Những cánh chim dịu dàng, thơ mộng
trong cõi giới âm nhạc Tuấn Khanh
Du Tử Lê

Nhạc sĩ Tuấn Khanh, 8 tuổi, hàng đầu, thứ hai, từ phải. (Hình: Tư liệu TTN)

Bìa bản nhạc “Chiếc lá cuối cùng” do nhà Minh Phát xuất bản, Sàigòn, 1963. Ảnh nữ ca sĩ Minh Tuyết, photo by Viễn Kính. (Hình: Tư liệu TTN)
Tôi không biết trong quá khứ, đã có một nhà thơ nào, vì lòng yêu mến một ca khúc mà, lấy từng chữ trong ca khúc ấy, để mở đầu cho những câu thơ của mình? Năm 2005, điều đó, đã xẩy ra với nhà thơ Nguyên Nghĩa, ở Toronto, Canada; khi ông lấy từ chữ thứ nhất tới chữ cuối cùng của ca khúc “Chiếc lá cuối cùng” của Tuấn Khanh, làm thành một bài thơ dài trên 100 câu. Ðoạn mở đầu bài thơ mang tính “tử công phu” này của Nguyên Nghĩa như sau:
“Ðêm thầm thì gió theo về muôn hướng
Qua song trăng chấp chới một đường bay
Chưa hẹn hò bến nhớ sẽ đan tay
Mà chốn cũ đã vương đầy bóng vỡ
Trời tim tím bởi nỗi lòng đang ngỏ
Sao ngu ngơ do ý tại hoàng hôn
Vội chi mà dốc lạnh dấu mùa sang
Sáng vùng thẫm nhỡ nhàng nơi viễn xứ.”
(8 câu thơ này đi ra từ câu nhạc: Ðêm qua chưa mà trời sao vội sáng)
Tôi không biết nguyên nhân sâu xa khiến Nguyên Nghĩa chọn ca từ của ca khúc “Chiếc lá cuối cùng,” thay vì ca từ của những ca khúc khác?
Tôi cũng không biết Nguyên Nghĩa có một (hay nhiều hơn một)... “chiếc lá cuối cùng” trong đời anh (?)Nhưng hiển nhiên, nhạc sĩ Tuấn Khanh, tác giả của rất nhiều ca khúc mà sức sống vạm vỡ, bền lâu của chúng, còn mạnh mẽ, vang dội đến ngày hôm nay, như “Hoa soan bên thềm cũ,” “Một chiều đông,” “Nhạt nhòa,” hoặc “Dưới dàn hoa cũ” vân vân... đã nhận được vinh dự hiếm hoi này.
Tuấn Khanh/Trần Trọng Ngọc (1) là một trong những nhạc sĩ thuộc thế hệ thứ nhất sau biến cố chia đôi đất nước, 1954, ở miền Nam; đã để lại cho thời kỳ đầu của lịch sử tân nhạc Việt Nam, 20 năm miền Nam, những dòng nhạc lấp lánh hy vọng. Không chỉ ca từ mà, luôn cả âm điệu nhiều ca khúc của Tuấn Khanh cũng lấp lánh tin yêu, sáng lên từ những lãng mạn tình yêu đôi lứa. Sự kiện này, trái ngược với nội dung và, luôn cả âm điệu của những ca khúc được viết bởi thế hệ nhạc sĩ thứ hai, như Từ Công Phụng,Vũ Thành An, Ngô Thụy Miên...
Không cần một chút cố gắng hay chú tâm nào, người ta vẫn dễ dàng nhận ra đa số những ca khúc viết bởi các nhạc sĩ kể trên, dường được xây dựng trên những tan vỡ, chia ly. Làm như phụ rẫy, tuyệt vọng là ngọn hải đăng dẫn đường cho những nhạc sĩ trẻ đó.
Không biết có phải, điều thứ 2 trong ba điều chính của bản hiệp định Geneva ký ngày 20 Tháng Bảy năm 1954, quy định rằng, sau 2 năm tạm thời chia đôi Việt Nam, một cuộc tổng tuyển cử sẽ được thực hiện, để thống nhất hai miền đất nước - Nên sự bỏ nhà cửa, mồ mả ông cha để di cư vào miền Nam, chỉ là nhất thời? Và hy vọng thống nhất, đoàn tụ của hơn một triệu người miền Bắc di cư vào Nam, cùng hàng trăm ngàn cán bộ CS miền Nam, tập kết ra Bắc, đã là ngọn lửa ấm áp ở mặt bên kia ly tán.
