Thời Sự, Bình Luân

dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

CỨU NƯỚC

Đỗ Thái Nhiên
Ngày 09/03/2009, báo Lao Động của CSVN loan tin: Ngày 04/03/09, tại Hà Nội Ban Thường Trực Ủy Ban Trung Ương MTTQVN và quân chủng Hải Quân đã thống nhất các biện pháp tuyên truyền về biển, đảo tới các tầng lóp quần chúng nhân dân. Bản tin này kết luận bằng cách nhắc lại một câu nói của tiền nhân: “Ta phải giữ cho cẩn thận, đừng để cho ai lấy một phân núi, một tấc sông của tổ tiên.”

Ngày 17/03/2009, Chương trình Nghiên Cứu Biển Đông cùng với Học Viện Ngoại Giao đã tổ chức tại Hà Nội, một cuộc hội thảo với đề tài: “Tranh Chấp Chủ Quyền Tại Biển Đông: lịch sử, địa chính trị, và luật pháp quốc tế”. Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Diện, Phó Giám Đốc Thư Viện Hán Nôm viết về cuộc hội thảo này như sau: “Hội thảo đã diễn ra trong một ngày (Kết thúc lúc 5giờ 30 chiều) với một tinh thần khẩn trương. Các trao đổi bên lề và các thảo luận tại hội trường thực sự sôi nổi, chất lượng và khoa học. Đây là cuộc hội ngộ của những tấm lòng yêu nước nhiệt thành và quyết tâm dấn thân vào mọi nỗ lực giữ bằng được biển Đông”.

Các tin tức nêu trên làm một số người nức lòng. Có người không ngần ngại cho rằng Hà Nội đã bật đèn xanh cho một phong trào dân tộc thượng tôn, toàn dân cứu nước. Tại hải ngoại có vài cá nhân /tổ chức công khai, hoặc kín đáo kêu gọi mọi người Việt Nam hãy kết hợp với CSVN để quyết liệt chống Tàu. Vài người còn nêu bật phương châm: “Cứu nước trước. Chống Cộng sau”

Câu hỏi cần đặt ra là: Liệu chừng lần này CSVN có thực sự muốn cùng với toàn dân cứu nước hay không? Câu trả lời nằm trong các bản tin sau đây:

1)Tin về việc CSVN bảo vệ “lưỡi bò Trung Quốc” trên biển Đông.

a) Tuy chưa bao giờ chính thức công bố, nhưng bằng nhiều hình thức truyền thông khác nhau, Trung Quốc đã cho toàn thế giới biết Trung Quốc khẳng định trọn bộ biển Đông là biển của Trung Quốc. Lãnh hải của Trung Quốc trên biển Đông do Trung Quốc đơn phương vẽ ra chiếm 75% biển Đông và có hình dạng giống cái lưỡi bò. Trên lưỡi bò kia có Hoàng Sa, Trường Sa và vô số các đảo khác. Ngày 10/03/2009 Philippines ban hành đạo luật Cộng Hòa 9522 xác định chủ quyền đối với hơn 7100 đảo, bao gồm một phần của Trường Sa. Trọng tâm của đạo luật 9522 là quyết tâm xé bỏ lưỡi bò Trung Quốc chứ không là một phần Trường Sa. Vì vậy, sự việc CSVN cùng Trung Quốc phản đối đạo luật 9522 của Philippines cần được hiểu là CSVN đã tích cực bảo vệ lưỡi bò giùm cho Trung Quốc.

b)Công ước của Liên Hiệp Quốc về luật biển ra đời ngày 10/12/1982. Ngày 25/07/1994, CSVN phê chuẩn công ước biển 1982. Công ước này qui định: các quốc gia ven biển được hưởng một vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa mở rộng bên ngoài 200 hải lý. Vẫn theo luật biển 1982: Muốn thềm lục địa được quốc tế bảo vệ, Việt Nam phải nộp hồ sơ thông báo cho Ủy-Ban-Ranh-Giới-Thềm-Lục-Địa của Liên Hiệp Quốc để cơ quan này ghi nhận thế nào là địa hình và diện tích của thềm lục địa Việt Nam. Hạn chót để Việt Nam đệ nạp hồ sơ kia là ngày 13/05/2009. Sở dĩ mãi cho tới bây giờ, CSVN vẫn chưa tiến hành thủ tục xác nhân thềm lục địa như vừa kể là vì thềm lục địa Việt Nam đương nhiên phủ nhận lưỡi bò của Trung Quốc. Nói rõ ra: CSVN không xác nhận lãnh hải Việt Nam chỉ vì muốn bảo vệ sự nguyên vẹn lưỡi bò Trung Quốc.

2)Tin về việc CSVN “giải phóng” Trung Quốc ra khỏi cơn túng thiếu bauxite-nhôm:

Mặc dầu cả nước ngăn cản, cả thế giới ngăn cản, CSVN vẫn một lòng trung thành với Trung Quốc đến độ mở cửa đón công nhân Trung Quốc lũ lượt vào Tây Nguyên khai thác bauxite. Công việc khai thác này để lộ ba nghịch lý lớn:

a) Trên lãnh thổ Trung Quốc, bauxite đã tàn phá môi sinh quá nặng nề. Đó là lý do khiến Trung Quốc quyết dịnh đóng cửa 100 mỏ bauxite ở Hà Nam trước khi kéo công nhân và máy móc qua Việt Nam khai thác bauxite.

b) Công ty ngoại quốc vào Việt Nam kinh doanh, phải thuê mướn công nhân Việt Nam. Đặc biệt, Trung Quốc vào Việt Nam kinh doanh lại ngang nhiên mang theo nhiều ngàn công nhân Tàu cho mỗi đơn vị kinh doanh.

c) Ngày 04/02/2009, tại Hà Nội, Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng CSVN mạnh mẽ cam kết: “An ninh Việt Nam vẫn được bảo đảm” trước sự kiện Trung Quốc kéo vào Tây Nguyên. Kinh nghiệm sống với CS đã dạy người Việt Nam rằng CS bao giờ cũng làm ngược lại những gì họ cam kết.

Ba nghịch lý kể trên cho thấy CSVN quyết tâm lấy đất đai của Tổ Tiên Việt Nam làm bãi rác cho người Tàu nhằm cứu Trung Quốc thoát khỏi nạn khan hiếm chất nhôm tinh luyện từ bauxite.

3)Tin về việc CSVN ra tay cứu nguy nạn thất nghiệp đang bành trướng ở Trung Quốc:

Theo tin Báo Tuổi Trẻ: Ngày 27/03/2009 Tổng Hội Xây Dựng Việt Nam có tổ chức một cuộc hội thảo chung quanh chủ đề Hoạt Động Xây Dựng Tại Việt Nam. Nhân cuộc hội thảo này, ông Trần Ngọc Hùng, Chủ tịch Tổng Hội Xây Dựng Việt Nam đã thông báo cho toàn thể tham dự viên biết các sự kiện sau đây:

a) Doanh nghiệp Trung Quốc được hỗ trợ của nhà nước Việt Nam như giảm thuế, nên giá bỏ thầu thường thấp hơn các công ty nước ngoài khác. Vì vậy, nhiều công trình trọng điểm về điện, xi măng, hóa chất đều về tay nhà thầu Trung Quốc.

b) Nhà thầu Trung Quốc thường đem theo hàng ngàn công nhân vào Việt Nam với đầy dủ trang thiết bị. Trong khi những trang thiết bị Việt Nam có thể sản xuất để bán cho Trung Quốc. Mặt khác, mỗi công trình Trung Quốc mang vào Việt Nam tối thiểu hai ngàn công nhân.

c) Trang thiết bị Tàu và công nhân Tàu đổ vào Việt Nam như kể trên đang làm “triệt tiêu nội lực”( chữ dùng trong cuộc hội thảo) kinh tế Việt Nam.

d) Năm 2007 Trung Quốc đẩy vào Phi Châu 750 ngàn công nhân hoạt động trong các lãnh vực: xây dựng, nông nghiệp, khoáng sản. Tháng 02 năm 2009 Bộ Trưởng Thương Mãi Trung Quốc nói với đài BBC rằng: Thất nghiệp là “thách thức lớn nhất” mà Trung Quốc đang đối diện.

Trong khi đó trong một báo cáo của Bộ Lao Động Thương Binh Xã Hội CSVN cho biết chỉ ba tháng đầu năm 2009 Việt Nam đã có tới 700.000 người thất nghiệp.

Sự việc CSVN tạo điều kiện để nhà thầu Tàu, công nhân Tàu với vô số nhóm 2000 người (chưa kể vợ con) tự do tung hoành trên toàn lãnh thổ Viêt cho thấy CSVN quyết tâm cứu nguy nạn thất nghiệp tại Trung Quốc. Do mải mê cứu nguy Tàu, CSVN lờ đi thảm cảnh kinh tế Việt Nam tiêu tan nội lực, dân Việt Nam đói, thợ Việt Nam thất nghiệp.

Tóm lại, bài viết này có mục tiêu nêu bật hai thái độ ứng xử của CSVN:
Thứ nhất là ứng xử đối với đồng bào Việt Nam: CSVN ban phát cho đồng bào Việt Nam hai quyền tự do không có trong nhân quyền. Đó là tự do đói và tự do thất nghiệp. Nhằm che đậy phần nào cung cách ứng xử tệ hại kia, CSVN ra lệnh cho Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam cùng với binh chủng hải quân kéo cao ngọn cờ dân tộc nay đã tả tơi. Bên dưới ngọn cờ tả tơi là tấm biểu ngữ với hàng chữ: “Quyết tâm bảo vệ từng thước núi tấc sông của tổ tiên bằng nước bọt”.

Thứ hai là ứng xử với Trung Quốc: CSVN nỗ lực tỏ lòng trung thành với Trung Quốc bằng kịch bản ba cứu: Một là cứu “Lưỡi bò” Trung Quốc không bị xé rách. Hai là cứu Trung Quốc thoát cơn khan hiếm bauxite-nhôm. Ba là cứu Trung Quốc giảm thiểu đại họa thất nghiệp.

Mang hai kiểu ứng xử kể trên đặt cạnh nhau, không ai là không nhận biết: Quả thực, chế độ Hà Nội đã và đang cực kỳ mẫn cán trong công việc cứu nước. Tuy nhiên, xin được nhấn mạnh rằng nước ở đây là nước Tàu chứ không là nước Việt Nam. CSVN chỉ biết cứu nước Tàu. Nước Việt Nam là nơi CSVN ngày càng tăng cao cường độ bóc lột và hành hạ đồng bào khốn khổ của chính họ. Mặt khác trong kịch bản ba cứu có kịch bản cứu thất nghiệp Trung Quốc là đáng chú ý nhất. Lá cờ bauxite chỉ cho phép Trung Quốc “đóng quân” ở những nơi nào có quặng bauxite. Ngọn cờ “Nhà thầu Trung Quốc trúng thầu xây dựng” mở đường cho Trung Quốc tung hoành trên khắp lãnh thổ Việt Nam.Với ngọn cờ xây dựng, Trung Quốc chia “quân” ra làm nhiều đơn vị khác nhau. Mỗi đơn vị tối thiểu 2000 người, chưa kể vợ con, tùy tiện “tiếp thu” những phần lãnh thổ trọng yếu của Việt Nam. Mỗi tiếp thu kia là một đòn chí tử làm tiêu tán nội lực của dân tộc Việt Nam. Mỗi tiếp thu kia chẳng khác nào một bọc ung thư đang nhảy cóc trên cơ thể Mẹ Việt Nam. Chừng nào những bọc ung thư quái ác vừa kể nhảy đúng vào tim, vào gan hay vào óc của Mẹ Việt Nam, Chừng đó MẸ SẼ QUA ĐỜI. Đó là tội ác, quỷ phải khóc, thần phải sầu của chế độ Hà Nội.

Đỗ Thái Nhiên
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

TỪ HOÀNG SA ĐẾN TÂY NGUYÊN
"Ngày nhậm chức, ông Ngữ nói: "Với cương vị Chủ tịch UBND huyện đảo Hoàng Sa tôi thấy rõ hơn trách nhiệm của mình nặng nề hơn trước nhân dân. Đây là mảnh đất thiêng liêng của tổ quốc, là máu thịt của tôi, của dân tộc và của tổ quốc mình. Nhiệm vụ trước mắt của chúng tôi là sẽ tiếp tục đấu tranh để bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ biển đảo. Hoàng Sa là của Việt Nam. Chúng tôi đang triển khai xây dựng cuốn kỷ yếu, sách viết về Hoàng Sa". Đúng. Hoàng Sa là của Việt Nam Và nhiệm vụ của mọi người Việt Nam là chiến đấu, là hy sinh để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, bảo vệ tổ quốc, bảo vệ từng mảnh đất, từng hải đảo xa xôi ..."

Đảng Cộng Sản VN lại tiếp tục diễn trò hề bằng cách ra quyết định ngày 21/4, để bổ nhiệm ông đảng viên Đặng Công Ngữ làm chủ tịch UBND huyện đảo Hoàng Sa trong nhiệm kỳ 2009-2014. Việc bổ nhiệm tùy tiện, tùy ý một đảng viên vào bất cứ một chức vụ nào trong chính quyền là một điều bình thường dưới chế độ CS mà không ai được quyền thắc mắc. Cái không bình thường ở đây là ông đảng viên này được bổ nhiệm làm “chủ tịch” của một huyện đảo đã không còn là của Việt Nam, nó đã mất vào tay Trung Cộng hơn 35 mùa lá rụng rồi.

Image
Quân Trung Cộng tuần tra trên Hoàng Sa chiếm được của VN từ năm 1974.



Ngày nhậm chức, ông Ngữ nói: "Với cương vị Chủ tịch UBND huyện đảo Hoàng Sa tôi thấy rõ hơn trách nhiệm của mình nặng nề hơn trước nhân dân. Đây là mảnh đất thiêng liêng của tổ quốc, là máu thịt của tôi, của dân tộc và của tổ quốc mình. Nhiệm vụ trước mắt của chúng tôi là sẽ tiếp tục đấu tranh để bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ biển đảo. Hoàng Sa là của Việt Nam. Chúng tôi đang triển khai xây dựng cuốn kỷ yếu, sách viết về Hoàng Sa". Đúng. Hoàng Sa là của Việt Nam. Và nhiệm vụ của mọi người Việt Nam là chiến đấu, là hy sinh để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, bảo vệ tổ quốc, bảo vệ từng mảnh đất, từng hải đảo xa xôi của tiền nhân để lại dù có phải trả bằng máu. Nhưng tổ quốc là của ai? Tổ quốc có phải là tài sản riêng của đảng Cộng Sản Việt Nam, nhất là của những tên lãnh đạo chóp bu tham lam, ngu dốt và hèn mọn trong bộ Chính Trị? Tổ quốc có phải là tài sản của những đảng viên cộng sản thối nát, tham nhũng, đã đồng lõa với nhau để moi ruột tồ quốc và móc mắt dân tộc? Không, nhất định không. Tồ quốc của chúng ta là của Hai bà Trưng, của Ngô Quyền, của Lý Thường Kiệt, của Quang Trung, của các chiến sĩ Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh trong trận hải chiến đẫm máu ngày 19/1/1974 để bảo vệ Hoàng Sa, và của hơn 70 chiến sĩ đã nằm lại ở vùng biển Trường Sa năm 1988. Thiệt thê thảm! Hoàng Sa mất đã 35 năm, giặc Tàu đã biến Hoàng Sa thành một căn cứ hải quân hùng mạnh của chúng ở biển Đông, vậy mà mãi đến hôm nay cái đảng cướp thổ tả của ông Ngữ mới “đang triển khai xây dựng cuốn kỷ yếu, sách viết về Hoàng Sa”!!!.


Nhớ lại trận hải chiến Hoàng Sa năm xưa, dù trước một địch thủ đông hơn, mạnh hơn gấp bội, các chiến sĩ Hải quân VNCH đã chiến đấu kiên cường. Dù thất trận họ đã làm cho kẻ thù truyền kiếp phải khiếp đãm khi 1 Đô-đốc, 4 Đại-tá, 6 Trung-tá, 2 Thiếu-tá, và 7 sĩ quan cấp úy của chúng đã đền tội trên bốn chiếc chiến hạm ngay khi chiến sự vừa xảy ra. Ngày đó, trong lúc Hải Quân Việt-Nam Cộng-Hoà đang quyết chiến một mất một còn với bọn rợ Hán trên biển Đông để bảo vệ “toàn vẹn lãnh thổ biển đảo” thì quân đội cộng sản Việt gian của ông Ngữ đang làm gì? Bộ chính trị Hà-Nội đã chọn thái độ “câm như hến”, chúng không hề dám lên tiếng, “dù chỉ một lời không đáng chi” để chỉ trích bọn quan thầy Trung Cộng xâm lăng lãnh thổ VN. Chúng phớt lờ lời kêu gọi của phía VNCH tạm ngừng chiến sự để đối phó với quân bành trướng Trung Cộng. Không những thế, bọn lãnh đạo CSVN còn thừa cơ “nước đục thả câu”, gia tăng chiến sự, chúng ra sức hối hả, cuống cuồng lùa hàng vạn thanh niên miền Bắc theo đường mòn “Hồ chí Minh” để tấn chiếm miền Nam qua những trận địa pháo và chiến thuật biển người ở các mặt trận ở Tây Nguyên và miền Trung như ở Bình-Long, An-Lộc, Komtum và Quảng-Trị.


Image


Trong suốt khoảng thời gian sáng tạo trò chơi “giải phóng dân tộc”, để có đủ quân tiến chiếm miền Nam, “cha già dân tộc” và đám lãnh tụ CS cầy cáo ở Bắc bộ phủ Hà-Nội đã từng để cho quân Trung Cộng vào trấn đóng miền Bắc. Thật đúng với thái độ của những kẻ “khôn nhà dại chợ!” hay chính xác hơn là “cõng rắn cắn gà nhà”. Rồi cũng vì ngày oan nghiệt 30/4/1975 mà những kế hoạch tái chiếm Hoàng Sa của quân lực VNCH đã không bao giờ thực hiện được.



Chẳng có người Việt Nam nào không cảm thấy đau đớn, xót xa khi xem lại những đoạn phim do bọn Trung Cộng ghi lại khi chúng ngang nhiên xua quân chiếm hàng loạt đảo của VN tại Trưòng Sa vào năm 1988. Từ chiến hạm chúng lạnh lùng nã súng vào những người lính hải quân VN trên những tàu chiến thô sơ mua lại của Nga. Bọn lãnh tụ CS khiếp sợ giặc Tàu đến nỗi chúng hoàn toàn bắt người lính VN phải ở thế thụ động và kết quả 3 chiếc tàu chiến của VN bị chìm, hơn 70 người lính hy sinh trong khi về phía Trung Cộng chỉ có 1 tên lính bị thương… ở cánh tay! Bây giờ tại Đông Nam Á, lãnh đạo các nước Thái Lan, Singapore, Malaysia, Indonesia, Phillipines đều thấy rõ mộng bành trướng của bọn rợ Hán trên biển Đông. Những nước này ra sức canh tân lực lượng hải quân bằng cách mua các tàu chiến, tàu ngầm và vũ khí tối tân của các nước phương Tây. Trong khi đó, bọn lãnh tụ cộng sản vẫn ngủ mê trên cái quá khứ phù ảo “kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Chúng vẫn cứ ăn cắp, bán sạch mọi tài nguyên quốc gia cho ngoại bang để hưởng thụ, để làm giàu cho bản thân và gia đình. Bọn Ủy viên bộ chính trị đã phóng uế lên danh dự Việt Nam. Chúng nó làm cho ngoại bang khinh thường cái uy linh của dân tộc. Thấy rõ những yếu kém và hèn mạt của chúng, giờ đây các nước Phillipines, Đài Loan, Malaysia cũng bắt chước bọn Hán tộc xâu xé và giành giật biển đảo của Việt Nam. Liên tiếp những tổng thống, rồi thủ tướng của các nước này “ghé thăm” Trường Sa của Việt Nam để động viên binh sĩ họ trước sự bất lực của đảng CSVN. Con két Lê Dũng chỉ biết chổng mông lên hót “lập trường của Việt Nam về vấn đề hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là rõ ràng. Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và pháp lý để khẳng định chủ quyền của mình đối với hai quần đảo này”. Chưa hề thấy bất cứ một tên Uỷ viên bộ chính trị nào có can đảm bỏ ra vài ngày ngừng ăn cắp, ngừng tiệc tùng liên hoan, ngừng khiêu vũ trên nỗi thống khổ của dân tộc, để ra thăm các “đồng chí” của chúng nó đang “làm nhiệm vụ thiêng liêng” ở Trường Sa.



Kinh nghiệm lịch sử tranh đấu của dân tộc đã dạy chúng ta những bài học quý giá, tủi nhục và đớn đau với kẻ thù truyền kiếp của nòi giống Bách Việt. Kẻ đã đô hộ đất nước ta hàng nghìn năm, kẻ đã đày đọa ông cha ta, bắt ông cha ta cống cho chúng nó ngọc trai, ngà voi, người vàng, gái đẹp, thầy thuốc giỏi, thợ lành nghề hết từ thế kỷ này sang thế kỷ khác. Chúng ta chưa hề quên Lê Chiêu Thống với sự nghiệp ruớc giặc vào nhà. Chúng ta chưa quên “lãnh tụ vĩ đại Hồ chí Minh” đã phát động “Tuần Lễ Vàng” quyên vàng của dân, nói rằng để mua vũ khí chống Pháp. Nhưng kỳ thực“lãnh tụ vĩ đại” đã lừa bịp ngưòi dân một cách tàn nhẫn. Vàng của dân đã được lãnh tụ đem cống hiến cho tướng Tàu Tiêu Văn. Trong thời gian quân Tàu phù sang Việt Nam để giải giới quân Nhật, chúng đã thừa cơ cướp bóc, hãm hiếp dã man dân Việt. Chúng sang Việt Nam rồi không chịu về, chúng cứ muốn ở lỳ ra mãi. Muốn đuổi chúng về “lãnh tụ vĩ đại” chỉ còn cách mang vàng của dân ra hối lộ cho thằng tướng Tàu để nó rút quân về. Những trang lịch sử chó đẻ ngày xưa còn chưa ráo mực thì ngày nay, bọn lãnh tụ phỉ quyền cộng sản, vì cái lợi trước mắt, vì để bảo vệ quyền uy thống trị của chúng, vì hạnh phúc của vợ con chúng, chúng lại cam đành luồn cúi bá quyền Trung Hoa. Chúng một lần nữa lại tình nguyện làm con chó nhỏ, rước giặc vào nhà.



