Page 24 of 68

Posted: Sat Jan 15, 2011 4:35 am
by thienthanh
Một tấm gương
Tác giả: Minh Tạo


Sáng nào cũng thấy thằng nhỏ cầm cái lon đứng chầu chực trước quán ăn. Tôi để mắt theo dõi thì hễ thấy thực khách vừa kêu tính tiền thì thằng bé chạy vào nhìn vào những cái tô, nếu còn thức ăn dư mứa thì nó vội vã trút vào cái lon rồi chạy ra ngoài đứng ngóng tiếp.

Khi cái lon gần đầy thì nó biến mất, chập sau thấy nó lại có mặt thập thò trước quán tiếp tục. Bàn tôi ngồi thì đứa bé không bao giờ quan tâm tới, vì mỗi sáng tôi chỉ đủ tiền uống 1 ly xây chừng vì tôi cũng nghèo cải tạo mới về sáng nhịn đói ngồi uống cà phê đen như một cái thú hay một cái tật không bỏ được.

Cứ thế, mà hơn một năm tôi mới quen được và tìm hiểu chút ít về hoàn cảnh gia đình của đứa bé. Tôi cố tình làm quen với thằng bé nhờ hôm ấy trời mưa, thằng bé đứng nép vào trong quán. Thằng bé đứng nép vào ngày càng sâu hơn trong quán vì mưa ngày càng lớn chỉ cách tôi chừng độ nửa thước. Tôi vói tay kéo nó ngồi xuống bàn và hỏi nó có thích uống cà phê không ?

Thằng bé lắc đầu lia lịa và nói không uống. Tôi hỏi nó làm gì ngày nào cũng ra đây? và hiện sống với ai? Thằng bé như đoán được rằng: tôi chỉ là người khách ghiền cà phê nặng nên hàng ngày đóng đô ở đây nên nó cũng trả lời nhanh nhẹn rằng:

- “Con sống với ba má con, Ba con đi làm xa còn Má con đi phụ buôn bán ở ngoài chợ…”

Tôi hỏi tiếp:

- “Còn con có đi học không ?”

Thằng bé nói:

- “Con không có đi học… con ở nhà phụ với má nuôi heo…”.

Đó là lý do để nói lên sự hiện diện hằng ngày của nó nơi quán ăn nầy. Nghe thằng bé nói như thế, tôi nói với chị chủ quán ăn giúp cho nó lấy những cơm và thức ăn thừa, và cũng từ đó nó không còn đứng lúp ló ngoài cửa quán nửa. Và nhờ tánh tình hiền hậu thật thà chị chủ quán cho nó vô phụ dọn bàn đề lấy thức ăn dư mang về và cho nó ăn uống để phụ việc. Từ đó tôi và nó gần gũi nhau hơn và thân với nhau lắm.

Có lần thằng bé hỏi tôi:

- “Chú làm nghề gì vậy hả chú?”

Tôi chỉ trả lời ngắn gọn là ” Chú đang làm thinh”.

Đúng vậy mới cải tạo về mà, vợ con thì đã theo bên ngoại vượt biển hết rồi, nghe đâu đã định cư bên Úc, nay về ở với mẹ già ngày 1 buổi cà phê hai bửa cơm độn qua ngày. Thời gian ngột ngạt chậm chạp trôi qua, may mắn vợ chồng tôi đã bắt liên lạc được với nhau. Thế là những bữa cơm không còn ăn độn khoai củ hay bo bo nữa nhưng vẫn quen cử sáng cà phê quán gần nhà. Không biết chị chủ quán có bỏ bùa mê hay tôi ghiền chổ ngồi mà không bữa nào vắng tôi. Một hôm, tôi đề nghị theo thằng bé về nhà nó chơi cho biết vì nó nói ở cũng gần không xa lắm. Thấy nó do dự và tỏ vẻ sợ sệt, tôi biết ngay nó đang dấu diếm điều gì. Thương nó lắm, tôi dúi tiền cho nó hoài. Mấy hôm sau tôi lẳng lặng đi theo nó khi nó mang cơm và thức ăn dư về nhà buổi trưa. Khi thấy nó lủi vô một cái chòi nhỏ xíu thì tôi thật sự không ngờ. Đứng dưới gốc cây Gòn cách nhà nó không xa tôi thầm nghĩ, nhà chút xíu như vậy gia đình 3 người ở thì chổ đâu mà nuôi heo. Tôi đang đứng suy nghĩ đốt cũng hết mấy điếu thuốc thì thằng nhỏ lục tục xách lon xách nồi đi ra quán để thu dọn thức ăn buổi chiều. Đợi thằng bé đi khuất tôi lò mò đến nơi mà hồi nãy nó vào. Đến đó mới nhìn rõ thì thật ra đâu có phải là nhà, một lõm trống được che dựng lên bằng những phế liệu đủ loại muốn chui vào phải khom mọp xuống. Nghe thấy có tiếng chân dừng lại, có tiếng đàn bà vọng ra hỏi. Tôi trả lời là đi kiếm thằng Tuất, thì nghe giọng đàn ông cho biết nó vừa đi khỏi rồi, và hỏi tôi là ai, mời tôi vào…. Vừa khom người chui vào tôi mới thật sự không ngờ những gì hiển hiện trước mắt tôi.

Người đàn ông hốc hác cụt hai giò tuổi cũng trạc tôi nhưng trông yếu đuối, lam lũ và khắc khổ lắm. Một người đàn bà bệnh hoạn xác xơ cả hai đang ăn những thức ăn thừa mà thằng bé vừa mới đem về. Vừa bàng hoàng, vừa cảm động vừa xót xa, nước mắt tôi bất chợt tuôn rơi mặc dù tôi cố nén…

Từ đó, tôi hiểu rõ về người phế binh sức tàn lực kiệt sống bên người vợ thủy chung tảo tần nuôi chồng bao năm nay giờ mang bịnh ác tính nặng nề thật đau xót. Tôi móc hết tiền trong túi biếu tặng và cáo lui. Về đến nhà tôi vẫn mãi ám ảnh hoàn cảnh bi thương của gia đình thằng bé mà tôi bỏ cơm nguyên cả ngày luôn. Sáng hôm sau ra uống cà phê, thằng bé gặp tôi nó lấm lét không dám nhìn tôi vì nó đã biết trưa hôm qua tôi có tới nhà nó. Nó thì tỏ vẻ sợ tôi, nhưng tôi thực sự vừa thương vừa nể phục nó nhiều lắm. Tôi kêu nó lại và nói nhỏ với nó tại sao không cho tôi biết. Tội nghiệp nó cúi đầu im lặng làm lòng tôi thêm nỗi xót xa. Có khách kêu trả tiền, như có cơ hội né tránh tôi nó chạy đi dọn bàn và tiếp tục công việc thu dọn thức ăn. Hèn gì sau nầy nó để thức ăn dư phân loại đàng hoàng lắm. Tội nghiệp hoàn cảnh của thằng bé mới mấy tuổi đầu mà vất vả nuôi cha mẹ theo khả năng chỉ tới đó. Cha là một phế binh cũ trước 75 cụt hai chân, mẹ thì bị bệnh gan nặng bụng phình trướng to khủng khiếp và cặp chân sưng vù lên đi đứng thật khó khăn, nước da thì vàng mét như nghệ. Thằng bé là lao động chánh trong gia đình, nó có hiếu lắm. Từ đó tôi thường cho tiền đứa bé mua bánh mì cơm gạo về nuôi cha mẹ.

Vợ tôi làm thủ tục bảo lãnh tôi sang Úc. Ngày tôi đi tôi đau xót phải để lại hai nỗi buồn đó là để mẹ và em gái lại quê nhà và không còn cơ hội giúp đỡ thằng bé nữa. Sang Úc định cư, tôi sống tại tiểu bang Victoria mấy năm đầu tôi hết sức cơ cực vì phải vật lộn với cuộc sống mới nơi đất mới và đối với tôi tất cả đều mới mẻ và xa lạ quá. Từ ngôn ngữ đến thời tiết đã làm tôi lao đao không ít. Thỉnh thoảng tôi gởi tiền về nuôi mẹ và em gái không quên dặn em gái tôi chuyển cho thằng bé chút ít gọi là chút tình phương xa.

Mấy năm sau tôi về thăm gia đình, tôi có ghé tìm thằng bé thì nó không còn lấy thức ăn trong quán đó nữa. Tôi mới kể rõ hoàn cảnh thằng bé cho chị chủ quán biết. Chị chủ quán đôi mắt đỏ hoe trách tôi sao không cho chị biết sớm để chị tìm cách giúp gia đình nó. Tôi chỉ bào chữa rằng tại thằng bé muốn giấu không cho ai biết! Tôi ghé vội qua nhà thằng bé thì mới hay mẹ nó đã qua đời vì căn bệnh ung thư gan. Chỉ còn chèo queo một mình ba nó ở trần nằm một góc trông hết sức thương tâm. Hỏi thăm thì mới biết nó đã xin được việc làm đi phụ hồ kiếm tiền về nuôi cha. Chúa nhật tôi tới tìm thằng bé, chỉ mới có mấy năm mà nó đã cao lớn thành thanh niên rất đẹp trai duy chỉ đen đúa vì phơi nắng để kiếm đồng tiền. Tôi dẫn nó trở ra quán cà phê cũ, thấy nó hơi ái ngại, tôi trấn an là bà chủ quán tốt lắm tại không biết được hoàn cảnh gia đình nó. Ra đến quán ăn chị chủ quán năn nỉ nó về làm với chị, dọn dẹp và bưng thức ăn cho khách nhẹ nhàng hơn đi phụ hồ và chị sẽ trả lương như đang lãnh bên phụ hồ, tối về thức ăn thường bán không hết chị cho đem về nhà dùng khỏi phải mua hay đi chợ. Lần đầu tiên tôi thấy nó khóc, chị chủ quán cũng khóc theo làm tôi phải đứng dậy bỏ ra ngoài để khỏi phải rơi nước mắt vì chịu không nỗi. Thằng Tuất vừa khóc vừa nói: “Sao ai cũng tốt với gia đình con hết đó, nhưng vì con đang làm phụ hồ cho anh Năm, anh ấy cũng tốt lắm giúp đỡ gia dình con nhiều lắm, sáng nào cũng mua cho ba con gói xôi hay bánh mì trước khi tụi con đi làm. Con cũng mang ơn ảnh nhiều nên con không thể nghỉ được, con xin lổi”. Không biết thằng Tuất nó nói thật hay nó ái ngại khi quay về chỗ mà ngày nào cũng cầm cái lon chầu chực trút đồ ăn dư về nuôi cha mẹ. Phải thông cảm nó, phải hiểu cho nó, phải cho nó có cái hiện tại và tương lai tốt hơn, đẹp hơn ngày trước. Chị chủ quán vừa gạt nước mắt vừa nói “Bất cứ lúc nào con cần đến cô thì con đừng ngại, cho cô biết nhé “…

Đời nầy cũng còn có những hoàn cảnh bi đát ít ai biết đến, và cũng có những đứa con xứng đáng như thằng Tuất. Ngày về lại Úc, tôi đến biếu hai cha con nó hai triệu đồng, thấy nó và ba nó mừng lắm tôi cũng vui lây. Không biết phải giúp gia đình nó như thế nào, tôi chụp hình ba nó, photo giấy tờ ba nó đem về Úc gởi cho Hội cứu trợ thương phế binh bị quên lãng trụ sở ở Sydney. Mấy tháng sau nhận được thư ba thằng Tuất viết qua, ông quá vui mừng khi được Hội bên Úc giúp đở gởi tiền về, ông cho biết suốt bao nhiêu năm qua lần đầu tiên ông thấy được niềm hạnh phúc khi cuộc đời phế binh của ông còn có người nhớ đến. Không biết ông ấy vui bao nhiêu mà chính tôi cũng hết sức vui mừng khi thực hiện một việc làm đem niềm vui đến cho những người phế binh sống hết sức đói nghèo bên quê mẹ. Tôi xin cảm ơn cả hai: người chiến sĩ vô danh sống trong hẩm hiu và Hội cứu trợ thương phế binh đã thể hiện tình người trong công việc hết sức cao cả này.

Posted: Thu Jan 27, 2011 5:48 am
by thienthanh
Vị tư lệnh xuất sắc nhất”: Ngô Quang Trưởng
(‘The Most Brilliant Commander’: Ngo Quang Truong)
By James H. Willbanks
Tướng Ngô Quang Trưởng qua đời ngày 22/1/2007 tại Fairfax, Virginia. Để tưởng niệm ông, người dịch xin gửi tới độc giả bài báo của Giáo Sư cựu chiến binh tại chiến trường An Lộc, James H. Willbanks, công bố ngày 15/10/2007 trên chương trình truyền hình Lịch Sử Hoa Kỳ băng tần C-SPAN3 (HistoryNet.com C-SPAN3 AMERICAN HISTORY TV). http://www.historynet.com/the-most-bril ... truong.htm
Image
Tướng Ngô Quang Trưởng
Ông Ngô Quang Trưởng được xem là một trong các vị tướng có khả năng và ngay thẳng nhất của quân đội Miền Nam VN trong cuộc chiến lâu dài ở Đông Nam Á. Tướng Bruce Palmer mô tả ông trong cuốn “Cuộc Chiến 25 Năm” (The 25-Year War) là một “tư lệnh chiến trường nhiều kinh nghiệm mà địch thủ khó đương cự” (a tough, seasoned, fighting leader) và “có thể là vị tư lệnh chiến trường giỏi nhất của quân đội Nam Việt Nam” (probably the best field commander in South Vietnam.) Tướng Creighton Abrams, Tư Lệnh Quân Đội Hoa Kỳ tại Việt Nam từ năm 1968 tới 1972 đã nói với ban tham mưu của ông rằng ông nghĩ là Tướng Trưởng có khả năng chỉ huy một sư đoàn Hoa Kỳ (…told subordinates that he thought General Truong was capable of commanding an American division).

Ông Ngô Quang Trưởng thuộc một gia đình giầu có tỉnh Kiến Hòa. Tốt nghiệp Trung Học Mỹ Tho ông gia nhập trường sĩ quan trừ bị Thủ Đức. Ra trường năm 1954 ông được bổ nhiệm làm đại đội trưởng đại đội 1/tiểu đoàn 5 Nhẩy dù. Năm 1955, trong cuộc hành quân tảo thanh Bình Xuyên ông được vinh thăng trung úy tại mặt trận. Năm 1964, được vinh thăng thiếu tá và bổ nhiệm làm tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 5 Nhẩy Dù, ông chỉ huy đơn vị hành quân trực thăng vận vào Mật Khu Đỗ Xá, quận Minh Long, Quảng Ngãi, xóa tan căn cứ của Bộ chỉ huy B-1 của Việt Cộng. Trong khi đó ông nổi tiếng là một vị chỉ huy được mến mộ vì đã lăn lộn với binh sĩ ngoài mặt trận và chăm sóc họ.

Năm 1965, Tiểu Đoàn 5 Nhẩy Dù, vẫn dưới quyền ông đã hành quân trực thăng vận vào Mật Khu Hắc Dịch trong vùng Núi Ông Trình tỉnh Phước Tuy (Bà Rịa), căn cứ của Sư Đoàn 7 Việt Cộng. Sau hai ngày tiểu đoàn của ông đã gây tổn thất nặng nề cho hai trung đoàn địch, ông được vinh thăng trung tá tại mặt trận và được tặng Đệ Tứ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương.

Sau trận Hắc Dịch, ông Trưởng được bổ nhiệm tham mưu trưởng Lữ Đoàn Nhẩy Dù và sau đó trở thành tham mưu trưởng Sư Đoàn Nhẩy Dù năm 1965. Như sử gia Dale Andrade cho biết, vị trí không chiến đấu này có thể đã làm đình trệ binh nghiệp của ông, nhưng sự nổi tiếng về can đảm và công bằng của ông đã khiến giới lãnh đạo cao cấp nhất tại Saigon chú ý. Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng quân đội Nam Việt Nam từ năm 1965 tới 1975, sau này đã mô tả ông Trưởng là “một trong các cấp chỉ huy giỏi nhất ở mọi chức vụ mà Sư Đoàn Dù có từ trước tới nay.”

Năm 1966, khi bùng nổ vụ bạo động tại miền Trung, ông được bổ nhiệm là quyền tư lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh ở Huế. Là một phật tử, mặc dù ông Trưởng không thấy thoải mái phải chỉ huy một đơn vị bị lên án là đàn áp phong trào Phật Giáo chống lại chính phủ quân nhân, ông Trưởng đã thi hành nhiệm vụ một cách chuyên nghiệp và Sài Gòn đã bổ nhiệm ông làm tư lệnh thực thụ của sư đoàn này. Với tài lãnh đạo nhiều kinh nghiệm thực tế, ông mau chóng huấn luyện Sư Đoàn 1, có tai tiếng trước khi ông đảm nhận, trở thành một trong các sư đoàn giỏi nhất trong quân đội miền Nam Việt Nam. Trung Tướng Robert E. Cushman, Tư Lệnh Lực Lượng Thủy Bộ số III (III Marine Amphibious Force) tại vùng I Chiến Thuật, và người thuộc cấp chính của ông, Trung Tướng Richard G. Stiwell, Tư Lệnh Quân Đoàn XXIV, đều cảm thấy rằng nhờ những cố gắng của ông Trưởng mà Sư Đoàn 1 Bộ Binh của QLVNCH “tương đương với bất cứ một sư đoàn Hoa Kỳ nào.”

Cố vấn của ông Trưởng thời đó đã viết, ông Trưởng là người “chuyên tâm (dedicated), khiêm tốn, nhiều sáng kiến và giỏi chiến thuật.” Và Tướng William C.Westmoreland, Tư Lệnh MACV (Military Assistance Command, Vietnam-Bộ Tư Lệnh Quân Viện tại Việt Nam) nói rằng ông Trưởng “được đánh giá cao trong số mọi cấp chỉ huy có khả năng của miền Nam Việt Nam.”

Năm 1967, sau khi các đơn vị của Sư Đoàn 1 tấn công và phá hủy cơ sở hạ tầng và một số lớn đơn vị của Việt Cộng tại Mặt Trận Lương Cơ, Đông Xuyên và Mỹ Xá thuộc quận Hương Trà, Thừa Thiên, ông được vinh thăng chuẩn tướng.

Trong Tết Mậu Thân năm 1968, Tướng Trưởng chỉ huy Sư Đoàn 1 Bộ Binh trong một số những trận đánh đẫm máu nhất tại Huế trong cuộc chiến tranh. Hai đêm trước khi cuộc tấn công của Việt Cộng bắt đầu, ông Trưởng và bộ tư lệnh của ông tại Thành Nội đã cảm thấy có điều không ổn và đặt binh sĩ trong tình trạng báo động. Khi đêm đó trôi qua không có biến cố gì, ông cho các cố vấn về nghỉ nhưng vẫn cấm trại đối với binh sĩ của ông.

Trận tấn công của Việt Cộng bắt đầu lúc 3:30 sáng ngày 31/1/1968 với 2 tiểu đoàn Bắc quân thuộc Trung đoàn 6 tấn công Thành Nội và Trung đoàn 4 Bắc quân tấn công cơ quan MACV tại khu hành chánh phía nam Sông Hương. Nhờ đại đội phản ứng nhanh Hắc Báo của ông chống được cuộc tấn công ban đầu giữ được Bộ Tư Lệnh, Tướng Trưởng lập tức ra lệnh cho Trung đoàn 3 bộ binh, lúc đó đang hành quân ở phía bắc thành phố chạy về giải vây cho ông. Trung đoàn này, được tăng cường ba tiểu đoàn Nhẩy Dù, đã tới được Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn ở góc phía đông bắc của Thành Nội vào chiều tối cùng ngày (31 tháng 1). Ngày hôm sau, ông Trưởng bắt đầu phản công chiếm lại toàn bộ Thành Nội và giải tỏa bờ bắc Sông Hương. Theo yêu cầu của ông, Thủy Quân Lục Chiến (TQLC) Hoa Kỳ nhận trách nhiệm giải tỏa bờ nam Sông Hương.

Ngày mùng 4/2, tiểu đoàn 1/Sư đoàn 1 TQLC-HK được tăng cường bởi tiểu đoàn 2 /Sư đoàn 5 TQLC-HK, bắt đầu chiếm từng căn nhà, đẩy lui địch quân ra khỏi khu vực. Cho tới ngày 9/2, bờ nam sông Hương đã được giải tỏa. Khi cuộc tấn công của Sư đoàn 1 BB-VNCH ở bờ bắc sông Hương bị chặn lại vào ngày 12/2, sư đoàn được tăng cường bởi hai tiểu đoàn TQLC/VN. Ông Trưởng cũng yêu cầu Hoa Kỳ tiếp viện, và tiểu đoàn 1/sư đoàn 5 TQLC-HK tham chiến. TQLC Hoa kỳ cùng với các chiến sĩ Bộ binh và TQLC Việt Nam đã cùng nhau chiến đấu chiếm từng căn nhà để đẩy lui địch quân ra khỏi khu vực. Ngày 2/3/1968, trận chiến Huế chính thức kết thúc. Hơn 50 phần trăm thành phố đã bị hư hại hoặc phá hủy. Lực lượng bộ binh và TQLC VNCH thiệt hại 384 tử thương và 1,830 bị thương. TQLC Hoa kỳ bị 142 tử thương và 857 bị thương. Bộ binh Hoa Kỳ bị 74 tử thương và 507 bị thương trong lúc chiến đấu bên ngoài thành phố.

Như thường lệ, ông Trưởng đã hành xử một cách ngoạn mục, chỉ huy binh sĩ một cách bình tĩnh nhưng ấn tượng (Truong had performed magnificently, directing his troops in a calm but charismatic fashion). Trung tướng Cushman, người sau này trở thành bạn thân của ông sau khi đã làm việc với ông, đã mô tả hành xử của ông Trưởng trong trận chiến Mậu Thân như sau: “Ông Trưởng sống sót trong lúc bị địch quân bao vây tứ phía. Địch quân chưa chiếm được bộ tư lệnh của ông như họ đã chiếm được phần còn lại của Thành Nội.”

Sau Trận Tết Mậu Thân, ông Trưởng được đặc cách thiếu tướng. Tháng 8/1970, ông được bổ nhiệm Tư Lệnh Quân Đoàn IV tại Cần Thơ vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long. Tháng 4/1971, ông được vinh thăng trung tướng.

Với tư cách tư lệnh lực lượng quân sự vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long, chiến lược của ông Trưởng là thiết lập một hệ thống tiền đồn dọc theo biên giới với Cao Miên để ngăn chặn sự chuyển quân và tiếp liệu của Cộng Sản vào trong vùng, trong khi đó ông chia ba sư đoàn bộ binh trực thuộc thành các lực lượng đặc nhiệm cấp trung đoàn để thực hiện các cuộc hành quân lùng và diệt địch trong các căn cứ lâu năm của đối phương trên toàn vùng. Trong khi đó, với sự hết sức ngay thẳng (scrupulously honest) ông Trưởng tung ra một chiến dịch truy quét “lính ma” và “lính kiểng”, đào binh và trốn quân dịch trong vùng IV. Ông cũng gia tăng khả năng của các lực lượng Nghĩa Quân và Địa Phương Quân trong vùng, biến các lực lượng này thành một thể thống nhất trong kế hoạch phòng thủ tạo an ninh cho Đồng Bằng sông Cửu Long.

Ngày 30/3/1972, Bắc Quân tung ra cuộc tấn công “Đông Xuân” (Easter Offensive). Lực lượng tấn công gồm 14 sư đoàn và 26 trung đoàn độc lập với hơn 120,000 quân và khoảng 1,200 chiến xa và xe cơ giới vũ trang khác. Mục tiêu chính của Bắc Quân là tỉnh Quảng Trị ở phía bắc, Kontum ở Cao Nguyên Trung Phần và An Lộc ở xa hơn về phía nam thuộc Vùng III Chiến Thuật.

Cuộc tấn công bắt đầu vào trưa ngày thứ Sáu, ngày kỷ niệm Chúa bị đóng đinh (Good Friday), với các cuộc pháo kích nặng nề vào tất cả các căn cứ hỏa lực trong Vùng I Chiến Thuật, phía nam của khu Phi Quân Sự (DMZ). Ngày hôm sau, ba sư đoàn thuộc Mặt Trận B-5 của Bắc quân tấn công một loạt các căn cứ hỏa lực của QLVNCH ngay phía nam khu Phi Quân Sự, được trấn giữ bởi Sư đoàn 3 Bộ Binh tân lập. Các binh sĩ QLVNCH bị tràn ngập với tỉ số 1 chống 3, đã rút lui trong khi Bắc quân tấn công về phía nam. Trong khi hết căn cứ hỏa lực này tới căn cứ hỏa lực khác rơi vào tay 40,000 Bắc quân, căn cứ chiến đấu tại tỉnh Quảng Trị bị đe dọa và cuối cùng di tản trước cuộc tấn công. Trong cuộc chiến đấu cay đắng đó, Sư đoàn 3 Bộ Binh VNCH bị tan nát và không còn khả năng chiến đấu.

Ngày mùng 1/5/1972, Cộng quân chiếm tỉnh Quảng Trị. Điều này giúp Cộng quân kiểm soát các vùng lân cận và tiếp tục tấn công về phía nam. Biết được tình hình nguy ngập, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã giải nhiệm Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm, Tư lệnh Vùng I Chiến Thuật, người không có khả năng ngăn chận cuộc tấn công của Cộng Quân và ra lệnh Tướng Trưởng đảm nhiệm chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn I kiêm vùng I chiến thuật. Ông Trưởng rời bộ tư lệnh Quân Đoàn IV ở Cần Thơ và tới Đà Nẵng ngày mùng 3/5. Sử gia Lewis Sorley sau đó viết rằng việc thay đổi cấp chỉ huy này có ảnh hưởng như nhanh như điện. Sự trở lại của ông Trưởng đã giúp trấn an tình hình, và chỉ riêng sự hiện diện của ông cũng mang lại niềm hy vọng mới cho các lực lượng VNCH tại Vùng I.

Tướng Trưởng mau chóng nhận quyền chỉ huy, ra lệnh bắn tại chỗ tất cả các đào binh nào không trở về trình diện đơn vị trong vòng 24 giờ. (ghi chú của người dịch: Trong vòng thân mật gia đình, ông tâm sự chưa bao giờ ông ra lệnh bắn ai) Ông lên truyền hình và hứa sẽ giữ Huế và đẩy lui Cộng quân. Ông thiết lập ban tham mưu rồi chuyển bộ tư lệnh của ông ra Huế, nơi đang bị rối loạn trước cuộc tấn công đang tiếp diễn của Cộng quân. Sau khi ổn định tình hình, ông thiết lập kế hoạch phòng thủ toàn diện nhằm chận đứng cuộc tiến công của Cộng quân. Đồng thời ông thiết lập kế hoạch tái huấn luyện và bổ sung các đơn vị trước đó bị tơi tả trong lúc rút lui khỏi Quảng Trị. Với thiết bị mới được Hoa Kỳ cung cấp, ông tập hợp các đơn vị đó lại và cho tái huấn luyện cấp tốc.

Cho tới giữa tháng 5, cuộc phòng thủ Huế đã được củng cố, tình hình đã ổn định và các đơn vị tái phục hồi đã sẵn sàng. Ông Trưởng tung ra một cuộc phản công với ba sư đoàn để tái chiếm những vùng bị mất, với sự trợ giúp của hỏa lực Hoa Kỳ, trong đó có các cuộc oanh tạc của pháo đài bay B-52, không yểm cận chiến của các oanh tạc-chiến đấu cơ (fighter-bombers) của Không, Hải Quân và TQLC Hoa Kỳ; trực thăng tấn công (Army attack helicopters); và hải pháo của Hạm Đội 7 Hoa Kỳ. Đây là một tiến trình chậm chạp và được xem xét cẩn thận, nhưng các lực lượng của ông đã đẩy lui được sáu sư đoàn quân Bắc Việt để tái chiếm Quảng Trị vào ngày 16/9. Nhiều căn cứ hỏa lực dọc theo vùng Phi Quân Sư được tái chiếm (1), và tới cuối tháng 10 tình hình Vùng I được ổn định. Với việc tái chiếm Quảng Trị, và đứng vững của QLVNCH tại Kontum và An Lộc, Cuộc tấn công của Bắc quân đã thất bại. Ông Trưởng đã hoàn toàn biến đổi tình hình thê thảm khắp Vùng I nhờ sức mạnh cao ngất của tài lãnh đạo của ông (by the sheer force of his personal leadership.)

Năm 1975 ông Trưởng đứng trước thử thách lớn nhất đời ông. Công cuộc phòng thủ của QLVNCH tại Cao Nguyên Trung Phần sụp đổ trước một cuộc tấn công mới của Bắc quân. Tổng Thống Thiệu ra lệnh ông tử thủ Huế, và ông đã bắt đầu củng cố công cuộc phòng thủ thành phố này, chuẩn bị chiến đấu tại đây. Tuy nhiên, sau đó là một tuần lễ tranh luận (debate) với TT Thiệu và các sĩ quan tham mưu quân sự cao cấp của tổng thống, nổi bật bởi những lên án (highlighted by accusations), những lệnh lạc mâu thuẫn và các đề nghị không thể thi hành được. Trong các cuộc thảo luận này, ông Trưởng được lệnh bỏ Huế, mặc dù ông quả quyết rằng vẫn có thể phòng thủ được. Trong khi ông chuẩn bị thi hành lệnh mới nhất của Tổng Thống, thì vào phút chót Tổng Thống lại ra lệnh ngược lại bảo ông giữ Huế bằng mọi giá. Theo một quan sát viên cho phóng viên tuần báo Time biết: “Giống như là một người ngu hay một chàng điên (It was like a yo-yo) (2). Đầu tiên, ông Thiệu ra lệnh rút lui Huế và phòng thủ Đà Nẵng. Rồi ông lại hủy bỏ lệnh đó và bảo giữ Huế. Rồi ông lại đổi ý và bảo binh sĩ rút lui.”

Lệnh lạc rối mù (Confusion reigned). Ông Trưởng không nhận được rõ ràng những lệnh mới, nhưng ông cố gắng tuân hành theo khả năng của ông. Mặc dù vậy, việc rút lui khỏi Huế đã trở thành một thảm họa tương đương về mức độ với cuộc rút lui ở Cao Nguyên Trung Phần. Dưới cuộc pháo kích của đại bác hạng nặng, các lực lượng của ông tan rã. Vì những lệnh lạc mâu thuẫn, thiếu chuẩn bị và sự mất tinh thần, cuộc di tản trở thành một thất bại hoàn toàn. Lãnh đạo yếu kém ở nhiều đơn vị, sự mất thống nhất của các đơn vị và lo lắng về gia đình đã mau chóng đưa tới hoảng hốt và hoàn toàn rối loạn.

Tình hình tại Đà Nẵng cũng tồi tệ như vậy. Trong khi thành phố bị hai sư đoàn Cộng quân pháo kích, ông Trưởng cố điều động cuộc di tản bằng đường biển. Nhưng tiếp theo đó là một địa ngục, khi các thường dân cũng như binh sĩ cố thoát về phương nam bằng mọi cách. Đà Nẵng rơi vào tay Cộng quân vào ngày 30/3. Trong tiến trình bỏ rơi một thành phố có 3 triệu dân, bốn sư đoàn chủ lực quân tan rã, trong đó có hai sư đoàn ưu tú nhất của QLVNCH: Sư đoàn 1 BB và sư đoàn TQLC.

Tướng Trưởng, một người quyết tâm muốn giữ Huế, đã bị đặt trong tình huống không thể phòng thủ nổi bởi các lệnh lạc mâu thuẫn nhau của TT Thiệu. Khi Đà Nẵng thất thủ, ông Trưởng và sĩ quan tham mưu của ông đã dùng phao bơi ra đoàn tầu cấp cứu của Hải quân Việt Nam. Ông Trưởng đã hết sức đau lòng vì sự mất mát các lực lượng của ông, đặc biệt là Sư đoàn 1 BB mà ông yêu mến. Tin tức cho hay ngay khi về tới Saigon ông vào nằm bệnh viện vì mất tinh thần (nervous breakdown). Một sĩ quan Hoa Kỳ đã từng làm việc thân cận với ông nghe thấy vậy đã đi tìm ông và thu xếp để đưa gia đình ông ra đi trên một chiến hạm Hoa Kỳ khi Saigon rơi vào tay Cộng sản.

Gia đình ông bị chia rẽ một thời gian: Vợ ông và người con trai lớn tới được căn cứ Fort Chaffee, ở tiểu bang Arkansas; các con gái ông và người con trai giữa đã chạy được với một nhân viên Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ tới thành phố Seattle; và người con trai út không biết một chữ tiếng Anh, ở trại tị nạn Pendleton, tiểu bang California trong nhiều tuần lễ trước khi danh tánh của em được tìm thấy.

Sau khi tái hợp, ông Trưởng và gia đình chuyển tới Falls Church, tiểu bang Virginia. Sau khi ổn định ở đây, ông viết nhiều bài nghiên cứu lịch sử về cuộc chiến Việt Nam cho Trung Tâm Quân Sử của Quân Đội Hoa Kỳ. Năm 1983, cùng năm ông trở thành công dân Hoa Kỳ, ông chuyển tới Springfield cùng tiểu bang. Ông làm nhân viên phân tích điện toán (computer analyst) cho Sở Hỏa Xa Hoa Kỳ (Association of American Railroads) trong 10 năm cho tới khi ông về hưu năm 1994.

Mặc dù kết quả của cuộc chiến tại Vùng I và cuộc sụp đổ sau đó của miền Nam VN, danh tiếng của ông Trưởng không thay đổi. Trong hồi ký năm 1992, Tướng Norman Schwarzkopf đã gọi Tướng Trưởng là “vị tư lệnh chiến thuật sáng giá nhất mà tôi được biết”. Ông viết, “Chỉ hình dung địa thế và rút kinh nghiệm chiến đấu chống địch quân trong mười lăm năm của mình, Tướng Trưởng đã chứng tỏ khả năng phi thường (an uncanny ability) tiên đoán những gì địch quân sẽ thực hiện.”

Tướng Schwarzkopf viết: “Ông ấy trông không có vẻ một thiên tài quân sự (a military genius): chỉ cao có 5 feet 7 (khoảng 1m70)… rất gầy, vai xuôi và cái đầu dường như quá khổ so với thân mình… Gương mặt dài và nghiêm nghị… và luôn luôn ngậm điếu thuốc trên môi. Tuy nhiên ông được các sĩ quan và binh sĩ kính nể và những tư lệnh Bắc quân biết khả năng của ông sợ hãi.

Không giống một số tướng lãnh Miền Nam, những người đã trở nên giầu có cùng với sự thăng tiến cấp bậc, ông Trưởng ngay thẳng và theo một người bạn thân của ông thì ông sống một cuộc sống “khắc khổ” (spartan and ascetic life). Trung Tướng Cushman cho biết Tướng Trưởng không có một bộ đồ vest, và vợ ông nuôi heo trong khu nhà khiêm tốn của ông trong doanh trại ở Cần Thơ. Tướng Cushman mô tả Tướng Trưởng, “Ông ấy rất sáng tạo và luôn luôn tìm cách cải thiện đời sống binh sĩ và gia đình họ.”

Một con người khiêm tốn, ông Trưởng là một người không ích kỷ, dốc lòng cho binh nghiệp. Ông hết lòng với thuộc cấp, và nổi tiếng trong việc chăm sóc binh sĩ, thường bay trong lửa đạn để tới đứng với binh sĩ trong mưa và bùn lầy trong lúc bị địch quân tấn công. Ông đối xử với mọi người như nhau và không dành đặc ân cho ai. Có câu chuyện kể rằng ông từ chối đáp ứng một yêu cầu đưa người cháu gọi ông bằng bác ruột về đơn vị không chiến đấu, để rồi sau đó người cháu của ông đã hy sinh tại mặt trận.

*

Ghi chú: JAMES H. WILLBANKS là Giám đốc Khoa Lịch Sử Quân Sự tại Trường Chỉ Huy Tham Mưu Lục Quân Hoa Kỳ tại Căn Cứ Fort Leavenworth, Kansas. (director of the Department of Military History at the U.S. Army’s Command and General Staff College at Fort Leavenworth, Kansas). Ông là một cựu sĩ quan bộ binh trong 23 năm, đã trải qua cuộc bao vây bằng pháo binh khốc liệt dài hai tháng tại An Lộc trong cuộc Tấn Công Đông Xuân (Easter Offensive) của Bắc quân vào năm 1972.

*

Có một số ý kiến phản hồi của các độc giả gốc Việt cũng như người sắc tộc khác. Người dịch chỉ dịch vài ý kiến tiêu biểu của mấy độc giả người sắc tộc khác dưới đây:

- Robert Valenzuela viết: Một tấm gương tốt của một vị chỉ huy và một quân nhân thực sự. Đã sống hiểm nguy ngoài mặt trận như các thuộc cấp. Ước gì Việt Nam có nhiều người như ông…

- Cav Advisor viết: Tôi đã có may mắn được phục vụ với tư cách cố vấn tại Thiết đoàn 7 kỵ binh thuộc Sư đoàn 1 BB-VNCH khi Tướng Trưởng làm tư lệnh. Ông ấy là một vị tư lệnh xuất sắc (superb leader). Tôi luôn luôn kính trọng nhớ mãi những kỷ niệm với ông.

- Robert Branson viết: Tôi có may mắn đặc biệt được thuyết trình cho Tướng Trưởng tại Quận Kế Sách, tỉnh Ba Xuyên. Ông là người hiểu biết, chú ý và ngay thẳng với lỗi lầm. (honest to a fault). Quan trọng hơn nữa, ông đối xử với các sĩ quan trong đơn vị và các sĩ quan tham mưu của ông cùng một tiêu chuẩn.

