Page 25 of 188

Posted: Mon Dec 15, 2008 5:57 am
by tranphuongdong
Dân chúng không tin chính quyền CSVN “quyết tâm chống tham nhũng” Sunday, December 14, 2008

Image
Các biểu đồ thống kê kết quả cuộc khảo sát mới nhất về nhận thức của dân
về cái gọi là “quyết tâm chống tham nhũng” của chính quyền.
Hà Nội (NV) - Kết quả một cuộc khảo sát do Trung Tâm Nghiên Cứu Phát Triển Hỗ Trợ Cộng Ðồng (CECODES) và đại sứ quán Phần Lan thực hiện tại 9 tỉnh cho thấy: Rất nhiều người người nhận biết được hành vi tham nhũng của các viên chức trong chính quyền CSVN nhưng không ai dám tố cáo vì sợ bị trả thù.

Khi công bố kết quả cuộc khảo sát kể trên vào ngày 12 tháng 12, nhóm nghiên cứu cho rằng, hậu quả của điều đó (không ai dám tố cáo vì sợ bị trả thù) là những kẻ tham nhũng không bị tố cáo, nếu có ai đó tố cáo thì không đủ chứng cứ để xử lý.

Nhóm nghiên cứu đã phân tích để chứng minh, đến nay, Việt Nam vẫn chưa có quy định để bảo vệ người tố cáo tham nhũng hoặc bảo vệ các nhân chứng. Ða số dân chúng tin rằng, chống tham nhũng sẽ bị “đe dọa” và “trù dập”.

Những người dân tham gia cuộc khảo sát xếp quản lý đất đai là lĩnh vực xảy ra tham nhũng nhiều nhất (85%), kế đó là xây dựng các công trình (84%). Ðiều này được cho là “phù hợp với kết quả của một cuộc khảo sát khác do Ban Nội Chính của Trung Ương Ðảng CSVN thực hiện).

Khi đưa tin về kết qủa cuộc khảo sát, báo điện tử VietNamNet cho biết, “dân chúng đánh giá các hoạt động chống tham nhũng của chính quyền rất thấp”. Họ không tin những báo cáo hàng năm về: “phòng, chống tham nhũng”, “quản lý, sử dụng nhà ở”, “kiểm toán việc sử dụng ngân sách, tài sản của Nhà nước”.

Trong 12 hoạt động mà chính quyền CSVN quy định phải công khai cho dân chúng địa phương “biết và kiểm tra”, dân chúng trả lời rằng họ chỉ tin đủ khả năng giám sát 2/12 hoạt động (các dự án đầu tư xây dựng quy mô nhỏ và các dự án sử dụng tiền do dân đóng góp).

Ðáng lưu ý là đa số dân chúng tin rằng mức độ tham nhũng ở phạm vi huyện, tỉnh cao hơn phường, xã. Những người tham gia trả lời các câu hỏi giải thích họ tin như vậy vì cấp huyện, tỉnh,có nhiều “quyền lực” hơn nên dễ tham nhũng hơn, đặc biệt là trong việc cấp đất cho các dự án. Tiếc là cuộc khảo sát không có câu hỏi nào về cảm nghĩ của người tham gia về tham nhũng ở cấp cao nhất.

Tuy Việt Nam có luật phòng, chống tham nhũng và luật này có những quy định về vai trò giám sát của các đoàn thể, tổ chức cũng như công dân trong việc phòng chống tham nhũng, nhưng kết quả khảo sát cho thấy, sự giám sát của các tổ chức, đoàn thể chỉ là hình thức. Kể cả những đoàn thể, tổ chức lớn như: liên đoàn lao động, hội nông dân, hội phụ nữ,...

Nhóm nghiên cứu tiết lộ một thông tin đáng chú ý là đa số dân chúng muốn chính quyền CSVN thành lập các tổ chức phòng, chống tham nhũng độc lập, có thực quyền, từ trung ương đến địa phương và người đứng đầu không phải là những người đang lãnh đạo chính quyền.

Dân chúng còn cho rằng cần phải việc kiểm soát thu nhập của công chức nhà nước thường xuyên. Các số liệu về tài sản, thu nhập mà công chức đã kê khai phải công bố công khai với công chúng, không nên chỉ báo cáo cho cấp trên như trước nay. (G.Ð)

Posted: Wed Dec 17, 2008 2:51 am
by khieulong
Ung thư tăng vọt, thực phẩm là nguyên nhân chính
Sunday, December 14, 2008

Image
Một dãy sạp bán thực phẩm trong một ngôi chợ ở Hà Nội.
Sài Gòn (NV) - Một hội thảo toàn quốc về “Phòng chống ung thư” vừa diễn ra tại Sài Gòn cho thấy ung thư đang tăng vọt tại Việt Nam và thực phẩm là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này.

Các chuyên gia về ung thư ở Việt Nam cho biết, trong vài năm gần đây, ung thư đường tiêu hóa, đặc biệt là ung thư đại trực tràng đang tăng đáng ngại và nằm trong nhóm “năm loại ung thư thường gặp nhất. Theo số liệu do bệnh viện Ung Bướu Sài Gòn công bố, năm 2006, bệnh viện này tiếp nhận 2,637 bệnh nhân ung thư đại trực tràng, sang năm 2007, số bệnh nhân ung thư đại trực tràng trong 11 tháng là 3,066 người và sự gia tăng đó có mối liên quan mật thiết với thực phẩm.

Theo thống kê của khoa tiêu hóa bệnh viện Ung Bướu Sài Gòn, mỗi ngày nơi này đang phải điều trị cho hàng trăm lượt bệnh nhân ung thư đại trực tràng. Số bệnh nhân ung thư đại trực tràng đang tăng đều đặn trong ba năm vừa qua.

Theo Bác Sĩ Phạm Xuân Dũng, phó giám đốc bệnh viện Ung Bướu Sài Gòn, điều đáng lo là rất nhiều bệnh nhân không hề nghĩ mình bị ung thư đường tiêu hóa và nhầm lẫn các triệu chứng của ung thư đại trực tràng giai đoạn đầu với rối loạn tiêu hóa, kiết lỵ, bón, trĩ... Vì thế, có khoảng 70% bệnh nhân đến bác sĩ chuyên khoa khi đã quá trễ, ung thư đã di căn, rất khó điều trị. Trong khi nếu phát hiện sớm (khi những polyp ở vùng ruột mới xuất hiện ) và điều trị đúng cách, cơ hội duy trì sự sống cho bệnh nhân trên 5 năm là nằm trong tầm tay của giới chuyên môn, kết quả có thể đạt đến 90%.

Tình trạng ung thư đường tiêu hóa gia tăng được y giới nhận định là hệ quả của tình trạng an toàn, vệ sinh thực phẩm quá tệ. Tờ Lao Ðộng cho biết, để giữ hải sản tươi lâu, người bán thường xuyên dùng phân urê. Tương tự, để rau, củ xanh non, bắt mắt, cả nông dân lẫn người bán đều thi nhau dùng những loại hóa chất đã bị cấm sử dụng trong trồng trọt là endosulfan và metamidophos. Thống kê một đợt kiểm nghiệm rau, củ tại một số chợ ở Sài Gòn cho thấy: 7/9 mẫu rau, củ có thuốc trừ sâu Metamidophos (thường được gọi là monitor).

Trả lời tờ Lao Ðộng, Bác Sĩ Trần Văn Ký, Hội Khoa học Kỹ thuật An toàn thực phẩm, cho biết: Monitor có gốc từ phosphor. Ðây là hóa chất cực độc đối với thần kinh và các cơ quan nội tạng. Nếu ăn phải những loại rau, củ có chất monitor, người dùng không chỉ bị ngộ độc cấp tính (tức ngực, khó thở, chảy nước mũi, đau đầu, đau bụng, buồn nôn, nôn, rối loạn nhịp tim...). Khi monitor tích tụ lâu với tỉ trọng ngày càng nhiều nó sẽ gây ngộ độc mãn tính, phá hủy các cơ quan nội tạng và hệ quả tất yếu là bệnh ung thư. Còn urê, do loại phân hóa học này có thể kìm hãm sự phát triển của vi khuẩn nên nhiều người kinh doanh thực phẩm đã tận dụng để lừa người tiêu dùng (thực phẩm còn tươi) cho dù urê khó tan trong nước, rửa nhiều cũng khó mà loại bỏ hẳn khỏi thực phẩm, đặc biệt là urê có thể ngấm vào thịt thì không thể loại bỏ.

Một tiến sĩ tên Chu Phạm Ngọc Sơn nhận xét: Từ tháng 5 năm 2005, các nước Châu Âu cấm sự có mặt của màu sudan trong thực phẩm, bởi đây là hóa chất khó hoà tan, có nguy cơ gây ung thư cao cho cả người lẫn vật nuôi nhưng tại Việt Nam, loại àu sudan vẫn được dùng tràn lan.

Bác Sĩ Nguyễn Chấn Hùng, chủ tịch Hội Ung Thư Sài Gòn, cho rằng: Ung thư là hậu quả của điều kiện sống, đặc biệt là các điều kiện xã hội như lối sống (ăn uống), chỗ ở (hít thở) và công việc. Những chất gây ung thư, đặc biệt là ung thư các cơ quan liên quan đến đường tiêu hóa (thực quản, dạ dày, ruột...) không chỉ nằm ở độc chất (bị cấm sử dụng trong công nghệ thực phẩm vì thiếu an toàn thực phẩm) bị lạm dụng, đưa vào thực phẩm để kiếm lợi. Việc ăn uống không hợp lý cũng gia tăng nguy cơ gây ung thư. Ðun nấu thực phẩm ở nhiệt độ cao vẫn có thể sinh ra sản phẩm nhiệt phân như benzopyren và benzanthraxen - đều là những chất có khả năng gây ung thư rất mạnh. Những thực phẩm chứa nhiều chất béo và carbonhyrat mà chế biến bằng cách nướng, thường sản sinh ra hai loại độc chất này. Ngay cả ăn mặn, nhiều muối (cá muối, dưa muối, thịt xông khói...) cũng gây ung thư, đặc biệt là ung thư đường tiêu hóa như ung thư dạ dày. Ðiều này đã được giới khoa học Nhật Bản chứng minh. Việc ăn thực phẩm giàu protein (nhất là loại có nguồn gốc từ động vật) cũng dẫn đến ung thư trực tràng, đại tràng...

Những thông tin này rất ít người biết và ung thư tại Việt Nam vẫn tiếp tục tăng đáng ngại. (G.Ð)

Posted: Thu Dec 18, 2008 5:33 am
by tankhoasinh
Tu Hội Nữ Tử Thánh Vinh Sơn biểu tình chống phá nhà
Wednesday, December 17, 2008

Image
Hai nữ tu đang ngồi trước trường học của họ ngăn cản không cho phá cơ sở
mà họ là sở hữu chủ trên đường Nguyễn Thị Diệu, Sài Gòn.

SÀI GÒN 17-12 (TH) - “Sáng ngày Thứ Tư 17 Tháng Mười Hai 2008, các nữ tu thuộc Tu Hội Nữ Tử Thánh Vinh Sơn đã được cấp báo về việc nhà cầm quyền Cộng Sản đưa người đến phá trường học của họ tại số 32 bis Nguyễn Thị Diệu.”

Bản tin phổ biến trên VietCatholic News cho hay như vậy và nói rằng “Bằng đủ mọi phương tiện, kể cả chạy bộ, các nữ tu đã đến hiện trường phản đối hành động ngang ngược của chính quyền đơn phương xử lý tài sản đang trong vòng tranh chấp.”

Hành động của nhà cầm quyền CSVN tại Sài Gòn diễn ra vào lúc tin tức cũng cho hay nhà cầm quyền tỉnh Vĩnh Long loan báo san bằng Tu Viện Dòng Thánh Phao lồ để xây một công viên và cáo buộc các nữ tu của nhà dòng là “lợi dụng tôn giáo” kể kích động các vụ phản kháng nhằm vào chế độ Cộng Sản. Ðiều này làm cho người ta nhìn thấy ngay là nhà cầm quyền tỉnh Vĩnh Long theo một đường lối y hệt như các vụ đối phó đòi đất ở Thái Hà và Tòa Khâm Sứ. Nuốt không trôi thì tìm cách phá ngang. Bản tin VietCatholic News cho rằng những động thái gần đây của nhà cầm quyền CSVN trong vụ đòi đất đòi bất động sản ở Thái Hà, ở Vĩnh Long, và giờ đây tại Sàigòn cho thấy họ đang quyết tâm “giải quyết rốt ráo các vấn đề về đất đai tôn giáo” (theo một nguồn tin từ Việt Nam) theo đường hướng sử dụng “bạo lực cách mạng”. Ngôi trường của các nữ tu thuộc Tu Hội Nữ Tử Thánh Vinh Sơn tọa lạc tại số 32 bis Nguyễn Thị Diệu là tài sản hợp pháp của các chị đã được Hội Hồng Thập Tự Pháp tặng. Diện tích khu đất lên đến 852 m2. Từ 1958 đến 1975, cơ sở này được các nữ tu dùng làm vườn trẻ. Khi chiếm được miền Nam năm 1975, phòng giáo dục quận 3 “mượn cơ sở này làm trường mẫu giáo măng non” mà “dù muốn hay không các chị vẫn phải giao cho nhà nước”. Theo nguồn tin trên, nhà cầm quyền Cộng Sản bắt đầu giở trò lật lọng vào năm 1997 với quyết định “tịch thu nhà vắng chủ”. Cũng vào năm đó, vũ trường VIP-CLUB đã được xây lên. Tu Hội Nữ Tử Thánh Vinh Sơn đã lập tức khiếu nại vì tài sản này không hề “vắng chủ”. Vũ trường VIP-CLUB thực tế là nơi kinh doanh mãi dâm đã bị công an bắt quả tang tại chỗ và bị đóng cửa.

