Page 24 of 180

Posted: Fri Feb 13, 2009 5:03 am
by quaichao
30 năm ngày cuộc chiến tranh 17-02-1979
Tác giả: Nguyễn Trung



Từ nhiều tháng nay không hiếm trên nhiều mạng Trung Quốc các bài về cuộc chiến tranh biên giới Việt –Trung tháng 2 năm 1979. Đương nhiên mỗi bài một cách nhìn về sự kiện đen tối nhất này trong lịch sử ngoại giao Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam – Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa. Qua lời dịch của bạn bè, tôi được biết những bài này có nhiều nội dung, ý tứ khác nhau. Nếu hỏi tôi nghĩ gì về những bài này, câu trả lời của tôi sẽ là: Rất cần có những nỗ lực nghiêm túc để cả hai bên cùng nhau thực sự khép lại quá khứ, hướng về tương lai.

Mọi người còn nhớ, vào ngày 17 tháng hai cách đây 30 năm, đại binh Trung Quốc gồm 9 quân đoàn chủ lực và 3 sư đoàn độc lập ầm ầm tiến vào đánh phá đồng loạt toàn bộ 6 tỉnh biên giới phía Bắc nước ta – cuộc chiến tranh quy mô lớn nhất của Trung Quốc kể từ cuộc chiến tranh Triều Tiên. Tham chiến cùng với đạo quân 60 vạn bộ binh Trung Quốc này có hàng trăm xe tăng, hàng nghìn pháo, súng cối, dàn hỏa tiễn – ngoài ra hạm đội Nam Hải trực ngoài biển và không quân Trung Quốc sẵn sàng ứng phó.

Chiến sự diễn ra đẫm máu vào sâu 6 tỉnh nói trên, giao tranh ác liệt với phía Việt Nam cho đến ngày 18 tháng ba năm 1979; sau đó quân Trung Quốc rút về chốt các điểm trên biên giới hai nước để tiếp tục các cuộc bắn phá tranh giành biên giới. Xung đột biên giới kéo dài cho đến gần hết năm 1988 mới chấm dứt, sau đó là thời kỳ thương lượng bình thường hóa quan hệ.

Đạo quân Trung Quốc tàn sát và gây thương vong lớn tại chỗ, phá hủy nặng nề tại các nơi có chiến sự. Các thị xã Lào Cai, Cao Bằng, Hà Giang, Lạng Sơn và một số thị trấn khác bị san phẳng. Các cuộc bắn phá tranh giành biên giới tiếp theo rộ lên ác liệt nhất trong các năm 1984-1985 - điển hình là các cuộc chiến xảy ra tại Núi Đất thuộc xã Thanh Thủy, huyện Vị Xuyên, Hà Giang, nơi quân hai bên có nhiều trận huyết chiến giáp lá cà, có trận quân số mỗi bên tham gia là hàng nghìn người, phía Trung Quốc có những trận pháo kích ròng rã ngày đêm vào trận địa này, có khi suốt cả tuần lễ không nghỉ.

Nguyên nhân xa gần về cuộc chiến tranh trên đất Việt Nam này có rất nhiều. Phía Trung Quốc hồi đó tuyên bố công khai với lời lẽ vô tiền khoáng hậu trong lịch sử quan hệ quốc tế là nhằm “Dạy cho Việt Nam bài học”. Ngoài ra năm này qua năm khác Trung Quốc giải thích trong nội bộ: đây là cuộc chiến tranh tự vệ, chống Việt Nam phản bội.

Rồi đây các thế hệ thiện chí hiện nay và sau này của cả hai nước Việt Nam và Trung Quốc sẽ còn phải mất nhiều công sức tìm hiểu rạch ròi các nguyên nhân dẫn tới việc Trung Quốc tiến hành cuộc chiến tranh này và rút ra những kết luận xác đáng, có lợi cho việc phát triển quan hệ tốt giữa hai nước. Lẽ đơn giản là muốn tránh những sự cố đau đớn cho hiện tại và trong tương lai, muốn duy trì và phát triển những thành quả của mối quan hệ láng giềng tốt mà nhân dân hai nước đang cố gắng khép lại quá khứ để hướng tới, thì không được quay lưng lại với lịch sử.

Hãy để cho các công trình nghiên cứu khoa học dẫn đến các đánh giá, kết luận đúng đắn. Tuy nhiên, phải nói 30 năm đã trôi qua, nhưng vẫn nóng bỏng câu hỏi: Vì sao từ chỗ ủng hộ và viện trợ to lớn cho Việt Nam trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, Trung Quốc lại phát động cuộc chiến tranh quy mô lớn và tàn bạo như vậy?

Nhìn lại các chuỗi sự kiện rối rắm, ai cũng thấy quan hệ núi liền núi sông liền sông Việt-Trung rạn nứt từ những năm đầu thập kỷ 1960, đổ vỡ từ sự kiện Kissinger đi thăm Trung Quốc, Thông cáo chung Thượng Hải hai nước Trung Quốc và Mỹ năm 1972, sau đó là bình thường hóa quan hệ Trung- Mỹ. Giữa lúc này cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Việt Nam đi vào thời kỳ quyết định. Trong thời kỳ này quan điểm của Trung Quốc về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta có sự thay đổi, đại ý là: chổi ngắn không quét được rác xa, Việt Nam nên coi thống nhất đất nước là sự nghiệp hàng trăm năm.

Sau ngày giải phóng miền Nam Việt Nam 30 tháng tư năm 1975 quan hệ Việt-Trung tiếp tục xấu đi, nhất là từ khi lực lượng Khmer đỏ triển khai hàng loạt cuộc tấn công quân sự vào lãnh thổ Việt Nam, mở đầu là cuộc đột kích vào đảo Phú Quốc ngày 4-7-1975, rồi vào đảo Thổ Chu ngày 10-7-1975... Rồi đến các cuộc tấn công mang tính tàn sát man rợ của Khmer đỏ tháng 4 và tháng 7 năm 1977 vào sâu 10 km trong lãnh thổ Việt Nam tại các tỉnh An Giang và Tây Ninh.

Nhớ lại, hồi đó không ít người đặt câu hỏi: Vì sao Khmer đỏ dám liều lĩnh tấn công kẻ đã thắng Mỹ - sự hận thù quá sâu sắc? được khích lệ? hay là vì cả hai?... Những câu hỏi này cộm lên, bởi vì sau ngày 30-04-1975 những cuộc đánh phá, giết chóc của Khmer đỏ ở phía Nam Việt Nam diễn ra rất sớm và ngày càng tăng. Đồng thời tình hình trên biên giới Việt-Trung trở nên căng thẳng, nhất là tại khu vực 300 mét nối ray đoạn đường sắt Hữu nghị quan. Một vài năm sau đó xảy ra vấn đề “nạn kiều” trong toàn Việt Nam - tương tự như “vấn đề người Hoa” ở Indonesia trước đó...

Quan hệ Việt-Trung trở nên căng thẳng tột độ khi quân đội Việt Nam sau 12 tháng 7 ngày đã quét sạch Khmer đỏ ra khỏi Phnompenh ngày 7-1-1979 và cứu nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng. 40 ngày sau đó là cuộc chiến tranh quy mô lớn của Trung Quốc vào toàn bộ biên giới phía Bắc của Việt Nam.

Quãng thời gian 1972 -1979 cũng là thời kỳ cao điểm của chiến tranh lạnh và đồng thời cũng là thời kỳ tranh giành ảnh hưởng quyết liệt với nhau giữa 3 nước lớn chi phối bàn cờ thế giới hồi ấy là Liên Xô, Trung Quốc và Mỹ, tác động đến toàn thế giới, trong đó có Việt Nam. Sau đó là một chặng đường dài gian khổ không ít máu và nước mắt, kể từ cuộc chiến tranh này đi tới bình thường trở lại quan hệ giữa hai nước Việt-Trung, và hôm nay là quá trình gian khổ xây dựng lại mối quan hệ hòa bình, hợp tác, hữu nghị, vì lợi ích của nhân dân hai nước. Thực tế chặng đường này cho thấy: Hướng về tương lai có nghĩa là phải làm mọi việc hàn gắn những đổ vỡ trong quá khứ, càng không thể tái diễn những sai lầm cũ, và trên hết cả là phải làm mọi việc xây dựng sự hợp tác hữu nghị trên cơ sở bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau.

Thế giới hôm nay đã hoàn toàn thay đổi so với cách đây 30 năm, vừa tạo ra cho hai nước những thuận lợi to lớn cho xây dựng mối quan hệ láng giềng cả nhân dân hai nước đều mong muốn, vừa đặt ra cho hai nước nghĩa vụ thông qua sự phát triển tốt đẹp của mối quan hệ này góp phần mình vào hòa bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác và phát triển trong khu vực và trên thế giới.

Thêm bớt hay viết lại lịch sử chỉ nuôi dưỡng hiềm khích, khoét sâu thêm quá khứ. Trí nhớ có thể phai mờ, lịch sử thì không. Còn muốn khép lại quá khứ và hướng về tương lai, nhất thiết phải sòng phẳng với lịch sử, tất cả để vượt qua mọi bất đồng và để tăng cường sự tin cậy lẫn nhau – nền tảng cho mối quan hệ láng giềng giữa hai nước. Hơn nữa lịch sử có thể và luôn luôn là người thầy tốt cho thiện chí. Đã đến lúc các nhà nghiên cứu của hai quốc gia nên gặp gỡ nhau hội thảo khoa học, trao đổi ý kiến cởi mở, tiếp tục cổ vũ cho những nỗ lực xây dựng mối quan hệ bền vững giữa hai nước./.

Nguyễn Trung

Posted: Mon Feb 16, 2009 5:59 am
by caubennoc
Washington khiếm hụt, Bắc Kinh cho vay

Ngô Nhân Dụng

Quốc hội Mỹ sẽ đặt trên bàn Tổng Thống Barack Obama một “giấy phép” cho chính phủ Mỹ gần 790 tỷ đô la, gọi là để kích thích cho kinh tế chạy mạnh trở lại. Ai cũng biết kinh tế Mỹ đang cần được kích thích. Nhiều nhà kinh tế thuộc các khuynh hướng khác nhau đã đồng thanh nói chính phủ phải đưa tiền cho dân, phải chi, và chi thật nhiều, càng sớm càng tốt; để lấp vào khoảng trống khi người tiêu thụ và các xí nghiệp đang thắt lưng buộc bụng.

Nhưng ông Obama và các đại biểu đảng Dân Chủ đã nhân cơ hội “toàn dân nghe chăng” đó để đưa vào kế hoạch nhiều khoản chi tiêu mà họ vẫn tha thiết muốn thực hiện từ lâu, dù đó không phải là những điều cấp bách đến mức phải chi ngay trong lúc này. Ba nghị sĩ đối lập đã thỏa hiệp, và để bù lại đã đòi được ghi vào kế hoạch một số khoản chi tiêu và cắt giảm thuế mà đảng Cộng Hòa vẫn tha thiết, nâng tỷ số giảm thuế tới 35% tổng số ngân sách 790 tỷ.

Phải quyết định chi thật nhiều, thật nhanh, nhu cầu đó tất nhiên mâu thuẫn với tiêu chuẩn thận trọng, phải tính toán việc chi tiêu cho đúng chỗ, đúng lúc. Làm thế nào để một đô la do chính phủ chi ra hoặc trả lại cho dân sẽ tạo ra hơn một đô la trong Tổng Sản Lượng Nội Ðịa (GDP), trong một thời gian càng sớm càng tốt? Nếu đồng tiền đó được luân lưu ngay lập tức, và được luân chuyển nhiều vòng, thì tác dụng “kích thích” sẽ cao, sẽ tạo được nhiều công việc làm hơn, kinh tế sẽ hồi phục sớm hơn.

Nhà phân tích kinh tế Mark Zandi, thuộc Economy.com đã viết một bài trên nhật báo Wall Street (một tờ báo bảo thủ) ước tính rằng một khoản chi trực tiếp 600 tỷ có khả năng tạo ra được 4.7 công việc làm mới nếu chi đúng chỗ. Tức là sau khi GDP có nguy cơ giảm bớt 1.6% trong năm 2009, đến năm 2010 sẽ tăng lên được 1.9%.

Ông Mark Zandi không ngần ngại nói rằng đồng tiền trợ cấp phát thẳng cho người nghèo, những người cần tiền nhất, là những đồng tiền sẽ kích thích kinh tế mạnh nhất. Một đô la trợ cấp dưới hình thức phiếu mua thực phẩm (food-stamp) sẽ giúp GDP tăng thêm được 1.73 đô la, và chỉ trong vòng ba đến 6 tháng là thấy kết quả. Chi một đô la trong việc xây trường học hay làm cầu, làm đường thì có thể sinh ra 1.59 đô la cho GDP; nhưng kết quả chỉ trông thấy trong khoảng từ 12 tháng đến 24 tháng. Cũng một đồng đô la đó nếu đem trả lại cho người trung lưu đóng thuế, thì nhiều người nhận được có thể sẽ không chi tiêu ngay, cho nên chỉ giúp GDP tăng được có 1.01 đô la.

Nhưng khi chính phủ Mỹ tiêu thêm tiền, một hậu quả chắn chắn là ngân sách nước Mỹ sẽ khiếm hụt, chính phủ phải đi vay nợ, và trong tương lai sẽ phải trả vốn lẫn lời, tức là phải dùng tiền thuế của dân, dân sẽ phải đóng thuế nhiều hơn!

Trong năm 2008, chính phủ Mỹ phải trả 412 tỷ đô la tiền lãi không thôi, trên các món nợ của quốc gia vay từ trước để lại, tính ra ngân sách nhà nước liên bang tiêu 100 đồng thì trong đó 9 đồng chỉ để trả lãi vì đã đi vay.

Hiện chính phủ Obama đã báo trước ngân sách năm 2009 sẽ khiếm hụt 1.2 ngàn tỷ mỹ kim, đó là chưa kể đến những món chi mới và giảm thu thuế trong kế hoạch kích thích đang được quyết định này. Con số 1.2 ngàn tỷ đó tương đương với 8.3 Tổng Sản Lượng Nội Ðịa, một tỷ số khiếm hụt cao nhất từ thời Ðại Chiến Thứ Hai đến nay. Như vậy, nếu kể cả kế hoạch kích thích thì số khiếm hụt của chính phủ Mỹ sẽ lên tới 2 ngàn tỷ đô la!

Nhưng dân Mỹ sẽ phải chấp nhận tình trạng thiếu hụt đó. Vì nếu không kích thích cho kinh tế phục hồi sớm, nhiều xí nghiệp bớt hoạt động, số người thất nghiệp tăng, họ sẽ không đóng thuế được nữa, thì số khiếm hụt ngân sách vẫn lên cao không tránh được. Tình trạng suy sụp kinh tế hiện giờ sẽ khiến cho chính phủ bị mất 2 ngàn tỷ Mỹ kim vì người dân và các xí nghiệp bớt đóng thuế lợi tức, nếu không phục hồi sớm thì nạn thâm thủng sẽ nặng nề hơn.

Bây giờ tới một vấn đề khác: Lấy tiền đâu ra để chi khi ngân sách thâm thủng? Giản dị, phải đi vay.

Tới cuối Tháng Chín năm ngoái, tổng số nợ của chính phủ lên tới 10 ngàn tỷ đô la, bằng 69% Tổng Sản Lượng Nội Ðịa. Thời ông Clinton tỷ số đó là 67%. Và sau 4 năm của ông Obama chắc sẽ còn tăng thêm nữa; vì tới đầu Tháng Hai năm 2009 con số nợ đã lên tới gần 10.8 ngàn tỷ. Nếu quý vị dùng máy vi tính bấm vào mục National Debt Clocks sẽ thấy mỗi giây đồng hồ con số đó tăng lên hàng trăm ngàn đô la!

Câu hỏi tiếp theo là ai sẽ cho chính phủ Mỹ vay nợ để tiêu xài thong thả như thế?

Ðó là các nhà đầu tư ở Mỹ, ở khắp thế giới có sẵn tiền cho vay, và các quỹ dự trữ của những quốc gia có dư tiền. Nhưng khi chính phủ Mỹ cần đi vay gần 2 ngàn tỷ đô la trong năm tới, thì chính phủ các nước khác cũng đang lo kích thích kinh tế nước họ, chính họ cũng đi vay nữa. Nhật báo Financial Times ước tính trong năm nay các chính phủ toàn cầu sẽ đi vay khoảng 3 ngàn tỷ, gấp ba lần số tiền họ vay trong năm 2008 - hai phần ba của số 3 ngàn tỷ đó sẽ do chính phủ Mỹ vay! Liệu năm nay có vay được không?

Chúng ta đã quen thuộc với hình ảnh chính phủ Trung Quốc, Nhật Bản và các nước bán dầu lửa ở Trung Ðông vẫn đem tiền cho chính phủ Mỹ vay. Lý do chính vì các nước đó chuyên làm công việc xuất cảng, xuất cảng sang Mỹ. Tiền đô la đem về họ chi không hết (các nước Á Rập) hoặc muốn để dành (Trung Quốc, Nhật Bản). Bây giờ, chính phủ Trung Quốc đang có gần 2 ngàn tỷ đô la dự trữ, nhưng số tiền đó chắc chắn đã được đầu tư nơi này, nơi khác rồi. Và Bắc Kinh đã quyết định sẽ dùng gần 600 tỷ để kích thích kinh tế nước họ. Liệu chính phủ Trung Quốc có nhân cơ hội này gây khó dễ cho ông Obama bằng cách lảng đi chỗ khác, không thèm cho Mỹ vay nợ nữa hay không?

Chúng ta không cần tìm cách trả lời câu hỏi đó. Vì một viên chức Trung Quốc mới nói ngày Thứ Tư 11 Tháng Hai vừa qua ở New York, rằng Bắc Kinh chắc chắn sẽ tiếp tục cho Washington vay tiếp.

Ông La Bình (Luo Ping) là tổng giám đốc Hội Ðồng Giám Sát Các Ngân Hàng trong chính phủ, tương đương với chức phó chủ tịch ngân hàng trung ương, cho nên lời nói của ông đáng tin. Ông hỏi: “Ngoài công trái chính phủ Mỹ ra, quý vị có thể để dành tiền vào chỗ nào? Mua vàng ư? Hay là mua công trái chính phủ Nhật Bản, chính phủ Anh quốc? Nói cho cùng, công trái chính phủ Mỹ (US Treasuries) vẫn là nơi an toàn nhất. Ðối với tất cả mọi người, kể cả Trung Quốc.”

Ông La Bình rất thẳng thắn: “Tôi ghét mấy người lắm (I hate you guys!) Khi mấy người bắt đầu in thêm tiền một ngàn tỷ, hai ngàn tỷ, chúng tôi biết là giá trị đồng đô la sắp xuống. Vì vậy mà chúng tôi ghét mấy người lắm, nhưng chúng tôi làm gì khác được?”

Hiện nay chính phủ Trung Quốc đang giữ trong tay 682 tỷ đô la dưới hình thức công trái, tức là giấy nợ của chính phủ Mỹ. Sau khi ông La Bình nói chuyện ở New York, ngày hôm qua tại Bắc Kinh, ông Dư Vĩnh Ðịnh (Yu Yongding) đã lên tiếng chỉ trích chính phủ Mỹ là có những chính sách bất cẩn làm giảm giá trị của đồng đô la, tức là giảm giá số tiền 682 tỷ đô la mà họ đang chờ ngày được chính phủ Mỹ trả nợ; cũng như hàng ngàn tỷ đô la khác đang cho vay bằng tiền Mỹ. Ông Dư vốn là cố vấn của ngân hàng trung ương Trung Quốc, hiện đứng đầu một cơ quan nghiên cứu chính trị và kinh tế. Ông chỉ lập lại lời báo động của Thủ Tướng Ôn Gia Bảo trong tháng trước, nói rằng chiến lược sử dụng 1.95 ngàn tỷ đô la dự trữ là làm sao bảo vệ số tiền đó không bị mất giá! Hiện nay lãi suất thực trên các công trái 10 năm của chính phủ Mỹ lên tới 3% một năm, nghĩa là nếu giá trị đồng đô la Mỹ giảm bớt 3% thì người chủ nợ kể như huề.

Nhưng đúng như ông La Bình thú nhận, Trung Quốc không có lựa chọn nào khác là sẽ tiếp tục mua công trái của chính phủ Mỹ.

Thứ nhất vì nền kinh tế của họ (cũng như của Nhật Bản) dựa trên xuất cảng, nếu không xuất cảng được nữa là nguy. Trung Quốc chưa phát triển được một thị trường nội địa cho đủ mạnh, vì ngay từ đầu họ đã chọn chỉ chú ý đến xuất cảng, trong lúc bắt dân phải nhịn tiêu thụ. Mỗi năm Trung Quốc phải duy trì một số thặng dư mậu dịch từ 500 đến 1000 tỷ, chỉ để giữ cho các xí nghiệp tiếp tục hoạt động, nếu không thì rắc rối vì nạn thất nghiệp.

Số tiền thặng dư đó dùng làm gì? Họ không thể đem chi tiêu hết trong nước được! Vì muốn chi tiêu trong nước thì phải đổi số đô la Mỹ có dư đó sang đồng nhân dân tệ. Ðổi lấy tiền bản xứ, sẽ tạo áp lực khiến giá đồng “nguyên” của họ tăng lên. Giá nhân dân tệ tăng lên đối với đô la Mỹ thì khi đem hàng bán ra ngoài, bán cho bất cứ nước nào, giá cũng đắt hơn! Và như vậy thì sẽ khó xuất cảng! Ðó là một thứ ràng buộc mà chính phủ Trung Quốc tự trói mình khiến họ cứ phải đem tiền cho vay.

Nhưng đúng như ông La Bình nói, không gì bằng cho chính phủ Mỹ vay. Mua vàng được không? Cứ nhìn giá vàng lên xuống hàng ngày chúng ta hiểu được là không một chính phủ nào muốn đầu tư vào một tài sản bất an như vậy. Hay là cho chính phủ các nước khác vay? Ðem đô la Mỹ dự trữ trong nhà sang đổ vào Nhật Bản hay Âu Châu sẽ tạo áp lực khiến cho đồng tiền các xứ này tăng giá. Khi Yen và Euro lên giá, nền kinh tế các nước đó sẽ bị chậm lại, và chính các nước này sẽ không còn nhập cảng hàng hóa của Trung Quốc được như trước nữa! Kinh tế Nhật Bản và Âu Châu chưa đủ sức hấp thụ nếu một số thặng dư lớn của Trung Quốc được đem vào xứ họ!