Ghi chú:

(1): Tác giả có sự lầm lẫn ở đây. Sau khi tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị, Quân Lực VNCH được lệnh không tái chiếm lại vùng đất bên bờ bắc sông Thạch Hãn. Từ đó tới sông Bến Hải cũng còn xa khoảng 30 km trong khi vùng Phi Quân Sự chỉ cách sông Bến Hải có 5km thôi, cho nên QLVNCH không tái chiếm lại những căn cứ hỏa lực dọc theo vùng Phi Quân Sự như tác giả viết (ghi chú của Nguyễn Tường Tâm).

(2): yo-yo: a stupid or foolish person (Merriam-Webster’s Dictionary and Thesaurus).

© Nguyễn Tường Tâm

Posted: Thu Jan 27, 2011 3:04 pm
by thienthanh
Câu chuyện về bài thơ
“Người Lính Già Vừa Chết Đêm Qua”


Tác Giả: Trần Trung Đạo
Sáng nay tôi nhận nhiều email từ thân hữu và độc giả. Tất cả đều kèm theo bài thơ tôi viết gần 20 năm trước, bài thơ Người Lính Già Vừa Chết Đêm Qua và một mẫu tin Ðể nhớ Mãnh sư Nguyễn Mạnh Tường. Là một trong những người quan tâm đến sức khỏe của đại tá và nhận được tin cập nhật mỗi ngày từ một người bạn ở DC, anh Bùi Mạnh Hùng, tôi biết đó là tin không đúng. Đại Tá Nguyễn Mạnh Tường còn sống và đang phục hồi sức khỏe.

Internet như một vết dầu loang nhanh chóng. Một cây diêm nhỏ có khả năng tạo thành cơn bão lửa. Giờ phút này, nhiều người biết sức khỏe của Đại Tá Nguyễn Mạnh Tường đang có những dấu hiệu khả quan, nhưng cùng lúc nhiều người khác lại rưng rưng nước mắt nhớ đến những ngày chiến đấu dưới quyền đại tá. Giờ phút này, nhiều thân hữu của ông đang vui mừng vì sáng nay khi vào thăm, thấy đại tá đã nhận ra mình, nhưng đồng thời cũng có những bạn tù đã một thời chia từng củ khoai lang thối, từng chén cháo lỏng với ông ở Hoàng Liên Sơn đang dõi mắt hướng về California xa xôi trong ngậm ngùi chua xót vì nghĩ rằng sẽ vỉnh viễn không còn có ngày gặp lại nhau.

Tôi không biết ai là người đầu tiên gởi bài thơ ra kèm theo tin không đúng nhưng chắc chắn vị đó đã gởi ra với một tấm lòng chân thành. Bài thơ thay cho tiếng than của số phận lạc loài, thay cho lời phân ưu tưởng tiếc, thay cho những giọt nước mắt từ những đôi mắt tưởng đã khô, nhỏ xuống để tiễn đưa một người lính Việt Nam Cộng Hòa vừa mờ đi theo bóng thời gian.

Hoàn cảnh của đại tá và của người lính già trong bài thơ rất giống nhau. Cả hai cựu tù nhân Cộng Sản đều ở San Jose và cả hai đều không có thân nhân trong giờ phút qúa cần một bàn tay ấm của các con, một lời an ủi của người vợ cũ dù vì một lý do nào đó phải chia tay nhau. Điều khác nhau trong câu chuyện của hai người lính là Đại Tá Nguyễn Mạnh Tường còn sống nhưng người lính già kia đã chết, chết thật, chết cô đơn trong một chiều mưa trên freeway 101 San Jose.

Tôi không nhớ chính xác ngày tháng nhưng khoảng cuối năm 1993. Một buổi chiều, bạn tôi, lúc đó đang sinh hoạt trong Tổng Hội Sinh Viên Bắc California gọi thăm. Cậu ta kể tôi nghe một câu chuyện cảm động vừa xảy ra ở San Jose. Một anh HO bị xe cán chết khi vô tình tìm cách băng qua freeway 101. Anh đến Mỹ chưa được bao lâu và tưởng xa lộ ở Mỹ giống như quốc lộ ở Việt Nam. Cảnh sát đưa xác anh vào nhà khám nghiệm và sau đó tìm cách thông báo thân nhân. Anh không có thân nhân. Anh sang Mỹ một mình theo diện HO. Vài người quen của anh đến nhà xác để xin được nhận về chôn cất. Tất cả đều bị từ chối vì không ai có đủ thẩm quyền trực hệ. Gần một tháng sau, vợ của anh từ Việt Nam ký giấy ủy quyền cho một người bạn của anh ở San Jose. Xác của người lính già đó cuối cùng mới được đem ra và an táng.

Mỗi ngày trên nước Mỹ này có hàng trăm người bị xe cán chết. Chỉ riêng trong năm 2009, gần 34 ngàn người chết có liên hệ đến tai nạn xe hơi. Anh ra đi như một chiếc lá rơi, rất vội vàng như anh đã đến. Xác anh nằm chơ vơ như một con sóc nhỏ chết bên đường. Không ai dừng lại. Không ai tiếc thương. Nhưng với tôi, anh là hình ảnh của dân tộc Việt Nam, một dân tộc cô đơn và chịu đựng, một dân tộc có nhiều cách chết hơn cách sống. Tôi khóc cho anh bởi vì sẽ không ai khóc cho người Việt ngoài người Việt và cũng sẽ không ai cứu vớt dân tộc Việt Nam ngoài chính dân tộc Việt Nam. Và tôi tin sự sống sẽ nẫy mầm từ nỗi đau thương, cũng như hy vọng sẽ lớn lên từ tận cùng thống khổ mà dân tộc chúng ta đã và đang phải trải qua.

Dưới đây là bài thơ:

NGƯỜI LÍNH GIÀ VỪA CHẾT ÐÊM QUA

Người lính già Việt Nam
Vừa mới chết đêm qua
Trên đường phố San Jose bụi bặm
Anh đã đi bao nhiêu nghìn dặm
Ðến nơi đây chỉ để chết âm thầm
Không một phát súng chào
Không cả một người thân
Không ai nói với anh một lời tiễn biệt.

Người lính già Việt Nam
Như con thú hoang lạc loài
Trên freeway nhộn nhịp
Một tiếng rên thảng thốt chảy trong mưa
Một chiếc lá cuốn đi theo cơn gió cuối mùa
Một tiếng nấc rã rời trong đêm vắng.

Vợ anh đâu?
Sao không về đây vuốt mắt
Con anh đâu?
Sao không đến vấn khăn tang
Anh ra đi như anh đến
Rất vội vàng
Chẳng còn ai trên đời để khóc.

Nhân loại văn minh có nhiều cách sống
Nhưng đồng bào tôi có những kiểu chết rất lạ đời
Người vợ mang thai
Ôm lấy chồng cùng nhảy xuống biển khơi
Ðể khỏi phải rơi vào tay giặc Thái
Cho sóng biển Ðông nghìn năm còn ru mãi
Một bài ca chung thủy vọng về Nam
Ðể mỗi sớm chiều khi thủy triều dâng
Tổ quốc sẽ được bồi thêm
Bằng máu anh thịt chị.

Có những bà mẹ nửa đêm thức dậy
Ði bán máu mình mua gạo nuôi con
Ðường về chưa tới đầu thôn
Bà gục chết không kịp nhìn mặt con lần cuối
Ðứa con út cũng chết dần trong cơn đói
Miệng còn thì thào hai tiếng “Mẹ ơi !”
Những giọt máu tươi đã giết chết hai người
Sẽ đọng lại trong nghìn trang lịch sử
Cho nước sông Hồng bao giờ cũng đỏ
Như màu máu Mẹ Việt Nam.

Ðêm qua thêm một đứa con
Vừa mới chết trên đường phố San Jose nhộn nhịp
Anh không chết ở Hạ Lào, Bình Long, Cửa Việt
Anh không chết ở Hàm Tân, Suối Máu, Hoàng
Liên Sơn
Chết ở đây đất lạ sẽ thêm buồn
Trên mộ bia anh thêm một dòng chữ Mỹ.

Một người Việt Nam sinh nhầm thế kỷ
Và chết cũng nhầm nơi
Ðêm nay bên kia bờ trái đất xa xôi
Quê hương anh vẫn còn chìm trong lửa đỏ.

Tôi gởi anh đôi dòng thơ
Từ trái tim của một thằng em nhỏ
Cũng lạc loài lưu lạc như anh
Chúng ta, hai chiếc lá chung cành
Bay phơ phất trước từng cơn bão tố
Ngủ đi anh bình yên nơi chín suối
Ðau thương nầy em sẽ viết thay anh.

Posted: Fri Jan 28, 2011 3:57 pm
by tankhoasinh
Image

Tiểu Đoàn 4 TQLC Kình Ngư: Những Năm Tháng Sau Cùng !
Khi nhắc tới Tiểu đoàn 4 TQLC là người ta nghĩ ngay đến trận đánh Bình Giã, cũng như Tiểu đoàn 5 gắn liền với trận Mộ Đức, Quảng Ngãi, và Tiểu đoàn 2 với trận phản phục kích tại quận Phong Điền, Thừa Thiên Huế. Đây là những trận đánh lịch sử của QLVNCH.Toàn thể các vị Tiểu đoàn trưởng đều đã hy sinh cùng hầu hết các sĩ quan Tham mưu trong đơn vị.

Trận Bình Giã xảy ra vào những ngày cuối tháng 12- 1964 khi khóa 19 Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt vừa mới ra trường.Có 5 tân sĩ quan về đơn vị mới, thì 2 đã bị thương năng, và 2 tử trận. Đặc biệt sự hy sinh đáng tiếc của Thủ khoa Võ Thành Kháng và Niên trưởng Nguyễn Hùng đã là một mất mát vô cùng lớn lao cho QLVNCH, những người con yêu tổ quốc, đã được rèn luyện công phu suốt nhiều năm trời dưới mái trường Võ bị. Niên trưởng Trần Ngọc Tòan Đại đội trưởng khóa 16 Đà Lạt cũng đã bị thương rất nặng, thất lạc trong rừng sâu nhiều ngày và sự sống còn là điều rất may mắn, hy hữu.

Ngày xưa các thẩm quyền thường gọi Tiểu đoàn 4 là Tiểu đoàn Hoàng-Gia, trong những lúc trà dư tửu hậu.Tuy đây chỉ là lời nói đùa nhưng nhìn chung thì cũng có phần hữu lý, vì đơn vị nầy đã từng được chỉ huy bởi các Đại bàng Lạng Sơn và Tango, 2 vị Trưởng và Phó Tư Lệnh Sư Đoàn. Phần đông các sĩ quan chỉ huy xuất sắc, nồng cốt trong Binh chủng cũng đã xuất thân từ Tiểu đoàn nầy,

Nhắc lại chuyện xưa chẳng qua là dip để nhớ lại những kỷ niệm của một thời để thương và để nhớ, một giai đoạn lịch sử vàng son nhất của người lính Mũ xanh sát Cộng QLVNCH.

Vào những ngày tháng Ba buồn thảm hàng năm, để tưởng nhớ tất cả các chiến sĩ QLVNCH thuộc mọi Binh Chủng đã nằm xuống một cách thật oan uổng, trong những giờ phút cuối cùng của cuộc chiến tại bờ Nam cửa biển Thuận An, đặc biệt nhất là các chiến hữu Mũ xanh Kình Ngư Tiểu đoàn 4 TQLC.

Người viết xin ghi lại những ngày tháng không thể nào quên trong cuộc đời binh nghiệp của mình ở đơn vị Tiểu đoàn 4 nầy, dù chỉ có duyên phục vụ vỏn vẹn 2 năm trời, nhưng những tình cảm thân quý của người lính Mũ xanh Kình Ngư mãi mãi là những kỷ niệm tốt đẹp nhất trong đời mình bằng một thứ tình “Huynh đệ chi binh” trân trọng, quý hiếm.

Từ một tên Thiếu úy “sữa” mới ra trường đến khi đảm trách chức vụ Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 2 TQLC, được thăng cấp Thiếu tá vào năm 1972 trong trận tái chiếm lại Cổ thành Quảng Trị. Tôi có lẽ là người may mắn nhất chưa một lần bị thương nặng phải vào ra bệnh viện, mặc dầu đã có mặt hầu như đầy đủ trong các cuộc hành quân, chỉ trừ hơn nữa năm vắng mặt theo học khóa Basic School tại Hoa Kỳ vào đầu năm 1969.

Sau trận đánh Cổ thành Quảng Trị, Sư đoàn TQLC lại phải vô cùng vất vả, còn phải hy sinh biết bao xương máu nữa, để tiếp tục chiếm lại những vùng đất bị mất vào tay giặc vào mùa Hè đỏ lửa 1972. Cánh B Tiểu đoàn 2 do tôi đảm trách gồm Đại đội 2 của Đại úy Từ Đức Thọ và Đại đội 5 của Đại uý Huỳnh văn Trọn phải chiến đấu ngày đêm, giành giật từng tấc đất với kẻ thù trên mặt trận vùng phía Bắc Chợ Cạn. Với địa thế toàn những đồi cát trắng trống trải, không thuận lợi cho việc tiến quân, cùng những cơn gió rét lạnh cắt da đã làm chậm bước tiến quân rất nhiều.Đơn vị đã bị tổn thất khá nặng, số binh sĩ bổ sung không bằng số thương binh hao hụt mỗi ngày Thương cấp biết được tình hình nên đã điều động Tiểu đoàn 5 TQLC thay thế.Niên trưởng Thiếu tá Trần Vệ Tiểu đoàn phó, người thay thế tôi cũng đã bị thương nặng trong chuyến đổi quân nầy.

Tiểu đoàn 2 chúng tôi được lui về phía sau để nghỉ dưỡng quân và tái trang bị, phòng thủ bảo vệ Bộ chỉ huy Lữ đoàn 147 tại đồi cát “Hội Yên”.Vào một buổi trưa trời không nắng, tôi nhận được lệnh trình diện Đại bàng Lạng Sơn, lý do sẽ cho biết sau.Tôi được thông báo là sẽ thuyên chuyển về làm Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 4 thay thế Đại úy Trịnh Hữu Phước, còn Trung tá Nguyễn Đằng Tống thay Trung tá Trần Xuân Quang trong chức vụ Tiểu đòan trưởng, Thiếu tá Nguyễn Phúc Định từ Tiểu đoàn Sói biển cũng được điều động về làm Trưởng ban 3 thay Trung úy Trần Kim Tài, Đại đội trưởng Đại đội chỉ huy kiêm nhiệm.

Một thoáng bất ngờ cộng thêm một ít buồn man mát trong lòng.Nhưng dầu sao đây cũng là một cái lệnh mà vị Tư lệnh muốn dăn dò đặc biệt cho tôi, thay vì chỉ cần ban ra một quyết định để thi hành.Cá nhân tôi đã có quá nhiều chuyện buồn nơi đơn vị cũ và việc ra đi lúc nầy cũng là môt cơ hội tốt.. Nhưng làm sao tôi không khỏi đau lòng khi phải rời xa đơn vị thân yêu mà mình đã từng phục vụ trong suốt hơn sáu năm trời. Tôi nhớ những người lính còn lại rất ít ỏi của tôi trong trung đội đầu đời, thương những thuộc cấp của Đại đội 5 mà tôi là người Đại đội trưởng đầu tiên kể từ ngày thành lập Rồi đây tôi sẽ phải nói lời chia tay với họ, nhất là những chiến hữu thuộc Bộ chỉ huy cánh B, những người đã cùng tôi luôn chịu thiệt thòi khổ sở nhất, hy sinh rất nhiều nhưng quyền lợi thì chẳng được bao nhiêu.Thật sư là tôi đã không cầm được nước mắt khi hấp tấp nói lời chia tay với họ, nhưng dầu sao đây là cái lệnh phải thi hành

Tôi nhớ mãi, đó là cái buổi chiều buồn mây đen xám xịt cuối tháng 11-1972.Bầu trời âm u, cùng những cơn mưa dầm tầm tã, trên chiếc thiết vận xa M 113 do người tài xế lái còn có thêm Hạ sĩ 1 Lê Hồng Quảng Nam, người đã cùng tôi khổ cực, sống chết thủy chung suốt nhiều năm trời, đây là món quà đặc biệt mà thương cấp đã ưu ái dành cho tôi được mang theo trong chuyến đi nầy.

Trung tá Tống đã đón tôi tại Bộ chỉ huy Tiểu đoàn vào lúc trời nhá nhem tối.Trên các tuyến đầu lửa đạn các đơn vị vẫn còn đang giao tranh, tiếng gầm thét của phi cơ cùng đủ loại pháo binh địch, ta rơi rớt khắp đó đây.Trong căn lều vải nằm ven biển sóng vỗ rì rào, có quá nhiều thương binh từ các đại đôị tuyến trên đưa về. Những y tá và các người lính Đại đội chỉ huy đang bận rộn băng bó và di tản họ về lại tuyến sau Qua hệ thống liên lạc truyền tin các Đại đội vẫn còn đang bị đè nặng dưới áp lực của địch, binh sĩ luôn giữ chặt tay súng chiến đấu dưới các giao thông hào.

Những người lính Kình Ngư rất vui mừng đón tiếp chúng tôi như người thân thuộc xa cách nhiều năm nay mới trở về .Họ niềm nở lo cho tôi chỗ ăn, chỗ ngủ.Dĩa cơm gạo sấy cùng một một ít nước còn lại trong chiếc bidong chiều hôm đó quả đã làm tôi cảm thấy ấm lòng.Những ám danh đàm thoại khác lạ nhưng rất thân thiện, êm tai mà tôi chưa từng được nghe ở đâu bao giờ. Bạch Yến, Sao Mai, những danh xưng đặc biệt chỉ dành cho Tiểu đoàn phó, và các vị Đại đội trưởng không rõ xuất xứ từ bao giờ nhưng đã được mọi cấp quen thuộc sử dụng hàng ngày..

Đại đội 1 do Trung uý Huỳnh văn Xuân xử lý thường vụ, là đơn vị bị tổn thất nhiều nhất thì đang bảo vệ Bộ chỉ huy Tiểu đoàn .Đại đội 2 do Đại uý Ngô hữu Đức chỉ huy, người giàu kinh nghiệm và thâm niên nhất. Đại đội 3 Trung uý Mai văn Hiếu, Đại đội 4 Trung úy Dương tấn Tước làm Đại đội trưởng.Cả 2 anh đều xuất thân cùng một khóa nên rất thân tình, hết lòng thương yêu thuộc cấp và gắn bó giúp đỡ lẫn nhau Chúng tôi rất dễ cảm thông vì cùng xuất thân từ một quân trường “ Mẹ”. Đại đội chỉ huy do Trung úy Trần Kim Tài đảm trách, rất nghiêm nghị nhưng rất hết lòng với mọi công tác được giao phó.

Trước khi về đơn vị mới nầy, tôi được báo trước những gì đã xảy ra qua lời dặn dò của vị Tư lệnh Sư đoàn.Tiểu đoàn vừa thất bại trong một cuộc lui binh làm mất đi một số chiến xa tăng phái của Thiết đoàn 17 từ vài ngày trước.Binh sĩ đã bị mất tinh thần rất nhiều, và sự có mặt của tôi và Trung tá Tống cũng không ngoài mục đích và lý do nầy.

Chúng tôi đã đến thăm từng vị trí chiến hào vào sáng ngày hôm sau khi đến đơn vị. Địch vẫn còn bám ta rất sát, rất nguy hiểm khi phải di chuyển băng qua những đồi cát trống, nơi địch đang rình rập kiểm soát sự chuyển quân của ta.

Biết được ý của địch thế nào cũng thừa thắng xông lên, nên thượng cấp đã đặc biệt lưu ý chúng tôi là lúc nào cũng phải đề cao cảnh giác.Chúng tôi đã bàn bạc rất kỹ với các đơn vị trưởng về những tình huống xấu rồi sẽ xảy ra, thiết lập một kế hoạch để sẵn sàng đối phó. Hệ thống phòng thủ phải tu bổ lại vững chắc, tăng cường thêm nhiều bao cát nơi các ổ súng cộng đồng Đạn dược, nhất là lựu đạn và mìn Claymore phải được tận dụng tối đa quanh tuyến phòng thủ.Thiết lập thêm nhiều hỏa tập pháo binh tiên liệu để khi cần tác xạ ngay đúng lúc.

Đúng như tiên đoán, địch đã điều động nguyên cả Trung đoàn tấn công sau đó một tuần.Nhờ sự yểm trợ của các Pháo đội cơ hữu, binh sĩ lên tinh thần chiến đấu suốt đêm đã đẩy lui nhiều đợt xung phong của địch.Cuối cùng chúng bị thảm hại và phải rút quân trước khi trời sáng, để lại gần 30 xác cùng nhiểu vũ khí đủ loại trong vòng đai phòng thủ.Thừa thắng xông lên quân ta đã chiếm lại vùng đất và các chiến xa bị mất vào hôm trước.

Tiểu đoàn 4 TQLC đã có được một chiến thắng phục thù.Thiếu tướng Tư lệnh đã đến thăm ngợi khen binh sĩ tại chiến trường, và ra lệnh cho đơn vị về phía sau nghỉ dưỡng quân và tái trang bị.

Đã có nhiều thay đổi nhân sự trong thời gian nầy Đại úy Dương công Phó từ Tiểu đoàn 5 về thay thế Trung úy Xuân chức vụ Đại đội trưởng đại đội1, sau khi mãn khóa học Đại đội trưởng tại trường Bộ binh Thủ Đức. Đại úy Nguyễn Tri Nam từ Trung tâm huấn luyện TQLC ra thay Thiếu tá Nguyễn Phúc Định về làm Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 8, trong chức vụ Trưởng ban 3. Nam cũng vừa học xong khóa Basic School TQLC từ Mỹ trở về.Là một sĩ quan tham mưu xuất sắc, thông minh nhanh nhẹn, tánh tình hoà nhã với mọi người, rất siêng năng và hết lòng thương yêu thuộc cấp.Anh chưa bao giờ làm Đại đội trưởng tác chiến, nhưng lại là người được thăng cấp Thiếu tá và đảm nhận chức vụ Tiểu đoàn phó đầu tiên của khóa 22 A Võ bị trong Sư đoàn.

Một tháng sau đó đơn vị lại có lệnh lên đường chuẩn bị cho một cuộc hành quân mới. Hành quân tiến chiếm lại Cửa Việt trước ngày hiệp định Paris về cuộc chiến Việt Nam có hiệu lực Một lực lượng Đặc nhiệm Tango cấp thời được thành lập do Đại tá Tư lệnh phó chỉ huy, cộng thêm Thiết đoàn 20 chiến xa tăng phái. Đây là một cuộc hành quân thần tốc “Nhị thức bộ binh thiết giáp”.Tiểu đoàn 4 là lưc lương xung kích chính, sau nầy được tăng viện thêm 2 Đại đội của Tiểu đoàn 2.Các lưc lượng tiến chiếm đã hoàn tất công tác được giao phó trước giờ ngưng bắn 2 phút Nhưng sau đó vì sự lật lộng gian manh của địch, chúng ta đành phải rời bỏ vị trí mà ta chiếm được, sau 3 ngày đêm nằm chịu trận mà không có bất cứ một sự yểm trợ nào. Sự tổn thất của các đơn vị tham chiến lần nầy quá lớn lao về nhân sự cũng như vũ khí bỏ lại tại chiến trường.

Đầu tháng 10 năm 1973, Trung tá Nguyễn Đằng Tống được lệnh về làm Lữ đoàn phó Lữ đoàn 147 với Trung tá Đỗ Hữu Tùng Lữ đoàn trưởng.Thiếu tá Trần Ngọc Toàn vừa về nước tháng 8-1973, sau khi mãn khóa học Chỉ huy và Tham mưu TQLC Hoa kỳ được thượng cấp chỉ định thay thế.Đây là đơn vị đầu đời của Niên trưởng từ khi mới ra trường, cá nhân tôi vẫn làm phó Tiểu đoàn 4 TQLC nầy cho đến giữa tháng 1-1975, được bổ nhiệm chức vụ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 5 TQLC, Đại úy Nguyễn Tri Nam vừa được thăng cấp Thiếu tá thay thế tôi chức vụ nầy.

Thời gian sau nầy có nhiều thay đổi nhân sự trong Tiểu đoàn, Đại úy Ngô Hữu Đức được thuyên chuyển về làm Trưởng ban 3 Tiểu đoàn 7 TQLC, Trung úy Tô Thanh Chiêu cũng từ Tiểu đoàn 5 về thay thế chức vụ Đại đội trưởng Đại đội 2.Chiêu có người anh ruột là Dân biểu VNCH, nhưng anh lại là người thích ở đơn vị đấm đá.. Nước da ngâm đen, da mặt sần sùi, trông thật dữ tợn, nơi bàn tay phải chỉ còn 4 ngón không ai rõ nguyên do, nhưng thật sự anh lại là người hiền nhất và rất có uy với thuộc cấp.Thẳng thắn và hay chọc quê “tếu”với bạn bè, giọng cười hô hố đặc biệt, không đẹp trai, nhưng lại có duyên ngầm, Người yêu của anh là một cô gái rất đẹp, con một chủ quán giàu có ở bãi trước Vũng Tàu.

Đại úy Dương Công Phó cũng được về học khóa Bộ binh cao cấp.Sau nầy, anh là Trưởng ban 3 của Tiểu đoàn 18 tân lập.Trung úy Trần Kim Tài vừa thăng cấp Đại úy thay thế chức vụ Đại đội trưởng Đại đội 1.Trung úy Dương Tấn Tước, vị sĩ quan độc thân suốt đời, yêu lính hơn yêu chính bản thân mình, vừa được thăng cấp Đại úy có lệnh thuyên chuyển về làm Đại đội trưởng Đại đội Viễn Thám “A”,Trung úy Võ văn Gắt Đại đội phó thay chức vụ Đại đội trưởng đại đội 4.

Do tình hình xáo trộn chung của đất nước và vì nhu cầu đòi hỏi cấp bách của chiến trường vào những ngày đầu tháng ba 1975.Bộ Tổng tham Mưu QLVNCH đã quyết định điều động phần lớn các lực lượng TQLC về Nam gồm các Lữ đòan 258, 369.Chỉ còn lại Lữ đoàn 147 do Đại tá Nguyễn Thế Lương chỉ huy, gồm các Tiểu đoàn 3,4,5,7, 2 Pháo binh cùng Đại đội Viễn thám của Đại úy Nguyễn tấn Lực.Thay vào đó, là 2 Liên đoàn Biệt Động Quân với trang bị và quân số thiếu hụt Đây là khởi điểm cho tất cả sự bỏ ngõ sau nầy ở mặt trận Bắc Quảng Trị.

Mãi cho đến chiều tối ngày 8-3-1975, địch bắt đầu mở cuộc tấn công đầu tiên thật mãnh liệt vào Trung đội tiền đồn tại đồi 51 căn cứ Tư Tưởng, hướng Tây quốc lộ 1, cây số 23 vùng Cổ Bi, Hiền Sĩ. Đơn vị được chỉ huy bởi Thiếu úy Nguyễn văn Sáng Đại đội phó Đại đội 2, đã chiến đấu chống trả can trường, đẩy lui nhiều đợt xung phong biển người của địch.Lần liên lạc sau cùng qua hệ thông vô tuyến, anh yêu cầu pháo binh chụp thẳng trên đầu mình vì vị trí phòng thủ đã bị địch tràn ngập. Anh đã tử thương sau đó trong cuộc cận chiến bằng lựu đạn với kẻ thù.

Sáng sớm ngày hôm sau, Thiếu tá Trần Ngọc Toàn điều động toàn bộ lực lượng còn lại, nhờ sự yểm trợ thật chính xác của các phi vụ A 37 thuộc không lực Vùng 1 chiến thuật, ta đã hoàn toàn làm chủ tình hình.Xác địch nằm ngổn ngang trong các bãi mìn của hàng rào phòng thủ, hơn 20 tên bị ta bắt sống ẩn trú trong các buội rậm. Đây là trận đánh lớn nhất và sau cùng của đơn vị TQLC vào những ngày cuối cùng tại mặt trận Quảng Trị. Mặc dầu thời gian nầy, cá nhân tôi đã là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 5 TQLC rồi, nhưng vì 2 đơn vị phòng thủ liên quan với nhau trên chạm tuyến, qua hệ thống liên lạc hàng ngang, nên tôi nắm rất rõ tình hình.

Lữ đoàn 468 cũng cấp tốc được thành lập với các Tiểu đoàn tân lập 14-16-18 Đại úy Mai văn Hiếu cùng toàn thể Đại đội của anh thuyên chuyển về Tiểu đoàn tân lập 16, Trung úy Hồng Minh So Đại đội phó thay thế chức vụ Đại đội trưởng Đại đội 2.Trung úy Huỳnh văn Xuân lại về làm Đại đội trưởng Đại đội chỉ huy. Chiêu cũng vừa thăng cấp Đại úy sang làm Đại đội trưởng Đại đội 3.Đại úy Nguyễn Minh Trí từ Tiểu đoàn 9 Mãnh hổ cũng được thuyên chuyển về làm Trưởng ban 3 trong thời gian nầy.

Thiếu tá Niên trưởng Đinh Long Thành được lệnh bàn giao chức vụ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 4 với Thiếu tá Trần Ngọc Toàn vào ngày 20-3-1975 trong sự thiếu chuẩn bị, hấp tấp vội vàng. Không đủ thời gian nắm rõ được tình hình đơn vị. Mọi việc điều hành chỉ trông cậy vào Tiểu đoàn phó Nguyễn Tri Nam và các vị Đại đội trưởng.

Nam và Chiêu là hai người thân nhất và có quá nhiều kỷ niệm với tôi. Nhưng số phận đã không may xảy đến cho họ vào buổi chiều ngày 24-3-75 khi các anh đang điều động binh sĩ rải tuyến đóng quân. Cả 2 đều đã hy sinh trong những giờ phút sau cùng bằng loạt đạn bắn tỉa của tên du kích. Đây là một thiệt hại vô cùng to lớn và là nguyên nhân dẫn đến sự tan hàng quá sớm của Tiểu đòan 4 vào những ngày cuối cùng tại bãi biển Thuận An. Vì mất hệ thống chỉ huy, các Đại đội chỉ còn cách tự lo liệu lấy thân, nên Trung úy Hồng Minh So đã dẫn nguyên Đại đội 2 của mình lên tàu vào sáng ngày 26-3-1975 cùng với Bộ chỉ huy Lữ đoàn. Đại đội trưởng Đại đội 4 Võ văn Gắt thì tập họp binh sĩ còn lại tuyên bố tan hàng, mạnh ai nấy lo, vì có lệnh “Các đơn vị tự lực cánh sinh” từ Sư đoàn TQLC qua lời chuyển tiếp của thẩm quyền Đại Dương, Đại úy Đan tùy viên Tư lệnh. Riêng Tiểu đoàn trưởng Đinh Long Thành thì bị kẹt cứng trên chiếc tàu mắc cạn, cùng đủ loại binh sĩ thuộc nhiều đơn vị khác nhau, không còn cấp chỉ huy, và Niên trưởng đã may mắn thoát nạn về tới Sài- Gòn trước ngày miền Nam thất thủ.

Cuộc chiến đấu của những người lính Mũ xanh thuộc Lữ đoàn 147 cùng nhiều đơn vị bị bỏ rơi lại tại tuyến đầu, đã bị kết thúc một cách thua thiệt oan uổng ngoài dự đoán của mọi người. Gần 3000 binh lính đủ mọi Binh chủng đã bị trói tay tại mặt trận vào những ngày cuối tháng ba 1975, đã là trang bi kịch đen tối trong chiến sử Quân đôi Việt Nam Cộng Hòa. Họ sớm bắt đầu cuộc đời tù đày khi đất nước chưa lọt vào tay giặc.

Cũng tháng ba năm 1971 của 39 năm về trước, vào các ngày 22-23 Lữ đoàn 147 do Đại tá Hoàng Tích Thông chỉ huy đã phải di tản chiến thuật trong cơn Uất hận Hạ Lào. Bằng cuộc hành quân có tên “Lam Sơn 719”, các cấp chỉ huy cao cấp nhất của QLVNCH đã ném toàn bộ binh sĩ thiện chiến nhất của mình vào đất địch tại vùng rừng núi Tchépone hẻo lánh xa xôi, nơi không phải là đất nước mình.Tứ bề thọ địch, hàng ngàn chiến sĩ anh dũng đủ mọi Binh Chủng phải chiến đấu kiên cường trong điều kiện bất lợi hoàn toàn.

Để rồi vào tháng ba năm 1975 cũng chính những chiến sĩ quả cảm Lữ Đoàn 147 được chỉ huy bởi Đại tá Nguyễn Thế Lương thêm một lần thọ nạn, họ cũng bị bức tử từ những cấp chỉ huy cao nhất của mình, bằng một cái lệnh vất bỏ không thương tiếc. Nói theo một chiến hữu Kình Ngư, nhà văn Cao Xuân Huy thì đó là ngày “Tháng ba gãy súng”. Súng của chúng tôi có phải bị bẻ gãy không khi mà vẫn còn có thể tiếp đạn cho chúng tôi chiến đấu!

Súng đã gãy và Tiểu đoàn 4 TQLC, một đơn vị tác chiến hàng đầu của QLVNCH cùng toàn thể những chiến sĩ quả cảm thuộc đủ loại Binh Chủng tại nơi tuyến đầu lửa đạn, cũng đã phải tan hàng theo vận nước nổi trôi.Một cuộc lui binh chưa từng được được viết ra trong binh pháp, và cũng chưa đơn vị nào đem ra áp dụng bao giờ Đó là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng đem đến sự đại bại thảm hại nhất trong cuộc chiến đấu bảo vệ miền Nam Tự Do.

Mũ xanh Phạm văn Tiền F/20

Posted: Sat Jan 29, 2011 4:07 am
by tankhoasinh

Image

Cơm cháy quân trường
Có lẻ hiếm ai được thưởng thức món cơm cháy quân trường nếu không phải là nam nữ quân nhân nhập ngũ. Tôi lớn lên từ quân trường có tên “Liên Trường Vỏ Khoa Trừ Bị Thủ Đức” trên đồi Tăng Nhơn Phú, chợ Nhỏ, Thủ Đức và tên gọi sau cùng là trường Bộ Binh Thủ Đức. Ba tôi là huấn luyện viên tại đây sau khi ông đã thụ huấn xong khóa 2. Năm 1962 ông đi du học ở Hoa Kỳ sáu tháng, cho đến vào khoãng năm 1972 ông thuyên chuyển về Lục Quân Công Xưởng ở Gò Vấp rồi nghỉ hưu được năm, sáu tháng trước ngày miền Nam VN rơi vào tay CS. Ông bị đày ra Bắc hơn năm năm.

Hảy cùng tôi trở về khung trời ấy vào giữa thập niên 50-60. Lúc đó tôi còn ở độ tuổi bậc tiểu học thích tìm tòi, sục sạo, mổi khi đến mùa bãi trường nếu má tôi không đưa mấy anh chị em tôi về gởi bên quê nội ở Mỷ Tho ba tháng hè thì đôi bàn chân bé nhỏ của tôi thời đó tha hồ tung tăng khắp nơi trong quân trường. Khó mà giữ tôi ngồi yên một chổ được lâu cứ xổng ra là tôi “rong chơi suốt ngày quên lãng”, mặc dù ba tôi hăm he dử lắm. Có lần tôi đang mon men tới gần phòng làm việc của ba tôi ở Khối Quân Huấn mà không biết, trời xui đất rủi vừa đúng lúc ông đi dạy từ ngoài bãi tập về bắt gặp thế là ông hốt tôi lên chiếc Lamretta hai bánh chở về nhà đét cho vài roi “ui da”. Vậy mà cũng chẵng chừa, khi thì lang thang một mình lúc thì cùng mấy đứa bạn nhỏ đồng trang lứa. Ngày xưa làm gì có computer để chơi game như bọn trẻ bây giờ mà hòng trói được chân tôi lại trong nhà. Tuy vậy, mổi khi ông đi đâu cũng đều hỏi tôi có muốn đi theo không? Dĩ nhiên là con bé chạy nhảy lăn xăn theo rồi.

Vừa vào cổng chánh của quân trường là con đường tráng bằng nhựa (dầu hắc) thẳng ra tới cổng sau. Ngay gần sát bên phải của cổng chánh có “lô cốt” cao kế đó là miếu Tiên Sư để cúng tế vào những ngày lễ lộc. Cách đó độ chừng hơn trăm thước có hai dãy nhà nối nhau cập theo con đường chính, mỗi dãy nhà có khoãng hai chục căn (không nhớ rỏ lắm) sát vách nhau, nối kết giữa hai dãy nhà là một bãi sân xi-măng rất rộng, buổi chiều người lớn hay đưa con cái ra đó cho chơi đùa, còn họ thì tán gẩu cùng nhau. Căn nhà đầu của dảy nhà đầu tiên là nơi gia đình tôi trú ngụ, vì là căn bìa nên bên hông nhà có hành lang rất rộng bề ngang bằng hai phần ba căn nhà ở cùng mái cao với dảy nhà cũng được lót gạch bông và lan can dài từ trước ra sau, thật là nơi lý tưởng cho bọn trẻ chúng tôi bày các trò chơi, còn buổi sáng sớm thì ba tôi ra đó với cái radio để tập thể dục theo chương trình của đài phát thanh. Sau lưng dảy nhà chúng tôi ở là bệnh xá. Dảy nhà thứ hai có nhà của tr/tá Vỉnh Lộc, còn dảy nhà bên kia đường thì có nhà của đ/tá Đỗ Cao Trí.