Sau khi vũ trường VIP-CLUB, ủy ban nhân dân quận 3 và công ty quản lý nhà thành phố thay vì trả lại tài sản cho các nữ tu lại tiếp tục dùng cơ sở này cho thuê kiếm tiền.

Nghiêm trọng hơn, công ty quản lý nhà thành phố đã ký hợp đồng cho ban quản lý đường sắt đô thị thành phố thuê trong 5 năm và đồng ý để cơ quan này đập phá ra xây thành khách sạn.

Ngày 01 Tháng Mười Hai 2007, tu hội đệ đơn khiếu nại khẩn cấp, yêu cầu cho ngưng đập phá, sửa chữa, xây cất, nhưng công việc vẫn được tiếp tục.

Ngày 15 Tháng Mười Hai 2007, lúc 7 giờ, khoảng 70 nữ tu, sinh viên, vài nhà báo đã đến vũ trường cầu nguyện, mong ngăn cản được các người thợ tiếp tục thi công. Tượng Ðức Mẹ đã được kiệu đến làm trung tâm cho buổi cầu nguyện. Ðến khoảng 11 giờ cùng ngày, 1 biên bản tạm ngưng đập phá, sửa chữa được ký giữa BQLÐS, tu hội và chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân phường 6, quận 3, dưới sự chứng kiến của Ban Tôn Giáo Thành Phố, Ban Tôn Giáo quận 3, đại diện phòng quản lý đô thị quận 3, cô Phạm Phương Thanh, công an thành phố, đại diện Hội Phụ Nữ quận 3. Nguồn tin cho hay, sau khi êm được một thời gian, ngày 17 Tháng Ba 2008 khoảng 100 nữ tu lại đến vũ trường cầu nguyện từ 9 giờ 00 đến 16 giờ 45 để phản đối việc cho đập phá, sửa chữa khi cơ sở đang còn tranh chấp. Ðến 16 giờ 00 một biên bản thứ hai với nội dung cam kết ngưng đập phá sửa chữa được lập trong đó các thành phần sau đã cam kết ký vào biên bản. Biên bản ký vẫn ký, tôn trọng hay không lại là chuyện khác. Ngày 12 Tháng Sáu 2008, khi hay tin công ty quản lý nhà thành phố đến vũ trường để bàn giao cơ sở cho Ủy Ban Nhân Dân quận 3, các nữ tu lại kéo nhau đến đây để cản trở việc làm này. Các chị đòi phải là người được trả tài sản này chứ không có kiểu đá qua, đá lại để cuối cùng tài sản vẫn không được hoàn về những người chủ chân chính của nó.

Posted: Fri Dec 19, 2008 5:20 am
by khieulong
Phi công Việt Nam Airlines bị bắt ở Nhật,
tình nghi vận chuyển hàng trộm cắp

Wednesday, December 17, 2008

Image
Phi cơ của hãng hàng không Vietnam Airlines chuẩn bị rời phi trường Nội Bài ở Hà Nội.
TOKYO 17-12 (TH) - Một phi công của hãng hàng không quốc doanh Vietnam Airlines vừa bị bắt ở Tokyo hôm Thứ Tư 17 Tháng Mười Hai 2008 vì bị nghi ngờ vận chuyển về Việt Nam một số hàng hóa bị mất cắp tại các cửa tiệm ở nước này.

Ðặng Xuân Hợp, 33 tuổi, phi công phụ trên một chuyến bay Boeing 777 của Vietnam Airlines đã bị cảnh sát Nhật bắt giữ ngay sau một chuyến bay từ Hà Nội đến phi trường quốc tế Narita, Tokyo, theo bản tin thông tấn xã DPA.

Theo nguồn tin này, phi công Hợp bị cáo buộc là thành phần của một đường dây vận chuyển hàng hóa do một tổ chức người Việt đánh cắp tại các cửa tiệm trên nước Nhật, mang về nước.

“Chúng tôi rất lấy làm tiếc trong vụ việc này vì nó làm xấu hình ảnh và sự tin tưởng vào Vietnam Airlines”. Trịnh Ngọc Thành, một phát ngôn viên của Vietnam Airlines nói.

Theo bản tin tờ Tuổi Trẻ, “cơ quan điều tra Nhật Bản đã tới một số văn phòng của Vietnam Airlines (VNA) tại sân bay Narita, Osaka, Nagoya và Fukoka để làm việc và yêu cầu hợp tác điều tra”. Nguồn tin này thuật lại rằng “lãnh đạo VNA đã chỉ thị yêu cầu cán bộ văn phòng chi nhánh tại Nhật hợp tác đầy đủ, toàn diện với nhà chức trách và cơ quan điều tra Nhật Bản trong quá trình điều tra và xác minh vụ việc.”

Phi công, tiếp viên của Vietnam Airlines từng bị bắt giữ và truy tố nhiều lần trước đây liên quan đến các vụ vận chuyển hàng lậu, rửa tiền trên nhiều đường bay quốc tế.

Tháng Tư 2008, VNA đã “buộc thôi việc” một phi công đã bị bắt giữ ở Úc liên quan tới phi vụ rửa tiền.

Lại Quốc Việt bị bắt ở phi trường quốc tế Sydney, Úc, và bị khởi tố liên quan đến khoảng 40 vụ rửa tiền. Theo Radio Australia, ông này bị cáo buộc đem gần 4 triệu đô la tiền mặt ra khỏi nước Úc. Dựa vào vai trò phi công không bị kiểm soát chặt chẽ như hành khách bình thường trong 2 năm 2005 và 2006, ông ta “có đến 17 lần nhận tiền từ các nơi có đông người Việt sinh sống là Fooscray và Cabrmatta”. Có những nghi ngờ các số tiền này liên quan đến các vụ buôn bán ma túy xuyên quốc gia.

Trước đó, vào giữa Tháng Tám 2007, Trần Văn Ðăng, một phi công của VNA đã bị kêu án 4 năm rưỡi tù ở Sydney vì bị cáo buộc liên quan đến 40 vụ rửa tiền khoảng $6 triệu đô la. Ông ta bị bắt vào Tháng Sáu 2006, với số tiền hơn $500,000 đô la tiền mặt trong hành lý.

Ðầu Tháng Tư 2008, hai tiếp viên Nguyễn Quý Hiển và Nguyễn Hoàng Hương Xuân của VNA đã bị bắt giữ ở Hàn Quốc khi mang trong hành lý số tiền mặt $300,000 USD.

Lương phi công cũng như tiếp viên phi hành ở Việt Nam không cao. Tuy nhiên, theo nhiều nguồn tin khác, nhau, người ta đã phải hối lộ những khoản tiền lớn để được vào làm cho hãng này vì có cơ hội buôn lậu, chuyển tiền, kiếm được nhiều tiền.

Posted: Sun Dec 21, 2008 4:30 am
by khieulong
Thượng Tướng Công An Thi Văn Tám-Bị Giết Hay Chết Vì Bệnh?

Image
Thượng Tướng CA Thi Văn Tám

Ngày 15 tháng 12 năm 2008, đồng loạt các đài báo loan tin Thượng Tướng Thứ trưởng Bộ Công an Thi Văn Tám, phụ trách an ninh đã bị bệnh chết ngày 12 tháng 12 năm 2008. Thượng tướng Thi Văn Tám chết ngày 12, mãi đến 15, tức 3 ngày sau đài báo mới loan tin. Tất cả các thông tìn đều giống nhau "Thượng tướng Thi Văn Tám - Thứ trưởng Bộ Công an, vừa từ trần hồi 2 giờ ngày 12/12/2008 tại TPHCM . Sau một thời gian lâm bệnh, đồng chí đã được Đảng, Nhà nước, Bộ Công an, gia đình và các giáo sư, bác sĩ tận tình cứu chữa, nhưng vì bệnh nặng, đồng chí đã từ trần hồi 2h00', ngày 12/12/2008 (tức ngày 16/11 năm Mậu Tý) tại TP Hồ Chí Minh."

Không có báo nào giải thích Tướng Tám bị chết vì bệnh gì ? bệnh bao lâu ? nằm bệnh viện nào ? Bác sĩ tuyên bố bệnh trạng trầm trọng ra sao ? và chết như thế naò ? Trước cái chết của Thượng tướng công an, cả trăm tờ báo đều loan tin giống nhau, đó là "sau thời gian lâm bệnh, dù được Đảng và nhà nước cho bác sĩ tận tâm cứu nhưng vì bệnh nặng nên đồng chí Tám đã từ trần". Điều này có nghĩa là thông tin về cái chết của Thượng Tướng Thi Văn Tám đã được Bộ Công an chuyển ra báo chí để loan báo một cách rất hạn chế, mập mờ.

Một vị tướng làm tới chừc Thượng Tướng, lại là tướng chuyên chống gián điệp thì ông ấy có lắm kẻ thù bên ngoài vì biết quá nhiều chuyện tối mật. Bên trong, ông ấy có thể bị đảng thanh trừng bất cứ lúc nào vì những tranh dành quyền lực, những bí ẩn "thâm cung bí sử" trong triều đại CS. Việc Tướng Thi Văn Tám đột tử vì nhiều nguyên do bí ẩn, ngoài lý do bị "bệnh nặng" như thông tin của Đảng, không loại trừ khả năng ông Thượng Tướng Thi Văn Tám bị Đảng cho thủ tiêu vì tranh dành quyền lực.

Ngày 12 tháng 12 năm 2008, Tướng Thi Văn Tám bị đột tử, chết không rỏ lý do. Thông tin Đảng nói chỉ vỏn vẹn là "đồng chí bị bệnh nặng". Điều không bình thường là nếu Tướng Tám bị bệnh nặng, bệnh mãn tính và đã được đảng tận tâm điều trị thì Tướng Tám và gia đình phải biết ông bị bệnh gì ? bệnh trạng kéo dài bao lâu ? trước đó đã chữa trị, thuốc men như thế nào ? Bao nhiêu ngày tháng nằm bệnh viện, ở đâu ? bác sĩ điều trị chuẩn y ra sao v.v..

Rõ ràng cái chết của ông Thượng Tướng Thi Văn Tám là cái chết độc tử, mờ ám. Độc tử vì trước khi chết ông Tướng Tám đã rất khỏe, bình thường, phục vụ công tác Đảng CSVN đắc lực, đạt nhiều công trạng cho đảng nên đã được liên tục được thăng cấp. Tháng 2/2002, đồng chí Tám được thăng cấp bậc hàm Thiếu tướng; tháng 12/2004, được thăng cấp bậc hàm Trung tướng; tháng 12/2008, được thăng cấp bậc hàm Thượng tướng An ninh nhân dân. Đặc biệt, Tướng công an Thi Văn Tám là người đã ra lệnh an ninh triệt tiêu và đàn áp thẳng tay, đánh đập dã man các anh chị em hoạt động trong Phong trào Dân chủ.

Tháng 12 năm 2008 ông đã được Bộ Chính Trị thăng cấp Thượng tướng, nghĩa là chỉ trong vòng có hơn 10 ngày trước khi chết "đồng chí" Trung Tướng Thi Văn Tám còn được thăng cấp lên Thượng Tướng. Rà xét lịch trình làm việc của Thượng Tướng Tám cho thấy ông rất khỏe mạnh, không có dấu hiệu bị bệnh.

Sinh năm 1948, Thượng tướng Thi Văn Tám còn trẻ và sức khoẻ để cống hiến cho Đảng. Ông đi công tác xa liên tục, không có thời gian nào bị gián đoạn. Như vậy suốt thời gian trước và sau khi phong cấp, ông Tướng Thi Văn Tám không có nằm bệnh viện, không có bi bệnh nặng đến nỗi bác sĩ tài giỏi của Đảng CSVN phải bó tay như thông tin Đảng loan báo.

Hoàng Giang - ĐDCND

Posted: Sun Dec 21, 2008 4:31 am
by khieulong
Kiên Giang đang rất “nóng”:
Dân chúng nhiều nơi đứng dậy phản kháng việc “cưỡng đoạt đất”

Friday, December 19, 2008

Image
Nông dân biểu tình trước trụ sở Văn phòng tiếp dân của các cơ quan trung ương tại Hà Nội.
(Hình: Lê Thị Kim Thu)
Kiên Giang (NV) - Không chỉ nông dân huyện Kiên Lương mà dân chúng ở Rạch Giá cũng đã đứng dậy phản kháng việc cưỡng đoạt đất, để thực hiện cái gọi là “Dự án lấn biển ở Kiên Giang”.

Tin từ trong nước cho biết, 46 gia đình ngụ ở các phường Vĩnh Bảo, Vĩnh Lạc, An Hòa, thành phố Rạch Giá, đang chống lại việc cưỡng đoạt tài sản của họ. Trả lời đài RFA, ông Lê Mỹ Ðức, một trong những nạn nhân kể: “Dự án lấn biển Kiên Giang” (đổ đất xuống biển để lấy thêm mặt bằng, mở rộng thành phố Rạch Giá) đã khiến dân chúng khốn khổ suốt 10 năm nay. Do nước ứ đọng, chúng tôi không thể trồng cấy, đành bỏ hoang ruộng vườn. Ông cha chúng tôi và chúng tôi đã cư ngụ, canh tác tại đây từ 60 năm đến 100 năm, thế rồi chính quyền tuyên bố thu hồi đất mà không ban hành bất kỳ quyết định thu hồi nào. Tiền bồi thường thì rẻ mạt. Lúc đầu họ ấn định chỉ có 8,000 đồng (khoảng 40 cents)/m2, sau đó, do bị khiếu nại, họ tăng lên 13,200 đồng (khoảng 70 cents)/m2 song sau đó rao bán lại với giá từ 500,000 đồng/m2 đến 2 triệu đồng/m2. Chúng tôi không đồng ý và đang chờ giải quyết khiếu nại thì họ điều động người đến chặt phá cây cối, không lập biên bản. Chúng tôi ngăn chặn thì công an cưỡng chế. Họ dùng roi điện đánh ngất ba phụ nữ, trong đó có một bà cụ 77. Ðây là hành động đàn áp quá đáng vì chúng tôi chỉ yêu cầu chính quyền thực hiện mọi việc đúng pháp luật. Công an đã từng đem xe tới “xúc” người nhưng vì chúng tôi không làm gì sai nên họ phải thả. Bây giờ, họ đang tìm cách cáo buộc chúng tôi chống người thi hành công vụ”.