Cho nên chính phủ Mỹ sẽ tiếp tục chịu khiếm hụt ngân sách mà khỏi lo đi không vay được nợ. Thực ra, nếu các nước khác không cho vay thì nội trong nước Mỹ cũng có đủ tiền để cho chính phủ của họ vay. Nếu dân Mỹ tăng tỷ lệ tiết kiệm thêm 1% thì cả nước sẽ đủ được một ngàn tỷ đô la cho chính phủ vay ngay lập tức. Chỉ cần công trái trả dân Mỹ một lãi suất đủ hấp dẫn mà thôi! Nhưng đó là điều mà chính phủ Bắc Kinh không muốn xẩy ra. Họ sẽ không cần cho Mỹ vay nợ nữa khi nào nền kinh tế Trung Quốc không lệ thuộc vào xuất cảng. Trong những năm qua họ chỉ chú trọng đến đầu tư, đầu tư, mà không quan tâm đến người dân tiêu thụ; cho nên tạo nên tình cảnh này. Nếu không tăng số xuất cảng được thì bao nhiêu nhà máy thép, nhôm, xi măng, bao nhiêu đường cao tốc, phi trường, sẽ dùng vào việc gì?

Cho nên Washington sẽ tiếp tục khiếm hụt, và Bắc Kinh sẽ tiếp tục tài trợ. Mà riêng gì Trung Quốc. Nhật Bản, Dubai, Kuwait, v.v..., cũng sẵn sàng tài trợ. Dân Mỹ chỉ còn lo không biết kế hoạch kích thích của ông Obama sẽ kích được đến mức nào, và bao giờ thì có kết quả!

Posted: Tue Feb 17, 2009 7:19 am
by tankhoasinh
Nhìn lại nhân vật Hoàng Văn Hoan & Số phận ông Hoàng Văn Hoan
Tác giả: Quốc Phương



Một sự kiện quan trọng trong giai đoạn xung đột Trung - Việt hồi năm 1979 là vụ bỏ trốn của ông Hoàng Văn Hoan mà đến nay vẫn ít được nói đến.

Không chỉ với chính quyền Việt Nam và cả với dư luận quốc tế, việc một nhân vật cao cấp, công thần của chế độ bỏ đi theo kẻ thù của Hà Nội hồi đó là chuyện 'động trời'.

Báo Time 20/08/1979 có bài đặc biệt về cuộc bỏ trốn của ông Hoàng Văn Hoan sang Trung Quốc.

Bài 'Hanoi's Push' cho rằng vụ ông Hoàng Văn Hoan (1905-1991), nguyên phó chủ tịch Quốc hội, một đồng chí cũ của Hồ Chí Minh bỏ đi vào tháng 7/1979 và tố cáo chế độ là 'cú giáng thứ nhì vào hình ảnh của họ'.

Cú giáng thứ nhất, như tờ báo Mỹ, là 'cuộc tháo chạy của 900 nghìn người' trong vòng bốn năm trước đó, nhắc đến các đợt thuyền nhân bỏ nước ra đi.

Về với Trung Quốc

Time đưa tin rằng tuần trước đó, ông Hoàng Văn Hoan, 74 tuổi, phát biểu tại Bắc Kinh cáo buộc Hà Nội đối xử với người Hoa 'tệ hơn Hitler đối xử người Do Thái'.

Ông Hoan, cựu ủy viên Bộ Chính trị cho đến 1976, cũng cho rằng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của ông Lê Duẩn, đã 'trở thành tay sai ngoại bang', ám chỉ Liên Xô.

Bỏ trốn sang Trung Quốc, ông Hoan như trở về với những đồng chí chia sẻ quan điểm cộng sản kiểu Trung Quốc của ông.

Các tài liệu của Phương Tây từ 1966 đã xác định ông, cùng những ủy viên BCT khác như Lê Đức Thọ, Nguyễn Chí Thanh là 'phái thân Trung Quốc' (pro-Chinese).

Đại tá Bùi Tín, cựu Phó Tổng biên tập báo Nhân Dân, người cũng bỏ Việt Nam nhưng sang Phương Tây để vận động cho dân chủ, thì quan điểm 'đặc sệt thân Tàu' của ông Hoan đã được biết đến từ trước năm 1979.

Ông Bùi Tín nói ông Hoan xuất thân từ một gia đình Hán học, hoạt động nhiều năm ở Hoa Nam và 'tiếp thu văn hóa, tư tưởng Trung Quốc trực tiếp từ nguồn':

"Ông không đồng tình với quan điểm đứng giữa Liên Xô và Trung Quốc, ông theo phái nghiêng hẳn về Trung Quốc".

"Ông không thấy Trung Quốc có hai mặt: cách mạng và bành trướng".

Từng sang Trung Quốc hoạt động với bí danh Lý Quang Hoa cùng các ông Võ Nguyên Giáp và Phạm Văn Đồng, Hoàng Văn Hoan trở thành nhân vật cao cấp phụ trách ngoại giao của Việt Minh.

Lê Duẩn đã phản bội đường lối Hồ Chí Minh và làm hại tình hữu nghị với Trung Quốc

Quan điểm của Hoàng Văn Hoan

Sau đó ông được Hồ Chí Minh, người đồng hương Nghệ An, cử làm đại sứ đầu tiên của VNDCCH tại Bắc Kinh.

Các tài liệu nước ngoài mô tả ông Hoan có vị trí hơn một đại sứ bình thường vì thường được Mao Trạch Đông tiếp riêng để bàn thảo các vấn đề hai nước, kể cả chiến lược đánh miền Nam của Ban lãnh đạo Hà Nội.

Số phận của ông sau khi sang Trung Quốc qua ngả Pakistan vào tháng 7/1979 cùng gia đình cũng phản ánh thái độ của Trung Quốc với Việt Nam và quan hệ hai bên.

Xuất bản cuốn 'Giọt nước trong biển cả', ông đưa ra quan điểm 'tố cáo tập đoàn Lê Duẩn' đã phản bội đường lối Hồ Chí Minh và làm hại đến 'tình hữu nghị với Trung Quốc'.

Cuốn sách được dịch sang tiếng Anh 'A Drop in the Ocean: Hoang Van Hoan's Revolutionary Reminiscences' do Bắc Kinh xuất bản năm 1988, xác định tư cách của ông như một nhân vật Mao-ít đến cùng.

Ông cũng đưa ra cáo buộc rằng Trung ương Đảng ở Việt Nam từ 1982 đã chỉ đạo việc trồng nha phiến để bán ra quốc tế lấy đôla.

'Không giống Hồ Chí Minh'

Ông Bùi Tín, hiện sống tại Paris cho hay ông Hoan khá đơn độc trong đường lối thân Trung Quốc và bác bỏ cách tuyên truyền của Trung Quốc rằng ông Hoan là người duy nhất 'trung thành với đường lối Hồ Chí Minh'.

Ông nói:

"Ông Hồ khéo léo với Trung Quốc hơn nhiều và luôn cố gắng cân bằng giữa Liên Xô và Trung Quốc"

Ông Hồ khéo léo với Trung Quốc hơn nhiều và luôn cố gắng cân bằng giữa Liên Xô và Trung Quốc.

"Một lần ra đón ông Hồ tại sân bay chúng tôi thấy ông mặc áo khoác có huy hiệu Mao sau chuyến đi thăm Trung Quốc về. Ông hiểu ý và cười rằng 'chỉ đeo ở áo ngoài thôi đấy nhé".

Trái lại, theo ông Tín, Hoàng Văn Hoan hoàn toàn theo đường lối Maoist, ủng hộ Trung Quốc trong cuộc chiến 1979, chế độ Pol Pot và phái bảo thủ tại Trung Quốc.

Ở Việt Nam, ông bị tuyên án tử hình vắng mặt và trở thành biểu tượng của sự phản bội.

Đài báo so sánh Hoàng Văn Hoan với Lê Chiêu Thống và dùng hình ảnh ông để nói về các kẻ thù bên trong.

Đảng cộng sản đã thực hiện một cuộc thanh lọc nội bộ để loại bỏ tất cả những ai bị nghi là có dính líu đến ông Hoàng Văn Hoan.

Trong khi đó, Trung Quốc quyết tâm bảo vệ ông Hoan và coi việc đối xử với ông như một điều kiện để bình thường hóa quan hệ.

Năm 1991, Trung Quốc tổ chức lễ tang cấp nhà nước dành cho ông Hoàng Văn Hoan tại nghĩa trang Bát Bảo Sơn, nơi an nghỉ của nhiều cố lãnh tụ cao cấp nhất của Đảng, Nhà nước, và quân đội Trung Quốc.

Việc chấp nhận vị trí của ông Hoan trong lịch sử đầy biến động của Việt Nam xem ra vẫn còn là điều khó khăn ở trong nước dù gần đây, nhà chức trách đã có động tác để hình ông trên trang web của Quốc hội.

Nhưng cho đến nay, số phận của gia đình ông (xem bài đi kèm) cũng là câu chuyện đáng nói và phản ánh cách giải quyết chuyện nội bộ với những người bị coi là 'phản bội' trong lòng một hệ thống đóng kín.

Quốc Phương
BBC Việt ngữ

Số phận ông Hoàng Văn Hoan

Sau 30 năm kể từ Chiến Tranh Biên Giới, Trung Quốc và Việt Nam đã bình thường hoá quan hệ trên nhiều lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá... sau một cuộc xung đột vũ trang được cho là lần đầu tiên xảy ra giữa hai quốc gia cùng ý thức hệ cộng sản.

Nhưng câu chuyện về ông Hoàng Văn Hoan, cựu ủy viên Bộ Chính trị, Đại sứ đầu tiên của Việt Nam tại Trung Quốc, người bỏ trốn theo Trung Quốc vào tháng 7/1979 vẫn chưa được bàn đến công khai.

Trong cuộc trao đổi dành riêng cho BBC hôm 13/2/2009, một trong những người cháu của ông Hoàng Văn Hoan xin không nêu tên, đã kể nhiều chi tiết 'đầy sóng gió' về số phận của họ.

'Bình phản án tử hình'

Người cháu ông Hoan cho biết:

"Ông Hoan có một người con trai duy nhất là ông Hoàng Nhật Tân, năm nay đã ngoài 80 tuổi, sức khoẻ đã rất kém, mà do mới đột quỵ hồi Tết, hiện không nghe, nói được. Trước đây, năm nào ông Tân cũng đề nghị Nhà nước bình phản lại án tử hình với cha ông nhưng đều không được."

"Hồi cụ Đồng (Phạm Văn Đồng) còn sống, ông đến kêu cụ Đồng, hồi cụ Trường Chinh còn sống, thì kêu với cụ Trường Chinh. Bây giờ các ông khác già hết rồi, chẳng biết kêu ai."

"Trước đây, các ông Trường Chinh, Phạm Văn Đồng có hứa với gia đình rằng 'Để rồi bác sẽ bàn, đề nghị với Bộ Chính trị', nhưng cũng nói rằng khó lắm vì đó là tương quan với ông Lê Duẩn".

Cuộc chạy trốn bí mật

Cuốn sách 'Giọt nước trong biển cả' của ông Hoan, có đoạn, nói rằng ông đã không theo quyết định của Bộ Chính trị vốn quyết rằng ông bị ung thư phổi và phải bay đi Đức để chữa bệnh.

Người cháu nay thuật lại ông Hoan tin rằng "nếu bay đi Đức thì chắc rằng chỉ một liều thuốc là xong".

Vì thế ông quyết định khi tới Karachi, tìm cách trốn sang sứ quán Trung Quốc và được đưa tới Trung Quốc. Trung Quốc đã mổ thành công và ông đã sống thêm 12 năm nữa. Trong 12 năm này, ông đã viết nhiều công trình mà một trong đó là cuốn 'Giọt nước trong biển cả.'

Trong cuốn sách, ông Hoan cũng nói rằng việc làm của ông là 'thiên thu định luận', tức một nghìn năm sau thì sẽ rõ. Sau đó, ông Hoàng Nhật Tân có viết một cuốn là 'Thiên thu định luận', 500-600 trang, thuyết minh rằng cha ông là một nhà yêu nước vĩ đại, nhưng cuối cùng cũng không được phát hành.

Vẫn theo lời chứng̉, vào năm 1991, khi gia đình được phép sang thăm ông trong vòng bốn tháng liền tại khu Ngọc Trường Sơn, trong Di Hoà Viên, nơi trước đây ông Lâm Bưu từng sống, khi ông già yếu và sắp mất, thì ông vẫn còn rất tỉnh táo, tỉnh táo cho đến phút chót.

"Người nhà cứ hai, ba ngày thay phiên nhau vào chăm sóc ông. Ông hỏi về tình hình Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam vào thời điểm đó. Ông rất tỉnh táo, câu hỏi sắc sảo. Ông không bình luận gì nhưng chịu khó nghe. Ông hỏi về so sánh Liên Xô đang cải tổ, Trung Quốc đang cải cách và Việt Nam đang đổi mới lúc đó, có gì giống nhau, khác nhau,"

"Sự chăm sóc của Trung Quốc đối với ông không có gì để bàn. Lúc đó, ông Giang Trạch Dân là Tổng bí thư kiêm Chủ tịch nước, ông Lý Bằng là Thủ tướng Quốc vụ Viện, các ông coi ông Hoan là người bạn lớn của nhân dân Trung Quốc."

Nghĩa tử, nghĩa tận

Lễ tang của ông Hoan được coi như một lễ tang cấp cao của Đảng và của Nhà nước Trung Quốc vì ông được coi như một lãnh tụ của Đảng Cộng sản TQ. Không có chuyện Đại sứ quán Việt Nam tham dự.

Theo lời kể, khi đó do quan hệ hai bên còn căng thẳng, khi gia đình đi thăm ông Hoan, đều có an ninh của Việt Nam đi cùng.

"Lý do Việt Nam lúc đó đồng ý cho gia đình sang thăm là dàn xếp quan hệ cấp cao và nghĩa tử là nghĩa tận theo truyền thống, cho nên họ phải đồng ý. Khi đi, gia đình hứa là sẽ quay về."

"Gia đình cũng cam kết đảm bảo là không làm điều gì liên quan tới chính trị khi sang Trung Quốc mà đây chỉ là chuyện gia đình. Do đó không có vấn đề gì,"

"Ông Hoan không bao giờ dặn dò gì gia đình về chuyện chính trị hay sự nghiệp. Cùng thời gian đó, có việc Việt Nam chuẩn bị kỷ niệm 100 năm sinh Hồ Chí Minh. Một nhà nghiên cứu có tiếng của Việt Nam đã sang Trung Quốc và đề nghị gặp trực tiếp ông Hoàng Văn Hoan để tìm hiểu về Hồ Chí Minh, đặc biệt tìm hiểu các chi tiết đời tư chứ không phải với tư cách một chính khách."

Người cháu của ông kể tiếp:

"Khi ấy, ông Hoan đã cho thư ký là một cựu sinh viên người Hoa gốc Việt từng tốt nghiệp Đại học Tổng hợp ở Hà Nội, giỏi cả tiếng Việt và tiếng Trung, tiếp. Thư ký sau đó thuật lại việc nhà nghiên cứu này định hỏi ông Hoan về chuyện 'cụ Hồ có con riêng' có đúng hay không,"

Yêu đảng, yêu nước

Ông Hoan bảo: "Bảo ông ta về nước đi, không hỏi những chuyện linh tinh đó làm gì!." Ông Hoan là người rất kín kẽ, ông không bao giờ tuỳ tiện cho ai biết những chuyện quan trọng. Ông thường chỉ làm việc ở cấp cao, còn gia đình thì cứ đi thăm, nói chuyện vui vẻ thôi, không nói chuyện gì về chính trị cả.

Vẫn theo lời thân nhân của ông, "Tuyệt đối không có chuyện họp gia đình, bàn chuyện này, chuyện kia, như là người ta đồn ông Hoan có cả quân đội, đài phát thanh. Đó là xuyên tạc! Ông Hoan ông không làm thế. Ông là nhà yêu nước đứng đắn, ông không làm chuyện gì khuất tất."

Ông Đặng và ông Hoan gặp nhau rất đơn giản vì ông Hoan có khả năng nói tiếng Trung trực tiếp không qua phiên dịch. Quan hệ rất tốt, vừa là đồng chí, vừa là anh em

Lời kể của thân nhân


Ông Hoan muốn giải thích trong sách rằng ông vẫn yêu Đảng, yêu nước và ông muốn sống thêm để chứng minh rằng đã có người phản bội, nhưng ở Việt Nam vẫn không nhận ra, hoặc nhận thức lầm. Có vẻ ông đã cố chứng minh bằng những dữ liệu, số liệu, bằng chứng, quan điểm.

Người cháu kể ông có sự hỗ trợ của Trung Quốc, họ cung cấp mấy người thư ký, văn phòng làm việc, ô tô đi lại, điều kiện rất tốt.

"Phản biện lại những dư luận từ nhà nước Việt Nam, trong đó nhiều ý nói rằng ông là Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống v.v..., ông đã chứng minh trong công trình của mình rằng ông không phản bội lợi ích của nhân dân mà chính người khác đã phản bội. Nhưng ông nói chuyện của ông 1.000 năm sau mới định được, còn định ngay lúc đó thì khó," người cháu ông Hoan kể.

'Chính trị phải thế'

"Ông nói rằng bản thân rơi vào tình trạng rắc rối và phải đi, mà bây giờ người ta gọi là bất đồng quan điểm. Ông không thể đi một nước thứ ba, như là Liên Xô, vì quan điểm của ông với Liên Xô không gần nhau,"

"Đúng là Trung Quốc tiếp đãi ông Hoan như thế vì ông thân Trung Quốc và có lợi cho Trung Quốc vào thời điểm bấy giờ. Chính trị phải thế! Trung Quốc coi ông có lợi cho họ. Nhưng đồng thời họ cũng nuôi dưỡng nhiều lực lượng cách mạng thực sự cho Việt Nam," người cháu nhận xét.

Về câu hỏi rằng liệu Việt Nam có thể tránh được cuộc chiến tranh năm 1979 với Trung Quốc, nếu quan điểm, đường lối của ông Hoan trong quan hệ với Trung Quốc được Việt Nam lắng nghe hoặc điều hoà như thế nào đó, người nhà ông Hoan cho rằng cục diện trước đó quá rõ ràng. Hoàn toàn có thể tránh cả hai cuộc chiến Tây Nam và cuộc chiến 79.

"Đường lối của ông Hồ là sau hoà bình, sau cuộc chiến quá dài với Mỹ, mọi người kiệt quệ, là phải an dân, phải tránh chiến tranh, phải khoan sức dân, phải giảm thuế v.v... Ông Hoan rất phản đối và phê bình việc dẫn đến sự thể phải phát động cả hai cuộc chiến."

Người cháu ông Hoan cho BBC biết quan hệ giữa ông Đặng Tiểu Bình và ông Hoàng Văn Hoan rất tốt. "Cả hai ông Giang Trạch Dân và Lý Bằng đều là người của ông Đặng. Trong đám tang ông Hoàng Văn Hoan ông Giang Trạch Dân và ông Lý Bằng đều đến viếng. Ông Đặng Tiểu Bình có gửi vòng hoa, viết rất nhiệt tình, đề cao ông Hoan."

"Ông Đặng và ông Hoan gặp nhau rất đơn giản vì ông Hoan có khả năng nói tiếng Trung trực tiếp không qua phiên dịch. Quan hệ rất tốt, vừa là đồng chí, vừa là anh em."

Bi kịch cha con

Về quan hệ giữa hai cha con mà có dư luận rằng có sự mâu thuẫn, theo đó, ông bố thì được cho là thân Trung Quốc, ông con, Hoàng Nhật Tân, thân Nga Xô, trường hợp ông Tân được cho là một bi kịch.

Thân nhân ông Hoan kể rằng ông Tân học giỏi, ông được cử đi Nga học tập. Sang Nga, ông thấy đường lối của Khrushchev hay, ông có những phát biểu. Vì thế ông Hoan gọi về Việt Nam, thi hành kỷ luật, cho 'đi đầy' một năm, hai năm gì đó, xong rồi cho phục hồi.

"Vừa được phục hồi, nghe đâu đang làm thủ tục làm Phó Viện trưởng Viện Sử học, thì ông Hoan lại bỏ đi Trung Quốc (1979), cho nên người ta ép ông con ra khỏi Đảng, rồi ép đủ thứ. Nghe nói ông Tân đến tận bây giờ vẫn còn có người theo dõi,"

"Trong nhà hiện nay, chỉ có ông Tân là người bị theo hàng ngày, về lý do thì có thể là do họ sợ rò rỉ thông tin hoặc thế nào đó,"

"Thời các năm 1991, 1992 cho tới 1996, 1997, nhiều lúc con cháu của ông Hoan trong gia đình ở Hà Nội đi đâu, cũng có ít nhất một nhân viên công an đi theo sau. Bây giờ thì cũng thoáng rồi vì họ sống cũng đứng đắn, sống đúng theo tư cách công dân."

'Chăm sóc đặc biệt'

Cuộc sống gia đình rất phức tạp và là một câu chuyện dài với việc mỗi thành viên phải tự lo công việc của mình. Một người con gái của ông Hoàng Nhật Tân, cháu nội ruột của ông Hoan, tốt nghiệp Đại học Sư phạm, ra không có việc làm. Bà phải xin mãi mới về được Viện Triết học làm thư viện.

Theo người nhà ông Hoan thì ông Phạm Như Cương, Phó Chủ tịch Hội hữu nghị Việt - Trung và Viện trưởng, phải đứng ra bảo lãnh thì bà mới về làm việc được, chứ không phải tự nhiên mà vào làm nhà nước được, đó là ngay sau khi cụ Hoan ra đi (1979).

Người con trai cả của ông Hoàng Nhật Tân, là đảng viên, phải ra khỏi quân đội. Trong nhà có mấy người là đảng viên đó là bà Tân và ông con cả. Có một người con dâu của ông Tân mới kết nạp mấy năm nay. Còn lại đều không là đảng viên.

Về lý do người ta đưa ông con trai cả của ông Tân ra khỏi quân đội, người nhà ông Hoan tin rằng đó có thể do lý do 'an toàn' nào đó. "Có một sự chăm sóc đặc biệt. Như ông Tân bị ép ra khỏi đảng. Ông phải chủ động viết đơn để ra khỏi đảng."