Với những ai biết rõ sự thâm độc, nham hiểm truyền thống của nòi Hán, sẽ thấy rõ bọn lãnh tụ phỉ quyền Cộng Sản đã cố tình làm băng hoại đất nước Việt Nam yêu dấu khi chúng đồng ý cho giặc Tàu vào khai thác Bauxit ở Tây Nguyên. Hàng ngày chúng ta vẫn nghe những cái loa của bọn phỉ quyền cộng sản nhả ra hàng loạt thống kê “thắng lợi” khi chúng đẩy hàng triệu người Việt Nam khốn khổ vì không có công ăn việc làm trong nước ra nước ngoài kiếm ngoại tệ bằng cái danh xưng mỹ miều là ‘xuất khẩu lao động”. Nay chỉ vì quyền lợi trước mắt của phe nhóm, chúng nó lại dang tay ra ruớc hàng ngàn thằng giặc Tầu vào lao động trong nước. Chưa nói tới những hiểm họa tàn khốc cho môi trường do việc khai thác Bauxit. Chưa nghĩ đến một “nền văn hóa cồng chiêng” sẽ vĩnh viễn biến mất khỏi Tây Nguyên. Chỉ mới nghĩ rằng rồi đây hàng ngàn thằng công nhân (hay gián điệp) Tàu phù này sẽ ở lỳ trên đất Việt Nam vĩnh viễn thì những người Việt Nam còn quan tâm đến quê hương, đến giống nòi sẽ không khỏi âu lo vì rõ ràng nó là mối họa khôn lường cho dân tộc Việt. Càng nghĩ, chúng ta càng thêm tủi hổ với anh linh các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh vì chiến đấu chống Tàu.



Than ôi! hình như dân tộc chúng ta không thể lớn nổi? Hình như tiếng kêu than thống thiết, sầu thảm của người dân Việt chẳng hề lay động nổi tâm hồn chai đá của đám lãnh tụ phỉ quyền Cộng Sản. Chúng vẫn say sưa trong tiếng kêu của nút Champagne nổ tiếp tân và tiếng cười hữu nghị thắm thiết tình nghĩa láng giềng sát nhân. Tất cả đều đã rõ. Những người trẻ VN hôm nay, đặc biệt là những ngưòi lính hãy nhìn rõ hơn, để nhận đường chiến đấu. Nếu không mọi hy sinh sẽ chỉ đóng góp cho bọn giả danh, giả nghĩa vô sản củng cố cái ghế thống trị của chúng. Ngày nào còn bóng dáng bọn lãnh tụ CS giả hình, mãi mãi đất nước Việt Nam còn băng hoại, dân tộc Việt Nam còn quằn quại, còn đau thương. Và viễn ảnh mất nước vào tay giặc Tàu sẽ không còn xa nữa!


Lỗ Rốn,
http://blog.360.yahoo.com/blog-eqhbmtVN9NCHI50MY1tA
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Hồi Ký Bí Mật của Triệu Tử Dương

Nguyên Hân

Image
Triệu Tử Dương đang nói chuyện với sinh viên biểu tình đòi dân chủ và cải cách.
Hai thập kỷ kể từ ngày ông bị thất sủng và bốn năm sau ngày ông qua đời, nhà lãnh đạo Trung Quốc có đầu óc canh tân đã đánh tan sự im lặng của nhà nước về chuyện trấn áp ở quảng trường Thiên An Môn năm 1989, lên tiếng tố cáo chuyện thảm sát những người biểu tình ở Thiên An Môn là một “tấn thảm kịch”.

Trong hồi ký được thâu lại qua băng một cách bí mật trong thời gian ông Triệu Tử Dương bị quản chế tại gia, ông đã thách thức những nhà lãnh đạo Trung Quốc hiện thời, đầy cẩn trọng ngay trước ngày đánh dấu lần thứ 20 ngày 4 tháng Sáu, là ngày quân đội Trung Quốc nghiền nát những người biểu tình đòi hỏi dân chủ ở quảng trường Thiên An Môn Bắc Kinh.

Ông ca ngợi nền dân chủ phương Tây và lên án chuyện trấn áp người biểu tình bằng vũ lực, khi xe tăng và quân đội tràn xuống đại lộ Trường An bắn thẳng tay người biểu tình lẫn người đi xem năm 1989.

“Vào đêm 3 tháng Sáu đó, trong lúc ngồi ngoài sân với gia đình, tôi nghe tiếng súng bắn dồn dập, dữ dội,” ông Dương nói. “Một thảm kịch làm chấn động thế giới đã không thể nào ngăn chận được.” Ông Dương, tổng bí thư đảng Cộng sản Trung Quốc dạo đó năm 1989, phủ nhận chuyện nhà nước Trung Quốc lên án những sinh viên biểu tình là một phần của một âm mưu chống đảng Cộng sản.

“Tôi đã từng nói dạo đó là hầu hết người ta chỉ đòi hỏi chúng ta sửa những lỗi lầm, chứ không phải họ cố lật đổ hệ thống chính trị của chúng ta,” ông Dương nói trong cuốn sách “Tù Nhân Của Nhà Nước”, sẽ được xuất bản bởi nhà xuất bản Simon and Schuster bằng tiếng Anh.
Image
Hình chụp 10 năm sau ngày ông Dương bị thanh trừng và bị quản chế tại gia năm 1990. Nguồn: Reuters
Cuốn hồi ký dài 306 trang, ghi lại từ khoảng chừng 30 cuốn băng đã được thâu, đã được trao cho ba người bạn tín cẩn và chuyển lậu ra khỏi Trung Quốc. Hãng thông tấn Reuters đã có được một bản thảo.

Câu chuyện kể lại của ông Dương về chuyện những nhà lãnh đạo kỳ cựu thời đó đã trục xuất ông ra khỏi quyền lực đã hắt một ánh đèn hiếm hoi lên chuyện phe cánh chính trị đằng sau chuyện biểu tình đã làm chấn động Trung Quốc 20 năm về trước, lên tới cực điểm qua chuyện khai trừ ông và đi kèm với chuyện trấn áp bằng bạo lực làm chết hằng trăm người trên đường phố Bắc Kinh.

Ông Triệu Tử Dương đã thu băng một cách bí mật hồi ký của mình trong những năm ông bị quản chế tại gia suốt 15 năm kể từ khi bị khai trừ cho đến khi ông qua đời vào tháng Một năm 2005. Trong đó, ông công khai chỉ trích những gì mà ông cho là con đường bảo thủ sai lầm được đảng Cộng sản Trung Quốc chọn đi và ông muốn thuyết phục một sự chuyển hướng dần dần về nền dân chủ kiểu phương Tây.

“Nếu chúng ta không đi về hướng này, nó sẽ là bất khả để giải quyết những điều kiện bất bình thường trong nền kinh tế thị trường của Trung Quốc,” ông nói.

Một trong những biên tập viên chính của cuốn hồi ký này là ông Bao Pu, con của ông Bao Tong - là người phụ tá cao cấp nhất của ông Dương - nói rằng ông Dương rõ ràng có ý muốn trình bày những sự cố này dưới cái nhìn của ông để thách đố sự lên án chính thức của đảng Cộng sản Trung Quốc dành cho những người biểu tình phản đối ở Thiên An Môn năm 1989 và cũng như sự cầm quyền độc đảng.

Image
Trái: Sinh viên biểu tình đòi dân chủ và cải cách. Phải: Quân đội Nhân dân tràn vào Thiên An Môn "bắn thẳng tay Nhân dân" năm 1989.


Cuốn hồi ký này “sẽ đưa về lại cho lịch sử những gì đã bị người ta cố tình xóa bỏ hoặc bóp méo.”

“Ông Dương đã không để lại chỉ thị gì… nhưng rõ ràng là ông muốn cuốn hồi ký của ông được tồn tại,” ông Bao nói, công ty xuất bản New Century Press của ông đang tiến hành xuất bản cuốn hồi ký này bằng tiếng Hoa.

Khi được hỏi liệu cuốn hồi ký này sẽ gây nên tác động gì, ông Bao Tong, cho đến nay vẫn sống ở Bắc Kinh dưới sự canh chừng của công an nhưng được cho phép tiếp xúc với nhà báo ngoại quốc, đã nói với Reuters: “Tôi nghĩ nó sẽ làm cho đảng viên suy ngẫm lại chuyện này một cách sâu sắc.”

Ông nói ông chắc chắn 100 phần trăm giọng nói trong băng là của ông Triệu Tử Dương sau khi được nghe một vài đoạn.

Mạch văn chính xuyên suốt hồi ký của ông Triệu Tử Dương là mối quan hệ đắng cay với ông Đặng Tiểu Bình, người lèo lái Trung Quốc đến với cải cách thị trường nhưng bác bỏ – sau rốt là với vũ lực - những lời kêu gọi cho một sự thay đổi dân chủ.

Ông Đặng Tiểu Bình được vinh danh bởi Trung Quốc như là người tiên phuông đằng sau những thành tựu kinh tế, và ông Triệu Tử Dương như người đi hàng hai và phản bội dưới trào ông Đặng có lẽ làm khó chịu những nhà lãnh đạo đương thời của Trung Quốc.

Ông Dương bác bỏ ý niệm cho rằng ông Đặng Tiểu Bình có khuynh hướng nới lỏng chính trị theo bản năng nhưng bị dẫn đi lạc đường bởi những người bảo thủ. Những ý niệm về dân chủ của ông Đặng “không gì hơn là những lời nói rỗng tuyếch,” theo ông Dương.

Ông Dương nói rằng để trục ông ra khỏi quyền lực, ông Đặng Tiểu Bình, cùng ông thủ tướng dạo đó là Lý Bằng và những người bảo thủ trong đảng đã chà đạp những luật lệ nhắm vào chuyện ngăn chận sự trở lại những năm tháng khi mà quyền lực tập trung trong một người, và chuyên quyền độc đoán dưới thời Mao Trạch Đông.

Phương cách cứu chữa những vấn nạn của Trung Quốc, ông Triệu Tử Dương nói, nằm trong sự vận động thay đổi từ từ nhưng không ngừng nghỉ hướng về nền dân chủ. “Tôi tin rằng thời cơ đã đến cho chúng ta để đối diện và giải quyết vấn đề này một cách nghiêm chỉnh,” ông kết luận.

Image
“Một thảm kịch làm chấn động thế giới đã không thể nào ngăn chận được”, theo ông Triệu Tử Dương. Nguồn: Reuters.
Được biết, ông Triệu Tử Dương đã là Thủ tướng CHND Trung Quốc trong tám năm từ 1980 đến 1987, trước khi trở thành tổng bí thư đảng Cộng sản Trung Quốc trong năm 1987-1989. Ông được ghi nhận là có công lớn trong việc thúc đẩy Trung Quốc cải cách kinh tế theo chiều hướng kinh tế thị trường, gia tăng sản xuất và ngăn chận tình trạng quan liêu cũng như tham nhũng vô phương cứu chữa ở Trung Quốc trong thời gian đó. Đã từng được xem như là người kế vị Đặng Tiểu Bình, nhưng ông Triệu Tử Dương đã bị thanh trừng và hạ bệ sau biến cố Thiên An Môn vì ông có cảm tình với những sinh viên biểu tình này.

Ông nói rằng nhà nước lên án những người biểu tình là một phần âm mưu lật đổ đảng và nhà nước. Nhưng nhà nước thất bại trong viện trưng bằng chứng. Trong cuốn hồi ký này, ông có kể lại về một buổi họp mật của Bộ Chính trị, và ông nói "Ở lúc đó tôi cực kỳ phẫn nộ. Tôi tự nói với mình là bất luận chuyện gì xảy ra, tôi từ chối là người Tổng bí thư đảng huy động quân đội để trấn áp sinh viên."

Ông Triệu Tử Dương đã bị quản chế tại gia trong suốt 15 năm cho đến khi ông qua đời. Cuốn hồi ký của ông cũng có đề cập đến những năm tháng cô đơn khị bị lưu vong trên chính quê hương của ông, và bị cô lập bởi những người đã một thời là đồng chí của ông: “Lối vào nhà tôi là một chốn hoang tàn đổ nát, và lạnh lẽo.”

Nguyên Hân

Nguồn: (1) Out: Zhao Ziyang's secret memoirs. Reuters, 15 May 2009.
(2) Secret memoir of China's Zhao Ziyang. The Associated Press, 14 May 2009.
(3) Secret Tiananmen Square memoirs of Zhao Ziyang to be published. Timeonline, 14 May 2009.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

“Của mình nhưng mà là phía Trung Quốc phụ trách”

Ngô Nhân Dụng

Ngày còn nhỏ mỗi lần được thầy giáo trả bài luận văn, chúng ta thường nghe thầy dặn dò: Không được viết những câu đầy những chữ “rằng, thì, là, mà.” Câu văn trích dẫn trên tựa bài này thuộc loại văn thầy dậy nên tránh. Ðó là lối nói lòng thòng của các cụ già đời xưa quen dùng chữ Hán cổ khi nói năng, mở miệng ra là đầy những chữ “chi, hồ, giả, dã.”

Câu văn trên đây là văn của báo Sài Gòn Tiếp Thị. Nhưng nhà báo không tự viết mà đã dẫn nguyên văn lời nói của ông Nguyễn Thanh Hưng, cục trưởng một cái cục có tên khá dài cho thấy đây là một cục rất to, đó là “Cục Thương mại Ðiện tử và Công nghệ Thông tin,” thuộc Bộ Công Thương. Ông Hưng nói rằng phần viết tiếng Việt trong trang “Website Hợp tác Kinh Tế Thương Mại Việt Nam và Trung Quốc” là do Trung Quốc “phụ trách”.

Sở dĩ phải có những lời giải thích “rằng, thì, là, mà.” trên đây vì phần tiếng Việt trong trang web này đã đăng những lời tuyên bố của quan chức nước láng giềng phía Bắc khẳng định rằng các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc chủ quyền của chính phủ Bắc Kinh và họ dùng tên mà họ quen gọi, Nam Sa và Tây Sa.

Một trang web viết bằng tiếng Việt Nam lại có đuôi với những chữ “...gov.vn” tức là do chính quyền Hà Nội nắm quyền kiểm soát trong tay, giống như một thứ “công báo” của nhà nước. Nếu trang web đó lại đăng những lời xác định hai quần đảo của nước ta là thuộc một nước khác, thì đây là một hiện tượng đáng ngạc nhiên. Ai cũng phải ngạc nhiên. Trừ ba trường hợp: a) những người khiếm thị nặng (mù); b) những người không biết và không bao giờ đọc tiếng Việt; hoặc c) những người hoàn toàn đồng ý với quan điểm chính phủ nước ngoài; và d) những người bán nước.

Vậy cái chính phủ làm chủ trang web trên của các ông Nông Ðức Mạnh, Nguyễn Minh Triết và Nguyễn Tấn Dũng thuộc loại nào? Cả nước Việt Nam phải hỏi nhau câu hỏi đó. Nhiều người hỏi quá, sau cùng ông nhà nước Cộng Sản phải giải thích: Rằng trong trang web đó phần tiếng Việt Nam “của mình nhưng mà là phía Trung Quốc phụ trách.”

Người dân Việt lại càng thắc mắc: Vậy thì trong trang web này người Việt Nam phụ trách phần nào? Phần tiếng Congo, tiếng Nepal, hay tiếng Tagalog?

Chắc phải chờ các quan chức trong chính phủ Việt Nam trả lời cho câu hỏi này. (Xin quý vị lưu ý, chữ “chính” trong từ “chính phủ” hoặc “chính quyền” chỉ có nghĩa là thuộc về việc hành chính hoặc về chính trị, không có nghĩa tốt như khi nói “chính đáng,” “chính thống,” hoặc “chân chính,” dùng một chữ chính khác).

Sau khi nghe ông chính phủ cho biết phần thông tin bằng tiếng Việt trong một thứ công báo của chính quyền Việt Nam lại do người Trung Quốc phụ trách thì người dân nước Việt lại càng thắc mắc hơn. Ðồng bào ta muốn kiến nghị với các ngài rằng: Ngoài phần tiếng Việt trong cái trang web này ra, có những cái gì khác mà quý ngài đang làm là “của mình” nhưng “mà là do người Trung Quốc phụ trách,” mà người dân Việt Nam vẫn chưa biết? Xin quý ông Nông Ðức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng làm ơn thông báo hết những thứ “do người ngoại quốc phụ trách” để cho nhân dân không bị “sốc” vì những “cú” ngạc nhiên chết người như vầy.

Một thí dụ, nhiều người Việt tự hỏi không biết những bản nhạc được trình diễn trên sân khấu ở nước ta là do người nước nào quyết định. Một nước kiểm duyệt cả những bài báo cho tới bài ca đã là một mối nhục, nếu việc kiểm duyệt lại do người nước khác phụ trách thì “ê” lắm! Nghe nói nhạc sĩ Phạm Duy đã vô cùng mừng rỡ, mừng rớt nước mắt, khi được nhà nước Cộng Sản cho phép các ca sĩ hát bài “Tôi yêu tiếng nước tôi” của ông trên sân khấu. Người Việt Nam sống trên đất Việt Nam, muốn nói “yêu nước” cũng phải chờ được “trên cho phép!” Cái danh sách những bản nhạc được trình diễn chắc cũng là “của mình.” Nhưng không biết do người nước nào phụ trách? Nhạc sĩ Tô Hải, người đã gọi Phạm Duy là “chuyên viên trở cờ” trong cuốn hồi ký mới xuất bản của ông, đã than phiền mãi là hiện giờ tai ông phải nghe nhiều bài ca bắt chước nhạc ngoại quốc “chói tai” chịu không nổi. Ông Tô Hải cứ than như thế mãi, biết đâu có ngày ông sẽ ngạc nhiên vì có vị quan chức văn hóa tư tưởng nào đó tiết lộ: Danh sách các bản nhạc được trình diễn là “của mình” nhưng lại do các cô con gái của ông bà Obama phụ trách!

Những lời giải thích của ông Nguyễn Thanh Hưng, cục trưởng cái cục to tướng, được đưa ra sau khi các quan chức khác trong chính quyền Hà Nội đã công nhận rằng việc đăng những lời của quan chức Trung Quốc nói ngược hẳn với các tuyên bố của bộ Ngoại giao Việt Nam là một “sai sót.” Ðó là một lời hiếm hoi, vì thường thì chỉ sau khi giết hàng trăm ngàn người oan chết oan nhà nước Cộng Sản mới chịu công nhận là mình làm sai và xin được sửa sai.

Nhưng sai sót như thế nào? Ngày 15 Tháng Năm có tin ông Lưu Vũ Hải, Cục trưởng một cái cục còn to hơn vì cái tên dài hơn, là “Cục Quản lý phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử,” cho biết ông đã coi trang web www.vietnamchina.gov.vn, và thấy có “những thông tin 'không có lợi'.”

Không có lợi cho ai, không có lợi về cái gì? Một bản tin của nhà nước nói rõ hơn: “ ... nội dung không có lợi cho chính sách ngoại giao” của nhà nước cộng sản. Chỉ có thế thôi: Không có lợi.

Nghe cũng giống như một ông bố nghe thằng con nó đi đâu về nhà, nó chỉ mặt bố “chửi cha” cả ông bà nội nó, mà ông bố chỉ khuyên con: Ngài nói thế không có lợi! Việc xác định chủ quyền của một nước khác trên phần đất của tổ tiên mình, lại viết trên trang báo của mình, thì lối chửi đó còn nặng hơn là chửi cha nữa. Trước hành động ngang ngược đó, một chính phủ biết bảo vệ quyền lợi quốc gia thì phải lập tức công khai lên án nghiêm khắc. Phải nói ba năm rõ mười rằng: “Nội dung bản thông tin đó sai, hoàn toàn sai.” Phải long trọng nói: “Chúng tôi cực lực cải chính và chính thức phản đối việc thông tin xuyên tạc sự thật này.” Có như vậy mới xác định được chủ quyền quốc gia và gỡ được danh dự quốc gia. Không thể chỉ nói suông: Không có lợi! Mà lại chỉ nói cho trong nước nghe với nhau thôi!

Một chính quyền có danh dự thì sau khi thấy người nước khác dùng ngay một web site của nước mình viết những lời phủ nhận chủ quyền của nước mình trên đất đai của tổ tiên mình, thì tuyên bố suông cũng không đủ. Phải lập tức gửi công hàm ngoại giao phản đối, phản đối chính thức và làm ầm lên cho cả thế giới cùng nghe. Chứ không thể nào cứ đóng cửa im ỉm rồi quay ra nói nho nhỏ đủ trong nhà bố con nghe với nhau, rằng chúng nó làm như thế là “không có lợi.” Cái thằng ngoại quốc nó vào nhà mình viết bậy viết bạ ngay trên tường trong nhà mình, chửi cha mình lên, mà không dám mắng nó, chỉ khe khẽ bảo con cháu trong nhà rằng nó làm như vậy là “không có lợi!” Một chính quyền như vậy gọi là cái giống gì?

Hãy tạm trả lời câu hỏi cuối cùng này: Ðó là một chính quyền Cộng Sản! Nói như vậy tạm đủ.

Nhìn vào cách chính quyền Cộng Sản Việt Nam phản ứng lúng túng và hèn nhát trước cơn phẫn nộ của báo chí trong nước, chúng ta thấy những triệu chứng của một sự sụp đổ đang bắt đầu. Sự sụp đổ sẽ diễn ra khi nào chính các đảng viên Cộng Sản thấy rằng cái đảng đó cũng là “Của mình nhưng mà là phía Trung Quốc phụ trách!”
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »

KHI CẢ ĐẠI SỨ QUÁN CSVN TẠI NHẬT BẢN BỎ CHẠY
NHỤC ƠI LÀ NHỤC !!

Andy Nguyen (May 25, 2009)
Câu chuyện tôi sẽ kể với các bạn dưới đây là chuyện mới xảy ra, còn nóng hổi. Rất tiếc tôi không có máy hình ngày hôm đó nên không thể ghi lại các hình ảnh cho các bạn xem để làm bằng chứng. Tôi chỉ viết lên đây với cảm xúc của một người Việt cảm thấy bị sỉ nhục trước một nỗi nhục do các quan chức Việt Nam trong Đại sứ quán VC tại Nhật gây ra. Bạn tin hay không thì tùy nhưng mà là chuyện có thật.

Câu chuyện xảy ra vào thứ 6 tuần vừa qua (ngày 15 tháng 5 năm 2009) tại Đại sứ quán VN ở Tokyo. Đoàn chúng tôi gồm các quan chức cảnh sát giao thông của tỉnh Saitama đến Đại sứ quán để yêu cầu Đại sứ quán VN giải thích và chứng thực về một Quyết định liên quan đến việc đào tạo, cấp bằng lái xe do ông Bộ trưởng giao thông vận tải VN Hồ Nghĩa Dũng ký gần đây đã làm phiền phức đến nhiều người VN làm việc và học tập ở Nhật khi xin đổi bằng lái xe của Nhật do Bộ Ngoại giao VN mà cụ thể là Đại sứ quán VC đã không thông báo khiến cảnh sát Nhật không thể cấp đổi bằng lái cho họ được do so sánh với quy định cấp bằng lái cũ của VN. Nhưng chuyện tôi sẽ kể không phải chuyện này mà là cái tôi chứng kiến tại Đại sứ quán ngày hôm đó.

Khi chúng tôi vào Đại sứ quán thì chỉ có những người Nhật và VN đang làm thủ tục xin VISA ở đó đang xúm xít quanh một cô gái Việt và bàn tán xôn xao, cùng với một anh chàng Nhật chồng cô ta đang la lối đòi kêu cảnh sát. Còn tại các bàn tiếp tân , làm việc không có một nhân viên Đại sứ quán nào cả. Khi tôi gõ bàn làm việc của họ, nói bằng cả thứ tiếng Nhật Việt để hỏi thì cũng không có một tiếng trả lời từ bên trong.