Nhưng sau hai năm, chính phủ miền Nam do Tổng Thống Ngô Ðình Diệm đứng đầu, đã từ chối thực thi điều khoản này. Số người miền Bắc di cư, cũng như những người có thân nhân tập kết, hiểu rằng, chia ly đã chính thức bước vào đời họ, như một định mệnh bất khả hoán chuyển. Và, cùng với sự sập xuống của bức màn sắt, sáng tác của những nhạc sĩ trẻ, cũng di lưu, đổi mạch? (2)
Dù đến với cõi giới âm nhạc rất sớm, ngay khi chỉ mới 5, 6 tuổi, do sự hướng dẫn của người anh cả, với chiếc đàn violon, và, khi lên 10, Tuấn Khanh đã có thể xướng âm chính xác một ca khúc, nhưng ở những bước khởi đầu, ông vẫn gặp khá nhiều khó khăn.
Sinh trưởng trong một gia đình ảnh hưởng nặng nề truyền thống Nho phong, Tuấn Khanh kể:
“Gần như không buổi tập đàn của tôi mà không bị ông Ngoại chống đối gay gắt. Mỗi khi nghe được tiếng ‘o e’ từ cây violon của thằng bé, dù đang uống rượu, ông cũng dừng lại, chửi cho mấy câu. Câu chửi quen thuộc nhất của ông, tới giờ, tôi vẫn còn nhớ là:
‘Ối giời! Ðàn với địch, nghe điếc cả lỗ đ... ’ ’
Nếu không có sự ủng hộ của bố tôi, thì nhiều phần tôi đã phải bỏ ngang từ bỏ đam mê của mình rồi!”
Tác giả ca khúc “Hoa soan bên thềm cũ” cho biết, thời thân sinh ông còn làm trưởng ty bưu điện ở Thanh Hóa, một hôm ông cụ dẫn cả nhà đi xem một cuốn phim tình cảm của Pháp, với đoạn kết thật bi thảm. Trở về, mọi người xúm lại, hào hứng bàn tán về nội dung cuốn phim, trừ Trần Trọng Ngọc. Hồi lâu, thấy vắng mặt đứa con trai út, được ông thương yêu nhất; ông cụ vào phòng tìm. Thấy con đang úp mặt khóc trên gối. Những tưởng cậu bé bị các anh, chị mắng mỏ hay hiếp đáp - Chừng vỡ nhẽ, ông cụ mới biết cậu con út của ông buồn vì quá cảm thương cho cái chết nhân vật nữ trong phim... Qua sự kiện này, thân phụ của nhạc sĩ Tuấn Khanh tin rằng, người con trai út của ông, sẽ thành... “nghệ sĩ.” Tác giả “Chiếc lá cuối cùng” nhấn mạnh, “tiên tri” của ông cụ, với ông, không chỉ là một “giấy phép” mà, nó còn giúp ông thêm tự tin nơi năng khiếu âm nhạc của mình.
Năm 1949, Tuấn Khanh sáng tác ca khúc đầu tay: “Hai sắc hoa ti gôn” phổ từ thơ T.T. Kh. (3) Nhưng, ca khúc thứ nhất được phổ biến qua làn sóng điện là nhạc phẩm “Thăng Long thành hoài cổ,” phổ thơ Bà Huyện Thanh Quan, năm 1955. (4)
Tuy nhiên, trước khi được nhìn như một một nhạc sĩ có khả năng dìu dắt những người yêu nhạc nhiều thế hệ, tới những chân trời thơ mộng, thương yêu, hay chắp thêm đôi cánh lãng mạn cho những cuộc tình mơ ước, bay tới đỉnh trời ước hẹn, Tuấn Khanh đã được công nhận, như một ca sĩ, với nghệ danh Trần Ngọc. Ông là thủ khoa của cuộc thi hát, 1954, do đài phát thanh Hà Nội tổ chức.