Thời đó quân trường chưa khai phá hết nhà cửa còn thưa thớt, đối diện với dảy nhà chúng tôi ở là khu rừng cây phía bên trái con đường chính. Thỉnh thoãng, sau khi ăn cơm chiều xong trời còn sáng mát, ba tôi cầm cây súng săn đi trước vào gần rừng cây, còn tôi xách chiếc lồng chạy lủn đủn theo sau. Ba tôi suỵt một tiếng bảo tôi đi nhè nhẹ, thế là tôi phải rón rén thật khó khăn. Má tôi mà làm chim rừng rô-ti thì khỏi chê được. Sau này, dân số, nhà cửa, phòng ốc từ từ bành trướng cùng với tôi lớn dần theo thời gian thì những cuộc đi săn ngắn cũng giãm dần rồi dứt hẳn lúc nào chẳng hay. Đi xuống chút nữa bên phải là khu nhà của các cố vấn Mỹ, mấy đứa con nít tụi tôi thường ghé lại ngoài sân bập bẹ vài tiếng chào “Hello” để được phát vài thỏi kẹo chocolate. Rồi đến dinh ông tướng chỉ huy trưởng quân trường, có một lần tôi mon men vào được chổ bà giúp việc đang ủi đồ tôi cứ nhìn dáo dác rồi tấm tắc nói: “Nhà rộng lớn thiệt có lầu nữa sang quá hả dì? Con cũng thích ở nhà lầu lắm đó”. Bà giúp việc phì cười: “Con gái con đứa gì mà long nhong hoài, không sợ bị đòn sao vậy?” “Dạ sợ chớ!” rồi chạy tuốt.

Qua khỏi dinh ông tướng cho tới cổng sau vòng đai của quân trường là khu vực của các sinh viên sỉ quan đang thụ huấn, tôi không có bén mãng đến khu vực này chỉ một lần. Từ chổ này là ngã tư đi về hướng đối diện dinh ông tướng là trường Truyền Tin bên trái, Khối Quân Huấn và trường Thiết Giáp (mở thêm sau này) bên phải. Xuống sâu hơn là rạp hát, hầu như cuối tuần mọi người đều kéo nhau đến đó vì chỉ có nơi đó để giải trí. Buổi trưa, có xe chạy vào các khu nhà phát loa rồi rải giấy quãng cáo cho phim mới đổi, đám con nít chạy theo cố lấy càng được nhiều tờ chương trình càng thích để đưa lại cho người lớn, có đứa để dành rất nhiều chương trình phim rồi khoe với nhau. Phim tình cảm Ấn Độ thời đó thu hút đàn bà con gái nhất, thậm chí các cô gái mặc hóa trang Ấn Độ để chụp hình trưng bày ngoài tủ kiếng của các tiệm chụp hình, Xa hơn đó là khu gia binh cho gia đình binh sỉ ở, có bán nhiều đồ ăn, buổi tối khu vực đó đông vui, nhộn nhịp, nhà tôi thỉnh thoãng đến đó mua về ăn, có món bún bò Huế tôi không ăn được nấu gì mà cay quá trời con nít làm sao ăn nổii??? Vậy mà người lớn cứ khen tấm tắc làm tôi phải nuốt nước miếng mà nhìn.

Nhớ có lần tôi ra Đà Nẵng thăm ông nhà tôi phục vụ ngoài đó. Ông đưa tôi và hai người phụ tá đến một quán Bún Bò Huế ở ngã năm (?) mà ông quảng cáo là ngon lắm. Trời lạnh, mưa phùn thành phố cao nguyên chập chùng đồi núi một cảm xúc bồi hồi tràn lên trong lòng của kẻ thích ngao du tìm tòi để được chứng kiến những điều mới lạ của quê hương. Lúc này có một tô bún nóng thì còn gì hấp dẩn hơn, vào quán giờ ăn trưa nên rất đông khách mọi người đang xì xụp với tô bún mùi nước súp thơm lừng trong quán làm dạ dày tôi cũng cồn cào hối thúc. Mấy tô bún được mang ra óng ánh vàng ngậy như màu ráng chiều cùng vài dĩa rau sống nhìn mà bắt thèm, mấy người phụ tá cho thêm ớt sa-tế vào tô. Tôi không ăn cay nên múc một muổng nước súp nếm trước. Trời đất quỉ thần ơi! Chưa kịp nuốt nước súp xuống cổ tôi đã sặc sụa ho, nước mắt nước mủi ràn rụa, hai lổ tai lùng bùng, còn lưởi tôi như bị bỏng. Mọi người ngạc nhiên ngừng ăn nhìn tôi vừa như khóc vừa mắc cở, tôi không ngờ sao mà cay quá trời vậy mà mọi người vẫn ăn bình thường thậm chí còn cho thêm tương ớt nữa. Thế là tôi đành để bụng đói trở về căn cứ ăn mì gói, mà lòng còn tiếc tô bún Bò Huế hùi hụi. Sau này, tôi học cách nấu bún Bò Huế để tự nêm nếm cho vừa mình ăn, bằng không thì đành ngồi “dòm miệng” sao? Sau lưng của Khối Quân Huấn và trường TG là những dãy nhà của hạ sỉ quan, tôi có mấy đứa bạn học chung lớp ở đó thì đố khỏi tôi không ghé qua. Thật ra phần đông quân nhân phục vụ trong quân trường thời điểm đó biết ba tôi cho nên họ cũng vui vẽ mổi khi bất chợt gặp tôi nghêu ngao đâu đó tạo cho tôi cảm giác thoải mái gần gủi thật là tự nhiên chẳng khác nào toàn bộ quân trường như là khuôn viên vườn nhà tôi và mọi người là họ hàng của tôi vậy.

Lần đó, tôi và một đứa bạn nữa lang thang đến gần nhà bếp của quân trường, gặp lúc giờ ăn trưa của SVSQ. Lần đầu tiên tôi nhìn thấy cơm được nấu trong mấy cái chảo đụn thật to, còn to hơn cái thau mà má tôi dùng để hứng nước tắm cho mấy anh chị em tôi. Có mấy chú lính đang phân phát đồ ăn, họ xúc cơm ra bằng cái xẻng nhà binh giống ở nhà ba tôi dùng để xúc đất. Các sinh viên kẻ đứng người ngồi lao xao ăn uống, đùa giỡn. Cơm gạo lức đỏ còn bốc khói nóng, hai đứa tôi trố mắt ra nhìn các vật dụng rất ngạc nhiên, một chú thấy hai đứa tôi đứng lóng nhóng bèn hỏi:

Ê nhỏ! Có muốn ăn cơm cháy không? Rồi quay qua cười với mấy chú khác

Dạ! Cho con một miếng đi chú. Tôi trả lời, người lính ngừng cười quay lại nhìn tụi tôi có lẻ chỉ định giỡn cho vui, không dè con nhỏ muốn ăn cơm cháy thiệt. Cơm múc ra đã hết chỉ còn vành cơm cháy dưới đáy chảo được xủi tróc lên nghe giòn rụm. Chú lính bẻ một miếng cơm cháy bự hơn bàn tay người lớn đưa cho hai đứa tôi rồi nói:

Nè! Coi chừng gảy răng đó nghe. Dạ Hai đứa tôi chia nhau miếng cháy rồi cười tủm tỉm kéo nhau đi vừa líu lo vừa nhai cơm cháy còn ấm nóng thơm phức hòa lẫn tiếng cười của mấy chú lính đang vang phía sau lưng. Cơm cháy này dày hơn cơm cháy ở nhà tôi nấu. Vì vậy, tôi phải nhai lâu hơn do đó vị ngọt của cơm ứa ra trong miệng vừa thơm vừa giòn. Thật là thú vị lần đầu tiên được ăn cơm cháy của quân trường mà đâu phải ai ở trong quân trường đều có thưởng thức qua (!). Cái hương vị của cơm cháy quân trường khác hẳn với cơm cháy nhà tôi mặc dù thỉnh thoãng nhai trúng sạn (dễ bị gảy răng thiệt chứ) mà vẫn thấy ngon lạ. Mổi khi nhớ đến món cơm cháy của quân trường ngày xưa, tôi có nấu lại cơm gạo lức để cho có cháy nhưng ăn vẫn không tìm lại được cái cảm giác thú vị như miếng cơm cháy của quân trường Bộ Binh Thủ Đức ngày nào. Có lẻ do ở tuổi thơ vô tư, hồn nhiên và đang đói (!). Ôi! Tuổi thơ xinh đẹp và dể thương chỉ còn là dấu ấn trong tiềm thức…

Hương thơm của gạo, vị ngọt của cơm lẩn với cát sạn tựa như cuộc đời của những quân nhân QLVNCH nói chung, SVSQTĐ nói riêng đã tự hào vào ngày mãn khóa sau mấy tháng quân trường mồ hôi thử thách đó là hương thơm của gạo. Để rồi chuẩn bị dấn thân vào cuộc đời đầy gian khổ hiểm nguy sống chết khó lường, chống giặc thù ngoài chiến trận trên khắp nẻo đường đất nước để bảo vệ Non Sông Tổ Quốc Việt Nam có khác nào vị ngọt có lẩn cát sạn của cơm cháy quân trường. Sau khi lập gia đình, tuy tôi theo chồng đi khắp bốn vùng chiến thuật nhưng các con tôi đều được chào đời tại Tăng Nhơn Phú, chợ Nhỏ, trường Bộ Binh Thủ Đức.

Nhớ năm Mậu Thân tôi đang có mang cháu đầu lòng về ở với gia đình chờ ngày sinh nở. Khi VC tấn công xung quanh vùng đó và pháo kích, ba tôi vội đưa cả nhà đến Khối Quân Huấn để tránh đạn, ở đó có đắp những hầm chất bằng bao cát. Ông cứ nơm nớp lo cho tôi. Vài tháng sau đó chị Hưởng con của bác tr/tá Hưng bạn cùng làm trong quân trường với ba tôi ghé qua thăm. Chị đang có mang sắp đến ngày sanh vừa nhìn thấy tôi chị bật khóc nức nở “Chồng chị bị tử trận trong đợt tấn công Mậu Thân rồi” tội cho đứa bé còn trong bụng mẹ chưa kịp biết mặt cha. Biết làm sao mà an ủi chị đây? Khi có chồng là trai thời loạn!!!

Cơn gió chuyển mùa đông ùa ập về như cố giủ cho sạch những chiếc lá nâu vàng bướng bỉnh còn sót lại cố bám víu một cách tiếc nuối trên cành khô rồi như tuyệt vọng trước sức mạnh không thể cưởng lại được (những chiếc lá) đành buông xuôi lơ lững theo chiều gió về một nơi xa xăm chẳng phải là cội nguồn của mình.

Lyens

Posted: Sun Jan 30, 2011 5:47 pm
by thienthanh
Mùa Xuân của người tù cải tạo

Phạm Văn Tiền
Chúng ta đang bước vào những ngày tháng cuối cùng của một năm cũ. Mọi người đang chuẩn bị đón Xuân sang, thêm một mùa Xuân tha hương mà đường về còn xa tít. Ðón Xuân này ta lại nhớ Xuân xưa. Mùa Xuân thường là mùa hy vọng, của tuổi trẻ vươn lên và mầm sống đâm chồi. Nhưng không phải Chúa Xuân bao giờ cũng bình đẳng với mọi người. Có mùa Xuân sum họp đầy tiếng cười hạnh phúc bên bếp lửa bập bùng của tuổi thơ đầy kỷ niệm. Nhưng cũng có mùa Xuân khóc hận khổ đau nghẹn ngào bao nước mắt của Mậu Thân 1968, với những cái chết đầy rẫy tình cờ của Ất Mão 1975 mất nước, lưu lạc tù đày. Bao ngày tháng cùng cực khổ đau cho người ở lại quê hương “thiên đường” CS. Riêng Tần vẫn nhớ mãi những ngày tháng bị cùm trong xà lim phân trại 3, vào những ngày Tết Xuân Ðinh Tỵ năm 1977.

Thượng đế hởi trên trời cao có thấu!
Thân đọa đày của một kiếp tù binh
Chịu khổ đau cùng bao nỗi cực hình
Trong “cũi sắt” của những loài dã thú

Mang con đến một nơi nào ẩn trú
Có mây hồng và nắng ấm rọi ban mai
Có đàn chim tung cánh hót bay dài
Nhưng không được quanh con đường bít lối

Con đang sống trong căn hầm tăm tối
Bao đêm nằm trăn trối nghĩ không ra
Suốt đời con bỗng chốc đã tiêu ma
Giờ còn lại thân tàn trong ngục lạnh

Các câu thơ này đã được cảm tác trong những giờ phút đau khổ tuyệt vọng nhất. Tần và một số bạn tù khác đã bị bắt còng tay dẫn đi vào một đêm mưa gió lạnh, cùng với nhiều trận đòn đau. Lòng hoang mang chẳng biết số phận mình sẽ ra sao khi bị lùa lên những chuyến xe đêm bão táp.

Một buổi chiều cuối năm, mọi người đang cố gắng vun thêm những luống khoai lang còn lại cuối cùng để chuẩn bị ăn Tết. Không như thường lệ, các hồi kẻng báo động liên hồi giục giã được người tù gióng lên toàn phân trại. Bao giờ cũng vậy, theo thói quen đây là điềm chẳng lành cho cuộc đời tù tội. Vài tên vệ binh dẫn tù vội vã la hét gom dụng cụ nhanh gọn tập họp trở về. Trại là những dãy nhà tranh vách đất cũ kỹ, do công sức người tù làm ra, trải dài trên ngọn đồi nhỏ, bao bọc bởi dòng suối quanh co, nằm gọn giữa nhiều tầng thép gai dầy đặc.

Tần cẩn thận kín đáo xem lại chiếc nhẫn vàng 24 kara, 2 chỉ mà chính vợ Tần đã cẩn thận nhét sâu vào thẩu ruốc trong chuyến thăm gặp kỳ rồi, nói là để hộ thân vì có tin tất cả tù nhân sẽ bị áp tải ra miền Bắc, được ngụy trang nằm gọn trên đỉnh chiếc mũ cối rách nát.

Lệnh tập họp bày hàng khám xét khẩn cấp được công bố toàn phân trại, chỉ có 10 phút chuẩn bị bên các họng súng AK đen ngòm. Ai cũng hồi hộp lo âu làm bổn phận của mình, thôi thì đủ thứ lọ chai, bao cát, bao bố, khoai khô, sắn độn được bày ra đầy sân, những thứ thật tầm thường nhưng không thể thiếu cho sinh hoạt tù mỗi ngày. Các tên quản giáo, vệ binh chia nhau lục soát thật tỉ mỉ từ trong nhà cho đến mỗi một cá nhân, không từ chỗ nào kể cả lai quần, bâu áo. Có lệnh vất bỏ tất cả những thứ không cần thiết, thu giữ lương thực có tính dự trữ lâu dài, chuẩn bị hành trang sẵn sàng di chuyển. Ngay từ giờ phút này đến khi có lệnh mới, không ai được quyền ra khỏi lán của mình, ngay cả tiếp xúc với người cùng trại.

Sở dĩ có chuyển biến đột xuất này là vì sau khi Thiếu Tá Nguyễn Ngọc An, trưởng phòng An Ninh Sư Ðoàn 1 BB, đã tự kết liễu đời mình vì không chịu nỗi những trận đòn đau sau nhiều ngày bị thẩm cung liên tục và đồng thời để bảo vệ đồng đội và tổ chức. Thiếu Tá Bửu Kế đã tự sát trong conex biệt giam vì không chấp nhận sự đày đọa nhục mạ người chiến sĩ Quốc Gia, cùng toán vượt trại đầu tiên của Châu Ðức Thảo, Trần Văn Loan, Mai Ðức Hòa, Lê Văn Cang, Hồ Văn Liệu đã lên đường đêm hôm trước sau nhiều tháng chuẩn bị. Trưởng toán là Châu Ðức Thảo, người niên trưởng tốt bụng, tốt nghiệp khóa 19 VBQG Ðà Lạt. Thảo ít nói, sống hòa nhã và hay giúp đỡ mọi người. Vợ Thảo lên thăm rất thường nhờ khéo léo quà cáp cho các tên vệ binh trực trại. Chị phát đạt nhờ một nghề mới, nghề buôn lậu thuốc tây. Thức ăn anh bao giờ cũng nhiều và thường hay giúp đỡ kẻ khác. Anh sống rất cương trực hào phóng, mọi vật chất đều tầm thường đối với anh chẳng có gì quan trọng. Chính chị Thảo là người cung cấp đầy đủ lương thực, thuốc men cho chuyến vượt trại này.

Hành trình của các anh là vượt dãy Trường Sơn bằng địa bàn và bản đồ, xuyên qua lãnh thổ Lào đến Thái Lan. Ðiều này chính Loan K-23 Võ Bị Ðà Lạt, người cùng đơn vị đã nhiều lần gợi ý với Tần. Nghĩ mình sức khỏe kém, không kham nổi đoạn đường dài, thôi thì đành chịu vậy. Cơn suyễn hay lên bất chợt buổi chiều, thêm vào chứng sưng khớp xương hành hạ. Nơi dự trữ lương thực là các hố bí mật dưới chân căn cứ Phượng Hoàng, chỗ mà đơn vị TQLC của Tần, lần đầu tiên dùng hỏa tiễn tầm ngắn M72 hạ nhiều chiến xa địch.

Ðêm vượt trại loay quay sao đó mà Liệu bị lạc toán phải trở về, chỉ còn lại 4 người lên đường giữa cơn mưa bão trong sự mến phục bùi ngùi của bao người còn lại. Tối hôm đó tên quản giáo xuống lán điểm danh sớm hơn thường lệ, kèm theo một danh sách chia phiên nhau gác đêm, ai cũng có tên, ngọai trừ Thức và Tần. Thức cũng như Thảo sống rất ngang tàng, là người miền Bắc di cư 1975 nên anh rất căm thù CS. Anh là trung tá Tham Mưu Phó Không Ðoàn 4 đóng tại Cần Thơ, vào những ngày cuối cùng của tháng 4, 1975, sẵn phương tiện trong tay nhưng ra đi chẳng đành, tìm về Sài Gòn với gia đình, nhưng vợ và các con anh đã theo người chú họ di tản vào mấy hôm trước.

Thế là tốt, anh cùng người em trai giả dạng bộ đội CS, đi xe đến Ðông Hà, Quảng Trị, men theo quốc lộ 9 đến tận miền Savanakhet Hạ Lào. Việc bại lộ cả hai người đều bị bắt tại đồn biên giới Khe Sanh. Còn Tần, là đơn vị trưởng của một đơn vị tác chiến bị thượng cấp bỏ rơi lại tại miền giới tuyến khi đại bộ phận xuôi Nam, vất vả ngược xuôi tại bãi biển Thuận An vào những ngày cuối cùng của tháng 3 sầu thảm, đau lòng phải vứt bỏ súng xuống biển sâu, khi những chiếc T54 của địch bắt đầu tràn vào tuyến. Tần bắt đầu cuộc đời tù đày khi toàn thể miền Nam chưa thất thủ.

Tần thuộc dạng lao động cầm chừng qua loa lấy lệ, hay phát biểu linh tinh, đơn vị TQLC của Tần đã có nhiều nợ máu với “nhân dân” nên bị liệt kê vào danh sách cần quan tâm theo dõi đặc biệt. Có lần đi củi tận rừng sâu, vì đói quá sẵn tiền thu giấu, Tần có lén mua vài lon gạo của dân tại vùng kinh tế mới. Khi ra điểm tập trung, bị tên vệ binh phát giác liền bị kiểm điểm và kết tội “liên hệ” với dân với ý đồ trốn trại, biệt giam Conex nửa tháng trời.

Ðêm ấy là đêm 29 Tết Ðinh Tỵ, trong cơn mưa dai dẳng đáng sợ của miền Trung “khô cằn sỏi đá, của trời hành cơn lụt mỗi năm” ở một quê hương nghèo khó, “mùa Ðông thiếu áo, mùa Hè thiếu ăn” này. Cái lạnh tê tái làm buốt lòng người, bão rồi lại bão, hết cơn số 10, rồi 11. Gió thì giật cấp 8, cấp 9. Chiều hôm trước Tần và Liễn cùng nhau lén lút nấu lon gạo còn lại tại nhà bếp, ăn với nhau mặc dầu có lệnh cấm “liên hệ.” Tần đã bị các ăng ten báo cáo, và chắc là họ cho đây là ăn bữa cơm chia tay người bạn cùng khóa, cùng binh chủng với mình.

Không thấy tên mình trong danh sách trực đêm, Tần đoán biết rồi thế nào cũng có điều chẳng lành đến với mình. Trong giấc ngủ chập chờn lo âu chờ đợi, Tần nghe có tiếng xe rì rầm đang đổ dốc hướng về trại. Linh tính cho biết rồi ra sẽ có điềm chẳng lành sẽ xảy đến. Tần vội bật dậy, bấy giờ là khoảng nửa đêm, người bạn tù vừa bàn giao phiên trực. Có nhiều tiếng người và ánh đèn pin soi vào lán, ra lệnh cho Thức và Tần thu gọn hành trang di chuyển. Bố Chi, người đội trưởng già tốt bụng, len lén nhét vào túi Tần hai bánh đường và những giọt nước mắt chia ly!

Sống là phải thẳng lưng và chấp nhận, đợi chờ mọi gian nan thử thách kể cả hiểm nguy đang chực sẵn trước mặt, cố gắng mà ngoi lên từ vũng bùn đen, hãy vùng thoát ra cái bóng đêm quái ác đáng nguyền rủa, cho một tương lai tươi sáng hơn. Sân tập họp là bãi đất trống trước nhà kho, nơi lãnh dụng cụ lao động hàng ngày, đã có nhiều tiếng la than khóc của trò “bề hội đồng” đê tiện bỉ ổi. Thêm hàng chục người nữa cũng bị còng tay dẫn đi trong cơn rên rỉ đau nhức. Tần cũng vậy, đây không phải là lần đầu tiên chàng bị hành hạ đánh đập, mà đã có nhiều lần lắm rồi, khổ sở mãi rồi cũng quen, chẳng gì lạ đối với con người sống trong thiên đường cộng sản. Chiếc xe Molotova cũ kỷ ráng sức ì ạch, rú lên con dốc ngược, nặng nề uể oải như cuộc đời sầu thảm của hàng chục người tù bị còng tay, mặt mày bị đánh sưng húp đầy máu me, mang đi trong màn đêm u tối.

Bỗng nhiên Tần cảm thấy nhớ nhà, nhớ ba mẹ Tần hiện già yếu đang mòn mỏi trông chờ, nhớ vợ và các con thân yêu trong cơn tuyệt vọng, như những lần đơn vị tan hàng tại Hạ Lào, hay bị bao vây tại mặt trận Cửa Việt. Cảm giác hối tiếc mất mát đã làm Tần lạnh cả người. Lần cuối cùng vợ ra thăm sau thời gian dài chắt chiu dành dụm, một lần bị đuổi trở về khi chúng biệt giam Tần tại nhà “kỷ luật,” và một lần khác đến Quy Nhơn thì bị cướp giật sạch đồ đạc, nhờ một hành khách tốt bụng cho tiền trở về. Từ những biến cố đau thương dồn dập, trong thư mới nhận được vợ Tần bị bệnh lao phổi nặng, cần được chữa trị lâu dài.

Nước mắt Tần đã chảy tự bao giờ, lăn trên đôi gò má gầy làm đôi môi mằn mặn, Tần đã khóc thật sự cho những hối tiếc muộn màng. Phải chi biết sống một chút, biết nhân nhượng cố gắng mà nín thở qua sông, hầu sớm tìm được tờ giấy phóng thích hay ít ra cũng có được những ưu đãi nào đó như các “tên trật tự thi đua.” Phải biết giả khóc như tên Th.. đội trưởng đội mộc, khi ôm ảnh thương tiếc Bác Hồ, hay các tên Trần Văn S.. sẵn sàng chỉ điểm anh em, khi tổ chức ăn mừng tròn một năm miền “Nam được giải phóng.” Ôi! Những trò đời bỉ ổi, rẻ tiền của những kẻ bán rẻ lương tâm theo giặc.

Rồi chuyến xe bảo táp đêm nay sẽ đưa chàng về đâu? Có thể thật xa tít nơi miền Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Thái, tiếp tục cuộc sống đọa đày, hay kết thúc ở một hang hóc nào đó bằng các loạt đạn của những tên đồ tể, sát nhân. Dù thế nào đi nữa thì cũng chẳng còn gì để mà hy vọng. Vài người được lệnh xuống xe, riêng Tần, Thức, Tr.. còn lê lết cho đến trạm cuối cùng. Có tiếng nước chảy rì rào và cơn gió dữ gào thét điên cuồng. Tần bị đạp xuống xe tay bị còng nằm lăn như con vật. Nơi giam chàng là căn hầm kín được đào sâu dưới lòng đất, toàn mùi hôi thối ẩm mốc. Thức và Tr.. bị nhốt ở một nơi khác, gần đó. Có tiếng chửi thề thô tục của tên vệ binh, cùng âm thanh rỗn rẽng của chiếc xích ổ khóa oan nghiệt, trước khi trả lại màn đêm sự cô độc, im lặng hoàn toàn.

Làm sao có thể thản nhiên được trong niềm lo lắng tột cùng này, chiếc đũa đã bị tách ra thế nào rồi cũng bị bẻ gãy, bằng cách này hay cách khác. Minh và Sang chẳng đã bị xử bắn tận núi rừng Cự Tài khi có lệnh dẫn đi vào buổi sáng đang lao động tại đập Trấm Quảng Trị như vậy đấy sao! Ðối với Tần, cái chết chẳng bao giờ đến dễ dàng, bao năm xuôi ngược hành quân, chàng vẫn còn nguyên vẹn. Làm người ai cũng một lần chết, vậy thì cái chết chỉ có ý nghĩa khi ta hãy làm kẻ thù chết với mình càng nhiều càng tốt. Tần ước mơ về những chuyến vượt ngục của người tù Papillion thuở nào.

Gà đã gáy sáng và các hồi kẻng báo thức liên hồi vang lên sau một đêm dài trăn trở, lo âu. Mặt trời đã ló dạng bao giờ ở phương Ðông, cố gắng mang đến một vài tia sáng yếu ớt xuyên qua kẽ hở của căn hầm tăm tối. Có tiếng mở cửa lách cách và tên vệ binh dẫn người tù mang thức ăn đến, Tần mới biết đây là phần ăn trưa của ngày đầu năm Tết. Nỗi lo sợ đã tan biến khi xác nhận được mình đang ở phân trại 3 và người mang thức ăn cho mình là Trung Úy Ðiểu thuộc đơn vị của Tần. Ðiểu đã ứa lệ khi thấy “ông thầy mình” quá thê thảm trong tình cảnh quá đau lòng này.

Thường thì con người hay thương tiếc, thèm khát những gì quý báu nhất mà mình đã đánh mất đi khi chạm trán với thực tế phũ phàng. Tần cũng vậy, cố gắng mà nhớ lại những giờ phút thiêng liêng tuyệt vời với những ngày Xuân nơi đơn vị thắm đượm tình nghĩa thầy trò. Những ngày Xuân đoàn tụ quay quần cùng với gia đình, có pháo nổ đầy hoa và bao lời chúc tụng ngọt ngào. Ðêm hôm qua súng đã nổ ròn rã khắp nơi của bọn vô lại, mừng chiến thắng trong giờ phút giao thừa, họ đang ca khúc khải hoàn cho một sự ăn cướp trắng trợn. Chiến tranh là thế, cái vẻ vang của phe này là sự đại bại của nhóm khác, điều chẳng may lần này lại xảy đến với tổ quốc thân yêu của chàng.

Sau cơn mưa trời lại sáng, một ngày mới bình minh lại ló dạng, xua tan những đám mây mờ và những cơn bão quái ác. Giờ chỉ còn lại những nhầy nhụa tang thương, đau khổ tận cùng cho biết bao người dân vô tội. Qua cơn gió thoảng chiều nay, Tần được tin có người chết cùng nhiều nhà cửa bị cuốn sạch vì cơn sóng thần dữ dội tràn qua từ một chiếc loa phóng thanh đâu đó trong trại. Lại thêm một đại họa nữa đến cho dân tộc này sau cái xiềng xích cộng sản. Chàng cảm thấy an tâm hơn vì ít ra mình cũng còn cái hầm để trồi lên, trụt xuống, che nắng đụt mưa, một bữa cơm đói cho sự thèm khát mỗi ngày.

Lệnh cho Tần lên cơ quan làm việc những ngày sau Tết, đây là lần đầu tiên họ điều tra thẩm cung chàng từ cái đêm khủng khiếp đó. Dùng đủ mọi hình thức tra tấn để buộc chàng vào tội âm mưu tổ chức vượt trại, Tần quả quyết với họ rằng chàng chẳng bao giờ có ý nghĩ đó. Biết chẳng có bằng cớ gì để buộc tội chàng, họ quay sang buộc tội Tần cứng đầu không chịu “học tập cải tạo.” Bằng những lời lẽ thật dịu ngọt, họ khuyên chàng hãy an tâm cải tạo để hưởng được chính sách “khoan hồng của Ðảng và Nhà nước.” Thì ra kẻ giết người cũng biết mặc áo thầy tu khi cần thiết, họ nhân danh nhân đạo để làm chuyện vô nhân đạo, đạo đức của họ là “đạo đức cách mạng bác Hồ,” của nền chuyên chính vô sản, của đấu tố dã man và các hầm chôn sống tập thể! Người cộng sản hô hào “không gì quý hơn độc lập tự do” để tròng lên cổ người dân thêm cái còng nô lệ, đem địa ngục trần gian để hứa hẹn một thiên đường!

Bộ Chỉ Huy Ðoàn 76 nằm trên dãy đồi cao có cờ đỏ sao vàng và đầy những băng roll khẩu hiệu. Thức và Tr.. cũng có mặt tại đây từ lúc nào trong phòng chờ đợi, chỉ có Thức và Tần bị còng tay, còn Tr.. trông có vẻ thản nhiên thoải mái. Thức bơ phờ mệt mỏi, mặt bị đánh sưng húp bầm tím, còn Tr.. vẫn khỏe mạnh bình thường. Mỗi người được cấp phát giấy viết để làm bản tự kiểm điểm sau khi đón nhận biết bao lời lẽ ngọt mật chết ruồi của tên chính trị viên đoàn.

Thời gian kế tiếp là thời gian thê thảm nhất của Thức và Tần. Bị dẫn độ đi hỏi cung nhiều nơi kể cả đánh đập, xỉ vả. Chiêu bài “thành thật khai báo” để sớm được hưởng lượng khoan hồng không bịp được ai, vì đối với kẻ thù “tự thú là tự sát.” Có tin Thức đã mắc bẫy Tr.. khi cùng anh ta đào hầm trốn về Huế và bị bắt tại nhà Tr.. Thức đã bắt đầu một cuộc đời mới, vất vả khốn đốn hơn trong nhiều xà lim với hình phạt biệt giam vĩnh viễn. Còn Tr.. thản nhiên thênh thang với tờ giấy phép 7 ngày rong chơi khắp thành phố Huế, trước khi nhận được giấy ra trại sau khi trại đã chuyển về cho công an Bình Ðiền. Tr.. đã thành công một cách xuất sắc nhiệm vụ của một tên ăng ten cò mồi. Còn Tần vẫn sống khổ sai đọa đày từ trại này sang trại khác với chiếc bánh vẽ “tập trung cải tạo.”

Tên trung tá chính ủy Ðoàn 76 tuyên bố: “Các anh giải phóng lòng Hồ sông Mực thì lòng Hồ sông Mực sẽ giải phóng các anh.” Cả vùng đất trũng bao la hàng chục hecta rừng được khai phá cho công trình dẫn thủy nhập điền tại huyện Ðô Lương, Thanh Hóa. Rất nhiều người tù đã ngã bệnh vì sốt rét rừng, hay bị chết vì đói. Nhưng lời nói đó đã bị phản bội sau ba tháng hoàn thành xong công tác, để rồi tất cả cùng bị lùa lên toa xe bịt bùng hạng bét của chuyến tàu hỏa xuôi Nam về một vùng đất mới xa lạ khủng khiếp hơn. Ở đó có sự canh giữ, kềm kẹp hàng ngày của bọn công an mật vụ. Trại tù “cải tạo Bình Ðiền” với biến cố ngày 20 tháng 4, 1979 lịch sử, chúng thẳng tay đánh đập người tù mà không cần biết phải trái luật lệ là gì. Những cái chết thật bất khuất của Ðại Úy Nguyễn Ngọc Báu, Nguyễn Thuận Cát, Thiếu Úy Nguyễn Thiếu Sơn,... đã minh chứng một cách hùng hồn ý chí bất khuất của lớp người sĩ quan trẻ dưới áp lực bạo quyền.

Thời gian là liều thuốc mầu nhiệm dễ làm phôi phai mọi chuyện. Những đau đớn về thể xác rồi sẽ qua đi dễ dàng, nhưng còn nhiều thứ khác mãi mãi vẫn hằn sâu vào tâm trí không thể nào quên được. Ðó là sự thù hận, lòng ích kỷ, đê tiện gian ác của con người.

Người cộng sản vinh danh chiến thắng mùa Xuân 1975 bằng sức mạnh và chủ thuyết ngoại lai, họ chẳng làm gì được sau hơn 32 năm cầm quyền. Có chăng là một đất nước Việt Nam vẫn còn nghèo đói, lạc hậu, bưng bít thông tin với thế giới bên ngoài. Chúng thẳng tay chà đạp quyền sống con người, các nhà đấu tranh vẫn còn trong vòng lao lý. Bán đất dâng biển triều cống ngoại bang, mua bán phẩm giá người phụ nữ, kể cả trẻ em. Các phong trào khiếu kiện của dân oan đang nổi dậy đòi công lý khắp nơi. Liệu họ, những người cộng sản Việt Nam, yêu chủ nghĩa Mác Lênin vô địch, có thể tồn tại được bao lâu, khi mà lòng dân đã đến lúc căm phẫn tột độ và sự tan rã của chủ thuyết Cộng Sản toàn cầu.

Hãy hướng về Việt Nam, tổ quốc thân yêu nhất của chúng ta với lời tâm nguyện đẹp nhất, hy vọng một mùa Xuân đoàn tụ sẽ không còn xa nữa.

Mùa Xuân nào là ta về
Về quê hương yêu dấu sống bên mẹ cha
Về sống cạnh giòng sông hiền
Về nghe giọng hò ba miền
Về thăm đôi má, lúm sâu đồng tiền
Sài Gòn ơi!... Bao giờ là ta về?!!

Posted: Tue Feb 08, 2011 2:14 am
by tiendung
Image

ĐỌC THƠ TRẠCH GẦM
Đinh Lâm Thanh
Tôi yêu Trạch Gầm cả Thơ lẫn con Người. Những gì anh viết, chính là niềm đau của một người lính phải tức tưởi buông súng đầu hàng, chính là uất hận của một kẻ phải bỏ nước ra đi sau những năm tháng tù đày và cũng chính là nỗi xót xa đối với đồng đội đã một thời gắn bó với anh. Tôi yêu con người, vì anh thật xứng đáng một cấp chỉ huy,
tuy sống dưới chế độ tự do nhưng không bao giờ anh quên những người bạn sống chết với nhau đã nằm xuống hay còn kẹt lại ở quê nhà. Đời binh nghiệp của anh thật khiêm nhượng với vài ba ‘mai vàng’ dừng lại trên vai, nhưng trong lồng ngực của anh, mãi mãi là một trái tim vĩ đại mà anh đã trân trọng dành cho đồng đội đã hy sinh cho màu cờ tổ quốc và những phế nhân còn sống sót dưới chế độ cộng sản. Anh xứng đáng ngửng mặt lên khi nhìn lại những cấp chỉ huy lớn, những ‘vì sao’ đã rụng xuống ‘boong’ tàu của hạm đội Mỹ trước giờ mất nước ! Rồi 34 năm nay họ đã làm được gì cho đồng đội, thương binh, cô nhi quả phụ cũng như cho quê hương và dân tộc ? Và cứ mỗi năm, vẫn áo mũ chỉnh tề nhắc lại chiến công một thời vang bóng. Nhưng có mấy vị nhớ đến thuộc cấp của mình là những người đã hy sinh xương máu để đem lại những huy chương hiển hách trước ngực cũng như những ngôi sao lấp lánh trên cổ áo !

Nhắc đến Trạch Gầm là nói đến con người của tình cảm, luôn nặng tình với quê hương, ray rứt cho cuộc chiến và ấm ức vì đầu hàng…tất cả những trăn trở đó đều chất chứa trong thơ của anh. Đọc thơ Trạch Gầm độc giả nhận ra ngay trong con người anh là một khối tình gắn bó thiết tha với đồng đội, là ân sâu nghĩa nặng đối với bạn bè, là những người đã nằm xuống hay bị lãng quên dưới chế độ cộng sản.

Cách đây hai năm, tôi gặp Trạch Gầm trong một ngày nắng ấm tại quán café Tip-Top trên đường Westminster, Sàigòn nhỏ, Cali. Anh đọc cho nghe bài thơ ‘Lời Trước Nghĩa Trang’. Chưa dứt bốn câu đầu, anh đã bật khóc và làm tôi phải khóc theo trước ngạc nhiên của số thân hữu bạn bè. Thật khó tưởng tượng nổi, hai người đàn ông 65 và 71 tuổi đã khóc như một đứa trẻ khi nhắc đến những người bạn đã nằm xuống. Rồi hình ảnh Trạch Gầm với những giọt nước mắt bên tách càfé vẫn ngày đêm ám ảnh và gây xúc động mỗi khi tôi cầm cuốn Vụn Vặt trong tay.

