Page 27 of 85

Posted: Fri Jan 28, 2011 2:45 am
by vuphong
Chuyện Phiếm kể về nghề...Hót Cứt !



Lúc tôi còn nhỏ mẹ tôi thường đe tôi :
‘’Nếu không học hành tử tế thì sau này chỉ có đi hót cứt thôi con ạ‘’.
Hình ảnh người gánh phân suốt ngày lang thang trong cái thị trấn nghèo quê tôi làm tôi rùng mình. Cái tương lai có mùi khó ngửi này chẳng quyến rũ được ai. Nhưng mẹ tôi lầm. Thời tôi lớn đây là cái nghề hái ra tiền. Ít nhất cũng hơn hẳn cái sự kiếm ăn với cái bằng tiến sĩ của tôi. Anh biết đấy, viện Khoa Học của tôi nằm cạnh làng Cổ Nhuế, tôi có đủ sở cú để khẳng định với anh điều đó. Làng này sống bằng nghề hót cứt, có đền thờ Thành Hoàng hẳn hòi. Thành Hoàng làng Cổ Nhuế là một vị hót cứt chính hiệu. Trong đền người ta thờ đôi quang và chiếc đòn gánh cùng hai mảnh xương trâu cầm tay ... Người làng Cổ Nhuế đã đời này qua đời khác, ngày lại ngày, làm sạch cho thủ đô Hà Nội.

Vua Lê Thánh Tông từng ban cho làng này câu đối :

‘’Khoác tấm áo bào giang tay gánh vác Thiên hạ
Vung hai thước kiếm, tận thu lòng dạ Thế gian’’.

Anh đừng so sánh làng Cổ Nhuế với làng Phương Lưu ; cạnh trường đại học Hàng Hải của anh ở Hải Phòng. So sánh như thế là hạ nhục làng Cổ Nhuế của tôi đấy. Ngoài cái vinh quang của nghề hót cứt (lao động là vinh quang), làng Cổ Nhuế còn là quê hương của một đại tướng : Ðại tướng Văn Tiến Dũng, cùng một tổ tiên vinh quang như các vị đồng hương gồng gánh của ông. Hơn nữa làng Phương Lưu của anh tuy hót cứt nhưng chủ yếu sống bằng nghề đạo chích, chứ đâu có được ‘’tôn chỉ mục đích’’ như dân Cổ Nhuế.

Thanh niên Cổ Nhuế ta thề
Chưa đầy hai sọt chưa về quê hương

Nhưng không phải dân làng Cổ Nhuế lúc nào cũng được hưởng cái vinh quang của lao động đâu anh ạ. Kể từ những năm hợp tác hóa ồ ạt vào cuối thập niên 50, nghề hót cứt đã phải chịu nhiều cay đắng. Người ta ngăn cấm những người nông dân đi hót cứt, coi như họ là những người trốn lao động, bỏ việc đồng áng để đi ‘’buôn’’ cứt. Người làng Cổ Nhuế phải tôn trọng pháp luật của đảng đành ngồi nhà mà tiếc rẻ những bãi...... đơn côi không người chăm sóc.

Chỉ mãi tới cuối năm 1986, sau đại hội đổi mới của đảng, đất đai được chia ra để cho các gia đình nông dân tự canh tác. Nghề trồng rau ở ngoại thành Hà Nội sống lại, người Cổ Nhuế mới lại được phép đi.... hót cứt và buôn... cứt.

Rau cỏ của xứ ta thơm ngon là nhờ phân Bắc. Các cụ lão nông chi điên dạy thế ! Phân hóa học cho dù là sản phẩm của trí tuệ văn minh, chỉ cho những thứ rau xanh tươi nhưng nhạt thếch.

Ðổi mới và cởi trói do mẫu công khai (Glasnost) có cái mặt trái của nó. Trước đây ai muốn đi hót cứt thì hót. Nhưng từ ngày người người đi hót, nhà nhà đi hót thì theo qui luật. ‘’Người khôn, của hiếm’’, dân Cổ Nhuế đã chiến đấu ngoan cường để dành lấy địa vị đầu ngành.... cứt Việt Nam.

Không biết đại tướng đồng hương , ngày ấy có can thiệp vào chuyện này hay không, nhưng theo qui dịnh của UBND thành phố HàNội dân ngoại thành không được phép tự do đi hót cứt và lấy cứt nữa. Trước đây ngoài những bãi cứt vô tổ chức, vô kỷ luật mà bất cứ ai cũng có thể hót. Người đi lấy cứt có thể đến làm vệ sinh cho các nhà xí hai ngăn ở các thành phố để để thu về cho mình một số cứt kiếm được. Bây giờ người nông dân ngoại thành bị bắt buộc phải mua phân tại chợ Cổ Nhuế, một chợ tự cổ chí kim, từ Ðông sang Tây đều không có, được thành lập năm 1989. Giá cả tùy thuộc chất lượng (nói sau).

Dân ngoại thành bây giờ trở thành người đi lấy phân thuê cho Cổ Nhuế. Họ được phân chia địa bàn hoạt động, theo lịch sắp xếp mang sản phẩm đến chợ nhưng không phải để họ tự bán. Họ chỉ được nhận phần trăm tiền bán mà giá do ban quản lý chợ Cổ Nhuế quyết dịnh. Chống lại ư ?? Mất việc ngay.

Ðội hậu bị, hàng ngàn người xung phong thay chân kiếm cứt (xã hội hiện tại cứt hơi ít lắm, nay phải kiếm, tức là phải đi làm vệ sinh để lấy cứt ở các hố xí, như đã nói trên) Ði kiếm cứt hơn hẳn làm thương nghiệp, đừng nói gì đến nông nghiệp. Mỗi lần tôi hỏi một anh Cổ Nhuế :
- Giá cả như thế chắc các anh chóng giàu lắm.
Anh đáp :
- Anh Giai ơi, trông thế thôi, chứ kiếm được hai sọt thì cũng ăn mẹ nó hết một sọt rồi còn gi !?!
Trong chợ phân, xuất hiện phân giả. Người ta dùng đất xét thuồn qua ống nứa, giã nhỏ thân chối trộn lẫn với nghệ bôi bên ngoài và cho tất cả lẫn vào phân thật. Ðó là bí quyết. Phân giả gây náo loạn cho chợ phân khiên thanh niên Cổ Nhuế phải cử ra một bộ phận ‘’kiểm tra chất lượng’’ trước khi giao hàng. Anh còn nhớ dốc Bưởi chạy về viện Khoa Học không ? Trạm kiểm tra được lập ra tại đó, hoạt động từ mờ sáng đến trưa. Mùi uế khí từ tay các kiểm tra viên thọc thẳng vào sọt phân tìm của giả. Nhờ lành nghề và cương quyết, sau đó vài tuần, những đứa làm phân giả bị cắt giấy phép.

Tại chợ cứt được chia làm bốn loại:
- Hạng nhất (first class) là phân lấy từ khu Ba Ðình... nơi có nhiều gia đình quan chức nên cứt được coi là ‘’nạc’’(tiếng nhà nghề chỉ cục phân rắn chất lượng cao) (!).
- Hạng 2, Từ khu Hoàn Kiếm, nơi có nhiều dân buôn bán, nhiều nhà hàng khách sạn.
- Hạng 3. Từ khu Hai Bà Trưng và Ðống Ða, nơi đa số dân cư là ngưòi lao động, xài nhiều rau nên ‘’mờ’’ (nhiều nước lỏng bõng)
- Hạng 4. Từ ngoại thành, loại này xanh lẹt vì ‘’nguồn nguyên liệu thuần túy là rau muống. Bà con nông dân làm gì có thịt mà ăn.
Có lần tại chợ xuất hiện một sọt phân đề chữ : ‘’Phân ngoại 100 phần trăm’’. Dân chúng không hiểu tại sao có bọn dám qua mặt Hải quan, dám nhập cảng ‘’phân ngoại’’ về xài.
Về sau chủ nhân sọt phân giải thích : Phân lấy từ bể ‘’phốt’’ (fosse septique) của các sứ quán nước ngoài thì không phải là phân ngoại còn là gì ?

Ðây là những điều tai nghe mắt thấy, tôi ghi lại gửi anh để có dịp kể lại cho bà con xa nước nghe chơi... Cho biết quê hương ta có những thứ.... mà người ta hoàn toàn không có. Tôi bảo đảm đây là sự thật ‘’chăm phần chăm’’. Chuyện có thật dưới XHCN.

Hàn Sĩ - Tiến sĩ Vật Lý, Hà Nội

Posted: Sun Jan 30, 2011 7:13 pm
by thienthanh
Sài Gòn và món củ kiệu tôm khô đón Tết
Tran Tien Dung


Image
Ở một chung cư nghèo, người dân mang hũ củ kiệu ra phơi nắng, chuẩn bị ăn Tết.(hình: Trần Tiến Dũng)

Image
Dĩa củ kiệu tôm khô trên bàn ăn ngày Tết của các gia đình Sài Gòn. (Hình: Trần Tiến Dũng)


Trước cả hội tảo mộ, lặt lá mai, hái dưa hấu….hình ảnh tết đến sớm nhất đối với mọi gia đình người Việt Nam là những bó củ kiệu, củ hành, củ cải… được các bà các chị mang từ chợ về để chế biến thành những món được gọi chung là dưa món. Nhưng trong những món được ưa thích nhất của các gia đình người miền Nam phải nói là củ kiệu.

Vùng cung cấp củ kiệu lớn nhất ở Việt Nam có lẻ là Bình Định, Khánh Hoà, Đồng Tháp… Cứ bắt đầu vào tháng chạp là ở các chợ đầu mối Sài Gòn ùn ùn đưa củ kiệu về các chợ nhỏ. Nhìn những bành củ kiệu bự tổ chảng như mảng cỏ lớn được đưa ra bán, ít ai hình dung được là chỉ sau ít ngày, đám cỏ lấm lem bùn đất đó sẽ hoá thân thành món củ kiệu trắng tươi trong hủ thuỷ tinh của mỗi gia đình.

Việc chế biến món củ kiệu cũng chẳng có gì công phu nhưng công đoạn ngâm nước tro, cắt, lột, phơi nắng củ kiệu cũng không thể nói là dễ dàng. Một người đàn ông nói. “ Ra tiệm mua củ kiệu làm sẳn thì ăn không vừa miệng, còn ăn của vợ làm thì lại sợ tiếng bả rên kể công đau lưng mõi vai.” Đúng là ai có ngồi tách từng lớp vỏ của kiệu mõng dính để có từng củ kiệu trắng tươi mới biết là “ ăn chua” thế nào.

Theo sách thì củ kiệu: vị đắng, tính ấm, làm ấm bụng, tán khí kết, khỏi đầy hơi, bổ thận khí, mạnh dương, còn có tác dụng lợi tiểu, chữa chứng bệnh đái dắt, nếu ăn đều thì chịu được rét lạnh, bổ khí, điều hòa nội tạng cho béo khỏe. Nhưng hỏi ra chẳng mấy ai quan tâm đến chuyện ăn nên thuốc của củ kiệu, chỉ thấy nhà nhà, người người khoái khẩu là ăn tới, nhất là dân nhậu lại càng ăn để đưa cai cho tới luôn.

Người ta nói các món dưa món ở Việt Nam là một “phát minh” của người nghèo để nuốt trôi bữa cơm thiếu thốn đồ ăn, có người phủ nhận, họ cho rằng mấy tay nhà giàu bữa ăn thịt cá ê hề rất cần dưa món kích thích thêm khẩu vị mà tận hưởng món ngon thế gian. Nhưng có lẽ chỉ riêng món củ kiệu – dưa hành trong ba ngày tết là đạt được sự đồng thuận cao nhờ hiệu quả trong việc giúp cả dân giàu, người nghèo “hoá độ” được thịt mở, bánh chưng và cả “núi” những món ngon khác trong ba bữa tết.

Nói về mâm cơm ngày tết VN ai cũng nói đến những món được tôn vinh là quốc hồn quốc tuý nhưng dám chắc là không ai không đưa đủa gắp món củ kiệu tôm khô.

Khác với người miền Bắc ăn dưa món kèm bánh chưng, người miền Nam không ăn củ kiệu với bánh tét bao giờ. Theo cách của nhiều gia đình Sài Gòn, dĩa củ kiệu tôm khô là một món riêng. Một dĩa củ kiệu-tôm khô có rắt thêm một lớp đường cát trắng, có khi thêm vài lát hột vịt bắc thảo. Món này phụ nữ , trẻ con có thể ăn chơi nhưng với cánh đàn ông ưa bia rượu lại là món đưa cay ngày tết thượng hạng. Khoái khẩu và dễ nuốt đến nỗi- nhiều tay bộm nhậu đi chúc tết, nốc rược bia suốt cả ngày mà trong bụng chỉ có củ kiệu, tôm khô. Một tay bộm nhậu gân cổ tôn vinh món mồi tôm khô-củ kiệu như sau: Quí vị có thấy các món ta nào lại hạp rơ với bia tây bằng tôm khô củ kiệu chưa?

Thật khó mà tả hết vị ngon chảy nước miếng của món củ kiệu-tôm khô. Thật kỳ lạ khi món củ kiệu vốn là một món đồ chua nhưng khi ăn vào lại có vị ngọt nồng nàn, ăn kèm với vài con tôm khô, nhất là tôm bạc đất sẽ được thêm vị ngọt bùi từ thịt tôm, nếu để ngấm lâu một chút vào vị giấm có trộn đường thì lại thêm vị ngọt khác thường khó tả, rồi chấm một chút tương có ớt xắt lại thêm vị ngọt mặn, ngọt cay. Kể ngần đó vị ngọt vẫn chưa đủ, nếu không cảm nhận được tổng hoà mùi thơm khó tả có một không hai của món củ kiệu- tôm khô.

Dù ngày nay, cánh bác sĩ thông qua báo chí vẫn cố khuyên người ta tránh ăn các món lên men để phòng ngừa bệnh ung thư, nhưng nhiều nhà nghiên cứu và cả trang Wilipedia tiếng Việt điều cho rằng cây củ kiệu có từ thời các Vua Hùng và do một nàng Mỵ Nương có tên là Kiệu tìm ra, nên từ đó loại cỏ thơm này có tên là Kiệu.

Không ai biết cứ liệu trên có đúng hay không, dù người ta có quyền hồ nghi nhưng sẽ là “khủng hoảng” khó tưởng tượng nếu ăn tết ở Sài Gòn mà lại không dưa món, củ kiệu tôm khô.

Trần Tiến Dũng

Posted: Wed Feb 02, 2011 5:20 am
by KýCóp
Nỗi sợ

Việt Tâm
(Nguồn: DCVonline.net)
“Tớ còn sống được đến ngày nay là vì còn biết sợ!” (Nguyễn Tuân)

Lâu nay, tôi ít viết, hay nói đúng hơn lười viết, cũng vì mang nỗi sợ trong lòng. Năm ngoái, gồng mình viết nhì nhằng về cái bản thân xấu xí, đầy thói hư tật xấu, đầy bệnh tật sân si, nào dè bị đập một vố ngất ngư, tưởng hai năm mươi ngay tắp lự.

Số là có nhiều anh/bác/chú vốn vẫn thù tiền kiếp chế độ phi pháp bên nhà nên đã chẻ sợi tóc đến làm tám, làm chín, rồi mắng sa sả người viết là phản động, chia rẽ cộng đồng; ôi thôi lắm tình, lắm tội, toàn thứ nặng cỡ hàng không mẫu hạm trở lên. Có anh/bác/chú lại còn răn đe đòi cung cấp tài liệu cho FBI điều tra xem người viết có là tay sai, tay chân gì của mấy ảnh bên nhà, làm tôi rét hết sức là rét.

Nghĩ bụng “nghe láo mà chơi, nói láo chơi,” trúng trúng trật trật chẳng đụng chạm đến ai; nhất là đem công tâm nói chuyện thiên hạ, đã chẳng được một lời khuyến khích (không dám dùng nhóm chữ “động viên,” kẻo lại bị nhao nhao đấy hắn dùng từ CS thì thêm oan gia nghiệp báo) thì chớ, lại còn bị đánh túi bụi, nên người viết dỗi, nghỉ chơi.

Ít lâu sau, tay lại buồn ngứa nên rồi cũng phải chui ra khỏi cái tổ kén trùm chăn để mà thanh minh thanh nga cho vỡ lẽ. Ðược cái các anh/bác/chú nghe ra nên xí xóa xì xòa và do đó mới qua khỏi tai ương nghiệp chướng mà còn sống sót đến tận bây giờ.

Nhiều lúc tôi nghĩ vớ vẩn, mình đã chọn lựa từ bỏ cái quốc tịch mà ngài TGM NGô Quang Kiệt gọi “đi đến đâu, cầm cái hộ chiếu cũng cảm thấy nhục vì bị mọi người săm soi nhìn,” vậy mà vẫn không dưng thấy nó làm sao ấy!

Vừa rồi nghe bên nhà đại hội, tôi cũng ngứa tay (và ngứa cả tai) ra phết. Nhấp nhổm cũng muốn ra cái điều ta đây am tường thế sự, định góp vài ý kiến ý cò (và biết chắc chẳng ma nào thèm nghe); song thấy các báo đài, chuyên gia phân tích nói cả rồi, đầy đủ, thấu đáo (họ biết tỏng tòng tong từ cả nửa năm trước mọi sự, đoán trúng phóc) nên người viết chợt nhận ra cái tài hèn, sức mọn mà im cho được việc.

Những ngày đó, ôi xót xa nhiều cho trang mạng nhà, chả được quá 3 hôm lại bị vật tơi bời hoa lá. Theo tổng kết thì có ngày đến hàng vạn mũi dùi cùng đâm vào một lượt khiến mạng bị xé rách teng beng, rỗ như mặt người sau cơn lên thủy đậu nặng.

Chả riêng gì trang Ðàn Chim Việt Online (DCVOnline - phải xác định rõ để khác với một trang mạng cũng có tên tương tự, nhưng với cái đuôi khác) mà cả đến vài trang khác cũng không thoát khỏi trò vặt vãnh này. Có trang chỉ ấp lốt toàn truyện, tạp bút, thế mà cũng bị giập không thua các trang lạm bàn chính trị.

Rồi cả dăm trang bên nhà, chập chờn như ma trơi, lúc đưa được bài lên, lúc bị cắt vứt đi, hoặc cả cái cảnh “mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm,” làm tôi thực sự điếc, chẳng biết ra sao nữa! Bình tâm suy xét, người viết nhận ra chỉ vì mấy ảnh sợ hão sợ huyền nên cấm tiệt và bẻ họng để “chúng”: không còn ngo ngoe đâm bị thóc, chọc bị gạo gì được nữa!

Mấy ảnh làm rất kỹ, tập trung mọi lực lượng, trang bị súng ống đến tận răng, vận dụng hết công cụ bên lề phải, dương dương tự đắc, coi như mình vô địch, anh hùng, tưởng là chắc ai làm, phá gì nổi. Thế mà suy cho cùng, mấy ảnh vẫn chưa gọi là được ăn no ngủ kỹ.