"Về kinh tế, tài chính thì những năm đó rất khó khăn, mọi người phải tự lo lấy mà sống. Nhưng có một việc không biết ở các gia đình khác ra sao, còn tại gia đình mình, ông Hoan có một đạo đức rất rõ ràng, tức là không ai được sống dựa vào ông ấy."

"Cho nên mọi người phải tự lực từ lâu. Khi ông đi, thì mọi người chẳng làm sao cả."

Ông bà Tân đều là cán bộ nhà nước. Các con cháu về sau cũng dần có được việc làm, với mức lương tối thiểu sống được. Bà Tân, con dâu cụ Hoan, từng làm ở Đảng uỷ Quận Hoàn Kiếm và làm cho đến lúc về hưu.

Khi ông Hoan đi, ông không hề cho ai trong gia đình biết, sau đó ông Tân gần như bị bắt.

"Nhưng người ta cứ nghĩ là ông Tân biết. Thực ra ông không hề biết và cũng chẳng ai biết. Nếu biết là rắc rối ngay. Khi tới Karachi (thủ đô Pakistan), ngay cả ba người tháp tùng ông Hoan là bảo vệ, thư ký và y tá đều không biết," người cháu ông Hoan kể tiếp.

Ở khách sạn tại Karachi, ông Hoan đi ra ngoài đi dạo, ông gọi xe taxi và đi về sứ quán của Trung Quốc. Ba người này về sau bị bắt, và vẫn theo lời kể, nhóm thư ký của ông Hoan đã bị tù mấy năm.

'Không có bản án?'

Đến tận hôm nay, có một điều gia đình vẫn không rõ. Đó là vì sao khi hai nước Trung Quốc, Việt Nam đã bình thường hoá quan hệ, thậm chí hai Đảng và hai Nhà nước đã hữu hảo hơn, mà bản án tử hình của nhà nước Việt Nam dành cho ông Hoan chưa được huỷ bỏ.

"Hình như năm ngoái, khi còn khoẻ, ông Hoàng Nhật Tân có tới Toà án để xin một bản sao bản án 'xử tử vắng mặt' đối với cha mình. Mục đích là để làm bằng chứng khi đi trình bày với các nơi và xin được hết án này với ông Hoan, thì được họ trả lời rằng không có văn bản nào cả."

"Nhưng đây không phải là Toà án Tối cao hoặc Toà án nhà nước nào khác, mà dường như đây liên quan tới Toà Án Nhân dân TP Hà Nội. Nhưng họ nói là chẳng có văn bản gì cả. Sau đó, ông Tân cũng thôi không làm nữa. "

"Hồi đó người ta cũng không thông báo gì về bản án tử hình vắng mặt đó. Chỉ là thông báo, công bố trên đài báo, không có thông báo gì cho gia đình cả. Còn về kế hoạch có làm tiếp việc xin huỷ bỏ bản án trong tương lai, thì trong gia đình chỉ có một mình cụ Tân làm. Ngoài ra, không có ai nghĩ làm việc đó cả."

Trong lòng quê hương

Theo di chúc, hài cốt hoả táng của ông Hoan được chia thành ba phần. Một phần để ở nghĩa trang Bát Bảo Sơn, tương tự nghĩa trang Mai Dịch ở Hà Nội. Đó là một nghĩa trang dành cho các quan chức cao cấp của Đảng và Nhà nước Trung Quốc.

Ở đó, họ xây một cái mộ, hàng năm họ vẫn cho tiền gia đình, ít nhất hai người, sang đó để viếng thăm. Ông Hoan được để ở một chỗ rất long trọng. Một phần tro cốt được đưa đi Côn Minh để rắc trên đầu nguồn sông Hồng. Vì ông Hoan muốn về nước bằng con đường sông Hồng.

Vẫn theo lời kể của người cháu, một hộp tro nữa sau khi mang về nhà thờ mấy năm, nay được đưa về quê ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Trung Quốc cho một ít tiền để xây một cái mộ tương đối lịch sự. Tất nhiên là mộ đó không bằng mộ của ông Hồ Tùng Mậu, mà nhà nước xây rất lớn. Ở đó có hai dòng họ là họ Hồ, lớn nhất, rồi đến họ Hoàng.

Hàng năm con cháu về đây viếng thăm. Trong nhà thờ họ Hoàng, đã có thờ ông Hoan. Họ không thờ ông là uỷ viên bộ chính trị, phó chủ tịch quốc hội mà tấm bia thờ chỉ đề ông Hoàng Ngọc Ân (tên tục của ông Hoan) là nhà yêu nước lớn.

Kết luận, người cháu của ông Hoan nói:

"Gần đây có một diễn biến và biểu hiện mới, mà chính sứ quán Trung Quốc nói với gia đình, là một vài hình ảnh của ông Hoan hồi làm Phó Chủ tịch ở Quốc hội, trước đây bị xoá hoặc bỏ đi, nay đã được phục hồi. Còn các hình ảnh ông Hoan bên cạnh ông Hồ thì họ xoá sạch."

Posted: Wed Feb 18, 2009 5:29 am
by vuphong
Cuộc đánh cá 787 tỷ

Ngô Nhân Dụng

Tổng Thống Barack Obama đã ký đạo luật 787 tỷ đô la, gọi là để “phục hồi kinh tế và tái đầu tư,” nói giản dị là kích thích kinh tế. Sau khi ký xong, ông Obama sẽ hồi hộp chờ đợi coi chương trình này sẽ có tác dụng phục hồi kinh tế hay không, và bao lâu mới thấy dấu hiệu phục hồi! Và phía đối lập là các đại biểu Quốc Hội đảng Cộng Hòa, tất cả đều chống đạo luật này trừ ba vị nghị sĩ ở Thượng Viện, họ cũng bắt đầu hồi hộp chờ đợi. Ðây là một cuộc đánh cá rất lớn. Kết quả sẽ quyết định đảng nào lên trong cuộc bầu cử Quốc Hội năm 2010, và có thể cả cuộc bầu cử tổng thống năm 2012.

Nếu trong vòng một năm mà kinh tế tiếp tục xuống dốc, thì các đại biểu Cộng Hòa có thể nói họ có lý khi bỏ phiếu chống. Tức là đúng như họ tố cáo, sau mấy trăm tỷ giảm thuế, món tiền 500 tỷ mà chính phủ Obama xin được phép chi tiêu chỉ là những món chi bình thường không kích thích thêm được đồng nào cho Tổng Sản Lượng Nội Ðịa nước Mỹ cả. Và họ còn nói đó là những món chi tiêu chỉ cốt thi hành chính sách cấp tiến của đảng Dân Chủ mà thôi.

Ông Obama sẽ hồi hộp hơn. Vì trong thực tế cả món tiền 787 tỷ này chỉ là để “kích cho máy khởi động” mà thôi. Muốn cho bộ máy kinh tế Mỹ chạy trở lại thật sự thì phải giải quyết cảnh hệ thống ngân hàng đang đứng yên không chuyển. Kinh tế không thể nào chạy được nếu các ngân hàng không bắt đầu cho vay kiếm lời như thường lệ. Mà hiện giờ thì người ta dè dặt không muốn cho vay vì trong nhà nhiều trái khoán ứ đọng không bán được, ít người muốn đem thêm những trái khoán mới vào nhà. Chính phủ George W. Bush đã sử dụng 350 tỷ trong số 700 tỷ của kế hoạch giải cứu hệ thống ngân hàng ù trong bốn tháng cuối cùng, nhưng bộ máy tài chánh vẫn chưa nhúc nhích. Hiện chính phủ Obama còn 300 tỷ để dùng. Ông bộ trưởng tài chánh rất dè dặt chưa công bố chi tiết về việc sử dụng ngân khoản này. Và thị trường chứng khoán vẫn nghi ngại, tỏ ra chưa tin tưởng cơ hội phục hồi sẽ tới sớm, khi chỉ số Dow Jones tụt gần 300 điểm.

Ông Obama sẽ phải tiếp tục chinh phục các đại biểu Quốc Hội để có thêm tiền chi vào việc kích thích kinh tế nhiều hơn số tiền trong đạo luật mới này. Số tiền 300 tỷ cho hệ thống ngân hàng có thể sẽ được xin thêm. Một chương trình ngưng làn sóng siết nhà vì thiếu nợ mà ông Obama sắp công bố cũng cần thêm 50 tỷ đô la nữa. Còn các nhà sản xuất xe hơi đang cầu cứu, cần giúp thêm bao nhiêu? Nếu dân Mỹ không mua nhà, không mua xe thì kinh tế không thể nào hồi phục được. Riêng ba khu vực đó, ngân hàng, nhà cửa và xe cộ cần được “kích thích” riêng, và người nào ngồi trong Tòa Bạch Ốc cũng không thể ngồi yên chờ cho món tiền 787 tỷ đô la tự nó làm việc kích thích.

Cho nên trong thời một năm tới, chúng ta sẽ chứng kiến cảnh hai đảng chính trị ở Mỹ hồi hộp chờ đợi kết quả của chương trình kích thích kinh tế, trong khi suy nghĩ về các đề tài tranh cử năm 2010 và 2012!

Nhưng liệu món tiền 787 tỷ đó có khả năng kích thích những cái gì?

Như đã trình bày trong mục này, có những món chi tiêu sẽ kích thích thật, tức là một đô la chi ra có thể giúp tạo thêm công việc khác, khiến cho Tổng Sản Lượng Nội Ðịa tăng lên hơn một đô la. Thí dụ, khi chính phủ tăng tiền trợ cấp cho người nghèo thì gần như chắc chắn là người đó sẽ đem tiền ra tiêu ngay, đồng tiền được luân chuyển trong nền kinh tế sẽ sinh ra những lợi tức cho người khác, GDP sẽ tăng một đô la rồi lại thêm khoảng ba phần tư của một đô la nữa. Những đồng tiền này khi được phân phát sẽ thúc đẩy thêm những hoạt động kinh tế khác trong vòng 6 tháng. Ngược lại, khi bớt thuế một đô la cho những người trung lưu khá giả thì nhiều người sẽ để dành, hoặc trả nợ chứ không chi tiêu. Hậu quả là GDP chỉ tăng thêm được một xu mà thôi.

Năm ngoái, Tổng Thống George W. Bush đã thi hành một kế hoạch kích thích kinh tế bằng phương pháp bớt thuế. Vào đầu Mùa Xuân năm ngoái chính phủ Mỹ đã gửi trả cho những người thọ thuế những ngân phiếu 300 đô la hoặc 1,200 đô la. Nay người ta được biết là dân chúng nhận được tiền rồi chỉ dùng một phần ba để chi tiêu thôi, còn lại họ để dành hoặc trả nợ (trả nợ cũng là một cách để dành, theo con mắt kinh tế học). Kết quả là vào Tháng Năm năm 2008, khi người ta nhận được tấm ngân phiếu, tỷ lệ tiết kiệm của dân Mỹ đã tăng lên thành gần 5%, mà vào Tháng Tư thì tỷ lệ đó là số không, zero! Cả kế hoạch kích thích 152 tỷ đô la coi như vô hiệu vì dân không chịu tiêu tiền! Một lý do khác khiến dân không chi thêm là vì giá xăng lúc đó vọt lên trên 4 đô la một ga lông, bao nhiêu tiền kích thích được chuyển cho các hãng xăng và các nước Trung Ðông sản xuất dầu lửa!

Nhiều người lo rằng hành động giảm thuế của kế hoạch Obama lần này cũng sẽ vô hiệu giống như năm ngoái, mặc dù tổng số lớn gấp đôi. Gần 70 tỷ giảm thuế AMT cho giới trung lưu khá giả chắc sẽ được để dành chứ không đem chi tiêu. Giảm thuế cho người mua nhà thì những người này chắc cũng không đem chi tiêu ngay, khoản này tốn 6.6 tỷ đô la!

Chỉ có khoản 116 tỷ đô la bớt thuế cho người nghèo và trung lưu, trừ ngay vào thuế công việc (payroll tax) là có vẻ sẽ được đem chi tiêu ngay, vì những người soạn luật cố ý “kích thích” người thọ thuế. Theo kế hoạch, những người lợi tức dưới 75,000 đô la một năm mỗi người sẽ được bớt 400 đô la trong khoản thuế vẫn đóng vào quỹ hưu bổng, hai vợ chồng khai thuế chung được bớt 800 nếu kiếm dưới 150,000 đô la. Những người lợi tức trên 75,000 sẽ được bớt ít hơn, cứ thêm một ngàn thì bị ít đi 20 đô la. Thí dụ người có lợi tức 80,000 sẽ bị bớt 100, chỉ được giảm thuế 300 thôi; người lương 95,000 trở lên sẽ không được bớt đồng nào cả. Ðây là một khoản bớt thuế nhắm vào người nghèo và lớp trung lưu lợi tức thấp. Có 95% dân đóng thuế ở Mỹ thuộc loại lợi tức dưới 75,000 đô la một năm. Từ trước tới nay đảng Dân Chủ vẫn ủng hộ phương pháp giảm thuế này nhưng chưa có dịp thi thố, nay họ được thỏa mãn, cho nên có nhiều triển vọng là sau 2 năm điều khoản này sẽ được giữ lại luôn.

Thời hạn 2 năm là một cách “kích thích” người tiêu thụ. Vì số tiền 400 đô la giảm thuế được hưởng mỗi năm sẽ không được trả thành một món cho người thọ thuế, mà đem chia cho từng kỳ trả lương. Mỗi tuần được bớt gần 8 đô la, những người lương dưới 75 ngàn sẽ thấy ngay số tiền ghi trên ngân phiếu lãnh lương của mình tăng thêm được 8 đô la! Người ta sẽ có cảm tưởng là được tăng lương! (Trong năm 2009, số tiền mỗi tuần sẽ cao hơn chút đỉnh, vì khi luật này được thi hành thì thời gian được hưởng ngắn hơn 52 tuần lễ).

Nếu như cuối năm nhận được ngân phiếu 400 đô la thì có thể người ta sẽ tiết kiệm hoặc đem trả nợ. Nhưng khi được “tăng lương” thêm 8 đô la một tuần thì đa số đem chi tiêu ngay. Ðó là mưu mẹo của những người viết luật để chính phủ bỏ tiền ra là có thể kích thích kinh tế thật! Chỉ có một điều đáng ngại là dân Mỹ đã đổi tính! Trước đây họ chỉ lo tiêu thụ, ngày nay họ lại tập tánh tiết kiệm không khác gì người Việt mình! Tháng Mười Hai năm 2007 tỷ lệ tiết kiệm của dân Mỹ là 0.4%, chưa được nửa phần trăm, Tháng Mười Hai năm 2008 vừa rồi, tỷ lệ tiết kiệm của người Mỹ đã tăng lên thành 3.6%, tăng gấp 9 lần! Nếu họ cứ tiết kiệm thì kết quả của kế hoạch kích thích sẽ chậm lại!

Nhưng có những lý do khác khiến kế hoạch kích thích phải chờ lâu mới đem thi hành được. Giản dị nhất, là đưa tiền cho guồng máy chính phủ tiêu, mà họ không đủ sức đem chi ngay!

Thí dụ, có khoảng 40 tỷ đô la sẽ được trao cho Bộ Năng Lượng (Department of Energy). Ông bộ trưởng mới nhậm chức là một nhà khoa học, ông Steven Chu đã được giải Nobel về Vật Lý học, nhưng ông chưa bao giờ chi một món tiền lớn như vậy! Cả bộ của ông xưa nay có ngân sách 25 tỷ, đã là nhiều lắm rồi. Bây giờ phải chi thêm 40 tỷ, quả là một gánh nặng! Vì thứ nhất là thiếu người. Và khi chi tiền sẽ phải theo những tiêu chuẩn, thủ tục có sẵn, chứ không phải muốn chi thế nào cũng được.

Bộ Năng Lượng đang có ngân sách 140 triệu Mỹ kim để cải thiện mạng lưới phân phối điện. Nay họ sẽ có thêm 11 tỷ đô la nữa! Xưa nay chính phủ vẫn giúp các gia đình nghèo sửa chữa để giảm tiền sưởi, nhưng ngân sách chỉ có 250 triệu; bây giờ sẽ thành 5 tỷ đô la! Việc nghiên cứu năng lượng mới trước là 311 triệu, nay tăng gần gấp mười. Nhiều món tiền này được dùng để bảo đảm nợ cho các công ty nghiên cứu năng lượng để thay thế dầu lửa. Việc xem xét tiêu chuẩn coi các dự án nghiên cứu đó có đúng khoa học hay không, có khả thi hay không, có ít tốn kém hay không, không thể vì muốn “kích thích” thì làm cho nhanh được! Làm sai không những không kích thích được kinh tế mà còn phạm tội đối với người đóng thuế!

Bộ Thương Mại Mỹ cũng sẽ bị tràn ngập vì phải tiêu nhiều tiền quá! Chương trình đem Internet tới các vùng nông thôn sẽ chi 7 tỷ đô la, do bộ này phụ trách. Công việc thuộc thẩm quyền một sở trước tới giờ chỉ chi tiêu 19 triệu đô la, với 20 nhân viên duyệt xét các dự án trước khi cấp tiền. Nếu giữ nguyên số người này thì phải mất 8 năm mới chi hết món tiền mới!

Cuối cùng, cả kế hoạch kích thích 787 tỷ không phải là một cây đũa thần, sẽ tác động thay đổi ngay trên nền kinh tế Mỹ. Từ đây tới cuối năm, công việc của ông Obama là làm sao xin được thêm tiền để kích thích hệ thống ngân hàng cho nó chạy bình thường trở lại. Và ông sẽ phải đi giải thích khắp nước cho dân Mỹ nghe là phải kiên nhẫn, phải chờ đợi. Ông sẽ làm sao cho mọi người không trông đợi nhiều quá. Năm 1981, cố Tổng Thống Ronald Reagan đã lâm vào hoàn cảnh tương tự. Ông ký một kế hoạch kinh tế, với một khoản cắt thuế lớn kỷ lục vào lúc đó, rồi chờ đợi suốt hai năm mới thấy kinh tế phục hồi. Trong khi chờ đợi thì đảng Cộng Hòa của ông đã bị mất 26 ghế dân biểu Hạ Viện. Vẫn kiên nhẫn, ông Reagan kêu gọi đảng ông và dân Mỹ hãy chờ đợi. Ông Reagan có tài là lúc nào cũng lạc quan, và làm cho người chung quanh lạc quan tin tưởng. Khi dân chúng tin tưởng ở tương lai thì họ sẽ tiêu tiền, và kinh tế hồi phục sớm. Cuối cùng thì mọi người công nhận ông Reagan đã thành công. Liệu ông Obama có đủ kiên nhẫn và có khả năng thuyết phục như thế hay không?

Cuối cùng, dân chúng Mỹ sẽ là những vị thẩm phán xét xử trong cuộc bầu cử Quốc Hội năm 2010, và cuộc bầu cử tổng thống năm 2012. Lúc đó chúng ta sẽ biết ai thắng trong cuộc đánh cá lớn này.

Posted: Fri Feb 20, 2009 1:30 am
by khieulong
Ngoại trưởng Mỹ thăm Indonesia với hai mục đích
Tác giả: Trần Thu

Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton chiều qua đến Indonesia trong nỗ lực cải thiện hình ảnh của nước Mỹ đối với thế giới Hồi giáo,
cũng như truyền tải thông điệp: Mỹ dưới thời tân nội các không lãng quên Đông Nam Á.


Là nước có số tín đồ Hồi giáo đông nhất thế giới,
Indonesia nổi lên như một điểm nhấn quan trọng trong nỗ lực cải thiện quan hệ với thế giới Hồi giáo của chính quyền Obama.
Ngoài ra, bà Clinton sẽ không quên cảm ơn Chính phủ Indonesia về nỗ lực chống khủng bố thời gian qua,
cụ thể là việc bắt giữ những phần tử khủng bố Hồi giáo cực đoan đánh bom Bali năm 2002.

Image
Ngoại trưởng Mỹ Clinton đến Indonesia. Nguồn: Jakarta Post.



Tại Jakarta, bà Clinton dự định thông báo về kế hoạch tăng cường quan hệ giữa Mỹ và Đông Nam Á để nhấn mạnh tầm quan trọng của một khu vực trước đây thường có cảm giác bị chính quyền Tổng thống Bush coi nhẹ. Trong chuyến thăm hai ngày này, bà Clinton cũng bày tỏ ý định của Mỹ muốn ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác của ASEAN và sẽ cam kết tham dự hội nghị ngoại trưởng ASEAN năm 2009 diễn ra tại Thái Lan.

Bà Clinton đã gặp người đồng cấp Hassan Wirajuda và thăm Ban thư ký ASEAN. Dự kiến bà gặp Tổng thống Susilo Bambang Yudhoyono vào hôm nay. Phát triển, tình trạng biến đổi khí hậu, tranh cãi về chương trình hạt nhân của Iran và chiến tranh ở Afghanistan là những ưu tiên trong nghị trình của bà Clinton tại các cuộc gặp kể trên. Bà Clinton đến Jakarta sau khi thăm Nhật Bản trong chuyến công du bốn nước Đông Á. Dự kiến, sau đó, bà sẽ đi thăm Hàn Quốc và Trung Quốc.

Trần Thu (Jakarta Post, Reuters, Washington Post)

Posted: Sat Feb 21, 2009 6:20 am
by vuphong
2009: GDP Mỹ giảm 1.3% thất nghiệp gần 9%

Washington - Tổng Sản Lượng Nội Ðịa Hoa Kỳ sẽ giảm bớt 1.3% trong năm 2009, theo ước tính của Ngân Hàng Trung Ương Mỹ. Trong ngày Thứ Tư, biên bản cuộc họp ba tuần trước của Hội Ðồng Tiền Tệ của Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang (Fed) đã được công bố, cho thấy các người lãnh đạo chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương rất bi quan về tình hình kinh tế năm 2009.

Theo tiên đoán của hội đồng này thì năm nay Tổng Sản Lượng Nội Ðịa của nước Mỹ sẽ giảm với tỷ lệ 1.3%, tức là kinh tế Mỹ sẽ co rút lại mất gần 200 tỷ Mỹ kim. Trước đó 4 tháng giới lãnh đạo này còn tiên đoán GDP của nước Mỹ có thể chỉ giảm 0.4% hoặc có thể tăng tới 1.3% trong năm 2009. Các nước khác trong khối G-7 cũng rất bi quan. Trong quý thứ tư năm 2008, GDP của Ðức đã giảm 2.1% so với quý ba, trong khi các nước Ý và Pháp cũng giảm, lần lượt 1.8% và 1.2%. Kinh tế Nhật Bản đang sa sút mạnh nhất, quý thứ tư năm ngoái GDP đã giảm 3.3% so với quý trước.