Thuật lại diễn tiến cuộc thi, ca sĩ Trần Ngọc cho biết, cuộc thi có ba giai đoạn: Sơ kết, chọn 25 thí sinh. Bán kết chọn 8. Và chung kết chọn nhất, nhì, ba, từ 8 thí sinh đó.
Ở cả ba cuộc thi, tác giả “Dưới giàn hoa cũ” đều được chấm nhất. Thủ khoa. (5)
Nhưng khi các thí sinh đậu đầu được mời ra sân khấu trình diễn trước khán giả, thì một trục trặc kỹ thuật đã xẩy ra; gây xáo trộn, bối rối cho ban tổ chức, thí sinh, và luôn cả khán giả nữa.
Số là để bày tỏ lòng biết ơn người đã giới thiệu vợ cho mình, nhạc sĩ Tu Mi đã vào phòng kỹ thuật, điều chỉnh hệ thống âm thanh cho Thanh Hằng (giải nhì cuộc thi,) hát suôn sẻ. (6) Nhưng khi tới phiên Trần Ngọc trình diễn thì, ngay khi vừa cất tiếng, chưa kịp hát chưa hết câu “lờ lững đôi chim giang hồ bay...” mở đầu bài “Ðôi chim giang hồ” của Ngọc Bích (7) thì, hệ thống âm thanh... trục trặc. Mỗi lần như thế, Trần Ngọc lại cảm thấy mồ hôi “vã ra như tắm!” Tới lần thứ ba, ông đành nhắm mắt hát tiếp, sau khi hệ thống âm thanh được... “chỉnh lại.”
Do đó, khi nhận phần thưởng, Trần Ngọc nín lặng lãnh giải nhì, trong khi Thanh Hằng được trao giải nhất!
Sau này, nhạc sĩ Thẩm Oánh, phó giám đốc đài Hà Nội, kiêm phó chủ tịch ban tổ chức, đã chính thức xin lỗi Trần Ngọc; khi nhân viên kỹ thuật của phòng thâu hôm đó, thú nhận với nhạc sĩ Thẩm Oánh rằng, anh ta đã để cho nhạc sĩ Tu Mi phá hỏng hệ thống thu thanh lúc Trần Ngọc hát. (8)
Du Tử Lê
(Kỳ sau tiếp)
Chú thích:
(1) Nhạc sĩ Tuấn Khanh/Trần Trọng Ngọc sinh năm 1933, tại Nam Ðịnh.
(2) Theo nhà báo Vương Hồng Anh thì, ba điều căn bản của hiệp định đó là (a) Kể từ ngày 20 Tháng Bảy năm 1954, cuộc đình chiến giữa quân đội Liên Hiệp Pháp và Việt Minh (tên gọi lực lượng quân sự Cộng Sản thời bấy giờ,) có hiệu lực. (b) Việt Nam tạm thời bị phân đôi mà, ranh giới hai miền là cây cầu Hiền Lương. Hai năm sau, một cuộc tổng tuyển cử sẽ được thực hiện, để thống nhất đất nước. (c) Thành lập Ủy Ban Kiểm Soát đình chiến với Ấn Ðộ, giữ vai trò chủ tịch với hai thành viên là Ba Lan và Gia Nã Ðại (Canada.) Vẫn theo Vương Hồng Anh thì, Ngoại Trưởng Trần Văn Ðỗ, đại diện chính quyền quốc gia không ký nhận bản hiệp định. Do đấy, khi tới hạn kỳ, Tổng Thống Ngô Ðình Diệm từ chối thi hành. Ông cho rằng, đấy chỉ là cơ hội, hay phương tiện để chính quyền CS miền Bắc thôn tính miền Nam một cách hợp pháp mà thôi.
(3) Ðến giờ, vẫn không ai biết được một cách chính xác T.T. Kh là ai, mặc dù bút mực đã đổ ra khá nhiều chung quanh 4 bài thơ của tác giả này.
