Page 23 of 71

Posted: Sat Jan 30, 2010 5:23 pm
by khieulong
Image

Áo Vàng Kỷ Niệm

Anh đi giữa mùa xuân mới
Phố phường rộn rã niềm vui
Áo vàng một thời kỷ niệm
Về đâu năm tháng ngậm ngùi

Ngày xưa em yêu hoa cúc
Nên anh thích áo hoa vàng
Tình anh ngu ngơ thơ dại
Ngõ nhà em mãi bước sang

Nhìn nhau thẹn thùng không nói
Tình yêu một thưở học trò
Những hôm lối về không gặp
Đường dài xa tắp buồn xo

Rồi tình yêu chợt bay đi
Có người bỏ lại xuân thì
Dòng đời ngăn chia đôi ngả
Áo vàng tưởng đã quên đi

Hôm nay mùa xuân xứ lạ
Chợt thấy màu áo ai vàng
Ngày xưa nếu dám anh nói
Thì đâu có kẻ sang ngang

Thôi thì coi như kỷ niệm
Chúng mình mỗi đứa một nơi
Dù xa xôi anh vẫn nhớ
Áo em bay mãi trong đời


Khieu Long

Posted: Sat Jan 30, 2010 9:57 pm
by dutu
Đọc thơ anh em chợt khóc,
Tại ai thủa đó si khờ,
Yêu em mà không dám tỏ,
Bây giờ khóc hận thiên thu ! ! !

Huhuhuuuuu

Thơ anh cảm động lắm.

Posted: Sun Jan 31, 2010 6:53 am
by khieulong
Image

VỀ TRƯỜNG HỢP MỘT BÀI VIẾT CỦA DU TỬ LÊ

Nguyễn Thị Minh Thủy
Cách đây không lâu, một người bạn có kể cho tôi nghe là nhà thơ Du Tử Lê đã tuyên bố ở đâu đó rằng bút hiệu Nguyễn Tất Nhiên của tác giả “Thà Như Giọt Mưa” là do ông đặt ra cho người thi sĩ quá cố này. Tuy sự kiện này tôi chưa bao giờ được nghe chính anh Nguyễn Tất Nhiên kể lại trong suốt thời gian chung sống, tôi cũng không lấy gì làm bận lòng về tính khả tín của nó. Tôi nghĩ chẳng qua đây chỉ là một trong số những giai thoại văn chương nào đó mà ông Du Tử Lê, bậc thầy của chữ nghĩa, cha đẻ của nhiều thuật ngữ thi ca độc đáo như “tan theo ngày nắng vội,” “khi tôi chết hãy mang tôi ra biển,” “ở chỗ nhân gian không thể hiểu,” kể lại trong lúc trà dư tửu hậu để, hoặc lý thú hóa một mối duyên thi văn, hoặc phong phú hóa kho tàng đào tạo tên tuổi của ông, vân vân. Tính thật hư của sự kiện dù sao cũng chỉ trong vòng tương đối mà thôi, hơn nữa chấp làm gì một việc đặt tên trong quá khứ khi cuộc sống trước mặt có quá nhiều chuyện để đối phó và suy tư.

Thế nhưng sau khi đọc bài viết của ông Du Tử Lê đăng trên giai phẩm Xuân Canh Dần của Nhật Báo Người Việt, dưới tựa đề “Trường Hợp Nguyễn Tất Nhiên, Những Ngày Tháng Cũ,” tôi thật sự ngạc nhiên và cảm thấy cần phải xét lại thái độ im lặng trước giờ. Một cái gì đó thôi thúc tôi lên tiếng, một lần này thôi, dù biết rằng “lời thật” của tôi có thể sẽ làm “mất lòng” một bậc đàn anh văn nghệ vĩ đại của người chồng cũ đã khuất của mình.
Tại sao có sự thôi thúc này? Phải chăng bởi vì nội dung của bài viết có liên quan đến một người đã chết, nghĩa là một kẻ không thể tự mình lên tiếng để công nhận hoặc phủ nhận, hay bổ túc những phần trăm sự thật mà tác giả đã vô tình (hoặc cố ý) bỏ sót? Cho dù tôi không biết hết một trăm phần trăm sự thật, ít ra sự trình bày của tôi hôm nay cũng thắp lên được một ánh lửa khiêm tốn giữa bóng đêm dày đặc kín bưng. Tôi cũng xin khẳng định rằng việc lên tiếng này không hề xuất phát từ tình cảm bất bình khi thấy suốt một bài viết dài, thi sĩ Du Tử Lê chẳng ghi nhận nét độc đáo nào đó trong sự nghiệp thi ca của một nhà thơ khác được lấy nửa dòng. Chuyện ông khen hay không khen thơ Nguyễn Tất Nhiên thật sự không quan trọng đối với tôi, cho dù không ai không biết Du Tử Lê là một tên tuổi nổi tiếng trên văn đàn hiện nay.

Để tránh làm mất thì giờ, tôi xin đi thẳng vào vấn đề. Trong bài viết vừa dẫn, ông Du Tử Lê cho rằng chính ông đã đặt bút hiệu Nguyễn Tất Nhiên cho chàng “thi sĩ tỉnh lẻ” này ngay ngày đầu tiên gặp gỡ vào một buổi sáng cuối năm 1970 tại quán cà phê La Pagode Sài Gòn, khi cậu học trò nhà quê lặn lội lên thành diện kiến đàn anh để tặng cuốn “Thiên Tai,” một tập thơ mà cậu ta vừa mới in ra.