Thị trường nhân dụng là phần đen tối nhất trong những lời tiên đoán, vì khi kinh tế xuống các xí nghiệp bắt đầu sa thải nhân viên ào ạt; mà khi kinh tế lên thì người ta vẫn dè dặt không dám tuyển nhân viên mới.

Ngân Hàng Trung Ương Mỹ tiên đoán tỷ lệ thất nghiệp trong toàn quốc sẽ tăng từ 7.6% vào Tháng Giêng năm 2009 lên tới 8,8% cho cả năm. Sang năm 2010 tỷ lệ thất nghiệp có thể sẽ xuống nhưng vẫn còn cao, khoảng 8.3%; phải chờ tới năm 2011 thì mới hy vọng xuống trở lại mức 7.5%. Trong gần 10 năm trước đây tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ thường dưới 6%.

Cũng theo ý kiến của giới lãnh đạo Ngân Hàng Trung Ương thì kế hoạch kích thích kinh tế của Tổng Thống Obama cũng như kế hoạch 700 tỷ đô la giải cứu hệ thống ngân hàng sẽ giúp phục hồi kinh tế tuy nhiên chưa thể tiên đoán được kết quả rõ ràng.

Hiện Ngân Hàng Trung Ương Mỹ cũng có kế hoạch giúp phục hồi hoạt động của hệ thống ngân hàng, sau cơn khủng hoảng tín dụng, để giúp các ngân hàng có tiền mặt sử dụng trong khi có nhiều món nợ bị đọng không bán được. Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang đã cho nhiều công ty tài chánh, bảo hiểm và các ngân hàng vay tiền. Dưới kế hoạch mang tên TALF, Ngân Hàng Trung Ương cho vay cả khi những món nợ chỉ được bảo đảm bằng khoản nợ của các ngân hàng thương mại dành cho sinh viên vay, cho vay mua xe hơi, hoặc khi dùng thẻ tín dụng; đó là những thứ nợ mà trước đây Ngân Hàng Trung Ương Mỹ không bao giờ chấp nhận dùng làm bảo đảm. Gần đây đã tăng các món nợ TALF này từ 200 tỷ đô la lên tới một ngàn tỷ đô la, nâng tổng số nợ mà Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang đang cho vay lên 2 ngàn tỷ đô la. Theo ông chủ tịch Fed, Ben Bernanke thì những món nợ này sẽ không lo bị mất, do đó không tổn hại cho công quỹ của người dân Mỹ đã đóng thuế.

TALF là viết tắt tên gọi Term Asset Backed Securities Loan Facility; Chương Trình Cho Vay Các Chứng Khoán Bảo Ðảm Bằng Các Món Nợ Có Hạn Kỳ.

Posted: Mon Feb 23, 2009 6:01 am
by thienthanh
Sức mạnh chống Bắc xâm
Tác giả: Đỗ Thái Nhiên



Có thể nói lịch sử Việt Nam là lịch sử chống xâm lược Trung Quốc. Mặt khác, chính lịch sử chống Bắc xâm của dân tộc Việt Nam đã là những bức tranh giúp thế giới thấy được lòng yêu nước của dòng giống Lạc Hồng. Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Huệ… là những thanh âm vang vọng muôn đời rằng hàng rào phòng thủ bao quanh đất nước Việt Nam chính là lòng yêu nước và rằng không phân biệt thành phần xã hội, tuổi tác, nam nữ, mọi người Việt Nam đều yêu nước nồng nhiệt.

Câu hỏi được đặt ra là: Liệu chừng có sự khác biệt hay không giữa lòng yêu nước của người Việt xưa và người Việt nay?

Phát âm hai chữ yêu nước rất dễ. Dùng chính xương máu của mình để biểu lộ lòng yêu nước không phải là chuyện đơn giản. Yêu nước phải có sức mạnh. Sức mạnh của một dân tộc được qui định bởi hai yếu tố: tinh thần và vật chất.

Đời sống thể chất của người dân sẽ lớn mạnh nếu trẻ em không bị nuôi dưỡng bằng sữa pha melamine hoặc sữa giả chỉ có dưới 2% chất đạm (Tin báo chí trong nước: Từ 08/2008 cho đến nay 02/2009 sữa giả bị khám phá nhưng vẫn tràn ngập thị trường Việt Nam, CSVN bất động(1)). Câu chuyện về sữa dành cho trẻ em chỉ là sự nhấn mạnh: đời sống thể chất của người dân chỉ đươc chăm sóc hợp lý trong trường hợp nhà cầm quyền không thối nát.

Đời sống tinh thần hay nói rõ hơn, lòng yêu đồng bào, yêu nước của người dân chỉ cất cánh bay cao nếu người dân được sinh sống trong một môi trường văn hóa truyền thống và lành mạnh. Muốn vậy văn hóa phải được rao giảng từ giáo dục học đường và giáo dục truyền thông xã hội. Cả hai nguồn cội giáo dục trọng yếu kia đều bị què quặt dưới ách cai trị của nhà cầm quyền phi chính thống: CSVN. Năm 1954 Miền Bắc Việt Nam, sau đó năm 1975 toàn thể Việt Nam bị tràn ngập bởi một hình thái văn hóa quái dị: tham ô và hối lộ được nâng lên hàng phong tục. Khi nhà nước muốn cướp đất của dân thì lập tức đất của dân biến thành công viên cây xanh. Sau đó chẳng bao lâu công viên cây xanh trở thành đất làm nhà cho cán bộ thống trị. Khi nhà nước muốn “ổn định chính trị” thì lập tức nhà riêng của những công dân yêu chuộng tự do dân chủ bị bôi trét bởi khối lượng lớn phân người pha trộn dầu nhớt. Hành động pha trộn kia nhằm làm cho công việc tẩy rửa mùi xú uế cực kỳ khó khăn. Khi CSVN muốn bảo vệ “uy tín” của đảng thì tội nhận hối lộ 2 triệu 600 ngàn Mỹ Kim của một công ty Nhật Bản lập tức biến thành tội cho thuê công ốc để bỏ túi riêng 70.000 Mỹ Kim… Sau nhiều thập niên ngụp lặn trong văn hóa đá cá lăn dưa như vừa mô tả dân tộc tình và dân tộc tính của một số người Việt quốc nội đã có những thoái trào nào chăng? Câu trả lời nằm trong các thảm cảnh điển hình sau đây.

Thảm cảnh một − Ngày 1 tháng Giêng, 2009, nhà cầm quyền Hà Nôi long trọng mở lễ hội Hoa Xuân 2009. Sau giờ khai mạc chẳng bao lâu, người Hà Nội, đặc biệt là đông đảo giới trẻ Hà Nội, đã thô bạo nhảy vào hội hoa. Người bẻ cành hoa, kẻ ôm nguyên chậu cây kiểng, mạnh ai nấy cướp hoa, trộm lá. Họ hiên ngang hành động như hội hoa bỗng nhiên hiện ra ở chốn rừng xanh không người. Chỉ thoáng chốc hoa chưa kịp nở đã vội tàn. Nhìn cảnh hội hoa bi tấn công tàn tệ có người thở dài cho rằng văn hóa Hà Nội ngày nay đang bị “Văn hóa của bầy ruồi” đè bẹp.

Một khi quần chúng phải ứng xử với nhau và với xã hội bằng văn hóa của bầy ruồi làm gì quân chúng kia còn có được ý thức yêu nước.

Thảm cảnh hai ─ Tin từ Vietnamnet, báo điện tử của CSVN, cho biết: tối ngày 20/01/2009, trên quốc lộ I, xe vận tải mang bảng số 29z-0495, chở gỗ tràm theo hướng Bắc Nam, khi tới xã Kỳ Đồng, Kỳ Anh, Hà Tĩnh đã đâm thẳng vào một xe chạy ngược chiều. Xe này chở trái cây mang bảng số 34l-2265. Tai nạn xảy ra làm hai tài xế cùng hai phụ xe bị thương rất nặng. Xác người bị thương, trái cây hòa với máu văng tung tóe trên quốc lộ I, tạo thành cảnh tượng tan nát đến rợn người. Ngay khi tai nạn vừa xày ra, dân chúng từ các làng xã chung quanh vội vàng kéo tới. Thế nhưng thay vì cấp cứu những người bị thương, đám dân chúng kia chỉ biết cướp trái cây, mang chạy về nhà.

Đồng bào không thương yêu đồng bào. Làm gì có sự việc đồng bào yêu nước.

Thảm cảnh ba ─ Tin từ Hà Nội cho biết ngày 05/02/2009, lúc 04 giờ sáng trạm kiểm dịch Hà Đông đã bắt giữ một xe vận tải chuyên chở 1500 gà vịt với giấy kiểm dịch bị cạo sửa. Vì vậy nhà cầm quyền thú y quyết định tiêu hủy số gà vịt vừa kể. Buổi chiều cùng ngày, 30 nhân viên y tế mang số gia cầm bị bắt tới bãi cát Hồng Vân, Thường Tín để thực hiện lệnh tiêu hủy. Khi nhân viên hữu trách bắt đầu ném gà vịt xuống hố và châm lửa hỏa thiêu thì dân chúng địa phương ào ạt nhảy vào cướp gà vit. Ngay cả khi 20 lít xăng đã đổ xuống hố và châm lửa, dân chúng vẫn nhảy xuống hố để cướp gà vịt. Có người bỏ gia cầm cướp được vào bao bố. Có người nhảy xuống hố ném gia cầm ngược lên miệng hố để cho người nhà chụp bắt. Có người leo lên xe chở gà vịt và lái xe ra giữa bãi cát để hành động cướp giật được thực hiện dễ dàng hơn… Kết quả chỉ có khoảng 300 gà vịt bị tiêu hủy 1200 con còn lại chạy vào bụng quần chúng địa phương.

Bản tin về vụ cướp gà ngay giữa huyện Thường Tín, Quận 10 Hà Nội cho thấy một số người Hà Nội ngày nay chủ trương thà ăn gà vịt bệnh còn hơn sống trong đói khổ.

Đứng giữa tình huống người dân quyết định “Vì vịt quên mình, vì gà bỏ mạng”, nhóm chữ “Vị quốc vong thân” nghe thật là mơ hồ và xa lạ!

Chỉ trong vòng 36 ngày Miền Bắc Việt Nam đã bộc lộ ba thảm trạng nói lên ba điểm xấu chính của văn hóa hiện tại. Một là người dân phủ định giá trị của đời sống xã hội. Hai là người dân chỉ yêu trái cây vấy máu chứ không xót thương đồng bào lâm nạn. Ba là người dân xem miếng thịt gà H5N1 quan trọng hơn mạng sống của chính mình. Đọc đến đây hẳn nhiên đảng CSVN sẽ lớn tiếng tố cáo bài viết này là bài viết có mục đích “Nói xấu người Việt Nam”. Chẳng ai có quyền lợi gì khi phải làm cái công việc bị gọi là “Người Việt nói xấu người Việt”. Vấn đề không là nói xấu hay nói tốt. Vấn đề chính là những tin tức được viện dẫn là những tin tức tuyệt đối chính xác. Vấn đề chính là muốn trị bệnh, bệnh nhân phải nói thật, nói rất thật cho bác sĩ biết mọi chi tiết về diễn tiến của bệnh trạng. Nói thật như thế kia không có nghĩa là bệnh nhân đã “nói xấu” cơ thể của chính đương sự. Một người muốn trị bệnh nhưng lại né tránh nói về bệnh lý của mình, người đó chẳng khác nào loài chim đà điểu. Có truyền thuyết cho rằng chim đà điểu trốn bảo cát bằng cách cắm đầu vào những đống cát. CSVN hãy từ giả bộ óc của chim đà điểu, hãy bình tĩnh đối diện với hiện tượng “văn hóa của bầy ruồi”.

Ba tin tức về văn hóa quần chúng cộng với những tin tức về đời sống cơm áo của người dân đặt cạnh những tin tức về ải Nam Quan, thác Bản Giốc, về Hoàng Sa, Trường Sa, vể bauxite Tây Nguyên… một người dầu lạc quan tới đâu cũng không thể phủ nhận sự thực rằng lịch sử Viêt Nam hiện đang chìm sâu trong đêm đen mênh mông và bất tận. Trong đêm đen kia đi tìm sức dân để chống ngoại xâm Trung Quốc quả là việc làm của một kẻ nhảy xuống đáy giếng để tìm đường tiếp cận với mặt trăng. Sức dân được trình bày như một tổng hợp của hai yếu tố tinh thần và thể chất. Tuy nhiên, không người nào không nhận biết rằng: ngày nào “văn hóa của bầy ruồi” còn tồn tại ngày đó sức dân chỉ là sức sống héo mòn của những người bị bệnh liệt kháng. Liệt kháng tim óc là trọng tâm. Liệt kháng thể xác là hệ lụy. Vì vậy vấn đề tiên quyết là sự phục hồi dân tộc tình, dân tộc tính. Phục hồi văn hóa Việt. Câu hỏi cần nêu lên là: Làm thế nào để có thể xác nhận đâu là nguyên nhân của sự việc văn hóa Việt Nam biến đổi thành văn hóa của bầy ruồi? Câu trả lời nằm ở bài toán trừ. Thực vậy, cùng là người Việt Nam tại sao người Việt ở Nam vỹ tuyến 17 (gọi tắt là người Nam) lễ độ và lịch sự hơn rất nhiều lần so với người Việt sanh ra và lớn lên ở bắc vỹ tuyến 17 (gọi tắt là người Bắc)? Xin thưa rằng: 1975 trừ đi 1954 chúng ta có đáp số là 20 năm. Nói rõ ra: người Bắc đã phải ngụp lặn trong guồng máy giáo dục của đảng CSVN hơn người Nam 20 năm. Đó là lý do giải thích tại sao người Bắc “dữ dằn” hơn người Nam.

Không còn nghi ngờ gì nữa, giáo dục Marx Hồ chính là cội nguồn sản sinh ra “văn hóa của bầy ruồi”. Muốn phục hồi văn hóa Việt, muốn phục hồi sức dân để đương đầu với Bắc xâm, người Việt Nam trong cũng như ngoài nước không còn chọn lựa nào khác hơn là cùng nhau nổ lực đẩy đảng CSVN rơi vào hố đào thải của lịch sử.

Posted: Wed Feb 25, 2009 5:38 am
by caubennoc
Thời sự kinh tế: Những người già đi xin việc

Ngô Nhân Dụng

Ngày hôm qua, trước khi Tổng Thống Barack Obama trình bày trước Quốc Hội về chính sách kinh tế của ông, Chủ Tịch Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang Ben Bernanke đã tuyên bố tại Thượng Viện rằng cuối năm nay kinh tế Mỹ có hy vọng hồi phục. Ðó là một tin mừng cho tất cả những người đang mất việc, nhưng không biết đối với những người trên 75 tuổi và đang đi tìm việc thì liệu họ có hy vọng gì không?

Nghĩ đến những người lớn tuổi (nếu tránh không gọi họ là những người già) đang thất nghiệp này, vì chúng tôi mới đọc một bài báo viết về họ. Nhật báo Wall Street cho biết một thống kê trong Tháng Giêng năm nay, số người lao động trên 75 tuổi ở trong tình trạng thất nghiệp ở Mỹ đang lên tới 73,000 người - tăng gần gấp rưỡi so với một năm trước. Con số 73 ngàn tuy nhỏ nhưng vẫn khiến chúng ta suy nghĩ, vì tuổi trên 75 của họ. Chúng ta biết rằng chỉ những người đã mất việc và đang đi tìm việc làm mới được đếm để liệt kê trong các số thống kê thất nghiệp. Những người không đi xin việc hoặc đã chán nên ngưng đi xin việc thì không được kể trong số người lao động thất nghiệp, lớp người thứ hai đó là những người đã “bỏ cuộc” và ra khỏi thị trường nhân dụng. Khi đọc thống kê về thất nghiệp ở mỗi quốc gia chúng ta không nên quên họ định nghĩa chữ thất nghiệp khác nhau, và họ tính toán cũng khác nhau. Nhất là khi so sánh các con số tỷ lệ thất nghiệp giữa các nước, càng nên thận trọng.

Tờ nhật báo Wall Street, được coi là tiếng nói của thị trường chứng khoán New York, không phải chỉ quan tâm đến giá các cổ phần lên xuống mà còn trình bày cả những bộ mặt khác của xã hội. Một phóng viên đã đi tìm hiểu, lắng nghe và kể lại chuyện nhiều người trong số các “cụ thất nghiệp” này, phải khâm phục công truy tầm thông tin để phục vụ độc giả của họ. Người Việt sống ở Mỹ sẽ hiểu biết thêm về xã hội chung quanh sau khi biết những “chuyện lạ” này.

Bà Mary Appleby năm nay 76 tuổi, đã làm công việc nấu bếp, chạy bàn và lau chùi ở một quán ăn nhỏ trong tòa án tại thị xã Akron, tiểu bang Ohio; gần đây chân bà yếu quá đi đứng phải chống gậy nên được giao việc giữ két thâu tiền. Bà được trả lương tối thiểu, số tiền đó phụ thêm vào số hưu liễm 723 đô la một tháng, đủ để chi tiêu. Cách đây 5 năm bà Appleby mới phá ngôi nhà bà ở từ thời thơ ấu, và cả đời không bao giờ lập gia đình; thay vào đó bà xây một căn nhà nhỏ mới. Nhưng bà mới mất việc làm từ cuối năm ngoái, vì quán ăn lỗ. Các thực khách quen thuộc làm trong khu tòa án, bây giờ họ thường đem thức ăn đi ăn trưa cũng vì thời buổi khó khăn. Bây giờ bà không đủ tiền trả nợ địa ốc! Một tổ hợp luật sư vẫn đến tòa án làm việc đã chung góp tiền giúp bà trả tiền sưởi và tiền nợ xây nhà cho qua Mùa Ðông này. Nhưng sau đây không biết bà sẽ tính sao. Bà quyết định đi mổ đầu gối để đi lại dễ dàng hơn, hy vọng sẽ kiếm được việc làm, dù việc làm trả lương tối thiểu.

Bà Mary Bennett đã làm việc từ năm 17 tuổi cho đến năm nay được 80 tuổi. Cả đời bà chỉ nghỉ việc bẩy lần khi sanh con và một lần khi phải mổ ghép mạch máu (bypass surgery) vào năm 1995. Bà đã từng làm hai công việc song song sau khi ly dị, ban ngày thì làm ở xưởng ráp máy pha cà phê, buổi tối thì làm ở trạm đậu xe vận tải hoặc ở quán rượu. Khi một trong hai công việc bị mất, bà viết bảng “Tìm Việc Làm” dán ngay trên cửa sổ nhà mình. Khi tới tuổi 75 bà đã nghĩ đến việc về hưu, bỏ không làm ở trạm xe vận tải, nhưng thấy rằng nếu nghỉ việc thì thiếu tiền. Bà đã xin vào làm “thợ máy” (machinist) mặc dù cả đời chưa bao giờ làm nghề này. Bà được nhận, vào làm ở cơ xưởng nhưng chỉ làm những bộ phận máy nhỏ, được trả lương 9 đô la một giờ. Tháng Ba năm ngoái bà Bennett bị sa thải. Bà đi xin việc làm ở quán ăn, các cửa tiệm, và xin đi lau chùi nhà cửa trong một thương xá, nhưng không thấy ai trả lời. Năm ngoái bà Bennett đi làm đơn lãnh bảo hiểm thất nghiệp. Và đây là lần đầu tiên trong đời bà xin lãnh trợ cấp thất nghiệp, sau cả một đời đóng góp vào quỹ đó! Tuy nhiên bà vẫn đi kiếm việc, Tháng Giêng năm nay bà đã được một bệnh viện nhận vào làm trong quán ăn, trả 7.15 đô la một giờ, mỗi tuần 20 giờ. Con lớn của bà bây giờ đã về hưu, vẫn khuyên mẹ đừng đi làm nữa. Nhưng bà không thể ngưng, vì không đủ tiền sống. “Nuôi một đời bẩy đứa con, làm sao có thể để dành tiền về hưu được?”

Ông Fred Dase năm nay 81 tuổi đã làm việc suốt 40 năm với nghề pha rượu ở các quán ăn trong thành phố Pittsburg, Pennsylvania. Năm ngoái ông vẫn còn làm việc trong câu lạc bộ các cựu chiến binh Mỹ đã chiến đấu ở hải ngoại. Nhưng ông nghỉ việc từ Tháng Tám vì chân mỏi khi phải đứng lâu quá. Ông đang đi tìm việc ở các cửa hàng, nhưng rất ít hy vọng. Ông cũng biết: “Ai họ đi mướn một ông già 81?” Hai vợ chồng ông mỗi tháng được 1,625 đô la tiền hưu bổng xã hội, Social Security. Nhưng hiện nay ông đang phải trả mỗi tháng 363 đô la tiền nợ trả góp cho ngân hàng. Vì năm ngoái ông thấy món tiền nợ vì dùng thẻ tín dụng (credit card) leo lên tới 29,000 đô la, ông đã cầm thế nhà để vay 26,000 trả bớt. Hiện nay ông vẫn còn nợ 5,000 đô la vì dùng thẻ tín dụng. Ông Dase hiện đang đi tìm việc, trong khi ghi tên vào những lớp huấn nghệ cho người già. Ông làm việc nhẹ, được trả lương 7.15 đô la một giờ, mỗi tuần 20 giờ, trong khi chờ đợi việc chính thức. Nhưng cứ đến cuối tháng là hết cả tiền mua thức ăn, phải nhờ con gái giúp đỡ.

Trong năm 2008 những tiểu bang Rhode Island có tỷ lệ những người trên 65 tuổi thất nghiệp cao nhất, 7.7 và 7,6%; California đứng hạng cao, 5.5%, trong khi số trung bình toàn quốc là 4.2% mà tới đầu năm 2009 đã lên 5.7%, thấp hơn tỷ lệ thất nghiệp chung ở Mỹ là 7.6%. So sánh hai tỷ số đó, chúng ta có cảm tưởng người “già” không bị thất nghiệp nhiều như người trẻ. Nhưng thực ra tỷ số thấp hơn có thể chỉ vì đại đa số những người trên 65 tuổi mà bị mất việc thì biết thân tự nguyện ra khỏi thị trường nhân dụng, không đi tìm việc nữa và không được đếm nữa!

