thể gọi là tốt đẹp được. Ông Sang cũng rất may mắn, khi từ chức Trưởng ban Kinh tế trung ương được vào chức Thường trực Ban bí thư, do việc đấu đá nội bộ hồi Đại hội 10 năm 2006, nên ông Sang ở giữa được lợi.

Bây giờ ông Sang nhân cơ hội năm chức Thường trực Ban bí thư đầy quyền lực, và ông cũng còn trẻ, nên rất hang hái tìm cách nắm chức Tổng bí thư vào năm 2011.

Với ông Hồ Đức Việt, chức Trưởng Ban tổ chức Trung ương ngày nay không còn quyền lực như trước nữa. Ông Việt cũng sinh năm 1944, nhiều hơn ông Sang và ông Dũng 5 tuổi. Nhưng ông Việt có thuận lợi là người miền Bắc, lại quê hương Bác Hồ, và là con ông Hồ Tùng Mậu, nhà cách mạng lão thành cùng thời với Bác Hồ. Cái yếu nhất của ông Việt là tuổi.

Nếu Tổng bí thư là người miền Nam, thì chắc chắn Thủ tướng phải là người miền Bắc, và ngược lại. Chủ tịch nước thì thường là miền Trung, nhưng cũng có thể tùy tình hình, vì chức vụ này không quan trọng lắm.

Nhưng nếu vào Đại hội 11 năm 2011, chức vụ Chủ tịch nước được gộp vào chức Tổng bí thư, tức Tổng bí thư sẽ kiêm Chủ tịch nước, thì chắc chắn Thủ tướng, và Tổng bí thư phải là một người miền Bắc, một người miền Nam.

Nhưng nếu 3 ông nói trên đánh nhau kịch liệt để tranh chức Tổng bí thư, thì có thể người ở giữa sẽ lên, đó là ông Lê Hồng Anh, Bộ trưởng Công an, hiền lành, ít nói, và không tham gia đấu đá với ai cả. Khi đó thì Thủ tướng chắc chắn phải là một người miền Bắc, và rất có thể sẽ là ông Hoàng Trung Hải, sinh năm 1959. Ông Hải trẻ nhất, cũng hiền lành ít nói, và không tham gia đấu đá với ai cả.

Nếu 2 con người hiền lành, trong sạch đó lên lãnh đạo đất nước ta, thì quả là một diễm phúc lớn cho nước Việt Nam ta. ( nhưng đừng bao giờ tin thằng cộng sản , thằng cộng sản nào củng điểu cán vô liêm sỉ )

Hãy chờ xem.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Tại sao họ khinh người Việt Nam?

Ngô Nhân Dụng
Vua Lê đánh thắng giặc Minh, Nguyễn Trãi viết trong Bình Ngô Ðại Cáo, là “tuyết thiên cổ vô cùng chi sỉ,” rửa sạch mối sỉ nhục ngàn năm chưa nguôi. Rửa nhục, không phải vì đã đánh được giặc Minh, giết được nhiều quân Minh. Nỗi nhục đã rửa “sạch lầu lầu” vì Lê Thái Tổ đã tha mạng cho tướng sĩ nhà Minh, lại còn cho hộ tống về Tầu để khi đi dọc đường không bị dân chúng căm giận mà ngầm giết bớt. Vua Lê nói: “Ví bằng giết đi cho hả giận một lúc, để gánh lấy tiếng xấu giết kẻ quy hàng đến muôn đời; chi bằng hãy cho sống vạn ức mạng người để dứt mối chiến tranh đến muôn thủa, công việc sẽ chép vào sử sách, tiếng thơm sẽ truyền mãi đến ngàn thu, há chẳng lớn ư?”

Nhiều người Trung Hoa không đọc đoạn sử trên, trong Ðại Việt Thông Sử (bản dịch của Ngô Thế Long, in năm 1978 ở Hà Nội, trang 70). Họ không biết thiện chí của Lê Thái Tổ muốn “dứt mối chiến tranh đến muôn thủa.”