Có dư luận ghi nhận rằng, năm 1937, tờ Tiểu Thuyết Tuần San (TTTS) ở Hà Nội, đăng truyện ngắn nhan đề “Hai sắc hoa ti gôn” của nhà văn Thanh Châu. Ít ngày sau, một thiếu phụ trạc ngoài 20, mang tới cho tòa soạn 2 bài thơ, ký tên T.T. Kh. nhờ loan tải. Ðó là các bài nhan đề “Hai sắc hoa ti gôn,” và “Bài thơ thứ nhất.” Sau khi đăng tải, Tòa báo nhắn tin, xin tác giả cho biết địa chỉ; nhưng không được hồi âm. Tính tới năm 1938, T.T. Kh. cho phổ biến thêm 2 bài thơ nữa, rồi im bặt, tới ngày hôm nay. Theo Bách Khoa Toàn Thư mở Wikipedia thì, sự việc trở nên rối rắm khi Nguyễn Bính và Thâm Tâm có những bài thơ nội dung úp mở, cho thấy họ có liên hệ tình cảm với T.T. Kh.
Một giả thuyết khác cho rằng, nhà văn Thanh Châu, với bút hiệu T.T. Kh, đã sáng tác 4 bài thơ trên, tạo xì căng đan để tăng số bán cho T.T.T.S. Nhưng khi thấy việc làm của mình có xu hướng vượt khỏi mục tiêu ban đầu, ông đã âm thầm chấm dứt “trò chơi ú tim” văn nghệ này.
(4) Theo Bách Khoa Toàn Thư mở Wikipedia, thì tác giả Bà Huyện Thanh Quan tên thật Nguyễn Thị Hinh, sinh năm 1805 (?),mất năm 1848 (?),là người làng Nghi Tàm, huyện Hoàn Long, tỉnh Hà Ðông (nay thuộc Hà Nội,) giỏi thơ văn thời Minh Mạng và Tự Ðức... Tên Bà Huyện Thanh Quan, xuất phát từ sự kiện chồng bà từng giữ chức tri huyện Thanh Quan.
Trong cuốn “Nam thi hợp tuyển,” tác giả Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc viết:
Chồng bà là ông Lưu Nguyên Ẩn, sinh năm 1804, đậu tú tài năm 1825, cử nhân năm 1828 và được bổ nhiệm làm tri huyện Thanh Quan. Ông huyện Thanh Quan vì can gián phải cách, (được) bổ làm Bát phẩm thơ lại Bộ Hình - Sau lại thăng lên chức Viên Ngoại Lang. “Năm 1839, thời Tự Ðức, bà vào kinh giữ chức Cung Trung Giáo Tập để dạy học cho các công chúa và hậu phi. Ở Huế, bà giao thiệp và để lại ấn tượng sâu sắc với nhiều kẻ sĩ. Năm 1847, sau khi chồng mất, bà xin phép về quê nghỉ hưu và đưa 4 con nhỏ từ Huế về sống tại quê nội ở làng Nghi Tàm. Công chúa Mai Am đã tặng bà bài thơ ‘Tống Ái Lan Thất Nguyễn Thị Lưu Hà Nội.’ Bà để lại cho hậu thế tất cả 6 bài thơ loại Thất ngôn bát cú. Trong đó có bài “Qua đèo Ngang” rất phổ biến.
(5) Nhạc sĩ Tuấn Khanh kể, trong cuộc thi hát năm 1953, thủ khoa là nữ ca sĩ Thanh Hiếu, và á khoa là nữ ca sĩ Kim Tước.
(6) Nhạc sĩ Tu Mi, tác giả ca khúc “Tan tác.” Hệ thống âm thanh thời đó là những chiếc bóng đèn nhỏ thay vì các hàng nút. Chỉ cần xoay lỏng 1 trong những chiếc bóng đèn đó, thì âm thanh đã khác, hoặc tắt hẳn.
(7) Nhạc sĩ Ngọc Bích (1924-2001) còn nổi tiếng với những ca khúc như “Mộng chiều xuân,” “Khúc nhạc tương tư,” “Trở về bến mơ,” vân vân...
(8) Giám đốc đài Hà Nội khi ấy là nhạc sĩ Vũ Khánh, anh ruột nhạc sĩ Vũ Thành (tác giả ca khúc “Giấc mơ hồi hương.”) Do đó, ông cũng là chủ tịch hội đồng giám khảo cuộc thi.