Tỷ lệ thất nghiệp của những người trên 65 tuổi đầu năm nay đã tăng hơn một phần ba so với cũng tỷ lệ đó trong thời kỳ kinh tế suy thoái nặng vào năm 1981, khi đó chỉ có 4.3%. Nhưng tình trạng gia tăng này cũng không có nghĩa là người già đang thua thiệt hơn thời xưa. Chẳng qua chỉ vì từ mười năm nay số người trên 65 tuổi vẫn còn đi làm tăng lên, cho nên khi kinh tế xuống, tỷ lệ thất nghiệp cũng cao hơn. Mười năm trước, trong lực lượng lao động ở Mỹ chưa tới 12% người trên tuổi 65, nhưng hiện nay họ chiếm gần 17%. Lớp người lao động trên 75 tuổi chỉ chiếm dưới 5% mười năm trước đây, giờ đã lên tới hơn 7% lực lượng lao động cả nước!

Người già ở Mỹ khó kiếm việc hơn, những người trên 55 tuổi trung bình mất việc 25 tuần sau mới tìm lại được việc làm (nửa năm trời). Những người dưới tuổi đó trung bình chỉ đợi 19 tuần đã kiếm được việc.

Người Việt Nam sống ở Mỹ chắc ít người trải qua những kinh nghiệm giống như ba trường hợp mà nhật báo Wall Street kể trên đây, tuy nhiên không phải là không có ở lớp tuổi dưới 75!

Một lý do là dân mình lo xa hơn, khi còn đi làm ai cũng chi tiêu dưới mức lợi tức của mình để dành giụm cho lúc tuổi già. Một lý do khác là gia đình người Việt chặt chẽ hơn, con cái không quên cha mẹ khi về già. Hiện ở trong cộng đồng người Việt tị nạn cũng có những “cụ” trên 65 tuổi vẫn tiếp tục đi làm, từ việc nấu ăn đến việc quét dọn nhà cửa, có cụ còn làm thợ sơn, thợ điện; nhưng nhiều người kiếm tiền chỉ để giúp đỡ người khác chứ không phải vì lo lắng cho riêng mình.

Nhưng chúng ta cũng phải kính phục những người Mỹ trên 75 tuổi mà vẫn kiên trì đi làm, khi mất việc lại đi tìm việc. Trong khi đó xã hội vẫn thấy những người tuổi còn chưa tới 60 mà đã quen sống nhờ đồng tiền trợ cấp của người chung quanh đóng thuế. Những người già sinh trưởng ở nước Mỹ vẫn đi tìm việc làm là những tấm gương sáng cho những di dân mới tới. Nhưng ở đây chúng ta cần nhìn xa hơn những trường hợp cá nhân.

Tình trạng người lớn tuổi vẫn phải đi tìm việc có một nguyên nhân sâu xa, là cơ cấu tổ chức xã hội ở Mỹ. Tổ chức hưu bổng xã hội (social security) không đủ cho người về hưu nếu họ đóng góp ít ỏi vào quỹ đó trong suốt cuộc đời làm việc, vì họ chỉ làm những công việc lương thấp. Những người làm cho xí nghiệp nhỏ hoặc tự làm chủ bình thường không đóng đủ tiền cho quỹ hưu bổng xã hội khi chính họ về già. Chỉ những người may mắn làm việc ở các công ty cỡ trung và lớn mới được chủ nhân đóng góp thêm và yên tâm khi về hưu.

Nhất là về mặt bảo hiểm y tế, trong nước Mỹ có 50 triệu người không có bảo hiểm, người già thì không đủ tiền thuốc men. Những người đang làm ở xí nghiệp lớn, có bảo hiểm tốt, khi mất việc thì mất luôn. Quỹ bảo hiểm y tế xã hội chung cho những người về hưu không đủ trả chi phí bệnh tật vì phí tổn càng ngày càng cao hơn. Ở Canada cứ 100 đồng người dân tạo ra trong nền kinh tế thì chi phí về y tế chỉ hết 9 đô la. Nhưng ở Mỹ cứ 100 đồng trong Tổng Sản Lượng Nội Ðịa thì phải chi trên 15 đồng cho y tế, cho thấy cả hệ thống thiếu hiệu quả kinh tế! Tình trạng chi phí bệnh viện, tiền thuốc và bác sĩ lên cao là một nguyên nhân chính khiến các cụ già trên 65 tuổi vẫn phải đi làm để hưởng bảo hiểm y tế của công ty chủ nhân, hoặc để có tiền mua thuốc. Cho nên, muốn cho mọi người đến tuổi nghỉ hưu không phải lo đi kiếm việc làm, còn phải thay đổi tổ chức bảo hiểm y tế ở Mỹ.

Posted: Wed Feb 25, 2009 5:38 am
by caubennoc
Thời sự kinh tế: Những người già đi xin việc

Ngô Nhân Dụng

Ngày hôm qua, trước khi Tổng Thống Barack Obama trình bày trước Quốc Hội về chính sách kinh tế của ông, Chủ Tịch Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang Ben Bernanke đã tuyên bố tại Thượng Viện rằng cuối năm nay kinh tế Mỹ có hy vọng hồi phục. Ðó là một tin mừng cho tất cả những người đang mất việc, nhưng không biết đối với những người trên 75 tuổi và đang đi tìm việc thì liệu họ có hy vọng gì không?

Nghĩ đến những người lớn tuổi (nếu tránh không gọi họ là những người già) đang thất nghiệp này, vì chúng tôi mới đọc một bài báo viết về họ. Nhật báo Wall Street cho biết một thống kê trong Tháng Giêng năm nay, số người lao động trên 75 tuổi ở trong tình trạng thất nghiệp ở Mỹ đang lên tới 73,000 người - tăng gần gấp rưỡi so với một năm trước. Con số 73 ngàn tuy nhỏ nhưng vẫn khiến chúng ta suy nghĩ, vì tuổi trên 75 của họ. Chúng ta biết rằng chỉ những người đã mất việc và đang đi tìm việc làm mới được đếm để liệt kê trong các số thống kê thất nghiệp. Những người không đi xin việc hoặc đã chán nên ngưng đi xin việc thì không được kể trong số người lao động thất nghiệp, lớp người thứ hai đó là những người đã “bỏ cuộc” và ra khỏi thị trường nhân dụng. Khi đọc thống kê về thất nghiệp ở mỗi quốc gia chúng ta không nên quên họ định nghĩa chữ thất nghiệp khác nhau, và họ tính toán cũng khác nhau. Nhất là khi so sánh các con số tỷ lệ thất nghiệp giữa các nước, càng nên thận trọng.

Tờ nhật báo Wall Street, được coi là tiếng nói của thị trường chứng khoán New York, không phải chỉ quan tâm đến giá các cổ phần lên xuống mà còn trình bày cả những bộ mặt khác của xã hội. Một phóng viên đã đi tìm hiểu, lắng nghe và kể lại chuyện nhiều người trong số các “cụ thất nghiệp” này, phải khâm phục công truy tầm thông tin để phục vụ độc giả của họ. Người Việt sống ở Mỹ sẽ hiểu biết thêm về xã hội chung quanh sau khi biết những “chuyện lạ” này.

Bà Mary Appleby năm nay 76 tuổi, đã làm công việc nấu bếp, chạy bàn và lau chùi ở một quán ăn nhỏ trong tòa án tại thị xã Akron, tiểu bang Ohio; gần đây chân bà yếu quá đi đứng phải chống gậy nên được giao việc giữ két thâu tiền. Bà được trả lương tối thiểu, số tiền đó phụ thêm vào số hưu liễm 723 đô la một tháng, đủ để chi tiêu. Cách đây 5 năm bà Appleby mới phá ngôi nhà bà ở từ thời thơ ấu, và cả đời không bao giờ lập gia đình; thay vào đó bà xây một căn nhà nhỏ mới. Nhưng bà mới mất việc làm từ cuối năm ngoái, vì quán ăn lỗ. Các thực khách quen thuộc làm trong khu tòa án, bây giờ họ thường đem thức ăn đi ăn trưa cũng vì thời buổi khó khăn. Bây giờ bà không đủ tiền trả nợ địa ốc! Một tổ hợp luật sư vẫn đến tòa án làm việc đã chung góp tiền giúp bà trả tiền sưởi và tiền nợ xây nhà cho qua Mùa Ðông này. Nhưng sau đây không biết bà sẽ tính sao. Bà quyết định đi mổ đầu gối để đi lại dễ dàng hơn, hy vọng sẽ kiếm được việc làm, dù việc làm trả lương tối thiểu.

Bà Mary Bennett đã làm việc từ năm 17 tuổi cho đến năm nay được 80 tuổi. Cả đời bà chỉ nghỉ việc bẩy lần khi sanh con và một lần khi phải mổ ghép mạch máu (bypass surgery) vào năm 1995. Bà đã từng làm hai công việc song song sau khi ly dị, ban ngày thì làm ở xưởng ráp máy pha cà phê, buổi tối thì làm ở trạm đậu xe vận tải hoặc ở quán rượu. Khi một trong hai công việc bị mất, bà viết bảng “Tìm Việc Làm” dán ngay trên cửa sổ nhà mình. Khi tới tuổi 75 bà đã nghĩ đến việc về hưu, bỏ không làm ở trạm xe vận tải, nhưng thấy rằng nếu nghỉ việc thì thiếu tiền. Bà đã xin vào làm “thợ máy” (machinist) mặc dù cả đời chưa bao giờ làm nghề này. Bà được nhận, vào làm ở cơ xưởng nhưng chỉ làm những bộ phận máy nhỏ, được trả lương 9 đô la một giờ. Tháng Ba năm ngoái bà Bennett bị sa thải. Bà đi xin việc làm ở quán ăn, các cửa tiệm, và xin đi lau chùi nhà cửa trong một thương xá, nhưng không thấy ai trả lời. Năm ngoái bà Bennett đi làm đơn lãnh bảo hiểm thất nghiệp. Và đây là lần đầu tiên trong đời bà xin lãnh trợ cấp thất nghiệp, sau cả một đời đóng góp vào quỹ đó! Tuy nhiên bà vẫn đi kiếm việc, Tháng Giêng năm nay bà đã được một bệnh viện nhận vào làm trong quán ăn, trả 7.15 đô la một giờ, mỗi tuần 20 giờ. Con lớn của bà bây giờ đã về hưu, vẫn khuyên mẹ đừng đi làm nữa. Nhưng bà không thể ngưng, vì không đủ tiền sống. “Nuôi một đời bẩy đứa con, làm sao có thể để dành tiền về hưu được?”

Ông Fred Dase năm nay 81 tuổi đã làm việc suốt 40 năm với nghề pha rượu ở các quán ăn trong thành phố Pittsburg, Pennsylvania. Năm ngoái ông vẫn còn làm việc trong câu lạc bộ các cựu chiến binh Mỹ đã chiến đấu ở hải ngoại. Nhưng ông nghỉ việc từ Tháng Tám vì chân mỏi khi phải đứng lâu quá. Ông đang đi tìm việc ở các cửa hàng, nhưng rất ít hy vọng. Ông cũng biết: “Ai họ đi mướn một ông già 81?” Hai vợ chồng ông mỗi tháng được 1,625 đô la tiền hưu bổng xã hội, Social Security. Nhưng hiện nay ông đang phải trả mỗi tháng 363 đô la tiền nợ trả góp cho ngân hàng. Vì năm ngoái ông thấy món tiền nợ vì dùng thẻ tín dụng (credit card) leo lên tới 29,000 đô la, ông đã cầm thế nhà để vay 26,000 trả bớt. Hiện nay ông vẫn còn nợ 5,000 đô la vì dùng thẻ tín dụng. Ông Dase hiện đang đi tìm việc, trong khi ghi tên vào những lớp huấn nghệ cho người già. Ông làm việc nhẹ, được trả lương 7.15 đô la một giờ, mỗi tuần 20 giờ, trong khi chờ đợi việc chính thức. Nhưng cứ đến cuối tháng là hết cả tiền mua thức ăn, phải nhờ con gái giúp đỡ.

Trong năm 2008 những tiểu bang Rhode Island có tỷ lệ những người trên 65 tuổi thất nghiệp cao nhất, 7.7 và 7,6%; California đứng hạng cao, 5.5%, trong khi số trung bình toàn quốc là 4.2% mà tới đầu năm 2009 đã lên 5.7%, thấp hơn tỷ lệ thất nghiệp chung ở Mỹ là 7.6%. So sánh hai tỷ số đó, chúng ta có cảm tưởng người “già” không bị thất nghiệp nhiều như người trẻ. Nhưng thực ra tỷ số thấp hơn có thể chỉ vì đại đa số những người trên 65 tuổi mà bị mất việc thì biết thân tự nguyện ra khỏi thị trường nhân dụng, không đi tìm việc nữa và không được đếm nữa!

Tỷ lệ thất nghiệp của những người trên 65 tuổi đầu năm nay đã tăng hơn một phần ba so với cũng tỷ lệ đó trong thời kỳ kinh tế suy thoái nặng vào năm 1981, khi đó chỉ có 4.3%. Nhưng tình trạng gia tăng này cũng không có nghĩa là người già đang thua thiệt hơn thời xưa. Chẳng qua chỉ vì từ mười năm nay số người trên 65 tuổi vẫn còn đi làm tăng lên, cho nên khi kinh tế xuống, tỷ lệ thất nghiệp cũng cao hơn. Mười năm trước, trong lực lượng lao động ở Mỹ chưa tới 12% người trên tuổi 65, nhưng hiện nay họ chiếm gần 17%. Lớp người lao động trên 75 tuổi chỉ chiếm dưới 5% mười năm trước đây, giờ đã lên tới hơn 7% lực lượng lao động cả nước!

Người già ở Mỹ khó kiếm việc hơn, những người trên 55 tuổi trung bình mất việc 25 tuần sau mới tìm lại được việc làm (nửa năm trời). Những người dưới tuổi đó trung bình chỉ đợi 19 tuần đã kiếm được việc.

Người Việt Nam sống ở Mỹ chắc ít người trải qua những kinh nghiệm giống như ba trường hợp mà nhật báo Wall Street kể trên đây, tuy nhiên không phải là không có ở lớp tuổi dưới 75!

Một lý do là dân mình lo xa hơn, khi còn đi làm ai cũng chi tiêu dưới mức lợi tức của mình để dành giụm cho lúc tuổi già. Một lý do khác là gia đình người Việt chặt chẽ hơn, con cái không quên cha mẹ khi về già. Hiện ở trong cộng đồng người Việt tị nạn cũng có những “cụ” trên 65 tuổi vẫn tiếp tục đi làm, từ việc nấu ăn đến việc quét dọn nhà cửa, có cụ còn làm thợ sơn, thợ điện; nhưng nhiều người kiếm tiền chỉ để giúp đỡ người khác chứ không phải vì lo lắng cho riêng mình.

Nhưng chúng ta cũng phải kính phục những người Mỹ trên 75 tuổi mà vẫn kiên trì đi làm, khi mất việc lại đi tìm việc. Trong khi đó xã hội vẫn thấy những người tuổi còn chưa tới 60 mà đã quen sống nhờ đồng tiền trợ cấp của người chung quanh đóng thuế. Những người già sinh trưởng ở nước Mỹ vẫn đi tìm việc làm là những tấm gương sáng cho những di dân mới tới. Nhưng ở đây chúng ta cần nhìn xa hơn những trường hợp cá nhân.

Tình trạng người lớn tuổi vẫn phải đi tìm việc có một nguyên nhân sâu xa, là cơ cấu tổ chức xã hội ở Mỹ. Tổ chức hưu bổng xã hội (social security) không đủ cho người về hưu nếu họ đóng góp ít ỏi vào quỹ đó trong suốt cuộc đời làm việc, vì họ chỉ làm những công việc lương thấp. Những người làm cho xí nghiệp nhỏ hoặc tự làm chủ bình thường không đóng đủ tiền cho quỹ hưu bổng xã hội khi chính họ về già. Chỉ những người may mắn làm việc ở các công ty cỡ trung và lớn mới được chủ nhân đóng góp thêm và yên tâm khi về hưu.

Nhất là về mặt bảo hiểm y tế, trong nước Mỹ có 50 triệu người không có bảo hiểm, người già thì không đủ tiền thuốc men. Những người đang làm ở xí nghiệp lớn, có bảo hiểm tốt, khi mất việc thì mất luôn. Quỹ bảo hiểm y tế xã hội chung cho những người về hưu không đủ trả chi phí bệnh tật vì phí tổn càng ngày càng cao hơn. Ở Canada cứ 100 đồng người dân tạo ra trong nền kinh tế thì chi phí về y tế chỉ hết 9 đô la. Nhưng ở Mỹ cứ 100 đồng trong Tổng Sản Lượng Nội Ðịa thì phải chi trên 15 đồng cho y tế, cho thấy cả hệ thống thiếu hiệu quả kinh tế! Tình trạng chi phí bệnh viện, tiền thuốc và bác sĩ lên cao là một nguyên nhân chính khiến các cụ già trên 65 tuổi vẫn phải đi làm để hưởng bảo hiểm y tế của công ty chủ nhân, hoặc để có tiền mua thuốc. Cho nên, muốn cho mọi người đến tuổi nghỉ hưu không phải lo đi kiếm việc làm, còn phải thay đổi tổ chức bảo hiểm y tế ở Mỹ.

Posted: Wed Feb 25, 2009 5:39 am
by caubennoc
Thời sự kinh tế: Những người già đi xin việc

Ngô Nhân Dụng

Ngày hôm qua, trước khi Tổng Thống Barack Obama trình bày trước Quốc Hội về chính sách kinh tế của ông, Chủ Tịch Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang Ben Bernanke đã tuyên bố tại Thượng Viện rằng cuối năm nay kinh tế Mỹ có hy vọng hồi phục. Ðó là một tin mừng cho tất cả những người đang mất việc, nhưng không biết đối với những người trên 75 tuổi và đang đi tìm việc thì liệu họ có hy vọng gì không?

Nghĩ đến những người lớn tuổi (nếu tránh không gọi họ là những người già) đang thất nghiệp này, vì chúng tôi mới đọc một bài báo viết về họ. Nhật báo Wall Street cho biết một thống kê trong Tháng Giêng năm nay, số người lao động trên 75 tuổi ở trong tình trạng thất nghiệp ở Mỹ đang lên tới 73,000 người - tăng gần gấp rưỡi so với một năm trước. Con số 73 ngàn tuy nhỏ nhưng vẫn khiến chúng ta suy nghĩ, vì tuổi trên 75 của họ. Chúng ta biết rằng chỉ những người đã mất việc và đang đi tìm việc làm mới được đếm để liệt kê trong các số thống kê thất nghiệp. Những người không đi xin việc hoặc đã chán nên ngưng đi xin việc thì không được kể trong số người lao động thất nghiệp, lớp người thứ hai đó là những người đã “bỏ cuộc” và ra khỏi thị trường nhân dụng. Khi đọc thống kê về thất nghiệp ở mỗi quốc gia chúng ta không nên quên họ định nghĩa chữ thất nghiệp khác nhau, và họ tính toán cũng khác nhau. Nhất là khi so sánh các con số tỷ lệ thất nghiệp giữa các nước, càng nên thận trọng.

Tờ nhật báo Wall Street, được coi là tiếng nói của thị trường chứng khoán New York, không phải chỉ quan tâm đến giá các cổ phần lên xuống mà còn trình bày cả những bộ mặt khác của xã hội. Một phóng viên đã đi tìm hiểu, lắng nghe và kể lại chuyện nhiều người trong số các “cụ thất nghiệp” này, phải khâm phục công truy tầm thông tin để phục vụ độc giả của họ. Người Việt sống ở Mỹ sẽ hiểu biết thêm về xã hội chung quanh sau khi biết những “chuyện lạ” này.

Bà Mary Appleby năm nay 76 tuổi, đã làm công việc nấu bếp, chạy bàn và lau chùi ở một quán ăn nhỏ trong tòa án tại thị xã Akron, tiểu bang Ohio; gần đây chân bà yếu quá đi đứng phải chống gậy nên được giao việc giữ két thâu tiền. Bà được trả lương tối thiểu, số tiền đó phụ thêm vào số hưu liễm 723 đô la một tháng, đủ để chi tiêu. Cách đây 5 năm bà Appleby mới phá ngôi nhà bà ở từ thời thơ ấu, và cả đời không bao giờ lập gia đình; thay vào đó bà xây một căn nhà nhỏ mới. Nhưng bà mới mất việc làm từ cuối năm ngoái, vì quán ăn lỗ. Các thực khách quen thuộc làm trong khu tòa án, bây giờ họ thường đem thức ăn đi ăn trưa cũng vì thời buổi khó khăn. Bây giờ bà không đủ tiền trả nợ địa ốc! Một tổ hợp luật sư vẫn đến tòa án làm việc đã chung góp tiền giúp bà trả tiền sưởi và tiền nợ xây nhà cho qua Mùa Ðông này. Nhưng sau đây không biết bà sẽ tính sao. Bà quyết định đi mổ đầu gối để đi lại dễ dàng hơn, hy vọng sẽ kiếm được việc làm, dù việc làm trả lương tối thiểu.

Bà Mary Bennett đã làm việc từ năm 17 tuổi cho đến năm nay được 80 tuổi. Cả đời bà chỉ nghỉ việc bẩy lần khi sanh con và một lần khi phải mổ ghép mạch máu (bypass surgery) vào năm 1995. Bà đã từng làm hai công việc song song sau khi ly dị, ban ngày thì làm ở xưởng ráp máy pha cà phê, buổi tối thì làm ở trạm đậu xe vận tải hoặc ở quán rượu. Khi một trong hai công việc bị mất, bà viết bảng “Tìm Việc Làm” dán ngay trên cửa sổ nhà mình. Khi tới tuổi 75 bà đã nghĩ đến việc về hưu, bỏ không làm ở trạm xe vận tải, nhưng thấy rằng nếu nghỉ việc thì thiếu tiền. Bà đã xin vào làm “thợ máy” (machinist) mặc dù cả đời chưa bao giờ làm nghề này. Bà được nhận, vào làm ở cơ xưởng nhưng chỉ làm những bộ phận máy nhỏ, được trả lương 9 đô la một giờ. Tháng Ba năm ngoái bà Bennett bị sa thải. Bà đi xin việc làm ở quán ăn, các cửa tiệm, và xin đi lau chùi nhà cửa trong một thương xá, nhưng không thấy ai trả lời. Năm ngoái bà Bennett đi làm đơn lãnh bảo hiểm thất nghiệp. Và đây là lần đầu tiên trong đời bà xin lãnh trợ cấp thất nghiệp, sau cả một đời đóng góp vào quỹ đó! Tuy nhiên bà vẫn đi kiếm việc, Tháng Giêng năm nay bà đã được một bệnh viện nhận vào làm trong quán ăn, trả 7.15 đô la một giờ, mỗi tuần 20 giờ. Con lớn của bà bây giờ đã về hưu, vẫn khuyên mẹ đừng đi làm nữa. Nhưng bà không thể ngưng, vì không đủ tiền sống. “Nuôi một đời bẩy đứa con, làm sao có thể để dành tiền về hưu được?”