Cuối tháng trước, hàng trăm ngư phủ Việt Nam vừa mới bị lính Tầu đóng trên cảng Cần Cẩu cướp bóc, đánh đập, tra tấn sau khi ghé vào trốn bão trên hòn đảo vốn thuộc nước ta nay đã bị Trung Quốc chiếm. Bọn lính Trung Cộng chiếm đóng Hoàng Sa đã cư xử như loài hải tặc chứ không phải quân đội chính quy của một quốc gia. Hàng trăm ngư dân từ đảo Lý Sơn và Bình Châu bị đánh đau, nhưng hàng triệu người Việt Nam cảm thấy nhục nhã. Một vụ bạo hành phi pháp như vậy mà người cầm quyền không ngăn cản được dù có 3, 4 ngày để hành động, thì đúng là “thiên cổ vô cùng chi sỉ,” một mối nhục ngàn thu không biết bao giờ rửa sạch!

Tại sao quân đội Trung Quốc cho phép tầu Nhật Bản, Hồng Kông vào cảng Cần Cẩu tránh bão một cách trật tự, còn tầu Việt Nam thì bị bắn để ngăn cấm suốt ba ngày; sau cùng phải liều mạng chạy đại vô mới tránh được gió bão? Trong ba ngày đó, cái gọi là Bộ Ngoại Giao của chính quyền Hà Nội đã làm gì? Sau đó, họ đã làm gì khi dân trở về cho biết họ bị bọn “hải tặc” đánh đập, tra tấn, cướp bóc? Ở một nước dân chủ tự do thì Quốc Hội đã lập một ủy ban điều tra độc lập để tìm hiểu cho rõ ngọn ngành. Nếu chính quyền biết trọng danh dự của dân tộc thì phải lập thức gọi đại sứ Trung Quốc tới Bộ Ngoại Giao lớn tiếng phản đối ngay từ ngày 30 Tháng Chín khi các ngư phủ Việt Nam về tới bến. Phải yêu cầu họ điều tra, trừng phạt những tên lính Trung Cộng phạm tội và bồi thường thiệt hại cho các nạn nhân. Trong khi chờ đợi, phải triệu hồi đại sứ mình về nước để tỏ thái độ phản đối cho tới lúc nào giải quyết ổn thỏa mới thôi. Phải thưa kiện Trung Cộng trước tòa án quốc tế và họp báo chính thức lên án trên những tên hải tặc mặc quần áo lính Trung Quốc! Nhân dịp này, nêu lại vấn đề chủ quyền trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trước công luận thế giới. Ðó là những hành động tối thiểu, cần thiết để bảo vệ danh dự quốc gia. Các nước văn minh đều hành xử như vậy.

Người Trung Quốc cũng đang tranh chấp với Nhật Bản về chủ quyền trong vùng biển Ðông của họ, là Ðiếu Ngư Ðài với mấy hòn đảo diện tích tổng cộng chỉ có 7 cây số vuông, hiện do người Nhật chiếm đóng, đặt tên là Senkaku.

Ngay sau vụ các thanh niên Nhật Bản tới xây hải đăng trên đảo những năm 1978 và 1996, có những đoàn thanh niên từ Hồng Kông, Ðài Loan, rồi sau đó đến người Trung Quốc tổ chức đi thuyền đến Ðiếu Ngư Ðài cắm cờ quốc gia của họ lên đảo.

Tháng Ba năm 2004 một nhóm bẩy thanh niên từ lục địa Trung Quốc đổ bộ lên Ðiếu Ngư Ðài, họ bị quân tuần phòng Nhật Bản bắt. Tình cảnh những người này không giống như các ngư phủ Việt Nam đã bị Trung Cộng bắt giữ gần đây, vì những người Việt bị bắt hoàn toàn vô tình, không ai có ý tiến vào Hoàng Sa để xác nhận chủ quyền. Nhưng năm 2004 chính phủ Bắc Kinh phản đối, buộc Nhật trả các thanh niên của họ về nước.

Ðài Loan là một nước nhỏ so với Nhật Bản, mà hai bên giao thương rất mật thiết, quyền lợi kinh tế rất lớn. Nhưng không phải vì thế mà chính phủ Ðài Bắc khiếp nhược, im lặng và tảng lờ khi dân Ðài Loan bị xúc phạm vì Ðiếu Ngư Ðài. Tháng Sáu năm 2005 một chiếc tầu đánh cá tư nhân của Ðài Loan tới gần Ðiếu Ngư Ðài bị tầu tuần duyên Nhật Bản ngăn chặn, giữ để xét hỏi. Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc đã phản đối kịch liệt, gửi một chiến hạm tới quanh Ðiếu Ngư Ðài để bầy tỏ sự tức giận của dân chúng Ðài Loan. Trên chiếc tầu này có ông bộ trưởng quốc phòng và vị chủ tịch Quốc Hội, cho thấy chính quyền một nước tự do dân chủ tự nhiên phải chứng tỏ họ biết lo chung mối lo của nhân dân.