Một ông già tự xưng là giám đốc một xí nghiệp Nhật thấy tôi đứng kêu hoài thì đến vỗ vai tôi nói rằng : "Nhân viên đại sứ quán ở đây bỏ chạy hết rồi, ông kêu cũng không có ai trả lời đâu. Tôi ngồi ở đây từ đầu, chứng kiến hết tất cả vụ việc. Tôi tính xin VISA 3 tháng sang VN tìm cơ hội đầu tư , nhưng thấy cảnh này nản quá, không muốnđi nữa, đang đợi họ trở lại để kêu họ trả lại Passport đây ".

Tôi hỏi :"Chuyện gì đã xảy ra vậy, khủng bố à".

Ông già: " Tôi không biết tiếng Việt nên không biết cái gì xảy ra, chỉ là tôi thấy cô gái kia đến làm giấy tờ, nói chuyện gì đó với nhân viên Đại sứ quán hình như bằng tiếng Việt nam , xong rồi khi cô gái cất cái Passport thì phải có màu xanh vào xách thì họ bắt đầu cãi nhau và cô gái tính bỏ đi, sau đó thì người nhân viên Đại sứ quán nhảy qua bàn làm việc, rượt theo giật cái xách đang đeo trên vai của ta khiến cái xách của cô ta bị đứt quai và cô ta té dập đầu cạnh bàn, ông thấy máu còn chảy đầy ra đấy. Khốn nạn thật. Tôi không nghĩ rằng họ là nhân viên ngoại giao được giáo dục đàng hoàng, cách làm việc giống côn đồ quá, cứ như là phim vậy".

"Sau đó thì sao" . Tôi hỏi.

Ông già :" Sau đó thì cô ta ôm mặt đầy máu chạy ra ngoài xe kêu chồng cô ta vào, cái anh chàng trẻ đang la hét nãy giờ bên kia, đòi gọi cảnh sát và xe cứu thương đến xử lý đấy. Khi anh ta la hét chạy vào , la toáng bằng tiếng Nhật đòi kêu cảnh sát và luật sư thì các nhân viên ở đây hình như không hiểu tiếng Nhật nhưng qua thái độ của anh chàng đó thì hình như họ sợ thì phải và đột nhiên họ rùng rùng bỏ chạy hết. Báo hại chúng tôi cả đám người ngồi đây đợi không biết bao giờ mới xong giấy tờ của mình , tôi còn nhiều việc ở công ty chắc là đợi họ trở lại để lấy giấy tờ đi về thôi. Tôi nghĩ Đại sứ quán là bộ mặt của Quốc gia mà còn như thế này thì ở VN chắc còn khủng khiếp hơn phải không ? À, mà cậu cũng định đi VN à. Tôi cảm thấy bất an quá. ".

Tôi trả lời :" Xin lỗi ông , tôi là người VN, tới đây có công chuyện, tự tôi cũng cảm thấy sỉ nhục về chuyện này bởi vì tôi là một người VN. Tôi xin lỗi ông vì cái chỗ nhơ nhớp này đã làm ông bất an. Xã hội nào cũng vậy thôi. Dân chúng trong nước của tôi hiền lành và đàng hoàng chứ không có côn đồ như những tên làm việc ở đây đâu. "

Quay lại chỗ vợ chồng cô gái tôi lại hỏi cô ta :"Chuyện gì xảy ra vậy, vết thương có nặng không ? thằng nào đánh em, kêu chồng em bình tĩnh, cầm máu trước hết cái đã". Anh chàng Nhật bổn chồng cô gái thấy tôi nói tiếng Việt nghĩ tôi là nhân viên Đại sứ quán nên đột nhiên nhào tới nắm cổ tôi và hét lên " Đồ khốn nạn, tại sao chúng mày đánh vợ tao đến như vậy".

Gạt tay anh ta ra tôi nói :" Bình tĩnh, tôi là nhân viên công vụ, thông dịch của cảnh sát, những người đi với tôi là cảnh sát, từ từ nói chuyện, thẻ nhân viên của tôi đây" . "Ê, Konishi , cho anh ta coi Sổ tay cảnh sát viên của mày ", tôi gọi người cảnh sát tên Konishi đi cùng với tôi.

Nghe nói tới chữ cảnh sát thì mặt anh ta dịu lại và đổi thái độ , xin lỗi tôi. Sau đó kể hết tự sự cho các cảnh sát đi với tôi và nhờ họ lập biên bản. Nhưng các cảnh sát nói rằng họ không phải cảnh sát viên của Tổng nha cảnh sát Tokyo đồng thời Đại sứ quán VN đây là vùng đặc quyền ngoại giao nên họ không có nhiệm vụ cũng như quyền lập biên bản. Ông sếp đi cùng với tôi kêu mỗi người rút danh thiếp đưa ra cho anh ta và nói rằng nếu anh ta muốn kiện tụng ra tòa thì cả nhóm có mặt hôm nay họ sẽ ra tòa làm chứng.

Anh bạn cảnh sát Nhật của tôi ra xe lấy bông băng cứu thương vào băng bó cầm máu cho cô ta xong thì cô gái kể cho tôi nghe rằng cô ta tên là Hoa , dân ở quận Tân Bình , Sài gòn mới lấy chồng sang Nhật hơn một năm, hôm nay cô ta đến Đại sứ quán để gia hạn lại cái Passport nhưng sau khi làm xong thì người nhân viên Đại sứ quán nhũng nhiểu làm tiền , đòi cô ta trả tiền dịch vụ 60000 yen ( khoảng 600 USD). Cô ta bất bình vì giá niêm yết gia hạn giấy tờ không phải như vậy nên đã xảy ra cãi vả. Người nhân viên đã chửi cô ta rằng " Địt mẹ, mày là con điếm Nhật", giận quá nghĩ rằng không thể nói chuyện với những người vô học như vậy nên cô ta chỉ bỏ lên bàn trả đúng số tiền theo giá niêm yết và đi về. Cô ta không ngờ rằng nhân viên Đại sứ quán giở thói côn đồ giật xách từ phía sau làm cho cô ta té ngữa vào cạnh bàn và bị thương như vậy.

Nghe đến đấy máu nóng của tôi nổi lên, thú thật lúc đó có thuốc nổ thì tôi cũng cho nổ tung cả cái tòa đại sứ VN nhơ nhớp này, còn chuyện hậu quả thế nào tính sau.

Tôi nói với ông sếp đi cùng: "Tôi nghĩ hôm nay tôi không thể dịch làm việc ở đây được, bởi tôi mà thấy mặt mấy thằng nhân viên lưu manh của Đại sứ quán này chắc tôi ra xe của ông vác súng vô bắn tụi nó hết. Tôi chịu hết nổi rồi. Nhục nhã quá. ".

Cũng may có cô gái Việt nam cũng là thông dịch viên cho một hãng nào đó ngồi gần, nghe nói như vậy nên kéo vai tôi. "Dzậy chú về đi, nếu chuyện không quan trọng thì sẵn thông dịch cho hãng ,cháu dịch giùm mấy ông này luôn cho, cháu thỉnh thoảng cũng có đi làm thêm thông dịch cho cảnh sát, cháu hiểu nguyên tắc làm việc của mấy chú. Cháu đi dịch ở đây nhiều lần, không có máu me chảy bị thương chứ mấy cái cảnh làm tiền của mấy ổng gần giống như dzầy cháu thấy nhiều lần cũng quen rồi. ".

Trao đổi với sếp và nhờ cô gái dễ thương dịch giùm tôi bỏ đi ra ngoài xe ngồi, lấy gói thuốc của tên bạn cảnh sát hút một hơi 3 điếu dù đã bỏ thuốc gần 5 năm mới cảm giác gần bình tỉnh trở lại, nhưng hình ảnh những người Nhật ngồi cười , bàn tán với vẻ khinh mạn, câu nói của ông già người Nhật cứ đeo theo ám ảnh tôi.

NHỤC

Nhục thật, ước gì tôi sinh ra không phải là người Việt nam để có thể tâm bình khí hòa trước những nỗi buồn mang tên Việt nam do cái tập đoàn cầm quyền ngu dốt đang gây ra.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Dân Chủ hóa cách nào?

Ngô Nhân Dụng
Báo Ðại Ðoàn Kết là tiếng nói của các ông bà cầm đầu Mặt Trận Tổ Quốc, một tập hợp do đảng Cộng Sản bầy ra để kiểm soát các hội, đoàn bên ngoài đảng. Tờ báo này mới phỏng vấn ông Trần Xuân Giá, một cựu bộ trưởng Kế Hoạch và Ðầu Tư, nay là chủ tịch hội đồng quản trị Ngân hàng Á Châu (ACB), một ngân hàng tư lớn ở Sài Gòn. Ông Trần Xuân Giá đã nói rất hùng hồn rằng đảng Cộng Sản Việt Nam cần phải trao cho Mặt Trận Tổ Quốc thêm một vai trò mới, vai trò ông gọi là “phản biện xã hội.” Cái đó là cái gì, chúng tôi sẽ giải thích sau; nhưng khi nghe đề nghị trao cho Mặt Trận vai trò mới thì tất cả những người lãnh đạo cái mặt trận đó chắc sướng tai lắm. Có nhiệm vụ mới, vai trò mới, tức là có ngân sách mới, sẽ sinh sôi nhiều lợi lộc có thể phát triển kinh tế cho mình, lợi nhiều hay lợi ít chưa thể nào tiên đoán được.

Ông Trần Xuân Giá gần đây bỗng tự nhiên nổi tiếng về những lời dự đoán kinh tế. Có người trong nước phỏng vấn ông về tình hình kinh tế Việt Nam; vào hồi giữa Tháng Năm, mới hai tuần trước đây, rồi đưa lên mạng Internet câu trả lời “cực kỳ” độc đáo và “tuyệt vời” của ông như thế này,

“Tôi kiểm nghiệm ra rằng, những năm nào có số cuối là 8 và 9 thì đều xấu với kinh tế của nước ta. Năm 1978 -1979 là xấu, rồi năm 1988 -1989 cũng xấu và bây giờ là 2009 cũng xấu.”

Trên thế giới chưa thấy một đại học nào dạy sinh viên phương pháp nghiên cứu chu kỳ kinh tế theo lối đếm các con số năm như thế này. Ðây là nghệ thuật kiểm nghiệm kinh tế thường được các chiêm tinh gia sử dụng. Ðó là các vị thầy bói, ở Việt Nam họ thường ngồi trước cửa Ðền Ngọc Sơn hoặc Lăng Ông Bà Chiểu; còn ở Hồng Kông họ mở những văn phòng bước vào thấy như vào văn phòng một chủ tịch ngân hàng.

Lời phát biểu trên của ông Trần Xuân Giá thế nào cũng gây ra những cuộc thảo luận sôi nổi ồn ào nhưng mà rất nghiêm túc, dựa trên những đề án trong khoa học có tầm mức quốc gia do ông nêu lên. Cuộc thảo luận có thể nâng cao không khí sinh hoạt trí thức dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng Sản.

Nhiều người viết trên mạng đã vạch ra rằng theo tin tưởng cổ truyền của người Trung Hoa thì những con số tốt nhất là số tám (bát, đọc giống như phát) và số chín (cửu, cũng đọc như trong chữ trường cửu, nghĩa là lâu dài). Ý kiến của ông Trần Xuân Giá hoàn toàn trái ngược với lý thuyết cổ truyền mà nền văn minh Trung Quốc đã đẻ ra. Riêng điểm này đã có thể đưa ông lên hàng một nhà cách mạng trong tư tưởng kinh tế học rất “hoành tráng” của đảng Cộng Sản Việt Nam. Người theo chủ nghĩa dân tộc quá khích có thể sẽ đề nghị đặt ra thêm một Giải Nobel Chiêm Tinh Kinh Tế Học để tặng ông. Tờ báo của Mặt Trận Tổ Quốc có thể hô hào cả nước học tập tư tưởng Trần Xuân Giá.

Vì cũng trong cuộc phỏng vấn kể trên, ông Trần Xuân Giá còn chứng tỏ ông là một nhà nghiên cứu nghiêm túc môn chính trị học nữa. Ông thúc đẩy đảng Cộng Sản nên tiến hành việc xây dựng dân chủ; đồng thời ông còn chỉ ra đường lối nên dân chủ hóa ra sao.

Tại sao lại cần dân chủ hóa? Ông Trần Xuân Giá nhắc lại một ý kiến mà nhiều nhà kinh tế nổi danh quốc tế đã nêu lên, ông nói, “Ðể đất nước phát triển bền vững phải xây dựng cho được nền dân chủ.”

Các người nghiên cứu kinh tế và chính trị học đã biện luận và chứng minh mệnh đề trên; đó là một sự thật mà chắc chắn giới trí thức Việt Nam đều biết. Nhưng có người chỉ biết lập lại câu nói như vậy mà không biết ý nghĩa đích thực là cái gì, điều này chúng ta sẽ thấy sau. Còn những người dân Việt bình thường, người dân đi ngoài đường phố (được tả trong câu ca dao “vỉa hè là của nhân dân anh hùng”) chắc chắn cũng đồng ý nước ta cần dân chủ hóa, dù họ không biết môn Kinh Tế Học là cái gì. Họ chỉ cần so sánh trình độ phát triển của hai nước Nam Hàn và Bắc Hàn sẽ thấy ngay. Cùng một dân tộc, cùng một lịch sử và truyền thống văn hóa, miền Bắc có sẵn tài nguyên công nghiệp giầu có hơn miền Nam. Nhưng Nam Hàn đã trở thành một cường quốc kinh tế ở Á Châu, đang chen chân với Nhật Bản trong cuộc chinh phục thị trường lục địa Trung Hoa. Còn dân Bắc Hàn thì hiện nay vẫn chỉ lo mỗi ngày làm sao có đủ miếng cơm cho vào miệng là thấy hạnh phúc cực kỳ rồi.

Cái gì làm cho sự phát triển giữa hai nước Nam Bắc Hàn chênh lệch xa nhau đến như vậy? Khác biệt duy nhất là dân Nam Hàn được sống dân chủ tự do, còn Bắc Triều Tiên sống dưới một chế độ Cộng Sản độc tài suốt 60 năm qua.

Cho nên, muốn phát triển bền vững, cần dân chủ hóa! Dù không dùng thuật đếm các con số, ông Trần Xuân Giá đã nói đúng hết chỗ chê.

Nhưng dân chủ hóa như thế nào? Ông tiếp tục tuyên bố như sau, “Phát huy dân chủ có nhiều kênh nhưng phản biện xã hội là kênh hết sức quan trọng.''

Nếu nghe câu trên thấy “hơi bị” khó hiểu thì đó cũng là lẽ thường. Vì các cán bộ cao cấp có lối nói riêng của họ. Có thể vì họ quen đọc các nghị quyết dịch từ chữ Hán rồi bị nhiễm. Hoặc vì họ cố ý nói càng khó hiểu càng có vẻ thông thái, cao sang. Hoặc nữa là họ chỉ nói cho nhau nghe, dịch ra chữ Nôm cho đám chúng sinh ngoài vỉa hè hiểu cũng chẳng ích lợi gì.

Ðem dịch sang tiếng Việt thì câu trên có thể nói lại như thế này: Có nhiều việc phải làm để phát huy dân chủ, nhưng một việc hết sức quan trọng là cho phép mọi người dân nêu lên những ý kiến khác với đảng và nhà nước Cộng Sản.

Ý kiến này cũng hết sức đúng. Nên làm ngay công việc này: Làm sao trong nước Việt Nam có thêm nhiều “phản biện xã hội,” càng nhiều càng tốt.

Ở các nước dân chủ tự do, công việc đó được làm thường xuyên, làm mỗi ngày, từng giờ từng phút. Ông nhà nước làm gì, bà chính phủ nói gì, lập tức cả nước nghe thấy những ý kiến khen, chê, đủ mọi kích thước, đủ mầu sắc, từ phía tả, phía hữu, ai cũng có quyền nghe. Chính nhờ thế mà các ông bà nhà nước nhà non bớt dám làm bậy. Dân Mỹ chưa được học bốn chữ Hán “phản biện xã hội” nhưng khi ông tổng thống Mỹ mới đề cử một bà làm thẩm phán Tối Cao Pháp Viện thì năm phút sau lập tức các mạng lưới, trên các đài ti vi, phát thanh và báo chí đã đầy những “phản biện xã hội” rồi.

Ðây là một diễn trình tự nhiên trong xã hội dân chủ. Không ai biết chắc chắn là khi một chính phủ công bố chính sách hay có hành động nào đó thì những ý kiến đối chọi nổi lên trong xã hội sẽ ảnh hưởng khiến họ họ thay đổi nhiều hay ít ra sao. Nhưng chúng ta biết chắc là khi mỗi quyết định của một chính quyền đều được dư luận chăm chú theo dõi, suy nghĩ và bàn tán, thì những người quyết định sẽ phải suy nghĩ chín chắn hơn và lựa chọn làm sao phù hợp với nguyện vọng của đa số người dân hơn. Vì tất cả dư luận như thế sẽ được tích tụ trong hai năm, bốn năm, trở thành ý kiến phê phán người cầm quyền mà đa số dân chúng tin là đúng. Họ sẽ bỏ phiếu căn cứ vào các ý kiến tích lũy đó. Thí dụ, nếu một chính quyền bị nhiều người chỉ trích là thất bại trong việc điều hành kinh tế, chắc chắn dân chúng sẽ thay đổi. Năm ngoái các cử tri Mỹ đã làm công việc đó. Chính phủ Ấn Ðộ đã thắng lớn trong cuộc bỏ phiếu vừa qua, vì suốt bốn năm đảng Quốc Ðại nắm quyền những ý kiến ủng hộ cao hơn những lời chống đối. Ðảng Cộng Sản Ấn Ðộ đã nằm trong liên minh cầm quyền nhưng rút ra và quay lại chống chính phủ và tố cáo đảng Quốc Ðại thân Mỹ. Nhưng trong cuộc bầu cử vừa qua đảng Cộng Sản Ấn Ðộ đã mất nhiều ghế đại biểu, từ 64 xuống chỉ còn 24 ghế. Khi người dân được nghe nhiều ý kiến đối nghịch, việc lựa chọn của họ chắc phải đúng hơn.

Trong diễn trình dân chủ này có hai phần quan trọng. Một là mọi người dân được tự do phát biểu về những chính sách, công việc nhà nước làm có ảnh hưởng đến đời sống của họ. Hai là người dân có thể lựa chọn giữa nhiều đảng chính trị khác nhau và các cử tri được tự do bỏ phiếu. Nếu thiếu một trong hai yếu tố trên thì chưa đáng gọi là tự do dân chủ.

Nhưng ông Trần Xuân Giá hình như chỉ nghe mà chưa hiểu cái quá trình dân chủ đơn giản này. Khi đề cao “phản biện xã hội” ông lại chỉ nghĩ đến một dụng cụ đang có sẵn trong guồng máy cai trị của đảng Cộng Sản, là Mặt Trận Tổ Quốc. Ông muốn cho cái Mặt Trận Tổ Quốc này nó đóng vai “phản biện.”

Rõ chán quá đi mất! Ở nước Việt Nam này ai chẳng biết chính các ông trong đảng Cộng Sản quyết định ai làm chủ tịch, ai làm phó chủ tịch, tổng thư ký mặt trận, không ông bà trong trong mặt trận dám cãi. Các ghế lãnh đạo đoàn thể trong mặt trận cũng do các chi bộ đảng Cộng Sản “bố trí,” “cơ cấu” người vào nắm đầu. Ðảng Cộng Sản và Mặt Trận Tổ Quốc liên hệ với nhau như bố với con, như thầy với tớ trong thời phong kiến; đố thằng con nào dám nói trái lời bố! Nói trật một câu cũng có thể mất ghế, mất hết quyền lợi ngay lập tức. Thế thì còn “phản biện” cái nỗi gì? Ông Giá cứ nghe thiên hạ nói đến “phản biện xã hội” nên ông nhắc lại chữ “phản biện xã hội” chứ thực tình ông nghe như vịt nghe sấm, chẳng biết nó là cái gì cả. Thật chán quá đi mất!

Ông Trần Xuân Giá còn dạy dỗ Mặt Trận cách “phản biện” như thế nào nữa. Ông nói, ''Vai trò của mặt trận là giúp Quốc Hội tập hợp các ý kiến kiến nghị lên Quốc Hội, lên chính phủ và các cơ quan hành pháp.” Ông không nói cho biết là còn cái Quốc Hội đó nó làm cái gì mà không tự nó đi tìm các ý kiến, tập hợp các ý kiến để trình lên đảng? Hay là giải tán cái Quốc Hội đi để Mặt Trận làm thay cho đỡ tốn cơm? Ông cũng khuyên Mặt Trận phải theo đuổi tới cùng xem các kiến nghị của mình được chính phủ giải quyết ra sao, chớ đừng “đánh trống bỏ dùi.” Về mặt này thì Mặt Trận nên học hỏi kinh nghiệm các nhà báo như Nguyễn Việt Chiến: Theo đuổi, theo đuổi, đuổi mãi tới tận khi bước vào nhà tù mới thôi.

Cuối cùng, phương pháp dân chủ hóa của ông Trần Xuân Giá rất là giản dị: Cứ để cho đảng Cộng Sản Việt Nam “phản biện” với đảng Cộng Sản Việt Nam. Bọn nắm quyền là đảng mà làm đối lập cũng là đảng, đảng chỉ cần sai thằng đồ đệ đứng ra phản biện cho mình nghe. Từ 60 năm nay đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn làm đúng theo mô hình đó; ông Trần Xuân Giá có nhắc lại cũng vô ích. Có lẽ đóng góp duy nhất của ông là khi đưa ra một điều kiện: người làm công tác mặt trận phải có tâm để ''không quên'' những kiến nghị của người dân.

Tức là phải chữa trị ngay cái tính hay quên của các cụ. Trao các cụ cho các bác sĩ tâm thần trị liệu thì sau vài chục năm có khi nước ta được dân chủ hóa thật không chừng!

Lý thuyết dân chủ hóa của ông cựu bộ trưởng kế hoạch và đầu tư chứng tỏ ông không biết tí gì về lối sinh hoạt ở một xã hội dân chủ. Dân chủ hóa theo lối của ông chính là kéo dài con đường độc tài đảng trị. Cứ theo lối đó thì xã hội Việt Nam không bao giờ có dân chủ; và do đó, khó lòng phát triển kinh tế bền vững. Có thể nói là ông Trần Xuân Giá đã chọn không đúng thời điểm này để bàn vấn đề dân chủ hóa. Theo sự kiểm nghiệm của các nhà báo trên mạng ở trong nước thì có những năm ông Trần Xuân Giá tuyệt đối không nên bàn về vấn đề dân chủ hóa. Ðó là những năm tận cùng bằng số không cho tới số chín. Năm nay là năm 2009, quả nhiên ông nói ra làm cả nước bật cười.
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Lại chuyện nón cối

Lữ Giang
Hôm 17.4.2009, hãng thông tấn Associated Press và các báo online ở vùng Bắc Mỹ như oregonlive.com, seattlepi.com, theolympian. com, columbian.com, onpointnews. com, article.wn.com, examiner.com, v.v. đều loan tin “Một người Việt Nam đã thắng trong một vụ kiện về mạ lỵ phỉ báng” (Vietnamese man wins defamation case).