Theo nguyên văn lời kể của ông Du Tử Lê, “Nhan đề của cuốn thơ in dạng copy đó là “Thiên Tai.” Chữ lớn, đậm. Tên tác giả “Hoài Thi Yên Thy” chữ nhỏ, mảnh.” (sic) Vì thấy Hải (tên thật của Nguyễn Tất Nhiên) tha thiết với chuyện được đăng thơ trên tạp chí Văn (lúc ấy do ông Trần Phong Giao trông coi) nhưng gửi hoài không được toại nguyện, nhà thơ Du Tử Lê, vốn lão luyện trong chốn trường văn trận bút, đã thấy ngay vấn đề: “Cầm lên tập thơ mỏng của Hải, lật vài trang, tôi nghĩ, ngay cái bút hiệu “Hoài Thi Yên Thy” của cậu, đã tố cáo tính cách văn nghệ học sinh, thành viên thi văn đoàn tỉnh lẻ rồi! Ngay cái tên, tự nó cũng đủ khiến những người phụ trách việc chọn thơ cho Văn, không tin tưởng!” (sic)
Và ông, với thiện ý giúp đỡ, đã không nề hà “nói ra ý nghĩ của mình với Hải. Tôi bảo, tốt nhất Hải nên chọn tên thật. Vì cái tên Hoài Thi Yên Thy nghe cải lương, học trò. Không ổn.” (sic)

Ngoài sự chờ đợi của ông Du Tử Lê, cậu Hải không chút gì cảm thấy khó chịu. Và sau khi được ông thuyết giảng về yếu tính để thành công trong việc chọn bút hiệu, như “việc đầu tiên, bút hiệu đó phải lạ, dù vô nghĩa,” vân vân, “Hải nói ngay: Vậy anh nghĩ cho em một cái tên… lạ đi. Không có nghĩa cũng được.” (sic) Và cậu ta còn nài nỉ ông Du Tử Lê phải làm điều đó ngay lập tức chứ không thể chờ, cho dù chỉ vài bữa, vì “em ở tuốt Biên Hòa. Lại không có xe, đâu có thể chạy lên chạy xuống thường xuyên được.” Thế rồi, như một chuyện thần thoại, hai chữ “tất nhiên” thành hình trong đầu ông và ông “mượn Hải cây bút, viết ba chữ xuống bìa sau tập “Thiên Tai”: Nguyễn-Tất-Nhiên.” (sic)

Đọc tới đây thì tôi thấy ngay một điều gì đó không ổn. Vào khoảng gần cuối năm 1970, lúc tôi đang học lớp Đệ Tam (lớp 10 bây giờ) thì anh Nhiên có xin phép thầy hiệu trưởng mang tập thơ Thiên Tai, với bút hiệu Nguyễn Tất Nhiên hẳn hòi, vào từng lớp để bán vì tập thơ in xong mà tác giả chưa chạy đủ tiền để trả cho nhà in. Chi tiết này cũng được nhà báo Hà Tường Cát, vốn là thầy dạy của chúng tôi tại trường Trung Học Ngô Quyền, kể lại trên một bài viết được đăng báo vài ngày sau khi anh lìa đời. Cũng qua bài “Vài Kỷ Niệm Về Nguyễn Tất Nhiên” (nhật báo Người Việt, số 2481 ngày 8 tháng 8 năm 1992), tôi mới biết thêm là hình bìa tập Thiên Tai do Đinh Cường vẽ chính là “công” của thầy Cát (vì đối với giới học trò làm thơ như chúng tôi lúc đó, có hình bìa Đinh Cường là một điều rất đáng nể, rất “ngầu,” nghĩa là một ấn tượng rất khó quên!). Vì thời cuộc, tập Thiên Tai đến nay hầu như không còn nữa nhưng không hẳn đã tuyệt bản. Nhà thơ Nguyễn Hoàng Nam, em trai của anh Nhiên, đã may mắn còn giữ được một bản và giúp tôi gửi đến độc giả bản sao bìa trước và bìa sau của cuốn thơ này, như một di vật của người quá cố. Nếu vì một lý do nào đó, độc giả không coi được hình bìa thì xin mời vào trang nhà của Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Ngô Quyền để tham khảo (ngo-quyen.org).

Sự thật đã rõ ràng như thế, thì chỉ có một cách để bào chữa cho ông Du Tử Lê là: Rất có thể thời điểm gặp gỡ là một buổi sáng định mệnh nào đó vào cuối năm 1969 hay đầu năm 1970 (chứ không thể nào là cuối năm 1970) và tập thơ mà cậu học trò tên Hải tặng cho nhà thơ Du Tử Lê lúc ấy chỉ là… bản nháp! (Nói là nói cho vui vậy thôi, chứ ai cũng biết, vào thời gian ấy tại Việt Nam, kỹ thuật in ấn dĩ nhiên rất khác xa so với bây giờ.)
Và cũng rõ ràng như thế, thì một câu hỏi phải được đặt ra: Tại sao ông Du Tử Lê lại hạ bút viết như đinh đóng cột về một sự kiện mà ông không nhớ rõ như vậy?

Như tôi đã thưa, đối với tôi việc ai đặt tên không quan trọng. Bên cạnh đó, tôi cũng không để tâm phiền giận những tác giả trong lúc viết bài về Nguyễn Tất Nhiên đã vô tình phóng bút quá đà (tôi từng đọc qua một số bài viết không sát sự thật về nhà thơ yểu mệnh này). Với tôi, viết với một tấm lòng như thế nào mới là điều đáng kể. Mới đây, khi tìm tài liệu trên internet để viết bài này, tôi vừa biết có một Blog viết về một “nguồn gốc” khác của bút hiệu Nguyễn Tất Nhiên. Đó là bài của Trần Thuận Văn đề ngày 3-7-2009, viết trên Blog của chính mình. Là một người bạn cũ thời còn đi học và cùng làm thơ với Hoài Thi Yên Thi/Nguyễn Tất Nhiên, anh viết về những kỷ niệm hồn nhiên cười ra nước mắt của thuở học trò giữa ba người bạn thân thiết, trong đó có một đoạn như sau: “Bắt đầu năm vào học thì Nhiên tâm sự với tôi (Trần Thuận, bút hiệu Trần Thuận Văn) và Lưu (Hồ Văn Lưu, bút hiệu Hồ Triều): “Tau muốn tìm bút hiệu khác, vì tau làm xong tập thơ Thiên Tai này chuẩn bị in.” Tôi và Lưu suy nghĩ rồi góp ý đổi bút hiệu cho Nhiên là Nguyễn Tất Nhiên liền được hắn chấp nhận ngay.” (sic)

Trong lòng không gợn một nghi vấn gì, tôi tiếp nhận những mẩu chuyện buồn vui kể trên với một tâm trạng bùi ngùi vì hai trong ba nhân vật (tôi quen biết cả ba anh) trong lời kể trên đã ra người thiên cổ. Âu cũng là một câu chuyện chung quanh một sự thật mà chỉ có anh Nhiên mới có thể trả lời. Mà anh lại qua đời sớm quá, hay ít nhất là đủ sớm để những huyền thoại về anh cứ thế mà sản sinh.