So sánh các biến cố trên với những vụ các “tàu lạ” đâm vào mạng sườn tầu Việt Nam giữa đêm, hoặc bắt cóc các ngư dân Việt Nam đòi tiền chuộc trong vùng Hoàng Sa, và đến vụ đánh đập, cướp bóc các ngư dân Lý Sơn và Bình Châu bây giờ, thì thấy khác nhau xa. Khác không phải vì người Nhật biết cư xử lịch sự văn minh hơn người Trung Quốc. Khác không phải là chính phủ Nhật biết kính nể dân Trung Hoa dù ở lục địa hay ở Ðài Loan. Khác là vì từ chính phủ Bắc Kinh cho đến những người lính Trung Cộng đóng ở cảng Cần Cẩu không ai cần tỏ ra biết kính trọng dân Việt Nam.

Chúng ta phải tự hỏi tại sao quân Trung Cộng trong cảng Cần Cẩu biết kính trọng luật hàng hải quốc tế để đối xử với tầu, thuyền nước khác theo lối loài người văn minh, mà lại trở mặt, biến thành những hải tặc dã man khi gặp người Việt Nam?

Không thể nghĩ rằng chính phủ Bắc Kinh có chính sách kỳ thị, ra lệnh cho quân lính của họ coi người Việt Nam như quân thù. Chính quyền một nước lớn thường vẫn phải tỏ ra họ tôn trọng những luật pháp quốc tế. Ngoài ra, chính phủ nào cũng phải ra lệnh cho quân lính cứu người trong lúc lâm nạn, không để quốc gia họ bị mang tiếng bất nhân. Hành động dã man của quân lính Trung Cộng có thể do họ vẫn được lệnh đối xử với ngư dân Việt Nam như vậy, để cho mọi người Việt Nam khác phải sợ mà lánh xa. Hoặc chính những người lính này thấy cơ hội có thể cướp bóc thì không ngần ngại ăn cướp ngay. Khi không ăn cướp được thì tra tấn. Quân lính Trung Cộng chiếm đóng Hoàng Sa thì cũng là người, những người được huấn luyện quân phong, quân kỷ. Tại sao họ đang tâm cướp bóc, đánh đập người Việt Nam như thế? Người Việt đã làm gì để đến nỗi bị họ thù ghét?

Xem cách họ táng tận lương tâm, tra khảo man rợ thì thấy không phải là họ chỉ thù ghét mà đúng ra là họ khinh rẻ. Họ coi khinh các ngư phủ Việt Nam, khinh mọi người Việt Nam. Ðối với kẻ thù, người ta cũng còn có khi tỏ lòng kính trọng và ra tay giúp đỡ khi hoạn nạn để chứng tỏ mình hào hiệp. Chỉ khi nào trong lòng khinh bỉ, nhìn những người trước mặt mình mà không coi đó là những con người ngang hàng, thì họ mới đối xử theo lối của loài muông thú.

Vậy tại sao những người lính Trung Cộng lại coi khinh người Việt Nam như thế?

Năm 1974 sau khi đánh chiếm được Hoàng Sa, quân Trung Cộng còn kính trọng những người lính Hải quân Việt Nam Cộng Hòa bị bắt; đưa tù binh về Hải Nam chữa vết thương và cung cấp lương thực, rồi trả các tù binh trở về theo quy luật quốc tế, mặc dù hai nước không có quan hệ ngoại giao. Người lính Trung Cộng hồi 35 năm trước khác người lính bây giờ hay sao? Hay là cách họ nhìn người Việt Nam từ đó tới nay đã thay đổi?

Chúng ta cứ nhìn thấy cách chính quyền Bắc Kinh đối xử với chính quyền Hà Nội mà suy ra. Ðối với chính quyền Bắc Kinh, đảng Cộng Sản Việt Nam là một bọn người vô ơn bạc nghĩa. Lê Duẩn đã sửa cả hiến pháp ghi những lời lên án Trung Quốc, rồi hoàn toàn thần phục Liên Xô để chống Trung Quốc, gây nên hai cuộc chiến tranh biên giới. Mười năm sau, Liên Xô và các nước Cộng Sản Ðông Âu sụp đổ, viện trợ giảm dần cho tới lúc cạn kiệt. Từ năm 1992, đảng Cộng Sản Việt Nam đã “quy hàng” một cách nhục nhã. Nguyễn Văn Linh, Ðỗ Mười, xin được vào triều kiến nhưng Ðặng Tiểu Bình chỉ cho phép đến thành phố Thành Ðô gặp gỡ, lại bắt phải đem Phạm Văn Ðồng đi theo. Suốt những năm trước guồng máy tuyên truyền ở Hà Nội vẫn gọi ông ta là Ðặng Lưu Manh, bây giờ toàn bộ nhóm lãnh đạo mất chỗ dựa ở Mát Cơ Va nên phải trở lại cầu cạnh Ðặng Lưu Manh. Hỏi có ai thấy thế mà không khinh bỉ?