Ông Fred Dase năm nay 81 tuổi đã làm việc suốt 40 năm với nghề pha rượu ở các quán ăn trong thành phố Pittsburg, Pennsylvania. Năm ngoái ông vẫn còn làm việc trong câu lạc bộ các cựu chiến binh Mỹ đã chiến đấu ở hải ngoại. Nhưng ông nghỉ việc từ Tháng Tám vì chân mỏi khi phải đứng lâu quá. Ông đang đi tìm việc ở các cửa hàng, nhưng rất ít hy vọng. Ông cũng biết: “Ai họ đi mướn một ông già 81?” Hai vợ chồng ông mỗi tháng được 1,625 đô la tiền hưu bổng xã hội, Social Security. Nhưng hiện nay ông đang phải trả mỗi tháng 363 đô la tiền nợ trả góp cho ngân hàng. Vì năm ngoái ông thấy món tiền nợ vì dùng thẻ tín dụng (credit card) leo lên tới 29,000 đô la, ông đã cầm thế nhà để vay 26,000 trả bớt. Hiện nay ông vẫn còn nợ 5,000 đô la vì dùng thẻ tín dụng. Ông Dase hiện đang đi tìm việc, trong khi ghi tên vào những lớp huấn nghệ cho người già. Ông làm việc nhẹ, được trả lương 7.15 đô la một giờ, mỗi tuần 20 giờ, trong khi chờ đợi việc chính thức. Nhưng cứ đến cuối tháng là hết cả tiền mua thức ăn, phải nhờ con gái giúp đỡ.

Trong năm 2008 những tiểu bang Rhode Island có tỷ lệ những người trên 65 tuổi thất nghiệp cao nhất, 7.7 và 7,6%; California đứng hạng cao, 5.5%, trong khi số trung bình toàn quốc là 4.2% mà tới đầu năm 2009 đã lên 5.7%, thấp hơn tỷ lệ thất nghiệp chung ở Mỹ là 7.6%. So sánh hai tỷ số đó, chúng ta có cảm tưởng người “già” không bị thất nghiệp nhiều như người trẻ. Nhưng thực ra tỷ số thấp hơn có thể chỉ vì đại đa số những người trên 65 tuổi mà bị mất việc thì biết thân tự nguyện ra khỏi thị trường nhân dụng, không đi tìm việc nữa và không được đếm nữa!

Tỷ lệ thất nghiệp của những người trên 65 tuổi đầu năm nay đã tăng hơn một phần ba so với cũng tỷ lệ đó trong thời kỳ kinh tế suy thoái nặng vào năm 1981, khi đó chỉ có 4.3%. Nhưng tình trạng gia tăng này cũng không có nghĩa là người già đang thua thiệt hơn thời xưa. Chẳng qua chỉ vì từ mười năm nay số người trên 65 tuổi vẫn còn đi làm tăng lên, cho nên khi kinh tế xuống, tỷ lệ thất nghiệp cũng cao hơn. Mười năm trước, trong lực lượng lao động ở Mỹ chưa tới 12% người trên tuổi 65, nhưng hiện nay họ chiếm gần 17%. Lớp người lao động trên 75 tuổi chỉ chiếm dưới 5% mười năm trước đây, giờ đã lên tới hơn 7% lực lượng lao động cả nước!

Người già ở Mỹ khó kiếm việc hơn, những người trên 55 tuổi trung bình mất việc 25 tuần sau mới tìm lại được việc làm (nửa năm trời). Những người dưới tuổi đó trung bình chỉ đợi 19 tuần đã kiếm được việc.

Người Việt Nam sống ở Mỹ chắc ít người trải qua những kinh nghiệm giống như ba trường hợp mà nhật báo Wall Street kể trên đây, tuy nhiên không phải là không có ở lớp tuổi dưới 75!

Một lý do là dân mình lo xa hơn, khi còn đi làm ai cũng chi tiêu dưới mức lợi tức của mình để dành giụm cho lúc tuổi già. Một lý do khác là gia đình người Việt chặt chẽ hơn, con cái không quên cha mẹ khi về già. Hiện ở trong cộng đồng người Việt tị nạn cũng có những “cụ” trên 65 tuổi vẫn tiếp tục đi làm, từ việc nấu ăn đến việc quét dọn nhà cửa, có cụ còn làm thợ sơn, thợ điện; nhưng nhiều người kiếm tiền chỉ để giúp đỡ người khác chứ không phải vì lo lắng cho riêng mình.

Nhưng chúng ta cũng phải kính phục những người Mỹ trên 75 tuổi mà vẫn kiên trì đi làm, khi mất việc lại đi tìm việc. Trong khi đó xã hội vẫn thấy những người tuổi còn chưa tới 60 mà đã quen sống nhờ đồng tiền trợ cấp của người chung quanh đóng thuế. Những người già sinh trưởng ở nước Mỹ vẫn đi tìm việc làm là những tấm gương sáng cho những di dân mới tới. Nhưng ở đây chúng ta cần nhìn xa hơn những trường hợp cá nhân.

Tình trạng người lớn tuổi vẫn phải đi tìm việc có một nguyên nhân sâu xa, là cơ cấu tổ chức xã hội ở Mỹ. Tổ chức hưu bổng xã hội (social security) không đủ cho người về hưu nếu họ đóng góp ít ỏi vào quỹ đó trong suốt cuộc đời làm việc, vì họ chỉ làm những công việc lương thấp. Những người làm cho xí nghiệp nhỏ hoặc tự làm chủ bình thường không đóng đủ tiền cho quỹ hưu bổng xã hội khi chính họ về già. Chỉ những người may mắn làm việc ở các công ty cỡ trung và lớn mới được chủ nhân đóng góp thêm và yên tâm khi về hưu.

Nhất là về mặt bảo hiểm y tế, trong nước Mỹ có 50 triệu người không có bảo hiểm, người già thì không đủ tiền thuốc men. Những người đang làm ở xí nghiệp lớn, có bảo hiểm tốt, khi mất việc thì mất luôn. Quỹ bảo hiểm y tế xã hội chung cho những người về hưu không đủ trả chi phí bệnh tật vì phí tổn càng ngày càng cao hơn. Ở Canada cứ 100 đồng người dân tạo ra trong nền kinh tế thì chi phí về y tế chỉ hết 9 đô la. Nhưng ở Mỹ cứ 100 đồng trong Tổng Sản Lượng Nội Ðịa thì phải chi trên 15 đồng cho y tế, cho thấy cả hệ thống thiếu hiệu quả kinh tế! Tình trạng chi phí bệnh viện, tiền thuốc và bác sĩ lên cao là một nguyên nhân chính khiến các cụ già trên 65 tuổi vẫn phải đi làm để hưởng bảo hiểm y tế của công ty chủ nhân, hoặc để có tiền mua thuốc. Cho nên, muốn cho mọi người đến tuổi nghỉ hưu không phải lo đi kiếm việc làm, còn phải thay đổi tổ chức bảo hiểm y tế ở Mỹ.

Posted: Thu Feb 26, 2009 2:51 am
by quaichao
Khai thác Bauxite: Thành tích cộng sản
Tác giả: Lê Vi

Image
Khai thác Bauxit ở Bảo Lộc

Gần đây cả nước xôn xao với quyết định khai thác quặng bauxite ở Tây Nguyên của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Hàng loạt các bài viết của các nhà khoa học phân tích các thiệt hại cả về kinh tế, tài nguyên môi trường và cả an ninh quốc gia khi thực hiện dự án này. Trong đó có cả nhân vật được coi là khai quốc công thần của đảng Cộng sản Việt Nam : Võ Nguyên Giáp.

Bất chấp tất cả mọi phản kháng, bất chấp cả búa rìu dư luận, Thủ tướng Dũng vẫn ngang nhiên chấp thuận dự án này.

Có rất nhiều câu hỏi được đặt sau khi Thủ tướng Dũng công khai chấp thuận dự án này.

- Rằng ông Dũng có sợ dư luận không? Có thể có, bởi ông Dũng vẫn là nô bộc của nhân dân mà.

- Ông Dũng có biết đọc để đọc các bản phân tích của các chuyên gia, các nhà khoa học không? Có thể có. Nghe đâu Thủ tướng Dũng cũng học hết lớp 7, lớp 8 gì đó trước khi vào rừng. Hy vọng ông Dũng không phải là học sinh cá biệt để đến lớp 7 mà không biệt đọc.

- Ông Dũng có lí trí để phân biệt đúng – sai, hơn – thiệt không? Có thể có, bởi vì từ trước đến nay chưa bao giờ nghe nói Thủ tướng Dũng phải nhập viện một bịnh viện nhiệt đới nào.

Vậy tại sao Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lại quyết tâm thực hiện dự án này?

Chúng ta hãy nhìn lại suốt thời gian làm Thủ tướng của ông Dũng. Ngoài thành tích kích thích nền kinh tế lạm phát lên tới 30% trong năm qua, ông Dũng vẫn chưa có một việc làm nào để lại di tích trong thời gian điều hành đất nước cả.

Nhìn lại các ông trùm của cộng sản từ khi mới thành lập.

- Hồ Chí Minh với cải cách ruộng đất 1956 và mộ chôn tập thể 1968 lưu danh muôn thuở.

- Phạm Văn Đồng tặng Hoàng Sa cho Trung cộng đến nay nhân dân vẫn cảm ơn (nhưng là nhân dân Trung cộng, ừ thì dân nào cũng là dân ).

- Lê Duẫn với mô hình hợp tác xã đã làm đói nghèo cả dân tộc suốt hàng thập kỷ đến nay vẫn còn nghèo.

- Đỗ Mười và Lê Đức Anh với liên minh MA và Tổng cục 2 khét tiếng giang hồ, chấn động võ lâm.

- Trần Đức Lương có công bán ải Nam Quan được giá cao, đến nay đã được xác nhận bằng Hiệp định biên giới.

- Võ Văn Kiệt với chiêu bài “phục quốc” và “đảng cuội” đã quy tụ toàn bộ những người có ý định chống đối vào nhà đá…

Thế nên, suốt nhiệm kỳ mà không để lại di chứng gì đáng kể cho dân tộc thì thật không xứng mặt với lớp tiền nhân đã có công phá nước.

Nhận được dự án khai thác quặng bauxite từ đàn anh Trung cộng, Thủ tướng Dũng như bắt được vàng. Đây là cơ hội rất tốt để lưu danh hậu thế. Việc khai thác quặng bauxite sẽ để lại một môi trường ô nhiễm hàng chục năm sau đó, phá nát Tây Nguyên, nhân dân sẽ đói khổ. Do đó vài chục năm sau, nếu còn sống, ông Dũng cũng sẽ được nghe nhắc đến mình khi toàn dân cố gắng khắc phụ hậu quả do việc khai thác hôm nay.

Theo nhận xét của các chuyên gia về quân sự, Tây Nguyên là điểm huyết mạch về quốc phòng của Việt Nam. Nếu chiếm được Tây Nguyên, ngoại bang có thể đánh thóc xuống Xuân Lộc hoặc Phan Thiết là có thể dễ dàng chia cắt Việt Nam thành 2 khúc, từ đó có thể bình định miền Nam hay miền Bắc một cách dễ dàng. Việc đưa hơn 1.000 lính Trung cộng dưới dạng công nhân sang thường trú tại đây chẳng khác gì một miếng mỡ treo trước miệng mèo khiến lòng tham vô đáy của Trung Quốc được dịp trỗi dậy mạnh mẽ. Và theo diễn tiến hiện nay, một ngày không xa cờ Trung cộng sẽ tung bay ngạo nghễ trên bầu trời Hà Nội. Cộng sản sẽ “bất chiến tự nhiên thành” (nhưng là cộng sản Trung Hoa, ừ thì cộng nào chẳng là cộng nô).

Lúc này, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Dũng nếu còn, sẽ có cơ hội được nói: “Việt Nam có bằng chứng chứng minh thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là của Việt Nam, yêu cầu Trung Quốc tôn trọng Hiệp Uớc Liên Hiệp Quốc”. (Có quốc gia cộng sản nào tôn trọng hiệp ước đâu mà bảo Trung Quốc phải tôn trọng?!).

Thế là với việc khai thác quặng bauxite này, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sẽ có dịp tiếp nối tiền nhân lưu danh hậu thế. Đúng là “Bác đã có công phá nước, các cháu con hãy cùng nhau quậy tiếp”.

Việt Nam ngày 22 tháng 2 năm 2009
Lê Vi

Posted: Sat Feb 28, 2009 7:12 am
by vuphong
Thời sự kinh tế: Obama có lạc quan quá đáng?

Ngô Nhân Dụng

Muốn biết tình trạng kinh tế Mỹ đang lên xuống ra sao, quý vị có thể nhìn vào đoàn xe vận tải thường chiếu đèn sáng chói chạy suốt đêm trên xa lộ. Nước Mỹ có gần 20 triệu xe vận tải chạy đem hàng hóa từ nhà sản xuất đến kho của nhà buôn sỉ, tới tiệm bán lẻ, trước khi đến tay người tiêu thụ. Khi nào dòng xe 18 bánh này chạy nối tiếp nhau không ngừng, tức là kinh tế đang tốt đẹp: Nhiều người mua hàng và nhiều người có việc làm.

Căn cứ trên “chỉ số” đó, kinh tế Mỹ đã xuống rất nặng từ năm ngoái, và tới giờ vẫn còn lo xuống nữa. Trong năm 2008, hơn 3,600 công ty vận tải hàng hóa ngưng hoạt động. Có 137,650 chiếc xe ngưng chạy, đội ngũ xe tải giảm 7%. Theo tin của Hội Xe Tải Toàn Quốc (American Trucking Association) trong ngành vận tải có 1 triệu 320 ngàn công nhân làm việc, năm ngoái đã cho 25 ngàn người nghỉ. Trước đây các công ty lúc nào cũng lo không kiếm ra tài xế cho công việc cực nhọc này, bây giờ số người tới xin lái xe cao hơn nhu cầu.

Ðà suy thoái kinh tế cuối năm ngoái xuống nặng hơn mọi người tưởng tượng. Trong ba tháng sau cùng Tổng Sản Lượng Nội Ðịa đã giảm sụt 6.2%. Ðây là tỷ số tụt giảm nặng nhất kể từ quý đầu năm 1982, khi kinh tế xuống 6.4%. Nhiều nhà kinh tế tin rằng tỷ số giảm sụt trong quý đầu năm 2009 sẽ nặng không kém.

Mới đầu năm 2009 đã quá nhiều tin rất xấu, cho thấy cuộc khủng hoảng trên đà trầm trọng hơn. Số hàng bán trong loại dùng lâu bền trên ba năm đã giảm liên tiếp trong 6 tháng, Tháng Giêng giảm hơn 5%, theo tin của Bộ Thương Mại Mỹ. Số sụt giảm đó thuộc đủ mọi mặt hàng như tủ lạnh, máy giặt, xe hơi và phụ tùng, máy vi tính, vân vân. Số bán của những ngôi nhà mới xây trong Tháng Giêng giảm hơn 10%, số nhà bán thấp nhất kể từ năm 1963 tới nay.

Tình trạng sa thải nhân viên trầm trọng hơn. Tuần lễ thứ ba của Tháng Hai có 667,000 người khai lãnh bảo hiểm thất nghiệp lần đầu, sau khi đã có 631,000 người mới khai lãnh vào tuần trước, nâng tổng số người đang nhận khoản trợ cấp này lên con số 5 triệu. Tỷ lệ thất nghiệp đang 7.6% sẽ lên tới 8%, riêng tiểu bang California tỷ lệ này đã lên trên 10%. Một công ty bán nhiều máy vi tính nhất, Dell Computer cho biết lợi nhuận đã giảm gần một nửa, sẽ cắt giảm chi phí 4 tỷ Mỹ kim từ nay đến năm 2011, tức là sẽ phải sa thải nhiều nhân viên. Công ty xe hơi GM thông báo lỗ 9.6 tỷ Mỹ kim trong ba tháng cuối năm 2008, báo trước có thể sẽ không trả được những món nợ sắp đáo hạn.

Các tín hiệu trên khiến nhiều người lo ngại kinh tế năm nay sẽ xuống mạnh hơn những lời tiên đoán của chính phủ Obama trong bản dự thảo ngân sách mới trình cho quốc hội. Bản ngân sách với số chi 3.6 ngàn tỷ Mỹ kim dự trù sẽ nâng số khiếm hụt lên 1,750 tỷ Mỹ kim; nhưng tiên đoán trong 3 năm sẽ chỉ còn khiếm hụt 533 tỷ. Phép lạ nào có thể giảm bớt số thâm thủng nhanh như vậy? Lời tiên đoán đó dựa trên giả thiết là kinh tế Mỹ sẽ chỉ xuống nhẹ trong năm nay và từ sang năm sẽ lên và 2 năm nữa sẽ lên nhanh. Khi kinh tế lên thì chính phủ sẽ bớt được nhiều khoản chi tiêu trợ cấp xã hội, đồng thời số thuế thu được sẽ tăng lên, do đó ngân sách không còn thâm thủng nặng nữa.

Nhưng các giả thiết trong ngân sách Obama có vẻ quá lạc quan, so với những tiên đoán của nhiều nhà kinh tế. Tòa Bạch Ốc cho là năm nay GDP nước Mỹ sẽ giảm bớt 1.2%, nhưng năm 2010 sẽ tăng được 3.2%, và 2 năm sau tăng trưởng với tỷ lệ 4% và 4.6%. Công ty Blue Chip bề tiên đoán kinh tế đã thăm dò nhiều chuyên gia và tính số trung bình, thấy rằng năm nay kinh tế sẽ xuống nặng hơn với tỷ số giảm 1.9%, và sang năm sẽ chỉ lên được với tỷ số 2.1%, hai năm sau đó lên với tỷ số 2.8%.

Trong những cuộc suy thoái kinh tế gần đây, vào thập niên 1980, 90 và năm 2001, khi số sản xuất xuống thì xuống ít hơn, thường chưa giảm mất 1% Tổng Sản Lượng Nội Ðịa; và thời gian suy thoái thường chỉ kéo dài dưới một năm. Chính phủ Obama có thể đã dựa trên kinh nghiệm cũ mà tính ra những con số có vẻ lạc quan kể trên. Nhưng kỳ suy thoái này có tính chất khác hẳn mấy lần trước, khiến các nhà kinh tế bi quan hơn. Nhiều người lo rằng cơn suy thoái lần này có thể kéo dài từ 2 năm trở lên.

Nguyên nhân gây ra cơn thoái trào bắt đầu năm 2008 là không phải chỉ do biến chuyển tự nhiên của một chu kỳ kinh tế, mà lại bị tác động bởi một cuộc khủng hoảng tín dụng và ngân hàng nổ ra từ năm trước. Cho nên nước Mỹ đã phải sống trong hai cuộc khủng hoảng song hành, tài chánh và kinh tế. Nhưng điều nguy hiểm là cả hai cuộc khủng hoảng đó thúc đẩy lẫn nhau, lôi cuốn nhau trong một vòng luẩn quẩn ngày càng nghiêm trọng hơn. Cần phải có một sức tác động từ bên ngoài thì cơn xoáy lốc đó mới bắt đầu giảm tốc độ để ngưng lại.

Hai hành động của chính phủ và quốc hội Mỹ nhắm gây ra tác động đó: 700 tỷ giải cứu hệ thống tài chánh, ngân hàng, và 787 tỷ đô la kích thích kinh tế. Chưa ai có thể biết hai hành động trên sẽ có tác dụng đủ mạnh hay không, và bao giờ thì tác dụng bắt đầu. Ông chủ tịch Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang tiên đoán lạc quan nhất là kinh tế sẽ bắt đầu hồi phục từ đầu năm 2010. Nhưng nếu các ngân hàng vẫn không có tiền để cho vay như cũ thì dù kích thích đến đâu kinh tế cũng chưa lên được. Kinh tế chỉ bắt đầu nhúc nhích khi hệ thống tín dụng được tháo gỡ để chạy bình thường.

Cuộc khủng hoảng tín dụng bắt đầu từ năm 2007 khi các ngân hàng không đòi được các món nợ mua nhà với tiêu chuẩn thấp, mà mấy năm trước đó họ được thả lỏng tha hồ cho vay. Tình trạng buông thả đó không được guồng máy chính quyền giám sát đứng đắn đã khiến nhiều ngân hàng cùng phá sản. Bản báo cáo của Tổng Thanh Tra Bộ Tài Chánh Mỹ tuần này cho biết Sở Giám Sát Các Ngân Hàng Tiết Kiệm (OTS) đã thấy những dấu hiệu bất cẩn của ngân hàng IndyMac ở California từ lâu. Báo động đỏ bật lên khi thấy ngân hàng này không kiểm chứng lợi tức của người vay tiền, OTS đã cảnh cáo, nhưng các thanh tra nhiều khi không báo lên cấp trên và không có một hành động nào để bắt buộc ngân hàng này phải sửa chữa. IndyMac là một trong những ngân hàng đầu tiên phá sản vì nợ địa ốc, và hiện chính phủ Mỹ phải quản lý để bảo vệ quyền lợi các người gửi tiền.

Khi các ngân hàng mất tín nhiệm và thị trường không dám mua các trái khoán nhiễm độc của họ nữa, cả hệ thống tín dụng bị tê liệt, người tiêu thụ và các xí nghiệp đều bị ảnh hưởng khiến cho cuộc suy thoái kinh tế trở thành nặng nề hơn.