Những lời thơ viết về tình đồng đội của anh đã kéo ký ức tôi trở lại quảng đời dĩ vãng mà trong thời Mậu Thân 1968, tôi đã sống trọn vẹn với những người lính thuộc trung đội tác chiến tại vùng rừng núi Quảng Đức. Những người bạn nầy đã ra đi nhưng họ vẫn sống mãi bên tôi và phù hộ cho tôi còn sót đến ngày hôm nay. Tôi xin mượn mấy câu thơ của Trạch Gầm để tưởng niệm những người lính đã nằm xuống :

Tao sống đến ngày cuối cùng cuộc chiến
Được cái hơn mầy nhìn thấy đau thương
Đành làm người ngu đổ thừa vận nước
Uổng cả tháng ngày gối đá nằm sương

(Lời trước nghĩa trang)


Cũng từ bài thơ nầy Trạch Gầm gởi đến với những người đã nằm xuống chân dung của anh trong những ngày tháng vô vị nơi quê người

Mầy đã hơn tao vì mầy đã chết
Hưởng chút lễ nghi hưởng chút ân cần
Có được người thân cho lời nuối tiếc
Còn tao bây giờ sống cũng như không

(Lời trước nghĩa trang)


Kỷ niệm để đời với Trạch Gầm là tuyển tập Vụn Vặt, cuốn thơ vừa lấy từ nhà in chưa ráo mực, anh đã biếu tôi và từ ngày đó đến nay tôi vẫn chưa đọc xong. Mỗi lần cầm cuốn thơ lên vừa nghiền ngẫm vài giòng thì tôi bị cuốn vào tâm trạng của tác giả…đau buồn cho vận nước, xót xa vì cuộc chiến và tiếc thương những người bất hạnh, rồi nước mắt tôi cũng xóa mờ những giòng chữ. Đa số thi nhân thường mượn các đề tài tình yêu nam nữ để tìm nguồn cảm hứng sáng tác nhưng trên 100 bài thơ trong tuyển tập Vụn Vặt, Trạch Gầm đã dành gần như đa số bài để nói về những gắn bó về tình huynh đệ, tình cảm của người trai thời chiến và để tưởng niệm đến đồng đội đã ra đi…

Những ai đã sống chết với đồng đội, đã cùng băng rừng lội suối, ngày đêm truy lùng địch thì mới cảm thông được tình thương gắn bó với nhau. Cuộc đời người lính chiến không có gì quý hơn ngoài chiếc ba lô độc nhất trên người, tấm ‘pông-sô’ thay mái ấm gia đình và việc kết nghĩa anh em đồng đội như tình thân ruột thịt. Họ là những người trai thời chinh chiến, hiến dâng cuộc đời cho tổ quốc non sông, thương tật, sống chết không biết sẽ đến bất chợt bao giờ. Đối với họ trên đầu là tổ quốc, trước mặt là kẻ thù, hai bên là đồng đội và sau lưng là chiếc ‘băng-ca’ hay cổ quan tài đang chờ sẵn ! Hãy nghe Trạch Gầm viết về số mệnh :

Một thoáng theo mây rơi dài nước mắt
Khóc nỗi bạn bè…lưu lạc bốn phương
Thằng mất thằng còn - Nổi trôi vận nước
Giọt ngán giọt dài ướt đẫm quê hương

(Vụn Vặt)


Những ai đã qua đoạn đường gian khổ với những lúc hành quân, lội sông, bằng rừng, vượt núi trong rét mướt, trong đói khát, trong gian khổ, ngày đuổi giặc, chiếm mục tiêu, đêm ngủ ngồi ngay tại hố cá nhân để chờ địch thì mới thấm thía được những cảnh :

‘Bi-đông’ nước bùn chia sẻ
Gói mì nhai vội chuyền tay
Chuyển nhau điếu thuốc cháy dở
Sống chết biết giờ nào hay
(Cho nhau, Thơ DinhLamThanh)


Để rồi từ đó những người con yêu quý khắp mọi nẻo đường đất nước đã trở thành anh em ruột thịt một nhà. ‘Pông-sô’cùng ngủ, cơm chung nón sắt, nước một bi-đông, miếng khô chia đôi thì việc đùm bọc sống chết với nhau vẫn là một cái gì thiêng liêng của những người khoác chiếc áo trận.

Em còn chia xẻ cùng anh
Nỗi xót xa tự ngọn ngành đau thương
Vẫy tay giã biệt chiến trường
Một ngày cũng đủ cô đơn suốt đời

(Hỏi)


Đối với bạn bè còn sống, Trach Gầm đã giải bày tâm sự về những năm tháng nơi đất khách quê người :

Mầy hỏi tao bây giờ sống ra sao
Cơm áo tha phương có phải nghẹn ngào
Gần mười năm tù còn in trong trí
Hay…cháy rồi giữa đất rộng trời cao
… Tao gởi về mầy một trang giấy trắng
Thật lao đao mầy cứ tự vẽ vời
Nơi tha phương trăm hội đoàn yêu nước
Tao ngu ngơ…không biết khóc hay cười

(Trả lời)


Rồi những đêm mưa vùng Cali, anh trăn trở như hổ nhớ rừng :

Mầy nhìn mưa mầy nhớ gì không hở ?
Tao nhìn mưa tao cứ mãi nhớ rừng
Rừng của quê hương những ngày khói lửa
Tao, bao năm dài cặm cụi hành quân
Mầy nhìn mưa…mầy nhớ gì không nhỉ
Tao nhìn mưa…Tao nhớ quá bạn bè.

(Từ cơn mưa dài)


Và cái ‘đau’ của anh vẫn vây quanh cuộc sống :

Tao bây giờ không tiềm mua rượu uống
Mà vẫn say…say ngút với nỗi buồn
Nhìn thiên hạ tranh nhau quyền yêu nước
Mấy chục năm ròng - Nước vẫn tang thương !

(Nói với bạn bè)


Mầy có tin không quê hương đã mất
Giữa lúc bọn tao nguyên vẹn hình hài
Đâu thuở quân trường đâu thời huấn nhục
Để nhận lấy ngày khốn nạn hôm nay
Một lũ đàn anh tan hàng cuốn gói
Bỏ mặc bọn tao đứng khóc dưới cờ
Món nợ tang bồng bao giờ trả nổi
Mất cả sơn hà cứ tưởng như mơ
Giờ chẳng dám nhìn ngay vào mắt Mẹ
Cũng chẳng đủ lời tâm sự cùng Cha
Đành đến thăm mày những thằng đã chết
Ngày…quê hương còn lắm nỗi thiết tha

(Lời trước nghĩa trang)


Ít thấy anh đề cập đến tình yêu đôi lứa cũng như những mộng mơ tuổi trẻ, mà nếu có, anh cũng mượn những mối tình vụn vặt để nói về thân phận đau thương đất nước cũng như những mất mát thời chiến tranh :

Anh có mẹ gì đâu mà để tặng
Một món quà sinh nhật cho em
Gặp gỡ thôi…dăm ba lần thất hẹn
Còn nhớ ngày anh còn tỉnh…chưa điên
Là thằng lính cứ rày đây mai đó
Có nhớ thương, cũng đỏ mắt phố phường
Chiếc võng tòn teng ôm đời chinh chiến
Có em vật vờ đở bớt cô đơn
(Quà sinh nhật cho người yêu)


Viết về Trạch Gầm mà không nhắc đến những chữ Đ.M. trong thơ của anh thì thật thiếu sót. Một vài người cho rằng nghe không được êm tai qua hai bài thơ :

Đọc thơ mầy…
Đ. M, tao buồn muốn khóc
Tao chẳng còn là tao, tao chẳng nên người
Mấy chục năm rồi tao lạc lỏng chơi vơi
Dù trước đó
Tao có triệu anh em chung màu áo trận
Tàn cuộc chiến…
Hình hài tao nguyên vẹn
Mười năm tù xem tựa giấc chiêm bao
Tao còn tay còn chân. Còn nỗi tự hào
Chỉ tội cái…mang ước mơ lần lựa
Cứ chờ đọi Ai cho tao nhúm lửa
Nơi tha phương tao hốt toàn tro tàn
Tro bụi từ quá khứ vinh quang
Đến nỗi đầu óc tao ung què, tao chẳng hề hay biết
Đọc thơ mầy
Đ. M. tao buồn muốn chết
Nơi quê hương mầy hào khí ngút trời
Nơi tha phương…
Tao cũng có lắm người
Yêu nước thật thà, thật thà yêu nước
Rắn không đầu, mạnh thằng nào nấy thét
Ngày cứ tàn, đất nước cứ tan thương
Hai chữ tự do sấp ngữa đoạn trường…
Tao ôm chặt lội qua ngày khốn đốn
Mầy cần súng mà tao không có súng
Nỗi nghẹn ngao nầy mới chết mẹ tao
Cám ơn mầy
…Ừ thì cũng dù sao
Nhờ mầy thét Trăm hồn sông núi thức
(Đến cùng Nguyễn Cung Thương)


Những ai đã sống đời quân ngũ, sống chết với đồng đội thì mới cảm nhận hai chữ Đ.M thoát ra từ miệng của người lính. Đối với người Miền Nam, hai chữ nầy không có nghĩa là một câu chưởi thô tục mà trong thân tình giữa bạn bè thường được xử dụng một cách thân thương. Tôi còn nhớ rõ câu nói của một đệ tử cũng như người bạn, người em theo sát tôi trong các cuộc hành quân. Một đêm trong rừng Quãng Đức, anh vén tấm ‘pông-sô’ chui vào hỏi tôi :

- Đ.M. ông thầy húp canh không ?”

Tôi hỏi lại :

- Đ.M. canh gì đó mầy ?”
- Thì Đ.M ! Canh nước mưa với bột ngọt chớ có gì nữa !”

‘Ca’ (ly bằng nhôm của lính) canh nóng thật ngon, chỉ có nước mưa pha với bột ngọt nhưng tôi thấy ấm bụng và cái mặn mà đang chạy vào tim phổi ruột gan, không biết vì bột ngọt hay chữ Đ.M. thân thương nằm trong chén canh của người lính !

Nhưng một trường hợp khác, Trạch Gầm lại xữ dụng hai chữ Đ.M, để chưởi cha bọn cộng
sản. Tôi biết anh không còn ngôn ngữ nào để diễn tả nỗi uất hận trong lòng, dù hai chữ Đ.M. nầy thật đúng nghĩa và hợp thời nhưng vẫn chưa lột hết ý nghĩa để chưởi bọn bán nước cướp của, hại dân hại nước, đem giang sơn bán cho Tàu cộng ! :

Đ.. má, cho tao chưởi mầy một tiếng
Đất của Ông Cha sao mầy cắt cho Tàu
Ngậm phải củ gì mà mầy cứng miệng
Đảng của mầy, chết mẹ… đảng tào lao
Chế độ mầy vài triệu tay cầm súng
Cầm súng làm gì… chẵng lẽ hiếp dân
Tao không tin lính lại hèn đến thế
Lại rụng rời … trước tai ách ngoại xâm
Mầy vỗ ngực. Anh hùng đầy trước ngỏ
Sao cứ luồn, cứ cúi, cứ van xin
Môi liền răng à thì ra vậy đó
Nó cạp mầy, mầy thin thít lặng thinh
Ông Cha mình bốn ngàn năm dựng nước
Một ngàn năm đánh tan tác giặc Tàu
Thân phận mầy cũng là Lê là Nguyễn
Hà cớ gì.... mầy hèn đến thế sao
Chuyện mầy làm Toàn Dân đau như thiến
Mầy chết rồi, tao nghĩ chẵng đất chôn
Hãy tỉnh lại ôm linh hồn sông núi
Cứ đà nầy... chết tiệt còn sướng hơn
Đàn gãy tai trâu.... xem chừng vô ích
Giờ mầy nghe tao chưởi còn hơn không.
(Cho tao chưởi mầy một tiếng)


Tôi tin rằng những độc giả nào đã đọc thơ Trạch Gầm cũng sẽ Yêu Trạch Gầm như tôi vậy.

Paris, Tháng Tư Đen 2009
Nguôn http: www.hvhnvtd.com

ĐỌC ‘RÁNG CHỊU’ CỦA TRẠCH GẦM
* ĐINH LÂM THANH *

Đối với Trạch Gầm, chỉ có hai cái đáng quý và đáng nhớ trong đời anh : Bạn và Rượu. Hai lãnh vực nầy tuy xa nhưng mà gần, vì uống rượu thì phải có bạn mà gặp bạn thì cần phải có rượu ! Rượu và Bạn được Trạch Gầm trang trọng nhận làm hành trang kể từ lúc anh bước chân vào quân trường Thủ Đức, rồi theo chân anh trên khắp các nẽo đường đất nước. Và cho đến ngày nay, đối với anh, vẫn còn là một cái gì trang trọng và đáng quý nhất đời. Đọc ‘Vụn Vặt’ những người yêu thơ Trạch Gầm sẽ cảm thông được thế nào là ‘tình huynh đệ’ của những ai đã một thời chiến đấu bên nhau, cũng như để tưởng nhớ những chiến hữu đã an nghỉ trong lòng đất hay đang còn lây lất dưới chế độ cộng sản ‘Vụn Vặt’ là những kỷ niệm tình người, được Trạch Gầm dệt thành thơ với lối gieo vần ân tình và giản dị.

Trạch Gầm dùng chữ ‘Vụn Vặt’ làm tựa đề cho tập thơ đầu tay, có lẽ do bản tính khiêm tốn của anh, nhưng tôi cho đó những giòng thơ lớn và chân tình phát xuất từ con tim…vì nó bộc lộ tấm lòng bao la của anh đối với tình yêu quê hương, với bạn bè đồng đội, và cũng trong đó, chính là nỗi uất ức của một người lính đã tức tưởi bỏ súng giữa đường…

Hơn một năm sau anh cho xuất bản tập thơ thứ hai. Lần nầy Trạch Gầm mượn hai chữ ‘Ráng Chịu’ để làm đề tài cho 85 bài thơ và 8 bản nhạc do Quang Lăng, Nguyễn Hữu Tân, Hoa Sông Kiên, Quốc Anh và Yên Ly phổ nhạc. Đặc biệt trong tập thơ nầy, nhiều bài anh viết từ năm 1966 (Tuổi Trẻ Bây Giờ Là Quê Hương), 1970 (Không Đề - Nói Với Người Tình Tuổi Dưới 20 – Viết Từ Lai Khê)…không ngoài mục đích ca ngợi quê hương đất nước, tình yêu thầm kín của tuổi thanh xuân đồng thời nói lên cái thân phận con người trước và sau một cuộc chiến tương tàn.

Ta có một ngày…một ngày ngồi khóc
Ta có một ngày gãy đổ ước mơ
Mười năm lính tưởng đâu là sỏi đá
Ai có ngờ lại ngồi khóc như mưa

… …

Thân lính trận, nhận lịnh gì không nhận
Nhận lịnh đầu hàng…rời rã tai ương
Hồn chinh chiến chỉ còn trơ thân xác
Thân xác không hồn…điếng ngắt cô đơn

… …

Thôi chia tay, mà về đâu đã chứ
Mất hết cả rồi…mất dễ như chơi
Lịch sử sang trang…sang trang lịch sử
Mất cả vinh quang, mất cả ngậm ngùi


Mỗi lần nhắc đến quá khứ anh đều đề cập đến rượu và những người bạn đã một thời cùng chia sẻ sống chết với nhau. Nhưng những ai quen biết đều thấy tội nghiệp cho Trạch Gầm : Rượu lúc nào vẫn còn đó nhưng anh chỉ được phép ngồi nhìn mà thôi :

Xin lỗi mầy, ừ tao xin lỗi
Một giọt bây giờ tao uống không vô
Cái gan tao đã thành gan phá lấu
Mầy không tin, cứ nhậu…ngon ơ !


Bốn câu thơ trên trong bài ‘Ngồi Nhìn Bạn Bè Uống Rượu’ mà Trạch Gầm đã đọc cho tôi nghe lúc anh vừa viết xong, trong một đêm, khi hai đứa nằm dài giữa salon tại nhà ở Anahem. Nghe đọc, tôi không can đảm nhìn vào mắt anh, dù dưới ánh đèn đỏ trên bàn thờ Cụ Bà thân mẫu của anh, tôi vẫn thấy những giọt nước mắt cứ theo lời thơ tuông xuống. Tôi rùng mình và lòng bỗng dưng chùng lại. Những hình ảnh chia sẻ ‘ngụm rượu tình nghĩa’ với đồng đội trong những lúc ngồi chờ giặc dưới giao thông hào đang hiện về trước mắt và làm tôi bật khóc…

Ngày xưa, mầy tới đâu, tao tới đó,
Nhắc lại à…mà nhắc lại làm chi
Mình rượt giặc, giặc rượt mình…tung tóe
Khi quay về lại chan chát…cụng ly
Ly mầy, ly tao, ly cho thằng chết
Thằng chết rồi mình uống thế được sao
Lính bọn mình toàn những tay hào kiệt
Xô lệch trời đất, xô lệch thương đau
Làm quan, nghèo, mình chơi bằng rượu đế
Lại cợt đùa uống nước mắt Quê Hương
Nước mắt Quê Hương, uống sao cho hết
Ngập núi, ngập rừng ngập cả gió sương
Đã chết rồi giờ tao lại muốn sống
Sống để nhìn chung cuộc một trò chơi
Mầy còn sức cứ mình ênh ngồi uống
Ly cuối, dành cho…thân phận ngậm ngùi.


Xong bài thơ, cả hai đều qua một đêm thức trắng trong tố ấm gà trống nuôi con. Chúng tôi không nói gì thêm, yên lặng và buồn cho vận nước, cho số phận con người cũng như cuộc đời nổi trôi của những kẻ tha phương không có ngày về. Rồi những lần gặp gỡ tiếp theo, anh không được phép uống nhưng ngồi nhìn bạn bè nâng ly, có thể cảnh nầy giúp anh sống lại một thời sống chết với bạn bè đồng đội :

Uống đi mầy cứ làm thêm vài chén
Nhớ đừng say, còn nghĩ đến anh em
Những thằng bạn của một thời chinh chiến
Đổi mạng mình…để lấy sự bình yên

Mầy nhắc trước hay là tao kể trước
Mỗi dấu giày mình khép một mùa xuân
Bù Đăng, Phó Bình, Suối Ngô, Xóm Được
Mười ngón tay, cứ mất từng thằng
Rồi giữa đường gãy cánh, bạn bè thất lạc nhau, kẻ vô tù, người ra đi…

Súng trên tay bỏ xuống
Rõ ngu hơn người ngu
Rồi ôm nhau khóc lóc
Còn rủ nhau vô tù…


Hai chữ ‘Ráng Chịu’, có lẽ anh dùng để tự an ủi cái thân phận thiệt thòi của tuổi trẻ trước vận nước đảo điên, trước cuộc chiến khốc liệt hay để vỗ về những người bạn đã nằm xuống, chết gục trong tù, chìm sâu dưới biển hay dở sống dở chết nơi đất khách quê người…rồi hôm nay được gì hay chỉ còn lại những niềm đau bất tận :

Với Quê Hương, ta một đời ráng chịu
Người thương ta rồi…cũng ráng chịu theo
Lỡ yêu tính năm vài tuần…níu kéo
Chụp giựt không bằng mà vẫn cứ yêu

Ta vào lính, bài học đầu ráng chịu
Cứ thi hành, muốn khiếu nại, làm sau
Mỗi một mạng…đổi đuợc vài ba phút
Chiến trường đau, ngập lút, lút cả đầu

……

Cứ ráng chịu. Tin có ngày mai đẹp
Bỏ nụ cười người vào túi rong chơi
Ta xin cả những gì người thua thiệt
…đốt từng trang. Thắp sáng lại cuộc đời
Trang nhật ký người lại thêm nước mắt
Ráng chịu te tua, ráng chịu tận cùng
Bọn ta sống, sao Quê Hương lại mất
Xót xa nầy…còn ráng chịu nổi không

… …

Và ‘Ráng Chịu’ cũng có thể là một nuối tiếc những gì mà con tim thời loạn hằng ước mơ nhưng phải buộc lòng giã vờ làm kẻ ngây-thơ-vô-tình để chấp nhận khoác lên vai món nợ núi sông ! Rồi quả đất tròn, ước mơ trở về nhưng cuộc đời đã rẽ làm đôi, đầu tóc đổi màu…thôi thì đành ‘ráng chịu’ !

Hồi mới quen
Em bảo ta đừng bao giờ xin lỗi
Cắm đầu yêu thì làm gì nên tội…
Một trăm năm có rảnh phút nào đâu
Ta hẹn lung tung, hẹn lần hẹn lữa
Đời ta xuôi ta có lắm bạn bè
Những thằng bạn chia cả trời khói lửa
Chân đạp mòn cả vạn sơn khê…
Có lẽ vì thế mà anh đã vuột mất tình yêu…Cho đến một ngày :
Đêm ngồi nghe em hát
Rối bời sương Cali
Tóc thời gian bạc trắng
Em mang buồn…giấu đi
… …

Cứ hờn anh em nhé
Bằng gợi nhớ đau thương
Anh xa rời cuộc chiến
Như…một chuyện hoang đường
Rồi Trạch Gầm đành phải thú nhận :
Anh kể em nghe tháng ngày phiêu bạt
Đốt đuốc quạnh hiu, tìm kiếm mỏi mòn
Phân nửa mặn nồng lạc từ ký ức
Tặng cho cuộc đời…vượt suối trèo non
Cuộc sống nơi quê người và nguồn yêu thương duy nhất của anh, bây giờ chính là :
Sáng vào trường…
Con ăn hamburger, hot dog
Chiều về nhà…
Con ăn rau luộc chấm tương
Ngồi cùng cha, con ngồi tận Quê Hương
Việt Nam mình…
Một ngày bỏ đi, một đời thương nhớ
Đất Mỹ tư do, cửa đời rộng mở
Con muốn hụt hơi…
Chạy tìm kiếm tương lai
Con đủ khôn ngoan, ôm trọn tháng ngày
Như lòng con…
Vẽ vời trăm điều mơ ước
Rau luộc chấm tương
Cha mong con còn nhớ được
Con có một đoạn đời…
Rất nghiệt ngã, rất đau thương
Đầu óc chết khô
Lúc con đứng giữa thiên đường
Cái thiên đường tối thui của bọn người cộng sản
Con đủ kiến thức chưa,
Hãy soi gương thân phận
Đổi được màu da không đổi được tâm hồn
Cũng thời gian nầy, con cười
Nhưng tại Quê Hương,
Việt Nam mình, bằng tuổi con…
Có triệu người đang khóc
Cha không giải bày, nhưng con hiểu được
Ai bạn, ai thù, ai mở cửa lầm than
Tại sao cha con mình…
Thành những kẻ lưu vong


Xếp tập thơ lại vì cảm thấy đôi mắt hơi cay. Trước mắt tôi, Trạch Gầm với cái điếu cày mà giờ đây anh xem như bình rượu để an ủi trong những ngày còn lại. Đặt ‘Ráng Chịu’ lên ngực và cố dỗ giấc ngủ nhưng những lời thơ của anh vẫn ám ảnh tôi như muôn ngàn tiếng thở dài của người lính bị buộc phải buông súng giữa đường một cách nhục nhã.

Đinh Lâm Thanh
Paris, 14.01.2010

Posted: Sun Feb 13, 2011 1:18 am
by thienthanh
Trung Đội Trưởng Nhảy Dù
Tôi bước thêm hai bước nữa thật nhẹ nhàng, ngồi sát xuống bên hông căn lều, lắng tai nghe. Giọng nói của người miền Nam:

- Đ.m, tối nay ăn cơm với thịt kho đã thiệt, hôm nào đi lãnh tiếp tế là hôm đó khoẻ ru. Ê Thành, tao nghe mấy thằng Nhảy Dù nói vài bữa nữa tụi nó sẽ rút ra, tao với mày đang ký vô Nhảy Dù, sẽ được ân xá, chứ còn hai năm lao công đào binh mệt mỏi quá.

Giọng trả lời của người miền Trung chắc nịch:

- Đ.m. mi, sao mi ngu quá vậy. Hôm nay mình đi vác đồ tiếp tế, mấy thằng Nhảy Dù cũng vác y như mình. Bây giờ tau với mi ngủ khoẻ, tụi nó còn phải gác mỗi thằng 4 tiếng đồng hồ nữa. Sáng ngày mai tụi nó lại phải đi đánh giặc, hễ có thằng nào chết hay bị thương, tụi mình mới tà tà khiêng về. Mi thấy không, mới một tháng nay tụi mình đã khiêng biết bao nhiêu là xác chết. Mi ngu thì cứ đăng vô Nhảy Dù, tau khoái làm lao công đào binh hơn, khoẻ re mà lại không chết là được rồi.

Tôi lẳng lặng đứng lên, lắc đầu đi thẳng về lều. Tôi kéo cao cổ áo vì đột nhiên cảm thấy lạnh. Tôi thấy thương cho tôi và các đồng đội của mình, những người lính Nhảy Dù chỉ thích đi mây về gió, đi có về không, đi đông về ít, đi khít về thưa. Đêm nay sao khó ngủ quá, trằn trọc mãi, thì ra thân phận người lính Nhảy Dù còn thảm hơn số kiếp của những người lao công đào binh.

Tôi giật mình thức giấc sau cái lắc chân của Quang. Chụp vội cái nón sắt lên đầu, tôi áp sát ống liên hợp lên tai:

- Thiên Trường, đây Sĩ Phú tôi nghe.

Giọng đều đều của trung úy đại đội trưởng:

- Anh kiểm soát lại mấy thằng em, coi lại đạn dược. Anh sẽ nhận thêm 8 người nữa, có một cánh gà mới. Khi Hoàng tới, anh bàn giao vị trí cho nó rồi về gặp tôi.

Về tới bộ chỉ huy đại đội, chưa kịp lên tiếng thì trung úy đại đội trưởng đã từ trong lều bước ra. Tôi định đưa tay lên chào thì trung úy Thành đã vội vã khoát tay:

- Được rồi, anh ngồi xuống đây, lấy bản đồ ra.

Trung úy Thành mở rộng tấm bản đồ, lấy bút mỡ khoanh tròn vị trí một ngọn đồi:

- Đây là ngọn đồi anh phải chiếm trong ngày hôm nay. Thằng 2 đã đánh 2 lần mà vẫn không xong.

Trung úy đại đội trưởng ngẩng đầu, nheo mắt nhìn tôi:

- Thế nào, anh nhắm làm được không.

- Để tôi cố gắng, trung úy.

- Anh cần gì cứ nói, tôi sẽ thỏa mãn tối đa cho anh.

- Tôi cần thêm nhiều lựu đạn, trung úy.

- Sẽ có ngay cho anh.

Tôi dẫn trung đội băng ngang qua chốt của trung đội 2, chuẩn úy trung đội trưởng Dũng đã bị thương rời khỏi mặt trận.

Quân số trung đội cứ hao hụt dần đi sau những cuộc giao tranh ác liệt kể từ ngày đầu của cuộc hành quân. Sau khi được bổ xung, trung đội bây giờ đã kha khá, đếm được 15 người, chia làm 2 toán. Một vị hạ sĩ quan trông coi một toán 6 người. Tôi dẫn toán còn lại tiến lên phía trước. Trước mặt tôi là binh nhất Binh, sau lưng tôi là người mang máy truyền tin, rồi đến trung sĩ Bền, người vừa mới tốt nghiệp trường hạ sĩ quan Đồng Đế, Phú đi sau cùng bao chót.

Ngọn đồi không cao lắm, nhưng cây cối nằm ngổn ngang chắn lối đi, hậu quả của những lần giao tranh trước đó. Tôi phất tay ra hiệu tiến lên, lòng hồi hộp căng thẳng, mắt tôi mở lớn quan sát về phía trước, tai nghe rõ những bước chân của đồng đội. Chắc chắn địch ẩn nấp ở đâu đó và đang chờ đợi chúng tôi.

Khi tôi vừa băng ngang một thân cây thì địch khai hỏa, nỗi lo lắng trông chờ đã được khai thông bằng những tràng AK chát chúa và những tiếng nổ dữ dội của B40. Tôi lao vội vào bên gốc cây, quát lớn:

- Bền đâu, đưa anh em lên ngay.

Đồng đội của tôi bám theo những gốc cây di chuyển lên, bắn trả thật dữ dội. Tôi vừa gọi máy báo về đại đội, vừa thúc anh em xông lên. Bỗng nhiên tôi thấy vắng hẳn đi tiếng súng M79, linh tính báo cho tôi biết đã có chuyện không may, tôi vội bò nhanh về phía Bính. Trời ơi, Bính nằm ngửa trên mặt đất, khẩu M79 đã tuột ra khỏi tay. Tôi đè tay lên ngực Bính:

- Bính! Bính! Có sao không?

Bính lặng yên không trả lời, chỉ đưa tay giật giật chiếc giây ba chạc. Nhìn Bính, tôi hiểu rằng không thể nào cứu được nữa rồi. Cằm của Bính đã vỡ, máu tuôn ra đầy miệng, tràn xuống ướt đẫm cả ngực áo. Tôi thử ấn bàn tay lên ngực của Bính, máu trào ra có lẫn bọt.

- Chuẩn úy, Bính chết rồi.

Tiếng nói của Quang như khơi dậy trong tôi nỗi căm hờn, tôi chụp lấy khẩu M79 hướng về phía địch bóp cò, như một người điên, tôi mò vào túi đựng đạn, nạp thêm, bắn nữa. Nhưng viên đạn thứ 5 chưa kịp bắn đi thì địch đã dọng về phía tôi một trái B40, cũng may viên đạn đã chạm vào một nhánh cây rồi phát nổ nên tầm sát hại cũng giảm đi rất nhiều.

Đầu óc lùng bùng nhưng tôi cố gắng trấn tỉnh để phán đoán tình hình. Địch bắt đầu bắn súng cối vào đội hình của chúng tôi. Tôi mở mắt lớn ra, thấy những cành cây ào ào gãy gục đổ xuống, những ánh lửa nháng lên. Tôi xả hết một băng đạn M16 về phía trước, rồi gọi:

- Quang, đem máy truyền tin lại đây.

Tôi nói như gào lên trong máy:

- Đích thân, xin phản pháo ngay, tụi nó cối 61 ly vào tụi tôi.

- Sĩ Phú, bình tĩnh, bắn ngay cho anh, kiểm soát lại con cái, nghe rõ không?

Chưa đầy 2 phút sau tôi đã nghe tiếng nổ của đạn pháo 105 ly rót lên trận địa, súng cối của địch giảm bớt cường độ. Lợi dụng khoảng thời gian ngắn ngủi, tôi di chuyển thật nhanh kiểm soát lại trung đội, sau đó tôi ra lệnh rút khỏi ngọn đồi, đem theo tất cả thương binh và tử sĩ.

Tôi ngồi bệt xuống đất, dựa lưng vào gốc cây mệt mỏi, gọi máy báo cáo về đại đội:

- Thiên Trường đây Sĩ Phú, tôi có 4 em đi tàu suốt, 3 em rách áo.

Trung úy Thành đổi giọng lúc nào tôi cũng không rõ:

- Đ.m, anh đang ở đâu mà giờ này mới báo cáo.

- Tôi cho anh em rút xuống rồi đích thân, tụi nó pháo quá chịu không nổi.

- Đ.m, tôi đưa anh ra toà án quân sự. Đ.m, Nhảy Dù gì mà mới chết có mấy thằng anh đã cho tuột xuống rồi, đánh đấm gì mà hèn vậy.

- Đích thân nghĩ coi, tụi nó chấm sẵn tọa độ, cối ngay chóc, tôi đâu còn đủ quân để tấn công.

Mỗi câu nói trung úy Thành lại nhấn thêm một câu chửi thề:

- Đ.m, bây giờ tôi cho anh một tiếng đồng hồ để làm lại, anh phải ở trên đó đêm nay, nghe rõ chưa. Tập trung những đứa chết và bị thương lại một chỗ, thằng 2 sẽ lên nhận. Đ.m, đừng làm mất mặt tôi, phải cố gắng lên, anh nghe rõ chưa.

Tôi đưa ống liên hợp lại cho Quang, móc trong túi ra điếu thuốc, bật hộp quẹt. Mùi vị của điếu thuốc không còn ngon lành gì nữa, nó đắng hơn bao giờ hết. Tôi thở dài, kiểm tra lại quân số.

Tôi lại tiếp tục trò chơi cũ. 6 người do trung sĩ Bền dàn bên tay phải, tôi giữ bên cánh trái. Lần này ăn thua đủ, tôi thúc anh em xông lên, và như những con trâu điên, anh em vừa bắn vừa la xung phong. Chẳng còn gì mong tồn tại ở nơi đây, chỉ còn điên rồ và cái chết, tôi không còn cảm nhận được bất cứ điều gì nữa, tôi xiết cò súng, tôi gào thét thúc dục anh em lao vào chỗ chết. Giữa tiếng súng nổ, tôi thấy mình lênh đênh trong cuồng nộ, xung phong, xung phong, tôi gào lên.

Tôi vấp phải xác chết của một đồng đội và ngã xuống đất. Tôi lồm cồm bò dậy rồi lại tiếp tục lao lên phía trước.

- Lên, lên. Đ.m, mày không lên tao bắn thấy mẹ. Hình như tôi có la một người lính.

Sau khi ném trái lựu đạn xuống căn hầm, tôi lăn người qua một bên chờ đợi, lúc này tôi mới cảm thấy mình đã lội đến bên bờ sự sống, tiếng nổ của trái lựu đạn dội lên từ lòng đất.

Những quả đạn cối 61 ly của địch bắt đầu rơi lên đầu chúng tôi. Tôi và Quang vội chui ngay vào căn hầm, chạm phải những khối thịt bầy nhầy.

Tôi gọi máy về đại đội, thông báo đã chiếm xong mục tiêu và xin phản pháo.

Trung úy Thành ra lệnh, giọng ông ta vui hẳn lên, lành mạnh, không có chữ Đ.m:

- Sĩ Phú, kiểm soát lại con cái, dặn tụi nó ngóc đầu lên quan sát, coi chừng đám vịt con phản công. Những đứa rớt lại sẽ có thằng 2 lo.

- Đích thân tăng cường thêm quân cho tôi, chỉ còn có 8 người không thể phòng thủ qua đêm.

- Cố gắng đi Sĩ Phú, tôi đã lo hết cho anh, bây giờ kẹt rồi.

Trời đã bắt đầu tối, tôi bò quanh các hầm dặn dò anh em. Cứ một người ngủ thì một người gác, cấm bắn súng, chỉ dùng lựu đạn khi hữu sự. Tôi và Quang cũng vậy, tôi gác thì Quang ngủ và ngược lại.

Trời đã tối hẳn, không lo bị bắn sẻ nữa, tôi leo lên ngồi trên nóc hầm, và đến bây giờ tôi mới cảm thấy đói bụng, tôi gọi Quang:

- Quang ơi, còn cái gì ăn không, đói bụng quá.

Quang dí vào tay tôi một bịch gạo sấy, tôi bốc vội bỏ vào miệng nhai. Nhưng nuốt không trôi dù rằng bao tử đang cào cấu lên vì đói, cái mùi hôi thối của xác chết cứ xông vào mũi tôi, dù có kéo cổ áo xuống bịt ngang lỗ mũi vẫn không thể nào ngăn được cái mùi kinh khủng ấy. Tôi móc bi đông nước ra uống từng ngụm nhỏ, không dám uống nhiều vì đã vơi quá nửa.

Sau khi đổi gác cho Quang, tôi chui vào hầm hút thuốc. Tôi mở trừng đôi mắt ngó ra chung quanh, bóng tối dày dặc, bình yên.

Trong mông lung tôi lại nhớ về em. Tự nhiên tôi muốn kể cho em nghe về tôi, một chuẩn úy trung đội trưởng Nhảy Dù. Xin lỗi em, anh không phải là gỗ đá, lại càng không phải là một kẻ thô lỗ, nhưng xin em hãy cho anh chửi thề một câu trước khi kể chuyện cho em nghe. Vì nếu không chửi thề dường như câu chuyện sẽ thiếu đi chất mặn mà, không mặn mà thì câu chuyện sẽ trở nên hoang đường vô vị. Giờ này nếu em ở nơi đây, trên cái chốt chết tiệt này, có lẽ em sẽ không còn dám mơ dám mộng gì nữa. Đụng vào thực tế rồi, 100% em sẽ không bao giờ dám đi dạo phố chung với anh nữa. Ngày xưa em thường kể với anh rằng em lấy làm hãnh diện khi bước sóng đôi bên anh, một người hùng mũ đỏ, em nói rằng em có cảm giác dường như mọi người đang trầm trồ khen ngợi chúng mình đẹp đôi vừa lứa. Tội nghiệp em tôi, em ngây thơ quá nên mới cả tin vào những điều thêu dệt của đám thiên hạ bàng quang. Không em ạ, thiên hạ đang nhìn em với ánh mắt thương hại đấy thôi, vì họ biết chắc chắn rằng một ngày không xa em sẽ trở thành goá phụ đầu chit khăn tang.

Có bao giờ em đã trông thấy cái chết của một người lính Nhảy Dù? Họ chết đủ kiểu em ạ. Có đứa thân xác gom lại chưa đầy một ba lô, có đứa mất hẳn phần hàm dưới trông vô cùng ghê rợn, cũng có đứa diễm phúc chết nhẹ nhàng như một chiếc lá rơi. Họ chết khi còn quá trẻ, khi còn quá yêu đời. Họ chết cho mầu mũ đỏ kiêu hùng.