Thành thật mà nói, trong thời gian chung sống, anh Nhiên đã kể cho tôi biết, trước khi có bút hiệu Nguyễn Tất Nhiên, anh dùng tên Hoài Thi Yên Thi khi ra tập thơ “Dấu Mưa Qua Đất” (1966) và “Nàng Thơ Trong Mắt” (1968). Tôi từng cười ngặt nghẽo về bút danh quá con gái, khác nhau một trời một vực với bút hiệu hiện thời này của anh, và anh cũng vui vẻ công nhận rằng từ lúc anh nghe theo lời khuyên của đàn anh Du Tử Lê đổi bút hiệu thì sự nghiệp thi ca “lên” rõ ràng. Hỏi tại sao là Tất Nhiên thì anh cười ha hả, bảo tất nhiên phải là Tất Nhiên thôi.

Tôi ngờ rằng cái tên Hoài Thi Yên Thi đã để lại một dấu ấn nào đó khó quên trong lòng thi sĩ đàn anh khiến ông không còn sự minh mẫn cần thiết chăng? Bởi vì, nếu tôi nhớ không lầm, trong mớ thư từ giấy má mà anh Nhiên ky cóp mang theo lúc vượt biên và đem ra cho tôi xem, có cả một bức thư của nhà thơ Du Tử Lê “thân gửi Cô Hoài Thi Yên Thi” vì ông lầm tưởng đây là một nhà thơ… nữ. Tiếc là tất cả những thứ giấy tờ nói trên nay không còn nữa. Nhưng, giấy tờ dù mất, ký ức vẫn còn. Cho nên, vì lương tâm đối với một người đã mất không thể tự lên tiếng, tôi mới phải chẳng đặng đừng tiết lộ điều này chỉ vì muốn nói lên một sự thật mà tôi may mắn được thấy qua lá thư ấy (ngoài hai đương sự), rằng ông Du Tử Lê đã liên lạc thư từ với (cô) Hoài Thi Yên Thi từ trước chứ không phải đợi đến buổi sáng ở quán La Pagode ông mới gặp cái tên này lần đầu, như ông đã đặt bút thuật lại như thuật một câu chuyện vừa mới xảy ra.

Vậy thì, tại sao ông Du Tử Lê chọn một sự kiện mà ông không nhớ rõ để viết thành một bài có bố cục hẳn hoi để dẫn dắt người đọc đi từ ngạc nhiên này tới bất ngờ khác, rồi đi đến một bất ngờ gây sốc cuối cùng cho ông mà cũng là cho độc giả, như lối dựng phim Hollywood là “gặp lại Nhiên, với chiếc xe Honda mới” (sic) (ý hẳn ông muốn bảo rằng Nguyễn Tất Nhiên đã đạt được điều mà anh ta đòi, là thưa Phạm Duy để lấy tiền mua xe Honda, vì ban đầu cậu học trò này không có xe)? Thắc mắc này cứ lởn vởn trong óc tôi từ khi đọc xong bài báo ấy. Tôi có cảm tưởng (và mong rằng mình lầm) ông Du Tử Lê muốn trình bày cho mọi người thấy, rằng “trường hợp” Nguyễn Tất Nhiên chẳng qua như thế này đây: một tên tuổi hữu danh vô thực, nhờ vận may mà nổi tiếng (Phạm Duy bắt mạch thị trường, tung ra bài nhạc phổ thơ dựa trên “triết lý nôm na có còn hơn không”) như lời ông viết, “một sớm một chiều, Nguyễn Tất Nhiên nổi tiếng khắp nơi – Như một hiện tượng, chưa từng xảy ra. Ngược hẳn với sự “yên ắng” của các diễn đàn văn học: Không một bài thơ nào của Nhiên, xuất hiện” (sic); và rằng Nguyễn Tất Nhiên trơ trẽn bon chen, sau đó lại vô ơn bạc nghĩa đối với nhạc sĩ Phạm Duy, thẳng tay thưa nhạc sĩ này ra tòa để đòi chia chác tiền bạc khi cần.

Kỹ thuật trình bày điêu luyện của Du Tử Lê cho thấy ông kể lại “trường hợp” Nguyễn Tất Nhiên một cách thật tự nhiên, bởi câu chuyện khởi đi là từ lòng hào hiệp tận tụy giúp đỡ đàn em của chính ông. Tuy nhiên, cũng chính vì kỹ thuật này mà ông quên để một chút tình dành cho kẻ đàn em văn nghệ của mình. Ông kể, qua lời “mắng vốn” của ông xếp Trung Tá Nguyễn Đạt Thịnh, có vẻ như khơi khơi tự nhiên “Nguyễn Tất Nhiên đòi Phạm Duy phải đưa cho Nhiên một triệu đồng. Nhiên cần tiền mua một chiếc xe Honda, đi học” (sic) mà không trình bày nguyên do, hoàn cảnh đẩy đưa khiến câu chuyện “đòi chia bản quyền trở thành ồn ào”.

Tưởng cũng nên nhớ Nguyễn Tất Nhiên sinh năm 1952. Năm tập Thiên Tai ra đời (1970) anh chỉ là một cậu học trò 18 tuổi và năm anh được cây đại thụ Phạm Duy phổ nhạc, tuổi anh mới vừa quá 20, còn trong vòng bảo bọc của gia đình (cũng khá giả), nghĩa là không phải túng thiếu hay ham tiền đến nỗi phải thưa kiện như thế. Điều bận tâm duy nhất của anh lúc đó (và muôn đời) vẫn là thơ và thơ, kèm theo việc muốn cho người ta biết đến tài làm thơ của mình. Theo chỗ tôi được biết, anh (và nhất là cha mẹ anh) rất bực bội khi thấy những bài nhạc được in bán dưới hình thức từng bài lẻ đề tên người sáng tác là Phạm Duy, không hề nhắc tới tên Nguyễn Tất Nhiên. Ngay cả lúc bài Thà Như Giọt Mưa được nhạc sĩ Phạm Duy bán bản quyền cho hãng dĩa Việt Nam để soạn thành ca khúc tân cổ giao duyên (dường như do các nghệ sĩ Chí Tâm và Lệ Thủy trình bày) cũng vậy. Tên tuổi thi sĩ hoàn toàn bị gạt ra ngoài… hư vô. Với tính tình nóng nảy, anh Nhiên tức tối nhưng không làm gì được. Anh chạy đi cầu cứu với giới báo chí thì đúng lúc thiên hạ đang bất mãn dùm cho thi sĩ Linh Phương (được nhạc sĩ Phạm Duy phổ thơ bài Kỷ Vật Cho Em mà không nêu tên tác giả). Cùng với báo Sống của nhà văn Chu Tử, một số báo khác cũng đứng về phía những người làm thơ bị sang đoạt tên tuổi, phát động phong trào đặt lại vấn đề tác quyền cho người làm thơ và gây áp lực với giới nhạc sĩ. Theo lời kể của cha mẹ anh Nhiên, ông Phạm Duy cũng tìm lên nhà anh ở Biên Hòa và gặp họ, nhưng gặp theo kiểu “ghé qua nhà cho biết” chứ không hề đề cập đến vấn đề. Vẫn theo lời ông bà, chờ đợi mãi “một lời phải quấy” nhưng không được đáp ứng, cuối cùng họ mới giao cho một luật sư bà con đứng ra can thiệp và luật sư này đâm đơn kiện một số cơ sở thương mại (như hãng dĩa Việt Nam) đã mua nhạc của ông Phạm Duy. Nội vụ sau đó được điều đình để tránh việc đem ra tòa xét xử hầu cứu vãn thanh thế cho nhạc sĩ này. Bên nguyên cáo bãi nại và nhận một số tiền bồi thường do những nhà thương mại nói trên đứng ra chi trả.