Tờ news.newamericamedi a.org cho biết hôm 16.4.2009, Tòa Superior Court ở Thurston County, Washington State, đã đưa ra phán quyết rắng một người Việt Nam đã thắng trong một vụ kiện về mạ lỵ phỉ báng. Đây là là trường hợp đầu tiên thuộc loại như vậy ở tiểu bang Washington.

Tòa nhận thấy rằng 5 bị đơn gồm có ba ông Norman Lê, Phiệt Nguyễn, Đạt Hồ, và hai bà Nhàn Trần và Nga Phạm đã vi phạm sai lầm khi lên án ông Tân Thục Đức, một cựu Trung Úy VNCH và Hội Cộng Đồng Người Việt Thurston County (Vietnamese Community of Thurston County - VCTC) là thân cộng.

Các bị đơn bị phạt $310.000, trong số tiền phạt này ông Tân Thục Đức, hiệu trưởng Trường Việt Ngữ ở Thurston County được hưởng $225.000, và Hội Cộng Đồng Người Việt Thurston County do ông Hứa Minh Đức là chủ tịch được hưởng $85.000.

Vụ xét xử đã kéo dài trong ba tuần. Sau khi tòa tuyên án, các bị đơn đã xin tòa nguyên thẩm cho tái thẩm (retrial). Nhưng trong phiên toà ngày 29.5.2006 vừa qua, tòa đã bác đơn.

BỊ ĐÁNH TRÚNG HUYỆT

Trong khi hãng thông tấn Associated Press và các báo ở vùng Bắc Mỹ đã phổ biến tin tức về vụ án này một cách khá rộng rãi, đa số các báo Việt ngữ ở Hoa Kỳ gần như “phớt lờ” vụ án này. Trên các diễn đàn Internet, các tham dự viên thường rất năng nổ trong việc phổ biến và bình luận về các tin tức cộng đồng, tin này cũng chỉ được phổ biến rất giới hạn. Điều này rất dễ hiểu, vì đây là một lần nữa, toà án Mỹ lại đánh trúng huyệt của nhiều “xạ thủ chống cộng” trong cộng đồng người Việt hải ngoại, đó là “huyệt nón cối”!

Tường thuật lại bản án nói trên là một sự nhức nhối đối với những người xưa nay vẫn coi nón cối như một võ khí “chống cộng”, và lúc nào cũng sẵn sàng dùng nó để triệt hạ bất cứ ai có chính kiến khác với họ, xâm phạm đến các quyền lợi hay địa vị của họ trong cộng đồng. Đây là một cơn bệnh trầm kha, nó đã phá tan các cộng đồng người Việt hải ngoại ra thành nhiều mãnh và khiến những người có khả năng và thiện chí nản chí, không muốn tham gia các sinh hoạt cộng đồng hay chống cộng nữa.

Tại Orange County, Nam California, chỉ có nhật báo Người Việt khai thác vụ án này. Trong sồ báo ra ngày 19.4.2009, báo này đã dựa vào bản tin của tờ The Olympian cho phổ biến một bài nói về vụ án này dưới đầu đề “Chụp mũ “Cộng Sản” bậy bạ, năm người Việt Nam bị tòa phạt hơn $300,000”. Bài báo đã mở đầu như sau:

“Một bài học cho những người chuyên chụp mũ bậy bạ người khác vừa xảy ra tại Tòa Thượng Thẩm Washington, Thurston County, hôm Thứ Năm vừa qua, sau khi bồi thẩm đoàn đồng ý phạt và bắt năm cá nhân trong Ủy Ban Chống Cờ Việt Cộng phải liên đới bồi thường $225,000 cho ông Tân Thục Đức, cựu trung úy QLVNCH, vì đã chụp mũ ông là “Cộng Sản,” một bản tin của nhật báo The Olympian cho biết như vậy.

“Ngoài ông Tân Thục Đức, năm cá nhân thuộc ủy ban nêu trên còn phải bồi thường cho Cộng Đồng Việt Nam tại Thurston County, Washington, nơi ông Đức sinh hoạt, $85.000.”

Cuối bài báo đã nhắc lại ba vụ án nón cối nghiêm trọng đã xẩy ra trong cộng đồng người Việt hải ngoại trước đây:

“Hôm Tháng Hai vừa qua, Giáo Sư Nguyễn Lâm Kim Oanh, Ủy Viên Giáo Dục Học Khu Garden Grove, đã kiện ông Cao Sinh Cường, một nhà hoạt động cộng đồng của đảng Cộng Hòa Orange County, tội phỉ báng sau khi ông chụp mũ bà là “Cộng Sản.

“Bà cho rằng vì bị chụp mũ mà bà mất chức Tổng Quản Trị Học Khu Westminster hồi năm 2006. Vụ việc hiện đang do Tòa Kháng Án California thụ lý.

“Hồi năm 2003, ba cha con ông Hồ Ngộ tại tiểu bang Colorado đã thắng một vụ kiện trong đó họ bị chụp mũ “Cộng Sản,” và tòa án Denver đã phán quyết bị cáo bồi thường gần $4.8 triệu.

“Tại Saint Paul, Minnesota, ông Tuấn Phạm, một cựu quân nhân QLVNCH và là chủ chợ Capital Market, cũng bị một số người Việt Nam chụp mũ tương tự.

“Cuối cùng, tòa phán quyết bị cáo bồi thường cho ông Tuấn $693,000.”

Nhiều người tin rằng nhật báo Người Việt muốn dùng vụ án này để hù dọa những người đang tố cáo báo Người Việt là thân cộng. Bình thường, báo Người Việt thường tránh những cuộc “đụng độ” như thế trong cộng đồng. Điều này cho thấy “công an chống cộng” ở hải ngoại vẫn đang tiếp tục khống chế cộng đồng rập khuôn theo phương thức khống chế của cộng an CSVN ở trong nước.

ĐẦU ĐUÔI CỦA VỤ ÁN

Vào tháng 7 năm 2003, tại hội chợ Lakefair, một đầu bếp trong gian hàng của Hội Cộng Đồng Người Việt Thurston County (VCTC) mặc tạp dề (tablet – apron) mua ở chợ Mỹ, có hình ông già Noel đội nón đỏ có ngôi sao vàng và trên hai túi nền đỏ cũng có hai ngôi sao vàng. Sau đó, người đầu bếp này đã quay ngược mặt ngoài của tạp dề này vào bên trong.

Ngày 7.8.2003, ban đại diện của Ủy Ban Chống Cờ Việt Cộng gồm các ông Vũ Anh Tuấn, Hồ Tấn Đạt, Nguyễn Xuân Phiệt, Lê Thiện Ngọ, bà Trần Thanh Nhàn và bà Phạm Thị Nga, đã cho phổ biến “Bản Công Bố v/v Cộng Đồng Người Việt Quận Thurston trưng bày cờ Việt Cộng trá hình tại Lakefair, Olympia, Washington State”. Bản công bố đã kể lại câu chuyện xẩy ra với hình Ông Già Noel trên tạp dề mà người đầu bếp đã mặc và quy kết rằng “hình in trên áo đó muốn phô bày trước công chúng lá cở đỏ sao vàng của Cộng Sản Việt Nam”. Bản công bố viết tiếp:

“Còn khuôn mặt Già Noel gợi cho người xem hình ảnh của Già Hồ! Đảng Cộng Sản Việt Nam đã khéo léo đội trên đầu Già Noel cái mũ có hình lưỡi liềm đỏ, tượng trưng cho cờ của đảng Cộng Sản Quốc Tế. Già Noel là biểu tượng của lòng yêu thương mang quà Noel đến cho mọi người. Còn trên tạp dề này, Gìa Hồ đeo găng boxing đánh bại Mỹ qua hình ảnh cờ Mỹ rơi hết vào trong hai găng tay.

“Chủ đích trưng ra các biểu tượng trên đây là để phổ biến sự hiện hữu của chế dộ cộng sản Hà Nội trong cộng đồng người Việt cho khoảng 250.000 người đến thăm Hội chợ, như chúng cố treo cờ VC tại SPSCC và vài nơi khác.”

Cũng trong ngày 7.8.2003, ông Vũ Anh Tuấn, lấy tư cách là Đồng Chủ Tịch Ủy Ban Chống Cờ Việt Cộng đã gởi email đi nhiều nơi “Công Bố Cộng Đồng Người Việt Quận Thurston đã trưng bày cờ Việt Cộng” và yêu cầu có biện pháp.

Các email kế tiếp của Ủy Ban đã yêu cầu các cộng đồng và cơ quan truyền thông của người Việt trên thế giới tẩy chay và trục xuất ông Tân Thục Đức và các thành viên hội đồng quản trị VCTC ra khỏi cộng đồng vì “họ đang làm việc cho CSVN.”

Ủy Ban đã mở cuộc họp báo vào ngày 17.8.2003 tại Rainier Community Center, Seatle, và hai cuộc họp báo khác tại Olympia và Tumwater để tố cáo như đã nói trên, và cho rằng ông Tân Thục Đức và Hội Cộng Đồng Người Việt Thurston County là những người yểm trợ cho chế độ CSVN, thành viên của đảng CSVN, v.v.

Ủy Ban còn tố cáo rằng trong một buổi văn nghệ vinh danh một nhà thơ Việt Nam tổ chức tại Olympia năm 1997, một người trong ban nhạc do ông Tân Thục Đức mời đến đã đánh vài nốt nhạc trong bài quốc ca của Việt Nam Cộng Sản.

Ông Tân Thục Đức cũng bị tố cáo đã không treo cờ VNCH tại nơi ông dạy học là Trường Việt Ngữ Hùng Vương.

Kể từ khi vụ việc xảy ra, ban đại diện Hội Cộng Đồng Người Việt Thurston County chỉ còn lại 4 người, vì 11 người khác đã rút lui vì sợ bị chụp mũ. Riêng ông Tân Thục Đức còn bị đe dọa giết.

CÂU CHUYỆN XẨY RA TRƯỚC TOÀ

Ngày 3.3.2004, Luật sư Gregory M. Rhodes đã đại diện ông Tân Thục Đức và Hội Cộng Đồng Người Việt Thurston County truy tố các bị đơn sau đây ra Toà Superior Court của Washington State tại Thurston, về tội mạ lỵ phỉ báng:

- Norman Le và Phu Le, chồng và vợ;

- Tuan A. Vu và Huynh T. Vũ, chồng và vợ;

- Phiet X. Nguyen và Vinh T. Nguyen, chồng và vợ;

- Đat T. Ho và “Jean Doe” Ho, chồng và vợ;

- Nga T. Pham và Tri V. Duong, vợ và chồng;

- Nhan T. Tran và Mam M. Võ, vợ và chồng.

Ngày 30.3.2009, Toà Superior Court của Washington State tại Thurston với bồi thẩm đoàn, đã bắt đầu xử vụ này. Việc lấy lời khai các nguyên đơn, bị đơn và nhân chứng kéo dài đến 3 tuần. Chúng tôi xin tóm lược một vài đoạn chính để cho “đạo quân nón cối” thấy rằng những chuyện bịa đặt của họ nếu được đưa ra toà sẽ như thế nào:

1.- Vụ cái tạp dề:

Khi chất vấn một nhân chứng là Đại Tá Hứa Yển Lến, Luật sư Nguyễn Tâm, đại diện các bị can, đã chiếu lên screen hình cờ đỏ sao vàng của Việt Cộng và hỏi:

- Có phải đây là cờ CSVN không?

Đại Tá Lến trả lời:

- Đúng!

Luật sư Tâm chiếu hình cô gái mặc áo đỏ sao vàng đã từng được triển lảm tại Nam California và hỏi đó có phải là cờ CSVN không.

Đại Tá Lến cũng trả lời:

- Đúng.

Luật sư Tâm lại chiếu hình lá cờ đỏ sao vàng lớn và hỏi: Nếu hình này mà nhỏ cở này (đưa bàn tay chỉ kích thước của lá cờ) có phải là cờ CSVN không?

Đại Tá Lến vẫn trả lời “Đúng!”, nhưng bất thần ông quát lớn giữa toà:

- Tôi đến làm chứng cho ông Đức, tại sao cứ chiếu lá cờ này trước mặt tôi vậy?

Luật sư Tâm vội xin lỗi rồi đi vào chủ đề chính. Ông đưa các tạp dề lên và hỏi Đại Tá Lến:

- Đây là cái gì?

Đại Tá Lến trã lời:

- Đó là cái tạp dề...

Luật sư Tâm lại hỏi:

- Có phải lá cờ không?

Đại Tá Lến nói:

- Không, đó là cái tạp dề dùng ở nhà bếp.

Luật sư Tâm liền cho chiếu lại hình cô gái mặc áo có hình cờ đỏ sao vàng đã triển lảm ở Nam Cali và hỏi Đại Tá Lến:

- Sao lúc nảy ông nói hình này là lá cờ (CSVN)?

Đại Tá Lến hỏi lại Luật sư Tâm:

- Ông có thấy tượng Hồ Chí Minh kế đó không?

2.- Chuyện ông Tân Thục Đức không treo cờ vàng

Luật sư Gregory M. Rhodes của các nguyên đơn đã hỏi bị đơn Trần Thanh Nhàn:

- Bà có tới Trường Việt Ngữ ở Olympia không?

Bà trả lời:

- Không

Luật sư Rhodes lại hỏi:

- Bà có gọi điện thoại hỏi ông Tân Thục Đức về việc từ chối treo cờ (VNCH) tại Trường Việt Ngữ không?

Bà trả lời:

- Không.

Luật sư Rhodes nói:

- Thế mà bà có thể ký tên vào đơn tố cáo ông Tân Thục Đức (từ chối treo cờ)?

Luật sư Rhodes hỏi tiếp:

- Sự kiện ông Tân Thục Đức tổ chức Họp Mặt Mùa Thu năm 2002 có liên hệ gì với cuộc Cách Mạng Mùa Thu của Hồ Chí Minh (như đã nói trong Bản Công Bố) không?

Bà không hiểu câu hỏi hay không thể trả lời được, nên Luật sư Rhodes phải lặp đi lặp lại nhiều lần. Bà đành im luôn.

Buổi chiều, Luật sư Rhodes đã hỏi một bị can khác là ông Hồ Tấn Dạt về những câu hỏi mà ông đã hỏi bà Trần Thanh Nhàn vào buổi sáng. Ông Đạt biện minh rằng ông ở xa hàng trăm miles nên không có tới Trường Việt Ngữ Olympia và cũng không điện thoại hỏi ông Tân Thục Đức. Ông cũng không trả lời được câu hỏi về cuộc Họp Mặt Mùa Thu đã nói trong Bản Công Bố.

Sau đó, Luật sư Rhodes đã quay qua hỏi bị can Nguyễn Xuân Phiệt:

- Ông Tân Thục Đức cho biết ông có tới Trường Việt Ngữ và đã thấy ở đó có treo cờ (VNCH), điều đó có đúng hay không?

Ông Phiệt trả lời:

- Có. Nhưng sau đó vài ba phút ông ấy có lấy xuống hay không, tôi không biết.

Luật sư Rhodes lại hỏi:

- Ông có thấy học sinh Trường Việt Ngữ đã chào cờ vàng (VNCH) và hát quốc ca (VNCH) trước khi vào lớp học hay không?

Ông Phiệt nói:

- Tôi không để ý...

Các nhân chứng khác đã khai rằng họ có thấy cờ VNCH được treo ở Trường Việt Ngữ và các em học sinh có chào cờ và hát quốc ca VNCH trước khi vào lớp.

Chúng tôi xin nói rõ trên đây chỉ là tóm lược vài câu chuyện xẩy ra tại phiên tòa. Khi nào có bản transcript (bản đánh máy lại bản tốc ký) của phiên toà, chúng tôi sẽ đăng nguyên văn để độc giả thấy sự thật bi thảm như thế nào. Tuy nhiên, một vài thí dụ cụ thể nói trên cũng đủ để cho “đạo quân nón cối” thấy rằng không phải họ muốn đội thứ nón cối gì lên các đối thủ của họ cũng được. Khi đáo tụng đình, những sự bịa đặt của họ để chụp mũ sẽ bị đưa ra trước ánh sáng ngay.

3.- “Public figure” và “actual malice”

Thông thường, luật sư của bị đơn thường nêu lên rằng nguyên đơn là “public figure”, tức một nhân vật nổi tiếng, nên phải chịu những sự phê phán của dư luận. Lúc đó, luật sư của nguyên đơn phải chứng minh rằng bị đơn có “actual malice”, có nghĩa là “có ác ý hiển nhiên”, tức vu khống người khác mặc dầu biết sự việc mình phát biểu là dối trá mà vẫn phát biểu không cần kiểm chứng hư thật.

“Actual malice” cũng là yếu tố để toà quyết định số thiệt hại bị trừng phạt.

Dĩ nhiên, “đạo quân nón cối” khi chụp mũ người khác thường chỉ nói ra những điều họ biết chắc là dối trá mà vẫn cứ nói, và vì biết đó là sự dối trá nên không khi nào họ kiểm chứng trước khi nói. Do đó, một khi bị đưa ra tòa “đạo quân nón cối” thường phải lãnh đủ vì đối phương có thể chứng minh “ác ý hiển nhiên” của họ một cách dễ dàng. Cứ xem Luật sư Rhodes quây các bị đơn như đã nói trên, chúng ta cũng có thể thấy rõ điều đó.

Vụ án này cũng cho thấy nón cối đã được xử dụng để hạ nhau trong việc tranh chấp giữa các phe nhóm trong Cộng Đồng Thurston trong nhiều năm qua. Đây cũng là tình trạng đã xẩy ra tại các cộng đồng người Việt khác như ở San José, Orange County, Los Angeles, Houston, Atlanta, v.v. Sau nón cối Việt Cộng là nón cối Việt Tân!

NHỮNG CHUYỆN ĐÁNG BUỒN

Vụ một số thành viên trong Ủy Ban Chống Cờ Việt Cộng bị tòa Thurston phạt $310.000 là vụ thứ ba toà án Mỹ đã giáng những đòn chí tử xuống “đoàn quân nói cối”. Hai vụ trước đã xẩy ra tại Denver, Colorado và Minnesota.

1.- Nón cối từ cửa Phật

Hai tờ báo ở Denver, Colorado, là tờ “Rocky Mountain News” ngày 6.9.2003 và tờ “The Denver Post” ngày 7.9.2003 đã đề cập đến một bán án mà những kẻ chuyên bán nói cối trong cộng đồng người Việt không thể không biết đến. Dưới đầu đề “Chị em thắng một vụ kiện chống lại nhà chùa” (Sisters win suit against temple) tờ “Rocky Mountain News” viết:

“Một gia đình Việt Nam bị chụp mũ cộng sản sau khi họ tố cáo một nhà sư ở Denver đã có hành vi tình dục bất chánh, đã thắng gần 5 triệu đô la hôm thứ sáu qua một vụ kiện về mạ lỵ phỉ báng.

“Bản án đã kết thúc một vụ tai tiếng làm chia rẽ cộng đồng Phật Giáo Việt Nam tại Denver trong 5 năm qua.

“Hai chị em Hồ Thị Thu và Hồ Thi Thi, và người cha là Hồ Ngộ, nói rằng Tu Viện Phật Giáo Việt Nam tại Colorado và người tăng sĩ trụ trì, Lê Kim Cương, đã phát động một chiến dịch triệt hạ uy tín gia đình của họ sau khi hai chị em tố cáo nhà sư tấn công tình dục họ là những người đang vị thành niên.

“Sau bốn tuần xét xử, một bồi thẩm đoàn thuộc Tòa Quận Hạt Denver đã bắt Ban Quản Trị chùa Như Lai và nhà sư Lê Kim Cương phải bồi thường thiệt hại cho họ $4.800.000 về sự mạ lỵ phỉ báng, có hành động xâm phạm thô bạo và tác trách. Bồi thẩm đoàn cũng xác nhận nhà sư Lê Kim Cương có phạm tội bạo hành tình dục (sexual battery)”

Gia Đình của ông Hồ Ngộ đã khóc và ôm lấy bồi thẩm đoàn sau khi bản án được tuyên đọc. Cô Hồ Thị Thu, lúc đó đã 29 tuổi, nói với ký giả tờ Rocky Mountain News: “Tôi cảm thấy nhẹ nhàng sự việc đã kết thúc và cảm thấy vui sướng là sự thật đã được phơi bày.”

2.- Cũng phát xuất từ lá cờ vàng

Tờ Minneapolis dBusinessNews và hầu hết các báo ở Minnesota ngày thứ ba 23.3.2006, đều đăng một bản tin dưới đầu đề như sau: “Một người 70 tuổi đã được tòa quyết định ban cho 659.000 đô (thật sự là 693.000 đô) trong một vụ kiện về mạ lỵ phỉ báng ở St. Paul”.

Sau đó, bài báo cho biết:

“Một cựu quân nhân Miền Nam Việt Nam, một người đã bị tù hơn hai năm sau chiến tranh Việt Nam và sau đó được Tổng Thống George W. Bush chỉ định vào Hội Giáo Dục Việt Nam tại St, Paul (St. Paul's Vietnamese Educational Foundation - VEF) đã thắng 659.000 đô (thật sự là 693.000 đô) trong một vụ kiện về mạ lỵ phỉ báng chống lại 7 bị đơn đã bị bồi thẩm đoàn đồng thanh xác nhận đã gây thiệt hại cho cơ sở thương mại và danh tiếng của ông ta. Tuấn J. Phạm, 70 tuổi, vợ ông ta là Mai Vũ và chợ Capital Market của họ ở đường University, đã thắng trong bản án hôm thứ tư ngày 22.3.2006, trong một cuộc chiến đầy thù hận đã gây chia rẻ trong cộng đồng người Việt tại Twin City và đã được tranh luận sôi nổi trên các chương trình phát thanh của người Việt trên toàn quốc.”

Vụ này do Tòa Liên Bang ở Ramsey County (Ramsey County Second Judicial District Court) ở Minnesota thụ lý và xét xử.

Cho đến khi phiên xử bắt đầu vào sáng thứ hai ngày 20.3.2006, nhiều bị đơn vẫn tin tưởng rằng “chính nghĩa tự do và lá cờ vàng ba sọc đỏ sẽ thắng”, Vì trong 18 tội phạm được gán cho ông Phạm Ngọc Tuận, có tội phạm đã ra lệnh hạ cờ vàng ba sọc đỏ. Nhưng qua các cuộc thẩm vấn tại phiên tòa, họ không nghe nói gì đến biểu tượng cờ vàng ba sọc đỏ mà chỉ được yêu cầu chứng minh ông Phạm Ngọc Tuận là tay sai Cộng Sản và đã vi phạm 18 tội đã được họ liệt kê. Không ai chứng minh được gì hết, kể cả chứng minh ông Tuận đã ra lệnh hạ cờ vàng, nên tòa đã thuyên phạt như trên.

CỜ VÀNG VÀ ĐẠO QUÂN NÓI CỐI

Ngày 2.2.2009, Hội Đồng Thành Phố Santa Ana, một thành phố lớn nhất tại Orange County, California, đã đưa ra nghị quyết như sau: “Chúng ta phải công nhận lá Cờ Vàng là biểu tượng của cộng đồng Việt Nam. Đây là một biểu tượng của dân chủ.” Rất nhiều hội đồng thành phố tại những nơi có đông cử tri người Mỹ gốc Việt đi bầu cũng đã làm như vậy.