Anh đang ngồi đây, dưới căn hầm hôi thối, chung quanh là bóng tối mù loà, vậy mà hồn anh sáng rỡ khi nhớ về em. Suốt cả ngày hôm nay anh muốn điên lên mà không điên được. Em cứ xem, từ sáng đến tối chỉ bò quanh quẩn trong cái nhà mồ khốn kiếp chật chội, hễ ló đầu ra thì lo bị bắn sẻ, lo không biết lúc nào pháo của địch sẽ rơi. Có điều gì để anh đổi chác được hở em? Anh sẽ được điều gì để trao đổi tương xứng với những giây phút ngặt nghèo ngộp thở này. Chúa phật cũng quên tuốt, anh chỉ còn có em để mà giải bầy tâm sự, em là con tàu mang anh ra khơi để quên đi nỗi chán chường không lối thoát, tình em ru anh vào giấc ngủ bình yên hiếm hoi giữa tiếng bom đạn lở đất long trời.

Tôi giật mình thức giấc khi những hạt mưa lạnh quất vào mặt mình. Tôi lắc đầu một lát cho tỉnh ngủ, rồi sực nhớ, tôi vội gọi Quang. Hai đứa tôi lay hoay căng poncho hứng nước mưa, chỉ một lát đã hứng đầy 2 bi đông nước mưa. Trong bóng tối, tôi thè lưỡi liếm những giọt nước mát lạnh ngọt ngào. Nhưng sau đó lại là nỗi khổ của lạnh lẽo, quần áo ướt mem, người tôi run lên vì lạnh, 2 hàm răng cứ lập cập va vào nhau. Hết điếu thuốc này đến điếu thuốc khác, mệt mỏi, tôi ngủ thiếp đi lúc nào không hay.

Khi thức dậy, tôi giật thót cả người khi thấy Quang cũng đã lăn ra ngủ say sưa từ lúc nào. Chết mẹ, thì ra nãy giờ không có người gác. Trời đã bắt đầu lờ mờ sáng, nhìn đồng hồ mới 5 giờ, một đêm ngủ bình yên.

Tôi bốc máy gọi về đại đội:

- Thiên Trường đây Sĩ Phú.

Gọi hai, ba lần mới nghe giọng nhừa nhựa ngái ngủ của người mang máy đại đội.

- Sĩ Phú có gì lạ không, sao đích thân gọi sớm vậy.

- Mày nói với ổng là trên này tụi tao không nấu nướng gì được, nấu cơm đem gấp lên cho tụi tao, đói thấy mẹ. Nhớ cẩu thêm đạn và lựu đạn nữa. Nói ổng cho tao thêm quân, Đ.m nó tấp chịu không nổi đâu.

Phải chờ thêm 5 tiếng đồng hồ nữa, gần 10 giờ sáng mới thấy lính trung đội 2 mò lên, đem theo 1 nón sắt cơm và nửa nón sắt thịt heo kho. Tôi chia đều cho 4 hầm. Móc vội chiếc muỗng ra, không cần lau chùi, tôi xúc cơm lùa vào miệng, chúng tôi cần sức lực để chịu đựng lâu dài.

Ngày hôm qua đã khiêng cái xác lên khỏi hầm nhưng không kéo ra xa được nên xác chết vẫn nằm vắt ngang sát bên miệng hầm, bắt đầu sình lên. Mùi hôi thối khiến tôi ngầy ngật khó chịu. Hai thầy trò lại dựa lưng nhau chịu đựng. Địch vẫn bám sát chung quanh, lâu lâu lại dọng cối 61. Đã 3 giờ chiều, tôi muốn khùng lên, khó chịu quá, tôi liều mạng bò lên, gặp ngay xác chết, thối ơi là thối, tôi bụm tay rít mạnh hơi thuốc.

Quang từ dưới hầm gọi lên:

- Chuẩn úy ơi, ông khùng quá, nó bắn sẻ bây giờ.

Tôi dơ cánh tay trái lên thật nhanh rồi kéo xuống, trúng đây đừng trúng chỗ nào khác. Tôi làm như vậy 2, 3 lần, nhưng trời còn thương tôi, còn muốn tôi khổ dài dài nên chẳng có điều gì bất hạnh xảy ra.

Tôi thản nhiên ngồi hút thuốc lá, nhìn trời hiu quạnh, mây vẫn bay, chẳng có gì lạ, chẳng có gì để nhớ cho ngày hôm nay.

Trời lại tối, đêm nay đã là đêm thứ hai.

12 giờ đêm, tôi nhận được lệnh zoulou, 8 thầy trò mò mẫm rút xuống trong đêm tối.

Chu y Quý -
KBC 4804

Posted: Wed Feb 23, 2011 9:31 pm
by vuphong
Image

Chuyến bay cuối cùng 2
Trần Ngọc Toàn
Tình hình trong phi trường Đà Nẵng càng lúc càng tồi tệ, từ vùng núi phía tây, quân cộng sản Bắc Việt đã nã pháo 130 ly vào phi đạo khiến các chuyến bay vận tải chuyển người về Nam phải ngưng lại. Hành khách chen lấn đổ xô lên những chuyến bay C-130 đến nỗi trưởng phi cơ phải ra lệnh vừa đóng nắp bửng vừa di chuyển ra phi đạo. Có những người bị bị kẹt trong buồng bánh phi cơ về tới Sài Gòn mới biết .

Trong tình thế đó, phi công chính của chiếc trực thăng vận tải Chinook CH-47A đã quyết định cất cánh rời phi trường Đà Nẵng với hơn 60 hành khách gồm hầu hết là thân nhân gia đình quân nhân tạm lánh nạn qua phi trường Non Nước bên vịnh Tiên Sa sát biển còn ổn định dưới sự trấn đóng của quân phòng ngự TQLC. Phi hành đoàn gồm phi công chính Đại úy Phạm-Văn-Kiến, phi công phụ Trung úy Nguyễn-Đình-Hương, hoa tiêu Đại úy Nguyễn-Anh-Dũng và hai xạ thủ đại liên. Tờ mờ sáng ngày 29 tháng 3 năm 1975, Bộ Tư Lệnh Hành Quân cùa Sư Đoàn TQLC bắt đầu xuống tàu Hải quân HQ .402 vừa ủi dọn bãi đón quân tại Non Nước.

Tình thế lại dao động khi Thiết Giáp nghe tin TQLC rút quân đã ùn ùn từ trong Đà Nẵng chạy ra hướng biển. Lo sợ quân lính TQLC đồn trú cưỡng bức chiếc trực thăng vận tải vốn đã đầy người. Đại úy Kiến quyết định rời Non Nước, dự tính bay về phi trường Phù Cát. Thời tiết xấu với mây mù xuống thấp và gió lớn. VớI trọng tải quá mức. phi cơ không thể nhấc lên cao khỏi tầng mây thấp, không định rõ tầm quan sát, phi công phải nhờ người hạ sĩ quan xạ thủ ra dấu bên trái là biển và bên phải là cát đề tiếp tục bay dọc theo bờ biển về Nam.

Sau hơn một giờ bay, khi nhìn xuống chỉ thấy ruộng muối mênh mông, sợ lạc hướng Đại úy Kiến đã kéo lệch con tàu về hướng đất liền và bắt buộc phải bay rà thấp cách mặt đất chỉ vài trăm bộ Anh, khi bay ngang Sa Huỳnh, quận Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, quân du kích vc đổ ra chĩa súng trường bắn lên như pháo tết, đạn AK gây tử thương cho 4,5 người, khiến hành khách bấn loạn. Phi công phụ Trung úy Nguyễn Đình Hương bị trúng đạn, máu loang đỏ bộ quần áo phi hành màu xanh xám, Đại úy Kiến thấy nguy cơ trước mắt nhưng vẫn lên tiếng trấn an Hương khi vị sĩ quan này dự định tự sát vì không muốn trở thành gánh nặng cho đồng đội
“ Đừng làm vậy, để tao lái một mình được rồi. “
ĐạI úy Kiến kéo cần lái nhấc đầu chiếc Chinook lên cao dướI làn mưa đạn của Việt Cộng dướI đất bắn lên. Chiếc Chinook từ từ cất lên cao. 1000 bộ, 2000 bộ. Bỗng chiếc tàu như con ngựa bất kham, khựng lạI rồI chúi xuống, kim đồng hồ áp suất sụt xuống, động cơ nổ lụp bụp. Đại úy kiến cố kìm cần điều khiển, tai họa chụp xuống ngay trước mắt. Dù tay bị thương nhưng Trung úy Hương lấy lại bình tĩnh phụ kéo cần lái cho phi cơ từ từ đáp xuống, như một phép lạ, chiếc trực thăng bị trúng đạn lỗ chỗ chỉ hơi chao đảo rồI hạ cánh ép buộc xuống bờ biển, một nửa thân tàu ngập nườc, một nửa nằm chênh vênh trên bãi cát. Mọi ngườI ùn ùn chạy thoát ra ngoài, thất kinh hồn vía. Tiếng súng VC lại vang lên từ hướng Sa Huỳnh, Phổ Châu, mạnh ai nấy chạy thoát thân về hướng Nam. Người cha ruột của Đại úy Kiến vốn di tản từ Huế vô Đà Nẵng đã chạy theo con trên chuyến tàu, lo sợ hốI thúc lôi tay con chạy theo đám đông. Trong khi ầy Đại úy Nguyễn Anh Dũng đã chạy lên tháo dây nịt an toàn ghế phi công phụ rồI bồng ẵm Trung úy Hương lên bờ cát. Trung úy Hương máu đã đẫm ướt bộ đồ bay, tay cầm súng ru-lô hét lớn:
“ Tao đã bị thương nặng, thà chết không để bọn việt cộng bắt.”

Nói rồi Hương quay mũi súng qua hướng người yêu đã theo chân từ Đà Nẵng nói :
“ Mình cùng chết không để cho tụi vc bắt nghe em .”
Viên đạn ru-lô xuyên qua ngực phải ngườI con gái, khiến nàng ngã xuống ngất lịm, nhưng nàng đã sống sót nhờ viên đạn đi lệch lên vai phải. Hương đưa súng qua tay Dũng nói lớn :
Mày bắn tao, tao theo Đạo Chúa không tự tử được!
Trong cơn chấn động, trước viễn ảnh quân cộng sản đang tràn tới, Dũng bình tĩnh cầm khẩu ru-lô P.38 nổ ngay vào màng tang của Hương rồi quay mũi súng vào đầu mình bóp cò. Súng không nổ, vẫn ở tư thế quỳ hai chân, Dũng bình tĩnh mở trục đạn xoay một nấc rồI đưa súng lên bắn vào màng tang. Anh ngã xuống bên cạnh xác đồng đội trước những cặp mắt kinh hoàng nể sợ của những người chứng kiến .

Sau đó bọn VC cũng đã gom bắt những ngườI sống sót giải về làng. Xác hai người phi công trực thăng Chinook Phi Đoàn 247 được đồng bào chôn cất tử tế ngay sát bờ biển làng Phổ Châu, quận Đức Phổ. Quảng Nam vào giờ Ngọ ngày 29 tháng 3 năm 1975 . Những ngày sau đó bắt đầu những trang sử khốc liệt bi hùng, những ngày đen tốI của miền Nam Việt Nam Tự Do .

Mãi tớI năm 2003, sau khi đến định cư tại Hoa Kỳ, Đại úy Kiến gửi một lá thơ ngắn nhờ đọc trên đài phát thanh Little Saigon về hai ngườI Sĩ Quan Anh Hùng Bất Khuất đã vùi thây tại Sa Huỳnh. Gia đình của Đại úy Nguyễn Anh Dũng và Trung úy Nguyễn Đình Hương đã bắt liên lạc với tin tức chính xác về địa điểm chôn cất và nhờ anh ruột của Tr./u. Hương còn ở Việt Nam và người thân của Đ/u Dũng tìm đến tận nơi làng quê hẻo lánh này để hốt cốt đem về Nam an táng.
Khi được tin, dân làng đã đổ xô tới và lên tiếng xin cho hai vị “Thần Làng” được để nguyên tại đây. Theo lời dân làng thì hai phi công tự tử này rất linh thiêng và được dân làng dựng miếu thờ. Nhưng do nguyện vọng của gia quyến bên Mỹ hài cốt của hai người phi công Anh Hùng đã được đưa về Nam an táng.

Trong cuộc chiến chống Cộng Sản ở miền Nam Việt Nam, hàng ngàn anh linh hào kiệt của QLVNCH đã ngã xuống cho an nguy của dân tộc, cho sự bình an của hậu phương đến nay vẫn còn là những chiến sĩ vô danh, trong ấy có phi công Đại úy Nguyễn-Anh-Dũng và phi công Trung úy Nguyễn-Đình-Hương của Không Quân Việt Nam Cộng Hòa .

Trần Ngọc Toàn
(Anh Trần Ngọc Toàn là một Tiểu đoàn trưởng TQLC, xuất thân trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt năm 1962, Khóa 16 )

Posted: Sat Feb 26, 2011 4:59 am
by nguyenvsau
Image

BAY VÀO TÌNH SỬ
(Vì lý do tế nhị, tác giả xin dấu tên nhân vật và địa danh để " khỏi làm phiền lòng người hàng xóm đang cần sự yên tĩnh nghỉ ngơi)

Biệt phái cho tiểu khu, tôi được lệnh đáp tại bãi đáp ven biển, gần những hàng dương đang reo vi vu trong gió. Phái đoàn gồm một sĩ quan cấp tá và một cô bé khoảng mười sáu tuổi trông rất dễ thương, đến bằng một chiếc xe Jeep sơn màu trắng dân sự. Anh Thiếu úy phi công đồng hành, với bộ đồ bay đen, chiếc khăn quàng cổ màu tím trông dáng vẻ thư sinh rất ga lăng, nháy mắt với tôi, ra vẻ xí phần, ngầm nói rằng: Của tui à nha.
Một lúc sau, quan đầu tỉnh tới với toàn bộ giàn giá: Sĩ quan tham mưu, cận vệ ....mọi người đều võ trang đến tận răng, ra lệnh cho phi cơ cất cánh bay lên quận lỵ địa đầu ranh giới của tỉnh. Anh Thiếu úy phi công quay qua phía tôi nói:
- Ông để tôi.
Anh ta cho máy bay cất cánh và bốc tít lên mãi trời xanh. Vào thời điểm này, không còn cảnh lè phè bay sát ngọn dừa để ngắm mấy em tắm lộ thiên nữa, nhưng tôi tự hỏi hà cớ gì mà phải bay cao lên đến đỉnh trời như vậy. Thây kệ, tôi ngả người ra lưng ghế, gác chân lên cánh cửa để enjoy một phi vụ có người đẹp đi cùng.
Đang thả hồn theo mây gió, tự nhiên tôi cảm thấy như mình bị mất trọng lực, ngó ra ngoài cửa, chỉ thấy thấp thoáng nam tào bắc đẩu gì đó, chứ không thấy cảnh vật dưới đất nữa, hóa ra ngài Thiếu úy đang biểu diễn màn "xoáy trôn ốc" từ cao độ tám ngàn bộ, ngài cúp ga để đáp xuống cái đồn nhỏ xíu. Thiếu úy bay hay thật, chiếc UH 1 lọt vào bãi đáp đẹp như để. Bộ chỉ huy chạy ra chiếc Jeep lùn đón phái đoàn vào trong, anh Thiếu úy nói vội: Ông tắt máy giùm tôi, rồi phóng xuống kè theo em bé và phái đoàn vào trong Bộ chỉ huy.
Tôi tắt máy, chờ Cơ phi cột cánh quạt xong, nhìn vào phía chiếc xe Jeep hồi nãy, đám sĩ quan Bộ binh đã vào hết trong hầm chỉ huy, chiếc xe đậu bên ụ bao cát chỉ còn cô bé ngồi ở ghế trước, anh Thiếu úy thì đứng dưới đất, một chân gác lên vè bánh xe, đang nói chuyện gì đó.
Anh Cơ phi cũng tò mò theo dõi hoạt cảnh trước mặt, bỗng anh lên tiếng:
- Em bé nói gì mà Thiếu úy mặt sượng trân hà Trung úy.
( Khoảng cách cỡ 45 thước không hiểu sao anh Cơ phi nhận ra khuôn mặt sượng trân).
Thấy vậy, tôi và hai anh Cơ phi, Xạ thủ rời máy bay bước về hướng chiếc xe để cứu bồ. Đến nơi, cũng đúng lúc Chi khu cho người đem nước ra mời Phi hành đoàn, tôi đón lấy chai coke đưa cho cô bé và nói:
- Mời cô dùng nước.
Cô bé cầm chai nước, cám ơn. Thiếu úy hào hoa nhân cơ hội này rút lui, Cơ phi Xạ thủ nháy mắt với nhau dọt luôn để tôi một mình với cô bé.
Tưởng cô là con của một thương gia nào đó, xin quá giang máy bay về quê, như tôi thường thấy ở những vùng bất an ninh, đường bộ
hay bị giật mìn. Tôi hỏi:
- Nhà cô ở đâu, bộ không sợ súng đạn hay sao mà theo ra đây.
- Dạ ở thị xã, ba mới đổi ra đây, nay đi thăm quan các quận, cháu đòi đi theo.
Thì ra đây là cô gái rượu của quan đầu tỉnh, tôi phải ăn nói cẩn thận hơn.
- Cô ra đây lâu chưa, học ở đâu?
- Dạ cháu học ở N. C. L. mà này, chút nữa chú bay được không? Hồi nãy chú kia bay làm cháu muốn ói.
- Sao cô biết hồi nãy chú kia bay?
- Tại cháu thấy chú gác chân lên cửa.
- Chút nữa mình đi đâu?
- Ba nói đi qua quận kế.
- Ừ, chút nữa chú bay.
..................
Máy bay đáp xuống Chi khu kế cận, phái đoàn được mời dùng cơm tại đây .
Trong bữa tiệc, quan đầu tỉnh được xếp ngồi ở ghế đầu bàn, bên phải là ông Quận trưởng chủ nhà, bên trái là ông Phó tỉnh nội an. Kế bên Phó tỉnh là cô bé, phía bên này đối diện, kế bên ông Quận trưởng là tôi, vô tình tôi lại được xếp ngồi đối diện với cô bé.
( Cấp bậc tôi nhỏ nhất so với các sĩ quan Bộ binh dự tiệc, nhưng vì cao nhất của quân chủng Không quân, nên họ tế nhị xếp chỗ cao hơn những sĩ quan cấp tá khác)
Cơm trưa xong, mấy vị trong phái đòan bàn những chuyện trách nhiệm riêng của họ, tôi cảm thấy lạc lõng nên đứng lên ra vườn ngoạn cảnh. Nhìn lại cũng thấy cô bé đi theo, chúng tôi ra vườn sau dinh quận để xem vườn cây, suối cá nhân tạo .. Ông Trung sĩ quản gia tự hào giới thiệu những kỳ hoa dị thảo mà ông đã dày công vun trồng, trong đó có một cây ổi dị dạng, ra được ba trái rất lớn. Ông nói:
- Thiếu tá Quận trưởng thích lắm, ngày nào cũng ra ngắm mấy trái ổi, nâng niu như qủa đào tiên.
Tôi ngó qua, thấy cô bé đứng bên cạnh, máu si tình nổi lên, bèn tưởng mình là Roméo đứng bên cạnh Juliette, liền bứt một trái ổi lớn nhất đưa cho cô.
Ông Trung sĩ thấy vây hồn phi phách lạc:
- Chết tôi rồi ông phi công ơi, ba trái ổi ông quận quí như vàng mà ông dám hái.
Tôi thấy mình cũng ngu quá, hình như gần người đẹp, trí óc tôi lú lẫn hay sao đó. Nhưng trời còn thương, tôi nghĩ được một kế, liền bảo cô bé:
- K.H. đem vào cho ba coi đi.
Cô bé ôm trái ổi bước vào phòng mọi người đang họp, nói lớn:
- Ba, trái ổi ngoài vườn lớn quá. Vừa nói, cô vừa đưa quả ổi cho quan đầu tỉnh, vị này cũng công nhận và khen là qủa ổi lớn thật.
Bây giờ lại tới phiên mặt ông Quận trưởng xanh lè, tuy nhiên, ông cao tay ấn hơn ông Trung sĩ quản gia, ông bèn hối quần thần tả hữu đem trái ổi ra sau xẻ ra cho ông đãi khách. Cuối cùng tôi cũng được chia một phần nhỏ của qủa ổi đào tiên.
Ông Trung sĩ thoát nạn, nhưng cứ lắc đầu lẩm bẩm: Phi công liều quá, phi công liều quá.
Hai đứa chúng tôi lững thững đi dạo quanh khu vườn, cứ như đôi nhân tình quen nhau từ kiếp trước.
Sau một hồi chú, chú, cháu, cháu, tôi gạ:
- Mai mốt vô phi trường chỗ chú ở chơi.
- Không được đâu, ba đâu có cho, đi đâu cũng phải có mấy chú cận vệ đi theo.
Tôi thấy chuyện gạ gẫm này sẽ đi vào ngõ cụt ,nhưng cũng cố đưa cho em bé số điện thoại trên cư xá độc thân.
............
Một tuần sau, chuông điện thoại hành lang của barrack độc thân reo vang, thím Tư Nãi bốc điện thoại nghe rồi la lớn:
- Chaplain, có điện thoại.
- Phòng Hành quân hả, hôm nay tao off.
- Không phải, ghế gọi chứ không phải phòng trực Phi đoàn.
Tôi ngạc nhiên vì không hiểu ai lại biết số điện thoại ở đây mà gọi, nhưng tính dê không chừa, mỗi khi có dính dáng gì tới con gái là lăn vào lửa tôi cũng không chừa xá gì ra nghe điện thoai.
Bên kia đầu giây, giọng con gái thật dễ thương :
- Chú hả? Cháu đây, K.H. đây.
Tim tôi đập lọan xạ, tựa như đang bay vào Đồi Gió An Lộc năm nào. Thú thật bây giờ tôi chẳng còn nhớ hồi đó mình nhả ngọc phun châu như thế nào, chỉ biết rằng sau đó, "cháu "gọi thường xuyên, có khi nói chuyện cả nửa giờ, nhưng cũng có khi mới được mấy phút thì đầu giây kia hoảng hốt:
- Chết, em cúp nha, ba vô (Cũng chẳng biết từ Chú Cháu sang Anh Em hồi nào nữa).
Một bữa nọ, tôi hứa là sẽ gặp nàng ở cổng trường lúc tan học, vào những ngày tôi không bay. Sáng sớm, tôi xuống phi đoàn quá giang chiếc biệt phái cho Tiểu khu, rồi lội bộ đến cổng trường ngồi chờ giờ tan học để được nói hươu nói vượn với nàng được vài câu, trước khi em lên xe về lại dinh.
Tôi nhận diện được mặt hai anh cận vệ thường xuất hiện ở trường gần giờ tan học. Một hôm tôi chơi khăm, lúc ngồi ở quán sinh tố ngoắc một anh đứng sớ rớ gần đó . Anh ta biết mặt tôi những lần bay cho Tiểu khu nhưng không hề biết sự liên hệ Chú Cháu giữa tôi và K. H. Tôi bắt chuyện:
- Đón con đi học hả?
- Dạ không, ngày nghỉ ra đây chơi.
- Ngồi uống nước, nói dóc chơi.
- Dạ.
Ly sinh tố uống chưa được một phần thì chuông tan trường reo vang. Anh Trung sĩ nhổm dậy, xin phép đi có chuyện cần, tôi nắm tay anh ta kéo lại, anh vội giật ra rồi vội vã ra góc đường chỗ mọi ngày anh vẫn đứng. Ngay lúc đó, gần cổng chính của trường, một chiếc xe Jeep trắng cũng vừa trờ tới. K. H. thanh khiết với chiếc áo dài trắng bước ra, nói nhỏ với bác tài xế rồi vụt qua đường với tôi, trước sự ngạc nhiên của anh cận vệ. Từ đó về sau, tôi và anh này " bồ " với nhau rất thân.

Một ngày tháng ba 1975, đang ngủ nướng buổi sáng, lại cũng giọng Thím Tư Nãi vang vang:
- Chaplain, có điện thoại ghệ gọi.
Tôi bung mền nhảy ra hành lang nghe điện thoại, đầu giây bên kia, " Cháu " có vẻ khẩn trương:
- Anh ra đây ngay được không?
Tôi ngạc nhiên với thái độ khẩn khoản đó, hứa bừa:
- Ừ, anh ra ngay.
Bỏ mẹ rồi, làm sao mà tôi ra thị xã ngay bây giờ được.
Phóng vội xuống Phi đoàn, tôi hỏi Sĩ quan trực:
- Mấy chiếc Tiểu khu và Sư đoàn cất cánh chưa?
- Tiểu khu nay không có, Sư đoàn chưa thấy cất cánh.
Tôi vọt ra phi đạo, may quá, chiếc biệt phái cho Sư đoàn chuẩn bị cất cánh .
- Ê, cho quá giang ra phố chút.
Trưởng phi cơ thắc mắc:
- Hẹn đào hả?
- Ừ, làm ơn đi, mai trả chầu hột gà ốp la quán Thượng sĩ Khoa.
Chiếc UH thả tôi xuống bãi đáp Tiểu khu rồi vội vã bốc lên như sợ có ai thấy mình vừa làm điều gì phi pháp. Đang phân vân, không biết phải làm gì thì anh Trung sĩ cận vệ xuất hiện, đưa cho tôi một mảnh giấy viết vội: "Em và gia đình phải chuẩn bị ra phi trường để về Saigon ngay, ba nói tình hình nguy ngập lắm. Nhận được thơ này, anh trở về phi trường ngay, đừng lang thang ngoài phố nữa. Nếu có về Saigon đến kiếm em ở Cư xá Sĩ quan Chí Hòa, nhà em số xyz......"
Tôi lang thang ngoài phố đến ba giờ chiều thì đón xe về lại phi trường, trong lòng trống vắng khôn tả.
Ba hôm sau, chiếc biệt phái Tiểu khu đưa về cho tôi một phong thư gián kín, nói là do một ông Trung sĩ nhờ chuyển, tôi bóc vội ra đọc: ..........Em đã dặn anh là phải về ngay phi trường, vậy mà anh cũng không nghe, máy bay em đi mãi mười hai giờ mới cất cánh, em gọi về Phi đoàn anh không biết là bao nhiêu lần, họ vẫn nói là anh chưa về. Em buồn quá, không hiểu tình thế này rồi mình có gặp được nhau không, nhớ có về Saigon thì đến nhà em ở địa chỉ trong thơ ......
Phi trường di tản, tôi về Saigon, tìm đến nhà K. H. ở Cư xá Sĩ quan Chí hòa hai lần, lần nào trước cửa cũng thấy mấy chiếc xe Jeep đậu, người đứng chung quanh toàn là sĩ quan cao cấp trong quân đội, tôi không dám bước vào. Sau 30-4 cư xá không còn được ra vào tự do nữa.

...................

Trại giam Tù binh Phú quốc 1976:
Tù Cải tạo bị đưa từ đất liền ra nhốt ở trại giam tù binh cũ đúng vào ngày 30 Tết .
Nguyễn văn Hóa, Phó đốc sự Hành chánh, có biệt tài chế lại những bài hát " cách mạng" , chẳng hạn như bài: Bác đang cùng chúng cháu hành quân, anh ta hạ một nửa tông nhạc xuống, khi đánh đàn hoặc hát lên nghe như người chết đói thều thào hát; hoặc như bản nhạc được máy hát dĩa ngày xưa hát khi hết giây thiều. Anh kể chuyện nhiều về thành phố mà tôi đã có nhiều kỷ niệm khi xưa.
Tôi hỏi:
- Ông Hóa, ông ở tỉnh đó nhiều, có biết Đại tá XZY tỉnh trưởng không?
- Chú tao mà sao lại không biết.
Tim tôi lại nhói mạnh một lần nữa.
- Gia đình ông ta ra sao rồi?
- Nghe nói con cháu cặp với một thằng phi công trực thăng, nhà cứ mong nó đến để bàn chuyện bốc gia đình di tản, mong hoài mà không thấy tăm hơi anh chàng đâu, không biêt có di tản được hay lại hay lại rớt mất xác ở đâu rồi. Cũng may, cuối cùng móc nối được một chỗ khác, cả gia đình thoát được, nghe nói Pháp nhận cho định cư rồi.
Tôi thở một hơi dài, lặng đi một lúc rồi nói:
- May quá nhỉ.
( Thực ra tôi chỉ muốn nói: Thằng phi công đó vì quá ngu nên không di tản, cũng chưa chết mất xác mà nó đang mặc bộ đồ rách te tua ngồi cạnh ông đây)

Viết để nhớ lại một mảnh tình thời bay bổng với K.H. vẫn mãi ghi nhớ trong lòng.

Phương Toàn

Posted: Mon Feb 28, 2011 6:39 pm
by caolynh
Thương Tiếc Bác Sĩ Nguyễn Văn Thế Vị lương y của người homeless Bolsa


WESTMINSTER - Tin Bác Sĩ Quân Y Nguyễn Văn Thế, có phòng mạch tại đường Bolsa, giữa lòng Little Saigon, tạ thế sáng 21 tháng 2 khiến nhiều người xúc động,
dù họ không là thân bằng quyến thuộc của ông.

Tiếp xúc với phóng viên nhật báo Người Việt qua điện thoại, nữ ca sĩ Thanh Mai bảo rằng, bà “rất buồn, rất thương tiếc,” vì theo bà, trong cộng đồng mình “rất hiếm ai có được tấm lòng hay trái tim như thế!”

“Phải nói bác sĩ Thế là người có trái tim Bồ Tát!” Ca sĩ Thanh Mai chia sẻ.

Rồi bà kể lại một câu chuyện khiến bà “rất ngạc nhiên, cảm kích, và nhớ mãi.”

Ðó là lúc bà mới từ Pháp sang Hoa Kỳ, chân ướt chân ráo, chưa có bảo hiểm sức khỏe, con gái của bà bị té, và bị chiếc vòng cẩm thạch bể đâm vào tay chảy máu rất nhiều. Bà được một người quen giới thiệu đưa con đến gặp Bác Sĩ Thế.

“Bác sĩ tự tay rửa vết thương, tự tay cắt và may lại, rồi không lấy tiền gì hết!”

“Lúc đó tôi rất lấy làm lạ,” ca sĩ Thanh Mai kể, vì “mình không quen biết gì với bác sĩ hết!”

Ca sĩ Thanh Mai cho rằng, có thể Bác Sĩ Thế cũng không nhớ là đã giúp bà, và sau này bà cũng không có dịp phải nhờ đến lòng tốt của bác sĩ nữa, nhưng “điều ông đã làm, tôi thực sự không bao giờ quên được.”

Không riêng Thanh Mai, trong số những người thương tiếc Bác Sĩ Thế, còn có một nhóm người khác, rất đặc biệt!

Họ ở mọi lứa tuổi, đến từ những nẻo đời khác nhau, và có những quá khứ rất cá biệt, nhưng đời sống đã vô tình đưa đẩy họ đến gặp nhau ở hàng hiên của tiệm bánh mì Lee's Sandwiches, trên một góc của Bolsa, gần đối diện phòng mạch của Bác Sĩ Thế phía bên kia đường.

Ðó là nơi họ thường xuyên tụ tập để chia sẻ nỗi niềm mà chỉ có những người “homeless” - vô gia cư - như họ mới có thể hiểu được.

Và buổi chiều được tin Bác Sĩ Nguyễn Văn Thế từ trần, họ có thêm một điều nữa giống nhau: Cùng chung một niềm thương tiếc.

Họ đứng tụm vào nhau, nét mặt buồn rầu, tư lự, nhưng cùng đua nhau kể, như sợ nếu không kể thì sẽ mất cơ hội nói về một vị lương y mà họ hết sức quý mến, và chịu ơn.

“Bác Sĩ Thế chết rồi! Em mới nghe tức thời thôi!” Một người nói.

“Buồn lắm! Buồn như mất một cái gì lớn lắm lận!” Người khác tiếp lời.

“Tụi tôi ở đây là người không nhà! Bác sĩ giúp cho anh em ở đây nhiều lắm!” Một người đứng tuổi giải thích với phóng viên Người Việt.

Một người trẻ tuổi, tên Ba, kể: “Ông giúp cho bữa ăn. Chiều chiều, anh em nào đói bụng, không có tiền ăn, tới đây, bác sĩ cho anh em mỗi đứa 5 đồng.”

Một người trẻ tuổi tên Cường tiếp lời: “Mà không phải bác sĩ giúp năm bữa nửa tháng thôi đâu, giúp nhiều năm lắm lận!”

“Giúp nhiều năm rồi, năm, bảy năm rồi. Có lúc tụi em kéo đến phòng mạch gần hai chục đứa!”

“Thoạt đầu, sau giờ làm việc, tụi em kéo vào phòng mạch hết, sau này tụi em nghe mấy bệnh nhân nói sao bác sĩ cho mấy anh em không nhà (homeless) vô nhiều quá, sợ dơ phòng mạch, tụi em sợ bác sĩ mất khách, cho một anh em vào thôi rồi mang tiền bác sĩ cho đưa ra cho các anh em khác.”

Như sợ các bạn nói hết, một người khác tên Châu cắt ngang: “Còn em nè, em là ngày nào em cũng tự vô trong chỗ ổng khám cho bệnh nhân luôn, chính tay bác sĩ cho em lúc 10 đồng, lúc 5 đồng, đi ăn.”

“Hồi đó, em ở dưới đường Main, em ở tù về, không có tiền trả tiền tòa, tới ngày trả tiền tòa mà không có tiền thì phải vô lại tù. Em thì không có ai giúp vì em homeless, em nói: ‘Bác Sĩ Thế, giờ con còn thiếu 50 đồng tiền tòa.’ Bác sĩ nói không sao, rồi cho em 50 đồng, rồi cho em tiền đi tắm rửa, rồi cho tiền đi ăn uống nữa.”

Một người đứng tuổi từ tốn cho biết bác sĩ tốn tiền với họ nhiều lắm, “ngày hơn cả trăm bạc,” vì “có bữa tụi tôi kéo đến mấy chục người.”

“Còn em, cách đây mấy tháng em bị chó cắn, chó cắn em ngay cái ngực, còn cái thẹo nè, cắn đau lắm. Em kéo vô phòng mạch, ông băng cho em, cho thuốc em uống, dặn em hoài, là phải uống thuốc một ngày hai lần, còn cho thêm 20 đồng nữa.” Một người nói.

Người khác kể lể: “Chiếc xe của bác sĩ đi, đậu đằng sau, mỗi ngày em rửa em chùi sạch bóng, em rửa xong bác sĩ cho em 20 đồng. Em nói chỉ làm giúp để cám ơn bác sĩ, không nhận tiền, nhưng bác sĩ không chịu, bắt em lấy tiền vì biết hoàn cảnh của tụi em.”

“Ai cần gì ông cũng giúp, ai đau ổng khám bệnh cho. Nghèo thì khám không lấy tiền, rồi còn cho thuốc, còn dặn phải uống thuốc cho đúng giờ mới hết!”

Họ lắng nghe câu chuyện của nhau, rồi cùng nghĩ về vị ân nhân vừa qua đời.

Một người cất tiếng: “Tụi em biết ông bịnh, vì phòng mạch đóng cửa hoài, vậy mà nghe tin ông mất, sững sờ, buồn quá!”

“Người đâu mà tốt quá không biết, tốt còn hơn Bồ Tát nữa, Bồ Tát đâu có giúp tụi em được gì đâu!”

Một người tên Ba nói: “Lâu lâu, nhớ bác sĩ, em bước qua đường nhìn phòng mạch coi bác sĩ về chưa. Rồi hôm nay thì nghe tin ông chết!”

“Tụi tôi nghèo, nhưng đang tính góp tiền mua cho bác sĩ một vòng hoa, rồi đi viếng...” Người đứng tuổi vừa nói vừa lắc đầu.

Nắng tắt, từ bên hông tiệm Lee's Sandwiches, mọi người chợt cúi đầu rồi lại ngước mắt lên, hướng về phía phòng mạch Bác Sĩ Thế.

Có thể, một số trong họ sẽ tìm cách đến để thăm bác sĩ ở nhà quàn, có thể họ sẽ đến để đưa ông đến nơi an nghỉ cuối cùng.

Và sau đó, họ thôi, sẽ không còn bao giờ được nhận từ ông những săn sóc mỗi khi bệnh tật hay đói lòng.

Họ sẽ nhớ mãi nụ cười hiền hậu của ông, những đồng tiền ông dúi vào tay họ cho những bữa cơm chiều.

Nhưng hơn tất cả, điều mà họ sẽ nhớ nhất chính là cử chỉ của Bác Sĩ Nguyễn Văn Thế - những cử chỉ củng cố cho họ niềm tin, và nhắc nhở họ, rằng lòng nhân là một điều có thật.


Hà Giang/Người Việt

Posted: Wed Mar 02, 2011 7:08 am
by tranphuongdong

Image

Kiếp Người ... Đời Lính ...


Sáng mở mắt thức dậy đi cày trả nợ áo cơm, tối lên giường nhắm mắt khép lại thêm một ngày trôi qua của đời người, hay là khép lại cánh cửa trần gian vĩnh viễn nào ai biết ... Mỗi ngày chạy đua với thời gian trong cái vòng tròn nhỏ bé chỉ có 12 con số với bao nhiêu việc, ngày này sang ngày khác đã vương lại "dấu chân chim" nơi khóe mắt, thời gian vùn vụt lướt qua in hằn trên vầng trán những nếp ưu tư, trăn trở quê hương, dân tộc vẫn còn đang ngập chìm trong thiên đàng máu của lũ bạo quyền CSVN. "Trách Nhiệm" chưa hoàn thành mà đã gần hết một kiếp người, gót giày saut viễn xứ đang di hành về hướng nghĩa trang mà cố quốc vẫn dặm trường cách trở ...!