Nhìn qua về chuyện thưa kiện giành lại một phần tác quyền, kể ra bài viết của ông Du Tử Lê không hẳn là sai sự thực, chỉ tiếc rằng ông không (chịu) trình bày toàn cảnh bức tranh sự thực đó mà thôi.
Còn về bề ngoài lôi thôi, cư xử cổ quái, tính tình bừa bãi của anh Nhiên, thì tôi không có ý kiến. Vả lại, những chi tiết này cũng đâu có mới mẻ gì. Chúng đã được nhà báo Hoàng Dược Thảo (người bạn đời lúc đó của ông Du Tử Lê) kể lại với tấm lòng cảm thông khoan thứ qua một bài viết dài rất cảm động, thương tiếc người em văn nghệ tài hoa nhưng bất toàn, bất hạnh của chồng mình. Bài được đăng trên tuần báo Sài Gòn Nhỏ của bà ngay sau khi anh Nhiên qua đời (tháng 8, 1992) và sau đó có đăng lại trên tạp chí Tân Văn (số 3, tháng 10, 2007) dưới tựa đề “Nguyễn Tất Nhiên (1952-1992), Buồn Hơn Trước Nhiều.” (“Buồn hơn trước nhiều” là lời thơ của Nguyễn Tất Nhiên).

Ngoài ra, chuyện trước khi nổi tiếng, Nguyễn Tất Nhiên phải cạy cục bon chen chỗ này chỗ nọ để đăng thơ mà không được toại nguyện, tôi cũng không lấy gì làm thắc mắc. Sự kiện Nguyễn Tất Nhiên có được các ngài ngự sử văn học thời đó thừa nhận hay không, bây giờ điều này không thành vấn đề bởi những phán đoán ấy không làm cho thơ anh hay hơn hay dở hơn, trường tồn hay mất dấu. Tôi còn phải cám ơn ông Du Tử Lê vì khi được đọc những gì thi sĩ này vô tình hé mở đôi chút về không khí văn nghệ đầu thập niên 70 tại Sài Gòn (một không khí nặng phần kỳ thị vùng miền, tỉnh lẻ, thủ đô), tôi mới hiểu hơn và thương cảm những lời thơ tự thán của người chồng cũ của mình:

“Mới ngoài hai mươi mà trầm trọng chứng đau lưng
Bởi luồn cúi mỗi ngày dăm bảy bận!
Đời chẳng khác tay ma đầu biển lận
Keo kiệt từng phần danh lợi sớt chia
Bước ra đường ai cũng đội mão mang hia
Ai cũng cố ngụy trang cũng nặng phần trình diễn!”
(1974, Lần Cuối, trích tập Thơ Nguyễn Tất Nhiên)

Thôi thì tạm gạt bỏ cái nhìn tiêu cực cho rằng ông Du Tử Lê có hậu ý nào đó khi đặt bút, tôi thấy tội nghiệp cho ông vì thế kẹt mà ông tự dấn thân vào.
Một đằng ông muốn bài viết lôi cuốn nên phải chọn lựa, và nếu cần, dàn dựng nên những chi tiết thật đậm nét, thật độc đáo lồng trong một bố cục thật chặt chẽ theo kiểu một truyện ngắn có tính cách hư cấu. Một mặt ông cũng biết rõ rằng nếu viết về một nhân vật có thật, một tên tuổi nhiều người biết tới, thì bài viết lại càng “ăn khách” gấp bội. Tuy nhiên, chọn lựa đề tài này ông chạm phải một điều mà một người cầm bút chân chính có lòng, có lương tâm, rất cần phải cân nhắc, suy nghĩ chín chắn trước khi làm. Đó là viết về một người đã chết.

Tôi từng nghe các cụ ta hay dạy: Nghĩa tử là nghĩa tận. Chết là hết. Trừ trường hợp cùng cực chẳng đã, thường thì người ta tránh nói những điều không hay về một người đã mất cho dù điều đó là sự thật đi nữa. Đằng này ông Du Tử Lê viết về một Nguyễn Tất Nhiên qua đời đã gần 18 năm bằng một bài viết bới tung quá khứ với những hình ảnh phiến diện, chắp vá và, đôi chỗ không đúng sự thật. Tại sao như vậy? Và đau lòng hơn nữa là tại sao ông lại chọn đăng trên một tờ báo Xuân, nơi người ta chờ đợi đọc được những điều đẹp đẽ tốt lành để khởi đầu một năm tinh nguyên trước mặt?

Về vấn đề thưa kiện Phạm Duy của Nguyễn Tất Nhiên, chính cha mẹ anh, vào những năm tháng gần đây, mỗi khi được hỏi đến, họ đều bùi ngùi trả lời: “Thôi, thằng Nhiên nó chết rồi. Hãy để cho nó siêu thoát. Chuyện qua lâu rồi, thôi để cho nó qua đi mà…”
Mười tám năm trước, năm anh vừa chẵn 40, chúng ta đã vô tình ngó lơ để cho con dao định mệnh có dịp ứng vào lời thơ tiên tri thống thiết mà anh làm năm 20 tuổi:

“Ta phải khổ cho đời ta chết trẻ
Phải ê chề cho tóc bạc với thời gian
Phải đau theo từng hớp rượu tàn
Phải khép mắt sớm hơn giờ thiên định!”
(1972, Giữa Trần Gian Tuyệt Vọng, trích tập Thơ Nguyễn Tất Nhiên)

Mười tám năm sau, người chết đã chết, ngàn năm im bặt, mang theo sự thật xuống dưới đáy mồ, tôi không thể cam tâm ngó lơ để cho một lần nữa những lời thơ tiên tri của anh viết năm 21 tuổi lại trở thành linh nghiệm:

“Đời, vốn không nương người thất thế
Thì thôi, ô nhục cũng là danh!”