Thái độ khinh bỉ đó đã thấm từ trên xuống dưới. Cho nên dân Trung Hoa bây giờ nhiều người cũng coi thường mọi người dân Việt Nam. Ðọc các bản hồi ký của những viên cố vấn Trung Cộng đã sang giúp Việt Nam đánh Pháp chúng ta thấy thái độ khinh thường đó. Tất cả các hồi ký đều mô tả những quyết định và chuẩn bị chiến lược, việc thi hành các trận đánh, áp dụng các chiến thuật, đều do các cố vấn quyết định, từ trận Cao Bằng đến Ðiện Biên Phủ. Tướng sĩ Việt Nam thì bị mô tả là sợ khó, chóng mệt mỏi, phải có các cố vấn Trung Quốc thúc đẩy mới đánh tiếp. Có lúc Trần Canh dọa nếu không đánh tiếp thì ông ta về Bắc Kinh, không trở lại nữa, thế là phải nghe lời ông ta! Không những thế, các tướng cố vấn Trung Cộng như Trần Canh, Vi Quốc Thanh, lúc nào cũng điện về Bắc Kinh hỏi ý kiến, được Quân ủy Trung ương Trung Cộng chuẩn ý trước khi cho bên Việt Nam thi hành. Người Việt Nam biết tự trọng tất nhiên phải nghi ngờ các lời tự thuật đó, không thể tin là đúng hoàn toàn. Nhưng điều đáng nói ở đây là thái độ của giới quân sự Trung Quốc đối với Việt Nam là một thái độ khinh thường, coi rẻ. Các bạn trẻ ở Việt Nam hãy tìm trên mạng lưới sẽ đọc được tất cả những thứ hồi ký đó để tự mình suy xét.

Cũng giống như thái độ của quân đội, nhiều dân thường bên Trung Quốc cũng mang lòng khinh rẻ người Việt, nước Việt. Chúng ta đã thấy trên nhiều mạng lưới của giới trẻ Trung Quốc họ đưa lên những kế hoạch đánh chiếm Việt Nam như thế nào, dùng bao nhiêu quân, đánh vào những đâu. Rồi họ bàn cãi, tranh luận với nhau, coi chuyện đánh Việt Nam như một trò chơi điện tử.

Trước các hành vi đó, chính quyền Cộng Sản Việt Nam không dám ngỏ một lời phản đối. Trái lại, mỗi khi có người Việt Nam nào dám đặt vấn đề với Trung Quốc thì chính quyền Cộng Sản bắt bớ, bỏ tù. Báo chí cả nước không được nói đến những vấn đề “nhậy cảm.” Nhìn thấy cách cư xử đó, người không khinh cũng phải sinh lòng khinh rẻ.

Trong vụ lính Trung Quốc cướp và đánh các ngư dân Việt Nam tránh bão, mạng lưới một tờ báo vừa cho đăng tin này, với những hình ảnh và lời phỏng vấn, tường thuật, thì chỉ vài giờ sau đã bị cắt ngay. Nhật báo Người Việt đã đọc và lưu lại bài đó trước khi bị cắt cho nên mới có cơ hội loan tin.

Tư cách chính quyền một nước hèn hạ như vậy, làm sao người ta không khinh được?