Cũng theo ông Lê Mỹ Ðức, dân chúng chính thức phản kháng việc cưỡng đoạt đất suốt một tháng nay: “Chúng tôi đã cử người ra Hà Nội khiếu nại với Thủ tướng, gửi đơn cho Thanh tra và các cơ quan báo chí nhưng ông này đùn đẩy cho ông kia”. Ông Ðức khẳng định: “Chẳng có dự án nào lấn biển hết, Công ty kinh doanh và phát triển nhà lợi dụng dự án này để lấn đất của dân”.

Ngoài vụ phản kháng ở Rạch Giá, mãi tới hôm qua, sau khi thông tin về vụ phản kháng của nông dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang được loan truyền rộng rãi trên đài RFA và Internet,một số tờ báo tại Việt Nam mới đưa tin.

Tờ Tiền Phong cho biết: “Ba chiến sĩ công an bị đánh trọng thương. Nguyên do, sáng 17 tháng 12, 200 người dân đã quyết liệt chống lại vụ cưỡng chế đất tại ấp T4, xã Vĩnh Phú, huyện Kiên Lương, Kiên Giang. Hai chiếc ghe chở lực lượng cưỡng chế bị nhấn chìm, nhiều người trong đoàn cưỡng chế bị ném đá, bị đánh. Một cán bộ thi hành án huyện Kiên Lương bị những người chống đối bắt giữ và lột hết quần áo. Phóng viên truyền hình tỉnh Kiên Giang cũng bị đánh khi tác nghiệp. Những người chống cưỡng chế còn bắt giữ ba cán bộ, một con chó nghiệp vụ để đòi thả hai người dân vừa bị bắt... Lãnh đạo tỉnh Kiên Giang đã phải chỉ đạo dừng ngay việc cưỡng chế. Ông Huỳnh Văn Tam, trưởng phòng thi hành án tỉnh Kiên Giang cho biết: Việc cưỡng chế thực hiện theo sáu bản án của TAND tỉnh Kiên Giang tuyên từ năm 2006. Nội dung các bản án buộc 7 hộ dân trả lại 30 héc ta đất nông nghiệp cho các đơn vị và cá nhân ở Rạch Giá và huyện Châu Thành mà các hộ dân thuê để trồng lúa từ năm 2003”.

Còn tờ Tuổi Trẻ loan báo: “Cho đến chiều 18 tháng 12, tỉnh Kiên Giang vẫn chưa có quyết định nào xử lý vụ tấn công lực lượng thi hành án tỉnh Kiên Giang cưỡng chế thu hồi đất tại ấp T4, xã Vĩnh Phú, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang”.

Tuy nhiên không có tờ báo nào tại Việt Nam tường thuật rằng, các lực lượng tham gia “cưỡng chế thi hành án” đã bắn, liệng lựu đạn cay, rồi dùng roi điện, chó, tấn công và làm bị thương 9 nông dân.

Theo các nhân chứng, chính quyền tỉnh Kiên Giang đã điều động khoảng 125 người, gồm cán bộ địa phương, công an và chấp hành viên của lực lượng thi hành án, cảnh khuyển để “cưỡng chế thi hành án”, thu hồi đất của gia đình ông Phạm Tỷ và bà Lê Thị Hộ.

Vào lúc này, 1064 gia đình ở khu vực kể trên đang sử dụng đất với nguồn gốc như gia đình ông Phạm Tỷ và bà Lê Thị Hộ. Bà Huỳnh Thị Ba, một nông dân kể với đài RFA rằng, đất trong khu vực này từng thuộc Nông trường 42, do chính quyền CSVN giao cho Trung đoàn 34 của Quân khu 9 khai thác, song trên thực tế, Trung đoàn 34 không làm gì. Cách nay 12 năm, Trung đoàn 34 bán hết số đất được giao cho nông dân. Hơn 1,000 gia đình mua đất đã từng được chính quyền khuyến khích dốc vốn liếng, đổ mồ hôi để biến khu vực hoang vu đó thành ruộng, với năng suất từ 40-50 giạ/công.

Bất chấp việc nông dân đang sinh sống ổn định trên mảnh đất của mình, chính quyền địa phương đã ngang nhiên lấy đất “cấp” cho người khác. Người được “cấp” đất đã kiện người từng bỏ tiền mua đất và khai hoang ra Tòa để đòi đất. Tòa án CSVN đã buộc người bỏ tiền mua đất và khai hoang phải giao đất cho người không làm gì mà vẫn được cấp đất. Vào ngày 17 tháng 12, cán bộ địa phương, công an, chấp hành viên của lực lượng thi hành án, cảnh khuyển đã đổ đến để “cưỡng chế” gia đình ông Phạm Tỷ, bà Lê Thị Hộ “thi hành bản án” ấy.

Bởi bất bình trước lối hành xử y hệt kẻ cướp và thấy rõ đó cũng sẽ là điều xảy đến với mình, khoảng 500 nông dân đại diện cho 1064 gia đình trong vùng đã biểu tình phản đối việc “cưỡng chế thi hành án” mà thực chất là “cưỡng đoạt tài sản”.

Những người biểu tình đã bị đàn áp dã man. Bà Huỳnh Thị Ba kể với đài RFA: “Họ dùng súng bắn vào chúng tôi, rồi quăng trái cay, roi điện, chó bẹc giê tấn công chúng tôi”. Thế nhưng dân chúng không lui bước, bà Huỳnh Thị Ba kể tiếp: “Chúng tôi dùng xăng phun lửa vào họ. Công an bỏ chạy, vứt lại lá chắn. Bỏ ba người bị bắt lại và chúng tôi đã tháo còng cho cả ba. Ông Ðội phó Thi hành án cởi áo, nhảy xuống sông nhưng chúng tôi vẫn bắt được. Rất nhiều cán bộ đầu hàng nói rằng họ làm như vậy là do cấp trên chỉ đạo, thành ra tụi tôi không đánh họ. Còn ông Ðội phó Thi hành án thì đã làm giấy cam kết không cưỡng chế lấy đất của chúng tôi nữa, nên chúng tôi đã cho họ về và trả lại con chó”.

Sau tháng 4 năm 1975, chính quyền CSVN đã thu hồi đất của nông dân để giao cho các đơn vị quân đội lập các nông trường, thực hiện chủ trương gọi là “kinh tế-quốc phòng”. Một số ban quản lý nông trường đã cắt đất cho nông dân - từng là chủ đất - thuê lại đất của chính họ theo kiểu “phát canh thu tô”. Báo chí CSVN đã từng có một số bài viết cho biết nông dân ở những nơi này bị “bóc lột tận xương tủy”. Từ thập niên trước tới nay, tại một số nơi như Cà Mau, đã từng xảy ra những vụ bạo động do nông dân bị bóc lột tàn tệ.

Một số ban quản lý nông trường khác không “phát canh thu tô” thì đem đất bán cho nông dân và người mua thường xuyên bị đe dọa bởi việc chính quyền lấy đất họ đã mua, đã bỏ công sức khai hoang “cấp” cho người khác mà đa số là cán bộ địa phương.

Hồi giữa tháng trước, tờ Lao Ðộng từng có bài tường thuật về một vụ mà tính chất y hệt như vụ vừa xảy ra ở Kiên Lương, Kiên Giang.

Theo tờ Lao Ðộng, khoảng giữa thập niên 1980, tỉnh Long An mời gọi nông dân các tỉnh tham gia chương trình khai hoang Ðồng Tháp Mười. Năm 1989, bà Bùi Thị Hoa, một nông dân nghèo ở Tiền Giang nghe theo lời mời gọi ấy đến Ðồng Tháp Mười khẩn hoang, lập nghiệp tại ấp Hưng Thành, xã Hưng Thạnh, huyện Tân Hưng. Lúc đó, do khu vực này nhiễm phèn nặng, không thể trồng lúa, nhiều nông dân đành bỏ cuộc. Bà Hoa thì không và trong 19 năm qua, bà Hoa cùng với gia đình đã biến hai héc ta đất hoang thành hai héc ta ruộng, mỗi năm có thể trồng được hai vụ lúa với năng suất hơn 10 tấn/héc ta.

Cũng tờ Lao Ðộng cho biết, bà Hoa đang có khả năng trắng tay vì mảnh đất ấy đã được chính quyền địa phương ngang nhiên cấp cho vợ một cán bộ trong huyện.

Theo lời bà Hoa, năm 1998, bà đã làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng hai héc ta mà bà và gia đình đã khai hoang song không hiểu vì sao chính quyền địa phương cứ hẹn hoài. Ðến năm 2002, bà Hoa té ngửa khi biết giấy chứng nhận quyền sử dụng hai héc ta đó đã được cấp cho bà Nguyễn Thị Biền, vợ một cán bộ của huyện Tân Hưng từ năm 2000, dù bà Biền chẳng biết mảnh đất đó nằm ở đâu. Bà Hoa nộp đơn khiếu nại. Ðến cuối tháng 4 năm 2004, UBND huyện mới giải quyết khiếu nại đó bằng một quyết định “bác khiếu nại” của bà Hoa.

Bà Bùi Thị Hoa tiếp tục khiếu nại với UBND tỉnh Long An và UBND tỉnh giải quyết khiếu nại này bằng cách chỉ đạo UBND huyện Tân Hưng “thu hồi quyết định bác khiếu nại” để hai bên (bà Hoa và bà Biền) đưa tranh chấp đó sang tòa án, nhờ tòa án giải quyết. Sau đó, bà Hoa nộp đơn kiện đòi hủy giấy chứng chứng nhận quyền sử dụng đất mà chính quyền địa phương đã cấp cho bà Biền tại tòa án huyện Tân Hưng nhưng tòa án này không chịu nhận... đơn kiện.

Tờ Lao Ðộng nêu thắc mắc: Theo Luật Ðất Ðai, nhà nước chỉ giao đất nông nghiệp cho những người trực canh. Vậy mà không hiểu vì sao năm 2000, bà Biền lại được UBND huyện Tân Hưng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng mảnh đất mà bà không biết nó nằm ở đâu. Thậm chí, khi đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà Biền cũng không thèm tới nhận đất. Mãi đến tháng 8 năm 2007, bà mới xuống giành đất và bị bà Hoa chống cự dữ dội.

Trả lời những thắc mắc đó, ông Phạm Thanh Hùng, phó phòng Tài Nguyên Môi Trường huyện Tân Hưng, cho biết, ông “nghe nói” bà Biền cho bà Hoa mượn đất canh tác. Còn ông Lê Thanh Nghiêm, chủ tịch huyện Tân Hưng thì phân bua rằng: Lúc đó đất do Ðoàn 1 của quân đôi (một đơn vị làm kinh tế) quản lý, nên khi nhận hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ðoàn 1 chuyển sang, ông chỉ ký cho... đúng thủ tục. Ông Hùng thừa nhận, theo Luật Ðất Ðai, bà Biền không đủ điều kiện để được cấp phần đất này. (G.Ð)

Posted: Mon Dec 22, 2008 8:28 am
by vuphong
Thất nghiệp tại Việt Nam gia tăng, nhiều người còn việc vẫn không có lương
Sunday, December 21, 2008

Image
Hai người thất nghiệp ngồi với cưa tay chờ đợi xem có ai gọi đi làm hay không tại trung tâm thủ đô Hà Nội.
SÀI GÒN 21-12 (TH).- Tình trạng thất nghiệp tại Việt Nam ngày một nặng thêm khi các hãng xưởng sản xuất hàng xuất cảng đua nhau đóng cửa hoặc giảm bớt nhân viên vì đơn đặt hàng tìm không ra.


Ngay những người còn việc làm, nhiều xí nghiệp không trả lương cho công nhân gây nên thảm cảnh xã hội buộc họ phải lên tiếng kêu cứu.

“Ngày 20-12/2008, công ty cổ phần Dân Sinh (P.Phú Mỹ, thị xã Thủ Dầu Một, chuyên sản xuất gỗ) lại ra thông báo tiếp tục nợ lương công nhân khiến nhiều công nhân phản đối. Theo công nhân, đây là lần hứa thứ ba của công ty.”

Báo Tuổi Trẻ Chủ Nhật cho hay như vậy và kể tiếp rằng “Trước thực trạng này, công nhân đã viết đơn cầu cứu các ngành chức năng tỉnh vì lo ngại doanh nghiệp không có khả năng chi trả. Công nhân Nguyễn Thanh Năm bị nợ bốn tháng lương với số tiền trên 10 triệu đồng, nói: 'Công ty không biết đời sống của công nhân đã rất khổ, giờ cứ hứa mãi nhưng không trả, công nhân không có tiền để trang trải cuộc sống'.

Theo tờ Tuổi Trẻ, công ty Dân Sinh có khoảng 400 công nhân nhưng đến nay công nhân đã bỏ việc quá phân nửa, hàng trăm công nhân nghỉ việc và đang làm việc vẫn tiếp tục bị nợ lương.

Ngày 19/12/08, theo tin tờ Người Lao Ðộng, Kim Jung Heon, phó tổng giám đốc công ty E-Land VN (vốn đầu tư Hàn Quốc 100%) loan báo chấm dứt hoạt động của phân xưởng số 9 khiến gần 100 người mất việc.

Ngày 16/12/08, công ty Sambu Vina (vốn Hàn Quốc, chuyên sản xuất ba lô, túi xách ở huyện Hóc Môn) loan báo cắt bớt 224 nhân công vì thiếu đơn đặt hàng. Chỉ từ đầu tháng 11 đến nay, 4 công ty khác nhau đặt tại Hóc Môn đã bớt người làm cho 800 công nhân mất việc.