(1973, Hai Hàng Me Đường Gia Long, trích tập Thơ Nguyễn Tất Nhiên)
Trong bối cảnh “nhiễu nhương” như bây giờ, tôi ngậm ngùi hiểu thêm được một định nghĩa khác của thuật ngữ “thất thế” mà anh dùng. Đó là cái “thất thế” của những Bùi Giáng, Nguyễn Ngu Í, Nguyễn Tất Nhiên, của những con người tài hoa nhưng đầu óc, cách suy tưởng, thái độ ứng xử, không được bình thường. Bất hạnh hơn, Nguyễn Tất Nhiên còn “thất thế” gấp hai lần vì anh vừa bất thường lại vừa mất sớm. Mỗi khi nhắc tới thi hay văn tài của họ, người ta thường kèm theo những giai thoại lạ đời mà người viết có dịp chứng kiến hoặc thậm chí chỉ nghe kể lại. Tệ hơn nữa, có kẻ quá đỗi thường tình, chỉ thích chí khai thác những chuyện tư riêng eo xèo đời mọn của những nhân tài này thay vì thưởng ngoạn những tinh hoa mà họ đã chắt lọc từ phía con người bất toàn kia để cống hiến cho đời.

Nhà thơ Ngu Yên, trong một lần mạn đàm văn học, có dí dỏm ví dòng thơ tài tình của một thi sĩ không khác chi bộ xương của loài khủng long. Vài ngàn năm sau, mọi thứ rã tan tàn lụi, nhờ khai quật được những bộ xương này mà nhân loại biết có một thời kỳ trên mặt đất có loài thú đó. Vậy khi một nhà thơ, nhà văn nào đã qua đời, thì, làm ơn, nếu không vì nhu cầu nghiên cứu tiểu sử để tìm hiểu cặn kẽ về bối cảnh và điều kiện sáng tác của họ, xin đừng khai thác đời tư của họ để phục vụ cho bất kỳ một mục đích nào khác hơn là góp phần cống hiến cho đời ba điều thật đơn giản, nghe rất nhàm tai, nhưng vô cùng cao quý, đó là: Chân, Thiện và Mỹ. Xin gắng bảo tồn bộ-xương-thi-ca-tinh-túy của họ để thế hệ mai sau biết được, có một thời, cuộc sống nhân loại cũng văn minh, dù ở mấy ngàn năm trước.

Nguyễn Thị Minh Thủy
Westminster, cuối tháng Giêng, 2010

Posted: Wed Feb 03, 2010 6:43 am
by vuphong
Image

Tháng Giêng Hát

Tháng Giêng hiền như cỏ
Và tóc mềm như mây
Tóc bay qua bến lạ
Sông thương ai, sông đầy

Tháng Giêng biếc như lá
Và tình ấm như tay
Tình rẽ sang lối nọ
Vai nhớ ai vai gầy

Tháng Giêng trắng như Cúc
Và áo vàng như Mai
Áo nhàu trăm nếp bụi
Giữ hoài mơ chưa phai

Tháng Giêng ướt như mắt
Tháng Giêng hồng như môi
Trái tim ai hoá bướm
Bay theo nhau, bồi hồi

Tháng Giêng sao về muộn
Không em, chim lạc bầy
Một mình lên đồi hát
Xuân nhớ ai, Xuân gầy .....


Mường Mán

Posted: Fri Feb 05, 2010 6:42 am
by khieulong
Image

Chờ Đợi Mùa Xuân

Người ta áo xanh áo đỏ
Chỉ riêng mình nhỏ áo vàng
Cô hàng xóm màu áo tím
Rộn ràng xuân mới vừa sang

Nhỏ thấy mai vàng đó không
Nở trên bến hẹn xuân nồng
Hoa như tình anh trao nhỏ
Một chiều kỷ niệm bên sông

Giao thừa chờ anh đi lễ
Đầu năm hai đứa nguyện cầu
Lỡ mà mai này đôi ngả
Suốt đời mình mãi thương nhau

Thế mà đã mấy năm qua
Từng mùa xuân vội nhạt nhoà
Nhỏ không trở về lối cũ
Dòng đời lặng lẽ trôi qua

Anh vẫn đợi chờ mãi thôi
Tình yêu mình đã xa rồi
Âm thầm giữ lời khấn hứa
Một mùa xuân cũ xa xôi

Ngoài kia chiều nay pháo nổ
Hình như có kẻ theo chồng
Lại thêm một người lặng lẽ
Giữa mùa xuân mới chờ mong


Khiếu Long

Posted: Tue Feb 09, 2010 4:38 pm
by thienthanh

Image

Gió Về Kỷ Niệm

Gió từ kỷ niệm hôm nao
Gió về tìm những đồng dao mê tình
Ðường xưa ngày đó chúng mình
Anh thường say đắm lặng thinh thẫn thờ

Hàng cây tình tự bây giờ
Vẫn bâng khuâng nhớ người mơ năm nào
Chiều tan trường gió xôn xao
Những tà áo trắng năm nào về đâu

Ðời buồn bể cạn sông sâu
Anh còn năm tháng dải dầu nắng mưa
Anh là cơn gió ngày xưa
Thương em từ thuở mới vừa biết yêu

Xa người đời vẫn cô liêu
Anh lang thang với những chiều lãng du
Hình như trời đã vào thu
Gió về kỷ niệm cho dù đời qua

Anh là cơn gió xót xa
Anh là cơn gió ....thật thà yêu em .