Mối nhục “thiên cổ vô cùng chi sỉ” ở đó mà ra!
caubennoc
Posts: 553
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:43 pm
Contact:

Post by caubennoc »

Về Hiện Tượng Bỏ Đảng

VI ANH .
Trung Cộng đã đại hội đảng xong. Việt Cộng sắp tổ chức đại hội đảng. Theo báo Strait Times đại hội Đảng TC đã xong nhưng không chỉ định ai thay thế Ô. Hồ cẩm Đào. Điều đó cho thấy Ông Hồ Cẩm Đào vẫn nắm quyền đến năm 2017 và Ong Tập Cận Bình mà nhiều người tin là " thái tử" sẽ lên thay thế còn phải "xếp hàng chờ ngày". Nhưng thế còn đỡ nguy hiểm cho Ô Tập Cận Bình hơn. Ong khỏi mắc phải bị "lời nguyền CS" nếu đại hội đảng chỉ định Ong là người " thừa kế." Thời Ong Mao trạch Đông, ba người thừa kế được Ong Mao chỉ định đều bị thanh trừng. Ông Lưu Thiếu Kỳ đã bị tra tấn đến chết trong nhà tù trong thời kỳ Cách mạng Văn hoá. Ông Lâm Bưu chết trong một vụ tai nạn máy bay một cách bí hiểm. Ong Hoa Quốc Phong,chưa kịp ngồi vào ghế của ông Mao đã bị ông Đặng Tiểu Bình hạ bệ. Hai người có thừa kế Ong Đặng Tiểu Bình bị Ong Bình cho ra rìa và bất động hoá.

Ở Hàn Cộng, ba đời cha truyền con nối. Ô Trùm CS Im Jong Il bị đột tai biến mạch máu não và trụy tim tự động chỉ định người con thứ thay thế mình, sau khi cha Ong chỉ định Ong nắm trọn đảng quyền, quân quyền và chánh quyền.
Ở VN, có 3 triệu đảng viên, sắp đại hội đảng lần thư 11. Từ lâu dù Đảng là tiền, là bạc, là quyền, là thế, nhưng có " một hiện tượng diễn ra từ lâu nay ở Việt Nam là một số đảng viên sau một thời gian sinh hoạt trong Đảng đã công khai tuyên bố từ bỏ lý tưởng đó, và trả thẻ đảng (Đài Á châu Tư do, bài viết của phóng viên Gia Minh) . Thời CS Hà nội cộng sản hoá Miền Nam sau khi tóm thâu được, bỏ đảng vì "những người được gọi là đồng chí của họ thoái hóa biến chất đến mức mà họ cho là không thể chấp nhận được. Như những "đảng viên tên tuổi đã "đi theo cuộc kháng chiến với Việt Minh từ những ngày đầu tiên như ông Nguyễn Hộ.

Sang thời kỳ "chuyển hệ tư duy" và đổi mới kinh tế theo kinh tế thị trường, bỏ đảng vì các đảng viên, cán bộ "nắm giữ những chức vụ quan trọng,. . . nhũng lạm công quĩ, dùng nhiều đòn phép để chiếm đất của người dân làm của riêng." Chẳng những đảng viên mà "mẹ chiến sĩ, gia đình có công với cách mạng, gia đình cách mạng" cũng bỏ đảng vì đảng CS cầm quyền trở bọn "cướp ngày là quan" tư bản đỏ ở thành thị và cường hào ác bá đỏ ở nông thôn.

Hỏi làm sao không nhục khi thấy những đảng của mình, "đồng chí" của mình hành động như vầy. Ở Saigon, toà án CS tuyên án ông Huỳnh Ngọc Sĩ 3 năm tù và ông Lê Quả 2 năm tù vì tội lợi dụng chức vụ và quyền hạn chớ không phải tội hối lộ hàng trăm ngàn đôla từ công ty tư vấn quốc tế Thái Bình Dương của Nhật. Dư luận Nhựt và VN đều cho là quá nhẹ. Toà CS công khai viện lẻ nói trong bản án có chiếu cố hai đảng viên đã cống hiến lâu dài này. Cũng vì chiếu cố đảng viên, ông Nguyễn Việt Tiến đảng viên cấp cao hơn sắp được đưa vào trung ương ủy viên dính vào một vụ ăn cắp của công là dự án PMU18 hàng mấy triệu Đô la. Người tay em chỉ lấy chơi cá độ đá banh, mà số tiền đã đến một triệu mấy trăm ngàn Đô. Ban đầu ngưòi đảng viên chuẩn trung ương ủy viên này bị bắt, bị toà kêu án tù, nhưng sau cũng toà án CS lại tuyên bố trắng án. Nhưng các nhà báo phanh phui vụ tham nhũng PMU18 bị bắt giam, khởi tố, kẻ thì tù ở người thì tù treo, rát thẻ báo chí.