Đời người chỉ là thoáng phù du ... nhưng thoáng phù du đó là cả một chiều dài ngụp lặn bể dâu trong cuộc sống, thăng trầm trong dòng lịch sử quê hương ... những tháng ngày vô tư nô đùa của tuổi thơ, những năm dài mài đủng đáy quần trên ghế nhà trường, những ngày mòn gót giày xuôi ngược sông hồ làm người lính gìn giữ quê hương ... thời gian đã mang đi tất cả chỉ để lại hai chữ "dĩ vãng" buồn tênh và phần đời viễn xứ buốt đau ...!

Hằng ngày dành chút thì giờ lặng lẽ đi vào dòng tiềm thức, lục lọi tìm kiếm những trang "KBC" còn vương lại trong chiếc balô "ký ức" kể từ ngày gãy súng, để mà thương, để mà nhớ những ngày khoác chinh y ... Để "Tưởng Niệm" những người trong một chuyến quân hành mãi mãi không trở về ... những chuyến hải hành ra khơi không bao giờ trở lại cập bến ... những phi vụ miên viễn không trở lại hạ cánh chạy dài trên phi đạo ... những "Kinh Kha" thời đại trong công tác vượt tuyến, xâm nhập mật khu của giặc và trở thành những chiến sĩ vô danh ; Để "Vinh Danh-Tri Ân" những người đã đem máu đào tô thắm Lá Cờ Hồn Thiêng Sông Núi, đem giòng máu đỏ làm mạch sống cho cả Miền Nam Việt Nam ... những người đã đem cánh tay, cái chân làm hàng rào bảo vệ hai chữ "Tự Do" cho quê hương ... những người hy sinh cặp mắt làm ánh hỏa châu soi sáng chiến trường cho đồng đội dựng cờ chiến thắng. Nói tóm lại ... Người Lính VNCH từ hậu phương ra đến tiền tuyến, người đóng góp sinh mạng, kẻ góp một phần thân thể, người góp máu, kẻ đổ mồ hôi, kẻ công người lao bảo toàn "Danh Dự", chu toàn "Trách Nhiệm " bảo vệ "Tổ Quốc" cho đến một ngày ...

Một ngày nhớ để mà đau ... ngày Miền Nam Việt Nam bị người bạn đồng minh bức tử, Người Lính VNCH bị trói tay trong thế chiến lược trên bàn cờ chính trị của hai khối Tư Bản và Cộng Sản ; Ngân khoản 300 triệu đô viện trợ khẩn cấp về mặt quân sự theo yêu cầu của chính phủ VNCH trong cơn hấp hối, cũng bị người bạn đồng minh nhẫn tâm làm ngơ ... để rồi ngày 30/04/1975 đã trở thành ngày đại tang của quê hương, dân tộc ! Ôi ... VNCH là một tiền đồn tự do với một quân đội hùng mạnh, thiện chiến ngăn chận sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản nơi vùng Đông Nam Á trong suốt hai mươi năm đã sụp đổ tang thương chỉ vì 300 triệu đô !

30/04/1975, một ngày tàn chinh chiến thương đau, uất nghẹn, tang tóc ... Mẹ Việt Nam xót xa, tan nát cõi lòng nhìn những đứa con yêu của tổ quốc hiên ngang đi vào lịch sử ... một số hối hả, kinh hoàng rời bỏ quê hương ... một số rút vào rừng lập chiến khu phục quốc tiếp tục chiến đấu ... hằng trăm ngàn lê lết bên lề cõi sống trong cặp mắt hận thù của kẻ mang danh "giải phóng" ... hằng trăm ngàn đứa con "dại khờ" lần lượt khăn gói đi vào cạm bẫy giết người trong chính sách gian trá "một tháng học tập cải tạo" của lũ cộng sản độc ác, gian tà, khát máu, điêu ngoa, xảo trá. "Một tháng học tập" đó đã bị lũ "đỉnh cao trí tuệ" "giải phóng" thành vài năm cho đến gần 20 năm tùy theo cấp bậc, chức vụ, ban ngành ... Hơn hai trăm ngàn đã nhắm mắt vĩnh viễn trong các trại tù khổ sai, khắc nghiệt vì bị tra tấn, bỏ đói, thủ tiêu, cưỡng bức lao động quá sức người, bệnh hoạn không được chữa trị, vượt ngục không thành, một số đã tự tử trong cơn uất nghẹn tột cùng !

Những người tù "ngã ngựa" may mắn còn thoi thóp, lần lượt rời khỏi trại tù "cải tạo" để bước vào nhà tù "quê hương" với lý lịch "ngụy" lê tấm thân tàn, ma dại dưới sự quản chế của đám quỷ đỏ địa phương trong cái chế độ bạo quyền, thù hằn, phi nhân, vô thần, khát máu, độc tài, độc ác, gian trá và ngu dốt. Với mảnh bằng tốt nghiệp "cải tạo" kèm theo lý lịch "ngụy", nên đi đến nơi nào xin việc làm cũng "được" .... từ chối, thôi thì đành cầm cái mảnh bằng lót "bàn tiếp hậu" ngồi nơi góc đường vá xe, đạp xích lô, kéo xe cây, khuân vác .v..v... để đỡ gánh nặng kinh tế cho cha mẹ, vợ con trong cái thiên đàng "xuống hố cả nước".

Cái mảnh bằng "cải tạo" với lý lịch "ngụy" bị lũ cộng sản ngu dốt, căm thù "giải phóng" ra ngoài cuộc sống của xã hội, bỗng trở thành vị cứu tinh khi chính phủ Hoa Kỳ dưới thời tổng thống Ronald Reagan đón nhận vào Mỹ theo diện tị nạn chính trị trong chương trình nhân đạo. Những người "gãy súng" đang thoi thóp trong biển máu "giải phóng", có bằng tốt nghiệp "cải tạo" từ ba năm trở lên, nghẹn ngào giã từ quê hương, vui mừng thoát khỏi cái địa ngục trần gian, ra đi về hướng ánh sáng ngọn đuốc "Tự Do soi sáng Thế giới" của "Nữ Thần Tự Do" nơi Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ.

Kẻ đến trước, người đến sau đã trở thành "Người Lính Già xa Quê Hương", trong cuộc chiến họ vai sát vai gánh vác giang sơn, đem sinh mạng "Bảo Quốc-An Dân" ... ngày nay trên mảnh đất lưu vong, họ tiếp tục chung tấm lưng gầy đem những chuỗi ngày còn lại đóng góp vào công cuộc đấu tranh giành lại hai chữ "Tự Do" cho quê hương dân tộc đã bị lũ CSVN cướp mất từ một ngày nửa phần còn lại của đất nước rơi vào tay cộng sản 35 năm về trước. Những người trai một thời đi viết sử xanh, bây giờ tóc đã hoa râm cho đến bạc trắng mái đầu, nhưng họ luôn luôn có mặt và tiên phong trong đoàn người biểu tình dưới cơn nắng cháy gay gắt, dưới cơn mưa đẫm ướt hoặc ngồi lạnh căm ngoài trời thắp nến trong những đêm không ngủ ... để lên án, tố cáo tội ác của cộng sản, đả đảo bạo quyền hại dân và bán nước, cũng như đập tan sự xâm nhập của bè lũ cộng sản đã và đang len lõi vào Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại bằng con đường văn hóa vận trong Nghị Quyết 36.

Trong khi những Người Lính VNCH lê tấm thân già cùng đồng bào và giới trẻ hải ngoại miệt mài đấu tranh cho Tự Do hay nói đúng hơn là đấu tranh giải thể bạo quyền CSVN, thì lại có những kẻ nhẫn tâm cởi bỏ manh áo tị nạn, trơ trẻn khoác vào mình chiếc áo gấm Việt kiều trở về tung tiền ăn chơi thỏa thích trên thân thể quê hương mẹ rách nát, dày vò những thân xác mang đầy vết tích tang thương đẫm nước mắt xót xa ; Có kẻ dã man vì chút lợi riêng trở về cúi đầu nhận cái áo gấm bố thí "Việt kiều yêu nước_Khúc ruột ngàn dặm" của đảng, để bắt tay hợp tác với giặc xóa bỏ ngày đại tang của quê hương ...! Những con sâu này không nhiều thì ít đã làm ảnh hưởng đến công cuộc đấu tranh của Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại ... Những con vi khuẩn này đã làm cho thế giới tự do nhận định về bạo quyền CSVN ở góc cạnh chính trị nào ...!

Có người thì suy nghĩ cao siêu hơn, nên ngồi im chờ tình hình thế giới thay đổi CSVN, hoặc "ngây thơ" nằm mơ đợi chờ lũ chó dại gian trá CSVN tự thay đổi, tự khai tử đảng CSVN, tự giải tán chế độ bạo quyền và trao trả đất nước lại cho người dân ; Giở lại trang sử cũ trong quá khứ, nếu lũ chó điên CSBV tôn trọng những gì đã ký kết, thì đã không có khói lửa chiến tranh triền miên phủ dày quê hương suốt 20 năm, không có Tết Mậu Thân 1968 kinh hoàng, dòng lịch sử Việt Nam không có trang sử máu "Tháng Tư Đen 1975" với năm vị tướng lãnh cùng một số Quân-Cán- Chính VNCH phải tự sát và hơn hai trăm ngàn Quân-Cán-Chính VNCH phải vùi xác không manh chiếu rách bó thây trong hai trăm ngôi mộ máu "Trại Cải Tạo" trên hai miền Nam Bắc ... 850 ngàn người Việt không phải ngủ vùi dưới lòng đại dương ... không có thảm cảnh mấy chục triệu người dân phải uống nước mắt ngày này sang ngày khác để mà sống ngay chính trên quê hương của mình ... không có ba triệu người Việt bước chai gót chân tha hương trên khắp thế giới và cũng không bao giờ có lũ "dép râu, nón cối, mũ tai bèo" hút cạn máu người dân, nhưng lại khiếp nhược, ươn hèn quỳ lạy dâng quê cha, bán đất tổ cho giặc để trở thành lũ bạo quyền tư bản đỏ ngày hôm nay. Cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã từng nói "Đối với bọn CSVN, không có hội đàm hay thương thảo, mà chỉ có đem bom ném lên đầu bọn chúng" ... Hiện tại, chúng ta không có bom để ném lên đầu bọn chúng, nhưng chúng ta có quả bom "toàn dân" với mấy chục triệu ngòi nổ đang chờ người châm ngòi để khai tử lũ bạo quyền CSVN.

Năm 1975, Miền Nam Việt Nam bị cúp 300 triệu đô viện trợ về mặt quân sự, nên đã rơi vào bàn tay khát máu của CSBV ... Ngày nay, đồng bào hải ngoại gởi tiền về VN từ tám đến mười tỷ đô hằng năm, lũ cộng sản đã dùng một phần trong số tiền này tung ra Nghị Quyết 36 để làm lủng đoạn và đánh phá công cuộc đấu tranh của Cộng Đồng Người Việt tị nạn cộng sản nơi hải ngoại ... Thử hỏi như thế thì bao giờ bạo quyền CSVN sụp đổ đây ...! Con đường đấu tranh đầy dẫy chông gai, muôn ngàn khó khăn, đòi hỏi sự hy sinh, đoàn kết, kiên gan, bền chí, nhiệt tâm, tài trí, nhân lực, không ỷ lại và nhận thức rõ điểm "Tâm" và "Diện". Dù tình hình thế giới có ảnh hưởng đến Việt Nam như thế nào đi nữa hoặc áp lực lũ bạo quyền CSVN thay đổi đường lối, chính sách, thì cộng sản vẫn là cộng sản. Con đường đấu tranh của chúng ta phải tiếp tục đi cho đến ngày thành công, chuyện nhà chúng ta thì chúng ta phải lo trước, đừng bao giờ ỷ lại, hy vọng từ bất cứ một thế lực ngoại bang nào hay trông chờ một biến chuyển của thế giới thay đổi CSVN ... Cộng sản không thể thay đổi mà phải bị thay thế bởi chính toàn dân Việt Nam.

Con đường viễn xứ kéo dài gần 36 năm ... những gót giày saut tha hương từ từ di hành về bên kia thế giới, bỏ lại đồng đội trên xứ lạ quê người ... Những vì "Sao" của một thời lửa đạn lần lượt rụng rơi ... Trung Tướng Lê Nguyên Khang, cựu Tư Lệnh Sư Đoàn TQLC lừng danh, đã cỡi "Cọp Biển" ra đi vĩnh viễn ngày 12/11/1996 ; Trung Tướng Trần Văn Minh, Tư Lệnh Quân Chủng Không Quân VNCH, nghiêng cánh sắt "Tổ Quốc Không Gian" vĩnh biệt ngày 27/08/1997 ; Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan, cựu Tư Lệnh CSQG với tấm hình lịch sử xử tử tên đại úy đặc công cộng sản Nguyễn Văn Lém tự Bảy Lốp, ra đi vĩnh viễn ngày 14/07/1998 ; Người Lính lớn nhất của nền Đệ Nhị Cộng Hòa, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu kiêm Tổng Tư Lệnh Tối Cao QLVNCH, đã mang bao tâm tư và câu nói bất hủ "Đừng nghe những gì cộng sản nói, mà hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm", lặng lẽ vĩnh biệt toàn thể Quân-Dân- Cán-Chính VNCH" ngày 29/09/2001 ; Chuẩn Tướng "Thiên Thần Mũ Đỏ" Lê Quang Lưỡng tung cánh dù vĩnh biệt ngày 21/09/2005 ; Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, người hùng của Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, mang chiến dịch "Lôi Phong" lịch sử "Tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị" ra đi vĩnh viễn ngày 22/01/2007 ; Hải Quân Phó Đô Đốc Chung Tấn Cang vượt bao hải lý "Tổ Quốc Đại Dương" về bên kia thế giới ngày 24/01/2007 ; Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng QLVNCH, vĩnh viễn từ giã ba quân, tướng sĩ ngày 22/01/2008 ; Đúng ba tháng sau, vào ngày 22/04/2008 ... Trung Tướng Dư Quốc Đống, cựu Tư Lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù đã bung cánh dù vĩnh biệt theo vị cựu tư lệnh tiền nhiệm là Đại Tướng Cao Văn Viên ; Trung Tướng Cao Hảo Hớn, Trung Tâm Trưởng Trung Tâm Điều Hợp Bình Định và Phát Triển Trung Ương kiêm nhiệm Phụ Tá Quốc Phòng, từ trần ngày 25/02/2010 ; Chuẩn Tướng Huỳnh Thới Tây, Phụ Tá Tư Lệnh CSQG kiêm Trưởng Khối Cảnh Sát Đặc Biệt Trung Ương, khép mắt vĩnh viễn ngày 12/09/2010 .v..v... Những "Người Lính Già xa Quê Hương" còn lại, chẳng lẽ rồi đây cũng ra đi mãi mãi trên bước quân hành lưu vong tủi nhục ; Những "KBC" còn kẹt lại trên quê hương, các anh em Thương Phế Binh VNCH, không lẽ mai này cũng khập khễnh chống chiếc nạng gỗ hoặc lết lê ôm nỗi "Quốc Hận" đi vào lòng đất mẹ bị ngập chìm trong bể máu của lũ cộng sản vô thần. Cuộc đời của những người hy sinh máu xương để bảo vệ Tổ Quốc, những người mang sinh mạng đặt trên đầu súng để cho Quê Hương, Dân Tộc được sinh tồn ... Không lẽ giây phút cuối của cuộc đời phải kết thúc đắng cay, chua xót như thế này sao ...!!!

Con đường viễn xứ, con đường vong quốc và cũng là con đường đấu tranh, tính theo thời gian thì đã kéo dài trên 35 năm, nói về không gian thì con đường này kéo dài từ trong ngục tù trên quê huơng Việt Nam đến tận các quốc gia tự do trên thế giới có dấu chân của người Việt tị nạn cộng sản ... Người thì vẫn miệt mài tranh đấu ... Người thì no cơm, ấm áo ngoảnh mặt thờ ơ ... Người thì "áo gấm về làng" tiếp máu hoặc bắt tay với giặc ... Người thì vung vít, khoa tay, múa chân đấu tranh trên salon, trên bàn tiệc với rượu thịt ê chề, chờ tình hình thế giới thay đổi bạo quyền CSVN ... Người thì lần lượt trở về cát bụi ...!

Hai mươi năm binh lửa, Người Lính VNCH hiện diện trên khắp các mặt trận, trực diện chiến đấu đánh đuổi bọn CSBV xâm lược ... Hơn bảy ngàn ngày đêm, Người Lính VNCH có mặt trên mọi nẻo đường đất nước, lấy máu hồng của mình viết hai chữ "Tự Do" cho Miền Nam Việt Nam ; Ba mươi lăm năm vong quốc, Người Lính VNCH miệt mài đấu tranh, để giành lại hai chữ "Tự Do" đã mất trên quê hương, tổng cộng 55 năm, hơn nửa thế kỷ, gần hết một kiếp người ... Những đứa con yêu của Tổ Quốc chiến đấu không mệt mỏi từ lúc tuổi còn son trẻ cho đến tuổi "nhân sinh thất thập ..." mái tóc đã ngã màu sương tuyết ... Những người hùng của một thời lửa đạn, giờ đây là những "Người Lính già không quân trang" chật vật với thời gian hạn hẹp còn lại của cuộc đời, vẫn tiếp tục bước đi trên trận tuyến Quốc-Cộng còn dang dở, cho đến một ngày ... dù tâm vẫn tràn đầy, nghị lực chưa vơi, nhưng ... thân xác đã hao gầy, sức đã mòn, bình dưỡng khí trong hai lá phổi đã cạn, đôi chân cứng đá mềm giờ đã ngả nghiêng, cặp mắt mờ mờ thấp thoáng cổng nghĩa trang, mà con đường đấu tranh thì vẫn "Đường trường xa ..."....!!!

Dec. 20, 2010
"Mũ Đen" Hoàng Nhật Thơ.

Posted: Sun Mar 06, 2011 7:07 am
by thienthanh
Image

CHÀO CỜ VIỆT MỸ & CÁCH CẮM CỜ



1/ Quốc Ca Nếu có hơn hai bài quốc ca của những Quốc Gia tham dự thì luôn luôn những bài quốc ca của nước ngoài phải được hát trước , và quốc ca Hoa Kỳ hát sau cùng và liên tục ( không ngưng nghỉ giữa các bài Quốc Ca ) 2/ Quốc Ca hay Quốc Thiều , trước đây chúng ta thường chỉ cho chơi bản nhạc Quốc Thiều Hoa Kỳ ( mãi gần đây mới có một vài buổi lễ cử một người đứng lên hát Quốc Ca Hoa Kỳ ) , trong khi đó bài Quốc ca VNCH thì được toàn thể khách tham dự cất tiếng ca vang vọng...
CHÀO CỜ VIỆT MỸ & CÁCH CẮM CỜ

Ngày xưa khi còn tàu còn biển , các chiến sĩ Hải Quân, cứ mỗi thứ hai , hầu như tất cả các đơn vị Hải Quân , tất cả các căn cứ HQ trên khắp các vùng đất nước, đến các chiến hạm ở Sài Gòn , cứ thứ hai đều phải dự lễ chào cờ , sau lễ chào cờ , tất cả nhân viên phải nghe một bài đọc : Câu Chuyện Dưới Cờ " của Đề Đốc Tư Lệnh HQVNCH Trần Văn Chơn....
Sau năm 1975 , Công Đồng Người Việt Hải Ngoại nói chung , Các hội đoàn , tập thể quân nhân nói riêng , mỗi khi có lễ hội đều có làm lễ chào cờ ( Mỹ Việt ) , Phút mặc niệm.....
Khi chúng ta làm công việc đó không hề tìm hiểu , các nghi thức của người bản xứ ( Mỹ ) mà chỉ làm theo thói quen , tuỳ sự suy diễn....Theo phong tục của Người Việt chúng ta thì luôn luôn lễ phép " tiên học lễ , hậu học văn "mà, bởi thế cho nên chúng ta giữ lễ với Lá Cờ và bài Quốc Ca của Mỹ là " Tiên chủ hậu khách ", đó là nói về bài Quốc ca hay dù chỉ chơi Quốc Thiều....Còn vấn đề vị trí của Lá Cờ Mỹ và vị trí của lá cờ VNCH chúng ta cũng cung kính luôn đặt để lá cờ Mỹ ở vị trí trung tâm , vì thường có ba lá cờ cho mỗi một buổi lễ hội , ( Cờ VNCH , Cờ Mỹ , Cờ hội đoàn , hoặc quân binh chủng )....Có lẽ chúng ta làm những điều đó đã tới khoảng hơn ba mươi năm , mà không một ai thắc mắc hay khiếu nại , cho đến một ngày đẹp trời có một buổi lễ nơi Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ ( Freedom Park ) Buổi lễ này có một số khách là những người thuộc cơ quan chính quyền của thành phố Westminster tham dự , những người này họ nói cho ban tổ chức biết những điều sai lầm mà chúng ta đã mắc phải cần thay đổi :

1/ Quốc Ca Nếu có hơn hai bài quốc ca của những Quốc Gia tham dự thì luôn luôn những bài quốc ca của nước ngoài phải được hát trước , và quốc ca Hoa Kỳ hát sau cùng và liên tục ( không ngưng nghỉ giữa các bài Quốc Ca )
2/ Quốc Ca hay Quốc Thiều , trước đây chúng ta thường chỉ cho chơi bản nhạc Quốc Thiều Hoa Kỳ ( mãi gần đây mới có một vài buổi lễ cử một người đứng lên hát Quốc Ca Hoa Kỳ ) , trong khi đó bài Quốc ca VNCH thì được toàn thể khách tham dự cất tiếng ca vang vọng ....Đây là một điều làm nghĩ kỹ lại chúng ta đã không công bằng , bởi thế họ đề nghị nếu đã hát thì phải hát cả hai bài Quốc Ca , và nếu chỉ Chơi Nhạc ( Quốc Thiều )thì cũng nên chơi nhạc luôn cả hai bài chứ đừng một bài chỉ đờn một bài hát
3/ Vị Trí của Cờ Hoa Kỳ luôn luôn nằm bên cạnh trái đối với khán giả và dĩ nhiên chiều cao cũng như khuôn khổ của các lá cờ phải bằng nhau ...Nếu muốn đặt cờ Hoa Kỳ ở trung tâm , thì cờ Hoa Kỳ phải có chiều cao cao hơn các lá cờ kia hơn thế các lá cơ kia phải thụt lùi ở hàng sau chứ không được đi ngang hàng

"Nói có sách , mách có chứng " họ đã in ra những bản nghị định thư (protocol ) chỉ định hướng dẫn về cách chào cờ , đi cờ và cắm cờ đưa cho chúng ta đọc để học hỏi và thực hành , ngoài ra họ cũng phổ biến những link của các web site có viết những bài hướng dẫn đó để chúng ta tự tìm hiểu và kiểm chứng :

http://www.state.gov./s/cpr/what/c18027.htm
Protocol Frequently Asked Questions
Q: How do you address the President of the United States?
A: An envelope is addressed as:
The President
The White House
Washington, D.C. 20500
The salutation would be: Dear Mr. President
Q: How do you address the Secretary of State?
A: When addressing an envelope to the Secretary of State, it would be:
The Honorable
Hillary Rodham Clinton
Secretary of State
Washington, D.C. 20520
The salutation would be: Dear Madam Secretary
Q: Does a person retain the honorific title "The Honorable" after leaving the position for which they hold it?
A: Yes, a person who has been in a position that entitled them to "The Honorable" continues to retain that honorific title even after he or she leaves that position.
Q: If both the U.S. national anthem and the national anthem of a foreign country were being played at an event (in the United States), which one would be played first?
A : Traditionally, as a courtesy, the foreign anthem is played first.
Q: What is the order of display for the U.S. flag and a flag of a foreign nation?
A: The two flags should be on separate staffs. Both flags should be the same size and flown at the same height. The U.S. flag is flown in the place of honor, which is to the viewer's left.
Q: How is a meeting between a foreign leader and the President of the United States arranged?
A: The President, working with the White House staff, schedules meetings with foreign chiefs of state and heads of government. The country's Ambassador in Washington, D.C. works with the President's National Security Advisor and his staff to set a date. When the date is set, the Office of the Chief of Protocol coordinates with the foreign Ambassador to the United States and the American Embassy overseas to make all of the arrangements from arrival through departure.
The Office of the Chief of Protocol coordinates approximately 350 visits per year by foreign leaders, foreign ministers and other high-ranking foreign dignitaries to Washington, D.C.
Q: Is the United States the only country with a Chief of Protocol?
A: No. There is a counterpart, usually called the Chief of Protocol, in almost every country.
Diplomatic protocol is a very historic profession dating back to the Babylonians who initiated the first recorded exchange of envoys with other kingdoms. The word "protocol" is the combination of two Greek words: "Proto," meaning first, and "colon," meaning glued. The "glued" portion of the word is derived from the Greek diplomatic tradition, or protocol, requiring that any diplomatic dispatch have a content summary glued to the outside of its case so that it could be read first and quickly
Q: What is the Blair House?
A: The Blair House is the building officially known as The President's Guest House. It is located on Pennsylvania Avenue across the street from the White House and its principal use is as a guest house for foreign chiefs of state and heads of government visiting the President.
It is named the Blair House after the Blair Family who owned he residence and lived there from 1835 until 1943. In 1943 it was purchased from the family by President Franklin Roosevelt for use as a guest house for foreign leaders. The Blairs were the nearest neighbor of every President from Andrew Jackson through Franklin Roosevelt. A great deal of American history occurred in the house when the Blairs lived there. The term "kitchen cabinet" was born in the house when Andrew Jackson's friends and advisors would gather in the Blair's kitchen.
For a wonderful website about the Blair House, including an interactive tour, visit www.blairhouse.org.
Q: When a chief of state, head of government or foreign dignitary from another country is in the United States, does the Secret Service provide all security or is the home country's protection used or a combination of each?
A: When a foreign chief of state or head of government visits the United States, the Secret Service provides security for them from entry in the United States through departure. This includes not only Washington, D.C. but anywhere in the United States they may travel.
A foreign minister is provided security by the State Department's Diplomatic Security (DS) Service. DS may also provide security for foreign dignitaries who are not foreign ministers. For example, Prince Charles and his wife Camilla, the Duchess of Cornwall, were provided security by DS during their visit to the United States.
Q: What is the process for accrediting a new Ambassador to the United States?
A: A government must request agrement and await approval for an individual to be accepted as Ambassador to the United States. Agrement often is requested in the form of a diplomatic note from the Embassy in Washington to the Department of State or from the Ministry of Foreign Affairs to an American Embassy abroad. After agrement is approved, the local embassy in Washington should be in touch with the Office of Protocol Diplomatic Affairs Division regarding the arrival of the new Ambassador in Washington.
The Embassy should submit the Form DS-2008 (Notification of Termination of Diplomatic, Consular, or Foreign Government Employment) for the previous Ambassador. After the new Ambassador has arrived in Washington with the necessary documents, the Office of Protocol will arrange for him/her to present copies of credentials to the Secretary of State or her designee. The Embassy should submit the Form DS-2003 (Notification of Appointment of Foreign Diplomatic and Career Consular Officer) for the new Ambassador. The final step is for the new Ambassador to present credentials to the President at a White House Credentialing ceremony.


Thế rồi, có những hội đoàn vì thói quen , vì không biết nên vẫn cứ chào cờ theo nghi thức cũ có nghĩa là chào cờ Hoa Kỳ trước rồi mới chào cờ VNCH ( làm như vậy là sai ) " Nhập gia tuỳ tục , đáo giang tuỳ khúc ".... Nếu vì không biết thì nên tìm hiểu và học hỏi , còn vì thói quen thì nên cố gắng bỏ dần những điều sai lầm đó đi....Lại có một số người cứng lòng, biết mà không làm không nghe theo...Chả hiểu vì sao (?)
Nếu như người Hoa Kỳ nói rằng Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ , bây giờ không còn đại diện cho Quốc Gia VN nữa mà chỉ là lá cờ đại diện cho những Cộng Đồng Người Việt tỵ nạn cộng sản , bởi thế không được hát ngang hàng với Quốc Ca Hoa Kỳ , nếu thế lại là lẽ khác , đằng này họ chỉ yêu cầu chúng ta thực hiện cho đúng nghi thức mà quốc hội của Hoa Kỳ đã đặt thành luật hơn nữa khi làm những điều đó không hạ phẩm giá của lá cờ Vàng VNCH mà trái lại là khác...Thế mà họ không chịu tuân theo thì, Xin mượn lời của ông Du Tử Lê mà vò đầu bứt tóc than rằng :"Chuyên dương gian không thể hiểu "

Xin quí vị hay có lòng " vác ngà voi " thích tổ chức lễ hội hãy vào link trên để tìm hiểu , để cùng thực hiện những buổi lễ chào Cờ Việt Mỹ đồng nhất giống nhau, chúng ta nên chứng tỏ cho người Hoa Kỳ thấy rằng chúng ta cũng văn minh và phục thiện....

Posted: Wed Mar 09, 2011 1:57 am
by khieulong
Image

Máu Lửa...Charlie
Mũ Đỏ Đoàn Phương Hải

- Tưởng nhớ Anh Năm Nguyễn Ðình Bảo, Khóa 14 Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 11 Nhẩy Dù/QLVNCH.
- Nhớ "Ðệ Nhất Ẩm Sĩ, Cuồng Thái Y" Tô Phạm Liệu, Y Sỹ Trưởng Tiểu Ðoàn 11 Nhẩy Dù/QLVNCH.
- Các chiến hữu đã ở lại Charlie..
- Gửi Mễ, Duffy, và các bạn hữu để nhớ Charlie.

Những quân mạt-chược màu đỏ màu xanh, những vệt nắng lung linh xuyên qua khe lá pha trộn với màu áo hoa rừng của những người lính Nhẩy Dù trong buổi trưa hè, dưới tàng cây rợp bóng của vườn Tao Ðàn, đã tạo cho tôi một cảm giác thật êm ả, thoải mái dễ chịu.

Ðang mãi mê xoa thì anh Năm kêu đi họp, làm cả bọn bật đứng lên. Trong đơn vị, chúng tôi có thói quen kêu nhau bằng anh, với cấp bậc đi sau. Tiếng "Anh" nghe gần gũi thân quen và đầy tình cảm, như trường hợp ông Tiểu Ðoàn Trưởng của tôi hiện nay, chúng tôi vẫn kêu bằng Anh Năm, vì ông mang cấp bậc Trung Tá.

Tiểu đoàn 11 Nhẩy Dù của chúng tôi được không vận ra Pleiku, sau đó vào vùng hành quân để giải tỏa áp lực địch đang đè nặng lên hai tỉnh Pleiku và Kontum.

Giã từ vườn Tao Ðàn sau hơn một tháng dưỡng quân với nhiệm vụ bảo vệ Dinh Tổng Thống, cầu Xa Lộ, Hóc Môn, Phú Lâm, Bà Ðiểm. Những địa danh này là cửa ngõ chính mà địch thường lợi dụng xâm nhập thủ đô Sàigòn. Tạm biệt Ðêm Màu Hồng, hủ tiếu gà, cá bờ sông, những tàng cây đầy bóng mát trong vườn Tao Ðàn và Sàigòn, nơi đầy những biến động trong trận chiến tranh dành quyền lực của các tướng lãnh và các phe phái chính trị?

Ngày 13 tháng 3 năm 1972, tôi ghi lại những nét đầu tiên trong trang nhật ký hành quân.
Những cơn gió lạnh của rừng núi Pleiku làm tôi rùng mình, kéo cao cổ áo saut. Những đỉnh núi cao với nhiều hình thể lạ lùng in đậm trên nền trời, trông thật đẹp và hùng vĩ. Biển Hồ với màu nước xanh phẳng lặng.

Tượng Ðức Mẹ trên đỉnh đồi cao, hiền dịu, bao dung, hai cánh tay mẹ giơ ngang trái tim như đang ôm cả bầu trời. Lòng tự nhiên lắng đọng, tôi hít thật sâu cái lạnh của núi rừng, nhìn những ngôi sao đổi ngôi trên bầu trời, tôi cầu xin bình an cho bạn bè và đồng đội.

Mấy ngày tạm ở Pleiku, đêm nào tôi cũng ra hội quán Phượng Hoàng với Thăng "Fulro", Long "đất", Kỳ, Xuân.. bên Không Quân, để nhắc đến bạn bè, kể cả những người đã ra đi trong cuộc chiến.

Tuần lễ sau, đơn vị tôi theo quốc lộ 14 lên Kontum, Tân Cảnh. Lâu lắm mới hành quân trở lại vùng 2, vẫn núi đồi hùng vĩ năm nào, nhưng quốc lộ, xóm làng đã thay đổi nhiều, bom đạn chiến tranh làm loang lổ mặt đường, cầu cống hoàn toàn đổ gãy, dân chúng sống thật nghèo nàn dọc theo hai bên quốc lộ.

Ðóng quân tại Diên Bình, tôi đã xúc động khi thấy tháp chuông nhà thờ sụp đổ, cả dẫy nhà nguyện phía sau chỉ còn là những đống gạch vụn hoang tàn. Mấy năm trước tôi bị thương trong trận đánh khai thông quốc lộ này, tôi đã nằm trong dẫy nhà nguyện, tôi không thể quên cha Joe, vị cha xứ người Pháp đã sống và chết trên ngôi giáo đường cao nguyên với những con chiên ngoan đạo của cha đến từ các giáo phận miền Bắc, trong những năm 54 chia đôi đất nước.

Từ Tân Cảnh, Charlie ẩn hiện trên nền trời ảm đạm mờ sương. Charlie gồm 3 đỉnh đồi, cao độ trên dưới 1000 thước, nối liền nhau bằng những sườn đồi thoai thoải. Phía bắc là ngã ba biên giới Việt-Lào-Cambốt, phía đông bắc là quận Tân Cảnh, và xa xa về phía nam là tỉnh lỵ Kontum chìm trong rừng xanh núi đỏ.

Mặt trận B3 Cộng Sản gồm 3 sư đoàn 2, 3, 320, du kích địa phương và các trung đoàn pháo, phòng không, đang liên tục tấn công tạo áp lực nặng nề cho Quân Ðoàn II. Cộng quân công khai xử dụng xe Molotova tiếp tế quân trang, quân dụng cho mặt trận B3 trên hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh và Charlie đã trở thành cái gai nằm ngay trên khoảng "xa lộ" tiếp tế chính yếu này của địch.

Từ ngã ba biên giới, giòng sông Pôkô dậy sóng, qua núi băng rừng, đổ về chảy dọc theo quốc lộ 14. Gần đến Tân Cảnh có một nhánh nhỏ ào ào như thác đổ chảy gần căn cứ Charlie. Dọc theo những đỉnh núi chập trùng, Charlie cách Tân Cảnh hơn 10 cây số về phía tây nam; phía bắc Charlie là căn cứ Yankee, căn cứ 5, căn cứ 6, phía nam Charlie là căn cứ Delta, Hồng Hà, Mêtrô, Võ Ðính.. Lữ Ðoàn 2 Nhẩy Dù rải đều quân trên các căn cứ, tạo thành một vòng cung với nhiệm vụ phát giác và tiêu diệt địch, để bảo vệ quốc lộ 14 và vùng đồng bằng duyên hải của Quân Khu II.

Charlie, Delta, Hồng Hà.. hay Võ Ðịnh, là những tên được Bộ Chỉ Huy Hành Quân đặt ra cho Không Quân, Pháo Binh, dễ nhận diện khi cần yểm trợ.

Tiểu Ðoàn 11 Nhẩy Dù được trực thăng vận vào Charlie xong xuôi, Ðại úy Hùng, đại đội trưởng đại đội 113 đóng quân phía bắc Charlie, 3 cây số gần chân núi Yankee, tạm gọi là C1. Trung úy Thinh, đại đội trưởng 111, đóng tại C hay Charlie. Ðại úy Hùng, đại đội trưởng 112, Ðại úy Nho, đại đội trưởng 110, Bộ Chỉ Huy Tiểu Ðoàn và đại đội 114 của Trung úy Cho đóng tại C2, đỉnh cao phía nam cách Charlie hơn 500 thước. Từ điểm cao C2 này, tiểu đoàn xử dụng để tiếp tế hay khi cần tăng viện, một cách dễ dàng hơn.

Ném mạnh cục sỏi ra xa, đá tung cục đá dưới chân, anh Năm nhăn mặt cau có, sau một ngày vần vũ trên trực thăng đổ quân và quan sát địa thế quanh Charlie. Tôi biết anh đang tức giận với nhiệm vụ hành quân. Ðưa tay chỉ dẫy núi cao phía tây, trùng trùng điệp điệp, Sư đoàn 320 Cộng quân và các đoàn xe Molotova của địch đang tự do di chuyển, trong khi đó thì nhiệm vụ của tiểu đoàn bằng mọi giá giữ vững Charlie, có nghĩa là tử thủ Charlie.

Ráng chiều đỏ rực đang phủ nhòa cảnh vật, Tiểu Ðoàn 11 Nhẩy Dù vừa qua ngày đầu tiên trên chiến địa!

Nằm trên võng, lắng nghe những âm thanh kỳ lạ của núi rừng trong buổi sớm mai, những tia nắng đầu ngày rơi từng vệt tròn trên poncho, tiếng chim hót, tiếng suối reo, hơi thở của rừng cây, mùi đất mới, vệt khói mong manh từ ly cà phê buổi sớm tạo cho tôi cảm giác khó tả. Tôi uể oải vươn vai nhìn xuống thung lũng, những vạt sương sớm giăng mắc trắng đục trên lưng đồi.