Khiếu Long

Posted: Tue Feb 09, 2010 4:39 pm
by thienthanh
Image

Hôm Nay Người Cũ Chưa Là Người Xưa

Ừ thôi !
Mai mốt em về
Cho anh nhìn lại
tóc thề ngày xưa
Đăng trình
một cuộc tiễn đưa
Trời ơi !
Mấy chục năm chưa
hết buồn
Sợ chiều nắng xuống
vai thơm
Sợ mưa ngâu ướt
con đường từ ly
Rồi em
xa hẳn kinh kỳ
Tay anh níu vội
xuân thì hôm qua
Hôm qua
người cũ chưa là…
Hôm nay
người cũ chưa là …
người xưa


Linh Phương

Posted: Tue Feb 09, 2010 4:40 pm
by thienthanh

Image

MÙA GIÓ TẾT

Em chờ gom lá sân nhà
Đợi mùa gió tết thổi qua cánh đồng
Đốt lên cho khói cay nồng
Lặng nhìn lẫn khuất bến sông xa vời
Buốt lòng nghe tiếng chìa vôi
Khẽ khàng vỗ cánh ngang trời nhớ thương

Em chờ vườn cải ra ngồng
Đợi mùa gió tết trổ bông hoa vàng
Nhặt câu ca Lý – ngỡ ngàng
“ Ai đưa con sáo sang sông” – xa vời
Chiều nghiêng – nghiêng trắng cánh cò
Nhẹ đưa nhịp võng lời ru thêm buồn

Em chờ hái nụ tầm xuân
Nở xanh biêng biếc con đường ngày xưa
Khóc òa khi đứng dưới mưa
Ngõ quê lầy lội sớm trưa một mình
Một mình- chỉ một mình em
Đợi mùa gió tết- tháng giêng- xuân hồng


Linh Phương

Posted: Tue Feb 09, 2010 4:41 pm
by thienthanh
Image

valentine,
mùa vàng son đã mãn


Viết cho Người Tình Hư Vô,
Ngày Lễ Tình Nhân

Tình nhân ơi, mùa vàng son đã mãn
Có khóc cạn nước mắt cũng vậy thôi
Mím môi cho mặn mà thêm kỷ niệm
Cuộc tương phùng thường mang nghĩa chia phôi!

Tôi vo tròn sợi tóc em huyền tuyệt
Buộc lại trần ai mối gút thăng trầm
Lần mò mãi vuột tay vào vô tận
Níu áo em về một nhúm hư không!

Em ngã vào vòng tay người xa lạ
Hồn trơ đá tảng lạnh ngắt dung nhan
Giấu đời nhau cho tàn hơi mục rã
Trong trái tim em đã biết hoang đàng..

Cám ơn valentine Người-Tình-Nhỏ
Em đi còn bỏ lại chỗ em nằm
Đêm trở mình động thức mùi hương cũ
Tôi chong đèn ngồi bẹp xuống trăm năm…


Hư Vô

Posted: Thu Feb 11, 2010 6:25 am
by thienthanh
Image

Trăng Trong Nhạc Và Thơ

Bích Huyền

Trăng trong thơ và nhạc của chúng ta, hôm nay nghe lại, hình như là một vầng trăng chúng ta đã đánh mất. Nó không phải chỉ cách biệt với chúng ta bằng thời gian và không gian. Nó còn cách biệt với chúng ta bằng mọi ý nghĩa có thể tìm thấy.

Đã có một thời, nhân loại, trong đó có các vị tiền nhân của chúng ta, nhìn trăng như một cõi mơ ước, một chốn thiên thai, một nơi không có khổ đau, mà tràn đầy hạnh phúc.

Ở đó, mọi sự đều như ý, cảnh không thay, người người không già mà Văn Cao gọi là “Có một mùa đào dòng ngày tháng chưa tàn qua một lần.”

Chiều đã tím ở lưng chừng dẫy núi
Sắc thu mờ lơ đãng dáng hoàng hôn
Lặng nằm nghe bốc tự đáy linh hồn
Nỗi thương mến xa khơi tình kiếp trước
Sóng ngủ dưới chân thuyền im gió nước
Đã ai say lạc bước tới Vô Cùng
Sương đầy khoang nghe thấp thoáng hoa dung
Mà lối cũ Đào Nguyên chừng hé mở


(Vũ Hoàng Chương)

Ánh trăng thơ mộng, nhưng có một thời trăng trên đất nước chúng ta nói cho đúng hơn trăng trong mắt nhìn của người Việt Nam còn thêm nhiều nông nỗi. Nào chiến tranh, chết chóc. Nào lưu lạc, tha phương.

Một mảnh trăng vàng qua lá cây
Rọi niềm thương nhớ suốt đêm nay
Biên thùy, phương ấy xa xôi quá
Kinh thành còn vạn đắng, nghìn cay


Mấy câu thơ ấy vẽ nên một trăng trong quá khứ nào đó. Cái quá khứ đứt rời khỏi hiện tại, không phải chỉ bằng những năm tháng mà còn bằng những thay đổi của lịch sử. Một lịch sử tự nó đã chia lìa ra từng những giai đoạn, mỗi giai đoạn là một rừng xương máu.

Đi trên đất nước chúng ta giờ đây, ai dám chắc là mình không đang dẫm trên mặt những người đã chết nằm bên dưới?

Chúng ta, những người còn sống đây, chẳng khác những kẻ được lịch sử bỏ sót, vẫn nhìn thấy trăng.

Nhưng liệu cái vầng trăng chúng ta còn nhìn thấy kia, có còn là cái vầng trăng được ghi lại trong thơ trong nhạc của chúng ta?

Vâng, trăng trong thơ và nhạc của chúng ta, hôm nay nghe lại, hình như là một vầng trăng chúng ta đã đánh mất. Nó không phải chỉ cách biệt với chúng ta bằng thời gian và không gian. Nó còn cách biệt với chúng ta bằng mọi ý nghĩa có thể tìm thấy.

Sợi giây liên lạc, tình tự giữa trăng và chúng ta đã đứt.

Chúng ta vẫn có thể nhìn trăng và nhớ cố hương. Nhưng cố hương chúng ta tưởng nhớ ấy có còn là cái cố hương trong đó vằng vặc ánh “xanh mơ tan thành suối trần gian” mà Văn Cao nói tới trong Thiên Thai?

Ôi, nếu nghĩ như thế, tưởng chừng như chúng ta lại đứt rời thêm với cố hương một lần nữa. Sự đứt rời ấy tự nó diễn ra như vầng trăng chúng ta chẳng hề đánh mất. Nhưng tự nó, đối với chúng ta đã trở thành một vật bị đánh mất rồi!

Vầng trăng ai xẻ làn đôi
Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường.