Trong đầu óc các anh lúc nào cũng có một con ma “diễn biến hòa bình,” một ông ngáo ộp âm mưu “lật đổ nhà nước” nên chẳng đêm nào ngủ mấy ảnh chẳng mơ bị bóng đè vì những hồn ma bóng quế đâu đâu. Ðối với các nhân vật mà mấy ảnh nghi ngờ là có thể được người ta tìm tới hỏi han, thăm viếng, rách việc thì mấy ảnh bố trí người canh chừng, ngăn cản.

Bất chấp là bạn hay thù, bất chấp hành xử ngoại giao đúng hay sai, các anh đập cho bò lê bò càng và sẵn sàng xốc quẳng lên xe, mời đi chơi chỗ khác, rồi sau sẽ hay. Cho nên mới xảy vụ một nhà ngoại giao thuộc TLS thù địch ngày trước và một ông nghị của chính phủ từng cho mấy ảnh tiền biếu không phải kêu ầm lên là mấy ảnh chơi luật giang hồ.

Ui! tôi ngộ ra là vì mấy ảnh SỢ, sợ thiệt sự. Bởi hành động của mấy ảnh là hành động thiếu chính đáng nên lúc nào mấy ảnh cũng ỚN, cũng RÉT, rét kinh niên. Ba hoa chích chòe giữa hội trường thì mấy ảnh ra cái điều mình kinh lắm, ai mà động vào sẽ bị nghiến thịt nát xương tan; thế mà suy cho cùng mấy ảnh sợ toàn những người tay không, số ít và lẻ loi.

Mấy ảnh sợ ai. Thì rõ ràng, mấy ảnh sợ những người từng một thời đã cùng đi chung với mấy ảnh nơi con đường bác đi (hay còn gọi là con đường bi đát), nay những người ấy nhìn ra thì nghỉ chơi với mấy ảnh. Cũng thêm vào là mấy ảnh sợ từ ông sư, nhà truyền đạo, vị linh mục ốm bệnh, đến những người phản kháng và kể cả đám dân đen (có người đã từng nuôi các ảnh, giấu dưới hầm, đóng góp công của cho mấy ảnh, đã từng là mẹ chiến sĩ anh hùng, đã từng là công bộc của mấy ảnh, đã từng là gia đình có công, vân vân và vân vân). Mấy ảnh sợ tuốt, sợ hết, sợ ráo nạo.

Mấy ảnh biết chặn gì thì cũng chẳng hơi sức đâu làm hoài, nên thôi thì để cái đại hội qua đi, bớt nghe lời điếc tai nhức óc, rồi sau khi “thành công vẻ vang” thì lại chịu thua cho chúng tung hoành. Mấy ảnh từng có chuyên viên hí hửng đã phá băng hàng trăm mạng vậy mà vẫn rét với một cô gái nhỏ nhoi. Bị vạch mặt chỉ tên, mấy ảnh chơi luật rừng đem nhốt và đưa tòa phang luôn cho một thời gian tù tội.

Bị dư luận khắp nơi mắng mỏ quá thì thả ra, với chiêu bài “cúi đầu nhận tội” và phạt tiền vì xuyên tạc không bằng chứng. Chung qui vì mấy ảnh “danh bất chính, hoạt bất minh” nên sợ từ đứa bé sợ đi. Cái Facebook ẩm ương chẳng ăn nhập gì đến đại sự cũng sợ, cắt, khép nhặng xị lên. Các booker vẫn chỉ nhau đi “loanh quanh cho đời mỏi mệt,” vượt phăng tường lửa rồi ngạo trêu mấy ảnh tức muốn lòi phèo.

Mười ngày đại hội rồi cũng xong. Các anh thở phào vì “hoàn thành sứ mạng.” Ðoàn hát đã có đủ vai, dù không mới mẻ gì, nhưng thay nhau nay làm dzua, mai làm tướng cướp, vẫn là đủ, xong và rốt ráo. Mấy bữa nay, quân ta lại xông pha ào ào, một tay, hai tay vung lên xem có chiều vui tở mở.

Khôi hài vô biên là vở tuồng vừa hạ màn thì nhao nhao hết khối này, ban bệ nọ gáy, ca tay kép vừa đóng vai dzua, vai chúa ỏm tỏi cả lên. Ðó là cái màn xưa như trái đất, nhưng xem ra mấy ảnh chẳng nghĩ được gì hơn, đành nhai lại, dù nó còn thua bản nhạc “ò e con ma đánh đu, tác giăng nhảy dzù, rô be bắn súng” của những gánh cải lương dùng làm nét kết thúc hạ màn.

Người viết tưởng rằng trang mạng nhà mình bị thiêu vì ngoan cố đăng bài của nhà văn Võ Thị Hảo nên khiến mấy ảnh sùng. Nhưng chẳng phải! Ðó là cách hành xử chung của mấy ảnh mỗi khi sắp có chiến dịch vậy thôi. Thế nên Ngố tôi mới cho rằng bên nhà bây giờ có lắm điều dzui là dzui quá ta, dzui dăm ngày ba bữa còn dzui.

Ấy là một phát minh mới của mấy ảnh mà Ngố tôi vừa nhận ra: cái gọi là tổ, khu phố, thôn, phường, v.v... văn hóa xem ra hết ăn khách, nay mấy ảnh chuyển sang gọi là văn minh đối phó, văn hóa che chắn, cho nó vừa thức thời, vừa hợp giai đoạn.

Một câu ngắn gọn: mấy ảnh đang mang NỖI SỢ sâu trong người, nên nhìn đâu cũng thấy toàn là địch vây quanh!

Posted: Thu Feb 03, 2011 3:31 am
by KýCóp
Kinh tế học của nghề cướp biển

Trần Vinh Dự
(Nguồn: VOA)
Theo VNExpress đưa tin cuối tuần trước, hải tặc Somalia được cho là đã bắt giữ một tàu chở hàng của Việt Nam cùng 24 thủy thủ hôm 17 tháng 1 vừa qua. Con tàu của Việt Nam mang tên Hoàng Sơn Sun phát tín hiệu kêu cứu và mất liên lạc sau đó. Chủ tàu xác nhận con tàu đã bị hải tặc tấn công. Trên tàu có 24 thủy thủ đều là người Việt Nam.
Image
Một hải tặc Somalia đứng tán chuyện với giới vũ trang khác trên bãi biển Hobyo, hình chụp năm 2010.
Hobyo là một thành phố cảng hoang tàn, không trường học, không bệnh viện, không nguồn nước uống sạch,
nhưng lại là nguồn của mối đe dọa lớn cho hàng hải toàn cầu. (Hình: Roberto Schmidt/AFP/Getty Images)
Ðây không phải là lần đầu tiên tàu chở hàng của Việt Nam bị hải tặc Somalia tấn công. Trước đây, ngày 15 tháng 3, 2009, tàu chở hàng Việt Nam M/V Diamond Falcon cũng bị hải tặc tấn công ở vịnh Aden (vùng biển giữa Nam Yemen và Bắc Somalia) nhưng thoát nạn nhờ tàu chiến TCG Giresun (F-491) của Thổ Nhĩ Kỳ và tàu chiến HDMS Absalon của Ðan Mạch can thiệp kịp thời.

Nghề cướp biển ở Somalia

Somalia trước đây vốn không nổi tiếng về nghề cướp biển. Nghề này chỉ dần dần trở nên thịnh hành kể từ khi chính quyền Siad Barre bị lật đổ vào tháng 1, 1991. Lý do là các cuộc nội chiến triền miên sau đó đã khiến kinh tế Somalia lâm vào tình trạng khốn cùng với thu nhập bình quân đầu người hiện nay chưa tới US$600. Thêm vào đó, do không còn lực lượng tuần dương, vùng biển giàu có của Somalia dần dần trở thành bãi đánh bắt trộm của các tàu cá nước ngoài và bãi đổ chất thải độc hại của các tập đoàn công nghiệp nước ngoài.

Theo một báo cáo do Bộ Phát Triển Quốc Tế (DFID) của Anh công bố năm 2005, thì chỉ trong vòng 2 năm 2003 và 2004, Somalia đã mất khoảng US$100 triệu doanh thu do việc các tàu cá nước ngoài xâm nhập vào hải phận của nước này để đánh bắt trộm cá thu và tôm.

Sinh kế bị cướp mất kèm theo nỗi căm phẫn vì bị nước ngoài bóc lột đã đẩy nhiều người Somalia vào chỗ trở thành cướp biển. Nghề này đã thực sự đem lại thu nhập và sinh kế cho nhiều người. Theo thông tin từ nhiều nguồn, đối với đại bộ phận dân Somalia (70%), cướp biển được coi là một nghề đáng nể trọng. Họ “ủng hộ mạnh mẽ nghề cướp biển như là một cách để bảo vệ chủ quyền quốc gia trong vùng lãnh hải của họ”, và những kẻ cướp biển này tin rằng họ đang bảo vệ vùng đặc quyền đánh bắt của mình và đem lại công lý cũng như đền bù cho các nguồn tài nguyên hải dương đã bị nước ngoài lấy mất.

Trên thực tế thì giữa một cộng đồng dân cư nghèo đói, theo cách nói của Abhi Farah Juha, một người Somalia sống gần biển, trên BBC thì “những kẻ cướp biển có tiền, họ có quyền lực, họ ngày càng mạnh lên [...]Họ cưới những cô gái đẹp nhất, họ xây những ngôi nhà lớn nhất, mua xe hơi và súng ống hiện đại.” Và điều này là một hấp lực ghê gớm đối với các thanh niên thất nghiệp của Somalia.

Theo bài báo trên của VNExpress, hiện có 30 tàu và hơn 700 thủy thủ bị bắt giữ làm con tin ở Somalia. Thiệt hại mà nghề cướp biển, chủ yếu ở vùng biển gần Somalia, gây ra cho thế giới là vào khoảng US$12 tỷ mỗi năm, theo One Earth Future Foundation.

Tại sao không kiểm soát được?

Có một thực tế từ vài năm gần đây, các lực lượng hải quân của nhiều nước như Nga, Trung Quốc, Ấn Ðộ, Liên Minh Châu Âu, Nhật Bản, Canada và cả Mỹ đã thường xuyên tham gia bảo đảm an ninh trong các vùng biển này nhưng có vẻ như tình hình cướp biển không giảm đi mà còn có diễn biến ngày càng phức tạp. Trong một cuộc trao đổi với Ðại Tá Jeff Breslau, phát ngôn viên của Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương của Mỹ, hồi cuối năm ngoái, tôi được ông cho biết lý do từ phía một quan chức hải quân. Theo Jeff, không thể phân biệt được một tàu đánh cá thông thường với một tàu cướp biển. Các lực lượng hải quân chỉ được biết khi được các tàu nạn nhân phát tín hiệu cấp cứu, và việc này thường chỉ xảy ra khi cướp biển đã tấn công. Khi đó, vấn đề khó khăn tiếp theo của các tàu hải quân là không thể nổ súng vì thường cướp biển sẽ nhanh chóng bắt giữ được con tin.

Trong một số trường hợp, các tàu hải quân nước ngoài cũng phát hiện được các đối tượng tình nghi là cướp biển và truy đuổi chúng. Tuy nhiên, đa số họ không được quyền đi vào vùng lãnh hải của Somalia, vì thế họ chỉ có thể đuổi bắt cướp biển trong hải phận quốc tế. Thêm nữa, trong một số trường hợp thí dụ như tàu hải quân Hà Lan De Zeven Provincien hồi tháng 4 năm 2009 đã bắt được 7 tên cướp biển Somalia trong vụ cướp tàu chở dầu Handytankers Magic nhưng sau đó đã phải thả nhóm cướp này vì không có thẩm quyền pháp lý để bắt giữ.

Tệ hại hơn, đã có một vụ trong đó cướp biển bị hải quân của Liên Minh Châu Âu bắt giữ ở vùng Vịnh Aden hồi tháng 1 năm 2009, bị đưa về Châu Âu xét xử ở tòa án Hà Lan vào tháng 5, 2010 và bị kết án tù 5 năm. Sau khi ra tù ít có khả năng là nhóm này bị trục xuất trở lại Somalia vì nước này được coi là nơi quá nguy hiểm để trục xuất. Vì thế có lẽ họ sẽ được ở lại Châu Âu (trên thực tế một người đã nộp đơn xin tỵ nạn lại ở Hà Lan). Việc giơ cao đánh khẽ khiến nhiều người lo ngại rằng nó không làm cướp biển e ngại, mà thậm chí còn khuyến khích cướp biển hành động ngang tàng hơn.

Bản thân chính quyền đương nhiệm của Somalia thì không có năng lực để kiểm soát hoạt động cướp biển, và cũng không có nhiều động cơ để thực hiện việc này.

Chi phí thuộc về ai?

Như đã nói ở trên, tổn hại về kinh tế do cướp biển gây ra cho thế giới là nhiều tỷ USD mỗi năm. Chi phí này do ai gánh? Thông thường sau khi cưỡng chiếm được một con tàu, cướp biển sẽ đòi tiền chuộc. Sau khi nhận được tiền chuộc chúng sẽ trả lại tàu và thủy thủ đoàn. Các công ty vận tải quốc tế thường đã đóng bảo hiểm và được bảo hiểm trả cho các tổn thất dạng này. Vì vậy, họ cũng không muốn các lực lượng hải quân mạnh tay với cướp biển vì hậu quả của nó có thể dẫn tới những kết cục tai hại hơn.

Ðương nhiên cướp biển càng lộng hành thì chi phí bảo hiểm càng cao lên. Tuy vậy, các hãng tàu cũng có thể chuyển một phần chi phí này đến người tiêu dùng thông qua việc tăng cước vận chuyển. Nói tóm lại là khoản phí tổn mà cướp biển Somalia được chia đều cho người tiêu dùng ở khắp nơi trên thế giới.

Posted: Fri Feb 04, 2011 6:58 am
by vuphong
Tết Việt Nam tại Paris
Thế là một cái Tết nữa lại đang đến. Năm nay chúng tôi đón Tết với đông đảo bạn bè và cộng đồng người Việt tại Paris, trong cái lạnh -2°C từ gần một tuần trước Tết.
Paris rộng hơn Hà Nội nhiều nhưng ở những khu ít người châu Á sống hay hoạt động thương mại thì những ngày này vẫn chỉ là những ngày cuối tháng 1 thường niên. Phải vào đến quận 13 mới thưởng thức được chút không khí bận rộn, hối hả khi năm hết Tết đến. Các phố chính của quận 13 nườm nượp người đi bộ xem hàng hay tay xách nách mang, các bãi đậu xe kín hết chỗ, nhất là vào những ngày cuối tuần.

Quận 13 là quận có mật độ người châu Á đông nhất ở Paris và có lẽ trên toàn nước Pháp. Ở đây Noel và Tết Tây người ta không chăng đèn kết hoa mấy nhưng Tết Nguyên Đán thì các đại lộ chính lại rực rỡ ánh đèn, băng rôn và bảng hiệu chúc mừng năm mới bằng nhiều thứ tiếng, trong đó có tiếng Việt.

23 Tết, ngày ông Công ông Táo, chúng tôi đi chợ ở quận 13 mua sắm ít đồ chuẩn bị Tết. Các cửa hàng cửa hiệu đều bán đồ phục vụ Tết: từ lá dong, gạo nếp cái hoa vàng đến bánh chưng, bánh tét, bánh mứt kẹo các loại, hoa mai, hoa đào, cây quất... Đi chợ Tết giữa tuần sẽ đỡ đông người và có thể có thời gian thoải mái lựa chọn những gì mình muốn mua. Chúng tôi mua ít chân giò về nấu thịt đông, gấc và gạo nếp về nấu xôi, đậu xanh để nấu chè kho và quan trọng hơn cả là hoa đào.

Đào ở đây không được nguyên cành như ở Hà Nội mà chỉ là đào nhánh, nhưng nhánh cũng rất cao và khỏe nên chỉ 2-3 hôm sau cả 2 lọ hoa đào nhà tôi đã nở đều và thật đẹp. Thiếu gì thì thiếu, Tết với tôi không thể thiếu hoa đào, có lẽ bởi từ nhỏ tôi luôn được bố mẹ dẫn đi chợ hoa Quảng Bá hay phố Hàng Lược chọn hoa. Về nhà bố tôi cắt đi chút xíu chỗ cuối cành rồi đốt nhẹ vết cắt để thông nhựa cho cả cành rồi cắm cành đào lên bàn thờ tổ tiên. Dù đã xa nhà hơn chục năm, ăn hơn chục cái Tết ở nước ngoài nhưng cái nghi thức chuẩn bị cành đào ngày Tết ấy vẫn không hề phai nhạt trong tôi.

Tết năm nay nhiều nhóm bạn Việt Nam của tôi ở Paris và các vùng phụ cận tập hợp nhau lại tổ chức gói bánh chưng cho nên chúng tôi có nhiều lời hứa tặng bánh chưng, chồng tôi mừng lắm vì anh rất thích món này. Chồng tôi tuy sinh ra và lớn lên ở Pháp nhưng cũng rất thích không khí Tết và đặc biệt là các món ăn ngày Tết: nem, bánh chưng, dưa hành, canh măng khô với miến, xôi gấc... món nào anh cũng nhiệt tình “chiến đấu”. Không giỏi tiếng Việt nhưng anh cũng chịu khó mỗi ngày ngồi cùng tôi 30’-1h trước mành hình VTV4 xem phim hay nghe các tin tức thời sự về Việt Nam và cũng không biết tự bao giờ, hàng ngày anh đều hát “Tết Tết Tết Tết đến rồi, Tết Tết đến trong mọi nhà...” với cái giọng lơ lớ rất buồn cười.

Cũng như mọi năm, nhiều lễ hội Tết được cộng đồng người Việt tổ chức tại Paris cũng như trên toàn nước Pháp. Tối 26 Tết sứ quán Việt Nam tại Pháp tổ chức tiệc chiêu đãi nhân dịp Tết với bạn bè năm châu và sinh viên, du học sinh, bà con Việt kiều. Năm nay hơn 1.000 người đã đến dự và chia sẻ không khí Tết quê nhà trong khuôn viên của sứ quán, tuy không rộng rãi và xa hoa nhưng thật ấm cúng. Mùng 3 Tết Hội người Việt Nam cùng với Hội thanh niên Việt Nam tại Pháp (với phần lớn là các bạn thanh niên Việt kiều thế hệ 2 sinh trưởng tại Pháp) và các bạn sinh viên phối hợp tổ chức một ngày Tết cộng đồng. Năm nay Hội có mời một đoàn ca múa nhạc từ thành phố Hồ Chí Minh sang tham gia vào chương trình văn nghệ, trong đó có một số tiết mục đặc biệt tôn vinh ca trù. Cùng với Hội TW, các chi hội địa phương như Lyon, Marseille, Toulouse... cũng lần lượt tổ chức Tết.

Các bạn sinh viên năm nay tổ chức Tết mang tên “Chào Xuân” vào ngày 12/2 với một chương trình đặc biệt Miss Xuân 2011 để bầu ra Miss sinh viên Việt Nam tại Pháp của 2 năm liền. Trên trang web của Hội Sinh viên Việt Nam tại cùng các diễn đàn, các mạng xã hội nhộn nhịp những hình ảnh, bài hát cũng như những lời trao đổi nhắn nhủ, động viên, kêu gọi cổ vũ cho các Miss.