Chúng ta nhớ lại, ngày 5.8.2006, Thống Đốc Arnold Schwarzenegger của tiểu bang California, đã đưa ra quyết định như sau: "Kể từ nay lá cờ (Vàng Ba Sọc Đỏ) được phép treo trên tất cả các cơ sơ của tiểu bang khi có các sinh hoạt của cộng đồng người Việt".

Tuy nhiên, nhiều người Việt tỵ nạn đã không phân biệt được biểu tượng với mục tiêu. Mục tiêu chính mà chúng ta đang nhắm tới là liên kết mọi người và mọi phe nhóm, không phân biệt biểu tượng, để giải phóng đất nước khỏi áp bức và nghèo đói. Chúng ta cũng không thể đem biểu tượng của chúng ta áp đặt lên trên những người hay phe nhóm không công nhận hay coi trọng nó. Đó là nguyên tắc dân chủ mà chúng ta đang đòi hỏi cộng sản phải tuân theo.

Rất tiếc “đạo quân nón cối” thường dùng lá cờ vàng ba sọc đỏ làm nón cối để hạ nhau, nhất là gây ra sự ngăn cách giữa những người đầu tranh từ phiá bên kia với nhũng người đấu tranh ở hải ngoại, gây khó khăn cho những nỗ lực liên kết để tạo sức mạnh đầu tranh.

Có thể nói sự quậy phá của “đạo quân nón cối” đã vô hiệu hoá hay phá vỡ nhiều nỗ lực chống cộng ở hải ngoại gấp trăm lần Nghị Quyết 36 của đảng CSVN. Nó cũng đã phá vỡ nhiều sinh hoạt cộng đồng. Chỉ có tòa án Mỹ mới ngăn chận được “đạo quân nón cối”. Nhưng đạo quân này chỉ biến đi khi thế hệ di dân đầu tiên của chúng ta qua đi. Đó là một điều bất hạnh cho dân tộc.

Lữ Giang

(2.6.2009)
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Lời Ngay Mất Lòng:
Chúng Ta Sẽ Còn "Thua" Việt Cộng Dài Dài Nếu…



Cuộc chiến Việt Nam mặc dầu đã được kết thúc trên ba chục năm nay, nhưng nhiều người vẫn còn tự hỏi, “Quân đội của chúng ta hùng mạnh như vậy, tinh thần chiến đấu của quân đội chúng ta anh dũng như vậy, nhiều quân nhân còn xâm chữ “Sát Cộng” vào cánh tay, còn đồng bào ta thì sợ Việt Cộng như cùi, như hủi, bọn chúng tới đâu là đồng bào ta bỏ chạy tới đó, vậy mà tại sao chúng ta lại thua Cộng Sản? Đành rằng nguyên nhân gần và trực tiếp là vì chúng ta bị đồng minh tức Hoa Kỳ bỏ. Nhưng còn nguyên nhân sâu xa là gì? Đã có rất nhiều chính trị gia, chiến lược gia, sử gia Việt Nam cũng như ngoại quốc phân tích và đã đưa ra rất nhiều lý do, chủ quan cũng có, khách quan cũng có, nhưng chưa thấy tác gỉa nào nói tới lý do đạo đức và luật pháp.
Vì đạo đức, chúng ta không thể bắt chước Cộng Sản, “thà giết lầm còn hơn tha lầm”. Bắt được những tên Cộng Sản, những tên Việt Gian, những tên ăn cơm Quốc Gia, thờ ma Cộng Sản, chúng ta vẫn đối xử nhận đạo. Hẳn chúng ta còn nhớ, vào năm 1955-1956, một phong trào mang tên là Phong Trào Hòa Binh do các Phạm Huy Thông, Lưu Văn Lang, Trần Kim Quan v.v…thành lập. Đây là một phong trào thiên Cộng họạt đông với mục đích hỗ trợ cho Việt Cộng và đòi Tổng Tuyển Cử theo Hiệp định Geneve 1954, chính phủ Ngô Đình Diệm cũng chỉ tống xuất một vài tên qua cầu Hiền Lương ra Bắc.

Đến đầu năm 1965 cũng có một phong trào mang tên tương tự là “Phong Trào Tranh Đấu Bảo Vệ Hòa Bình do những tên Việt Gian, Ăn Cơm Quốc Gia, Thờ Ma Cộng Sản thành lập như Thượng Tọa Thích Quảng Liên, Bác Sỉ Thú Y Phạm Văn Huyến, Nhà Báo Phi Bằng tức Cao Minh Chiến, Giáo Sư Tôn Thất Dương Kỵ, Bác Sĩ Lê Khắc Quyến v.v… Gần 30 thành viên của phong trào này đã bị bắt giữ, trong đó có Cao Minh Chiến, Tôn Thất Dương Kỵ và Phạm Văn Huyến. Tướng Nguyễn Chánh Thi đã đề nghị thả dù bọn này ra bắc vỹ tuyến 17 tức bên kia cầu Hiền Lương cho Việt Cộng. Nhưng Thủ Tướng Phan Huy Quát vì lý do nhân đạo, sợ làm như vậy bọn chúng có thể gẫy chân, què tay vì bọn chúng đâu biết nhẩy dù, nên đã lấy cớ rằng làm như vậy, quốc tế sẽ chỉ trích, và chỉ đồng ý giải giao bọn chúng cho Việt Cộng bằng đường bộ qua cầu Hiền Lương.

Vì luật pháp, chúng ta cũng không thể cho chúng mò tôm, bắt ốc như bọn Cộng Sản đã làm đối với những người quốc gia, mà chúng ta phải đưa chúng ra tòa để xét xử theo luật pháp. Nhiều khi chúng ta còn rất nhẹ tay với chúng. Dù có tội thì cũng chỉ giam giữ ít lâư rồi lại thả ra. Trường hợp tử hình, thật là hiếm. Không những thế, nhiều khi còn để tình cảm lấn áp. Do đó có những trường hợp kẻ bị bắt có thế lực hoặc có liên hệ với các ông lớn trong chính quyền VNCH được can thiệp và cho tại ngoại ngay từ lúc mới bị bắt hoặc được cho biết trước để mà chạy trốn hoặc phi tang chứng cớ. Trường hợp điển hình là trường hợp của Trần Đình Ngọc, giáo sư trường Đại Học Khoa Học Saigon; vì có hoạt động cho Việt Cộng nên bị bắt. Ông Nguyễn Chung Tú, Khoa Trưởng Trường Đại Học Khoa Học Saigon đã lấy tư cách và uy tín của mình để bảo lãnh cho ông Ngọc. Vì thế, ông Ngọc không những đã được tại ngoại mà cũng chẳng phải ra toà lãnh án.

Vụ Têt Mậu Thân 1968, không thiếu gì những tên Việt Cộng giết người một cách dã man, giết người một cách vô tội vạ, giết người hang loạt, vậy mà bọn chúng đâu có đưa air a tòa? Còn chúng ta, nếu vì qúa tức giận trước những hành động qúa độc ác, dã man cuả bọn chúng mà tự ý giết một tên Việt Cộng nào đó, thì dù có lý do chính đáng đến đâu cũng vẫn bị kết tội là dã man, là vô nhân đạo. Nếu không bị đưa ra tòa thì cũng bị nhiều người phê bình và thế giới nguyền rủa. Đó là trường hợp của tướng Nguyễn Ngọc Loan đã xử tử tên Việt Cộng Nguyễn Văn Lém tự Bẩy Lớp, kẻ đã sát hại cả gia đình một sĩ quan cảnh sát vào Tết Mậu Thân 1968.

Ngày nay, ở hải ngoại cũng vậy, những người chống Cộng luôn luôn bị một số người vin vào lý do đạo đức, văn hóa để chỉ trích người khác. Nếu chống Cộng hăng say qúa thì bị chỉ trích là quá khích. Nếu dùng danh từ mạnh mẽ qúa hay bình dân quá thì bị phê bình, chỉ trích là ấu trĩ, là thiếu văn hóa, là phản tuyên truyền có khi còn bị nhục mạ là hạ cấp, là vô học.

Bọn Việt Cộng ăn gian nói dối cả trăm ngàn lần dân chúng trong nước đâu ai dám nói gì. Trái lại, ở hải ngoại, nếu có ai vì chống Cộng nói sai một chút, nói qúa lời một chút, mà đâu có phải nói họ mà chỉ là nói bọn Việt Cộng hoăc bọn Việt Gian Cộng Sản là bị chỉ trích, bị phê bình liền, có khi còn bị mạ lỵ. Bọn người này, không biết họ thuộc loại nào, có thể là bọn Việt Cộng nằm vùng, có thể là bọn Việt Gian Cộng Sản, nhưng cũng có thể chỉ vì cảm tinh cá nhân, nói ra họ lại la làng là bị chụp mũ này, mũ nọ. Có điều chắc chắn là không bao giờ thấy họ viết một bài nào chống Cộng, hoặc nếu có thì cũng chỉ hời hợt hoặc vô thưởng, vô phạt để chứng tỏ ta đây cũng là người chống Cộng còn những bài viết chỉ trích những người chống Cộng thì phê bình chỉ trích tới nơi, tới chốn. Gọi ngụy quyền Cộng Sản Việt Nam là chính quyền Việt Nam mà chỉ trích thì đã đành. Viết hai chữ Cộng Sản là CS hay Việt Cộng là VC cũng bị chỉ trích hoặc gọi bọn bưng bô cho Việt Cộng hay làm lợi cho Việt Cộng là Việt Gian Cộng Sản cũng bị chỉ trích. Thật hết chỗ nói.

Trong khi đó, bọn Việt Cộng tung ra hải ngoại không biết là bao nhiêu là cán bộ đội lốt ca sĩ, du sinh, thày tu, bất đồng chính kiến v.v…thì chẳng thấy những người này nói tới. Chính vì vậy mà ngày nay, văn hóa phẩm của Việt Cộng tha hồ bầy bán trên thị trường hải ngoại và bọn Việt Gian, bọn tay sai Cộng Sản tha hồ tung hoành tổ chức nhạc hội gây qũy từ thiện, nhiều khi bọn chúng còn dám tổ chức triển lãm, hội thảo nữa mà cũng chẳng mấy ai dám nói tới, khiến bọn chúng lộng hành.

Trường hợp Cô Tim và Căn Nhà May Mắn là một thí dụ điển hình. Cô được Hội Người Việt San Fernando Valley, California tổ chức buổi Văn Nghệ Gây Qũy cho cô vào ngày 25 tháng 10 năm 2008. Cô Tim không những không chào cờ VN Cộng Hòa đã đành, cô còn ra lệnh cho ông Chủ Tịch Richard Mười Trương và những người trong ban tổ chức phải dẹp bỏ cờ vàng ba sọc đỏ đi cô mới chịu đăng đàn nói chuyện. Vậy mà ông Chủ Tịch Mười Trương và những thành viên trong ban tổ chức đã răm rắp nghe theo. Thà cứ như chùa Pháp Vân ở Canada trong buổi gây qũy cho cô Tim chẳng cờ quạt gì cả còn hơn. Đằng này ông Chủ Tịch mười Trương cũng cũng chào cờ quốc gia, cũng hát quốc ca VNCH, cũng mặc niệm, nhưng khi nhân vật chính là cô Tim lên diễn đàn nói chuyện, thì ông lại nghe lệnh cô Tim dẹp cờ vàng đi.

Hành động này, không khác gì mượn danh từ thiện để hạ nhục cờ quốc gia VNCH. Ấy vậy mà vẫn còn có kẻ bênh vực cho cô Tim, vẫn đòi hỏi phải có bằng cớ rõ ràng mới có thể kết tội cô là người của Việt Cộng. Chắc bọn Việt Gian Cộng Sản muốn chúng ta phải trưng ra thẻ đảng viên của cô hay ít nhất cũng phải có giấy công tác của cô do Việt Cộng cấp?
Và gần đây, ngày 7 / 5 /09, Tiêu Dao Bảo Cự, một tên bất đồng chính kiến cuội đã được bọn Việt Cộng cho sang Hoa kỳ và đã tới Đại Học Berkley thuyết trình về nhà thơ Hữu Loan với bài thơ Đồi Tím Hoa Sim nhưng chẳng thấy y nói gì tới bài thơ Đồi Tím Hoa Xim mà chỉ thấy y khuyến dụ sinh viên về nước giúp ngụy quyền Cộng Sản Việt Nam.
Ngày nay bọn Việt Cộng biết rằng cái chính nghĩa của chúng do sự tuyên truyền và bịp bợm mà có không còn có thể che dấu được nữa, nhất là đồng bào hải ngoại. Do đó chúng đã tìm mọi cách để xâm nhập vào cộng đồng người Việt Hải Ngoại để tìm cách chia rẽ và phá hoại sự đoàn kết của chúng ta. Chúng như con bạch tuộc. Nếu con bạch tuộc có nhiều chân thì bọn Việt Cộng có nhiều tiền. Bọn chúng sẵn sang tung tiền ra để mua chuộc những thành phần lưu mamh, ham danh, hám lợi, những thành phần ngu dốt, mê muội, tưởng chế độ Cộng Sản đã thay đổi, tưởng chúng muốn hòa hợp, hoà gỉai với người quốc gia để xây dựng đất nước. Do đó, chúng ta thấy ở bất cứ nơi nào, Hội đòan nào, Diễn đàn nào, cũng có đầy dẫy nhưng kẻ luôn luôn tìm cách phá thối, lũng loạn để gây chia rẽ.


Tóm lại, đã gọi là chống Cộng thì phải chống Cộng tới nơi, tới chốn, Bởi vì bọn Việt Cộng là một bọn cướp vô học. Không những vô học, bọn chúng còn dã man, còn tàn bạo. Chống chúng, không thể dùng những lý lẽ của Không Tử, những lời dạy của Đức Phật hay của Đức Ki Tô, mà phải dùng những lời lẽ của những bà mẹ nông dân Việt Nam hay ít nhất cũng phải là những lời lẽ của những người bình dân đang bị VC cướp của, cướp nhà. Những ai không chống Cộng hay không dám chống Cộng vì còn muốn về Việt Nam làm ăn với Việt Cộng hay về VN để ăn chơi du hí thì hãy im cái mồn lại, để người khác chống Cộng, Đừng đạo đức gỉa, đừng quân tử Tầu mà chỉ trích người khác. Thật buồn khi thấy trên các báo chí cũng như trên các diễn đàn, những bài chống Cộng thì ít mà những bài chống nhau thì nhiều.

Chúng ta phải coi chừng, đừng mắc mưu bọn Việt Cộng nằm vùng hoặc bọn Việt gian Cộng Sản mà quên đâm thẳng mũi dùi vào bọn Việt Cộng mà lại quay mũi dùi đâm vào anh em. Nếu không, chúng ta sẽ còn thua Việt Cộng dài dài...

Cổ nhân đã dạy:

Đi với Bụt, mặc áo Cà Sa,
Đi với Ma, mặc Áo Giấy./-

Lê Duy San
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Hà văn Thịnh với Bài «Chủ trương lớn của đảng ta!

Hà văn Thịnh hiện là giảng viên Sử của Đại Học Huế. Ngoài việc rao giảng lịch sử đảng Cộng sản trong giảng đường cho các em sinh viên thấm nhuần công lao trời biển của đảng ta và « Ơn Bác, ơn đảng » ra, ông còn ký hợp đồng viết bình luận cho báo Lao Động.

Ngày 19/01/09 ông viết một bài về vụ khai thác bô xít trên Tây Nguyên nhan đề «Gánh nặng của thế hệ hôm nay» đăng trên báo Lao Động cùng ngày. Nội dung là lên án việc khai thác tài nguyên bừa bãi, của đảng không cần biết đến hệ lụy về môi trường sống. Có đoạn rất cứng: (trích)

« Có tài nguyên thiên nhiên là tốt, cần lắm. Nhưng, có những đất nước không có tài nguyên vẫn giàu có như thường – bài học từ Nhật Bản là một dẫn chứng điển hình. Nếu chúng ta cứ vắt thật nhanh, bòn thật nhiều « của để dành » cho con cháu, thì mai này lịch sử sẽ ra sao ? Dù muốn hay không, chúng ta buộc phải thừa nhận rằng chưa bao giờ tài nguyên của đất nước bị khai thác một cách vội vã đến như thế và, chưa đủ tinh thần trách nhiệm đến như thế.

Phải giải quyết xong « bài toán » chất thải từ việc khai thác các loại quặng trước khi khai thác nó, đó là nguyên tắc. Phải tính toán sao cho tài nguyên của đất nước được chia đều cho nhiều thế hệ là bổn phận của người đi trước. Đây không là chuyện hôm nay, mà là lợi ích dài lâu. Nếu không vì lợi ích dài lâu, đất nước ta sẽ không phát triển bền vững. »

Sau đó ông cùng nhiều người ký tên trong bản kiến nghị gửi lên đảng để phản đối việc khai thác bô xít.

Thật ra bài báo cũng không có gì đáng nói. Nội dung không có gì mới mẻ hơn và không bằng nhiều bài báo khác của các nhà khoa học hay hai bức thư của tướng Giáp, đã phân tích tỉ mỉ vấn đề thảm họa môi trường, hiệu quả kinh tế, an ninh lãnh thổ v.v…đầy đủ hơn, giá trị hơn nhiều.

Điều đáng nói ở đây là bài viết tiếp theo ngày 27/4 cũng của ông giảng viên sử Hà văn Thịnh, sự việc lại quay ngoắc lại bài trước 180 độ, khiến cho nhiều người đọc phải bất ngờ đến độ sững sờ.

Có người gọi ông là con thò lò hai mặt. Có kẻ kêu ông là con kỳ nhông, một loài bò sát có khả năng đổi màu da rất nhanh ở môi trường thích nghi như ở cát thì màu trắng, ở bụi rậm thì màu xanh.

Số là, sau khi bài báo ngày 19/1 đăng ít lâu thì ngày 24/4 Bộ Chính trị ra Thông báo số 245 TB/TƯ có « Kết luận của Bộ Chính trị về bô xít » về việc quy hoạch phân vùng, thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng quặng bô xít giai đoạn 2007-2015, có xét đến năm 2025 thì ngày 27/4 ông Hà văn Thịnh lập tức viết ngay bài « Sáng tỏ sự cân bằng đúng » để ca tụng « Chủ trương lớn của đảng ta » là đúng đắn và cần thiết, có nội dung trái ngược hẳn lại bài trước.

Xin trích vài điểm trong 5 điểm ông đã chỉ ra và khen nức nở đảng ta là vô cùng anh minh, sáng suốt trong việc «đường ta ta cứ đi mặc chó cứ sủa» trong việc «cõng» Trung Quốc vào Tây Nguyên để chúng tha hồ làm vương, làm tướng trong việc khai thác bô xít:
…
« Thứ hai, ‘ hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội’ là sự cân bằng đúng và đủ cho cả hai mặt lợi ích và bền vững. Cách nhìn nhận vấn đề như thế thể hiện sự tỉnh táo cần thiết trong giải pháp trước mắt và cả giải pháp chiến lược lâu dài.
…
Thứ năm, qua vấn đề bô xít, phải rút ra những bài học sâu sắc về sự hiểu biết và dư luận. Đa số người dân không hiểu tường tận sự thật của vấn đề nên dễ bị lợi dụng và bị kích động, đưa một chuyện riêng về kinh tế thành nguy cơ về chính trị, an ninh. Trong khi đó BCT đã khẳng định ‘không sử dụng lao động phổ thông nước ngoài’, tức là đã nhìn thấy bằng tầm nhìn xa một cách rõ ràng. Mặt khác, một vấn đề ở đây là ‘dân biết, dân làm, dân kiểm tra’.

Trách nhiệm của giới trí thức là rất lớn trong việc đánh giá, xem xét các lợi ích cục bộ và lợi ích tổng thể, kịp thời và chính xác trong việc tham mưu cho Đảng và Nhà nước trước những nhiệm vụ cấp bách, liên quan đến sự nghiệp của dân tộc, tương lai của đất nước. Đảng lắng nghe và thấu hiểu ý kiến trí thức, nhưng không có nghĩa bỏ qua viêc một số người lợi dụng điều đó để xuyên tạc chống phá. »

Sau bài báo «tắc kè đổi màu da », dư luận trong nước rất bất bình về cái ông giảng viên khoa sử Hà văn Thịnh này. Đã có nhiều bài viết phản bác ông rất nặng ký. Nhưng tình trạng càng tệ hại hơn khi ông viết thêm một tâm thư gửi cho những người cùng ông ký kiến nghị phản đối. Vì bức thư này, ông Thầy sử Hà văn Thịnh lại càng bị phạng thêm nhiều quả búa tối tăm mặt mũi vì đã để lộ ra cái hèn của một anh nhà giáo, cam tâm uốn gối, khom lưng làm văn nô, bồi bút quá ư lộ liễu và trơ trẽn.

Xin đan cử hai bài phản bác làm điển hình, các tác giả vừa trích ý thư của ông vừa bình:

1/ Ông V.Quốc Uy trong bài 2 viết: «Chữ ký của một kỳ nhông»
và «Đừng xóa tên ông Thịnh »,


ông Quốc Uy đánh giá:« Trong bài ‘Chữ ký của một kỳ nhông’ tôi đã phác họa chân dung hai ông Hà văn Thịnh trái ngược nhau, một CHÍNH một TÀ, có vẻ trắng đen phân biệt, nên khó tin là một người. Nhưng sau khi đọc ‘Thư ông Hà văn Thịnh’ gửi những người đã gửi kiến nghị’ thì tôi lại tưởng tượng chân dung ông Hà văn Thịnh sinh động hơn. Sự đời không phải chỉ có CHÍNH hay TÀ, mà còn có ‘cải TÀ qui CHÍNH’, ‘cải CHÍNH qui TÀ’, có khi lại ‘TÀ CHÍNH luân phiên’.

Thiên hạ bình phẩm. Người thì cảm động trước ‘lời thú tội’ thành thực của ông Thịnh, chỉ thương chung cho cái kiếp nhà báo, nhà văn Xã hội Chủ nghĩa. Ngược lại, có người càng mất cảm tình với ông Thịnh hơn, vì ông đã lôi cả đám cùng nhúng chàm vào để làm nhòe đi cái trách nhiệm và tư cách cá nhân. Người ta nhại :

Bút nô là tại ‘hướng đình’
Cả làng nô bút, đâu mình Hà Văn… ?

Phải ghi nhận công của ông Hà văn Thịnh trong bức thư này là đã nói toẹt ra (một cách hơi Chí Phèo) về cái ‘hướng đình’ (định hướng) đã làm cho ‘cả làng toét mắt’. Tôi thấy nên cám ơn ông vì với bức thư ấy ông đã cung cấp những sự thực của một ‘người trong chăn’, để nhắc nhở cả làng phải mau mau xoay lại cái ‘hướng đình’ (nếu không thì chẳng những toét mắt mà còn mù cả lũ cho mà xem).