Cái vầng trăng xẻ nửa ấy dù thế nào chăng nữa, vẫn là vầng trăng chung của Kim Trong và Thúy Kiều.

Vầng trăng chúng ta nhìn thấy hôm nay đây, liệu có còn là vầng trăng chung của chúng ta với những người xa cách hay không?

Trương Nhược Hư trong bài thơ đã nói về trăng đại ý như sau:

Năm nào là năm đầu tiên có trăng
Ai là người đầu tiên trên đời nhìn thấy trăng
Vào những đêm trăng sáng như hôm nay.
Nhưng ai là người có thể cưỡi ánh trăng về lại được cố hương?


Đọc những bài thơ như thế, chúng ta có cảm tưởng lòng yêu mến quê hương của người làm thơ, càng xa xôi càng được mở rộng, trong khi cùng trong một hoàn cảnh, hình như, cả tình lẫn cảnh trong lòng chúng ta như khép lại.

Cái khép lại ấy, có khác chi chúng ta tự bôi xóa chính mình…

Đường ấy dừa trăng như cổ tích
Đường vào những truyện thuở ngày xanh


(Quang Dũng)

Posted: Fri Feb 19, 2010 4:05 am
by khieulong
Image

Hồng Trần

Em mùa thi diện cũng xênh xang
Áo mới còn bay mùi tơ hàng
Ta tiếc dùm ai từng sợi tóc
Rụng lẻ loi sầu trên vai ngang

Em mùa thi khua đôi guốc cao
Bàn chân Nam Định rất chiêm bao
Ta sợ bùn đen vây nếp chỉ
Bởi vì tháng bảy có mưa mau

Em mùa thi mơn như trái cam
Con mắt kiêu kỳ rất Việt Nam
Ta đợi hôm nào em chợt khóc
Dù đượm u hoài hay hân hoan

Em mùa thi ưng ửng phấn hồng
Đôi má làm duyên cùng bướm ong
Ta lo ngàn cánh môi tàn nhẫn
Chờ gió giông nào rớt nụ hôn

Em mùa thi xanh màu lá non
Ve vẩy cười trên cành lộc thơm
Toan ghé tay phàm ai trộm ngắt
Đau đớn trong ta mấy trận đòn


Nguyễn Tất Nhiên

Posted: Sun Feb 21, 2010 6:38 am
by hoanghoa

Image

Qua mùa hoa tết

Những nỗi buồn đôi lúc rất mênh mông
Như thành phố chợt mưa chợt nắng
Như em bỗng chợt đi về ngõ khác
Như mùa về không đợi gió mang tin.

Như tay nắm chạm bàn tay đã tết
Như môi hồng đang lách cách hạt dưa
Như tường rêu một buổi sáng trở mình
Xanh biếc cả lòng anh lạ lẫm.

Như chân níu từng viên sỏi nhỏ
Trước nhà ai mới lạ đã thành quen
Như hân hoan làm phố chợt rộn ràng
Như hạnh phúc đôi khi là gặp gỡ.

Để đi qua những mùa hoa tết đó
Ta rất cần thương nhớ để còn nhau.


Khuê Việt Trường

Posted: Mon Feb 22, 2010 3:45 pm
by thienthanh
Image

Cà phê sữa

"Góc phố dịu dàng"
Tên góc quán thân quen
Ngày xưa
Nơi lần đầu tiên nghe tim mình loạn nhịp
Nơi có dịp rẽ vào nhấp vị ngọt đầu môi
Trong tiếng nhạc êm đềm mà ngẫm nghĩ xa xôi...

Nơi bối rối bởi ánh nhìn ai rất vội...
Thứ bảy bây giờ
Ngày cuối tuần nhạt thếch
Phố vẫn thênh thang
Góc quán vẫn dịu dàng!

Cô bé ngày xưa, vẫn giữ thói quen ngồi quán
Tách sữa ngọt ngào ngày xưa
Gìờ hòa lẫn cùng vị cà phê đăng đắng
Tiếng nhạc du dương, cô bé tìm cho mình nốt lặng
giữa bản hòa ca nhộn nhịp xô bồ.

Phố huyền hồ, tấp nập hơn xưa!
Tập cho mình thích nghi với sự đổi thay vội vã
Cuộc sống mỗi ngày thêm nhiều điều mới lạ
Hạnh phúc đâu chỉ là sự ngọt ngào, nên cô bé thêm vào tách sữa chút cà phê
Tạo thành tách nâu sóng sánh...

Cô bé trở thành thiếu nữ
Khát khao gọi nên vần hòa điệu nhịp đập chung!


BÙI THỊ KIM THOA

Posted: Sat Feb 27, 2010 3:10 am
by hoanghoa

Image

Hồ Tây chiều tháng Giêng

Gió mềm quá phía hàng cây
đem hơi rét mỏng rắc đầy tóc em
chạm bàn tay, rối nhịp tim
phút thiêng là phút môi tìm môi nhau

Một chiều từ đẩu từ đâu
hoa đào ửng đỏ một màu áo em
ừ! Thì mặc kệ tiếng chim
bên nhau... giây phút nổi chìm lặng câm

Nắng chênh chao đến mấy lần
sóng xôn xao đến bội phần xôn xao
cầm tay hôm nảo hôm nào
mà giờ như mới lần đầu cầm tay

Sóng yêu mới thật là hay
mỏng đi một chút lại dầy thêm hơn
đáng kiêu là phút dỗi hờn
đáng yêu là những nụ hôn bắt đền


Nguyễn Lãm Thắng

Posted: Fri Mar 19, 2010 6:32 am
by thienthanh
Nhà thơ Hữu Loan qua đời, thọ 95 tuổi

Image
Nhà thơ Hữu Loan, qua đời ngày 18 tháng 3, 2010, khi gần đến 95 tuổi ở Thanh Hóa. Ông là tác giả bài thơ bất hủ Màu Tím Hoa Sim.
(Hình: T.Phan/Người Việt)
THANH HÓA (NV) - Nhà thơ Hữu Loan, tác giả của bài thơ nổi tiếng “Màu Tím Hoa Sim” vừa qua đời ở quê nhà khi gần tới tuổi 95.
Báo điện tử Sài Gòn Tiếp Thị Online cho hay nhà thơ qua đời khoảng 19 giờ tối ngày 18 tháng 3, 2010. Nhưng nhạc sĩ Tuấn Khanh đưa tin trên Blog của ông nói nhà thơ mất lúc 21 giờ.