Tuy ở nơi xa này không có được cái không khí người người đón Tết, nhà nhà đón Tết nhưng chúng tôi, những người Việt sống xa Tổ quốc vẫn luôn cố gắng tái tạo lại ít nhiều không khí Tết để không quên đi phong tục tập quán của quê hương mình. Sang năm mới, chúc các gia đình, bà con, bạn bè gần xa và tất cả mọi người một cái Tết Tân Mão thật là đầm ấm cùng một năm mới an khang, thịnh vượng.

Lê Cảnh Chi

Posted: Mon Feb 07, 2011 1:05 am
by thienthanh
Những chuyện cười ra nước mắt

Lê Phương Thư
(Nguồn: Dân Luận)

Trong không khí vui tươi chuẩn bị đón Tết Nguyên Ðán-Tân Mão 2011, chúng ta hãy cùng nhìn lại năm Canh Dần 2010
đầy sóng gió trên mảnh đất thân yêu Việt Nam.

Image
Ông ngoại quốc “gây rối” (bị đánh dấu X). (Hình: Báo Thanh Niên)



Năm 2010 có nhiều chuyện cười ra nước mắt, mang nhãn hiệu chính gốc “Made in Vietnam” mà nhân dân trong cũng như ngoài nước được chứng kiến.

Chuyện phiên tòa “công khai”

Phiên tòa xét xử bốn nhà dân chủ tại Sài Gòn hôm 20 tháng 1, 2010 gồm Luật Sư Lê Công Ðịnh, Thạc Sĩ Nguyễn Tiến Trung, hai doanh nhân Trần Huỳnh Duy Thức và Lê Thăng Long đã gây xôn xao dư luận trong nhiều tháng, chẳng khác một cuộc chạy xô theo tuồng diễn.

Thật trái ngược với tuyên bố của tòa án rằng đây là buổi xử công khai, đủ loại công an sắc phục và thường phục được huy động để bao vây toàn bộ khu vực xung quanh tòa án và kiểm soát từ xa. Ngay bên ngoài cổng tòa án tại số 131 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, quận 1, nhiều toán công an đứng rải rác và một số khác được ẩn nấp trong các xe tải lớn quanh đó. Bên trong khuôn viên tòa án, một hàng rào lưới B40 đã được dựng lên, với lực lượng công an trấn giữ.

Trong phiên tòa này, Lê Công Ðịnh đã nói: “Trong quá trình học tập ở nước ngoài, tôi đã bị ảnh hưởng bởi tư tưởng phương Tây về dân chủ, tự do và nhân quyền. Khi về Việt Nam, tôi cũng mong muốn đất nước mình có tự do dân chủ. Tôi nhận là đã vi phạm Ðiều 79 (Bộ Luật Hình Sự).”

Lời phát biểu này được truyền thông Việt Nam, nhất là chương trình thời sự đài truyền hình Việt Nam VTV1 “hả hê” đưa lên, vì cho rằng Lê Công Ðịnh đã biết ăn năn nhận tội. Nhưng ông Ðịnh đã dùng chính truyền thông Việt Nam làm cái ”loa phóng thanh” cho cả thể giới biết rằng, ở Việt Nam không có dân chủ tự do nhân quyền gì ráo cả! Ðiều này chỉ có ở các nước phương Tây.

Chuyện “nói dóc”

Trong phiên đăng đàn trước Quốc Hội ngày 12 tháng 6, 2010 Phó Thủ Tướng Nguyễn Sinh Hùng lạc quan: “Thu nhập bình quân đầu người hiện nay 1,200 USD, nhưng với tốc độ tăng trưởng kinh tế tương lai thì đến 2020 sẽ là 3,000 USD, và lần lượt tăng 6,000, lên 12,000 và sẽ đạt 20,000 năm 2050.

Một tốc độ phát triển thật đáng khâm phúc. Chắc Việt Nam sẽ hóa rồng và để các nước trên toàn thế giới “ngậm khói” chơi!

Theo ước tính của Ngân Hàng Thế Giới thì thu nhập đầu người của Việt Nam chỉ khoảng $950 USD/năm. Nhưng cứ giả định là 1,200 USD, chúng ta thử tính xem tới năm 2020 liệu con số này có lên tới $3,000 USD không?

Có thể tính tốc độ tăng thu nhập đầu người bằng cách lấy tốc độ tăng trưởng bình quân trừ đi tốc độ tăng dân số. Trong năm 2009, tốc độ tăng dân số của Việt Nam là 1.2%. Giả sử rằng trong 10 năm tới, dân số Việt Nam tăng ổn định ở mức 1%/năm thì tốc độ tăng trưởng GDP cần phải bao nhiêu để đạt tới mức thu nhập bình quân đầu người $3,000 USD trong 10 năm tới? Gọi tăng trưởng GDP là ta sẽ có công thức: 1200*(1+g-0.01)10=3000.

Không khó để tính ra g=0.106 hay 10.6%. Như vậy chúng ta sẽ phải duy trì tốc độ tăng trưởng GDP thường xuyên liên tục ở mức 10.6% trong 10 năm tới mới có thể đạt được điều này. Không biết ông Hùng dựa vào đâu để tin là Việt Nam có thể lập được kỳ tích này khi trong quá khứ, chưa có năm nào Việt Nam đạt tăng trưởng 2 chữ số cả và tăng trưởng GDP trung bình trong 9 năm qua cũng chỉ vào khoảng 7.2%. Trên thế giới cực kỳ hiếm nước nào có thể đạt tốc độ tăng trưởng trung bình 2 chữ số trong suốt một thập niên. Thành tích thần kỳ như Trung Quốc trong thập niên 1990 cũng chỉ đạt 9.5% một năm.

Chuyện siêu nhân

Ngày 11 tháng 9, 2010, Báo Thanh Niên đưa bản tin “Hơn 3 triệu bài dự thi về Thăng Long-Hà Nội” trong đó có nêu ra “Sau gần 1 năm phát động, cuộc thi đã nhận được 3,273,479 bài dự thi trên cả nước.” Thật là một con số ấn tượng hết sức!

Một năm có 365 ngày, cứ cho là ngày nào, kể cả ngày nghỉ, ngày lễ các bạn dự thi đều gửi bài đều đều về Ban Chỉ Ðạo 1000 năm Thăng Long. Thế là mỗi ngày nhận được khoảng 8,968 bài. Ðể mà chấm thi, thì cho rằng mỗi bài phải được 1 vị giám khảo đọc trong 15 phút, vị chi mỗi ngày phải cần tới 134,520 phút chỉ để đọc. Mà thời gian của 1 ngày chỉ có 1,440 phút thôi. Vậy là Ban Chỉ Ðạo cần có đến 93.4 vị giám khảo ngồi đọc bài thi không nghỉ ngơi, không ăn ngủ liên tục trong vòng một năm qua.

Thật là phi thường, đến siêu nhân cũng không thể tưởng tượng được!

Chuyện ông họ Cù

Với sự cần cù cộng thêm sự khôn ngoan trí tuệ, ngành Công An “còn-đảng-còn-mình” đã tập trung và phát huy mọi sáng tạo để viết kịch bản nửa khóc nửa cười khi vu khống và cầm tù ông Cù Huy Hà Vũ.

Chuyện là rạng sáng 5 tháng 11, qua công tác “kiểm tra hành chính thường kỳ,” công an phường 11, quận 6, “phát hiện” tại phòng 101 của khách sạn Mạch Lâm, ông Vũ ở chung phòng với một phụ nữ “không có giấy đăng ký kết hôn.” Và 2 bao cao su đã qua sử dụng. Là một người am hiểu về luật pháp, chàng ”trạng sư” lớn tiếng phản đối cho hành vi vu khống vi phạm pháp luật một cách vô cùng trắng trợn này, nhưng bọn ”nha sai” vẫn lờ đi. Chúng lập biên bản và dùng vũ lực còng tay và áp giải chàng về đồn.

Ngày hôm sau, có mật lệnh từ Phủ Tể Tướng gửi đến tất cả các cơ quan truyền thông phải đăng bài bôi nhọ thanh danh chàng trạng sư họ Cù ngay lập tức. Sau khi nhận được mật lệnh này, tất cả các báo, đài truyền thanh nhà nước còng lưng ra viết bài để làm nhục danh dự của chàng trạng sư. Nhưng, những hành vi xấu xa đó đã không qua mặt được giới còm-sỹ. Họ đã phanh phui sự việc ra trước công luận và chỉ rõ đây là sự vu khống tồi tệ nhất chưa từng xảy ra. Theo trang blog Trương Duy Nhất, vụ bắt giữ ấn tượng nhất đã đứng hạng thứ 4 trong bài Top Ten Ấn Tượng Việt Nam 2010.

Vì biết được rằng với âm bất thành này đã không thể che được mắt thiên hạ, nên an ninh đã thay đổi tội danh và gán cho chàng trạng sư họ Cù với một tội danh mới: vi phạm Ðiều Luật 88 tuyên truyền chống phá nhà nước! Mặc cho mọi tầng lớp xã hội lên án hành động này, họ vẫn tiếp tục giam giữ và chờ ngày đưa trạng sư họ Cù ra tòa phán quyết... Ôi! Thật là cong lý!

Chuyện facebook

Trong thời gian gần đây, cộng đồng Việt trên mạng xã hội Facebook lại một phen xôn xao vì những biện pháp chặn Facebook đã trở nên mạnh mẽ và triệt để hơn. Mạng Facebook bị chặn ở Việt Nam chẳng phải là điều mới mẻ, nhưng lần này các Facebookers phải rất vất vả mới “trèo tường” (từ lóng chỉ việc vượt tường lửa firewall để đến được một website nào đó) vào được, gây nản lòng không ít cho những ai muốn tiếp cận thông tin và chia sẻ cùng bạn bè bốn phương.

Rất nhiều Facebookers sau khi vượt tường lửa bằng cách này hay cách khác đã không giấu diếm sự tự hào. Họ cười đùa nhau như muốn thách thức: cứ chặn kiểu này thì chẳng mấy chốc Việt Nam sẽ sản sinh ra những tay chuyên môn về IT hàng đầu trên thế giới. Còn có cả những ”đứa trẻ lì lợm” tuyên bố: các chú các bác cứ chặn, các cháu cứ trèo!

Chuyện ông tể tướng chỉ đạo

Tại lễ khai mạc Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 66 ở Hà Nội vào chiều ngày 4 tháng 1, Thủ Tướng Dũng lớn tiếng: “Lực lượng công an phải 'làm nòng cốt dẹp bỏ ngay các âm mưu diễn biến hòa bình, nắm chắc tình hình, không để bị động bất ngờ' và 'kiên quyết không để xảy ra khủng bố, gây rối, bạo loạn, lật đổ và hình thành các tổ chức đối lập'.”

Không hiểu là do vô tình hay cố ý mà ông Dũng đã thừa nhận rằng chế độ hiện hành đang và không thể đứng vững trước các “thế lực thù địch.”

Ngẫm lại, nếu không “hoang mang cao độ” hoặc nếu không “lo sợ thật sự” thì tại sao ông Dũng nhấn mạnh về việc: “Lực lượng công an phải nắm chắc tình hình, không để bị động bất ngờ”?

Phải chăng “công an nhân dân” trong thời gian qua “đã bị động,” “đã bất ngờ,” “đã không nắm chắc tình hình”? Có thể lắm! Hơn cả điều đó, trong năm qua công an nhân dân đã chẳng làm gì được ngoài việc quanh quẩn “canh me” hết ông này đến bà nọ có ”tư tưởng lệch lạc.”

Nghĩ mà buồn cười! Thử hỏi ai đã tạo ra cái khẩu hiệu, ghi bằng chữ đỏ “Công an nhân dân chỉ biết còn đảng còn mình” để cho những kẻ “phản động” “lợi dụng,” “xuyên tạc,” “nói xấu,” “phỉ báng,” “gây hoang mang trong nhân dân”?

Chuyện ông ngoại quốc “gây rối”

Sự kiện hành hung viên tùy quán Hoa Kỳ là một hành động rất xấu và kém văn hóa của một chính thể cứ luôn nói về việc “Việt Nam muốn làm bạn với thế giới”(!).

“Một nhân viên Sở Ngoại Vụ tỉnh Thừa Thiên-Huế đã nhẹ nhàng khuyên giải nhưng người đàn ông ngoại quốc vẫn hùng hổ nói ông ta là nhân viên ngoại giao có thể đi bất cứ đâu, gặp bất cứ ai mà không cần phải xin phép. Tiếp đó, ông này còn gạt người nhân viên ngã dúi dụi, sau đó đấm vào mặt một người dân đứng gần đó, xô đẩy cả một số người đang đứng xem...” theo báo Thanh Niên.

Người ta thắc mắc vậy sao “công an nhân dân” không cắm trước Nhà Chung một bảng báo có nội dung đại loại như “Khu vực cấm tụ tập, lai vãng” hay “ngôi nhà chứa phản động” để người dân và cả viên tùy quán Hoa Kỳ biết mà tránh xa?

Thật “hổ thẹn” cho ông tùy viên chính trị của Hoa Kỳ khi gặp một “nhân viên Sở Ngoại Vụ” “rất văn hóa” để “nhẹ nhàng khuyên giải” mà ông không nghe lại còn “đấm vào mặt người dân”(!)

Ông ngoại quốc này tới một đất nước xa lạ mà dám đấm vào mặt người dân mà không biết tên tuổi của người dân thường nào, “khờ” đến mức đứng đó cho ông đấm vào mặt!?

Lạc quan vì quá bi quan!

Người Việt Nam tiếp tục lạc quan nhất thế giới, theo kết quả cuộc thăm dò mang tên “Tiếng nói của người dân” do Viện thăm dò BVA của Pháp và Viện Gallup của Mỹ thực hiện cuối năm 2010. Kết quả đã được thực hiện tại 53 quốc gia, với 64,203 người được hỏi về triển vọng kinh tế nước mình trong năm 2011. Tại Việt Nam, có tới hơn 70% trong số 1,000 được hỏi trực tiếp tự tin về triển vọng kinh tế năm 2011, bỏ xa nhóm nước thứ hai với Trung Quốc, Brazil, Ấn Ðộ, nơi “chỉ” 49% người dân lạc quan về sự phát triển kinh tế, trong khi tỷ lệ trung bình của cả 53 quốc gia là 30%.

Cảm giác đầu tiên khi đọc kết quả khảo sát là thấy vui! Vui vì hóa ra người Việt mấy năm nay vẫn tràn đầy lạc quan vào tương lai, tin tưởng rằng năm sau tốt hơn năm trước. Hình như lạc quan vốn là một “tính tốt” của người Việt, vì cứ lâu lâu lại đọc trên báo chí một kết quả khảo sát chứng tỏ người mình rất lạc quan, lúc thì 35 năm sau chiến tranh: Người Việt Nam lạc quan về tương lai (kết luận sau một cuộc thăm dò của hãng thông tấn AP), hay Người tiêu dùng Việt Nam lạc quan nhất thế giới (theo kết quả cuộc khảo sát niềm tin người tiêu dùng toàn cầu của công ty The Nielsen).

Sống trong một nền kinh tế chưa vượt khỏi cái ao làng Ðông Nam Á mà đa phần người dân lại vẫn an nhiên tự tại, mỉm cười lạc quan tin tưởng, dễ bằng lòng, dễ chấp nhận thì có đáng để vui không?

Lạc quan chỉ tốt, nếu đi cùng với nó là sự không bằng lòng với chính mình, không chấp nhận Việt Nam mãi mãi “đi sau” các nước láng giềng. Khi nằm chung nhóm những nước lạc quan với chúng ta lại có những quốc gia rất “bất ổn” như Nigeria hay Afghanistan thì có nên tự hào?

Nếu thái độ sống lạc quan song hành với nỗ lực vươn lên thì xin chúc mừng những người Việt lạc quan (!).Nhưng chúng ta đã thực sự nỗ lực chưa, khi 35 năm vẫn nằm trong nhóm nước nghèo? Hay các bạn quá bi quan trước viễn cảnh trước mắt, nên cứ lạc quan cho nó vui?

Thay lời kết!

Năm Canh Dần 2010 quả là một năm có quá nhiều biến động ở Việt Nam. Một năm trước thềm đại hội Ðảng đã làm cho danh sách những ”chuyện cười ra nước mắt” ngày một dài thêm.

Còn rất nhiều chuyện cười ra nước mắt, có một không hai trên thế giới nhưng chỉ có Việt Nam là đã đăng ký “sản phẩm độc quyền.”

Nhưng trong giới hạn nhỏ hẹp của bài viết này, tôi không thể kể ra hết ”những nụ cười bất tận.” Mong các bạn hãy cùng tôi viết thêm những chuyện cười ”độc hàng” này nhé!

Posted: Tue Feb 08, 2011 2:42 am
by thienthanh
Đầu năm Mèo nói chuyện Cá

Tưởng Năng Tiến



“Thuyền nhân, cái danh từ có một âm tượng mà mỗi khi chính quyền Hà Nội nghe đến nó thì họ nghĩ ngay đến từ đồng ‘đô la’. Thế nhưng cho đến bao giờ người ta mới biết hết được những bất hạnh xẩy ra cho danh từ đó.” Michelle Tauriac (Viet Nam Le Dossier Noir Du Communism).Trước hết, để tránh mọi ngộ nhận, xin nói ngay rằng đây là chuyện của cá hồi, và chỉ riêng có cá hồi mà thôi. Nói theo tiếng Mỹ là cá hồi only. Chớ còn cá chim, cá chuồn, cá chép, cá lóc, cá lạt, cá lìm kìm, cá mập, cá mú, cá măng, cá cơm, cá cam, cá cờ, cá trê, cá trích, cá trẻm, cá heo, cá hương, cá hố, cá lù đù, cá lìm kìm, cá lia thia, cá đổng, cá đối, cá đèn cầy, cá bè, cá bẹ, cá bống – bất kể là bống kèo hay bống đá – hoặc bất cứ một loại cá thổ tả nào khác đều hoàn toàn (và tuyệt đối) không có dính dáng gì tới vụ này.

Cá hồi sinh ở sông nhưng phần lớn thời gian sống ở biển. Ðặc điểm của loài cá này là dù có rong chơi phiêu du ở chân trời góc biển nào chăng nữa, thế nào cũng tìm về nơi chôn nhau cắt rốn để sinh nở. Cá hồi Thái Bình Dương (Pacific salmon), sau khi từ giã nếp sống hải hồ, sẽ không bao giờ trở lại biển cả nữa. Lý do giản dị chỉ vì chúng sẽ chết sau khi đẻ và cho thụ tinh lứa trứng đầu tiên.

Cá hồi Đại Tây Dương (Atlantic salmon) thì khác. Chúng có thể đi đi về về từ sông ra biển và ngược lại nhiều lần mà không hề do dự hay nao núng, dù khoảng cách phải vượt qua có thể dài đến hàng ngàn dặm, với vô số khó khăn và chướng ngại.

Bản năng về nguồn của cá hồi, tất nhiên, đã được loài người ghi nhận và khai thác từ lâu. Riêng người Nhật, dân tộc đứng thứ nhì về kỹ nghệ cá hồi, vẫn đều đặn sản xuất ra thị trường mỗi năm cỡ một trăm ba mươi ngàn tấn.

Xét về số lượng, mức sản xuất của người Nhật không hơn người Nga bao nhiêu và thua xa người Mỹ. Tuy nhiên, cách thức mà dân Nhật bắt cá hồi mới là điều cần cần phải được lưu tâm và học hỏi.