Trong cơn thoái trào kinh tế, những người mất việc và các xí nghiệp thua lỗ không trả được những món nợ ngân hàng, từ nợ mua nhà đến mua xe, mua đồ dùng hay nợ thẻ tín dụng. Các ngân hàng ôm những trái khoán liên quan tới địa ốc bán không được, thiếu tiền cho vay. Nhưng dù có tiền họ lại không dám cho vay dễ dàng nữa, vì sợ người vay cũng sẽ không trả được nợ. Cả hệ thống tín dụng bị mối sợ rủi ro ám ảnh lâm vào cảnh bất động.

Các ngân hàng muốn có thêm vốn nhưng khó đi gây vốn khi giá cổ phần của họ tụt giảm, bán cổ phần vào lúc này sẽ bị thiệt thòi rất nặng. Khi các xí nghiệp không vay được tiền họ sẽ giảm sản xuất, sa thải công nhân, và số người tiêu thụ có tiền lại chi tiêu bớt đi. Số tiêu thụ giảm sẽ làm cho hàng hóa khó bán, các công ty giảm sản xuất và sa thải công nhân. Hai cuộc khủng hoảng kinh tế và tài chánh lôi kéo nhau trong một vòng luẩn quẩn.

Cho nên các nhà kinh tế thuộc mọi khuynh hướng chính trị đều đồng ý chính phủ Mỹ phải đưa ra những liều thuốc mạnh, với các hành động quyết liệt, trước hết để phá cái vòng luẩn quẩn này. Nhưng người ta cũng bất đồng ý kiến về cách pha chế phương thuốc chữa trị cấp thời và những hệ quả lâu dài.

Những người phản đối bản ngân sách của chính phủ Obama báo động là số thiếu hụt ngân sách sẽ tăng lên nhiều hơn Tòa Bạch Ốc tiên liệu vì số chi tiêu của chính phủ sẽ chỉ tăng lên không ngừng. Số chi trong năm 2009 sẽ lớn gần bằng 28% Tổng Sản Lượng Nội Ðịa, tỷ số cao nhất kể từ thời Ðại Chiến Thứ Hai.

Ðiều nguy hiểm trong bản ngân sách Obama là giả thiết quá lạc quan về tương lai gần của nền kinh tế. Người ta có thể tin rằng trong năm 2010 kinh tế bắt đầu hồi phục, nhưng rất khó tin là trong hai năm say tỷ lệ tăng trưởng có thể lên tới 4% và cao hơn. Như vậy thì con số dự trù khiếm hụt ngân sách chỉ có trên 500 tỷ vào năm 2012 là một ảo tưởng. Con số thực có thể lên gấp đôi. Số nợ của chính phủ Mỹ lên hơn một ngàn tỷ đô la, mỗi năm công quỹ sẽ phải dành ra trên 40 tỷ chỉ để trả tiền lãi.

Một giả thiết khác nằm trong ngân sách của Tòa Bạch Ốc là số tiền thuế sẽ thu được từ 2% những người giầu nhất nước Mỹ, nếu bỏ bớt nhiều khoản miễn thuế mà họ đang được hưởng. Chính phủ Obama hy vọng sẽ thu được 338 tỷ Mỹ kim trong 10 năm để trang trải nhiều món chi tiêu mới. Nhưng số tiền thu tưởng tượng trên dựa trên giả thiết là kinh tế hồi phục sớm và mạnh lên nhanh. Nếu kinh tế Mỹ không theo đúng giả thiết đó thì chính lợi tức của 2% những người giầu nhất nước cũng bị giảm và số khiếm hụt ngân sách càng nặng nề hơn.

Liệu những giả thiết của chính phủ Obama có lạc quan quá đáng để gây ảo tưởng cho dân Mỹ hay không? Trong những ngày tới người Mỹ sẽ được nghe những lời kết án và những lời biện hộ.

Cuộc thảo luận về ngân sách chính phủ liên bang sẽ tập trung vào những món chi tiêu và thu nhập mà Tổng Thống Obama đề nghị, nhưng cuối cùng sẽ trở lại một vấn đề căn bản. Ðó là vai trò của nhà nước trong nền kinh tế Mỹ. Một vấn đề khác liên can chặt chẽ là vai trò của hệ thống thuế khóa trong việc san sẻ tài sản trong toàn thể dân chúng Mỹ. Hệ thống hiện nay làm nghiêng cán cân khiến tài sản chảy vào chỗ trũng với 2% các gia đình giầu nhất hưởng 22% lợi tức của cả quốc gia. Nhưng làm thế nào để lập lại thế công bằng mà không làm giảm bớt động cơ giúp kinh tế phát triển? Ðây là những câu hỏi lâu dài nhưng đáng được nêu lên ngay để tìm lời giải đáp trong lúc mọi người đều công nhận có một cơn khủng hoảng cần phải vượt qua.

Posted: Thu Mar 05, 2009 6:36 am
by quaichao
TRÍ THỨC VÀ DÂN CHỦ




Từ xa xưa, câu chuyện về hèn nhát đặc sắc nhất mà cả nhân loại đều biết. Đó là câu chuyện " Ông Vua cởi truồng". Tuyệt đại đa số quan chức triều đình đến những người dân lớn tuổi đều trầm trồ khen ngợi sự hèn nhát của mình. Sau cùng, một cậu bé đã phá tan luồng suy nghĩ đó. Cậu khẳng định là ông vua cởi truồng. Nếu là ở VN, chắc hẳn mọi người sẽ nâng cậu bé đó thành anh hùng. Nhưng đâu phải vậy.

Cậu bé đó chỉ nói lên đúng suy nghĩ của mình, thứ suy nghĩ chưa hề nhuộm màu tư lợi. Cậu bé đó không phải là người anh hùng. Trong vô vàn các cậu bé đi theo đám rước thì cậu chỉ là người phát ngôn theo đúng lứa tuổi. Đó cũng không phải nỗ lực hay tiềm ẩn gì trong con người cậu bé.

Có những người đấu tranh dân chủ có uy tín chê trí thức là một lũ hèn nhát. Nhưng họ đâu biết trong phong trào dân chủ hiện nay đã đa phần là trí thức. Từ ngày xưa đã có sự phân công : sĩ, công, nông, thương, binh. Tất nhiên sự phân công chưa hoàn hảo, nhưng phần nào đã nói lên sự chuyên môn hoá trong cuộc sống. Ai đó đã bắt trí thức phải đi đầu và "lãnh đạn" như những người lính tiên phong ?. Và nếu trí thức không đi đầu thì bị quy là hèn nhát. Vậy, cái logic trong sự phân công xã hội để ở đâu.


Đừng suy nghĩ theo kiểu Mao " trí thức không bằng cục phân" hay là " trí, phú, địa, hào đào tận gốc trốc tận rễ". Chính vì suy nghĩ như vậy mà hàng loạt chế độ cộng sản đã sụp đổ. Hiện nay đâu còn nhiều chế độ cộng sản. Kể cả Việt nam cũng đâu còn cộng sản theo đúng nghĩa. Nếu vẫn coi trách nhiệm chính trong công cuộc đấu tranh chống độc tài cộng sản phải là trí thức thì đó là chọn nhầm đối tượng. Chọn xong, lại nói họ hèn nhát thì lại càng chứng minh tính hàm hồ, ấu trĩ của người đã chọn. Câu nói đó còn tệ hơn câu nói của Mao. Trách nhiệm chính ở đây là nằm trên vai các nhân tố tiến bộ đang nằm trong các tổ chức đấu tranh và chính cả tập thể các tổ chức đó. Trí thức, như ngày xưa, là những người mà nhân dân đã nói " Hiền tài là nguyên khí quốc gia". Họ phải được "cởi trói", được tự do suy nghĩ, cống hiến, làm giàu...Ngay cả khi "kháng chiến chống Mỹ" thì toàn bộ lực lượng sinh viên miền bắc không bị bắt lính. Chỉ đến khi cao trào thiếu quân cho chiến trường thì mới phải động viên. Cũng trong lúc đó, hàng trăm ngàn sinh viên đã được gửi đi đào tạo ở các khối "XHCN". Tất nhiên, phần con cháu lãnh đạo trốn lính, trốn chiến tranh cũng có, nhưng không phải đa số. Đó cũng chính là sự tôn trọng trí thức, tôn trọng hiền tài và tạo vốn nhân tài cho công cuộc phát triển xã hội. Tuy nhiên, sau khi dược đào tạo, lớp trí thức đó đã không có cơ hội để chứng minh toàn bộ năng lực của họ cũng như họ đã được đào tạo không theo khả năng, nhu cầu của họ. Chế độ mà họ phải sống cũng đã dần dần đưa họ vào lối rèn người "hồng hơn chuyên" và do vậy chế độ đã không phát huy được tri thức của họ. Hậu quả là ngày nay nước Việt Nam ta vẫn đang là những nước tụt hậu về mọi mặt. Những lớp trí thức sau từ 6x, 7x, 8x...đến nay cũng vẫn chịu sự áp đặt và lối đào tạo ép buộc không theo tư tưởng tự do, tiến bộ về quan niệm xã hội, chính trị và do vậy tư tưởng hẹp hòi vẫn còn tồn tại. Sự tiến bộ về khoa học, kỹ thuật, văn hoá... tuy được nâng cao chút ít nhưng vẫn chưa thực sự đáp ứng đòi hỏi của sự hội nhập với thế giới.


Vậy, phong trào dân chủ có nên làm một việc sai lầm nữa là biến tất cả những trí thức thành người lính xung kích ?. Biến sở đoản của họ mà không đào tạo, trau dồi để trở thành sở trường và sở trường của họ thành hàng lưu kho ?. Từ nền tảng là những người trí thức mà yêu cầu ngay tham dự phong trào với bao hiểm nguy, đàn áp...là không tưởng, và cũng đâu có dễ có một môi trường để đào tạo mà không bị phá hoại bởi độc tài cộng sản. Lòng dũng cảm của những người đấu tranh dân chủ đâu phải là tất cả. Tính tổ chức kỷ luật và nguyên tắc hành động hợp lòng dân nói rộng, hay trí thức nói hẹp mới là điểm nhấn về khả năng của từng chiến sĩ dân chủ, từng tổ chức dân chủ. Nếu có thể thì đồng loạt các chiến sĩ dân chủ, các tổ chức hãy kêu gọi trí thức bất hợp tác với chính quyền độc tài để làm lợi cho độc tài chứ đừng kêu gọi họ duy nhất thành người lính xung kích. Một cách khác để coi thường quần chúng nhân dân cũng có thể là bắt trí thức là những người hiểu biết nhất về xã hội. Đôi khi trí thức chưa hẳn đã quan tâm đến các vấn đề xã hội hay chế độ nhiều như những người dân khác. Ông Anhxtanh cũng là một đại trí thức. Ông đã rời bỏ Đức quốc xã để đến Mỹ làm nốt công việc chế tạo bom nguyên tử và rao giảng các nguyên lý vật lý vũ trụ. Ông cũng có tránh khỏi hậu quả của hai quả bom nguyên tử thả xuống Hirosima và Nagasaki đè nặng lên lương tâm, thể xác của ông đâu. Ông cũng đã hối hận rất nhiều trong đời nghĩ lại về việc này. Trí thức , họ giỏi trong chuyên môn của họ và nếu khêu gợi tốt để họ mở lòng cho những việc khác thì mới là dụng nhân như dụng mộc.


Nếu cứ kêu gọi họ đối đầu theo cách họ chưa được đào tạo thì lại làm cho độc tài vốn sẵn có thế thượng phong vô hiệu hoá được họ và nhờ đó chúng dằn mặt được người khác, nhờ đó chúng tiêu được nhiều tiền ngân sách trên tấm lưng còng khốn khổ của người dân. Trí thức là người am hiểu xã hội và tốt đẹp biết bao khi trong số đó họ lại có những người có thêm phẩm chất của người lính tiên phong trong công cuộc cải cách xã hội. Nhưng đâu phải bất cứ ai cũng ôm đồm được nhiều việc. Ai cũng là Nhân tài đất Việt. Từ xa xưa không ai chê những người treo ấn từ quan. Cũng không ai chê những trí thức trong chế độ cũ ra đóng góp cho chế độ mới khi họ được tôn trọng, họ có khoảng trời để vẫy vùng và hệ thống chính trị mới tôn trọng tri thức của họ. Nếu tất cả trí thức đều trở nên những người lính đi đầu, họ sẽ phải gác lại chuyên môn chính và trong môi trường mới khi thành công họ lại phải mài giũa lại những tri thức thuở xưa, phần thời gian gián đoạn sẽ là kẻ thù đối với lối tư duy vẫn đang theo một hướng suy nghĩ. Liệu những công trình dang dở để dành lại chưa hoàn thiện khi "chiến đấu" sẽ trở nên hoàn thiện hơn sau nhiều thời gian cách ly, suy nghĩ bị bào mòn bởi thời gian.


Trí thức có thể hẹp bụng khi ta đòi hỏi họ phải vừa giỏi chuyên môn vừa đứng đầu sóng ngọn gió cho cuộc cánh mạng dân chủ vì quyền lợi của mọi người. Nhưng hoàn toàn họ không hèn nhát. Họ có thể trau dồi tri thức để một mai làm động lực cho đất nước dân chủ. Họ có hàng trăm ngàn con đường ủng hộ phong trào dân chủ như lôi kéo quần chúng khi có cơ hội, như dùng tài chính ủng hộ, như bao bọc giúp đỡ những chiến sĩ dân chủ. Hãy để họ tự lựa chọn cách thức giúp đỡ tốt nhất mà họ có thể. Đã có ai kêu gọi họi đóng góp tinh thần, công sức hay tài chính...vv...vv tuỳ theo sức của họ hay chỉ muốn áp đặt họ phải giống như mình- những chiến sĩ dân chủ. Đã chắc rằng ngay sau khi thành công thì các chiến sĩ dân chủ sẽ hoàn toàn là những nhà trí thức, đầy đủ khả năng quản trị xã hội ?.Những người đấu tranh dân chủ nên hoàn thiện mình, học hỏi hàng ngày hàng giờ để ít nhất có thể tham gia vào guồng máy quản trị xã hội ở một công việc nhất định. Có một số chiến sĩ đấu tranh chỉ mong muốn khi thành công sẽ không tham gia quản trị xã hội. Đó là tư tưởng tự ti, chưa dám đương đầu với cả một cuộc cách mạng khác tiếp diễn một cách logic-cuộc cách mạng hoàn thiện mình và chứng minh mình luôn và sẽ luôn là những hạt nhân tốt cho tương lai. Đâu phải ai cũng là bác sĩ, kỹ sư... nhưng đâu phải ai cũng làm được những công tác quần chúng, làm dân biểu đại diện cho quyền lực cũng như đấu tranh cho quyền lợi của nhân dân tốt như những chiến sĩ dân chủ đã cọ xát và được nhiều người tín nhiệm.


Hãy yêu cầu và khêu dậy lòng tự trọng của trí thức để họ đừng làm những việc có lợi cho độc tài, làm kéo dài sự tồn tại của độc tài. Việc này đoan chắc rằng thâm tâm họ đã nghĩ vậy và chỉ cần sự đồng thuận của phong trào thì họ sẽ làm tốt hơn bao giờ hết. Trí thức không hèn nhát. Chỉ có phong trào dân chủ chưa tìm được cách để họ hoà đồng theo khả năng của họ.


Hà Nội,

3/3/2009.

Nguyễn Phương Anh.

Posted: Fri Mar 06, 2009 2:34 am
by tranphuongdong
Học giả Nga dự báo nước Mỹ sắp sụp đổ

Image
Giáo sư Igor Panarin. Ảnh: Heise.
Nhà nghiên cứu Igor Panarin hôm qua nhận định tại Học viện Ngoại giao Nga rằng, Tổng thống Mỹ Barack Obama năm nay sẽ ban bố thiết quân luật trong khi nước Mỹ bị sụp đổ vào năm sau, và Nga cùng Trung Quốc trở thành xương sống của trật tự thế giới mới.

Đây là dự đoán của giáo sư tiến sĩ Igor Panarin, cựu phát ngôn viên Cơ quan không gian liên bang Nga và hiện là một chủ nhiệm khoa của học viện thuộc Bộ Ngoại giao. Ông được cho là một cựu chuyên gia phân tích của KGB và thường xuyên xuất hiện trên các kênh truyền hình Nga bàn về chính trị.

Ông Panarin nhận định trước cử tọa gồm hàng chục sinh viên, giáo sư, nhà ngoại giao và truyền thông quốc tế: "Có nhiều khả năng sự sụp đổ của nước Mỹ sẽ xảy ra vào năm 2010". Nhà nghiên cứu này không cho biết cụ thể bằng chứng hậu thuẫn cho phân tích của ông, và nói chủ yếu trích dẫn từ báo chí và các nguồn thông tin mở khác.

Giáo sư Igor Panarin nổi tiếng trong những năm gần đây với nhiều dự báo về nước Mỹ. Ông được giới truyền thông trong và ngoài Nga liên tục phỏng vấn, đặc biệt khi khủng hoảng kinh tế nổ ra. Lý thuyết nước Mỹ sắp tan vỡ của ông được nhiều chuyên gia bàn luận và còn là trung tâm của một cuộc hội thảo.
Panarin cho biết ông từng có dự đoán sự tồn tại của quốc gia giàu nhất thế giới là Mỹ sẽ kết thúc trong vòng hơn một thập kỷ nữa. Nhưng với những khủng hoảng kinh tế gần đây cùng các hiện tượng văn hóa xã hội tại Mỹ đã khiến ông có dự báo cụ thể hơn về "sự kết thúc" của nước này. Theo đó Mỹ sẽ bị tan vỡ thành 6 khu vực tự trị trước năm 2011 và Nga sẽ thu hồi vùng đất Alaska.

Cũng theo lập luận của nhà nghiên cứu này, người Mỹ đang trong trạng thái suy sụp về đạo đức và tinh thần. Họ bị chứng stress tâm lý nặng với bằng chứng là các vụ bắn giết trong trường học, số lượng tù nhân khổng lồ và số người gay đông đảo trong xã hội.

Panarin nhấn mạnh ông không mong muốn nước Mỹ sụp đổ nhưng dự đoán Nga và Trung Quốc sẽ nổi lên mạnh mẽ hơn sau khủng hoảng kinh tế và hai nước nên hợp tác cùng nhau, thậm chí còn tạo ra một loại tiền tệ mới thay thế đồng USD. Trong bài thuyết trình kéo dài 20 phút, ông còn khẳng định sẽ không xảy ra chuyện "nước Nga sụp đổ".

Đình Chính (theo AP)

Posted: Sun Mar 08, 2009 6:02 am
by tankhoasinh
Rút ra được gì từ cuộc chiến biên giới Việt-Trung?
Tác giả: Tiến Hồng



Kỷ niệm 30 năm cuộc chiến biên giới Việt-Trung (17/02/1979), một cuộc chiến mà Trung Quốc tung ra khoảng 150 000 quân với khoảng 80 000 thương vong của cả hai phía, về mặt chính thức chỉ có một câu nói ngắn ngủi của đại diện ngoại giao Trung Quốc «hy vọng khép lại quá khứ, hướng tới tương lai». Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam hoàn toàn im lặng ngoại trừ vòng hoa lạc lõng đặt tại nghĩa trang Long Châu, Quảng Tây của HĐND,UBND,MTTQ xã Đề Thám (Cao Bằng, nơi quân Trung Quốc tàn phá giết hại nặng nhất). Vòng hoa có đề: «Đời đời nhớ ơn các liệt sĩ Trung Quốc» (!). Về phương diện truyền thông, trong khi phía Trung Quốc đã cho đăng trên mạng như Hoàn Cầu, Thiết Huyết Luân Đàn (1) những bài viết kỷ niệm và ca ngợi cuộc «đánh trả tự vệ Việt Nam» (!), lên án Việt Nam phản bội, thì Ban Văn hoá Tư tưởng lại cho phép phát hành cuốn truyện dịch Ma chiến hữu của nhà văn Trung Quốc Mạc Ngôn mà bìa sau đã quảng cáo «một cách ca ngợi riêng về chủ nghĩa anh hùng» (2). Đây chỉ là một vài biểu hiện trong tư tưởng thần phục thiên triều của giới lãnh đạo cộng sản Việt Nam.

Phải sòng phẳng với lịch sử trước khi hướng tới tương lai. Phải tìm biết nguyên nhân tại sao nhà cầm quyền một nước cộng sản lớn này lại “trừng phạt” một nước cộng sản «núi liền núi, sông liền sông» sau khi đã từng chi viện 20 tỉ MK cho cuộc chiến Việt Nam. Sau khi tìm hiểu nguyên nhân, chúng ta sẽ ghi nhận những hệ quả của cuộc chiến và bài học rút ra.

Có rất nhiều nguyên nhân đã đưa đến mối bất hoà Việt Trung ngày càng trầm trọng mà năm 1978 là cao điểm không thể hàn gắn. Các nhà phân tích thường nêu lên các yếu tố: Việt Nam ngả theo Liên Xô, cuộc tranh chấp ảnh hưởng tại Campuchia, vấn đề nhập tịch, chống tư sản và «nan kiều», vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa. Mối bất hoà này trong bối cảnh cô lập về ngoại giao của Việt Nam đã được Trung Quốc khai thác để biến thành hành động quân sự giới hạn có tính toán. Mối bất hoà nói trên thực ra đã có trước 1975 sau khi thông cáo chung Thượng Hải Mỹ-Trung 1972 ra đời. Chính Mao Trạch Đông đã khuyên Phạm Văn Đồng nên tiếp tục chiến tranh du kích, không nên tổng tấn công chiếm hết miền Nam. Mao nói: “Cái chổi của chúng tôi không quét tới Đài Loan thì cái chổi của các đồng chí cũng không quét tới Sài Gòn” (4). Năm 1973, Chu Ân Lai hứa với Lê Duẩn sẽ viện trợ 2 tỉ MK trong hai năm nếu Bắc Việt không tổng tấn công miền Nam. Lê Duẩn không chấp thuận và xoay qua Liên Xô. Kể từ đó đến 1975,Trung Quốc ngưng viện trợ quân sự cho Bắc Việt. Sau 1975, Trung Quốc muốn Mặt Trận GPMN có vị trí độc lập với Bắc Việt thể hiện nơi cuộc tiếp đãi ân cần phái đoàn của Trương Như Tảng trong khi lạnh nhạt với phái đoàn Bắc Việt.