SGTT nói rằng, “Sau khi con cháu đã đông đủ, gia đình làm lễ phát tang lúc 1g30 phút sáng ngày 19 tháng 3, 2010. Lễ động quan diễn ra vào 15g 30 phút chiều cùng ngày và đưa ông về nghĩa trang của xã Nga Lĩnh, nơi yên nghỉ cuối cùng của ông.”

Cuộc đời thanh niên của ông gắn liền với giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, nhưng sau đó, ông bỏ Đảng CSVN về sống ẩn dật ở quê nhà mà qua một số cuộc phỏng vấn, ông tiết lộ từng bị viên chức CSVN tìm cách ám hại, đầu độc nhiều lần nhưng ông đều thoát được.

Từ làm ruộng, kéo xe cút kít, vác đá, mò cua bắt ốc để mưu sinh, suốt một chặng đường dài bề ngoài là âm thầm nhưng thật sự là cuộc đấu tranh, đấu trí không ngừng nghỉ giữa ông và chế độ độc tài đảng trị mà ông chạy trốn, diễn ra được ông kể lại sau này.
Nhà thơ Hữu Loan tên đầy đủ là Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 12 tháng 4, 1916 tại làng Vân Hoàn, xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa.

Nhà nghèo, thuở thiếu thời phần lớn tự học với sự chỉ bảo phần nào của người cha, dù vậy, Hữu Loan đã đi thi và đỗ bằng Tú Tài năm 22 tuổi, một bằng cấp rất cao trong xã hội Việt Nam thời thập niên trước và sau 1940.

Ðỗ tú tài, ông đi dạy học rồi “đi làm gia sư để kiếm gạo” như lời ông tự kể. Trước đó, ông đã tham gia Mặt Trận Bình Dân vào năm 1936 rồi khi cuộc kháng chiến chống Pháp phát động, ông là phó chủ tịch Ủy Ban Khởi Nghĩa ở huyện Nga Sơn. Trước năm 1945, ông đã từng cộng tác với một số tận san văn học ở Hà Nội.

Sau cuộc cách mạng Tháng Tám, ông được cử làm ủy viên Văn Hóa trong Ủy Ban Hành Chính Lâm Thời tỉnh Thanh Hóa. Rồi ông tham gia đội quân chống Pháp, phục vụ ở đại đoàn 304. Khi Hiệp Ðịnh Geneve ra đời, ông về Hà Nội, làm báo Văn Nghệ một thời gian. Khoảng thời gian 1956-1957, ông tham gia phong trào Nhân Văn Giai Phẩm do nhà văn Phan Khôi chủ trương. Một số bài viết và thơ của ông đả kích kịch liệt các tiêu cực phổ biến trong hàng ngũ cán bộ cộng sản đã dẫn đến tù tội cho ông khi phong trào Nhân Văn Giai Phẩm bị đàn áp.

Nhà thơ Hữu Loan không làm nhiều thơ nhưng hầu như các bài thơ ông viết ra đều được yêu thích. Ðặc biệt, bài thơ Mầu Tím Hoa Sim ông diễn tả tâm sự của một người chiến binh có vợ chết trẻ (16 tuổi) ở quê nhà chứ không phải người cầm súng ở chiến trường.
Năm 1949, ông chỉ được về phép mấy ngày, làm đám cưới rồi quay lại chiến trường, ba tháng sau, nghe tin vợ chết đuối.

Nhiều nhạc sĩ (Phạm Duy, Dzũng Chinh, Anh Bằng, Duy Khánh) phổ nhạc, có lẽ bài hát nổi tiếng nhất là bài “Áo Anh Sứt Chỉ Ðường Tà” mà nhạc sĩ Phạm Duy phổ theo bài Mầu Tím Hoa Sim.

Tuy sống ẩn dật, nhẫn nhịn ở nhà quê trong sự nghèo khổ, ông vẫn theo dõi tin tức thời sự. Năm 2004, ông dành cho ký giả Phạm Trần của đài VOA cuộc phỏng vấn, ông nói, “Tôi theo dõi những cái tình hình chung của đất nước bây giờ là lừa đảo rối bét, ăn tham bẩn nhất là thằng nào cũng lợi dụng trèo đầu cỡi cổ thằng dân chứ có cái gì đâu, tức là cái đảng Cộng Sản đấy. Cái đảng Cộng Sản mà còn lãnh đạo thì còn rối bét, không có ai là gương mẫu hết.”
Trong một lần tiếp khách, ông kể, “Trong mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ thường, chẳng màng đến thế sự, ngày ngày đào đá núi đem đi bán, túi dắt theo vài cuốn sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc cho giải sầu, lâu lâu nổi hứng thì làm thơ, thế mà chúng vẫn trù dập, không chịu để tôi yên. Tới hồi mới mở cửa, tôi được ve vãn, mời gia nhập Hội Nhà Văn, tôi chẳng thèm gia nhập làm gì.”

Rồi ông kể tiếp, “Năm 1988, tôi ‘tái xuất giang hồ’ sau 30 năm tự chôn và bị chôn mình ở chốn quê nghèo đèo heo hút gió. Tôi lang bạt gần một năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do Hội Văn Nghệ Lâm Ðồng và tạp chí Langbian tổ chức để đòi tự do sáng tác, tự do báo chí-xuất bản và đổi mới thực sự.”
Tuy nhiên, “Vào tuổi gần đất xa trời, cuối năm 2004, công ty Viek VTB đột nhiên đề nghị mua bản quyển bài Màu Tím Hoa Sim của tôi với giá 100 triệu đồng. Họ bảo đó là một hình thức bảo tồn tài sản văn hóa. Thì cũng được đi. Khoản tiền 100 triệu trừ thuế đi còn 90 triệu, chia ‘lộc’ cho 10 đứa con hết 60 triệu đồng, tôi giữ lại 30 triệu đồng, phòng đau ốm lúc tuổi già, sau khi trích một ít để in tập thơ khoảng 40 bài mang tên Thơ Hữu Loan. Sau vụ này cũng có một số công ty khác xin ký hợp đồng mua mấy bài thơ khác, nhưng tôi từ chối, thơ tôi làm ra không phải để bán.”

Cả cuộc đời, không chỉ là một nhà thơ tác giả của những bài thơ bất hủ, ông còn được kính trọng là người luôn luôn giữ khí tiết của một kẻ sĩ “tiết tụỳc, tâm hư,” đặt quyền lợi quốc gia dân tộc lên trên hết.