Xin trích mấy câu của ông Thịnh để ghi lại cái công ấy :

« Nói là bồi bút cũng phải, không sai đâu. Thế nhưng, cần phải lật ngược vấn đề rằng có ai ăn lương hiện nay mà đã không từng một lần ‘bồi bút’? CNXH khoa học sai nhiều như thế, ai nói?

Còn nói dối? Không có một nhà giáo dạy KHXH nhân văn nào không nói dối để nhận lương!

Xin các quí vị hiểu biết lịch sử đúng như nó cần phải được hiểu như thế! »

… Nhưng có lẽ ông Thịnh không đến nỗi yên tâm làm công cụ như những người khác, không hỗn hào như thứ trưởng Bộ Công Thương Lê Dương Quang, dám văng vào mặt những trí thức mà chính những người lãnh đạo cấp cao cũng phải kính nể những lời khiếm nhã như ‘xuyên tạc sự thật’ - nhằm dụng ý xấu – hoàn toàn mang tính bịa đặt và kích động’. Ông Hà văn Thịnh, không biết do bị bạn bè phê phán, hay do sự day dứt của một người đứng trên bục giảng mà trong giây phút nào đó ông đã không chịu nỗi cái thân phận bồi bút, khiến ông quên cả giữ gìn mà tố cáo ra những điều cần phải tố cáo?Cuộc vật lộn giữa vị giảng viên đại học với tên bồi bút dối trá thường không phải một lần là đã phân thắng bại, nhưng bạn bè và sinh viên cổ vũ cho ai, đâu là vinh đâu là nhục thì người thầy giáo chắc phải cảm nhận được. Nhiều bài nhắc đến tên ông Hà văn Thịnh, vì đó không chỉ là tên một người mà còn là một hiện tượng : Hiện tượng Hà văn Thịnh, đầy kịch tính.

Những người như ông Thịnh không ít. Nhưng nhiều, mà vị nào cũng thấy cô đơn. « Chính quyền cho tôi vào sổ đen, còn người trung nghĩa gạt tên mình ra. Đời thật là bi kịch », ông tâm sự rất thật như thế.

2/ Blogger Linh - Tác giả Linh viết trong blog của mình như sau:

(trích) « Ông Hà văn Thịnh viết bức thư nhằm giải bày sự việc ông viết hai bài báo trên báo Lao Động về beauxite có tinh thần trái ngược hẵn nhau vào ngày 19/1 và ngày 27/4. Đọc cứ như hề :

‘Tôi như một kẻ tội đồ. Đảng không tin tôi. Những người chính trực trên đất nước này cũng thế. Có thể, ‘cách đi’ của nhà báo nhọc nhằn, đau đớn đã làm cho tôi không biết cách né tránh hay dùng bút danh. Nhưng đó là số phận. Tôi chấp nhận. Tôi đã lường trước chuyện này lúc toà báo yêu tôi viết khi tôi mới thấy tên mình trong danh sách (ký tên phản đối khai thác beauxite Tây Nguyên) trước đó vài giờ ’.

Muốn kéo cả nhân loại xuống bùn để không phải chịu trách nhiệm cá nhân, ông cho rằng toàn giới nhà giáo (dạy KHXH nhân văn) đều nói dối như ông, toàn giới ăn lương đều từng làm bồi bút như ông.

Và ông thắc mắc với nhũng người phản đối sự tráo trở bất nhất của ông trong hai bài viết trước và sau khi có kết luận của Bộ Chính trị ‘ Hơn nũa, tại sao quí vị không đánh thẳng vào các VIP đi mà lại cứ nhè vào một kẻ phải viết báo để kiếm sống, để mong mỏi chút thay đổi nhạt mờ?’.

… Trong bài 27/4, ông hết lời ca ngợi Bộ Chính trị nào là có chủ trương từ lâu, cân nhắc suy xét kỹ càng, nào là biết tiếp thu ý kiến người dân, nào là có tầm nhìn xa một cách rõ ràng. Thế nhưng trong bài trần tình với những người cùng ký tên vào đơn phản đối việc khai thác beauxite, ông lại viết như thể xoa đầu Bộ Chính trị ‘Lời để kết thúc, tôi muốn nói rằng BCT đã ra thông báo như thế là đã biết sai rồi’.

Vậy là ‘chủ trương đúng đắn’ của BCT là đúng hay sai đây? Hay ông Thịnh là người có biệt tài ngửi gió? Còn ‘thơm’ hay ‘thối’ thì là tùy hướng gió?

Và tác giả Blog Linh kết thúc bài viết dài của mình bằng một câu rất ngắn nhưng cũng rất nặng ký :

« Xem ra ông Thịnh có thể có chữ ‘sĩ’ nhưng ắt là không có chữ ‘sỉ’. Hà văn Thịnh hay Hà Phù Thịnh?
* * *
Kẻ sĩ của một nước mà hèn thì quốc gia ấy ắt sẽ phải suy vong. Nhà nước độc tài đảng trị cộng sản Việt Nam đang đi vào vết xe đổ, bắt sĩ phu trong nước thành kẻ hèn để dễ bề cai trị thì con đường bại vong, mất nước đã thấy sờ sờ ngay trước mắt.

Suốt hơn 60 năm dưới gọng kềm sắt máu của đảng cộng sản Việt Nam giới sĩ phu, trí thức, văn nghệ sĩ… đều bi o ép, bắt buộc dưới mọi hình thức từ bạo lực đến khủng bố, hăm dọa, bao vây kinh tế, bóp bao tử, trù dập… phải phục vụ tuyên truyền, bẻ cong sự thật, làm lệch lịch sử có lợi cho chúng thì chuyện kẻ sĩ bị hèn không phải là chuyện lạ và đáng trách. Không hèn hôm nay thì ngày mai buộc phải hèn chỉ vì để sống còn.

Kẻ sĩ Bắc Hà, ở trong giai đoạn đảng đang say máu ‘giết lầm hơn bỏ sót’, như cá nằm trên thớt, những ai không cúi đầu nghe theo lệnh đảng như Hữu Loan, Phùng Quán, Trần Dần, Phan Khôi…được mấy ai ?

Tuy nhiên điều đáng hổ thẹn ở đây là có người, con số không phải là ít, lại hãnh diện cam tâm khom lưng làm văn nô, bồi bút cho ác quyền mà lương tâm và lương tri không một mảy may ‘bức xúc’ và ‘trăn trở’ với những dòng chữ nhơ nhớp của mình viết ra.

Loại người này luôn luôn chực chờ, rình mò cơ hội để sẵn sàng lập công dâng đảng, bất chấp thủ đoạn cốt chỉ được nhận cái vết… nhơ một thời làm lính văn nghệ cho đảng như Tô Hải đã vạch ra.

Cái đám lính văn nghệ cho đảng hiện nay rất đa số, đa năng, đa hiệu. Ngoài nghiệp vụ của người làm báo là thông tin ra chúng còn làm tài khôn của chó săn, cầm đèn chạy trước ô tô, chiếm luôn quyền hạn của lập pháp, hành pháp và tư pháp nữa. Bài viết của chúng luôn có đủ ba nhiệm vụ: vu cáo, kết tội và hung hăng ra án phạt trong khi đối tượng đang còn trong tình trạng điều tra.

Cứ xem các bài báo của những Xuân Quang (báo Nhân Dân), Như Phong (báo Công An), Anh Quang (báo Hà Nội Mới), Hà văn Thịnh (Báo Lao Động), Thái Nam, Phạm Gia Minh, Nguyễn Ngọc Trân, Thi Nga…và còn nhiều kẻ phải bịt mặt để viết bài vu khống, mạ lỵ, hạ nhục, bôi bẩn đối tượng, ký tên hai chữ tắt P.V để khỏi xấu hổ với chữ nghĩa bẩn thỉu của mình thì đủ biết chúng là loại gì.

Tóm lại, dù chúng có lấy bút danh, bút hiệu gì gì đi nữa để trốn tránh dư luận thì tự thâm tâm chúng cũng là những thứ văn nô, bồi bút, chó săn tệ mạt, hèn nhát.

Một ngày nào đó ‘đảng không tin tôi nữa’ như Hà Văn Thịnh than thở thì rồi chúng cũng sẽ cùng nhau đấm ngực và khóc rống lên, ca bài ca con cá rằng ‘Đời là bi kịch’.

Hãy ngẫm xem hai trường hợp điển hình vừa nêu trong bài, một nhạc sĩ Tô Hải và một giảng viên sử Hà văn Thịnh, ai là kẻ bi, ai là kẻ hài của một kiếp văn nô, bồi bút ?

Nguyễn Thanh Ty 17/5/09
caubennoc
Posts: 553
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:43 pm
Contact:

Post by caubennoc »

Lãnh Thổ Việt Nam: SOS ! SOS !

Vũ Quốc Nam

Image
Trái địa cầu với bản đồ nguyên thủy Việt Nam.
“Phải có can đảm và có đủ lòng yêu nước để quay lưng lại phương Bắc, và tìm đường ra biển”.

Câu văn vỏn vẹn 21 chữ này chính là chủ điểm của bài viết 6050 chữ “Hãy can đảm định hướng đi ra biển” của Nguyễn Văn Lục (NVL), đăng trên Đàn Chim Việt Online ngày 27 và 28 tháng 3 năm 2009. Có thể nói bài viết lòng vòng dài lê thê này làm công việc dọn đường trước cho CS Việt Nam để bình thường hóa việc CS Việt Nam đã dâng cho Trung Cộng (TC) không những ải Nam Quan, thác Bản Dốc, mà còn tất cả những tỉnh thành của Việt Nam giáp giới với Trung Hoa nữa.

Để tạo ấn tượng là người chống cộng quyết liệt NVL đã cực lực đả kích CS Việt Nam lệ thuộc sâu đậm vào TC từ nửa thế kỷ trước, và đã để cho TC mở những thông lộ chiến lược giữa TQ và Việt Nam. Tiếp theo, NVL đã nại ra một số lý cớ để chứng minh dù Việt Nam ngày nay muốn lấy lại những vùng lãnh thổ của Việt Nam mà TC đang chiếm đóng, Việt Nam cũng không đủ sức để có thể đảo ngược được tình thế, dù bằng giải pháp quân sự hay ngoại giao.

Về quân sự, so với TC, Việt Nam thua kém xa, rất xa từ quân đội tới quân khí, không thể nào đủ sức để chống cự lại TC. Ngoài ra, TC còn một lợi thế khác nữa, đó là số người Hoa đông đảo sinh sống ngay tại Việt Nam . (Mà số người này đã gia tăng nhanh chóng do chính sách cho người Tầu tự do ra vào VN không cần chiếu khan). Bình thường, đám người Hoa này là một đạo quân tình báo; khi xảy ra chiến sự, họ là đạo quân xung kích của TC đã hiện diện ngay trên đất nước Việt Nam .

Về giải pháp ngoại giao, “chỉ còn con đường ngoại giao, nếu Việt Nam ở thế mạnh”. Nhưng so với TC, Việt Nam , cũng hoàn toàn ở vào thế yếu, rất yếu, dù rằng Việt Nam đã được vào Liên Hiệp Quốc.

Vì thế, theo lập luận của NVL, hay đúng hơn, theo lập luận của CS Việt Nam, “Việt Nam không còn lối thoát nào khác hơn là hướng ra biển...điều tối quan trọng liên quan đến sinh mạng đất nước lại là vấn đề địa lý-chính trị (geopolitics), bắt buộc Việt Nam không nên bám vào đất. Nhất là mỏm đất 6 tỉnh dính liền biên giới với Tầu Cộng sản.”
Image
Trái địa cầu do Trung Quốc sản xuất gần đây với bản đồ Việt Nam bị cắt xén.
Chính CS Việt Nam từ Hồ Chí Minh trước kia, tới Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng, Nông Đức Mạnh ngày nay, vì tham vọng mù quáng về quyền lực và quyền lợi phe đảng và cá nhân, bất kể quyền lợi dân tộc và tổ quốc, đã âm thầm, nhường đất, nhượng biển cho TC để nhận được sự bảo hộ của TC, nên mới dẫn đến hiện trạng của đất nước như ngày hôm nay.

Để xoa dịu những xót xa phản ứng của quần chúng đối với tình trạng lãnh thổ đã mất, và, cũng có thể, do TC hối thúc để hợp thức hóa việc xâm lấn đất đai Việt Nam thành đất đai của họ, CS biến thái qua lời của NVL, đã khẳng định: “Việt Nam phải giàu lên từ biển, mạnh lên từ biển. Trời đã ưu đãi cho đất nước Việt Nam một bề dài là biển mà ta chưa tận dụng hết”. Và “biển với kinh tế hải sản”, “biển với du lịch”, “biển với giao thương hàng hải”, “biển với kinh tế khoáng sản”, “biển sẽ là tiềm năng, nguồn hy vọng của Việt Nam”... Những lời này chẳng qua chỉ như trò dỗ trẻ “phần đất bị mất chẳng ăn thua gì, hãy quên nó đi, tài nguyên trải ra của biển mới là chủ yếu của tương lai”.

Và, cũng chính CS Việt Nam đã âm thầm nhượng cho TC một số tỉnh biên giới phía Bắc, nên không phải vì ngẫu nhiên, hoặc vì lầm lẫn, trên bản đồ quả địa cầu thế giới do TC sản xuất, TC đã vẽ bản đồ nước Việt Nam mất hẳn một phần lãnh thổ từ điểm cực Tây Bắc xuống tới điểm cực Đông Nam miền Bắc. Bờ biển Việt Nam không còn là hình chữ S, mà đã trở thành hình chữ J. Thông báo của TQ mới đây cấm ngư dân VN đi đánh cá từ vĩ độ 12 trở lên có ý nghĩa gì nếu không phải là khẳng định cho rõ vùng lãnh hải VN mà Hà Nội đã bí mật nhượng cho từ gần một thập niên nay?

Sáu tỉnh miền bắc dính liền với biên giới Trung Hoa mà VC, qua bài viết của NVL, kể như là bỏ qua đi. Biển đông từ vĩ độ 12 trở lên là TQ kiểm soát, qua các hiệp ước VC âm thầm ký kết với TC, khẳng định bởi thông cáo cấm ngư dân VN đánh cá mới đây; Khai thác bauxite ở cao nguyên Trung phần hiện nay là “chủ trương lớn của đảng và nhà nước”. Bản đồ trên trái cầu thế giới do TC sản xuất vẽ Việt Nam bờ biển hình chữ J, phần lớn miền Bắc là thuộc Tầu.

Trước những sự kiện như thế, thì từ Hồ chí Minh trở xuống những lãnh đạo CSVN biến thái ngày hôm nay phải gọi là gì? Những kẻ phản quốc, những kẻ bán nước, hay những kẻ tay sai ngoại bang, trước kia là Liên sô Trung quốc, bây giờ là mọi loại tài phiệt lớn nhỏ? Duyệt lại hết mọi điều như thế, mới thấy rằng những lời kêu gọi toàn dân bỏ sang bên mọi khác biệt chính trị để đoàn kết sau đảng và nhà nước chống bành trướng chỉ là quỷ luận, nếu không là ngu xuẩn. Tiếng Việt có một chữ rất chính xác cho những người “đoàn kết” với lãnh đạo tay sai ngoại bang để gọi là cứu nước, là Việt gian.

Vũ Quốc Nam (6/10/2009)
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Súc vật hóa con người

Ngô Nhân Dụng
Trong Hồi Ký của Một Thằng Hèn, nhạc sĩ Tô Hải tố cáo “Âm mưu súc vật hóa con người được tiến hành rất có tổ chức” của đảng Cộng Sản ở Việt Nam, “là tội lớn thứ hai sau tội giết người.” Vì nó biến đổi hệ thống giá trị của nhiều thế hệ người Việt khiến cho bây giờ họ thấy “không có gì quý hơn đồng tiền!”. (trang 398)

Vì không được cơ hội bảo vệ phẩm giá con người cho nên, Tô Hải kể, “Cha con, vợ chồng sẵn sàng kiện cáo, tranh cướp, thậm chí đâm chém nhau” chỉ vì muốn giành nhau một mối lợi. Ông nêu thí dụ một nhà thơ nổi tiếng đã kiện con trai của mình để giành lại một mảnh vườn trước căn phòng của một thi sĩ bạn thân đã chết.

Nền tảng đạo đức của nước ta bắt đầu bị phá từ thời cải cách ruộng đất, bây giờ thuật lại nhạc sĩ vẫn còn thấy xấu hổ. Phương pháp đấu tố của Mao Trạch Ðông không chỉ nhắm giết người mà còn có mục đích hủy hoại những quy tắc đạo lý cổ truyền: “Thử hỏi trước kia ở đất nước ta có thời đại nào làng xóm giết nhau, cha bị con đấu tố, vợ chỉ mặt chồng giữa sân đình gọi là ‘thằng kia!’ rồi đưa ra đầu làng bắn bỏ hay không?”( trang 235)

Vì sợ hãi guồng máy độc tài cho nên, Tô Hải thú nhận, “Tất cả chúng tôi đều sống giả, sống bằng cái đầu và trái tim của người khác... chính tôi, một nạn nhân đồng thời cũng là một tội đồ... là kẻ cố bám lấy cuộc sống, cố nuốt mọi cục phân thối hoắc... mà vẫn làm ra vẻ tươi cười.” (235)

Nhà văn Solzhenitsyn từng nhận xét là một chế độ độc tài cần hai thứ khí cụ: áp bức và dối trá, có cái này phải có cái kia, thiếu một cái không được. Người nào đã chọn cai trị dân theo lối độc tài thì hệ quả tất nhiên là người đó phải dùng cả hai khí cụ: Phải khủng bố, áp bức dân. Và phải dựng lên một bộ máy dối trá, che đậy, lừa bịp cả thế giới.

Ðấu tố, giết người, là nhưng phương cách tiêu diệt những thành phần khó kiểm soát, đồng thời cũng đe dọa những người khác. Nếu không dụ dỗ được thì ép buộc các văn nghệ sĩ phải “làm ra vẻ tươi cười” đóng vai trò “cung văn,” “minh họa,” đó là guồng máy dối trá giúp bảo vệ chế độ.

Chế độ Cộng Sản ở Việt Nam không sáng chế ra những phương pháp cai trị đó. Chính họ đã học được từ các bậc thầy Mao Trạch Ðông, Stalin và Lenin. Người học trò giỏi của những “đại sư quốc tế” này là Hồ Chí Minh. Ai cũng biết Hồ Chí Minh vẫn đề cao Stalin và Mao Trạch Ðông như các vị thánh sống. Ông Hồ nói, theo Nguyễn Văn Trấn kể lại, “Bác cháu chúng ta có thể nhầm chứ đồng chí Stalin không thể nào nhầm được.” Ông cũng nói, “Những điều gì cần viết đã có Chủ Tịch Mao Trạch Ðông viết cả rồi, tôi không cần viết sách nữa.”

Nhưng các bài học quan trọng nhất giúp Hồ Chí Minh thành công trong việc chiếm chính quyền ở nước ta không phải do sách vở dạy mà do kinh nghiệm sống của chính ông. Ông Hồ đã có mặt ở Liên Bang Xô Viết trong những năm chế độ này thi hành các chính sách đàn áp tàn bạo cũng như những vụ xử án dối trá chưa bao giờ thấy trong lịch sử.

Bài học lớn mà Hồ Chí Minh học được ở cả Liên Xô lẫn Trung Quốc là trong lúc thời thế tao loạn thì kẻ nào tàn ác nhất cuối cùng sẽ thắng. Bá thuật sẽ thắng vương đạo. Ðạo đức, nhân nghĩa, chỉ để nói, để tuyên truyền mà thôi; nếu lấy nhân nghĩa ra dùng thì cũng chỉ nên dùng trong thời bình. Còn trong thời loạn, ai dám giết nhiều người kẻ đó sẽ làm chúa thiên hạ. Hồ Chí Minh đã là một Tào Tháo của nước Việt Nam, lại được Stalin đào luyện những bá thuật quốc tế mới do Lenin truyền dạy nữa.

Nhóm Bôn Sơ Vích và Lenin đã thắng trong cuộc nội chiến Nga 1917 - 1920 vì họ dám giết người tàn bạo nhất so với các phe khác. Chế độ Cộng Sản mà Lenin dựng lên đã tồn tại được cũng vì sau khi cướp quyền được rồi họ vẫn dám giết hết những người có ý kiến chống đối. Nếu quá tay giết cả những người không chống mình cũng không sao! Ðó là quy tắc luân lý mới của Lenin nhưng cũng là một quy tắc xử sự của Tào Tháo: Thà mình phụ người còn hơn người phụ mình! Stalin theo đúng chính sách đó để củng cố quyền hành cá nhân, bằng cách tiêu diệt ngay các đồng chí cũ có thể cạnh tranh với mình. Hồ Chí Minh có mặt ở nước Nga trong những năm khủng bố nặng nề đó, ông đã nhập tâm. Và sau này ông lại học được thêm các phương pháp của Mao Trạch Ðông, ông đủ thông minh để thấy Mao còn hay hơn Xít vì thường giết người mà không cần dùng đến đội hành quyết. Ðem người ta ra đấu tố, bỏ đói cho tới chết; dùng “quần chúng nhân dân” làm quan tòa buộc tội, xử tử hình; cùng lúc đó dùng đội ngũ văn công ca ngợi tội ác của mình; đó là những phương pháp Mao Trạch Ðông đã dùng rồi được Hồ Chí Minh áp dụng một cách trung thành.

Người ta thường chú ý đến những tội ác của Stalin mà không chú ý đến thời Lenin sống ngắn ngủi. Trong cuốn sử The War of the World, Niall Ferguson chép một bức thư mà Lenin gửi cho các người lãnh đạo Bôn Sơ Vích ở Penza, ngày 11 Tháng Tám năm 1918, ra lệnh họ phải giết những “phú nông” (kulak) để thực hiện việc cướp thóc lúa nuôi Hồng quân,

“Các đồng chí! Bọn kulak nổi lên phải bị đè bẹp không thương xót... Phải hành động để làm gương cho chúng thấy. 1) Treo cổ (tôi nhấn mạnh, treo cổ để mọi người phải trông thấy) ít nhất 100 tên kulak hút máu người. 2) Công bố tên họ chúng nó. 3) Lấy hết thóc lúa của chúng nó... Phải làm sao để trong vòng 100 dặm chung quanh mọi người đều phải thấy, phải biết chuyện, phải run sợ, và kêu lên với nhau: Họ đang đi giết bọn kulak và họ sẽ đi giết hết bọn kulak...