Trong một bản tin khác, báo Người Lao Ðộng nói rằng thời gian gần đây khoảng 4,000 nhân công thuộc các tỉnh Bình Dương, Ðồng Nai đã mất việc, phần lớn tập trung vào các ngành may mặc, da giày và đồ gỗ.

Hồi tuần trước, báo SGGP nói nhiều xí nghiệp đặt ở miền Bắc Việt Nam đã cắt giảm nhân công nên hàng ngàn người đã mất việc.

“Ban quản lý các KCN và chế xuất TP Hà Nội cho biết, đã có nhiều DN thông báo cắt giảm lao động - nhiều nhất ở công ty Canon (KCN Thăng Long), với khoảng 2,000 lao động, Nissei Electric khoảng 300 lao động... KCN Nội Bài cũng đã có một số DN thông báo cắt giảm 30-50 lao động. Nhiều DN cho công nhân tạm ngưng hoặc nghỉ việc ăn lương 50%-70%,” báo SGGP ngày 17/12/08 viết. “Tình trạng tương tự cũng đang diễn ra tại Hải Phòng, Hưng Yên và nhiều địa phương khác, nhất là những nơi tập trung đông DN FDI, DN chuyên sản xuất hàng xuất khẩu.”

Hồi tuần trước, báo điện tử VNExpress dựa vào thống kê của Sở Lao Ðộng thành phố Sài Gòn cho hay 14 xí nghiệp tại địa phương này đã đóng cửa làm cho hơn 4,000 người mất việc. Trong số đó, 10 công ty là vốn đầu tư ngoại quốc, còn lại là công ty trong nước.

Theo nguồn tin này, ngoài ra, “Nhiều doanh nghiệp có lượng người lao động rất lớn như công ty Silverstar (Ðài Loan) với hơn 1,000 công nhân, Vina Heang woon Industry của Hàn Quốc sa thải 680 công nhân.”

Theo sự ước lượng của viên chức Sở Lao Ðộng Sài Gòn, “hiện đã có hàng chục nghìn nhân công bị sa thải, đặc biệt là trong thời điểm cuối năm. Dự báo, năm 2009 sẽ đến với số người thất nghiệp rất lớn, nhu cầu việc làm sẽ trở nên cấp thiết và có cạnh tranh gay gắt trên thị trường lao động.”

Ngày 16/12/08, báo Người Lao Ðộng cho hay “không những các người bị thất nghiệp điêu đứng, mà ngay cả công nhân đang có việc cũng khốn đốn”.

Tờ báo kể lại lời cầu cứu của bà Nguyễn Thị Xuân, một công nhân tại khu công nghệ Linh Trung II, Sài Gòn, mong mỏi “có chính sách hỗ trợ để công nhân bớt khổ.”

NLÐ viết rằng, “Theo chị Xuân, nhiều doanh nghiệp trong khu chế xuất đã sa thải công nhân, một số khác phải chờ việc nên Tết này không biết lấy gì về quê ăn Tết. Trong khi tiền phòng trọ, tiền điện nước, gạo, thực phẩm... cứ tăng giá. Ðây cũng là tình cảnh của hàng ngàn công nhân ở các khu công nghệ tại Sài Gòn hiện nay.”

Báo Người Lao Ðộng kể một số trường hợp thê thảm như sau: “Chiều 12-12, theo cán bộ LÐLÐ huyện Hóc Môn-Sài Gòn đến thăm công nhân công ty TNHH AirCamp ở xã Thới Tam Thôn, chúng tôi thấu hiểu những khó khăn mà họ phải đối mặt. Nhận 500.000 đồng tiền tạm ứng chưa ‘ấm’ hơi tay, nhiều công nhân đã phải ngậm ngùi mang đi trả nợ tiền nhà. Nữ công nhân Võ Thị Vy cho biết phải đi xe từ Bến Lức, Long An lên Sài Gòn lúc sáng sớm để ‘canh’ việc trả lương của công ty. Ði năm lần, bảy lượt mới nhận được vài trăm ngàn đồng, đành phải khất nợ tiền nhà đến cuối tháng.

Với gần 500 công nhân công ty TNHH Aura Lingerie (quận Thủ Ðức-Sài Gòn), đợt lương ngày 10-12 là lần lãnh lương sau cùng. Lãnh một cục tiền lương, trợ cấp nhưng ai cũng lo lắng, buồn phiền. Cả tháng nay, họ phải chạy vạy tìm việc nhưng rất ít người có được việc làm mới. Tình cảnh công nhân công ty TNHH Ðại Sáng VN (huyện Hóc Môn-TPHCM) cũng bi đát không kém. Nữ công nhân Nguyễn Thị Lang cho biết: “Chúng tôi phải chầu chực chờ nhận lương 2 tháng nay rồi. Công ty cứ trả lương nhỏ giọt. Chiều 15-12, đúng hẹn nhận lương, chúng tôi gọi điện hỏi thăm nhưng người có trách nhiệm của công ty đều tắt máy.”


Bếp không đỏ lửa

Ðến dãy nhà trọ ở khu phố 2, phường Linh Xuân, quận Thủ Ðức-Sài Gòn sáng Chủ Nhật vừa qua, chúng tôi gặp nhiều công nhân ở nhà. Một số đi chợ, nấu ăn; một số ở nhà giặt giũ, ngủ bù, khác hẳn trước đây, ngày cuối tuần thường im ỉm vì công nhân tăng ca hoặc đi chơi. Dù đã hơn 9 giờ nhưng chị em Nguyễn Thị Hạnh (công ty Freetrend-KCX Linh Trung I) vẫn còn ngái ngủ. Trước sự thắc mắc của chúng tôi, Hạnh cười: “Dậy sớm không làm gì lại tốn tiền ăn sáng. Thôi ráng ngủ, trưa ăn luôn.”

Bếp núc lạnh tanh, Hằng, chị của Hạnh, nói: “Cả tháng nay, tụi em không nấu ăn; ngày ăn cơm công ty, buổi tối về nhà một gói mì là xong bữa. Bây giờ ra chợ, cái gì cũng đắt... Thứ gì cũng tăng vùn vụt nhưng cả tháng nay không tăng ca nên thu nhập rất thấp”. Hằng để lại chồng và con nhỏ ở Quảng Bình vào KCX Linh Trung I làm việc hơn 4 năm nay với thu nhập từ 1.3 triệu đồng đến 1,6 triệu đồng/tháng.

Trước đây, mỗi tháng, tằn tiện lắm, trừ tiền nhà, điện, nước, ăn uống, chị còn gửi về cho con được 300,000 đồng đến 400,000 đồng. Nhưng từ 3 tháng nay, Hằng chưa gửi về nhà được đồng nào. Nhắc đến Tết, chị rươm rướm nước mắt: “Chắc là không về, cố kiếm ít tiền gửi về cho hai bố con ăn Tết”.

Trong đợt giảm lao động vừa qua, chúng tôi gặp chị Nguyễn Thị Ngọc Thúy, công ty Filia-KCN Tây Bắc Củ Chi. Chị Thúy có bầu 4 tháng cũng đúng lúc hết hạn hợp đồng và công ty không ký tiếp. Nước mắt lưng tròng, chị kể: “Chồng tôi vừa đăng ký đi xuất khẩu lao động nên giờ chỉ đi học. Mấy tháng nay, tiền ăn ở, sinh hoạt của hai vợ chồng đều phụ thuộc vào đồng lương ít ỏi của tôi. Nay tôi mất việc luôn không biết lấy gì sống. Tôi bầu bì như vầy không thể xin việc được. Chắc phải về quê, sống nhờ hai bên nội, ngoại chứ biết làm sao”.

Trong căn phòng trọ trên đường Huỳnh Tấn Phát, quận 7-Sài Gòn, chúng tôi gặp Nguyễn Thị Linh, công nhân công ty FAPV-KCX Tân Thuận. Linh cũng không giấu nỗi lo lắng: “Trước đây, lúc nào công ty cũng đăng bảng tuyển công nhân. Vậy mà nghe nói sắp tới, công ty phải cho 2,000 công nhân nghỉ việc vì không có đơn hàng. Nếu đúng như vậy thì chắc là bi đát lắm vì Tết sắp đến rồi...”


Chủ nhà trọ, tiệm tạp hóa... cũng kêu trời!

Chuyện doanh nghiệp khó khăn phải đóng cửa, tạm ngưng hoạt động hoặc thu hẹp sản xuất không chỉ gây khó cho công nhân. Nhiều tháng qua, những người làm dịch vụ “ăn theo công nhân” cũng phải khốn đốn. Bà Hai Tân, chủ tiệm tạp hóa ở cạnh KCN Tân Tạo, than thở: “Tôi bán ở đây gần chục năm rồi, chưa khi nào thấy công nhân khổ như vầy. Hồi trước, tụi nó mua đồ thiếu, tới kỳ lương thì trả đủ. Còn bây giờ, có đứa thiếu tới 3 tháng cũng không trả. Tôi vô tận nhà trọ đòi cũng không có. Vốn liếng không bao nhiêu, cứ bán thiếu kiểu này, chắc có ngày đứt vốn!”

Một viên chức cao cấp của Bộ Lao Ðộng dự báo số người thất nghiệp tại Việt Nam sẽ còn tăng lên nhiều hơn vào đầu năm tới khi ảnh hưởng từ cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu ảnh hưởng nhiều hơn đến Việt Nam, một nước có nền kinh tế hướng nhiều về xuất khẩu để tăng trưởng.

Posted: Tue Dec 23, 2008 1:37 am
by khieulong
50 phi công, tiếp viên Vietnam Airlines dính vào dịch vụ chuyển hàng mất cắp
Sunday, December 21, 2008

Image
Phi công Ðặng Xuân Hợp, 33 tuổi, của hãng hàng không quốc doanh Vietnam Airlines
bị cảnh sát phi cảng quốc tế Narita, Tokyo, bắt ngày 17/12/2008 với cáo buộc vận chuyển hàng bị đánh cắp.
TOKYO 21-12 (TH).- Khoảng 50 phi công, tiếp viên phi hành của hãng hàng không quốc doanh Vietnam Airlines dính vào dịch vụ vận chuyển hàng hóa đánh cắp ở nước Nhật về Việt Nam.

Báo chí Nhật nói như vậy chứ không phải chỉ có một mình phi công Ðặng Xuân Hợp, người đã bị bắt ở phi trường quốc tế Narita, Tokyo, ngày 17/12/08.

Báo chí Nhật cách đây ba ngày cho hay cảnh sát đã bắt giữ 85 người Việt Nam liên quan đến các vụ đánh cắp, vận chuyển các loại hàng hóa lấy từ các siêu thị, tiệm thuốc, tiệm buôn trên đất Nhật về Việt Nam tiêu thụ. Phần lớn là mỹ phẩm, quần áo đắt tiền rất có giá tại Việt Nam.

Theo báo Asahi Shimbun ngày 20/12/08, các tài liệu mà cơ quan điều tra của cảnh sát đã tìm được nhiều tài liệu, chứng cứ cho thấy số phi công, tiếp viên, nhân viên của VNA chi nhánh trên đất Nhật rất đông đảo chứ không phải chỉ có mình Ðặng Xuân Hợp.

Ðặng Xuân Hợp chỉ là phi công phụ nhưng nguồn tin trên nói cả các phi công chính của VNA cũng tham dự vào các vụ vận chuyển hàng mất cắp đó. Phi công các đường bay quốc tế đến Nhật không phải qua thủ tục khám xét hành lý bình thường của hải quan nên họ là những mắt xích hợp lý cho các vụ chuyển vận hàng lậu.

Ðiện thoại di động, vàng, kim cương, tiền đô la và các loại ngoại tệ mạnh mà tiếp viên và phi công VNA vận chuyển ra vào Việt Nam bất hợp pháp từng bị bắt giữ tại một số quốc gia trong vùng cũng như khi về đến Việt Nam.

Cảnh sát tại 14 thành phố của Nhật đã mở các cuộc lục soát điều tra trong những ngày qua, theo báo Asahi Shimbun, để xác định xem các người của VNA có thật sự liên quan đến các đường dây ăn trộm hàng hóa hay không. Nhưng ít nhất, thì những gì họ đã tìm thấy khi bắt giữ Ðặng Xuân Hợp, có dấu hiệu như vậy.

Cảnh sát tìm thấy tại chỗ cư trú của một phụ nữ tên Trần Thị Mỹ Hạnh một tờ thư fax từ Việt Nam với nội dung về hàng hóa và người nhận hàng để chuyển về Việt Nam là Ðặng Xuân Hợp.

Theo nguồn tin này, từ các bản thư fax từ Việt Nam sang và các biên nhận gửi bưu phẩm trong đường dây đánh cắp và gửi hàng mở ra cho họ thấy sự kinh doanh bất hợp pháp này liên hệ đến rất nhiều người, từ nhân viên VNA đến các “tu nghiệp sinh” của Việt Nam.

Ðặng Xuân Hợp khai với cảnh sát điều tra là ông ta không biết các món hàng mà ông ấy mang về Việt Nam là hàng ăn cắp. Tuy nhiên, ông nhìn nhận đã được trả công mỗi chuyến như vậy $100 USD.

Ngày 18/12/08, tòa án ở Yamagucji đã kết án Nguyễn Hoàng Công 2 năm tù vì tội ăn cắp hàng hóa.

Ngày 25/5/08, hải quan phi trường Narita đã tạm giữ tiếp viên Trần Thanh Phong của VNA sau chuyến bay từ Sài Gòn đến. Trong hành lý của ông này bị hải quan xét thấy có nhiều tiền yen và một số hàng hóa trị giá hơn $10,000 USD. Khi được thả về nước, Phong đã xin nghỉ việc.

Ngày 13/7/08, tiếp viên VNA tên Nguyễn Hoàng Hải bị xét thấy vận chuyển bất hợp pháp hơn 330,000 Euro từ Ðức về Việt Nam.