Họ thiết lập nhà máy đóng hộp cá hồi ngay ở ven sông. Cũng chính nơi đây cá được nuôi nấng, đẻ trứng, thụ tinh để mỗi cặp sẽ cho từ hai đến mười ngàn chú cá hồi con ra đời. Sau đó, chúng sẽ được cho phiêu lưu vào đại dương, để bắt đầu cuộc đời “tha phương cầu thực.”

Tùy theo từng loại, cá hồi sẽ sống ở biển từ sáu tháng đến năm năm. Nhờ vào khả năng “cảm” được từ trường của lòng đất và sự chuyển động của hải lưu, nó sẽ tìm được về chốn cũ. Khi vào gần đến bờ, giác quan đặc biệt của loài cá này giúp chúng nhớ được đúng hương vị quê nhà – tức sông xưa bến cũ – và cứ theo đó mà lần về nguồn cội, đến tận nơi sinh nở.

Người ta đặt sẵn nhiều dụng cụ từ cửa sông để giúp cho cá hồi dễ dàng và mau chóng vào đến nhà máy. Tại đây, họ sẽ tạo ra một loại chướng ngại vật giả khiến chúng phải phóng lên cao và khi rơi xuống thì rớt ngay vào một mạng lưới di động. Màng luới này chuyển động không ngừng, qua nhiều khâu chế biến, để đưa cá từ sông vào… hộp!

Nói tóm lại là người Nhật thả cá hồi con ra biển, theo kiểu “đem con bỏ chợ,” để biển cả nuôi nấng. Rồi khi chúng theo bản năng trở về, họ dụ cho cá vào nhà máy để đóng hộp, và mang bán.

Cách họ kiếm tiền ngó bộ dễ và (chắc) là nhiều. Bởi vậy, có kẻ bắt chước. Chính phủ Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (tên kêu gọn thường dùng là Việt Cộng) cũng học theo cách làm ăn không vốn gần như vậy. Chỉ khác có chút xíu xiu là họ dùng người để kinh doanh, thay cá.

Từ năm 1978 cho đến năm 1990, bằng hình thức này hay hình thức khác, Việt Cộng đã “thả” ít nhất là hai triệu người dân ra biển. Người ta ước tính rằng trên bước đường lưu lạc cứ ba con cá hồi rời bến sông ra đi thì ít nhất cũng có một con bỏ mạng. Nó trở thành mồi săn cho loài người, cho loài chim, hoặc những loài cá khác. Tương tự, trong số hai triệu người Việt phiêu lưu vào biển cả – tối thiểu – cũng phải một phần ba đã vong mạng.

Họ chết vì bão tố, vì hải tặc, hay vì bị xô đuổi một cách lạnh lùng tàn nhẫn tại bến bờ của những quốc gia lân cận. Nơi đây thuyền bè của họ thường bị lôi kéo trở ngược ra khơi. Họ sẽ lênh đênh giữa trời nước bao la cho đến chết vì không còn tìm được nơi để đến, và cũng không còn đủ lương thực (cũng như nhiên liệu) để tiếp tục đi.

Những kẻ may mắn thoát nạn đều sẽ biến thành cá hồi (theo tinh thần của Nghị Quyết 36) của nhà đương cuộc Hà Nội. Đám dân “trôi sông lạc chợ” này sẽ bị tận tình khai thác, và khai thác dài dài, cho đến khi tắt thở, bằng nhiều cách.

Nếu cá hồi Thái Bình Dương chỉ hồi hương một lần rồi chết thì những thuyền nhân rời khỏi Việt Nam sau ngày 19 tháng 6 năm 1988 – đã có thời gian dài sống tạm trú ở những quốc gia Ðông Nam Á – cũng mang số phận y như vậy. Họ bị cưỡng bách hồi hương và không bao giờ còn có dịp ra đi nữa. Riêng với những thuyền nhân ở Hồng Kông – khi phần đất này còn thuộc Anh – Anh Quốc đã thoả thuận trả sáu trăm hai chục Mỹ Kim mỗi đầu nguời để Hà Nội chịu nhận họ trở về, cùng với lời hứa hẹn là họ sẽ không bị hành hạ hay ngược đãi!

Số người Việt may mắn hơn, hiện đang phiêu bạt tứ tán khắp bốn phương trời, có thể được coi như là cá hồi Ðại Tây Dương – giống cá có khả năng đi đi về về nhiều lần từ sông ra biển và ngược lại. Những kẻ này vẫn tiếp tục kiếp sống tha phương cầu thực, chăm chỉ cặm cụi kiếm và để dành tiền, rồi hàng năm làm đơn “xin phép” được hồi hương. Mỗi Việt Kiều về thăm quê nhà chắc chắn đều chi trả một số tiền không phải chỉ là sáu trăm Mỹ Kim mà có thể là đến sáu ngàn Ðô La, hay nhiều hơn nữa.

Báo Thanh Niên, số ra ngày 4 tháng 1 năm 2011, hớn hở đi tin: “Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB), VN đứng hàng thứ 16/30 quốc gia trên thế giới có lượng kiều hối chuyển về nhiều nhất. Dự báo năm 2011, lượng kiều hối chuyển về VN sẽ tăng thêm 6,2%. Ông Cao Sĩ Kiêm, thành viên Hội đồng Chính sách tiền tệ Quốc gia, nguyên Thống đốc NHNN cho rằng, 2010 là một năm thắng lợi của kiều hối khi đạt được mức cao nhất trong các năm qua.”

Hà Nội có lý do để hãnh diện về những “thắng lợi” và thành quả đều đặn này – thành quả kinh tế duy nhất (thực sự) vượt chỉ tiêu – về kỹ nghệ xuất và nhập cảng người, sau hơn nửa thế kỷ mà họ đã nắm được quyền bính ở Việt Nam. Họ đẩy ra khỏi nước những con nguời cùng quẫn và sôi sục bất mãn, rồi “thu về” những Việt kiều giàu sang và... yêu nước!

Posted: Wed Feb 09, 2011 2:43 am
by thienthanh
HUẾ CỦA MỘT THỜI

HUY PHƯƠNG
Huế không bao giờ là của tương lai, nơi đó là quá khứ, là những gì đã yên nghỉ,
cùng với những linh hồn oan khuất chưa siêu thoát.

Trong giọng nói, có một cái gì đó gọi là rất Huế, đối với Quảng Nam Đà Nẵng, cách nhau một ngọn đèo thì có khác, cũng là điều đương nhiên, nhưng với Quảng Trị, cách mấy mươi cây số đường đồng bằng, giọng Huế không lẫn vào đâu được. Dạ, dạ thưa, tiếng nói nhỏ nhẹ dịu dàng.

Vì phải sống trong một hoàn cảnh đặc biệt nên phải kềm giữ sự yên tĩnh, nho nhã theo cung cách quý tộc, quan liêu hay bình dân thôn giả cũng phải nhu mì, gia giáo. Theo các nhà nghiên cứu về thổ âm thì cho rằng "Ở nơi nước trong thì tiếng nhỏ, ở nơi nước đục thì tiếng thô". Điều rất Huế trong giọng nói này, lâu hóa thành thói quen, được xem là một phong thái lịch sự đặc biệt không đâu có. Làm sao người ta quên được cái tiếng dạ lạ kỳ của người con gái Huế, dạ để khỏa lấp, dạ để từ chối, dạ để đồng ý hay dạ có nghĩa là không gì hết. Làm sao anh chàng trong Quảng ra thi có thể hiểu hay chịu đựng nổi một lối trả lời vô thưởng vô phạt, nhưng nhỏ nhẹ, không thể trach vào đâu của một người con gái Huế mà anh ta muốn làm quen.

-Em tên chi? - Dạ!
-Nhà Em ở đâu? - Dạ!
-Tôi có thể làm quen với em được không? - Dạ!

Phải chăng ở nhà trước khi đi Mạ đã dặn không ăn trầu người, đừng để người lân la, "trước ngoài sân sau lần vô bếp", tốt hơn hết là cứ dạ cho nhỏ nhẹ, cho lễ phép, cho tới khi mô hết dạ nỗi thì thôi. E lệ, khép nép là những đặc tính của người con gái Huế mỗi khi nàng gặp khách lạ như thi sĩ Đinh Hùng đã ghi lại "Cô gái Huế đa tình, vành nón nghiêng khép nép".

Người con gái Huế gặp người lạ, tay thì níu vành nón, sẵn sàng làm mạng che, tay thì quấn tà áo, vừa phòng thủ, vừa tránh những làn gió vô duyên quái ác. Cái thời áo trắng quần trắng đã làm cho bao nhiêu chàng trai phải xốn xang rụng rời trước cái mờ mờ ảo ảo, nửa che mà nửa không của cái "sương khói mờ nhân ảnh" đó. Bạn cũng biết là nữ sinh Huế không bao giờ mặc quần đen, cái màu không tinh khiết, tội lỗi đó, có gì thì cũng phải che đậy, ngụy trang cho tới cùng.
Tính cách Huế thường là che dấu hay tự chế những cái phàm tục, bao gồm cả trong cách nói năng, ăn mặc, ứng xử. Khách đến nhà, thì gia chủ hay con cái trong nhà, phải quấn lại mái tóc, mặc vội chiếc áo dài, mới dám bước giáp mặt khách, dù thân hay sơ.

Tội nghiệp cho những người con gái Huế phải sinh ra trong những hoàn cảnh bần hàn, với một hai chiếc áo mà phải thay đổi luôn luôn, cứ bước ra cổng nhà là phải lên áo dài, bất kể đi đâu. Ngày nay phải chăng sự thanh lịch đó còn lại nơi chiếc áo dài, dù là chiếc áo dài cũ, bạc màu, vá víu của người con gái gánh một mớ bông thọ ra chợ, hay nơi bà bán đậu hũ trên vỉa hè, dù chân thì đi đất, miệng còn bập bập điếu thuốc Cẩm Lệ sâu kèn.

Cái ăn, cái ngủ là cái rất riêng tư của người Huế, nhiều khi phải giấu giếm đến mức sợ sệt, chớ có đột nhập nhà người ta vào cái thời điểm ấy. Cái nghèo muốn giấu đã đành, cái sang trọng, người Huế cũng không muốn ai biết. Cũng có khi cái nghèo mà nghèo kiểu cách, nghèo cái kiểu mệ chém củ khoai, buổi sáng trên chiếc mâm đồng chỉ có mấy chén cháo trắng thì gọi là "thời" cháo hoa.

Cái ăn không còn là cái khoái trá có thể hả hê trưng bày ra ngoài mà hình như phải giấu kín đi mới gọi là người nho nhã. Cơm đường, cháo chợ, cách đây vài mươi năm, trong xã hội Huế còn được xem là thứ tầm thường, hèn hạ. Bạn có biết là ngồi quán cà phê cụ Phấn là một sự cách mạng lớn trong xã hội Huế vào những thập niên năm mươi không? Đến như khi cái xe nước mía từ Sài Gòn du nhập ra Huế quả là đã thay đổi nhiều lắm. Ngay cả vào những năm 1950, Huế cũng chưa bao giờ có cái cảnh ăn đứng góc đường như chúng ta thường thấy ở khu Parteur-Lê Lợi Sai Gon.

Dân Huế ngày xưa thời phong kiến là vua chúa, quan lại, viên chức triều đình, binh lính và thư sinh, một thời sau đó là quân nhân, công chức và học sinh, sinh viên, không thấy có mấy ngành nghề công nghệ hay thương mãi, con buôn hình như không được trọng vọng mấy trong xã hội nho nhỏ này, cái lối xếp hạnh "sĩ nông công thương". Các ngành tiểu công nghiệp như chằm nón, đóng khăn, đóng giày, dệt lụa có khi được tuyển chọn từ các địa phương trong cả nước về kinh đô để phục vụ cho giới vua quan, sau đó ra cả cho thứ dân, nhưng không thấy có cơ hội phát triển ra rộng lớn.

Một nơi không có kỹ nghệ, không có nhà máy, không vận dụng nhiều đến cơ khí, thì cũng là một nơi yên tĩnh, nhịp sống lặng lẽ, chậm chạp. Thành phố mang về một vẻ cổ kính hiền hòa, và không khỏi đượm một vẻ nghèo khó. Cũng như những thành phố cổ xưa, nhỏ bé khác, Huế như trong một chòm xóm nhỏ mà người dân hầu hết đều biết nhau, và vì sự giao thông hạn chế, chỉ có một chiều ngang theo quốc lột, một mặt thì ngăn bởi biển, một mặt thì chặn bởi núi, ở đó thành kiến còn nặng nề, cố chấp, ít chấp nhận được cái mới lạ, tân thời. Khoảng năm 1948-49, khi mệ Sen (con vua Thành Thái), một người đàn bà Huế, lần đầu tiên dám lái một chiếc xe hơi Simca Aronde, thì cả thành phố coi đó là hiện tượng dị thường.

Đến với Huế, người ta như đi trở ngược lại giòng thời gian, ở đây, quá khứ bao trùm lên tất cả. Ở đâu cũng thấy những dấu vết nhắc ta nhớ tới những ngày tháng đã qua. Cung đình, bia mộ, lăng miếu thời Thăng Long trong gần tám thế kỷ, vẫn còn dấu vết một thời đại đã qua. Kinh đô Thuận Hóa thì vẫn còn đây, với những di tích, đền đài, lăng tẩm, với những ngàn thông reo, với những bờ tre xanh mướt trên giòng Hương lặng lẽ. Những người đã khuất mà hình như linh hồn còn ở đâu đây, phảng phất bóng tinh kỳ hay tiếng trống chiêng, bát nhã, sênh phách cầm ca.

Nơi đây, những dấu ấn của lịch sử còn ẩn hiện trên mỗi bờ thành, góc phố, nơi tấm bia mộ hay trên những lăng tẩm. Nơi đây là dĩ vãng, là tháng ngày qua, người ta về đây là để hồi tưởng, để nhớ nhung. Ở đâu cũng đượm một vẻ buồn, mà người ra đi thường ray rứt muốn có một ngày trở lại: "Quê hương là cái gì mà người ta nặng lòng với nó như thế. Tôi thấy ở đây sao buồn quá!" (Đinh Anh Dũng trong Nhớ Huế)
Quá khứ của Huế được ghi nhận nhiều nhất qua những công trình lăng tẩm. Các Vua nhà Nguyễn trước khi băng hà đã chọn cho mình một nơi yên nghỉ kiểu cách và xứng đáng của một bậc đế vương, từ địa thế, khung cảnh tĩnh mịch đến các kiến trúc lộng lẫy. Nơi nào cũng là núi rừng bao la, có đại thụ, có hồ sen cùng với tiếng chim, tiếng suối, tiếng thông reo đem lại cái cảm giác dịu dàng thơ mộng và yên tĩnh cho tâm hồn con người.

Huế không những là vùng đất của quá khứ, mà Huế còn như bao phủ bởi những linh hồn quá vãng, là của hương trầm, là của chuông mõ luôn luôn nhắc nhở tới sự hiện diện của những linh hồn oan khuất. Đó là những linh hồn chưa siêu thoát trong một bề dày của Huế tang tóc, chết chóc, tức tưởi, của những ngày thất thủ kinh đô, khi giặc Pháp tấn công Huế năm 1885, lúc voi ngựa cùng người dày xéo lên nhau thoát ra bốn cổng thành, của giặc giả thanh toán hận thù nhau qua thời đại "tứ nguyệt tam vương" của Tường Thuyết, của hàng ngàn cái chết oan khuất giữa ngày Tết Mậu Thân mà máu xương rải rác từ đồng bằng Phú Thứ cho đến khe sâu Đá Mài, của thây chất thây trên bờ biển Thuận An dưới cơn mưa pháo 75, của hàng trăm thân xác cuốn theo giòng nước lũ của mùa Thu năm Kỷ Mão. Có chỗ nào âm u, sầu thảm hơn Huế với những địa danh Ngã Tư Âm Hồn, Miễu Âm Hồn, cồn chém An Hòa, Mả Ông Trạng hay cả đến cái quán cơm có cái tên ma quái không đâu có là Quán Cơm Âm Phủ.

Ban đêm, Huế có chỗ nào là không có lập lòe nén hương, suýt soa khấn vái, cầu nguyện. Sau tang tóc Mậu Thân, hãy về Huế mà nghe, nửa đêm về sáng, láng giềng, hàng xóm vang dậy chuông mõ và tiếng tụng kinh cầu nguyện cho những người đã mất sớm được siêu thăng. Huế là nơi đã trải qua nhiều bién cố đau thương, Huế đã than khóc với những tang tóc và oan khuất sẽ không bao giờ phai lạt. Nơi mỗi khu vườn của Huế đều có mỗi am thờ cho những người khuất mặt, với hoa quả, một cành hoa phượng và một ngọn đèn leo lét. Linh hồn những người khuất mặt hình như vẫn còn lẫn khuất đâu đây.

Ngày xưa, mỗi năm vào ngày hai mươi ba tháng tư Âm lịch, để ghi nhớ ngày thất thủ kinh đô trong lịch sử, khắp nơi, nhất là ở vùng chợ Đông Ba, người ta đã dựng trai đàn, chần tế suốt một tuần lễ theo nghi thức Phật Giáo để cầu siêu cho những linh hồn oan khuất chưa siêu thoát. Cũng như ngày Lễ Vu Lan ở Huế có phần trọng đại hơn với những nghi lễ cúng cô hồn các đảng thập phương, phóng sanh, phóng đăng để hồi hướng công đức cho tất cả những người đã mất. Huế không bao giờ là của tương lai, nơi đó là quá khứ, là những gì đã yên nghỉ, cùng với những linh hồn oan khuất chưa siêu thoát.
Nói đến Huế, chúng ta liên tưởng đến những cảnh chùa chiền. Không đâu trên đất nước, trong một vùng đất nhỏ hẹp mươi chục cây số vuông, mà có tới trên một trăm cảnh chùa. Được cơ duyên như vậy là do từ gần bốn trăm năm trước, Thái Tổ Gia Dụ Hoàng Đế, tên húy Nguyễn Hoàng trong khi vào Nam tìm "Hoành Sơn Nhất Đái" để dung thân, đã hạnh ngộ với một bà tiên (hay phật) trong giấc mơ chọn đất Hà Khê(Kim Long) để dựng chùa Thiên Mụ. Cho tới những đời vua sau, chùa chẳng những được trùng tu và xây dựng thêm (tháp Phước Duyên xây năm 1844 dưới thời vua Thiệu Trị) mà khắp đất thần kinh, chùa chiền được xây dựng thêm rất nhiều, khiến bây giờ Huế có những cảnh chùa rất đẹp, xét về mặt nguy nga tráng lệ, không thể so với lăng tẩm, nhưng không thiếu khung cảnh u tịch, nên thơ. Báo Quốc, Từ Đàm, Diệu Đế, Thuyền Tôn, Tường Vân và nhất là Linh Mụ, là những ngôi chùa đã ghi nhiều kỷ niệm trong lòng dân đất Thuận Hóa, Phú Xuân. Và trong tuổi thơ của mỗi người Huế, ai không ghi dấu lại kỷ niệm của một ngày lên chùa?