Tái Bút: “Hãy dùng các đồng chí cứng rắn nhất!” (trang 150)

Không lãnh tụ nào trong cuộc nội chiến ở Nga dám ra lệnh cho phe mình giết nhiều người như đám Bôn Sơ Vích dám làm. Ferguson tính là không kể các người chết vì chiến tranh, “trong những năm từ 1918 đến 1920 có 300,000 vụ hành quyết vì lý do chính trị. Không phải chỉ có những người thuộc các nhóm đối nghịch bị giết mà cả những người Bôn Sơ Vích cũ dám cả gan phản đối đám lãnh tụ mới.” (trang 152)

Dưới thời Lenin, trại lao động tập trung đầu tiên đã được lập ra, đến năm 1920 đã có mấy trăm trại tập trung, làm mẫu cho những trại giam sau này mà Stalin và Hitler bắt chước. Chính tổ chức mật vụ (Cheka) nảy ra sáng kiến “cải tạo” các tù nhân bằng lao động khổ sai. Trại Solovetsky lập ra năm 1923, sang năm 1924 được chính thức gọi là trại cải tạo. Với sáng kiến của Naftaly Aronovich Frenkel, một tù nhân người gốc Do Thái được tuyển để đóng vai cai tù, trại này có chính sách cho những người tù khỏe mạnh ăn no, còn người yếu cho chết đói không sao. Theo Ferguson thì dưới thời Stalin có ít nhất 18 triệu người, đàn ông, đàn bà, và trẻ con đã đi qua các cổng trại tập trung cải tạo (Mao Trạch Ðông có sáng kiến gọi là Lao Cải: Cải tạo con người bằng công việc lao động). Nhưng con số những người đã bị công cuộc tập thể hóa nông nghiệp của Stalin buộc vào đường cùng phải chết đói còn cao hơn nữa.

Ðối với các vị Chúa Ðỏ thì những cái chết đó không có gì đáng kể. Một cán bộ của Stalin giải thích cho cấp dưới nghe về cuộc đấu tranh giữa đảng Cộng Sản và các nông dân không chịu vào tập thể, “Năm nay là một năm đấu sức giữa chúng ta với chúng nó coi bên nào mạnh hơn. Phải qua một trận đói chúng mới biết ai làm chủ. Hàng triệu người đã chết, nhưng chương trình tập thể hóa nông nghiệp sẽ tồn tại mãi mãi. Chúng ta đã thắng!” (trang 204)

Hồ Chí Minh đã chứng kiến những cảnh đó khi tới Nga lần đầu để được đào luyện trong trường cán bộ quốc tế của Stalin, với vai trò đem chủ nghĩa Cộng Sản gieo rắc khắp nơi trên thế giới. Không phải Lenin hay Stalin nói, mà chính Trotsky đã nói câu này, “Con đường dẫn tới Paris và London đi qua Afghanistan, vùng Punjab và Bengal (Ấn Ðộ).” Dù Stalin đã giết Trotsky nhưng ông ta vẫn theo tấm bản đồ bành trướng đó. Trong số các cán bộ được Stalin đào tạo, hai người thành công nhất là Kim Nhật Thành ở Bắc Hàn và Hồ Chí Minh ở Việt Nam.

Cho nên chúng ta không ngạc nhiên nếu Hồ Chí Minh đã sử dụng tất cả các phương pháp dùng bạo lực và dối trá mà Stalin đã thử dùng rất có hiệu quả trong việc cướp quyền hành và củng cố quyền hành. Các phương pháp khủng bố bằng bạo lực ở nước ta có thể nói đã giảm bớt cường độ so với các gì Stalin đã làm, vì văn hóa phong tục Việt Nam khác với tác phong của người Nga. Về bạo lực, chính Mao Trạch Ðông mới là khuôn mẫu mà Hồ Chí Minh đã noi theo. Nhưng về mặt dối trá thì giữa Mao và Stalin không khác gì nhau. Việc sử dụng các văn nghệ sĩ vào việc đánh bóng chế độ, ca ngợi lãnh tụ đã được Stalin dùng trước, sau đến Hitler và Mao Trạch Ðông. Hồ Chí Minh đã áp dụng giống hệt ở Việt Nam.

Chính những hành động đó là cái Nhạc sĩ Tô Hải gọi là “súc vật hóa con người.”

Khi một chế độ độc tài chỉ dùng bạo lực để giết chóc, đe dọa dân, khủng bố dân, thì họ độc ác nhưng vẫn chưa phi nhân.

Có những chế độ không những độc ác mà còn tìm cách hạ thấp nhân phẩm của mọi người dưới quyền, khiến cho họ trở thành hèn hạ, mất tư cách. Ðó mới là biến con người thành “súc vật” thật sự. Tất nhiên, muốn làm cho tất cả mọi người trở thành hèn hạ, đê tiện thì trước đó phải dùng đến các biện pháp tàn ác để đe dọa. Nhưng cái tội biến con người thành những kẻ hèn hạ, mất cả khái niệm về nhân phẩm còn kinh khủng hơn nữa. Tô Hải cho cái tội “súc vật hóa con người” đứng hàng thứ hai sau tội giết người. Có thể đổi lại cũng được. Tội giết người không nặng bằng, nếu vẫn để cho các nạn nhân ngẩng đầu lên chết xứng đáng làm người. Còn hơn bắt người ta sống như súc vật.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Khi Trung Quốc ngự trị thế giới?

Ngô Nhân Dụng

Nhiều người Việt đọc cuốn sách mới của Martin Jacques sẽ thấy lo sợ. Nhưng không cần phải sợ. Cuốn sách mang tựa đề là “Khi Trung Quốc Ngự trị Thế giới.” Ông không đặt câu hỏi: Khi nào họ ngự trị? Ông quả quyết, “Khi...” làm như chuyện đó tất sẽ xẩy ra, không nghi ngờ gì nữa. Tên tiếng Anh là: “When China Rules the World”, với tựa nhỏ: “The Rise of the Middle Kingdom and the End of the Western World.”

Martin Jacques chỉ nhắc lại những sự thật mà nhiều người đã đồng ý: Thế giới đang thay đổi. Trung Quốc đang vươn lên. Mọi người cũng nghĩ như ông, là vai trò thống trị hoàn cầu của Tây phương đang từ từ chấm dứt. Có sử gia như Niall Ferguson thấy hiện tượng xuống dốc của Tây phương đã bắt đầu từ trước Thế Chiến Thứ Nhất, đầu thế kỷ 20. Trong những bài báo trên tờ The Guardian, Martin Jacques thường nhắc đến năm 1945 là điểm bắt đầu của khúc quanh đó, khi các thuộc địa vùng lên giành độc lập.

Nhưng sau khi thế giới dần dần thoát khỏi vòng ảnh hưởng của các nước Âu Châu và Mỹ rồi, thì trong thế kỷ 21 này sẽ có nước nào thay thế vai trò đó hay không? Martin Jacques quả quyết: Trung Quốc sẽ ngự trị.

Người Việt Nam đã có kinh nghiệm sống 1,000 năm trong cảnh bị Trung Quốc ngự trị, cho nên ai cũng phải suy nghĩ. Có thật Trung Quốc sắp làm bá chủ hoàn cầu hay không?

Trước hết, chúng ta phải công nhận tiềm năng của 1 tỷ 300 triệu người Trung Hoa có thật, và rất lớn. Các nhà kinh tế đều dự đoán rằng tới giữa thế kỷ 21 thì mỗi năm tổng số sản xuất do khối dân khổng lồ này tạo ra sẽ cao hơn cả nền kinh tế của 300 triệu dân Mỹ. Khi đó Tổng Sản lượng Nội Ðịa Trung Quốc đứng hàng đầu, Mỹ và Ấn Ðộ sẽ đứng hạng nhì và hạng ba. Cùng với sức mạnh kinh tế và dân số đông đảo, lực lượng quân sự của Trung Quốc có khả năng mạnh nhất.

Tuy nhiên, người Việt Nam cũng không cần phải run sợ trước những sức mạnh đó. Vai trò bá chủ là một hiện tượng lịch sử diễn ra thời Xuân Thu (722 - 479 trước Công Nguyên) và Chiến Quốc (479 - 221 trước CN). Khi đó những nước hùng mạnh nhất trong lục địa Trung Hoa đứng đầu các nước khác, còn thiên tử nhà Chu chỉ làm vì. Nhưng thời nay khác, và trong thế kỷ 21 này còn khác nữa. Coi như ngay bây giờ cường quốc mạnh nhất thế giới là nước Mỹ, cả về kinh tế lẫn quân sự đều vượt xa các nước đứng hạng nhì, hạng ba. Nhưng điều đó không có nghĩa là các nước khác, dù là những nước nhỏ và gần nước Mỹ đều phải cúi đầu “thần phục.”

Thế giới “đơn cực” với một siêu cường duy nhất đang dần dần thay đổi, mà đó là một điều tốt cho loài người. Tới giữa thế kỷ này chưa chắc Trung Quốc đã đạt được sức mạnh quân sự cao hơn Mỹ. Vì hiện nay khả năng kỹ thuật quân sự của Mỹ đã tiến xa muốn đuổi kịp phải tốn nhiều thời giờ và tiền bạc; mà số chi tiêu về quốc phòng của Mỹ trong một năm vẫn lớn hơn tổng số chi tiêu của tất cả các nước còn lại. Nhưng dù có lúc sức mạnh vũ lực của Trung Quốc và Mỹ ngang ngửa với nhau thì điều đó cũng không có nghĩa là các nước khác phải chịu khuất phục hai quốc gia đó. Chúng ta chỉ cần chứng kiến một nước nhỏ như Bắc Hàn vẫn có thể cứng đầu trước áp lực của cả Mỹ, Nga và Trung Quốc, thì thấy trong thời buổi này không còn nước nào có thể đóng vai bá chủ được. Vào giữa thế kỷ thứ 10 dân Việt Nam chắc chắn nghèo hơn và yếu hơn khối người Hán phương Bắc, so sánh còn còn yếu hơn lực lượng tương đối bây giờ. Nhưng chính lúc đó người Việt Nam đã vùng lên giành lại quyền tự chủ.

Tuy nhiên tác giả Martin Jacques cũng không nhấn mạnh tới sức mạnh kinh tế và quân sự của Trung Quốc khi ông tiên đoán rằng nước này sẽ đóng vai trò thống ngự thế giới. Trong các bài viết trên báo cũng như trong cuốn sách mới của ông, ông đặt ra một hình ảnh mới, đó là vai trò thống ngự bằng văn hóa mà ông tin sẽ do Trung Quốc thủ vai chính. Ông viết, “Khi đóng vai trò thống ngự hoàn cầu, Trung Quốc chắc sẽ nhìn thế giới với một quan điểm có cấp bậc trên dưới (hierarchical view), căn cứ trên chủng tộc và văn hóa.”

Mặc dù đã từng làm chủ bút tạp chí Marxism Today (Chủ nghĩa Mác Ngày nay) cho đến khi tập san này đóng cửa năm 1991 (thật đúng lúc), Martin Jacques cũng từng dạy học ở Singapore nên ông có thể chịu ảnh hưởng của chính phủ nước này, như họ vẫn đề cao vai trò văn hóa trong truyền thống Hán tộc. Ông thấy truyền thống trọng “tinh thần gia trưởng” (paternalism) trong Khổng Giáo vẫn còn rất mạnh trong xã hội Trung Hoa. Họ sẽ khôi phục và đề cao các giá trị trong truyền thống đó, để đối chọi với nền văn minh Tây phương. Ðặc biệt là đối với những nước chung quanh, Martin Jacques cho là chính quyền Trung Quốc sẽ làm sống lại quy chế “thần phục” giống như các nước Triều Tiên, Nhật Bản, và Việt Nam đã chấp nhận trong thời gian trước thế kỷ 20.

Nhưng tiên đoán tương lai Trung Quốc theo lối đó có thể là một việc làm sỉ nhục chính người Trung Hoa. Liệu từ nay cho đến cuối thế kỷ 21, các thế hệ người Trung Hoa có chấp nhận sống theo lối “gia trưởng,” trên bảo dưới nghe như thời nhà Ðường, nhà Minh, nhà Thanh hay không?

Trong dịp kỷ niệm 20 năm biến cố Thiên An Môn vừa rồi, nhà tranh đấu dân quyền Vương Ðán đã phát biểu về tương lai nước ông. Ông khẳng định rằng không sớm thì muộn, Trung Quốc sẽ được dân chủ hóa. Ông tin tưởng là “thế hệ 89” của những thanh niên đã sống qua biến cố Thiên An Môn sẽ thay đổi đất nước họ, trong đó có “những thay đổi về ý thức hệ và về định chế.” Ông nêu lên bốn mục tiêu: Thịnh vượng, Ổn định, Tự do, và Công lý (Prosperity, Stability, Freedom, and Social Justice). Với bốn giá trị căn bản đó, ông tin là người Trung Hoa sẽ lập nền tảng cho một Ðệ Tam Cộng Hòa, tiếp theo hai định chế quốc gia chính trị mà Tôn Dật Tiên (1911) và Mao Trạch Ðông (1949) đã dựng lên.

Trong đầu óc thế hệ trẻ và trung niên ở Trung Quốc, lý tưởng vẫn là xây dựng một xã hội dân chủ tự do chứ không phải là một quốc gia theo tinh thần gia trưởng. Martin Jacques đã nhắc lại những lập luận của chính phủ Singapore khi họ biện minh cho chính sách kiểm soát xã hội một cách chặt chẽ. Họ cho là truyền thống văn hóa Á Ðông coi trọng tập thể hơn cá nhân, sử dụng quan hệ xã hội nhiều hơn dùng luật pháp, và coi tình trạng ổn định tốt hơn là tự do. Có hai điều mà những người lập luận như vậy đã quên hoặc cố ý bỏ qua. Một là không phải chỉ có nền văn minh Trung Quốc mới có đặc tính như thế. Ngay tại các nước Âu châu suốt cả ngàn năm trước khi có những cuộc cách mạng đòi quyền cho con người và quyền của người công dân thì hệ thống giá trị cũng tương tự như vậy. Mặt khác, ngay trong truyền thống Trung Hoa từ thời Xuân Thu đã có những trào lưu tư tưởng đề cao việc sử dụng luật pháp (Hàn Phi Tử) và đề cao tự do cá nhân (Lão, Trang, Dương Chu). Trong hơn hai ngàn năm sau đó, chính quyền quân chủ ở Trung Quốc đã lợi dụng Khổng Giáo làm tư tưởng chỉ đạo cho xã hội, nhưng họ áp dụng phương pháp cai trị của Pháp gia, và ngay trong giới Nho sĩ mọi người vẫn sống theo tư tưởng phóng khoáng của Lão, Trang. Ngay trong tư tưởng Khổng Giáo, Mạnh Tử là người đề cao dân quyền rõ rệt khi ông xác định rằng người dân quý hơn quốc gia còn ông vua thì không đáng kể (dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh). Ông vua không đáng kể vì Mạnh Tử công nhận quyền của người dân khi họ nổi lên giết các ông vua Kiệt, Trụ. Chế độ quân chủ chuyên chế chỉ bắt đầu được các lý thuyết gia theo Nho Giáo biện hộ mạnh mẽ kể từ đời nhà Tống, từ thế kỷ 11, với hậu quả là ba bốn thế kỷ sau nền văn minh Trung Hoa bắt đầu suy sụp. Liệu người Trung Hoa có muốn trở lại với quá khứ đó hay không?

Có lẽ Martin Jacques đã coi thường phong trào đòi tự do dân chủ ở Trung Quốc vì hiện nay chế độ độc tài của đảng Cộng Sản còn rất mạnh. Nhưng ông quên rằng chính nhóm người thống trị nước Trung Hoa hiện nay đang theo một chủ nghĩa ngoại lai đầy sai lầm chứ không phải theo Khổng Mạnh. Họ dùng chiêu bài ý thức hệ Cộng Sản để làm bình phong bảo vệ địa vị và quyền lợi kinh tế của giai cấp thống trị. Ai cũng biết đó là một tấn tuồng giả mạo, dối trá. Có thể nào một tỷ người Trung Hoa chấp nhận hy sinh các quyền tự do căn bản của mình để đánh đổi lại được thấy quốc gia họ được đóng vai thống ngự thế giới hay không? Ðó có thể là một thủ đoạn mà chính quyền Cộng Sản đang sử dụng nhằm ru ngủ dân chúng. Nhưng chắc người Trung Hoa không dễ đánh lừa như vậy. Và chắc chắn không ai có thể đánh lừa họ lâu như như Martin Jacques tiên đoán.

Ðối với người Việt Nam thì trước mối đe dọa của “đế quốc văn hóa Trung Quốc” mà Martin Jacques tưởng tượng, chúng ta cần “giành độc lập” bằng cách xác định lại tất cả những gì trong văn hóa Việt Nam khác hẳn người Trung Hoa. Từ đạo luật Hồng Ðức vào thế kỷ 15, dân tộc Việt Nam đã làm công việc khẳng định đó. Phong tục và luật lệ Việt Nam tôn trọng quyền cá nhân hơn cách sống của người Trung Hoa dưới sự cai trị của nhà Minh, nhà Thanh. Tiêu biểu là phong tục Việt Nam tôn trọng quyền của phụ nữ hơn phong tục Trung Hoa. Trong các thế kỷ 19, 20 người Việt Nam đón nhận các trào lưu văn hóa thế giới một cách rộng rãi hơn đầu óc bảo thủ nặng nề ngự trị xã hội Trung Quốc. Trong khi tìm cách xác định hồn tính dân tộc Việt, chứng tỏ nền văn hiến Việt Nam không phải chỉ là một bản sao chép của văn minh Trung Quốc, người Việt ngay tự bây giờ phải xây dựng tự do dân chủ để cho thấy dân tộc ta có khả năng bước đi những bước trước người Trung Quốc. Khi những chính quyền Việt Nam được dân chúng bầu lên theo các thể thức tự do dân chủ, thì những người cầm đầu chính quyền đó có khả năng mạnh hơn để chống lại những áp lực từ nước láng giềng phía Bắc.

Nhưng niềm hy vọng lớn nhất của dân Việt Nam, và của thế giới, vẫn là tương lai một nước Trung Hoa dân chủ hóa. Chính cái “Ðế quốc Văn hóa” mà Martin Jacques tưởng tượng sẽ là một ảo ảnh. Loài người đang tiếp tục trao đổi các giá trị văn hóa cũng như các sản phẩm kinh tế. Cuối cùng, nền văn minh nhân loại ở bất cứ nơi nào cũng sẽ tôn trọng quyền làm người và quyền công dân trong mỗi quốc gia. Khi hơn một tỷ người Trung Hoa được sống trong tự do dân chủ và người Việt Nam cũng sống trong tự do dân chủ thì mọi người có thể sống chung trong hòa bình, mọi tranh chấp về lãnh thổ, về hải phận sẽ được giải quyết ôn hòa trong luật pháp quốc tế. Sẽ không còn cảnh chính quyền một nước phải quỵ lụy thần phục “thiên triều” nữa.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Ðấu tranh trong chế độ hay đấu tranh trên chế độ

Ngô Nhân Dụng

Trong mọi cuộc đấu tranh với các chế độ độc tài áp bức, những người tranh đấu thường chia làm hai khuynh hướng: Hoặc họ đấu tranh trong khuôn khổ chế độ hiện tại để cải thiện dần dần lề lối cai trị; hoặc họ đấu tranh trên nền tảng chế độ đó buộc nó phải đổi từ căn bản. Lằn ranh giữa hai chủ trương đó có khi không rõ rệt, nhưng cũng đủ để phân biệt khiến người ta có thể gắn cho mỗi nhóm một nhãn hiệu khác nhau.

Trong vụ Luật Sư Lê Công Ðịnh bị bắt rồi chúng ta thấy ông đã bước qua lằn ranh giữa hai chủ trương này. Từ một người vốn chấp nhận đấu tranh trong giới hạn của hệ thống cai trị hiện hành, ông đã vượt ra bên ngoài để đấu tranh trên chính chế độ đó - nếu những tin tức do giới chức công an Cộng Sản đưa ra là xác thực.

Từ căn bản, các luật sư đang hành nghề ở nước nào cũng hoạt động trong giới hạn của chế độ mà họ đang sống. Công việc của các luật sư ở bất cứ nơi nào cũng là sử dụng hệ thống luật pháp đang có sẵn chứ không phải là thay đổi các thứ luật lệ đó. Thay đổi luật lệ là công việc của các người đấu tranh chính trị, và của các đại biểu Quốc Hội, khi Quốc Hội đó có thực quyền. Các luật sư có thể biện hộ chứng tỏ rằng một hành động nào đó không vi phạm các điều luật đang thi hành trong xã hội; nhưng cũng có thể chứng minh rằng một điều luật nào đó là trái ngược với hiến pháp, tức là đạo luật cao nhất của một quốc gia. Trong cả hai trường hợp, người luật sư vẫn hành động bên trong khuôn khổ của chế độ.

Trước đây ông Lê Công Ðịnh đã đóng vai trò đó một cách xuất sắc, khi ông đứng ra biện hộ cho hai luật sư Nguyễn Văn Ðài và Lê Thị Công Nhân ở tòa phúc thẩm mấy năm trước đây. Hai vị luật sư trẻ này cũng là những người chấp nhận tranh đấu bên trong khuôn khổ của chế độ. Và họ bị kết tội theo điều số 88 trong bộ luật hình sự mà ông Lê Công Ðịnh sắp bị truy tố vi phạm điều này.

Nguyễn Văn Ðài và Lê Thị Công Nhân đã bị gán tội “tuyên truyền chống nhà nước Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam,” ghi trong điều 88. Nhưng bộ luật này không định nghĩa thế nào là “chống nhà nước...” cho nên tòa dưới đã nêu tội của họ là “Hạ thấp vai trò lãnh đạo của đảng Cộng Sản, bôi nhọ Hồ Chủ Tịch và các vị lãnh đạo cao cấp của đảng...” Với hai lý do đó, họ kết tội hai người “chống nhà nước xã hội chủ nghĩa...” theo lời lẽ viết trong đạo luật.

Tại tòa phúc thẩm năm đó, Lê Công Ðịnh đặt vấn đề: Không thể “đồng hóa đảng Cộng Sản Việt Nam với nhà nước Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, nếu không sẽ trái với hiến pháp.” Ðây là lần đầu tiên một luật gia ở trong nước Việt Nam đã nêu lên sự kiện này. Nhưng khi dùng các lý luận này Lê Công Ðịnh vẫn đứng trong vòng giới hạn của luật pháp mà chế độ đang sử dụng.

Tòa án Cộng Sản khi đó buộc tội hai luật sư Nguyễn Văn Ðài và Lê Thị Công Nhân vì họ đã “tiếp xúc và trao đổi thông tin về dân chủ và nhân quyền; “ và vì họ đã “Ủng hộ đa nguyên, đa đảng, kêu gọi thay thế đảng Cộng Sản.”

Ông Lê Công Ðịnh đã mỉa mai, “Bàn đến dân chủ và nhân quyền” không thể được coi là “chống nhà nước xã hội chủ nghĩa.” Trừ một trường hợp, ông nói tiếp, “trừ phi nhà nước đó chống lại dân chủ và nhân quyền!”

Ông Lê Công Ðịnh nhấn mạnh rằng các bị cáo chỉ làm công việc phê phán và lên án các hành động vi phạm quyền công dân và nhân quyền, những thứ quyền được ghi trong hiến pháp. Các hành động đó “không thể bị xem là ‘chống nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.’” Trái lại, ông tố cáo, “chỉ những hành động vi phạm quyền công dân và nhân quyền mới là chống hiến pháp;” và do đó, cũng “chống nhà nước.” Một lần nữa, gậy ông lại đập lưng ông! Trong vai trò luật sư biện hộ cho Nguyễn Văn Ðài và Lê Thị Công Nhân, có thể nói Lê Công Ðịnh đã nói lên những sự thật, dùng những lý luận mà chế độ Cộng Sản độc tài không thể cãi được. Cuối cùng trong vụ án đó đảng Cộng Sản chỉ còn cách áp dụng khí cụ riêng của họ, là áp chế, bất chấp lẽ phải, bất chấp lý luận.