Trường hợp điển hình là việc trả thẻ đảng của ông Trần Như Đào, một đảng viên kỳ cựu tại Nam Định. Ong bỏ đảng vì 'sau 45 năm là Đảng viên Đảng CSVN, ông này thấy không thể đứng chung cùng đội ngũ với những người mà ông nêu đích danh như Chu Văn Đạt, Trần Minh Oanh, Phạm Hồng Hà là những đảng viên giữ những chức vụ quan trọng mà theo lời ông Trần Như Đào là 'bất nhân thất đức 'ở Nam Định'.

Không phải riêng một Ong Trần Như Đào ở địa phương mà chính Ông Nguyễn Khắc Mai, nguyên Trưởng Ban Nghiên Cứu, Ban Dân Vận Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam, trên bình diện toàn đảng, khắp nước cũng bất nhẩn: "Có một nhóm người, có một số người nghịch tặc, chả biết suy nghĩ gì hễ có quyền là cưỡi lên đầu thiên hạ thôi, và hành xử chẳng khác gì vua quan ngày xưa hết." "Có những người, những nhóm nguời mà họ rất 'tầm bậy' và họ chiếm cái quyền là họ làm nhảm nhí". "Cái đang xấu hỗ của đảng CSVN là rất nhiều quan chức sống bầy hầy và có một số nào đấy đương chức đương quyền buộc phải a dua theo số đông. Đây là cái nỗi cay đắng của chúng tôi hiện nay đấy.
Và gần đây bỏ Đảng vì Đảng phản bội Tổ quốc và đồng bào như một số đảng viên Cộng sản nói với với Đài" [Á châu Tự do] "Các ông chẳng yêu tổ quốc chút nào hết, chẳng yêu đồng bào chút nào hết mà tiếp tay với Trung Quốc để đàn áp đồng bào. Tiêu biểu như "Tôi từng là đảng viên Đảng CSVN tham gia ở chiến trường Kampuchia, nghỉ việc năm 1990-1991 lý do vì đảng ưu tiên, ưu đãi cho bọn ăn hối lộ như PMU18, Lã Thị Kim Oanh, Sở Giao thông thành phố Sài Gòn ăn đôla của Nhật, dự án 112- quá nhiều không thể kể hết không thấy xét xử. Đây là thông tin trung thực của tôi; tôi không làm cho ai nên không nịnh bợ người nào."

Bỏ đảng vì "diễn tiến hoá bình" và 'tự diễn biến'. Cái này là do ông Tô Huy Rứa, trưởng ban Tuyên giáo Trung ương Đảng, nói hồi đầu tháng bảy vừa qua trên một bài viết trên cơ quan ngôn luận của Đảng CSVN là tờ Nhân Dân. Ong Rứa nhân định hiện tượng 'tự diễn biến' còn nguy hiểm hơn điều được Đảng nói đến lâu nay là 'diễn tiến hòa bình' do các thế lực thù địch tiến hành chống phá chế độ.

Tuyên truyền phản động mà Ong Tô huy Rứa ám chỉ đó trên thực tế là những lời tâm huyết của những người có lý tưởng, thực sự thương dân yêu nước mong muốn cho đất nước tiến lên sánh vai cùng các nước khác và mọi người dân được hưởng lợi trong quá trình phát triển. Nhưng chính Đảng CS là một vật cản, là sức ì, một số người lợi dụng biến Đảng độc quyền độc tôn thành như tổ chức băng đảng tội phạm có tổ chức, có người gọi là đảng Mafia, để đảng viên "vô tư, thoải mái" tham nhũng một cách vô tội vạ, biến đảng nhà nước thành "vô ơn là lính, bạc nghĩa là làng" còn tệ hơn thời Tàu và Phắp cai trị.

Tóm lại Đảng CS là một đảng bế tỏa, bế tắc, và biến thái. Tranh chấp quyền lực phe cánh thượng tầng thường bằng thanh trừng nhau. Có khi bất mãn, thất vọng muốn bỏ đảng, rút ra cũng không được nếu không có dũng khí của một con người. Đại hội đảng chỉ là phương tiện hợp thức hoá cái thắng lợi của phe cánh thắng. Đảng đứng trên luật pháp, lãnh đạo nhà nước, quản lý nhân dân, làm chủ đất nước. Đảng không chia quyền cho bất cứ tổ chức nhân dân nào cả. Quyền lực nằm gọn trong tay Đảng, không đối lập, không giám sát. Bản chất quyền lực là hủ hoá nếu không giám sát nên Đảng thoái hoá và đảng viên bỏ là phải .

VI ANH
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 4 guests