Nhớ Huế làm sao khỏi nhớ đến những khu vườn. Vườn là khoảng không gian của thời thơ ấu của mỗi chúng ta, là bóng mát thời trẻ dại, là những nỗi hẹn hò, là những thứ trái cây ngọt ngào hay chua chát mà vẫn mang đầy hương vị của thời mới lớn. Những cây mít, những hàng ổi, những gốc thơm, những chùm khế. Nào nhãn lòng, nào vải trạng, nào là dâu. Có khi là bồ quân, có khi là lựu, có khi là đào. Tuổi ấu thơ và nhất là thời mới lớn, tuổi dậy thì, lòng ai không khỏi ngát hương hoa, trong một khu vườn tĩnh mịch nào đó, với nỗi lòng rung động thuở ban đầu còn trong xuốt và đơn giản như những giọt sương mai.

Vườn của nhũng Vương Phủ với giả sơn, hồ sen, thủy tạ, với những bức bình phòng, tường ngăn trang trí bởi những mảnh sứ vỡ làm thành hình Long Lân Quy Phụng hay Mai Lan Cúc Trúc. Những khu vườn đó đây ở Vĩ Dạ, ở Kim Long, ở Gia Hội, ở Ngự Viên, ở An Cựu là những khu vườn đã mang bao nhiêu lời thơ ý nhạc, mang bao nhiêu tình yêu thuở thiếu thời, là nơi của hẹn hò, mong đợi, thương nhớ.

Có phải ngày xưa vườn Ngự Uyển
Là đây hoa cỏ giống vườn tiên
Gót sen nhẹ bước lầu Tôn Nữ
Ngựa bạch buông chùng áo Trạng Nguyên
(Nguyễn Bính)

Vườn Huế ngày hè còn rộn tiếng ve, nhắc nhở tới mùa thi cũng là mùa chia cách. Giữa những buổi trưa yên lặng mùa hè, một tiếng ve cất lên khởi đầu, rồi muôn ngàn tiếng ve vùng lên phụ họa, tạo nên một khúc hòa tấu, âm thanh lan ra từng vùng rộng lớn. Cùng với hoa phượng nở trên những con đường xứ Huế, tiếng xe đã mang mùa hè đến bao nhiêu lần trong quãng đời học trò, ghi lại bao nhiêu mối tình, bao nhiêu sum họp và chia ly.

Nhà ở Huế thường làm sâu vào giữa vườn, từ cổng vào nhà có khi phải qua một hàng rào bông cẩn(dâm bụt) hay chè tàu, thỉnh thoảng rắc bởi những sợi giây tơ hồng màu vàng rực. Cậu học trò mới lớn, còn rụt rè, nhút nhát muốn làm quen với cô bé trong nhà làm sao có đủ can đảm để vượt qua cái con ngỏ dài hun hút đó, hay những đêm trăng, đành thơ thẩn qua lại nơi ngỏ ấy mà ôm mối tình si. Hương si trong vườn Huế, có khi là hương bưởi, có khi là hương dạ lý, có khi là hương sói, hương lài, hương mộc lan, cũng có khi là hương sầu đông thơm ngát một khung trời thời trẻ dại. Và đêm vườn Huế làm sao có thể thiếu trăng. Trăng lặng lẽ soi những bóng cây trong vườn, trăng lên trên đọt cau, trăng ướt trên ngọn dừa. Và trăng trên sông Hương, trăng trên màu sáng bạc của cầu Trường Tiền, trăng trên mái thuyền, trăng vỡ dưới mái chèo và ánh trăng rung động theo âm thanh của những tiếng hò đêm trên sông.

Huế với những dòng sông chảy ngang dọc tạo cho Huế một vẻ đẹp tươi mát dịu dàng. Huế có con sông Hương lượn lờ qua Lăng Gia Long, Minh Mạng, qua Điện Hòn Chén, qua Văn Thánh, Linh Mụ, Kim Long, về Vỹ Dạ, Cồn Hến, Tây Tượng trước khi tới Thuận An. Huế có con sông đào xinh xắn từ cầu ngói Thanh Toàn, qua An Cựu về Bạch Hổ nắng đục mưa trong, với con sông từ Gia Hội, ngang qua chùa Diệu Đế qua Đông Ba tạo nên cái cảnh "Đông Ba, Gia Hội hai cầu, ngó vô Diệu Đế bồn lần hai chuông", với con sông đào từ cầu Bạch Hổ, qua Phú Xuân, tới An Hòa. Tất cả dòng sông đó đã ôm ấp Huế, chảy qua những khu nhà vườn, những bậc tam cấp của những khu vườn ven sông, mang những tiếng cười trong trẻo của ai đó vang qua tới bờ sông bên kia. Với những giòng sông như thế, Huế có những con thuyền bềnh bồng trên bến nước, những ngọn đèn hiu hắt bên sông và cả những câu hò vang vọng, mang mang theo sóng nước đi rất xa, và cả với những mối tình chia cắt của ngày nào khi mà "Thuyền về Đại Lược, duyên ngược Kim Long."

Nhưng cùng theo với những giòng sông đó, mỗi năm cơn bão lụt đã gieo tai họa thảm khốc xuống Huế. Nghèo đói, tai ương hầu như triền miên trên mảnh đất miền trung cằn cỗi, nhưng Huế chính là tâm điểm của hiểm họa thiên tai. Có nơi nào chịu nhiều nỗi bất hạnh, thống khổ như Huế. Những xác người trôi ra biển cùng với những mái tranh nghèo theo những cơn nước lũ, cơn đói đổ ập lên cả một vùng đất cằn cỗi trong nhiều ngày tháng. Có nơi nào chịu những cảnh chết chất chồng dày xéo, có nơi nào chịu cảnh chết thảm khốc trong những mồ tập thể như Huế. Phải chăng Huế chịu căn nghiệp của cha ông đã thôn tính, tàn sát, đồng hóa cả một Chiêm Quốc trong một thời Nam tiến.

Huế như một người con gái tài hoa mà bất hạnh. Huế là "nơi đi để mà nhớ, không phải ở để mà thương". Người xa Huế như xa một mối tình không trọn vẹn, nhưng xa rồi, thương nhớ xót xa biết bao nhiêu. Huế là nỗi ám ảnh không rời, Huế là nơi gợi cho chúng ta những giấc mơ xưa không bao giờ thành, là nơi chúng ta thường mong ngày trở lại nhưng không bao giờ đúng hẹn. Chúng ta khó tìm lại những gì của Huế trong thời thơ ấu của chúng ta, như không thể "tắm hai lần trong một giòng sông",

Posted: Fri Feb 11, 2011 5:14 am
by nguyenvsau
Bà mẹ nước nào là số một?

Ngô Nhân Dụng
Như đã hứa từ ngày đầu năm Tân Mão, mục này sẽ mời quý vị theo dõi một cuộc tranh luận đang sôi nổi trên nhiều diễn đàn ở nước Mỹ và lan sang cả Á Ðông, về cách bà mẹ dạy con tốt nhất. Ðầu têu “gây chuyện” là một bài báo của bà Amy Chua, một giáo sư Luật Khoa Ðại Học Yale (hai cựu tổng thống và ông bà Clinton đều đã học trường này). Bà Chua là người gốc Hoa sinh trưởng tại Mỹ, bà dạy con theo lối rất nghiêm khắc.

Tựa đề của bài báo đã khiến nhiều người muốn “cãi nhau” ngay! Ðặt ngay một câu hỏi: “Tại sao bà mẹ Trung Hoa là ưu việt?”( Why Chinese Mothers Are Superior?) - làm như chuyện Bà Mẹ Trung Hoa dạy con giỏi nhất thế giới đã là điều hiển nhiên rồi, chỉ cần tìm hiểu tại sao thôi! Sau này bà Chua cho biết cái tựa đó là do tòa soạn đặt cho bài báo chứ không phải chính bà đặt tựa. Tòa soạn báo Wall Street quả có tài đặt tựa để kích thích trí tò mò của người đọc, ai cũng muốn coi xem sao. Một bà mẹ khác sau viết phản bác lại bà Chua nhưng cũng cám ơn là bài báo đó kích thích cả hai đứa con trên 10 tuổi của mình khiến các em đó cũng tìm đọc. Xúi giục được trẻ em đọc báo, thay vì coi ti vi hoặc chơi game đã là khó! Làm sao mà hai cô bé lại chịu đọc cả tờ báo Wall Street (nghiêm nghị và khô khan), đúng là điều hãn hữu! Bài báo trên trích từ một cuốn sách bà Chua vừa mới in xong. Sách sắp xuất bản mà đã được thiên hạ đem ra bàn cãi ồn ào như vậy, thật là một cách quảng cáo hạng nhất.

Bao nhiêu người phản ứng không những trên tờ báo trên mà cả trên ti vi, radio, rồi viết trên bao nhiều tờ báo khác khắp thế giới. Vì cách bà dạy con của bà Chua (tên Hán Việt đọc là Thái Mỹ Nhi) hoàn toàn trái ngược với thói quen của đa số người Mỹ, kể cả những bà mẹ Mỹ gốc Trung Hoa!

Chẳng hạn, bà Amy Chua nói các bậc cha mẹ gốc Trung Hoa nghĩ rằng các con phải chịu ơn họ về tất cả các thứ mà các cháu được hưởng. Do đó các con phải vâng lời và có bổn phận làm sao cho cha mẹ hãnh diện (ông Mạnh Tử cũng nói giống như vậy). Ngược lại, người Tây phương không thấy các con phải chịu ơn mình. Ông chồng bà Amy là Jed Rubenfeld dạy cùng trường Luật ở Yale, cũng nói như thế: “Các con chúng không chọn ai làm cha mẹ chúng cả. Ngay cả việc chúng ra đời cũng không phải do chúng tự chọn. Thành ra bổn phận cha mẹ là phải nuôi dạy chúng. Con không nợ nần gì cha mẹ hết. Chúng sẽ có bổn phận với những đứa con chúng sau này.” Bà Chua nhận xét: Nghĩ theo lối Tây phương thì cha mẹ bị thiệt thòi quá!

Bà Amy Chua phân trần ngay rằng những chữ “Người Mẹ Trung Hoa” mà bà dùng chỉ là một biểu tượng cho dễ hiểu, để nói về những người dạy con theo lối khắt khe. Những bà mẹ đó có thể gốc người Hàn Quốc, Ấn Ðộ, Jamaica, Irish, Ghana, vân vân, chứ không chỉ có người Trung Hoa mà thôi. Còn khi nói đến cha mẹ Tây phương cũng là nói về một phương pháp dạy con dễ dãi, bà biết ở Tây phương cũng có đủ loại người mẹ dạy con theo nhiều cách khác nhau.

Bà Chua nói cha mẹ Trung Hoa tin rằng chỉ có họ mới biết cái gì là tốt nhất cho con cái, chứ không phải đứa con mới biết. Cho nên cha mẹ sẽ quyết định thay cho con cái mà không cần biết đến ý thích của chúng. Bà phân trần: Xin đừng hiểu lầm là cha mẹ Trung Hoa không quan tâm đến con cái. Trái lại là khác. Họ hy sinh tất cả cho các con. Chỉ có cách họ dạy con của họ khác thôi. Nhiều bà mẹ Trung Hoa vẫn nghĩ là chính họ lo lắng cho con cái hơn các cha mẹ Tây phương, những người này thả lỏng cho con, chấp nhận nếu chúng có hư cũng chẳng sao cả. Các bà mẹ Trung Hoa thường dùng gấp mười số thời giờ so với người Tây phương để kèm con học bài, làm bài mỗi ngày.

Amy Chua nói rằng các bà mẹ Trung Hoa chủ trương con mình phải học giỏi nhất lớp, phải giữ kỷ luật, không được thoái chí, và cha mẹ không ngần ngại mắng con một cách nặng nề. Bà viết ngay từ đầu bài rằng 2 cô con gái bà bị cấm mười điều, giống như “thập giới” vậy! Xin kể vài thí dụ: Các con không được coi ti vi và chơi games, tức trò chơi điện tử; không được ngủ lại nhà bạn (sleepover); không được tham gia ban kịch trong trường; không được xuống dưới điểm A; không được tụt xuống đứng hạng nhì trong tất cả các môn học, trừ môn thể dục và diễn kịch; bắt buộc phải học một trong hai nhạc khí piano và violin, và không được chơi một thứ nhạc khí nào khác; vân vân. Amy Chua kể một người bạn bà bắt con tập đàn nửa tiếng mỗi ngày, cho là mình đã nghiêm khắc lắm rồi. Nhưng với một “bà mẹ Trung Hoa” thì tập đàn một giờ đầu là chuyện dễ dàng, giờ thứ hai, thứ ba mới là khó!

Amy Chua nói khi một đứa con bị tụt xuống hạng B (bà viết thêm: chuyện đó không bao giờ xảy ra đối với một bà mẹ Trung Hoa) thì người mẹ sẽ làm ầm lên. Bà sẽ bắt con từ nay phải ngồi xuống làm bài tập hàng chục lần, hàng trăm lần, cho tới khi nó được điểm A mới thôi. Các cha mẹ người Tây phương rất quan tâm bảo vệ lòng tự tin của con cái, cho nên không muốn chê con khi chúng bị điểm thấp. Bà Amy nói, cha mẹ người Trung Hoa không tránh né như vậy; vì họ tin là con cái họ rất mạnh, không hơi tý là bị mất tự tin như thế.

Cho nên cha mẹ người Trung Hoa có thể hành động theo lối mà cha mẹ Tây phương không dám làm. Bà mẹ Trung Hoa có thể mắng con “Thằng Lười!” Người Tây phương không mắng như vậy. Cha mẹ gốc Trung Hoa có thể ra lệnh “Con phải được điểm A!” Các cha mẹ người Tây phương chỉ yêu cầu con cái cố gắng hết sức, thế thôi. Bà Ami kể hồi nhỏ có lúc bà phạm lỗi rất nặng vì vô lễ với mẹ, ông đã bố mắng: “Mày là thứ Rác Rưởi!” bằng tiếng Hẹ. Bố mẹ bà Amy Chua từng sống ở Phi Luật Tân trước khi di cư sang Mỹ. Họ gốc người Hẹ (phần lớn người Hẹ sống ở Quảng Ðông, các ông Lý Quang Diệu, Diệp Kiếm Anh, cựu tổng thống Ðài Loan Lý Ðăng Huy đều là người gốc Hẹ). Lời mắng nặng nề của ông bố có hiệu quả. Cô bé Amy cảm thấy xấu hổ. Nhưng không phải vì thế mà cô mất tự tin, như nhiều bậc cha mẹ Mỹ thường lo và tránh không nói nặng với con. Sau này khi đã có con, bà Chua cũng có lần mắng Sophia, đứa con gái lớn là “garbage” bằng tiếng Anh. Một lần bà đem kể lại chuyện đó trong một bữa tiệc, bà bị tất cả mọi người chung quanh “tẩy chay” (coi như hủi, ostracized). Một phụ nữ người Mỹ nghe chuyện “bất bình” đó đã quá xúc động đến nỗi bật khóc, rồi phải rời bỏ bữa tiệc ra về sớm.

Nhưng bà Chua cho biết cha mẹ người Trung Hoa thật sự vẫn nghĩ rằng các con họ đều giỏi giang, đáng đứng đầu lớp cả; nếu các con không xuất sắc trong trường học tức là cha mẹ không biết dạy con! Ngược lại, cha mẹ người Tây phương nghĩ là không nên bắt trẻ em bị áp lực phải thành công trong học đường, làm như vậy sẽ có hại cho sức khỏe tinh thần của trẻ em.

Một câu chuyện mà bà amy Chua kể về đứa con gái thứ hai của bà cho ta thấy cách làm mẹ của bà là “cưỡng bách lối Trung Hoa” vẫn tốt hơn. Năm Lulu lên 7 tuổi, cô tập một bài đàn dương cầm của Jacques Ibert mãi vẫn không ráp được tay trái với tay phải. Cô bé thất vọng, không chịu tập nữa.

“Quay lại ngồi vào đàn ngay!” Bà mẹ ra lệnh.

“Mẹ không ép con được!”

“Mẹ ép được!”

Lulu phản ứng dữ. Ngồi vào đàn, cô quăng quật, xé cả bản nhạc, vứt xuống đất (Xin lỗi, mẹ nào con nấy)! Bà mẹ nhặt các mảnh của bản nhạc lên, dán lại, bọc bao plastic để không xé được nữa. Và bà thi hành hình phạt: Dọa đem những đồ chơi quý nhất của cô bé đem cho hội thiện. Dọa không được ăn trưa, không được ăn tối. Sẽ không bao giờ cho cô con quà lễ Giáng Sinh, quà lễ Hanukka (của Do Thái giáo). Trong ba, bốn năm sẽ không cho tổ chức sinh nhật. Bà bảo cô đừng có lười, đừng cứ nghĩ là mình kém cỏi. Ông bố khuyên bà mẹ đừng nhục mạ con (Không, bà phân trần, bà chỉ động viên nó). Chồng bà cũng giải thích có lẽ cô con 7 tuổi chưa tập đủ kỹ thuật, chưa đủ khả năng đàn hay tay một lúc. “Ông chỉ không có lòng tin tưởng vào con ông!”

Sau một hồi tranh luận, bà mẹ Trung Hoa xắn tay áo lên, dùng đủ mọi phương cách kéo cô con gái trở lại đàn. Ngồi tập đi tập lại, bỏ cả giờ cơm tối, không được phép đứng dạy, không được vào nhà tắm. Cứ như vậy, mãi không thấy cô bé tiến bộ, chính bà mẹ bắt đầu nghi ngờ phương pháp của mình. Rồi bỗng một hôm, hai bàn tay cô bé đánh đúng nhịp với nhau, tự nhiên như vậy. Cả mẹ và con ngạc nhiên. Rồi cô bé thử lần nữa, lần nữa. Sau cùng, cô kêu lên: “Mẹ! Dễ quá! Con đàn được!” Thế là cô bé tiếp tục ngồi đàn, mê mải, quên cả đói.

Amy Chua kết luận: Cha mẹ Tây phương cứ lo làm con mất tự tin. Ðối với một người mẹ như tôi, không có gì làm một đứa trẻ mất tự tin hơn là khi nó phải bỏ cuộc. Ngược lại, không có gì xây dựng đức tự tin tốt hơn là tự mình học được rằng mình có sức làm những việc mà trước đó mình tưởng là không làm được!” Bà viết, người Trung Hoa tin rằng cách bảo vệ con tốt nhất là chuẩn bị cho chúng vào đời, cho chúng cơ hội biết mình đủ sức làm được gì, trang bị cho chúng kỹ thuật, thói quen chăm chỉ, và lòng tự tin không bao giờ mất được.

Bài báo của Amy Chua dài hơn 2,600 chữ, chúng tôi tóm tắt chỉ dài bằng 60%. Mới lên báo, bài này được 5,700 độc giả góp ý kiến trong một tuần lễ; chưa bao giờ có bài nào trên báo Wall Street được nhiều người đáp ứng như vậy. Rất nhiều độc giả góp ý là người gốc Trung Hoa, ở khắp thế giới, và rất nhiều người không đồng ý với lối dạy con của bà Amy Chua. Quý vị độc giả Người Việt đọc tới đây trong đầu chắc cũng đầy những ý kiến ủng hộ hoặc phản bác. Chắc đây cũng là một đề tài nhiều vị không đồng ý với nhau, có thể tranh luận rất lâu, và khá nhức đầu. Quý vị có thể viết góp ý trên trang Diễn Ðàn nhật báo Người Việt và Người Việt Online. Khi thảo luận, xin chú ý đây chỉ là vấn đề phương pháp dạy con. Không nên phân biệt chủng tộc, vì nhiều bà mẹ Việt Nam, Do Thái hay Ðức cũng dạy con giống lối bà Amy Chua mô tả. Ngược lại, nhiều bà mẹ gốc Trung Hoa cũng thích dạy con theo lối Mỹ.