Anh Năm, Mễ, tôi, Duffy (Cố Vấn Mỹ Liên Lạc), Liệu (Y Sỹ Trưởng Tiểu Ðoàn) và các đại đội trưởng bàn thảo kế hoạch phòng thủ, các hỏa tập cận phòng, chung quanh và ngoài căn cứ. Anh Năm gằn giọng chỉ tay về những đỉnh núi xa xa:

- Mình chỉ có vài đỉnh đồi để vinh quang hay gục ngã. Tao đã xin Lữ Ðoàn để lại một đại đội tại Charlie, còn toàn bộ Tiểu đoàn phải di chuyển hàng ngày để phát giác và tiêu diệt địch sớm hơn, nhưng Lữ đoàn không chấp thuận và lệnh phải giữ Charlie bằng mọi giá. Như thế là mình mất thế thượng phong, chỉ thủ và không tấn công.

Hổ "xám" chiến trường nhún vai bất mãn vì cái lệnh hành quân kỳ cục, phải tử thủ Charlie khi biết địch hơn mình về quân số và vũ khí gấp mấy mươi lần! Ðưa mắt nhìn nhau, với kinh nghiệm nhiều năm trận mạc, chúng tôi biết đang bị đâm thấu tim bằng một lệnh hành quân quái ác.

Lính tráng đào hầm hố, giao thông hào ngang dọc vị trí đóng quân. Tôi xin trực thăng tăng cường tối đa thuốc men, đạn dược, để sẵn sàng phòng thủ. Các đại đội tung quân lục soát xa căn cứ, nhưng lần nào cũng đụng mạnh, khi Mễ tiến chiếm các cao điểm phía nam. Lợi dụng địa thế hiểm trở, địch đóng chốt trong các hang đá, trên các cao điểm mà bom đạn không thể "lách" vào các khe núi để "móc" chúng ra. Ðịch gài trận địa pháo và bố trí phòng không dày đặc, gây tổn thất cho đơn vị mỗi khi tấn công.

Ngày 6 tháng 4, Tiểu Ðoàn 2 Nhẩy Dù tại căn cứ Delta, phía nam Charlie bị pháo và tấn công. Tiểu Ðoàn 11 Nhẩy Dù bên Charlie theo dõi trận đánh qua máy truyền tin. Giao tranh suốt đêm, có lúc địch đã chiếm nửa căn cứ, sau lại bị đánh bật ra, rồi mờ sáng hôm sau "Ngọc Ngà" thằng bạn cùng khóa báo cáo chiếm lại Delta, địch thảm bại tháo lui, để lại nhiều tổn thất về nhân mạng và vũ khí.

Chiêu một ngụm cà phê, Anh Năm chỉ trên bản đồ và nói:

- Rút kinh nghiệm trận đánh đêm qua, địch sẽ pháo mình liên tục, sau đó sẽ tung cả trung đoàn để chiếm lại Charlie. Nhắc "tụi nhỏ" dè sản đạn dược, căng thêm tối đa phục kích tự động, tung tiền đồn ra xa, tu bổ thêm hệ thống phòng thủ.

Trước khi về hầm trú ẩn, Anh Năm nói với lại với tôi:

- "Khều", mày và Mễ move vị trí ra xa tao một chút, mỗi người một góc, lỡ có gì thì còn thay nhau chỉ huy.

Hai ngày kế tiếp, địch bắt đầu pháo trên cả 3 căn cứ. Theo tình báo và tài liệu tịch thâu từ tù binh, địch chắc chắn xử dụng Sư Ðoàn 320 tấn công và tiêu diệt Charlie, để chiếm lại con đường huyết mạch dùng tiếp tế, chuyển quân về đánh Tân Cảnh, Kontum, trong chiến dịch mùa hè.

Ngày 9 tháng 4, hỏa tiễn và đại pháo 130 địch cầy tung hệ thống phòng thủ, sau 4 giờ pháo kích, với hàng ngàn quả đạn công phá. Ðịch bắt đầu tấn công Charlie, trong khi đó chúng vẫn đồng thời pháo Bộ Chỉ Huy Tiểu Ðoàn.

Ðại đội 111 chống trả mãnh liệt. Pháo binh, khu trục, trực thăng võ trang trút đủ loại bom đạn lên đầu địch. Sau nhiều đợt xung phong không kết quả, địch rút, để lại hàng trăm xác chết với vũ khí ngổn ngang đầy ngất sườn đồi.

Ðịch dùng pháo 130 với đầu nổ chậm, đạn chui sâu xuống lòng đất, rồi nổ tung lên. Hầm hố nào chịu đựng cho nổi với tầm bắn xa gần 30 cây số, nhanh và chính xác. Pháo 130 là vũ khí tối tân cực kỳ độc hại, bỏ xa pháo binh 105, 155 hay 175 mà ta đang xử dụng!

Ðêm xuống thật nhanh, Tiểu Ðoàn 11 Nhẩy Dù đang chuẩn bị cho một định mệnh tàn khốc trong những ngày sắp tới. Nơi những rặng núi mịt mùng phía tây, từng đoàn xe Molotova địch đang di chuyển, ánh đèn pha sáng rực góc rừng. Kêu pháo bắn tiêu diệt, pháo bắn không tới, kêu Không Quân oanh kích thì không có phi vụ, kêu Duffy xin B52, những vẫn mịt mù vô vọng.

- Mình làm gì bây giờ?! - Anh Năm buông tiếng thở dài với khuôn mặt buồn bực, rồi nói tiếp - Tử thủ một ngọn đồi chờ địch pháo cho tan nát, sau đó ào ào tấn công. Cứ đà này tiếp diễn hơn tuần lễ, chắc chắn mình sẽ tổn thất nặng. Nhớ ngày ở Hạ Lào, Dambe, địch tung cả trung đoàn, nhưng tao coi như "pha", vì mình có địa thế để vùng vẫy, không có cái nhiệm vụ "tử thủ". Còn bây giờ thì khác, phải "ôm lấy" Charlie để ăn pháo và chấp nhận thương đau..

- Không lẽ sinh nhật tháng này cũng là ngày đi tàu suốt tại đây? Bếp lửa gia đình mịt mờ xa tắp cuối phương nam!

- Thôi ngủ đi ông ơi. Mình chiến trận nhiều rồi, đâu có sao.

- Nhưng lần này tôi thấy không ổn. Hồi chiều Anh Năm mặc lại bồ đồ Hoa Huyết Ðỏ, tôi tính nói mà sợ ông giận.

- Bộ đồ đó xui bỏ mẹ! Ông nhớ kỳ quốc lộ 22 giải tỏa Thiện Ngôn, chút xíu là tịch rồi...

- Mẹ kiếp, cứ mỗi lần ông ấy bận đồ đỏ là đụng liên miên. Sáng mai tôi phải nói ông ấy vứt mẹ nó đi.

- Dị đoan quá, nhưng không tin không được.

Trao đổi vài câu tâm sự với Toubib Liệu, tôi thiếp đi trong giấc ngủ nặng nề, đầy mệt mỏi trong cái lạnh của rừng núi Tây Nguyên.

Vừa viết xong chữ "Ngày 10 tháng 4" trên cuốn nhật ký hành quân thì địch bắt đầu pháo ngay Bộ Chỉ Huy. Nép mình trong giao thông hào, tôi kêu máy cho các đại đội. Tất cả đều đang bị pháo. Tiếng rít của hỏa tiễn và pháo 130 ly làm tê liệt lệnh lạc. Tôi nói như hét trên máy truyền tin, báo cáo lên Lữ Ðoàn để xin phi cơ quan sát lên vùng với hy vọng thấy vị trí pháo địch. Lữ Ðoàn có vẻ không tin là pháo 130. Tôi bực tức cúp máy và chửi thề vài câu cho bớt giận!

Ðắng môi, khô miệng vì căng thẳng mỗi khi nghe tiếng "depart" của pháo, vài giây chờ đợi, giây phút ngắn ngủi lằn ranh của tử sinh.

- Nó pháo ra ngoài, hình như đạn rơi về phía suối?

- Ừ, nó pháo ra ngoài...

Thật ra đó chỉ là ảo giác, nói để trấn an, nói để hy vọng, nói để tự dối lừa mình, nói để biết mình đang sống trong nỗi chết gần kề.

Tôi nghe tiếng phi cơ quan sát trên đầu. Vào tần số Không Lực, nhận ra giọng Xuân trên chiếc L19. Tôi hét lên:

- Mở mắt ra coi tụi nó đặt pháo ở đâu? Hướng dẫn thằng "Fulro" giệt nó đi cha nội. Nó hỏi thăm tao hơi nhiều rồi đó.

- OK. Có đám thằng Long "đất" khu trục vào vùng rồi đấy.

Căn cứ lãnh gần 3000 quả 130 nổ chậm và hỏa tiễn. Ðịch bắt đầu tấn công...

Hình như địch muốn dò xét khả năng phòng thủ và hỏa lực Không, Pháo yểm, nên chúng vừa dứt pháo thì lại tấn công, lúc hướng đông, lúc hướng nam, xong chúng lại rút... Trò chơi tiếp diễn suốt ngày. Rõ ràng địch đánh thăm dò và pháo 130 vẫn là trò chơi hữu hiệu và độc hại nhất, vừa tiêu hao, vừa làm thần kinh căng thẳng. Tiền sát viên của địch trên những hốc núi cao dùng ống nhòm điều chỉnh pháo mỗi khi thấy binh sĩ di chuyển. Ðể tránh tối đa thiệt hại, chúng tôi chỉ di chuyển trong giao thông hào kiên cố quanh vị trí đóng quân.

Trực thăng tản thương cố gắng mấy lần, nhưng không thể đáp được vì hỏa lực phòng không quá mạnh của địch, toàn 12 ly 7 từ các khe núi bắn ra. Trực thăng võ trang, không quân oanh kích ít gây tổn thất cho địch. Duffy xin được mấy phi vụ B52 sẽ thả lúc nửa đêm. Sau khi cho tọa độ, anh Cố Vấn hét lên vì xin thả quá gần, chỉ cách vị trí đóng quân hơn 500 thước.

Ðêm xuống thật nhanh, sao lấp lánh trên cao, núi đồi đen thẫm đầy đe dọa, những đốm lửa bập bùng trong đêm sau các cuộc oanh kích trong ngày làm những bụi cây chập chờn di động như bóng địch quân. Tiểu Ðoàn 11 Nhẩy Dù chống mắt đợi chờ, mệt mỏi đói khát sau mấy ngày đêm ăn pháo và tấn công của địch. Tựa lưng vào giao thông hào chờ B52 tới thả bom, tôi buột miệng:

- Anh Năm, sao anh khoái bộ hoa dù Angle quá vậy? Bộ này coi bội sui lắm, hay là anh thay đi, có tin có lành mà Anh Năm.
- Sui cái gì, tụi mày chỉ dị đoan. Bộ đồ vừa đẹp lại vừa hiếm, tao kiếm mãi mới ra đấy!
Mễ phang thêm một câu:
- Lần trước ở Dambe, đụng mấy ngày đêm, Anh cũng bận bộ đồ này.
- Lần đó thắng lớn, tao ngồi trên thiết giáp điều quân như Patton, dứt điểm một trung đoàn của Công Trường 9 như lấy đồ trong túi. Vũ khí thu như núi, rửa mặt cho Quân Ðoàn III. Nghĩ lại tao còn thấy khoái.
- Nhưng mình mất một đại đội trưởng và hai trung đội trưởng.
- Thì biết làm sao. Chiến tranh có những tổn thất mà tao đâu có bao giờ mong muốn.
Toubib Liệu thêm một câu:
- Cú giải tỏa quốc lộ 22 gần Thiện Ngôn, một mảnh cối vào mắt, nằm Cộng Hòa cả tháng, bộ ông không nhớ sao?

Tôi châm thêm ngòi:

- Hôm vi vút ở Văn Cảnh kỳ đóng quân ở vườn Tao Ðàn, chút xíu có chuyện lớn, bộ anh quên rồi hả? Cứ mỗi lần Anh "chơi" bộ hoa dù Angle này lên là có chuyện.. Vía nó nặng lắm, hay là anh cho tôi đi..

- Ðể mai tính, giờ tối rồi, còn nửa giờ nữa là đúng nửa đêm, check lại với Duffy chưa? Chúng mày chỉ lắm chuyện, hay là tụi mày muốn "chôm" bộ đồ của tao. Áo quần thì ăn thua mẹ gì mà sui với hên.

- Rồi Anh Năm! Mấy cái hỏa châu tôi đuổi ra khỏi vùng rồi. Mấy thằng nhỏ tiền đồn tôi cho về hồi chiều và đã báo tất cả chuẩn bị với sức chấn động của B52.

Duffy giơ ngón tay cái lên trời, tay kia chỉ hướng nam. Ðột nhiên, trời đất rung chuyển, lửa cuốn cuồn cuộn bốc lên trong tiếng nổ giây chuyền của hàng ngàn trái bom 500 cân Anh từ B52 trút xuống. Không khí như nghẹt thở. Ðứng tựa mình vào giao thông hào, hai ngón tay bịt chặt hai lỗ tai, mồm há to để chống lại sức dội, nhưng tôi muốn tắt thở, máu muốn ào ra từ lòng ngực, người rung lên, đất đá, cành cây rơi lộp bộp trên nón sắt. Ðợt ném bom chấm dứt sau vài phút. Lửa vẫn cuồn cuộn bốc lên ở phía nam căn cứ.

Ngày hôm sau, địch không tấn công chỉ pháo cầm chừng. Buổi sáng sương mù nên mãi gần trưa trực thăng tản thương mới vào vùng. Khu trục bao vùng, gunships tác xạ những điểm nghi ngờ trong các khe núi để trực thăng cố gắng đáp. Nhưng vô hiệu, phòng không địch vẫn tác xạ như đan lưới. Một trực thăng trúng đạn đang lết ra khỏi vùng.. Hy vọng hoàn toàn tan vỡ...

Anh Năm cất tiếng:

- Tao nghĩ cú này nặng đấy. Tao đã báo cáo rất rõ tình hình địch với Lữ Ðoàn. Vũ khí và quân số mình quá yếu so với địch. Một tiểu đoàn Dù so với hai trung đoàn địch và cả rừng pháo, phòng không. Chắc chỉ hơn một tuần nữa ăn pháo và vài đợt biển người tấn công là mình sẽ bị..

Anh Năm bỏ dở câu nói. Trong đôi mắt xa xăm của Anh đã linh cảm một điều không may sắp đến. Anh lầm bầm:

- Duffy đã báo cáo qua hệ thống Cố Vấn, nhưng chẳng ai buồn nghe, lúc nào cũng chỉ là lệnh Tử Thủ.. Ðánh nhau mà như thế này, tao nản lắm. Tao là con nhà võ, tao không thích bị trói tay, rồi chìa mặt cho địch đánh. Người trực tiếp chỉ huy mặt trận phải biết rõ địch và tình hình hơn Bộ Chỉ Huy.. Thôi! Mình cố gắng một hay hai hôm nữa, nếu cứ tình hình này, tao sẽ tính...

Tôi chán nản đề nghị:

- Ðể lại một trung đội, rồi mình di động đi Anh Năm. Ra ngoài dễ xoay sở hơn. Nằm đây đợi pháo, tôi nghĩ không khá. Nhẩy Dù chuyên tìm và diệt địch, nay đóng quân chờ pháo.. là tiêu rồi.

- Tao đã nói rồi, nhưng không ai nghe. Tao cũng chán với cái chữ Tử Thủ rồi!

- Sương mù ngày nào cũng dầy đặc đến gần trưa mới tan. Bốn năm giờ chiều là trời bắt đầu nhá nhem tối thì Không Quân đánh đấm gì được. Có hôm chờ dài cổ cũng chả có bóng ma nào trên trời.. Thôi thì nhờ ông "Lạc" pháo binh nấu "phở" cho ăn vậy.

- Thôi đừng lèm bèm nữa. Tao không muốn ra tòa. Lữ Ðoàn còn không tin nó pháo mình bằng delay 130 nữa đấy. Ê, Khều, mày lượm vài mảnh gửi về cho họ.. coi đi!

- Nếu họ muốn thì vào đây mà lấy. Bộ mình đùa với xương máu anh em hay sao?!

Tựa giao thông hào, mỗi người mang một tâm sự khác nhau. Tôi thấy không vui và bâng khuâng tự hỏi: "Không lý đây là trận đánh cuối cùng trong đời?"

Cảnh vật mờ dần trong nắng chiều. Ðêm xuống nhanh, đêm yên lặng rợn người.. Biết đâu ngoài kia địch đang bò tới gần căn cứ và ở một nơi không xa, trong các dẫy núi phía tây pháo địch đang căn lại hướng súng và dùng loại đạn tàn phá khốc liệt hơn.

Tôi đang mải suy nghĩ thì Toubib Liệu buông một câu, rồi gục gặc cái đầu:

- Dám kỳ này không được nhìn mặt đứa con sắp sinh lắm! Mấy thằng Y sỹ khác giờ này đang "phè cánh nhạn" chứ đâu có đứng tựa giao thông hào chờ pháo như tao.

- Có ai bắt đi Nhẩy Dù đâu. Thôi ráng đi. Vài tháng nữa về Lữ Ðoàn hay bệnh xá Sư Ðoàn thì tha hồ vi vút.

- Mẹ kiếp, tôi không thích về đó. Tính tôi ngang bướng, hay nhậu nhẹt, đụng mấy Xếp mất công. Mấy cha không ưa tôi, thôi tan hàng đi ngủ.

Trằn trọc trên võng căng dưới giao thông hào, tôi nghe rõ tiếng rên xiết đau đớn của các thương binh. Lòng tôi chùng xuống khi thấy poncho bó xác các binh sĩ tử thương càng ngày càng nhiều. Hồi chiều anh Toubib cho biết thuốc men sắp cạn.

Tiếng "em gái hậu phương", giọng anh ca sĩ quen thuộc trong bản "Lính Ða Tình" làm tôi muốn đá văng cái radio đi chỗ khác. Mẹ kiếp, lúc này mà đa tình đa tiếc cái mẹ gì.. Tôi buồn bực thiếp đi trong mệt mỏi.

Tảng sáng 12 tháng 4, quây quần bên ly cà phê dã chiến, tôi hỏi đùa Anh Năm:

- Sao Anh không thay bộ đồ đi. Anh nói anh cho tôi mà?

- Tụi mày chỉ vớ vẩn và nói dai như đỉa. Hải, mày hỏi thằng Hùng "mập" có động tĩnh gì không? Nói nó bung ra lục soát tìm một cái trảng trống để tản thương cho mấy thằng "rách áo". Mễ, mày cho thằng Móm bung ra thật xa phía đông tìm cái LZ (bãi đáp) khác đi!

Rồi Anh Năm đứng dậy nói:

- Tao về thay bộ đồ, nói không lại tụi mày.. Cứ coi ba cái sách bói tướng, rồi nói nhảm. Nhớ dặn "tụi nhỏ" lấy súng đạn của địch mà sài. Tình hình này hy vọng tiếp tế, tản thương coi bộ gay go lắm. Ðể thương binh như thế này tao chịu không nổi. Tao về hầm viết lá thư, khi nào có trực thăng thì gửi, nhớ kêu tao nếu có gì lạ.

Anh nói xong hơi chồm về phía trước đi về hầm, Liệu đánh một câu:

- Tướng hơi lộ sỉ, đi chồm về phía trước là tướng ít gặp may, tướng vất vả!

- Lại đến phiên ông. Bụng ông to chứa đầy cognac chắc hậu vận khá.

- Dĩ nhiên "Ðệ Nhất Ẩm Sĩ" (người uống rượu số 1) họ Tô có bao giờ thiếu VSOP đâu!

Vừa nói xong thì nhiều tiếng rít qua đầu và nhiều tiếng nổ liên tiếp. Ðịch bắt đầu pháo đón chào một ngày mới. Lại hỏa tiễn, lại 130 nổ chậm. Tôi chép miệng nép mình trong giao thông hào, để mặc cho số phận. Mễ chụp máy hỏi các đại đội. Tất cả báo cáo đều bị pháo. Mễ lẩm bẩm: "Kỳ này nó nhất định dứt điểm mình."

Một quả rớt cách tôi và Mễ vài thước. Mễ bị hất văng ra xa tôi, tôi nhào lên vừa đúng lúc Mễ lăn mình trở lại. Thật may mắn, quả đạn rớt vào giao thông hào bên cạnh nên Mễ chỉ bị thương nhẹ, máu lấm tấm đầy người. Toubib Liệu khám qua cho Mễ và nói:

- Không sao, sây sát chút đỉnh, còn đánh được thằng VSOP.

Tôi kêu máy gọi Anh Năm, không có tiếng trả lời. Tôi chạy lại hầm trú ẩn của Anh và Duffy. Tôi muốn ngộp thở đứng tim khi thấy hầm Anh Năm trúng đạn, mấy thân cây lớn đặt ngang hầm sụp đổ hoàn toàn. Ngay lúc đó, Duffy vừa chui ra khỏi hầm, đầu ngực đầy máu. Mễ, Liệu và tôi, Long và chú đệ tử của Anh vội moi đất kéo Anh ra khỏi hầm, mặc cho pháo vẫn rơi đều trên căn cứ.

Chúng tôi mang Anh ra khỏi hầm, đặt ngay dưới giao thông hào. Thân thể Anh còn nóng, tôi bịt chặt vết thương cho Anh, máu ấm chảy qua kẻ ngón tay. Liệu cúi xuống coi kỹ lại vết thương rồi ngẩng lên nhìn chúng tôi lắc đầu: "Anh đã đi...". Thi thể thân thiết đó sẽ lạnh dần, đời sống đã ngưng lại, những giọt máu hồng vẫn nhỏ giọt thấm vào lòng đất. Bộ áo hoa dù Angle bê bết máu, mùi thuốc súng và mùi da thịt thoảng trên không. Tai tôi ù đi như không còn nghe tiếng bom, tiếng đạn. Mắt tôi nhòa đi và thấy rõ lại hình ảnh Anh mới lúc trước đây hơi chồm về phía trước, đá tung cục sỏi, đi nhanh về hầm. Tôi lẩm bẩm một mình:

- Ðã nói rồi mà Anh Năm! Bộ đồ sui lắm, sao Anh không thay từ trước. Biết đâu nếu không mặc nó, Anh chả được bình an?!

Hôm ở hậu cứ Long Bình, Anh đã nói với tôi rằng năm nay là năm sui của Anh. Anh nói Anh sẽ cẩn thận, nhưng Anh cẩn thận thế nào, Anh chống chỏi làm sao với một cái lệnh hành quân quái ác "Tử Thủ Charlie" và một định mệnh tàn khốc đã dành sẵn cho Anh.

Ngày khánh thành câu lạc bộ Ðồi Mũ Ðỏ (Red Hat Hill) trong doanh trại của Tiểu Ðoàn, Anh bê về bức tượng Mẹ Bồng Con của anh Thịnh và anh Huấn ở báo Diều Hâu biếu Anh. Anh nói: "Bức tượng ám ảnh tôi hoài. Tượng đẹp thì có đẹp, nhưng sao lại là nàng chinh phụ bế con và choàng vòng hoa đại trắng."

Tôi biết Anh không vui từ lúc lãnh nhiệm vụ trấn thủ Charlie. Với bao lần vào sinh ra tử, Anh biết sớm muộn gì cũng gặp tai ương khi phải đóng quân tại một đỉnh đồi quá vài ngày. "Song Kiếm Trấn Ải 11 Dù" đã san bằng Dambe, đánh tung Ashao, Aluoi.. nhưng cũng không thể đánh bật cả rừng phòng không và hai trung đoàn địch đang vây hãm Charlie. Với một tiểu đoàn Dù, vài trăm binh sĩ. Anh biết và chúng tôi cũng biết, nhưng nào ai có biết cho Anh!

Lấy bông và cồn lau cho Anh, gói ghém Anh.. rồi thẫn thờ chào Anh lần cuối. Tiếng gọi thân quen "mày, tao" đơn sơ mộc mạc nhưng nồng ấm tình người. Anh thường hay nói với tụi tôi: "Tao Khóa 14, tụi mày Cùi 18, 19, 22.. Tao coi như em út trong nhà nên mày tao với tụi mày cho thân mật." Thường mỗi lần Anh nói như thế, thì Toubib Liệu hỏi ngay:

- Còn Quân Y thì sao?

- Thì cũng thế thôi. Năm nào ông chẳng khăn gói lên học quân sự trên Ðà Lạt. Thái Phiên, Chi Lăng.., ông đi mòn mấy đôi giầy thì rõ ràng là ông cũng dân Võ Bị...

Nằm đó đi Anh Năm, Chalie sẽ mãi mãi là tên Anh. Rừng núi Tây Nguyên nơi Anh đến và đi. Tôi sẽ nhớ mãi cả đời Charlie oan nghiệt. * * * * * "Anh Năm,

Anh mất đi, Mễ lên thay Anh, tôi thay Mễ làm những chuyện Mễ vẫn làm. Trách nhiệm đơn vị đang đè nặng trên vai Mễ.

"Ðã quá trưa, địch vẫn pháo. Căn cứ như bị đào sới. Cây cối đổ gẫy ngổn ngang, lính chết và bị thương càng lúc càng cao. Tử thương gần 30 và bị thương nặng nhẹ trên 100. Charlie vẫn mịt mờ bom đạn. Tôi cũng chẳng biết là bao nhiêu đạn đã nổ trên Charlie và trên Bộ Chỉ Huy Tiểu Ðoàn, mà chỉ biết lòng đang đầy rẫy những muộn phiền, căng thẳng. Pháo giăng giăng bao phủ khung trời. Ngày nào cũng ăn pháo từ sáng tới chiều thì chắc ít nhất cũng vài ngàn...

"Pháo vừa ngưng thì địch tấn công. Từ đồi cao nhìn xuống Charlie, những bộ kaki vàng giắt lá cây, hàng hàng lớp lớp xung phong.

"Giọng Thịnh chắc nịch vang lên trong máy điều động đại đội chống trả. Pháo binh, Không Quân yểm trợ rất hữu hiệu. Ðã mấy lần địch khựng lại, rồi lại tấn công. Mễ điều động mấy tổ đại liên và đại bác 90 của Hùng "móm" kéo xuống lưng đồi tác xạ ngang hông địch. Tôi hướng dẫn và chỉ điểm cho L19 hướng tấn công của địch.

"Khu trục tác xạ oanh kích mục tiêu, tôi nhìn rất rõ từng chiếc nón bay của bạn bè khi phi cơ chúi xuống trút bom Napalm trên đầu địch. Cả một biển lửa bùng lên quanh Charlie. Lửa hừng hực thiêu đốt rừng người, lửa nhân gian cuồng bạo. Bắc quân la hét lăn lộn trong biển lửa. Lửa từ lưng trời chụp xuống, lửa từ chân núi cháy lên.. chỗ nào cũng lửa và lửa.
"Phòng không địch tác xạ như đan lưới. Hai khu trục trúng đạn, một nổ cháy như một cây đuốc trên không, chiếc còn lại với làn khói trắng sau đuôi bay chớp choáng về hướng Tân Cảnh. Tôi hét lên trong máy hỏi Xuân L19 và biết Kỳ bị bắn rớt, còn Long bị bắn ngay đuôi, sống chết chưa biết ra sao?

"Không gian, tổ quốc, bầu trời! Vì nhiệm vụ, vì bạn bè.. đại bàng đã gẫy cánh. Vĩnh biệt Thần Phong can đảm tài ba mà tôi mới gặp mấy tuần trước tại Pleiku.

"Sau nửa ngày thiêu đốt Charlie, từng thảm TOT hỏa tập pháo binh bắn cận phòng với đầu nổ chụp. Ðịch bắt đầu tháo chạy. (TOT là lối tác xạ của nhiều pháo đội Pháo Binh từ nhiều hướng khác nhau cùng bắn tập trung rất nhiều quả đạn vào cùng một mục tiêu).

"Tiếng súng thưa dần, xác địch cháy cứng sườn đồi. Mùi da thịt cháy, mùi thuốc súng, làm tôi lợm giọng muốn ói. Ðánh bao nhiêu trận, đụng địch bao nhiêu lần, nhưng thật tình tôi chưa bao giờ thấy địa ngục rực lửa thiêu đốt con người như hôm nay.

"Anh Năm,

"Tôi vẫn làm nhiệm vụ hàng ngày để báo cáo với Anh là "tụi nhỏ" đã làm theo lời Anh, đã chiến đấu như bày sư tử dữ, đã đánh đẹp như ngày theo Anh vào Dambe, Thiện Ngôn, Trại Bí... "Song Kiếm Trấn Ải", biệt danh của Tiểu Ðoàn 11 Nhẩy Dù do Anh đặt đã làm những gì Anh muốn với trên 400 xác địch quân cháy la liệt quanh Charlie và cả trăm vũ khí bỏ lại chiến trường.

"Hoàng hôn trên Charlie vẫn đẹp, tôi vẫn tựa giao thông hào nhìn những đám mây giăng mắc với hàng ngàn hình thể khác nhau. Mây trời như biển động dậy sóng theo gió đổi hình và theo nắng chiều đổi thay màu sắc, có lúc ánh vàng rực rỡ, có lúc rực đỏ như máu lửa Charlie, lại có lúc như ngàn vạn tinh binh cờ xí rợp trời bao vây thành quách. Sao Hiệp Sĩ vẫn rực sáng trên trời. Chùm sao Thơ Ấu của Anh, chùm sao trong giải ngân hà Anh đã theo đó về quê tìm lại tuổi thơ ấu nơi miền quê đất Bắc. Anh về tận Hà Ðông, nơi Anh cất tiếng khóc chào đời, nơi êm đềm chỉ có diều bay theo gió và không có chiến tranh...

"Tôi chỉ nhắc lại những gì Anh mơ ước trong những chiều cấm trại, bó gối ngồi ở lưng đồi trên hậu cứ Long Bình, lơ đãng nhìn xuống giòng sông Ðồng Nai mênh mông uốn khúc quanh các lò gạch nhả khói dưới chân làng Cao Thái, gần Tân Mai, Tam Hiệp.. và xa xa pho tượng Tiếc Thương để súng ngang đùi như đang thương tiếc những người lính trong Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa.

"Hùng "mập" và Thinh hỏi tôi sao vắng tiếng Anh. Tôi nói Anh còn đang say ngủ...

"Số thương vong lên cao, quanh Charlie đầy xác địch. Mễ nói Thinh để lại mấy toán tiền đồn nhỏ, gài tối đa phục kích tự động, rồi rút về tăng cường phòng thủ Bộ Chỉ Huy. Tôi trằn trọc cả đêm, chỉ chợp mắt được vài tiếng đồng hồ thì trời sáng. Tôi nghe Liệu nói với Mễ:

- "Hôm nay là ngày 13, con số không lành, thế nào chúng cũng pháo và tấn công mình nữa. Tôi lo cho thương binh quá. Nếu không có thuốc và di tản kịp thì chắc sẽ không qua khỏi. Mê Linh đưa tôi cây M16 hay M79 cho được việc. Tôi hết thuốc men rồi...

"Không Quân và trực thăng võ trang bắn phá để trực thăng tản thương cố gắng vào vùng. Nhưng tất cả đều vô hiệu, một trúng đạn ở phía bắc Yankee, một nổ tung gần Charlie và một chập choạng bay khỏi vùng với làn khói trắng bên hông. Thế là hết! Hy vọng tan theo mây khói.

"Mễ ra lệnh cho Hùng 113 lục soát kiếm bãi đáp phía bắc Charlie. Hùng báo cáo đụng địch khi kiếm ra bãi đáp. Hình như địch bố trí tại tất cả những trảng trống chung quanh Charlie để ngăn chặn tiếp tế hoặc đổ quân tiếp viện. Thinh dẫn đại đội 111 bung mạnh về hướng đông. Giao tranh dữ dội khi Thinh ra khỏi căn cứ hơn nửa cây số. Trung úy Thinh, đại đội trưởng đại đội 111 hy sinh trong trận đánh tàn khốc đầy máu lửa. Ðịch bố trí phòng không 12 ly 7 và đại bác trực xạ kèm theo hàng hàng lớp lớp tấn công. Trung sĩ Lung, tay tổ trưởng nổi tiếng tháo vát, lỳ lợm của tiểu đoàn, chưa bao giờ thất bại trước bất kỳ một nhiệm vụ giao phó nào, cũng vừa gục ngã. Chuẩn úy Khánh, sĩ quan tiền sát pháo binh độc nhất không bị thương và đã chiến đấu cực kỳ dũng mãnh để mang xác Thinh và đồng đội về căn cứ.

"Xế chiều ngày 13, địch tấn công sau khi đã mưa pháo vào căn cứ từ lúc trưa. Hơn tuần lễ nay, hầu như ngày nào cũng vài tiếng đồng hồ ăn pháo. Cây cối đổ gẫy thêm, nằm ngổn ngang. Binh sĩ móc thêm những hàm ếch thật sâu trong các giao thông hào. Chỉ còn đường tơ kẽ tóc để sống còn, nên hệ thống trú ẩn đã được đào sới rất công phu.

"Bây giờ thì đi không được mà ở cũng không xong. Giao tranh tiếp diễn suốt đêm. Nhờ quen thuộc địa thế, quen từng ngã rẽ đường hầm. Nhiều khúc giao thông hào địch đã xâm nhập, nhưng cuối cùng cũng bị tiêu diệt vì chúng không quen hệ thống địa đạo của ta. Hỏa châu vẫn bập bùng soi sáng núi đồi...

"Trời sáng dần, ta và địch vẫn quần thảo đẫm máu, bám sát lấy nhau. Ðã có lúc tôi, Mễ, Duffy và Toubib Liệu chiến đấu như những khinh binh khi địch đánh vào tới sát vị trí chỉ huy.

"Ðại đội 113 bị cầm chân nên không thể về tăng cường cho căn cứ. Tôi đề nghị với Mễ cứ để 113 ở ngoài làm trừ bị cuối cùng và tôi cũng đề nghị bỏ Charlie vì thương vong quá cao, đạn dược còn rất ít. Mễ nhìn hàng loạt poncho bó xác Anh Năm, các sĩ quan, binh sĩ tử thương và các thương binh rên xiết nằm chật giao thông hào.

"Có cái đớn đau, dằn vặt nào hơn khi thế cùng lực kiệt, không tiếp tế, không tản thương, không lương thực thuốc men.. mà vẫn phải đương đầu với hàng hàng lớp địch quân, để rồi lần lượt gục ngã vì kiệt sức!

"Mễ, tôi, Duffy lấy quyết địch cuối cùng: Bỏ Charlie vào lúc xế chiều, sau khi Duffy xin được mấy phi vụ B52 thả xuống phía nam và phía đông căn cứ để tiểu đoàn di tản. Ðợt bom lửa cuối cùng thả ngay trên tuyến phòng thủ đại đội 114 của Trung úy Cho đã đánh bật địch quân ra khỏi tuyến phòng thủ. Chiến trường tạm lắng dịu, chỉ còn tiếng pháo binh tác xạ yểm trợ vào những điểm nghi ngờ địch quân tập trung dưới chân đồi. Chúng tôi biết chắc địch đang điều động mở một đợt tấn công khác.

"Tôi thẫn thờ buồn bã châm điếu thuốc cho chú đệ tử bị thương. Thầy trò chia ngọt sẻ bùi với nhau từng miếng ăn, giấc ngủ trong mấy năm liền. Qua ánh mắt như chờ đợi, như ước mong khi tôi dìu chú về chỗ của tôi. Vết thương ở vai khá nặng, máu ra nhiều. Tôi nhắc chú cố gắng đi sát tôi, tới đâu hay tới đó. Chú mỉm cười bóp chặt tay tôi. Giọt nước mắt nóng rớt trên mu bàn tay...

"Chiều nay di tản. Thương binh nhẹ thì đi theo, còn thương binh nặng thì sao?! Không còn một phép nhiệm mầu nào đến với chúng tôi. Tôi báo cho Bộ Chỉ Huy Lữ Ðoàn 2 Nhẩy Dù biết rằng chúng tôi sẽ phải di tản hai phần ba quân số thương vong, lương thực, thuốc men đã hết từ hai hôm trước.

"Vĩnh biệt Anh Năm và các chiến hữu! Thôi thì biết làm sao, đời lính chiến nay ở mai đi! "Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi".. Có mấy ai đi mà trở về trong buổi loạn ly?!

"Tôi và Hùng "móm" lấy hướng 800 dẫn đầu đoàn quân ào ra khỏi Charlie khi ánh nắng chiều cuối cùng vừa khuất sau dẫy núi phía tây, trong khi pháo binh bắn ngăn chặn phía sau và bên hông để ngăn địch truy kích. Nhờ mấy phi vụ đánh bom hồi chiều và ba toán tiền đồn nằm sẵn từ buổi trưa, đoàn quân ào đi không gặp kháng cự.

"Xuống khỏi chân đồi chừng 400 thước thì B52 rải từng thảm bom ở phía nam, đông nam căn cứ. Chúng tôi cố tránh thả bom ngay đỉnh đồi, vì nghĩ rằng biết đâu những thương binh nặng còn chưa theo kịp và thân xác Anh Năm cùng bao đồng đội tử thương còn nằm tại đó. Bom rít qua đầu. Cơn địa chấn bom và sức ép làm cả đơn vị lăn lộn bên sườn núi. Tất cả đều kiệt lực. Mễ nằm gục vì vết thương hôm qua. Mồm tôi ứa máu vì quá mệt mỏi và kiệt sức. Duffy cũng chẳng hơn gì, còn Toubib Liệu gục xuống bên gốc cây bất động.