Cuối Tháng Sáu 2007, hai phi công của VNA đã bị “đình bay” vì vận chuyển bất hợp pháp một số mỹ phẩm trị giá khoảng $3,600 USD từ Osaka về Sài Gòn.

Ngày 31/3/08, Lại Quốc Việt, phi công VNA đã bị bắt giữ ở phi trường Sydney, Úc, vì vận chuyển 4 triệu Úc kim ra khỏi nước này và liên quan đến một số đường dây rửa tiền và buôn bán ma túy. Một phi công VNA khác đã bị Úc kết án 4 năm rưỡi tù hồi năm ngoái vì vận chuyển bất hợp pháp 6.5 triệu Úc kim về Việt Nam.

Nếu chính phủ Nhật tìm ra đủ chứng cớ và truy tố 50 phi công, tiếp viên VNA, trong một vụ làm ăn bất chính và qui mô, đây là chuyện tai tiếng không nhỏ cho hãng hàng không quốc doanh này nói riêng và thể diện của người Việt Nam nói chung ở nước ngoài.

Theo một nhà báo ở Sài Gòn nói với báo Người Việt, xin vào làm phi công và tiếp viên cho VNA không phải dễ. Hoặc phải là “con ông cháu cha” được gửi gấm hoặc phải tốn những số tiền rất lớn. Hai năm trước, báo chí phanh phui cho thấy con của Bộ Trưởng Tư Pháp Uông Chu Lưu, tướng vùng, và nhiều quan chức khác đã dùng thế lực và ảnh hưởng để cho con đi du học ngành hàng không dân dụng ở ngoại quốc với tiền đài thọ của VNA, tuy không thuộc “diện” được thu nhận.

Posted: Wed Dec 24, 2008 3:43 am
by tranphuongdong
Tội phạm có tổ chức gia tăng đáng ngại:
Cả chính quyền lẫn công an CSVN chỉ quan tâm tới việc chống tranh đấu đòi tự do, dân chủ

Monday, December 22, 2008

Image
Hình bên: Hồi giữa tháng 4, cảnh sát cơ động của công an CSVN được rải đầy đường
để ngăn chặn các cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc xâm phạm chủ quyền lãnh thổ.
Cướp, giết xảy ra khắp nơi nhưng Công an CSVN chỉ tung lực lượng để đối phó
với việc tranh đấu đòi tự do, dân chủ, chống ngoại xâm. (Hình: AFP)


Hà Nội (NV) - An ninh, trật tự xã hội ở Việt Nam đang càng lúc càng hỗn loạn và công an CSVN vừa chính thức xác nhận điều đó.

Tại một hội nghị được tổ chức để bàn về việc phối hợp chống tội phạm hình sự, do Bộ Công An CSVN, Tổng Cục Cảnh Sát của công an CSVN thú nhận, tội phạm có tổ chức đang nở rộ dưới các hình thức như: bảo kê nhà hàng, bến bãi, đòi nợ thuê, tổ chức cờ bạc, mại dâm đặc biệt là giết nhau giành địa bàn...

Báo điện tử Dân Trí dẫn lời một viên tướng tên Trần Ðại Quang, Thứ trưởng Bộ Công An CSVN, cho biết: Tình hình an ninh trật tự đang bộc lộ những dấu hiệu phức tạp, các băng nhóm tội phạm hoạt động rất khó dự đoán. Có cả hiện tượng tội phạm trong nước câu kết với tội phạm ở nước ngoài để thành lập các tổ chức tội phạm xuyên quốc gia.

Công an CSVN công bố một thống kê, theo đó, trong năm 2008, đã triệt phá khoảng 2,400 băng nhóm. Bắt khoảng 7,500 tội phạm chuyên nghiệp, hoạt động liên tuyến, liên tỉnh. Trong số này, đã triệt phá khoảng 1.000 băng nhóm ở Hà Nội, 700 băng nhóm ở Sài Gòn.

Ðáng lưu ý là các vụ cướp có súng, thanh toán nhau bằng súng đang bùng phát. Trong đó, vụ thanh toán đẫm máu, xảy ra hôm 15 tháng 12, tại Cảng Làng Khánh, phường Hà Khánh, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh để lại sáu xác chết nằm rải rác trong cảng này đang khiến dân chúng bàng hoàng. Một viên đại tá tên Vũ Bá Dạc, cục trưởng Cục Cảnh sát quản lý hành chính và trật tự xã hội, cho rằng: 'Ðó là do những bất cập trong quản lý súng tự chế. Theo quy định hiện hành, súng tự chế không được xem là vũ khí quân dụng nên không thể truy tố kẻ sản xuất, tàng trữ. Gần đây, khi chúng tôi kết hợp với các địa phương vận động dân chúng giao vũ khí, chỉ riêng tại tỉnh Sơn La, dân chúng đã nộp khoảng 76 ngàn khẩu súng. Bởi quy định như vậy, nếu họ không nộp thì mình cũng chịu”.

Một viên thiếu tướng tên Phạm Quý Ngọ, kể thêm về một trường hợp tại Hải Phòng. Trong một chuyên án, công an bắt được một người có hành vi tàng trữ... 39 khẩu súng tự chế. Tuy nhiên không thể khởi tố người này do Viện Kiểm sát khẳng định không có điều nào trong luật hình sự quy định giữ súng tự chế là phạm tội.

Trong bối cảnh đó, tại Hội nghị Công an toàn quốc, diễn ra vào ngày 22 tháng 12, trang thông tin điện tử của chính phủ CSVN cho biết, thủ tướng CSVN, Nguyễn Tấn Dũng: “Ðánh giá cao những nỗ lực và kết quả mà ngành công an đã đạt được, chủ động nắm tình hình, tham mưu đề xuất với Ðảng, Chính phủ chỉ đạo giải quyết có hiệu quả nhiều vấn đề về an ninh đặt ra trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Ðấu tranh ngăn chặn kịp thời và hiệu quả các hành vi kích động biểu tình gây rối, bạo loạn của các thế lực thù địch, giữ vững an ninh ở các địa bàn chiến lược. Phát hiện và đấu tranh có hiệu quả với các hoạt động chống phá từ bên ngoài của các tổ chức phản động người Việt lưu vong, ngăn chặn kịp thời ý đồ công khai hóa và liên kết hình thành tổ chức chính trị phản động trong nước. Chủ động triển khai thực hiện có hiệu quả các biện pháp phòng chống khủng bố, bảo đảm an ninh an toàn các ngày lễ lớn và các hoạt động chính trị quan trọng của lãnh đạo Ðảng và Nhà nước, các mục tiêu quan trọng về chính trị, quốc phòng và an ninh. Năm 2008, công an đã điều tra, đề nghị truy tố hơn 670 vụ phạm tội liên quan đến xâm phạm an ninh quốc gia”.

Thủ tướng CSVN biểu dương việc giải quyết dứt điểm, đúng pháp luật vụ 42 Nhà Chung (Tòa Khâm sứ) và 178 Nguyễn Lương Bằng (tu viện Thái Hà) ở Hà Nội, “góp phần củng cố thêm niềm tin trong nhân dân và được nhân dân đồng tình ủng hộ”.

Nguyễn Tấn Dũng thú nhận: “Do ảnh hưởng bất lợi của suy thoái kinh tế thế giới, công nghiệp, dịch vụ, xuất khẩu, du lịch trong nước liên tục giảm, do vậy năm 2009 Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn hơn nên giao cho ngành công an nhiệm vụ nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về an ninh, trật tự an toàn xã hội, bảo đảm an ninh quốc gia. Phát hiện sớm mầm mống tội phạm đối lập để xử lý kịp thời, không để xảy ra biểu tình, bạo loạn, khủng bố. Bảo vệ nội bộ của ngành và đề cao cảnh giác trước âm mưu ‘diễn biến hòa bình’ của các thế lực thù địch”. (G.Ð)

Posted: Thu Dec 25, 2008 4:47 am
by vuphong
Sài Gòn: 470 học sinh một trường tiểu học bị ngộ độc thực phẩm
Tuesday, December 23, 2008

Image
Nhân viên một cửa hàng chuyên cung cấp các sản phẩm
phục vụ chuyện cưới hỏi đang làm bánh su sê.
Sài Gòn (NV) - Chiều 22 tháng 12, 470/1,617 học sinh của trường tiểu học Phước Bình, quận 9, Sài Gòn đã được đưa đi cấp cứu do buồn nôn, chóng mặt, nhức đầu, ói mửa và tiêu chảy. Vì số lượng nạn nhân quá đông, các nạn nhân đã được chuyển đến nhiều bệnh viện khác nhau để được cấp cứu kịp thời. Từ trước đến nay, đây là vụ ngộ độc có đông nạn nhân nhất tại Sài Gòn.

Sở Y Tế Sài Gòn cho biết, trong bữa trưa ngày 22 tháng 12, các đầu bếp trong trường tiểu học Phước Bình đã nấu khoảng 30 phần cháo thịt và 1,611 phần cơm với các món mực xào cà ri, canh bắp cải, thịt kho, cơm và chuối cau để cung cấp cho học sinh trong trường. Ðến hai giờ chiều học sinh được cho ăn thêm bánh bông lan và uống sữa tươi. Bánh bông lan và sữa tươi được mua từ các cơ sở bên ngoài trường. Ðến gần cuối buổi chiều cùng ngày, 470 học sinh có dấu hiệu ngộ độc, phải đưa đi cấp cứu.

Chiều ngày 23 tháng 12, Thanh Tra Sở Y Tế Sài Gòn cho biết, dựa trên kết quả xét nghiệm bệnh phẩm và thực phẩm, đã xác định được bánh bông lan là nguyên nhân gây ra ngộ độc.

Cho đến chiều ngày 23 tháng 12, vẫn còn 59 học sinh bị ngộ độc thực phẩm đang phải nằm lại bệnh viện để điều trị. Tuy nhiên không có trường hợp nào nguy hiểm đến tính mạng.

Sở Y Tế Sài Gòn đã yêu cầu đình chỉ lưu hành lô bánh gây ngộ độc và xử phạt hành chính cơ sở sản xuất bánh bông lan có các loại vi khuẩn gây ngộ độc.

Gần đây, tại Việt Nam, tháng nào cũng xảy ra ngộ độc tập thể. Vào ngày 18 tháng 10, có 18 người ngụ tại thị trấn Thanh Lãng, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc, trong đó đa số là trẻ em đã được đưa đi cấp cứu vì ngộ độc bánh dày khi tham dự một tiệc cưới.

Trước nữa, hồi đầu tháng 9, có 41 người ngụ tại xã Kim Lũ, huyện Sóc Sơn, Hà Nội cũng được đưa đi cấp cứu vì ngộ độc bánh dày trong một tiệc cưới.

Dù chính quyền CSVN tuyên bố sẽ siết chặt việc quản lý vệ sinh thực phẩm để giảm tối đa dịch bệnh cũng như các vụ ngộ độc thực phẩm song thực tế cho thấy, các tuyên bố này chỉ là... tuyên bố. Các vụ ngộ độc tập thể vẫn xảy ra khắp nơi do dự tiệc cưới, ăn sáng, ăn trưa, ăn chiều, mua thức ăn ngoài đường, dùng bữa tại các bếp ăn tập thể.

Hôm mùng 7 tháng này, bệnh viện quận Thủ Ðức, Sài Gòn đã phải cấp cứu cho 51 người, gồm cả trẻ con lẫn người lớn do ngộ độc khi ăn xôi gà bán trước cửa một trường tiểu học ở phường Tam Bình.

Trước đó vài tuần, một vụ ngộ độc tập thể khác cũng đã xảy ra tại quận Thủ Ðức, khiến 180 công nhân của công ty Greystones Data System Vietnam phải vào bệnh viện. Những công nhân này bị ngộ độc sau khi dùng bữa trưa tại nhà ăn của công ty với các món: thịt bò xào thơm, đậu hũ chiên sả, canh cải ngọt.

Cuối tháng 7 vừa qua, trả lời báo chí Việt Nam về ngộ độc thực phẩm, ông Trần Ðáng, cục trưởng Cục An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm, cho biết: Trong nửa đầu năm nay, tại Việt Nam đã xảy ra 106 vụ ngộ độc thực phẩm với 4,718 nạn nhân. Trong đó có 43 người chết. So với cùng kỳ năm ngoái, số vụ ngộ độc giảm khoảng 12% nhưng số người bị ngộ độc thực phẩm và tử vong vì ngộ độc thực phẩm tăng 53%. Các vụ ngộ độc thực phẩm chủ yếu xảy ra tại gia đình (55%), tiếp đó là tại các bếp ăn tập thể, các đám cưới, đám giỗ.

Kết quả điều tra ngộ độc thực phẩm cho thấy, khu vực Ðông Nam Bộ (gồm các tỉnh: Bà Rịa-Vũng Tàu, Ðồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh) có số người bị ngộ độc thực phẩm cao nhất Việt Nam (chiếm 52%). Nguyên nhân khiến số vụ ngộ độc thực phẩm ở khu vực này tăng vọt là do các cơ sở chuyên cung cấp suất ăn không bảo đảm vệ sinh thực phẩm.