Chúng tôi sẽ tóm tắt một số ý kiến phản ứng trên báo Wall Street và các báo khác trong một bài sau.

Posted: Tue Feb 15, 2011 2:46 am
by quaichao
Chị Sui

Nguyễn Viết Tân và Thanh Mai
Chưa tới sáu mươi mà tôi hên quá, có tới những hai chị sui nhỏ tuổi hơn tôi nhiều. Còn hên hơn nữa là cả hai anh sui đều đã đi bán muối mấy năm nay rồi, để lại hai chị phòng không chích bóng, ngó thấy muốn ứa nước mắt, thiệt tội nghiệp vô cùng.

Có những lúc phởn chí, tôi ngâm lên bài thơ Chị Sui, giọng ngâm trầm ấm rỉ rả trong canh vắng, nghe hay hơn ông Nguyễn Ngọc Ngạn trong Thúy Nga Paris rất nhiều:
- Đêm nằm bên vợ nhớ chị sui
Thấy tình cảnh chị luống ngậm ngùi
Ước ngày nào đó tôi góa vợ
Ghé thăm nhà chị chắc là dzui...
Bà vợ nhỏ của tôi ban đầu nghe tức lắm, nhưng cũng nhờ như thế mà bà ấy biết chìu chuộng, đối xử vời chồng đàng hoàng hơn xưa, chứ cà chớn cà cháo là tôi... ghé thăm chị sui liền một khi.. thì mất cả chì lẫn chài.
Bây giờ bả nghe ngâm thơ riết đã lờn rồi, nên tuyên bố thẳng thừng:
- Đi đâu thì đi, càng đỡ mòn của nhà.

Xin quí cụ cao niên đừng hiểu lầm là tôi có vợ nhỏ rồi hừng chí bắt chước. Bởi vì bà xã tôi hơi nhỏ con (nhưng rất mắn đẻ) nên hồi tôi mới quen bả thì gọi là người em gái nhỏ, bây giờ bả đã đến tuổi "mày thuôn lá ổi, vú thõng dưa gang" rồi thì tôi kêu là vợ nhỏ, chứ chính thực bả là vợ lớn.
Hai chị sui tôi hồi còn con gái chắc là đẹp lắm, bởi vì theo lời hai chị mô tả thì đồ đạc còn nguyên si, khôngcó bơm hút, cắt chích gì hết mà trông vẫn còn phông, nói theo kiểu bình dân là "cứng cạy" lắm.Chắc nhiều người không biết cứng cạy là cái gì.Đó là trái dừa vỏ hết còn là màu xanh, nó đã biến qua màu xám vàng, cơm ở trong không còn mềm èo, mà cùi dừa cũng chưa khô khốc như dừa khô, làm mứt thì ăn vừa miệng vô cùng. Nói tóm lại thì dừa cứng cạy vừa dòn, vừa mềm mà còn nước nôi lắm lắm.
Bây giờ nói về chuyện chị sui thứ nhứt:
Con trai tôi quen con gái chị được chừng một năm thì cưới nhau. Ngày thằng Cậu Cả dẫn tôi đến nhà vợ tương lai của nó, tôi đi cắt tóc, nhuộm đen, mặc bộ đồ lớn, đeo kiếng trắng gọng vàng coi cũng oách như ông này ông nọ chớ chẳng phải chơi.
Thấy ánh mắt là tôi biết chị cũng "chịu đèn" tôi rồi, nhưng cả hai còn thẹn thò đâu dám nói ra. Hôm đám cưới, chị mặc một chiếc váy đen. Chị nhảy đầm tốc cả váy lên coi rất điệu nghệ, tiếc rằng tôi là người chân quê, hồi nhỏ chỉ biết nhảy cò cò, sau lớn lên đi lính thì biết thêm nhảy xổm với nhảy dù, chớ có biết nhảy đầm nhảy đìa chi đâu, bởi vậy cứ ngồi trơ mắt ếch ra xem chị nhảy mà nuốt nước miếng ừng ực.
Ngày tôi có đứa cháu nội đầu tiên thì chị dọn về ở chung với con, để săn sóc cháu ngoại cho tụi nó đi làm. Mỗi lần phải đi lên City làm giấy tờ gì đó, là tôi lại kiếm cớ tạt ngang thăm cháu nội.
Nhấn chuông xong thì thấy chị vội vàng chạy ra mở cửa, tay bế đứa bé mũm mĩm đang chu mỏ ra phun mưa, chân tay chòi chòi đạp đạp.
Chị đưa đứa nhỏ cho tôi bồng, miệng nói:
-Dễ thương lắm đó.
Tôi nhìn vào tay đứa nhỏ đang níu cổ áo bà ngoại nó mà kéo doãng ra, thấy rõ hai trái ổi xá lị không có gì che đậy nên tôi nói nhỏ:
-Ừ, dễ thương quá à!
Chị ngước lên nhìn tôi, màu hồng đỏ bừng lên tới tận tai, miệng cười mủm mỉm coi dễ thương hết sức.
Chị sui nhỏ nhẻ hỏi:
- Bữa nay anh có rảnh không, mời anh vô nhà chờ chút tui nấu chè anh ăn.

Tôi là tay hảo ngọt có tiếng, nghe chị mời chè thì khoái chí tử, bồng thằng nhỏ xà vào cái ghế bành. Thấy chị sui lấy ra một rổ hột me, tôi quăng thằng cháu nội vô cái lồng con nít rồi ngồi bệt với chị ...

Chị sui nói với anh sui
Giờ nầy còn sớm ở chơi khoan về
Vô đây phụ lột hột... me
Để tui chuẩn bị nấu chè mình ăn.

Hôm nay mồng mấy vậy anh?
Nhìn ra ngoài ngõ ánh trăng đã tròn
Hồi xưa ông xã tui còn
Ảnh phụ tui nấu thường hơn anh à

Tụi tui ngồi dưới trăng ngà...
Ăn chè, tán dóc thật là vui tươi
Thắm thoát gần chục năm trời...
Ảnh chết, tui bỏ cả xôi lẫn chè

Hôm nay làm lại đó nhe
Bảo đảm, anh thử sẽ mê tới già...

Tối đó về nhà, vợ tôi thấy tôi bần thần đầu óc mơ màng cứ tưởng tôi bịnh nên giã chén muối ớt, cắt mấy trái khế để tôi ăn chua vào cho giải cảm. Nào ngờ nhìn chén muối ớt mà tôi lại nhớ đến hai trái ổi xá lị, nước miếng cứ dâng lên miệng, cục Adam thì cứ chạy lên chạy xuống. Tôi nuốt nước miếng ừng ực, hít một hơi để dồn chân khí chạy xuống... phía dưới, vừa ăn khế vừa tưởng tượng đến ổi xá lị.
Ăn xong, tôi vội chạy ngay lên giường trùm mền, mơ màng rồi ngủ quên hồi nào không biết. Có ai ngờ là tôi bị bịnh mộng du, thế mới có chuyện xảy ra....Có trời biết, đất biết, Chúa biết, chị sui biết...mà tôi hổng biết.

Hèn chi sáng hôm sau tôi ghé qua thăm thằng cháu nội lần nữa thì chị sui ra mở cửa, mặt ửng hồng, thẹn thùng hỏi:

Tối qua ...anh đến nhà tui?
Sao không gọi cửa ...mà...chui hàng rào?
Tôi thộn mặt ra chắc chắn là …rất ngố. Tại sao mình lại phải chui hàng rào mà không…vượt rào? Nhưng tôi nhanh trí mạnh miệng chối phăng còn ngố hơn:
Đêm khuya chị ngáy ào ào,
Tui chun dzô đó khác nào tui điên?
Than ôi, nhưng đó chỉ là giấc mơ, cơn mộng du thôi, chớ có bóng đèn làm chứng cho tôi, mối tình anh sui chị sui vẫn còn ngây thơ trong trắng không vướng chút bụi trần. Ai không tin thây kệ.

Bây giờ kể đến chị Sui thứ hai:
Thằng con trai kế của tôi ra trường đi làm việc đã lâu. Thành phố nó ở lại không có mấy người Việt, mà từ hồi các con còn nhỏ, chúng tôi thường khuyên nhủ là nên lấy người Việt Nam, kẹt lắm thì lấy Tàu, Thái, Phi cũng còn đỡ, chứ lấy Mỹ hay Mễ thì ba má không phản đối nhưng cũng không thích đâu.

Mấy đứa nhỏ nghe lời, nên bạn bè cặp xách thì cũng có lai rai, nhưng khi lấy vợ thì tuân theo ý cha mẹ, là cô dâu phải biết húp nước mắm. Nhân dịp về Việt Nam thăm bà nội, nó được giới thiệu với một cô gái đẹp lắm, lại con nhà giàu.

Nghe người ta đồn là con gái bây giờ ma mãnh lắm, nó lợi dụng qua đây được rồi là đá liền mà theo thằng khác, nên tôi phải thân chinh về tận bên đó coi lại cho chắc, chứ thằng con tuy gần 30 tuổi rồi mà còn ngây ngô như đá.

Gia đình chị Sui ra rước tận phi trường. Đứa con dâu tương lai ôm bó hoa lớn tặng cho tôi ngay khi gặp mặt tại cổng.

Dĩ nhiên tôi để ý theo dõi nét mặt, tướng đi, lời nói của con nhỏ thì thấy được quá. Con nhà giàu mà không chưng diện, mặc chiếc áo đầm trắng đơn giản, giống như thiên thần.

Còn chị Sui tương lai của tôi thì khỏi nói, mới chừng bốn mươi thôi và nhan sắc thì ôi thôi.. chậc chậc.. giới địa ốc bên Việt Nam gọi là "điện nước đầy đủ cả".

Anh Sui đã cất bước theo ông bà khoảng chừng năm năm nay, để lại cho chị một gia sản kếch sù, gồm nhiều căn nhà ở thành phố và các tỉnh miền tây, với một đoàn xe tải ba bốn chục chiếc, chuyên chở hàng từ những cửa khẩu về SG hay các tỉnh. Tôi choáng ngợp trước sự giàu có của họ, cho dù ở bên Mỹ tôi cũng chẳng nghèo hèn gì.

Nhà đàng gái có nhiều xe, nhiều tài xế, nhiều người làm, nên nếu sau này con nhỏ đó có về làm vợ thằng con tôi, chắc nó cũng không biết nấu ăn, giặt quần áo gì đâu, chỉ tội cho thằng con lo hầu vợ mà thôi. Nhưng ngẫm đi nghĩ lại, bà xã tôi ngày xưa có là tiểu thư khuê các con nhà giàu gì đâu, mà bây giờ tôi cũng vẫn phải nai lưng ra hầu việc bả vậy. Thôi cũng đành phó thác cho mệnh trời.

Giấy tờ làm hôn thú, bảo lãnh cũng còn khá lâu, nên chị Sui muốn nhờ tôi làm một thư mời bả qua Mỹ, thực tế là đi chơi, nhưng giấy tờ là mời một "đối tác" từ bên VN qua để làm ăn.

Chắc bả muốn coi gia đình tôi có môn đăng hộ đối không, thằng con tôi là kỹ sư thiệt hay dỏm, nó đang làm ông Sếp hay đang cong đít lau sàn nhà.

Thư mời, tôi có bấm con dấu nổi của công ty, bả dòm thấy nổi cộm lên một cục chắc lé con mắt, vì mộc bên VN đóng đỏ toè loe, nhưng làm sao oai bằng con dấu của tôi được.

***

Mấy tháng nay, kinh tế Mỹ lao xuống vùn vụt, thằng Cậu Cả nhà tôi bị lay off, nó đành dọn về nhà cha mẹ ở chứ không còn đủ khả năng ở nhà lớn nữa, mà nhà tôi thì các con dần dần như con chim mọc đủ lông cánh, bay đi khắp bốn phương trời.

Chị Sui ở một mình cô quạnh nên tôi phải thường xuyên ghé thăm thay thế cho đám nhỏ. Một bữa tôi nghe chỉ than mà thấy thương quá.

Cám ơn anh đã ghé qua...
Con gả đi hết cửa nhà quạnh hiu!
Làm tui cảm thấy buồn thiu
Riết rồi sanh bệnh ít nhiều anh ơi!

Thế rồi tôi và mấy đứa con thuyết phục bà vợ nhỏ của tôi nên rốt cuộc mời được chị Sui về ở chung với gia đình tôi.

Sắp tới chị Sui thứ Hai qua đây chơi, tôi cũng không đành để chỉ ngụ tại Khách sạn, nó lạnh lẽo và bất tiện lắm, tôi sẽ đem về ở chung nhà.

Tưởng tượng đến cảnh mấy người đề huề "chung một mái nhà" mà tôi thấy mình như sắp lên thiên đường.

***



Chị Sui hai chưa qua mà tôi bây giờ đã biết thế nào là cảnh 1 ông nhiều bà. Trời ơi là sướng như tiên mặc dù hơi...điên cái đầu.

Trước hết nói về cái Sướng là bởi mấy bà trong nhà lúc nào cũng chìu chuộng, trổ tài chinh phục trái tim mong manh của tôi.

Bà xã tôi hồi giờ ăn hiếp bắt tôi nội trợ lo cơm nước thì nay lại chịu khó lăng xăng lí xí nấu nướng bưng cơm dâng tận tay tôi, lại còn bưng nước, xĩa răng cho tôi nữa. Tôi mới ưỡn lưng than mỏi là bả xà vào đấm bóp, massage cho tôi ra cái điều tôi là sở hữu của bả.

Còn chị Sui thì tự nhiên đòi dạy tôi nhảy đầm. Chỉ bảo là hôm đám cưới thấy tôi ngồi thộn mặt ra ngó thiên hạ nhảy nhót giống y mặt con cóc tía mà tiếc cho tôi và...chỉ hết sức nên phải kiếm dịp mà luyện võ nghệ cho tôi. Chỉ bảo điệu sì lô cóc khô gì gì đó là dễ nhất và hợp với cái tướng to con của tôi. Ừ, nhảy thì nhảy, tôi sợ gì mà không tập. Sẵn bà vợ nhỏ của tôi mắc đi đánh tứ sắc ở nhà bạn, vợ chồng thằng Cậu Cả được dịp xúi vào, hổng hiểu tụi nó có dụng ý gì:

- Má đi rồi, Ba tới đi Ba.
- Ừ, tới thì tới. Nhảy đầm là một môn nghệ thuật mà.

Thế là thằng con mang đờn ra, còn tui thì diện bộ đồ vía vào. Chị Sui vào trong thay đồ thật lâu làm tui sốt ruột quá xá, không tranh thủ mà làm phí thì giờ vàng ngọc thật là uổng. Nhưng úi trời, lúc chị Sui ỏn ẻn từ trong phòng bước ra hai con mắt tui muốn nổ đom đóm, máu cam từ từ ứa ra từ mũi y hệt trong phim Tàu. Chỉ mặc bộ đồ kiểu gì mà cứ y như không mặc. Hai trái ổi giờ được che bởi những bông hoa vải đỏ nho nhỏ được đính trên cái áo voan màu da mỏng dính. Còn thêm những cái tua đỏ dài dài như tấm màn mỏng nửa che nửa hở. Kiểu này mà nhảy nhót sao được, chưa chi tui đã cứng cả cẳng, run cả đầu gối.

Nhưng phải công nhận chị Sui thật là tài, chỉ dìu tôi đi tới đi lui theo tiếng nhạc dìu dặt mê ly. Biết nhảy đầm mà hấp dẫn như vầy là tôi đã xin đi học nhảy từ hồi mới chui ra khỏi bụng mẹ. Ô, mê lý, mê ly đời ta! Hai trái ổi của chị sui lâu lâu chạm nhẹ vào tôi làm tôi nỗi cả da gà da rắn...Mà đâu cần chị sui chạm, chỉ cần nhìn bộ đồ chỉ mặc kiểu “có mà như không” là trái tim tôi cứ thắt lại, mắt nổ hào quang.

Ấy chỉ là mấy điều sung sướng của tôi, kể nhiều lộ hết bí mật. Còn nổi khổ thì trời ơi là khủng khiếp.

Cái thằng cậu Cả của tôi thật là ngu đại ngu. Cái ngu thứ nhất là nó đem ông Sui bà Sui ghép với nhau. Cái ngu thứ hai là nó thấy hai sui nhảy đầm hết xảy nên biểu con vợ vào lấy máy chụp hình chụp vài “bô” làm kỷ niệm. Thế mới có cái hình đẹp ác chiến và cũng là nguyên cớ cho cái trận ghen ác liệt xảy ra.

Anh sui cùng với chị sui,
Đôi ta say đắm mùi ơi là mùi.

Cái hình này tôi đã nhét dưới mấy cục tạ mà hổng hiểu sao nó lại lọt vào tay vợ tôi. Sau này mới biết hóa ra thằng con nó thấy đẹp rửa ra và gởi cho Paris by night xin ghi tên cho 2 đứa tôi dự thi khiêu vũ. Lại thêm một cái ngu của nó là xớn xác ghi địa chỉ không đúng nên thơ được châu về hợp phố và lọt vào tay con vợ chằn lửa của tôi. Ngu gì mà ngu truyền kiếp! Đúng là con hơn cha nhà mất nóc.

Trước con sư tử dơ nanh vuốt, tôi quỳ thụp xuống xin tha mạng và mếu máo ngâm bài thơ:

Trên đời quý nhất là CON
Cho nhau chẳng tiếc, mình còn dùng chung.
Tiếc chi cái tấm ... thân còng
Còn "ngon" mà chẳng ai dùng, phí đi!!!

Dĩ nhiên là nghe tôi ngâm xong, bả gầm lên và nhào vô cấu xé “tấm thân còng” và xé tan nát luôn cái hình làm tôi tiếc đứt ruột. Nhưng nghĩ cho cùng, cái hình đã được save trong computer thì mắc mớ gì mà tiếc.

Chỉ tiếc có một điều là con vợ của tôi nó ra tối hậu thư:

«Một chị Sui chung nhà là đủ. Còn chị Sui hai thì ông lo mà đem chỉ đi đâu thì đi. Tui không cho phép rước thêm vô căn nhà này.»