Nhưng Lê Công Ðịnh vẫn lên tiếng trong vòng kẽm gai mà chế độ cho phép, đóng vai tranh đấu từ bên trong một cách xuất sắc. Những lời nói của ông được giới thanh niên ở trong nước và bên ngoài nghe và hưởng ứng. Khi đọc bản tin cho biết Luật Sư Lê Công Ðịnh đã chấp nhận những lời tố cáo của công an nói rằng ông đã tiếp xúc và hoạt động chung với những tổ chức tranh đấu dân chủ ở bên ngoài đang vận động lật đổ chế độ Cộng Sản ở Việt Nam, nhiều người có thể nghi ngờ. Vì trong vai trò tranh đấu trong lòng chế độ, ông đã đạt những kết quả đáng kể. Và ông vẫn được an toàn, tiếp tục cuộc sống của một người thuộc giới trung lưu khá giả trong cái xã hội Việt Nam rất trọng kim tiền hiện nay. Ông lại được xã hội chung quanh công nhận khả năng cống hiến của mình trong việc đòi hỏi cải thiện xã hội. Trong một bài đăng trên báo Tuổi Trẻ vào Tháng Hai năm 2006, ông Nguyễn Văn Tiến Hùng đã giới thiệu Lê Công Ðịnh như một luật sư có hiểu biết sâu xa về luật pháp, đã du học ở Mỹ, ở Pháp và có tham vọng cải thiện hệ thống phát luật Việt Nam. Ông muốn hệ thống tư pháp không chỉ dựa trên các đạo luật thành văn theo lối dân luật Napoleon mà còn phải sử dụng các án lệ theo truyền thống Anglo-Saxon. Và “Anh truy đến cùng nguyên nhân tại sao luật chưa ra đời đã trở nên lạc hậu.” Những tham vọng đó có thể được thực hiện ngay trong lòng chế độ, một cách bền bỉ có thể đem lại ích lợi chung cho xã hội chung quanh.

Nhưng nếu những lời tố cáo và xác nhận trên đúng sự thật, thì ông Lê Công Ðịnh đã chấp nhận thay đổi vai trò và tính chất cuộc tranh đấu của mình. Không còn đứng bên trong chế độ mà lên tiếng đòi cải thiện dần dần nữa. Bắt đầu vận động thay đổi chế độ đó từ căn bản. Nếu những điều công an trưng ra là sự thật, và nếu quả thật ông Lê Công Ðịnh không thể chối cãi được đã xác nhận mình làm những việc đó, thì cả hai việc ông làm, là dự tính thành lập một đảng chính trị mới, và soạn thảo dự án hiến pháp mới, đều nhắm thay đổi chế độ Cộng Sản hiện nay bằng một chế độ tự do dân chủ hơn. Ðó là đấu tranh trên chế độ.

Nếu một người ở tuổi ngoài 40, đã có vợ, có con, có trách nhiệm với gia đình, mà chấp nhận bước qua cầu, sang bên kia “sông Rubicon” đi vào một con đường nhiều rủi ro và nguy hiểm, thì điều đó có ý nghĩa như thế nào?

Có thể người đó đã nhận thấy phương pháp đấu tranh trong lòng chế độ hoàn toàn vô ích. Phải thay đổi toàn diện, thay đổi tận gốc rễ.

Chúng ta không biết sự thật ra sao, có những thao thức, biến chuyển như thế nào trong lòng người luật sư trẻ đó. Nhưng chúng ta có thể biết một điều là tâm lý của người dân xã hội Việt Nam đang trải qua một giai đoạn sôi động, không còn dè dặt như trước nữa. Ðặc biệt là trong giới thanh niên, trong giới kinh doanh và các nhà trí thức.

Một người bạn trẻ của tôi, ngoài 40 tuổi, mỗi năm đi về Việt Nam ba bốn lần vì công việc làm ăn, mới từ trong nước ra tuần trước, đã cho tôi biết cảm giác như vậy. Xưa nay anh không để ý tới chính trị, và mỗi lần về nước cũng không nghe những người quen biết và làm việc với anh bàn chuyện chính trị. Nhưng lần vừa rồi thì khác. Trong không khí có những dấu hiệu bất thường. Người ta bàn chuyện chính trị, phê phán chính quyền một cách công khai và sôi nổi, khác hẳn những năm trước. Vụ Bô Xít. Vụ Biển Ðông. Chính sách kinh tế bất lực và tham ô. Từ PMU 18 đến Huỳnh Ngọc Sỹ. Từ Nông Ðức Mạnh đến Nguyễn Tấn Dũng sang Tầu. Ðặc biệt, những nhà kinh doanh từ miền Bắc vào Nam, trước đây vẫn lảng tránh hoặc có thái độ bênh vực chế độ một cách nhẹ nhàng, theo lối “không vạch áo cho người xem lưng.” Họ đã thay đổi. Chính họ gợi ra những sự kiện, những đề tài để công kích chế độ, hình như để chứng tỏ họ không nằm trong nhóm chỉ huy con tầu đang thủng đáy sắp chìm, là đảng Cộng Sản Việt Nam.

Một người bạn của Lê Công Ðịnh đã bị bắt tháng trước là Trần Huỳnh Duy Thức, một doanh nhân thành đạt trong ngành truyền thông. Ông cũng bị buộc tội hợp tác với Lê Công Ðịnh chống nhà nước Cộng Sản Việt Nam, mà theo nhiều người quan sát ở trong nước thì Trần Huỳnh Duy Thức là một người vẫn đứng đằng sau Lê Công Ðịnh trong thời gian qua. Họ cũng tham dự trong một khuynh hướng của chính các đảng viên Cộng Sản muốn thay đổi đảng của họ bằng cách vận động từ bên ngoài đảng. Khi Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản quyết định bắt và truy tố hai người, mục tiêu sau cùng họ muốn là trừ khử khuynh hướng “nổi loạn” ngay trong nội bộ. Họ có tiêu diệt được mầm mống nổi loạn này hay không, chúng ta chờ rồi sẽ thấy.

Cho nên hành động của cá nhân các ông Lê Công Ðịnh và Trần Huỳnh Duy Thức không quan trọng bằng một hiện tượng xã hội lớn hơn, trong đó hai người này có mặt. Ðó là một phong trào đang dâng lên muốn thay đổi toàn diện chế độ chính trị ở Việt Nam. Một nhà kinh doanh thành công trong hệ thống kinh tế của chế độ, và một luật sư thành công trong khi hoạt động trong vòng luật lệ của chế độ đó, cả hai đã phải bước qua ranh giới giữa hai phương pháp đấu tranh. Họ không còn đứng bên trong đòi thay đổi từ từ, mà chấp nhận đứng ra ngoài để tấn công ngay trên những nền tảng của chế độ đã nuôi dưỡng sự thành công của họ.

Ðây không còn là những hành động cá nhân nữa. Cả xã hội Việt Nam đang thay đổi. Nhiều người khác, giới sinh viên, giới trí thức, cả những người trung lưu đang được quyền hưởng thụ, họ đang băn khoăn không biết nên tiếp tục đứng bên trong hay phải bước ra ngoài vòng cương tỏa. Nỗi băn khoăn này sẽ đưa tới những lựa chọn và hành động trong thời gian sắp tới. Chúng ta đã biết trường hợp một đảng viên Cộng Sản là nhạc sĩ Tô Hải. Ông cùng các đảng viên khác đã thấy những ý muốn thay đổi đảng của mình từ bên trong là vô ích, là tuyệt vọng. Tô Hải can đảm viết cuốn hồi ký tự lên án mình, nhưng cũng là lên án cả chế độ đã nuôi dưỡng ông. Tại sao?

Có một lý do thúc đẩy những người còn lương tâm phải bước qua làn ranh giới, là lòng kinh tởm mạnh hơn đức kiên nhẫn chịu đựng. Mọi người trong xã hội đang phải “bịt mũi” chấp nhận sống dưới cái chế độ thối nát đó, mỗi người có thể tự biện hộ với những lý do lớn hay nhỏ về sự chịu đựng này. Nhưng sẽ đến lúc một số người không thể bịt mũi mãi được nữa, và họ càng ngày càng đông. Cảnh thối tha ở chung quanh đã hiển nhiên và trâng tráo tới mức người ta chỉ còn thái độ khinh bỉ và kinh tởm. Ðó là lúc những người tranh đấu bên trong chế độ cũng phải đổi chiến lược. Từ nay phải tìm cách thay đổi chế độ đó từ gốc rễ.

Chú thích: Rubicon là dòng sông mà Julius Cesar đã bước qua, khi quyết định đem quân trở từ xứ Gaule về La Mã dẹp yên những rối loạn trong Thượng Viện, thay vì tiếp tục chờ ở bên ngoài (năm 49 trước Công Nguyên). Khi đã qua sông, không quay lại được nữa.
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Nhà văn Vũ Thư Hiên: "Tại sao lại là Lê Công Định?"

Image
Nhà văn Vũ Thư Hiên (Hình: Ðinh Quát/Người Việt)
Nhà văn Vũ Thư Hiên, “Thiên triều, chỗ dựa duy nhất mà những tên Lê Chiêu Thống, Trần Ích Tắc hiện đại hiến dâng cả linh hồn và thể xác liệu có cứu chúng khỏi mạt lộ?”

LTS: Tin Luật Sư Lê Công Ðịnh bị bắt ngày 13 Tháng Sáu tại Sài Gòn vẫn tiếp tục gây phẫn uất đối với dư luận trong và ngoài nước. Chính phủ Hoa Kỳ cùng một số tổ chức nhân quyền trên thế giới đã lên tiếng yêu cầu giới lãnh đạo Cộng Sản Hà Nội trả tự do tức khắc và vô điều kiện Luật Sư Lê Công Ðịnh. Nhà văn Vũ Thư Hiên hiện sống tại Paris, qua cuộc điện đàm ngắn với phóng viên Ðinh Quang Anh Thái của nhật báo Người Việt, đã cho biết cảm tưởng của ông về việc nhà cầm quyền Hà Nội bắt giam Luật Sư Lê Công Ðịnh.

Tin Luật Sư Lê Công Ðịnh bị bắt không làm tôi ngạc nhiên.

Trong cơn bấn loạn trước phản ứng dữ dội chưa từng thấy về vụ bô-xít Tây Nguyên, Ðảng Cộng Sản tất sẽ phải làm một việc gì đó để chống đỡ, hơn là những lời dối gạt và phỉnh nịnh chẳng được ai tin trên diễn đàn Quốc Hội.

Vụ phản đối bô-xít chỉ là cái cớ cho sự nổ bùng của toàn xã hội chống lại nhà cầm quyền làm tay sai cho ngoại bang. Việc bắt Ðiếu Cày (Hoàng Hải) rồi chụp lên đầu anh cái tội danh nực cười là trốn thuế trước đây, cũng như bắt nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, công nhân Phạm Thanh Nghiên... chỉ vì họ dám biểu lộ lòng yêu nước bằng biểu tình, tọa kháng chứng tỏ sự luống cuống tìm ra lối thoát của nhà cầm quyền độc tài.

Và bây giờ, đến lượt Lê Công Ðịnh. Anh là sự lựa chọn của kẻ cùng đường.

Câu hỏi được đặt ra là: tại sao Lê Công Ðịnh?

Anh có nguy hiểm đến nỗi phải “bắt khẩn cấp” như hệ thống truyền thông chính thống đưa tin cũng khẩn cấp như thế, với lời buộc tội “lợi dụng vấn đề bô-xít Tây Nguyên, Trường Sa - Hoàng Sa để kích động tư tưởng chống đối Ðảng, Nhà nước” không?

Hoàn toàn không. Chẳng có gì là khẩn cấp hết.

Lời buộc tội này phải dành cho ông Tướng Võ Nguyên Giáp mới đúng. Hoặc cho những người chủ trương viết kiến nghị phản đối khai thác bô-xít thu hút hàng vạn người ký tên thuộc đủ mọi tầng lớp xã hội.

Lê Công Ðịnh là một luật sư nổi tiếng, nổi tiếng cả về thái độ ôn hòa trong mối bất hòa với thể chế chính trị hiện hành. Bắt Lê Công Ðịnh chứ không phải ai khác (trong số những người còn nguy hiểm hơn) đảng Cộng Sản tính rằng do Lê Công Ðịnh trong thực tế không tham gia vào tổ chức nào (mà họ biết rõ hơn ai), lại không phải là nhân vật nổi bật trong phong trào đấu tranh cho dân chủ, thì việc làm của họ sẽ đạt được mục đích mà không gây nên phản ứng mạnh. Nhất là họ tin rằng những tin đồn đủ loại được họ rỉ rả tung ra sau đó sẽ được những người mê truyện trinh thám đón nhận như những hồi trong tiểu thuyết Kim Dung. Thế nhưng sự đời lại không diễn ra như những bộ óc đất tưởng tượng. Một làn sóng phản đối bùng lên cả ở trong nước, cả ở hải ngoại. Truyền thông quốc tế, các tổ chức quốc tế, thậm chí cả Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ cũng lên tiếng bênh vực quyền được tự do phát biểu quan điểm chính trị của công dân Lê Công Ðịnh.

Rốt cuộc, chẳng được tích sự gì những cái mũ “Lê Công Ðịnh móc nối với Nguyễn Sỹ Bình, đối tượng cầm đầu tổ chức phản động lưu vong ‘Ðảng Nhân Dân Hành Ðộng’ tại Mỹ và ‘Ðảng Dân Chủ Việt Nam’, Lê Công Ðịnh muốn lập hai đảng đối lập có tên ‘Ðảng Lao Ðộng’ và ‘Ðảng Xã Hội’ để tập hợp lực lượng, đánh từ ngoài vào trong để gây rối loạn lớn ở Việt Nam.” Chưa hết, lại còn tội “lợi dụng việc bào chữa cho số đối tượng chống đối (Nguyễn Văn Ðài, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Hải), Luật Sư Ðịnh đã thông qua các luận cứ bào chữa để thực hiện ý đồ biến các phiên tòa thành diễn đàn tuyên truyền chống chế độ, xuyên tạc Hiến Pháp, pháp luật, lên án chính quyền Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền.” nữa. Cứ như thể là luật sư thì ở tòa án chỉ có việc rống lên “bài ca dâng Ðảng” là đủ. Vui thật.

Tôi chưa từng gặp Lê Công Ðịnh. Tôi chỉ quen anh qua thư từ trao đổi trên Internet. Chừng ấy cũng đủ để tôi không tin những lời nhảm nhí nọ. Nó cũng đại khái như công an nói rằng Lê Công Ðịnh cấu kết với những tên cầm đầu các nhóm phản động Viễn Tượng (Ðoàn Viết Hoạt), Họp Mặt Dân Chủ (Phạm Nam Ðịnh). Hai người này, tôi biết, họ chẳng hề cầm đầu cái gì hết.

Vậy tại sao lại Lê Công Ðịnh?

Những người cầm đầu đảng Cộng Sản cảm thấy mối nguy hiểm lớn lên quá nhanh, nó lừng lững hiện hình trong những bài viết đánh vào “vai trò lãnh đạo của đảng” trên trang web bauxitvietnam (đã không còn chỉ nói riêng chuyện bô-xít nữa) và trên các blogs, với việc Luật Sư Cù Huy Hà Vũ khởi kiện Nguyễn Tấn Dũng, nhất là mối nguy hiểm tiềm tàng đang tăng lên ngay trong hàng ngũ đảng (vụ Thiếu Tướng Công An lê Văn Cương ở Viện Chiến Lược và Khoa Học của Bộ Công An cũng chống khai thác bô-xít), nên họ phải làm gấp một động tác trấn áp nào đó để răn đe làn sóng bất bình đang lan rộng trong dân chúng. Và vô số chuyện khác nữa.

Cái “khối thống nhất không gì lay chuyển nổi” mà Ðảng Cộng Sản thường khoe khoang đang rạn nứt nghiêm trọng.

Và từ những vết rạn ấy, như những tổ mối ở chân đê, có Trời biết, cái thành trì độc tài nọ sẽ sập lúc nào? Và Thiên Triều, chỗ dựa duy nhất mà những tên Lê Chiêu Thống, Trần Ích Tắc hiện đại hiến dâng cả linh hồn và thể xác liệu có cứu chúng khỏi mạt lộ?

Tôi không có lời khuyên nào cho đảng Cộng Sản như bạn tôi, nhà văn Châu Diên, khuyên họ hãy thả ngay Lê Công Ðịnh, được đang trên trang web Diễn đàn.

Với kẻ đã quẫn trí, chẳng có lời khuyên nào lọt tai.

Một biến động xã hội sẽ cho nó lời khuyên hữu ích.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Khủng hoảng ở Iran sẽ đi đến đâu?
Một số nhà quan sát theo dõi diễn biến của những cuộc biểu tình phản đối kết quả bầu cử ở Iran và liên tưởng đến cuộc cách mạng Hồi giáo năm 1979, đến Zimbabwe, và phong trào xuống đường ở Đông Âu cuối những năm 1980.

Nhưng không sự kiện nào tương xứng về sự kết hợp độc đáo giữa màn đụng độ trên đường phố và những cuộc cạnh tranh quyền lực nội bộ đang diễn ra ở Iran.
Image
Người biểu tình ủng hộ Mousavi mang dải băng màu xanh lá cây trên đường phố. Ảnh: Reuters.
Tình hình càng trở nên nguy hiểm và khó đoán hơn bởi cuộc bầu cử và hậu quả của nó dường như làm mọi đối thủ phải bất ngờ, buộc họ phải liên tục ứng biến trước tình hình thay đổi chóng mặt. Tổng thống Mahmoud Ahmadinejad và Thủ lĩnh tối cao Ayatullah Ali Khamenei có vẻ đã phải lùi bước trước cơn sốt ủng hộ ứng viên tổng thống đối lập Mir-Hossein Mousavi. Quyết định công bố chóng vánh chiến thắng cho Ahmadinejad đã làm dấy lên làn sóng phản đối chưa từng có, buộc Khamenei phải yêu cầu điều tra gian lận trong bầu cử.

Cho dù đã ra tay trấn áp những người biểu tình và bắt một số nhân vật chính trị, các lực lượng an ninh vẫn phải dè chừng không tung ra hết sức mạnh đối với những người phản đối. Việc đếm lại phiếu bầu đã mang đến cho Khamenei thêm chút thời gian, nhưng cuộc khủng hoảng về quyền lực của những người đang nắm quyền vẫn đang lớn dần theo từng ngày.

Bạo lực và nguy cơ bạo lực không khiến những người biểu tình nản lòng và Mousavi cũng không có dấu hiệu nào cho thấy sẽ lùi bước. Khamenei có vẻ đang giằng co giữa các cách thức thỏa hiệp, làm sao để thuyết phục Mousavi chấm dứt biểu tình trong khi vẫn giữ Ahmadinejad trên ghế tổng thống. Nhưng kết cục của cuộc đấu trí này có thể phải phụ thuộc vào cách những người trong cuộc xử lý để có sự cân bằng giữa các lực lượng trên đường phố và trong chính trường.

Dưới đây là những kịch bản cho sự kết thúc khủng hoảng chính trị hiện nay ở Iran, cũng những đánh giá về tính khả thi của chúng.

Một: Cuộc cách mạng 2.0

Nhiều người nghĩ đến tình huống như cuộc cách mạng Hồi giáo 1979 ở Iran. Một phong trào biểu tình không vũ trang chỉ có thể lật đổ một chế độ đang nắm quyền với điều kiện các lực lượng an ninh đảo chính hoặc giữ thái độ trung lập. Nhưng các lực lượng an ninh chủ chốt của Iran đều ủng hộ Ahmadinejad. Và họ hầu như chưa sử dụng một chút nào trong sức mạnh của mình. Dù phe đối lập ngày càng thu hút nhiều người ủng hộ, thì vẫn có hàng triệu người Iran ủng hộ mạnh mẽ Ahmadinejad. Vì vậy, chính phủ không thể phá được phe đối lập, và phe đối lập cũng không thể nào lật đổ được chính phủ.

Hai: "Cách mạng nhung" ở Tehran

Những ngôn ngữ cứng rắn mà Ahmadinejad sử dụng để miêu tả phe đối lập cùng hơi hướng của một "cuộc cách mạng nhung" theo phong cách Đông Âu, có vẻ như sẽ dẫn đến một kết cục là cuộc càn quét đẫm máu. Điều đó sẽ xảy ra nếu lực lượng quân đội được triển khai ồ ạt. Rõ ràng, việc sử dụng bạo lực ở mức kiềm chế của Ahmadinejad cho tới nay không thể khiến Mousavi và những người ủng hộ e sợ.

Sử dụng sức mạnh quân sự có thể quét sạch đường phố, nhưng tai tiếng của một cuộc đàn áp sẽ là một vết thương chí tử đối với uy tín của chính quyền đương thời, vốn do các giáo sĩ dòng Shi'ite đỡ đầu. Một cuộc đàn áp sẽ có nguy cơ giảm uy tín của đế chế dựa trên uy quyền của các giáo sĩ.

Ba: Khamenei để hai ứng viên cạnh tranh trực tiếp

Khamenei mập mờ khi tuyên bố vị trí của mình là Thủ lĩnh tối cao - có nghĩa là "trên mọi người, dưới một người". Ông công nhận một cách chóng vánh chiến thắng của Ahmadinejad và yêu cầu mọi người dân Iran chấp nhận. Nhưng sự bất ổn gia tăng ngoài đường phố khiến Khamenei phải lùi bước và yêu cầu tiến hành điều tra về gian lận bầu cử. Nếu sự kết hợp của biểu tình leo thang và sự phản đối của các thành viên trong chính phủ buộc Khamenei kết luận rằng chiến thắng của Ahmadinejad là không chính đáng, ông sẽ phải yêu cầu bầu cử lại, hoặc, điều chỉnh kết quả để không ai chiếm đa số và Ahmadinejad và Mousavi sẽ phải cạnh tranh trực tiếp.

Với sự cứng rắn của Ahmadinejad cùng sự ủng hộ của lực lượng an ninh ở phía sau, Khamenei có nhiều khả năng tìm đến một thỏa hiệp sao cho Ahmadinejad vẫn tại chức.

Bốn: Bắt chước Zimbabwe

Một sự lựa chọn nữa có lẽ là dàn xếp một thỏa thuận tương tự cách giúp tổng thống Zimbabwe - Robert Mugabe - nắm quyền cho dù gần như thua trong cuộc bầu cử, theo đó yêu cầu phe đối lập chịu vào một vị trí quan trọng nhưng thấp hơn tổng thống trong chính phủ.

Bằng cách đó, Khamenei hy vọng phe đối lập sẽ bị mềm lòng khi được giao một vị trí trong chính quyền, đồng thời cam kết một cách thức điều hành ôn hòa hơn của Ahmadinejad. Tuy nhiên, viễn cảnh này chỉ khả thi khi Mousavi tin rằng mình thực sự thất bại trong cuộc chiến và sẽ bị bất lợi hơn nếu để người biểu tình tiếp tục ra ngoài đường phố. Nhưng hiện chưa có dấu hiệu nào cho thấy phe đối lập cảm thấy mình thất thế.

Diệu Minh (theo Time)
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 9 guests