Tuy nhiên, theo Cục An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm, tuy khu vực Ðông Nam bộ, Bắc Trung bộ và khu vực đồng bằng duyên hải miền Trung dẫn đầu về số vụ ngộ độc thực phẩm và số nạn nhân nhưng chưa có ai tử vong vì ngộ độc thực phẩm. Các trường hợp tử vong vì ngộ độc thực phẩm chỉ xảy ra ở khu vực các tỉnh miền núi phía Bắc. Nguyên nhân là vì người thiểu số ở đó vẫn giữ thói quen dùng bột bắp khô làm bánh và rượu kém chất lượng. Loại bột do họ tự chế biến thường có nấm độc gây nguy hiểm cho tính mạng. (G.Ð)

Posted: Fri Dec 26, 2008 2:17 am
by khieulong
Công trình bê bối nhất Sài Gòn liên quan đến Lê Thanh Hải, Hùynh Ngọc Sĩ,
2 quan chức vẫn bình an vô sự

Wednesday, December 24, 2008

Image
Ông Lê Thanh Hải, cựu chủ tịch TP Sài Gòn, nay là ủy viên Bộ Chính Trị kiêm bí thư Thành Ủy Sài Gòn,
được xem là “đạo diễn” các dự án tai tiếng ở Sài Gòn.
Sài Gòn (NV) - Thanh tra thành phố Sài Gòn vừa công bố kết luận thanh tra “Dự án cầu-đường Nguyễn Hữu Cảnh”. Lúc đầu, tổng vốn đầu tư cho dự án này là 278 tỷ đồng, sau đó được “điều chỉnh” thành 419 tỷ đồng. Năm năm sau khi hoàn thành (2002), hồi giữa năm 2007, UBND thành phố Sài Gòn phải chi 141 tỷ để sửa chữa cầu Văn Thánh 2 (nằm trong dự án) và hai đầu đường dẫn vào cầu. Chưa kể phải chi khoảng 4 tỷ đồng cho 57 căn nhà bị nứt.

Thanh tra thành phố Sài Gòn đã xác định “Dự án cầu đường Nguyễn Hữu Cảnh” là “bê bối nhất Sài Gòn” và “lập kỷ lục về các sai phạm”.

Hồi cuối thập niên 1990, “Dự án cầu đường Nguyễn Hữu Cảnh” từng được xác định là một trong những công trình quan trọng nhất để phát triển Sài Gòn. Dự án này nối dài đường Lê Thánh Tôn (chỗ tiếp giáp với đường Tôn Ðức Thắng, tên cũ là Cường Ðể), chạy cặp hông Thảo Cầm viên (Sở Thú), qua hai cây cầu dẫn ra Tân Cảng (khu vực chân cầu Sài Gòn). Tuy nhiên, sau khi hoàn tất, toàn bộ con đường cũng như hai cây cầu (cầu Nguyễn Hữu Cảnh, cầu Văn Thánh 2) đều lún, sụt, biến dạng. Ðường Nguyễn Hữu Cảnh trở thành con đường ngập nặng nhất Sài Gòn.

Theo thanh tra thành phố Sài Gòn, công ty Thanh Niên Xung Phong, chủ đầu tư “Dự án cầu-đường Nguyễn Hữu Cảnh” phải chịu trách nhiệm về việc lún nứt đường, lún nứt đường dẫn lên cầu và lún vỡ cầu Văn Thánh 2 vì không tuân thủ quy định quản lý chất lượng xây dựng.

Tư vấn thiết kế là công ty Tư Vấn Thiết Kế Giao Thông Vận Tải phía Nam, tư vấn giám sát là phân viện Khoa Học Công Nghệ Giao Thông Vận Tải cùng thuộc Bộ Giao Thông Vận Tải, phải chịu trách nhiệm chính về việc lún nứt đường dẫn lên cầu Văn Thánh 2 lần thứ hai (sau khi sửa) và nứt nhà dân...

Ðáng lưu ý là không thấy thanh tra thành phố Sài Gòn đề cập đến trách nhiệm của ông Huỳnh Ngọc Sỹ và ông Lê Thanh Hải.

Hồi đầu thập niên 2000, nhiều tờ báo ở Sài Gòn đã bắt đầu hệ thống và công bố hàng loạt sai phạm của công ty Thanh Niên Xung Phong, thuộc lực lượng Thanh Niên Xung Phong do ông Huỳnh Ngọc Sỹ làm giám đốc. Tuy thiếu cả nhân lực, kinh nghiệm, tài chánh, thiết bị nhưng công ty Thanh Niên Xung Phong vẫn được ông Lê Thanh Hải (cựu chỉ huy trưởng lực lượng Thanh Niên Xung Phong), lúc đó là chủ tịch UBND thành phố Sài Gòn giao làm chủ đầu tư nhiều công trình hạ tầng giao thông như: Dự án cầu-đường Nguyễn Hữu Cảnh, Dự án nâng cấp-mở rộng đường Ðiện Biên Phủ, Dự án xây dựng trạm thu phí xa lộ Hà Nội, Dự án nâng cấp-mở rộng đường liên tỉnh lộ 25... và cuối cùng tất cả những dự án này đều kém chất lượng (đường lún, hầm lún, cầu lún, bị thủng mặt,...), đến nay vẫn chưa khắc phục xong hậu quả.

Dù tạo ra vô số điều tiếng như vừa kể song ông Huỳnh Ngọc Sỹ vẫn được bổ nhiệm làm phó giám đốc Sở Giao Thông Công Chánh Sài Gòn kiêm giám đốc Ban Quản Lý Dự Án Ðại Lộ Ðông Tây và Môi Trường Nước. Từ tháng 6 vừa qua đến nay, ông Huỳnh Ngọc Sỹ trở thành nhân vật chính trong vụ nhận 820 ngàn USD do tập đoàn PCI của Nhật hối lộ. Bởi chính quyền CSVN thiếu thiện chí hợp tác điều tra về vụ nhận hối lộ này, chính phủ Nhật đã quyết định tạm ngưng giải ngân các khoản vay ưu đãi dành cho Việt Nam. Chính quyền CSVN chỉ mới tạm đình chỉ chức vụ của ông Huỳnh Ngọc Sỹ, chuyển ông Sỹ từ Ban Quản Lý Dự Án Ðại Lộ Ðông Tây và Môi Trường Nước về “sinh hoạt Ðảng” tại Sở Giao Thông Vận Tải. Công an CSVN chỉ mới khởi tố vụ án nhận hối lộ chứ chưa khởi tố ông Huỳnh Ngọc Sỹ.

Theo một số nguồn thạo tin, sau khi vụ PCI đổ bể, hồi tháng 7, đám cưới giữa con ông Huỳnh Ngọc Sỹ và ông Lê Thanh Hải đã bị tạm hoãn.

Hồi cuối năm ngoái, tờ Ðại Ðoàn Kết từng công bố một loạt bài điều tra về việc UBND thành phố Sài Gòn tự động đem bán toàn bộ đất dành cho việc tái định cư những gia đình bị thu hồi đất, giải tỏa nhà để thực hiện dự án đại lộ Ðông Tây, đồng thời chỉ đích danh người phải chịu trách nhiệm về sai phạm đó là ông Lê Thanh Hải (nay là ủy viên Bộ Chính Trị, kiêm bí thư Thành Ủy Sài Gòn). Những diễn biến mới nhất liên quan đến vụ PCI cho thấy, việc “thiết kế chi tiết đại lộ Ðông Tây và giám sát xây dựng cơ sở hạ tầng sáu khu tái định cư” thuộc một trong ba gói thầu có liên quan đến PCI. (G.Ð)

Posted: Sat Dec 27, 2008 7:04 am
by dailien
NHỮNG CÂU NÓI GÂY SỐC CỦA CÁC QUAN CHỨC HÀ NỘI



Những ngày cuối năm, cơ quan báo chí bắt đầu những tổng kết, những bình chọn các sự kiện nổi bật trong năm.
Mõ tui thấy cần thiết phải nhắc lại những câu nói “gây sốc” phản ánh một cung cách làm việc vô tâm và thiếu tầm của một số vị quan chức đầu ngành Hà Nội, để suy gẫm và nhất là để những vị quan chức rút ra bài học cho chính mình.

1. Nổi tiếng nhất trong những câu nói “gây sốc” là hai câu nói của Bí thư Thành ủy Hà Nội, Phạm Quang Nghị.
Trong trận lụt lịch sử đầu tháng 11 vừa qua, Phạm Quang Nghị, đã có những lúc lên đồng tuôn ra những lời xúc phạm tới vong linh người chết và cả những người đang sống.
Với người sống, ông nói:
“Do đang đi kiểm tra dưới cơ sở nên tôi thấy nhân dân ta bây giờ so với ngày xưa ỷ lại Nhà nước lắm. Cứ chờ trên về, chờ cung cấp cái này, hỗ trợ cái kia chứ không đem hết sức ra tự làm".
Còn với người chết ông phát biểu:
“Trận lụt này là cuộc tổng diễn tập cho tương lai”.

2. Một quan chức khác cũng có những lời gây sốc là ông Vũ Hồng Khanh – phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội.
Trong cuộc gặp gỡ với các linh mục DCCT – giáo xứ Thái Hà, khi bị dồn vào thế bí đã nói một câu hết sức vô trách nhiệm:
“Các đồng chí về xem xét lại các giấy tờ nói linh mục Bích đã ký giấy bàn giao và chọn một cái thôi. Cái nào có lợi thì đưa ra cái nào không có lợi thì cất đi”.

3. Ông Nguyễn Thế Thảo – Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội, không chỉ có những hành vi gây sốc, như:

Triệu tập các đại sứ quán tới để nghe ông kết án Đức Tổng, ra những văn bản cảnh cáo Đức Tổng Giám mục và các linh mục giáo xứ Thái Hà trái pháp luật, làm đơn đề nghị HĐGM Việt Nam thuyên chuyển Đức Tổng Kiệt và đề nghị cha Giám tỉnh DCCT “giáo dục và thuyên chuyển” một số linh mục tại giáo xứ Thái Hà…

Trong trận lụt lịch sử vừa qua, ông cũng đã có những câu nói gây bức xúc trong dân. Ông nói:

“Hệ thống thoát nước Hà Nội dù có làm xong giai đoạn hai thì vẫn ngập”.

4. Ông Trịnh Kiên Đĩnh – Phó Giám đốc Sở Tài nguyên Môi trường và Nhà đất Hà Nội, trong vụ Tòa Khâm sứ và giáo xứ Thái Hà, sau khi bị các linh mục vạch trần hành vi “trắng trợn cướp đất không văn tự của các cơ quan nhà nước” đã lý luận cùng với một lập luận nổi tiếng:
“Tôi đã hỏi các cụ cao niên, các cụ cho biết thời đó nó làm thế. Nó chủ trương. Nó thi hành. Sau cùng nó mới ra nghị quyết.”

5. Ông Đoàn Viết Thịnh – Đại biểu Quốc Hội thành phố Hà Nội, trước các Nghị viên Nghị viện Châu Âu, ngày 18 tháng 12 năm 2008, đã có những lời lẽ xúc phạm tới người dân nghèo khi khẳng định rằng:
“Đối với dân chúng nghèo, họ không quan tâm tới tự do ngôn luận mà quan tâm về ăn uống, đói no”.

6. Quan to thì vậy, quan bé cũng chẳng vừa. Ông Đoàn Văn Lê – cán bộ điều tra công an Quận Đống Đa, khi bị các giáo dân chất vấn về việc tại sao chỉ bắt tám người trong khi có hàng ngàn người đã tới Thái Hà cầu nguyện, đã hiên ngang trả lời:
“Đàn gà ngàn con thả ra vườn, vồ được con nào con ấy chết”.

Hà Nội sắp tiến tới kỷ niệm 1000 năm Thăng Long. Chẳng lẽ thời điểm 1000 năm Hà Nội lại chỉ là những quan chức ăn nói hồ đồ như vậy sao?

Bao lâu còn những ông quan như vậy thì Việt Nam sẽ chẳng thể hóa rồng. Hà Nội sẽ không bao giờ là rồng bay, phượng múa.

Quan chức thủ đô sao ô trọc vậy!

Hà Nội, ngày 24 tháng 12 năm 2008
Mõ Hà Nội ( DCCT)

Posted: Sun Dec 28, 2008 3:28 pm
by tankhoasinh
Hà Nội, Kiên Giang nóng hổi những vụ chống chính quyền cưỡng đoạt đất,
dùng công an, quân đội đàn áp dân

Saturday, December 27, 2008

Image
Cuối năm ngoái, hàng ngàn nông dân từ nhiều nơi đã kéo về Sài Gòn,
chiếm văn phòng tiếp dân ở khu vực phía Nam của quốc hội.

Hà Nội (NV) - Lại thêm một vụ phản kháng chống cưỡng đoạt đất song lần này, dân chúng không chống trả và vì vậy, họ trở nên bất lực trong việc ngăn chặn công an, quân đội CSVN cưỡng đoạt tài sản của mình.

Một nông dân tên Nguyễn Anh Kim, ngụ tại xã Yên Sơn, huyện Quốc Oai, Hà Nội xác nhận, hôm 25 tháng 12, hàng trăm công an và quân nhân của huyện Quốc Oai đã đổ đến thôn Sơn Trung, xã Yên Sơn, huyện Quốc Oai, Hà Nội để hỗ trợ xe ủi đất, cày xới đất canh tác trong vùng.

Bà Nguyễn Thị Mùi, một nông dân khác kể thêm: Khi xe ủi đến, dân đổ ra chặn xe không cho vào làng. Những người lái xe đã gọi điện thoại rồi công an, quân đội tràn đến. Một số người sợ, giãn ra hai bên nhưng chúng tôi thì lăn vào giữ xe.

Khu vực bị “cưỡng chế thu hồi” vốn đã từng được chính quyền CSVN giao cho dân chúng địa phương canh tác khoảng 50 năm nay. Ông Nguyễn Anh Kim giải thích: “Họ giao đất này cho chúng tôi từ năm 1960. Ngày xưa, tất cả ruộng đất, trâu, bò đều bị sung vào hợp tác xã nông nghiệp. Sau đó, hợp tác xã chừa ra 5% diện tích gần nhà để chia cho dân, mỗi khẩu khoảng hai thước để tự túc lương thực, hoa màu và đất đó được gọi là đất 5%”. Bây giờ chính quyền địa phương tuyên bố thu hồi.