Tâm Hiền trích đăng (tác giả là bạn văn của TH)
http://tamhien.multiply.com/journal/item/241

Posted: Wed Feb 16, 2011 6:45 am
by vuphong
Cười ra nước mắt - Cười chết thôi

Cũng như đêm cuối cùng của Đường Tăng trằn trọc không sao ngủ được, chờ ngày mai vào yết kiến Như Lai để lên kiếp Phật. , Cụ Phúc đêm nay cũng vậy. Ngày mai cụ tuyên thệ vào quốc tịch Mỹ. Cụ nằm trăn trở nghĩ đến cả mười năm trời dằng dẵng, từ khi đủ năm để hợp lệ nạp đơn đến những đêm đứa con trai đi làm về chở cụ đi học lớp luyện thi vào quốc tịch ở văn phòng USCC . Cụ nghĩ nó như con thoi giữa 2 thế hệ. Trong tuần đưa cụ đi học tiếng Anh, bắt cụ phải trả lời điện thoại " hello " chứ nói " tôi nghe đây " làm sao Mỹ hiểu được . Cuối tuần đưa con đi học tiếng Việt, mắng con gọi xe " fire truck" là " xe lửa " , phải nói là " xe cứu hỏa " hay " xe chữa lửa " chứ. Nhiều lúc cụ thấy phải chi mà thằng chắt đi học tiếng Anh, còn cụ đi học tiếng Việt thì mới đúng theo lý tự nhiên của trời đất.

Thoạt đầu cụ tưởng cả lớp luyện thi vào quốc tịch này , đầy những cụ tuổi gần đất xa trời , học để giết thì giờ, cho bớt nỗi buồn xa xứ. Vậy mà ngày bà cụ Ngà thi rớt , cả lớp xôn xao lên như ngày Mỹ rút quân ra khỏi Việt Nam. Thực ra thì bà này rớt cũng đáng đời lắm . Đời thuở nào ông quan tòa hỏi tổng thống Mỹ là ai, bà cụ lại trả lời là Nguyễn văn Thiệu thì đậu làm sao được .

Sinh nhật người nào trong lớp, bà cũng làm cho một cái bánh gà-tồ rồi bắt các cụ vây quanh hát " Happy Birthday ". Cụ không biết đến ngày chết thì người ta có hát "Happy Deathday " không, bởi vì cụ nhớ bên quê nhà những ngày kỵ giỗ mới thật là quan trọng . Con cháu tụ họp ăn uống 2, 3 ngày liền. Chứ ngày bước vào trần thế khổ ải này, người ta phải dày công tu hành để thoát ra khỏi vòng luân hồi, thì mừng rỡ ngày sinh để làm gì ?

Vậy mà thời gian thấm thoát qua đi, rồi cũng đến ngày cả lớp đi thi. Các cụ sáng sớm đã ngồi đầy ra ngoài phòng đợi của sở di trú trong tòa đô sảnh thành phố . Cụ nghĩ ngày xưa đi thi Hương , thi đình cũng chỉ nhộn nhịp đến thế là cùng . Con cháu đem theo cho nào là bánh trái, nước uống , cả ghế xếp để ngả lưng , như thi vào quốc tịch đến mấy ngày trờị Bây giờ trí nhớ các cụ kém cỏi , học được tiếng Mỹ chữ nào , vài bữa lại quên hẳn đi không biết phát âm làm sao . Cho nên đi thi, cụ nào cũng viết chi chít , như xâm mình trên tay , các câu trả lời phiên âm ra tiếng việt. Thằng cháu cụ Tốc thì cứ nhắc đi , nhắc lại ngoại nhớ ngày lễ quan trọng nhất của Mỹ không phải là Tết, mà là ngày Độc Lập . Cụ lại kéo tay áo lên lẩm bẩm kiếm chữ IN ĐẺ BÊN ĐÀNG . Bà cụ Ngà hỏi với qua " có phải là ngày Tây về nước không , cụ Phúc ? ". Cụ đành thở dài, biết ông tòa muốn đánh rớt thí sinh nào thì chỉ cần bắt hát bài quốc ca Mỹ là thí sinh đó rớt ngaỵ .

Vậy mà Giời phù hộ, cả lớp đậu hết . Cụ còn nhớ ngày ăn mừng tân khoa , cụ nào cũng hí hửng như những đứa trẻ con vừa lên lớp, cầm vẫy lá cờ Mỹ để chụp hình lưu niệm. Bà cụ Ngà hôm ấy đẹp hẳn ra, mặc cái váy đầm thay cái quần đen vừa nói "Con gà tui lội sông" (congratulations), vừa high-five , vừa "hug" mọi người . Cụ thấy mọi người như trẻ ra dến cả chục tuổi. Có thể là vì cái ôm nồng nàn da thịt của bà cụ Ngà làm cụ thấy trong người đổi thay như cả một mùa xuân hừng hực kéo nhau về. Có thể là vào quốc tịch mới, làm người ta tưởng như đổi thành một kiếp người khác , trở lại cái tuổi tập ăn tập noí, nên hồn nhiên như một đứa trẻ thơ .

Thế mà đêm nay cụ lại trằn trọc . Một phần là vì cụ cứ nghĩ đến ngày mai ở tòa đô chính , ông thị trưởng thành phố tổ chức nghi lễ tuyên thệ vào quốc tịch riêng cho cộng đồng người Việt , để đánh dấu một chặng đường gần phần tư thế kỷ tàn cuộc chiến tranh của người Mỹ tại Việt Nam . Ông chủ tịch mấy hôm nay hăm hở nhắc nhở bà con mặc đồ cho đẹp để lên truyền hình . Mọi người học thuộc lòng câu "I am proud to be American " để khi báo chí radio người Mỹ phỏng vấn thì tỏ ra cộng đồng người Việt mình mau hội nhập hơn các cộng đồng sắc tộc khác .

Cụ cứ nghĩ tới lúc trước cử tọa cả nghìn người, có thống đốc tiểu bang, nghị sĩ , dân biểu quốc hội, quan chức các ngành , người ta gọi tên cụ lên khán đài nhận bằng công dân Mỹ , là cụ lại xốn xang trong người. Chả vì cụ ngang bướng giữ cái tên cúng cơm của cụ. Tên họ trong tờ khai sinh cụ là Dư Quí Phúc . Ỏ trại tỵ nạn, cụ đã bao nhiêu lần cãi gàn cãi bướng với mấy người thông dịch viên là tên cụ phải có dấu mới là tên của cụ Tiếng Việt một chữ có hằng chục nghĩa nếu không bỏ dấu. Thí dụ như LO có thể là lờ, lợ, lờ, lơ, lộ, lô, lố, lồ, lồ, lo, lọ ,lò, ló, lõ .. . Vậy mà có ai nghe cụ đâu , người ta cứ điền vào tên trước họ sau .

Cho đến hôm cụ còn nhớ mãi ngày nhà thờ First Bapstist Church bảo trợ gia đình cụ đến thành phố này . Hôm ấy chủ nhật, nhà thờ đông đảo chật cứng đến nỗi người ta phải đứng lan ra ngoài hành lang. Ông mục sư trịnh trọng giới thiệu gia đình cụ mới dịnh cư . Cứ mỗi lần tả cảnh gian khổ gia đình cụ trải qua, cả nhà thờ lại xướng ầm lên Alleluja có nghĩa là ngợi khen chúa. Cuối cùng ông mục sư nói dõng dạc giới thiệu cụ: Please welcome , Mr. Phuc Du Cái giọng ông oang oang lên "Phuc Du !" Cả nhà thờ đang xôn xao bỗng im lặng như chiếc xe lủa thắng gấp lại rồi lấy trớn lao tới cười nghiêng, cười ngửa . Ông mục sư ngơ ngác sửa lại gọng kiến, nhìn xuống tờ giấy viết tay rồi đọc lại tên cụ lần nữa Phuc Du Lần này đến phiên ông mục sư gấp người lại làm đôi, cười sặc sụa chảy cả nước mắt nước mũi ra . Cụ Phúc chân ướt chân ráo, tưởng đó là phong tục địa phương chào đón mình đứng bụm hai tay đưa lên trán bái tứ hướng để cảm ơn sự ưu ái của nhà thờ .

Sau này ông mục sư cho người đến đề nghị cụ đổi tên gọi để lấy lại sự nghiêm trang . Một là cụ lấy hẳn tên Mỹ như John, Peter, Larrỵ..cho dễ gọi Hoặc phiên âm tên cụ tiếng Việt Ông Phúc Dư ra tiếng Mỹ là Mr. Foot Joy . Cụ bực lắm , tên cụ từ Việt Nam là Quí Phúc , nghĩa là ơn phước quí báu của trời phật ban cho , sang đến đây thì lại thành Túc Hân , là bàn chân hân hoan. Cụ bỏ xứ sở ra đi, mất hết chỉ còn một cái tên Việt là cái di sản gốc gác của cụ mà đành phải mất luôn sao . Từ đó cụ không đi nhà thờ Tin Lành nữa, nhưng tên cụ thì cứ tạm thời giữ vậỵ Cụ đi tỵ nạn vài bữa, khi nào quốc gia thanh bình thì cụ lại dắt các con cháu về. Thà làm cụ Phúc nước Việt , hơn làm cụ Túc nước Huê Kỳ.

Ngày mai cụ tuyên thệ vào quốc tịch Mỹ. Thế mà cụ Phúc lại trằn trọc đêm nay không sao ngủ được. Cũng bởi vì mấy hôm trước các cụ tân khoa bàn về chuyện tiếp tân mừng ngày nhập tịch Mỹ. Bế tắc từ đầu chỉ vì các cụ phải chọn món ăn cho buổi tiệc . Món ăn nào đãi khách vừa thích hợp với quốc tịch mới , vừa có bản sắc dân tộc .

Ông Hai Bò lên tiếng ngaỵ Ông này tên việt nam là Cao Văn Tự, trong giấy tờ viết là Tu Cao. Mỹ đọc là " two cows " nghĩa là 2 con bò . Từ đó có tên Hai Bò . Vốn là dân thông dịch viên cho Mỹ ở căn cứ Long Bình , sang bên này ông bán bảo hiểm nhân thọ Cụ nào mà được ông kéo riêng ra góc phòng đều sợ run lên như tử thần đến, vì ông Hai Bò cứ thúc dục luôn "cụ thử nghĩ coi cụ còn sống được bao lâu, trời gọi ai người nấy dạ . Thú chết để da, người ta chết để tiếng . Mấy cụ qua đây ăn phút tem thì có tiếng gì mà để, chi bằng mua cái bảo hiểm nhân thọ , đến khi chết để lại cả bạc triệu cho người ta xây một cái chùa hay nhà thờ có phải là tên tuổi mình khắc vào bia đá nghìn năm, bất tử với đời không ". Tưởng ông dọa chết thì cóc ai thèm mua, thế mà từ ngày cụ Hanh mua cái bảo hiểm nhân thọ đầu tiên, Hai Bò bỗng đắt khách như tôm tươi.

Chả vì cụ Hanh mới đoàn tụ gia đình vài năm nay. Mấy đứa con qua từ năm 75 , nhà cao cửa rộng , ngày cụ đến phi trường không thấy đứa nào ra đón . Thằng Tư thì đùn cho chị Ba , vợ thằng Bảy thì nói nhà nó có lầu cao , sợ ổng già đi chỏng gọng, té bể đầu . Hôm ấy, cụ Hanh lủi thủi đi với bà Mỹ USCC về ở cái phòng trong khu housing Mỹ đen. Hôm nghe Hai Bò dụ mua bảo hiểm nhân thọ, lại chịu lấy bằng phút-tem, cụ Hanh mua ngay . Vài hôm tin đồn cụ có cái bảo hiểm bạc triệu, mấy đứa con bỗng có hiếu hẳn ra , tranh nhau mời cụ về nhà ở. Chồng con Năm Thúy đánh lộn với thằng Tư chỉ vì tội không để cho nó báo hiếu nuôi ông già vợ . Ngày nào cụ muốn ăn thức gì , đám con rối rít đi mua về ăn không hết . Có điều hơi lạ là không đứa nào mua sâm cao-ly để cụ uống cho khoẻ người , sống thọ thêm ra.

Thỉnh thoảng trái gió trở trời , cụ mới ho hen cảm cúm nằm trên giương vài ngày là cả nhà xúm lại bàn chuyện làm cái di chúc sao cho hợp lệ với thủ tục tiểu bang , để lãnh tiền bảo hiểm mà không phải đóng nhiều thuế.

Thấy cụ Hanh chỉ mua cái bảo hiểm nhân thọ mà được con cái hậu đãi, đi học mặc áo vest, tay cầm mô bai thì các cụ ngộ ra rằng tội gì ở xứ cờ hoa này mà không làm triệu phú . Sống trên đời mà không mua bảo hiểm nhân thọ, xuống âm phủ biết có hay không, bèn ùn ùn theo năn nỉ Hai Bò để được giá rẻ. Chết được bonus một cái hòm cẩm lai của nhà táng xác tặng quảng cáo .

Hai Bò bỗng dưng trở thành ân nhân của hội bô lão , nên khi Hai Bò nói bất cứ cái gì , mọi người đều lắng nghẹ Hai Bò trịnh trọng xoa 2 tay vào nhau . " Cái tradition của người Mỹ từ trước đến nay, party mà có tính cách dân tộc là phải có barbecue . Barbecue là chữ ghép bởi 2 chữ "Barbaric" and "cuisine" có nghĩa là cách nấu ăn cách mọi rợ . Ám chỉ một sinh hoạt văn hóa bán khai của người da đỏ ngày trước . Họ mới là người Mỹ chính hiệu con nai vàng. Tuy những người da trắng đến đây, dùng vũ lực cướp hết đất đai của người da đỏ để lập nên Hiệp Chủng Quốc , người Mỹ luôn luôn nhắc nhở con cháu họ ông tổ Mỹ là người da đỏ bằng cách ăn barbecue . Do đó chúng ta trở thành công dân Mỹ, uống nước nhớ nguồn , drinking water remember origin hole . Tôi xin đề nghị món ăn barbecue "

Cụ Can't Do đứng lên khua tay phản đối . Tên thật cụ là Đỗ Thành Cẩn. Viết theo lối Mỹ thì họ tên lẫn tên đệm là Can T. Do . Bà cô dậy Anh ngữ thấy cụ chả bao giờ chịu làm homework , bèn đọc luôn là "Can't Do". Cụ là người duy nhất không mua bảo hiểm của Hai Bò vì bà xã cụ còn sồn sồn. Cụ chỉ sợ có bảo hiểm nhân thọ thì nhiều khi chết sớm vì lâu nay cụ Can't Do không còn hăng hái trong chuyện phòng the, mà vợ cụ còn xuân xanh lắm. Ngày xưa bán bánh cuốn ngoài chợ Thị Nghè, vợ cụ ngồi xổm nhiều nên cái bàn mông mẩy ra tròn trịa to như hai cái lồng bàn. Ở Việt Nam thì cái quần đen với cái áo bà ba che hết đi, qua Mỹ mặc cái quần jean vào nó lồ lộ , khêu gợi làm sao . Thế mà cụ Can't Do lại cứ cố tình phớt lờ như thể cụ là một nhà hiền triết đạo mạo. Ngày nào cụ cũng tập Tai Chi cho cứng gân cứng cốt , mà hễ cứ gần vợ cả người cụ rủ nhau mềm nhũn ra như bún . Lần nào vợ cụ cũng thở dài thườn thượt , bảo cụ chết quách cho xong. Nói vậy thì cụ mua bảo hiểm nhân thọ để làm quái gì . Nghe Hai Bò trình bày món ăn barbecue, cụ Can't Do gạt phắt đi . "

Miếng thịt Barbecue là biểu tượng cái đầu óc thực dân, kỳ thị của người da trắng . Họ coi sự chinh phục những người bản xứ da đỏ là một chiến thắng vĩ đại trong lịch sử Hoa Kỳ. Món barbecue của người Mỹ thường là do các đấng mày râu đứng nướng để biểu lộ hùng tính và cương vị thủ lãnh của phái nam, nhắc nhở chúng ta hình ảnh các chiến sĩ xẻo thịt rồi xóc vào gươm mà nướng để khao thưởng sau các trận mạc. Nước mỹ là nơi melting pot, hợp chủng quốc .Món ăn tiêu biểu phải là hamburger , món thịt bằm hầm bà lằng . Người Mỹ ăn hamburger còn để nhắc nhở con cháu họ về cuộc chiến Nam Bắc phân tranh tương tàn của họ Tôi xin đề nghị món thịt băm hamburger ".

Bà Loan To , tên Việt là Tô thị Loan, Mỹ lại đọc là Lôn To, đưọc dịp đứng lên phát biểu . Bà này lại có chồng Mỹ da đen Frank Quaker , hoả đầu quân của lính bộ binh Mỹ tham chiến thời trước. Nên tên bà nay có thêm họ Mỹ là Loan To Quaker. Mấy cụ trong lớp thì Việt Nam hoá tên bà là Lôn-To-Quá-Cỡ. Bà Lôn To phát biểu " Dạ tui không biết nhiều về lịch sử Mỹ, chỉ biết ngày đầu tiên về nhà chồng được ông xã tôi cho ăn món Hot Dog . Tui thấy hot dog mới là biểu tượng đúng cho chức vị siêu cường quốc , hùng mạnh của nước Mỹ. Tui xin đề nghi Hot Dog, mà size loại Jumbo à nghen ".
Bà cụ Ngà ngồi bên đắc ý hùa theo "Cùng là bò mà thịt bò Mỹ nó khác thịt bò Việt Nam chị ạ . Để cả tuần trong tủ lạnh , bỏ ra nó cứ đỏ ửng lên. Còn thịt bò việt nam mình để từ sáng đến trưa nó tái hẳn đi như thịt trâu ấy " .

Các cụ ông lấm lét nhìn nhau không biết bà cụ Ngà đang bàn về văn hóa của những miếng thịt hay nói xéo qua về những đồ gia dụng hàng ngày của các cụ ông .

Cụ Quýnh trưởng ban tổ chức thấy mọi người nhao nhao lên , nên theo tinh thần dân chủ của Mỹ đề nghị là sẽ có cả 3 món barbecue, hamburger và hot dog. Ông Hai Bò lại có thêm ý kiến để có tinh thần Mỹ Việt đề huề, các món ăn trong thực đơn phải dịch ra tiếng việt . Cụ Quýnh sẽ cho ghi bên cạnh là barbecue (thịt nướng kiểu mọi), hamburger (thịt bằm dập), hot dog ( thịt chó nóng) .

Đã gần nửa đêm mà Cụ Phúc chưa thấy ai lên tiếng về phần món ăn việt nam. Có thể là vì người việt mình ở Tây phương trong những xã hội tự do nhất hoàn cầu lại cảm thấy mình như côi cút, lạc lối , xa lạ cả với chính tình tự quê hương của mình. Từ xưa đến nay cụ vẫn tự hào về bản sắc văn hóa riêng biệt của người Việt . Ra ngoại quốc cụ thấy rằng cái mà xưa nay ta vẫn tưởng là Việt tính, nay chỉ còn lại chẳng bao nhiêu là Việt, mà tính cũng chẳng còn là bao ; cái mà xưa nay ta vẫn tưởng là của ta , ngờ đâu chỉ là cái đàn cha, đàn chú, đàn anh của ta vay mượn từ lâu của ngoại nhân . Với cái hoang mang đo , cụ nghĩ đến câu văn hào Paul Valry " Muốn biết văn hóa của giống dân nào thì cứ nhìn vào sinh hoạt hàng ngày của giống dân đó " . Cụ nghĩ nếu đãi khách bằng một món ăn có bản sắc dân tộc, biểu tượng cho người Việt thì phải chọn là món ăn gì . Không gì Pháp bằng crêpe, không gì Mỹ bằng hamburger, không gì Ý bằng pizza ,không gì Đức bằng bratwurst, không gì Mễ bằng taco , không gì Nhật bằng sushi . Còn Việt nam là phở ư ?
Ở bên này Cụ thấy hầu hết những đám cưới, đám hỏi người ta giữ đủ phong tục nghi lễ cổ truyền mà có đám nào đãi ăn phở đâu mà gọi là món ăn dân tộc ? Hay là tại sao mình không tổ chức tiếp tân tại nhà hàng Tàu cho tiện . Chỉ có thế thôi mà giông bảo nổi lên trong phòng hội chỉ vì sự khủng hoảng về hiện tượng bám víu thê thảm vào cái tính đồng nhất riêng biệt của hành trang ý thức và tình cảm quê cha đất tổ .