Yếu tố Liên Xô

Năm 1975 cũng là năm mà vấn đề Trường Sa và nhất là mối quan hệ Việt Nam-Liên Xô trở nên nhức nhối với Trung Quốc. Kể từ cuộc chiến biên giới Xô-Trung năm 1969, Liên Xô được coi là kẻ thù số 1 của Trung Quốc. Cuối năm 1975 khi Đặng Tiểu Bình trở lại nắm quyền, Trung Quốc e ngại Liên Xô liên kết với Việt Nam để gây ảnh hưởng ở khu vực Đông Nam Á sau khi Mỹ rút lui.

Lúc đó, Việt Nam rất cần viện trợ sau khi các nước Tây Âu hững hờ. Sau chuyến đi cầu viện thất bại của Lê Thanh Nghị với biệt danh «tên ăn mày», cuối tháng 9/1975, Lê Duẩn và Lê Thanh Nghị lại sang Trung Quốc một lần nữa. Đặng Tiểu Bình trong bữa tiệc khoản đãi đã đề cập đến «chủ nghĩa bá quyền» và gián tiếp kêu gọi Việt Nam liên kết với Trung Quốc để chống lại Liên Xô. Lê Duẩn không đả động đến vấn đề này mà chỉ cám ơn toàn thể «các nước XHCN anh em» dĩ nhiên trong đó có Liên Xô. Lê Duẩn không thảo thông cáo chung và ra về tay không. Trong chuyến đi một tháng sau đó sang Liên Xô, Lê Duẩn ký thông cáo chung nhất trí với đường lối đối ngoại của Liên Xô và được cấp viện 3 tỉ MK từ 1976-1980. Kể từ ngày đó, Việt Nam nằm trong hàng ngũ đối nghịch với Trung Quốc mặc dù phải đến 7/6/1978 họ Đặng mới nói thẳng: «Việt Nam đang ngả về Liên Xô, kẻ thù của Trung Quốc» (5). Lúc đó, Việt Nam vừa chính thức gia nhập COMECON và Trung Quốc cắt đứt mọi viện trợ cho Hà Nội.

Năm 1976, giới lãnh đạo Việt Nam lần lượt đưa ra những biện pháp để tránh thù trong như: loại trừ Hoàng Văn Hoan ra khỏi Bộ Chính trị đại hội 4 (1976-80), loại ba cựu đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc trong tư cách uỷ viên dự khuyết. Vấn đề nội thù người Hoa cũng được đặt ra. Đến 3/11/1978, khi Việt Nam ký hiệp ước hợp tác toàn diện với Liên Xô trong đó có điều 6 (quân sự), Trung Quốc không còn chần chừ gì nữa trong hành động quân sự dù là đã được xác định là hạn chế trong thời gian ngắn và mục tiêu. Tất nhiên, lo ngại về phản ứng của Liên Xô đã được nêu ra trong phiên họp của quân uỷ trung ương tháng 12/1978 nhưng Đặng đã lượng định khả năng này rất thấp (khi ấy biên giới Xô Trung đã bố trí 50 sư đoàn chủ lực).

Vấn đề người Hoa

Về vấn đề quốc tịch, trước đây, miền Bắc cho phép người Hoa giữ quốc tịch mà vẫn hưởng đủ quyền lợi, lại không phải đi lính. Tháng 2/1976, để chuẩn bị quốc hội cả nước, những người không nhận quốc tịch Việt Nam bị mất hộ khẩu, khẩu phần. Tháng 3/1978, một chiến dịch đánh tư sản mại bản mà chủ yếu là người Hoa đã làm cho Bắc Kinh bực tức. Trước đó, các người Hoa ở biên giới được khuyến khích, ép buộc để rời Việt Nam. Tháng 5/1978, Trung Quốc đã dự tính đưa tàu ra đón những «nạn kiều» nhưng Việt Nam không cho vào. Trung Quốc đã lên án và kêu gọi những người chưa nhập tịch lập liên minh chống bá quyền. Chính sách lấy vàng cho người Hoa vượt biên bán chính thức bị Bắc Kinh lên án.

Cuộc chiến Campuchia

Mặc dù cùng là cộng sản và quân đội Bắc Việt đã giúp phe Khơ-me đỏ xây dựng lực lượng trong hai năm đầu sau khi Lon Nol đảo chính Sihanouk nhưng lực lượng Pol Pot (Saloth Sar) đã không giúp đỡ và có những đụng chạm với quân đội Bắc Việt. Pol Pot từ Pháp về và sau đó thành lập đảng Lao động Campuchia (1960) không chịu ảnh hưởng của Việt Nam như tiền thân đảng Nhân dân cách mạng (1951) do Sơn Ngọc Minh thành lập. Di chứng đảng cộng sản Đông dương đã khiến Pol Pot luôn luôn lo ngại âm mưu thống trị của Việt Nam và đã đi đến chiến dịch thanh trừng những đảng viên đã từng ở Bắc Việt trở về. Pol Pot có hận thù với Việt Nam tương tự Lon Nol (chiến dịch «cáp duồn» khiến VNCH phải đưa tàu đón người Việt về) và mong ước một thời đại hoàng kim Angkor. Mối hận thù, nghi kỵ lại thêm hoang tưởng (tương tự Lon Nol) đã thể hiện trong một bài diễn văn của Pol Pot (10-5-1978): “Cho đến nay, chúng ta dã đạt được tỉ số một người lính Campuchia chết sau khi giết được ba mươi người Việt (sic). Như vậy chúng ta chỉ cần hy sinh có hai triệu người Khmer để tiêu diệt trên năm chục triệu người Việt, và chúng ta vẫn còn sáu triệu”.

Mối hận thù này đã được Trung Quốc khai thác triệt để, nhưng những tấn công đảo Phú Quốc và chiếm đảo Thổ Châu chỉ ba tháng sau khi chiếm quyền chắc không có bàn tay của Trung Quốc. Chính chuyến đi Bắc Kinh cuối năm 1975 của Pol Pot được Mao hết lời khen ngợi đã là nhân tố quyết định để Pol Pot đi sâu vào con đường chống Việt Nam mà cao điểm là hai trận tấn công quy mô tại An Giang (30/04/1977, gần 1000 thường dân bị chết) và Tây Ninh (24/09/1977) tất nhiên với sự yểm trợ vũ khí của Trung Quốc. Cuối năm 1977, Việt Nam tấn công trả đũa một đòn nặng nhưng phải lui quân (6/1/1978) khi bị tố cáo xâm lược. Sau trận tấn công đó, Campuchia cắt đứt quan hệ ngoại giao với Việt Nam và phái đoàn Trung Quốc do Đặng Dĩnh Siêu dẫn đầu (18/01/1978) đã cam kết giúp đỡ bảo vê Campuchia. Với sự đào thoát của Heng Samrin tiếp theo một cuộc thanh trừng chưa từng có trong nội bộ Pol Pot, Việt Nam đã chuẩn bị kế hoạch chiếm đóng Campuchia và Lê Duẩn đã thông báo cho đại sứ Nga tại Hà Nội (tháng 7/1978) sẽ giải quyết dứt điểm Kampuchia trước đầu năm 1979. Tình báo Trung Quốc đã theo dõi sát và báo cho Đặng trước phiên họp quyết định tấn công Việt Nam của quân uỷ vào tháng 12/ 1978. Về phía Việt Nam, với Nghị quyết 9 vào giữa năm 1978, theo đó Trung Quốc được coi là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm nhất (trong khi Hoa Kỳ chỉ là kẻ thù cơ bản và lâu dài), Việt Nam đã tự đặt mình ở trường hợp có thể bị Trung Quốc tấn công bất cứ lúc nào.

Vấn đề Hoàng Sa & Trường Sa

Sau khi Việt Nam ra công hàm về vấn đề Hoàng Sa (tháng 6/1975), trong chuyến đi Bắc Kinh, khi Lê Duẩn đề cập đến vấn đề này, họ Đặng đã gạt đi và nói «Vấn đề này không cần phải bàn.. (đó) là lãnh thổ Trung Quốc» (6). Cuối năm 1975, Việt Nam đóng giữ một số đảo thuộc Trường Sa đã gây phản ứng từ Trung Quốc. Tháng 6/1977, khi Phạm Văn Đồng đến Bắc Kinh và đặt vấn đề này, phó thủ tướng Lý Tiên Niệm đã yêu cầu Việt Nam trở về lập trường trước 1974 (bản công hàm của chính ông Đồng năm 1958). Ông Đồng bối rối không trả lời.

Tình trạng cô lập về ngoại giao của Việt Nam và chủ thuyết Brzezinski

Đặng Tiểu Bình đã khai thác triệt để tình trạng cô lập về ngoại giao của Việt Nam để tung ra cuộc chiến tranh biên giới có giới hạn. Thực vậy, kể từ sau chiến thắng 30/4/1975, cộng sản Việt Nam quá tự đắc. Không những coi thường các quốc gia trong vùng (những lời tuyên bố của ông Đồng), trợ giúp phiến quân cộng sản Thái Lan, không gia nhập ASEAN. Tất cả đã khiến cộng sản Việt Nam phải trả giá đắt khi Việt Nam bị lên án khi xua quân qua Kampuchia và các nước này cũng yên lặng để Trung Quốc hành động quân sự với Việt Nam. Đặc biệt là Thái Lan đã gián tiếp hỗ trợ tàn quân Pol Pot (khoảng 30000 để đương đầu với 200000 quân Việt Nam). Với Mỹ, trong giai đoạn đầu 1975-1977, khi nước này chìa tay để muốn tiếp nối ngoại giao (kể cả một phái đoàn qua Hà Nội), cộng sản Việt Nam lại đặt điều kiện phải viện trợ 3 tỉ MK mà Nixon đã hứa. Đây là một đòi hỏi hoàn toàn phi hiện thực và lại không đúng theo tinh thần mà Nixon đã hứa: phải tôn trọng hiệp định Paris. Đến lúc biết ra thì đã quá trễ. Mỹ không còn muốn sớm tái lập quan hệ với Việt Nam vì cố vấn Brzezinski qua mặt ngoại trưởng Vance để thúc đẩy tổng thống Carter đặt ưu tiên quan hệ với Trung Quốc hầu cô lập Liên Xô đang sa lầy ở Afghanistan (cuộc chiến 10 năm). Vì thế trong chuyến công du Mỹ tháng 1/1979, khi Đặng tỏ ý là cần lo ngại phản ứng dây chuyền từ Campuchia, Afghanistan, Carter đồng ý. Từ đó Đặng nêu lên cần hạn chế tham vọng của Việt Nam và cho Việt Nam bài học thích hợp, Carter không có phản ứng gì rõ rệt để Đặng lo ngại. Trước đó (tháng 12/1978), khi ghé thăm vài nước Đông Nam Á, họ Đặng đã hùng hổ tuyên bố trước truyền thông quốc tế là «Việt Nam là côn đồ (hooligan), phải dạy một bài học». Dù truyền thông Trung Quốc cắt xén đoạn đầu, chúng ta thấy là Đặng đã chuẩn bị dư luận cho hành động chiến tranh. Kể cả câu tuyên bố tại Tokyo: “Hiệp ước mà Việt Nam và Liên Xô ký kết có tính chất đồng minh quân sự. Việt Nam đã mở cuộc xâm nhập vũ trang vào Campuchia và đang khiêu khích ở biên giới Trung Quốc”.

Thực ra, nguyên nhân chính của cuộc chiến biên giới là vì Việt Nam đã thách thức uy quyền và ảnh hưởng của Trung Quốc tại các nước Đông Dương đặc biệt là tai Campuchia. Cuộc chiến biên giới 1979 nên được coi là «đòn trả thù giới hạn (về không gian và thời gian)» như tuần báo Time đã ghi nhận.

Hệ quả về phía Trung Quốc

Theo đa số các nhà phân tích, cuộc chiến 6 tỉnh biên giới 1979 là một thất bại tương đối về phương diện quân sự đối với Trung Quốc nhưng thành công về ngoại giao và nhiều phương diện khác (7).

Khi chuẩn bị tấn công, Đặng dự tính sẽ đánh chớp nhoáng lấy tỉ lệ 8 chọi 1 để đánh gục quân đội Việt Nam. Nhưng mặc dù có bất ngờ về thời gian (8), Trung Quốc đã không dự đoán được lực lượng quân đội biên phòng (chủ yếu là dân quân) với quân số đông đảo (tỉ lệ thực là 3 chọi 1), huấn luyện thuần thục và trang bị hiện đại (với nhiều loại đại bác, tên lửa do Liên Xô cung cấp) đã làm cho quân đội Trung Quốc hao tổn nặng mới lấy được Lạng Sơn. Phương thức tấn công «biển người» của tư lệnh mặt trận Hứa Thế Hữu đã thất bại, vấn đề phối hợp hành quân yếu kém, các vũ khí thô sơ so với Việt Nam. Phải đơn phương quyết định lui quân ngày 5/3/1979 khi quân đội chính quy Việt Nam chuẩn bị phản công ở Lạng Sơn. Tuy nhiên, Trung Quốc đã chần chờ đến ngày 16/3/1979 mới rút hết quân để tàn phá và giết hại tối đa thường dân hai tỉnh biên giới. Một dấu hiệu cụ thể của thất bại quân sự là các tướng chỉ huy đều bị thất sủng sau cuộc chiến biên giới lần này.

Nhiều nhà phân tích cho rằng Đặng đã nhân thất bại lần tấn công này để xúc tiến kế hoạch 4 hiện đại trong đó quân sự là ưu tiên. Điều này thể hiện trong cuộc chiến biên giới lần 2 (1984-89) để chiếm lĩnh cứ điểm chiến lược 1509 núi Đất (thuộc tỉnh Hà Giang của Việt Nam mà Trung Quốc gọi là Lão Sơn). Cuộc chiến này đã làm hao tổn hàng chục ngàn quân hai bên để rồi chính thức mất về tay Trung Quốc ngày 13/2/ 1991 (khi hai bên bình thường hoá quan hệ).

Hệ quả về tranh chấp biên giới

Trước cuộc chiến, đã có những đụng độ ở khu vực điểm nối ray Đồng Đăng-Bằng Tường. Sau cuộc chiến, theo ông Lê Công Phụng, đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ (cựu trưởng đoàn đàm phán biên giới) trong cuộc phỏng vấn của đài BBC cuối tháng 9/2008, Trung Quốc vẫn còn giữ 27 cao điểm (kể cả cao điểm 1509) và cuối cùng vẫn còn giữ 6 đỉnh. Như vậy, chúng ta hiểu tại sao Trung Quốc muốn hoàn tất phân giới cắm mốc dứt điểm trước ngày kỷ niệm 30 năm cuộc chiến 1972 (Đặng nói: Người Trung Quốc làm gì cũng có tính toán!). Đọc kỹ thông cáo của thứ trưởng ngoại giao Vũ Dũng (9) ngày 24/2/2009 về 3 điểm mốc biên giới chúng ta có thể hiểu một phần những thua thiệt (thực ra chưa đầy đủ vì có nhiều chỗ mơ hồ và có giấu giếm nhiều điểm) trong việc phân định này. Việc phân định biên giới trên đất liền và biển trong các hiệp định ký với Trung Quốc năm 1999 và 2000 trong hoàn cảnh cô lập và lệ thuộc vào Trung Quốc mới là nguồn gốc của những thua thiệt ngày nay. Dù sao, việc ổn định về biên giới đất liền dù thua thiệt có thể được coi là tích cực trên một số khía cạnh. Tình trạng không giao thương ở cửa khẩu suốt 10 năm vẫn còn tranh chấp võ trang biên giới đã khiến nền kinh tế Việt Nam thêm khốn khó. Tình trang thâm hụt ngoại thương với Trung Quốc gần 15 tỉ MK như hiện nay đã cho thấy Việt Nam bị thua thiệt trong giao thương với Trung Quốc.

Tuy nhiên, tranh chấp quan trọng nhất hiện nay liên quan đến biển Đông và Hoàng Sa Trường Sa vẫn chưa giải quyết. Trung Quốc nhất quyết không chịu cho các hãng dầu ngoại quốc khai thác vùng biển của Việt Nam và mới đây chỉ chấp nhận để hãng dầu Trung Quốc khai thác với ngân khoản 29 tỉ MK (để rồi sẽ chia cho Việt Nam một phần bé nhỏ) là một điều thua thiệt lớn. Chúng ta sẽ hiểu rõ hơn Việt Nam sẽ nhân nhượng về về vấn đề này hay không khi đưa ra những đề nghị cho Liên Hiệp Quốc về quy định lãnh hải mở rộng trong tháng 5/2009.

Hệ quả chính trị kinh tế

Tất nhiên, nếu coi cuộc chiến biên giới lần 1 và 2 là để quân đội Việt Nam phải rút lui sớm Campuchia thì họ Đặng cũng không thành công. Tuy nhiên, cuộc chiến kéo dài 10 năm ở Campuchia cũng là một thất bại về quân sự và chính trị của Việt Nam khi mà chỉ với 30000 tàn quân Pol Pot, quân đội Việt Nam với 20000 quân vẫn không thể sớm bình định và sa lầy. Hậu quả cuộc chiến với thiệt hại 50000 quân và làm suy yếu kinh tế, cô lập ngoại giao hàng chục năm để cuối cùng phải trở về quỹ đạo Trung Quốc khi khối Liên Xô tan rã không còn chỗ dựa nào khác.

Theo giáo sư Carl Thayer, cuộc chiến biên giới Trung Quốc đã làm cho tiến trình đổi mới bị chậm đi 7 năm (7). Họ Đặng đã khởi sự đổi mới từ 1978 với phương châm «Bất kể mèo trắng, mèo đen hễ mèo nào bắt được chuột là mèo tốt». Lúc đó, báo chí trong nước đã lên án họ Đặng là đầu hàng tư bản, là phản động. Thế mà hiện nay họ Đặng lại được ca ngợi hết lời về tiến trình đổi mới mà Việt Nam mãi đến 1986 mới mở mắt ra.

Nhưng hệ quả quan trọng nhất là hệ quả tâm lý nơi giới lãnh đạo cộng sản Việt Nam. Giáo sư Ngô Vĩnh Long (7) đã có lý khi phát biểu: «Hệ quả cuộc tấn công Việt Nam, theo tôi, là sự kiện nhiều người trong giới lãnh đạo Việt Nam thấy Trung Quốc là sợ và muốn làm hài lòng Trung Quốc. Thế nhưng ta không thể nào chiều ý Trung Quốc 100% được, ví dụ như là việc ký kết các hiệp định nói là Việt Nam sẽ hợp tác toàn diện trong mọi lãnh vực đối với Trung Quốc, kể cả trong vấn đề đào tạo cán bộ, rồi cho Trung Quốc biết về tình hình Việt Nam thế này thế kia.

Tôi nghĩ như vậy ấy là quá mức. Không có một đất nước nào trên thế giới mà có thể hợp tác toàn diện với một nước khác được. Như vậy rất là khó cho vấn đề giao lưu với Trung Quốc về lâu về dài, bởi vì Trung Quốc sẽ càng ngày càng ép Việt Nam. Đến khi mà dân chúng Việt Nam không chiụ được nữa, tôi e rằng đó sẽ là một vấn đề gây rất khó khăn, không những giữa chính quyền Việt Nam với dân chúng mà cả giữa Việt Nam với Trung Quốc. Nếu mà mình muốn có một sự hợp tác ổn định và lâu dài, thì phải có một sự công bằng, và bình đẳng giữa hai bên».

Việc Trung Quốc ngày càng ép giới lãnh đạo cộng sản hiện nay thì mọi người đều biết rõ. Không những về biên giới đất liền, Hoàng Sa Trường Sa, dự án bôxít ở Tây nguyên và dự án lập lò nguyên tử do Trung Quốc xây dựng, trao đổi thương mại, và quan trọng hơn cả là không thực hiện được mối quan hệ đối tác chiến lược với Hoa Kỳ, một đối trọng phải có với Trung Quốc…

Giới lãnh đạo cộng sản hiện nay đã hoàn toàn đi vào quỹ đạo của Trung Quốc và không còn mối quan hệ với nhân dân. Vấn đề là đến khi nào thì nhân dân sẽ có tiếng nói quyết định sau cùng.

Rennes 06/03/2009
Tiến Hồng


(1) Tam Dương, «30 năm cuộc chiến TQ-VN nhìn từ phía TQ». Diễn Đàn, 12/02/2009.
(2) Thực ra trong cuốn truyện này, Mạc Ngôn đã cho thấy những binh sĩ Trung Quốc tham gia nhưng chẳng hề biết lý do cuộc chiến mà chỉ để đỡ miệng ăn cho gia đình nghèo khó. Những lời lẽ tuyên truyền chủ yếu từ viên chính uỷ sư đoàn. Tác giả có thể chỉ muốn đề cao tình chiến hữu như nhan đề cuốn sách. Xem thêm bài viết “Ma chiến hữu - một bằng chứng khác về việc CSVN muốn bán tất cả cho Trung Quốc » của Phan Việt Đăng trên Người Việt, (27/02/2009).
(3) Trung Quốc chính thức đơn phương ngưng chiến ngày 05/03/2009 nhưng phải đến 16/03/2009 mới thực sự rút hết quân sau khi đã phá sạch, giết sạch đặc biệt tại Cao Bằng, Lạng Sơn.
(4) Hoàng Dung, «Chiến tranh Đông Dương 3». Văn Tuyển, ngày 23/03/2007.
(5) TS Nicholas Khoo, «Từ đồng chí thành kẻ thù». BBC Tiếng Việt, ngày 6/2/2009.
(6) Huy Đức, «Cuộc chiến 1979 và Hoàng Sa». BBC Tiếng Việt, ngày13/2/2009.
(7) Trọng Nghĩa, «30 năm sau cuộc chiến biên giới, hai chính quyền muốn xoá nhoà quá khứ». RFI Tiếng Việt, 16/2/2009.
(8 ) Quân đội biên phòng chỉ biết trước có hai ngày và lại lầm về thời điểm tấn công (dự tính là ngày 22/7/1979). Nhưng quân đội chính quy đã tập huấn bộ đội biên phòng 5 tháng trước. Tuy nhiên việc thiếu chuẩn bị tâm lý người dân được coi là sai lầm và gây hậu quả nhiều phương diện.
(9) «Kết quả phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền VN-TQ tại các khu vực: cửa khẩu Hữu Nghị, thác Bản Giốc và cửa sông Bắc Luân». Bộ ngoại giao Việt Nam, 6/3/2009.