Về nguyên tắc, muốn thu hồi đất, chính quyền địa phương phải có dự án, dự án phải được cấp trên duyệt, phải thông báo cho người đang sử dụng đất biết lý do thu hồi và công bố mức bồi thường, thảo luận, rồi thỏa thuận mức bồi thường với người bị thu hồi đất, sau đó, phải ban hành quyết định thu hồi đất. Thế nhưng vụ thu hồi đất ở xã Yên Sơn, huyện Quốc Oai, Hà Nội không theo đúng quy trình này.

Ông Nguyễn Anh Kim cho biết: “Họ chưa làm gì cả mà đòi cưỡng chế”. Một số nhân chứng tường thuật, công an và quân đội đã đấm đá, dùng dùi cui điện đánh mọi người, kể cả người già, trẻ con, nhiều người bị ngất, phải mang đi cấp cứu.

Bà Nguyễn Thị Mùi mô tả: “Họ xách người quăng đi như người ta xách lợn. Một cụ già 80 tuổi đứng chặn xe ủi và phân trần - 'Tôi chỉ có hai thước đất trồng rau, tôi già như thế này không làm được gì nữa, đừng lấy đất để tôi trồng rau tôi ăn' - thì bị công an xô té. Cháu ông cụ là Nguyễn Thế Ðồng nhào vào đỡ ông mình cũng bị công an đánh vào bụng rồi quất thêm bằng roi điện.”

Cuối cùng, dân chúng chịu thua, bà Nguyễn Thị Mùi nghẹn ngào: “Họ đập tường nhà tôi, chặt cây nhà tôi. Năm công an, hai người nhấc hai tay, hai người nhấc hai chân, người con lại nhấc đầu, vứt từng người ra khỏi nhà. Chúng tôi sức yếu, chẳng làm được gì, đành chấp nhận mất đất. Họ san lấp cả đêm hôm qua, cả ngày hôm nay...”

Hồi giữa tháng này, vào ngày 17 tháng 12, hàng trăm nông dân ấp T4, xã Vĩnh Phú, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang cũng đã từng đứng dậy phản kháng việc “cưỡng chế thi hành án” của chính quyền. Một số nông dân kể với đài RFA rằng số người phản kháng khoảng 500. Báo chí CSVN thì giới hạn số này ở mức 200.

Về nguyên nhân dẫn tới phản kháng, một số nông dân kể với đài RFA rằng, đất trong khu vực xã Vĩnh Phú từng thuộc Nông Trường 42, do chính quyền CSVN giao cho Trung Ðoàn 34 của Quân Khu 9 khai thác, song trên thực tế, Trung Ðoàn 34 không làm gì. Cách nay 12 năm, Trung Ðoàn 34 đã bán hết số đất được giao cho nông dân. Khoảng 1,064 gia đình mua đất đã từng được chính quyền khuyến khích dốc vốn liếng, đổ mồ hôi để biến khu vực hoang vu đó thành ruộng, với năng suất từ 40-50 giạ/công. Tuy nhiên bất chấp việc nông dân đang sinh sống ổn định trên mảnh đất của họ, chính quyền địa phương đã ngang nhiên lấy đất “cấp” cho người khác. Người được “cấp” đất đã kiện người từng bỏ tiền mua đất và khai hoang ra tòa để đòi đất. Tòa án CSVN đã buộc người bỏ tiền mua đất và khai hoang phải giao đất cho người không làm gì mà vẫn được cấp đất. Vào ngày 17 tháng 12, cán bộ địa phương, công an, chấp hành viên của lực lượng thi hành án, cảnh khuyển đã đổ đến để “cưỡng chế” một số gia đình “thi hành” những “bản án” ấy. Bởi bất bình trước lối hành xử y hệt kẻ cướp và thấy rõ đó cũng sẽ là điều xảy đến với mình, khoảng 500 nông dân đại diện cho 1064 gia đình trong vùng đã biểu tình phản đối việc “cưỡng chế thi hành án” mà thực chất là “cưỡng đoạt tài sản”.

Tờ Tiền Phong thì dẫn lời một cán bộ của phòng thi hành án tỉnh Kiên Giang cho biết: “Chúng tôi tổ chức cưỡng chế để thực hiện theo sáu bản án của Tòa Án Nhân Dân tỉnh Kiên Giang tuyên từ năm 2006. Nội dung các bản án buộc 7 gia đình trả lại 30 héc ta đất nông nghiệp cho các đơn vị và cá nhân ở Rạch Giá và huyện Châu Thành mà nông dân đã thuê để trồng lúa từ năm 2003.”

Diễn biến cuộc phản kháng được những người phản kháng tường thuật với đài RFA: “Họ dùng súng bắn vào chúng tôi, rồi quăng trái cay, roi điện, chó bẹc giê tấn công chúng tôi”. Có 9 nông dân bị trọng thương, ba người bị bắt. Thế nhưng dân chúng không lui bước, một nông dân tên Huỳnh Thị Ba kể tiếp: “Chúng tôi dùng xăng phun lửa vào họ. Công an bỏ chạy, vứt lại lá chắn. Bỏ ba người bị bắt lại và chúng tôi đã tháo còng cho cả ba. Ông đội phó thi hành án cởi áo, nhảy xuống sông nhưng chúng tôi vẫn bắt được. Rất nhiều cán bộ đầu hàng nói rằng, họ làm như vậy là do cấp trên chỉ đạo, thành ra tụi tôi không đánh họ. Còn ông đội phó thi hành án thì đã làm giấy cam kết không cưỡng chế lấy đất của chúng tôi nữa, nên chúng tôi đã cho họ về và trả lại con chó”.

Không có tờ báo nào tại Việt Nam tường thuật rằng, các lực lượng tham gia “cưỡng chế thi hành án” đã bắn, liệng lựu đạn cay, rồi dùng roi điện, chó, tấn công và làm bị thương 9 nông dân. Tờ Tiền Phong chỉ xác nhận: “Ba chiến sĩ công an trọng thương, một số cán bộ bị một số người chống đối vây bắt. Hai chiếc ghe chở lực lượng cưỡng chế bị nhấn chìm, nhiều người trong đoàn cưỡng chế bị ném đá, bị đánh. Ðội phó đội thi hành án huyện Kiên Lương là ông Phan Thanh Cường bị buộc cởi hết quần áo dài và ký vào một bản cam kết”. Ðây là lý do khiến: “Lãnh đạo tỉnh Kiên Giang phải chỉ đạo dừng ngay việc thi hành án”.

Theo tờ Tuổi Trẻ, chiều ngày 19 tháng 12, công an huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang đã khởi tố vụ án “chống người thi hành công vụ” xảy ra tại ấp T4, xã Vĩnh Phú, huyện Kiên Lương song đến nay công an CSVN vẫn chưa khởi tố bị can nào.

Ðiều đáng chú ý là khi thông tin về vụ bạo động chống “cưỡng chế thi hành án”, báo chí CSVN tuyệt nhiên không phê phán nông dân và dùng những từ ngữ có tính miệt thị họ như thông lệ. Việc nông dân chống “cưỡng chế thi hành án” được báo chí CSVN gọi là “phản kháng” hoặc “quyết liệt chống lại”. Người ta không thấy những cụm từ như “kẻ xấu kích động, lôi kéo” mà báo chí CSVN thường dùng khi thông tin về những sự kiện có tính chất tương tự. Thậm chí, tờ Tiền Phong còn nhận định: “Tình hình quản lý và sử dụng đất đai ở huyện Kiên Lương diễn biến phức tạp trong nhiều năm qua do đất được giao, cấp cho nhiều đơn vị, cá nhân không làm nông nghiệp và nhiều nông dân không đất phải thuê lại để sản xuất sinh sống. Tỉnh Kiên Giang lại lúng túng, thiếu kiên quyết trong việc xử lý các sai phạm về giao, cấp, thu hồi đất tại khu vực nóng bỏng này”. Những chỉ dấu vừa dẫn cho thấy ngay cả báo chí CSVN cũng bất bình về cách đối xử với nông dân của hệ thống chính quyền.

Cũng trong tháng này, tại Kiên Giang, không chỉ có nông dân huyện Kiên Lương mà dân chúng ở Rạch Giá cũng đã đứng dậy phản kháng việc cưỡng đoạt đất, để thực hiện cái gọi là “Dự án lấn biển ở Kiên Giang”.

Tin từ trong nước cho biết, 46 gia đình ngụ ở các phường Vĩnh Bảo, Vĩnh Lạc, An Hòa, thành phố Rạch Giá, đang chống lại việc cưỡng đoạt tài sản của họ. Trả lời đài RFA, ông Lê Mỹ Ðức, một trong những nạn nhân kể: “Dự án lấn biển Kiên Giang” (đổ đất xuống biển để lấy thêm mặt bằng, mở rộng thành phố Rạch Giá) đã khiến dân chúng khốn khổ suốt 10 năm nay. Do nước ứ đọng, chúng tôi không thể trồng cấy, đành bỏ hoang ruộng vườn. Ông cha chúng tôi và chúng tôi đã cư ngụ, canh tác tại đây từ 60 năm đến 100 năm, thế rồi chính quyền tuyên bố thu hồi đất mà không ban hành bất kỳ quyết định thu hồi nào. Tiền bồi thường thì rẻ mạt. Lúc đầu họ ấn định chỉ có 8,000 đồng (khoảng 40 cents)/m2, sau đó, do bị khiếu nại, họ tăng lên 13,200 đồng (khoảng 70 cents)/m2 song sau đó rao bán lại với giá từ 500,000 đồng/m2 đến 2 triệu đồng/m2. Chúng tôi không đồng ý và đang chờ giải quyết khiếu nại thì họ điều động người đến chặt phá cây cối, không lập biên bản. Chúng tôi ngăn chặn thì công an cưỡng chế. Họ dùng roi điện đánh ngất ba phụ nữ, trong đó có một bà cụ 77. Ðây là hành động đàn áp quá đáng vì chúng tôi chỉ yêu cầu chính quyền thực hiện mọi việc đúng pháp luật. Công an đã từng đem xe tới “xúc” người nhưng vì chúng tôi không làm gì sai nên họ phải thả. Bây giờ, họ đang tìm cách cáo buộc chúng tôi chống người thi hành công vụ.

Cũng theo ông Lê Mỹ Ðức, dân chúng chính thức phản kháng việc cưỡng đoạt đất suốt một tháng nay: “Chúng tôi đã cử người ra Hà Nội khiếu nại với thủ tướng, gửi đơn cho thanh tra và các cơ quan báo chí nhưng ông này đùn đẩy cho ông kia”. Ông Ðức khẳng định: “Chẳng có dự án nào lấn biển hết, công ty kinh doanh và phát triển nhà lợi dụng dự án này để lấn đất của dân”. (G.Ð.)

Posted: Tue Dec 30, 2008 5:13 am
by quaichao
Tám “bị cáo” vụ Thái Hà cùng đòi truyền thông CSVN “nhận tội” vu cáo
Monday, December 29, 2008

Image
Hình 1: Từ trái, các bị cáo Phạm Trí Năng, Lê Thị Hợi, Nguyễn Thị Việt,... ăn mặc trang trọng,
cổ mang thánh giá, tay cầm lá thiên tuế, cùng với hàng ngàn giáo dân, tu sĩ, giáo sĩ Công giáo
xếp hàng một hiên ngang tiến tới phòng xử. (Hình: Blog Công Lý và Sự Thật)

Image
Hình 2: Bất kể công an, cảnh sát dày đặc, hàng ngàn giáo dân vẫn vây chặt khu vực có phòng xử án,
chờ tuyên án trước khi bày tỏ thái độ của họ. (Hình: VietCatholic News)
Hà Nội (NV) - Hôm 22 tháng 12, tám giáo dân Thái Hà là “bị cáo” trong phiên xử vụ án “gây rối trật tự công cộng” và “hủy hoại tải sản”, diễn ra ngày 8 tháng 12, đã cùng ký tên vào một lá thư, yêu cầu VTV1 (Ðài Truyền hình Việt Nam) và báo Hà Nội Mới đính chính về việc đã đưa tin sai sự thật.

Tuy trong phiên xử, cả tám “bị cáo” cùng khẳng định với hội đồng xét xử rằng họ không sai khi tham gia đọc kinh cầu nguyện, đòi lại tài sản của nhà thờ Thái Hà nhưng khi đưa tin, cả VTV1 lẫn Hà Nội Mới cùng cho rằng họ đã “cúi đầu nhận tội để được khoan hồng”.

Trả lời đài RFA, một trong tám “bị cáo” là ông Nguyễn Ðắc Hùng, tái khẳng định: “Hôm đó, tất cả chúng tôi không ai cúi đầu nhưng đài truyền hình và báo chí lại bịa đặt chúng tôi 'cúi đầu nhận tội và xin hưởng sự khoan hồng'. Chúng tôi đã yêu cầu đính chính nhưng không biết nhà nước có chấp nhận sự thật hay không”.

Một “bị cáo” khác, bà Nguyễn Thị Việt cho biết thêm: “Chúng tôi có quyền bắt họ cải chính. Nếu họ không cải chính thì chúng tôi kiện họ. Chúng tôi không cúi đầu nhận tội vì chúng tôi không có tội.”

Ông Phạm Chí Năng cả quyết: “Báo, đài là của nhà nước nên họ có quyền thông tin không đúng sự thật nhưng chúng tôi nhất định đòi cho được sự thật. Tôi mong những cơ quan truyền thông hãy nói sự thật và công bằng. Ðó là chuyện không đáng nhưng chính quyền xé cho to”.

Luật Sư Lê Trần Luật, người đã biện hộ cho tám giáo dân là “bị cáo” trong vụ Thái Hà giải thích: “Các giáo dân cho rằng, việc báo Hà Nội Mới, VTV1 bảo họ cúi đầu nhận tội là xúc phạm đến danh dự của họ, họ yêu cầu cải chính. Không cải chính họ sẽ kiện. Tôi cho rằng hành động như thế là rất lịch sự và rất tôn trọng pháp luật.”