Trời đã quá đêm. Ánh trăng còn lại một chút trên khung cửa ẩm uớt hơi sương. Cụ Phúc vẫn còn nằm trăn trở không sao ngủ được ...

Posted: Fri Feb 18, 2011 2:26 am
by quaichao

Image

MỘT SỐ NƯỚC CÓ CÁI TÊN RẤT LÃNG MẠN

Trong số tên các nước thì tên nước VN mình là oai hùng nhứt .

H.O.L.L.A.N.D - Hope Our Love Lasts And Never Dies .
- Hi vọng tình yêu chúng ta mãi mãi và bất tử.

I.T.A.L.Y - I Trust And Love You .

- Tôi tin tưởng và yêu anh/em.

L.I.B.Y.A. - Love Is Beautiful, You Also .

- Tình yêu đẹp , anh/em cũng vậy.

F.R.A.N.C.E. - Friendships Remain And Never Can End

- Tình bạn tồn tại mãi và không bao giờ hêt.

C.H.I.N.A. - Come Here. I Need Affection .

- Hãy đến đây, tôi cần tình yêu thương

Còn
V.I.E.T.N.A.M - Viagra In Every Time, Night And Morning.....


(Thiện Tai, Thiện Tai !!!)

Posted: Sun Feb 20, 2011 8:43 pm
by KýCóp
Image


Ở VIỆT NAM có nhiều hình thức Ôm :


- Bia ôm : Đàn ông nhân danh đi uống bia nhưng vào bar rồi lại uống ít mà tay chân thì làm việc nhiều. Các em chiêu đãi tự nhiên như người Hà Nội, mở bia lia lịa, giấu dưới bàn, đổ ra sàn gạch… rồi khổ chủ cứ tự nhiên trả tiền trước đứng dậy ra về mà... vẫn sướng !

- Cà-phê ôm : Hình thức gần giống như bia ôm, nhưng một ly cà phê có thể lên hàng chục ngàn đồng nếu biết lợi dụng câu giờ ôm và tận tình thám hiểm thì không đến nỗi phí tiền phí bạc !

- Karaokê ôm : Chưa có thú tiêu khiển nào thanh lịch và văn minh hơn hình thức ôm nầy. Khách vào mở nhạc, miệng hát mà tay chân thì làm việc thoải mái… đến một lúc nào đó chẳng biết mình đang hát cái gì và hát đến đâu nữa thì, một là ra về, hai tiếp tục dẫn em lên thiên thai hay đi xuống địa ngục !.

- Tắm ôm : Hình thức độc đáo này phát xuất trước kia tại các vùng biển. Khách được mời xuống biển vừa tắm, vừa ôm, vừa làm những chuyện khác rất sạch sẽ ở dưới nước. Tắm ôm có giá cả và giờ giấc đàng hoàng. Chỉ ôm không thì "giá mềm", nhưng mấy ai đã ôm nhau như sam mà không tới luôn bác tài !

Trường hợp nầy thì chủ tính tiền theo "giá cứng". Do vừa tiện lợi vừa kiếm nhiều tiền, nghề tắm ôm được phát triển mạnh mẽ thêm ở trên cạn ! Hình thức tắm ôm trên bờ cũng thuận lợi đủ điều, chẳng cần phòng ốc, giường chiếu, khăn màn và công an gác cửa. Vì không có biển có sông thì tắm ở trong bồn ! Ôm được "tối đa" mà chẳng sợ ai dòm ngó !

- Võng ôm : Một số nhà trong các quận ven đô Sàigòn lợi dụng vườn cây ăn trái để tổ chức võng ôm. Chủ nhà treo những chiếc võng khuất trong các lùm cây và đặc biệt dành cho học sinh, sinh viên trốn học dẫn nhau vào đây du hí từ sáng đến tối. Chỉ cần đóng tiền thuê võng rồi tha hồ ăn trái cây và vui chơi thoải mái không thầy cô nào kiểm soát, quấy rầy ! Cha mẹ thì yên chí con đến trường, lên lớp và vào thư viện làm bài từ sáng đến tối, ngày nào cũng như ngày nào cho đến lúc nào kết quả trông thấy… thì mới ngưng ôm võng !

- Đấm bóp ôm : Việt Nam là học trò của Thái Lan nhưng lại vượt qua mặt thầy không kèn không trống ! Đấm bóp ở Việt Nam là hình thức nói chơi cho vui vì khách vừa nằm lên giường, đấm bóp viên đã bỏ hết lớp áo quần, ngồi ngay trên bụng khách mà xoa bóp thì ông già bảy mươi cũng hồi xuân huống gì trai trẻ hay các ông đang độ sồn sồn ! Cứ việc ra giá tiền bạc thì đấm ngồi, đấm nằm, đấm nghiêng đấm ngửa gì cũng được !

- Hớt tóc ôm : Một người đi Việt Nam về kể cho nghe, có ông già tại Việt Nam cứ vài ba ngày đi hớt tóc một lần. Tóc thì chỉ còn lơ thơ vài sợi mà cứ hớt đi hớt lại mãi, đến nỗi đầu chằng còn thấy sợi nào nữa. Thế mà vẫn khoái đi hớt cái đầu trọc ! Cứ ngồi, mở lớn mắt ra mà thưởng thức của (còn) non, của lạ đang vờn qua vờn lại trước mặt. Các tay thợ muốn dụ khách kiếm thêm tiền "boa" thì cứ việc kéo đầu mấy ông già vào ngay bộ ngực nửa hở nửa kín kia là ăn tiền ! Thế nào ngoài tiền hớt của chủ, thợ cũng kiếm được "boa" gấp đôi, nhất là khi gặp được vài ông Việt kiều già mất nết !

- Ráy tai ôm : Đây là kiểu ôm mấy ông Việt kiều thích nhất. Người thợ gái ngồi bên trái nhưng lại ráy tai phải của khách hoặc ngược lại, mặc dù ngồi kiểu nầy cô thợ trẻ chẳng thấy gì trong lỗ tai khách hàng. Khách cũng không cần thắc mắc, cứ nhắm mắt đê mê cho đến lúc đứng dậy móc ví trả tiền !

- Câu ôm : Đóng tiền, nhận mồi và cần câu rồi kiếm một túp lều trống hay đi ra xa một chút, thả cần xuống câu rồi… tự do ôm, có công an canh chừng khu vực ! Chẳng cần biết có cá hay không, cá căn câu hay mồi còn hay hết làm gì, cứ việc say sưa ôm cho đến hết giờ, xong trả cần ra về thoải mái…

- Du lịch ôm : Chắc chắn cộng sản đã tổ chức những cuộc du lịch ôm cho những Việt kiều có máu mặt, những ông già khoa bảng về nghiên cứu hợp tác và kinh doanh buôn bán làm ăn tại Việt Nam, nhưng chưa thấy báo chí khui ra những vụ nầy. Tôi lấy chuyện xảy ra tại Châu-Âu các đây vài năm để dẫn chứng vấn đề du lịch ôm. Một tổ chức địch-vận-kiều-vận của cộng sản nước ngoài nghiên cứu từng cá nhân một mà chúng nhắm vào để tổ chức một cuộc du ngoại, học hỏi, tìm hiểu văn hóa ở nước ngoài và cuộc du ngoạn nghiên cứu chỉ dành riêng cho các vị trí thức khoa bản đàn ông… Dĩ nhiên là đoàn du lịch không có đàn bà (đa số các bà ít tham dự vào các sinh hoạt chính trị của các ông, nhất là nghe đi quan sát nghiên cứu). Chương trình kéo dài một tuần tại thủ đô ở một nước Đông Âu (một quốc gia định cư của nhiều người lao động được cộng sản gài lại và cũng là cái ổ "nô lệ chui" do nhà nước tổ chức gởi qua). Đoàn người chừng khoảng gần 20 người, khi qua đến nơi, những người nầy được giới thiệu những cô gái trẻ, đẹp sẽ cùng đi tháp tùng với đoàn trong thời gian du ngoạn, nghiên cứu… Thế là mỗi ông được một cô làm bạn hầu hạ tới bến của cuộc du lịch nằm cho đến lúc chia tay. Nhưng sau đó các ông đều tá hỏa tam tinh vì những cuộc du lịch "nằm" đã được tận tình thu hình, các ông muốn yên thân thì nghe lời đừng chống đối chế độ và hãy tích cực tham gia chương trình hoà giải hòa hợp…

- Ôm tới bến : Hay còn nói ôm từ A đến Z. Kinh nghiệm ôm không cho phép người đàn ông bỏ ngang giữa chừng, dù ôm dưới hình thức nào, giờ giấc nào nhưng khi đã "tiến nhanh tiến mạnh" lên tột đỉnh đê mê khoái cảm thì phải đi tới bến. Các em bé thì rủ rê mời mọc "tới luôn đi bác tài" thì chuyện gì xảy ra sau đó chỉ có trời biết nếu không ôm phải một đống vi khuẩn HIV thì đã thành công qua mặt được bà xã !

Ôm cũng có nhiều kiểu :

- Ôm đứng : Ôm kiểu "dã chiến" nầy ở Việt Nam thường xảy ra trong các bụi cây, vách tường, trụ đèn, nhà vệ sinh cửa hàng, quán ăn, tiệm cà-phê, kẹt lắm thì trong toilette công sở, phi trường, trên phi cơ… hay ngay trong bureau của cán bộ cao cấp… Đây chỉ là "ôm khai vị" của hai người kẹt giờ, kẹt tiền, kẹt chỗ, mới quen nhau, hoặc giữa thư ký với chủ trong giờ làm việc…

- Ôm ngồi : Hình thức nầy thấy nhiều trong các bar, quán cà-phê, phòng trà… là giai đoạn đầu của "ôm nằm" nhưng thật đắt khách. Tại các thành phố lớn với hàng ngàn bar, tiệm, quán mỗi đêm đều đông nghẹt khách hàng. Đây là hình ảnh thành công đậm nét qua việc giáo dục theo chủ nghĩa văn hóa đỏ cũng như mưu đồ ru ngủ thế hệ trẻ của chế độ cộng sản.

- Ôm nằm : Là giai đoạn chót của các hình thức ôm để kết thức việc mua bán giữa hai người khác phái.

- Ôm bay : Hiện giờ thì chưa xuất hiện tại Việt Nam nhưng tôi cam đoan chỉ một thời gian ngắn nữa sẽ được nhà nước khai trương. Các cô các cậu muốn làm nhân viên phi hành, dù là rót trà bưng cà-phê nhưng muốn được thu dụng mỗi người phải đóng từ năm, bảy đến cả chục cây vàng. Khi được thu nhận thì phải làm thêm để kiếm tiền như chuyển tiền lậu, buôn bạch phiến (xảy ra tại Úc), giao áo quần may sẵn, buôn thịt chó tươi (giao cho khách hàng tại Pháp), ăn cắp hàng trong các siêu thị, chở hàng lậu về Việt Nam (xảy ra tại Nhật) đã bị khám phá thì đồng lương lương thiện đâu đủ để đóng hụi chết. Hơn nữa, Việt kiều tẩy chay Air Việt Nam, chắc chắn công ty nầy sập tiệm. Chỉ cón một cách mở "dịch vụ bay ôm" để móc tiền khách trên các đoạn đường bay suốt hàng chục tiếng đồng hồ. Các ông thường đi về Việt Nam chuẩn bị để hưởng của lạ đắt giá nầy vì "đối tượng ôm" được tuyển chọn gắt gao bằng cả chục cây vàng ! Nhưng khuyên các ông mất nết về hưu ăn tiền già, đừng hòng rớ vào của quý nầy, phỏng tay đấy ! Giá không rẽ như ôm "mari-sến" ở Việt Nam đâu ! Coi chừng chúng đập thẳng tay để đủ tiền đóng hụi chết !

Posted: Sun Feb 27, 2011 4:29 am
by caolynh
Ba thứ không bao giờ quay trở lại
Chuyện kể rằng ngày nảy ngày nay có một chàng hoàng tử rất đẹp trai, nhưng không may chàng ta bị một bà phù thủy phù phép nên mỗi năm chàng hoàng tử chỉ nói được một từ duy nhất. Vì thế chàng rất buồn vì không nói chuyện được với ai.
Và cũng như mọi câu chuyện cổ tích, có hoàng tử thì sẽ có một nàng công chúa.
Nàng cũng sống trong lâu đài nọ, nàng xinh đẹp vô cùng, đẹp như những nàng công chúa trong truyện cổ tích.
Và thế là chuyện gì xảy ra các bạn cũng có thể đoán được, hoàng tử đem lòng yêu nàng công chúa.
Nhưng oái oăm thay, chàng không nói được, mỗi năm chàng chỉ có cơ hội thốt lên một tiếng và phải im lặng cả năm.
Làm thế nào để tỏ tình đây? Chàng suy nghĩ và quyết định rằng hay là ta im lặng trong 3 năm để được nói với nàng 3 từ: I LOVE YOU!
Và chàng ta bắt đầu chờ đợi, 3 năm trôi qua. Thời gian cũng đã đến, nhưng chàng chợt nhận ra rằng nói với nàng 3 từ đó chẳng có tác dụng gì, thế là chàng nghĩ hay là ta tiếp tục chờ đợi thêm 5 năm nữa để nói với nàng thêm 5 từ nữa: “EM LÀM VỢ ANH NHÉ!”.

Chàng ta tiếp tục chờ đợi... Thời gian trôi qua...
Tám năm trôi qua kể từ ngày chàng quyết định chờ đợi, 8 năm trong im lặng để được nói với nàng một câu duy nhất
. Và rồi cái ngày định mệnh đó cũng đã tới, nàng công chúa vẫn xinh đẹp như ngày nào. Nàng đang đứng trên lan can sân thượng của tòa lâu đài, miệng lẩm nhẩm hát có vẻ rất yêu đời.
Chàng hoàng tử tiến tới trước mặt nàng, quỳ xuống, cầm lấy bàn tay nàng nhìn sâu vào mắt nàng và thốt lên 8 tiếng yêu thương: “I LOVE YOU, EM LÀM VỢ ANH NHÉ?
Bạn có biết chuyện gì xảy ra không?
Như mọi chuyện cổ tích ngày xưa thì có lẽ mọi chuyện sẽ kết thúc có hậu là chàng hoàng tử sẽ cưới công chúa và lời nguyền được hóa giải. Nhưng câu chuyện cổ tích này không kết thúc như thế.
Nàng công chúa sau khi nghe xong vẻ mặt rất ngạc nhiên.
Nàng từ từ rút từ lỗ tai mình 2 cái tai nghe của chiếc headphone và hỏi lại: “ANH NÓI GÌ EM NGHE KHÔNG RÕ?”.
Câu chuyện kết thúc ở đây, số phận hoàng tử như thế nào cũng không biết nữa. nhưng từ câu chuyện này chúng ta có thể rút ra một bài học: Có 3 thứ trên đời này đã đi qua không bao giờ trở lại:

1. Thời gian đã qua không bao giờ trở lại.

2. Lời nói đã nói ra khó có cơ hội để nói lần nữa.

3. Hãy chớp lấy cơ hội vì cơ hội chỉ có một lần.

theo reader's digest

Posted: Thu Mar 03, 2011 3:58 pm
by vuphong
“sáng ăn mày, chiều ăn nhậu”


Ai cũng hay, lễ hội ngàn năm Thăng Long ở Vietnam của chúng ta là một sự kiện ăn mừng việc di dời kinh đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra Bắc. Để kỷ niệm sự kiện của một ngàn năm trước chúng ta đã chi ra bao nhiêu ngàn tỷ cho những cuộc khoe sắc, tô màu, đốt pháo hoa… Chi phí của nó khiến cho thế giới choáng váng và ganh tỵ xen lẫn khâm phục. Lại nữa, Vietnam chúng ta là con rồng cháu tiên nên với sự lãnh đạo kiên trì (bám cột) của các bác, trong tương lai dân số chúng ta cứ vài người là có một tiến sĩ. Tiến sĩ trên khắp quê hương nên chắc mẩn một điều là Vietnam chúng ta sẽ giàu có lắm, khả năng chi và khả năng giải quyết vấn nạn của chúng ta là việc búng ngón tay.

Ấy thế, tin cho hay, Lybia đang dầu sôi lửa bỏng mà một vạn người Việt vẫn kẹt bên trong. Những đỉnh cao trí tuệ có khả năng chi hàng vạn triệu để kỷ niệm việc di dời đâu đó của hàng ngàn năm trước nhưng lại không có khả năng chi cho một kế hoạch di dời một vạn công dân đang chờ chết ở Lybia của mình.

Những đỉnh cao trí tuệ có khả năng đào tạo hàng vạn tiến sĩ lại không có khả năng rút hàng vạn người con của đất nước ra khỏi khu vực nguy hiểm.

Những đỉnh cao trí tuệ của chúng ta vừa vung tiền như thác trước mặt quốc tế trong dịp ngàn năm Thăng Long lại vênh vang mặc áo tiến sĩ đi xin liên hiệp quốc giúp đỡ đưa công dân của mình ra khỏi Lybia.

Viết đến đây tôi chợt liên tưởng tới thằng ăn mày!

Từ cổ chí kim, dưới chế độ nào, dưới xã hội nào cũng có ăn mày. Ăn mày đôi khi do sa cơ thất thế mà ra, đại đa số là do nghèo rớt mồng tơi mà lại không có khả năng mưu sinh nên hóa kiếp ăn mày, nhưng lắm khi ăn mày cũng là một cái nghề kiếm sống hẳn hoi. Nói tới ăn mày người ta liệt kê năm bảy loại, nhưng có lẽ cái loại “sáng ăn mày, chiều ăn nhậu” là cái thứ bá tánh ghét nhất, ai đó vô tình nhận diện ra anh chàng ăn mày đang tung tiền vào những cuộc nhậu nhẹt, chơi bời thì chắc uất ức lắm, nhất định người ấy sẽ dặn lòng là phải cạch mặt cái thằng ăn mày cà chớn đó ra.

Tôi tự hỏi, các tiến sĩ chuyên ngành ăn mày của nhà ta khi đi hành khất vụ Lybia có bị bá tánh khắp thế gian điểm mặt mà phán “Chúng mày vừa huênh hoang ăn party lớn lắm, tổ chức linh đình những mươi ngày và ngốn hết hàng ngàn tỷ đồng mà lại đi ăn mày với việc đưa chục ngàn công dân ra khỏi nơi nguy hiểm à?!? Thật ra chúng mày không biết xấu hổ, không có đầu óc hay đang ăn mày?”

Đâu đó có ông tiến sĩ lăm le “dạ thưa, cả ba”. Háhá

Đại Cahttp://daicacamdau.multiply.com/journal/item/317/317