- Hải! Coi hướng cho đúng và hỏi coi thằng 3 tới đâu rồi?

Với bản năng sinh tồn, chúng tôi lại vùng lên lao về điểm hẹn. Ðêm tối đen, lính nắm vai áo nhau mà đi, kẻ mạnh dìu kéo thương binh, tựa lưng vào cây rừng để lấy thêm sức tiến qua cây khác. Kim địa bàn lân tinh giao động, hướng 800, hướng của sự sống và hy vọng. Hỏa châu vẫn bập bùng trong đêm tối.

"- Khều! Ông nghĩ mình thoát không? Nó mà phục kích là kể như chết chắc!

"- Còn chừng một cây số nữa thì tới nơi. Tao đã liên lạc được với Hùng "mập" rồi, hắn sắp tới. Ðừng nói nhảm, cái miệng lép xép, sui bỏ mẹ!

"Ðiểm hẹn Mễ và tôi chọn là một khoảng trống ngay cạnh bờ sông Pôkô để đơn vị lấy nước và di tản thương binh. Trảng trống trong khu rừng lau là điểm hy vọng, điểm mong đợi cuối cùng của những người lính Dù sau 7 ngày đêm quần thảo với 2 trung đoàn địch, kèm theo những trận mưa pháo đẫm máu trên hỏa ngục Charlie.

"Trời sáng dần, bắt tay được với đại đội 113, Hùng "mập" đang rải quân sát bìa rừng và tung các toán tiền đồn ra xa.

"Như một gáo nước lạnh tạt vào mặt tôi và Mễ, vì Lữ Ðoàn cho biết chưa có trực thăng và ra lệnh cố gắng chiến đấu để về Tân Cảnh.

"Chiến đấu?! Chiến đấu trong thế cùng lực kiệt với quân số 167 người, kể cả thương binh đang kiệt sức vì đói khát đã 3 ngày. Nhưng Nhẩy Dù là "cố gắng" nên chúng tôi lại vùng lên. Tôi không buồn trả lời và đưa mắt nhìn Duffy, viên Thiếu Tá Lực Lượng Ðặc Biệt đã sống với tụi tôi như anh em, chia nhau từng bát cơm hộp cá. Vết thương rỉ máu trên đầu, trên ngực, nhưng Duffy vẫn cứng như một thỏi thép với cây XM18 và chiếc máy truyền tin đặc biệt của các toán Lực Lượng Ðặc Biệt khi nhẩy xâm nhập.

"Chúng tôi sẽ có máy bay Mỹ trong vài phút!

"Ngả lưng nhìn trời xanh qua khe lá, chưa hút tàn điếu thuốc thì có tiếng súng nổ của các toán tiền đồn của đại đội 113. Hùng "mập" báo cáo tất cả đều chạm địch. Pháo 82, B40, B41 và AK nổ vang một góc rừng. Ðịch ào tới tấn công. Tiểu Ðoàn 11 Nhẩy Dù vùng lên chống trả, lính đại đội 113 ào ra ngăn địch. Giọng Hùng sang sảng điều động các trung đội. Ðúng là kẻ đến không mong, giặc Bắc phương ào vào vị trí đóng quân. Chúng tôi vừa bắn vừa rút vào khu rừng lau cao quá đầu người...

"Ðơn vị tan thành từng mảnh nhỏ, từng toán chiến đấu đơn độc. Tiếng chửi thề và tiếng la hét của ta, của địch vang khắp khu rừng lau và các sườn đồi kế cận, chỗ nào cũng có súng nổ. Ðịch gọi tên Mễ, tên tôi ra đầu hàng! Chắc chúng tra khảo thương binh để lấy tin tức. Ngay lúc đó, Duffy vừa liên lạc được với 2 chiếc trực thăng võ trang Cobra, một chở quân và một O2 quan sát. Nhờ địa thế trống trải của khu rừng lau nên Cobra thấy rất rõ đâu là địch, đâu là bạn. Toán còn 36 người nên di tản làm 5 đợt vì chỉ có một trực thăng chở quân.

"Với hỏa lực khủng khiếp và chính xác của Cobra, địch khựng lại, trực thăng đáp xuống rừng lau:

"- Liệu, ông đi trước đi! Chân ông bị thương ông không chạy nổi đâu!

"- Tôi không đi, tôi ở lại với các ông.

"- Ði đi, chân cẳng như thế mà ở lại. Ông nặng bỏ mẹ, tôi cõng ông không nổi đâu.

"Vừa nói, tôi vừa lùa Liệu lên trực thăng với 6 người lính khác. Máy bay vút đi. Trong ánh mắt Liệu có một chút gì vương vấn xót xa.

"Ðịch lại ào về phía chúng tôi. Cả toán vừa chạy vừa bắn lại. Nhờ hỏa lực yểm trợ của Cobra, thêm được 3 đợt bốc quân an toàn. Toán còn lại Mễ, Duffy, tôi và Trung úy Long bị địch đuổi bắt tới cùng.

"Trong mấy chuyến trực thăng di tản vừa qua, phi công Mỹ muốn Duffy được bốc đầu tiên, nhưng Duffy nhìn tôi và nói:

"- Tôi không bỏ các anh, những chiến hữu đúng nghĩa nhất mà tôi chưa hề gặp trong cả đời chinh chiến. Tôi biết rõ, nếu tôi đi đợt đầu thì chắc khó hy vọng có máy bay trở lại bốc nốt các anh.

"Ngay lúc đó, cặp Cobra, trực thăng võ trang mới vào vùng, chúng tôi sẵn sàng chờ đợi di tản đợt cuối cùng.

"Trực thăng vừa đáp, tôi lên sau cùng. Máy bay vừa lên cao vài thước thì một loạt AK bắn lên tàu, tôi trúng đạn ở chân phải và rớt từ trực thăng xuống đất. Tôi hét lên và chỉ kịp nhìn đuôi trực thăng vút lên.. Trời xanh mây trắng ngang tầm mắt. Tôi đứng lên, nhưng gục xuống ngay vì đạn bắn trúng bàn chân và ống chân bên phái. Tôi tự nghĩ chắc sẽ chết vì vết thương ra hết máu, vì đói, vì khát, vì kiệt sức cho dù địch không bắt được tôi. Khẩu súng Colt và cây M16 còn đầy đạn. Tôi chợt nghĩ đến hồi tháng 6 năm 65, một lần Ðồng Xoài tan nát, tôi đã mất Dũng, thằng bạn thân cùng khóa. Tôi đã thấy Tiểu Ðoàn Trưởng, Tiểu Ðoàn Phó và mấy trăm chiến hữu gục ngã trong trận đánh kinh hãi hồi tôi mới ra trường Võ Bị. Lần đó, với vết thương bể mặt nát tay, tôi vẫn về được sau 5 ngày lê lết, đói khát trong rừng với vết thương đã làm độc.

"Giờ là tháng 4 năm 72, Charlie rực lửa, tôi đã mất Anh Năm và bao nhiêu chiến hữu còn nằm lại Charlie. Tôi ước tính từ đây về Tân Cảnh chỉ còn 5 cây số, nhưng là 5 cây số đồi cao vực thẳm, 5 cây số đường rừng và tôi lại đang bị thương ở chân thì làm sao tôi đi được. Tôi có thể sẽ gục chết ở một xó rừng, khe suối và bày kiến sẽ kéo nhau rúc vào thân thể, thịt xương sẽ rữa nát hình hài. Hình ảnh thân yêu vợ con, cha mẹ chập chờn trong trí óc. Thằng bé mới sinh chỉ gặp mặt đôi lần.. Còn phép lạ nào sẽ đến với tôi?! Sau 7 ngày chiến đấu quên ăn quên ngủ, sao giờ này tôi lại trúng đạn từ trực thăng rớt xuống. Chỉ chậm một giây nữa là tôi sẽ bay về vùng trời êm ấm...

"Tiếng trực thăng trên đầu làm tôi vụt đứng lên bằng bàn chân trái. Tôi giơ cao tay, miệng hét lớn. Tôi không thể tin, mồm tôi há to, mắt mở lớn. Trực thăng xà xuống bãi cỏ. Duffy giơ hai tay nắm chặt giây đạn và một tay tôi, rồi kéo mạnh tôi lên. Máy bay vút lên với một loạt đạn bắn trúng thân tàu. Chiếc trực thăng nghiêng một bên rồi bay thẳng, máu phun có vòi từ anh xạ thủ đại liên người Mỹ làm ướt mặt tôi và Duffy. Mễ kéo tôi vào giữa thân tàu khi nửa người tôi và hai chân còn đong đưa ngoài không khí. Duffy chồm tới bịt chặt vết thương trên ngực anh xạ thủ đại liên.

"Nằm trên sàn tàu, tôi không thể tưởng và không thể tin tôi còn sống trước tình chiến hữu cao cả của hai người lính ở hai đất nước khác nhau. Duffy ôm lấy tôi.. Có một chút nghẹn ngào trong khoé mắt. Vì vết thương quá nặng, anh xạ thủ đại liên Mỹ đã qua đời, anh phi công phụ đang gục đầu bên cửa máy bay với vết thương ở tay.

"Khi về đến trạm cứu thương, tôi mới biết anh xạ thủ đại liên Mỹ đã hết nhiệm kỳ, ngày mai anh sẽ về Mỹ, anh đang có mặt trên trực thăng thì vô tình chiếc máy bay nhận được lệnh vào bốc tụi tôi. Ðịnh mệnh thật trớ trêu!

"Tảng sáng hôm sau 15 tháng 4, Thành "râu", bạn cùng khóa 19 của tôi, từ Bộ Chỉ Huy Lữ Ðoàn vần vũ trên trực thăng bay ngang Charlie, ngó cảnh hoang tàn đổ nát đang âm ỷ cháy để chào Anh Năm lần cuối và tìm cách bốc các binh sĩ lạc lõng sau trận đánh hãi hùng ngày hôm trước.

"Anh Năm,

"Ðó là tất cả những gì đã đến với đơn vị, sau khi Anh ra đi. Mặc dù Anh ở lại Charlie, nhưng Anh không cô độc, anh có "tụi nhỏ" ở lại cùng Anh. Anh sẽ ngắm hoàng hôn để nhớ thời trai trẻ, Anh sẽ gặp lại hình ảnh một "công tử càn" của Hà Nội năm xưa hay một thanh niên mới vào đời trong Trại Học Sinh Nghèo Phú Thọ, bỏ Bắc vào Nam năm 1954 khi đất nước chia đôi. Chiếc đai đen nhu đạo và những kỷ niệm "giang hồ" Anh hay kể cho tụi tôi nghe vẫn mãi mãi là những gì đẹp nhất khi bạn bè ngồi nhắc tới anh.

"Anh Năm thân kính,

"Ðúng như Anh đã tiên liệu khi đặt chân lên Charlie, nỗi lo âu, sự tiên đoán của Anh đã thực xảy ra cho Bộ Chỉ Huy Nhẩy Dù và các đơn vị bạn.

"Charlie mất ngày 14 tháng 4 thì Delta, Metro ở phía nam cũng phải di tản. Vòng đai Nhẩy Dù bỏ trống bên hông, Sư Ðoàn 320 Cộng quân tăng thêm Sư Ðoàn 2 ào ào như nước vỡ bờ đánh chiếm Tân Cảnh, khởi đầu cho những ngày Hè rực lửa trên quê hương.

"Sông Lô, Tiểu Ðoàn 7 Nhẩy Dù phải mở huyết lộ đánh qua đỉnh Chu-Pao, kéo toàn Bộ Chỉ Huy Lữ Ðoàn 2 Nhẩy Dù về Kontum.

"Ngày 24 tháng 4 năm 72, Tân Cảnh rơi vào tay giặc, đúng 12 ngày sau khi Anh đi khuất. Giòng sông Dapla quanh thị trấn Kontum đỏ ngầu, xác ta và địch hòa với màu đỏ của những hàng phượng vĩ buồn thảm gục ngã hai bên bờ sông. Kontum, Pleiku đang chiến đấu một mất một còn với giặc. Mùa hè thảm khốc đang ập đổ trên quê hương, mở đầu cho thiên Chiến Sử oai hùng của Quảng Trị, Kontum và Bình Long anh dũng.

"Anh Năm,

"Sau ngày tôi bị thương, tôi được đưa về bệnh viện Ðổ Vinh trong căn cứ Hoàng Hoa Thám. Loạt đạn AK bắn bể xương bàn chân và mắt cá chân bên phải. Mổ xẻ xong xuôi, mấy anh Toubib cho biết tôi không còn hy vọng quay lại đơn vị tác chiến và nhẩy dù được nữa, vì xương bàn chân và mắt cá đã gẫy vụn làm nhiều mảnh. Tôi lê bàn chân bó bột về nhà chờ 29 ngày tái khám và bắt đầu làm quen với đôi nạng gỗ trên vai.

"Anh Năm,

"Ðã năm lần bảy lượt tôi vào cư xá sĩ quan Chí Hòa muốn thăm Chị và cháu Tường, nhưng lần nào cũng vậy, khi đỗ xe gần cửa nhà Anh, nhìn vành khăn tang trên đầu chị và cháu thì tôi lại không có can đảm và đổi ý ra về. Tôi sợ sự thật, tôi sợ khi phải đối diện với chị. Tôi biết ăn nói làm sao, giải thích thế nào về sự ra đi của Anh. Còn cái cảnh khổ và chua xót đớn đau nào hơn khi hình Anh trên bàn thờ nghi ngút khói hương, nhưng thân Anh lại không có được một nấm mồ? Người ta nói nghĩa tử là nghĩa tận, sống mỗi người mỗi nhà, chết mỗi người mỗi mồ, nhưng chúng tôi đã bất lực, đã bỏ Anh mà đi, bỏ Anh ở lại Charlie nơi rừng xanh núi đỏ xa hút mãi tận Trường Sơn.

"Anh Năm,

"Ngoài đời Anh sống hào sảng, phóng khoáng và thật "giang hồ" với bằng hữu anh em, còn trong quân ngũ, Anh như một cây tùng ngạo nghễ giữa bão táp phong ba, Anh không nịnh cấp trên đè cấp dưới, Anh chia xẻ vinh quang buồn thảm với sĩ quan và binh sĩ thuộc cấp. Anh sống hùng và đẹp như thế mà sao lúc ra đi lại quá phũ phàng!?

"Tôi lang thang ra phố, người ta vẽ chân dung nhiều sĩ quan tử trận trên khắp 4 Quân Khu thuộc đủ mọi binh chủng, trên những khung vải thật lớn dựng trên công viên hay những giao lộ tấp nập người qua lại, với hàng chữ "Anh Hùng" và hai chữ "Tiếc Thương". Người họa sĩ có nét bút xuất thần vẽ thật giống Anh với đôi hàng chữ: "Tiếc Thương Cố Ðại Tá Nhẩy Dù Nguyễn Ðình Bảo, Người Anh Hùng Ðã Ở Lại Charlie" trên khung hình treo trước công viên Quốc Hội.

Tôi ngừng xe, nhìn Anh thật lâu giữa giòng người xa lạ trên hè phố, nhưng đầu óc thì chỉ thấy khỏi lửa ngập trời bên tiếng hò reo ở trận chiến Charlie.

Tôi về lại vườn Tao Ðàn, vẫn những hoa nắng tròn tròn xuyên qua khe lá, lấp loáng trên bộ đồ hoa ngụy trang theo mỗi bước chân. Cây vẫn xanh, chim vẫn hót, ông lão làm vườn vẫn lom khom cầm kéo tỉa những chùm hoa loa kèn, những cụm hoa móng rồng và những bụi hồng đầy mầu sắc. Bên gốc cây cạnh căn lều chỉ huy của Anh hồi tháng trước khi còn đóng quân ở đây, tôi thấy có bó hồng nhung đỏ điểm vài cánh hoa loa kèn trắng.

Chống đôi nạng gỗ xuống xe, tiếng gõ khô cứng của đôi nạng trên mặt đường khiến ông lão ngẩng đầu và nhận ra tôi. Xiết chặt tay ông cụ, trong ánh mắt già nua chùng xuống nỗi tiếc thương, chòm râu bạc lưa thưa phất phơ trước gió. Ông cụ đọc báo, nghe đài phát thanh nên biết Anh đã ra đi, nên sáng nào cũng để một bó hoa tưởng nhớ và tiễn đưa Anh. Cụ mời tôi điếu thuốc Quân Tiếp Vụ, rồi ngồi xuống cạnh gốc cây, tay vuốt nhẹ trên những cánh hồng, sợi khói mỏng manh của điếu thuốc nhà binh quện trong tiếng nói:

"- Thuốc lá Ông Quan Năm cho, tôi vẫn còn đủ dùng cho đến cuối năm. Mấy chục năm nay tôi mới gặp một ông quan nói chuyện thân mật và tốt bụng với những người dân như tôi. Người tốt mà sao Ông Trời bắt đi sớm như vậy!? "Tôi lên xe theo xa lộ Biên Hòa để về hậu cứ tiểu đoàn. Doanh trại Ðồi Mũ Ðỏ hoang vắng buồn tẻ khi các đơn vị đang bận hành quân. Qua khu trại gia binh, khăn sô trải trắng trên đầu góa phụ, bầy em bé thơ ngây đang nô đùa hồn nhiên trước sân trường.

Vượt con dốc, chạy một vòng quanh doanh trại, sông Ðồng Nai vẫn mênh mông uốn khúc quanh các lò gạch nhả khói dưới chân đồi, rừng cây khuynh diệp bên kia vẫn thoang thoảng mùi dầu gió trên không. Giàn hoa dưa tím trước phòng Anh và tôi thoảng mùi thơm đong đưa trước gió. Cảnh cũ còn đây, nhưng người xưa sẽ chẳng trở về.

Tôi chợt nghe tiếng kèn hạ cờ buổi chiều trên đỉnh đồi doanh trại. Tôi lại nghĩ tới Anh. Lúc nằm xuống không một tiếng kèn đưa tiễn và thiếu cả một lá cờ phủ lấy xác thân. Tôi dục chú tài xế lái xe xuống đồi thật nhanh, tôi đang chạy trốn Anh, chạy trốn đồng đội và thằng bé đệ tử của tôi. Tất cả hình như đang nói nói cười cười đâu đây trong doanh trại..

"Anh Năm,

"Anh đã ra đi hơn một phần tư thế kỷ, 26 năm biết bao vật đổi sao rời. Ðể tôi làm lại nhiệm vụ ngày xưa kể lại anh nghe...

"Mễ, Liệu và tôi, những người gần gũi Anh nhất trong trận chiến Charlie đã không còn ở quê nhà và chúng tôi đã nhấp nhô theo vận nước nổi trôi. Ðàn em của Anh đã bỏ quê hương đi về "quê hương mới?!" Mặc dù Anh đã đi thật lâu, con trai của Anh đã là một y sỹ, chiến hữu của Anh kẻ ở người đi, nhưng những người còn lại vẫn nhớ Anh, họ vẫn nhắc đến tên Anh qua bài hát mà Nhật Trường viết tặng riêng Anh, viết cho "Người Ở Lại Charlie."

"Mấy chục năm sau, vượt đại dương muôn trùng sông nước, theo gió bay ngang dọc địa cầu, dù ở nơi đâu, chân trời góc biển, nơi đâu có người Việt thì nơi đó họ hát bài ca bất hủ để nhớ Anh. Ngay cả ở quê nhà, kẻ thù của Anh cũng vẫn nghe dân chúng hát bài ca để nhắc đến tên Anh.

"Chắc Anh chưa quên ông "Sĩ Quan Võ Bị Quân Y" Tô Phạm Liệu, ông Toubib Nhẩy Dù ngực đỏ huy chương, người uống VSOP (Very ***y Old Parachutist) như hũ chìm. Khi hành quân thì một bên ống chích, một bên M16, cũng ăn pháo, cũng la hét, cũng bắn hết băng M16 này đến băng M16 khác khi đánh ở Charlie, Dambe, Hạ Lào, Ashao, Aluoi...

"Tháng 4 năm 75. Cũng lại tháng 4, tháng mà Anh đã đi khuất, Liệu di tản qua Mỹ, thi lại bằng y sĩ và hành nghề tại tiểu bang Lousiana trong một bệnh viện tâm thần. Liệu vẫn như xưa, vẫn vui vẻ, ồn ào. Ông đội trưởng "Ðội Hổ Sói Con" vẫn gặp tôi, Duffy và Mễ vài tháng một lần, nhưng Liệu có cái tên mới, để tôi đọc Anh nghe, chắc Anh lại búng tay, đá sỏi mà cười: "Ðệ Nhất Ẩm Sĩ, Cuồng Thái Y Tô Phạm Liệu".

Làm gì có ai trên đời có cái tên lạ lùng và hay như vậy. "Ðệ Nhất Ẩm Sĩ", người uống rượu số 1 thì Anh đã biết rồi, còn "Cuồng Thái Y" là anh Toubib làm việc ở nhà thương chữa cho mấy người điên.

"Liệu vẫn "ra đi không mang ba-lô, quần áo cứ thế đút túi" mà giang hồ với anh em. "Bến Cũ" nào cũng nồng ấm khi Liệu ghé ngang. Nếu ngày xưa chinh chiến có cướp mất Anh, thì ngày nay, bệnh hoạn đâu có tha Tô Phạm Liệu. Mặc dù là "Quan Thái Y" nhưng Liệu cũng không tránh khỏi bệnh nan y. "Ẩm Sĩ" họ Tô đã bỏ "Bến Cũ" mà đi. A Lịch Sơn thành (Alexandria) là nơi Liệu làm việc và lặng lẽ ra đi sau cả năm bạo bệnh cuối đời...

"Mê Linh, Phương Hải, Sông Lô, từ Bắc Cali "đội pháo" mà đi. "Bến Cũ" Nam Cali, Dallas, Houston, New Orleans "hành quân" kéo tới. Ðám gà nhà Tịnh Hô, Ðà Lạc, Phán, Trác từ New York, DC kéo sang. "Nam Xương", người kể chuyện Anh trong thiên bút ký Mùa Hè Ðỏ Lửa đọc bài điếu văn, có nhắc đến Anh, nhắc đến Charlie.. cỏ cây hoa lá còn rung động, nói chi đến đám bạn bè đỏ mắt đứng quanh.

Ở đâu "Bến Cũ" cũng về để dự đám táng, đến để nhìn Liệu ra đi, đến để mỗi người một ly nhỏ VSOP với "Ẩm Sĩ" họ Tô. Ngày xưa thì bạn bạn bè bè. Bây giờ thì tro tàn thiêu xác!

Gần một phần tư thế kỷ sau, Liệu ra đi ở một nơi cách Charlie nửa trái địa cầu.

"Anh Năm và Toubib Liệu thân kính,

"Viết để nhớ Anh, để kể sự thật về Charlie và cũng để báo cáo với Anh là Liệu đã trở lại Charlie với Anh, với tụi nhỏ trong ngày giỗ tròn một năm của Liệu. Ðáng lẽ tôi muốn báo cáo với Anh từ lâu, nhưng mỗi lần cầm bút lên thì lại không biết viết gì. Không biết viết làm sao, toàn là chuyện kẻ ở người đi làm lòng chùng xuống, viết hoài không nổi.

"Hôm tháng rồi đi xem một phim chiến tranh. Phim chiếu cảnh một ông già mang gia đình qua bãi biển Normandie bên Pháp. Ông cụ đi một mình vào nghĩa trang, bóng người chập chững trong nghĩa địa toàn thập tự giá trắng tinh. Từ ngàn dậm xa xôi ông mang bó hoa đến thăm cấp chỉ huy, thăm những chiến hữu cùng chung đại đội với ông đã nằm xuống khi cùng ông cụ đánh chiếm một khu phố. Bao nhiêu bạn bè hy sinh, chỉ còn một mình ông cụ sống sót. Ngày Chiến Sĩ Trận Vong, một mình đứng nhìn bãi biển đổ quân, tiếng binh đao khói lửa, hình ảnh bạn bè gục ngã, cụ chập choạng với nước mắt lưng tròng. Ði vào nghĩa trang, gục đầu bên mộ để nhớ bạn và hình ảnh chiến trận năm xưa. Gia đình, vợ con rời xa nghĩa trang để cụ một mình sống lại với những huy chương dĩ vãng.

"Ngày Chiến Sĩ Trận Vong, tôi không thể đi thăm Anh, đồng đội và thằng bé đệ tử thân tín của tôi đã ở lại Charlie. Không phải vì Anh ở quá xa, nhưng vì 23 năm qua tôi chưa có ý định trở về. Nơi nào người ta cũng kèn hoa cho người đi khuất, vinh danh tưởng nhớ những chiến sĩ vị quốc vong thân, chỉ riêng nơi quê cũ, từ khi đất nước đổi thay, đâu có ai còn nhắc đến Ngày Chiến Sĩ Trận Vong!?

"Xin thắp nén hương lòng để tưởng nhớ Anh và tất cả bạn bè đã hy sinh cho tổ quốc.
"Tôi tự nhủ lòng, một ngày nào đó, nếu có dịp, tôi sẽ về, sẽ dến Charlie, sẽ đến những chiến trường xưa cũ, để nhớ bạn bè, để thắp một nén nhang thăm Anh và đồng đội. Nhưng, chả biết bao giờ thì làm được, mặc dù bây giờ tóc đã điểm sương!

"Xin tạ lỗi cùng Anh và Chiến Hữu. "Toubib Liệu, gọi tên ông một lần nữa: "Ðệ Nhất Ẩm Sĩ, Cuồng Thái Y Tô Phạm Liệu" để nhớ Giỗ đầu của ông và gửi về ông hai chữ "Hồ Trường": ...... "Hồ trường, Hồ nay biết rót về đâu....

Posted: Thu Mar 10, 2011 2:28 am
by nguyenvsau
Bài viết của một hậu duệ QLVNCH

Trà Khan

36 năm, chỉ một ước mong
Cuộc chiến Nam Bắc giữa người Quốc Gia và Cộng Sản, chúng tôi không tham dự vì tuổi đời còn nhỏ. Khi cuộc chiến chấm dứt, theo ba mẹ ra đi theo diện H.O. Nay thời gian trôi qua, chúng tôi đã trưởng thành trên đất khách.

Là một người con sống trong gia đình, cha mẹ là nạn nhân của chế độ cộng sản Việt Nam, và nhận thức học hỏi thêm đến các chú bác, ông bà, cũng như khi đọc qua báo chí điện đài, nhất là hằng năm khi 30 tháng 4 lại về, cho dầu tuổi trẻ chúng tôi cũng cảm thấy một niềm đau bất tận, khi cộng sản chiếm trọn miền Nam.

Hằng năm, mỗi lần tháng 4 đến lại nhắc nhở đến những người bỏ nước ra đi, cho dù phải trốn thoát theo con đường nào, diện nào, để đến quốc gia cưu mang xin được tạm dung, cũng phải cảm nhận rằng, mọi người chúng ta cùng đi chung trên tuyến đường tỵ nạn CSVN, kẻ trước người sau. Cho đến nay đã 35 qua, thời gian khá dài đã chiếm trọn một nửa đời người, và cũng từ 35 năm đó, người Việt tỵ nạn tại miền Nam Cali đã trưởng thành vững mạnh, về thương mại, chính trị, cũng như các chính giới truyền thanh, truyền hình, đến các nhật báo, tuần báo v.v... cả đến từng cá nhân đến cá nhân, tất cả cho 30 tháng 4, ngày đau thương nhất lịch sử dân tộc Việt.

Ðược nghe, được đọc, qua nhiều hình thức khác nhau, chúng tôi còn xem trên Internet trên online “35 năm nhìn lại, trả lại sự thật cho lịch sử,” “Nguyễn Thị Ngãi vị thánh của những đứa trẻ mồ côi” hay “hành trình tìm lại dấu tích thuyền nhân” v.v... và còn nhiều nữa nữa, đã làm cho tim tôi se thắt không ít.

Dầu trời đã về khuya, song cũng ráng thức tỉnh ngồi vào bàn computer, dùng đôi bàn tay của năm ngón tay gõ đều trên từng chữ Alphabet của keyboard, tiếng kêu lốp đốp như tiếng lòng thổn thức từ con tim của chính mình, mong góp tiếng nói vào ngày lịch sử đau thương nhất của dân tộc Việt Nam “Ba Mươi Tháng Tư.”

Dù thiển ý này, chúng tôi xem như hạt muối mặn giữa trùng dương, và “một ước mong” nếu có, chỉ là tiếng kêu lạc lõng trên một bãi sa mạc rộng mênh mông. Ðôi lúc, chúng tôi cảm thấy chùn lòng, là mình có đạt được như ý hay không, hay chỉ là một giấc “Nam Kha”

Nhưng! chúng tôi cũng tiếp tục viết theo ước vọng và an ủi của chính mình, cho dù chẳng đạt được như ý.

Chúng tôi, xin có một thiển ý gởi đến các hội đoàn, các hội đồng hương, các mạnh thường quân người Việt tỵ nạn khắp năm châu bốn bể.

Ngày đau buồn nhất, cũng là đêm đen không bao giờ sáng cho miền Nam nước Việt mến yêu của chúng ta, VNCH bị xóa sổ. Ngày của 5 vị tướng trong QLVNCH tuẫn tiết không hàng giặc, tượng trưng như Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ, Trần Văn Hai và Phạm Văn Phú. Chúng tôi không đủ chữ để diễn tả hết nỗi lòng trong niềm thương nỗi nhớ, và hết lòng khâm phục đến cái chết đầy bất khuất của các ngài đã chọn sẵn. Tổ Quốc VNCH vấn khăn tang từ dạo ấy.

30 tháng 4, dù trăng, sao, trời đêm, có tắt lịm, thì những cánh sao trắng của năm vị tướng miền Nam cũng đủ sọi sáng khắp muôn phương, cho muôn dân miền Nam VN nhận thấy cái khí tiết hào hùng của 5 vị tướng nêu trên. Tên các ngài sẽ được đời “lưu danh thiên cổ.” Các ngài đã theo bước tiền nhân của một Hoàng Diệu, của Nguyễn Tri Phương, của Phan Thanh Giản. Các ngài đã xác định được vị trí đứng của một vị tướng lãnh, “chết vinh hơn sống nhục” lấy sự tân trung để đền đáp ơn sơn hà xã tắc, lấy sự tận hiếu để bồi tình thê nhi gia tộc. Các ngài thật xứng đáng với câu nói của tiền nhân ta để lại “sống vi tướng, tử vi thần, anh hùng tử khí thiên bất tử.”

Các ngài chọn cái chết uy dũng không để lọt vào tay kẻ thù, là một điểm son sáng ngời, tô thắm cho sắc áo màu cờ của quân dân cán chính VNCH. Cái chết của năm vị tướng đã viết lên trang sử cận đai thật hào hùng của quân dân miền Nam ở thế kỷ 20.

Các ngài xứng đáng để cho QLVNCH nói riêng và muôn dân miền Nam VN nói chung, vinh danh các ngài là những vị thánh.

Dầu chúng ta là kẻ chiến bại, nhưng chúng ta vẫn có quyền hãnh diện, là trong QLVNCH còn có những người con của tổ quốc, biết sống trọn thủy trọn chung đến giờ thứ 25 khi đất nước rơi vào tay giặc. Các thế hệ mai sau, khi đọc đến những trang sử nầy, phải kính cẩn nghiêng mình mà bái phục.

Cuộc chiến chấm dứt, nhà miền Nam tang thương đổ vỡ, ai chết để chúng ta được sống, chúng ta cần phải biết ơn đến những người lính nằm xuống, bằng lời nói cũng chưa đủ, phải thể hiện bằng hành động và việc làm.

30 tháng 4 mỗi năm lại về, năm nào trên các nhật báo, cũng có dành mỗi đầu trang của một tờ báo, hay các đài truyền thanh, truyền hình ở mỗi đầu giờ, đọc qua từng tiểu sử tên tuổi các ngài, thêm vào đó là những khúc nhạc buồn, chiêu hồn tử sĩ, kéo dài đến cả tuần lễ hay nhiều hơn nữa, làm cho kẻ bỏ nước ra đi phải rơi lệ. Không ngoài mục đích là nhắc nhở chúng ta đừng bao giờ quên những chiến sĩ vì nước quên mình, phải luôn luôn nhớ ơn đến họ.

Những việc làm của giới truyền thanh báo chí nói trên, chúng tôi muôn vàn biết ơn đến các người lãnh đạo và các nhân viên điều hành, trong các tòa soạn, trong các đài phát thanh, truyền hình, đã góp tiếng nói vô cùng quan trọng cho 30 tháng 4 ngày đau buồn nhất của quân dân cán chính VNCH.

Song chúng tôi vẫn thấy chưa đủ, cần phải thể hiện cung cách to lớn nghiêm trang hơn nữa, là cần nên thành lập một Ðền Thờ 5 vị tướng không thể thiếu trên đất khách, nơi mà người Việt Nam tỵ nạn đang sống, nhất là tại Little Sài Gòn còn cần thiết hơn nữa.

Chúng ta không thể trở về nơi quê hương thực thu, để lập Lăng Miếu Ðền Thờ mà thờ cúng các ngài, vì nơi đó kẻ thắng còn đang ngự trị. Song, chúng ta đã từng nói, bỏ nước ra đi là mang theo cả quê hương. Vậy thì, chúng ta chọn nơi này làm quê hương thứ hai, thì chờ đợi gì mà không lập được đền thờ cho các ngài. Nhất là nơi miền Nam Cali, nơi có trên 300 ngàn người Việt tỵ nạn, được mang cái tên khá hãnh diện cho những người VN sống lưu vong nơi đây “thủ đô tinh thần của người Việt tỵ nạn” Nơi đây, chúng ta đã có tượng đài chiến sĩ Việt Mỹ, có đền thờ Hùng Vương, có Thư Viên Việt Nam, thì sao lại thiếu đền thờ của các vị tướng lãnh tuẫn tiết.

Khi còn đối diện với kẻ thù, chúng ta là người lính, không ít thì nhiều, hoặc gián tiếp hay trực tiếp nằm cùng một “trướng” nhận cùng một lời “hịch” từ tay các ngài ban xuống. Nay! chúng ta còn có nơi đây, cả trăm nghìn gia đình HO đang sống trên một đất nước có nhiều cơ hội không làm được điều nói trên ư?

Thưa các bậc thân hào, nhân sĩ! các bậc cao niên! Các bậc đàn anh! Và những anh em cùng chung chiến tuyến!

Chúng tôi không dám “múa rìu qua mắt thợ” vì cạn hẹp kiến thức, và cạn hẹp mọi thứ mọi điều, chúng tôi như là những người đang dùng tay tát nước biển, thì sẽ không bao giờ cạn. Nhưng chúng tôi chỉ có tấm lòng chân thành, và mong rằng, chúng ta cùng chung nhau góp một bàn tay thì vỗ nên kêu. Nơi đây, chúng ta đã có nhiều hội đoàn, có nhiều tổ chức, có nhiều trung tâm băng nhạc ca kịch múa hát, đã từng gây quỹ, gây tiệc thành công, từng làm thiện nguyện viên đi quyên góp, giúp đỡ nan nhân Katrina, Tsunami, Haiti, giúp đỡ nạn nhân bão lụt quê nhà v.v.. Chúng tôi xin tôn vinh và luôn biết ơn những việc làm từ tâm, đến các vị lãnh đạo đoàn thể, đến các tổ chức bất vụ lợi, đến các mạnh thường quân, cứu giúp đến những nạn nhân bất hạnh, trong tiếng kêu than “một đồng lúc túng cũng so bằng nghìn.”

Nếu việc gây quỹ giống như thế này, chúng tôi tin chắc rằng, đền thờ các vị tướng vị quốc vong thân, không sớm thì muộn cũng sẽ thành công và xây dựng được tại Little Sài Gòn, Thủ Ðô Tinh Thần của người Việt tỵ nạn tại Nam Cali.

Rồi mai kia, đền thờ nếu được thành công như ý muốn, điều đó chứng minh rằng người Việt bỏ nước ra đi sẽ không bao giờ quên ơn các ngài, đó cũng là nguồn an ủi to lớn đến các gia đình vợ con, và người thân tộc có liên hệ đến các ngài hiện đang sống còn. Rồi nơi đây, Little Sài Gòn sẽ tạo thêm cuộc sống hùng, sống mạnh, làm tăng thêm sức mạnh về tinh thần, hồn thiêng sông núi sẽ phù hộ cho chúng ta, đầy đủ sức khỏe, biết đoàn kết và thương yêu nhau hơn.

Khách du lịch nào từ tiểu bang khác trên nước Mỹ, hay từ Âu Châu, Úc Châu đến Nam Cali, chắc chắn rằng họ không quên đến Bolsa viếng thăm đền thờ các ngài cũng như họ đã từng viếng thăm tượng đài chiến sĩ Việt Mỹ trong mấy năm qua.

Nếu được như ý muốn, chúng ta sẽ chiêu mộ các điêu khắc gia Việt Nam đang tỵ nạn trên đất Mỹ, tạc tượng hay đúc tượng bán thân cho các ngài (chỉ ý kiến thôi) và nơi đó, có để một cuốn sổ vàng lưu niệm vài trăm trang giấy, và còn nhiều dự thảo khác nữa, khách viếng thăm đền thờ có thể viết vào đó vài lời, để nói lên cảm tưởng của chính mình.

Ðoạn kết của bài viết này, chúng tôi chỉ có thiện ý trong kiến thức cạn hẹp, chắc chắn rằng có nhiều lỗi lầm sơ sót, chúng tôi mong sự bao dung tha thứ từ người đọc. Và ước mong việc xây dựng đền thờ sẽ có thật, và đừng để ước mong của chúng tôi nó trở thành một giấc “Nam Kha.”