Luật sư này nhận định rằng: Việc đưa tin sai sự thật, trước hết có thể vì chính quyền muốn biện minh với dư luận. Họ muốn dư luận thấy rằng, các giáo dân đã cúi đầu nhận tội thì có nghĩa là tiến trình xử lý vụ Thái Hà của nhà nước hoàn toàn chính xác. Chính quyền muốn tranh thủ dư luận, muốn tranh thủ niềm tin trong một cuộc khủng hoảng niềm tin mà chính quyền đã bị mất. Họ đã hành xử quá sai trái. Ðể biện minh cho hành động sai trái này, chính quyền chỉ có một mục tiêu là làm sao cho giáo dân nhận họ có tôi nhưng không đạt được mục đích này.”

Trong thực tế, có khá nhiều cơ quan truyền thông đưa tin các “bị cáo” trong vụ Thái Hà “cúi đầu nhận tội và xin hưởng sự khoan hồng” nhưng tám “bị cáo” chỉ yêu cầu VTV1 và báo Hà Nội Mới cải chính vì hai cơ quan này có trụ sở chính tại Hà Nội. Theo các nạn nhân, trong vòng một tuần, hai cơ quan truyền thông này không đính chính, họ sẽ khởi kiện cả hai để đòi bồi thường danh dự...

Bản án của vụ án “gây rối trật tự công cộng” và “hủy hoại tải sản” Tòa án CSVN đã tuyên đối với tám giáo dân trong vụ Thái Hà cho thấy, chính quyền CSVN đã buộc phải thoái bộ để diễn biến không xấu hơn. Có nhiều dấu hiệu cho thấy, nếu xử phạt tám giáo dân có liên quan đến vụ cầu nguyện đòi lại đất ở Thái Hà theo hướng “răn đe” sẽ khiến tình hình vượt khỏi khả năng kiểm soát của chính quyền CSVN.

Từ sáng sớm ngày 8 tháng 12, hàng ngàn giáo dân đã đổ về trụ sở UBND phường Ô Chợ Dừa, quận Ðống Ða để phản đối vụ xét xử đồng đạo của họ. Những giáo dân này đeo ảnh “Nữ Vương Công Lý” trên ngực, tay cầm lá thiên tuế (biểu tượng tôn vinh những tiền nhân tử đạo), giương cao các khẩu hiệu: “Chúa ở cùng anh chị em”, “Chúng tôi yêu mến anh chị em”, “Anh chị em vô tội”, “Mẹ tôi vô tội”, “Chồng tôi vô tội”, thậm chí “Chúng tôi muốn đi tù thay anh chị em”,... đã vây kín khu vực có phòng xử. Tuy không thể tiếp cận khu vực có phòng xử song hàng ngàn giáo dân cùng với các tu sĩ, giáo sĩ Công Giáo đã kiên nhẫn chờ suốt từ sáng sớm đến hết giờ làm việc buổi chiều để chờ kết quả xét xử. Trong thời gian chờ đợi, họ đồng thanh đọc kinh, cầu nguyện, hát thánh ca, giương cao lá thiên tuế và khẩu hiệu trong vòng vây của đủ loại cảnh sát, an ninh. Chính quyền CSVN đã kéo hàng rào kẽm gai, hàng rào sắt, dùng cảnh sát giao thông, cảnh sát cơ động, cảnh sát phòng cháy-chữa cháy, cảnh khuyển, an ninh,... kèm theo các phương tiện như: máy dò vũ khí, xe chuyên dụng chống bạo động, xe vòi rồng,... phong toả toàn bộ khu vực, dù trước đó đã từng tuyên bố sẽ “xét xử công khai”.

Tuy hệ thống truyền thông của CSVN dẫn nhận định của công an, viện kiểm sát, tòa án cho rằng “hành vi của các bị cáo là nguy hiểm, nghiêm trọng, ảnh hưởng đến khối đại đoàn kết dân tộc” vì “tụ tập, cầu nguyện không đúng nơi quy định, cùng nhiều người đánh cồng chiêng, dùng loa phóng thanh cầu kinh, gây thiệt hại nghiêm trọng cho hoạt động sản xuất kinh doanh, ảnh hưởng đến đời sống của khu dân cư; trật tự giao thông, gây bất bình cho dư luận, ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của các giáo dân thực hiện nghiêm túc 'tốt đời, đẹp đạo'. Việc làm của các bị cáo là nhằm gây áp lực đối với chính quyền” nhưng cuối cùng tòa án CSVN chỉ tuyên phạt: Bà Nguyễn Thị Nhi, 46 tuổi, 15 tháng tù vì “gây rối trật tự công cộng” nhưng “cho hưởng án treo”. Bà Ngô Thị Dung, 54 tuổi bị phạt 7 tháng tù vì tội “hủy hoại tài sản”, 6 tháng tù vì tội “gây rối trật tự công cộng”, tổng hợp hình phạt là 13 tháng tù nhưng cũng “được hưởng án treo”. Do cả hai bà không được tại ngoại nên họ được trả tự do ngay tại tòa.

Sáu bị cáo còn lại, bà Nguyễn Thị Việt, 59 tuổi, bị phạt 6 tháng tù vì tội “hủy hoại tài sản”, 6 tháng tù vì tội “gây rối trật tự công cộng”, tổng hợp hình phạt là 12 tháng tù nhưng “được hưởng án treo”. Ông Lê Quang Kiện, 63 tuổi, bị phạt 7 tháng tù vì tội “hủy hoại tài sản”, 6 tháng tù vì tội “gây rối trật tự công cộng”, tổng hợp hình phạt là 13 tháng tù và cũng “được hưởng án treo”.

Các ông bà: Lê Thị Hợi, 62 tuổi; Phạm Chí Năng, 50 tuổi; Nguyễn Ðắc Hùng, 31 tuổi cùng bị phạt “cải tạo không giam giữ” trong 12 tháng. Anh Thái Thanh Hải, 20 tuổi, chỉ bị “cảnh cáo”.

Chiều 8 tháng 12, chuông nhà thờ Thái Hà đã ngân dài, hàng ngàn người đã đổ về đó, miệng hô vang những từ như: “Công lý”, “Trắng án”, “Vô tội”,... một thánh lễ tạ ơn đã diễn ra ngay sau đó và rất nhiều người đã khóc.

Dù chỉ bị phạt có tính chất tượng trưng song cả tám đều đã nộp đơn kháng cáo. Họ yêu cầu tòa án cấp phúc thẩm tuyên bố họ vô tội. (G.Ð)

Posted: Wed Dec 31, 2008 5:44 am
by dailien
Hàng trăm giảng viên đại học dẫn nhau đi đòi lương
Monday, December 29, 2008

Image

Hình 1: Ðại học Quy Nhơn, một ngôi trường nổi tiếng nhờ hiệu trưởng có đủ thứ tai tiếng. (Hình: myopera.com/vank16)

Image
Hình 2: Giảng viên Châu Minh Hùng phải mặc áo mưa, đội mũ bảo hiểm khi đứng giảng trên giảng đường.
Hình do một sinh viên chụp và post lên Internet khi kể về ngôi trường mình đang học.
Bình Ðịnh (NV) - Chiều 29 tháng 12, hàng trăm giảng viên của Ðại Học Quy Nhơn đã cùng với đại diện công đoàn của các khoa kéo đến phòng làm việc của ông Trần Tín Kiệt, hiệu trưởng Ðại Học Quy Nhơn để đòi trả thù lao mà trường này đang nợ họ.

Báo điện tử VnExpress kể rằng, theo công văn của các khoa, Ðại Học Quy Nhơn đang nợ đội ngũ giảng viên khoản thù lao khoảng... 20 tỷ đồng. Ðây là thù lao giảng dạy thêm giờ, thù lao giảng dạy hệ không chính quy trong niên khóa 2007-2008, trợ cấp cho những giảng viên đã hoàn thành chương trình thạc sĩ, tiến sĩ, kèm với các khoản hỗ trợ cho cả giảng viên lẫn nhân phục vụ công việc đào tạo từ niên khóa 2006 đến nay. Chưa kể tiền bảo hiểm xã hội mà Ðại Học Quy Nhơn không nộp.

VnExpress cho biết ông Trần Tấn Kiệt đã hứa là sẽ thanh toán nợ trong thời gian ngắn nhất.

Ông Trần Tín Kiệt, hiệu trưởng Ðại Học Quy Nhơn là một trong những nhân vật “nổi tiếng” tại Việt Nam.

Hồi đầu tháng 4 năm nay, hàng chục tờ báo đã cùng có bài giới thiệu về “thành tích” của ông Trần Tín Kiệt.

Vào lúc đó, có rất nhiều thư do giảng viên, sinh viên của Ðại Học Quy Nhơn gửi đi khắp nơi tố cáo ông Trần Tín Kiệt vì ông này có nhiều “sáng kiến” không ai chấp nhận được.

Ông Châu Minh Hùng, giảng viên khoa giáo dục tiểu học, kể với tờ Tiền Phong: “Trước đây, do sợ bị trả thù, các giảng viên chỉ viết đơn nặc danh. Bởi không có ai đứng ra giải quyết và mọi thứ đã quá sức chịu đựng nên lần này, chúng tôi đồng ký tên trong đơn, hy vọng các cơ quan có thẩm quyền và báo chí quan tâm”.

Ông Hùng khẳng định: “Vào mùa mưa, chuyện các giảng viên phải mặc áo mưa khi đến giảng đường giảng bài là chuyện phổ biến ở Ðại Học Quy Nhơn. Ðặc biệt là tại các khu giảng đường A2, A3”. Ông Hùng giải thích: “Những giảng đường này đã được xây dựng cách nay hơn 30 năm, không được tu sửa nên xuống cấp trầm trọng. Mỗi khi trời mưa, cả thầy lẫn trò vừa học, vừa sợ, vì nước tuôn ào ào. Ðó là chưa kể nhiều phòng học thiếu ánh sáng, nhếch nhác, ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học.”

Một tiến sĩ tên Nguyễn Quốc Khánh, giảng viên khoa Ngữ văn, kể thêm: “Ngay cả khu giảng đường A5, dù mới xây dựng xong nhưng cả giảng viên lẫn sinh viên rất sợ phải dạy và học ở đây, nhất là vào Mùa Hè. Dù địa thế sát biển, rất đẹp nhưng nhà thầu lại cho lắp kính chắn hết gió, trong khi phòng học vừa nhỏ vừa dài, khiến sinh viên rất khó nghe giảng. Tôi không hiểu sao ông Kiệt lại chỉ đạo xây dựng những khu giảng đường như vậy.”

Tiến Sĩ Nguyễn Quốc Khánh còn cho biết, ông Kiệt có một “sáng kiến” hy hữu là cho nuôi 5 con bò trong khuôn viên trường. Mỗi năm Ðại Học Quy Nhơn phải chi 80 triệu để trả công chăn bò chỉ để khỏi phí... cỏ. Ông Khánh thở dài: “Nhiều khi, tôi đang đọc thơ thì ngoài sân, đàn bò rống lên phụ họa. Thật là bi hài!”

Trong khi các khu giảng đường xập xệ, xuống cấp thì ông Trần Tín Kiệt lại dồn tiền xây những ký túc xá lớn để cho thuê. Ðại Học Quy Nhơn hiện có một ký túc xá với 4,500 phòng có điện thoại, tivi, Internet, máy giặt... và mỗi sinh viên phải trả 140,000/người/tháng. Khoản thu này không rõ là bao nhiêu bởi ông Kiệt tự cho in phiếu thu và tự kiểm soát hoạt động tài chính. Tuy khi có khoản thu khổng lồ từ ký túc xá, Ðại Học Quy Nhơn không khai thuế và cũng không báo cáo tài chánh cho bất kỳ cơ quan nào.

Theo tờ Tiền Phong, chiều 2 tháng 4, ông Trần Tín Kiệt đã tổ chức một buổi “đối thoại” về những nội dung mà nhiều giảng viên, sinh viên tố cáo.

Trước hàng ngàn người, ông Kiệt cho biết: Trường dẹp chuyện tổ chức giữ xe là vì có hàng ngàn sinh viên, việc ghi phiếu giữ xe cho hàng ngàn người/ngày sẽ làm mất thời gian và mất trật tự. Cách tốt nhất là mọi người tự mua khóa để bảo vệ tài sản của mình.

Việc tự ý nâng cấp giảng đường, không trình thiết kế cho ai, không xin giấy phép xây dựng được giải thích là: “Tôi không hiểu việc nâng cấp giảng đường có cần phải xin phép hay không (?)”

Ðối với những ý kiến cho rằng các khu giảng đường thiếu an toàn cho việc dạy và học. Ông Kiệt phản bác: “Thiếu an toàn chỉ là cảm giác, chưa có bằng chứng”.

Cuối cùng, ông Kiệt khẳng định: “Chúng tôi không kinh doanh nên đương nhiên là không nộp thuế. Từ trước đến nay, chưa có ai nhắc nhở chúng tôi phải nộp thuế cả.”

Sau khi “độc thoại” suốt hai tiếng, phản bác các thắc mắc đang gây bất bình trong sinh viên và giảng viên của Ðại Học Quy Nhơn, ông Trần Tín Kiệt, tuyên bố kết thúc buổi “đối thoại”, quay lưng đi thẳng, không nghe và cũng không cho ai góp ý.

Nhiều giảng viên của Ðại Học Quy Nhơn cho biết: Ông Trần Tín Kiệt còn rất nhiều sai phạm và chúng tôi sẽ tiếp tục tố cáo. Mong báo chí tiếp tục lên tiếng để Bộ Giáo Dục-Ðào Tạo và các cơ quan hữu trách quan tâm.

Báo chí CSVN đã tốn khá nhiều giấy mực để “giới thiệu” ông Trần Tín Kiệt song cũng như nhiều quan chức “nổi tiếng” khác trong chính quyền CSVN, ông Kiệt vẫn tại vị và vừa lập thêm “thành tích” như đã kể ở đầu tin này. (G.Ð)